Bổ sung chương 1
-
Về quê hương Đông Hồ -Về gia đình và dòng họ
-
Đồng bằng Bắc bộ nhất là khu vực Bắc Ninh có nhiều làng nghề. Làng Đông Hồ quê tôi thuộc dạng một trong những làng đó. Thường khi giới thiệu về làng người ta gọi đó là làng làm tranh, và quả thật đó là một nghề thủ công độc đáo, đã nuôi sống cả làng và là niềm tự hào của những người nông dân tài hoa biết duy trì nghệ thuật trong cái biển đồng bằng trồng lúa. Nhưng thực tế làng này trước tiên được hình thành từ nghề làm vàng mã để cúng trong những dịp tết nhất. Thoạt tiên người làng hình thành những khung tre nho nhỏ bằng độ đầu ngón tay người lớn, rồi lấy giấy quét phẩm màu vàng khuôn lại xếp chồng lên hàng ngàn viên gạch nho nhỏ ấy gọi là ngàn vàng. Còn hai chữ “hàng mã” có nghĩa là những vật thể cần thiết cho đời sống như ngôi nhà, bàn thờ và cả voi ngựa … được mô hình hóa lại trong những lồng tre ngoài phất giấy. Theo tục lệ có lẽ là truyền từ các vùng dân tộc bên Trung Quốc sang, vào những dịp cúng giỗ hàng năm cho những người chết giàu có, người ta đốt những thứ vàng mã ấy để phục vụ cho người chết ở thế giới bên kia. Cũng vì sống được bằng việc làm vàng mã đó nên làng tôi có những đặc điểm của một làng nghề, sống khá sung túc. Khi nói về truyền thống cách mạng của tỉnh Bắc Ninh người ta không bao giờ nhắc đến làng tôi. Khi nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp, dân làng tôi có theo đường Và, Ném… tản cư lên các vùng trên Bắc Giang, nhưng lại nhanh chóng quay về “lập tề” nghĩa là trở lại sống dưới sự quản lý của người Pháp. Sau năm 1954 khi chính quyền cách mạng trở về quản lý cả miền Bắc, nghề làm vàng mã làng tôi có bị thui chột và dân làng sống tạm gọi là ngắc ngoải bằng cái việc học làm nông nghiệp cũng như tiếp tục làm tranh, và một phần vàng mã theo kiểu làm chui tức là làm ngoài vòng pháp luật. Chỉ đến khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc mọi hướng làm ăn được khuyến khích, mê tín được chính thức hóa, chỉ cấm qua loa bên ngoài mà tha hồ bói toán cũng như đốt vàng mã bên trong thì làng tôi mới thật sự hồi sinh. Còn nghề làm tranh thì chỉ có cái tiếng và sản xuất thu hẹp lại như một mặt hàng du lịch vì làm sao tranh sản xuất theo kiểu thủ công xưa có thể cạnh tranh được với các loại tranh in hiện đại?
-
Khi hỏi thăm về họ Vương ở làng Đông Hồ, ai cũng biết là có, nhưng lại nói thêm rằng đó là một dòng họ rất nhỏ và nay đã phiêu tán đi nơi khác.
Theo lời ông bố tôi kể lại, thì ông nội bà nội tôi từ vùng nào đó phía Bắc có tá túc lại ở Đông Hồ vài chục năm, nhưng hai cụ nhanh chóng để con cái và cái cơ đồ vừa hình thành ở lại quê hương mà chuyển ra Hà Nội làm ăn. Suy nghĩ của các cụ khá hiện đại: muốn làm tranh cũng như làm vàng mã thì người ta phải có nguyên liệu là các loại giấy rồi từ giấy mới nhuộm xanh nhuộm đỏ để hình thành nên các mặt hàng. Từ Bắc Ninh, hai cụ đến tá túc ở khu vực Yên Thái bên hồ Tây. Làng này là nơi làm giấy. Thoạt đầu người ta ngâm các loại vỏ cây chuyên dụng cho rữa ra, rồi lại dùng vôi nung chảy trong các lò lớn ở nhiệt độ cao để cuối cùng ra một thứ bột, mang về đặt trong các bể lớn. Trong các làng nghề làm giấy, đàn ông lo đốt lò, đánh bột, thì đàn bà chuyên lo việc seo giấy túc là đãi các lớp bột đó thành từng tờ mỏng rồi trát lên tường cho khô và người ta có được thứ giấy rất đơn sơ dùng vào mọi công việc. Với việc chuyển hẳn một phần gia đình ra làng Hồ Khẩu (còn gọi là Yên Thái), ông nội tôi đặt cơ sở cho việc hình thành một trạm nhỏ chuyên đảm nhận việc chuyển giấy từ đây về quê hương Đông Hồ. Sau này lớn lên tôi được đọc trong một cuốn sách do người Trung Quốc viết, đại khái họ cắt nghĩa rất hay về thương nghiệp. Theo họ, thương nghiệp nghĩa là cảm thấy một nhu cầu; tổ chức sản xuất và lưu thông để thỏa mãn nhu cầu đó; nối liền những vùng đất và những con người. Phải nói là tôi cảm thấy may mắn vì cha ông đã chuyển cả địa điểm sinh sống lẫn cách làm ăn.
-
Thế nào là chất ngoại ô
-
Trụ sở chính của tạp chí Văn nghệ Quân đội là một khu nhà khang trang từng phòng có hệ thống vệ sinh riêng. Từ khi chuyển từ phát hành trong nội bộ quân đội ra việc phát hành chung trong cả nước, các thành viên của tạp chí được sống khá thoải mái. Tuy là sĩ quan quân đội nhưng không bắt buộc phải đội mũ đeo sao, và các sĩ quan hàng ngày có thể về gia đình riêng. Từ cuối năm 1965, cơ quản tổng cục chính trị sơ tán về mạn Sơn Tây thì các thành viên đa số thường vẫn cùng với gia đình sống ở Hà Nội, chỉ những đợt báo động đặc biệt và khi học hành mới phải đi sơ tán. Nhưng đấy là cách sinh hoạt của các nhà văn Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hải Hồ. Riêng hai anh Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách vì chưa có nhà ở Hà Nội, nên vẫn bám vào cơ quan, cả ở sơ tán cũng như sau 1968, thực tế là cơ quan chúng tôi đã chuyển hẳn về Hà Nội, thì tối tối trong cái cơ quan vắng vẻ ấy vẫn có hai căn phòng để đèn sáng thường xuyên cả đêm là phòng của Nguyễn Minh Châu và phòng của Xuân Sách. Tôi mới chuyển từ Đoàn kịch nói Tổng cục sang Tạp chí, do còn là hạ sĩ quan nên phải sống trong cơ quan nhiều hơn. Nhờ đó tôi có dịp nói chuyện rất nhiều với bậc đàn anh mà tôi hết sức yêu quý là Nguyễn Minh Châu. Chúng tôi trao đổi với nhau đủ chuyện từ quá khứ mới nhập ngũ đến hoàn cảnh gia đình hiện thời. Trong một lần như vậy, khi nghe tôi kể chuyện về những ngày ở làng Đại Yên, làng Thụy Khuê, Nguyễn Minh Châu bột phát nói ra cái điều mà chính tôi cũng bất ngờ:
- Thảo nào mà cậu cứ có cái vẻ hoài nghi mà những thằng khác tài năng hơn có đọc sách nhiều hơn, nhưng do chỉ sống ở nông thôn, họ sống ở những vùng có thể trù phú hơn nhưng lại cổ hơn… không thể có được. Đó là sự hoài nghi.
Và Nguyễn Minh Châu nói như đinh đóng cột:
- Hoài nghi chính là phẩm chất của những đô thị và những vùng cận đô thị.
Trở lại với những năm tháng mà tính cách tôi mới hình thành tức là những năm còn học tiểu học theo chương trình của nhà trường thời tạm chiếm, khi người Pháp còn làm chủ Hà Nội. Theo cách cảm nhận của một thằng bé ở trong cái hũ nút là làng Đại Yên làm nghề bán lá thuốc hoặc sau này chuyển sang cái phố Thụy Khuê nửa phố xá nửa ngoại ô, thì chúng tôi chẳng giàu mà cũng chẳng nghèo, dù bữa cơm không thật nhiều cá thịt và cũng không bao giờ bị đói. Đại Yên thì cũng đại khái như Đông hồ làng tôi cũ, nghĩa là một thứ làng nghề, các bà các cô đi bộ từ Đại Yên qua đê Hoàng Hoa Thám mà hồi ấy chúng tôi gọi là đường thành rồi lên tàu điện xuôi xuống phố Hàng Khoai, ngồi vào các gian hàng đã thuê sẵn, hàng bán ra hàng ngày. Thụy Khuê lại càng như vậy, các bà các cô thì sớm ra đã quẩy những gánh xôi lúa xôi nếp, theo đường xe điện xuống bán rong ở khu vực mà ngày này người ta gọi là phố cổ; muộn hơn một chút và kéo dài đến trưa thì đến lượt các bà các chị bán khoai, dùng làm một thứ hàng quà, nhịp sống cứ đều đều như vậy như nếp sống của cánh đàn ông hành nghề ở sở xe điện (cả lái tàu lẫn soát vé), ở nhà máy giặt và nhất là ở nhà máy da rất nổi tiếng vốn của những ông chủ người Pháp, từ sau 10/1954 thì trong tay mấy người chủ Việt rồi chuyển thành công ty hợp doanh. Do chỗ cuộc sống giống như một thứ đứng máy đều đều hàng ngày, chúng tôi chả bao giờ thật sung sướng nhưng cũng chẳng bao giờ lo đói khát, “tay làm hàm nhai” chẳng phụ thuộc ai mà cũng chẳng thấy ai bóc lột mình, cuộc sống chẳng biết bao giờ khá hơn nhưng cũng không bao giờ phải lo lắng rằng rơi vào cái cảnh chết đói.
Như tôi đã kể ở phần trên, mấy cái xóm tôi ở lúc ấy không thể gọi là đất học, trẻ lớn lên thậm chí chỉ học đến tiểu học là cùng rồi chuyển đi làm nhà máy da nhà máy xe điện như cha anh chứ chả có ai học lên trung học, dù là trường trung học đệ nhất cấp Chu Văn An ở ngay đầu ngõ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét