Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

FACEBOOK 2021

  •   

https://www.facebook.com/tacgiavuongtrinhan

MỤC LỤC

 

NGUYỄN TUÂN: CẦN CƯỜI. 7

CHÚNG TÔI HỌC NGOẠI NGỮ NHƯ THẾ ĐẤY! 10

NÓI THÊM VỀ CHỦ NGHĨA BÌNH QUÂN 17

MẠNH AI NẤY SỐNG 20

MỘT THẾ HỆ SẮP VÀ ĐÃ DẦN DẦN BIẾN MẤT! 23

CUỘC SỐNG BẮT CHƯỚC NGHỆ THUẬT 27

CHÚNG TA LÀM CHỦ NHƯ THẾ NÀY ĐÂY! 32

CÓ PHẢI LÀ MỘT LỜI KHUYÊN VÔ TRÁCH NHIỆM? 36

HOA HÀ NỘI 39

LÀM SAO ĐỂ THÊM CHẤT TRÍ TUỆ CHO LỄ HỘI ? 42

THƠ ĐỌC CUỐI NĂM 47

THƠ ĐỌC CUỐI ĐỜI 47

KHI ĐÃ BIẾN DẠNG , 49

TÂM LÝ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI 49

KHÓ LÒNG TRỞ LẠI BÌNH THƯỜNG 49

NHỮNG BÀI HỌC 52

TỪ MỘT CÂY BÚT HẢI NGOẠI 52

NHỮNG HÀNH ĐỘNG VÔ NGHĨA 55

TÌNH TRẠNG DÃ MAN  MÊ MUỘI Ở CÁC LỄ HỘI 59

VỐN ĐÃ TỒN TẠI  NGAY TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY 59

NHÀ VĂN & TÌNH TRẠNG ĐƠN ĐỘC 65

QUAN LIÊU VỚI QUÁ KHỨ 68

KHI NÓI CHUYỆN BIẾN ĐỔI KHÍ  HẬU 70

CHỚ QUÊN CHUYỆN BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI 70

ĐÁM  TRẺ Ở TA 75

ĐANG ĐƯỢC DẠY DỖ NHƯ NHỮNG NGƯỜI LỚN 75

TƯƠNG TỰ NHƯ QUẤN LỐP XE 80

TỰ ĐÁNH MẤT MÌNH 86

TRONG VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI 89

CHIẾN TRANH THƯỜNG ĐƯỢC MIÊU TẢ 89

KHÁC HẲN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 89

RỜI KHỎI ĐÁM ĐÔNG 92

RÁO HOẢNH 94

TRỞ VỀ QUÁ KHỨ Ư? ĐÂU PHẢI CHUYỆN DỄ! 97

HAI CUỐN SÁCH VIẾT VỀ  CÁC  VẤN  ĐỀ TRỪU TƯỢNG MÀ LẠI DÀNH CHO BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI 104

TỪ ĐÔI DÉP ĐẾN CHIẾC MŨ BẢO HIỂM 108

SỰ THA HÓA CỦA LỜI NÓI 112

NHÌN THIÊN NHIÊN MÀ SỐNG 117

BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP 121

TƯ DUY TRUNG CỔ 121

THỬ TÌM HIỂU CÁCH KIẾM SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT 127

KIẾM SỐNG VỚI BẤT CỨ  GIÁ NÀO! 131

BUỒN VUI ĐẮP ĐỔI 134

GIÀU CÓ và TỬ TẾ THỜI NAY 137

HY VỌNG NHƯ MỘT THÓI QUEN KHÓ BỎ 141

HÀNG GIẢ NGHIÊM CHỈNH 145

SẼ ĐẺ RA HÀNG GIẢ NHẢM NHÍ 145

SAO SỬ KHÔNG VIẾT 146

VỀ NHỮNG THỜI 146

CON NGƯỜI TRỞ NÊN TỬ TẾ? 146

TRỞ LẠI VỚI CÁC DANH NHÂN LỊCH SỬ ĐỂ HIỂU CÁC VIP HIỆN THỜI 149

NHỮNG TÙ NHÂN CỦA LỢI ÍCH TRƯỚC MẮT 154

NÓI THÊM VỀ "TỰ DO TRƯỚC CÁC NHU CẦU VẬT CHẤT" 160

SỰ LẠC HẬU CỦA GIÁO DỤC 163

QUA SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT LỚP 1 163

MỘT GIAI ĐOẠN MỚI 167

TRONG NHẬN THỨC VỀ LỊCH SỬ 167

VỪA ĐƯỢC BẮT ĐẦU 167

TÔI TỪNG  CŨNG MUỐN HỌC CHƠI 171

NGƯỜI VIỆT THIẾU SÂU SẮC 176

NHỮNG MẤT MÁT ĐÃ ĐẾN 182

VỚI TIẾNG VIỆT HÔM NAY 182

SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM  NHÂN BẢN 185

TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA 185

"CHÚNG TA HƠI KIÊU NGẠO SO VỚI THẾ GIỚI" 189

MỘT SỐ GHI CHÉP 200

CHUNG QUANH KHÁI NIỆM TRÍ THỨC 200

CHỮ ĐẠO VĂN KIA 207

CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG 207

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM  CÂY BÚT ĐỜI NGƯỜI 227

TRƯỚC NHỮNG VẺ ĐẸP ĐANG BỊ ĐÁNH MẤT 231

CHÂN DUNG NHÀ VĂN 233

QUA 'CÂY BÚT ĐỜI NGƯỜI' 233

NHỮNG TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI 240

CÂU CHUYỆN TOILET 244

CUỐN SÁCH MỚI VỀ NHO GIÁO 252

VỀ CÁCH MIÊU TẢ HOA SEN VÀ LÝ DO YÊU HOA SEN 255

NGOÀI TRỜI LẠI CÓ TRỜI 260

BÉ ƠI BÉ RA MÀ ĂN KẸO 266

HƯNG YÊN & CÂU CHUYỆN GIÃ TỪ CÁI CŨ 269

NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH 272

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN! 272

TÌNH TRẠNG  NGHỀ NGHIỆP CỦA CON NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI 273

TRÀ ĐÓA 277

MỘT CUỘC CHIẾN KHÁC 277

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ(kỳ năm): 290

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH TỔ CHỨC XÃ HỘI 290

ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH TRÍ THỨC 290

QUAN HỆ THẦY TRÒ THỜI XƯA 295

DƯỚI CON MĂT PHAN KẾ BÍNH 295

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ sáu) 296

CÁC TRIỀU VUA CUỐI CÙNG CỦA NHÀ NGUYỄN 296

QUAN NIỆM VỀ SỰ KẾ VỊ NHƯ THẾ NÀO 296

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy) 298

QUAN LẠI TRONG THỜI HẬU CHIẾN 298

TẤN KỊCH KÉO DÀI 302

CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT 302

BỆNH ĐIÊN Ở TA 305

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín ) 310

GIAI CẤP THỐNG TRỊ NGƯỜI VIỆT DƯỚI CON MẮT 310

VUA CHÚA TRUNG HOA THẾ KỶ XVI 310

CHUYỆN NGHỀ BIÊN TẬP 316

GHI SAU BUỔI GẶP MẶT Ở nxb PHỤ NỮ 25-10- 2017 316

TUỔI GIÀ XỨ MÌNH 318

ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN MỌI YẾU KÉM CỦA NGƯỜI VIỆT 320

SẼ TÌM HY VỌNG Ở ĐÂU? 324

SỰ TỪ CHỐI LIÊN TỤC 327

VỚI MỌI TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY 327

TUỔI GIÀ......VÀ  PHỤ NỮ 331

CHỨNG RỐI LOẠN NHÂN CÁCH 334

NHỮNG KẺ TRƠ TRÁO 338

NGÀY MỖI PHỤ THUỘC 343

DÂN MÌNH NAY ĐÃ QUÁ GIÀ! 350

LÒNG CĂM THÙ CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XV 356

TRƯƠNG TỬU - NGƯỜI BIẾT HỌC 359

TƯ DUY PHÁT TRIỂN 360

PHẢI KHÁC VỚI TƯ DUY CHIẾN TRANH 360

CHẤP NHẬN TẠM BỎ MÔN SỬ Ở NHÀ TRƯỜNG MIỄN LÀ 363

SAU ĐÓ PHẢI TÌM TỚI MỘT CÁCH VIẾT SỬ KHÁC 363

DẤU HIỆU HOANG DÃ 367

LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG 368

PHẢI CHĂNG  THÍCH ĐI HẦU RƯỢU 375

LÀ CẢ MỘT NÉT TÂM LÝ THỜI ĐẠI? 375

TRÍ THỨC MIỀN NAM 379

NHỮNG NGƯỜI BIẾT HỌC 379

NGƯỜI VIỆT &  NHỮNG THÔNG BÁO KHÁC NHAU 381

KHI GIAO THIỆP 381

SỰ ƯƠNG BƯỚNG RẤT DỊU DÀNG 384

LÀM GÌ ĐÂY, LÚC VỀ GIÀ ?! 389

MẤY ĐOẠN GHI VỀ NGƯỜI VIỆT 392

CHẲNG AI ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH 395

NGUYỄN HIẾN LÊ, 398

NGƯỜI CẢI CHÍNH 398

NHIỀU SỰ HIỂU NHẦM VỀ TRUNG QUỐC. 398

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN TUÂN: CẦN CƯỜI.

Ngày 3 tháng 1 năm 2021

Trong  Đại hội lần thứ 2 của Hội nhà văn Việt Nam (1963) nhà văn Nguyễn Tuân có đọc một bài tham luận mà chính ông thường gọi là “Cần cười”, nhưng cũng có lúc được báo chí đương thời gọi là “Nhân đọc truyện tiếu lâm”.

  Bài viết sở dĩ được dư luận tán thưởng vì sau vụ Nhân văn Giai phẩm,  cả xã hội sống theo mệnh lệnh, người ta không mấy khi cười và cũng lại càng không dám nói đến tiếng cười.

Trong hoàn cảnh ấy, cách nêu chuyện cười như một nhu cầu của Nguyễn Tuân đã được xem là  bạo, mặc dù cả bài còn ngả theo thời sự và tầm vóc vấn đề trào phúng ở đây cũng chưa có thể nói là xứng với toàn bộ xã hội Việt Nam sau 45 . Nghĩa là nó chưa thể có tác dụng gợi mở lâu dài và có những phát hiện về mặt mỹ học.

Đáng ghi nhớ nhất trong bài “Cần cười” này là đoạn Nguyễn Tuân chỉ ra hơn 100 mẫu cười khác nhau:

- Cười nheo mắt, - cười mép, - cười mũi,

 - cười ngựa, - cười dê, - cười trâu, - cười ruồi,

- cười rè, - cười phào, - cười rộ, - cười vang, - cười khà, - cười ngất,

- cười góp, - cười trừ, - cười gằn, - cười mỉa, - cười đế, - cười nhả,

- cười tình, - cười nhạt, - cười khan,

- cười khì, - cười bò, - cười duyên,

- cười lăn, - cười khẩy, - cười xòa, - cười tủm,

- cười gượng, - cười khê, - cười vụng,

- cười phá, - cười thầm, - cười cợt,

- cười đón, - cười đưa, - cười theo (dạ hớt), - (đàn ông) cười hoa, (đàn bà) cười nụ.

Cười động cỡn, - cười nôn ruột, - cười xúy xóa,

- cười híp mắt tắt hơi, - cười vãi đái, - cười nheo mắt,

- cười ba lơn, - cười bóng phèng, - cười cầu phong,

- cười ra nước mắt, - cười bỏng tai, - cười trịch thượng, - cười phổng mũi,

- cười bốc rời, - cười thái sư, - cười Đổng Trác,

- cười tuồng, - cười cầu tài, - cười lấy lòng,

- cười bù khú, - cười xã giao, - cười hở lợi, - cười giữ nhịp.

Cười hề hề, - cười hì hì, - cười ngặt nghẽo, - cười the thé, - cười hô hố, - cười ha hả, - cười khanh khách, - cười chuột rúc,

- cười pháo ran, - cười vỡ bụng, - cười nhí nhảnh,

- cười khèng khẹc, cười giòn dã, - cười cộc lốc, cười thơn thớt,

- cười hả hê, - cười hợm hĩnh, - cười chua chát, - cười chúm chím, - cười khinh khỉnh, - cười sằng sặc,

- cười ngạo nghễ, - cười hềnh hệch, - cười đú đởn, - cười nhăn nhó, - cười hà hà, - cười khúc khích, - cười ngả ngốn;

- Mỉm cười, - cả cười, - cười nửa miệng, cười đổ quán xiêu đình,

- cười tít cung thang, - cười như con tinh xé lụa, - cười như nắc nẻ,

- cười rỉ ám, - cười như đười ươi, - cười hở mười cái răng.

Nếu tìm vào các từ điển tiếng Việt soạn từ các thế kỷ trước tới các bộ đứng đắn được làm gần đây tôi tin là chúng ta  sẽ tìm thêm được nhiều MẪU CƯỜI hơn.

 

 

 

 

 

 

CHÚNG TÔI HỌC NGOẠI NGỮ NHƯ THẾ ĐẤY!

Ngày 4 tháng 1 năm 2021

Từ chiến tranh trở về, những người viết văn thuộc lớp chống Mỹ chúng tôi lòng đầy háo hức.Trong số những việc liên quan tới việc lập nghiệp, có việc học ngoại ngữ. Ồ, cái đó cần lắm chứ, phải lo học, phải đi quốc tế, phải trở thành những trí thức thật đàng hoàng – nhiều người gặp nhau ở ý nghĩ ấy.

Nhưng chẳng bao lâu, không ai bảo ai mà đều ngấm ngầm nhận ra một sự thực: Học  khó quá. Tắc. Hình như kiến thức nó cố trốn chạy khỏi mình.

 Như trong chuyện ngoại ngữ, dù có kiên trì đến mấy, học cũng không vào. Nhà văn nọ, có lần, sau khi tuyên bố hùng hồn là mình học tiến bộ lắm, xoè ra cho mọi người thấy một quyển sách tiếng Anh mới mua được ở một hiệu sách cũ. Bạn bè chung quanh nhìn kỹ, thì ra đó là một cuốn sách tiếng Pháp.

 Dĩ nhiên về sau, cái sự gọi là quyết tâm kia có giảm. Có thương nhau thì bảo nhau lo viết ngay đi; chứ còn việc học, mà nhất là việc đọc sách và xì xồ với nhau mấy câu bằng các thứ tiếng xa lạ  -- một hai năm sau, mọi người nói nhỏ với nhau -- sao  thấy nó phù phiếm quá (!).

 THỜI CỦA  NHỮNG CẤM ĐOÁN

     Những kỷ niệm trên lập tức trở lại trong tâm trí tôi, khi nghe những lời than phiền gần đây về tình trạng dân mình đội sổ trong việc ngoại ngữ và nhất là cái  cách người ta giải thích về tình trạng bê bết đó.

     Lấy ngành giáo dục làm ví dụ. Tuy trong thực tế việc học và dạy được tổ chức rất kém song trên các tuyên bố chính thức, việc chinh phục ngoại ngữ có lúc được đề lên như một thứ quốc sách. So với những năm chiến tranh, phải thấy điều kiện học của các bạn trẻ bây giờ đã khá hơn trước rất nhiều. Lại càng không nên nghĩ đến chuyện ký tính, sức nhớ, khả năng thông minh của học sinh sinh viên nước mình …

 Vậy thì tại sao mọi việc thê thảm làm vậy?

 Không dám coi như một môn bắt buộc trong các kỳ thi phổ thông.

 Để mặc cho hiện tượng bằng giả tràn lan kể cả bằng thật nhưng kiến thức giả phổ biến trong giới giáo sư tiến sĩ.

Chấp nhận tình trạng quê mùa của cả xã hội mà không có cách nào kháng cự.

 Phải chăng cái sự kém cỏi kia hiển nhiên và kéo dài từ thế hệ nọ sang thế hệ kia đến mức người ta bắt đầu tuyệt vọng.

    Chính ở đây, tôi  thấy phải nói tới những nguyên nhân tâm lý:

   Nhìn vào lớp nhà văn chống Mỹ vừa nói ở trên, trước tiên tôi nhớ tới hoàn cảnh mà bọn tôi lớn lên, trong đó có những chuyện mà ngày nay không ai tưởng tượng ra nổi.

     Hồi ấy, người Hà Nội xác định với nhau là “ta chỉ nói chuyện với chính ta“. Nghĩ tới người nước ngoài là nghĩ chuyện phải cảnh giác. Đi đường, thấy tây đầm hỏi đường, không được chỉ. Sổ ra vài câu tiếng tây với họ là bị công an gọi về đồn liền.

   Xưa nay nghề dịch vốn đã èo uột, vậy mà hồi đó báo chí, kể cả báo chí  văn nghệ còn gần như cai hẳn tức là bỏ luôn cái  mục được coi là rắc rối này.

   Vả chăng, muốn làm cũng chẳng có gì mà làm. Sách Anh Pháp không nhập, ngay sách Trung văn cũng không có, bên Bắc Kinh đang cách mạng văn hoá. Một số cuốn sách xô - viết  loại như "Chuyện núi đồi và thảo nguyên" in xong -- cũng như phim "Đàn sếu bay qua" phim "Người thứ 41" mang chiếu -- liền bị phê phán và thu hồi, ai cố tình tìm còn bị quy kết chính trị và đánh cho đến mức lên bờ xuống ruộng khốn khổ khốn nạn .

    Cái tình cảnh sống như tách mình ra khỏi thế giới ấy lâu dần lại được người ta lý tưởng hóa và biến thành một niềm tự hào "tự ta là đủ rồi", "ta không cần đến ai hết".

      Đến thời hậu chiến, khi những rào cản cụ thể hôm qua có vẻ không còn, thì những rào cản trong tâm lý con người không phải bỗng chốc mà dỡ bỏ được ngay. Nó đã ăn vào tư duy, chi phối  tình cảm và ý chí của nhiều thế hệ. Vì thế mới có tình trạng  sống giữa sách vở ê hề, tài liệu chồng chất và "gần như" không chịu một hạn chế nào như hiện nay, người ta chỉ có học đòi làm dáng, chứ vẫn không thể có một sự giao lưu và tiếp nhận tốt như đáng lẽ phải có.

LỐI MÒN TRUYỀN THỐNG

    Năm 2004, một nhà văn Mỹ là S. Sontag qua đời. Tôi nhớ những năm chiến tranh, bà này có qua Hà Nội, và nghe nói nhận xét về người mình hay lắm, mà bọn tôi không được giới thiệu.

    Thì may quá, có hôm đọc sách của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc thấy ông kể S. Sontag từng nhận xét người Việt Nam ít có thói quen tư duy trên một phạm vi địa lý rộng.

     Đó cũng là cái ý mà một người Nhật gần đây có sống mấy năm liền ở Hà Nội nhận xét: Người Việt ít khi đặt mình vào địa vị của người khác để suy xét.

    Tôi cho rằng chính những đặc tính trên đây cản trở việc học ngoại ngữ của ta hiện nay.    

     Đọc lịch sử cận đại, thời các cụ đua nhau Đông du, lại được biết:  Hồi Phan Chu Trinh mới qua Nhật, ông có được  gặp cả thủ tướng Nhật Bản lúc ấy mà phiên âm qua tiếng Hán Việt gọi là Đại Ôi. Câu đầu tiên mà Đại Ôi nói với Phan Chu Trinh đại ý tôi nghe nói người Việt Nam đã lâu, mà nay mới gặp, hoá ra người các ông ít đi nước ngoài thật.

    Tiếp đó, khi biết rằng người đối thoại với mình  lúc ấy chưa biết tiếng Pháp, Đại Ôi tỏ vẻ ngạc nhiên, sao lại thế, muốn đánh đuổi gì người ta cũng phải hiểu người ta đã, không học tiếng Pháp sao được?

    Chuyện đầu thế kỷ XX mà nghe như chuyện của chính chúng tôi trong thời chống Mỹ. Và nếu ông Đị Ôi lại biết thêm rằng khi Việt Nam đã có độc lập, việc hạn chế học ngoại ngữ có lúc dù không ghi thành văn bản nhưng thực đã trở thành một thứ luật lệ, thì không rõ ông sẽ bình luận ra sao.

MẤT HẾT CẢ SỰ KHAO KHÁT

   Những anh em lên Sapa về thường kể, không hiểu tại sao  tuy chỉ tích luỹ theo kiểu học lỏm khách du lịch mà nhiều thanh niên dân tộc H’mong trên đó nói tiếng Anh rất giỏi, trong khi nhiều người Kinh mình gần đây học có bài bản hẳn hoi mà nói vẫn rất quê.

    Từ chuyện có vẻ ngược đời đó, vẫn trên cái mạch đi tìm những ảnh hưởng của văn hoá đối với việc học ngoại ngữ, tôi muốn nêu một giả thiết :

    Tuy không nói ra rành rọt, nhưng những thanh niên H’mong kia hiểu rằng ngoài cái thế giới mà họ đang sống, còn có thế giới rộng hơn, gần nhất là thế giới của người Kinh. Và  muốn tồn tại họ phải hoà nhập với thế giới đó. Tức là ý thức về mình và kẻ khác của họ đã phát triển và nó ăn vào  trong tâm thức họ, đời nọ truyền sang đời kia. Khi tiếp xúc với một thứ tiếng mới, họ có nhu cầu  buộc mình cố bắt chước nói cho thật giống.

     Còn ngược lại, nhiều người vùng xuôi khi tiếp xúc với người nước ngoài, tuy ở ngay các đô thị lớn, song thường thiếu nghiêm túc, không coi là chuyện thiết yếu liên quan đến cuộc sống của mình.

     Sự xem thường đó là cả một thứ vô thức tập thể kéo dài và bền chắc, nó lưu cữu trong ta, và tha hồ tác oai tác quái.

     Miền Bắc xã hội chủ nghĩa chúng tôi hồi chiến tranh là thế chứ còn gì nữa!

ĐỂ NHỮNG BẼ BÀNG ĐỪNG LẶP LẠI

   Gần ba chục năm, tôi công tác ở một nhà xuất bản. Thỉnh thoảng, cơ quan tôi cũng có khách nước ngoài và khi tiếp khách, ông giám đốc không quên mời một số nhân viên cùng dự.

   Nhưng sau một ít lần háo hức, những ngày về sau, phải thú thực tôi rất ngại.

   Phần thì tiếng tăm không biết.

   Phần thì, trong những buổi gặp đó, thường chúng tôi hiện ra vô duyên thảm hại.

   Đại khái muốn trò chuyện về văn chương thì phải hiểu văn chương nước người ta ra sao, muốn bàn về xuất bản phải hiểu tình hình xuất bản bên họ thế nào. Đằng này chúng tôi mù tịt.

  Theo lời một nhà thơ nổi tiếng là có đầu óc rất tỉnh và cũng từng là quan chức đầu ngành của văn nghệ Hà Nội là Vũ Quần Phương -- thì nhiều cuộc gặp gỡ của các nhà văn ta với nhà văn nước ngoài bí chuyện trao đổi với thảo luận quá, rút lại chỉ còn nói tiếu lâm và bàn chuyện ăn uống, đại khái hỏi họ bên nước ông ăn thìa hay ăn đũa, rồi tán dần ra.

    Vài lần chầu rìa và ngồi nói tào lao như thế qua đi, giờ đây “nhỡ “ được gọi  tiếp khách là tôi xin kiếu. Một số bạn bè cùng lứa  cũng có tâm trạng như trên.

    Chúng tôi muốn các bạn trẻ biết cho chuyện này và đừng lặp lại. Dẫu sao, khi vào đời, một sinh viên cũng phải có được một ngoại ngữ. Đó là dấu hiệu để có thể nói rằng mình và thế hệ mình đã đi ra và muốn làm bạn với thế giới. Ngoại ngữ cũng chính là phương tiện để đạt tới cái đích tự nhiên đó.

    Còn nếu như sau khi đã quyết tâm rồi mà các bạn vẫn không sao học nổi thì xin có hai đề nghị có vẻ trái ngược nhau:

    Một là các bạn đừng trách mình nhiều. Nói thật, lỗi không phải ở các bạn đâu mà lỗi là ở những người đi trước, nay các bạn vẫn đang phải gánh chịu những di lụy của quá khứ.

   Hai là tuy vậy, các bạn vẫn phải tìm bằng được cách vượt lên để học những điều cần học. Con người phải có ao ước vượt qua định mệnh. Nếu chúng ta tiếp tục dốt nát tức chúng ta mãi mãi là tù nhân của quá khứ.

 Nguyên là bài

"Tại sao người mình kém ngoại ngữ?"

Báo Sinh viên Việt Nam

10-2006

 

NÓI THÊM VỀ CHỦ NGHĨA BÌNH QUÂN

Ngày 5 tháng 1 năm 2021

Bài viết "Ai cũng như ai, chen cạnh mà sống" đưa trên FB của tôi ngày 2-1 chủ yếu đề cập tới một cách hiểu về sự bình đẳng đã tồn tại ở miền Bắc sau 1954, ngày nay đang mở ra trong cả nước và có những diễn biến tinh vi.

Sự bình đẳng vốn được coi như một quan niệm hiển nhiên về con người. Nhưng cách hiểu về nó thì thường mỗi  người mỗi khác và dựa vào đấy, người ta có cách xử lý việc đời khác hẳn.

Như đến thời ta, theo tôi, nó  đã được giải thích sai làm  biến thành chỗ dựa để con người sống hành động  tùy tiện vụ lợi dẫn tới tình trạng hỗn loạn. Cách hiểu về  bình quân thô thiển này đang là  lực cản kéo chúng ta lại.

Có hai hoàn cảnh khiến những suy nghĩ trên nảy  sinh trong  tôi. Một là khi đi học, nhiều cán bộ công nông và con em họ lười và dốt  lại được cộng điểm và sau khi ra trường được ưu tiên lựa chọn vào những cơ quan đầu não .

Hai là trong mọi công việc, nhất là những công việc đòi hỏi lao động chất lượng cao,  có cả một xu hướng cào bằng tốt xâu hay dở chi phối.

Ví dụ như trong văn chương.

Để viết nên một tác phẩm tạm gọi là xuất sắc, người ta phải  bỏ ra một công sức gấp trăm lần việc ngoáy vội làm ra những trang văn những dòng thơ xoàng xĩnh.

Vậy mà trong khi tính toán tiền nong trả cho công việc, giữa cái hay và cái dở chỉ có sự phân biệt nhỏ,  cách đánh giá như thế dẫn những người láu lỉnh chạy theo số lượng hơn là  để công chăm lo chất lượng.

 Còn trong thời kinh tế thị trường như hiện nay, lại đang có tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, với muôn ngàn biểu hiện khác nhau, mà  khi cần biện hộ, người ta lấy quyền sống, sự bình đẳng trong tồn tại  làm cái mộc cái lý do cuối cùng che chở.

Trong giao thông chúng ta đang chứng kiến tình trạng hỗn loạn, phần do đường xá đã quá tải, phần do mọi người luồn lách cản trở nhau. Riêng tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý thấy rõ nhất ở các trung tâm còn nhiều chất đô thị trung cổ như Hà Nội. Đó là tình trạng người sử dụng xe thô sơ (và nay là xe máy) lấy cớ bình đẳng xâm phạm vào phần đường của xe ô tô, rồi lấy chuyện ngăn trở được những phương tiện hiện đại hơn làm niềm vui.

Nhìn rộng có thể  thấy do đám đông được chiều chuộng, các phần tử ưu tú bị đánh phá không còn chức năng lôi cuốn cả xã hội đi tới.

Chủ nghĩa bình quân chưa bao giờ có nhiều bộ mặt như hiện nay, nhưng về bản chất nó là một phương diện của tư tưởng tiểu nông  theo mãi chúng ta trên con đường hiện đại hóa tự phát.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MẠNH AI NẤY SỐNG

Ngày 14 tháng 1 năm 2021

Nếu từng chiếc xe là biểu hiện của cái tôi, thì đường sá là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống mà ta vẫn sống tuy không bao giờ hình dung ra đầy đủ.

Đó là một trong những ý nghĩ chủ đạo của tôi khi tham gia giao thông hàng ngày từ nhà đến sở. Chúng tôi sắp đến sở. Những công việc đang chờ chúng tôi giải quyết cũng ngổn ngang như tình trạng quá tải mà mỗi con đường phải chịu. Đường sá thời đi xe đạp nay tràn ngập xe cơ giới. Mà cũng chỉ cơ giới nửa vời tức là xe máy. Chúng tôi thì cũng có chuẩn mực gì cho cam. Nếu xe chúng tôi cũng cái cũ cái mới, cái nhập bên tây cái nhập bên tàu thì con người chúng tôi cũng mỗi cá nhân là một thế giới riêng, chẳng ai vừa lòng ai, không ai cộng tác được với ai. Ai cũng mắm môi mắm lợi để cố mà đi cho nhanh trong khi thực tế tốc độ xe cơ giới trung bình chỉ độ hai mươi km một giờ. Và chen chúc. Và lộn xộn nữa. Và nhiều khi chỉ cần một chiếc xe ăn vạ ra đường là gây ùn tắc làm khổ không biết bao nhiêu người mà kể.

BIẾT LÀ KHÔNG NÊN MÀ VẪN NHẮM MẮT LÀM THEO

Trước khi ra đường, thường tôi không quên tự nhủ mình  không có việc gì quan trọng, hãy cứ từ từ mà đi, kẻo tai nạn xảy ra thì khốn.

Ây vậy mà nhiều lần nhìn đồng hồ xe máy, thấy đã phóng với tốc độ bốn năm chục ki lô mét từ lúc nào. Hoặc ở những quãng đông, xe mình cũng bóp còi inh ỏi chẳng kém một ai; rồi cũng ra cái điều khoái trá hỉ hả y như bắt được của, khi vượt được người bên cạnh, mặc dầu sau khi phóng như điên đến cái nơi cần đến, cũng chẳng có việc gì quan trọng, mà chỉ làm chén nước và tán gẫu.

Thấy lối đi ấy ở mình đã thành thói quen tự nhiên, và hỏi chuyện những người khác, rồi tôi mới vỡ ra: cái cách đi lại như hiện nay nó làm nảy sinh trong mỗi chúng ta cái tâm lý đua chen. Tức là thường xuyên nảy sinh sự so sánh. Ông này đi ngớ ngẩn quá, bị người ta chèn; còn mấy cậu choai choai kia đi liều đi ẩu song hoá ra lại được việc. Ta hay trông trước trông sau. Và chỉ sợ thiệt. Ta học rất nhanh những thói xấu, xoay sở luồn lách. Hình thành một loại tâm lý đặc biệt: lấy việc hơn người được nửa vành bánh xe làm điều vênh váo.

Nhưng con người có phải cái máy đâu mà thoát được cái tâm lý tầm thường ấy!

NHỮNG LÝ DO THÂM CĂN CỐ ĐẾ

KHIẾN CHÚNG TA KHÔNG THỂ THAY ĐỔI

Sau những lần suy nghĩ về phản ứng của con người trong tình trạng giao thông hiện thời, bản thân tôi thường tự chấm dứt bằng một cuộc đối đáp nhỏ:

-- Thế tại sao lại nẩy ra cách sống cách đi lại như vậy?

-- Tâm lý tiểu nông ăn mãi trong ta. Ta quen đi lại trong những làng quê hoặc những đô thị trung cổ. Sau chiến tranh ta đưa người về thành phố và bảo nhau rằng xây dựng xã hội hiện đại trong khi không hiểu hiện đại là gì nhà cửa phố phường đường xá phải như thế nào

-- Thế nghĩa là tình trạng chen chúc hỗn loạn là bất khả kháng

-- Bất khả kháng. Vì mỗi chúng ta không thể sống khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT THẾ HỆ SẮP VÀ ĐÃ DẦN DẦN BIẾN MẤT!

Ngày 18 tháng 1 năm 2021

Trên FB Phạm Việt Hải   2 - 7 – 20 có bài viết với đầu đề như trên.

Tôi xin phép bạn Hải được chép y nguyên ra đây, để mọi người cùng đọc, chỉ viết lại đoạn đầu cho có vẻ hợp lô-gich hơn.

Ngoài ra, tôi cũng thấy mấy câu cuối cùng không được xứng tầm với cả bài nhưng … chưa biết viết lại như thế nào, nên tạm giữ nguyên.

************

Một hôm, cậu con trai hỏi ông bố của mình:

- Bố ơi, con không hiểu ngày xưa bố và mọi người sống như thế nào khi không có Internet không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động?

Câu hỏi mang một ẩn ý  “làm sao mà thế hệ bố sống nổi khi thiếu các tiện nghi như vậy”

Ông bố có vẻ chưa nghĩ kịp. Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi

làm sao mà thế hệ bố sống nổi, ông có đoạn tự bạch sau.

----

Thế hệ bố, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:

- Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.

- Sau giờ học, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.

- Không ai ôm tivi, điện thoại, iPad từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet.

- Nếu như khát, bọn bố uống luôn nước ở bất cứ đâu được cho là sạch, chứ không phải nước đóng chai.

- Bọn bố ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 gáo nước. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền từ thầy lang hoặc trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.

- Bọn bố không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng cơm, rau và bất cứ thứ gì có thể ăn được...

- Bọn bố chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy như đất sét, lá cây, que củi thậm chí là mảnh vỏ chai... và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.

- Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.

- Ngày xưa bọn bố đã có thể tự chăm sóc bản thân mình từ bé, không ỷ lại ông bà hay người lớn, 10 tuổi đã biết làm hết những công việc trong nhà để đỡ đần ông bà và những người lớn, thậm chí nấu cơm, giặt đồ, chăn trâu, cắt cỏ, lấy rau ngoài đồng về cho lợn ăn...

----

- Ngày xưa, bọn bố chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…

Nhưng bọn bố có những người bạn thực sự, là khi:

- Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.

- Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…

- Thế hệ bố không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chôn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.

- Bọn bố không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram….

------

- Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái biết nghe lời cha mẹ.

- Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.

- Thế hệ bố là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý… Hãy tranh thủ thời gian quý giá thay vì smart phone, ipad, máy tính... để có thời gian chất lượng bên cha mẹ…Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CUỘC SỐNG BẮT CHƯỚC NGHỆ THUẬT

Ngày 25 tháng 1 năm 2021

Có một mẩu tin tôi đọc từ cuối 2015, nhưng cứ nhớ mãi.

Tin các báo:

Trong phần chất vấn dành cho Thủ tướng phiên sáng ngày 17/11/15 tại Quốc hội, một đại biểu từ Tp HCM, ông Trương Trọng Nghĩa, nêu ra một nhận xét và đề nghị người đứng đầu chính phủ "giải thích thêm cho cử tri về việc này".

Nhận xét của đại biểu đó như sau :“Tham nhũng không giảm như các nghị quyết đã đề ra. Tham nhũng ngày càng tinh vi và có hiện tượng chi phối luật pháp và khi đó người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng chứ không phải là ngược lại”.

Cái hiện tượng nêu ra ở đây khiến tôi nhớ tới một tình huống trong cuốn “Alice ở nước diệu kỳ” của nhà văn Anh L. Carrol (1832-1868).

Nguyên đây là câu chuyện về cô bé Alice chui vào lỗ thỏ để rồi lạc vào xứ sở trong mơ của Thỏ Trắng, uống chai nước và ăn chiếc bánh kỳ lạ, tìm cách mở những cánh cửa bí mật khóa kín, đối đầu với các bà hoàng hậu, và những lá bài ma thuật.

MỘT PHIÊN TÒA

Sau một hồi phiêu lưu trong thế giới giả tưởng, tới đoạn cuối cùng miêu tả trong truyện này, Alice ngẫu nhiên dự một phiên tòa trong cung vua: tòa xử một vụ ăn cắp bánh của hoàng hậu.

Ngẫu nhiên khi vua ra lệnh cho gọi nhân chứng thì chú thỏ trắng lại gọi ngay Alice.

Alice từ chối:

- Tôi đâu biết về vụ ăn cắp mà làm chứng.

- Đó mới là điều quan trọng.

 Ý ngầm mà thỏ trắng không nói: chính là vì ngươi không biết ta mới cần ngươi.

Khi hoàng hậu nêu một lý do vớ vẩn để bảo Alice không được làm nhân chứng, vua quát hãy rời khỏi đây.

Alice nằn nì xin ở lại thì lại được chứng kiến một cảnh xử án không có nơi đâu.

- Vua: Hãy tiếp tục luận tội.

- Hoàng hậu: Tuyên án trước rồi sẽ luận tội.

- Alice: Ai lại tuyên án trước luận tội sau bây giờ, thật phi lý!

- Hoàng hậu: đem con nhỏ này ra chặt đầu ngay.

Khi bị tuyên bố chặt đầu, Alice mới như tỉnh cơn mê. Với câu nói cuối cùng “tất cả bọn ngươi chỉ là một bộ bài không hơn không kém”, giấc mơ của Alice cũng chấm dứt.

HIỆN TƯỢNG & XU HƯỚNG

Quay trở lại  phần nhập đề bài này.

 Cái tình thế xã hội mà ông Trương Trọng  Nghĩa  vừa miêu tả “người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng” cũng chỉ là một phần của tình trạng thế giới đảo ngược mà người ta quan sat thấy  ở nhiều xã hội thời nay, kể cả ở ta.

Riêng ở ta thì  nhiều người thuộc lứa tuổi tôi thường khái quát : nay là lúc xã hội loạn ly,

cái hiện tượng “người lớn sợ trẻ con, thầy giáo sợ học trò, người tốt sợ người xấu, người ưu tú sợ kẻ bất tài” ngày một phổ biến cái nọ chuyển hóa vào địa vị của cái kia.

 Người ta không biết giải thích làm sao . Người ta  chỉ đành kêu trời.

 Nhưng nói như Nam Cao, trời ở rất xa.

Người chống tham nhũng thì ngày càng ít đi mà người tham nhũng thì ngày một nhiều hơn. Từ đây tới khi  xảy ra tình trạng người tham nhũng nhiều xử kẻ tham nhũng ít, hoặc người tham nhũng có quyền lực xử  kẻ tham nhũng mất quyền lực -- thời gian chắc chẳng bao xa

 Đằng nào thì cũng là những chuyện mà trong thế giới cổ điển nó hiếm hoi hãn hữu, nay lại phổ biến.

Điều đáng mừng là trong việc này nghệ thuật lại có vai trò tiên tri với nghĩa nghệ thuật đã dự báo trước.

  Đó chính là nội dung của cái câu “Không phải  nghệ thuật bắt chước cuộc sống mà chính ra là cuộc sống bắt chước nghệ thuật” người nói là Oscar Wilde (1854-1900).

 Dù là cái thiên chức này của nghệ thuật còn đang là chuyện xa lạ ở VN, thì người ta vẫn mừng là nó đã có và nếu chịu khó đọc, chúng ta sẽ bình tĩnh hơn khi nhìn nhận hiện tượng trước mắt.

VĂN HỌC PHÁP ĐÌNH

  Một mô-típ phổ biến của văn học nhiều nước , là cái tình tiết “con người phạm tội, họ phải ra tòa và công lý đã phải khó khăn ra sao để giải quyết”.

Từ những câu chuyện về Bao Thanh Thiên ở Trung quốc tới trường hợp  cuốn "Tội ác và trường phạt" của Dostoievski, biết bao là cách xa diệu vợi.

 Nhưng cả hai đều thuộc về một mảng văn học mà chúng tôi tạm gọi là văn học pháp đình.

Ở ta tuy ít nhưng không phải là không có

Ai đọc truyện cười VN, hẳn nhiều còn nhớ  truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày!”

Làng kia có một tên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.

Một hôm nọ, Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện, thầy lí nói:

- Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.

Cải vội xoè năm ngon tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí khẽ bẩm:

- Xin xét lại, lẽ phải về con mà!

Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:

- Tao biết mày phải... nhưng nó lại phải... bằng hai mày!

Trong văn học hiện đại, tôi chỉ nhớ tới cuốn phóng sự “Trước vành móng ngựa “ của Hoàng Đạo. Còn từ sau 1945, thì lục mãi không nhớ, vậy nhờ các bạn tìm hộ.

Nhưng tôi vẫn tin chắc là ở ta hiện nay thứ văn học pháp đình này đâu có nằm trong sự quan tâm của các nhà văn nên dự đoán là ít chắc chẳng sai. Vì ở ta hôm nay đến báo chí nói về các vụ kiện ở các tòa án ở cái mức mà ta vẫn thấy ở nhiều nước -- thứ báo chí đó cũng làm gì có!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÚNG TA LÀM CHỦ NHƯ THẾ NÀY ĐÂY!

Ngày 26 tháng 1 năm 2021

1/Sớm nay 28 tết,  trên đường ra bãi giữa sông Hồng,  nhìn vào  một ngôi nhà mặt đường mới mở, tôi thấy cả một cây đào dại cao chất ngất ở bên ngoài. Liên quan đến tết, tôi  hiểu rằng cuộc sống của những trọc phú thời nay thường bao gồm cả sự khoe của, bao gồm cả khoe khả năng liều lĩnh dám làm bất cứ việc gì có tiền và nghiễm nhiên coi đó là độc đáo, là hơn người.

   Dăm bảy năm trước, việc chơi đào dại của dân Hà Nội còn khá từ tốn. Người ta chỉ bẻ về bán những cảnh có dáng lạ và hoa nở đều. Nay thì thượng vàng hạ cám, cứ  đào dại là mang về, đào dại bày bán ở mọi ngõ xóm, đào dại là thứ thỏa mãn tâm lý bất cần đời của người nghèo. Một cuộc đại tàn sát đã xảy ra. Trong khi leo lẻo bắt chước thế giới là quan tâm tới môi trường, chúng ta có hiểu gì về lời chúng ta nói đâu. Nhớ hồi tháng sáu, báo chí đưa tin ông thủ tướng đương nhiệm có lệnh đóng rừng. Mở google, đặt bốn chữ lệnh đóng cửa rừng trong ngoặc kép, tôi chỉ tìm được con số 4701 và toàn những bài cũ rích  Có nghĩ rồi cũng không làm được. Nữa là nay chúng ta còn không buồn đặt chuyện bảo vệ môi trường vào đầu óc của mình. Bao giờ thì việc chặn đứng sự phá hoại môi trường mới  được thực thi? Bao giờ ?

2/ Bàn về việc đưa người các vùng văn hóa khác lên Tây Nguyên mấy chục năm nay,  trong bài viết trên FB ngày 19-12 tôi mới đả động qua  loa tới môi quan hệ giữa những cộng đồng nhỏ với thiên nhiên, nhất là  giữa những con người vừa di cư với môi trường mà họ mới tới sinh sống.

 Lúc này đây, tôi nhớ tới cảnh một cảnh tết trong truyện "Quê người "của Tô Hoài.  Ngày tết túng đói quá, gia đình anh Thoại phải đi săn lùng những con chó sợ pháo, rồi bị người ta đánh bị thương, cả gia đình ngay đêm ấy phải bỏ làng ra đi.

Đi đâu? Lên  rừng, ngày xưa gọi là miền ngược ma thiêng nước độc.

Trong truyện ngắn "Mua nhà", Nam Cao cũng để cho nhân vật thất cơ lơ vận bỏ vợ con ở nhà lên rừng hòng kiếm chút vốn liếng.

Và xa hơn nữa là câu thơ Tú Xương;

“Phố phường chật hẹp người đông đúc

Bồng bế nhau lên nó ở non”

Theo nhà nghiên cứu Pháp P. Gouru, tác giả cuốn “Người nông dân châu thổ Bắc bộ” - đồng bằng sông Hồng thuộc loại  những vùng đồng bằng có mật độ dân cao nhất thế giới.

Đến nay tôi đoán vẫn thế.

 Hôm qua con người nghèo túng nơi đây đã coi rừng rú là nơi tha hồ phá phách.

Thứ “văn hóa rừng” của chúng ta -- văn hóa với nghĩa hiểu biết về rừng biết cách chung sống với nó lâu dài  bảo vệ rừng lâu dài  -- cái đó hoàn toàn không thể so được với đồng bào Tây Nguyên đã ở đây từ bao đời nay.

Xưa  chưa có phương tiện đành chịu.

Nay trong cơn đói kém, lại sẵn phương tiện hiện đại, người ta làm thịt rừng dễ dàng hơn nhiều, phần phá phách rừng này rỉ rả mỗi ngày một ít nhưng so với phần phá của các nhà tư bản lên rừng thuê lâm tặc xẻ gỗ về xuôi, không chắc bên nào chịu kém bên nào.

3/Trong một chương trình thời sự 19h VTV1 những ngày đầu năm 2017, chỗ phần tin không có hình, tôi đọc được một câu ngắn nói rằng 4,5 nghìn hộ dân Tây nguyên được chia đất mới và họ sẽ dựa vào rừng để mưu sinh.

Vậy là ta tự phá ngôi nhà của mình, ta hy sinh tương lai cho hiện tại . Khi tự đặt cho mình câu hỏi  tại sao cái việc tàn phá hoàn cảnh như thế này xảy ra, tôi tạm tìm thấy câu trả lời:

-- vì trình độ sống của chúng ta còn thấp. Nói rõ hơn là hiểu biết của cộng đồng về quá khứ lẫn hiện tại đã mù mờ, đến như tương lai thì càng không hình dung ra nổi.  

-- vì chúng ta có một thứ chủ nghĩa tập thể rất thú vị. Cứ việc gì cả làng cả xóm cùng làm thì bậy mấy sai mấy cũng không bao giờ có tội.  Thời còn hợp tác xã ở miền bắc một người ăn cắp không được, chứ cả tổ cả đội đồng lòng thì tha hồ.

-- vì chúng ta không biết phát triển là gì và đang sùng bái sự ổn định. Cứ việc gì góp phần vào sự ổn định trước mắt là được phép làm tất.

Cuộc chiến 1945 -75  có một lý do chính đáng là chống  ngoại xâm giành quyền làm chủ đất nước. Cả triệu người hy sinh xương máu. Hàng chục  triệu người tàn phế cả về thân xác lẫn tâm hồn. Xã hội lùi lại cả một giai đoạn văn minh tới mức đến nay sau hơn bốn chục năm hậu chiến  dù có phồn vinh bên ngoài vẫn hoang dại bên trong ...  

 Nay chúng ta đang làm chủ như thế này đây.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÓ PHẢI LÀ MỘT LỜI KHUYÊN VÔ TRÁCH NHIỆM?

Ngày 30 tháng 1 năm 2021

Đi lại trên đường phố Sài gòn tôi thường trông vào các ông xe ôm. Vì bao giờ tôi cũng nhân dịp này, hỏi thêm họ vài chuyện có liên quan tới tình cảnh dân nghèo trong thành phố, nhất là chuyện đi học của con cái. Sau khi nghe họ kể lể về gia cảnh, tôi thường bảo:

-- Thời buổi này bác ạ, trừ phi gặp đứa thật giỏi giang không kể,  còn đừng có cho chúng nó đi học nhiều làm gì. Xong độ trung học cơ sở là thôi, cho đi học nghề. Các nghề linh tinh nhận tiền của dân ấy. Lam lũ nhưng chắc chắn. Bị coi khinh có khi lại sống.

-- Học lên đến đại học chỉ phí tiền mà  ra vẫn thất nghiệp?

-- Đúng vậy. Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay cấp nào cũng xoay. Kệ dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được họ đua với nhau. Với lại sau này họ còn có chỗ cho con họ thế chỗ.

Gặp ông biết nghe và hiểu tình hình, tôi còn nói thêm vài chuyện nữa.

 Bây giờ cho trẻ đi học là chuốc lấy các loại kiến thức cũ mèm và  nhiều thói xấu, mà xấu nhất là gian dối.

Cả đi làm nhà nước cũng vậy.

 Âu là cứ trở về với dân gian. Chính dân gian lại dạy bảo nhau những điều tử tế.

 Những lần đầu, sau khi  không ngại vô duyên buông ra một lời khuyên như vậy, tôi  cũng hối hận. Sao mình ăn nói như một kẻ vô lại vậy?

 Nhưng rồi tự nghĩ vẫn thấy mình đã tự bác bỏ mình mà không bác nổi.

Chính với những họ hàng xa gần tôi cũng hay nói vậy và không ít trường hợp nhận được sự đồng tình.

 Còn truy nguyên ư, nó xuất phát từ cái cảm giác tuyệt vọng của tôi về nền giáo dục đương thời. Làm sao mà  có thể cải tạo cái bộ máy giáo dục hiện nay để chúng ta có thể yên tâm gửi con gửi cái cho họ được. Tương lai là mù mịt.

CHẾT CÒN HƠN SỐNG

Từ khoảng những năm 1980… tôi đã được nghe nhà văn Ma Văn Kháng kể lại mẩu chuyện sau đây:

Có một bà mẹ có hai người con tham gia chiến tranh. Một hy sinh. Và một trở về. Người trở về nhân danh có công và sức khỏe suy tàn, mang theo bao nhiêu thói xấu, bắt cụ nuôi báo cô. Trong khi đó, người đã hy sinh mang lại cho cụ cái thẻ liệt sĩ, cụ được hưởng một ít quyền lợi, mà lại đỡ phải hứng chịu những chuyện đau lòng.

Và anh Kháng bảo, đấy cậu xem, cái sống cái chết bây giờ khác nhau là thế, chết lại hơn sống.

 Hơn ba chục năm đã qua, tình cảnh những gia đình trên đây có những diễn biến mới.  Sau một thời gian bế tắc, một số người trở về lấy ngay cái thành tích chiến đấu của mình ra mà ăn vạ, không việc gì mà không dám làm, ban đầu còn chỉ tính truy lĩnh cái phần mình thiệt thòi, sau tha hồ làm những chuyện bất nhân bất nghĩa.

 Trong cơn khốn quẫn, có những bà mẹ thấy con làm vậy cũng chấp nhận xui con làm tiếp.

 Nhưng tôi biết có những bà mẹ càng thấy con vô cớ mà  nhà cửa cứ giàu lên đùng đùng thì  càng phiền lòng.  Một bà đã kể lại với Ma Văn Kháng cái cảm giác kỳ cục của  mình,  rồi nhà văn của chúng ta mới gia cố nó thành chết lại hơn sống.

Khi nói với các bác xe ôm Sài Gòn những lời có vẻ vô trách  nhiệm về sự học thời nay,  tôi thường nhớ tới câu chuyện trên của Ma Văn Kháng.

Chúng ta đang phải sống trong cái thời cay đắng quá.

 

 

 

HOA HÀ NỘI

Ngày 31 tháng 1 năm 2021

Cái vườn hoa duy nhất mà hồi nhỏ tôi biết là vườn hoa Hàng Đậu.

Từ trước 1954, tôi sống với gia đình bố mẹ ở Thụy Khuê, thường ngồi xe điện Bưởi - Bạch Mai xuống chợ Đồng Xuân. Tàu lên tàu xuống tránh nhau ở "quai - di - măng" đầu phố Quan Thánh, ngay cạnh vườn hoa nhỏ. Hồi trước nó được gọi là vườn Vạn Xuân, nay cứ quen mồm gọi là vườn hoa Hàng Đậu.

Năm 1968 tôi về công tác ở Văn Nghệ Quân Đội. Cơ quan lúc đầu còn sơ tán ở Hương Ngải Thạch Thất. Từ cuối 1968, thì về lại 4 Lý Nam Đế. Lại thường qua khu vườn hoa quen biết, coi như vườn nhà.

So sánh hoa trồng hai thời ở vườn hoa này, tôi nhận ra thế nào là dấu vết chiến tranh.

Trước đây hoa trồng bao giờ cũng đều tăm tắp, các luống hoa toát ra một vẻ đẹp thuần hậu và cao quý. Mới mấy năm chiến tranh mà cái vườn hoa đã cây thấp cây cao, nhiều giống hoa lạ xuất hiện khiến cả luống không bảo đảm thuần chủng như ngày xưa.

Trải qua nhiều năm, đến cuối chiến tranh tôi lại nhận thêm ra một điều. Là vẻ đẹp toát lên từ nhiều hoa mới trồng hiện nay là một vẻ đẹp hoang dã. Thời Pháp thuộc có Sở trồng hoa và ươm cây, ngay cạnh Vườn Bách Thảo. Tôi đoán hồi trước loại hoa nào được trồng cũng cân nhắc kỹ. Còn ngày nay người ta cho phép lưu hành mọi loại hoa khác nhau, tính chất quý phái của hoa mất đi, và cuộc đời các giống mới thì thay đổi rất nhanh, trồng vài năm chán, người ta vứt đi lại trồng thứ khác.

(Tôi thường liên hệ số phận của hoa với số phận người trí thức chân chính.

Người có tài thường đòi hỏi nhiều sự chăm sóc riêng biệt. Chiến tranh cào bằng tất cả, chiến tranh chỉ cần những người dám xông lên và biết nghe lời. Cũng như hoa, trí thức thứ thiệt cũng là loại sớm bị hy sinh trong chiến tranh và tới nay sang thời hậu chiến thì đã gần như mất giống không sao khôi phục nổi nữa. Nhưng thôi, đây là cả một câu chuyện dài, sẽ nói khi khác.)

Chung quanh thái độ con người với hoa tôi muốn nêu hai việc:

- Để bảo vệ các loài hoa mới trồng ở những nơi có nhiều người qua lại như quanh Hồ Gươm chẳng hạn, tôi thấy người ta chỉ dùng mấy sợi dây lem nhem hoặc mấy đoạn dây thép cứng quèo, còn đoạn tre nứa cong queo cắm làm cột giữ thì đổ xiêu đổ vẹo.

- Muốn chứng tỏ là mình yêu hoa, gần đây lại có mốt trồng hoa ở ngay dưới gốc cây dọc các vỉa hè, nghĩa là sát mặt đất, nơi vô ý người ta có thể giẫm lên bất cứ lúc nào. Hoa là thứ cao quý nay thành một thứ thấp lè tè và chỉ có tác dụng phụ trợ cho các cây lớn ngồng nghềnh. Giữa cây và hoa, mỗi bên có vẻ đẹp riêng. Lúc này vẻ rực rỡ của hoa bị tầm thường hẳn đi bên cái đẹp thô tháp cứng cỏi của cây. Đặt thế sao tiện? Như là làm nhục hoa vậy.

Trở lên mới nói về hoa ở các nơi công cộng. Còn chuyện chơi hoa trong các gia đình thời nay? Tôi nghĩ cái giống tượng trưng cho thiên nhiên và đồng nghĩa với vẻ đẹp này chắc cũng đang có một số phận bạc bẽo. Người lợi dụng nó thì nhiều, người yêu nó thì ít. Mà có yêu chăng nữa cũng không biết cách yêu, nên chỉ lửa rơm một thời gian ngắn rồi tình yêu đó cũng tàn phai.

 

 

 

 

 

 

 

 

LÀM SAO ĐỂ THÊM CHẤT TRÍ TUỆ CHO LỄ HỘI ?

Ngày 3 tháng 2 năm 2021

Nguyên là bài “Đi lễ hội để cầu may và cầu lợi?”

Bài đưa lần đầu trên Pháp luật TPHCM online, 2010,

*

Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm, muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo, bắt Tấm chọn xong mới được đi.

Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng. Có một ma lực nào đó cứ lôi cuốn tôi mặc dù lý trí đã bảo tôi rằng không nên đi tìm ảo ảnh. Mỗi năm mỗi có thêm những lễ hội tổ chức kém, luộm thuộm, cẩu thả, nó là tình trạng chung của các hoạt động công cộng hiện nay. Vào cái “Tháng Giêng là tháng ăn chơi này”, đây là câu chuyện đầu miệng giữa mọi người và đã được báo chí khai thác dưới nhiều góc độ… cười ra nước mắt.

Vấn đề tôi muốn đề nghị mọi người cùng suy nghĩ hôm nay là tại sao lễ hội lại diễn biến theo kiểu đó. Tại sao dần dà chúng ta đã làm hỏng lễ hội đi trong khi vẫn bị cuốn theo nó và có vẻ như không thể thoát khỏi nó.

NHU CẦU TÂM LINH TRONG NHỮNG CON NGƯỜI CỔ LỖ

Trong một công trình nghiên cứu được sự bảo trợ của Viện Harvard Yenching mang tên Sự biến đổi của tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay (in 2006), ngay trong phần dẫn luận người ta đã đọc được một nhận xét đại ý nói trong xã hội hiện đại, sự hồi sinh của tôn giáo, kể cả hình thức sơ khai như các lễ hội, các cuộc hành hương cầu cúng… chính là một cách phản ứng của con người trước những thay đổi lớn lao mà nền kinh tế thị trường mang lại.

 “Có cung nên mới có cầu”. Như một phóng viên báo Pháp Luật TP.HCM đã nêu trong bài phỏng vấn, chính những người đang đảm nhiệm thứ dịch vụ niềm tin, tức là các ban tổ chức đã biện bạch cho công việc của mình như vậy.

Nhu cầu nói ở đây trước tiên là trên phương diện tinh thần. Vào những ngày xuân, trong mỗi con người chúng ta thức dậy cả một định hướng tâm linh. Muốn tìm tới phần sâu kín trong chính mình và chung quanh. Muốn hiểu, muốn tự cắt nghĩa.

Trở về cội nguồn… Cố kết với cộng đồng thông qua các biểu hiện thờ cúng… Cân bằng đời sống tâm linh… Vừa sáng tạo vừa hưởng thụ văn hóa… Những luận điểm ca tụng lễ hội đã được các nhà nghiên cứu văn hóa ở ta nêu khá đầy đủ và nhiều người chia sẻ nhưng đó mới chỉ là một phần sự thực.

Nguyễn Văn Huyên từng viết trong Văn minh Việt Nam (1944) người Việt chỉ có những niềm tin mơ hồ. Đời sống tôn giáo của con người ở đây không lấy gì làm sâu sắc cho lắm. Ở người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy. Ngày nay chúng ta vẫn chưa tiến được xa bao nhiêu so với con người mà Nguyễn Văn Huyên miêu tả.

TÂM LÝ CẦU LỢI ĐANG CHI PHỐI

Gần như trong lòng mọi người đi hội, một mục đích kép đã được đặt ra, đồng thời với việc hành hương Văn hóa, ta đặt vào đấy khá nặng những nguyện vọng cá nhân như là cầu may và cầu lợi.

Tâm lý cầu may vốn là bạn đường của những con người bối rối. Thế giới luôn luôn hàm chứa những bất trắc. Cuộc sống còn nhiều bóng tối, người ta đánh mất cả niềm tự tin, thường xuyên họ cảm thấy họ chỉ là vật hy sinh của số phận. Cuộc truy đuổi vận may không biết có hứa hẹn kết quả gì không nhưng có làm vẫn hơn. Những lực lượng siêu nhiên và cả những ngẫu nhiên bất chợt thành chỗ bấu víu cho những ảo tưởng.

Bởi sự bất trắc cũng đang bao trùm trong việc làm ăn nên khía cạnh cầu may cũng đã có mặt trong việc cầu tài cầu lợi.

Thực tế là "bao người tử tế vì không biết trơ tráo, liều lĩnh làm càn" vẫn thất bát,

 ngược lại làm bậy vẫn " thắng lớn", giỏi mưu mô, xảo quyệt tự khắc giàu lên đùng đùng.

Trong những lúc lắng lại đối diện với mình, những kẻ thành đạt bằng con đường gian dối không khỏi hoảng sợ. Cùng một lúc nảy sinh hai tâm trạng.

Một mặt lo bị trừng phạt, phải đi tìm thần thánh để hối lộ.

Mặt khác tiếp tục phiêu lưu vào con đường tội lỗi, mong rằng cái vận may hôm qua nay lại gặp lại. Cầu cúng chính là một dịp nuôi dưỡng những tham vọng ngầu đục muốn tìm vào chỗ tăm tối của lễ hội để được nuôi dưỡng và an tâm sống tiếp.

Tâm lý cầu lợi đang chi phối cả những người làm lễ hội đón khách cầu cúng. Bởi họ cũng chỉ như chúng ta. Ban đầu họ cũng làm vì những mục đích cao cả. Nhưng rồi cuộc sống hằng ngày chi phối, họ cũng sa đà vào cảnh buôn thần bán thánh, nhân danh sự thiêng liêng của lễ hội để làm chuyện lừa lọc.

TÌM CÁCH TỔ CHỨC MỚI CHO LỄ HỘI

Phan Kế Bính viết trong Việt Nam phong tục: “Xét cái tục hội hè của ta rước xách rất phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình”. Ông cũng nói thêm hội hè là dịp người ta chơi bời, cờ bạc, thanh niên bỏ cả công việc ở nhà đi hội, vậy thì “chẳng những vô ích mà lại hại cho làng xóm”.

Để thoát ra khỏi tình trạng mà Phan Kế Bính cảnh báo cần có sự nỗ lực của cả xã hội. Cần nghiên cứu những biến động mới trong tâm lý xã hội. Cần tìm ra những cách tổ chức mới cho nhu cầu vừa là giải trí, vừa là hướng thượng cho con người. Mọi thứ mệnh lệnh không đủ, đến cả luật pháp nếu có chắc cũng bó tay. Cái mà chúng ta đang thiếu là văn hóa theo đúng nghĩa của nó, văn hóa của trí tuệ  chứ không phải thứ văn hóa nặng về bản năng như hiện nay .

Và trước tiên là hãy biết nhìn lễ hội bằng con mắt phê phán chứ

không phải hùa nhau ca ngợi bừa bãi.

 

 

THƠ ĐỌC CUỐI NĂM

THƠ ĐỌC CUỐI ĐỜI

Ngày 8 tháng 2 năm 2021

Những ngày trời đất giao mùa thời tiết bất thường mà lại buồn bã, không làm được gì, tôi thường tìm chỗ bấu víu ở những cái mà lâu nay mình đã đọc.

Nhưng cái phần gia tài tôi tích cóp bấy lâu dù mỏng mảnh mà vẫn lộn xộn ngổn ngang, thứ giàu khả năng bao quát đời sống như SỬ thì tiếp cận khá muộn, thứ có nhiều hơn và thuộc nhiều hơn là văn chương thì không hiểu sao nay thấy phần lớn là phù phiếm.

 May quá, có những bài thơ, ví như bài dưới đây, tác giả là nhà thơ Pháp Josephine Soulary (1815 - 1891), tôi đã chép được từ sổ tay Xuân Quỳnh khoảng 1968 - 1970, mà Xuân Quỳnh chép được từ một bạn văn khác, chính thức thực tôi cũng không biết ai là dịch giả.

Tôi cho là loại thơ như thế này có thể đọc lại mỗi khi người ta muốn nhẩn nha men theo chiều dài cả cuộc đời mình.

HAI ĐÁM RƯỚC

Hai đám rước gặp nhau ở nhà thờ

Một đám thì buồn – nó mang theo quan tài một đứa bé

Một người đàn bà đi theo quan tài, bà gần như điên, cố nén một tiếng nấc trong cái ngực đang bốc cháy, nó như bẻ gẫy bà ta.

Đám rước kia là một lễ rửa tội

Một đứa bé mới sinh miệng ọ ẹ, đang ngọe nguậy trên cánh tay người đàn bà nâng niu nó

Mẹ nó đặt vào miệng nó cái vú với dòng sữa dịu ngọt

Mẹ nó ôm nó choàng lấy tất cả nó trong một cái nhìn kiêu hãnh của conngười vừa tạo được một kỳ công

Người ta ta làm lễ rửa tội, và nhà thờ dần vắng người

Hai người đàn bà lúc ấy gặp nhau dưới chỗ niệm kinh

Họ trao cho nhau cái nhìn kín đáo, và cả hai đều giống nhau ở chỗ vừa nhìn

đã quay đi hướng khác.

Và (có lẽ là) bởi sự biến cải kỳ diệu mà lời cầu nguyện đã tạo nên

Người mẹ trẻ khóc lúc nhìn quan tài

Còn người mẹ (có con chết) lúc trước vừa khóc, thì lại cười lúc nhìn đứa bé mới đẻ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHI ĐÃ BIẾN DẠNG , 

TÂM LÝ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI 

KHÓ LÒNG TRỞ LẠI BÌNH THƯỜNG

Ngày 16 tháng 2 năm 2021

(viết sau đoạn trích một tiếng trước)

  Nghĩ về tác động của  nghèo đói tới tính cách con người,  ta hay  cho rằng khi con người đã khá giả lên cụ thể là  không còn đói kém nữa  thì họ sẽ trở lại con người bình thường và mọi thói xấu nảy sinh do đói kém sẽ tiêu biến.

Nhưng không phải vậy.

Nhà nghiên cứu Diệp Đình Hoa  khi nghiên cứu về nạn đói kém ở Bắc Bộ trước 1945  từng nhận xét rằng đói kém không phải chỉ là

chuyện đứt bữa, do đó qua nhanh mà -- do chỗ nó kéo dài trong thời gian dài qua nhiều thế hệ -- nên về sau, khi đã đủ miếng ăn rồi, con người và cộng đồng  vẫn bị tâm lý đói kém chi phối.

Kết luận đó cũng  có thể áp dụng cho con người thời nay.

Nhiều người nghèo khó hôm qua, nay do luồn lọt do xoay sở giỏi đã giàu lên và tỏ ra rất hoang phí.

Nhưng đó chỉ là một phần mặt trái của tâm lý hôm qua.

  Còn đại thể  nhiều người trong họ vẫn tầm thường hèn hạ, dửng dưng trước nỗi đau khổ của người khác và không bao giờ đặt quyền lợi của xã hội lên trên quyền lợi của mình.

Tóm lại biến dạng một lần là biến dạng mãi mãi.

HAI DẪN CHỨNG TỪ TCHEKHOV VÀ THIẾT NGƯNG

 Sau đây  là hai trích đoạn dẫn ra từ văn học nước ngoài nói về tâm lý con người sau một thời gian dài bị hoàn cảnh đau khổ hành hạ.

Tuy các hiện tượng này hiền lành hơn nhưng cũng đáng để chúng ta hiểu thêm về hiện tượng tương tự ở ta (cả hai đã được đưa vào bài "Con người và tư tưởng thời bao cấp")

      Tchekhov là một nhà văn Nga vốn rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ làm hại tới phẩm chất con người. Qua miệng một nhân vật, ông từng khái quát “những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo nghiệt ngã, và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”.

      Ông từng dựng lại một nhân vật suốt đời lo kiếm sống và khi về già lấy việc được ngồi ngắm những trái cây thu hoạch trong vườn mình làm điều mãn nguyện ( Truyện "Quả phúc bồn tử").

    Bởi đã có lúc quá thiếu thốn, nên khi no đủ con người vẫn hiện ra bệ rạc đáng thương.

      Còn đây là một trường hợp gần với chúng ta hơn, một cách ứng xử bề ngoài có vẻ như không có gì quá đáng mà chỉ thoáng một chút kỳ dị, nhưng không vì thế mà bớt đi vẻ bi thảm.

     Trong "Chơi vơi trời chiều" , nhà văn Trung quốc Thiết Ngưng từng đưa ra một nhân vật rất lạ: do có thời gian bị đày xuống nông thôn và chịu cảnh rét buốt thấu xương, bà dạy mẫu giáo ở một huyện nọ nảy sinh một thói quen là lúc nào cũng lo rét sợ rét, và không đủ phương tiện chống rét ; thế là đi đâu, tới cửa hàng bách hóa nào, bà cũng lùng sục để mua chăn bông, rồi về “ xếp cao từ nền nhà lên tận trần”.

Bà đã tự làm khổ mình và làm khổ những người thân. Lỗi không ở bà, lỗi ở xã hội.

 

 

 

 

 

 

NHỮNG BÀI HỌC 

TỪ MỘT CÂY BÚT HẢI NGOẠI

Ngày 23 tháng 2 năm 2021

Khi được biết Nguyễn Thanh Việt (NTV) nổi lên  do viết về chiến tranh dưới góc độ người tị nạn, tôi vẫn còn dửng dưng, đúng hơn là không dám nghĩ tới chuyện tìm hiểu. Phần vì không biết tiếng Anh và không có sách. Và phải nói là  giữa  biển sách báo ra đời hiện nay, những quyển sách tốt  không có ai  làm người dẫn truyền, mà sách của NTV cũng vậy. May quá hôm nay đọc trên BBC bài “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt” của Nguyễn Phan Quế Mai (NPQM)  

Bài báo  cho biết một số chủ đề ở NTV được triển khai như sau:

1/ CHIẾN TRANH. Tại sao chiến tranh lại xảy ra? Tại sao con người lại tiếp tục chia rẽ con người? Sự chia rẽ đó không chỉ tồn tại trong hoặc ngay sau cuộc chiến, mà hậu quả của nó còn kéo dài trong rất nhiều thập kỷ.

Trong truyện ngắn “I'd Love You to Want Me” (tạm dịch Em muốn anh khao khát em) , quá khứ - với những đường viền ảo mờ là chiến tranh và loạn lạc - có nguy cơ chia rẽ vợ và chồng. Bà Khanh - người phụ nữ phải hy sinh công việc mà bà yêu thích để có thể chăm sóc chồng - dần nhận ra rằng chồng bà đang nhầm lẫn bà với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ đó là ai và có vai trò thế nào trong thời gian chồng bà còn sống ở Việt Nam? Liệu việc bà và chồng đã cùng sống sót chuyến hành trình vượt đại dương, đã cùng vượt qua những ngày đầu ở California - nơi họ đã phải ăn đồ ăn mua bằng phiếu thực phẩm, mặc quần áo cũ do người khác bố thí - có đủ níu họ lại với nhau? [nghĩa là kinh nghiệm tị nạn liệu có lấn át kinh nghiệm chiến tranh - VTN]

2/  TỊ NẠN Di sản mà những người tị nạn chiến tranh thừa hưởng từ cha mẹ mình thường bao gồm sự nghèo đói, hoặc sự bơ vơ lạc lõng trên đất khách quê người. Theo NPQM, khi mô tả những di sản thường gặp đó, ngòi bút của NTV bám rễ vào thế giới nội tâm của những người tị nạn để cất lên tiếng nói về di chứng tâm lý hậu chiến tranh. Có một câu tuyệt vời được NPQM dẫn lại

 'khi nằm trên giường và lắng nghe những đứa trẻ chơi nhắm mắt chạy trốn ở lối đi giữa những chiếc lều, anh cố gắng quên đi những người đã bám vào không khí khi rơi xuống sông, một số người bị đánh ngã trong sự hỗn loạn, một số bị những người lính đang tuyệt vọng tìm đường tháo chạy bắn vào lưng '.

3/ Các nhà văn VN hiện nay có phần lảng tránh chiến tranh. Số muốn tiếp tục khai thác các kinh nghiệm thời chiến thì lại bế tắc , không rõ nên viết cach nào. NPQM dẫn lại một câu của NTV : ‘'…Các tác phẩm của tôi, mặc dù chủ yếu nói về người Việt và cuộc chiến tranh Việt Nam, nói cho cùng là để hướng tới những chủ đề to lớn hơn - chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý. Lịch sử của bản thân tôi - với tư cách là người tị nạn mà cả hai đất nước đều không muốn đón nhận - đã khiến tôi trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.'

Thú thực chính vì đoạn văn có tính tuyên ngôn này mà tôi quyết định phải viết bài báo nhỏ này. Tôi muốn nhiều người chia sẻ ý tưởng đó của NTV.

 Các  nhà văn VN hiện nay cầm bút  thường chỉ nghĩ  chỉ lo cho cộng đồng mình. NTV đã  mở ra một hướng mới , bảo đảm cho sức khái quát của tác phẩm. Tôi  cũng tìm thấy ở  đây cái lý do chính khiến cho NPQM đặt tên bài viết của mình là “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt”

Nhà báo Cam Ly là người đầu tiên viết phỏng vấn  NTV trên báo Người đô thị số tết vừa rồi. Nhà nghiên cứu NPQM giới thiệu lại một lần. Tôi lại đồ lại lần nữa, xoàng quá. Nhưng tôi thấy vui vì biết đâu sau stt này, có thêm nhiều người đọc NTV, nhất là có thêm những nhà văn tìm cách viết lại về Việt Nam, chiến tranh và hậu chiến.

 

 

 

NHỮNG HÀNH ĐỘNG VÔ NGHĨA

Ngày 25 tháng 2 năm 2021

Nghiên cứu về tâm lý tôn giáo các nước Đông Á, người ta  được biết là đi chùa ở Hàn Quốc là con người đi thiền, còn ở Việt Nam đi để cầu may.

Khái quát lên có thể bảo đằng sau việc cầu cúng, là nỗi thèm khát những ân huệ ngẫu nhiên và luôn luôn cầu cúng để đạt tới những gì mà hằng ngày mình không đạt tới được bằng con đường lương thiện.

Nói cách khác, con người  luôn luôn tin vào những điều may rủi, tin vào những gì người khác ban phát cho mình chứ không phải do bàn tay mình làm ra.

Cứ nhìn quảng cáo bán hàng của các hãng nước ngoài thì biết, chưa chi người ta nói đến chuyện treo thưởng và người ta lấy ngay phần tiền mình nộp cho người ta để làm phần thưởng cho mình. Thế là mọi người vẫn cảm thấy hí hửng xem như mình vừa được ai cho một cái gì đó.

Một, hai tết gần đây, người ta hay nói tới chuyện dân dùng tiền lẻ để đặt vào chân tượng và các điểm thờ cúng. Đây là cả một xu thế mà hình như không ai bảo ai, nhiều người thích làm theo và không có một cách gì có thể làm người ta thay đổi.

Chỉ có thể hiểu được điều này dựa vào mấy điểm:

1. Cách tin của người Việt Nam là vừa tin vừa không tin. Họ không cầu cúng riêng ở một hai điểm nào cả mà họ muốn rãi lòng tin ra ở nhiều điểm khác nhau, càng nhiều điểm càng tốt.

2. Trong niềm tin của người Việt, thần thánh cũng có những thói xấu y như con người, nghĩa là vừa tham vừa dại dột, và rất dễ bị lừa. Thần nhận được 100 tờ giấy 500 đồng thì vẫn sướng hơn là nhận được một tờ giấy 500 ngàn đồng.

3. Mặc dù nghèo nhưng người mình lại rất thích chứng tỏ mình không nghèo tí nào. Cũng số tiền cúng chùa mà đưa ra bằng tiền lẻ thì trông nó vẫn dày dặn hơn, đồ sộ hơn, oai hơn chỉ có một tờ tiền chẵn.

Có một câu chuyện báo chí vừa nhắc tới, là ngày tết ở Hà Nội dân vứt đi khá nhiều bánh trái giò chả ra đường.

Chuyện này lại cũng chỉ có cách giải thích như trên tôi đã nói. Biết rằng nghèo đói , truyền kiếp - mọi sự giàu sang đều là phù vân giả tạo -  thỉnh thoảng người ta phải cố tạo ra cảm tưởng mình cũng thừa thãi, cũng biết "bất cần" như ai.

Và rộng ra hơn nữa tôi thấy hình như việc này có liên quan  tới một đặc điểm trong hành động của người Việt.

Là nhiều khi chúng ta làm mà chẳng có mục đích gì cả.

 Làm vì quá buồn.

Làm vì không biết làm gì.

Làm mà không hình dung ra hậu quả.

Và với tư cách một con người trong đám đông, người ta làm vì thấy chung quanh rất nhiều khác đã làm sắp làm như mình.

 Khi nhắc lại chuyện này thì nhiều người không quên mấy sự kiện xảy ra ở Hà Nội trước tết: hoặc là tình trạng dân xếp hàng tranh nhau để vào ăn ở cửa hàng miễn phí. Hai là, tình trạng dân xếp hàng chen nhau trước cửa sứ quán Hà Lan để nhận những tấm ni long dùng làm áo mưa.

 Không phải vì họ đói họ rách mà họ làm thế đâu.Họ chỉ làm cho vui.

Riêng tôi, tôi nhớ lại câu chuyện ở một hội sách.

 Người ta cũng đổ xô vào cướp sách khi ban tổ chức có nhã ý đưa ra một số sách miễn phí.

Và tôi cũng quan sát thấy là những người cướp được sách đấy khi ra khỏi hội chợ cũng chả buồn giở xem quyển sách mình cướp được là cuốn gì. Họ sẵn sàng cho người khác hoặc quẳng cuốn sách mình vừa cướp vào đống rác.

Vấn đề ở đây không phải là tranh cướp được cái gì mà bản thân hành động tranh cướp đã gây thú vị và chỉ riêng việc người ta cướp được còn người khác thì không đã làm cho người ta vênh vang tự hào.

  Trên đây là một đoạn tôi ghi sau Tết  Giáp Ngọ

 Có cảm tưởng những gì xảy ra hôm qua 2014  thì hôm nay 2015 cũng đúng.

 Có bổ sung  thì chỉ bổ sung về chi tiết. Ví dụ mở đầu một  cái tin tôi đọc  23-2 tác giả kể:Trong dòng người du Xuân mới ở Thủ đô Hà Nội, người ta thấy cảnh một số không ít người dân ‘nhét’ tiền công đức vào tay tượng Phật, ném xuống Hồ nước rêu xanh. Năm nay chẳng khác năm trước. Hoặc có lẽ chỉ khác là những cái dở càng dở thêm, hoặc vừa tử tế hơn ở chỗ này đã hư hỏng hơn chỗ khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌNH TRẠNG DÃ MAN  MÊ MUỘI Ở CÁC LỄ HỘI 

VỐN ĐÃ TỒN TẠI  NGAY TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY  

Ngày 27 tháng 2 năm 2021

Chưa bao giờ mặt trái của lễ hội được phơi ra đầy đủ như bây giờ: hỗn độn, mê muội, tầm thường dung tục ...

Và  có cả man rợ nữa, sự man rợ mà lâu nay chúng ta lảng tránh không muốn công nhận, một sự man rợ ở đủ các cung bậc các dạng thức khác nhau.

 Trong bài dưới đây trôi muốn nói thêm một điều, sự man rợ này từ lâu đã lẩn khuất tồn tại trong cuộc sống chúng ta

Vì nó đã quá phổ biến, nên nhiều khi ta tặc lưỡi bỏ qua, hơn thế nữa, trong sự bế tắc đến cùng cực lại còn nhắm mắt  làm  theo.

Bài viết  này đã in trong tập "Những chấn thương tâm lý hiện đại" mới phát hành.

NHÂN DANH HIẾU THẢO LÀM VIỆC DÃ MAN                                       

       Tục ném bát hương xuống hồ nước sông ngòi để linh hồn ông bà tổ tiên được mát mẻ vốn có từ lâu đời và từ nhiều làng quê kéo lan đến tận Hà Nội. Trong một bài phiếm luận, Tô Hoài kể có lần dạo chơi phố phường cuối năm tới Hồ Gươm, ông bắt gặp một người đàn bà ra tận gần giữa hồ mò mẫm gì đó. Thì ra bà ta mò bát hương cũ, lấy lên, cọ sạch rồi mang bán như đồ mới.

         Ngày nào cũng phải qua cầu Chương Dương, tôi chứng kiến cảnh ném bát hương và bàn thờ xuống sông Hồng thường xuyên hơn và công khai hơn.

        Cầu Chương Dương vốn là con đường để dân các tỉnh cung cấp rau và gà vịt cho Hà Nội. Buổi sáng vào thành phố còn trưa là thời điểm quay ra. Buôn bán vội vã lúc về có cái gì thừa ném luôn xuống sông, hình như không ai băn khoăn nhiều.

       Đến như cảnh ném bát hương và các loại tro cùng bàn thờ xuống sông thì được người ta làm có ý thức hơn. Có cả những người từ tận phía tây phía nam thành phố cũng lặn lội tìm đến sông Hồng bằng được.

      Những chiếc xe máy ấy thường hai người đèo nhau, người ngồi sau ôm trong tay có khi là một đùm to tướng có khi là những tấm gỗ  để thờ. Tới khoảng giữa cầu, chỗ dự tính sông sâu nhất, xe dừng lại. Cái gói đồ đã chuẩn bị kia được ném xuống sông. Và người ta còn đứng một lúc nhìn theo, chứ chưa chịu về ngay.

        Nhiều lần chứng kiến cảnh ấy, tôi vẫn không sao quen nổi. Chắc những người kia nghĩ đơn giản: con sông thì rộng lớn đến thế, nhà mình chỉ góp thêm một cái bát với tấm gỗ nho nhỏ, có thấm thía gì?!

       Đó là cách nghĩ của cái thời xã hội còn thiên nhiên thiên bẩm. Cốt được việc mình, còn không cần biết tác hại ra sao. Và nghĩ rằng ai cũng làm thế, tội gì mình không làm, không làm chỉ thiệt.

       Một lý do nữa khiến cho người ta mạnh dạn làm, làm một cách hồn nhiên sung sướng. Là làm vậy tức làm được một việc tử tế đối với gia đình. Giả sử lúc đó có ai ngăn cản người ta sẽ lý sự giản đơn rằng không ai có quyền cấm ngườì khác trở thành người con hiếu thảo cả.

         Có biết đâu hiếu thảo đấy mà cũng …dã man đấy.

         Chợt nhớ lại truyện "Con ngựa già" của Nguyễn Công Hoan. Truyện tả cảnh người ta chôn sống một con ngựa già ra sao. Con ngựa vốn tận tụy ấy chết rất thương tâm. Ấy vậy mà vẳng lên trong truyện rất nhiều tiếng cười. Khốn khổ, đám lính có làm việc này bao giờ đâu, bởi vậy họ làm rất vụng về, vừa làm vừa lăn ra mà cười với nhau. Con ngựa càng cuống quýt đau đớn thì người ta càng cười to.

        Dường như Nguyễn Công Hoan muốn nói: Sự thiếu hiểu biết khiến nhiều khi con người làm những việc tệ hại một cách vô tâm.

          Chôn sống con ngựa, họ đã có một hành động dã man mà họ không biết.

       Trong việc ném các thứ đồ thờ xuống sông, chúng ta cũng đang tìm cách giết dần con sông, nghĩa là làm một việc dã man không kém.

        Không ít trường hợp khác, người ta nhân danh một mục đích tử tế -- ở đây là sự hiếu thảo --  làm những chuyện dã man tương tự. Một người quen tôi trên Sóc Sơn có đứa con gái ngồi đèo sau xe máy trên đường cao tốc Thăng Long Nội Bài, xe bị dính đinh ai đó rải để bẫy. Không kịp phanh, cháu bị ngã và vào viện thì xác định là chấn thương sọ não.

        Sau hỏi lại mới biết chuyện này xảy ra cũng đã nhiều lần, và trong những người làm cái việc độc ác kia có những người rất nghèo.

      Cá biệt có người khai là anh ta làm việc ấy vì  đang cần tiền mua thuốc cho một bà mẹ ốm. Tức động cơ là hiếu thảo với mẹ.

        Ngay cả khi lời khai kia là đúng sự thật nữa thì tôi nghĩ hành động vẫn có gì bất nhẫn, không bà mẹ  tử tế nào muốn con làm cái việc gọi là thất đức đó cả.

       Còn một việc nữa. Nhiều gia đình Hà Nội hiện nay hễ có tang là tổ chức rất linh đình. Nhà chật thì chiếm dụng ngay hè phố, bất chấp cả đường đi lại. Mở loa thật to và thuê những băng khóc sẵn mở suốt ngày đêm. Ai vào viếng có loa oang oang giới thiệu danh tính chức vụ.

       Nhìn  những nhà chung quanh mà thấy thương. Họ quằn quại chịu đựng.

      Theo tôi, lối làm ma ầm ĩ để trương ra cả bàn  dân thiên hạ cùng biết như thế này thật ra là di lụy của nếp sống lỗi thời. Ở quê, không gian rộng rãi yên lặng làm thế còn được.

       Nay giữa thành phố hiện đại, nhà cửa xe cộ ken chặt con người đã rõ là không hợp.Bởi chúng ta chưa nghĩ ra một cách làm khác nên phải theo nếp cũ vậy.  Nhưng tôi tưởng nên lưu ý nhau rằng phải đặt mình trong không khí chung của phố xá để đỡ làm phiền mọi người.

     Bạn tôi kể có lần  gia đình có đứa con nhỏ bị ốm  quấy khóc suốt đêm, giữa lúc ấy nhà hàng xóm có tang,  loa mở hết cỡ rót vào cửa. Ôm con mà sốt lòng sốt ruột. Nhưng đành bấm bụng chịu không dám mở mồm ra đề nghị người ta mở loa be bé một chút. Vì  biết thời này có ai nghĩ về hậu quả việc mình làm với người khác? Và một  khi có dịp phô trương lòng hiếu thảo thì  chẳng ai chịu từ bỏ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ VĂN & TÌNH TRẠNG ĐƠN ĐỘC

Ngày 3 tháng 3 năm 2021

Orhan Pamuk viết trong diễn văn Nobel đọc ngày 7-12-2006

Chúng ta muốn sáng tạo ra những thế giới sâu sắc, nhưng chính khao khát được đứng riêng mới buộc chúng ta hành động.

Cần cù kiên nhẫn không đủ: Nhà văn phải biết rời khỏi đám đông để trở về với chính mình.

Quy tắc sáng tác: Phải kể chuyện mình như thể đó là chuyện của người khác, và kể chuyện người khác như của chính mình.

Một nhà văn độc lập là người biết lắng nghe chính mình, khai sáng chính mình trước khi nghĩ đến người khác.

Viết, hành động xuyên qua chính mình.

Viết, tức là biến cái đắm đuối nội tâm thành câu chữ, là khám phá cái thế giới mình tương tác với mình, cần mẫn ương ngạnh và say sưa

Khi tôi ngồi vào bàn: tôi tạo ra một thế giới mới

Tôi đang sinh ra một kẻ khác bên trong tôi

Bí mật của nhà văn không phải là cảm hứng mà là tính ương ngạnh của anh ta.

Người Thổ có câu: Phải biết đào giếng bằng kim.

TÔI TRÍCH LẠI NHỮNG DÒNG NÀY, vì trong tôi đang có những suy nghĩ giống như vậy.

Thói quen của một người cả cuộc đời hơn năm chục năm trời (1968-2017) làm nghề công chức văn chương xui tôi phải lao ra đường.

Phải đến với các đám đông.

Phải lo gặp gỡ người nọ người kia.

 Phải đi vớt vát giành giật lấy ít tiền bạc tiếng tăm.

Nhưng... nhưng từ trẻ tôi đã bị ám bởi một vài bài học mà tôi rút ra từ cái trường học lớn  là văn chương tiền chiến và từ đời sống văn học bình thường ở các xã hội khác.

Một trong những bài học đó: cái mà người viết văn lo nhất là làm giàu chính mình khai thác chính mình (như mấy câu của Pamuk ở trên đã dẫn). Ngoài ra chỉ là chuyện giời ơi đất hỡi.

Về già càng cần phải lo trở lại chính mình.

Khẩu hiệu luôn luôn cần tự nhắc lại: Hãy đơn độc đối diện với cái tương lai mù mịt.

Tôi không đến với các bạn không phải là tôi không nghĩ đến các bạn.

Có thể là bạn không cần, nhưng phải thú thực là tôi vẫn viết vì các bạn và muốn gửi tới các bạn, đó là nhu cầu của riêng tôi.

Nó cũng giống như một vài mối tình một phía tôi đã trải qua lúc còn trẻ. Mãi về sau này, khi nghĩ về cái mà ai cũng bảo là thất bại, tôi vẫn đau khổ và thường khi có cả xấu hổ nữa.

 Chỉ dăm ba năm gần đây, tôi mới nghĩ được rằng hạnh phúc là có lúc tôi đã sống những giây phút như thế. Tôi đã yêu được người khác, thế là được rồi.

Hạnh phúc thông thường là sự gặp gỡ là sự được đền đáp, nhưng cũng có thể -- trong một vài phân nhỏ thế nào đó - bao hàm cả cái nghĩa là sự vô vọng.

 

 

 

 

 

 

 

QUAN LIÊU VỚI QUÁ KHỨ

Ngày 6 tháng 3 năm 2021

Suốt mấy chục năm chiến tranh, nhiều di sản cũ cũng trở thành nạn nhân như con người. Kế đến là những năm hậu chiến gian khổ, người đang sống lo ăn còn không đủ, lấy đâu tâm huyết và tiền của lo cho người xưa. Bởi vậy nhiều di sản như các thành quách, chùa chiền của chúng ta trong tình trạng đổ nát và cần tôn tạo lại. Nghe tin nơi này nơi kia dựng lại chùa, tô lại tượng ai mà chẳng mừng.

Nhưng không phải hôm nay mà có đến cả chục năm nay, đi đâu tôi cũng gặp tình trạng tôn tạo tùy tiện nhìn vào chỉ còn biết dở khóc dở cười. Tinh thần của công trình cũ không được tôn trọng. Gọi là hiện đại hóa nó, nhưng sự thật là ta làm cho nó trở nên tầm thường lố lăng. Cái phần hồn vía vốn có bay đâu mất cả. Rồi nó vẫn còn đấy mà thân tàn ma dại như đã chết. Không phải ngẫu nhiên có người đã dùng đến chữ bức tử, một sự hiếp đáp quá khứ ngay giữa thanh thiên bạch nhật.

Tại sao lại có tình trạng nói trên? Tôi sẽ chưa nói có khi đó là sự vụ lợi, sở dĩ sự càn rỡ đó vẫn đang tồn tại dài dài, ở đây có những vấn đề chung của văn hóa cộng đồng. Phũ ra mà nói thì là không hiểu biết và kém cỏi. Cụ thể hơn phải nói tới cách hiểu của chúng ta về di sản, ý niệm của chúng ta về thời gian cùng là trình độ tư duy của chúng ta nữa.

Có lần trên đường ghé thăm một ngôi đền, tôi hỏi mấy cụ già sống gần đấy là đền thờ ai, làm từ bao giờ, chẳng cụ nào biết. Thậm chí có cụ chẳng buồn ngẩng mặt lên để trả lời tôi nữa vì cho câu hỏi của tôi là ngớ ngẩn. Thế nhưng khi tôi mới đi được vài bước, chính ông cụ ấy giật giọng gọi lại bằng được: “Này, nhưng mà đền thiêng lắm đấy, trong làng khối người đến cầu rồi làm ăn phát tài phát lộc đủ cả”.

Cách nghĩ như trên không dừng lại ở một hai người, một hai địa phương. Phải nói rằng nó đang chi phối nhiều người. Quá bận bịu với việc hằng ngày, chúng ta sẵn sàng quan liêu với quá khứ, bằng lòng với thói chàng màng trong hiểu biết về nó. Cái sự hời hợt là trên mọi phương diện.

Hời hợt trong sự tìm hiểu thì cũng dễ dãi qua quýt trong sự tái tạo quá khứ.

Người xưa kỹ lưỡng tinh tế trong mọi công việc hằng ngày. Người xưa biết làm văn hóa bằng cái cảm giác thiêng liêng trước sự trường tồn bất tử. Còn chúng ta, trong sự ồn ào của thời hiện đại, chúng ta bằng lòng làm tù nhân của thói vụ lợi và sự dung tục. Khi sự cẩu thả đắp điếm giả tạo chi phối trong việc xây một cây cầu, dựng một cao ốc thì với các di tích, thái độ làm bừa, làm lấy được là không thể tránh khỏi.

Tóm lại, một công việc văn hóa lại được làm một cách rất thiếu văn hóa. Ngày nào mà các vấn đề đối xử cẩu thả với quá khứ còn chưa được mổ xẻ đến cùng thì thảm cảnh phá hoại sẽ diễn ra trên cả hệ thống chứ không riêng một di tích nào cả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHI NÓI CHUYỆN BIẾN ĐỔI KHÍ  HẬU 

 CHỚ QUÊN CHUYỆN BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI

Ngày 16 tháng 3 năm 2021

Một người em họ tôi sống ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 75, đến năm 1985 thì vượt biển sang Mỹ. Cô kể với tôi là lúc đó vì cần tiền giúp đỡ gia đình, cô đã phải làm rất nhiều nghề, miễn là nghề đó có tiền. Chẳng hạn có lúc cô phải sáng làm ở bệnh viện này chiều lại làm ở một bệnh viện khác và bữa ăn trua chỉ là hộp cơm ăn ở trên xe trong lúc di chuyển.

 Sau đó buổi tối, cô còn nhận trực đêm ở một khách sạn và làm sổ sách kế toán cho họ.

Có điều lạ là mặc dù mục đích thiết thực là giúp đỡ gia đình, nhưng cô vẫn thích cùng lúc học hỏi nhiều nghề khác nhau, cả những nghề mà cô chưa từng quen biết, cô bảo nếu nó chưa giúp ích cho mình lúc này thì nó sẽ giúp ích cho mình lúc khác.

Cô kể với tôi chuyện này vào đầu những năm 2000, và trong câu chuyện, cô lập tức nêu lên một trường hợp ngược lại là những người Việt mới sang Mỹ mấy năm gần đây. Không kể là đến với đất người bằng con đường hợp pháp, hay đi chui đi lủi, lớp trẻ bây giờ hiện ra là những con người rất khôn vặt thực ra là rất lười biếng, chỉ chăm chăm tìm cách khai thác những thuận lợi của xã hội Mỹ, và kiếm những việc nào vừa đỡ tốn sức vừa được nhiều tiền, và nếu việc kiếm tiền không dễ thì thà nghỉ đi chơi lang thang, còn hơn là nhận làm những việc khó. Điều này không chỉ đúng với những con người ra đi từ Hà Nội mà còn đúng với những em có gia đình sống lâu năm ở Sài Gòn.

Tôi được biết một trong những nguyên tắc sống của người Mỹ đích thực là chọn việc khó mà làm, giữa hai việc dễ và khó, khi kiếm được cùng một số tiền như nhau, thì họ chọn việc khó, vì tin rằng cái việc khó ấy sẽ có lợi cho việc rèn luyện tính cách của họ. Tôi không rõ là điều tôi nghe được đó có đúng không, nhưng tôi thấy nhiều người nói và nhiều tài liệu nói.

Quay trở lại trường hợp của cô em tôi và lớp trẻ mới sang Mỹ hiện nay. Tôi không nói hết với cô mà chỉ thầm nghĩ rằng đó là một nhận xét đúng.

Nhiều xí nghiệp nước ngoài sang Việt nam tuyển dụng lao động, họ thường thất vọng vì thuê người Việt tưởng rẻ mà hóa đắt.

Công nhân ta, ngoài những tính xấu như hay táy máy mọi đồ vật, thường sức yếu mà lại không chịu cố gắng, hay chuyển công việc từ chỗ này sang chỗ khác. Tất nhiên là trước tình trạng như vậy họ đã có cách đối phó khiến cho mình rất đau đớn.  Cuối cùng người thua thiệt vẫn là mình.

Tuy nhiên cái nhận xét rằng người Việt sau chiến tranh - nhất là ở hoàn cảnh chiên tranh toàn dân như ở miền Bắc -   thường sinh ra lười biếng, chọn việc dễ để làm và không có ý để làm lâu dài nhận xét đó rất phổ biến.

Sau một thời gian làm việc với các chủ nước ngoài công nhân ta nhất là giới trẻ không học hỏi được nhiều để có được những đức tính tốt cần thiết cho con người hiện đại.

Đối chiếu với người lao động Việt Nam thời tiền chiến và ở Sài Gòn thời kì trước 75, thì nay phải gọi là một sự suy thoái.

DÒNG GIỐNG THOÁI HÓA

Trong việc chữa bệnh, ở ta hiện nay có một nguyên tắc chi phối là chỉ chữa cho dứt cơn mà không có khả năng chữa được khỏi bệnh.

Người già hiện nay sống lâu hơn, tuổi thọ kéo dài, nhưng không có những ông già bà già khỏe mạnh. Lớp trẻ 25 – 30, nhiều người đã mắc bệnh mà trước kia chỉ người cao tuổi mới mắc phải.

Một người bác sĩ bảo với tôi rằng trong những điều kiện như nhau, thì một đứa con thứ hai sinh ra sau đứa thứ nhất mà bố mẹ chúng đã cho ra thai sớm, sẽ không bao giờ có được những tố chất tốt đẹp, như đứa thứ nhất xấu số.

Nếu lấy tiêu chuẩn này mà suy, thì dân tộc ta đang trong một sự thoái hóa không gì cứu vãn nổi.

Cũng như giáo dục nền y tế thời tiền hiện đại rất đơn sơ. Tôi nhớ một câu của nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Ông kể rằng người Tàu từng khái quát:”Người Việt sống trên đống thuốc nhưng cả đời chết vì thiếu thuốc”

VTN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁM  TRẺ Ở TA 

 ĐANG ĐƯỢC DẠY DỖ NHƯ NHỮNG NGƯỜI LỚN

Ngày 20 tháng 3 năm 2021

1/

Tại một số trường tiểu học, có đội cờ đỏ do các em lập ra, uy quyền  bao trùm khiến cả các giáo viên đôi khi cũng phải sợ, nói chi là các bạn – đấy là tin tôi đọc được từ một hai năm trước.

Cũng qua tờ Tuổi trẻ năm ấy, tôi thấy một vị phụ huynh kể chuyện con bà ta muốn bớt tiền ăn quà để làm việc riêng? Việc gì?  Cháu cần nộp tiền cho  bạn lớp trưởng, để bạn ấy khỏi báo cáo cô giáo, một lỗi nhỏ mà cháu vô ý phạm phải.

Còn chuyện trẻ con xin tiền để nhờ bạn làm hộ bài thì đâu tôi đã đọc được ở vài nơi chứ không phải riêng ở báo nào, và nhiều nhất là trong câu chuyện hàng ngày.

 Cùng với tuổi già, trong tôi  bắt đầu xuất hiện và ngày càng thấy sống dai dẳng  một con người phản bác lại chính mình.

Trước các hiện tượng không quen, trong tôi như là có hai con người N và N’ dông dài bàn thêm,  nhất là  tranh cãi  với nhau.

 Lần này cũng vậy.

 Khi N tôi phàn nàn về  mấy việc nhỏ nói trên,  N’ nói ngay, chúng ta có một xã hội  thế nào thì  trước sau nó phải phản ánh vào trong nhà trường chứ còn sao nữa.

 N’. còn nói thêm:

--  Có cái chết là người ta không thấy đấy là điều đáng lo ngại và tìm cách trừ bỏ, mà lại còn tự hào là đã đưa được các tư tưởng chi phối xã hội vào trong nhà trường, để con trẻ sớm  được tiếp xúc với các vấn đề  mà sau này chúng phải đối mặt.  Nó là cả một nguyên tắc chi phối nền giáo dục mất rồi, hãy đi mà cãi nguyên tắc đi, trước khi phê phán các hiện tượng thực tế.

Đã đến nước này thì N tôi đành chịu.

2/

Tôi ít xem TV, nhất là các chương trình văn nghệ, nhưng cũng đủ có được cái nhận xét là dạo này dân nhà đài rất hay đưa trẻ em ra biểu diễn.

Chuyện quảng cáo, trẻ dài mồm ra mà khen bát mì ngon, hoặc từ xa chạy sầm sầm vào nhà mở tủ lạnh lấy kem ăn rồi thè lưỡi ra trước mặt người xem truyền hình.  

Chuyện ca nhạc, tấu hài ...như tối qua 19-3 -2017, thấy ở một chương trình có một em nhỏ môi son má phấn con mắt ra vẻ lẳng lơ đưa tình  khi đóng vai Thị Màu lên chùa.

Do chỗ chuyện văn nghệ này cũng dính tới chuyện nhà trường nói trên, nên câu chuyện  giữa hai anh bạn N và N’ trong tôi lại tiếp tục:

-- Làm thế trẻ nó hư đi ! Vả chăng ta thường nghe nói ở nhiều nước người ta cấm khai thác lao động trẻ em. Đây chẳng phải là một hình thức bóc lột lao động với các em hay sao?

 -- Cũng đã có người nói thế đấy. Người ta bảo các ông ở truyền hình  bí các tiết mục quá mới nghĩ ra cái chiêu trò này để câu khách, và các nghệ sĩ sống quanh đài thì cứ có ai đặt tiền là làm. Khi có người phê phán như anh vừa nói thì các ông ấy bảo đây là gia đình người ta thích thế cơ mà.

-- Tôi phản đối. Người dân người ta dại dột không biết, mình là người hướng dẫn dư luận mình phải bảo người ta chứ.

-- Anh chẳng biết gì về con người thời nay cả. Không có thời nào như thời nay, cả nước rủ nhau rượu chè, cờ bạc. Hẳn anh nhớ là trong các gia đình thời xưa, các bà nội trợ ăn theo nhưng rất sáng suốt, ai rủ rê chồng bà ta đi rượu chè đấu hót thì các bà ấy đến tận nơi các bà ấy chửi cho ủng mả. Nay thì các hãng bia tha hồ lên TV quảng cáo bia và trong các đám nhậu người ta thi nhau đổ rượu cho nhau, chẳng biết khi nào là hồn nhiên và khi nào quyết chí làm hại bạn để bạn cũng hư như mình. Lại còn cái chuyện chơi sổ số điện tử hàng tỉ đồng  nữa chứ. Anh thử  lên tiếng than phiền đi  xem có ai người ta nghe không hay chỉ  chuốc lấy tiếng chê cười mình là người lạc hậu.

--  !!!

3/

A. Ja. Gurevitch là một nhà nghiên cứu văn hóa người Nga chuyên về trung thế kỷ. Tôi rất thích tác giả này vì đọc ông chẳng những tìm thấy những hướng dẫn  để đi vào con  người Việt Nam từ XIX về trước mà còn giúp tôi hiểu thêm về dân mình hôm nay. Trước vấn đề tuổi thơ trên đây vừa nói --  khi tự đặt cho mình câu hỏi “Thế đây có phải là cả một quan niệm về  giáo dục của thời trung cổ  đang sống lại mạnh mẽ hay không?" – tôi tìm vào Gurevitch và được ông cho biết :

“Thời trung cổ người ta xem đứa bé  như là một người lớn còn bé  và người ta không đặt ra vấn đề nào cả về sự phát triển và sự hình thành tính cách con người .

Cho tới thế kỷ XII, XIII, nghệ thuật tạo hình mô tả trẻ em  như là những người lớn kích thước thu nhỏ lại, ăn mặc như người lớn và kết cấu thân hình như giống như người lớn. Trong giáo dục, người ta không tính đến lứa tuổi và đám trẻ thì được dạy dỗ như là những người lớn. Trò chơi, trước khi trở thành trò chơi của trẻ em,  đã là trò chơi của các kỵ sĩ. Trẻ được xem như những người bạn tự nhiên của người lớn.

 Và Gurevitch dẫn lại một câu trong cuốn “Trẻ và đời sống gia đình trong các thể chế cũ” của học giả Pháp F. Aries, in ở Paris 1960  ông này cho rằng thời trung cổ, người ta không biết đến phạm trù trẻ em như là một trạng thái đặc biệt xác định về chất  của con người.  Văn minh trung cổ theo F. Aries, là văn minh của những người lớn.

Đoạn vừa dẫn được Gurevitch viết trong cuốn “Những phạm trù văn hóa trung thế kỷ”, ở chương cuối  “Đi tìm nhân cách con người”,  đây tôi dẫn  theo trang 333 trong bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến do nxb Giáo dục cho in 1996,  --  trong bản tiếng Việt anh Hiến gọi là trung cổ nhưng tôi thấy gọi là trung thế kỷ  thì thích hợp hơn.

Những tư tưởng nói trên cũng được Gurevitch nhắc lại trong mục từ “tuổi thơ” (detstvo) ở  cuốn “Từ điển văn hóa trung thế kỷ” bản tiếng Nga in ra ở “Moskva Rosspen” 2003,  do chính  ông làm chủ biên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯƠNG TỰ NHƯ QUẤN LỐP XE

Ngày 21 tháng 3 năm 2021

Ngoài việc thông báo tình hình nắng nóng lũ lụt, các bản tin thời tiết còn hay nói tới nạn cháy rừng.

Với đám dân thành phố chúng tôi những lần chứng kiến các cảnh ấy quả thật thấy buồn. Đã buồn vì rừng bị cháy lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy.

Tôi không biết rõ lắm, nhưng vẫn nhớ là ở các nước công nghiệp, người ta có nhiều phương tiện khá hữu hiệu.

Đằng này ở mình thì sao ? Ngao ngán nhất là một lần trên màn ảnh thấy cái cảnh chữa cháy ở Kong Tum. Vòi rồng không có. Nước không có. Mấy ông bảo vệ tay chỉ có cành cây bẻ vội để xông vào với lửa.

Thế thì còn kiềm với chế gì nữa !

Có một câu tục ngữ khuyên răn về việc sử dụng công cụ để giải quyết sự cố: “ Đừng dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà ”.

Nó rất thích hợp trong nghề văn chương của tôi, nơi người ta hay thi nhau đao to búa lớn trong những cuộc tranh cãi lặt vặt.

Đằng này trong đời sống, tôi cảm thấy một tình hình ngược lại: luôn luôn chúng ta phải dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu.

Việc sử dụng những công cụ chữa cháy trên những cánh rừng mênh mông như trên là ví dụ. Và cố nhiên là còn thấy ở nhiều lĩnh vực khác.

_Thứ nhất là câu chuyện ứng phó trước các bệnh dịch, từ cúm gia cầm tới lợn tai xanh. Cơn dịch bùng phát như những cơn bão. Báo chí đưa tin ở huyện nọ heo chết mang trôi sông, cả quãng sông dài ba chục ki lô mét ngập xác lợn. Lúc bấy giờ huyện tỉnh mới biết và phát thông báo có dịch. Còn biện pháp để chạy chữa thì nhỏ giọt.

_Thứ hai là tình hình lạm phát gần đây. Giá cả leo thang. Đến gói xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách kiềm chế xem ra cũng đơn sơ lắm.

Theo sự tường thuật của báo Tiếng nói Việt Nam số ra ngày 29-3-05, tại một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu tài chính cho rằng chúng ta thường chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, chứ chưa tính được xa hơn.

Nói chung chỉ thấy những cam kết duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các nhận thức ở tầm vĩ mô và các công cụ quan trọng kèm theo, thì chưa khởi động.

Bảo chẳng khác gì bẻ cây dập lửa cháy rừng, hoặc dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu, e cũng không phải quá.

CON NGƯỜI CỔ LỖ PHƯƠNG TIỆN CỔ LỖ

Khi bàn về cái sự kiềm chế lạm phát này, cũng ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn đưa ra một hình ảnh thú vị khác. Ông bảo cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay là kiểu “ quấn lốp xe đạp “.

Chuyện này bây giờ các bạn trẻ ít người biết và đám người tuổi từ sáu mươi trở lên may ra mới nhớ, vậy tôi xin phép nhắc lại.

Hồi chiến tranh ngay ở Hà Nội chứ đừng nói nông thôn hay tỉnh lẻ, cái gì cũng thiếu.

Ví dụ như bút bi, ngay dân viết lách chúng tôi cũng dùng theo định mức, sau khi dùng hết một lượt ruột, chúng tôi phải nộp cơ quan cái ruột rỗng, thì mới được nhận ruột mới.

Nếu dùng quá tốn, vượt mức cơ quan cung cấp thì phải ra phố bơm lấy. Có nhiều cửa hàng chuyên bơm mực như vậy.

Hoặc như cái chuyện lốp xe. Phương tiện đi lại hồi ấy chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Lốp phân phối về cơ quan. Vài chục người mới được một chiếc. Công đoàn đứng ra tổ chức bình bầu hoặc rút thăm.

Khốn nỗi có phải lốp Sao Vàng lúc ấy cái nào cũng tốt như cái nào đâu. Nhận lốp về có thấy cái cong cái vênh cũng bấm bụng chịu.

Thế còn khi lốp xe quá hỏng, mà không được bình bầu, thì làm thế nào?

Có hai cách.

Một là ra các cửa hàng chữa xe đạp, nhờ các bác ấy đắp lại.

Hai là – trong những lúc vội và chưa có tiền -- nhiều người phải có lối dùng những sợi dây cao su quấn chung quanh.

Lốp được đắp lại cố nhiên khá hơn. Còn quấn tạm thì khổ lắm.

Đi trên đường phẳng mà xe cứ giật giật như trên đường mấp mô. Tốc độ chậm một cách khó chịu.

Nhưng thôi quấn lại lốp đi tạm còn hơn lẽo đẽo đi bộ, -- không phải một người mà hầu như tất cả dân cán bộ èng èng cấp thấp ở Hà Nội lúc ấy đều tự nhủ như vậy.

MỘT CHÚT DƯ VỊ

Bây giờ bạn đọc hẳn đã có cách đánh giá của mình với cái hình ảnh mà vị chuyên gia tài chính kia đưa ra và từ đó hình dung cái khó của chúng ta trong việc chống lạm phát trên bề rộng.

Nói mãi chuyện buồn tôi muốn tiếp tục câu chuyện bằng một chi tiết vui vui, liên quan đến cháy rừng.

Lần ấy, một xã của huyện Tương Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ cũng quá chậm.

Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện.

Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc – ta rừng bị mất đứt.

Cụ già có lỗi ngồi hối hận.

Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.

Đã in "Người đại biểu nhân dân"  30-7 -07

VIẾT THÊM 21-3-2016

Từ nhỏ tôi thường được dạy dỗ và lớn lên cứ viết tràn rằng chỉ cần tư tưởng của ta tiên tiến, còn kinh tế kỹ thuật cổ lỗ có xá gì.

Không! Nay mới hiểu cả về trình độ lẫn cách tác động tới đời sống, kinh tế kỹ thuật sao thì tư tưởng văn hóa vậy!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TỰ ĐÁNH MẤT MÌNH

Ngày 23 tháng 3 năm 2021

Trong báo Tuổi trẻ cuối tuần, số ra ngày 11 – 11- 2018, tôi đọc được nhận xét của một nhà nhiếp ảnh nước ngoài viết về các di tích ở Đồng bằng bắc bộ, trong trường hợp này là chùa Phật Tích ở Bắc Ninh:

Đối với tôi, chùa Phật Tích đã vĩnh viễn biến mất trên trái đất này.

Ông nói điều này, sau khi chứng kiến chùa Phật Tích nói ở trên được tu tạo và gần như làm lại, tốn rất nhiều tiền của, nhưng lại cho thấy một ngôi chùa có cốt cách và tinh thần khác hẳn ngôi chùa cũ.

Tôi nhớ lại cái cảm tưởng của mình khi thấy trong một số Tuổi trẻ cũ hơn nữa, đưa tin về  vùng đất du lịch Sa Pa nay bị thay đổi hết cái tinh thần vùng đất cũ, cách sinh sống của người dân như bao đời vốn vậy, và thay vào đó là những khách sạn hiện đại những phương tiện sống hiên đại nhưng lại chả có gì dính dáng đến nền văn hóa cổ truyền của  những con người trên mảnh đất mà cha ông họ đã bao đời sinh sống.

Tôi muốn lăp lại cái câu của nhiêp ảnh gia người Pháp.

Tôi tin chắc rằng rồi đây du lịch Sa Pa dù có đông hơn những loại khách phàm tục nhưng sẽ ngày càng ít đi những người khách tử tế muốn làm những chuyến du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để hiểu biết thêm về sự đa dạng của con người và đất nước Việt Nam.

Chuyện xảy ra với Sapa lại đang xảy ra với Đà Lạt và ở nhiều nơi khác

Một lần tôi đã được nghe một sinh viên Mỹ nhắc lại một câu của nhà văn Vũ Bằng:”Chúng ta luôn luôn cảm thấy là đang đánh mất một cái gì đó rất quý báu, dù không biết thật rõ là mất cái gì”.

Đó là cảm tưởng của một con người sống trong thời VN bước vào hiện đại hóa lần thứ nhất và dù nhiều thay đổi nhưng căn bản vẫn là  rất thịnh trị, thời của những năm tiền chiến huy hoàng.

Tiếp đó là chiến tranh.

Rồi tiếp đó là 40 năm hậu chiến mà so về mặt phá hoại bộ mặt của đất nước, thì thời chiến chúng ta còn làm một cách vô ý thức, chứ đến lúc hòa bình, thì chúng ta lại càng phá hoại tàn bạo hơn.

Một lần anh Trần Huy Quang là một nhà nghiên cứu xã hội học có nói với tôi về cảm tưởng của anh khi đi lại trên đường phố Sài Gòn. Anh bảo là từ ngày có tòa nhà Vincom đặt ở giữa phố Đồng Khởi thì anh không còn muốn đi lại trên con đường trước 1975 gọi là đường Tự Do đó nữa.

Năm 1984, cậu em tôi sau khi đi bộ đội, vào Sài Gòn kiếm việc bằng cách làm bảo vệ cho một căn nhà của phòng văn hóa  Quận 1 trên đường Canmet.Sau này khi có gia đình cậu chuyển về sống ở quận Gò Vấp, và bây giờ sống ở quận 12. Những năm trước trong khi dẫn tôi từ bắc vào đi thăm thú Sài Gòn, thường bao giờ cậu cũng dẫn qua đường Đồng Khởi và đường Nguyễn Huệ. Một lần cậu thủ thỉ với tôi rằng Sài Gòn thật là Sài Gòn thì chỉ có quận nhứt. Ở đó người ta sống theo một quy luật riêng và hình như làm nên một xã hội riêng mà người ở các vùng khác không thể nào hiểu nổi. Cậu nói điều đó mấy lần khoảng 10 năm trước đây, nhưng những năm gần đây thì không bao giờ nhắc lại cái câu đó nữa, và khi tôi hỏi thì cậu lảng tránh, gần như không muốn nhắc tới một cái gì quý báu vừa đánh mất mà chỉ càng nói càng thấy đau lòng.

 Chúng ta không thể sống khác được sao?

 Chẵng nhẽ chúng ta không thể vừa có hiện tại vừa có quá khứ?

 

 

 

 

 

 

 

 

TRONG VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI 

CHIẾN TRANH THƯỜNG ĐƯỢC MIÊU TẢ

KHÁC HẲN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Ngày 26 tháng 3 năm 2021

1/

Trong nhiều từ điển văn học của nước ngoài, người ta có mục từ riêng về văn học chiến tranh. Chẳng hạn trường hợp cuốn Dẫn giải ý tưởng văn chương Guide Des Ideés Littéraires của Henri Bénác, bản dịch tiếng Việt của NXB Giáo dục 2008.  

Đọc vào thì tôi thấy là quan niệm về chiến tranh của chúng ta ngược hẳn với quan niệm về chiến tranh của con người trong thế giới hiện đại.

Nói tới chiến tranh ở Việt Nam là nói tới chủ nghĩa anh hùng.

Nhưng trong cuốn sách trên, tác giả cho biết là xu hướng chung của văn học thế giới hiện nay là chỉ miêu tả người lính như những người bình thường, không anh dũng cũng không hèn nhát.

Với họ, chiến tranh không còn đồng nghĩa với vinh quang nữa. Ở chúng ta, chiến tranh luôn luôn được tán thưởng, chiến tranh được coi như sự cần thiết thiết yếu và được coi như đặc tính thiêng liêng. Còn với người ta, chiến tranh là một tai họa do Chúa tạo ra để trừng phạt chúng ta và lúc nào chúng ta cũng có thể bị trừng phạt. Nó là hậu quả của những nhục vọng, là sự nối tiếp của tội lỗi mà tham vọng và tội lỗi lại bất tử.

2/

Trong những năm trước 1975, văn học Mỹ hiện đại rất ít được biết tới ở Hà Nội và chỉ có một người lọt lưới duy nhất là Hemingway. Mặc dù vậy, hồi đó chúng tôi chỉ được biết tới các tác phẩm của ông như là Chuông nguyện hồn ai, với lời giải thích đó là tác phẩm ca ngợi chủ nghỉa anh hùng. Năm 1973, khi tôi là ở Văn nghệ Quân đội, tôi có cố gắng kiếm một ít bài viết của tác giả Ông già và biển cả bàn về việc viết về chiến tranh. Thời ấy trên các trang lí luận phê bình của báo chí, các tài liệu từ nước ngoài hoàn toàn bị cấm cửa. Sở dĩ bài của tôi đưa được ban biên tập chấp nhận là vì ở đó có nhấn mạnh rằng các nhà văn hãy xông vào chiến tranh và nếu trong họ có những người hi sinh thì những người trở về sẽ biết sự thật về chiến tranh.

Hồi ấy chúng tôi đã biết là Hemingway đã gọi thế hệ cùng tuổi với ông là thế hệ mất mát. Sau này tôi mới biết rằng thật ra nên dịch rằng thế hệ vứt đi. Trong nhiều truyện ngắn, các nhân vật của Hemingway từ chiến tranh trở về không còn là người bình thường nữa. Khi có một người mẹ hỏi đứa con thế mày không muốn sống à, thì đứa con trả lời là: Không, con không muốn sống.

3/

Trong một bài báo đưa vào trang blog Nhị Linh, nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng có giới thiệu một bài viết về tác động của chiến tranh thế giới thứ nhất đối với văn học. Điều nổi bật mà Cao Việt Dũng nhấn mạnh là chiến tranh đã kéo lùi nền văn học đương thời cả về những quan niệm nhân bản lẫn trong những tìm tòi về nghệ thuật.

Không hẹn mà nên, những ý tưởng đó hoàn toàn có thể áp dụng cho tình hình văn học Việt Nam. So với văn học tiền chiến thì văn học sau 45 có nhiều bước lùi, như sự trở lại của các yếu tố phi chuyên nghiệp, sự trở lại của các môtip chủ đề đã quá lỗi thời, kể cả sự trở lại của các nhân vật thời tiền hiện đại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

RỜI KHỎI ĐÁM ĐÔNG

Ngày 4 tháng 4 năm 2021

Orhan Pamuk viết trong diễn văn Nobel đọc ngày 7/12/2006:

“…Chúng ta muốn sáng tạo ra những thế giới sâu sắc, nhưng chính khao khát được đứng riêng mới buộc chúng ta hành động.

Cần cù kiên nhẫn không đủ: Nhà văn phải biết rời khỏi đám đông để trở về với chính mình.

Quy tắc sáng tác: Phải kể chuyện mình như thể đó là chuyện của người khác, và kể chuyện người khác như của chính mình.

Một nhà văn độc lập là người biết lắng nghe chính mình, khai sáng chính mình trước khi nghĩ đến người khác.

Viết, hành động xuyên qua chính mình.

Viết, tức là biến cái đắm đuối nội tâm thành câu chữ, là khám phá cái thế giới mình tương tác với mình, cần mẫn ương ngạnh và say sưa

Khi tôi ngồi vào bàn: tôi tạo ra một thế giới mới

Tôi đang sinh ra một kẻ khác bên trong tôi

Bí mật của nhà văn không phải là cảm hứng mà là tính ương ngạnh của anh ta.

Người Thổ có câu: Phải biết đào giếng bằng kim…”

***

Tôi trích lại những dòng này, vì trong tôi  nhiều lúc lờ mờ có những ý nghĩ tương tự mà tôi không sao cho nó hiện hình thành con chữ, nói đơn giản là không sao đi tới tận cùng ý tưởng của mình.

Vả chăng trong thực tế tôi có một cuộcj sống khác.

Thói quen của một người cả cuộc đời hơn năm chục năm trời (1968-2017) làm nghề công chức văn chương xui tôi phải lao ra đường.

Phải đến với các đám đông. Phải lo gặp gỡ người nọ người kia. Phải đi vớt vát giành giật lấy ít tiền bạc tiếng tăm.

Nhưng...  tôi làm việc đó một cách vụng về

Từ trẻ tôi đã bị ám bởi một vài bài học mà tôi rút ra từ cái trường học lớn là văn chương tiền chiến và từ đời sống văn học bình thường ở các xã hội khác.

Một trong những bài học đó: cái mà người viết văn lo nhất là làm giàu chính mình khai thác chính mình  - như mấy câu của Pamuk ở trên đã dẫn.

Ngoài ra chỉ là chuyện giời ơi đất hỡi.

Về già càng cần phải lo trở lại chính mình.

Khẩu hiệu luôn luôn cần tự nhắc lại: Hãy đơn độc đối diện với cái tương lai mù mịt. Tôi không đến với các bạn không phải là tôi không nghĩ đến các bạn. Có thể là bạn không cần, nhưng phải thú thực là tôi vẫn viết vì các bạn và muốn gửi tới các bạn, đó là nhu cầu của riêng tôi.

Nó cũng giống như một vài mối tình một phía tôi đã trải qua lúc còn trẻ. Mãi về sau này, khi nghĩ về cái mà ai cũng bảo là thất bại, tôi vẫn đau khổ và thường khi có cả xấu hổ nữa.Chỉ khi tuổi ngoài 70, tôi mới nghĩ được rằng hạnh phúc là có lúc tôi đã sống những giây phút như thế. Tôi đã yêu được người khác, thế là được rồi. Hạnh phúc thông thường là sự gặp gỡ, là sự được đền đáp, nhưng cũng có thể - trong một vài phân nhỏ thế nào đó - bao hàm cả cái nghĩa là biết vô vọng mà vẫn làm.

 

 

 

 

 

 

 

 

RÁO HOẢNH

Ngày 5 tháng 4 năm 2021

Bạn có biết những lúc ráo hoảnh như thế người  ta trở nên thế nào không?

       Tôi thường mang tiếng là ác khẩu, chỉ thạo moi móc cái xấu của mọi người.

        Để chứng tỏ là mình đã tu tỉnh lại, trong trường hợp đang nói, tôi cố vắt óc để tìm ra một liên tưởng tạm gọi là đèm đẹp một tí.

        Và tôi nhớ đến những đứa trẻ.

      Nói một cách văn hoa và mỹ miều như các nhà thơ, thì khi trơ tráo và ráo hoảnh trong các vụ làm ăn, nhiều người chúng ta đang trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.

      Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo.

       Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.

        Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của bố mẹ vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang,  chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên

      -- Ơ ! Con cứ tưởng …  

      -- …

      --Thế à, thế mà con không biết.

       Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi  

     --Ơ ! Tôi cứ tưởng…

      -Tôi đâu có biết .

       Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con xưa  thường chỉ “con không biết “ trước một vài đồng lẻ, còn người lớn bây giờ thì “ tôi đâu có biết “ khi bỏ túi cả ngàn tỉ.

       Tới đây chắc có bạn cũng như tôi, nhớ lại lời than vãn thiên tài của Tản Đà “Dân hăm nhăm triệu ai người lớn – Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con “.

        Thật đã rõ, bọn người ráo hoảnh hôm nay, cũng là một lũ trẻ mất nết, mãi không chịu lớn, và càng càn rỡ hư hỏng, càng còi cọc không bao giờ lớn nổi.

        Lũ trẻ ấy, sau cái vỏ bề ngoài non bẽo đã già cỗi tự lúc nào không biết, song lại chuyên phô cái vẻ trẻ con ngây ngô ra để chối tội.

       Tối tăm mày mặt trước những món lợi lớn,  cái gọi là lũ trẻ ấy sẵn sàng trở nên độc ác như những bạo chúa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRỞ VỀ QUÁ KHỨ Ư? ĐÂU PHẢI CHUYỆN DỄ!

Ngày 13 tháng 4 năm 2021

"Lo gì mà lo, lo bò trắng răng

Lo ông trời đổ lo thằng trên cao."

Người xưa từng đã chế giễu những kẻ hay lo bằng mấy câu đùa như vậy.

Không rõ trường hợp anh M. bạn tôi sẽ nói sau đây có thuộc về cái dạng quá lo xa đáng buồn cười ấy, chỉ biết trong những dịp trò chuyện với nhau về việc trở lại với một vài phong tục tốt đẹp cũ, hoặc chia nhau nghiên cứu nét đẹp văn hóa ở chùa nọ đền kia, trong khi chúng tôi hồ hởi tự tin (tin rằng chả khó gì cả!) anh thường trình ra một bộ mặt đăm chiêu.

Khi thì anh nói to lên với chúng tôi, khi thì anh lầm rầm tự nói với mình, song bao giờ cũng một câu ấy:

-- Ờ, ý định hay lắm, nhưng mà xem xem, có làm được không đã..

 Rồi anh đưa ra một loạt lý lẽ.

Tôi thấy những lý lẽ này không hoàn toàn vô lý. Và cái chính là chúng tôi chưa đủ sức bác bỏ được nó,  chẳng những thế thấy trong thực tế, nó lại được chứng minh là đúng, vậy xin chép lại ở đây, để các bạn cùng gỡ giúp.

MẤY VÍ DỤ NHỎ

- Hẳn ông còn nhớ một hai năm nay, báo chí nói nhiều đến tình trạng khu di tích Yên Tử bị đe doạ bởi một công trường khai thác than ngay bên cạnh.

Đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về cái mà chúng ta gọi là khả năng biến dạng của di sản trong kinh tế thị trường.

Nói đến tàn phá ai cũng bực bội lên án, nhưng trong thực tế những sự tàn phá ấy cứ tiếp tục xảy ra mà xã hội không biết làm thế nào để ngăn chặn.

 Giữa chúng ta với quá khứ đang có cả một cái hố ngăn cách, đó là nếp sống tuỳ tiện và vụ lợi.

- Hồi tôi còn nhỏ, tức là ở Hà Nội trước 1954, và sau đó, những năm sáu mươi, trong danh mục các chùa nổi tiếng quanh Hà Nội, không bao giờ nghe nói đến chùa Hà. Người buôn bán thời ấy cũng không có chuyện đổ đi lễ đền Bà chúa Kho như các giám đốc công ty bây giờ.

...Lại nhớ có lần đi hội chùa Hương, tôi được giới thiệu vào một cái hang gọi là hang mới khai thác.

Màu đất còn đỏ.

Gạch đá thiếu hẳn vẻ rêu phong.

Nhưng đến khi người quản lý đứng ra giới thiệu thì ông ta cứ hồn nhiên mà kể rằng quân của Vua Quang Trung trên đường ra đánh giặc Thanh đã ghé lại nơi đây.

Và để chứng minh, ông ta chỉ vào những viên đất nung trên đó có vạch sơ sài mấy chữ Hán viết rất vụng và thiếu nét (đúng hơn, phải gọi là vẽ chữ không phải viết).

Thú thực tôi phải cố để khỏi nhịn cười!

Nghĩ tới những chuyện trên và nhiều chuyện tương tự, cứ ấm ức, như vừa bị lừa.

Tôi nghĩ mình không có gì sai, khi đòi hỏi tính chân thực tuyệt đối ở các di sản. Nếu chúng ta còn coi mảnh đất ấy, ngôi chùa ấy là thiêng liêng, phải giữ cho bằng được tính chất thuần khiết của nó. Mọi sự tô son trát phấn ở đây đều gây phản cảm.

- À quên, lại còn câu chuyện dân ca quan họ nữa chứ. Đầu 2000, có một chương trình TV, trong đó, nhờ sự môi giới của những chuyên gia hàng đầu, người ta ghi được quang cảnh các cụ xưa gặp gỡ nhau và hát với nhau ngay trên làng quê của mình. Cũng những giai điệu quen thuộc, mà tinh thần thì khác, lời lẽ khác, và không khí làm nền cho sinh hoạt âm nhạc cũng khác.

Ai đó đã nói đùa. Lâu nay ta toàn được nghe dân ca của đài, chứ đâu phải dân ca thứ thiệt!

Nghe mà nẫu cả ruột!

- Nói thế, không phải là tôi sổ toẹt công lao của nhiều người trong công cuộc khôi phục và gìn giữ di sản. Tôi chỉ lưu ý một điều: lòng hăng hái của chúng ta phải biến thành hành động cụ thể, mà trước tiên là việc nghiên cứu cho chân thực và thấu đáo.

Lấy một ví dụ: xem phim Trung Quốc làm về đề tài lịch sử dù là phim truyền hình loại hàng chợ, tư tưởng không có gì sâu sắc, trang phục của các nhân vật cũng rất rành mạch, đời Hán ra đời Hán, đời Thanh ra đời Thanh.

Đằng này ở ta, quần áo thời Hai Bà Trưng hay thời khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp cũng là một.

Nghe đâu có người còn bảo rằng cái áo mà các nhạc công trong các dàn nhạc dân tộc ở ta hay mặc (trông na ná như cái gi-lê, nhưng không bó vào người và không cài khuy) là cái áo thường dùng của các diễn viên xiếc Liên xô (cũ) hay Đông Âu gì đó, có người thấy tiện mang ra dùng, lâu mãi thành quen.

Nếu đúng như thế, thì thật không ra thể thống gì nữa!

KHÔNG TÔN TRỌNG QUÁ KHỨ ĐÃ LÀ CẢ MỘT TRUYỀN THỐNG

 Có lần, xem một bộ phim du lịch, tôi được biết ở Nhật có phong tục rất lạ, là họ thích di chuyển các di sản vật chất (một ngôi chùa chẳng hạn) từ địa điểm này sang địa điểm khác, chỉ có điều, từng chi tiết của ngôi chùa được giữ nguyên. Ví dụ cột cao bao nhiêu và làm bằng thứ gỗ gì, gỗ bao nhiêu tuổi, nhất nhất cứ như cũ mà làm, người sau lấy việc được giống y như người trước, làm niềm vui và xem như kỷ luật bắt buộc.

Còn ở ta, hình như có truyền thống ngược lại, là người đời Nguyễn có phải sửa lại ngôi đền có từ đời Lê, thì trong khi để lại nó nguyên ở chỗ cũ, lại tha hồ thay đổi vật liệu, thay đổi kích thước cùng các loại chi tiết lặt vặt, và không bao giờ coi đó là chuyện xúc phạm tới di sản. Đến thời hiện đại, người ta càng sẵn sàng mang xi-măng, cốt sắt vào đền chùa một cách thoải mái.

- Để cho công bằng chúng ta cũng phải chia sẻ một chút khó khăn với các nhà nghiên cứu: Tiếp cận với người xưa khó lắm. Tài liệu tam sao thất bản, lại mất mát lung tung. Nhưng trước tiên, là tài liệu quá ít. Một bộ quần áo của người bình thường thôi, nó cũng có lai lịch riêng, nó thay đổi qua từng thời kỳ và nhìn vào những cải biến ấy người ta biết được sự tiến triển trong quan niệm sống hoặc những sự giao lưu văn hoá giữa xứ này với xứ khác.

Tiếc thay ở ta những chi tiết vặt vãnh này gần như không được khảo sát và ghi chép, thành ra bây giờ có muốn phục hồi chính xác cũng rất khó.

 Một ngôi đình được dựng lên, được người đương thời nhắc nhở, có khi được truyền tụng cả trong ca dao, thế nhưng mọi người chỉ biết đại khái làm theo hình chữ “đinh” hay chữ “công”, và chạm trổ kỳ khu lắm, và dành để thờ những vị thần hoặc những bậc anh hùng linh thiêng lắm, còn bên trong tổng diện tích là bao nhiêu, có bao nhiêu hàng cột, trên các hàng cột, các vì kèo có những phù điêu như thế nào, do ai chạm trổ... thì không có tài liệu nào ghi chép cả.

Nói người xưa cố tình giấu kín không muốn cho hậu thế biết về mình một cách chi tiết, có lẽ... hơi oan, song quả thực quá khứ nhiều khi hiển hiện đấy, mà lại vẫn có cái vẻ ẩn khuất, lờ mờ, người các thời sau khó lòng đến với cái nguyên bản chắc chắn của nó. Sứ mạng rút cục đặt lên vai con người thế kỷ XX.

Đáng lẽ, chúng ta phải biết tận dụng các phương tiện khoa học thời nay, đi vào đo đạc khảo tả các công trình còn lại một cách hết sức chi tiết để khi có điều kiện, phục hồi chúng hoàn toàn... thì, vì bận bịu quá, mệt mỏi quá, mà đôi khi đơn giản  vì ít tiền quá, chúng ta không đủ sức làm.

TỈNH TÁO ĐỂ BIẾT RẰNG MÌNH BẤT LỰC

Tóm lại, tôi muốn nói một điều: trở lại với quá khứ nhọc nhằn lắm, không phải cứ luôn mồm kêu gọi nhau, rủ rê nhau là làm ngay được.

Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao thường được dẫn ra để chỉ những anh chàng lì lợm ăn vạ hoặc trâng tráo bất cần đời, và nhiều người thường chỉ nhớ tới Chí Phèo những khi đùa bỡn. Nhưng trong câu chuyện nghiêm chỉnh của chúng ta hôm nay, tôi cứ thấy nhớ bác Chí ở một khía cạnh khác: ý tôi muốn các anh cùng lưu ý đến đoạn cuối cùng, khi Chí Phèo dõng dạc nói với Bá Kiến: “Tao muốn làm người lương thiện”, rồi khi Bá Kiến cười ha hả “Ô tưởng gì.... tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ” thì Chí Phèo lắc đầu nói như đanh đóng cột: “Không được! Ai cho tao lương thiện(...). Tao không thể là người lương thiện nữa”.

Khi bắt đầu tả Chí Phèo đến với Bá Kiến, nhà văn Nam Cao ghi rõ rằng lúc ấy Chí Phèo say rượu và hắn làm thế vì “những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi, chúng định làm”. Thế nhưng đọc đoạn này, tôi lại thấy Chí Phèo rất tỉnh, vì chỉ tỉnh táo lắm, người ta mới tính được rằng hành động của mình cần những điều gì bảo đảm và nó sẽ được người chung quanh tiếp nhận ra sao, liệu mình có thể làm được cái điều mình đã dự định hay không. Còn chúng ta, trong sự sôi nổi của các hành động hàng ngày -- ở đây là cái ao ước thiết tha muốn được trở về quá khứ --- hình như nhiều người chưa bao giờ có được sự tính toán cần thiết và sáng suốt ấy.

Vốn là bài " Con đường nhọc nhằn"

đã in trong "Nhân nào quả ấy" 2002, Nhã nam đang tái bản

 

 

 

 

 

 

 

 

HAI CUỐN SÁCH VIẾT VỀ  CÁC  VẤN  ĐỀ TRỪU TƯỢNG MÀ LẠI DÀNH CHO BẠN ĐỌC NHỎ TUỔI

Ngày 14 tháng 4 năm 2021

Nhân đi mua sách cho hai cháu nội, tôi thấy có hai cuốn có những cái tên khá dài, nội dung thì hình như quá cao, quá trừu tượng

-- Cuốn sách về những sự trái ngược mang tính triết học

-- Những câu hỏi hóc búa  về đức tin

Cuốn trên -- liên quan nhiều đến triết học  --  vốn của nhà xuất bản Nathan bên Pháp, và cuốn dưới --  liên quan tới các vấn đề tôn giáo --- do  bộ phận làm sách thiếu nhi của tập đoàn Macmillan bên Anh xuất bản.

Bản quyền bản tiếng Việt của cả hai cuốn trên đều thuộc nhà Kim Đồng.

 Hôm nay, tôi mới liếc qua được cuốn thứ nhất.

 Chữ nghĩa viết ra không nhiều, nhưng nhìn đầu đề các phần đã thấy đặc sệt chất triết học:

nhất thể và phức thể

Hữu hạn và vô hạn

...

Thời gian và vĩnh cửu

Tôi và người khác

Đây là cái câu coi như đặt vấn đề về sự cần thiết của cuốn sách

"Tại sao phải suy nghĩ về những điều trái ngược?"

"Bởi thiếu những điều trái ngược, chúng ta sẽ không thể tư duy?"

Câu mở đầu cho đoạn 3 chương Tôi / người khác cũng có cái ý đầy thách thức:

"Mỗi chúng ta đều là duy nhất với bản sắc riêng cần được công nhận và tôn trọng"

Trong chương Lý trí/ đam mê có một câu hỏi.

" Ta nên làm theo lý trí hay theo đam mê?"

 Hình ảnh dùng làm minh họa trong sách thì được hình thành và liên kết lại theo những quy luật chi phối ngôn ngữ tạo hình trong nghệ thuật hiện đại. Có thể nhìn qua đã hiểu, xem đi xem lại nhiều lần càng hiểu và càng thích thú hơn.

 Tôi không chắc là đám cháu trên dưới mười tuổi của tôi có thể thích được hai cuốn này.

 Nhưng tôi cứ mua về để một là tự mình học hỏi thêm, và hai là dần dần bằng cách nào đó, trong những dịp thuận lợi cho các cháu làm quen.

Biết đâu -- trong muôn một -  các cháu sẽ tò mò đọc tiếp nghĩ tiếp.

Khi lo làm sách hướng tới một tầng lớp bạn đọc ở lứa tuổi nào đó, người ta thường chỉ tự hạn chế trong cái đối tượng đông đảo tức bộ phận gọi là trung bình. Không ai nhớ rằng còn có một lớp  bạn đọc ưu tú vượt lên trên trình độ thông thường, và xã hội cần phải tính tới việc phục vụ họ.

Nhớ những khi  đọc loại sách tiểu sử các vĩ nhân -- chẳng hạn cuốn Napoléon

Bonaparte của Tarle -- tôi thấy người ta đều viết rằng từ lúc học tiểu học các nhân vật này đã có dịp đọc các loại sách kinh điển của thế giới, kể cả các loại khoa học xã hội.

Lẽ nào chúng ta chỉ chấp nhận rằng trong tương lai người Việt sẽ chẳng có ai vượt lên trên trình độ trung bình thông thường?

NẾU tin rằng chỉ khi có một bộ phận ưu tú xuất hiện -- người xưa gọi là lớp trí thức thượng lưu --  xã hội mới  tiến lên được

 THÌ  hãy tự hỏi ta đã làm gì để chuẩn bị cho những phần tử ưu tú đó?

Trong hoàn cảnh hiện nay, không thể trông chờ vào nền giáo dục do nhà nước đảm nhiệm.

Tùy tâm tùy sức, lớp người lớn tuổi chúng ta phải lo trở thành những nhà giáo dục của con em mình.

Không chừng nhờ thế, một cách ngẫu nhiên, ta lại giúp đỡ cho trẻ ở cả các gia đình khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TỪ ĐÔI DÉP ĐẾN CHIẾC MŨ BẢO HIỂM  

Ngày 18 tháng 4 năm 2021

Các bạn còn trẻ hiện nay có lẽ it ai biết rằng ở nông thôn Việt Nam cũ người ta phần lớn đi đất. Giầy dép là một thứ xa xỉ. Không ai nghĩ tới chuyện làm ra chúng nữa. Sau một ngày làm ăn lam lũ chiều về cũng chỉ rũ chân qua loa.

     Chế giễu ai, người ta bảo người đó là loại dân “ba xoa hai đập “. Thế là thế nào ? Tức là trước khi đi ngủ  thì lấy hai chân xoa vào nhau vài cái cho bụi rã ra, rồi cuối cùng phủi nốt bụi bằng cách đập thật mạnh hai bàn chân vào nhau một hai cái. Coi như xong!

   Ở nông thôn xưa nhiều nhà mùa rét  chỉ nằm ổ rơm ( Tục ngữ  có câu "No cơm tấm ấm ổ rơm" ). Không  sợ chân đi đất  thì làm bẩn chăn, -- sự tiện lợi của việc đi đất  lại có thêm một lý do để  duy trì.

     Thói quen coi thường giầy dép còn lại đến ngày nay. Chỉ cần  nhìn vào cài mà đôi chân người ta đang mang và thái độ người đó với giầy dép nói chung, tôi biết được một phần mức độ người đó văn minh lịch sự đến đâu, làm chủ con người mình đến đâu.

     Không phải là tôi ra cái điều cầu kỳ, muốn mọi người học đòi chơi bời ăn diện. Ý tôi chỉ muốn đề nghị chúng ta cùng nhìn vào những chuyện nhỏ nhặt, vì nó liên quan đến  trình độ làm người cũng như cái sự sẵn sàng tự điều chỉnh để  thích ứng với cuộc sống đang biến chuyển  rất cần cho chúng ta hôm nay.

     Hàng ngày vào lúc mờ sáng tôi thường có dịp qua cầu Long Biên. Đây là lúc các loại rau quả gà vịt đưa về Hà Nội. Đây cũng là thời điểm để các xe đạp thồ đưa than sang thành phố phục vụ việc đun nấu của các hộ nghèo bắt đầu hoạt động mạnh.

      Khỏi phải nói là những người đạp xe đưa than này vất vả như thế nào rồi. Xe thì cũ, than thì ướt, lại tham chở nhiều. Mà lấy đâu ra xe tốt bây giờ, những xe này may lắm chỉ được đôi vành cứng, ngoài ra “không phanh không chuông không gác đờ bu “, là cái giá đỡ biết đi, chứ đâu còn là xe nữa.

     Lúc tôi hiểu rằng họ không chỉ điều  khiển xe bằng đôi tay mà bằng cả  sự vặn vẹo của thân hình và đôi chân, thì cũng là lúc tôi nhận ra họ chỉ có đôi dép rất tồi.

  Dép không có quai hậu.

  Lại nát lại hỏng.

  Một mặt tôi khâm phục sự nhẫn nại của họ. Mặt khác tôi băn khoăn: Tại sao họ không nghĩ đến việc kiếm lấy một đôi giầy cho chắc chắn ? Sao họ cứ  bám lấy đôi dép lê cà tàng vậy? Một đôi giầy vải thì có đắt đỏ gì? Mà sao họ cứ để những đôi dép nát vắt kiệt thêm sức lực ?

     Phố phường Hà Nội hàng ngày được lấp đầy  bằng vô số người từ nông thôn lên. Có bao nhiêu người bán rong thì bấy nhiêu người chỉ kéo lê trên đường bằng những đôi dép cà khổ. Chỉ cần nhìn vào đây đủ hiểu trình độ đô thị hóa của dân ta.

     Kể chuyện những đôi dép để liên hệ tới một việc bây khác, bây giờ mới thành nếp, nhưng lúc đầu trầy trật mãi: đội mũ bảo hiểm.

      Tại sao cái việc đơn giản, ai cũng thấy phải, nước nào cũng làm,  mà ở mình lại phải có một cuộc vận động rồi thành nghị quyết và tổ chức ra đủ mọi lực lượng kiểm tra cũng như xử phạt như vậy?

      Ở  đây có lý do nằm trong tâm lý con người hậu chiến. Đã từng vào sinh ra tử, người ta dễ coi thường cái chết. Rồi có lý do của cái và cả nếp sống quen tự do, không muốn có gì bận vào mình.  

       Khi  Sài gòn mới giải phóng tôi cùng với các đồng nghiệp  ở Tạp chí Văn Nghệ Quân đội thuộc biên chế của Tổng cục chính trị và một thời gian cùng sống  trong căn nhà 61 Lý Tự Trọng ngay quận một. Tôi còn nhớ một chuyện hơi kỳ: mặc dầu các phòng đều có toa-lét, nhưng nhiều  người cứ thích ra cái bể nước công cộng, ở đấy người ta được vừa tắm vừa kháo nhau chuyện nọ chuyện kia,  rồi dội nước ào ào.

     Tôi chỉ thực hiểu ra điều này, khi nhớ lại là, phần lớn đồng đội của tôi là những người nông dân. Một khúc sông tự nhiên hoang sơ, một cái đầm làng bát ngát, hoặc một cái giếng thơi …, đó là những chỗ tắm quen của chúng tôi trước khi vào đây. Từ nơi tắm rửa đến cái mũ trên đầu,  bất kỳ cái gì gò bó  và gây cảm giác chật chội, người dân đồng bằng sông Hồng đều  ngại.  

       Sau hết tôi muốn  trở lại câu chuyện nói trên, về những đôi dép. Bước ra từ xã hội của nền kinh tế tiểu nông ta quen gặp đâu hay đấy thế nào cũng xong. Ta  bằng lòng với sự cẩu thả.

    Ta có tâm lý bảo thủ, khó từ bỏ những thói quen cũ cũng như ngại thích ứng với cái mới.

   Tất cả những  biểu hiện của một tình trạng tiểu nông lạc hậu  mà  tôi đã chứng minh qua việc coi thường những đôi dép  lại thấy xuất hiên trong sự lần chần  không chịu kiếm ngay  cái mũ cần thiết  mỗi khi đi lại trên những con đường lớn.

      Vài chục năm nữa, sự kiện này sẽ được nhắc lại với nụ cười mỉm: chúng ta đã từng ngây thơ như thế, trên con đường đi tới xã hội hiện đại.

Đã in trong " Những chấn thương tâm lý hiện đại "

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỰ THA HÓA CỦA LỜI NÓI

Ngày 20 tháng 4 năm 2021

Theo các nhà nghiên cứu hội họa, trong các bức tranh của người Việt thời trung đại, mỗi yếu tố chỉ có quan hệ với yếu tố liền kề bên cạnh, chứ không có quan hệ với toàn bộ bức tranh.

    Con người ở đây trong các mối quan hệ xã hội cũng vậy. Hành động và lời nói thường được tổ chức để đối phó với các đối tác có quan hệ gần gũi mà không chú ý tới toàn bộ cộng đồng.

   Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau –

 Câu ca dao đó thuộc loại những câu “vỡ lòng “ mà mỗi gia đình thường dạy con cái mình. Thành ngữ còn ghi: nói ngọt như mía lùi, nói kiến trong lỗ bò ra ...ý khuyên khi giao thiệp cần chon những lời lẽ tốt đẹp

  Nhưng trong các cuốn từ điển , người ta thường gặp nhiều hơn bội phần những thành ngữ có liên quan những lối nói   không có gì là tốt đẹp.

 Hoặc là:

  nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khoé, nói chọc, nói chơi, nói chua,  nói cứng, nói dựa, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt,  nói gần nói xa, nói gở, nói hành nói tỏi,

  Cũng như:

 nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo, nói phách, nói leo, nói lửng, nói mát, nói mép,  nói móc, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt,  

  Rồi còn:

 nói phét, nói quanh, nói quấy nói quá,  nói ra nói vào, nói suông, nói thách, nói thánh nói tướng,  nói trạng, nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi, nói xỏ …

 Thái độ vô trách nhiệm của con người với tiếng nói của mình làm nên bộ mặt tinh thần chủ yếu của các  nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan  từ "Tôi xin hết lòng" tới "Thằng điên", từ "Một tin buồn"  tới "Hé! Hé! Hé !"

    "Thế là mợ nó đi Tây"  cũng như "Tôi yêu quý nương", hai truyện ngắn này đều gồm nhiều bức thư, loạt đầu giọng tử tế  thậm chí văn hoa, đến  thư cuối thay bằng  mấy lời  bạc bẽo, càn rỡ.

Mà đó chỉ  là của một con người viết cho một người khác trong thời gian ngắn.

    Trong nhật ký của mình, Pièrre Poivre – một  người Pháp từng đến buôn bán ở Đàng Ngoài thế kỷ XVIII - than thở:

    -- Điều làm tôi bối rối khi phải thương lượng với người ở đây là chẳng bao giờ họ nói một lời chân thật. Hôm nay đồng ý, mai đã chối từ. Họ hứa rồi lại rũ bỏ lời hứa, chẳng chút e ngại.

   Sau đây là một mẩu chuyện trong Ba Giai Tú Xuất  :

      Ngày xuân, cụ Lý Sộp rủ cụ Tổng Muỗm ra Hà Nội, vào một cửa hàng, nhờ kiếm mấy điếu thuốc phiện. Chủ quán nhận giúp, sai người đi liền. Tiếp đó khi cái người được sai đi ấy mãi chưa về, chủ quán lại đích thân đi tìm, trước khi đi không quên  mượn của các cụ cái khăn nhiễu.

Ăn tàn miếng trầu không thấy họ về.

 Các cụ cáu kỉnh trách móc,  bọn này không tính làm ăn buôn bán hay sao ? Thì một người từ nãy đến giờ ngồi yên trong góc quán thủng thẳng cho biết mình mới là chủ quán,  hai người trước đó chỉ là bọn đi lừa.

 Khi các cụ thắc  mắc, ông chủ thật ấy cười khẩy giải thích :

     -- Các  cụ nói thật "cổ nhập" quá. Phàm cách bạn hàng  gẫu chuyện với nhau thì  muốn nói nhăng nói quậy gì chẳng được. Dù hắn nói là chủ hàng chủ quán  hay là chủ cả một tỉnh một xứ này cũng được nữa là. Một câu nói phiếm, phỏng  có tổn hại gì, ai hơi đâu lại đi can thiệp.

 Đoạn dẫn trên đây, khá điển hình trong việc phác lại một tình trạng thông thường của lời nói trong xã hội ta.

 Một mặt chúng ta bảo nhau lời nói đọi máu.

Mặt khác chúng ta thường quá dễ dãi khi xử lý nó. Ta không dùng nó để suy nghĩ. Mà trong công việc giao tiếp, ta dùng nó để  đùa chơi, bỡn cợt, ràng buộc, thách thức, tóm lại là một thứ tài nguyên rẻ, tha hồ phung phí.

Bảo rằng lời nói bị tha hóa là với nghĩa đó. Nó không còn là chất kết dính  của xã hội.

  Nói lời thì giữ lấy lời  -- Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Kho tàng tục ngữ ca dao còn ghi lại bao lời than phiền vì những sự con người làm khổ đồng loại bằng lời nói. Người ta ghê sợ nhau chán chường nhau mà vẫn phải sống với nhau.

 Nguyễn Trường Tộ sớm ghi nhận tình trạng “ không luận đàn bà trẻ con, đến người có học biết chữ mà cũng mở miệng là nói lời thô bỉ”.

Nguyễn Văn Vĩnh lưu ý  cái sự ham  thích những câu chuyện tầm thường, và từ chối những chuyện nghiêm chỉnh.

Phạm Quỳnh dị ứng nhất với những đám đông hỗn hào lộn xộn.

 Xuân Diệu bảo ta hay nói hão.

 Tình trạng tha hóa kéo dài trong ngôn ngữ con người đương đại cũng được Nguyễn Huy Thiệp ghi lại khá tự nhiên.

 Trong " Tướng về hưu", các nhân vật thường nói với nhau một cách trắng trợn, pha phách cả ảo tưởng lẫn tinh thần hoài nghi, tới mức một nhân vật phải  kêu lên:

 -- Nhà mình nói năng như người điên khùng cả .

Tôi nghĩ nhận xét đó khái quát khá đúng tình trạng sử dụng ngôn ngữ trong một xã hội đã bị chiến tranh xé nát và hầu như mọi con người không ai còn sống bình thường như thuở trước 1945.

 

 

 

 

NHÌN THIÊN NHIÊN MÀ SỐNG

Ngày 22 tháng 4 năm 2021

(một đoạn ghi chép mười năm về trước)

Hình dung lại những mùa đông xưa, khi bản thân còn nhỏ, sao trong đầu óc tôi thường hiện lên rất nhiều ngày mưa.

“Mưa lâm râm ướt đầm lá hẹ “ trong  ca dao,

“Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm “ của Huy Cận.

Và đây thơ Bằng Việt “Mưa trên áo khiến động lòng tuổi trẻ ‘’,

thơ Lưu Quang Vũ “Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa “ …

Nhớ đủ thứ mưa trong thơ, bởi ngoài đời mưa nhiều thật.

    Mùa đông 2006 lại cho thấy một sự bất ngờ của thiên nhiên. Ba bốn tháng liền, Hà Nội gần như không mưa. Trời đẹp, nhiều hôm nghe cô Đan Lê cô Thu Trang nói trong bản tin thời tiết “Chúc các bạn có những ngày nghỉ cuối tuần tuyệt vời”  không hẳn vui mà cứ thấy nao nao.

     Vẫn biết nắng vàng trời hanh thì thú vị thật, nhưng tận trong đáy lòng, tôi vẫn nhớ những ngày mưa, hình như mình quen với mưa hơn.

    Cầu được ước thấy, cả tuần vừa qua, trước tết Nguyên tiêu, không có lấy một ngày nắng trọn vẹn. Lúc nào bầu trời trên đầu cũng lảng vảng những đám mây. Lúc nào trời cũng ủ mưa dù không phải mưa. Cái nẳng thoang thoáng. Có thể sắp nắng bừng lên nữa. Mà cũng không chừng lại sắp mưa.

     Những ngày khô hạn đã dạy cho tôi biết thế nào là sự quyết liệt của đời sống. Cả trái đất nóng lên. Nhiều thành phố nằm sát mép nước biển bên Italia có khả năng bị nước tấn công. Năm ngoái năm kia bên Paris khối cụ già chết vì nắng cơ mà. Bây giờ cái gì cũng thái quá. Chuyện mưa thuận gió hòa chắc chỉ còn trong sách vở. Giá kể bây giờ ai đó đùa đùa mà dự báo rằng phải chuẩn bị phương án nhỡ có lúc sông Hồng cạn phơi cả đáy thì cũng không thể mắng là người ta điên được.

      Những ngày dở dang mưa nắng lại càng dạy tôi tập quen với mọi khả năng sắp tới.

Giá cả leo thang ư?

Trong phở có hooc môn ư?

Tai nạn giao thông ngày một dày đặc hơn ư?

Thị trường chứng khoán lúc nào cũng như trái bong bóng bơm căng ư?

 Điện lại sắp sửa cắt trên diện rộng ư?

 Dịch cúm gia cầm vừa chấm dứt lại bùng phát ư?

 Điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những điều xấu nhất lẫn những điều tốt nhất.

Về mặt lý tính, tôi tin như vậy.

Và tôi tự bảo tôi không có quyền buồn, buồn chẳng có ích gì. Mà hãy gắng tìm ra niềm vui, tối thiểu là cái niềm vui của sự hiểu biết và thích ứng, chỉ riêng cái đó cũng đáng sống lắm.

Một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Đức B. Brecht (1898 -1956)  kể lại một cuộc đối thoại giữa một ông bố và cậu con trai trong thời gian mà chế độ phát xít đang thắng thế.

Mỗi lần người con đưa ra một câu hỏi có học môn này môn kia không, thì ông đều trả lời không. Không Toán. Không tiếng Pháp. Không sử.  Học để làm gì ? Không biết ư ? Vậy thì cái gì cũng không, nhiều lần ông bảo con vậy. Để rồi cuối cùng ông lại gói gọn trong một câu  “Ừ con, môn gì cũng phải học cả “.  

BỔ SUNG 23-4-2016

Đọc lại đoạn ghi từ mười năm trước, tôi thấy với con người hiện nay tình thế ngày càng bi đát hơn, sự bất lực ngày càng rõ rệt hơn.

Còn như niềm vui của sự hiểu biết và thích ứng --  niềm vui đó lại là thứ hàng cao cấp quá, làm sao có nổi.

Duy chỉ có sự hiểu biết về tình trạng bất lực, cái đó thì có thêm được một ít. Lại nhớ một câu nói có cánh của ai đó, đại ý nói rằng con người là sinh vật duy nhất biết rằng nó sẽ chết. Lúc này tôi muốn bổ sung bởi biết thế, nên con người phải chống trọi đến cùng. Câu danh ngôn sau thì hay hơn:

CUỘC SỐNG BAO GIỜ CŨNG CAO HƠN CÁI CHẾT ÍT RA LÀ MỘT CUỘC ĐỜI. NẾU KHÔNG CÓ CÁI ĐỂ MÀ SỐNG THÌ LÀM GÌ CÓ CÁI ĐỂ MÀ CHẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP 

TƯ DUY TRUNG CỔ

Ngày 24 tháng 4 năm 2021

Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.

     Câu chuyện được kể chỉ cốt để phô ra một tình trạng gian dối phổ biến trong sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sống thực giả tùy tiện . Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết thực thụ về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.

    Từ đây, không khó khăn gì để nhận ra mầm mống của nhiều sự lạc hậu khác như cách nghĩ chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, bịa sai bị tố không chịu nhận, xem thường lẽ phải và pháp luật.

     Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đưa ra hàng ngày trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án "có dấu hiệu bị làm lệch". Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.  Trên các trang mạng thường xuyên có các tin bài dành để tố cáo tiến sĩ rởm, giáo sư rởm.

    Đấy là nói trên những sự việc trong đời sống hàng ngày. Nói chi đến những chuyện tầy đình -- như ba mươi năm chiến tranh, đã bao người Việt bị chết, trong nạn suy thoái kinh tế hiện nay có bao nhiêu công nhân thất nghiệp, -- các con số đưa ra khi thấp khi cao và chỉ phụ thuộc vào ý muốn của người có quyền.

    Sự  cố ý làm sai nhiều khi đã biến thành gian manh càn rỡ, bất chấp quỷ thần cũng như dư luận xã hội.

    Sự thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới, là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử cho vừa mắt vừa tai, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.

    Ta hãy trở lại với cội nguồn của thói quen này.

     Trước khi đề ra các chính sách xã hội ở Đông Dương, người Pháp thường huy động nhiều nhà khoa học đi điều tra nghiên cứu điền dã và tìm hiểu ngược mãi lên tận nếp sống trì trệ đã hình thành nhiều đời trong xã hội Việt.

     Trong số này phải kể  tới Pierre Gourou (1900—1999).

     Tình trạng tư duy không có cái gì chính xác của người Việt đồng bằng sông Hồng từng được ông miêu tả tường tận trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003)

    Theo cách miêu tả của Gourou, ở các làng xã, “chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích, trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“.

     Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống chi phối xã hội suốt từ trên xuống dưới.

   Nên biết rằng đến thời cận đại, ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc đầu thì người ta không thể làm, sau thì không muốn làm. Thói quen sống trong bóng tối đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.

     Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá.

   Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước.

    Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước.

     Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người  thăng  quan tiến chức  thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình. Mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy nhiều chi tiết cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả.

     Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian của cả cộng đồng  như tạo ra một lớp sương mù huyền hoặc. Càng về sau những người chép sử càng  sử dụng độ lùi của năm tháng để vùi lấp tất cả trong sự mù mờ và không cho phép ai đi tìm sự thật.

      Cũng về vấn đề thời gian hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) lưu ý xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ, và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo“.

      Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên.

      Theo Pierre Huard và Maurice Durand, đây là dấu hiệu của sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông.

      Trong lúc chờ tìm hiểu thêm về tiền Descartes , tôi tạm lấy một câu chuyện trong Trạng Quỳnh để minh họa cho khái niệm này.

      Theo bản Trạng Quỳnh bán ở sạp báo trước cửa chợ Đồng Xuân thời gian trước 1954 thì có lần Trạng cho kéo đến trước mặt sứ Tầu một cây gỗ, rổi đề vào đó ba chữ Hồ bất thực và bảo hãy giải nghĩa cây đó là cây gì.

 -- Xin chịu,  kính nhờ Trạng giảng hộ.

 -- Hồ bất thực là cáo chẳng ăn. Cáo chẳng ăn thì cáo đói. Cáo đói thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo.

    Ngày nay sự lẫn lộn giữa huyền thoại và lịch sử còn được tiếp tục, chẳng hạn với trường hợp ngọn đuốc sống Lê Văn Tám.

    Tư duy trung cổ chi phối người Việt suốt những năm chiến tranh.  Sang thời hậu chiến,  trong khi tuyên bố mình đi vào hiện đại hóa thì trên nhiều phương diện – trước tiên là trong tư duy -- có sự trở lại của các yếu tố tiền hiện đại.

    Tức tinh thần chính của đời sống thì lại y như trước khi người Pháp tổ chức xã hội VN theo mẫu hình của họ thế kỷ XIX.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THỬ TÌM HIỂU CÁCH KIẾM SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Ngày 26 tháng 4 năm 2021

Từ trường hợp của những ông già ném cá trong bài trước, tôi xin thử nêu lên một vài đặc điểm  làm nên cách kiếm sống dân ta xưa và nay:

1-- Trong cuộc mưu sinh, dân  ta còn đang dừng lại ở tư duy hái lượm tức là sẵn có cái gì của thiên nhiên thì nhặt lấy mang về. Năng lực của cộng đồng trong việc chủ động tổ chức ra một xã hội  sản xuất, năng lực đó còn hạn chế... Con người trong xã hội ta đa số là vô nghề nghiệp và không đạt tới đỉnh cao trong việc làm nghề. Các ngành nghề không được chăm lo cải tiến nên chỉ có giậm chân tại chỗ.

 Khi tiếp xúc với các nền kinh tế khác chúng ta lại không chịu học hỏi đàng hoàng kỹ lưỡng nên cứ kém mãi.

2-- Chiến tranh là nhân tố chủ yếu chi phối khuôn mặt của xã hội VN trong suốt trường kỳ lịch sử. Trong các thế kỷ trước, nhất là hai thế kỷ XVII – XVIII sa vào nội chiến, ở ta, việc sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển trong mức độ bảo đảm cho các cuộc chiến tranh giữa các phe phái được duy trì . Vậy mà nạn đói vẫn luôn luôn xảy ra. Còn sự phát triển các ngành công thương nghiệp là hết sức kém cỏi thì cũng là lẽ tự nhiên.

 Điều này càng rõ nếu xét  tình hình từ 1945 tới nay.Trong chiến tranh bao nhiêu con người giỏi giang đổ hết cả ra mặt trận. Đến cả lương thực cho người dân miền bắc cũng phải nhập của nước ngoài. Súng ống đạn dược xe pháo dùng trong chiến tranh là của ngoại nhập. Ở hậu phương mọi công việc như xây dựng nhà cửa hoàn toàn ngưng trệ.

Sau chiến tranh hầu hết chúng ta là những kẻ vô nghề nghiệp.

Các quan chức cũng hoàn toàn vô nghệ nghiệp. Từ những người chỉ quen “đánh đồn diệt viện”, nay phải lo quản lý đủ mọi ngành nghề hiện đại, làm sao không dẫn tới tình trạng làm đâu hỏng đấy.

Sau khi đọc bài của tôi có bạn nói rằng giá ông già kia có đồng lương hàng tháng bốn năm triệu thì ông không phải làm thế.

Tôi xin trả lời rằng đó là chỉ nhìn bề ngoài.

Còn nhớ có lần trên mạng thấy loan tin các cơ quan khoa học người ta đánh giá rằng  nước mình là một xứ mà việc quản lý các tài nguyên khoáng sản là loại đội sổ, kém nhất thế giới.

 Không cần có mặt ở các loại mỏ, chỉ từ tình hình chung cũng đoán ra hết.

Những người  chủ trì công việc làm ăn ở các vùng tài nguyên đó, theo sự nhìn nhận của tôi thật cũng chẳng khác gì ông già ném cá hàng xóm của tôi bao nhiêu.

Nghĩa là thấy của một đống trước măt mình đấy thì bất chấp quy trình ký thuật cần thiết, cha con chỉ lo đào cho được rồi bán tống bán táng ra nước ngoài lấy tiền. Tiền này đi đâu thì ai cũng biết rồi -- nộp cho ngân quỹ nhà nước thì ít, đút vào túi mình thì nhiều.

Ta chỉ trách những quan chức này là họ tham nhũng.

 Ta quên rằng họ cũng đang là những người kiếm sống không có nghề ngỗng gì hết, và kiếm sống với bất cứ giá nào.

Trong khi khai thác tài nguyên theo kiểu thổ phỉ vậy, tự họ đã tước đi khả năng tồn tại và phát triển của cái nguồn lực đáng lẽ nuôi sống cộng đồng và chính họ trong một thời gian lâu dài.

Họ cũng từ bỏ luôn cái cơ hội tốt để họ và con cháu họ tử tế nên người.

3-- Nói tới một đặc điểm khác trong việc kiếm sống của người mình, nhất là con người hiện đại.

Là ta có lối suy nghĩ rất thiển cận, trong khi phấn đấu để vượt lên số phận nghèo khó đã không chịu học không chịu chuyên môn hóa …mà lại chỉ nhăm nhăm tính toán sao cho có thể đạt đến mọi mục đích tầm thường của mình bằng con đường nhanh nhất.

Nhân danh nghèo khó, cho là mình có quyền làm mọi điều xấu xa và sẽ chẳng có  thần phật nào trừng trị chúng ta cả.

Tiếp đó là bày ra đủ thứ lý luận để cãi trắng cho sự hư hỏng của mình. Cả một đội quân tuyên truyền góp phần vào việc tự biện hộ này. Chúng ta đã đi tới sự tự lừa dối tự lúc nào không biết.

Đến lúc này thì người ta nói rằng con người đã vô phương cứu chữa.

Nhưng đây là một khía cạnh khác nó làm nên một xu hướng phát triển của con người thời nay là sự tha hóa.

 Lâu nay ta chỉ nghĩ người giàu mới tha hóa.

 Nhưng 40 năm sau chiến tranh, người nghèo cũng đang tha hóa.

Cố nhiên, vì chạm đến đồng tiền và quyền lực nên quan chức thì tha hóa nhanh nhất.

Xưa ta hay có thói quen nói rằng giai cấp thống trị xấu xa là vua quan thời phong kiến có lẽ là người nước nào đó chứ không phải người Việt.

Nay thì chắc các quan chức -- cả bộ phận tha hóa lẫn bộ phận còn đang chống chọi lại xu thế chung đó -- cùng có lý do để nhận họ là những người Việt thứ thiệt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KIẾM SỐNG VỚI BẤT CỨ  GIÁ NÀO!  

Ngày 26 tháng 4 năm 2021

Thời tiết oi ả, đang nóng bỗng lạnh đang lạnh bỗng nóng, nhiều nhà đêm trước vừa  mở điều hoà, đêm sau đã phải lôi chăn mùa rét ra đắp, khí trời năm nay ở đồng bằng sông Hồng độc quá! Chẳng những con người nhoai ra mà đến cả các giống vật cũng khó sống: ở vùng ngoại ô  tôi đang ở, sáng sáng trên mặt  hồ vô khối cá chết nổi lềnh bềnh. Có cá chết là có người đi vớt, bởi thứ cá này đun lên còn cho lợn cho chó ăn được.

     Mấy người dạy sớm lại chuẩn bị sẵn vợt, cá vớt được dễ đến cả rổ. Đến lượt một ông già nọ, lộc giời chẳng còn bao nhiêu, đi lui đi tới ngắm nghía mãi mới thấy một hai con sót lại. Cá thì nằm khá xa mà trong tay ông không có lấy một cái que cái sào nào cả. Nhưng ông không chịu! Thoạt đầu thấy ông nhặt  gạch hòn to hòn nhỏ vun thành đống lùm lùm tôi chưa hiểu để làm gì. Bỗng nghe tũm tũm gạch ném xuống nước, thì ra ông lấy gạch để lái cho cá trôi dần vào bờ. Liên tiếp, có đến vài chục viên gạch được sử dụng. Khi mùi cá chết nồng nặc xông lên thì cũng là lúc tôi nghe cái túi ni - lông trong tay ông gìa sột soạt. Có thế chứ ! Thoát làm sao được khỏi tay ta, hỡi những chú cá không biết mới chết đêm qua hay từ hôm kia mà thân hình đã mủn cả ra trên mặt nước!

    Tôi đứng nhìn ông già lấy gạch dồn cá mà nghĩ đến cách kiếm sống của con người  hiện nay. Nào ông có khác với nhiều thanh niên trai trẻ háo hức vào đời, nhất là những thanh niên nông thôn đang đổ lên đô thị: Tay trắng lập nghiệp. Nghề ngỗng chẳng có. Đồ nghề không tức là công cụ không. Có  miếng ngon miếng sốt thì lớp người đi trước dành hết cả rồi. Thành thử có gì là lạ khi họ chỉ còn cách lăn xả vào bất cứ việc gì người ta thuê mướn dù là mồ hôi đổ ra  nhiều mà đồng bạc thu về  chẳng khác mấy  con cá trôi nổi trên mặt hồ.

    Thế nhưng cái đáng sợ nhất vẫn là cái  “triết lý” toát lên từ cái việc kiếm sống đơn giản  này. Nhìn đống gạch  được ném xuống nước, tôi cứ định nói với ông già  rằng như thế tức là trực tiếp  phá huỷ môi trường. Ai cũng thích thì  làm, hôm nay mươi viên mai vài chục viên, hỏi  còn gì là cái mặt nước thân yêu? Chẳng phải là chỉ mấy năm nay nước hồ đã đen dần vì nước cống, lòng hồ đã bồi cao lên vì các loại phế thải xây dựng và rác rưởi ? Nhưng tôi không mở miệng nổi. Từ cái việc  mà ông già thản nhiên và hào hứng  theo đuổi, tự nó đã  toát ra một lời tuyên bố: để kiếm sống,con người ta có quyền làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể là có hại cho người chung quanh hoặc tàn phá  môi trường sống chung quanh đến như thế nào.

    Lại nhớ nhà văn Nga Tchékhov (1860 – 1904) từng có một đoản thiên kể chuyện  một người mugich hồn nhiên tháo đinh bù loong trên đường sắt về rèn mấy cái đinh thúc ngựa. Sắt ê hề ra đấy mà làm gì, tháo một vài cái có sao, không  tàu hoả thì  đi bộ đã chết ai ? Còn ở ta  những năm chiến tranh có những người coi kho phá cả một cỗ máy để lấy mấy cái vít. Xét về mặt lý lẽ mà người trong cuộc đưa ra để biện hộ, giữa những việc đó với việc người ta rải đinh trên đường cao tốc, bán đủ các loại rau quả vừa phun thuốc trừ sâu, đá bóng vào lưới nhà để thực hiện hợp đồng bán độ, rồi  chặt phá rừng vô tội vạ, rồi mua bán bằng cấp và chức sắc, rồi kê đơn cho bệnh nhan toàn những thuốc đắt tiền để ăn hoa hồng, rồi đưa ma tuý vào trường học rủ rê con nhà lành vào con đường nghiện ngập cốt bán được ít hàng quốc cấm... có khác nhau là bao ?  Ở đâu thì  cũng cùng một lý lẽ ấy, lý lẽ của ông già ném gạch dồn cá, vốn đã  bắt rễ trong tiềm thức nhiều người chúng ta. Khi độ nguy hiểm của nó ta còn  chưa cảm thấy rõ ràng thì làm sao đủ sức để chống lại?

 

 

 

 

 

 

 

 

BUỒN VUI ĐẮP ĐỔI

Ngày 30 tháng 4 năm 2021

Hôm nay nhiều bạn thích nhớ lại câu nói có tầm khái quát lịch sử của Võ Văn Kiệt đại ý vào những ngày kết thúc chiến tranh một triệu người vui thì cũng có có một triệu người buồn

Tôi muốn tát nước theo mưa vân vi thêm vài ý nhỏ

-- tình cảm là một vấn đề phức tạp nhất là giữa vui buồn thường có sự chuyển hóa (xem Ghi chú ở dưới)

-- Về những người buồn lúc ấy thì tôi không thực sự  biết lắm và đến nay vẫn đang tìm hiểu nhưng trước sau vẫn thông cảm và kính trọng.

 -- Còn về phía những người vui  thì sao?

Theo ghi nhớ của riêng tôi ngày ấy ngay trong hàng ngũ bên thắng cuộc bên cạnh  đa số  những người vui tự nhiên và dễ dàng (và có cả dễ dãi nữa ) cũng đã có những người buồn vui lẫn lộn, vui ít buồn nhiều.

Số này ít thôi nhưng theo tôi các anh đều hiểu biết lịch sử và thời cuộc, vui buồn của các anh gắn với một tầm nhìn rộng rãi do đó là một nỗi buồn mà theo tôi là cao quý, bao gồm cả những lo sợ chính đáng -- mặc dù trong hoàn cảnh lúc ấy thông thường người ta phải giấu nỗi buồn ấy đi không dám bộc lộ rõ.

Ban đầu tôi thấy có cảm tình nhưng vẫn không hiểu các anh ấy lắm,  về sau mới thấy các anh ấy đúng.

--  về sự chuyển hóa các loại người này trong thời gian  tôi dự đoán  tuy những người  vừa biết buồn vừa biết vui như vậy  trong hàng ngũ người thắng cuộc lúc đầu chỉ là   thiểu số nhưng ngày càng càng đông lên và được bổ sung bởi những người trẻ ra đời sau chiến tranh.

Và họ sẽ gặp gỡ những người mà "hôm qua chỉ có  buồn và hôm nay vẫn còn  buồn" nhưng đã biết tìm nhiều niềm vui trong  suy nghĩ và hành động . Lớp kế cận của nhóm người thứ hai này thì lại càng đông đảo.

 Hai loại người này sẽ có một sự chia sẻ và  phối hợp lâu dài vì tương lai của một Việt Nam thống nhất thực sự -- dù ngày ấy  không phải là gần lắm nhưng chắc phải tới.

***

 Ghi chú dành cho các bạn thích "nhiễu sự văn chương"

1/về những những tình thế nước đôi, tôi thường nhớ lại câu thơ của Hoàng Trung Thông viết ở Vĩnh Linh

 Trời hôm nay vừa mưa vừa nắng

 Mây hôm nay vừa trắng vừa đen

Biển hôm nay người trong vườn đục

 Nước hôm nay vừa lặng vừa yên

2/Về sự đắp đổi biện chứng của tình cảm thì không gì bằng câu thơ của Tế Hanh viết trong "Bài thơ tình ở Hàng Châu"

Những ngày buồn nghĩ lại thấy vui vui

 Những ngày vui thấy nghĩ lại thấy ngùi ngùi

 Còn một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam  thì bảo

 "trong cái được có cái mất,

trong cái vui có cái buồn,

trong cái vô vọng có cái hy vọng",

Nói về nghệ thuật diễn viên, bà  cho rằng các bạn trẻ phải lo diễn thế thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.

Nhưng theo tôi câu này cũng đúng trong nhiều trường hợp khác.

 

 

 

 

GIÀU CÓ và TỬ TẾ THỜI NAY

Ngày 14 tháng 5 năm 2021

Khoảng cuối 2002, đầu 2003, một người Đức đã viết trên mạng về một số  khía cạnh  xấu xí của người Việt trong đó có khía cạnh liên quan tới một nếp  tư duy phổ biến trong chúng ta .

Sau khi kể lại những tình trạng lộn xộn trong xã hội Việt  hiện nay ông người Đức này bảo hình như nhiều người bản địa cũng biết mình hư hỏng nhưng lại có lối đổ thừa cho hoàn cảnh.

Nhiều người Việt ông gặp nói thẳng vào mặt ông là tại chúng tôi nghèo quá nên chúng tôi mới hư hỏng thế này, còn nếu giàu có lên thì chúng tôi sẽ tử tế ngay.

Còn theo kinh nghiệm của người Đức và nhiều cộng đồng khác, con người phải tử tế thì mới có được sự giàu có chắc chắn.

Vậy là giữa người mình với người nhiều nước khác, đang có sự khác nhau về cách nghĩ.

Nên hiểu thế nào về tình trạng này?

Tôi nghĩ rằng những lúc tỉnh táo đối diện với mình có vẻ như khá đông chúng ta trong thâm tâm đều công nhận người Đức kia nói đúng dù là làm theo thì không thể.

Tuy sóng trong một xa hội chưa có điều kiện tổng kết  nhưng con người VN thời trung đại đã thấm thía các bài học về việc làm người của mình trong đó có những triết lý cũng chẳng khác gì các  cộng đồng khác. “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà” – cái câu cửa miệng ấy ai mà chẳng biết.   

Thế tại sao lúc này đa số người Việt  chúng ta lại sống với cái triết lý “giàu có rồi sẽ tử tế” tức là thả lỏng cho mình tự do xoay sở và cho phép mình kiếm sống bằng bất cứ phương tiện nào kể cả  những phương tiện của quỷ dữ.

Câu trả lời của tôi trong trường hợp này là tại vì chúng ta trải qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp nó làm biến dạng cả mày mặt con người tư tưởng của chúng ta.

Là người đã sống ở Hà Nội thời chiến và hậu chiến suốt 50 chục năm qua, tôi thấy cái triết lý này có cơ sở của nó.

-- chiến tranh không đào tạo người ta thành người lao động bình thường, trước cuộc mưu sinh ngày nay, mỗi người hoàn toàn bất lực.

-- đi qua chiến tranh, người ta sống cảm giác kẻ sống sót, không thấy cuộc đời có ý nghĩa gì ngoài sự hưởng thụ.

-- để sống đươc trong chiến tranh người ta phải trải qua một sự TỰ LỪA DỐI mà đơn giản nhất là sự tin tưởng  rằng sau chiến tranh, tự nhiên ta có tất cả.

Nên nhớ là dưới bom đạn, ảo tưởng lại được nuôi nấng, và đến nay khi ảo tưởng đó tiêu tan, thì con người ta như con trâu đứt mũi, thả mình phiêu lưu trong sự hư hỏng.

 Ai cũng biết là nạn ăn cắp hiện nay quá phát triển  mà một trong những lý do làm cho người ta yên tâm làm vậy là thấy ăn cắp -- bao gồm tham nhũng --  không bị trừng trị  và không sao có thể trừng trị đến cùng.

Chắc mọi người lứa tuổi tôi đều biết ở Hà Nội những năm chiến tranh, nếu cả tập thể ăn cắp ( = tham nhũng ) rồi chia chác sòng phẳng thì coi như không có lỗi. Ở nông thôn vậy mà ở đô thị, --- nơi không chỉ có con buôn phe phẩy mà còn có giai cấp công nhân tiên tiến và bộ phận cán bộ kiên trung -- cũng đều như vậy.

Tinh thần bày đàn đã làm cho mỗi chúng ta mạnh lên  và tự tin  thêm rất nhiều.

“Người làm sao ta làm vậy- người làm bậy ta làm theo” chúng tôi tự nhủ như vậy.

 Nếu tính cho chi li, ai cũng thấy sự sống “chẳng kém gì người” của một phần lớn chúng tôi  hiện nay không ít thì nhiều là do mạnh tay kiếm chác trong lúc nhộm nhoạm, tức nói đến cùng kiệt, là đi qua con đường bất chính, và vì tất cả đều chung một con đường đó để đi, nên không ai “lạy ông tôi ở bụi này” bàn chuyện công khai cho mệt.

Còn những người giàu nhất?

Như các tài liệu thống kê công khai mà thế giới làm hộ ta đã chỉ rõ, chỉ một số nhỏ người Viêt giàu có “ngang tầm thế giới” hiện nay là làm ăn hợp pháp, còn lại hầu hết đám người kiệt xuất này không chứng minh được nguồn gốc tài sản của mình.

 Bóng tối trên con đường làm giàu của họ lan tỏa vào tâm hồn họ. Họ  dẫn đầu đám đông trên con đường xoay ra ủng hộ cho sự bất lương trên tất cả các phương diện chính trị xã hội.

Cái triết lý tự do làm giàu bất chấp lương tâm lẽ đời đó hiện nay – đôi khi đã được đóng gói che đậy - xâm nhập khắp nơi, từ những điều nói công khai trên đài trên báo, cho tới văn chương thơ phú, nó cũng là cái tinh thần chính len vào câu chuyện giữa người với người ở chỗ  riêng tư.

Bây giờ không làm gì có những ông bố bà mẹ sáng sớm gọi con trở dạy chỉ dẫn bảo ban con về việc làm người. Trong lúc tỉnh táo nhất những ông bố bà mẹ ấy may lắm chỉ khuyên con có cóp bài hay tham nhũng thì hãy làm kheo khéo, ngoài ra  đừng có nổi máu tử tế mà chết.  

Chắc chẳng ai ngờ rằng như thế tức là trên phạm vi toàn xã hội cái tinh thần chính mà thế hệ đương thời truyền lại cho các thế hệ sau rút lại chính là  khả năng bách chiến bách thắng của gian dối tàn ác.

 Có lẽ vì thế câu chuyện người Đức nói ở trên chả mấy ai để ý.

 

 

 

 

 

 

 

HY VỌNG NHƯ MỘT THÓI QUEN KHÓ BỎ

Ngày 16 tháng 5 năm 2021

Xếp hàng đã được biết tới như một cách sống điển hình của dân Hà Nội những năm chiến tranh. Bắt nguồn từ sự thiếu thốn thường trực và tin chắc là không bao giờ chấm dứt, cuộc sống “xếp hàng cả ngày” rút cục tạo cho con người ta một cảm giác vô vọng và những hành động kỳ cục không sao hiểu nổi.

       Một người bạn tôi kể trong những năm ấy, nhiều lần cứ thấy có đám xếp hàng là đang đạp xe trên đường chị cũng lao vào giữa đám người ồn ào để tranh chấp lấy một chỗ mà chờ đợi.

        Chỉ một hai lần chị mua được thứ hàng ưng ý. Còn phần lớn là những cuộc xếp hàng vô ích.

         Hoặc người ta bán những thứ hàng chị không cần. Hoặc đơn giản là hàng không về.

         Nhưng bận sau thấy có đám đông người chi vẫn lăn xả vào.

         Đến lúc nào đó hình thành một thói quen, nhiều người tuổi tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả dân sống với chữ nghĩa bút mực lẫn những người lao động chân tay, chúng tôi chia sẻ với nhau một cách sống dùi gắng băm bổ, vội vã, lấy sự bươn trải làm mục đích, cốt chứng tỏ trước mọi người là mình đang nỗ lực hết mình, còn kết quả thế nào không dám nghĩ tới.

         Sau chiến tranh cả người tiếp tục nghèo khó lẫn những người “ giầu lên đùng đùng theo một cách không ai cắt nghĩa nổi”, chúng tôi vẫn bị chi phối bởi cách sống cách nghĩ nói trên, chẵng những thế còn cảm thấy nó đã ngấm vào mình chi phối mình, có muốn cũng không thể từ bỏ.

      Tôi thường nhớ tới nó cái khi theo dõi nhiều hoạt động xã hội hàng ngày, như các phong trào thi đua, các cuộc chạy theo mốt, các đám lễ hội, du lịch… và hôm nay là chuyện học sinh lao vào học hè.

       Ở đây không khỏi có lỗi của những người biến giáo dục thành hoạt động kinh doanh, lợi dụng tâm lý quá lo lắng của cha mẹ với con cái, từ đó kiếm lời.

      Nhưng để việc đó sang một bên, về phía chúng ta, tại sao chúng ta bảo nhau giơ đầu cho họ chém như vậy ?

      Tôi nghĩ đây chỉ là thêm một bằng chứng về sự khủng hoảng giáo dục đã đến hồi kịch liệt và hằn sâu vào lòng người, trở thành trạng thái tâm lý xã hội cố kết bền vững.

       Nhiều người quanh tôi hôm nay hối thúc con cái ngày đêm đèn sách trong tâm lý tuyệt vọng. Trong thâm tâm thừa biết là sau khi nhận con cái ta vào học, nhà trường hiện nay chỉ cho ra những  sản phẩm rất ít được việc cho xã hội. Thế nhưng làm sao bây giờ? Tìm đâu một chỗ học khác? Tiền đâu cho đi nước ngoài? Thôi thì chỉ đành thúc con cái học nữa học thêm, học quên chết, “để nếu cuối cùng chúng nó có kém có hỏng thì mình cũng không có gì phải ân hận “.

     Khi bị đẩy tới cùng, con người tuyệt vọng lại hóa thân thành con người của hành động, nghĩa là những kẻ hy vọng.  

       Theo chỗ tôi nhớ, khoảng cuối 2009(?) một hãng tin nước ngoài từng có một cuộc phỏng vấn ở hàng loạt nước để xét xem người dân ở nước đó có bằng lòng với cuộc sống không. Và trái với dự đoán của họ, hóa ra  ở ta dân tình nói chung vui vẻ, số người bằng lòng và tin tưởng ở cuộc sống lại cao hơn so với người dân nhiều nước thanh bình khác.

       Làm sao có thể sống không hy vọng được? Dường như đó là cái lý lẽ ngấm ngầm đứng đằng sau giải thích cho mọi nỗ lực.

        Niềm hy vọng đã thành thói quen từ lúc nào mất rồi, hy vọng ở mọi việc hàng ngày và càng những lĩnh vực có quan hệ tới tương lai, như trong việc lo cho tương lai lớp trẻ, người ta càng không thể không hy vọng.

         Nhà thơ Đức Bertold Brecht (1898—1956) có một bài thơ mang tên 1940  trong đó ông kể lại cuộc đối thoại ông với người con trai. Con ông lần lượt hỏi có nên học tóan không, nên học tiếng Pháp nữa không, cần học sử không. Trong bụng nhà thơ thừa hiểu học không là gì. Thế nhưng bản năng làm cha không cho phép ông nói hết sự vô nghĩa của đời sống với đứa con. Bất ngờ mà tự nhiên, cuối cùng  bài thơ lại chốt bằng hai câu ngược hẳn với mạch đối thoại nói trên “Thế rồi tôi nói : Ừ con—Con học tóan, học Pháp văn, học sử”.

        Một tình trạng ham sống kỳ lạ của con người hiện đại, khi được B. Brecht    ghi lại một cách trần trụi, thực đã soi sáng cái phần tối tăm lờ mờ và cả những nghịch lý trong tâm khảm nhiều người chúng ta hôm nay.          

       Sau khi kêu lên rằng cách tổ chức dạy thêm học thêm trong hè hiện nay có xu thế biến mùa hè thành cả một thảm họa với lớp trẻ, một số bậc phụ huynh đang muốn đi tìm những phương thức sinh hoạt hè mới để làm cho đời sống của cả chúng ta lẫn lớp trẻ có tính nhân văn hơn. Ghi nhận của tôi lúc này là cả hai đều có thật, cả sự tất yếu của thảm họa, lẫn tính chân chính của cái nguyện vọng muốn thay đổi, muốn vượt lên trên thảm họa.

         Khi đọc sang bài báo nói về những sáng kiến tổ chức hè của một số cơ sở, tôi vừa mỉm cười khi ngờ là nhiều sáng kiến tốt đẹp của chúng ta thui chột rất nhanh, vừa sẵn sàng nhắc lại rằng khi sáng kiến này lụi tàn thì sẽ có sáng kiến khác tiếp nối.

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀNG GIẢ NGHIÊM CHỈNH 

SẼ ĐẺ RA HÀNG GIẢ NHẢM NHÍ

Ngày 21 tháng 5 năm 2021

Trên fb của mình sáng nay bạn Kiều Mai Sơn có than phiền  về  thứ hàng giả  nhảm nhí đang xuất hiện trong ngành sử học,

nhưng tôi thấy chẳng quá đây chỉ là thứ con đẻ tự nhiên của một thứ hàng già nghiêm chỉnh hơn hẳn, đó là  những công trình  của một số  nhà nghiên cứu lớp trước kiến thức đầy mình  năm sáu chục năm nay  làm việc một cách rất kiên trì rất bài bản có kê cứu tài liệu tham khảo nọ kia

...nhưng lại minh họa cho một định hướng sai lầm về lịch sử dân tộc

 Thứ F2 làm ra hôm nay chẳng qua là con đẻ của thứ F1 rất tâm huyết nói trên.

Không có F1 Hôm Qua thì không thể có F2 Hôm Nay

 Chẳng qua thời đại suy đồi nên mới có sự  nối tiếp đó.

Cũng phải nói cho công bằng là ngay bên văn học chúng tôi cũng không thiếu những tác phẩm  gọi là tiểu thuyết lịch sử  đi vào  bịa đặt  tràn lan mà lại tự coi đó là công trình sáng tạo. Những sự bịa đặt nghiêm túc  xuất hiện trong các cuốn tiểu thuyết nhiều khi rất công phu này không thể gọi là tư tưởng được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SAO SỬ KHÔNG VIẾT 

VỀ NHỮNG THỜI 

CON NGƯỜI TRỞ NÊN TỬ TẾ?

Ngày 2 tháng 6 năm 2021

Tôi tìm đọc Lịch sử triều Mạc của Đinh Khắc Thuần ( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) vì hai lý do, một nó là luận văn tiến sĩ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước; và hai, nghe nói nó rất ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học trung học dăm chục năm trước và chỉ gần đây mới có sửa chút ít(?).

Đọc xong thì thấy cuốn sách đáng gọi là một công trình khoa học. Nó có luận điểm mới, cách khai thác tài liệu mới.

Cuốn sách cũng soi rọi cho tôi thấy thêm một khía cạnh về sự phát triển xã hội  Việt trong quá khứ.

Đây là mấy dòng Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả nhà Mạc mà cuốn Lịch sử triều Mạc trích lại “ trong nhiều năm đường xá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa to, trong nước tạm yên. ( Sách Lịch sử triều Mạc tr229).

Ai mà không ước ao được sống trong một thời thanh bình như vậy nhất là khi người ta đã quá mệt mỏi về chủ nghĩa anh hùng?

Lẽ ra phải có nhiều người đi vào nghiên cứu triều Mac và những thời tương tự .

----

Nhân đây nghĩ chung về cách làm sử ở ta hôm nay.

Chỉ nghiên cứu ông cha đánh giặc và khởi nghĩa chống phong kiến mà không nghiên cứu ông cha cày ruộng, khai phá đất đai, mở đường, xây dựng đô thị -- nói như ngày nay là làm kinh tế và ổn định xã hội.

Chỉ nghiên cứu những cuộc kháng chiến mà không nghiên cứu tình hình các xã hội hậu chiến.

Chỉ nghiên cứu phong trào chống ngoại xâm, mà không hề nghiên cứu dân ta, đồng thời với việc chống đối đến cùng các kẻ thù xâm lược đó, đã học hỏi những người từ xa đến đất  Việt làm ăn và khai hóa giúp cho con người bản xứ ngày một trưởng thành.

Chỉ thích dạy trẻ về những thời đại hào hùng mà không dạy về những thời con người ta trở nên tử tế .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRỞ LẠI VỚI CÁC DANH NHÂN LỊCH SỬ ĐỂ HIỂU CÁC VIP HIỆN THỜI

Ngày 3 tháng 6 năm 2021

Do những cấm kỵ không được viết về các danh nhân hiện đại,

giới sử học của ta cũng lảng tránh luôn

không viết về các danh nhân trong quá khứ

 Những trang sử học không có con người -

-Sử Việt Nam được lưu hành chính thức hiện nay có ba chỗ dở khiến nó không còn là sử nữa. Ba chỗ dở đó là

1/ Chỉ viết về lịch sử tồn tại của dân tộc mà không biết tới lịch sử phát triển. Quá chú trọng việc viết về chống ngoại xâm mà không viết về các cuộc đấu tranh nội bộ. Quá chú trọng quân sự mà không có sự nghiên cứu đầy đủ về kinh tế.  Chỉ viết về mặt sáng của lịch sử không viết về chỗ tối.

2/ Không có ngôn ngữ của sử học. Tức không có cảm giác về thời gian trong quá khứ

3/Không có nhân vật lịch sử

Dưới đây chỉ xin nói về điểm thứ ba.

Nhiều lần đi lại trên đường phố Sài Gòn, tôi gặp những cái tên phố rất lạ, một người  như tôi tra vấn trí nhớ mãi cũng không thể biết đó là ai.

Nhưng nghĩ kỹ, tự nhiên thấy vui, không trách mình nữa. Đó là khi nhớ ra rằng cả với nhân vật đã quen, được coi là những nhân vật lớn nhất trong lịch sử, -- và thường dùng để làm tên gọi những đại lộ, những con phố chủ yếu của các thành phố lớn nhỏ -- , chúng ta cũng chả biết gì về họ cả.

May mà những năm ngoài năm mươi tuổi, tự nhiên trong tôi nổi hứng là đi tìm lại các bộ sử  cổ nhất của nước mình. Ngoài Đại Việt sử ký toàn thư,  đọc thêm Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên, Lê Quý kỷ sự… Và đọc thêm sách một số nhà sử học nước ngoài viết về VN. Khi bắt đầu có ý niệm về các nhân vật lịch sử được viết trong những bộ sử ấy, tôi mới có điều kiện để nghĩ về các nhân vật lịch sử đương đại. Trên đường tìm hiểu thêm cái thời mà mình đang sống, tôi cảm thấy có thêm sự hào hứng và những kích thích để suy nghĩ.

II

 Sự đa dạng của thế giới danh nhân

--Nếu muốn kể ra một sử học hoàn hảo tôi vẫn muốn gọi ra sử học Trung quốc.

Các nhà sử học xứ này rất thông thạo về các danh nhân của họ. Sự ham mê viết về danh nhân kéo dài từ thời Tư Mã Thiên đến ngày nay. Tới thế kỷ XX, loại sử này càng phổ biến, một số đã được dịch ra tiếng Việt.

Trong số ví dụ dễ kiếm, tôi muốn kể  tới cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc (bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Văn Dương 2002) . Sách này phân loại nhân vật lịch sử như sau.

Chương I, dành cho các nhân vật ngoại hạng, như Khổng Tử, Lão Tử, Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông.

Cũng được coi là ngoại hạng, có Từ Quang Khải, chỉ làm quan tới Thượng thư bộ Lễ, song lại chuyên về nghiên cứu khoa học. Ở một nước có tinh thần dân tộc rất cao, đóng góp chính của ông lại là thúc đẩy sự hấp thu nền văn hóa phương Tây.

Chương II, các vị đế vương các lãnh tụ vĩ đại, trong đó xếp cả Lưu Bang, Hán Cao Tổ, Võ Tắc Thiên, sau đó là Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch.

Chương III, các nhà tư tưởng v.v…

Chương IV , các nhà văn nhà thơ.

Đọc qua cả sách, tôi nhận ra một điểm. Dù phân chia thế nào thì có một nguyên tắc chung chi phối bộ mặt các danh nhân – tôi tin là không chỉ đúng Trung quốc với danh nhân Trung quốc mà còn đúng với danh nhân VN. Họ là những nhân cách đa dạng phức tạp nhiều chiều cạnh; ở họ mặt tối lẫn với mặt sáng, cái độ người ở họ được cô kết hơn hẳn đám chúng sinh mặt trắng chúng ta .

Hãy viết cả về các bạo chúa , nhưng là viết với quan niệm hiện đại--Tiếp tục câu chuyện về cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc.

So với các sách khác, sách này có thêm có phần phụ lục về 10 đại hôn quân bạo chúa và bề tôi gian nịnh, bao gồm vua Trụ, Tùy Dạng Đế, Từ Hy thái hậu, Tần Cối, Đổng Trác và Viên Thế Khải…

Cùng cách làm vậy, trong ngăn lịch sử đương đại ở các hiệu sách Trung quốc, người ta đã bầy những cuốn viết về mấy người tạm gọi là bạo chúa đương đại  như Khang Sinh truyện, Giang Thanh truyện…

Tôi thấy có lẽ phải đi sâu thế mới gọi là làm sử.

Bởi viết lịch sử không chỉ có nghĩa là tìm ra những tấm gương để người đời noi theo. Lịch sử còn hấp dẫn và cần thiết cho người ta qua việc miêu tả những nhân vật đã có ảnh hưởng tới sự vận động của xã hội dân tộc thời đại cả theo chiều thuận lẫn theo chiều nghịch.

Tôi ước ao có người nào đó khi viết quá khứ nước Việt sẽ đi vào cuộc đời cả những bạo chúa và bề tôi gian nịnh. Qua các nhân vật này tôi sẽ hiểu thêm về những mặt tối những khía cạnh tiêu cực, những phần gọi là ma quỷ trong tính cách người Việt.

Một anh bạn trẻ hàng xóm vừa tặng tôi cuốn Tào Tháo-Thánh nhân đê tiện của Vương Hiểu Lỗi Trung quốc, công ty alphabooks xuất bản. Nhìn qua bìa 4, thấy trích một câu của Mao Trạch Đông “Tôi thích thơ của Tào Tháo, khí phách hùng vĩ, khẳng khái mà cô tịch, là nam tử hán đại trượng phu, văn chương xuất chúng” đã thấy lạ. Lật lại bìa 1, đọc đầu đề cuốn sách càng nghĩ càng sốc. Đã thánh nhân sao lại còn đê tiện đươc? Rồi nhớ lại cuốn  Hậu hắc học của Lý Tôn Ngô, trong đó khái quát gần như không có ngoại lệ rằng danh nhân Trung quốc đều hoặc là mặt dày hoặc là tim đen. Chẳng nhẽ các danh nhân Việt Nam thuộc một loại siêu phàm khác? Hay các nhà sử học Việt Nam lâu nay chỉ cho chúng ta biết những hình nộm? Và quan niệm về con người ở xã hội Việt Nam tới hôm nay nhìn chung là quá cổ lỗ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG TÙ NHÂN CỦA LỢI ÍCH TRƯỚC MẮT

Ngày 7 tháng 6 năm 2021

Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ.

 Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết (?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.

Không biết cách giải thích này có đúng không, nhưng nghe không phải không có lý.

Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính, trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ Nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi Nôm được. Một nhà nghiên cưua người Nhật đã bảo nó là một thứ bánh vẽ.

Tại sao có tình trạng đó?

 Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế.

 Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế!

Cái gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia.

Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực.

Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.

Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.

Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục.

Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm - tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò - so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại sẽ không dùng được.

Tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi.

Nhưng thay đổi thế nào bây giờ?

Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp?

Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện?

Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của, ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước.

Vâng, không thiếu gì cả.

Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?

Và trước tiên, điều vướng mắc nhất, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục - các thầy các cô hiện nay - sẽ đi đâu, làm gì?

Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?

Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm!

Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.

Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!

KHÔNG AI  TỰ NGUYỆN CHẶT CHÂN MÌNH.

Không ai muốn ném mình vào một tương lai vô định.

Nói cụ thể hơn,đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.

Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!

Như mấy ngày đầu tháng Sáu mấy năm trước, khi kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn,.

Một phóng viên hỏi có phải năm nay bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình suôn sẻ thế, rồi một quan chức của bộ trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả.

Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được.

Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy.

Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì?

Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không ra sao à?

Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột.

Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt.

Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để có thành tích xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém.

Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học và bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc…

Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều bắt tương lai hy sinh cho hiện tại.

THỬ TÌM CÁCH LÝ GIẢI TÌNH TRẠNG TRÊN

Tại sao người Việt hôm nay trở nên bảo thủ và thiển cận như vậy?

Ngoài những nguyên nhân lịch sử lâu dài, cái chính là chúng ta vừa trải qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp.

Chiến tranh  bao giờ cũng đặt người ta vào cái đêm tối mịt mùng chỉ biết an phận chỉ biết mong chờ may rủi.

Huống chi cuộc chiến tranh 30 năm đã làm cho cả xã hội lẫn từng cá nhân cạn kiệt hết sức lực. Không ai đủ sức nghĩ về những cái cao xa trừu tượng, không ai  có đủ lòng tin để mà chăm lo cái cuộc sống như lý tưởng mà ông cha bao đời và nhân loại phổ biến bao giờ cũng nghĩ. Người ta chỉ còn lo kiếm chác hưởng thụ. Người ta trở nên tầm thường hơn hẳn các thế hệ sống trong thời bình.Trình độ làm người của cả xã hội bị hạ thấp. Qua văn học, tôi có được biết một ít về tình trạng người Việt trước chiến tranh và tôi luôn luôn cảm thấy là so với họ thì các thế hệ người Việt sau chiếntranh kém đi về mọi mặt. Chỉ tiếc là để chứng minh được điều này, tôi không đủ sức.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NÓI THÊM VỀ "TỰ DO TRƯỚC CÁC NHU CẦU VẬT CHẤT"

Ngày 9 tháng 6 năm 2021

Trong bài  hôm qua, tôi đã nói dân mình hiện nay quá ham hưởng thụ, đang lấy hưởng thụ làm lẽ sống  nên các ý tưởng của Roosevelt thật có giá trị gợi ý.

 Ngồi nghĩ thêm một chút thấy trong đờì sống hậu chiến, cái sự ham muốn quá đáng ấy cứ được thổi mãi lên, chẳng qua là vì mấy lý do:

 Từ trước đến nay ta sống khổ quá. Trong các lý thuyết hướng dẫn cách sống của con người, sự hưởng thụ  nhiều khi bị coi là cái tội.

 Trải qua một thời gian dài bảo nhau làm ăn phấn đấu, vậy mà cứ mãi không sướng được.

 Đến mức trong ta mất hết tự tin.

 Khi tự nhủ thầm “sẽ chẳng bao giờ ta  được sướng đâu” cũng là lúc con người tự thả phanh cho mình truy tìm sự hưởng thụ trước mắt và càng làm càng say, càng  hưởng thụ càng thấy hóa ra đời sướng thế này mà không biết, chỉ cần CHỊU HƯ  một chút là ta sẽ có.

   Những ý nghĩ loại này thoạt tiên chỉ phảng phất nhen nhúm, sau cứ mỗi ngày mỗi bắt rễ trong đầu. Đến khi nhận ra rằng nhiều  bậc đạo cao đức trọng trong xã hội hóa ra cả đời phấn đấu cũng chỉ cốt để hưởng thụ  như các bậc vua chúa ngày xưa, người ta chỉ còn có cách tự oán trách rằng mình khôn muộn thế.

    Tức nay là lúc đời sống tinh thần chúng ta khá trống rỗng, ta chỉ lo  tìm lối thoát khỏi bế tắc, mọi chuyện lý tưởng hay nói xưa kia nay tạm kính nhi viễn chi cái đã.

   Một quá trình mình tự dối mình lan tỏa dần dần, và tồn tại như một phương thức tự vệ. "Này hãy tỉnh lại chớ có mê muội như ngày hôm qua mà chỉ có chết" -- nhiều lúc con người khôn ngoan của ta ân cần nhắc ta như vậy.

     Câu chuyện của  Roosevelt, mà Obama dẫn lại trong bài nói ở Rangoon 2012 còn một ý nữa đáng lưu ý. Sau khi nói rằng có bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do thờ phụng, (tự do) thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, và (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi R Roosevelt nói thêm  "Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng."

     Đối với người Việt mình hôm nay, đây quả là một điều mới lạ mà phải nghĩ thêm ta mới hiểu, còn hiện nay xin cứ tạm công nhận  cái đã.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỰ LẠC HẬU CỦA GIÁO DỤC 

QUA SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT LỚP 1

Ngày 10 tháng 6 năm 2021

Trong lần phát biểu tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Chu Trinh đầu 2016, một giáo sư người Pháp ông  Pierre Darriulat đã lên tiếng than phiền là nhiều sinh viên Việt Nam phải học các kiến thức rất lạc hậu, mà sinh viên các nước bỏ qua, phải học như thế thì còn đâu thời gian học những cái mới khai phá nữa.

Tôi bắt gặp sự lạc hậu ngay trong các loại sách giáo khoa lớp 1. Ví dụ trong phần Toán, trẻ hiện nay vẫn làm rất nhiều bài tập, trong khi máy tính với các em không còn xa lạ nữa, và ra làm công chức các em không phải mất thời giờ cộng trừ nhiều như các thế hệ đi trước.

Nhưng tôi đặc biệt chú ý đến phần nội dung sách tiếng Việt.

Trước mắt tôi là bài thơ "Ngôi nhà", của tác giả Tô Hà in trong phần chủ điểm Gia đình của sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1, bản của NXB Giáo dục Việt Nam 2014.

NGÔI NHÀ

Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

Em yêu tiếng chim

Đầu hồi lảnh lót

Mái vàng thơm phức

Rạ đầy sân phơi

Em yêu ngôi nhà

Gỗ, tre mộc mạc

Như yêu đất nước

Bốn mùa chim ca

Cảm tưởng chính của tôi là nội dung nêu lên có nhiều phần khó tưởng tượng so với học sinh hiện nay, nhất là học sinh ở các đô thị.

Làng xóm Việt Nam hiện nay đến 80 - 90% đã được bê tông hóa, phải làm gì còn có “hàng xoan trước ngõ”, với tiếng chim lảnh lót đầu hồi. Và hình ảnh đất nước bốn  mùa chim ca tượng trưng cho Việt Nam trong quá khứ hơn hiện tại.

Trong một bài viết khác, người ta dạy trẻ yêu mến bà mẹ vì bà đã làm ăn vất vả đến khuya còn thắp đèn ra sân để sàng sẩy gạo. Nếu là giáo viên tôi chắc phải dành thời gian giảng cho các em cách làm gạo ngày xưa, mà tìm đâu ra tài liệu tham khảo ấy bây giờ.

 Chẳng những không cần học hoặc chỉ học rất ít những kiến thức sáo  mòn về cuộc sống trong quá khứ, tôi lại thấy trẻ hiện nay rất cần những kiến thức cụ thể, viết về cuộc sống  đang thay đổi so với bốn mươi năm mươi năm trước. Loại kiến thức này bao gồm  từ cách làm quen với  con người khung cảnh tới việc phải sử dụng các tiện nghi như thế nào và nói chung phải sống như thế nào trong  các thành phố hiện đại.

Có lần tôi đi mua cho đứa cháu nội quyển sách dạy về các hoạt động của trè ngoài trời cuốn “Sách cho con trai”. Sách toàn những kiến thức xa lạ với học sinh hiện nay. Nhưng tôi tìm thấy một trang, ở đó người ta dạy trẻ con những điều không nên làm khi ngồi trên ô tô đại khái như  không được thúc chân vào ghế người ngồi trước, không được nói chuyện to làm phiền người lái, không được luôn mồm hỏi còn bao nhiêu phút tới. Những kiến thức thiết thực vậy nên được đưa đưa vào  dạy dỗ các trẻ, kể cả trẻ nông thôn. Vì sao ư, vì cả những học sinh ở vùng nông thôn xa thành phố, cái ô tô không còn xa lạ nữa; các em  làm gì chả có trường hợp theo trường theo lớp đi tham quan các đô thị dạy các em sao gọi là thừa.  

Trong một tài liệu dạy chữ Hán ở bậc trung học của nền giáo dục Sài Gòn trước 1975, tác giả Trần Trọng San có lấy lại nhiều bài trong sách Tân quốc văn mà người Trung Quốc trước 1949 soạn cho bậc tiểu học của họ. Có một bài khiến tôi nhớ là bài dạy về cách trẻ con quan hệ với người nước ngoài thế nào, tại sao phải làm vậy. Tôi nghĩ đây cũng là điều rất cấp bách trong hoàn cảnh của xã hội được mở cửa như hiện nay. Chưa bao giờ những người nước ngoài có mặt trong đời sống người Việt thường xuyên như hiện nay. Quan hệ với những người nước ngoài như thế nào đó là điều chúng ta phải dạy cho trẻ. Mà không chừng điều đó còn cần cho cha mẹ các em nữa, khi xem con học, cha mẹ cũng học luôn thể  

Trong giới giáo dục hiện thời nhiều người  nhắc đến tập Quốc văn giáo khoa thư mà các ông Trần Trọng Kim và Đỗ Thận soạn cho bậc tiểu học. Tuy nhiên, chắc các nhà soạn sách giáo khoa thời nay chưa nghiên cứu những cuốn sách đó thật đầy đủ. Tôi chỉ lưu ý là trong các bộ sách đó, những người viết không chỉ nêu các tấm gương mà trẻ phải theo mà còn nêu những thói xấu mà trẻ phải tránh. Đây là cả một hướng viêt các bài tập đọc ngắn trong sách lớp một lớp hai mà ta nên học, nó là nhu cầu đối với cả học sinh lẫn thầy giáo và cha mẹ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT GIAI ĐOẠN MỚI 

TRONG NHẬN THỨC VỀ LỊCH SỬ

VỪA ĐƯỢC BẮT ĐẦU

Ngày 13 tháng 6 năm 2021

1/

Trong sự lạc hậu của xã hội ta nói chung, có sự lạc hậu rõ rệt về quan niệm lịch sử. Lịch sử được nói tới không phải là ít. Sách sử ở dạng phổ cập quần chúng - nhất là sách  viết cho thiếu nhi - in ra vô tội vạ. Nhưng càng thấy sách sử được phổ biến, thì càng sốt ruột vì cái quan niệm chi phối ở đấy vẫn là một quan niệm cổ lỗ và chúng ta ngày càng xa lạ với một nền sử học hiện đại, một nền sử học cần thiết cho sự phát triển trước mắt.

Nhưng đến gần một tháng qua, khi chứng kiến sự nở rộ trên FB các loại bài viết về lịch sử thì tôi thấy mừng quá.

Chưa bao giờ lối viết sử tầm thường và dung tục lại được bộc lộ rõ rệt như khi những người có trách nhiệm chính thức bàn về cách đưa các sử liệu có liên quan đến sự kiện ngày 17 tháng 2 năm 1979 tới đại chúng. Trong khi không tìm cách tìm hiểu lịch sử một cách tường tận thì người ta đã vội lo tới việc áp đặt một cách nhìn về sự kiện lịch sử đó cho lớp trẻ.

Có lần ( hình như trong dịp kỉ niệm 100 năm sinh Nguyễn Văn Vĩnh ), nhà sử học Dương Trung Quốc đã có một khái quát đại ý nói rằng chúng ta chỉ thích viết sử như chúng ta muốn chứ không phải lịch sử như nó vốn có.

Lâu nay toàn bộ lịch sử cuộc chiến tranh 1945-1975 được viết theo tinh thần đó.

Trong khi cãi lại ý kiến của một nhà nghiên cứu sử chính thống, nhiều bạn đọc lâu nay đã quan tâm tới sử, bằng nhiều cách thức và con đường khác nhau, đã đưa lại rất nhiều tài liệu bổ ích về cuộc chiến tranh 40 năm trước đó.

Có bạn trở lại với những trang báo ở các thư viện.

 Có bạn đưa ra các tài liệu lưu trữ ở nước ngoài, bao gồm từ tài liệu của phương Tây, cho đến tài liệu của  Trung Quốc Nga.

Rất nhiều bạn giới thiệu  cách nhìn chiến tranh của các cá nhân đã có các vị trí khác nhau trong chiến tranh.

Cái giả tạo của lịch sử Việt Nam đương đại bắt đầu ngay ở chỗ là ngay các hồi kí của các nhân vật trong cuộc cũng được bóp méo, cũng bị tùy tiện thay đổi theo sự định hướng của cấp trên. Nay thì các bạn Facebooker sục tìm vào rất nhiều hồi kí của các cá nhân ở nhiều góc độ khác nhau mà không cần một sự cho phép nào từ cấp trên.

2/

Lâu nay các tài liệu liên quan đến cuộc chiến tranh ba mươi năm gần như hoàn toàn  bị đóng băng trong các kho lưu trữ. Xã hội chỉ được cung cấp những bản lược đồ hết sức sơ sài và gỉa tạo.  mải làm ăn kiếm sống,

3/

Bộ Điện thì thắp đèn dầu

Bộ than xin củi ai sầu hơn ai.

Nhân nhắc về tình hình cuộc chiến 79, một số Facebooker còn mở rộng ra nhắc lại tình hình hết sức đen tối của 10 năm hậu chiến 75-85, mà câu ca dao nói trên là một ví dụ.

Chúng ta biết rằng giai đoạn 10 năm 75-85 đó thường bị bỏ trống và không được nghiên cứu trong các tài liệu sử học. Ít nhất chúng ta cũng thấy đấy là 10 năm mà cả xã hội mất phương hướng và phạm nhiều sai lầm không thể tha thứ được trong việc tổ chức xã hội và xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.

Tôi ngờ rằng rồi đây có ai đó làm công việc nghiên cứu giai đoạn này một cách khoa học thì sẽ rất biết ơn các nhà làm sử nghiệp dư đã nhân cơ hội kỉ niệm sự kiện 17 tháng 2 năm 1979, mà mở ra một phương hướng cho một nền sử học tương lai.


 

TÔI TỪNG  CŨNG MUỐN HỌC CHƠI

Ngày 20 tháng 6 năm 2021

Đi tìm một ít niềm vui

 giữa đời sống buồn tẻ

***

Trong tiếng Việt, chữ chơi thường mang một ý nghĩa không được hay lắm.

 Người ta lấy chơi để đối lập với sự chăm chỉ (làm chơi ăn thật), sự đứng đắn (nói chơi) và cho rằng hoạt động của con người ở đây chẳng có nguyên tắc, thậm chí cũng chẳng cần đến sự cố gắng nào cả (dễ như chơi).

Hình như chỉ có một lần, người xưa nói rằng chơi là cả một nỗ lực có định hướng - nghề chơi cũng lắm công phu - Nguyễn Du.

Trong khi ấy, thì trong cách hiểu của BỘ PHẬN NHÂN LOẠI ĐÃ TRƯỞNG THÀNH Ở CẢ PHƯƠNG ĐÔNG LẪN PHƯƠNG TÂY, chơi thường được xem như một công việc nghiêm túc.

Trẻ con chơi là một cách để học sống, học suy nghĩ.

Ở những người thành đạt, "chất trẻ con" hôm qua mãi mãi vẫn còn trong họ ngay cả khi họ đã trở thành người lớn.

Trong việc nhìn đời, trong việc ứng xử, họ luôn luôn tìm cách khẳng định tự do của mình, sự có mặt của mình, và muốn thoát ra khỏi mọi lề thói quen thuộc.

Vậy chơi là một phương diện của đời sống

Trong văn hóa phương Tây đã có cả một lý thuyết, mang tên lý thuyết trò chơi ra đời, trong đó quan niệm chơi là tìm ra những quyết định mới trong môi trường của những điều kiện đã quy định; trò chơi ở đây không đối lập với sự nghiêm túc, mà chỉ đối lập với những đầu óc đơn giản, khô cứng.

Một điều chắc chắn nữa: các cuộc chơi thường không tẻ nhạt, mà bao giờ cũng hứa hẹn một sự thú vị, khiến cho người trong cuộc tìm thấy ở đây một sự thúc đẩy lớn nhiều khi giúp họ vượt hẳn lên so với sức lực vốn có.

CHƠI  VỚI VIÊN MAI VÀ THÁNH THÁN

Có lẽ vì chơi có nhiều ý nghĩa đến vậy, nên chẳng những ở phương Tây mà ngay ở phương Đông, không phải chỉ con người hiện đại, mà cả con người thời xưa cũng không xa lạ với nó.

Trong “Tuỳ viên thi thoại” Viên Mai (1716-1797)  thi nhân đời Thanh Trung quốc từng viết: "hễ làm người thì quý thẳng mà làm thơ văn thì quý cong" là với ý này.

Kim Thánh Thán  (1608/1610 – 1661) cũng người đời Thanh còn nói rõ hơn: Trước khi rao to lên rằng bình luận “Mái Tây” chỉ vì "muốn làm duyên với người đời sau", ông cũng để một đoạn trong lời tựa nói về sự hấp dẫn của trò chơi.

Ông bảo, sở dĩ cho in vở “Mái Tây” chẳng qua là để đỡ buồn, "trong lúc không có cách gì chơi", đành thử "tuỳ ý tự tìm cách chơi thế mà thôi"

Ông hoàn toàn có ý thức về những phóng túng trong hành động can thiệp quá sâu vào tác phẩm.

"Không phải tôi soạn ra, tôi ngâm chơi.

Không phải tôi ngâm lên, tôi nghe chơi.

Không phải tôi nghe xong, tôi khoa chân nhảy chơi, giang tay múa chơi".

Khi cái việc gọi bằng trò chơi ở đây bao gồm cả sự đau đớn, cả nước mắt ("Nào có phải tôi tha thiết khóc người xưa, đó lại là một cách chơi của tôi"), liệu ai còn dám nói Thánh Thán đã dễ dãi trong hành động của mình?

Không, ông đã đặt vào đây tất cả tâm huyết làm người, cũng như tài năng và bản lĩnh của một nghệ sĩ lớn!

CHƠI TRONG NGHỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TÔI

Về phần mình, không phải ngay từ đầu tôi đã có biết tới các lý thuyết và những lời ca ngợi có liên quan đến trò chơi nói trên, quả thực trong tôi lúc ấy chỉ có một nhu cầu tha thiết là cố làm cho những trang viết của mình thoát khỏi sự tẻ nhạt.

Và rồi những tìm tòi nho nhỏ cứ đến một cách tự phát.

Chẳng hạn một lần, tôi chợt nghĩ ra một cách viết vui vui là tiến hành những cuộc phỏng vấn tưởng tượng đối với Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Đà, Xuân Diệu, Nam Cao v.v… để qua bài viết, hình ảnh họ có dịp hiện lên một cách sinh động; sau mới nghĩ rằng đó chẳng qua cũng là một trò ngẫu hứng, tuỳ sức mà có thể tiến hành trong một phạm vi thích hợp.

 Từ những thể nghiệm về viết đối thoại, tôi nhận ra một điều: các bài viết phê bình thường có một giọng đều đều từ đầu đến cuối, nhất là nhiều khi lại là giọng giáo huấn, nên dễ tẻ.

Đồng thời với việc cố tránh để không ra vẻ dạy đời (điều này nằm trong quan niệm sẵn có ở con người mình, chứ không phải giả vờ mà được), tôi cũng thích thú tìm cách tạo ra trong bài phê bình những giọng khác nhau, có khi vừa trình bày điều đã nghĩ, vừa thử đứng tách ra bác lại những suy nghĩ ấy.

Về mặt hình thức, tôi ao ước các bài viết và nhất là các quyển sách trở nên một thứ nhạc nhiều bè, có đoạn dùng con số thống kê, có đoạn lý luận chặt chẽ, có đoạn tự cho phép mình lui tới một chút, để ngả sang giọng trữ tình (chắc chắn là phải rất hạn chế, vì dễ trở thành bi luỵ theo kiểu cải lương!)

Tôi thành thực tin rằng, nếu trong muôn một, người viết phê bình trong công trình của mình lại tạo ra được một cảm giác hội hè, thì đó là cả một điều thú vị, không những cho bạn đọc, mà còn cho chính tác giả nữa.

Trên nguyên tắc, khi nói rằng phê bình nên thuộc về văn học trước khi thuộc về khoa học, chúng ta đã giả định một sự thông thoáng, nhẹ nhõm dễ hấp thụ của các bài viết.

Huống chi là với bạn đọc nước ta, mà trong thưởng thức thường ngại những sự tư biện và cố ý tránh xa các lối nói nặng nề, thì mọi cố gắng làm cho bài phê bình hoạt hơn vui hơn bao giờ cũng nên khuyến khích.

Chẳng những tìm cách viết từng bài cho hay mà trong cách tồn tại trong nghề nói chung, người ta cũng nên tìm cách thoát ra khỏi những lối mòn, và ở đây, ý thức về trò chơi cũng có thể đóng vai trò hướng dẫn.

Mặc dù còn đang non yếu song công tác phê bình ở ta, nhiều lúc đã có tình trạng cát cứ, ai nghiên cứu tìm hiểu khu vực nào thì, nhân danh chuyên sâu, tìm cách biến lĩnh vực mình quản lý thành một thứ độc quyền.

 Không phải là tôi phản đối chuyên sâu, song có một việc tôi rất thích và nếu ai đó có làm cũng ngấm ngầm ủng hộ, ấy là chen ngang vào đề tài của người khác, đưa vào đó những ý kiến mới, cách nhìn mới.

 Nếu đã chuẩn bị cẩn thận, tôi dám làm thế mà nghĩ là nên làm thế, bởi trong sáng tạo, những yếu tố lạ nhiều khi lại có vai trò kích thích rất đáng kể.

Hoặc trong phê bình, nhiều người thường chọn tác phẩm hay, hoặc tác giả sắc sảo để viết.

 Tôi chưa thể nghiệm bao giờ – VÌ CẢM THẤY MÌNH CHƯA ĐỦ TÀI - song dự đoán thực ra việc viết về những quyển sách dở những đời văn nhợt nhạt cũng rất thú vị, miễn là ở đó, bằng kinh nghiệm riêng, mình chỉ ra được cả những biểu hiện phong phú, lẫn sức bền, sức bám trụ kỳ lạ của cái nhạt trong một người viết bình thường.

 Đã gọi là trò chơi, thì những sáng kiến lặt vặt thường khi rất cần, cốt sao ta biết mang lại cho chúng một chút ý nghĩa cần thiết.

Và hiệu quả của trò chơi thì lại phụ thuộc phần lớn vào nội lực của người trong cuộc.

 

NGƯỜI VIỆT THIẾU SÂU SẮC

Ngày 24 tháng 6 năm 2021

(Nguyễn Hưng Quốc)

Liên quan đến nhan đề bài viết này, có hai điều tôi xin được nói ngay: một, đó không phải là phát hiện của tôi; hai, bất kể ai là người đầu tiên phát hiện, nhận định ấy cũng đã trở thành một ý kiến khá phổ biến. Phổ biến đến bình thường, thậm chí, tầm thường, có lẽ chẳng còn làm cho người nào ngạc nhiên hay khó chịu nữa cả. Hầu như ai trong chúng ta cũng biết vậy. Và chấp nhận vậy.

Người đề cập đến vấn đề này gần đây nhất là Vương Trí Nhàn. Trong bài “Cái mà chúng ta thiếu nhất là sự sâu sắc” vào đầu năm nay, Vương Trí Nhàn nhận định là hầu hết các cuộc tranh luận tại Việt Nam đều khá nhếch nhác và hời hợt. Nhếch nhác vì thiếu văn hoá tranh luận, vì xuất phát từ động cơ cá nhân, vì nhắm đến việc hạ nhục người khác hơn là cố làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng theo Vương Trí Nhàn, điều đáng nói nhất là sự hời hợt: “người viết thường không đặt được vấn đề đúng với tầm vóc nó có thể có, lại càng không tìm được cách lý giải có sức thuyết phục”.

Vương Trí Nhàn cũng thừa nhận cái bệnh hời hợt ấy đã có từ lâu. Ông dẫn lời của Thạch Lam, trong cuốn Theo dòng, từ đầu thập niên 1940: “… ở nước ta, bất cứ phong trào gì đều có một tính chung là nông nổi, chỉ hời hợt bề ngoài. Cái mà chúng ta thiếu nhất là sự sâu sắc. Bởi ta không chịu phân tích và suy xét kỹ nên bất cứ vấn đề gì chúng ta cũng không biết được rõ ràng và chu đáo, biết một cách thấu suốt.”

Rồi Vương Trí Nhàn kết luận: “Ở lĩnh vực nào không biết, chứ riêng đối với những cuộc tranh luận hôm nay thì nhận xét đó giống như một sự tiên tri, không ai cãi lại nổi.”

Thú thực, tôi cũng không cãi lại nổi.

Tuy nhiên, tôi muốn đặt vấn đề: Tại sao người Việt chúng ta lại thiếu sâu sắc trầm trọng và triền miên như vậy?

Trước hết, thế nào là “sâu sắc” trong tranh luận hay nhận định? Theo tôi, một ý kiến sâu sắc phải bao gồm ít nhất hai đặc điểm chính: một, có tính phân tích cao và hai, có độ khái quát hoá lớn.

Một ý kiến có tính phân tích cũng giống như một hiện trường khảo cổ, ở đó, đất đai được đào xới hết lớp này đến lớp khác; mỗi địa tầng tiết lộ một hiểu biết mới. Nhìn cây mà chỉ thấy cây thì không phải là phân tích. Nhìn cây mà thấy cả đám rễ chằng chịt phía dưới mới là phân tích; thấy được cả cấu tạo của thổ nhưỡng đối với rễ cây ấy mới là phân tích sâu; thấy được cả ảnh hưởng của khí hậu đối với thổ nhưỡng, và ảnh hưởng của các yếu tố khác đối với khí hậu, sự phân tích lại càng sâu sắc hơn nữa. Nói cách khác, phân tích là nỗ lực phát hiện các quan hệ. Quan hệ càng xa và càng vượt ra ngoài những kiến thức thông thường và càng vượt ra ngoài những gì mọi người có thể quan sát bằng mắt, tính phân tích càng sâu.

Nhìn cây mà chỉ thấy cây, không phải là khái quát. Nhìn cây mà thấy hoặc gợi cho người khác thấy cả rừng mới là khái quát. Tính khái quát hoá giúp người ta vượt ra ngoài những hiện hữu cụ thể, gắn liền với trực quan.

Khả năng phân tích là điều có thể được đào luyện. Một trong những mục đích chính của nền giáo dục hiện đại là nhằm rèn luyện khả năng phân tích, từ việc phân tích một từ, một câu nói, một tác phẩm đến một hiện tượng xã hội, chính trị hay văn hoá. Việc người Việt Nam thiếu khả năng phân tích, do đó, chủ yếu, gắn liền với giáo dục. Ở đây có hai vấn đề: Thứ nhất, truyền thống giáo dục Việt Nam ngày xưa, kéo dài cả hàng ngàn năm, không hề đề cao sự phân tích. Cứ mở miệng ra nói “Tử viết” (thầy Khổng nói rằng...; thầy Mạnh nói rằng...; Lão tử nói rằng...), v.v.. là vấn đề coi như đã giải quyết xong. Hết chuyện. Sau này, mang tiếng là đã ít nhiều hiện đại hoá, nhưng nền giáo dục Việt Nam vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng của quyền lực, của sự mê tín và cuồng tín, không nhằm phát huy năng lực phân tích của học sinh và sinh viên.

Dù vậy, vì gắn liền với giáo dục, việc thiếu khả năng phân tích không phải là một khuyết điểm đáng để tuyệt vọng. Chỉ cần, một lúc nào đó, thay đổi được giáo dục, khả năng phân tích sẽ được đào luyện và phát triển. Vấn đề là thời gian.

Đáng quan tâm hơn là khả năng khái quát hoá. Một phần, năng lực khái quát gần với năng khiếu hơn là giáo dục: nhiều người, ngay từ thời cổ đại, đã chứng tỏ một năng lực khái quát hoá phi thường, nhờ đó, xây dựng được những hệ thống triết học lớn, có sức bao trùm hầu như toàn bộ các vấn đề mà nhân loại phải đối diện, do đó, ảnh hưởng kéo dài cả hàng ngàn năm. Phần khác, tính khái quát hoá dường như còn gắn liền với ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng.

Điều này đã được nhà văn Võ Phiến phân tích một cách sâu sắc trong bài “Đố ky cái trừu tượng” viết nhân ngày tưởng niệm Phạm Quỳnh vào năm 1999 (sau, in lại trong cuốn Tuyển Tập do Người Việt xuất bản tại California, 2006, tr. 343-351). Theo Võ Phiến, ngay từ những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đã nhận ra khuyết điểm của tiếng Việt: nó giàu về phần “hình nhi hạ” mà nghèo về phần “hình như thượng”; nó có tính cách cụ thể hơn là trừu tượng; nó hợp với loại văn nghệ thuật hơn loại văn luận thuyết.

Võ Phiến cũng nhấn mạnh: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, thật ra, không phải là người đầu tiên phát hiện ra những điều ấy. Ông trích một nhận xét của giáo sĩ F.X. Marette trong tập “Biên niên truyền giáo” (Annales de la propagation de la foi) xuất bản tại Paris năm 1833: “Việt ngữ phong phú về tiếng để diễn tả những cái thông thường và có thể cảm nhận được, nhưng nghèo về loại tiếng dùng vào các kỹ thuật cơ khí và các ngành mỹ thuật; Việt ngữ tuyệt đối không có tiếng để diễn tả các ý tưởng trừu tượng.” (tr. 345).

Ý thức được khuyết điểm ấy, Phạm Quỳnh phát động phong trào “đào luyện” và “bồi bổ” quốc văn bằng cách sáng chế và/hoặc du nhập thật nhiều các từ trừu tượng để hy vọng, đến một lúc nào đó, tiếng Việt phong phú và đa dạng đủ để diễn tả không những hết các cung bậc cảm xúc mà còn hết các vấn đề triết lý sâu xa.

Gần một thế kỷ trôi qua, những nỗ lực ấy có đâm hoa kết quả gì chưa? Võ Phiến bi quan: Hình như chưa! Độ trừu tượng của tiếng Việt vẫn chưa cao, khả năng biện luận của người Việt vẫn chưa giỏi; cái gọi là một nền quốc học Việt Nam với những tư tưởng riêng vẫn là một ước mơ thấp thoáng (tr. 348).

Võ Phiến dường như hơi hơi tuyệt vọng. Ông cho những khuyết điểm ấy gần như gắn liền với “bẩm chất” của người Việt. Nói một cách nôm na: “Trời sinh ra dân ta vốn không thoải mái đối với những gì là tư tưởng, là lý luận, những gì trừu tượng” (tr. 347). Tự nhiên nhớ lời than thở quen thuộc lâu nay, nghe nói xuất phát đầu tiên từ Hoàng Ngọc Hiến: “Cái nước mình nó thế!”

Tôi đồng ý với những sự phân tích của Võ Phiến nhưng tôi không tuyệt vọng như ông.

Theo tôi, một thế kỷ chưa phải là nhiều để bù đắp những khuyết điểm vốn đã kéo dài từ hàng ngàn năm trước. Nhất là trong thế kỷ vừa qua, không phải lúc nào chúng ta cũng thanh thản và tập trung theo đuổi con đường “bồi bổ quốc văn” mà Phạm Quỳnh khởi xướng. Gần một phần ba thời gian ấy, chúng ta chạy bổ vào con đường “đại chúng hoá” với những lời ăn tiếng nói nôm na, dân dã và hết sức cụ thể. Tính trừu tượng và cùng với nó, độ khái quát hoá của ngôn ngữ, vốn đã yếu, do đó, lại càng què quặt hơn nữa.

Một công việc như Phạm Quỳnh từng hô hào vào đầu thế kỷ 20 không chừng vẫn là một nhiệm vụ khẩn thiết của chúng ta hôm nay. Để thoát khỏi số phận “thiếu sâu sắc” triền miên của dân tộc.

Có phải vậy không?

NGUYỄN HƯNG QUỐC

(2011)

 

 

 

 

 

NHỮNG MẤT MÁT ĐÃ ĐẾN 

VỚI TIẾNG VIỆT HÔM NAY

Ngày 25 tháng 6 năm 2021

Nhiều lần tôi muốn viết những thay đổi đã đến với tiếng nước mình mà  không làm nổi.

Tự nhiên nhớ lại đây đó đã có người viết, nếu là các bạn đang sống ở hải ngoại thì dễ có một khoảng cách mà B. Brecht gọi là lạ hóa nên càng có điều kiện hơn. Chẳng hạn với một nữ tác giả là Trần Mộng Tú. Talawas 20-7-09 có in lại một bài của bà này mang tên "Tôi là ai", trong đó có đoạn

Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc, tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộn nửa Hán nửa ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”, nói theo cách dùng chữ khá phổ biến bây giờ ở Việt Nam. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, đã thế họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

*****

   Nghĩ về sự biến đổi của tiếng Việt theo hướng này biết là không tránh khỏi , tuy nhiên vẫn cứ thoáng buồn.

Nhà văn Trung quốc Phùng Ký Tái có nói đến khả năng phá hoại văn hóa của người đương thời. Nghe đã lâu giờ mới hiểu.

    Trong cuốn "Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX", Đặng Thai Mai có dẫn lại lời của người Pháp về khả năng của người Việt sử dụng tiếng mẹ đẻ:  

 “ Có độ vài trăm người an-nam biết nói tiếng Pháp, vài ngàn người khác nói tiếng Pháp một cách bạt mạng, đó là bọn bồi bếp, thầy tớ cu-ly xe... ngoài ra con người nơi đây không biết tiếng an-nam cũng không biết tiếng Pháp. Cần phải nói rõ người an-nam vẫn nói tiếng họ, nhưng họ không biết viết và cũng không biết đọc. Cho nên tôi nói rằng chúng ta đang đào tạo những người mù chữ  ( sđd, bản của NXB Văn học, 1964, tr 93)

    Cái tình trạng thuộc về cuối thế kỷ XIX đó, đã phần nào bị vượt qua trong nửa đầu thế kỷ XX, song từ sau 1945 đến nay có những khía cạnh đang “lại gạo”.

Chết nỗi, nay là lúc ai cũng nghĩ là người Việt  thì mặc nhiên  mình thạo tiếng Việt. Và cái niềm tự tin ấy sở dĩ phát triển vì nó cho phép người ta không cần mất công tìm hiểu tiếng Việt mà đua nhau dùng bừa dùng ẩu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM  NHÂN BẢN

TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA

Ngày 3 tháng 7 năm 2021

Mấy hôm nay, đọc trên mạng cuộc trao đổi về đề thi môn văn kết thúc trung học phổ thông 2017.  

 Theo chỗ tôi đọc được cuộc trao đổi  dừng lại khá kỹ mấy chữ “THẤU CẢM” “TRẮC ẨN”. Và dù chưa chắc đã đi đến  đâu,  đó là việc cần thiết

Nhưng ở góc độ của mình, tôi  chỉ nghĩ sở dĩ câu chuyện xảy ra như vậy, mọi thứ  được mang ra trao đổi như vậy vì đối với chúng ta hôm nay nhất là đối với lớp trẻ nó, cái sự THẤU CẢM  với lại TRẮC ẨN ấy là cái gì xa lạ quá.

Giá lúc này đây  trước mặt tôi là một học sinh chuyên văn. Tôi sẽ hỏi em  những bài văn nào trong  nhà trường đã dạy cho em về lòng trắc ẩn khiến em sẽ nhớ trong suốt cuộc đời.

Không, hoặc  khiêm tốn mà nói là rất lờ mờ rất ít, có phải không em?

Nói quá lên hẳn em sẽ bảo số lần em nghe nhắc tới chữ ấy chắc chưa đầy mười đầu ngón tay!

Trong các sinh hoạt trường lớp đội đoàn cũng vậy, chả bao giờ người ta muốn đưa mấy chữ ấy vào trong tâm trí em cả.

Thế đấy, vậy mà bây giờ người ta nêu ra cho các em đi thi.

Lỗi không ở người đã nêu vấn đề này trên mặt báo.

 Dù  những người ra đề này có lỗi nữa thì cũng không phải là một điều quá trầm trọng. Trong cơn bí và với mục đích thân thiện là muốn cho nhà trường gần với xã hội, họ đã cố gắng.

 Cái lỗi to lớn hơn sâu xa nằm  ở toàn bộ ngành giáo dục và suy cho cùng nữa là lỗi của cả xã hội, cái định hướng phát triển con người trong xã hội chúng ta.

Ta hay nghĩ – và giáo dục lớp trẻ -- theo lối nghĩ  trong xã hội  mình là ai cũng hiểu ai ai cũng thương ai, rồi từ đó cho phép cái “con người tuyên huấn” trong mình tự do đấu tranh với những ai không công nhận cái chân lý tối thiểu đó.

Ta ngại nói đến những gì lờ mờ non yếu trong tâm trí con người. Ta không hề quan niệm mỗi cá nhân là một cái gì phức tạp bởi -- như trong thời của bọn tôi càng rõ - sự phức tạp sẽ ngăn cản mỗi cá nhân trở thành người chiến sĩ “đi bất cứ nơi đâu làm bất cứ việc gì xã hội cần tới”  

Trong một xã hội “đồng phục” kiểu “Lôi Phong hóa”, sự hiểu biết lẫn nhau sự đặt mình vào địa vị kẻ khác không cần được đặt ra.

 Bởi thế, trong đời sống hàng ngày, ta chỉ hay nói đấu tranh phấn đấu vạch trần khuyết điểm tiêu diệt đến cùng sửa chữa phê phán quyết liệt.  Mấy thế hệ liền coi những biện pháp mạnh đó là cách duy nhất và tốt nhất giúp cho tính người nẩy nở...Hỏi làm sao con người ngày nay không lúng túng khi bàn  đến những chuyện tinh tế mà sâu sắc,  dù nó là những phạm trù hết sức quen thuộc với con người Việt Nam trước 1945 - những ai từng đọc nhiều thơ văn cũ hẳn chứng giám cho cái ý này của tôi.

Nhân đây, xin phép nhắc lại một chi tiết từ một bài báo nước ngoài.

Báo Pháp Khoa học & đời sống từng viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI,  một bạn trên Tia sáng số 9-98 đã dịch lại như sau :

1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…

Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.

Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội

7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và

8/Đô thị hỗn loạn.

Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những THỊ DÂN HUNG DỮ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

Người ta kết luận “Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”.

 Bài báo này gợi ra cho tôi một sự so sánh

-- trong khi theo đuổi một đường lối giáo dục  nhân bản và nói chung là xây dựng cho được một xã hội thân thiện với con người, thì những nền giáo dục ở các nước phát triển cũng không quên thăm dò những mạch ngầm nằm trong cách cư xử của họ, lấy đó làm điều cần nhắc nhở để giúp họ ngày một hoàn thiện

--  trong cái sự kém cỏi chung của ngành nghiên cứu con người   

-- tức bao gồm cả giáo dục  --, thì ở ta các ngành nhân học  này lại có xu hướng là xếp xó những vấn đề đang nảy sinh hàng ngày, hơn thế nữa lại còn cố tình chiều nịnh con người, ngăn cản họ tự nhận thức là cái yêu cầu bức thiết bậc nhất .

Điểm lưu ý cuối cùng: trong bài này tôi tập trung nói tới giáo dục. Quay trở lại với cái nghề của mình là nghề viết văn viết báo, tôi thấy chúng tôi cũng chẳng có gì khác.  Không cần kiểm ra chắc các  đồng nghiệp của tôi và các bạn từng yêu mến văn chương hẳn đều nhận ngay là  cái chủ đề  THẤU CẢM TRẮC ẨN với cách diễn giải như trên cũng xa lạ với chúng tôi bao nhiêu. chẳng cần suy diễn cũng có thể bảo rằng cái lỗi của giới cầm bút viết văn là một phần làm nên cái lỗi của các nhà giáo hiện nay.

"CHÚNG TA HƠI KIÊU NGẠO SO VỚI THẾ GIỚI"

(tháng 8 25, 2008)

Ngày 13 tháng 7 năm 2021

- Theo ông, những thói hư tật xấu điển hình của người Việt là gì?

- Thứ nhất, chúng ta chưa bao giờ nghiên cứu thấu đáo về sự hình thành lịch sử của nước ta. Tại sao học sinh học dốt sử? Vì đa số lười đọc sử, học sử nên đây là kết quả tất yếu. Lịch sử của chúng ta đã bị đặt dưới cái nhìn quan liêu lơ là.

Thứ hai, dân tộc mình như "trẻ con", không quan hệ với nước ngoài, nhìn thấy nước ngoài là nhìn bằng ánh mắt thù hằn. Bây giờ chúng ta nên phê phán trạng Quỳnh, trạng Lợn, chuyện Thần đồng đất Việt vì ở đó thực chất là đề cao mưu mẹo vặt, khôn lỏi, trí trá...

Cái gì vay mượn cũng phải nói rõ. Ngày xưa còn nói nghề in hay đúc đồng là học của Trung Quốc nhưng giờ thì người ta nói cứ như là cái làng đó nghĩ ra nghề này. Đây là lừa dối, vậy thì dạy được trẻ con gì nữa.

Thứ ba là sau chiến tranh mỏi mệt quá, giờ dân ta nghĩ là làm cái gì để khá lên một chút, nên thèm hưởng thụ lắm. Khi đi ra ngoài thì chệnh choạng nên lộ ra rất nhiều nhược điểm cũ. Nhưng biết làm sao được, vẫn phải ra ngoài hội nhập thôi.

Một thói quen xấu còn để lại sau thời chiến là ý nghĩ cho rằng cứ làm liều là được chứ không chịu học hỏi gì cả. Ngay trong giới nhà văn chúng tôi cũng nhiều sự bảo thủ, không chịu hội nhập. Ngày xưa ở Hội Nhà văn còn có nhà văn nước ngoài sang giao lưu để mở mang nhưng giờ thì không. Bảo học thì như có nhà văn nói: Học để ăn cắp thì học để làm gì? Nói vậy sao được?!

- Thói xấu lớn nhất của người Việt chính là thói xấu sợ nói ra tật xấu của mình, như ông đã nhận định. Vậy ngoài thói xấu này thì còn thói xấu nào lớn nữa?

- Thói xấu lớn nữa là nhiều người Việt không có nhu cầu tự nhận thức, xem lại mình là người như thế nào, đặt mình trong thời gian, không gian cụ thể thì sẽ ra sao. Chúng ta không có thói quen ghi lại biên niên sử, nên ví thử sau này khi muốn nghiên cứu về Nguyễn Du, Nguyễn Tuân thì chẳng ai biết năm đó các vị làm gì. Không thể cứ ngồi nhận định loạn lên rồi tô vẽ nhăng cuội.

Tiếp nữa là sự thiếu chính xác ở rất nhiều việc. Có những người sống rất bột phát hồn nhiên, không có sự nghiên cứu, nghiền ngẫm nào khi viết hay nói cả; cứ nghĩ gì là viết đấy chẳng cần tìm hiểu gì hết.

- Vậy thói hư tật xấu nào là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của con người cũng như đất nước?

- Theo tôi là thói tự kỷ trung tâm luận, thấy mình là trung tâm, cứ bắt người khác phải theo ý mình. Chúng ta hơi kiêu ngạo so với thế giới. Đây là điểm bất lợi cho sự phát triển. Những người đương thời bây giờ viết về Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh mà thiếu sự tôn trọng, tôi thấy vậy là láo!

- Theo ông đặt ra vấn đề nước Việt Nam nhỏ hay lớn có hợp lý không?

- Nhỏ hay lớn chỉ là tương đối, theo tôi nếu đặt vào một hệ quy chiếu nào đó để nói sẽ chính xác hơn. Như chuyện đặt vấn đề nước Việt Nam là nước lạc hậu so với thế giới thì đúng chứ nói lớn, nhỏ thì không có căn cứ. Chẳng lẽ dân tộc Thụy Điển, Thụy Sĩ có vài triệu dân thì không phải là dân tộc lớn sao?

"Thói hư tật xấu" thời hội nhập

- Ông rất tâm đắc với câu "Dân 25 triệu ai người lớn/ Nước 4000 năm vẫn trẻ con" của Tản Đà. Theo ông, khi chưa biết loại bỏ hết thói hư tật xấu thì chúng ta vẫn là "trẻ con"?

- Vâng! Đúng là trẻ con vì vẫn thích khen, thấy mình là quan trọng, chỉ biết mình thôi và chưa trưởng thành về mặt lý tính. Dân ta vẫn sống bột phát hồn nhiên, nghĩ gì là nói nấy. Tôi thấy dân mình như cây mọc nông trong khi các dân tộc phát triển khác như cây cao bóng cả. Việt Nam sau chiến tranh thì như rừng cỏ ranh, người nào cũng xêm xêm nhau. Chứ ở các nước phát triển thì họ có cả cây cao bóng cả, cả cây thấp lẫn dây leo bụi rậm.

- Ông dẫn rất nhiều tài liệu trong Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (in năm 1938) để nói về thói hư tật xấu của người Việt. Vậy theo ông cho tới thời điểm này, khi Việt Nam gia nhập WTO rồi thì những thói hư tật xấu đó đã được thay đổi chưa trong suốt gần 60 năm qua?

- Tôi nghĩ thói hư tật xấu của người Việt không những không thuyên giảm mà có vẻ như còn xuất hiện thêm ngày càng nhiều hơn. Và họ cũng có vẻ lý sự hơn trong việc cãi lấy được chứ chẳng dựa vào luật lệ nào.

- Gia nhập WTO rồi mà người Việt ta vẫn chưa thay đổi ư?

- Tôi nghĩ việc gia nhập WTO chỉ là thủ tục hành chính còn sự chuẩn bị về nhận thức để dân ta thay đổi cho phù hợp với hội nhập thì chưa có. Chúng ta phải có nghiên cứu xem trước khi hội nhập thì sự hiểu biết của dân ta về nước ngoài ra sao, văn hóa của Việt Nam như thế nào và có bị ảnh hưởng bởi hội nhập không,…

Chúng ta đừng để sự yếu kém về mặt nhận thức ảnh hưởng tới đường lối tư duy, kiểu Xuân Diệu đã từng giảng trong một lớp học viết văn rằng: Các đồng chí ơi! Tổng thống ở Mỹ sau khi hết nhiệm kỳ, về nghỉ thì đi làm lái buôn, làm quảng cáo cho các hãng, rồi nó mặc áo dính hình quảng cáo này nọ… Xuân Diệu được đi nước ngoài quá nhiều rồi mà còn nhận thức vậy thử hỏi những người dân thường sẽ hiểu ra sao?

- Vậy phải chăng hội nhập cũng làm cho dân ta thêm tật xấu mới?

- Vâng! Khi hội nhập, chúng ta từ tối ra ánh sáng thì bệnh mới càng lộ rõ. Cộng vào đó là những thói hư tật xấu bị nhiễm từ bên ngoài vào nữa.

"Tôi muốn nhìn Việt Nam bằng tình thần thế giới..."

Hiện nay tôi có một vấn đề rất băn khoăn những chưa viết ra được là: Việt Nam đang thành bãi rác của thế giới. Không phải cứ người nước ngoài đến Việt Nam là đều thông minh, giỏi giang cả đâu.

Bởi chúng ta sống dễ dãi quá, cẩu thả quá nên hợp với những đối tượng này, nhưng nếu họ về nước khác họ sẽ bị nhắc ngay. Thế là nhiều kẻ buôn lậu, tội phạm và làm ăn chụp giật cũng như sống buông thả mới đến Việt Nam. Hay cả những tư tưởng lạc hậu cũng đang ồ ạt vào nước ta. Tôi rất sợ việc này xảy ra.

- Hiện nay Việt Nam đang nhắc nhiều đến việc "quảng bá, tiếp thị hình ảnh đất nước". Cụm từ "PR" (Public Relations, tức quan hệ công chúng, quan hệ đối ngoại hoặc "đánh bóng hình ảnh bản thân"... cũng đang được nhắc tới thường xuyên. Để làm điều đó thì những cái hay, điều tốt, vẻ đẹp cần phải "phô" ra với bên ngoài. Như thế, việc ông đang làm liệu có đi ngược với xu hướng đó?

- Trên nguyên tắc, chúng ta không thể giấu nhau được cái gì. Các dân tộc luôn nhìn vào nhau để phát triển. Ngày trước, nhiều giáo sĩ, nhà buôn... phương Tây đã sang nước ta và ghi lại nhận xét của họ mà chúng ta ít nhắc đến. Điều đó chứng tỏ, từ lâu rồi chúng tôi đã không thể giấu được nhau.

Câu "Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại", theo tôi đã lạc hậu từ rồi. Bây giờ chúng ta cần nói đúng mức về mình và đúng như nó có. Chúng ta không thể nói quá lên, trong nhà với nhau thì còn có thể chấp nhận chứ ra tới bên ngoài là không có lợi về lâu dài. Cũng không phải chỉ ta mới có những cái mà ta ngỡ người khác không có.

Nói về mình là rất khó. Chúng ta vẫn luôn cần quảng bá hình ảnh của ta nhưng việc đó phải nằm trong tay những người có thiện chí, có hiểu biết sâu sắc về không chỉ nước mình và còn về nước khác. Nếu không có điều đó rất dễ bị nói sai. Việc người bên ngoài nhìn vào nước ta cũng quan trọng, nếu hiểu họ thì khi họ nói xã giao quá, ta còn biết để mà bỏ đi...

- Giả sử để để ông làm công việc là giới thiệu hình ảnh Việt Nam ra bên ngoài, ông sẽ giới thiệu điều gì trước nhất?

- Việc này không phải dễ. Chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn trong quá trình hình thành dân tộc, có giai đoạn ta phải tạm thời đóng cửa lại. Để đi ra thế giới như ngày hôm nay thì phải trải qua con đường rất dài và chúng ta khao khát "hội nhập" hơn bao giờ hết.

Tôi thấy đặc điểm lớn nhất của Việt Nam hôm nay mà thế giới cần nhìn vào là chúng ta đang tập sống theo quy luật của thế giới, nhìn mình như một con người của nhân loại và vươn tới những điều cao đẹp. Chưa bao giờ chúng ta có điều kiện như bây giờ để vươn lên trở thành chuẩn mực.

Dân mình có sức trẻ, có ham muốn, tức là có sức mạnh tinh thần rất lớn. Tôi thấy câu "Việt Nam muốn làm bạn với thế giới" không phải là lời xã giao vì thực sự chúng ta đang khao khát muốn biết thế giới và làm bạn với thế giới.

Chúng ta ở tầm công dân hạng 2, hạng 3 của thế giới (?)

- Sau Cách mạng tháng tám bác Hồ có đề cập đến một nhiệm vụ rất cần kíp lúc đó là "Phải dạy lại nhân dân". Điều này còn đúng cho thời điểm hiện nay?

- Ngay từ thời cụ Phan Chu Trinh đã lấy nhu cầu "tân dân" làm gốc để đưa đất nước phát triển lên. Như vậy việc làm mới dân là nhu cầu của mọi thời, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi chất "người" đang đi xuống trần trọng, con người dễ buông thả, suy đồi.

- Con người mới của thời đại ngày nay theo ông là con người như thế nào?

- Là con người thấy được rằng mình còn rất nhiều kém cỏi và phải có ý trí để mà vươn lên với thế giới. Không phải họ nói vài câu xoa đầu là đã sướng rồi mà mình phải làm sao tạo ra hàng hóa để đưa cho họ, họ phải mua nhiều và mua nữa.

Con người hiện đại phải là con người biết được nhược điểm của mình và có khao khát vươn lên, có lòng tin là mình sẽ đứng ngang hàng với thế giới chứ không cần phải để ai chiếu cố. Có sách của mình người ta phải đọc, phải dịch chứ không phải là đi cầu cạnh họ dịch để khoe mẽ.

- Theo ông, phẩm chất nào là nổi bật của người Việt?

- Phẩm chất nổi bật nhất của người Việt là tính dễ thích ứng. Nhưng đây là phẩm chất có hai mặt. Dễ linh động, linh hoạt những có thể hời hợt, nhạt nhòa, chông chênh, dao động.

- Vậy phải chăng chúng ta có nhiếu thói hư tật xấu hơn những phẩm chất tốt đẹp?

- Tôi cảm thấy nó đang là vậy! Do trình độ sống của dân ta hơi thấp.

- Nói vậy có quá không, thưa ông?

- Nói chính xác hơn là về mặt số lượng thì thói hư tật xấu của chúng ta nhiều hơn, nhưng nó vẫn đan cài với những phẩm chất tốt.

- Ông có sợ bị phản ứng khi nói bi quan vậy không?

- Tôi không sợ phản ứng! Nếu các bạn không đồng ý với tôi các bạn cứ viết ra, tôi sẽ tiếp thu. Tôi không là cái gì cả, tôi nói và viết theo những gì tôi nghĩ.

- Theo ông chính phủ và nhà nước cần có những chính sách gì để khuyến khích phát triển những tính cách tốt đẹp của người Việt?

- Theo tôi Nhà nước nên có một chính sách khuyến khích hơn nữa khả năng tự nhận thức của mỗi người. Đồng thời cũng nên khuyến khích những lời nói thật, đừng chỉ nói chúng ta giỏi nhưng thực tế lại rất dở, phải thẳng và thật.

- Vậy phải chăng việc "vạch áo cho người xem lưng" cũng rất tốt?

- Tôi nghĩ việc này là tốt. Như chuyện Lê Vân viết tự truyện cũng rất tốt, nó cho thấy một thức tế đang tồn tại trong đời sống văn nghệ của nước ta. Nó có cái dở là cho thấy một đời sống gia đình rất nhếch nhác; nhưng lần đầu tiên đã có một người trẻ nhìn đời sống một cách thẳng thắn và dám viết ra.

Ngay cả những nhà văn tài ba của chúng ta khi viết cũng chỉ toàn cố khoe tài. Thế giới này người giỏi không bao giờ khoe tài của mình cả.

Chúng ta có một trình độ sống thấp, ở tầm công dân loại 2, loại 3 của thế giới. Tôi biết tôi nói ra cũng có thể gây nhiều phiền phức nhưng tôi không gạt được ý nghĩ nó ra khỏi đầu tôi. Nếu các bạn thấy nó có thể gây phiền phức thì các bạn đừng hỏi tôi nữa và cũng đừng viết nữa.

Tôi thấy rất xấu hổ khi lúc nào chúng ta cũng nói tới bản sắc. Trong khi đó cái gì chúng ta cũng học của nước ngoài. Chúng ta học đòi nhanh thế thì bản sắc ở đâu?

- Nói về thói hư tật xấu của người Việt không có nghĩa là ghét người Việt mà là vì yêu nên mới nói phải không ông?

- Đúng vậy! Bằng nhân tâm của tôi, tôi làm. Nếu không có lòng yêu nước, yêu người dân quê hương mình thì tôi việc gì phải làm cái việc coi như "đi tu" này. Tôi nghĩ mình cần làm nó vì nó giúp cho dân ta mạnh lên, nước ta giàu lên.

- Phải chăng ông làm điều này vì ông muốn viết lên một trang sử nào đó cho mình?

- Không! Tôi vào Sài Gòn và nhìn tên phố thấy có những người tôi chả biết là ai, có những người sử sách viết rất hay nhưng ở ngoài đời lại không phải hay như vậy.

- Một câu hỏi nhỏ về ông: Nghe nói ông lão 64 tuổi Vương Trí Nhàn vẫn thường xuyên ra bãi giữa sông Hồng để... tắm tiên?

- Ồ, thú vị lắm. Tôi làm điều đó mỗi buổi sáng cùng một nhóm các ông già 60 đến 70 tuổi. Nó đã thành việc làm thường xuyên nên kể cả khi trời Đông rét mướt tôi vẫn không bỏ, không ngại.

Mấy năm trước tôi bị thoái hóa cột sống cổ, thần kinh chân tay co quắp lại. Gặp bác sĩ giỏi nhất thì được khuyên mổ. Tôi đã đi nhiều nơi, lên cả Tuyên Quang chữa trị mà không khỏi. Sau đó, có người khuyên tôi nên ra sông Hồng tắm. Giờ tôi thấy khỏe ra, mỗi lần tắm xong thấy sung sướng lắm.

Nhưng cái được hơn từ việc này với tôi là về tâm lý. Tắm về tôi thấy thoải mái, không sợ việc, thấy tự tin, ham sống hơn. Việc "tắm tiên" gợi đến cho tôi cảm giác hoang sơ, gần gũi với thiên nhiên, giúp tôi lắng lại để nghĩ về nhân tình thế thái, biết yêu quý thiên nhiên hơn. Tự nhiên tôi thấy mình muốn viết được kịch bản phim về các dòng sông chảy trên đất Việt Nam.

Về mùa nước lũ này, phù sa sông Hồng chở nặng, đỏ au như những bát đất Dù nó mang về rất nhiều rác, nhưng sông vẫn có sự thanh sạch vô cùng. Tôi hiểu, đất mẹ còn rộng rãi lắm, dù có cả rác và vẩn đục trong đó, nhưng vẫn không mất đi sự tươi mát, sạch trong.

www.netlife.com.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ GHI CHÉP 

CHUNG QUANH KHÁI NIỆM TRÍ THỨC

Ngày 16 tháng 7 năm 2021

Tôi cũng không nhớ đã đọc tư tưởng này ở đâu

 ở cuốn sách nào bài báo nào.

Nhưng rõ ràng đó không phải là tư tưởng của tôi

 mà là của người khác

 tôi chỉ sàng lọc lắp ghép lại và cũng chưa thật hiểu.

Chúng ở trong  trong các tài liệu tiếng Nga

 và những tài liệu người Nga dịch  từ các tiếng nước ngoài.

----

  Thông thường, trí thức được hiểu  đại khái là những người lao động trí óc, các nhà kỹ thuật, các nhà nghiên cứu. Trong khi lấy việc sáng tạo và chế biến tư tưởng làm nghề, bộ phận cao cấp  trong họ thường có cái vẻ đứng ngoài mà ngẫm nghĩ sự đời mà không phải những người hành động.   

      Tại sao nẩy sinh những người làm nghề trí thức như thế này?        Trong quá trình tồn tại, các cộng đồng đều đi từ chỗ lo kiếm ăn đủ sống đển chỗ nghĩ chung về sự phát triển và cuộc sống lâu dài của mình. Dần hình thành cả một lớp người chuyên lo chuyện này.

      Theo M.Heideger, trí thức là người có sự đánh giá lại mục đích và ý nghĩa cuộc sống trong khi đám đông tiếp nhận không phê phán.

      Họ đọc nhiều sách. Tức là họ sống nhiều cuộc đời thuộc về nhiều cộng đồng và nhiều thế hệ.  Từ đó họ biết rằng cuộc sống có thể được hiểu theo nhiều nghiã khác nhau. Họ làm cuộc lựa chọn bằng cách trước hết xây dựng chính mình, làm ra chính mình  theo cách của mình.

    Xã hội ngày một phát triển  thì số lượng những người này càng đông hơn và có sự biến chuyển về chất.  Một số trong họ chỉ dừng lại ở việc vận dụng và tiêu hóa kiến thức một cách thụ động. Họ giống như chiếc xe chở hàng thuê luôn luôn có hàng mới nhưng luôn  luôn bỏ hàng xuống những bến bãi nào đó. Một số khác bị ngay cái mớ kiến thức mà họ chuyên chở đó biến cải. Họ không bao giờ trở lại với nghĩa con người bình thường.      

VAI TRÒ MỞ ĐƯỜNG     

    Một nhà nghiên cứu người Nga là  M.L.Gasparov so sánh  trong loài vật có những lúc cả đàn gặp khó khăn, có những con vượt lên mở đường. Trí thức là loại người đó       

     Từ điển Oxford : bộ phận có học được xem như những người bị ám ảnh về văn hóa và mở đường trên phương diện chính trị

     E.Morin:  Trong cuộc tìm tòi thường là  sai lầm của mình, trí thức trước sau vẫn còn là người bảo trợ duy nhất của các vấn đề mà con người chạm phải.

      Các cá nhân có tiềm năng trở thành  trí thức được hình thành từ chỗ tách khỏi bầy đàn, nhưng bản thân sự tách rời đó ban đầu thường không được sự chia sẻ của cộng đồng mà anh ta là một bộ phận.

      Nhất là khi các cá nhân tách ra này lại dành cho mình cái quyền lớn như thượng đế, quyền vượt cao lên để suy nghĩ, và không chấp nhận cách nghĩ thông thường mà muốn tìm tới những cách nghĩ  mới lạ, không phải chỉ những suy nghĩ ngày hôm nay mà có thể là những cách nghĩ trong tương lai.  Họ dễ mua lấy ác cảm.  

     Các trí thức còn có một chỗ yếu rõ rệt. Họ phiêu lưu vào khu vực của cái không biết. Họ là những con người phiến diện, rất mạnh về mặt này mà lại rất yếu về mặt khác

TẤT CẢ CÓ THỂ LÀM KHÁC

     Trí thức trả lời cho những câu hỏi không dễ trả lời: Đây là cái gì? Vì sao nó lại như thế? Điều này có thể là sự thực không?

    Trước những mối quan tâm chung họ có cách trả lời riêng. Luôn luôn họ mang lại cho những gì rối rắm một trật tự, nhưng trước những vấn đề ổn định thì họ lại sẵn sàng xới tung nó lên. Hoài nghi và gieo rắc hoài nghi là phẩm hạnh bắt buộc ở họ.

    Theo Heideger, người trí thức luôn luôn khát khao là  mình chứ không phải chỉ là sản phẩm của giáo dục và hoàn cảnh. Họ làm cuộc lựa chọn bằng cách  xây dựng chính mình làm ra chính mình theo cách của mình. Nó cũng là nội dung chân chính của khái niệm tự do (chứ không phải tự do là muốn làm gì thì làm, càng làm khác mọi người  là càng chứng tỏ rằng mình tự do -- như những kẻ dung tục vẫn hiểu.)

   Với Heideger, nỗi khao khát tự do trên đây cũng là nỗi khao khát tính nguyên bản. Đạt đến tính nguyên bản là có sự đánh giá lại mục đích và ý nghĩa cuộc sống theo cách của mình sau khi đã tham khảo và thể nghiệm kinh nghiệm của những người khác.

     Chỉ có thể hiểu được thế giới này từ nhiều góc độ khác nhau với sự phối hợp của  nhiều lý thuyết khác nhau, đó là tâm niệm của nhiều trí thức chân chính. Dường như nhìn vào cái gì họ  cũng cho rằng có thể làm khác và trước tiên là tất cả có thể nghĩ khác.Tính phê phán - mà mọi con người đều có - được người trí thức  đưa lên thành một nguyên tắc suy nghĩ .

    Vai trò phản biện mà nhiều nhà trí thức gần đây nhấn mạnh chính là một bộ phận của tính phê phán thường trực đã thuộc về bản chất của giới trí thưc chân chính. Tính phê phán này chẳng những xa lạ với mọi sự làm theo khuôn mẫu cuả các tín đồ thụ động mà cũng tự phân biệt với thói phản biện bừa bãi, phản biện làm dáng, ra vẻ trí thức độc lập và đóng vai phản biện để đề cao uy tín cá nhân. Chất lượng phản biện không chỉ tùy thuộc vào động cơ trong sáng  tức không chỉ tùy thuộc vào tấm lòng như cách nói của chúng ta - điều đó gần như một lẽ đương nhiên --mà trước tiên phụ thuốc vào trình độ của người trí thức đứng ra phản biện.

TRÍ THỨC VÀ NHÂN DÂN

F. Braudel

 Một dân tộc chỉ tồn tại nếu nó không ngừng đi tìm bản thân  nếu nó luôn luôn tiến hóa, nếu nó không mệt mỏi trong việc tự phân biệt mình với những kẻ khác và mong mỏi được tương ứng với những gì  tốt đẹp vẫn ẩn giấu nơi mình

---

M. Heideger  

Người trí thức biết rằng có nhiều cách hiểu đời sống khác nhau. Họ

dao động giữa  khinh bỉ nhân dân và thần thánh hóa nhân dân

---

E.Morin

Trí thức không tự đồng hóa mình đến cùng với các ông chủ bảo trợ cho mình, cũng như với nguồn gốc của mình (với dân tộc) , kể cả với nhân dân.

Họ chuẩn bị cho mình xem xét những vấn đề chung của nhân lọai.

Với nhân dân, trí thức dao động giữa việc lôi kéo nhân dân đi theo họ và phục vụ nhân dân   

Thời đại này, trí thức phân hóa : các quan chức văn hóa / các  chuyên gia cao cấp

Nói cách khác, giữa những đòi hỏi làm việc có tính chất trừu tượng xa đời sống/điều kiện gian khổ của những nhân vật nổi loạn

Trí thức: kẻ nhiệt tình đi vào các vấn đề cơ bản mà con người chạm phải

---

Ju. Lotmann

 Trí thức là kẻ không chỉ hiểu được chính mình mà còn hiểu được kẻ khác. Trí thức  liên quan đến tự do và trách nhiệm

 PHẨM CHẤT CÁ NHÂN CỦA CÁC TRÍ THỨC

  T.Tolstaja  

 Chất trí thức, đó là sự tỏa sáng của tâm hồn  là những mệnh lệnh của đạo lý, là lương tâm là cảm giác trách nhiệm  trước nhân dân nước mình  và các nước khác. Là nỗi sợ gây ra cái ác. Là ý tưởng thường trực “hay là ta có lỗi “. Là sự hào  hứng “làm sao để giúp cho là những  dự định tốt đẹp” được nghĩ cùng với lời tự cảnh tỉnh “không biết chừng  những dự định này có thể dẫn tới địa ngục”    

==

   B. Okudjava

 Trí thức là kẻ suy nghĩ độc lập, khao khát hiểu biết, phục vụ một cách vô tư cho công bằng xã hội. Họ  không chấp nhận bạo lực mà chỉ cho phép có những  phương tiện nhân đạo để đạt tới mục đích. Họ kính trọng cá nhân, nghi ngờ sự  đúng đắn của bản thân  mình và không bao giờ hướng tới quyền lực. Kẻ trí thức chân chính không bao giờ là nhà cách mạng.

    Trí thức không định thay đổi lịch sử mà chỉ muốn hiểu nó  và thúc đẩy nó tiến nhanh hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỮ ĐẠO VĂN KIA 

CŨNG CÓ BA BẢY ĐƯỜNG

Ngày 21 tháng 7 năm 2021

Một vài khía cạnh tế nhị cần cân nhắc

 khi xem xét hiện tượng đạo văn             

*

    Những điều tôi nói dưới đây chủ yếu thuộc về một giai đoạn ổn định; còn thời nay - mà tôi tạm gọi là thời loạn - mọi giá trị trong văn chương biến ảo rất khác, câu chuyện đạo văn mong chờ sự trình bày và lý giải của các bạn khác.(ghi chú 7-2021)

==    

Trong Nhà văn hiện đại  bản in 1989  của NXB Khoa học xã hội mà tôi đang có trong tay, Vũ Ngọc Phan viết về Vũ Bằng tới 17 trang thì trong đó hơn 4 trang dành để đối chiếu một truyện ngắn của Vũ Bằng là  Em ơi đừng tuyệt vọng (in trong tập Để cho em khỏi khổ) với thiên truyện Những đêm trắng  của Dostoievski qua đó chứng minh tác giả Việt Nam đã lấy của người làm của mình. Cái sự phỏng theo gần đúng nguyên văn nói ở đây theo Vũ Ngọc Phan nó có hại trước nhất cho tác giả; thứ nữa làm cho người ta thêm khinh nhường thể văn tiểu thuyết xem nó như một trò giải trí.

   Tìm lại tạp chí Tri tân người ta cũng đọc ra bài của Kiều Thanh Quế  nhắc vài chuyện không hay liên quan tới Lan Khai và một tác phẩm của nhà văn Stefan Zweig.   

    Mặc dầu vậy, cả Vũ Bằng và Lan Khai vẫn là những tên tuổi không thể bỏ qua, mỗi khi cần nói tới lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.

    Thành thử dù dưới đây trong khi tiếp tục câu chuyện gọi là đạo văn này còn có thể dẫn ra một vài vụ việc khác kể cả những trường hợp mới xảy ra hôm nay, song điều cần nói ngay ở đây: chúng ta không nên hoảng hốt. Các giá trị vẫn đâu có đấy rõ ràng. Khi mọi chuyện không thể một sớm một chiều kết thúc ngay được thì tốt nhất là  tìm cách lý giải nó và trước tiên tìm cách … chung sống với nó.

*

*Những ranh giới rất mong manh

và những trường hợp trắng án

  --

 Xuân Diệu có lần đã kể từ một câu thơ Pháp ông đã làm ra câu thơ rất hay của riêng mình Cành biếc run run chân ý nhi  ra sao.

   Cũng quanh câu chuyện học người  để làm giàu cho mình này trong những lần trò chuyện riêng với ông, bọn tôi còn bắt chợt  được cái ý mà tuy không nói ra nhưng nó toát lên từ cái nhìn từ ánh mắt nơi ông:

-- Các cậu không biết học hỏi thì chỉ có thiệt.

--….

-- Người tài là người ăn cắp mà phi tang, thậm chí người ta trông thấy mà vẫn phải chịu.

  Cũng liên quan tới Xuân Diệu, mấy năm trước 1975, còn có một trường hợp nữa, bài Ngọc trai trong vịnh Cô Tô. Nguyên đây là một cái tứ do một nhà thơ khác (tôi nhớ mang máng hình như là Xuân Tửu?)  -- phát hiện, Xuân Diệu thấy hay quá và “cướp luôn”. Nhưng vì bài thơ ông làm hơn hẳn bài thơ của nhà thơ kia, nên không ai thấy chướng, ngược lại đều công nhận đó là cái quyền chính đáng của ông.

     Ngoại trừ những trường hợp trắng trợn mấy chữ đạo văn phải rất cân nhắc trước khi sử dụng là vì vậy. Chúng ta hàng ngày sống suy nghĩ ăn uống đọc sách viết văn giữa đám đông các đồng nghiệp vừa cho vừa nhận vừa thẩm thấu của đời vừa trả lại cho đời, chắc chẳng ai dám nói từ sáng đến chiều mình chỉ nói những câu mà không ai từng nói viết ra những câu mà không ai có thể viết.

     Thành thử cái hiện tượng “chí lớn gặp nhau”  không phải là lời cãi lấy được mà trong nhiều trường hợp vẫn là một sự thực.

     Đến khi một mình một bóng trước trang giấy (bây giờ là cái máy tính) thì lại dễ có cảm tưởng của một ông tướng cầm quân khi ra trận có bao nhiêu binh mã phải sử dụng hết, thường thì mạch văn kéo đi, người trong cuộc mải miết hướng tới cái đích cuối cùng, mà không còn nhớ ý này ý kia  đã hình thành trong đầu óc từ lúc nào, mình đã nghĩ ra nó đầu tiên hay là chộp được từ một người khác.

      Đi vào cụ thể hơn có thể coi là trắng án trong mấy trường hợp:

-- một là người đi sau lấy của người khác nhưng đó không phải là những câu những bài  nguyên vẹn 100% mà có biến báo có thay đổi;

--  và hai  là cái sự gọi là lấy của người kia mang lại hiệu quả cao.

      Khi tôi say sưa với một ý của người khác và tìm cách đưa nó vào bài viết của mình (nói cho sang gọi là tìm thấy ở đó một sự kích thích), mặt khác nó được lắp ghép vào bài của tôi một cách tự nhiên như là chính tôi đã nghĩ ra vậy (không phải là cái áo vải vá mụn gấm mà là áo gấm vá mụn gấm, hơn nữa vá một cách đầy tài năng tới mức không ai biết là vá) –  tôi tin rằng không ai nghĩ tới chuyện gọi tôi là “đạo“ cả.

     Không phải là thiên hạ dễ tính hoặc cánh hẩu bỏ qua cho nhau đâu. Trong trường hợp này mọi người như cùng công nhận cái chân lý mà văn hào Đức B. Brecht phát hiện và với tôi phải coi là  một trong những ý tưởng thú vị nhất của nhân loại thế kỷ XX:

 Khi có sự tranh chấp thì ruộng đất sẽ  [không thuộc về ai làm chủ nó ngay từ đầu mà] thuộc về ai làm cho nó màu mỡ  và khai thác nó một cách hiệu quả  nhất.

*

Những sự  mô phỏng công khai hay là chuyện xảy ra

trong những giai đoạn văn học gọi là trứng nước

---

  Trừ những thiên tài không kể với đa số chúng sinh là người viết thông thường việc sáng tác ban đầu là một thứ mô phỏng. Thấy người ta làm thì ta bắt chước. Điều này không chỉ đúng với các cá nhân, mà còn đúng với cả cộng đồng.

    Ai đã có phen trở lại với văn học Việt Nam thời kỳ mò mẫm tìm đường những năm đầu thế kỷ XX thì biết. Nền văn xuôi mới được hình thành  từ một vài chuyện tức khí: thấy  những sách của người Tàu bán chạy thì nhiều tác giả Việt như Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu cũng biến báo ra các truyện đăng báo, trong đó cảnh và người đều  được Việt Nam hóa.

   Có phần thọ hơn là những cuốn sách học theo văn chương Pháp.

   Lịch sử văn học còn ghi nhiều cuốn sách của Hồ Biểu Chánh được làm theo kiểu các tác tác phẩm của văn học Pháp thế kỷ XIX, cụ thể là của V. Hugo.

   Một ví dụ khác: Đầu kháng chiến chống Pháp trong hoàn cảnh phải kéo nhau lên rừng bắt tay làm ra nền văn học mới, nhiều người lúng túng tìm đường và chỉ còn có cách trông vào một phần là những cuốn sách văn học Nga dịch ra tiếng Pháp. nhà văn Tô Hoài tìm được một cuốn tiểu thuyết xô - viết nói chuyện du kích chiến tranh đúng kiểu công tác tuyên truyền của mình đang cần. Thế là ông rút gọn và cắt nối lại đôi chút, rồi phỏng dịch ra, gọi tên nó là Lão đồng chí  và cho công bố như chính mình viết ra. Được cái tới khoảng sau 1990, khi nghĩ lại, ông công khai gọi đó là tác phẩm phóng tác và không lấy vào danh mục sách của mình nữa.

      Chẳng phải chỉ  trong văn học mà cả trong âm nhạc hội hoạ -  và trong văn học thì không chỉ trong sáng tác mà trong nghiên cứu - cũng đã có những hiện tượng rất cần được lý giải một cách độ lượng  tương tự.

     Thử nhìn vào ngành học nghiêm chỉnh như ngành giảng dạy văn học nước ngoài trong các nhà trường ở Hà Nội sau 1954.  Mới từ Việt Bắc trở về những năm ấy đã ai biết gì nhiều về văn học nước ngoài đâu, song cần dạy thì dạy. Một cách mặc nhiên người giảng dạy văn học Nga thì  lấy sách Nga ra mà giảng, người giảng dạy văn học Pháp thì hơn nhau ở chỗ ai đọc tham khảo được nhiều sách Pháp hơn và có gu hơn trong việc chọn ra ý kiến để đưa vào giáo trình do mình biên soạn.

     Việc tiếp nhận văn học nước ngoài ở ta là thế, cả nghìn năm sống theo Nho học các cụ ngày xưa cũng chưa biên khảo được một công trình nào về văn học Trung quốc, huống chi ngày nay chúng ta đứng trước những đối tượng mới mẻ hơn vả phải làm việc trong một hoàn cảnh khó khăn hơn, ai lại nỡ trách các nhà nghiên cứu văn học nước ngoài hiện đại.

    Lại như đầu thế kỷ XX,  trong việc tiếp xúc với văn hoá Pháp  văn hoá Việt nam nảy ra một bước ngoặt. Ta bỗng nhận ra  có những thứ mọi người đều có, riêng ta không có. Bởi vậy nhiều thể loại nghệ thuật mới nảy sinh  chẳng hạn âm nhạc.

      Mà sự khai sinh lúc đầu cũng tuỳ tiện lạ lắm, giá ngày nay thì sẽ bảo ngay là đạo nhạc. Tức là hồi ấy nhiều người dựa vào những bản nhạc Tây rồi soạn lời ta và cho phổ biến. Phong trào lan ra theo chiều rộng một người như nhà thơ nhà hoạt động sân khấu Trần Huyền Trân từng sống bằng nghề này.

     Vậy mà chẳng ai lấy thế làm lạ vì ai cũng hiểu  rằng nếu không có những bước tập tành đó thì sẽ không bao giờ có một nền âm nhạc của người Việt.

   Lịch sử còn ghi: Mãi tới cuối những năm ba mươi đầu  bốn mươi của thế kỷ XX một số người mới tính việc sáng tác một số bản nhạc độc lập của mình mà Nguyễn Xuân Khoát Hoàng Quý Lê Thương là những người đi đầu.

     Họ vừa làm vừa ngần ngại không rõ mọi việc sẽ đi đến đâu.

     Bởi vậy có lần (trên Thanh Nghị số ra 16-6-1942), Nguyễn Xuân Khoát đã  nêu vấn đề  Nước Việt nam có thể có một nền âm nhạc được không ?

     Đáng chú ý là ngay trong bài này, cái hiện tượng  bây giờ ta gọi là đi thó của người kia đã được ông lưu ý.

     Nguyễn Xuân Khoát viết

  “Trong công việc đó ( việc soạn những bài nhạc mới  --VTN chú ) tất nhiên  phải tránh hết sức cái lối mà trong văn thơ ta gọi là lối lột văn (plagiat) nghĩa là  định ý hay bất giác  lấy của người này một đoạn lấy của người kia  một câu, thay đổi đôi chút, chắp nối thành một bài  đọc lên nghe cũng có vẻ kêu lắm nhưng không thể che được mắt người thức giả.” .

     Theo tôi cảm hứng chính trong câu nói trên của Nguyễn Xuân Khoát  không phải là muốn  tố cáo một tội lỗi mà là một lời cảnh tỉnh. Ông như một người đi trước biết điều luôn mồm nhắc nhở chung quanh: Cẩn thận đấy khéo rơi xuống vực; cẩn thận đấy kẻo cầm nhầm của người ta lúc nào mà không hay biết -- ông nói điều đó với đồng nghiệp chung quanh mà như nói với chính ông nữa.

     Vào khoảng 1973 -1974, trên báo Nhân dân có cuộc thảo luận về làm ăn thật thà. Nhiều người theo dõi cuộc thảo luận với một nỗi lo. Ai cũng thấy khó; trong khi không đồng tình với tình trạng gian dối, đồng thời vẫn không hiểu làm sao để ngăn chặn nổi cái căn bệnh có vẻ lặt vặt nhưng toàn dân cùng mắc đó.

     Điều thắc mắc ấy trong tôi chỉ được giải đáp cho đến khi  được nghe Nguyễn Khải kể lại rằng về chuyện này nhà văn Nguyễn Đình Thi có một ý rất hay. Ông Thi bảo “Làm ăn theo kiểu tiểu nông manh mún như ta thì làm sao thật thà được!”

    Có nhiều việc lẽ ra không được làm mà người ta đã biết vẫn nhăm măt làm và người chung quanh phải chấp nhận; và ở đây không thể thẳng tay với nhau theo kiểu cạn tàu ráo máng.

     Bởi  truy nguyên đến cùng chỉ vì quá nghèo nên mới làm vậy.

     Trở lại cái việc  hôm nay. Chép bài từ sách  của người  mô phỏng và đẩy quá lên nữa là đạo văn…. bấy nhiêu hiện tượng chỉ có thể nảy sinh trong hoàn cảnh một đời sống văn nghệ có nhiều hạn chế ít quan hệ với các nền văn nghệ khác -  nói như chữ nghĩa thời nay là  ít được  thông tin.

      Thật vậy sắc thái chủ yếu của cái hành động gọi là đạo văn là chất tỉnh lẻ: nó thường nảy sinh ở những người không được đào tạo cơ bản tạt ngang tạt ngửa đi tắt trong nghề. Họ thường lợi dụng sự nhốn nháo của hoàn cảnh để hành sự. Nhân cuộc thi ở tỉnh A. họ biết các quan chức tỉnh A cũng ít đọc nên lấy bài ở tỉnh B. mang về dự. Hoặc nhân việc các tài liệu nghiên cứu văn học ở Sài Gòn trước 1975 hồi cuối những năm 1970s còn ít người biết thế là khi gặp được hoàn cảnh thích hợp  có người mau mắn  chép vội những gì sách báo ở đó đã viết làm sang cho mình. Chẳng qua là một thứ gà què ăn quẩn cối xay mà trong cái trọng tội riêng của từng người, người ta có thể nhận ra tình trạng phát triển chung của một giai đoạn văn nghệ.

*

Khi ý thức con người còn khá hồn nhiên …

---

    Con người, như các công trình nghiên cứu tâm lý ghi nhận, không phải ngay từ đầu đã  tách mình ra khỏi chung quanh. Trong chừng mực mà người nọ còn như lẫn vào người kia, thì chuyện cầm nhầm nhiều khi là chuyện vô ý thức.

     Có lần đọc một cuốn sách tâm lý học, tôi thấy  người ta đưa ra một  ví dụ: nhiều trẻ khoảng năm sáu tuổi đang chơi bóng với bạn tự nhiên cầm trái bóng lên. Nó quên rằng lúc đó trái bóng không thuộc riêng mình nó mà thuộc về cả nhóm bè bạn. Nó  quên và tưởng chỉ  duy nhất có mình trên thế giới này. Nhưng cầm về đến nhà nó lại chợt nhớ ra mà mang chơi tiếp.

   Cái sự tách mình ra khỏi người khác như vậy là loại phản ứng tâm lý chỉ có ở những cá nhân đã trưởng thành. Mà có khi đã đến tuổi  “cổ lai hy” rồi người ta cũng chưa chắc đã tìm ra mình, nó là tiền đề để mọi sự ấu trĩ hôm qua trở lại.

   Xin phép được kể một câu chuyện riêng: cuối năm 1975, tôi có dịp về một vùng nông thôn Thái Bình. Đêm nằm cạnh ông chủ nhiệm đúng vào buổi Đài tiếng nói Việt Nam đang giới thiệu về Nguyễn Minh Châu. Nghe được mấy câu tôi hào hứng bảo ông chủ nhiệm: “Anh nghe xem, đây là bài tôi viết đấy”. Nhưng mấy phút sau thì cô phát thanh viên sau khi đọc xong bài đổi giọng: “Các bạn vừa nghe bài viết về nhà văn Nguyễn Minh Châu của nhà phê bình văn học Ngô Thảo."

     Những năm ấy tôi và Ngô Thảo đang sống chung trong một cơ quan và chung một tình yêu với Nguyễn Minh Châu. Thành thử tôi không quá xấu hổ vì chuyện nhận vơ đó mà chỉ thầm nghĩ cái chính là mình chưa tách ra khỏi bạn.

    Lúc này mới thấm thía cái trường hợp mà Tế Hanh từng kể:

    Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế

   Đọc câu thơ đồng chí tưởng thơ mình

    Cũng vì chưa tách khỏi nhau  nên trong giới  không khỏi có tình trạng như thế này. Tức là trong cơn say chuyện anh A vừa phát hiện một ý thật hay  nói cho anh B. nghe, hôm sau đã thấy anh B đi khắp nơi rao giảng lại y như chính mình nghĩ ra và đôi khi còn nhanh nhảu đưa luôn lên báo. Là người trong cuộc, một vài lần bị cướp trên tay kiểu đó  tôi cũng bực lắm, thề sau này không bao giờ thò ra cái ý nào mới cho mấy đồng nghiệp xấu chơi đó nữa. Nhưng rồi có lúc nghĩ lại, nhờ có người đó gợi chuyện mà mình mới nghĩ được ý đó, vậy thì phải cảm ơn anh ta trước. Còn người nào chỉ đi chôm chỉ đi thuổng sẽ không bao giờ đi hết được cái ý tưởng mà anh ta nhanh tay chôm vội đó. Rồi chỉ đến  lượt mình, mình mới đưa được cái ý mà mình phát hiện lên hết độ căng của nó, nó phải gắn với chính mình.    

 *

…  và những di luỵ lâu đời để lại

---  

    Nếu truy đến cùng, lại phải thấy ở đây có cả những nguyên nhân lịch sử.

    Trong thời trung đại ở nhiều nước phương Đông như Trung quốc Việt Nam quyền tác giả còn là một khái niệm xa xỉ. Nhiều người làm thơ viết văn xong vì nhiều lý do khác nhau không dám đề tên mình bên cạnh. Mà người xem cũng chẳng lấy đó làm chuyện bận tâm.

   Tác phẩm lưu truyền như một tác phẩm khuyết danh và cả hai bên người viết cũng như người đọc càng thấy nó trôi nổi càng vui.

    Cũng nên biết thêm là lúc ấy guồng máy phân phối phát hành chưa hình thành; hoặc nói đúng hơn đã hình thành, song tồn tại theo kiểu tự phát mong manh rời rạc. Cụ thể là việc luân chuyển sách phụ thuộc vào mấy bà bán rong sách từ vùng nọ lan ra vùng kia theo kiểu vết dầu loang. Thường xuyên xảy ra cái cảnh một vị hàn sĩ đang đánh võng trong nhà, nghe có người bán sách đi qua thì gọi vào xem chơi. Nhặt được quyển sách hay hay, họ bỏ vài tiền ra mua. Sau một hồi vầy vò ấn bản, cắt đầu cắt đuôi dựng lại cuốn sách, hoặc đơn giản chỉ là thêm vài chữ bớt vài chữ, người ấy lại thả nó vào thị trường tự do.

    Cố nhiên, ở đây không loại trừ trường hợp vị tác giả đến sau kia hồn nhiên xoá tên tác giả đi, hoặc dồn tên người chủ cũ đó vào một chỗ  eo hẹp còn  tên mình thì trương ra thật to.

    Thì đã sao nào - họ nghĩ bụng. Cả cuộc đời này đã là phù vân đã không đáng trọng, thì mấy cái danh hão gọi là quyền tác giả mà làm gì, cả người được và người mất đều không thấy có điều gì phải vấn vương cả.

     Nếu biết rằng một cách làm văn chương cách hiểu về quyền tác giả như vậy đã kéo dài trong trường kỳ lịch sử, thì người ta không lạ những chuyện tuỳ tiện còn xảy ra đến ngày hôm nay.

*

Hãy lấy sự sáng tác của mình để thanh minh cho mình

---

    Tôi nhớ có đọc ở đâu đó một đoạn có liên quan tới Vũ Bằng. Khi bị người ta bắt quả tang chuyện chép từ sách người, ông thanh minh rằng ờ thấy của người ta hay quá thì chép vào cùng đọc, chứ làm chi mà ồn.

    Tức ông không lấy thế làm điều, mà hồn nhiên bắt qua chuyện khác.

    Với tư cách là một người đến sau trong văn học, bản thân tôi bắt gặp ở mình một tình cảm lạ. Là sau khi nghe Vũ Ngọc Phan tố như trên thì sức hút  của  các văn phẩm của ông với tôi vẫn không đổi.

      Tôi tự hỏi tại sao mình lại có biệt nhãn riêng với  Vũ Bằng như vậy, trong khi với một hai người cùng lứa, từ ngày biết rằng anh ta đã dựa hơi đã làm hàng giả từ một số văn phẩm nước ngoài… thì tôi cạch mặt không bao giờ muốn đọc của anh ta nữa.

      Tôi có cái sai của tôi. Ý nghĩ của tôi cứng nhắc quá làm tôi mất một người bạn. May mà với các bậc tiền bối tôi không dám cư xử thế

     Khoảng 1943-44 Vũ Bằng lại có hồi  ký Cai với những thể nghiệm về tư duy văn xuôi ảnh hưởng sang cả một loạt nhà văn khác như Nam Cao Tô Hoài; còn có Thương nhớ mười hai gợi lại đời sống một thời Hà Nội thực là Hà Nội thanh lịch.

     Với các bạn có lần "tay đã nhúng chàm", tôi nghĩ chỉ có cách ta sẽ viết hay hơn; sẽ tìm ra một viết của ta, một giọng thơ giọng văn của ta. Rồi thì thiên hạ sẽ quên hết thời ta còn non dại trứng nước.

      Đây là một sự liên tưởng mà tôi lấy từ sách vở.

    Hồi trước 1954, ở Hà Nội tạm chiếm, có lần tôi đã được đọc một thiên truyện của Lê Văn Trương mang tên Kẻ đến sau. Truyện viết về một người con gái đã có lần nhỡ nhàng với một người đàn ông khác, nhưng sau nhờ giữ được kín đáo nên vẫn lấy được một tấm chồng tử tế. Người xưa vốn kỹ tính, nên anh chồng này khi phát hiện ra mình là một kẻ đến sau thì đau đớn lắm. Nhưng người vợ đã bằng cái hạnh kiểm nết na hiếu hạnh của người đàn bà thời xưa làm cho người chồng phải nghĩ lại và tự hào rằng mình là người hạnh phúc, chắc chắn là hạnh phúc hơn nhiều đức ông chồng tuy được cái tiếng là kẻ thứ nhất làm chủ thân xác vợ, song người đàn bà ấy lại thiếu mọi tư cách của người vợ, người nữ tướng trong gia đình.

---

Bài từng đưa đưa trên blog cá nhân của tôi 19-10-2015

 

 

 


NHỮNG Ý TƯỞNG  SÁNG SUỐT LẠI BỊ COI RẺ

Ngày 31 tháng 7 năm 2021

Sau khi dẫn lại  mấy ý tưởng của Nguyễn Vân Nam, tôi giở sổ và còn tìm thấy nhiều ý tưởng sáng suốt khác từng được phát biểu trên sách báo mấy chục năm nay, nhưng bị xếp xó. Tạm dẫn hai ví dụ

 I/MỘT CUỐN SÁCH VỀ LUẬT

      Trong một lần lang thang trong phòng sách Thư viện Khoa học xã hội, 26 Lý Thường Kiệt Hà Nội, tôi tìm thấy cuốn "Chế ước quyền lực nhà nước" của Nguyễn Đăng Dung do Nhà xuất bản Đà Nẵng cho in 2008.

 Cả phần đầu cuốn sách được viết  với hai ý :

   - Một là sự cần thiết của nhà nước. Nói như Thomas Hobbes trong cuốn Leviathan, cuộc sống mà không có nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự  thì sẽ rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi.

   - Hai là khi đã có quyền lực rồi thì sự lạm dụng quyền lực lại rất dễ dàng xảy ra. Bởi vậy phải có sự chế ước.

     Ở trang 55 cuốn sách, tôi đọc được một đoạn dẫn lại ý của Thomas Madison, người thường được mệnh danh là cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ, như sau:

      Bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người.

     Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền.

     Nếu các thiên thần đóng vái trò cai quản thì sẽ không cần phải có sự kiểm soát với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong.

     Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có khả năng tự kiểm soát mình “.    

        Nguyễn Đăng Dung là một giáo sư khoa luật  Đại học Hà Nội.

    Trong lúc những  công trình gọi là  khoa học của các giáo sư giả cầy chỉ mang nội dung tuyên truyền xoàng xĩnh cũng được báo chí lăng xê thì những công trình có giá trị thực thụ có thể trực tiếp tham gia vào các vấn đề đời sống như thế này chỉ được in ở một nhà xuất bản địa phương và gần như không hề được giới viết lách cả lề trái lẫn lề phải quan tâm.

     Ngày hôm nay 31-7 -2016, tra mạng Google tiêu đề “Nguyễn Đăng Dung Chế ước quyền lực nhà nước" chỉ được 55 kết quả.

     Nếu đi điều tra ở các Thư viện lớn, xem có ai mượn cuốn sách đó không, tôi đoán con số thu được cũng chỉ là "dưới mức khiêm tốn."

     Lưu ý thêm là trong nhiều năm qua, nhiều cuốn sách về các vấn đề khoa học xã hội của các tác giả nước ngoài đã được in ra. Có những cuốn đưa ra  gợi ý để tự ta sẽ tìm lấy câu  trả lời cho nhiều câu hỏi của xã hội hôm nay, nhưng không hiểu sao (?) lại chỉ được in với số lượng rất ít, không bầy bán rộng rãi, đúng ra  gần như bị giấu biệt đi; bọn tôi có khi chỉ do những cớ ngẫu nhiên mà tìm thấy. Rồi từ đây đến chỗ tiêu hóa được những sách đó, còn là một chặng đường dài, mấy ai theo đuổi mãi được. Xu hướng chung là vội phát biểu cho kịp thời mà quên cả nghiên cứu cơ bản.

II/NHỮNG BIẾN THÁI TỪ HAI CÂU THƠ TẢN ĐÀ  

Đạt tới tầm khái quát về dân mình, câu thơ sau đây của Tản Đà thường được nhiều người nhắc lại:

Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đó là một trong những câu thơ loại “sấm truyền” từng được bọn tôi ở Hà Nội kháo nhau từ hồi đầu chống Mỹ, đúng hơn là trước sau 1970.

Bọn tôi nói ở đây là một vài anh em tôi quen, vừa tốt nghiệp đại học trong ngoài nước loại khá, mới được tuyển dụng về làm bên Ủy ban khoa học xã hội. Như, anh Tạ Ngọc Liễn bên Viện Sử, anh Dương Tất Từ bên Viện Văn, anh Bằng Việt bên Viện Luật và nhiều anh khác.

Một trong những băn khoăn của bọn tôi những năm đó là tính xem lúc này đất nước mình đang ở vào một tình thế như thế nào và khoa học xã hội có thể giúp gì cho cuộc sống. Điều đơn giản là  chúng tôi hay đọc lại người xưa, tìm thấy nhận thức của mình trong suy nghĩ của người xưa.

Câu thơ của Tản Đà nói trên còn được đám bạn tôi -- tạm gọi là lớp trí thức trẻ lúc ấy -- đọc trệch đi theo nhiều kiểu.

Dân luật thì

 "Nước bốn ngàn năm không có luật

Dân hai lăm triệu đã thừa người ".

Dân sử thì

"Nước bốn ngàn năm không có sử

Dân hai lăm triệu đã thừa người ".

Nhưng thường nói cho vui vậy thôi rồi trong công việc, chúng tôi lại viết khác hẳn và cái khác hẳn đó sẽ làm nên sự nghiệp của những người năm nay đã ngoại bảy mươi cả một lượt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM  CÂY BÚT ĐỜI NGƯỜI

Ngày 1 tháng 8 năm 2021

(https://nxbkimdong.com.vn/ban-van-ban-minh-cay-but-doi-nguoi)

Trong cuốn sách này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đã phác họa chân dung của 12 văn sĩ, thi sĩ: “Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ”, “Lưu Quang Vũ và một mảng đời, một mảng thơ thường bị quên lãng”, “Nghiêm Đa Văn và rất nhiều dang dở”, “Nguyễn Khải và nỗi hào hứng viết để chinh phục bạn đọc”, “Nguyễn Minh Châu, người viết văn và thời đại”, “Nguyễn Thành Long và một cuộc sống khác”, “Nhị Ca và một triết lý sống hợp lý”, “Thanh Tịnh, cuộc đời Ngậm ngải tìm trầm”, “Tế Hanh, Lời con đường quê”, “Nguyễn Tuân, người nhập vai”, “Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du”, “Xuân Diệu, sống để mài sắt nên kim”.

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn chia sẻ: “Với tư cách một người chuyên viết phê bình văn học, có thể nói tôi có nhiều may mắn, bởi trong suốt cuộc đời làm nghề, tôi luôn có dịp được sống gần gũi với các nhà văn nhà thơ, ở cùng cơ quan, hàng ngày trò chuyện với họ, cùng họ bàn bạc về công việc văn chương cũng như việc đời… Tôi hy vọng không chỉ những người được tôi nói tới mà các bạn văn khác và nói chung tất cả những ai quan tâm đến đời sống văn học đương đại có thể tìm thấy ở những trang sách sau đây những điều bổ ích.

Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn

Sinh năm 1942 tại Hà Nội. Quê quán xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, sau đó gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến đầu năm 1979.

Các bài viết đầu tiên của ông xuất hiện trên báo Văn Nghệ từ năm 1965.

Đầu năm 1968, ông chuyển về công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân đội, tới 1979 ông sang làm việc cho Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Thời gian đầu ông tập trung mảng phê bình văn học đương đại là chủ yếu, sau đó ông quan tâm đến các nhà văn tiền chiến.

Các tác phẩm chính:

• Sổ tay truyện ngắn (sưu tầm, biên soạn, dịch, 1980)

• Bước đầu đến với văn học (tiểu luận phê bình, 1986)

• Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (kể chuyện đời sống văn học, 1986)

• Những kiếp hoa dại (chân dung và phiếm luận văn học, 1993)

• Cánh bướm và đóa hướng dương (tiểu luận phê bình, 1999)

• Cây bút, đời người (chân dung văn học, 2002)

• Những chấn thương tâm lý hiện đại (phiếm luận, 2009)BẠN VĂN

BẠN MÌNH

V ư ơ n g T r í N h à n***

Bộ Bạn Văn Bạn Mình tuyển chọn những cuốn chân dung văn học đặc sắc. Từ cuốn sách phê bình văn học đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, tới những cuốn sách có tư liệu hiếm, độc bản, lần đầu được công bố… Những câu chuyện vô cùng hấp dẫn và thú vị. Kho tư liệu dồi dào, bao quát về lịch sử văn chương.

Cùng tìm đọc bộ sách Bạn Văn Bạn Mình (10 cuốn):

Bạn Văn Bạn Mình: Đốt Lò Hương Cũ

Bạn Văn Bạn Mình: Chân Dung Văn Học

Bạn Văn Bạn Mình: Phê Bình Và Cảo Luận

Bạn Văn Bạn Mình: Hình Dung Và Tâm Tưởng

Bạn Văn Bạn Mình: Mười Chín Chân Dung Nhà Văn Cùng Thời

Bạn Văn Bạn Mình: Cây Bút Đời Người

Bạn Văn Bạn Mình: Những Gương Mặt

Bạn Văn Bạn Mình: Văn Thi Sĩ Hiện Đại

Bạn Văn Bạn Mình: Bạn Văn

Bạn Văn Bạn Mình: Văn Thi Sĩ Tiền Chiến

(https://nxbkimdong.com.vn/ban-van-ban-minh-cay-but-doi-nguoi)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRƯỚC NHỮNG VẺ ĐẸP ĐANG BỊ ĐÁNH MẤT

Ngày 9 tháng 8 năm 2021

Có một thời gian ở tạp chí Văn Nghệ quân đội, tôi được phân công quản phần nghệ thuật, nghĩa là đi viết hoặc đặt bài người khác viết về các triển lãm, các bộ phim mới ra mắt và hoạt động của các đoàn văn công.  

Trung thu 1971, sau khi đi biểu diễn ở các đơn vị vận tải biển cho chiến trường miền Nam, Đoàn văn công Hải quân được đưa về nghỉ tại  khi biệt thự của tướng Giáp tại Bãi Cháy Quảng Ninh.

 Tôi được phân công xuống đó viết về Đoàn.

Trước khi đi làm báo, tôi đã có một năm làm giáo viên ở Đoàn  kịch nói Tổng cục chính trị.

 Kinh nghiệm cho tôi biết là con người và tài năng của các diễn viên  bộc lộ đáng yêu nhất, không phải những khi họ ra biểu diễn trước khán giả, mà là trong những buổi biểu diễn nội bộ. Ở đó, họ được trở về với chính mình. Mà ở đó, họ có những đối tượng hết sức khó tính cần phải chinh phục— là các đồng nghiệp cùng đoàn --, nên cái khao khát bộc lộ chính  mình càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Lần này, đến với văn công hải quân tôi cũng được dự một buổi tương tự. Biển. Trăng. Và nghệ thuật ở cái phần hồn nhiên tốt đẹp nhất  của nó. Buổi tối  hôm đó kỳ diệu đến nỗi tôi tin rằng không bao giờ tôi có diễm phúc gặp lại nữa.

Để giữ cho nó khỏi phai nhạt, hôm sau, tôi phải lập tức từ giã Đoàn.

***

Tôi nhớ lại cảm giác trên, khi chợt nhớ ra dạo này mình rất ngại lên Đà Lạt, thậm chí ngại đọc cả những bài nói rằng  Đà Lạt đang bị làm hỏng, cái mảnh đất châu Âu này đang trở nên tầm thường dung tục đi ra sao. Xã hội chúng ta đang ngày càng thích học đòi theo những cái tân tiến và có cái vẻ như là đa dạng hóa. Nhưng đó chỉ là bề ngoài,  cái gốc  của nó là một xã hội đồng phục, cái quan niệm "mọi con người mọi miền đất phải có hồn cốt giống nhau", vẫn ngự trị như cũ,  hỏi làm sao mà một vẻ đẹp quý tộc như Đà Lạt có quyền tồn tại .

Mấy năm nay xuất hiện nhiều  những bài báo cuốn sách nhắc lại vẻ đẹp hôm qua của Đà Lạt trong đó cuốn  "Đà Lạt một thời hương xa" của Nguyễn Vĩnh Nguyên  về mặt nội dung cho đến cách trình bày đều đáng gọi là một tuyệt phẩm. Những trang miêu tả sinh hoạt của các nghệ sĩ dừng lại ở Đà Lạt trước khi về Sài Gòn, tôi đọc được một ít mà cứ thấy buồn buồn và không dám đọc tiếp. Ngược với những vẻ đẹp ngầu đục đang bao quanh tôi hiện nay, tôi cảm thấy đó là những vẻ đẹp thanh cao sang trọng, nó đã tan biến đi lâu lắm và ngày nay người ta không sao tái tạo lại được. Tôi có cảm tưởng cách làm việc như của Nguyễn Vĩnh Nguyên là ngược với phần lớn các cây bút hiện nay. Trong khi  đa số người viết  chúng tôi khá nhất cũng  chỉ lo chinh phục những người đương thời thì tác giả cuốn sách này đang hướng cả về những thế hệ bạn đọc sắp tới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHÂN DUNG NHÀ VĂN 

QUA 'CÂY BÚT ĐỜI NGƯỜI'

Ngày 13 tháng 8 năm 2021

• TS Mai Anh Tuấn

Sách "Cây bút đời người" của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vương Trí Nhàn tái hiện con người đời thường và con người sáng tạo của các nhà văn.

Trong cái nhìn của nhà phê bình Vương Trí Nhàn, một nhà văn thực sự đúng nghĩa không chỉ hiện diện trên tác phẩm, mà thường xuyên và quan trọng không kém, còn ở trong đời sống.

Ở đó, họ cũng là con người với tất thảy tính tốt hay thói xấu, với những mơ mộng, trăn trở, lao động nghề nghiệp vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa đơn độc, nhọc nhằn.

Nhà văn, nghề văn không biến ai đó trở nên khác biệt mà ngược lại, chính tư cách đó làm họ gần gũi, sinh động hơn giữa nhân gian vốn dĩ muôn hình vạn trạng.

--

BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NHÌN RA PHẨM TÍNH NHÀ VĂN

Lựa chọn viết về các nhà văn, theo Vương Trí Nhàn, là một cách phác thảo, tái hiện con người đời thường và con người sáng tạo của họ. Muốn vậy, người viết ít nhất phải có khả năng quan sát kỹ lưỡng, phải thu thập nhiều dữ liệu, từ tác phẩm, con đường văn chương đến tính cách, lối sống của nhà văn.

Có dữ liệu nhưng cũng phải biết sắp xếp, đặt trong bối cảnh thời đại, trong những biến chuyển cá nhân lẫn văn đàn để không bị cuốn theo những cả tin, phong thanh, vô sở cứ, càng không bị cảm xúc yêu ghét thuần túy lấn át góc nhìn.

Vương Trí Nhàn đã duy trì được bản lĩnh, vị thế của người quan sát như vậy, một phần vì ông từng trải qua công việc nghiên cứu, phê bình; phần khác vì, như ông tự thấy, có may mắn tiếp xúc trực tiếp, trò chuyện, bàn bạc “về công việc văn chương cũng như việc đời” với nhiều nhà văn nhà thơ.

Ông cũng đủ tỉnh táo để không thiêng hóa văn nhân, nhìn ra trong văn giới “có thánh thần và có ma quỷ”, “phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý”. Khôn ngoan khi giữ một cự ly gần, với thái độ trân trọng, đồng cảm và tri âm, Vương Trí Nhàn lần lượt dựng lại 12 chân dung nhà văn mà ông đã dành nhiều năm nghiền ngẫm.

Trong số đó, có người cùng thế hệ Vương Trí Nhàn như Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, có người nổi danh trong giai đoạn văn chương kháng chiến chống Mỹ như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thành Long, lại có người là tác giả lớn từ trước 1945 như Tô Hoài, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu.

Mỗi người một kiểu, nhưng hấp dẫn và có thể gợi ít nhiều suy nghĩ cho văn đàn hôm nay, theo tôi, là những phát hiện của Vương Trí Nhàn về phẩm chất nhà văn của họ.

Đó phải là người khao khát được học, vượt qua ngưỡng hạn chế học vấn như Xuân Quỳnh; là người thể hiện được cảm xúc thật của mình trên trang viết, dẫu nó khác thời và khác người, như Lưu Quang Vũ; là người sống sôi nổi, phiêu lưu nhưng không nên tản mát văn tài như Nghiêm Đa Văn.

Phẩm chất nhà văn đôi khi hiện hữu ở tinh thần chấp nhận cái khổ, thiếu thốn, một sự “dễ dàng trong cách sống” như Nguyễn Khải, nhưng đôi khi, cũng nên “lơ mơ sự đời”, ngay giữa đám đông “vẫn có thể chìm đắm trong những suy nghĩ riêng” như Nguyễn Minh Châu.

Người biết nhiều chuyện và có thể mang được “đủ thứ chi tiết linh tinh” vào trang viết như Tô Hoài phải là người “sòng phẳng và biết tới biết lui”, “lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt!”; người “rù rì lần bước” ngoài đời lại định hình được một phong cách “hoàn chỉnh và ổn định” trong thơ như Tế Hanh.

Một người có hoàn cảnh xuất thân “làng nhàng”, ốm đau bệnh tật, đến với phê bình văn học vừa muộn vừa “cam tâm chấp nhận rằng mình thất bại trong việc đời” nhưng nếu biết “vừa học vừa chơi mà tiếng Pháp học được vẫn đủ để kiếm công ăn việc làm khi ra đời” thì cũng có chút đóng góp dịch thuật văn học như Nhị Ca.

Cũng có người sớm bộc lộ tài năng, tác phẩm phổ biến rộng rãi, khi gặp điều kiện sống khó khăn thì “trở nên sinh động tự nhiên” nhưng khi gặp hoàn cảnh ổn định thì “yếu đuối” đến mức không viết được gì đáng kể như Thanh Tịnh...

Phẩm tính nhà văn, rõ ràng, là một đại lượng khó lường, càng không dễ qui vào tốt xấu rành rẽ. Chúng nổi trội, nhất quán ở người này nhưng cũng biến đổi, đứt gãy ở người kia.

Dĩ nhiên, phẩm tính đó cũng cần được rèn luyện, bồi đắp và, như Vương Trí Nhàn nhấn mạnh, phải kinh qua sáng tạo, qua dòng chảy cuộc đời. Không có một kiểu nhà văn chung chung, chỉ có nhà văn của con người này, số phận và cuộc đời này, cụ thể và duy nhất.

TƯ LIỆU VỀ MỘT THẾ HỆ NHÀ VĂN TÀI NĂNG

Không chủ trương viết văn học sử nhưng cuốn sách của Vương Trí Nhàn cũng là tư liệu giúp độc giả hôm nay nhìn lại, hiểu rõ hơn về một thời đoạn văn học đầy biến động, nhất là từ khoảng sau năm 1954 đến đầu Đổi mới.

Thời đó, như trang sách gợi dẫn, có những ràng buộc oái oăm khiến nhà văn khó lòng thành thật, viết thật, hoặc, không cách nào khác, phải thích ứng thời cuộc chóng vánh.

Nguyễn Tuân cũng “nhập vai”, Tô Hoài “muốn viết gì thì viết, không định bụng thế này thế kia, mà cũng sợ mang tiếng khi viết”, Nguyễn Khải có “lối phù thịnh một cách rất tự nhiên”, Nguyễn Thành Long “người căn bản là lành, căn bản là tốt” mà thỉnh thoảng gặp phải “những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ”...

Giữ một cự ly gần, với thái độ trân trọng, đồng cảm và tri âm, Vương Trí Nhàn dựng lại 12 chân dung nhà văn mà ông đã dành nhiều năm nghiền ngẫm.

Vương Trí Nhàn nhìn thấy ở họ những băn khoăn, chất vấn nội tâm trước trang văn, đồng thời cũng có những thỏa hiệp, xoay xở để sống, làm việc một cách bình thường.

Một thế hệ tài năng, nhiều khao khát, “vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới đời sống văn hóa khác” như Vương Trí Nhàn chứng kiến, rút cuộc, vẫn không tránh khỏi những ảo tưởng, vụng về và mệt mỏi khi bước tiếp hành trình văn chương. Có lẽ, nếu có một giá trị mẫu mực nào đó từ những nhà văn này, có thể làm cẩm nang cho thế hệ cầm bút hiện nay, thì tôi nghĩ, đấy là những nỗ lực lớn, cả trong nhận thức lẫn việc làm, khi lựa chọn nghề cầm bút.

Tài năng hay hoàn cảnh văn hóa xã hội hẳn cần thiết, và là nền tảng để đạt thành tựu, nhưng sự cố gắng, tự học và tự trưởng thành của người viết cũng tựa như nguồn năng lượng bứt phá lâu dài. Đây là điểm mà văn học sử ít khi tường tận, nên độc giả, để hiểu một đời sống văn chương đúng nghĩa, phải tìm đến tư liệu của người trong cuộc.

Bản thân một số nhà văn mà Vương Trí Nhàn nhắc tới trong cuốn sách cũng từng viết, xuất bản nhiều tập tiểu luận - phê bình, chân dung văn học đặc sắc như Trang giấy trước đèn của Nguyễn Minh Châu, Tản mạn trước đèn và Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nghề văn cũng lắm công phu của Nguyễn Khải...

Viết chân dung văn học, nhất là lối viết kết hợp giữa kể, hồi ức, tâm tình và nhận định, đánh giá như cuốn Cây bút đời người thể hiện, luôn là cơ hội để bộc lộ chính bản thân người viết. Dẫu tự đặt mình ở vị trí lắng nghe, quan sát và ghi chép, Vương Trí Nhàn cũng không giấu cá tính, quan điểm và trải nghiệm văn chương của mình.

Ông dẫn dắt, chắp nối sự kiện nhưng khi cần, sẽ diễn giải, phân tích. Ông miêu tả, so sánh, kể lể nhưng không quên tranh luận, đối thoại. Ông cho thấy cơ sở của “họa người” là phải hiểu văn, hiểu “ngoài trời còn có trời”, nhưng cũng cần buộc mình nghĩ sâu hơn, phát hiện khía cạnh mới.

Chưa kể độ lùi thời gian giúp ông tìm ra nhiều góc nhìn thấu đáo hơn. Trước thái độ thẳng thắn nhưng chân tình của Vương Trí Nhàn, tôi thấy các văn nhân xưa ít ra gặp may mắn, bởi họ không bị đặt trong những cái viết cuống cuồng, thêu dệt và thù tạc như đang phổ biến trên văn đàn hiện nay.

Viết chân dung nhà văn, xét cho cùng, chẳng công kênh hay làm mất mặt được ai, nhưng vẫn là thể loại giúp người viết tự họa được bản tính và kiến văn của mình.

**

Cây bút đời người của Vương Trí Nhàn in lần đầu năm 2002 (NXB Trẻ), được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B hạng mục phê bình, lý luận năm 2003. Sách tái bản năm 2005 (NXB Hội nhà văn). Mới đây, NXB Kim Đồng in lại cuốn sách này trong tủ sách Bạn văn Bạn mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI

Ngày 14 tháng 8 năm 2021

Tiếp tục câu chuyện

về bộ "Quốc văn giáo khoa thư"

Theo quan niệm về giáo dục ta hiện nay, trẻ em như tờ giấy trắng, chỉ cần nói ra những việc tốt phải làm là trẻ noi theo.

 Còn những người soạn sách ngày trước nghĩ khác, theo họ trước khi đến trường, các em đã nhiễm sẵn rất nhiều thói xấu từ gia dình và xã hội.

Và lẽ tự nhiên là người ta phải dành một số lớn bài giảng để giúp các em vượt qua những thói xấu vốn đã tiêm nhiễm một cách tự nhiên vào tâm trí.

Tôi cho rằng đây là một quan niệm hiện đại về con người, còn các nhà soạn sách tiểu học của  chúng ta ngày nay hiểu về tuổi thơ quá đơn giản và cổ lỗ nên mới làm ngược lại.

Những ví dụ nêu ở phần đầu bài này tưởng đã đầy đủ

Những tư tưởng quá ấu trĩ mà bây giờ ta hay mắc còn được các nhà biên soạn cuốn "Quốc văn giáo khoa thư" vượt lên qua nhiều trường hợp khác .

Ví dụ ngày nay trong gia đình và nhà trường ta hay dạy trẻ "Ở hiền gặp lành."

Nhưng đó là quan niệm dân gian  liên quan đến tư duy nguyên thủy.

Còn  một tư duy hiện đại sẽ đề ra công thức "Ở hiền có thể gặp lành mà cũng có thể không gặp lành", và người ta không nên đòi hỏi chỉ gặp điều lành thì mới làm điều thiện.

Mở trang 44 quyển sách tôi nói,  có bài "Người đi đường và con chó."

Bài này kể chuyện có một người cưỡi một con ngựa đến đầu làng kia, chú chó nhà gần đấy sủa cắn mãi làm con ngựa sợ, chạy lồng lên.

Người cưỡi ngựa tức giận vô cùng, muồn giết ngay con chó, mới bảo rằng: “Tao mà có súng, thì cho mày một phát là hết cắn. Nhưng mà được, tao đã có có cách làm cho mày chết."

Nói xong, người kia chạy đến giữa làng, kêu to lên rằng; “Chó dại! Chó dại”.

Những người xung quanh đấy, nghe tiếng kêu chó dại, liền vác gậy, vác xẻng ra đuổi đánh chết con chó.

Gớm thay cho lời nói của người ta, có khi giết hại được hơn là đồ binh khí."

Chắc các bạn cũng thấy cái tư tưởng được nêu ra ở đây hết sức là hiện đại, chỉ những con người  sống qua những tao loạn thời nay  mới hiểu được.

Nó nói về một hành động chính trị , tức việc tổ chức dư luận xã hội như thế nào.

Khi ngay từ 1926 đã đưa nó thành bài học cho học trò tiểu học, những người soạn sách thật đã có sự tôn trọng đối với lớp trè.

Họ đã chuẩn bị cho các em nhìn nhận sự sống với tất cả các vẻ phức tạp của nó.

 Trong bộ "Quốc văn giáo khoa thư" đang nói còn nhiều bài có những ý tưởng rất phức tạp mà cần thiết như vậy.

Bài "Cần phải giữ tín hạnh của mình" đề cập tới  chuyện một người đi đôi giày mới vào con đường đất sau mưa, ban đầu còn rón rén giữ gìn,  sau một lần vô ý làm bẩn giày, thế là cứ đi ào ào giày có bẩn thật thậm tệ cũng mặc.

Đây là một ví dụ cổ điển về thái độ hư vô trong cuộc sống của con người.

Bài trang 86 mang tên "Chuyện một người thợ đá có lương tâm", " kể rằng khi phải khắc lên bia đá những điều trái với ý mình, một người thợ đá đã bảo với viên quan đặt hàng ông ta làm: “Bắt làm thì tôi xin làm, nhưng xin tha cho đừng bắt khắc tên người thợ đá dưới bia.”

Cái sự trọng danh dự nghề nghiệp ấy thời nay chẳng thấy ai nhắc lại nữa.

Tôi liên hệ tới nghề viết văn viết báo mà mình theo đuổi cả đời và thấy rằng những người cầm bút thời nay nên tiếc là ngay từ thời trẻ không được học những bài tương tự.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂU CHUYỆN TOILET

Ngày 24 tháng 8 năm 2021

Một bài trả lời phỏng vấn  của tôi hơn mười năm trước.

***

Trò chuyện với chúng tôi về chuyên đề Toilet - Nhà nghiên cứu Văn hóa Vương Trí Nhàn phát biểu: Đại tiểu tiện là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và yêu cuộc sống hơn.

HỎI

Được biết trong những vấn đề được ông quan tâm, khi nghiên cứu văn hoá, có cả câu chuyện toilet. Xin ông cho biết lý do gì mà ông lại có sự chú ý tới nó như vậy?

TRẢ LỜI  

Tôi thấy ở Việt Nam cứ nói đến văn hóa thì nghĩ đến những chuyện cao xa trừu tượng, hoặc hoa lá cành cờ đèn kèn trống. Trong khi đó phong cách sống của mỗi cộng đồng, bao gồm suy nghĩ, ăn ở, đi lại... tất cả những cái đó đều là văn hóa. Một nhà nghiên cứu Trung Quốc là ông Kim Văn Học (Kim Wen Xue) đang dạy đại học ở Nhật có viết sách so sánh văn hóa Trung Hoa - Hàn Quốc và Nhật Bản, từng nói tới cả cách sử dụng toilet và cách trang trí phòng tắm của mỗi nước. Bản thân tôi, khi đọc sách và đi du lịch ở nước ngoài thường quan sát xem các hiện tượng như nước thải rác đã được người ta giải quyết ra sao. Sự chú ý tới toilet là nằm trong cái mạch đó. Trong cuốn sách nói trên (đã được dịch ra tiếng Việt), Kim Wen Xue cho biết toilet của Hàn Quốc là phòng hóa trang, vào đó đọc sách và suy nghĩ; còn ở Nhật, chỉ riêng hương liệu và nước thơm cao cấp dùng trong toilet cũng đã có mấy chục loại. Một nhà văn hóa Trung Quốc đã nói:“Tư thế và cái mông là thước đo quan trọng có thể đánh giá được mức độ thành thực của một loại văn hóa sánh với lễ tiết của dân tộc”. Một nhà văn khác đã miêu tả dáng vẻ trong nhà xí là: “Chân đạp hai hòn gạch, du nhàn ngắm nam sơn”.

 HỎI

Thế còn ở Việt Nam, theo ông đánh giá tình hình ra sao?

TRẢ LỜI  

 Hãy bắt đầu bằng ngôn ngữ. Ai đã đi Trung Quốc đều biết, ngoài chữ W.C, bên ấy họ thường gọi nhà vệ sinh là “ce suo” tức xí sở, hoặc “xỉ shou jian” tức nơi rửa tay. Còn ở ta, người mình thậm chí không có cái tên nào để gọi cái nơi ấy cả. Cái chữ “xí” là do ta mượn của họ. Có vẻ như người Việt rất coi thường chuyện này, ai cũng phải làm, nhưng không ai muốn nói tới. Nó nằm trong một căn bệnh lớn hơn là bệnh cẩu thả, sống thế nào cũng xong. Bạn có nhớ câu: “Thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng”? Người mình thích xả chất thải ra tự nhiên chung quanh một cách vô tội vạ như vậy, coi đó mới là khôn, là biết sống. Bừa bãi là một cách để chứng tỏ mình hơn người và mình bất cần đời. Nên nhớ thời xưa, trong ngôi nhà của người Việt mình, các phòng không có sự ngăn cách, mỗi cá nhân không có khoảng không riêng. Điều này đánh dấu trình độ sống đơn giản, con người chưa tách khỏi nhau mà còn sống lẫn với nhau. Theo tôi quan sát, xu thế sống bày đàn thế này còn có mặt cả trong đời sống hiện đại.

HỎI

Toilet xưa trong ký ức của ông là gì? Nó có quá… kinh khủng, hay mang chút vui buồn gì không?

TRẢ LỜI  

Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng Hà Nội trước năm 1954 là Hà Nội của chiến tranh, chỉ toàn dân ngụ cư chạy loạn. Hồi ấy dân ở rộng lắm, nhà tôi ở Thụy Khuê, một vùng ngoại ô với ba gian nhà lá trên một khoảnh đất đi thuê rộng tới gần 200 m2. Nhưng tôi nhớ rằng lúc đầu nhà tôi cũng không có nhà vệ sinh. Mỗi khi có nhu cầu, là ra một bãi hoang phía đường Hoàng Hoa Thám. Vài năm sau, người ta xây lên ở đó một dãy nhà vệ sinh công cộng để lấy phân, nhưng chỉ là mấy tấm phên che tạm bợ. Hà Nội hồi xưa có ông Năm Diệm chuyên làm thầu nhà xí, quản lý đội đổ thùng. Phần lớn các nhà khu phố cổ đều có người đến đổ thùng, còn các xóm ngoại ô như Thụy Khuê thì có dân Cổ Nhuế quản. Dụng cụ nghề nghiệp của họ là đôi quang gánh và một cái gáo nhỏ làm bằng thiếc, tròn như cái nón lật ngược. Lúc này nhiều gia đình đã có hố xí riêng làm ngay cạnh nhà, nhưng rất sơ sài, không phải tự hoại. Cứ độ vài hôm là có các bà Cổ Nhuế xuống lấy, mà lúc nào xuống lấy thì bẩn lắm. Xin kể thêm một chi tiết về cuộc sống của Hà Nội trước năm 1954, ở phố Hàng Buồm. Thời ấy Hoa Kiều nhiều lắm và họ sống trong những ngôi nhà cũ chật chội đến mức không có cả nhà vệ sinh. Nhiều khi tiếp khách, họ ngồi ngay trên cái bô vừa chuyện trò vừa đi giải, đi đại tiện, một cách tự nhiên. Xong việc họ đẩy cái bô vào gầm giường.

 HỎI

Vâng, trong quá khứ câu chuyện đi toilet thật là vừa bi vừa hài, nhưng xin hỏi ông, thời của công nghệ, hẳn chuyện toilet phải tiến bộ lắm rồi?

TRẢ LỜI  

Có nhiều nhà Việt Nam mới xây, có nhà, diện tích ở thì rộng, mà khu vệ sinh thì chật. Có vẻ như nó hoàn toàn không được chú trọng, chỉ cốt là có, và chi phí càng ít càng tốt. Nhưng mọi chuyện sẽ biến đổi dần dần. Có lần tôi nghe đứa cháu nói: “Cậu ơi, công trình phụ bây giờ là công trình chính đấy ạ” thì tôi à lên rằng, giờ đây, người ta đã biết sống rồi! Chừng nào ở nông thôn cũng như Hà Nội có những nhà vệ sinh hiện đại, tốt, và người Việt Nam biết tận hưởng niềm vui trong khi đi giải quyết chất thải, thì khi đó là Việt Nam chúng ta đã trưởng thành.

HỎI

Một vài nhận xét của ông khi chúng ta thử nhìn rộng ra cả xã hội, nhất là nơi công cộng?

TRẢ LỜI  

Chuyện này thì khó khăn thật. Tôi đã thường cố gạt đi mà đôi lúc vẫn không tránh khỏi cảm tưởng Hà Nội chưa bao giờ nhếch nhác như bây giờ. Thực tế, từ cái nghèo mà người ta bẩn, có điều sau đó, khi đã giàu lên, người ta vẫn không để ý đúng mức tới sự vệ sinh. Không kể chuyện rác chuyện cống rãnh, ngay chuyện đại tiểu tiện, so với những năm chiến tranh, chẳng những không khá lên được bao nhiêu, mà có nhiều mặt còn tệ hại đi. Có bao giờ chúng ta thử đếm xem tỷ lệ nhà xí công cộng so với mật độ dân ở Hà Nội ra sao? Có lẽ trên thế giới này không có thành phố nào lại ít nhà vệ sinh công cộng như Hà Nội. Mọi người toàn giải quyết ở gốc cây, góc tối. Đói kém lâu ngày, ta đâm ra coi thường vệ sinh. Rồi khi biết ra thì lại bài bậy, thậm chí lại lý tưởng hóa nó, coi nó là đặc trưng là bản sắc, không ngồi ăn bên cống rãnh không phải là người Hà Nội (!). Cách sống cũng như cách nghĩ ấy chỉ chứng tỏ Hà Nội còn là một thành phố kiểu trung đại. Và nếu biết rằng, mỗi ngày có khoảng 500 ngàn người các tỉnh lân cận, từ bà bán rau đến anh xe ôm, anh thợ nề, máy cô quang gánh ngồi đầu phố đến chợ người – tất cả đổ về Hà Nội, quần thảo Hà Nội. Phần lớn Hà Nội được xây dựng bằng thợ từ nông thôn lên, các cửa hàng ăn Hà Nội được phục vụ bằng những ô-sin tỉnh lẻ, thì chúng ta hiểu rằng mọi chuyện không thể khác được.

 HỎI

Quay trở lại từng gia đình: phải chăng nhìn vào toilet, có thể liên tưởng phần nào đến mức sống của gia đình đó ?

TRẢ LỜI

Vâng, xã hội ngày càng thêm những người giàu lên. Tôi muốn nhấn mạnh giàu trên hai phương diện: cả tiền bạc vật chất tiện nghi, và cả đời sống tinh thần. Tức là không phải cứ sắm đồ thật nhiều, thật sang, mới là sành điệu, là giàu. Tôi có nghe người nước ngoài nói dân Việt Nam tiêu tiền ác lắm, các loại toilet mới nhất, bao tiền họ cũng mua. Nhưng có một điều cần suy nghĩ: nó không đồng bộ, nó khập khiễng. Khi mua, người ta không tự hỏi nó đã phù hợp với gia đình mình chưa, và cái quan trọng nhất là cách sử dụng các thiết bị đó ra sao để nó trở thành một nhân tố thực sự mới mẻ. Đã là văn hóa sống thì không phải ngày một ngày hai là đạt được ngay!

 HỎI

Vậy đâu là dấu hiệu của trình độ mà ông nghĩ là chúng ta phải tiến tới?

TRẢ LỜI  

 Nếu con người chỉ biết sống trong đám đông ồn ào và lẫn mình đi thì chưa phải là con người văn hóa. Tôi muốn nhấn mạnh tới con người có cuộc sống riêng, con người đơn độc. Sở dĩ thời nay người ta đọc sách ít vì người ta không có nhu cầu đó. Và nhu cầu đơn độc này cũng liên quan đến văn hóa toilet. Chỉ có thể bảo niềm vui sướng đã đến với con người trong phòng toilet khi mỗi cá nhân, đồng thời với việc giải quyết một trong tứ khoái đó, có dịp nghĩ về mình, mình là gì, mình đang ở chỗ nào, mình sống như thế nào. Những lúc đơn độc đó mang lại cho chúng ta một niềm sung sướng cao cả thanh khiết.

 HỎI

Còn ông, ông thích một không gian toilet thế nào?

TRẢ LỜI  

Tôi biết hiện nay có nhiều người sùng bái tiện nghi, sau khi săn tìm được của lạ, của độc, nhiều tiền, thấy mình đã ghê gớm lắm. Đó phần nhiều cũng chỉ là hạng giàu sổi, tôi chả ghen tị với họ làm gì. Tôi đang sở hữu một không gian toilet đơn giản, hợp với mức sống của tôi. Tôi sống với nó một cách tự nhiên, vào ra không thấy bị cách bức, ngần ngại. Ở đó, tôi không làm phiền ai mà cũng không tự làm phiền mình. Đang làm việc dở có khi tôi cầm cả cuốn sách theo vào đó mà tiếp tục đọc. Trên sáu mươi tức tuổi đã già, nhưng tôi nghĩ, ở phương diện này, bây giờ mình mới được sống!

Xin cảm ơn ông!

Lan Anh(09/10/2007)

DEP online

Đã đưa lại trên blog VTN 27-8-2009 và 15-8- 2013

 

 

 

 

CUỐN SÁCH MỚI VỀ NHO GIÁO

Ngày 31 tháng 8 năm 2021

NXB Hồng Đức và công ty Văn Lang vừa cho in bộ sách gồm nhiều tập sách nhỏ, mỗi cuốn là bản dịch một  Dẫn Nhập về các vấn đề văn hóa do Oxford University Press chủ trương.

Trong khi một số bạn khác chú ý tới các mảng sách về các vấn đề hiện đại, tôi lại chú ý đến cuốn sách viết về đề tài Nho giáo:

Ảnh tôi đưa ở đây là  bìa cuốn Confucianism – A Very short Introduction.

Từ lâu tôi quen đọc về Nho giáo qua sự hướng dẫn của các tri thức Sài Gòn trước 75, trong đó dễ đọc nhất là Nguyễn Hiến Lê. Cái mạnh của ông Lê -- nó cũng là lý do chính tôi thích đọc ông -- là nhìn triết học cổ điển phương Đông  kết hợp giữa quan niệm Trung Hoa  với ánh sáng của phương Tây, trong đó phương Tây là chủ đạo.

Các tác giả Đông Phương học Anh Pháp Mỹ được ông Lê trích dẫn có nhiều, tôi không ghi lại ở đây được,  chỉ tin chắc họ đã  viết ra  những cuốn tốt nhất vào thời của ông.

Nay cuốn sách của Daniel. K Gardner có vẻ như bao gồm được những phát triển mới về Nho học ở phương Tây hai ba chục năm nay -- có thể tin điều này nếu  xem phần thư mục cuối sách .

Trong phạm vi hơn 200 trang, khổ 12x20cm tiếng Việt, tôi thật sự thấy sáng rõ hơn về một hai điểm cơ bản trong Nho giáo.

Ở bìa 4 của cuốn sách, các nhà biên tập đã viết ..

“Gardner khám phá những ý tưởng lớn của truyền thống Khổng học, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của nó trong đời sống Trung Hoa, tập trung vào hai câu hỏi triết học quan trọng nhất.

- Điều gì tạo nên một con người tử tế?

- Điều gì lập nên một chính quyền tốt?

Đồng thời tác giả cũng mô tả cách các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống Nho gia (các hậu duệ của Khổng tử) đáp ứng mỗi chủ đề ra sao.

Gardner đã làm sáng tỏ cái ý Nho giáo vẫn tồn tại trong các khía cạnh cuộc sống hiện đại. Hiện nay, người dân Trung Quốc lại một lần nữa tìm đến giáo lý của Khổng Tử để tìm lời giải đáp cho các vấn đề của một thời đại đầy biến động về kinh tế và xã hội."

Trong hoàn cảnh Việt Nam, tôi đã được đọc quá nhiều lời chê trách về sự lạc hậu của đạo Khổng thậm chí tác dụng phản động của học thuyết này.

 Nhưng bản thân tôi lại thấy chính ra Khổng tử vẫn là một nhà triết học thích hợp với đời sống hiện đại.

Chủ đề thứ nhất của Khổng tử trên vừa nói là đào tạo con người. Lẽ nào đó không phải là vấn đề của mọi thời đại?

Và điều thứ hai, cái câu hỏi "điều gì lập nên một chính quyền tốt" cũng đã thực sự mở ra cho các bạn đọc thấy một khía cạnh mà những người nghiên cứu về Khổng tử thời nay ở VN hay bỏ qua. Nho giáo là học thuyết cai trị và quản lý xã hội.

Kết luận của cụ Khổng khá đơn giản: Nếu xã hội không hình thành nên nổi chính quyền tốt thì trước sau con người trong xã hội đó sẽ tha hóa hư hỏng.

Tôi rất tâm đắc với cái ý tác giả Gardner cho rằng Khổng giáo thích hợp với xã hội hiện đại.

Dù không đủ sức chứng minh nhưng toàn bộ kiến văn tôi từng thu nhận được và cả lương tri vốn có lại mách bảo tôi rằng đến nay đạo Khổng vẫn là một lý thuyết chính trị phù hợp hơn cả với một hoàn cảnh của một dân tộc như dân tộc ta --  đây là  nói đạo Khổng ở phần tinh hoa tốt đẹp của nó chứ không phải đạo Khổng được nhà nước chính thống ở quê hương ông rao giảng và truyền bá.

Không nên vì đạo Khổng phát sinh từ một quốc gia đang hiếp đáp bắt nạt chúng ta mà rẻ rúng và lảng tránh nó, hơn nữa nói bừa về nó.

 

VỀ CÁCH MIÊU TẢ HOA SEN VÀ LÝ DO YÊU HOA SEN

Ngày 2 tháng 9 năm 2021

I/

Bài viết sau đây được anh Trần Đình Sử đưa ra trên FB của mình ngày 30-8 :

KHUYẾT ĐIỂM CỦA BÀI THƠ TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN

Bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” được dạy trong nhà trương phổ thông, không ai là không thuộc. Tranh luận xung quanh bài thơ này có nhiều. Nay tôi muốn nêu một ý, có thể là mới. Sen có một đặc điểm khó quên, đó là mùi hương đặc biệt, thơm cả hoa, cả hạt, mứt sen, chè sen vẫn ngạt ngào một mùi thanh tao, quý phái. Ấy vậy mà bài thơ chỉ khen “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”, tức khen màu sắc. Câu cuối lại khen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Khen như thế chẳng khác nào thấy một cô gái đẹp mà chỉ khen cô ấy ăn mặc chỉnh tề, ngoan ngoãn, không khen sắc đẹp là cái hiếm có nhất. Vì sao tác giả bài thơ lại mù điếc về mùi thơm như vậy? Đó là do quan điểm ý thức hệ. Anh ta chỉ biết phân biệt với bùn thôi, chứ không quan tâm đến hoa.Ý thức hệ xưa nay đã làm hỏng bao nhiêu thiên tính của con người.”

Tôi thì tôi thấy, chính câu thứ tư “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” đã nói về mùi thơm của hoa. Không cần nói thẳng về sự vật hoặc miêu tả nó mà chỉ cần nói về sự trống vắng của nó, rồi tùy người đọc liên tưởng -- tôi nhớ  đó là một bút pháp quen thuộc của hội họa Trung Hoa; mỹ học cổ điển phương Đông có cả một thuật ngữ để chỉ bút pháp này, tiếc là tôi không nhớ để nói ra ở đây. Nhưng có phần chắc đây là chuyện của mỹ học chứ không phải chuyện ý thức hệ.

 Việc miêu tả mùi hương vốn là một chuyện khó.  Trong văn học Pháp,  Baudelaire (1821-1867) được ghi nhận như một người biết phân tích một cách tế nhị các cảm giác khác nhau, cả xúc giác lẫn vị giác.  Chịu ảnh hưởng của thơ  tượng trưng Pháp, mấy nhà thơ thời tiền chiến từng mon men tới lĩnh vực này. Huy Cận viết trong bài “Đi giữa đường thơm" “Trong không gian hương với màu hòa hợp”  để ... lẩn tránh.

Còn Xuân Diệu trong bài “Vì sao?” tặng Đoàn Phú Tứ thì thú nhận:

“Ai đem phân chất một mùi hương

Hay bản cẩm ca? tôi chỉ thương

Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương”  

Khi dành cả ba câu đầu vào việc miêu tả sắc hoa mà chỉ  dành cho việc tả hương sen  vào câu cuối,  người viết đoạn ca dao trên cũng chỉ ...làm theo  thông lệ từ xưa tới nay.

II/

Khi đọc hai chữ khuyết điểm trong đầu đề bài viết lúc 7h36  nói trên của anh Sử, người viết mấy dòng này thoáng có một liên tưởng tội lỗi xin thú thực ở đây: tôi có cảm tưởng nhà giáo đang làm công việc chấm bài, phê vào bài của học sinh.

 Nhưng, chỉ gần 9 giờ  sau tức lúc 16h14, tuyệt vời thay, tôi được đọc bài viết bổ sung  rõ là dấu hiệu của một cây bút nghiên cứu văn học thâm hậu.

CỘI NGUỒN CỦA BÀI CA DAO TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN

“Cội nguồn của bài thơ này là tư tưởng của Chu Hi, bậc đại nho đời Tống. Trong bài Ái liên thuyết, ông viết như sau:

Hoa các cây cỏ mọc ở dưới nước, ở trên cạn, các giống đáng ưa thích thì thật nhiều. Đào Uyên Minh thời Tấn chỉ thích cúc. Từ thời Đường tới nay người đời rất thích mẫu đơn. Tôi chỉ thích sen mọc ở trong bùn, mà không vấy bùn. Tuy ngã trên nước trong, gợn nước lăn tăn mà không có dáng nũng nịu, ẻo lả. Thân cây giữa thông suốt mà đứng sừng sững, không rậm cành rậm lá. Hương càng xa càng mát. Thẳng thắn uy nghi, đứng xa thưởng ngoạn chứ không đứng gần được. Tôi cho cúc là hoa ẩn dật, mẫu đơn là hoa phú quý, sen là hoa quân tử. Mới hay yêu cúc, sau ông Đào, không thấy nói đến tên ai. Cùng với tôi yêu sen thì có ai. Mẫu đơn thì ai cũng yêu.

Và anh Sử viết thêm lời bình:

“ Đây là bài tản văn rất đẹp, nhẹ nhàng, uyên bác, sâu sắc. Tuy nhiên tác gỉa đứng trên lập trường nhà nho mà yêu sen, ví sen với người quân tử, đem tiêu chí của người quân tử mà tả cây sen, nào uy nghi, cứng cỏi, không đứng gần được. Bài ca dao có thể do một ông đồ nho nào đó, do yêu bài văn mà diễn ra, nhưng thô thiển hơn, tuy cũng một lập trường đề cao sen quân tử. Như thế cốt lõi của nó là tư tưởng nho giáo của Chu Hi. Nhà thơ Phùng Quán có lí của ông ấy. Nhưng chúng ta vẫn yêu sen, không phải vì sen là biểu tượng của quân tử, mà sen là loài hoa quý, được coi là biểu tượng trong đạo Phật, biểu tượng của Việt. Cho nên cần có bài viết mới về hoa sen.”

Từ việc miêu tả hoa sen, câu chuyện đến đây đã chuyển thành tại sao yêu hoa sen.

 Tôi không dám nghĩ tới chuyện viết một bài văn khác về hoa sen, nhưng giả sử -- trong muôn một -- có ai viết được một bài hoàn hảo tương tự thì cũng yêu cả hai chứ  không vì bài này mà bỏ bài khác.

Tôi chỉ cảm ơn anh Sử là qua đây,  hiểu thêm một khía cạnh của đạo Nho  mà có lẽ ai đó đã viết ở đâu đó chỉ vì mình xao nhãng nên bỏ qua.

Các nhà nho xưa không yêu những cái gì tự nhiên như nhiên trời cho sẵn như vậy. Họ  nghiêng về những vẻ đẹp vượt lên cái thông thường, những vẻ đẹp do phấn đấu mà có. Những cuộc vượt lên nghịch cảnh này càng khắc nghiệt thì vẻ đẹp càng cao quý.

 Trong cuốn  “Hán văn giáo khoa thư” của Võ Như  Nguyện và Nguyễn Hồng Giao  tập II do Trung tâm học liệu của Bộ giáo dục in ở Sài Gòn 1972, tôi tìm thấy một bài  cũng nói về hoa.

 Bài viết  mang tên “Cúc hoa tán” này không thấy ghi rõ tác giả là ai, nhưng cũng nêu lên  cái lý do yêu hoa của người xưa tương tự như Chu Hy.

Trong bài, có đoạn “Cúc sở dĩ dược yêu quý vì sinh vào mùa thu.” Nếu biết  là mùa thu ở phía bắc Trung quốc đã lạnh lắm rồi, ta mới hiểu tại sao tác giả viết “giậu gió buốt mà hoa vẫn xinh tươi mơn mởn  có dáng vẻ độc lập không cậy dựa chi ai”.

 Bài viết kết lại cũng với ý ấy  “ Hoa cúc [cũng] nhân mùa thu mà phô vẻ đẹp lạnh. Thảo nào Đào Uyên Minh yêu hoa cúc cũng phải”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGOÀI TRỜI LẠI CÓ TRỜI

Ngày 4 tháng 9 năm 2021

Năm ấy, đứa cháu nội tôi học ở một trường tiểu học nổi tiếng bên quận một Sài gòn. Kiểm tra sách vở cháu tôi thấy được nhiều điểm 10, nhưng vẫn có cái gì khiến tôi không thỏa mãn. Tôi nghĩ ra một cách.

--Bây giờ hai ông cháu mình hãy thử tìm xem trong bài còn lỗi nào mà cô  để sót không nào

Không khó khăn gì, tự đứa cháu tôi  cũng tìm ngay được mấy lỗi mà khi chấm bài vội vàng, cô bỏ qua. Tôi cười, sau khi không quên dặn cháu là đừng có đến lớp mà khoe đấy nhé, cô trù thì chỉ có chết.

 Không hàm hồ một chút nào cả, có thể nói trong toàn bộ nền giáo dục của chúng ta hôm nay đang có hiện tượng mà có lần tôi dùng cụm từ "coi  mình là chân trời của trẻ" và do đó hạn chế tầm mắt của trẻ. Chúng ta luôn luôn luôn vội vàng. Để có thành tích , chúng ta hạ thấp tiêu chuẩn. Và chúng ta tạo cho cả thày và trò, cả nhà trường lẫn gia đình một niềm tin giả tạo, tin rằng xã hội Việt Nam hôm nay đang có một nền giáo dục rất tuyệt , chỉ cốt gia đình nhà trường thúc đẩy học sinh chăm chỉ là được.

 Tôi cho là phải tạo cho lớp trẻ một tâm lý không bằng lòng với những gì mà nhà trường truyền đạt cho các em, cũng không bằng lòng với những  cách đánh giá mang nặng chất  chiều nịnh hiện nay.

“Con vừa phải giỏi như nhà trường yêu cầu, vừa phải giỏi thực”. Tôi đã nói với con trai tôi khi cậu ta còn nhỏ và nay lại nói với các cháu nội như vậy.

Những người có đọc chưởng Kim Dung hẳn biết ở đó những người được coi là thành đạt đều trải qua nhiều trường học khác nhau, chứ không dừng lại ở  vị thày nào, một môn phái nào hết để sung sướng với cái tiếng “trung thành” hão huyền.  Cái gì cũng phải học. Luôn luôn quan niệm rằng ngoài trời lại có trời.  Không phải ai cũng làm được, nhưng mỗi người phải biết cái “thiên ngoại thiên” đó để mà đau đớn dằn vặt và cố nhích được gần nó bao nhiêu hay bấy nhiêu.

BIẾT RẰNG HY VỌNG MỊT MÙ

NHƯNG CŨNG KHÔNG THỂ TUYỆT VỌNG !

Ngày 6 tháng 9 năm 2021

Vụ Nhân văn giai phẩm có gieo vạ một chút cho việc giới thiệu văn học nước ngoài ở Hà Nội những năm 1959-60. Chekhov là một,  Lỗ Tấn là hai, đấy chỉ là ví dụ rõ nhất.  Hãy nói riêng về trường hợp thứ hai. May mà tới 1963,  nhà văn Trương Chính còn kịp làm được một bộ “Tạp văn Lỗ Tấn” tuyển tập. Cái quý của bộ này  là  đưa vào hầu hết các bài chính trong khoảng gần hai chục tập tập tạp văn của tác giả, kể cả những bài không có tính chiến đấu  mà lại có tính nhân bản ( trong những lần tái bản gần đây các bản dịch này thường bị loại bỏ). Trong cuốn II của bộ sách này, in ra ở nxb Văn học 1963, tôi  thấy  có bài bàn về hy vọng rồi đưa lại mấy câu thơ của  nhà thơ  Hungari Sandor Petofi có cái mùi vị khác hẳn những lời bàn về hy vọng mà hồi trẻ chúng tôi được dạy dỗ

“Hy vọng là cái gì?

là GÁI ĐĨ

Nó mê hoặc mọi người và hiến dâng cho tất cả

Đến khi anh đã dâng hiến cho nó

cái vật quý giá nhất của anh

Là tuổi thanh xuân

THÌ NÓ BỎ RƠI ANH”

Nhà văn Trung quốc số một của thời hiện đại dẫn bài này để minh họa cho  cái tâm tình  tuổi già nơi ông, khi một mình vật lộn với cái đêm tối trong hư không và không lấy hy vọng làm hậu thuẫn cho những phấn đấu trong mỏi mệt nữa.

 Chưa bao giờ tôi thấy  chia sẻ với các ý tưởng của Petofi và Lỗ Tấn như thời gian này. Như là ngày hôm  qua 5-9-2017 . Một tờ báo viết “nhân ngày khai trường, ai cũng kỳ vọng...” và chắc nhiều báo khác cũng viết thế, nhiều người khác cũng nghĩ thế.  Mấy ông già chúng tôi không có các cháu nhỏ mới đến trường, nhưng xét  hoạt động của ngành giáo dục mấy năm nay, thường chẳng hy vọng gì cả, chỉ dự đoán xem nó sẽ dở đi đến đâu thôi. Thế chúng ta không muốn hy vọng ở tương lai mấy năm tới ư. Muốn lắm. Nhưng đâu có dễ ! Dạo này có mốt một số cơ quan nhà nước đưa ra các dự án. Toàn dự án cho mươi năm tới, sẽ mở đường giao thông ra sao, sẽ hạn chế tai nạn đến đâu sẽ có hệ thống y tế đảm bảo những gì, sẽ phổ cập những hoạt động gì. Những người có trí nhớ một chút nghe chỉ biết cười. Có bao giờ các vị ấy nhắc lại rằng mươi năm trước cũng về từng vấn đề tương tự các vị ấy đã đề ra cái trình độ đạt tới  của 2015- 17, tình hình ra sao và nay thì nó đến đâu. Giáo dục lại càng như vậy, bảo dân được cho ăn bánh vẽ khí quá lời,  nhưng những  cái gọi là cải cách chẳng qua chỉ là gãi ghẻ. Nhân ngày khai trường các báo còn đăng một đoàn cán bộ giáo dục ta vừa sang Phần Lan , với mục đich học theo mô hình giáo dục Bắc Âu. Tự cho phép ngoa ngoắt một chút, tôi nhớ đến cách nói “con lạc đà chui qua lỗ chôn kim còn dễ hơn việc này việc nọ". Trước dự định học theo giáo dục Phần Lan, tôi kinh sợ mà thú nhận rằng đây dám là cái ví dụ thêm vào cho sự đúng đắn của câu thành ngữ trteen lắm lắm.

 Nhưng rồi tuổi già hay lạc quan giả tạo, tuổi già hay thỏa hiệp, tuổi già chỉ muốn hòa hõa với tình hình, không bao giờ nên sợ không có người chia sẻ.  Lỗ Tấn nhân bản ở chỗ sau khi nói một đằng, ông  cũng biết luôn là người ta thường  có thể nói ngược lại. Thứ  nhất anh bảo không nên hy vọng ư,  liệu anh có thể sống cả đời mà không hy vọng chăng? Thứ  nữa,  không hy vọng chắc là tuyệt vọng chứ gì. Nhưng người ta khi đã tuyệt vọng rồi thì cũng mất hết khả năng sống, trong đó có khả năng  xét đoán mọi chuyện . Bởi vậy, lần này, tiếp đến đoạn hy vong là một thứ gái đĩ, thơ Lỗ Tấn  lại  dẫn tiếp  một nhận xét khác của Pétofi:“Tuyệt vọng cũng giống như hy vọng đều hư ảo huyền hoặc”. Ý ngầm ở đây là lời khuyên: giữa hai cái  cùng là vớ vẩn ấy, chọn hy vọng vẫn là hơn. Tôi tìm thấy ở câu này một sự  cứu tinh. Và tôi tìm ra cách hy vọng ( = nhất định không tuyệt vọng) của mình. Trong khi những người khác đưa ra những biện pháp để cứu vãn tình hình, tôi biểu thị sự hy vọng  của mình bằng cách không chơi trò mách nước đó, mà trong chừng mực có thể, với sức  lực có hạn, đi ngược về những nguyên nhân đầu tiên  dẫn tới sự suy sụp của giáo dục hiện nay. Ồ,  theo hướng này thì nhiều việc cần làm lắm, đến chết cũng không hết việc, nếu tuyệt vọng thì lấy sức đâu mà làm, đành phải hy vọng vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÉ ƠI BÉ RA MÀ ĂN KẸO

Ngày 17 tháng 9 năm 2021

Dường như đang có sự phân công, các báo ở ta thì in những truyện cười mới sáng tác và mới dịch, trong khi truyện cười dân gian thì được in ra dưới các hình thức sách phổ thông,   về  số lượng cũng như hiệu quả chắc chẳng bên nào kém bên nào.Tự nhiên có một câu hỏi đặt ra, là tại sao cả hai cùng tồn tại, liệu giữa hai loại truyện này có mối liên hệ nào không. Tôi đem thắc mắc hỏi một anh bạn.     

     -- Ông có nhớ truyện cười dân gian "Bé ơi bé ra mà ăn kẹo", bạn tôi hỏi lại.

     -- Ai mà chẳng biết… Truyện kể một anh bí quá làm liều dám nhận vai “ông đỡ” cho một người đàn bà khó đẻ chứ gì?  Rồi khi đối mặt với sản phụ, không biết làm gì hơn, anh ta liền giở  trò trẻ con, buộc cái kẹo vào đầu giây dử dử, miệng lắp bắp “Bé ơi bé ra mà ăn kẹo”. Không ngờ sản phụ bật cười  mà đẻ luôn. Coi như anh ta hoàn thành sứ mệnh và được trả công đàng hoàng.

    --  Đúng truyện ấy đấy, bạn tôi nói tiếp. Theo tôi, nhân vật trong truyện chính là một mẫu người phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày xưa và cả ngày nay. Nhiều người chúng ta chẳng có việc gì thành thạo cả và thường làm không đủ ăn. Thời xưa các cụ còn cam chịu sống nơi xó nhà. Đến thời chúng ta thì theo các cao trào xã hội lê lết khắp nơi, không việc gì là không dám làm không việc gì là không  dúng mồm nói leo. Sự thành công do vậy thường khi hiện ra hơi buồn cười, nhưng thôi dẫu sao còn hơn là thất bại. Cuộc sinh nhai coi như tàm tạm, ta tiếp tục tìm những cơ may khác.

    Ví dụ của anh bạn nêu ra quá đặc biệt. Nhưng tôi tin ở CÁI LÝ LỚN  của nó. Cái đáng cười sống rất dai dẳng. Mà cái gốc của nó là mặc dù mang tiếng là xã hội hiện đại, nhưng xã hội VN đang có nhiều nét rất trung cổ, con người ngày nay trên tất cả các phương diện tâm lý cách nghĩ cách sống chẳng khác xưa là bao. Chứng minh rõ nhất là ở hai phương diện mà ông bạn tôi đã nói.

     Một là vô nghệ nghiệp

     Hai là sống bằng cầu may, được việc gì hay việc ấy, được ngày nào hay ngày ấy.

     Xin hiểu cho tôi ở cái lý lớn mà đừng vặn vẹo cụ thể. Và xin sử dụng các thước đo của thế giới hiện đại chứ đừng sử dụng những công cụ riêng mình có, rồi "nổ' rồi " tự sướng" với nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HƯNG YÊN & CÂU CHUYỆN GIÃ TỪ CÁI CŨ

Ngày 20 tháng 9 năm 2021

Trong việc quy hoạch đô thị VN sau chiến tranh, ngoài Vinh còn một trường hợp nữa gây cho tôi nhiều ấn tượng là Hưng Yên.

Về cái thị xã ven sông Hồng này lần đầu năm 2010, tôi ngạc nhiên ngay về độ “chín” của một tỉnh lẻ. Không hiểu sáu bảy năm đã qua,  bây giờ  nó có còn như cũ không, nhưng hồi ấy đó đúng là một miền đất thanh bình. Mà không phải cái thanh bình của làng xóm nông nghiệp cây đa bến nước, đây là cái thanh bình của thành thị hẳn hoi. Đường vắng, người thưa, vỉa hè rộng. Xe qua ngã tư vì đường vắng cũng không cần bóp còi. Nhà cửa nhà nào nhà nấy rộng rãi, con người từ tốn sống trong môi trường lâu đời của mình. Ấn tượng nhất với tôi là một người bán xổ số bên đường. Người bán hàng ấy ngồi góc đường nhưng rất nghiêm túc, bàn ghế đàng hoàng, lại còn mang cả sách ra đọc. Nhớ những dân bán dạo xổ số hoặc là các hàng nước ở đầu đường Hà Nội mà thấy thế nào là sự khác nhau giữa  ổn định và hỗn loạn.

 ***

 Một trong những ám ảnh của Hà Nội sau chiến tranh là hiện tượng cơi nới. Nay là lúc thành phố khá nhiều những ngôi nhà bê tông cốt thép, kiểu cách tùy ý thích người có tiền, các ông chủ  không chỉ học theo  thời Pháp thuộc mà học cả tận bên Mỹ, và có khi cả bên Ả Rập. Những ngôi nhà  siêu hiện đại ấy mọc lên những mảnh đất xiên xẹo hoặc siêu mỏng siêu méo mó vốn giành để cất tạm những căn nhà tranh nhà gạch mộc tường xây kiểu con kiến. Nên nhìn từng nhà thì đẹp nhưng nhìn cả khu phố, người ta vẫn nhớ lại cái tình trạng bát nháo cũ.

Khi tôi hỏi cái thị xã Hưng Yên không cần mở rộng và phát triển hay sao thì một người dân trả lời :

  -- Không, có chứ. Nhưng ở đây chúng tôi cấm hẳn chuyện cơi nới, nghĩa là phá vỡ sự ổn định của cái cũ. Ai có nhu cầu xây dựng to đẹp hơn thì hãy sang khu đô thị mới. Có điều ở đấy cũng không phải cứ quẳng ra một đống tiền mua đất rồi muốn làm gì thì làm. Mà phải đủ tiền để mua một khoản diện tích tối thiểu nào đó, rồi phải xây nhà theo kiểu mới, đúng quy cách, đúng số tầng quy định, nhà nọ ăn ý với nhà kia thì mới  làm nên khu phố đẹp.

Biết tôi từ Hà Nội xuống người dân Hưng Yên rất thạo đời này bổ sung:

--Tôi biết rồi, ở Hà Nội gọi là phố cổ nhưng nay là lúc toàn “đất mượn”, dân tứ chiếng đổ về át cả người cũ. Người ta cũng hiểu là dân kẻ chợ tất phải làm thế , vì mỗi tấc đất là một địa điểm kinh doanh ngày ra tiền triệu. Cái may của chúng tôi là những cái quá hiện đại  quá mới mẻ không tràn về bóp chết cái cũ. Chúng tôi bảo nhau chỉ sống nhì nhằng thế này thôi, đừng có chết thèm chết khát vì những thứ mà mình không có.

***

Qua Hưng Yên ngày ấy, bài học về việc quy hoạch cái mới thì đã rõ ràng rồi.  Tôi còn tự nhủ thêm, muốn từ giã cái cũ cũng phải rất thông minh. Tốt hơn hết là  đừng động đến nó. Muốn thay đổi hãy làm hẳn cái mới. Trong nghề viết văn với tôi nhà văn Nguyễn Kiên nay đã quá cố là một bậc đàn anh. Ông từng kể lại với tôi một kinh nghiệm, khi viết ra một bản thảo nào đó mà đọc thấy chán thì tốt hơn hết là xé đi, vứt hẳn đi,  chứ cứ ngồi đấy kỳ cạch chữa đi chữa lại đoạn này câu kia thì không bao giờ ra tác phẩm hoàn chỉnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH 

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN!

Ngày 21 tháng 9 năm 2021

Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học,  người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp.

       Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.

      Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời,  bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam.

 Người ta bảo rằng ông đã khỏa lấp nhiều khoảng trống lịch sử.

 Nhưng oái oăm thay, đó lại là những khoảng trống do chính ông tạo ra.

 Trong gần suốt cuộc đời ông -- theo chỗ đọc được của tôi -- ông đã để hết tâm huyết khởi động và cầm chịch cho thứ lịch sử cổ lỗ, trì trệ mà người ta đang sử dụng để định hướng quyền lực và dạy cho học sinh .

   Sự khác nhau giữa Phan Đình Diệu và Phan Huy Lê về căn bản chính là sự khác nhau giữa một người trí thức thực thụ và một trí thức cung đình hiện đại, nhưng được hình thành theo kiểu sử quan thời phong kiến.

 Những chuyển biến cuối đời của Phan Huy Lê rất đáng quý nhưng hơi muộn. Bản di chúc cuối đời của ông, nếu có thì theo tôi đoán nó sẽ là một câu ngắn gọn:

--Hỡi những người làm sử hãy chuyển biến sớm hơn!

 

TÌNH TRẠNG  NGHỀ NGHIỆP CỦA CON NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

Ngày 22 tháng 9 năm 2021

Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều.

Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi.

Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.

Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.

Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung Quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.

SỰ THA HÓA CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá lừa lọc làm bậy bất chấp luật pháp… Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.

Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hoá chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.

Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.

Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.

Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in - chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.

Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch mà còn do sự tha hoá của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.

THẦY KHÔNG RA THẦY, THỢ KHÔNG RA THỢ

Ở Hà Nội những năm sau 1954 có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng nói lại bây giờ nhiều người khó tin: Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!

Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hoá ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hoá, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.

 Ngày nay tình trạng trên có được dẹp bỏ một phần, nhưng lại có những biến tướng mới. Một cán bộ giảng dạy đại học trẻ than phiền với tôi, toàn bị sai vặt khi đi dọn thư viện, khi đi làm sổ sách, rồi  giúp vào  việc quản lý sinh viên... chứ chuyện chuyên môn thực sự chẳng ai khuyến khích.  

 Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.

COI THƯỜNG VIỆC NHỎ

Khi chuyển hoá vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.

Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khoá chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.

Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.

CHẲNG AI CHỊU ĐIÊN

Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.

Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được.

Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRÀ ĐÓA

MỘT CUỘC CHIẾN KHÁC

Ngày 25 tháng 9 năm 2021

(Theo bản của FB Tung Nguyen)

“Dành riêng tặng những người lính vô danh”

----

Tôi ra đời vào một ngày mùa hè năm 1975, thời điểm cuộc chiến Việt Nam vừa kết thúc. Khi đó ba tôi đang bị cải tạo ở Tiên Lãnh – một xã vùng núi thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nghe mẹ tôi kể lại, đó là thời điểm mà mọi người đều tâm thần bấn loạn, đặc biệt là những gia đình có người tham gia chế độ cũ, chẳng ai còn đủ bình tĩnh để nhận biết đầy đủ những náo loạn đang diễn ra và cái gì sẽ tới. Tất cả đều đảo lộn, rối tung rối mù. Mẹ nói chỉ biết có chạy và chạy. Gần như mọi sự đều phó mặc cho số phận.

Giữa lúc khốn khó ấy, mẹ lại đang mang bầu tôi nên chỉ còn biết về quê. Trong tâm thức của người Việt, quê cha đất tổ là một cái gì đó, ngoài sự thiêng liêng, còn mang cả nỗi niềm tin tưởng, là nơi nương cậy lúc cùng đường. Quả vậy, mẹ, tay dẫn anh chị tôi, bụng mang dạ chửa, chân bước nặng nhọc trở về quê, tá túc trong ngôi nhà cũ của ông bà nội trong khu vườn được phủ kín tre xanh.

Chỉ hơn một tháng sau khi về quê, vào một đêm đầu tháng trời tối như mực, mẹ trở dạ…

Tôi ra đời trong tay một bà lang vườn. Mẹ tròn con vuông. Sau này mẹ thường nói: “Hú hồn, nếu lúc đó xảy ra chuyện gì… chắc chỉ còn biết chết! Ơn Trời Phật!”.

Dĩ nhiên tôi không có bất kỳ ký ức nào về quãng thời gian đó. Đầu óc trẻ thơ là trạng thái nguyên sơ nhất của ý thức con người. Nó giống như một hồ nước tĩnh lặng trong veo mà hình ảnh những đám mây lần lượt in bóng trôi qua mà không để lại một chút dấu vết.

Tôi lớn lên vì phải lớn lên, đó là xu hướng nguyên uỷ của một cơ thể sinh học.

Nhưng ký ức trẻ thơ cũng thật lạ lùng, nó không hoàn toàn vô cảm với tất cả những thứ diễn ra quanh nó. Đôi lúc, như một sự tình cờ, nó ghi lại một vài hình ảnh mà sau này, nhờ có nó, một người có thể nhớ lại một vài câu chuyện nào đó đã xảy ra trong một bối cảnh xưa cũ mà bây giờ đã hoàn toàn mờ nhạt.

Đó là hình ảnh ba tôi, ngày trở về sầu não. Và những ngày sau đó là hình ảnh ông uống rượu triền miên rồi say nằm la mắng vang cả xóm… Rồi thỉnh thoảng, những lúc ngồi bên mâm cơm, câu chuyện của ba tôi luôn nói về những ký ức của một thời đã qua. Giọng ông lúc trầm lúc lắng nhưng luôn đau đớn khi kể đến những thứ mà nay đã không còn, hay như cách quả quyết của ba tôi, là mọi thứ đã bị tước đoạt, và kinh khủng hơn, đã bị chôn vùi vĩnh viễn vào đêm tối của căn bệnh chóng quên của người đời…

Sau này, khi đã đủ trí khôn, tôi cũng không thể hình dung ra nổi những bối cảnh trong các câu chuyện mà ba tôi đã kể. Tôi không biết một quả mìn bên vệ đường phát nổ là như thế nào, hình ảnh một chiếc xe khách bị lật nhào cháy đen ra sao? Quá khó để tưởng tượng ra những thảm cảnh đã diễn ra hàng ngày trên con đường chỉ dài vài chục cây số mà giờ đây tôi hay đi đi về về…

Như một bằng chứng, vào ngày dẫy mả đầu xuân, ba tôi đã chỉ cho tôi ngôi mộ của một người xa lạ đã chết trẻ. Đó là anh chàng học trò trường Trần Cao Vân Tam Kỳ về nghỉ hè và đã chết trên một chiếc xe bị mìn ở vệ đường. Ba tôi nói anh ta chết vào tầm tuổi tôi bây giờ…

Nhưng quả thật, khi nói về cái chết cho một người trẻ tuổi cũng giống như việc phết một lớp sơn lên một bề mặt trơn bóng không ăn màu. Nó sẽ mau chóng phai đi và trả lại lớp trơn bóng cố hữu bên dưới một cách nguyên vẹn như chưa từng có gì xảy ra. Thậm chí cho đến lúc tôi chứng kiến cái hố chôn tập thể lên đến hàng ngàn bộ hài cốt mà người ta tình cờ phát hiện khi đào móng xây nhà, nó vẫn hoàn toàn không gây nên một niềm xúc động nào trong tôi. Khi thấy ba tôi xót xa nói đó có lẽ là hố chôn đồng bào tản cư bị chết trong trận chiến Mậu Thân 1968, tôi cũng muốn tỏ ra chút đồng cảm nhưng tuyệt nhiên trong tôi vẫn phẳng lặng như tờ.

Tôi biết mình gần như vô cảm với những thứ ấy, những thứ giống như đã xảy ra từ một thời xa lơ nào đó trong tiền kiếp mà bây giờ thỉnh thoảng người ta kể lại như những câu chuyện dân gian. Tôi chưa bao giờ hình dung ra ba mẹ tôi cũng là những nhân vật đã ở trong những câu chuyện đó. Tôi có cảm giác chúng chỉ dành để nói về những kẻ xa lạ mà chẳng mảy may liên hệ gì đến tôi.

Có vẻ khi Đấng tạo hoá ban cho con người khả năng ghi nhớ, Người cũng đã thiết lập một luật lệ rằng, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về ký ức của mình mà không thể san sẻ cho ai khác. Phải chăng vì vậy mà dù rất thương ba mẹ, nhưng đầu óc tôi vẫn mãi trơ lì với những ký ức thân thương của họ. Những bóng hình vẫn còn đó, nhưng đồng cảm thì hoàn toàn vắng bóng…

Tôi rời quê vào Sài Gòn học đại học. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà và đi xa đến vậy – cả ngàn cây số. Đối với những gã trẻ tuổi quê mùa như tôi, Sài Gòn gần như là thiên đường, là nơi chất chứa hy vọng thay đổi số mệnh. Trước khi tôi đi, ba tôi đã kể rất nhiều về Sài Gòn cho tôi nghe. Thực ra, ông chỉ ở đó được khoảng một hai tháng trong một chuyến tập huấn ngày trước. Ba tôi nói rất nhiều, tất cả những gì ông còn nhớ được về Sài Gòn. Sau này, khi đã ở Sài Gòn lâu ngày, tôi nhận ra là những ký ức của ba tôi về Sài Gòn cũng hoàn toàn xa lạ. Có lẽ, Sài Gòn bây giờ đã khác xa cái thời trước, cái thời mà chỉ còn trong ký ức của những người “muôn năm cũ”…

Trường tôi học nằm ở quận Nhứt, nhưng tôi lại ở nhà một người quen ở khu Bảy Hiền. Đây là khu xóm dệt do những người Quảng chạy lụt lập nên từ trận lụt kinh hoàng năm Giáp Thìn 1964. Những ngày đầu vào ở đây, không có cách nào để chịu đựng nổi tiếng ầm ầm vang như sấm động suốt ngày từ những khung dệt vải. Nhưng dần dà mọi thứ lại trở nên dễ chịu. Tôi quen dần với những tiếng động ấy đến mức, nếu không có nó, tôi sẽ chẳng ngủ được. Những tiếng đập ầm ầm theo nhịp khung cửi không ngờ lại có tác động như một lời ru dị kỳ.

Những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường tản bộ ra uống cà phê ở khu Bàu Cát. Đây là một khu rất mới mà nếu vào thời có trong ký ức của ba tôi, nó chỉ là những ao rau muống lầy lội chạy dài ngút ngàn. Khoảng đầu thập niên chín mươi, một tay lanh lẹ đã xây dựng nó thành những khu phố khang trang như bây giờ. Khu phố này rất đẹp và nhiều cây xanh, rất thuận tiện để mở quán cà phê. Vì vậy mà quán cà phê ở đây nhiều vô kể, cái này nối tiếp cái kia, san sát bên đường.

Nhưng số phận của kẻ đã xây dựng nên nó lại không được may mắn như vậy. Anh ta là một trong số những tay nổi đình nổi đám vào thời mới mở cửa. Đó là cái thời mà những kẻ quản lý nhà băng còn kém xa những bà chủ tiệm cầm đồ. Họ cho vay vô tội vạ bất chấp các nguyên tắc an toàn tài chính miễn có lại quả cho họ là được. Còn những công ty ma lanh thì được phép huy động tín dụng với lãi suất rất cao rồi dùng tiền để chơi bời xả láng hay hoang phí vào những thứ xa xỉ mới được du nhập vào. Và tay ấy, cái kẻ đã xây dựng Bàu Cát, là một trong số những tay chơi khét tiếng. Cuối cùng, với số nợ khổng lồ không có khả năng trả được, gã đã bị tử hình.

Bây giờ, chẳng còn mấy ai nhớ đến gã…

Tôi thường ngồi ở một quán cà phê có nhiều cây xanh trong sân. Đây xưa kia có lẽ là một khu vườn trồng cây ăn trái nhưng người chủ của nó đã nhìn xa trông rộng mà không bán đi vào thời mở cửa. Để giờ đây nó là một mặt tiền rộng rãi, với nhiều cây xanh còn giữ lại, che bóng mát rượi. Tôi thích ngồi ở đây vì chủ quán cũng là người Quảng. Những cô con gái của ông cũng nói giọng Quảng, tuy thỉnh thoảng có pha vài phát âm kiểu Sài Gòn. Ngồi ở đây tôi cảm thấy có gì đó gần gũi và đáng tin cậy. Người Quảng vốn nói năng nặng trịch và ít cảm tình, nhưng khi xa quê lại thường gắn bó với nhau hơn người ở những vùng khác.

Và vào một buổi chiều ở đó, tôi đã gặp một người lạ lùng…

Thực ra ban đầu tôi chẳng để ý gì đến ông, một người bán vé số như vô vàn những người bán vé số khác. Thường tôi sẽ khước từ những lời mời mua vé số. Tôi chẳng bao giờ tin vào vé số, vả lại nó cũng không rẻ. Theo cách tính kiểu sinh viên như tôi, một tờ vé số tương đương một bữa trưa, thường là một dĩa cơm đậu hũ. Chẳng gã nghèo túng nào lại mạo hiểm đánh đổi một bữa cơm trưa để mua lấy một niềm hy vọng có xác suất nhỏ đến một phần trăm ngàn cả.

Nhưng trái với những người bán vé khác, thường sẽ bỏ đi ngay sau cái phẩy tay, ông ấy hình như vẫn còn ở đó. Cho đến lúc tôi quay lại nhìn, thì đó là một ông trung niên bị cụt cả hai chân lên đến tận háng. Ông di chuyển bằng hai cái đòn gỗ trơn bóng vì bị bào mòn lâu ngày. Đôi mắt ông nhìn tôi lạ lùng và có phần sửng sốt. Và ông cứ nhìn chăm chăm như vậy một hồi lâu. Tôi không biết là bao lâu, vì chính tôi cũng sửng sốt không kém ông. Bởi tôi chưa từng gặp phải một tình huống lạ thường như vậy bao giờ. Một gã trai trẻ quê mùa như tôi chưa bao giờ học được thói quen phản ứng mau lẹ với xung quanh.

Rồi cuối cùng ông cũng giật mình tỉnh lại. Gương mặt ông lộ rõ vẻ bối rối như một đứa trẻ vừa phạm một lỗi nặng. Ông nhìn tôi vừa đau khổ, vừa như muốn xin lỗi về sự bất nhã vừa rồi. Nhưng tôi nhớ mình đã mỉm cười với ông, một nụ cười tự nhiên chẳng thoáng chút kỳ thị. Rồi như được cởi bỏ một gánh nặng, ông cũng mỉm cười theo. Cuối cùng ông cũng lên tiếng giải thích cho cái nhìn kỳ lạ của mình:

“Cậu giống như đúc một người bạn cũ của tui”.

Rồi ông nhanh chóng trở lại với gương mặt rầu rĩ cố hữu.

Tôi lên tiếng:

“Chắc là một người bạn thời trẻ của chú?”.

Ông gật đầu.

“Vậy chắc anh ta đã đi Mỹ rồi?” Tôi nói đùa.

“Ảnh chết rồi”.

Câu trả lời của ông làm tôi thoáng chút gợn. Tôi hơi sợ khi nghe từ chết, đặc biệt là một cái chết trẻ. Có lẽ, câu chuyện về cái chết của anh chàng học trò trường Trần Cao Vân đã ám ảnh tôi ít nhiều.

Tôi hỏi ông:

“Chắc là chết thời còn đi học chung với chú?”.

“Không, ảnh là lính cộng hoà chết trận”.

Nói đến đó, gương mặt của ông trở nên như vô hồn, nhưng trên mí mắt thâm quầng đang chảy xuống một dòng nước mắt. Lúc đó tôi không hiểu ông đang nghĩ gì. Một cái chết xa xôi như vậy của một người bạn cũ đâu thể gây nên một sự đau buồn lâu dài đến vài chục năm. Thực tế, con người là những động vật rất dễ thích nghi, kể cả với nỗi đau. Thường với một cái chết nào đó, nó chỉ gây ra tổn thương trong một thời gian nhất định mà thôi, tuỳ thuộc vào mối quan hệ của người sống với người đã chết, nhưng ít khi nó kéo dài quá vài năm. Có thể trong phút chốc một niềm xúc động đột ngột dâng lên từ một sự kiện đã gợi lại những kỷ niệm đau buồn trong quá khứ và khiến ông đau lòng. Nhưng nhiều lắm nó cũng chỉ đủ loé lên như một ánh lửa rồi lại chìm ngay vào trong đêm tối của ký ức xa xăm.

Nhưng lạ lùng thay, những dòng nước mắt của ông vẫn không ngưng chảy. Ông đang khóc như một cơn mưa dầm. Gương mặt già nua của ông trông đau khổ đến tột bực…

Tôi nói dối với ông rằng ba tôi cũng là lính cộng hoà. Thực ra, ba tôi làm bên chính quyền. Nhưng dù sao như vậy cũng đủ để tạo nên một chút đồng cảm hiếm hoi và làm lắng lại cõi lòng sâu kín nào đó trong ông. Không biết có phải nhờ vậy hay không mà trông ông có vẻ hoạt bát hẳn lên. Rồi ông kể cho tôi nghe đôi chút về những ký ức đau buồn đó…

Ông và người bạn ấy – người đã chết, người mà ông nói có khuôn mặt giống tôi như đúc – là hai anh lính trẻ trong một đơn vị tác chiến đóng quân ở Tây Ninh.

Trong thời chiến tranh Việt Nam, Tây Ninh là vùng tranh chấp ác liệt, bởi nó gần Sài Gòn lại gần biên giới Miên. Tây Ninh cũng là cửa ngõ để những cánh quân Bắc Việt thâm nhập xuống Sài Gòn.

Trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1974, người bạn của ông đã bị chết mất xác do pháo kích. Còn ông thì bị mảnh đạn phạt mất hai chân.

Ông được đưa về quân y viện dưỡng thương. Cho đến tháng 4 năm 1975, khi những cánh quân Bắc Việt tiến chiếm quân y viện, ông bị đuổi ra khỏi nơi ấy. Và sau đó là những tháng ngày nhọc nhằn của cuộc đời ông…

Với tấm thân tàn phế, ông đồng ý chia tay với người vợ trẻ, mà như lời ông, là để giải thoát cho một số mệnh. Ông sống thui thủi một mình với cuộc mưu sinh nhọc nhằn bằng đủ mọi cách. Để rồi cuối cùng ông chọn cách lên Sài Gòn bán vé số cho đến bây giờ…

Đó là một buổi chiều buồn man mác trong thời hoa niên ít nghĩ suy của tôi. Nhưng câu chuyện của ông làm tôi nhớ đến một bức ảnh nổi tiếng của Nick Ut – một phóng viên ảnh của hãng thông tấn AP. Câu chuyện trong bức ảnh ấy cũng xảy ra ở Tây Ninh. Đó là hình ảnh một bé gái trần truồng, bị cháy phỏng bởi bom napal, đang chạy hốt hoảng trên đường trong một buổi chiều đầy khói lửa. Một bức ảnh đã gây xúc động trên toàn thế giới về thảm cảnh của chiến tranh Việt Nam.

Cách đây vài năm, tôi lại được thấy trên báo chí hình ảnh của cô bé Kim Phúc năm nào mà giờ đây là một quý bà công dân Canada và là đại sứ hoà bình của UNESCO. Có lẽ cô ấy đã vượt qua được số phận đau thương nhờ tình nhân ái.

Thế còn số mệnh của những người lính, như người lính già tàn phế ấy, ai sẽ cứu vớt cuộc đời họ? Thậm chí, có ai còn nhớ đến họ không, những kẻ đã phải hy sinh một phần thân thể hay cả sinh mệnh, để bảo vệ cho một thứ mà nay không còn nữa? Phải chăng họ chỉ là những kẻ khốn nạn, bạc mệnh và vô phước, được sinh ra và lớn lên trong một thời cuộc không mong đợi?

Phải chăng những đau thương của họ chỉ chờ đợi để tan vào hư vô…?

Câu chuyện của ông rồi cũng mau chóng phai mờ trong tôi. Nhưng hình ảnh của ông lại có một sức sống kỳ lạ. Cứ mỗi khi đến quán cà phê ấy, tôi lại thấy bóng dáng của ông thấp thoáng đâu đó, đang lê lết trên hai đòn tay bằng gỗ, từ bàn nọ qua bàn kia. Hình bóng của ông như một thứ gì đó đã sắp tàn nhưng chưa chịu mất, nó vẫn còn bám víu vào cõi đời này như một sự khắc khoải kỳ bí của hiện hữu.

Rồi một buổi chiều khác, tôi lại được gặp ông. Lần này ông đến bên tôi rất nhẹ nhàng. Khi tôi thấy ông, cũng là lúc ông nở một nụ cười rất tươi đáp chào. Tôi thấy ông có ý muốn nói gì đó nhưng vẫn chưa mở lời được. Rồi sau một hồi ông cũng lên tiếng:

“Có chuyện này, nhờ cậu giúp cho không biết có được không?”.

Tôi suy nghĩ mình thì có thể giúp được gì cho ông ấy. Trong khi cái ông cần tôi lại không có. Trông tôi có vẻ bảnh bao, nhưng độ nghèo chắc cũng chẳng thua kém ông. Tôi hỏi ông:

“Cháu thì có thể giúp được gì cho chú?”.

Ông ngần ngừ giây lát rồi nói:

“Cậu có thể cho tui mượn một tấm hình được không?”.

Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn ông:

“Chú cần hình của cháu để làm gì?”.

Ông tỏ ra e ngại rồi phân minh: ông cần một cái hình để làm ảnh thờ cho người bạn đã chết mất xác năm xưa. Vì sau bảy lăm đồ đạc thất lạc hết nên ông chẳng còn giữ được tấm hình nào. Vì vậy trên bàn thờ anh ấy ông chỉ để cái bài vị. Ông sợ nếu không có cái hình, sau này sẽ chẳng còn ai hình dung ra gương mặt anh ấy nữa. Rồi ông kể anh ấy chỉ có một bà mẹ già, mà có lần về phép hai anh em xuống thăm, bà đã yếu lắm rồi. Sau bảy lăm ông không có điều kiện xuống lại quê anh ấy, nhưng chắc bà cụ đã chết rồi. Nên ông nghĩ, ngoài ông ra, chẳng còn ai thờ anh ấy nữa…

Tôi hốt hoảng thật sự:

“Kỳ lắm, cháu chưa chết mà đưa lên bàn thờ thì sợ lắm”.

Ông vội xua tay phân bua:

“Không, tui chỉ mượn tấm hình của cậu để vẽ truyền thần cho anh ấy một tấm hình thôi. Vì cậu rất giống, nên chỉ cần sửa đổi đôi chút là được”.

Tôi thở phào nhẹ cả người.

……………………..

Khoảng vài tuần sau tôi lại gặp ông. Ông nói đã chờ tôi mấy hôm nay mà không thấy. Ông khoe đã vẽ xong và trả lại tôi tấm hình với lời cám ơn. Ông nói mấy hôm nữa là ngày giỗ anh ấy và ông mời tôi ghé nhà ông chơi. Tôi đồng ý.

Mấy hôm sau, tôi cọc cạch đạp xe xuống Thủ Đức mất cả tiếng đồng hồ. Ông đã ngồi đợi ở đầu con hẻm lớn để đưa tôi vào. Nhà ông là một túp lều mái tôn, vách được che bằng những tấm ny lon lớn. Nó được dựng dựa vào bức tường của một cái đình cổ. Trong lều, ngay chính giữa, có một cái bàn thờ Phật trên cao, bên dưới là tấm hình mà ông đã nhờ vẽ truyền thần. Nhìn hình, tôi cố không hình dung ra đó là mình. Dù sao thì môi trên hơi dày hơn và đặc biệt, có một nốt ruồi ngay dưới mí mắt phải. Đó là những chi tiết khác biệt rất dễ nhận thấy. Có thể còn những điểm khác nữa mà tôi chưa kịp nhận ra.

Ông mỉm cười nói với tôi:

“Hồi đó, tụi tui cũng tuổi như cậu bây giờ. Mà thật kỳ lạ, trông cậu chẳng khác gì anh ấy. Hôm đầu tiên trông thấy cậu, tui không tin vào mắt mình nữa. Trên đời sao lại có người giống nhau đến vậy…”.

Ông ấy nói đúng. Sao tôi lại có thể giống một người xa lạ mà tôi chưa từng gặp đến vậy. Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, một tình cờ của tạo hoá, hay là một bí nhiệm nào đó mà tôi chưa ngộ ra?

Tôi không biết.

Đêm đó, trong giấc ngủ, tôi đã mơ một giấc mơ kỳ lạ…

Tôi thấy mình đang băng qua một khu rừng trong bộ đồ chiến binh bết đầy bùn đất. Tiếng trực thăng quần thảo điên loạn trên đầu.. Rồi từng tràng đạn rít chói tai qua những khóm cây, làm những đám lá xanh nối nhau đổ xuống như mưa.

Và cứ thế, tôi miệt mài bước đi như bị thôi miên…

Cuối cùng, tôi rơi vào một vùng sáng chói lòa rồi mất hút...

 

 

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ(kỳ năm): 

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH TỔ CHỨC XÃ HỘI 

 ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH TRÍ THỨC

Ngày 1 tháng 10 năm 2021

"Sĩ phong [khí thế, tinh thần của đám trí thức]  nước ta, suy đồi đi là tự đời Lê trung hưng về sau.

       Lúc bấy giờ các vua nhà Lê vẫn cầm quyền mà họ Trịnh dám dấy lên cướp quyền, quan lại và sĩ dân trong nước đều theo họ Trịnh. Hoá nên cái tâm lý sĩ phu thời ấy có hai đàng: thờ vua Lê để tránh tiếng phản quân; thờ họ Trịnh để kiếm đường thực lợi.

        Ban đầu chắc cũng có người áy náy trong lòng, về sau tập thành quen, không còn biết thế nào là sỉ nhục.

       Một người như thế  trăm nghìn người hùa theo, người trên như thế người dưới bắt chước theo, thành ra cả một nước đều bỏ mất đại nghĩa, quên mất liêm sỉ, mà đổ xô nhau vào vòng danh lợi.

      Từ đó về sau, người mình trở nên mềm như con bún, không biết vua là gì, không biết nước là gì, hễ ai mạnh thì theo. Lòng tự trọng của người mình như ngọn lửa đã tắt, không còn bừng lên, như hột giống bị ẩm, không còn nứt lên được.

       Lại thêm cái kiểu chuyên chế từ xưa đến nay, cứ ở trên đè xuống ở dưới đợ lên, làm cho nhân dân ngày một đê hèn ngày một yếu ớt. Lòng tham lợi mạnh hơn lòng tư kỷ  [tự ý thức về cá nhân mình] thì luồn cúi lạy lục mấy cũng chẳng từ; ưa cái sống đục hơn cái thác trong, thì mặt dạn mày dày đâu có quản.”

***

       Đoạn văn trên là của Phan Khôi, ông viết trong bài “Luận về khí tiết” đưa trên tạp chí "Hữu Thanh"-- cơ quan ngôn luận của hội Bắc kỳ công thương đồng nghiệp 1923.

     Từ hồi biết nghĩ, đọc sử đến đoạn  thế kỷ XVII Đàng Trong Đàng Ngoài, tôi đã cảm thấy trớ trêu. Sau này đọc thêm về  xã hội Việt mới thấy cách tổ chức chính quyền vốn là một điểm kém cỏi của xứ ta, đến lúc ấy càng bộc lộ rõ. Từ đó thấy hoàn toàn có thể đồng ý với  cách nói của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh rằng kiểu tổ chức chính quyền thời vua Lể chúa Trịnh là một thứ báng bổ đối với đạo Nho.

      Một trong những lý thuyết căn bản của Khổng giáo là thuyết chính danh: “Quân quân thầnthần phụ phụ tử tử.”  Vua phải ra vua quan phải ra quan, tóm lại ai phải ra người ấy, mỗi vai phải có tiêu chí chuẩn mực do xã hội quy định.

Cái này thì bao giờ cũng đúng, đến thế kỷ XXI vẫn đúng. Con người thời ta có thể có những chuẩn mực khác với chuẩn mực ở  các thời khác các xứ khác.  Nhưng phải có chuẩn mực của mình và phải theo nó, không theo là vô đạo – đạo đây không phải là đạo nào cả mà là đạo làm người.

      Bây giờ đọc thêm Phan Khôi, mới thấy trong cái thời loạn ấy, -- một thứ loạn do cách tổ chức xã hội sai lạc -- con người thế kỷ XVII không thể tử tế được.  Theo  những lời dạy của thánh hiền, họ phải chống lại những kẻ tiếm quyền là đám võ biền họ Trịnh. Nhưng chống lại thì sống bằng gì? Lòng người trí thức trở nên phân hóa.

Vừa phải theo bên này vừa phải theo bên kia.

Sống ngược niềm tin của mình.  

Dần dà họ không còn lý tưởng gì nữa. Toàn bộ hành động hướng vào việc chạy theo danh lợi.  Nói theo chữ nghĩa thời nay tức là chủ nghĩa cơ hội xuất hiện. Những con người “mềm như bún” ấy – như chữ của Phan Khôi – còn mang trong mình nhiều “phẩm chất” kỳ cục khác mà chỉ con người hiện đại trong những thời buổi chính sự nhiễu nhương mới có: bất chấp đạo lý và trơ trẽn không còn biết xấu hổ là gì, nịnh nọt và trở mặt.

 Ai đọc  “Hoàng Lê nhất thống chí” hẳn nhớ  cái câu mà một nhân vật tri huyện giải thích  sự phản trắc  khi nói thẳng vào mặt Lý Trần Quán là ông thầy của mình "Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu mình.". Một phát hiện như thế đang được con người ngày nay nâng lên một trình độ mới. Trên con đường lưu manh hóa, họ tìm thấy ở đấy một sự giải phóng.

***

Suy nghĩ cuối cùng của tôi: sống trong cái thời nhố nhăng, con người khó giữ được mình lắm.

Nhưng không phải vì thế mà cho phép mình buông thả hùa theo mọi người và đổ lỗi cho xã hội.

Lại còn có thể nói thêm với nhau: mọi vận động ngược dòng thường cũng mang lại những thách thức thú vị.

Không phải bao giờ tôi cũng làm được hết những điều mình nghĩ. Nhưng tôi sẽ thử, đang thử và còn tiếp tục thử.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUAN HỆ THẦY TRÒ THỜI XƯA

DƯỚI CON MĂT PHAN KẾ BÍNH

Ngày 6 tháng 10 năm 2021

Theo Việt Nam phong tục (1915)

     Người ta ở đời nhờ có cha mẹ sinh ra mình lại phải nhờ có thầy dạy cho mình,  thì mình mới khôn, biết việc này việc nọ, mới nên con người;  cho nên học trò ở với thầy như con ở với cha mẹ ấy cũng là một mối luân thường của Á Đông ta.

    Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở.

   Kìa như các bậc đáng mặt mô phạm , có công dạy dỗ có ân đức giáo hóa nhuần thấm đến người, thì người ta không nên quên đã đành.

   Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng quê tìm nơi thiết trường, gõ đầu năm ba đứa trẻ nửa mường nửa mán (1) để hộ khẩu cho qua đời(2).

  Vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo, động một tí  thì  bổ cho đồng môn, nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi nhà thầy có việc mừng vui, nào khi  thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng, cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là một cái mọt của thiên hạ.

(1)   trong các bản in VNPT gần đây, mấy chữ in nghiêng này thường bị gạch bỏ.

Đây tôi lấy theo bản  của nhà Bút Việt in ở SG  2-1975

(2)   hộ khẩu, từ cổ có nghĩa kiếm sống. Còn qua đời ở đây không có nghĩa là chết mà là qua một kiếp người.

 

 

 

 

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ sáu)

   CÁC TRIỀU VUA CUỐI CÙNG CỦA NHÀ NGUYỄN

   QUAN NIỆM VỀ SỰ KẾ VỊ NHƯ THẾ NÀO      

Ngày 7 tháng 10 năm 2021

   Trong "Đồng Khánh Khải Định chính yếu"  do Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch tiếng Việt, (NXB Thời Đại 2010) tr 269, thấy có ghi: Năm Khải Định thứ bẩy(1922), mùa hạ tháng tư, Mệnh cho Hoàng Thái tử sang Tây du học.

 Dụ rằng:

“ Sở dĩ cha mệnh cho con đi du học chính là muốn con mở rộng kiến thức, tăng cường trí tuệ, đồng thời có được hiểu biết về công việc giao thiệp, để sau khi thành tài có được một tư chất hoàn hảo.

     Vả lại làm  địa vị một người  đứng trên những người khác thì trách nhiệm không phải dễ dàng.

      Với trách nhiệm nặng nề to lớn thì phải có tư chất hơn người mới có thể đảm đương được.

       Nếu may mà con đi du học thành tài trở về  đến khi cha già trăm tuổi qua đời rồi, triều đình lập con nên kế ngôi thì tư chất của con đã đủ để gánh vác trách nhiệm ấy.

       Còn nếu vạn nhất chẳng may vì duyên cớ ngoài ý muốn mà con không học được thành tài khi đó triều đình có đón con về lập lên ngôi thì con phải từ chối nhất thiết không được nhận.

       Nhận ngôi để rồi không đảm đương được trách nhiệm thì  không chỉ hại đến bản thân mà thôi đâu. Cái hại đối với bản thân mình còn là nhỏ, để hại cho tôn miếu xã tắc thì cái hại ấy mới thật là lớn. Con hãy nghe theo lời của cha."

     Nội  dung cụ thể như thế kể cũng đã rõ.  

      Tôi chỉ lưu ý thêm: từ sau 1945 tớí nay,  sử ta chỉ toàn nói về triều Nguyễn với những tội lỗi; tới các đời vua cuối của vương triều này thì sự khinh rẻ coi thường lại càng rõ rệt.

      Tôi không đọc được hết, nhưng chỉ cần giở sử loáng thoáng một chút thấy  họ Nguyễn không đáng bị đối xử như thế.

     Trong hoàn cảnh thời thế thay đổi, dòng họ này có sự thích nghi để tồn tại đàng hoàng chứ không phải cố đấm ăn xôi.

      Khi quyền lực bị o ép, sự cai trị bị thu hẹp, các vua cuối cùng của nhà Nguyễn  vẫn  có khả năng tiếp nhận những bài học của phương Tây để tự đổi mới.

      Quan niệm về sự kế vị như trên là một ví dụ

      Chắc chắn còn tử tế hơn quan chức thời nay  cố nhét con cái vào kế vị mình khiến từ góc độ sinh học  ta thấy như nhiều người trong các dòng họ tham quyền cố vị ấy đang có một sự thoái hóa.

 

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy)

QUAN LẠI TRONG THỜI HẬU CHIẾN

Ngày 10 tháng 10 năm 2021

Thời nay ta quen nghĩ ai làm chiến tranh được thì ra làm kinh tế cũng được. Mà chiến tranh ta đã chiến thắng như thế thì quản lý mấy cái mỏ, mấy cánh rừng hay vận động nông dân sản xuất để nuôi sống xã hội và làm hàng xuất khẩu, với bộ máy của ta  có gì quá khó mà không làm nổi. Lớp quan chức cũ có già đi thì con cái họ, nối tiếp truyền thống của cha anh sẽ tiếp tục một cách xứng đáng.

Nhưng đó liệu đã  phải quan niệm duy nhất đúng chưa? Đọc lại lịch sử chúng ta thấy có những bài học khác .

Nghiên cứu về triều  Lê thế kỷ XV,  sau khi khái quát vấn đề chính của sự phát triển xã hội hậu chiến là bộ máy quan lại, nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Kế ( trong bài mở đầu cho sách "Quốc triều hình luật—Lịch sử hình thành nội dung và giá trị " NXB Khoa học xã hội 2004 ) cho biết:

 Tài năng, đạo đức, chất lượng làm việc của đám người quản lý đất nước này rất tệ hại.

 Lê Thái Tổ từng khái quát là nhiều công thần chung quanh ông ”không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi”.

Lê Thái Tổ làm vua từ 1423 đến 1433.

Tiếp đó là Lê Thái Tông 1433-1442, rồi Lê Nhân Tông 1442 -1459.

Cả hai vị nối tiếp Lê Lợi đều lên ngôi lúc còn trẻ, người mới 11 tuổi, người mới 2 tuổi, nên quyền hành đều ở trong tay nhóm cận thần.

Chính Lê Thánh Tông, người làm vua từ 1460, và nổi tiếng là anh minh,  đã nhận xét đại ý trong khoảng thời gian hai vua nói trên trị vì, ”trên thì tể tướng dưới thì trăm quan bừa bãi hối lộ ( Sách QTHL...đã dẫn, tr.14 . Mà ở đây cũng như ở trên, nhà sử học đương thời chỉ dẫn lại từ bộ "Đại Việt sử ký toàn thư")

Vẫn theo cuốn sách QTHL..., tiếng là các quan đầu triều, nhưng các loại đại thần thời đó may lắm chỉ thạo việc binh đao, còn quản lý đất nước thì không rành việc.

Yếu kém sinh ra hư đốn mọi bề. Tội lỗi sớm muộn cũng sẽ đến với những kẻ dốt nát..

Nguyễn Hải Kế có dẫn lại từ bài "Trung Hưng ký":

”Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như Lê Duyên Lê Luyện thì mù tịt”

” Phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh được nghe theo”

Nói thêm về Lê Sát.

 Sách "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim ghi ông từng theo vua lập được công to, làm quan đến Đại tư đồ.

"Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam"  của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế thì ghi ông này đứng hàng thứ hai trong 53 công thần được khắc tên trong "bảng vàng danh dự" --  nói như ngày nay là bảng tuyên dương công trạng sau chiến tranh. Thời Thái Tông, ông từng giữ chân thừa tướng.

Nhưng vẫn theo Trần Trọng Kim ” Lê Sát là người ít học... lúc làm Phụ chính thường hay cậy quyền trái phép, làm nhiều điều kiêu hãnh, hễ triều thần ai là người không tòng phục thì tìm cách làm hại ” ( VNSL bản Tân Việt 1951, tr 238)

***

Tôi đọc được đâu đó rằng ở nhiều nước, khi có chiến tranh, các trí thức -- tức các chuyên gia cao cấp -- thường ra nước ngoài học hỏi, rồi đến khi chiến tranh kết thúc, họ sẽ quay về tiếp nhận công việc quản lý nhà nước và xây dựng lại xã hội theo những bài bản mà mọi nước phải theo.

 Ở Nhật, thắng xong shogun, vua Minh trị cũng đã áp dụng chính sách trả cho các tướng lĩnh một số tiền lớn để các vị ấy về nghỉ hay đi buôn thì tùy, chứ việc nước thì giao cho người khác.

Ta có lý riêng khi làm theo cách của ta: sau chiến tranh phải trao các chức tước cho những người có công trong chiến tranh và con cháu họ, lý do là cần làm thế để đền đáp phần đóng góp quá lớn của họ trong thời chiến.

Nhưng kết quả sự phát triển chung của xã hội như thế nào thì chúng ta đều biết.

Lịch sử không biết đến chữ NẾU. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng nếu đặt sự phát triển kinh tế sau chiến tranh vào tay các nhà chuyên môn -- bất kể có tham gia chiến tranh hay không, nhưng bắt buộc phải là người có kiến thức và thạo việc quản lý -- để đất nước trở nên thịnh vượng,  chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn để làm công việc ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA  rất chính đáng nói trên.

 

 

 

 

 

 

 

TẤN KỊCH KÉO DÀI 

CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT

Ngày 16 tháng 10 năm 2021

Sau ngày 30-4-75, nhiều cán bộ miền bắc được phân công vào miền nam làm việc, bên cạnh một số nhỏ thạo việc, thì một số  hiện ra như những  người quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động. Số người này ngày càng đông, họ nghĩ ra mọi lý lẽ tự biện hộ để tiếp tục làm liều  rồi nhanh chóng sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ và trượt dài trong cuộc tham nhũng.

      Có nhiều cách giải thích về chuyện này nhưng tôi nhớ hơn cả cái ý của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa  trong một buổi  nói chuyện ở Thư viện quốc gia ở Hà Nội 1976:

  -- Có gì lạ đâu. Hãy hình dung xã hội miền nam  như một cỗ máy, nhiều anh em vào đấy mà không được chỉ dẫn trước rằng  cỗ máy đó hoạt động ra sao, thành ra nhiều khi  họ  cho cả tay vào, vừa hỏng máy vừa hỏng người, nhưng khách quan mà xét không trách họ được. Tại chúng ta chỉ kéo họ làm mà không giúp cho họ suy nghĩ thậm chí cấm họ suy nghĩ.

    Không chỉ đối với việc quản lý miền nam sau 75 mà hầu như trong mọi việc chúng ta làm từ sau 45 chúng ta đều rơi vào tình cảnh phải làm những công việc mà bản thân chẳng hiểu gì cả.

   Làm liều làm ẩu nghe qua loa rồi bắt tay làm, tự mình gán cho công việc của mình những ý nghĩa sang trọng.

   Rồi lại mang nhau mà khen thưởng và phong tặng cho nhau đủ loại danh hiệu và lấy làm bài học truyền lại cho thế hệ sau.

   Một kết quả rõ rệt của lối làm ăn chỉ biết có nhiệt tình và nhắm mắt làm theo lệnh trên này là nó làm hỏng con người.

 BẾ TẮC

Tôi không biết có một dân tộc nào mà lại khuyến khích người dân của mình uống bia uống rượu. Thời trước hễ có ai đến rủ những người đàn ông đi chè chén chơi bời, thì những người đàn bà trong gia đình có thể đến tận nhà người rủ chồng mình làm bậy kia mà chửi rủa và tất cả làng xóm đều đứng về phía người đàn bà đã sáng suốt bảo vệ chồng con mình, gia đình mình.

Còn ngày nay không còn những người đàn bà như vậy, và nếu có thì chị ta lại bị coi là không thức thời, không biết hưởng thụ cuộc đời. Nay là lúc con người hoàn toàn bất lực trước cái xấu. Các gia đình vốn có cấu trúc chặt chẽ trong xã hội cũ nay trở nên lỏng lẻo, không đủ sức giữ con người xa lánh cái xấu và khi đã xấu thì khó có dịp hối cải trở lại với sự lương thiện.

Tôi vốn cơ địa không cho phép mình uống rượu và bẩm sinh có chút khổ hạnh, nên có thể những lời bàn ở đây hơi cổ lỗ không thức thời.

 Nhưng tôi vẫn cho rằng tình cảnh quá nhiều người sa vào rươu  chè quên đời như hiện nay là một tai vạ cho dân tộc.Bởi lẽ từ chỗ chơi bời trụy lạc sẽ sinh nhiều thói xấu khác.

Tuy nhiên cứ thấy thật ra ở đây phải có thái độ nước đôi, có cả phê phán nhưng cũng có thể nói là cần thông cảm.

Tôi tin nhiều  người trong họ đã có lúc muốn sống tử tế, nhưng gặp nhiều chuyện bất lực nên tìm cách giải buồn rồi cứ thế không còn làm chủ được mình. Với những tình cảnh trụy lạc hư hỏng khác cũng vậy, cần thấy nguyên nhân khách quan tác động. Một xã hội đẩy rất nhiều người từ tốt sang xấu - dưới mọi hình thức -  như ta đang thấy hiện nay phải gọi đích danh là một xã hội phi nhân bản.

11/2018

 

 

 

 

 

BỆNH ĐIÊN Ở TA

Ngày 21 tháng 10 năm 2021

Nhớ có lần đã đọc ở đâu đó cho biết đến khoảng một phần năm người Trung  Quốc hiện nay mắc bệnh tâm thần.

       Ở ta, lại thêm di lụy chiến tranh, làm sao tỷ lệ số người này ít hơn được?!

       Vả chăng, thời bình lại có cái loạn riêng của thời bình, nhất là thứ thời bình - hậu chiến.

       Báo chí mình chưa có thói quen nói về tình hình làm ăn của các đại gia, song gần đây, sự làm ăn của họ đã được đề cập.  Có riêng một  bài  có cái tên "Chứng khoán vỡ, đại gia thi nhau vào … viện tâm thần." Nghĩ đến cái tên phim một thời: Người giàu cũng khóc, lại nghĩ đến câu ngạn ngữ Không nỗi đau nào là của riêng ai!

 ĐÂU LÀ PHẨM CHẤT CỦA NHỮNG KẺ ĐIÊN

Những năm trước sau 1970, tôi mới học tiếng Nga và chưa tiếp xúc nhiều với văn học xô viết.

Trong khi đó thì anh Phan Hồng Giang đã học Lomonosov từ đại học và biết rất nhiều chuyện dân nghiên cứu văn học ở Liên Xô bàn tán, nó là những chuyện người ta nói với nhau để xả hơi, khi trong quá trình sống có những điều quan sát thấy mà không bao giờ được viết trên mặt giấy.

Hồi đó trong giới nghiên cứu văn học Nga cũng như Việt Nam đang bị thống trị bởi quan niệm cho rằng văn học phải có nhiệm vụ xây dựng những nhân vật tích cực.

Một trong những mẩu chuyện anh Phan Hồng Giang kể có liên quan tới vấn đề trên. Tóm tắt như sau:

Nhà nghiên cứu văn học nọ có một người bạn là một bác sĩ tâm lý.

Khi anh kể lại những phẩm chất của các nhân vật tích cực mà cấp trên yêu cầu anh ta phải lý giải để áp đặt cho các nhà văn, thì anh bạn bác sĩ kia liền nói: “Đây là phẩm chất của những thằng điên”.

Tôi chợt nhớ lại mẩu chuyện trên khi đọc trên mạng một tài liệu của giới y học nói về sự rối loạn nhân cách. Sau đây là mấy thói quen tâm lý mà người ta cho là người mắc loại bệnh này hay mắc phải:

1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)

2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…

3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất

4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ

5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng

6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.

7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.

8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình

9. Có thái độ, hành vi kiêu căng.

(Theo Wikipedia tiếng Việt, phần "Nhân cách yêu mình thái quá".)

Tôi không phải dân chuyên về tâm lý học và y học nên không dám nói rằng các tiêu chuẩn trở thành kẻ rối loạn tính cách như trên đã đầy đủ chưa, thậm chí “về căn bản” đã chính xác chưa.

Chỉ thấy nó đúng với nhiều người quanh mình.

Nó nằm trong tâm trí nhiều người từ chiến tranh trở về và lao vào cuộc tìm kiếm  một chỗ đứng vinh quang trong thời hậu chiến. Tức có nghĩa nó là quy tắc sống của các anh hùng thời đại.  

Nó bộc lộ qua các nhân vật của thứ văn hóa đại chúng tiêu biểu thời nay là các chương trình TV mà người mình hiện nay coi như một hiện thực còn thực hơn chính họ.

Và nó được người ta tin tưởng  tới mức thường có mặt trong những lời khuyên mà các bậc cha mẹ ngầm nói với con cái hàng ngày.

 BỆNH ĐIÊN HẬU CHIẾN

Trên tôi vừa nói đó là những phẩm chất mà con người từ chiến tranh trở về thường có, vì theo chỗ tôi nhớ, nhiều điều trong đó là những điều trong chiến tranh chúng tôi ở Hà Nội đã được dạy dỗ.

Ví dụ với những bài thơ của Tố Hữu của Chế Lan Viên mà không chỉ học trò phải học, dễ thấy là chúng tôi luôn luôn được nhồi vào đầu những tư tưởng mà các điều 1, 3, 4 trên đây đã mô tả.

Về tầm vóc vĩ đại của thời đại mình.

Về sứ mệnh vinh quang nhân loại giao phó cho cộng đồng mình vv..

Còn các điều 2 và điều 6 ?

 Bạn  hãy thử quan sát một vài nhân vật gọi là thành đạt trong thời hậu chiến. Đầy ảo tưởng. Tham lam dối trá điên loạn. Dám làm tất cả để phục vụ bản thân...

 Chắc bạn không phản đối nếu tôi bảo đó là những điều các anh hùng thời nay thường tự nhủ. Những cái đó làm cho họ trở nên mạnh mẽ, như rượu đã làm cho Chí Phèo trở nên mạnh mẽ.

“Có phải anh định nói rất nhiều người quanh ta đang trong tình trạng rối loạn nhân cách?”

“Thú thực đúng là tôi nghĩ thế. Tôi muốn dùng nó để giải thích tình trạng hỗn loạn hiện nay.

Nhưng trước hết tôi muốn mọi người cùng ngẫm nghĩ về cái tâm lý hậu chiến chi phối con người 40 năm nay. Tôi cảm thấy chiến tranh đã làm sai lạc cả bản chất con người VN như chúng ta vốn có trước 1945.

 Ra khỏi chiến tranh chúng ta chưa tỉnh.

Tức là đang có tình trạng người trong cuộc không nhìn ra bệnh của mình, cứ tưởng mình vẫn đang bình thường như những người khác.”

Khi một căn bệnh đã trở nên bệnh thời đại thì việc gì ta còn phải ngạc nhiên khi thấy những biểu hiện của nó kể cả những biểu hiện phi nhân bản nhân tính nhất.

Cái ác hiện nay là tập đại thành của cái ác đã tích lũy trong lịch sử cộng đồng cả mấy trăm năm nay. Và nó trở nên phổ biến, được phát triển tới quy mô mà các tiền bối của nó trong lịch sử chưa bao giờ làm nổi.

21/10/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín )

GIAI CẤP THỐNG TRỊ NGƯỜI VIỆT DƯỚI CON MẮT 

VUA CHÚA TRUNG HOA THẾ KỶ XVI

Ngày 25 tháng 10 năm 2021

Bây giờ thì  không úp mở nữa, nhiều người nước ngoài đến VN bắt đầu nói thẳng, đúng hơn là báo chí ta bắt đầu đăng những ý kiến họ chê mình chẳng ra sao.

Một nhà nghiên cứu về vịnh biển kêu lên sao các bãi biển VN bẩn thế, đến một lần đã phát khiếp thì ai dám trở lại.

Đại diện một cơ quan văn hóa nước ngoài nói rằng các anh hãy làm cho Hà Nội đỡ bẩn đi thì vẻ đẹp lịch sử của nó mới đến được với người nước ngoài.

Kể ra, đấy mới là chuyện vặt, những chuyện sinh hoạt và là chuyện hôm nay.

Chuyện tương tự thế kể không hết.

Tôi từng ước có một trang mạng nào đó, đưa lên tất cả tài liệu người nước ngoài viết về mọi phương diện của con người và xã hội VN, hôm qua và hôm nay.

Nhất là trong tình hình hiện tại, rất cần có những bài trong đó người nước ngoài nói về cách tổ chức xã hội của người mình, cách người mình quản lý đất nước từ đơn vị cơ sở đến bộ máy bên trên -- "từ làng xã đến triều đình" - , tóm lại là cái phần xấu xa kém cỏi trong cách làm chính trị của người Việt trong quá khứ.

 Mong rằng có bạn nào đó có dịp đọc lại các sử liệu nước ngoài, cả Pháp lẫn Trung Hoa, nói về những nội dung trên đây, ghi nhận mọi  biến chuyển của nó trong thời gian .

 Việc khó nhưng tôi tin là khá thú vị.

***

Trên FB này, ngày 26-9 tôi đã kể một số đoạn có ý nghĩ thời sự được dẫn trong ‘Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia” của Đinh Khắc Thuân,( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001)

 Hôm nay xin dẫn lại một đoạn khác trong sách đó,  ghi lời tâu của quan chức lo quan hệ với nhà Mạc là Mao Bá Ôn tâu lên vua Minh .

Đoạn ấy như sau:

"Hạ thần xét về nước Nam, từ thời Hán thời Tấn đến nay, tuy xưng là nội phụ, nhưng vì thói tục di liêu khí độc lam chướng không thích nghi với Trung quốc. Vả lại nước ấy cứ vài năm một lần loạn lạc, mà đã loạn lạc thì kéo bè kết đảng, đánh giết lẫn nhau, phải qua mấy năm mới yên. Ngày trước Trương Phụ dùng hơn mười vạn quân đánh dẹp mà cũng chỉ đặt được quận huyện trong mấy năm. Sau đó chúng liên tiếp làm phản và rút cuộc lại trở về man di. Đó là một chứng nghiệm rất rõ ràng. Nay cân nhắc sự lợi hại thiệt hơn thời trước, thấy không gì bằng cứ để nước ấy là ngoại bang mà không nhập vào Trung quốc và chỉ nên dùng người di trị người di. Thế mới ổn thỏa và tiện lợi (sđd, tr 58 ).

Ý đoạn này có thể hiểu là cả một chiến lược thâm độc dựa trên nhận thức:

-- không cần chiếm VN làm gì, không lợi, tốn kém

-- người Việt không thể cải tạo

-- vì giới cầm quyền VN chuyên đấu đá lẫn nhau, nên dùng ai làm tay sai cũng được, chỉ cần nắm bọn thắng, rồi sau đó bọn này có bị làm phản thì ta lại ủng hộ bọn thắng mới. Càng đánh nhau chúng càng yếu đi, nên càng phụ thuộc ta, bảo gì chúng cũng phải nghe.

  ***

Sáu bảy mươi năm trước thời ta đánh nhau với Pháp, Mỹ, trong các bài sử bọn học sinh chúng tôi được học, cũng thấy nói họ rất thích dùng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Nhưng thời ấy chúng tôi được giảng  đấy là nói về chuyện bắt lính.

Đằng này giới chóp bu Trung quốc thế kỷ XVI, khi tính về nước Việt, có cái nhìn vĩ mô,  tìm cách thao túng ngay từ bên trên, đấy mới  thật là khôn ngoan.

Nhưng giới cầm quyền ở ta thời ấy phải có một TRUYỀN THỐNG thế nào thì họ mới đi đến cái quyết định rất hiện đại đó chứ.CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín )

GIAI CẤP THỐNG TRỊ NGƯỜI VIỆT DƯỚI CON MẮT

VUA CHÚA TRUNG HOA THẾ KỶ XVI

Bây giờ thì  không úp mở nữa, nhiều người nước ngoài đến VN bắt đầu nói thẳng, đúng hơn là báo chí ta bắt đầu đăng những ý kiến họ chê mình chẳng ra sao.

Một nhà nghiên cứu về vịnh biển kêu lên sao các bãi biển VN bẩn thế, đến một lần đã phát khiếp thì ai dám trở lại.

Đại diện một cơ quan văn hóa nước ngoài nói rằng các anh hãy làm cho Hà Nội đỡ bẩn đi thì vẻ đẹp lịch sử của nó mới đến được với người nước ngoài.

Kể ra, đấy mới là chuyện vặt, những chuyện sinh hoạt và là chuyện hôm nay.

Chuyện tương tự thế kể không hết.

Tôi từng ước có một trang mạng nào đó, đưa lên tất cả tài liệu người nước ngoài viết về mọi phương diện của con người và xã hội VN, hôm qua và hôm nay.

Nhất là trong tình hình hiện tại, rất cần có những bài trong đó người nước ngoài nói về cách tổ chức xã hội của người mình, cách người mình quản lý đất nước từ đơn vị cơ sở đến bộ máy bên trên -- "từ làng xã đến triều đình" - , tóm lại là cái phần xấu xa kém cỏi trong cách làm chính trị của người Việt trong quá khứ.

 Mong rằng có bạn nào đó có dịp đọc lại các sử liệu nước ngoài, cả Pháp lẫn Trung Hoa, nói về những nội dung trên đây, ghi nhận mọi  biến chuyển của nó trong thời gian .

 Việc khó nhưng tôi tin là khá thú vị.

***

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN NGHỀ BIÊN TẬP 

GHI SAU BUỔI GẶP MẶT Ở nxb PHỤ NỮ 25-10- 2017

Ngày 27 tháng 10 năm 2021

Phần đầu đã đưa ở phần còm-men  FB Nguyễn Thị Kim Hằng. Ảnh lấy từ NTKH. Từ trái sang Nguyễn Xuân Khánh, Minh Hà, Lại Nguyên Ân, VTN.

***

Lúc nói chuyện với nguyên giám đốc Mai Quỳnh Giao ở hành lang, tôi còn nhắc một ý:

Trong những buổi gặp mặt như thế này, nên nhắc tới các biên tập viên của nhà xuất bản, chính họ là người quan hệ với chúng tôi thường xuyên.

Họ kéo chúng tôi tới 39 Hàng Chuối, họ đến với chúng tôi trong các hội nghị và các quán nước, họ gợi ý cho chúng tôi viết cái nọ cái kia, họ mang về in lại ở nhà Phụ nữ những cuốn khá bọn tôi đã in ở các nhà xuất bản khác.

 Minh Hà là một người như vậy.

Ba chục năm trước, biết tôi thích thể chân dung văn học, Minh Hà còn kiếm đâu ra cho tôi một bản tiếng Nga  rất quý: cuốn chân dung các nhà văn Pháp của bậc thầy trong thể tài này là A. Maurois, đến nay tôi vẫn còn giữ.

 Khi viết các bài chân dung, tôi thường lấy cuốn đó ra đọc.

 Nếu tôi không lầm Minh Hà cũng có công trong việc kéo Trần Đĩnh dịch cho nhà xuất bản, dăm bảy năm trước, mỗi lần Trần Đĩnh từ Sài Gòn ra Hà Nội, Minh Hà đều gọi cho tôi đến gặp Trần Đĩnh, ngay ở 39HC.

Ngoài bản dịch Linh Sơn, Trần Đĩnh còn dịch cuốn "Những con chim hồng hộc"  của Trang Nhung từ bản tiếng Anh "Wild Swans" của Jung Chang - một trong những cuốn sách viết về nước Trung Hoa sau 1949 phổ biến nhất ở phương Tây.

Còn một biên tập viên nữa cần nhắc là Nguyễn Sinh.

Trước khi tới buổi gặp này, tôi hy vọng gặp Nguyễn Sinh mà không được gặp. Trước và sau 1975, nói tới "Phụ nữ" chúng tôi chỉ biết Nguyễn Sinh.

Anh vốn ở báo Nhân Dân chuyển sang. Nhiều năm làm phóng viên, anh có cuốn "Ký sự miền đất lửa" viết về chiến tranh với cái giọng vừa phải.

Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu đều thân quen với Nguyễn Sinh.

Tiếc rằng -- không biết tôi có lơ đễnh không nhận ra không -- trong các phát biểu và các hình ảnh đưa trên màn hình, không thấy có nhắc đến Nguyễn Sinh một lần. Hy vọng là tôi do không chú ý nên có Nguyễn Sinh mà tôi không biết.

***

 Tôi sở dĩ nói tới chuyện biên tập viên hôm nay vì tự nhiên nhớ một chi tiết: hồi còn làm ở nxb Hội nhà văn mỗi lần Hội có tổ chức "Hội nghị xuất bản",  ông Hữu Thỉnh (người trong bụng hẳn thường nghĩ VĂN HỌC LÀ TA)  cũng chỉ yêu cầu các vị giám đốc, và một số vị trưởng phòng lên báo cáo, còn biên tập viên không bao giờ được gọi lên phát biểu về nghề nghiệp.

Lúc ngồi cạnh Trần Đình Sử, tôi còn buột miệng kể thêm hai chuyện trong nghề:

-- trước khi làm xuất bản tôi có chục năm làm báo và có một nhận xét là -- trừ một ít trường hợp cá biệt -- các ông tổng biên tập báo thường  khi không có một bài nào được người trong giới đánh giá cao về mặt nghề nghiệp. Nhiều người trong họ không hề biết một tờ báo nào thời tiền chiến, ở miền Nam trước 1975,  chứ đừng nói  báo  ở Bắc Kinh, Moskva, Paris, NewYork

--Đến các ông giám đốc xuất bản, chắc có khá hơn hay kém hơn một chút, nhưng cũng chẳng bao nhiêu.  Một đặc điểm nữa, là không bao giờ thấy mặt các ông ấy ở các hiệu sách phố sách đường sách trong những ngày thường, hoặc ở các hiệu sách cũ và các thư viện.

TUỔI GIÀ XỨ MÌNH

Ngày 28 tháng 10 năm 2021

Trang viet-studies mấy hôm trước in bài "Tuổi già là thời sung sướng nhất". Đọc vào thì thấy người già ở xứ người --kể cả người Việt-- sao mà dễ sống. Luôn luôn họ tìm được sự bằng lòng. Mọi cái ở nơi khác coi là bất hạnh – chẳng hạn vợ chồng về già còn ly dị -- cũng được các vị ấy “tiêu hóa” một cách dễ dàng.

Tôi ước ao có một ai đó ngồi tổng kết về tuổi già ở xứ mình.

Trong một phản ứng tức thì, tôi chỉ thấy rằng người già ở trong nước đang rất khổ với nghĩa cả khi về già có được đời sống tạm đủ ăn, thì cũng luôn có gì đó như là bất mãn. Thấy tiếc quãng đời trẻ, muốn truy lĩnh muốn hưởng thụ bù vào những ngày lê lết trong khốn khổ. Lại có đôi người tự thấy rằng năng lực của mình chưa được thể hiện hết, nay lao ra hoạt động còn năng nổ hơn trước, và hoạt động nhiều khi khá kệch cỡm. Trong khi đó, ngoảnh lại nhìn những người thân trong gia đình, thấy ngạc nhiên. Sao mình lại có thể chung sống hàng bao nhiêu năm với người chồng hay người vợ như thế này? Đứa con nay đã trưởng thành này có phải là đứa nhỏ mà xưa kia mình đã từng chăm bẵm? Có cái bực bội nó khiến người ta muốn thoát sớm cho rảnh. Ngay lúc ấy lại có cái tỉnh táo tin rằng chả làm sao trốn khỏi cuộc đời này…Tuổi già là trong ê chề, tuổi già là trong bất lực.

Trích "Ghi chép trong tuần" (20-26/10-2014) đưa trên blog hôm nay.

 

 

 

 

 

 

 

ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN MỌI YẾU KÉM CỦA NGƯỜI VIỆT

Ngày 30 tháng 10 năm 2021

Trên FB Nhân Thế Hoàng, hôm nay 30-10-2014, tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:

Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi.

Cái này là điệp khúc mà mấy bạn trẻ cuồng đảng hay phát ngôn để bảo vệ khi có ý kiến trái chiều chê trách về các vấn đề xã hội hay tình trạng bê bết của nền kinh tế hiện nay.

Thế bạn có biết, cũng là người Việt nhưng năng suất lao động của 3 triệu người Việt ở Mỹ tương đương với năng suất lao động của 90 triệu người Việt trong nước hay không? Con số 100 tỷ USD tạo ra hằng năm của 3 triệu người Việt ở Mỹ đã nói lên điều đó, điều này chứng minh người Việt không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới về độ thông minh, cần cù, chịu khó, chỉ là do bị kèm cặp quá nên 90 triệu người trong nước mới làm việc kém năng suất và hiệu quả như vậy. Người xưa có câu: "Cây quýt trồng ở đất này thì ngọt mà mang sang đất khác thì chua", và lạ thay cây quýt Việt thường chua ở xứ mình nhưng lại ngọt ở xứ người!

Bình luận của tôi, đã đưa trên blog cá nhân hôm nay, đưới đây  xin tóm tắt một số ý.

Tại sao lại có hiện tượng ở trong nước thì dở, ra nước ngoài mới tử tế?

Dẫn chứng mà bạn Nhân Thế Hoàng nêu lên là không thể cãi được.

Theo tôi nó chỉ khi bị buộc phải làm theo sự chỉ đạo của người khác, chúng ta mới dứt bỏ được thói quen cố hữu từ ngàn đời ông cha để lại để có thể sống và làm việc như mọi con người tử tế khác trên thế giới.

Chính trường hợp 3 triệu người VN ở Mỹ mà bạn Hoàng nêu là nằm trong hoàn cảnh đó.

Trở lại với đầu thế kỷ XX. Do sự bảo trợ của người Pháp, sống trong một nhà nước do người Pháp quản lý, mà người Việt có được sự thay đổi trong tính cách và có những bộ phận đạt được cách sống cách suy nghĩ trình độ làm việc của con người hiện đại.

Kết luận tạm thời: chúng ta là một cộng đồng kém về năng lực tự quản lý. Trong những điều mà chúng ta học được từ văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta học được ít nhất là văn hóa tổ chức xã hội, văn hóa quyền lực. Cai trị học – bên Trung quốc người ta gọi là trị quốc chi đạo -- là cả một vấn đề lớn, muốn có kết luận thuyết phục cần trở lại với các tài liệu lịch sử, phải nhiều người mới làm được, tôi chỉ nêu sơ sơ như vậy.

Dưới đây để chứng minh cho ý kiến trên, tôi lấy thêm một số ví dụ không phải trong khu vực chính trị mà chỉ là trong phạm vi đời sống thông thường.

Trong phạm vi hướng nghiệp cho con em trong các gia đình bình thường, Phương Quỳnh bạn tôi có lần kể cho tôi chuyện sau.

-- Con mình học khá giỏi, nhưng đi làm cho các ông chủ trong nước một hồi, thấy đằng nào cũng chết.

Làm cho nhà nước thì gặp toàn những ông dốt, lại còn cái lối phong kiến cổ lỗ, coi bọn mới ra trường như kẻ ăn người ở, chuyên sai vặt.

 Làm cho tư nhân - nhất là tư nhân xuất thân Hà Nội - cũng phần lớn là bọn trương ra cái biển thật to để dọa thiên hạ, chưa làm đã lo buôn lậu với lại đi hối lộ cấp trên cùng là sẵn sàng cạnh tranh với các đồng nghiệp bằng mọi thủ đoạn man rợ.

 Và Phương Quỳnh khuyên:

-- Các cậu có con bây giờ thì phải tính trước đi, cố hướng con cái kiếm được việc cho các hãng nước ngoài, ở đó cắn răng mà học lấy nghề thì mới nên người được.

Vài điều tôi tạm rút ra cho mình:

+ Xã hội VN từ nhiều thế kỷ nay chỉ được tổ chức theo những nguyên tắc quá đơn giản. Việc quản lý con người  theo nghĩa đầy đủ nhất của chữ này chưa bao giờ được coi như một nghiệp vụ mà người ta phải học hỏi mới làm được. Cái khó nhất với nhiều người Việt có năng lực là tìm ra ông chủ xứng đáng với mình.

+ Chính vì chúng ta không có những nhà quản lý giỏi, những ông chủ giỏi mà mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cứ mãi mãi lạc hậu, và trước mắt chỉ đi làm ăn dưới quyền chỉ đạo của người nước ngoài, ta mới khá lên được.Từ chỗ chịu làm ăn mọi tính cách người Việt sẽ thay đổi.

+Chỉ lúc đó, ta mới có quyền tự hào. Chỉ lúc đó, dân ta mới sửa được những tính xấu cố hữu như lười biếng dối trá ăn cắp …và – cho  tôi bổ sung thêm một thói xấu nữa -- là chỉ giỏi cãi bừa cãi sằng, hễ ai động vào tử huyệt của mình là chửi người ta thiếu thiện chí.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SẼ TÌM HY VỌNG Ở ĐÂU?

Ngày 32 tháng 10 năm 2021

Khi danh họa Leonardo da Vinci quyết định sẽ vẽ một bức bích họa có chủ đề  "Bữa tối cuối cùng của Chúa", ông đã tiến hành tuyển người làm mẫu để vẽ Jesus.

Trong hai tháng ròng rã, da Vinci tuyển chọn hàng ngàn thanh niên ở địa phương, cuối cùng ông tìm ra một chàng trai 17 tuổi với gương mặt “mà không một ý nghĩ xấu xa nào có thể nảy mầm”.

 Sáu tháng sau đó, danh họa vùi đầu làm việc để vẽ lại khuôn mặt của chàng trai vào chính giữa của bức tranh.

Bảy năm kế tiếp, ông lần lượt vẽ 12 học trò của chúa, nhưng tới khi vẽ Judas, Da Vinci lại thấy quá đỗi khó khăn.

 “Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp” – họa sĩ tự nhủ.

Da Vinci cần có một gương mặt mẫu xấu xa bỉ ổi và đáng ghê tởm nhất trần đời.

 Tìm đâu ra một con người như thế?

Ấy vậy mà trong một nhà ngục của Rome, một tên tử tội đã khiến Da Vinci phải lăn lội hàng ngàn cây số.

Gương mặt của hắn ta độc ác, bất tín và khiến người ta tưởng tượng ra đủ thứ tội lỗi trên đời.

Vậy là cuối cùng, Judas cũng đã xuất hiện.

Sáu tháng sau đó, Da Vinci hoàn thiện người thứ 13 trong bức “Bữa ăn cuối cùng của Chúa”. Người ta kể với nhau rằng ông gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia.

 Khi xong việc, danh họa chỉ muốn người ta tống ngay hắn trở lại với nhà ngục ở Rome.

Thấy vậy tên tử tù bỗng rơi nước mắt:

 “Ngài Da Vinci, ngài không nhận ra tôi sao? Khi tôi 17 tuổi, tôi đã từng một lần làm mẫu cho ngài!”

MẤY LIÊN TƯỞNG BƠ VƠ

 Đoạn  văn này  được viết trên mạng Bongda plus 2-12 -2014, phần để nói về  CLB bóng đá Arsenal, sự suy đồi của Arsenal dưới sự dắt dẫn của A. Wenger.

 Nhưng chắc tất cả chúng ta đều hiểu rằng nó nói về khả năng vô tận của thế giới này trong việc biến cải con người.

Luôn luôn cuộc đời có thể tác động vào con người ta theo dạng lật ngược, đặt chân lên đầu, mang người ta  từ thái cực nọ sang thái cực kia.

Riêng  tôi lại thấy  nó còn là bài học về  lao động của người nghệ sĩ. Những nghệ sĩ  có yêu cầu cao về nghề nghiệp nhất định sẽ được đền đáp. Miễn là ở ông ta  sự sáng suốt đi kèm với sự kiên trì.

 Gần gũi nhất với tôi là cái câu Da Vinci "gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia".

 Còn đau nhất với tôi là cái câu cảnh cáo “Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp”

 Tôi tự hỏi thế còn trường hợp ngược lại?

 Đám nghệ sĩ tầm thường chúng ta thời nay, từ thuở sinh ra tới khi nhắm mắt,  luôn bị bao quanh bởi trùng trùng điệp điệp những cái xấu,  sẽ tuyệt đường sinh lộ khi mong mình có thể diễn tả cái đẹp tối thượng hay sao?

 

 

 

 

 

SỰ TỪ CHỐI LIÊN TỤC 

 VỚI MỌI TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY

Ngày 1 tháng 11 năm 2021

Trong vụ GS Chu Hảo, nhiều người thắc mắc tại sao cấp trên lại phê phán ông về hoạt động của nhà xuất bản Tri Thức.

Là một người đã làm công tác xuất bản và ít nhiều có hoạt động trong lĩnh vực sách vở khoa học xã hội, tôi không lấy làm lạ. Câu chuyện từ chối các tài liệu nghiên cứu từ phương tây vốn có từ lâu lắm.

Sinh thời nhà thơ Tố Hữu từng cho rằng về khoa học tự nhiên ta có thể kém chứ khoa học xã hội thì ta không chịu một ai. Thậm chí theo cách nói của Tố Hữu ta còn có thể đi dạy cho các nước khác nữa.

Trong giới khoa học xã hội nhiều người lứa tuổi tôi hẳn biết nhà dân tộc học Từ Chi từng mang vạ vì ở nơi sơ tán mà để hết tâm trí ngồi đọc Nhiệt Đới Buồn của Claude Lévi-Strauss.. Có lần một phó ban tuyên giáo hình như là ông Hà Huy Giáp đến thăm nơi sơ tán của cơ quan phát hiện ra việc này của Từ Chi. Sau đó ông liền bị chi bộ quần cho một trận. Kinh nghiệm của Từ Chi là không nên làm việc ở cơ quan mình có chuyên môn mà nên làm ở một nơi chung chung khác, sẽ dễ ẩn mình để tự do nghiên cứu hơn.

Trước đó thời Liên Xô theo chúng ta là sa vào chủ nghĩa xét lại, sách vở khoa học xã hội cũng bị cấm đoán như vậy. Cũng may là các sinh viên Việt Nam sang Liên Xô học thường cũng không biết rộng ra ngoài phạm vi nhà trường dạy mình, mà chỉ tiếp thu cái phần bảo thủ trong các tài liệu của Xô Viết, nên ở đây không xảy ra những bi kịch đáng kể lắm. Chỉ có một lần nhà nghiên cứu điện ảnh Mai Luân nhắc lại một luận điểm của ông thầy Nga về khả năng ‘phá vỡ logic cuộc sống’ thì lập tức bị nhà mác – xít cổ điển Trường Chinh phê phán cho một trận, thế là cạch hẳn.

 PGS Đặng Anh Đào tôi quen vốn làm công việc nghiên cứu văn học phương Tây, nhưng rất am hiểu văn học Việt Nam  từ những năm tám mươi có chuyển  sang viết về  văn học đương thời, sau đã  trở thành một thành viên Hội nhà văn. Chị Đào có lần nhận xét về ông Hữu Thỉnh phụ trách Hội nhà văn chúng tôi, sao ông này có quan điểm rất lạ, người Pháp người ta cho sách thì chỉ nhận sách cổ điển, còn sách hiện đại thế kỷ XX thì nhất định không nhận. Tôi phải nói ngay với chị Đào rằng cái lối này đã có từ thời của nhà văn kiêm nhà trí thức số một của giới văn nghệ thời ta là ông Nguyễn Đình Thi. Hồi chống Mỹ, Pháp họ vẫn cho Hội nhà văn sách rất đều. Ông Thi nhận nhưng giao cho bà Huệ giữ thư viện – cũng tức là vợ nhà văn Bùi Hiển -- cất kín trên gác, chỉ khi có lệnh của ông Thi bà Huệ mới được phép cho mượn. Nói tóm lại, cái xu hướng tự cách ly hẳn với thiên hạ, cái đó vốn là chủ trương của những người phụ trách mãi bên trên, và đã kéo dài lâu quá, gây nên bao nhiêu tật bệnh.  

Từ sau 1986, sự tiếp nhận tư tưởng khoa học xã hội phương tây được sự tiếp nhận kinh tế hỗ trợ nên  khộng khỏi tạo  áp lực khiến cấp trên có phần bắt buộc phải có cái nhìn cởi mở hơn. Nhiều quyển sách quan trọng của khoa học xã hội Mỹ Anh Pháp Đức...được giới thiệu để dịch ở ngay cơ quan xuất bản chính thức của  nhà nước. Bộ phận quản lý không dễ từ chối, nhưng vẫn tìm ra cách đối phó riêng. Chỉ cho in ra những gì ta đã phần nào kiểm soát được. Thông thường chỉ cho in với số lượng rất ít và có khi in xong không giới thiệu rộng rãi  cất ngay vào kho để hạn chế  phổ biến. Các tác phẩm động chạm đến các vấn đề cụ thể của Việt nam càng được soi xét kĩ lưỡng, có nhiều quyển, những đoạn quan trọng thì bị đục bỏ hoặc bị giải thích lại theo ý muốn chủ quan của cơ quan xuất bản Việt Nam.

Mặc dầu vậy, ở các cơ sở xuất bản của các nganh nghề và các địa phương, những người làm công việc giới thiệu các tài liệu khoa học xã hội nước ngoài vào Việt Nam vẫn tìm cách len lỏi để có thể đưa được những tác phẩm mà họ thấy là cần thiết cho đất nước trên con đường gia nhập vào thế giới hiện đại. Việc này hết sức khó khăn và dễ gây ra tai vạ, phải mưu mẹo lắm mới có thể đưa ra được những gì mình muốn.

Trong tình hình ấy, việc nhà xuất bản Tri Thức in ra được hàng loạt sách khoa học xã hội có giá trị cổ điển, hoặc cập nhật những tài liệu mới nhất gây ra tranh cãi ở nước ngoài, nhất là cho dịch được những tác phẩm sát sao với tình hình Việt Nam, với nhu cầu đổi mới của Việt Nam -  phải nói là một hiện tượng hiếm hoi.

Chúng ta cần ghi nhận ở đây, những cởi mở và quả quyết của GS Chu Hảo được sự đồng tình ủng hộ của tri thức trong và ngoài nước, nên mới đạt nhiều thành tựu như vậy.

Cái tinh thần sáng tạo của nhà xuất bản Tri Thức sẽ được bộ phận tinh hoa trong trí thức cả nước tiếp tục, và dù bất cứ hoàn cảnh nào thì nó cũng không thể bị đảo ngược.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TUỔI GIÀ......VÀ  PHỤ NỮ

Ngày 2 tháng 11 năm 2021

   Mấy ông già tôi quen ngoài sông hôm nay ngồi đọc một câu ca dao mà ở nhiều gia đình thành câu truyền miệng:  

   Đố:Con gì ăn ít nói nhiều

 Mau già lâu chết, miệng kêu tiền tiền.

  Trả lời: đám già.

         Nhớ một lần khác, một ông già kể có lần một người mẹ đang chơi với con vui vẻ, thấy ông ta đến liền bảo kìa chào ông đi, đứa bé ngó một lúc rồi sợ quay ra khóc.Với nó, khuôn mặt già cả nhăn nheo là một cái gì xấu xa kỳ dị đáng sợ.

       Cái già ở đâu cũng thế, chẳng cứ mặt người! Thế mà thử nghĩ xem, chúng ta sống giữa một xã hội già cả cố lỗ-- già trong tinh thần chứ không phải bề ngoài--, cả lớp trẻ hiện nay, sao tôi trông cái cách kiếm tiền chơi bời hưởng thụ, cũng thấy họ già sớm qúa.

...........

 Nếu tuổi già tiêu biểu cho suy kiệt thì phụ nữ tượng trưng cho sự đỏng đảnh. Đây là ý của Henry Troyat. Ông này là một nhà văn Nga, sau Cách mạng tháng Mười lưu vong sang Pháp, viết văn, trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp.  Ông thường viết về nước Nga cũ, nhưng lại từ chối không bao giờ về thăm quê hương. Ông bảo, để cho cái cũ nó được sống đúng như nó có.

 Sau đây là đoạn văn mà tôi tạm đặt tên là Đàn bà là gì?, ông viết nhân khi bàn đến nhân vật Grouchenka trong Anh em Karamazov

Người đàn bà, ấy là sự điên cuồng làm bằng xương thịt. Người đàn bà khô héo trong sự chờ đợi, đau khổ trong sự thực hiện những ý muốn của họ. Lúc thì họ ác độc để có cái thứ tỏ ra dịu dàng tiếp sau đó. Lúc thì họ dịu dàng để có cái thú được tỏ ra độc ác liền một khi. Họ có những e lệ tà tâm và những khoái lạc ngây thơ. Họ nói láo với đàn ông, với chúa, với chính họ. Họ đùa với cuộc đời. Họ đứng trước cuộc sống như đứng trước một tấm gương. Họ làm duyên làm dáng. Và họ thay đổi vẻ mặt điệu bộ để tự tạo cho mình cảm giác là mình đang sống. Đối với đàn ông sự trường tồn là bằng chứng của thực thể họ. Và chính do sự đổi thay mà người đàn bà xác nhận sự hiện hữu của mình. Cái ngưòi đàn ông muốn là một, còn người đàn bà muốn là nhiều. Người đàn ông chỉ tự cảm thấy mạnh trong sự ý thức đầy đủ về các đức tính và lỗi lầm của họ. Người đàn bà chỉ cảm thấy mạnh trong vô thức hoàn toàn về bản thân. Người đàn ông, chính là cái thế giới được tổ chức. Người đàn bà chính là cái vũ trụ dị dạng. Đối với người đàn bà, tất cả đều có thể, không gì là nhất thiết với họ cả. (Tôi chép từ bán nguyệt san Văn in ở Sài Gòn khoảng 1971-72, số đặc biệt về Dostoievski )

      Đỏng đảnh cũng là một phương diện chủ yếu của đời sống hôm nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHỨNG RỐI LOẠN NHÂN CÁCH

Ngày 6 tháng 11 năm 2021

Trong bài viết về điên lần trước, chủ ý của tôi chỉ là nhấn mạnh một vài ý nghĩa tich cực của trạng thái tinh thần này  là điều thường xảy ra ở các xã hội khác.

Đối chiếu với tình hình ở ta. Người  Việt mình thường là nửa vời nên  khó bùng nổ trong công việc.

Ta không có người điên kiểu ấy.

 Kiểu điên của ta, nhất là nhũng con người hiện đại gần với chứng rối loạn nhân cách là một thứ cận điên.

Sau đây là mấy thói quen tâm lý mà các tài liệu của giới y học

 cho là người mắc loại bệnh này hay mắc phải:

1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)

2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…

3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất

4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ

5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng

6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.

7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.

8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình

9. Có thái độ, hành vi kiêu căng.

(Theo Wikipedia tiếng Việt, phần "Nhân cách yêu mình thái quá".)

Tôi không phải dân chuyên về tâm lý học và y học nên không dám nói rằng các tiêu chuẩn trở thành kẻ rối loạn tính cách như trên đã đầy đủ chưa, thậm chí “về căn bản” đã chính xác chưa.

Chỉ thấy nó đúng với nhiều người quanh mình.

Nó nằm trong tâm trí nhiều người từ chiến tranh trở về và lao vào cuộc tìm kiếm  một chỗ đứng vinh quang trong thời hậu chiến.  

Nó bộc lộ qua các nhân vật của thứ văn hóa đại chúng tiêu biểu thời nay là các chương trình TV mà người mình hiện nay coi như một hiện thực còn thực hơn chính họ.

Và nó được người ta tin tưởng  tới mức thường có mặt trong những lời khuyên mà các bậc cha mẹ ngầm nói với con cái hàng ngày.

Bây giờ tôi muốn nói về nguồn gốc hiện tượng

Nhiều đặc tính con người kể trên là những điều trong thời gian trước 1975 chúng tôi ở Hà Nội đã được dạy dỗ.

Ví dụ với những bài thơ của Tố Hữu của Chế Lan Viên không chỉ học trò phải học, mà cả nước đều thuộc.

Dễ thấy là chúng tôi luôn luôn được nhồi vào đầu những tư tưởng mà các điều 1, 3, 4 trên đây đã mô tả.

-- Về tầm vóc vĩ đại của thời đại mình.

-- Về sứ mệnh vinh quang nhân loại giao phó cho cộng đồng mình vv..

Còn các điều 2 và điều 6 ?

 Bạn  hãy thử quan sát một vài nhân vật gọi là thành đạt trong thời hậu chiến. Đầy ảo tưởng. Tham lam dối trá điên loạn. Dám làm tất cả để phục vụ bản thân...

 Chắc bạn không phản đối nếu tôi bảo đó là những điều các anh hùng thời nay thường tự nhủ. Những cái đó làm cho họ trở nên mạnh mẽ, như rượu đã làm cho Chí Phèo trở nên mạnh mẽ.

Ngẫm nghĩ về cái tâm lý hậu chiến chi phối con người 40 năm nay, tôi cảm thấy chiến tranh đã làm sai lạc cả bản chất con người VN như chúng ta vốn có trước 1945.Thế mà bây giờ người ta vẫn giáo dục bọn trẻ theo kiểu ấy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG KẺ TRƠ TRÁO

Ngày 7 tháng 11 năm 2021

       Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ. Tôi nhớ  một câu đố vui  

“Có cây mà chả có cành

 Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa

 Người bán thì bảo rằng già

 Người mua thì bảo thực thà còn non “  

và câu giải đúng là “cái cân”.

     Những ngày này thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó, không phải để suy nghĩ về tư duy kinh tế của người mình, mà cốt ghi nhận một xu hướng  trong giao tiếp.

      Là hình như nay là lúc trong nhiều chuyện chẳng có đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ queo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.

    Có những việc “ bánh đúc bày sàng”,  giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình.

     Có người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế luồn lách cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi.

      Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh.

      Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh là cái sự việc năm trước, Bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký mua chỉ nhận: “ Chúng tôi hơi không được cẩn thận “ “ Chúng tôi chưa có kinh nghiệm “.

    Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế ?“, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều ? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được “...

    Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa... lại tiếp tục trong bóng tối.  

   Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch T. Đ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những trò chơi động trời mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo.

   Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và...bị bắt quả tang.

    Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng , van lạy rối rít.

    Song ông vẫn không có gì hoảng hốt.

    Bảo đợi tôi mặc quần áo đã.

    Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng tôi vào chơi nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản.

    Thế thôi, rồi lững thững ra về.

    Chẳng ai làm gì được ông cả!

     Nói thật, theo dõi nhiều vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hoá ra kinh nghiệm của T.Đ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.

 NHỮNG LÝ LẼ ĐIÊN KHÙNG

  "Cổ học tinh hoa"  là một tập sách gồm 250 mấu  chuyện rút từ sách vở cổ Trung Hoa, do Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân soạn từ 1925 tới nay đã 90 năm, thời nào cũng được in lại,có mặt trong các tủ sách gia đình của lớp người có học.

     Trong sách có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của  người xưa.

Một người lục tủ thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm.

Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại  đòi.

Chị ta  cãi: “Áo tôi mặc  đây là áo của tôi chính tay tôi may ra “.

 Anh kia  đáp lại bằng cái lý lẽ kỳ cục như sau:

 “Cái  áo thâm của tôi mất  thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa “.

     Các tác giả "Cổ học tinh hoa" phân tích:

 +  mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười;

+ mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai;

+mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba.

 Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm cái gì cũng dám nói.

    Tôi muốn bổ sung thêm, đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu về sự trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh của con người. Trong những trường hợp như thế này, nó thật đã vựơt lên trên hết mọi cách xử thế thông thường.   

     Và bạn có biết lúc đó chúng ta trở nên thế nào không? Tôi muốn nói khi trơ tráo và ráo hoảnh vậy,  ta trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.   

     Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo. Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.

     Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của chúng ta vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang,  chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên “ Ơ ! Con cứ tưởng … “ hoặc “Thế à, thế mà cháu không biết “.

      Giờ đây khi bị tố là tham nhũng,  nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi  “Ơ ! Tôi cứ tưởng...Tôi đâu có biết  “.

      Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con thường chỉ “ cháu không biết “ trước một vài đồng, còn người lớn bây giờ thì “ tôi đâu có  biết “ khi bỏ túi bạc tỉ, hàng trăm tỉ hàng ngàn tỉ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÀY MỖI PHỤ THUỘC

Ngày 10 tháng 11 năm 2021

Không cần là một chuyên gia kinh tế, nhiều người  cũng đã biết rằng nền sản xuất và buôn bán của ta phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu hàng nước ngoài. Không chỉ dầu xăng thép phân bón thuốc trừ sâu thuốc chữa bệnh.. mà ngay cả  mấy hạt muối dùng trong công nghiệp  hay nguyên liệu chế biến thức ăn cho gia súc ta cũng phải đi mua. Thời buổi thế giới biến động, nền kinh tế mình như cái phao, biển động nổi gió một tí là dập dềnh theo, thiên hạ vừa hắt hơi một cái là mình đã nước mắt nước mũi giàn dụa.

Nhưng hôm nay tôi muốn nói một khía cạnh khác của sự phụ thuộc. Thoạt nhìn, nó có vẻ không mấy đáng ghét, bởi chỉ là chuyện có vẻ bề ngoài, có vẻ tạm thời – như cách mọi người hay nói -- nhưng suy cho cùng, vẫn tố cáo một sự lệ thuộc sâu sắc của ta.

Sự phụ thuộc trong sinh hoạt

Phải  tới những năm chiến tranh qua đi, dân Hà Nội  mới biết và rỉ tai nhau  là mấy khách sạn lớn nhất ở đây thường dùng rau và thịt chuyển từ nước ngoài về, chứ không dùng đồ mua từ các chợ quanh phố như dân bản địa.

 Với tâm lý của kẻ sống trong thế giới trung cổ, nghe những chuyện đó, lập tức nhiều người thấy sao mà họ cầu kỳ và có phần rởm nữa. Sống ở đây mà tách ra như trên một hòn đảo, sao họ lạ vậy ?

Ai ngờ việc sử dụng cả lương thực ngoại nhập đó giờ đây lan ra trong nhiều tầng lớp dân thường người mình, nhất là sau các đợt phát hiện rau quả có phun hóa chất, còn các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm thì hoành hành, cứ chấm dứt được ít lâu lại bùng phát trở lại.

Ở đây tôi không dừng lại ở khía cạnh đạo lý của vấn đề mà chỉ vấn vương ở chỗ là hình như chính chúng ta đang không nuôi mình bằng các thứ thổ sản,  không xài thứ hàng mà chính đồng bào trong nước chúng ta làm ra, --  mà sẵn sàng toàn dùng hàng hóa  xuất phát từ các xứ khác do người khác làm.

Tại sao tình trạng này ngày một phát triển ?

Nghĩ tận căn nguyên thấy có hai lý do. Thứ nhất hàng ngoại rẻ và tốt. Thứ hai là nhiều khi hàng ngoại đáp ứng được cái nhu cầu sát sườn của mình mà hàng nội không đáp ứng nổi.

Liên quan tới lý do thứ nhất, có một ví dụ tôi nghe từ mấy năm trước thấy rất có ý nghĩa. Là ngay ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh hay Cần Thơ, nhiều người dân đang thích dùng gạo chuyển từ Thái Lan sang. Trời ! Giá vài chục năm trước, nghe ai nói thế chúng ta sẽ bảo là chuyện bịa. Làm gì lại ra nông nỗi như thế. Từ Thái sang quá diệu vợi, còn công tàu bè chuyên chở công bốc vác, sao mà rẻ được?! Mà làm gì có chuyện gạo họ ngon hơn, hợp với cái hương vị nồi cơm mà mỗi người chúng mình được thấm từ hồi còn bú mẹ! Hóa ra thời thế thay đổi, việc không ai tưởng là có, nay đều có cả.

Liên quan tới ưu thế của hàng ngoại trong việc đón đường và nắm bắt nhu cầu, sau đây là câu chuyện tôi nghe từ miệng mấy bà bán hàng lặt vặt ở phố chợ Hà Nội ( tôi cố ý tránh chữ phố cổ mà thấy gọi là phố chợ có lẽ hợp hơn).

Từ lâu người Hà Nội có thói quen là nếu chiến thắng trong các cuộc đua tranh trong thể thao là đổ ra đường ăn mừng. Lúc đó người ta thích mua cờ và các băng khẩu hiệu để trương lên, giá đắt cũng mua.

Một số nhà sản xuất VN cũng biết điều đó, nhưng vốn mỏng không làm được bao nhiêu. Khôn ngoan và biết tổ chức công việc hơn là các nhà sản xuất từ bên kia biên giới. Họ nắm ngay lấy khoảng trống đó. Mỗi lần dân thủ đô có nhu cầu là hàng từ biên giới phía bắc tràn về. Rút cục dân buôn mình chỉ thành trung gian bán lẻ cho đồng bào mình thứ hàng mà họ sản xuất.

Không chỉ trong chuyện băng cờ khẩu hiệu mà nhiều mặt hàng khác cũng có tình trạng tương tự. Theo tôi hiểu, đây là cả một xu hướng mà mỗi ngày chúng ta cảm thấy rõ rệt hơn. Mọi dòng nước ngược phản công lại cũng có nhưng không thấm thía gì cả.

Để cả vui buồn trong tay người

Trong Nỗi lòng ai tỏ của Nguyễn Công Hoan, nhân vật chính là một cô gái tân thời. Đang tự nhiên cô suốt ngày thở ngắn than dài bỏ cơm, lên giường thút thít khóc, khiến cho cả nhà phải lo lắng. Cô bảo chỉ có một người bạn gái mới hiểu được cô và giải phiền cho cô. Đến khi người bạn kia tới thì cô nhỏm ngay dậy tâm sự.

Sở dĩ cô buổn - buồn - buồn mất mấy ngày, ấy là vì một nhân vật tiểu thuyết cô đang đọc chết, thương quá !

Tôi nghĩ đến những con người thời nay. Chắc hẳn hàng ngày không thiếu cảnh cậu ấm cô chiêu ở các nhà giàu đập chân đập ta hành hạ bố mẹ vì không tìm ra mấy loại xe mới cho họ trưng diện. Rồi cả những cán bộ bình thường Hà Nội ngủ trưa trên bàn cơ quan và chia nhau suất cơm hộp chục ngàn cũng để hết tâm trí cả vào những Chelsea với lại Real Madrid ở các phương trời xa.  Rồi cả những thanh niên đặt môi hôn cả ghế ngồi của các tài tử Hàn Quốc. Tóm lại, cái sự đặt vui buồn hàng ngày trong tay kẻ khác như thế này đang trở thành cách sống thời đại.

Viết thêm

1. Trong dăm bẩy năm gần đây, tình trạng phụ thuộc nước ngoài của xứ mình đã lên đến cái mức trở thành ám ảnh trong đầu óc mọi công dân yêu nước cũng như mỗi con người tự trọng. Thậm chí,  mọi người không muốn nghĩ đến nó nữa.Vì càng nghĩ càng đau. Chúng ta đã chìm rất sâu vào cái hố móng khủng khiếp này, và đứng ở đáy sâu của nó ngước nhìn lên trên, chỉ thấy lại một mảng trời đen tối.

2. Như trong bài trên tôi đã nói, sự phụ thuộc nước ngoài hiện nay là ở hai cấp độ. Cấp thứ nhất là trên phương diện quốc gia, nền kinh tế của đất nước. Cấp thứ hai là trên phương diện cách sống và tâm lý con người. Kinh tế quyết định tâm lý tinh thần. Những hụt hẫng tan nát về kinh tế là nguồn gốc dẫn tới sự bi quan cùng cực, cũng tức là mất niềm tin trên phạm vi rộng. Rồi tình thế người trong nước khảng tảng, ai cũng  tìm cách thoát khỏi cuộc sống vốn có, càng khiến cho sự phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài trở nên một lối thoát duy nhất để duy trì sự ổn định. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ chết vì chúng ta vẫn còn cần cho người khác. Chúng ta chỉ luôn luôn trong cảnh ngắc ngoải. Và sự thật, cái gọi là phụ thuộc hôm nay còn tệ hại hơn nhiều, so với sự phụ thuộc mà trong lịch sử, ông cha chúng ta vẫn chịu đựng.

3. Nguyên nhân của sự phụ thuộc kinh tế trong hòa bình là sự phụ thuộc đến mức quyết định đối với nước ngoài khởi đầu từ cuộc chiến tranh ba mươi năm. Đây là điều cần sự xác minh của các tài liệu lưu trữ mà nay đang bị giấu kín. Nhưng,  như các cụ ngày xưa hay nói, cái kim giấu trong bọc mãi cũng lòi ra. Vào thời buổi của sự bùng nổ thông tin, nếu chịu khó làm việc, ta vẫn ngày một đi gần hơn tới sự thực. Một số tài liệu mới hé ra đây đó cũng đã giúp ta định hướng cho sự suy nghĩ của  mình. Và trách nhiệm của giới trí thức là phải lượng định cho hết những di lụy của quá khứ đối với hiện tại và cả tương lai dân tộc vài chục năm tới.   

4. Trong các bài sử thuộc phần lịch sử hiện đại học ở phổ thông, tôi nhớ là đã được giảng về hai dạng khác nhau của chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa thực dân cũ tức là việc một nước mang quân đến chiếm nước khác, rồi đưa người của mình sang tổ chức bộ máy cai trị. Còn chủ nghĩa thực dân mới thì khôn ngoan hơn và đơn giản hơn. Không cần mang quân chiếm đóng. Thời buổi  hiện nay làm thế mang tiếng chết. Mà người ta chỉ cần lèo lái thế nào để nước thứ hai kia biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho mình. Như thế mặc dù vẫn còn cái tiếng độc lập,  nhưng cái nước thứ hai kia, có khác gì đất thuộc địa?

Theo tiêu chuẩn trên mà tính, rồi bạn cũng như tôi sẽ có thể rút ra kết luận cần thiết về thực chất mối quan hệ giữa nước ta với một số nước chung quanh đang vồ vập săn đón ta và dường như lúc nào cũng đứng bên ta.

5. Hồi còn chiến tranh, không phải là nhiều người dân không  thèm muốn được sống được ăn mặc được hưởng thụ như người nước ngoài. Nhưng cuộc sống thời chiến không cho phép ta làm vậy. Nhất là  trong mỗi người còn cả niềm tin, tin  rằng một mai đây khi đất nước hòa bình, với trí thông minh và sức phấn đấu của cả cộng đồng, nước ta dân ta sẽ không thua kém các dân tộc khác các quốc gia khác. Nhưng khi đã tỉnh lại sau chiến tranh, trong tình hình của sự giao lưu quốc tế rộng mở, trải qua những mò mẫm tìm đường, ta mới ngày càng hiểu ra cái tầm vóc của những mất mát đã qua. Nó quá lớn, nó đã khiến chúng ta cạn kiệt cả niềm tin và sức lực. Sự bế tắc trong gần bốn mươi năm hậu chiến khẳng định thêm điều đó. Ta ngầm hiểu rằng nay có cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đưa xứ ta trở lại là một xã hội bình thường, và trong so sánh, là xan bằng được khoảng cách ta với các nước chung quanh. Sống trong phụ thuộc nay không còn dừng lại ở thói quen học đòi non dại của lớp trẻ, mà đã biến thành vấn đề nhận thức quan niệm cùng là niềm tin có tính định mệnh của  những người từng trải ở cả bên thắng cuộc lẫn bên thua cuộc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DÂN MÌNH NAY ĐÃ QUÁ GIÀ!

Ngày 12 tháng 11 năm 2021

Trên trang fb của bạn tôi nhà văn TÔ HOÀNG ngày 4 Tháng 7 2018 ·có đoạn văn sau đây trích từ ghi chép của Nguyên Thị Thu Huệ.

Tôi cảm thấy nó giống như một bức biếm họa về lứa tuổi chúng tôi những người già ham sống một cách lố bịch.

Rồi tôi lại còn mang máng cảm thấy nhân vật đươc mô tả mang những nét chung của người VN  mình hiện nay. Cũ kỹ. Đầy bệnh tật trong người. Lạc lõng với thế giới hiện đại. Nhưng lại ham sống và quả thật sự khao khát ấy là rất chinh đáng. Biết làm thế nào? Và trước tiên là nên nghĩ về mình thế nào? Chưa biết!

---

Trên trang viet- studies vừa giới thiệu một bài báo tiếng Anh

Việt Nam: Già trước khi giàu: Vietnam is getting old before it gets rich (Economist 8-11-18), theo tôi đoán cũng là nói cái ý "dân hai mươi triệu ai người lớn nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con" của mình nay đã quá già, không phải già dặn cứng cáp mà với cái nghĩa không tốt đẹp của sự già.

----

Bài viết của Nguyên Thị Thu Huệ.theo lối ghi chép tự nhiên có phần dềnh dàng, nhưng tôi vẫn muốn các bạn cùng đọc

***

Sân bay Nội bài luôn đông, người nhiều

giống sân ga thời bao cấp. Từng hàng người với lỉnh kỉnh đồ chất lên xe chở xếp hàng trước những quầy làm thủ tục. Đứng rải rác các góc và quan sát xung quanh là nhân viên phục vụ hành khách của VNA. Một nhân viên nam rướn người nhìn về cuối hàng rồi đi thẳng xuống. Ở đấy có một bà cụ run lẩy bẩy đứng một mình. Thanh niên nói gì đó, và bà cụ vịn vào tay cậu. Cậu đi chậm, đỡ bà vượt qua hàng người đang xếp hàng đợi đến lượt cân gửi đồ. “Cháu xin phép các cô các bác ưu tiên cho bà chân yếu được làm thủ tục trước ạ” Mọi người cười hưởng ứng. Nhân viên nam vẫn đứng cạnh bà cụ, đợi nhân viên nữ kiểm tra giấy tờ và in vé. Cậu hỏi “Bà đi Phú quốc du lịch hay thăm người nhà?Chân bà yếu vậy mà đi một mình không an toàn. Có ai đón bà ở Phú quốc không?” Bà cụ mặt kiên nghị, không vui vẻ, nhát gừng trả lời” Bà đi du lịch. Một mình.”

Thủ tục làm rất nhanh, cô phục vụ đặt vé vào tay bà “Bà lên tàu bay, cất chứng minh thư không rơi ạ”. Bà cụ nhìn, không nói gì, quay đi. Chợt nam phục vụ VNA túm lấy chiếc túi vải của bà, nói “Túi của bà rách rồi. Đợi cháu lấy bao bà đựng không rơi hết giấy tờ”. Rất nhanh nhẹn, cậu chạy vào trong quầy, lấy ra cái túi bóng dày, đến bên bà cụ, gỡ túi vải cho vào trong. Bàn tay nổi gân của bà nắm chặt miệng túi. Bà chắc hơn bảy mươi. Tóc bạc rối tung. Quần vải đen, áo hoa. Không hành lý xách tay hay gửi. Cậu phục vụ sau khi giao việc giám sát khu vực mình quản lý, quay sang nói” Để cháu đưa bà đến cửa an ninh” Bà cụ im lặng nắm vào cánh tay cậu và thập thõm bước đi. Bà không lê chân hay bước bình thường. Từng bước, mỗi bên chân như khuỵu xuống, giống như sắp quỳ và đầu gối gập lại. Khi được vịn vào thanh niên phục vụ, trông bà đỡ nhấp nhô hơn.

Chúng tôi vô tình chung chuyến bay. Chung điểm đến và chung khách sạn. Tôi vẫn luôn nói về sự vô tình sắp đặt, nếu làm phim hay viết truyện, nhiều người sẽ nói mình bịa, làm gì lắm vô tình thế. Có những chuyện, chẳng ai nghĩ ra mà bịa. Như chuyện về bà cụ này.

Trên máy bay. Khoảng mười lăm phút một lần, bà đi vào phòng vệ sinh. Mặt căng thẳng, quyết tâm, hai tay chống hai hàng ghế, cảm giác bà cứ đi vệ sinh xong về ghế ngồi xuống vài phút sau lại đứng lên đi tiếp. Lần đi sau, người bà bốc mùi khai hơn lần trước. Càng sau, càng khai khiến mọi người lặng lẽ quay mặt vào trong và che tay lên mũi. Nhiều lần máy bay rung lắc, tiếp viên nhắc trên loa quý khách nếu không có việc rời khỏi chỗ ngồi đề nghị ngồi nguyên tại chỗ thắt dây an toàn, bà vẫn đi vệ sinh.

Hai cô tiếp viên thấy thế, thay nhau đỡ, đợi ở cửa phòng vệ sinh, đưa về ghế.

Rồi máy bay cũng hạ cánh. Bà lùi lũi đi giật từng bước xuống cầu thang. Tôi giơ tay cho bà túm, nói” Chân cô yếu quá, đi một mình thế này không an toàn” Bà cụ im lặng, mặt hầm hầm, vịn tay tôi cố bước. Đứng trước bậc lên xe bus, bà càng run rẩy. Một người đàn ông cao lớn phía sau liền nhấc bà lên, đưa vào ghế và bà ngồi xuống.

Tuyệt nhiên, tôi không thấy bà vui hơn hay cảm ơn bất cứ ai, từ mấy nhân viên phục vụ mặt đất VNA, tiếp viên trên máy bay, và người đã nhấc bà lên xe.

Xuống xe. Bà vịn vào tay tôi, người nặng trịch. Đi đến bức tường, bà giật mạnh tay, lao người tựa tường, nghỉ tạm vài phút, xong vin tay bước tiếp. Chợt quay sang tôi, mắt bà loé những tia sáng giận dữ” Tôi đi với con cháu. Cả chồng nữa. Chúng chê tôi già xấu bệnh tật, không đi cùng vì xấu hổ”

Nói xong, bà quay ngoắt đi, môi mím chặt. Nhấp nhô di chuyển giữa biển ngừoi tiến vào sảnh. Có vẻ bà không muốn nhờ vả ai từ lúc này. Bà vừa đi vừa khuỵu cũng ngồi phịch xuống ghế, cạnh một tốp người. Một người đàn ông tầm thước, đẹp lão da đỏ hồng dáng săn chắc rõ ra dân chơi thể thao, hai cặp vợ chồng và bốn đứa trẻ tầm trên mười tuổi. Tất cả đều đẹp, lịch sự. Bà cụ lúc này lấy hai tay đập điên cuồng vào bắp đùi, bắp chân, mặt đầy căm phẫn nhìn ra đường nắng gió miền biển. Tiếng ông đẹp lão “ Xe đến rồi, ra thôi. Bà đi trước đi”. Bà cụ mặt như đi đánh nhau, run rẩy đứng lên rồi đi ra trước. Một mình.

Lái xe là một thanh niên xăm đầy cánh tay, vừa đỡ vừa nhấc bà lên xe. Phía xa, gia đình của bà bắt đầu đi tới. Như không liên quan.

Biển mùa này lúc mưa lúc nắng. Người tắm biển hay hồ bơi thường đông vào sáng sớm và chiều muộn.

Ba buổi trưa. Nắng gay gắt. Sân vườn, bãi biển, chỉ có cậu trực cứu hộ ngồi canh khi bà dập dờn ngâm nước ngang ngực, đập tay đi lại trong hồ bơi với quần dài đen, áo hoa.

Thế này thì hơi quá rồi bà ạ.

Vốn xót bà từ lúc làm thủ tục, một mình lên xe về khách sạn, thấy rõ bà bị người nhà từ chối đi cùng dù chân bà như gẫy đến nơi. Nhưng cách bà mặc quần áo ngâm mình mấy tiếng dưới hồ bơi, và chắc mười lăm phút một lần khoái cảm tiện lợi tè vào nước như bà đã liên tục đi vệ sinh trên máy bay, phần nào tôi hiểu tại sao gia đình bà không muốn bà đi nghỉ cùng. Rồi thấy bực bà. Lát nữa thôi, khi nắng bớt gắt, chắc vài chục trẻ em, người lớn sẽ ngâm người trong hồ bơi. Những đứa trẻ vui đùa kiểu gì cũng làm vài ngụm nước. Và trong nước hồ bơi, có pha nước tiểu của bà. Chắc chắn là thế.

Nhìn bà hăm hở khoát tay đi bộ dưới nước, trong bộ quần áo dài rộng lềnh phềnh, tự nhiên tôi hết giận chồng con và những đứa cháu bà. Họ có lý của họ, người ngoài không thể hiểu. Họ biết rõ về việc bà không thể đi chơi xa. Nhưng bất chấp, bà vẫn đi. Vì bà biết, xã hội còn nhiều người xa lạ nhưng tốt.

Người tốt. Đâu đấy, từ nhân viên phục vụ mặt đất của VNA, đến tiếp viên, người đã bế bà lên xe rồi nhấc bà xuống. Lái xe, cậu bé trực cứu hộ...

Mấy lần định xuống hồ bơi nói chuyện và khuyên bà, không nên cố đi theo con cháu để thành gánh nặng cho chúng. Họ sống với bà cả đời. Hè đến, mấy đứa cháu được nghỉ vài ngày trước khi vào học, cho nó thoải mái đi. Sao bà phải bám theo để thành cục nợ và chuyến đi sẽ mất vui. Và nội quy hồ bơi không được mặc quần áo ngủ xuống bơi, đặc biệt là cấm đái. Nhưng rồi, nhớ lại ánh mắt sắc lẻm tàn nhẫn và cách bà lạnh lùng vô cảm với những người giúp mình, nhìn bà khua hai cánh tay chém loạn xạ trong nước như những cú đánh với kẻ thù vô hình, thấy khó mà nói gì.

Lẳng lặng nhắc con, có bơi thì ra biển, đừng xuống hồ bơi nhé. Rồi tìm quản lý đề nghị ngày nào cũng nên thay nước hồ bơi, đảm bảo vệ sinh chung.

Đấy là việc duy nhất mình có thể làm.

 

 

LÒNG CĂM THÙ CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XV

Ngày 15 tháng 11 năm 2021

Khi tìm hiểu lại cuộc kháng chiến của Lê Lợi chống quân Minh  600 năm trước, tôi  ngạc nhiên khi thấy hồi ấy người ta  ít nói đến lòng căm thù.

Công lao đặc biệt của Nguyễn Trãi so với các viên tướng khác của Lê Lợi chính là ở chỗ công tâm. tức là đánh vào lòng người. Nguyễn Trãi đã dùng ngay thứ vũ khí nhân nghĩa của đạo Nho để tác động vào đội quân xâm lược.

Nhưng để làm được việc đó, ông và người bảo trợ ông là Lê Lợi  đã có một nhận thức phải nói là có nhiều phần khác với người Việt  ở thế kỉ XX.

Trong cuộc chống Mỹ và trước đó là cuộc chống Pháp, lòng căm thù quân ngoại xâm được khai thác triệt để, nó được kích thích được bồi dưỡng, được thả lỏng, được đẩy tới càng mãnh liệt càng tốt.

Ngược lại, Nguyễn Trãi được sự đồng tình của Lê Lợi, coi những binh tướng người Minh kia cũng là người, họ bắt buộc phải sang Việt Nam chiếm đóng, nhưng họ thuộc về một dân tộc ở sát nách bên ta đã bao đời tồn tại bên cạnh ta, vì vậy, phải đánh đuổi họ về nước nhưng sau vẫn phải  chung sống với họ. Không  thể và không nên khuyến khích nhau lấy chuyện  giết hại họ làm mục đich.

 Cuộc đối thoại giữa hai bên xảy ra trong khi gươm giáo vẫn làm việc, tuy nhiên nhờ có đối thoại, mà cuối cùng chúng ta đã tránh được những trận đánh lớn – những trận này dù bất cứ ai thắng ai thua thì cả hai cũng đều bị thân tàn ma dại.

Kết thúc cuộc chiến tranh là một cuộc hội thề được tổ chức theo nguyện vọng của hai bên. Trước khi lên đường về nước, các tướng lĩnh nhà Minh đã đến tận doanh trại của quân ta để chia tay. Cũng có người đã nhân dịp này xúi Lê Lợi bắt ngay họ và giết hại cho thỏa  thù hận bấy lâu, nhưng Lê Lợi nhất định không nghe. Tôi có cảm tưởng với những  người  đứng đầu quốc gia thời ấy, lòng căm thù là một thứ vũ khí tạm thời, khi cần mới dùng. Vì nếu bị kích động qúa đáng lòng căm thù sẽ để lại nhiều di lụy trong cộng đồng mãi mãi về sau.

Có người sẽ hỏi thế trong Bình Ngô đại cáo , chẳng phải còn thấy có những câu như:

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

( Niệm thế thù khởi khả cộng đới,

Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.)

Xin tạm trả lời:

- Đó là  do lối văn khoa trương, không nên hiểu theo nghĩa đen.

- Đó là những gì viết khi đã chiến thắng, đối phương đã về nước, ta viết để đọc với nhau.

Về chiến lược chung, phải xét toàn bộ phương hướng hành động chứ không thể riêng một tài liệu nào.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRƯƠNG TỬU - NGƯỜI BIẾT HỌC

Ngày 18 tháng 11 năm 2021

Hôm nay, qua trang của bạn Kiều Mai Sơn , tôi biết là ngày sinh của Trương Tửu. Ông sinh 18-11-1913, 105 năm trước.

Mấy năm ở Saigon, có lần một bạn trẻ bảo tôi chả thấy cái gì của  Trương Tửu có thể đọc được. May quá hôm ấy tôi vừa từ nhà anh Cao Tự Thanh về ở đó  tôi đọc được một đoạn  trong cuốn Trương Tửu – Mấy vấn đề văn học sử.

Ông nói về việc học của mình

“Tôi là gì, tôi đã làm gì, tôi đã tập hợp tất cả những điều tôi đã nhìn, đã nghe, đã quan sát. Và tôi đã biết sử dụng những điều ấy. Những tác phẩm của tôi lấy chất dinh dưỡng từ nhiều người khác nhau, người ngu và người hiền, người khôn và người dại, những đầu thanh niên già lão, tất cả những ý nghĩ, những năng khiếu, những hy vọng và cách sống của họ đều cung cấp cho tôi. Thường thường những người khác gieo hạt và tôi gặt hái mùa màng. Sự nghiệp của tôi là sự nghiệp của một con người tập thể mang tên là Goeth.

Tất cả những gì ở ngoài ta và tôi có thể nói tất cả những cái ở trong ta nữa chỉ là nguyên tố. Ở trong đó, bản thân ta có một lực lượng sáng tạo, nó có thể xây dựng cái gì nên xây dựng, nó không cho ta yên ổn chừng nào mà ta chưa hình dung “cái nền xây dựng này” ở ngoài ta, hay trong ta, cách này hay cách khác”.

Tôi nói với anh bạn trẻ:

-- Ít ra đó cũng là một người có cái vốn đọc khổng lồ. Từ đoạn văn trên tôi thích nhất cái ý "Những tác phẩm của tôi lấy chất dinh dưỡng từ nhiều người khác nhau, người ngu và người hiền, người khôn và người dại, những đầu thanh niên già lão, tất cả những ý nghĩ, những năng khiếu, những hy vọng và cách sống của họ đều cung cấp cho tôi."Thế  mới gọi là môt người biết học.Cái sai của ông ấy – như ngày nay ta đánh giá - còn quý hơn vạn lần nhiều cái đúng hời hợt hiện nay. Qúy ở khả năng gợi ý của chúng.

TƯ DUY PHÁT TRIỂN 

PHẢI KHÁC VỚI TƯ DUY CHIẾN TRANH

Ngày 19 tháng 11 năm 2021

Trong bài nói về cách làm sách chiến tranh của người nước ngoài, tôi đã nói quan niệm về chiến tranh của ta chẳng giống ai.

Có một thực tế là quan niệm chiến tranh kiểu đó vẫn được tiếp tục cho đến hôm nay.

Chúng ta đang làm kinh tế theo kiểu đã làm chiến tranh.

Trên tờ  Sài Gòn Tiếp Thị số ra 2-9=2013, một học giả VN  tại Pháp  là ông Cao Huy Thuần khi trả lời phỏng vấn đã nhận ra điều này.

Ông viết.

"Mỗi ngày anh du kích giết được 3 thằng Tây, vậy 10 ngày anh giết được bao nhiêu thằng?", ấy là bài toán đố lớp tiểu học hồi 1950.  Bây giờ không ai ra toán kiểu đó nữa. Tuy vậy, chiến tranh vẫn chưa ra khỏi cái đầu và thực tế chính trị. Như một quán tính, chiến tranh vẫn đè nặng trên tư duy.

....

Đừng áp dụng quy luật của thời chiến vào giai đoạn của thời bình.

 Một bên là nước mặn, một bên là nước ngọt.

Chiến tranh là chỉ huy, hòa bình là nghe ý kiến.

Chiến tranh là mệnh lệnh, hòa bình là biện luận.

Chiến tranh là đại bác, hòa bình là cây bút.

Chiến tranh là sắt thép, hòa bình là tơ lụa.

Chiến tranh là thù địch, hòa bình là đối thủ.

Chiến tranh là cưỡng bức, hòa bình là thuyết phục.

Chiến tranh là lý lịch, hòa bình là vua Trần xí xóa.

Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật.

Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường.

Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người.

Chiến tranh là nhất cực, hòa bình là đối trọng.

Chiến tranh là con ó quắp mũi tên nơi móng, hòa bình là con bồ câu lông trắng, chân son, và mắt ôi là bồ câu.

(Ở đoạn dưới, khi được hỏi thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay là gì, ông Thuần còn bảo là chưa có tư duy hòa bình, tức tư duy phát triển.)

***

Tôi không thích cách diễn tả hoa mỹ đôi khi đến tối nghĩa, lối ví von với chúng tôi là khó hiểu, và khi hiểu ra thì  không chắc đã hoàn toàn tán thành các nhận xét trên,

nhưng cho các ý trên đây của GS Cao Huy Thuần là một cách đặt vấn đề cần thiết về hoàn cảnh hậu chiến

nên ghi lại đây để các bạn cùng tham khảo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHẤP NHẬN TẠM BỎ MÔN SỬ Ở NHÀ TRƯỜNG MIỄN LÀ 

SAU ĐÓ PHẢI TÌM TỚI MỘT CÁCH VIẾT SỬ KHÁC

Ngày 22 tháng 11 năm 2021

Có nhiều việc trong xã hội hiện nay mọi người bàn một đằng cuối cùng những người có trách nhiệm lại quyết theo một cách khác.

Việc bỏ môn sử cũng vậy, ai cũng thấy là trái lè lè.

Song với một chút tâm lý A. Q. hoặc nói theo dân gian, “ đánh chẳng được thì tha làm phúc”, tôi  nhìn thấy cái lợi của việc này như sau.

 Khi nhìn vào việc học sinh ngày nay chán sử, người ta chỉ quy trách nhiệm cho cách dạy sử trong nhà trường.

Nhưng tôi cho rằng cái lỗi chính ở đây là thuộc về nội dung môn sử mà người ta đang dạy suốt từ  tiểu học đến đại học cùng là các loại sách tham khảo có tính phụ họa.

Nói nôm na thì với nội dung các bài sử mà người soạn sách được phép viết và người giáo viên được phép dạy, có đến thánh cũng không làm cho học sinh yêu môn sử được.

Trong các bộ sử đã viết mấy chục năm nay cũng có những phần rất tốt, học sinh rất cần biết , mọi công dân Việt cũng cần biết.

Nhưng lúc mang ra dạy chúng bị lẫn đi, bị lọt thỏm đi, giữa các kiến thức giả mạo khác.

 Hàng giả hiện nay rất đa dạng.

Có khi không đầy đủ không toàn diện không nhấn mạnh cái đáng nhấn mạnh... cũng đã là giả rồi.

Rút cục, cái hy vọng qua môn sử như thế này góp phần vào việc đào tạo những con người có học vấn có nhân cách những công dân yêu nước theo nghĩa hiện đại và khoa học nhất của khái niệm yêu nước thời nay… chỉ là ảo tưởng.

Mà trước mắt nhu cầu viết lại sử đến bây giờ vẫn chưa được đặt ra trong xã hội, chứ đừng nói là được chuẩn bị.

Bởi vậy, theo tôi  dù rất đau lòng  cũng có thể bảo nhau chấp nhận tạm bỏ môn sử.

Mục đích của việc này là  tránh cho lớp trẻ phải học những kiến thức sai lạc.

Nhiều kiến thức sử ở nhà trường hiện nay chỉ có cái vỏ sử. Thực tế  nó là những điều mà người ta muốn nhồi vào đầu các em qua các môn công dân giáo dục với cách hiểu cổ lỗ và thực dụng về mấy chữ “công dân” cũng như mấy chữ “giáo dục” đặc trưng cho thời nay.

Vậy thà cứ để các em học các môn mà chính các em cũng đã hiểu thực chất ấy, rồi đối phó thế nào qua quýt cho xong, còn hơn là buộc các em lầm tưởng đó là những kiến thức thực sự.

 Chấp nhận bỏ sử ! Trong việc giáo dục con em, đã bao chuyện khác chúng ta bất lực, chứ có phải riêng chuyện sử này đâu.

CÓ NHỮNG VIỆC LÀM THÌ RẤT KHỔ,

KHÔNG LÀM THÌ SẼ KHỔ HƠN

Cách đây ít lâu tôi từng khuyên các gia đình nghèo là trong tình hình hiện nay nên lo cho con học xong trung học cơ sở rồi chuyển đi học nghề, còn hơn là học lên cao.

 Đề nghị của tôi lần này cũng ở dạng tương tự.

  Câu hỏi còn lại: sau đó ta phải làm gì, chứ chẳng nhẽ lại buông xuôi ?  

Suy đi tính lại, tôi thấy hiện nay chỉ còn một cách là cả xã hội  lo học lại sử. Học ở đâu? Học ở các bộ sử mà ông cha xưa đã viết từ "Đại Việt sử ký toàn thư", " Việt sử thông giám cương mục", "Việt sử tiêu án" …của các sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ ..  tới các bộ sử viết trong thời Pháp thuộc như "Việt sử yếu" của Hoàng Cao Khải,  "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim.

Còn nhớ  những năm chống Mỹ ở Hà Nội ông sếp cao cấp trong ngành tuyên truyền là Hoàng Tùng thường cũng vẫn nói với cánh nhà văn nhà báo chúng tôi, có việc gì cần vẫn phải dùng bộ "Việt Nam sử lược" chứ các sách mới viết có dùng được đâu.

Bản thân tôi làm nghề nghiên cứu văn học,  trong hai chục năm gần đây, trong khi  tìm đọc các bộ sử VN do các tác giả nước ngoài viết, mới ngã ngửa người vì ngạc nhiên  hóa ra họ cày xới các bộ sử cũ của ta rất kỹ.

Nói ra thì có vẻ nghịch lý: tôi học người ta cách đọc lại ông cha mình. Thế đấy!

Dần dà tôi hoàn toàn tin rằng để hiểu người Việt, cuốn sách cổ điển mà thế hệ trẻ cần đọc số một, không phải là “Truyện Kiều” mà là “Đại Việt sử ký toàn thư".

 Chắc có bạn đọc thắc mắc: dù là sách đã dịch từ chữ Hán cổ sang  chữ  quốc ngữ  song làm sao mà đọc được cuốn toàn thư ông vừa nói tới đó.

Tôi sẽ bàn về chuyện này, trong một dịp khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DẤU HIỆU HOANG DÃ

Ngày 22 tháng 11 năm 2021

Tin trên Lao động: Công viên Tuổi trẻ thủ đô sau hơn 10 năm vẫn“hoang dã”

Cái hoang dã ấy đối với tôi, không lạ; tôi thường bắt gặp nó ngay ở những mặt người trên đường. Nay là lúc nhiều người quanh ta trông mặt chịu không đóan ra là làm nghề nghiệp gì. Mặc dù ăn mặc hiện đại, nhưng lại có cái linh động hung hãn chứ không thuần hậu từ tốn, như các lớp người cũ.

Một liên tưởng. Nếu nhìn vào thảm thực vật một số địa phương, người ta nhận ra một hiện tượng của sự làm ăn “phú quý giật lùi”. Các giống cây được thuần hóa hỏng rất nhanh. Yếu tố hoang dại trong cây phát triển mạnh.

Hình như ở người cũng vậy.

Trên SGTT một số tháng 8-2011 Ea Sola Thủy trả lời SGTT về công việc một đạo diễn múa, nhân thể nói về con người hiện nay: Lạ một điều, thời bao cấp, đi đến đâu cũng gặp rất nhiều người tốt, lúc nào cũng vui vì gặp nhiều người tốt lắm. Còn bây giờ, gặp người tốt mà không biết có tốt thật hay không! Bây giờ con người không còn cần con người lắm. Bây giờ đi đâu cũng được hết, nhưng không thấy ai. Đông người lắm nhưng không biết ai tốt, ai không tốt... Vắng người lắm.

 

 

 

 

 

 

 

LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG

Ngày 4 tháng 12 năm 2021

Theo một con số thống kê sơ bộ thì khoảng 70% dân nghiện ma tuý ở các mức độ khác nhau có độ tuổi mới 25. Dưới đây chúng tôi thử đưa ra một cách giải thích cái hiện tượng nguy hại đó dưới góc độ văn hoá - đạo đức.

Khi một thanh niên vào con đường nghiện ngập tức anh ta đang tự huỷ hoại thân xác. Trước mắt mọi người anh ta là hiện thân của một kẻ bạc nhược mất hết ý chí. Một sự suy đồi về tính cách chính thức bắt đầu.

 Đúng ra phải gọi là một cái chết đến sớm.

Tại sao ai cũng biết vậy, mà trong xã hội, tệ nạn ấy ngày một phát triển và không biết bao giờ mới có thể triệt bỏ?

Khi nêu câu hỏi này với một số người, tôi thường được nghe những câu trả lời đại khái:

-Tại nhà trường xã hội buông lỏng giáo dục

- Tại các cửa khẩu bị lũng đoạn để hàng lậu nhập vào.

- Ôi giời, vốn một mà lãi trăm lãi ngàn! Ông bà nào muốn hốt bạc của thiên hạ thật nhanh thì chỉ có cách đi vào con đường buôn bán cái thứ hàng đó.

Nhưng tôi cho rằng bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, ở đây còn có nguyên nhân chủ quan, tức bản thân “cơ địa”, cái đời sống tâm lý của một số thanh niên hiện nay, nó đang là mảnh đất lý tưởng để sự hư hỏng hoành hành.

Và đây có lẽ là một ví dụ rõ nhất chứng minh cho cái điều đơn giản -- các hiện tượng tiêu cực bao giờ cũng có căn nguyên văn hoá - đạo đức sâu xa của chúng.

NUÔNG CHIỀU QUÁ MỨC

Tội lỗi nhiều khi chỉ bắt đầu từ một phút yếu lòng, một sự buông thả. Tệ hút xách cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhiều nạn nhân đã đến với tử thần do chỗ a dua với bạn bè, nhẹ dạ ham chơi ham của lạ, và khi biết mình “tay đã nhúng chàm” thì không rút ra nổi.

Có vẻ như trong trường hợp này, các đương sự đáng được giảm nhẹ tội lỗi: Cái lối sống bầy đàn theo đuôi nhau, cái bệnh học đòi đua đả nhau, thanh niên thời nào chẳng có?

Nhưng khi để cho một bộ phận thanh thiếu niên trở nên ẽo uột và dễ bị lôi kéo như vậy, thì trách nhiệm của những người lớn tuổi lại nặng nề hơn bao giờ hết.

Ở đây có những thói quen, thoạt nhìn vô can, song lại tai hại vô kể. Nhiều người chúng ta, lớn lên trong những hoàn cảnh cơ cực, khi đã khá giả hơn một chút, thương thân mình rồi thương lây sang con, thường muốn cho con ăn tiêu thật thoải mái.

Không ai cho là có lỗi khi trót nuông chiều trẻ quá mức.

Trong nhiều gia đình, lớp trẻ chỉ biết có quyền lợi mà không biết đến trách nhiệm.

Các trường học bây giờ lại có lối cho điểm học trò thật cao để lấy thành tích. Trong sự dễ dãi với nhau, ta càng dễ hơn với trẻ. Và trẻ cứ thế nghênh ngang vào đời với sự tự tin chúng là những ông tướng.

Trong khi kêu trời với nhau rằng thanh thiếu niên giờ đây nhiều em ích kỷ, ham hưởng thụ, dửng dưng với việc đời, với cái hay cái dở... nhiều người quên rằng chính mình đã góp phần nhào nặn nên những tính cách đó. Giá kể như chúng ta sớm biết đề ra những yêu cầu cao với trẻ, biết dạy dỗ chúng trở nên những con người nhạy cảm, có lòng vị tha, có nghị lực theo đuổi mục đích cao đẹp... thì đâu đến nỗi!

TƯỚC BỎ MẤT SỨC ĐỀ KHÁNG

Theo như cách nói của y học, cơ thể nào cũng có sức tự đề kháng. Trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, cơ thể huy động mọi bản năng để tự vệ, tức để duy trì sự sống.

Thành thử đòn đánh mạnh nhất đối với một cơ thể là đánh vào khả năng tự đề kháng này.

Bấy giờ cơ thể trở nên vô cùng yếu ớt, mọi sự thuốc thang chạy chữa chỉ còn rất ít ý nghĩa.

Đối với sức khoẻ tinh thần, tình hình cũng có nhiều phần tương tự. Khả năng tự đề kháng nói ở đây là sự phân biệt hay dở xấu tốt và lòng tin rằng người ta cần phải tốt và có thể tốt.

Thiếu đi lòng tin ấy, con người ta sẽ mất hết khả năng tự kiềm chế và tự phấn đấu, sẽ sống buông thả, tuỳ tiện, rồi rơi vào tội lỗi lúc nào không biết.

Tiếc thay, cách cư xử của người lớn trong một số gia đình hiện nay khiến con cái họ cứ ngấm dần căn bệnh quái ác kia. Tức là một số thanh niên đang mất dần sức đề kháng trước sự cám dỗ của thói xấu, không còn khả năng chống đỡ.

THƯỜNG TRỰC BÀY RA NHỮNG TẤM GƯƠNG XẤU

Như các nhà nghiên cứu giáo dục vẫn nhận xét, thanh thiếu niên thường rất ngại phải nghe những lời giáo huấn từ phía người lớn, nhưng lại thường xuyên quan sát xem người lớn sống ra sao để rồi tìm ra kết luận cần thiết cho việc xử thế.

Vậy thì làm sao chúng có thể ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành khi biết rằng bố mẹ chúng chỉ phất lên nhờ khéo léo luồn lọt và giờ đây đang tìm cách tô điểm cho bản thân bằng mấy tấm bằng rởm?

Việc nhà nước giao chỉ làm cầm chừng, cái gì có lợi riêng mới sốt sắng thúc đẩy.

Giữa các đồng nghiệp nếu không móc ngoặc được với nhau thì đấu đá kèn cựa.

Dửng dưng trước mọi lời chê trách.

Vào cửa nào cũng tính chuyện lót tay, chạy chọt, và quả thật “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng tiền đã thành một thứ dầu mỡ bôi trơn mọi mối quan hệ...

...

Đó là những thói xấu hiện thời đang khá phổ biến trong xã hội, và khó lòng nói rằng chúng không ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của lớp trẻ. Cộng với những kém cỏi của nhà trường (cổ lỗ trong kiến thức và phương pháp giảng dạy; nghèo nàn trong quan niệm về đào tạo; và rồi cũng làm ăn, mua bài, xin điểm, bán bằng cấp...), có thể nói bao nhiêu yếu tố tiêu cực mà hàng ngày mọi người quan sát thấy ở mình và mọi người, và một phần được nói lên trên báo chí, đã làm cho tâm hồn một số thanh thiếu niên trở nên cằn cỗi.

Chúng dễ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Những khái niệm mà xã hội cho là đúng đắn đối với chúng trở thành giả dối.

Thậm chí có những em không thiết sống. Tôi nhớ có lần được nghe kể: một thanh niên vừa đến tuổi trưởng thành thì phạm tội, bị án tử hình. Có mấy cô mấy bác có mặt ở phiên toà, thương tình, bảo cháu xin giảm án. Có dịp giáp mặt với cái chết, người thanh niên gạt nước mắt nói ra cái điều có lẽ là nghiêm chỉnh nhất trong đời mình:

- Cháu xin giảm án để làm gì ? Ở nhà bố mẹ không thương xót cháu; đi học nhà trường bất công; học không có chỗ, học xong không có việc làm - cháu sống để cùng kéo dài cái kiếp dài rạc như các cô các bác hay sao?

Những kẻ đã chết một phần tâm hồn thường dành cho mình quyền làm bất cứ việc gì chúng thích, không biết đến lương tâm, càng không biết đến pháp luật. Và trước mắt, đám trẻ này chỉ thèm hưởng thụ. Còn có môi trường lý tưởng nào với chúng, hơn cảnh nghiện hút?

KHÔNG PHẢI HÔM NAY TRẺ MỚI HƯ HỎNG NHƯNG CHƯA  CÓ THỜI NÀO TRẺ HƯ HỎNG NHƯ THỜI NAY

 Trong nếp sinh hoạt cũ của ông cha ta, ngoài nhiều đức tính tốt cũng đầy rẫy nếp sống tiêu cực.

Cả "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính lẫn "Việt Nam văn hoá sử cương" của Đào Duy Anh đều có một chương riêng nói về cuộc tiêu khiển, trong đó có mục phiện phò hút xách, và nói rõ cái hại của tục này.

Trần Trọng Kim trong "Việt Nam sử lược" cũng nói người mình phải cái thích chơi bời, mê cờ bạc. Ca dao ghi lại trình tự làm ăn sinh hoạt các tháng trong năm, mở đầu bằng hai câu:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

Xưa ta hay bảo đó là nếp sống suy đồi của bọn thống trị. Nhưng giai cấp thống trị cũng là một bộ phận của dân tộc.

Vả chăng, thói xấu chẳng chừa một ai, càng những con người cùng cực khi đã trở nên lưu manh càng trở nên bất cần, liều lĩnh.

Vậy là xét về bề nào cũng thấy nạn nghiện hút – và nói chung là mọi thói xấu -- trong lớp trẻ hiện nay có những căn nguyên sâu xa trong cách sống của chúng ta, thậm chí cả trong đạo lý cũng như truyền thống văn hoá. Chừng nào mà những căn nguyên đó chưa được làm rõ và thay đổi, thì những mầm mống bệnh tật còn có cơ nảy nở. Trị đám buôn bán thứ hàng độc hại ấy là rất cần. Song duy trì được đời sống tinh thần lành mạnh để những tệ nạn ấy không có đất mà phát triển - cái đó mới thật là việc cơ bản phải lo. Bởi đây là công việc có ý nghĩa văn hoá, nên giới văn hoá phải có mặt.

Đã in trong Nhân nào quả ấy 2004

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẢI CHĂNG  THÍCH ĐI HẦU RƯỢU

  LÀ CẢ MỘT NÉT TÂM LÝ THỜI ĐẠI?

Ngày 7 tháng 12 năm 2021

Mấy năm 1954-58 trường Chu Văn An  Hà Nội còn là trường cấp II nay gọi là trung học cơ sở. Bọn học sinh chúng tôi rất hay được gọi   đi làm những việc linh tinh núp dưới cái tên chung phục vụ công tác chính trị. Ví dụ đang học thì mấy lớp liền  được gọi ra đứng hai bên đường Phan Đình Phùng vẫy cờ chào đón các ông cốp  nước ngoài đến thăm Việt Nam.  

Có lúc chúng tôi còn được huy động kéo nhau sang tận sân bay Gia Lâm để “thay mặt nhân dân Việt Nam chào đón những người bạn quý”.

 Hồi đó phương tiện giao thông còn hiếm lắm, đến xe bus cũng chẳng có, chúng tôi anh nào mượn được xe bố mẹ  sang thì còn đỡ, một số phải đi bộ qua cầu Long Biên mấy tiếng đồng hồ.

Được cái nhà trường cho nghỉ học

Và chúng tôi thì thấy thích lắm, chả phải học mà có khi cuối năm toàn trường vẫn  được thu xếp thế nào để gọi là hoàn thành chương trình  còn bất cứ anh học trò nào cũng được xét học lực từ trung bình trở lên để rồi lên lớp cả một lượt.

Lớn lên trải qua một vài môi trường công tác thì biết thời nay cơ quan nào cũng có những anh chuyên môn chả chịu làm nhưng  chỉ loanh quanh những việc cờ đèn kèn trống như vậy.

Việc chuyên môn của anh ta thì các anh em khác phải gánh

Mà có khi đi nhiều quen biết nhiều, anh ta lại được tín nhiệm để trở thành sếp không biết chừng.

 Không phải chỉ cấp trên thích anh ta mà giá được phát huy dân chủ tổ chức bầu người phụ trách, mọi người cơ quan cũng sẽ bầu cho anh ta ngay.  Chúng tôi thường bảo nhau bầu người giỏi phụ trách cơ quan chỉ tổ khổ thân. Cái mà chúng tôi cần là những ông phụ trách giỏi chạy đề tài giỏi chạy dự án, giỏi đi liên hệ với các cơ quan cấp trên để xin tiền. Chỉ những người giỏi lo cho quyền lợi riêng (=tham nhũng) mới biết tha thứ cho những người cấp dưới hư hỏng.

Quay trở lại chuyện mấy cô giáo được gọi đi hầu rượu. Nay thì chắc chắn chẳng ai được điều tra hỏi han để xem phản ứng thực của các cô như thế nào.Nhưng suy bụng ta ra bụng người tôi đoán thả nào cũng có những cô thích làm cái công việc được gọi đi hầu rượu đó và nếu ban đầu có phản ứng chút chút, thì về sau lại cũng  chỉ chăm chăm chờ đón xem có đám nào sắp tổ chức là chuẩn bị khăn gói đồ nghề, sớm tối cấp bách thế nào cũng có mặt theo đúng yêu cầu. Lý do thì cũng như đám học sinh chúng tôi thuở trước, thời ta được cái con người trẻ lâu, chúng ta quen lấy việc làm theo mệnh lệnh làm vui chứ đâu có thời giờ nghĩ đến chuyện tự trọng.

 Hẳn có bạn nghĩ khi nêu những ý tưởng trên tôi đã cường điệu vấn đề và chắc chắn là tôi có vẻ bi quan quá. Tôi công nhận trường hợp các cô giáo Hà Tĩnh không phổ biến, nhiều người chúng ta  thường gặp những ca nhẹ nhàng hơn nhiều. Nhưng phương hướng hành động tôi dự đoán như nhau cả. Mỗi chúng ta sẵn sàng lên án nhiều hành động lúc còn ngoài cuộc và sẽ tìm mọi ly do tự biện hộ lúc sa ngã.

Vậy là cường điệu thì đúng nhưng bi quan thì không.

Vả chăng, sao cũng được, thiển ý của tôi trong trường hợp này chỉ là mong chúng ta cùng suy nghĩ thêm về sự tha hóa của con người trong xã hội hiện nay.  

Có phải nay đang là thời đạo đức xuống dốc; vô cảm buông xuôi bất lực, thả lỏng cho bản năng thả lỏng cho cái ác-- mỗi ngày một ít, cái tốt cứ bớt dần mà cái xấu cứ lấn dần?

Có phải là sức đề kháng của chúng ta ngày một yếu ? Mà cái chính là xã hội không giúp chúng ta phấn đấu cho tử tế hơn mà lại lôi cuốn chúng ta vào những việc xa lạ với lương tri phẩm giá ? Bằng cách khoác cho cả những hành động xấu xa  những danh hiệu mỹ miều, xã hội đã khiến chúng ta xa lạ hơn hết với cái phần nhân bản mà người xưa đã dày công vun đắp?

7/17/2016

 

 

 

TRÍ THỨC MIỀN NAM  

 NHỮNG NGƯỜI BIẾT HỌC

Ngày 9 tháng 12 năm 2021

Bỗng nhiên tôi nhớ lại hai câu nói của hai nhà văn miền Nam- một già một trẻ - trước 1975 .

Cả hai tôi đã ghi lại đâu đó, nhưng nay cuốn sổ thất lạc, nên không dẫn được nguyên văn đành chỉ ghi theo trí nhớ.

• Sau chiến tranh cả chúng ta lẫn những người cộng sản đều không nên sống nữa, vì đều đã quá cực đoan.

•[Trong một cuộc tranh cãi nhỏ với báo chí Hà Nội]. Các anh đừng nên nghĩ chỉ các anh mới là người Việt Nam mà chúng tôi cũng là người Việt Nam.

Trong những năm qua, chúng tôi chỉ tự hào một điều: chúng tôi biết học.

--

Câu trên là của Võ Phiến mà chúng ta quen biết, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn.Vần đề rất lớn xin để khi khác.

Còn câu dưới là của Cao Huy Huy Khanh. Khoảng 1971-1973, với tư cách một cây bút trẻ, anh hay viết cho tờ "Khởi hành" của Viên Linh, hoặc "Vấn đề" của nhóm Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo.

Khoảng mười lăm năm trước, qua anh Tạ Nghi Lễ, tôi có liên lạc được với anh Khanh, và biết được rằng anh đang làm cho một tờ báo ở Sài Gòn.

Hồi 1976, vào Sài gòn đọc Khởi hành 1972-1974 tôi chú ý tới anh là qua mấy bài anh tổng kết về tiểu thuyết đương thời. Còn nay, anh tặng tôi một cuốn sưu tầm về một số kỷ lục Guiness ở Việt Nam.

GIỚI TRÍ THỨC MIỀN NAM

ĐÃ CHUẨN BỊ CHO SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

SAU CHIẾN TRANH

Trước sau 75, khi  đọc sách báo miền Nam, tôi và các bạn cùng lứa thường chỉ chú ý tới sáng tác của các nhà văn. Cũng giống như các bậc đàn anh, chúng tôi tưởng cứ giữ nguyên bộ máy chiến tranh chuyển sang lao động cật lực trong hòa bình là có xã hội thịnh vượng

Nhưng dần dần chúng tôi mới hiểu ra  công cuộc phát triển khác hẳn với chiến tranh thế nào .

Việc thật thiết yếu là có một quan niệm đúng về mô hình mà chúng ta đi tới, từ đó tổ chức lại xã hội .

 Không thể có chuyện cứ đánh Mỹ được là làm gì cũng được. Xã hội mà chúng ta xây dựng phải là một xã hội tri thức.

 Từ đó đặt ra những vấn đề mà chỉ khoa học xã hội mới giải quyết nổi.

Từ trước 75, trí thức miền Nam đã dành một phần công sức rất lớn chuẩn bị cho phát triễn theo hướng nói trên. Nhiều tài liệu về kinh tế học,  luật, sử, xã hội học dân tộc học đến nay không bị lạc hậu

Các  công trình ấy -- bao gồm cả những sách dịch lẫn sách các tác giả mình biên soạn -- còn nằm rải rác trong các tủ sách gia đình. Ta nên sưu tầm và in lại.

9/12/2019

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI VIỆT &  NHỮNG THÔNG BÁO KHÁC NHAU

KHI GIAO THIỆP

Ngày 10 tháng 12 năm 2021

Nguyễn Văn Vĩnh  là người đầu tiên nêu ra những nhận xét xác đáng về ý nghĩa kép trong hành vi cử chỉ của người mình.

 Ví dụ thì chúng ta đều biết, bài “Gì cũng cười “ trong dó có đoạn

(..) " xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.

Thực không có tức gì bằng cái tức phải đối đáp với những kẻ nghe mình nói chỉ lấy tiếng cười hì hì mà đáp. Phản đối không tức, kẻ bịt tai chẳng thèm nghe cũng không tức đến thế..".  

 Dưới đây là một bài viết của  Phạm Quỳnh trong đó ông cũng lật ra những gì tiềm ẩn đằng sau cái thái độ gọi là lễ phép, tôn trọng kẻ khác mà nhiều người Việt hàng ngày thực hành nhưng  lại không có ý thức một cách đầy đủ.

CÁCH LỄ PHÉP CỦA NGƯỜI MÌNH

Người ta ở trong xã hội, trong khi giao tế với nhau, cần phải có lễ phép, dẫu đối với người cao hơn mình, người ngang bằng mình hay người thấp kém mình cũng vậy, kẻ khôn khéo thời tùy nghi mà gia giảm, nhưng bao giờ cũng phải có lễ nhượng  (theo Từ điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn là lễ phép, khiêm tốn VTN chú) mới là người có giáo dục.

Nhưng giữ lễ phép không phải là tự làm đê hạ (thấp hèn —VTN chú) mình đi mới là tôn trọng kẻ khác, không phải là tự nằm rạp xuống đất hay uốn gẫy mình làm đôi, mới rõ là mình kính trọng người ta

Cách lễ phép như vậy thời một là giả dối, hai là đê hèn, đều đáng khinh bỉ cả, tưởng người được hưởng sự lễ phép ấy nếu biết cũng nên khinh trước mới là phải.

Xét trong cách lễ phép của người mình phần nhiều như thế cả. Đối với người dưới thời đã tuyệt nhiên không có chút lễ phép gì, thường lấy sự thô bỉ, tàn nhẫn mà đãi kẻ kém mình, đối với người trên thật đê tiện quá chừng.

Rụt rè, khúm núm, gãi đầu, gãi tai, bẩm bẩm thưa thưa, vâng vâng dạ dạ, coi lời ăn tiếng nói, dáng đứng cách ngồi, tưởng phàm người biết trọng cái phẩm giá con người không ai tự hạ đến thế. Mà thật những người ấy không biết lòng danh dự là cái gì.

 Lòng danh dự là biết tự trọng mình, trọng cái nhân cách của mình: người ta là người, mình cũng là người, không lẽ có một người đối với một người mà phải tự coi mình như con giun, con dế, dẫu người kia có oai quyền thế lực đến thế nào nữa mặc lòng. Vả lại muốn biểu cái lòng tôn trọng với người hơn mình, không phải là tự hạ mình mới là kính trọng người, tự hạ mình đi là làm hạ giá cả cái lòng kính trọng của mình, không những thế, tức là khi (khinh bỉ -- VTN ) người ta nữa, vì tự hồ như cho người ta là hẹp lượng lấy những cách khúm nhúm quy lụy của mình làm chân thành vậy.

Phạm Quỳnh

(Danh dự luận)

Trích theo  Sách giáo khoa "Giảng văn nghị luận" của  Lam Giang, in ở Sài Gòn trước 1975, trang 30, 31

10/12/2016

 

 

 

 

 

 

 

SỰ ƯƠNG BƯỚNG RẤT DỊU DÀNG

Ngày 11 tháng 12 năm 2021

Tôi thích thú với bài thơ sau đây của nhà thơ Ba Lan Wisława Szymborska (1923 - 2012) trước tiên  là bởi  nó nói tớí sự hạn chế của con người. Tuổi trẻ thường nghĩ mình có thể làm mọi thứ. Chỉ khi trưởng thành, người ta mới hiểu rằng mỗi con người  luôn luôn bất lực trong việc tổ chức cuộc sống của bản thân; luôn luôn có những việc cần làm mà bị bỏ lỡ; trong khi mải sống theo một cách này, người ta buộc phải từ bỏ những cách sống khác.

--

Nhưng ĐẤY LÀ SUY NGHĨ  CỦA MẤY NĂM TRƯỚC.

LÚC NÀY TRONG CẢNH TUỔI GIÀ  VÀ BỆNH TẬT

TÔI LẠI NGHĨ NGƯỢC LẠI.

BÀI THƠ ĐÁNG YÊU VÌ NÓ NÓI TỚI MỘT SỰ BIẾT ĐIỀU RẤT KHÔN NGOAN.

Mặc dù bị hoàn cảnh hạn chế và có nhiều bất mãn, chúng ta  không nên vì thế mà đi đến chỗ quá trớn là từ bỏ những phần tốt đẹp của chính mình.

Nếu cứ ngồi tính hết những điều gọi là lỗi lầm, thì ta sẽ hối hận mà chết.

 Nếu cứ sống theo lời khuyên của người khác thì người ta không còn là mình.

Đây là mấy câu gần cuối

.....

"Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.

Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.

Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,

vì chính em là trở ngại của mình."

....

Lời xin lỗi  được lặp đi lặp lại.

 Nhưng trong những lời xin lỗi rất thành thực ta vẫn cảm nghe  một điều tự nhủ giống như một bằng chứng của sự kiên cường. Con người ở đây sẽ tiếp tục đi  theo cái lối đúng đắn mà con người cũ của mình trước đó đã mở  ra.

Một sự ương bướng rất dịu dàng được xây dựng trên cơ sở của sự từng trải, của nhận thức sáng suốt, kể cả tự nhận thức.

 Nhờ sự ương bướng ấy, những lời lẽ của con người tưởng như đã già,  đã đi hết mọi phía sáng tối của cuộc đời, ở đây càng có sức thuyết phục với người đọc.

Cả bài thơ là tiếng reo vui trước hạnh phúc mà chúng ta đang có.

 DƯỚI MỘT VÌ SAO

 thơ Wisława Szymborska (Ba Lan)Thái Linh dịch

Xin lỗi sự ngẫu nhiên

 vì em gọi nó là điều tất yếu.

Xin lỗi điều tất yếu

nếu dù sao em cũng đã nhầm.

Hạnh phúc xin đừng giận dữ réo gầm,

vì em chiếm như của riêng mình vậy.

Người đã khuất hãy quên đi điều ấy,

 rằng trong ký ức mơ hồ họ leo lét lắt lay.

Xin lỗi thời gian vì em đã không hay,

 bao lần lỡ những trần gian khoảnh khắc.

Xin lỗi mối tình xưa,

vì tình mới em xem như tình yêu thứ nhất.

Những cuộc chiến xa xôi xin hãy thứ tha,

 khi em đem hoa thắm về nhà.

Những vết thương hoác miệng hãy bỏ qua,

khi em bị kim đâm vào ngón.

Xin lỗi những người từ vực sâu đang gọi khóc,

 vì đĩa nhạc kia với vũ khúc nhịp nhàng.

Xin lỗi những người sân ga lang thang,

vì giấc ngủ lúc năm giờ sáng.

Hi vọng hãy bỏ qua đừng chấp,

vì đôi khi em cũng mỉm cười.

Đừng chấp em, sa mạc kia ơi,

 vì em chẳng chạy nhanh cầm thìa nước.

Cả mi nữa cú ơi,

vẫn trong chiếc lồng này bao năm không gì khác trước,

bất động đăm đăm nhìn một điểm không rời,

hãy buông tha cho ta, ngay cả khi mi là một chim nhồi.

Vì bốn chân bàn xin thứ lỗi cho em,

cây bị đốn kia ơi.

Xin lỗi những câu hỏi lớn lao

 vì những câu trả lời nhỏ bé.

Sự thật ơi, đừng để ý tới em sít sao đến thế.

Hỡi trang nghiêm, hãy rộng lượng hải hà.

Nhẫn nại đi sự sống bí ẩn à,

 từ gấu áo người em rút từng sợi chỉ.

Tâm hồn đừng lên án em như thế,

khi lâu lâu em mới gặp người.

Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.

Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.

Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,

vì chính em là trở ngại của mình.

Xin đừng chỉ trích em lời nói hỡi, em xin,

 khi em mượn những ngôn từ thống thiết,

rồi sau đó thêm vào bao khó nhọc,

để chúng dường như thanh thoát nhẹ nhàng.

Theo mạng Lilia

11/12/2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LÀM GÌ ĐÂY, LÚC VỀ GIÀ ?!

Ngày 15 tháng 12 năm 2021

Nhân sự đóng góp của Tản Đà trong những năm cuối đời, thử tìm một ít liên hệ tới các nhà văn hôm nay

Tản Đà (1888 -1939 )là một trong số ít ỏi những nhà thơ Việt Nam sinh ra để làm thơ, vung bút thành thơ, ngồi đâu có thơ đấy --- mà toàn là thơ hay, thơ để đời, chứ không phải là thơ con cóc, thơ vè, thơ nhăng nhít của mấy ông sẩm giỏi bắt vần. Sức sáng tạo của tác giả Thề non nước thật tràn trề. Mà lòng tự tin nơi ông cũng mãnh liệt như mọi con người hiện đại. Bởi vậy, người ta hẳn lấy làm lạ khi nhìn lại một sự thực : tác giả qua đời năm 1939, khi vừa năm mươi mốt tuổi, còn tập thơ cuối cùng của ông, tập Khối tình con II thì in ra trước đó có tới gần hai chục năm ( về sau chỉ có thơ tuyển ). Đặc biệt từ hồi xuất hiện những tập thơ mới quan trọng như Người sơn nhân ( Lưu Trọng Lư 1933 ), Mấy vần thơ (Thế Lữ --1934 ), Điêu tàn ( Chế Lan Viên –1937 ), Thơ thơ ( Xuân Diệu- 1938 ) thì ông vĩnh biệt hẳn thơ, đến thơ đăng báo cũng không gửi, mà lo kiếm ăn nơi khác. Viết báo. Viết tạp văn. Và dịch, dịch cả văn xuôi ( Liêu trai chí dị )lẫn thơ ( thơ Đường ). Và ngồi chú giải Truyện Kiều. Tóm lại là làm bất cứ thứ gì để có thể quên đi một tình yêu sâu nặng, để khỏi nhớ mình là nhà thơ. Vẫn hậm hụi kiếm ăn, nhưng không bao giờ kiếm ăn bằng thơ.

Việc này có một cái lợi : người ta không bao giờ cảm thấy Tản Đà hết duyên mà vẫn tham xuất hiện, lê lết trong nghề, cố đấm ăn xôi, bám vào cảm tình vốn có của dư luận để ăn vạ. Xét chung cả đời, ông không âm lịch, cũng không cổ lỗ trong quan niệm về nghề nghiệp.

Ngược lại người đương thời cũng như đời sau luôn luôn cảm thấy Tản Đà là người làm nghề có bản lĩnh, biết từ giã “sân cỏ”, ngay khi sự nghiệp đang ở đỉnh cao, hơn nữa có thể nói là người hết lòng với thơ, xem thơ là việc của thần thánh và bao giờ cũng đối xử với thơ theo kiểu trân trọng muôn vàn, muôn vàn trân trọng ( chữ của Tây sương ký ).

Cũng nên biết thêm là trong việc này, không chỉ có sự biết điều, sự kiềm chế của người trong cuộc, mà còn có sự giúp đỡ chí tình của lớp trẻ nữa. Giúp đỡ như thế nào ? Chúng ta biết nhóm Tự lực văn đoàn vốn yêu quý Tản Đà. Nhưng yêu quý một cách rất tỉnh táo. Chính họ gợi ý để Tản Đà dịch thơ Đường, và những bản dịch hay nhất của ông đều in ở Ngày nay cơ quan phát ngôn của họ, tờ báo trí thức nhất mà cũng có uy tín nhất lúc ấy. Nhưng chỉ có thế. Còn thơ Tản Đà thì nhất định Ngày nay không in.

Tôi ghi lại một ít sự kiện này để thử nghĩ về công việc của mình cũng như của những người cùng tuổi với mình mấy năm tới, khi chúng tôi bước sang tuổi già. Một vài câu hỏi mà tôi thường đặt ra đại khái như :

-- Có phải có những việc dành riêng cho tuổi trẻ, còn tuổi già nên tính việc khác ?

-- Có phải cách tốt nhất để giữ được một uy tín là đừng làm cho uy tín đó trở nên nham nhở bởi những cố gắng bám trụ tầm thường ?

--Có phải sự bảo thủ, và hơn thế nữa sự hoang tưởng, là thói quen tự nhiên có ở mọi người, kể cả những cây bút có lúc được xem là thiên tài và để sửa chữa cái cố tật đó, rất cần có sự giúp đỡ thông minh và kiên quyết của lớp trẻ ?

Trường hợp Tản Đà đã mang trong mình lời đáp sống động cho những câu hỏi này, mỗi người có thể rút ra để áp dụng cho mình. Cố nhiên bao giờ cũng có những ngoại lệ. Nhưng nên biết thêm rằng cỡ như Tản Đà cũng không coi mình như ngoại lệ, thì có nghĩa là ngoại lệ ….hiếm hoi lắm.

15/12/2014

 

 

 

 

 

 

MẤY ĐOẠN GHI VỀ NGƯỜI VIỆT

Ngày 18 tháng 12 năm 2021

Câu đối trong nhà Nguyễn Khuyến :

Người nước nam, hỏi tiếng tây chẳng biết tiếng tây, hỏi tiếng tầu chẳng biết tiếng tầu, cho nên phải “ minh tiên vương chi đạo nhi đạo “

Nhà hướng bắc, người chửa rét thì mình đã rét, người chửa bức thì mình đã bức mới gọi là "tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu"

***

Một nhận xét tổng quát :

Gọi là nước thì phải liên lạc các tỉnh với nhau thành đoàn thể, kết hợp bằng những mối hồi tưởng vẻ vang hay buồn rầu. Đối với người An nam thì không thế: chỉ là luật lệ, chế độ và phong tục mà thôi. Có lẽ người An nam ghét người ngoại quốc hơn là yêu nước, không phải ghét vì cớ người ngoại quốc dày xéo đất nước, hay là truyền bảo theo lệnh chủ khác; chính là ghét vì cớ người ngoại quốc bắt theo luật mới, đổi tục cũ, không cho tập quán vào đâu cả.

A. Launay Lịch sử An nam cổ và hiện đại

dẫn theo Nguyễn Văn Tố : Đại nam dật sử, tr 12

 LŨ TRẺ GIAN GIẢO

--  CHÂN DUNG CHÚNG TA HÔM NAY

          Carl Robinson một phóng viên kỳ cựu của hãng thông tấn Hoa Kỳ Associate Press, người đưa tin từ Việt Nam trong thời gian chiến tranh, nay sống ở Australia.

          Trong bài "Why Vietnam Won't Fall", đăng trên trang World Policy Blog, cựu phóng viên chiến tranh Việt Nam viết:

 “Xã hội Việt Nam ngày nay cực kỳ cá nhân chủ nghĩa".

"Thay vì có sự đoàn kết và một mục tiêu chung, mỗi người đều vì chính bản thân, đều có tâm lý mạnh ai người ấy lo.”

"Ví dụ so sánh tốt nhất là [ VN giống như  -- VTNh  thêm ] một trường đạo nội trú mà trong đó quy định đặt ra để người ta vi phạm hay là để cho người khác tuân theo mà không phải mình.”

"Ai cũng bị coi như trẻ con và thường xuyên được dạy giáo lý qua các khẩu hiệu, các nghi lễ và các giấc mộng cao xa."

"... và con cái họ chỉ biết hưởng thụ vật chất và chơi bời.”

"...Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều đồng lõa [với tham nhũng]. Ai cũng gian giảo theo một cách nào đấy."

THÓI HAY GIỞ MẶT

Lâu rồi có chuyện một tài xế tắc xi lái xe cho một người nước ngoài từ Nội Bài về trung tâm Hà Nội. Hai bên đã mặc cả với nhau là hai trăm ngàn, nhưng đến HN, lái xe bảo là ông khách nghe nhầm thôi, nhất định đòi là bốn trăm, nếu không thì không cho khách ra khỏi xe. Lời qua tiếng lại một hồi, người khách -- trong thân phận người ở nơi xa tới – đành chịu trả vậy và thề là không bao giờ quay lại VN nữa.

Cuốn sách mỏng "Người Pháp ở Đông Dương", ghi lại lời kể của F. Garnier trong chuyến thám hiểm qua ba vùng Nam kỳ, Trung và Bắc kỳ, ( Nxb Công An nhân dân, H 2010 ). Đọc vào, tôi thấy người ta ghi một nhận xét có liên quan tới chuyện trên. Ghi rằng người Bắc bộ có nhiều ưu điểm, nhưng đáng sợ nhất là thói tráo trở, nó “ giết chết những mặt đáng ca ngợi của họ” .

12/2018

 

 

 

 

 

 

 

CHẲNG AI ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH

Ngày 25 tháng 12 năm 2021

Trong một lần gặp gỡ đầu 2016,  nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu có kể với tôi là ở nhiều xí nghiệp do người nước ngoài làm chủ hiện nay, có nhiều  thợ mới.

Họ là những người nông dân bỏ làng ra tỉnh để làm ăn. Nhưng cách sống cách suy nghĩ của họ thì hoàn toàn là của những người nông dân đi làm thuê lang bạt.

 Họ không được đào tạo đầy đủ.

 Họ không có đồng lương hợp lý. Họ xa gia đình và sống trong một hoàn cảnh tạm bợ.

Họ luôn nghĩ rằng mình chỉ làm cho qua một thời gian, kiếm ít vốn để sinh sống và sau này sẵn sàng quay trở về làng quê nơi đã xuất phát.

Nguyễn Thị Hậu và các đồng nghiệp của chị -- dân xã hội học -  cho rằng đó không phải là những người công nhân theo đúng nghĩa của nó.

Phần tôi trong những năm 1960 tôi thường hay gặp gỡ với nhà văn Võ Huy Tâm, tác giả cuốn tiểu thuyết Vùng mỏ mà tất cả các học sinh Việt Nam đều phải biết dù không mấy người yêu thích.

Anh Tâm đúng là một công nhân thật.

Anh kể với tôi, chỉ có công nhân thời nay thì mới ăn cắp, còn người công nhân thời Pháp thuộc không bao giờ ăn cắp vì nếu ăn cắp họ lập tức bị sa thải liền.

Vậy có thể nói là cái mà chúng ta hay xác định về nhau rằng là người thành phần nọ thành phần kia, hóa ra toàn chuyện áng chừng. Con người bây giờ như một câu thơ của Hồ Xuân Hương tả  các nhà sư, "chẳng phải tàu chẳng phải ta" tạp nham hỗn hào thật khó xác định.

 Khoảng năm chục năm trước, tôi có lần ngồi với nhà thơ Hoàng Hưng. Vốn cùng là dân học sinh Hà Nội, chúng tôi thử rút kinh nghiệm về quãng đời mài đũng quần trên ghế nhà trường và thử tính xem xã hội  muốn mình thế nào, từ đó gọi xã hội hôm nay là gì.  

 Chắc là nghiền ngẫm đã lâu, anh Hưng bảo tôi, hãy tạm gọi nó là xã hội thích không được.

 Mình đã hỏi nhiều người -- anh Hưng nói tiếp - tất cả những thằng học khá chúng mình đều có cảm tưởng là cả lớp không thích , nếu không muốn nói là ghen ghét  đố kỵ. Vì đây là một xã hội cá mè một lứa, mình mà nổi lên là gây phiền cho nhiều người. Nhưng các anh học kém cũng không được yên.  Phát hiện ra cậu nào thuộc dạng học sinh cá biệt thày chủ nhiệm cũng chỉ thị cho bọn học giỏi phải kèm anh ta bằng được, không để một ai dưới trung bình. Anh không có quyền kém cũng như những anh khác không có quyền giỏi. Thế chẳng phải thích không được là gì.

25/12/2016

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN HIẾN LÊ, 

NGƯỜI CẢI CHÍNH  

NHIỀU SỰ HIỂU NHẦM VỀ TRUNG QUỐC.

Ngày 26 tháng 12 năm 2021

Đóng góp của Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) trong khoa Trung quốc học là ở chỗ tận dụng ưu thế thời đại mang lại cho nó một cái nhìn khác các bậc tiền bối. Xuất thân từ Tây học, song ông lại có thời gian về học với người bác là một bậc thâm nho, nhờ đó bồi đắp cho mình cái vốn Hán học chắc chắn. Trong suốt cuộc đời ông luôn luôn có cái nhìn phối hợp Đông Tây khi cần xem xét các vấn đề cơ bản mà người trí thức phải đối mặt.

Hai cuốn sách quan trọng của Nguyễn Hiến Lê làm theo hướng này là bộ  Sử Trung Quốc, và bộ đôi Khổng Tử - Luận Ngữ.

Cái nhìn của ông là từ bên ngoài và không phụ thuộc vào cách giải thích của chính người Trung Quốc.

Nhưng ông vẫn biết tìm ra những khía cạnh tốt đẹp mà cả Đông và Tây, cổ điển và hiện đại đều phải công nhận.

Ông cải chính nhiều sự hiểu nhầm về Trung quốc.

Chúng tôi sẽ lược lại một số ý trong cuốn Sử Trung Quốc bàn về chính trị mà chúng tôi thấy tâm đắc nhất, và những lời bàn chung quanh khái niệm dân ở Nho học, là những điều  hiện mang tính thời sự.

TRỊ QUỐC CHI ĐẠO (I)

      Một lần ở một hiệu sách thuộc ga Bắc kinh, tôi  thấy một cuốn sách dày cộp  mang tên như trên. Chợt nhận ra việc quản lý quốc gia ở nước Trung Hoa cổ được ghi chép rất đầy đủ và nâng lên tới trình độ một bộ phận quan trọng trong văn hóa.

      Đọc cuốn sách Sử Trung quốc Nguyễn Hiến Lê viết cuối đời, càng thấy rõ điều đó.

      -- Tần Thủy Hoàng độc tài chuyên chế. Ông giết trí thức. Nhưng đó không phải là cách cai trị lưu manh vô học. Đã tin dùng  trí thức nào ( thừa tướng Lý Tư) là dùng đến triệt để. Đốt sách, kể cả Tứ thư Ngũ Kinh nhưng là đốt những bộ tạp nham, trong khi vẫn tàng trữ một bộ trong triều đình ( tr103, bản Sử TQ của Nxb Tổng hợp TP HCM,2006). Với những điều luật bắt buộc thư đồng văn xa đồng quỹ, ông ta có công đưa mọi sinh hoạt của quốc gia vào nền nếp. Các trường học dưới thời ông dạy rất kỹ môn pháp luật quốc gia.

      -- Thời Tiên Tần, TQ đã có những nhân vật quản lý xã hội đầy tài năng và có tư duy hiện đại như Quản Trọng, Thương Ưởng. Trung Quốc cuối thế kỷ XX cũng đang lặp lại nhiều biện pháp của Thương Ưởng.       

       -- Triệu Khuông Dẫn vua nhà Tống được quân lính đặt lên ngai vàng nhưng  công việc đầu tiên khi lên ngôi là đặt văn quan trên võ quan và hạn chế quyền lực của các chỉ huy quân đội.

        (Nói như sách Các nền văn minh thế giới—Lịch sử & văn hóa  thì ngay từ đời Đường, người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với một quốc gia có chuẩn tắc và văn minh.)

        -- Trong các biện pháp cải cách của Vương An Thạch đời Tống cũng có nhiều việc rất hiện đại, chẳng hạn khi tuyển dụng quan lại chỉ huy các việc nông điền thủy lợi không dùng người văn hay chữ tốt vừa đỗ đạt mà thiên về dùng người có chuyên môn tức có kinh nghiệm.

      -- Sau các chiến thắng quân sự lẫy lừng, chế độ cai trị mà Hốt Tất Liệt áp đặt lên xã hội Trung Hoa hết sức tùy tiện “triều đình là một mớ hỗn độn vô tổ chức, hiệu lệnh ban ra địa phương không nghe; mỗi gia đình đại thần tự làm chính trị,  mỗi người tự coi là quốc gia “ ( tr396-397)

      -- Trong số lý do khiến  Mãn Thanh về sau thành công, có lý do này -- “ triều đình ít can thiệp vào đời sống của dân “ ( tr 481), “ đất đai mênh mông mà số quan lại rất ít” (tr482). Ở trang 497 còn ghi rõ hơn 450 triệu dân chỉ có 100.000 quan lại.

TRỊ QUỐC CHI ĐẠO (II)

     Các xã hội chiến tranh là những xã hội tham nhũng nặng nề. Lần đầu tiên tôi biết điều đó là từ phần viết về nhà Nguyên trong cuốn Những bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung quốc, của nhóm Cát Kiếm Hùng, bản tiếng Việt của nhà sách Văn Lang 2004.

     Nhưng mới đây đọc lại hóa ra các sử gia chuyên về sử Trung quốc đã viết về tình trạng thiếu pháp luật và tham nhũng của các chính quyền quân sự từ lâu.

     Như  Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi đã viết trong cuốn Hàn Phi Tử -- Bản của Nxb Văn hóa 1997—tr 29:

     Bắt đầu ngay từ thời Chiến quốc, thời các chư hầu đánh lộn lẫn nhau,

“quan lại đa số tham nhũng: Tư Mã Thiên trong bộ Sử ký thiên 119 chỉ chép truyện của năm vị quan tốt, mà thiên 122 chép truyện của mười tên quan xấu (chữ Hán gọi là khốc lại).

    Kẻ sĩ tranh nhau ăn tới mức Phạm Tuy tể tướng Tần, tư cách chẳng cao đẹp gì mà cũng phải ví họ với bầy chó của vua Tần: “( khi bình thường) nằm thì cùng nằm, đi thì cùng đi, ngừng thì cùng ngừng, không cắn nhau; nhưng hễ ném cho chúng một khúc xương thì chúng vùng dậy, nhe nanh ra cắn nhau. Chỉ tại tranh ăn.

..Xã hội từ trên xuống dưới đầy trộm cướp “.

  QUAN LẠI XUẤT THÂN TỪ DÂN NGHÈO

 CÀNG DỄ THAM NHŨNG

    Trong việc làm bộ sử Trung quốc, Nguyễn Hiến Lê dựa nhiều vào các nhà sử học phương Tây, nhưng  bao giờ cũng dẫn họ ra rất đầy đủ sau đó có ý kiến riêng của mình.

      Ví như quanh chuyện quan lại và tham nhũng ở Trung quốc. Lối tuyển người làm quan ở đây là qua khoa cử, nó có cái mạnh là tránh đi vào cha truyền con nối của quý tộc châu Âu, và đấy là điều khiến cho Voltaire cũng từng khâm phục.

      Nhưng một nhà nghiên cứu là  Eberhard lưu ý ta một điểm khác.

     Ông này khi nghiên cứu về các đời Đường Tống đã nói rằng nguồn gốc của tệ tham nhũng là do quan lại được trả lương quá thấp.

     Khi nghiên cứu sang thời Minh, Eberhard lại lưu ý càng  đám quan lại xuất thân từ các tầng lớp dân nghèo, do đỗ đạt mà thành quan càng dễ tham nhũng. Tại sao? Muốn đỗ thì phải hối lộ quan trường, đỗ rồi muốn được bổ dụng thì phải đút lót nhà quyền quý... Đến lúc ra làm quan thì phải tham nhũng để thu hồi vốn và trả nợ.

       Chép lại nhận xét này của Eberhard ( tr. 441), Nguyễn Hiến Lê tỏ ý không tin.

      Nhưng tôi thì lại thấy rất  tin vì nó giúp tôi giải thích tình hình quan chức thời nay.  

CHUNG QUANH KHÁI NIỆM DÂN TRONG NHO HỌC

    Đây là một điểm mà theo tôi Nguyến Hiến Lê có cách hiểu khác hẳn với đa số chúng ta hiện nay và ông đã giữ quan niệm này cho tới cùng.

Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm là tên một cuốn sách của Châu Hải Kỳ. Có lẽ ở Việt Nam ít ai được hạnh phúc như Nguyễn Hiến Lê. Từ trước 1975, ông được người bạn ở xa là Châu Hải Ký theo dõi từng bước đi.

 Những năm cuối cùng trong cuộc đời Nguyễn Hiến Lê lại được ông Châu tiếp tục quan tâm và nhất là đoạn miêu tả về cái chết của Nguyễn Hiến Lê rất cảm động.

Riêng tôi, đặc biệt chú ý tới trang 431, của cuốn sách tiểu sử này, ở đó Châu Hải Kỳ viết "kết thúc chương chót này, tôi xin cầu xin ông cho phép tôi trưng ra một đoạn thư trích" có liên quan tới việc dạy học của Khổng tử. Chữ họ sau đây là chỉ các học giả Hà Nội

“...Họ không đọc gì hết mà phê bình thì mình bắt bẻ làm quái gì, phí công. Chẳng hạn trong Nhà giáo họ Khổng, tôi nói rõ rằng trước Khổng chỉ có những  trường của triều đình cho con quý tộc học, Khổng là người đầu tiên mở trường tư dạy bất kỳ hạng người nào, từ kẻ nghèo, chỉ mang lại một gói nem; và ông dạy như vậy chú ý để đào tạo hạng bình dân có học thay bọn quý tộc vô học trong việc trị nước. Công ông lớn lao như vậy mà họ chê là phong kiến, thì nhắc tới họ làm gì cho phí giấy. Thôi đi anh ơi (…)”

Sở dĩ Châu Hải Kỳ phải đưa đoạn này ở cuối sách và Nguyễn Hiến Lê tự nhiên có giọng bi phẫn, là vì ở đây chạm tới một đề tài hình như quan trọng nhất của Nguyễn Hiến Lê là Khổng giáo.

Theo cách trình bày của các học giả Hà Nội, thì Khổng tử  đáng muôn lần căm giận, vì đã khinh bỉ nhân dân, đề cao sự thống trị của bọn ngụy quân tử. Nói chung là người ta không chú ý tới khái niệm dân mà Khổng tử đã đề cập. Khi nói tới Nho giáo thì người ta chỉ nói đến chữ Lễ, Trung, đầy tính ràng buộc, và bằng cách đó thì bảo đảm uy quyền của giai cấp thống trị.

Nhưng trong các tài liệu viết về đạo Khổng mà Nguyễn Hiến Lê gặp lại ở phương tây thì ông lại thấy một điều ngược lại, và ông đã trình bày trong nhiều tập sách, cuối cùng là tập trung ở cuốn Khổng tử mà ông soạn trong thời gian từ sau 1975.

Như đoạn trên đã viết, chính ra Khổng tử là người đã rất gần gũi với người dân bình thường.

Ông biết rằng việc cai trị  cần đến kiến thức nên đã dân chủ hóa kiến thức, và sẵn sàng mang lại những kiến thức quyền lực truyền đạt đến người dân thường.

Với Nguyễn Hiến Lê, đó là mặt tích cực, mặt trội nhất của Khổng tử và không thể chịu được cách hiểu cách hiểu sai của nhiều học giả Hà Nội. Ông giận họ cũng là phải.

26/12/2018

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét