Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Một số suy nghĩ chệch hướng

 Một số suy nghĩ chệch hướng

Sau những câu chuyện mà tôi kể cho nhà văn Nguyễn Minh Châu về tuổi trẻ của tôi, có lần anh đã nói là có lẽ nhờ sống ở một vùng đô thị hiện đại, mà tôi có được một chút hoài nghi cần thiết khi bước vào đời.

Sự hoài nghi đó càng bắt rễ trong tôi, sau khi bị đánh trượt trong cuộc thi vào Tổng hợp Văn. Với một lòng tự tin rất tự nhiên của tuổi trẻ, tôi ban đầu chỉ nghĩ là người ta không hiểu mình. Mãi về sau, tôi mới nghĩ được rằng cái xu hướng mà xã hội muốn kéo mình theo là khác, mà xu hướng lớn của cả nền văn nghệ thì lại khác hẳn. Vì tôi đi theo cái hướng chung nên tôi thất bại. Nhưng tôi vẫn sẽ tiếp tục đi theo con đường đó, chỉ có điều là phải tìm cách chuẩn bị cho mình những hành lý thích hợp nhất. 


Có ngu dại đến mấy thì tôi cũng biết rằng hiểu biết của tôi là hạn chế. Và tôi phải học, trước tiên là học thêm ngoại ngữ để biết thêm về các nền văn học khác, về văn học nói chung.

Trong phần ghi về nguyện vọng khi thi vào Đại học, ngoài nguyện vọng thứ nhất là Tổng hợp Văn, tôi đã ghi nguyện vọng hai là vào khoa Trung Văn Đại học Ngoại ngữ. Hồi ấy mấy cửa hàng sách ngoại văn ở Hà Nội có bán nhiều sách vở tiếng Hoa, kể cả tiểu thuyết. Và tôi đã mua cuốn “Tam lý loan” của Triệu Thụ Lý về để thử đọc. Giá kể được theo khoa Trung Văn thì đời tôi sẽ hướng sang một hướng khác.

Nhưng cũng thời gian ấy, xu hướng học tiếng Nga đã rất mạnh mẽ, dù phần lớn dân trí thức Hà Nội học tiếng Nga qua tiếng Pháp, còn như những quyển sách dạy tiếng Nga cho người Việt thì còn rất sơ sài và kém cỏi. Bản thân tôi sau khi học sơ qua các giáo trình này, đã phải tìm tới một người bạn đang học khoa Nga ở Đại học Sư phạm, là anh Dương Đức Niệm. Anh Niệm sẽ chỉ cho tôi những quyển sách dạy tiếng Nga cho chính người Nga, nghĩa là lưu hành ở các trường Đại học của Nga, nhờ đó tôi có khá hơn.

Việc học tiếng Nga của tôi lúc đầu phải như một công việc dấm dúi. Cùng với các bài ngữ pháp thì công việc đầu tiên là học từ mới. Tôi không có máy để nghe, tôi chỉ lo thuộc mặt chữ. Tôi đóng cho mình những cuốn sổ tay con con vài chục trang. Các từ Nga mà tôi mới học được tôi ghi thoạt đầu bằng bút chì, sau đó tôi tô lại bằng bút mực. Tôi luôn luôn đặt các cuốn sổ đó ở đầu giường. Ký túc xá của sinh viên lúc ấy gồm nhiều giường hai tầng, tôi thường xin lên ngủ ở tầng trên để tránh sự để ý của mọi người. Tối tối, ngọn điện chung cho cả gian phòng đến chín giờ rưỡi thì tắt. Trước đó mười lăm phút, dù đang làm cái gì thì tôi cũng để lại mà lo ngồi lẩm nhẩm mấy từ tiếng Nga mà tôi mới học ban ngày. Tôi cứ lẩm nhẩm  như thế  cho đến khi thiếp đi trong giấc ngủ. Rồi đến sáng ra, khi đèn điện vừa bật thì tôi lại móc cuốn sổ ở dưới gối ra ôn lại. Cứ thế mà tôi dần dần sau ba năm, cũng có đủ một số vốn từ cần thiết để đọc sách. 

Quên tôi không nói từ trên là do chỗ muốn học tiếng Nga để dùng trong việc tự học lâu dài, tôi sớm hướng tiếng Nga vào việc đọc văn học. Cụ thể là tôi mua cho mình một cuốn giảng văn dùng cho mấy lớp khởi đầu ở trường Trung học của Nga, ở đó chẳng hạn có cả những truyện ngắn của A.P.Chekhov. Cùng với Puskin, Chekhov được coi là những nhà văn Nga viết tiếng Nga chuẩn nhất hay nhất mà lại dễ đọc dễ hiểu. Sau này khi ra Hà Nội học lớp văn ba, học văn học Nga với các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà, tôi đã mạnh dạn xin làm khóa luận về Chekhov và đã sử dụng một số sách báo tiếng Nga làm tài liệu tham khảo. Các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà thích lắm, giúp tôi nhiều lắm. Thầy Nguyễn Hải Hà còn theo dõi các bài báo của tôi đưa trên báo Văn nghệ với nhiều cảm tình và sự ủng hộ.


Mười năm học hỏi

 Mười năm học hỏi

Hai năm dạy học ở Lữ đoàn 368 pháo binh và một năm về dạy học ở Đoàn kịch Tổng cục Chính trị quân đội, đối với tôi là những năm chuẩn bị cần thiết. Như tôi đã nói, nhà thơ Vũ Cao khi tiếp nhận tôi còn nhiều lo lắng, ông nói với mọi người, nếu thằng Nhàn nó không làm được biên tập thì cho về làm kế toán. Nhưng may thay, tôi đã đóng vai phụ việc biên tập cho các anh Mai Ngữ, Nhị Ca rồi tiến lên chủ động quản lý công việc của tổ lý luận, tới mức mọi người thường trêu anh Nhị Ca, có được thằng Nhàn rồi thì ông Ca nằm dài mà nghỉ ngơi chẳng phải lo việc gì nữa ngoài việc gật đầu. Hàng năm, cứ vào cuối năm thì Tạp chí chúng tôi lại có một buổi họp cộng tác viên bao gồm cả những cây viết trong và ngoài quân đội. Vào những buổi đó, tôi thường đóng vai một người chủ nhà biết điều, đi chào hỏi và rót bia mời mọc từ các nhà văn nổi tiếng đến các bạn viết văn trẻ. Khoảng cuối năm 1976, phần lý luận của tạp chí ra số chuyên đề về truyện ngắn. Không chỉ nhận những bài viết sẵn có, mà tôi còn sẵn sàng làm chân chấp bút cho các cộng tác viên. Như đối với nhà thơ Chế Lan Viên. Mặc dầu chuyên về thơ nhưng ông cũng rất thạo các vấn đề chung của văn học. Bởi vậy, khi lên kế hoạch, tôi xin phép tòa soạn đặt bài Chế Lan Viên, rồi tôi lại đến tận nhà ông, bàn bạc với ông. Chế Lan Viên bảo tôi bận không viết được, hay là bây giờ tôi nói để cậu ghi. Tôi làm theo ý ông và mấy hôm sau mang tới trình ông bản tôi vừa ghi, mang tên “Dài hay ngắn. Chất lượng và số lượng”. Ông thì bằng lòng (sau này ông thường coi như một bài do chính ông viết ra và đưa vào các tuyển tập) còn tôi thì sung sướng là đã bắt được cái giọng riêng của ông, như một diễn viên nhập vai, hỏi không sung sướng sao được. Ở đây có một kỷ niệm vui vui. Trong buổi họp tất niên mà tôi vừa kể, một nhà văn trẻ bạn tôi là anh Bùi Bình Thi lại đứng lên đặt một câu hỏi làm cả buổi họp sửng sốt. Anh Thi bảo ông Chế Lan Viên có phải là lý trưởng đâu, anh Nhàn có phải là mõ đâu mà tại sao lại có bài viết như vậy. Lúc ấy tôi đang đứng ở giữa buổi họp tay còn đang cầm chai bia chuốc rượu một cộng tác viên khác. Tôi liền giơ chai bia lên và nói to, trong năm tới tôi xin tiếp tục làm mõ và nếu có cộng tác viên nào ngồi ở đây muốn tôi phục vụ thì tôi xin sẵn sàng. Thế là cả buổi họp ồ lên vui vẻ. Sau này anh Nhị Ca bảo lúc ấy tớ cũng lo chỉ sợ cậu sửng cồ lên thì hỏng hết buổi họp, không ngờ cậu tháo quả bóng đang căng theo kiểu hợp lý quá. Còn nhà thơ Ý Nhi thì sau này bảo tôi, công nhận là sau buổi ấy tôi mới thấy ông Nhàn là chơi được và chúng tôi có thể kết bạn thật. 

Phải nói là trong mấy năm đầu chống Mỹ, tạp chí Văn nghệ Quân đội thành một tập thể sống rất hòa hợp và viết thì đều tay đến mức các anh phụ trách và những nhân vật chủ chốt như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu tuy không nói ra nhưng rất ngại tiếp nhận thêm các nhân vật mới. Trong một tập thể như thế, tôi là thành viên về sau cùng, nhưng vẫn tạm gọi là hòa đồng được với mọi người. Đến cuối cuộc chiến tranh, lực lượng sáng tác trong quân đội phát triển, gồm nhiều bạn viết cùng tuổi tôi. Lúc đầu lực lượng ấy do Phòng văn nghệ thuộc Cục tuyên huấn quản lý. Nhưng rồi họ đều được chuyển sang tạp chí. Đó là trường hợp các nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Duy Khán… Nhưng phải nói thật là do sự chênh lệch về tuổi tác và khác nhau về thế hệ, hai lớp nhà văn cũ và nhà văn mới ấy vẫn tồn tại ít nhiều khác biệt. Mỗi nhóm thường nói chuyện với nhau nhiều hơn là người của nhóm bên kia. Trong hoàn cảnh ấy, một lần nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ngỏ ý khen tôi, ở đây chỉ có ông Nhàn là nghe được tiếng nói của cả hai thế hệ. Tôi cho đó là một lời khen, xuất phát từ trường hợp vào nghề của tôi như đã kể trên.

Trong khoảng mười năm ấy - bắt đầu từ mùa xuân 1968, và kết thúc mười một năm sau, mùa xuân 1979, khi tôi chuyển sang Hội nhà văn và về công tác ở Nhà xuất bản của Hội cho đến khi về hưu - đối với tôi vẫn là một thời gian học việc nếu không muốn nói rằng khá lêu têu. Việc biên tập thì không cần nói nhiều, vì thành thực mà nói, nhiều phần dễ dàng. Nhưng tôi còn thích nhiều thứ, kể cả cái việc sáng tác là tôi biết chắc rằng mình không có tài, nhưng vẫn âm thầm theo đuổi. Thành thử, tôi đã tận dụng vai trò của một phóng viên tạp chí, để xin phép tòa soạn đi đến nhiều đơn vị khác nhau, nhất là các mặt trận hồi ấy. Tạm kể như sau, giữa năm 1968, thì tôi theo anh Phạm Tiến Duật đến các binh trạm ở chung quanh thành phố Vinh và các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Một năm sau, hè 1969, tôi lại theo Duật vào binh trạm 20, thuộc đoàn 500 (tương đương với đoàn 559 và sau này sẽ nhập vào 559). Tới 1970, tôi vào một trung đoàn của sư đoàn 304, rồi theo một trung đoàn của sư ấy vượt qua Bến Hải vào mặt trận B4. Sang năm 1972, tôi lại cùng với các nhà thơ Thu Bồn, Liên Nam, Văn Thảo Nguyên vào công tác chiến trường Quảng Trị, đợt này tính từ lúc đi tới lúc được gọi về, kéo dài 4 tháng trời. Trong chuyến đi 1972, tôi có ít nhiều biết được xã hội miền Nam qua những ngày tháng lang thang ở trong thị xã Quảng Trị, khi đồng bào ở đó bỏ lại khu đô thị chạy vào phía trong. Trước đó, tôi có một dịp tạm gọi là càn lướt vùng Gio Linh Cam Lộ, hai bên đường 9... Khi hiệp định Paris được ký, một vùng giải phóng được mở ra không những là trên núi mà còn là dưới biển, tôi vừa được chứng kiến cảnh tượng lính tráng hai miền đối mặt nhau sau hàng rào dây thép gai, vừa lướt qua một phần đồng bằng, tức là vùng ven biển Quảng Trị. Những chuyến đi ấy đã được tôi ghi chép khá cẩn thận mặc dù cho đến 2025, tức là năm tôi 82 tuổi thì vẫn chỉ là những bản ghi chép được đánh máy lại, chưa hề gạn lọc sắp xếp, dù là sơ bộ. 

Nhưng phần việc học tập quan trọng nhất của tôi trong hơn mười năm ấy chính là học tập về nghề, qua sinh hoạt của tôi trong cơ quan. Đầu năm 1968, khi đang cùng đoàn kịch ở thôn Phú Nghĩa, tôi vác ba lô đi bộ qua khoảng 3 km, thì sang Canh Nậu là nơi sơ tán của Tạp chí văn nghệ Quân đội. Đây là một vùng đất rất trù phú, nhà ở san sát cạnh nhau, chứ không vắng vẻ nhưng thôn Công Giáo Phú Nghĩa. Các nhà văn thuộc cơ quan mới của tôi thì ở tản mát trong dân, cứ hai người ghép lại một nhà. Có những buổi chiều, tôi theo các nhà văn Mai Ngữ, Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu ra chợ vừa đi đường các anh vừa kể chuyện cho tôi về cuộc sống văn nghệ. Nhớ nhất là những buổi tối, đến nhà ông giáo Bô là nơi anh Nguyễn Khải sơ tán, anh Khải có lối nói chuyện thế nào mà một phần tuổi trẻ ở cái xóm Ổi Thụy Khuê của tôi, như được thức tỉnh, và tôi không ngại mới quen mang ra kể hết với anh. Nhưng phải nói là từ cuối 1968, khi chúng tôi tạm rời nơi sơ tán trở về ngôi nhà 4 phố Lý Nam Đế, thì tôi mới được thực sự học nghề qua những buổi nghe các bậc đàn anh quây quần rồi trò chuyện. 

Như tôi vừa kể ở trên, nếu ở Hà Nội thì phần lớn các nhà văn cơ quan tôi sống ở gia đình là chủ yếu, có thể mặc thường phục mà đi ra phố hoặc đi họp ở bên Hội nhà văn. Nhưng hàng ngày hoặc hai ba ngày anh nào anh nấy cũng có nhu cầu ghé qua cơ quan, đó là những khi đã làm xong công việc viết bài ở nhà, đến cơ quan giải lao và nhất là ngóng thêm tin tức từ các đồng nghiệp. Các đề tài mà chúng tôi trao đổi với nhau thì vô kể, bao gồm từ chuyện thời sự chính trị xã hội đến chuyện văn học, chuyện của cuộc đời, chuyện của sách vở mà các anh đọc được. Ở đây, phải nói có một sự thực. Như nguyên tắc mà xã hội chính thức yêu cầu ở các nhà văn, chúng tôi không có quyền viết tất cả những điều linh tinh hàng ngày chúng tôi vẫn nghĩ, mà chỉ có quyền viết những điều có lợi cho xã hội. Chẳng hạn như khi viết về chiến tranh, thì chỉ có quyền viết về những gì giúp cho người lính lạc quan tin tưởng sẵn sàng theo lệnh trên trong cuộc chiến đấu, chứ không có quyền viết về những gì làm cho người lính buồn, người lính muốn buôn súng trở về với vợ con. Thoạt đầu có nhiều trục trặc nhưng dần dần các nhà văn cũng thấy làm thế là phải, cũng thấy quen, nói cho to tát ra tức là họ cũng muốn từ bỏ tự do để nhận lấy phần tự kiểm soát mình và kiểm soát các đồng nghiệp. Nhưng sự đời là thế, luôn luôn trong tâm trí các nhà văn có cái phần muốn viết thích viết mà lại không dám viết và cảm thấy không nên viết. Họ xả ra những điều bức xúc đó qua câu chuyện với các bạn bè đồng nghiệp hàng ngày. Trong hoàn cảnh một xã hội chìm sâu vào chiến tranh, dĩ nhiên người ta không thể nói bô bô những chuyện chính trị ở ngoài đường, ở quán nước, ở bến xe. Chỉ trong cơ quan khi mọi người đã sống với nhau từ lâu, đã tạm hiểu nhau thì mới sổ ra cho hết những gì chất chứa trong lòng. Ngoài những tin tức thời sự mà mỗi người mang về từ tiếp xúc riêng của mình hàng ngày, ở tạp chí chúng tôi lúc ấy, trong phạm vi các bậc mà tôi gọi là đàn anh, tức là những người đã bắt đầu viết từ kháng chiến chống Pháp, trước đó là những cán bộ tuyên huấn thành thạo ở các trung đoàn sư đoàn, tôi cảm thấy mỗi anh có một bề dày kinh nghiệm và một đề tài riêng. Anh Hữu Mai thạo nhiều tin tức về mặt trận, lại thêm nhờ ở chỗ sống trong một khu tập thể quân đội, anh có rất nhiều tin tức với tất cả cái nghĩa rộng rãi của từ tin tức. Anh Hồ Phương dân Hà Nội cũ bên cạnh chuyện nhà binh, lại khá thạo chuyện đường phố Hà Nội. Anh Xuân Sách đọc đủ thứ văn chương kiểu như “Tam quốc”, “Thủy Hử”, “Đông Chu liệt quốc” từ đó nhìn thế sự với con mắt thành thạo pha chút diễu đời. Có hai người để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. 

Mãi sau này tôi mới biết rằng, mặc dù gia đình ở Quỳnh Lưu Nghệ An, nhưng Nguyễn Minh Châu đã sớm được đưa vào Huế học, nên trong cách sống và sự học hỏi làm việc của Nguyễn Minh Châu thực sự là có dáng dấp của một học sinh gia đình khá giả, bước vào kháng chiến còn vướng vất nhiều phần tiểu tư sản. Nhưng cái tiểu tư sản của anh Châu là một cái gì rất mềm mại đáng yêu, khả năng thâm nhập của anh vào giới đồng đội nông dân phải nói là tự nhiên, thuần thục, có vẻ như là anh biết nói lên cái tâm tình của họ. 

ĐI THƯ VIỆN

 Một phương diện khác mà tôi lo lắng trong mười năm ấy là học tập. Do chỗ biết rằng cái học ba năm ở trường Đại học Sư phạm chưa đi đến đâu, tôi tận dụng việc làm quen với các cộng tác viên là các nhà nghiên cứu văn học chuyên môn, như Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh…, chưa kể là các sinh hoạt ở hội nhà văn mà tôi bắt đầu được tham dự để học hỏi thêm. Việc này tôi sẽ nói thêm ở sau, ở đây hãy nói về việc đi thư viện và học thêm tiếng Nga.

Do công việc không bị ràng buộc theo giờ hành chính, nên tôi thường chỉ ở tòa soạn buổi sáng, còn buổi chiều thì đi thư viện Quốc gia. Ngay sau hòa bình 1954, Hà Nội có nhiều thư viện nhỏ chẳng hạn Văn miếu hồi ấy cũng là nơi lúc đầu tôi thường đến, rồi thư viện Hà Nội ở quãng giao nhau giữa đường Bà Triệu và đường Trần Hưng Đạo. Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là thư viện Quốc gia mà hồi ấy gọi là thư viện trung ương. Ngay từ hồi học lớp 9, lớp 10, bọn tôi đã được phép vào đọc ở cái thư viện cao cấp ấy. Tôi nhớ, nhờ được xây dựng ngay từ thời Pháp thuộc, nên thư viện rất quy mô có cả một khoảng sân lớn trước sảnh chính, rồi khi vào phòng đọc tổng hợp tức là cái sảnh chính đó, chúng tôi có được những chỗ ngồi rộng rãi sau những cái bàn lớn. Lúc đầu ngay cả những sinh viên đang theo học ở các trường đại học vẫn chưa thể có mặt ở thư viện, nên các phòng hồi đó phải nói là thiên đường cho những người muốn làm việc. Tôi gặp ở đây những người bạn cùng lứa với tôi như Phan Hồng Giang, Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Thái Bình… Tôi cũng gặp ở đây những nhà nghiên cứu và nhà văn lớp trước, như nhà nghiên cứu mĩ thuật Thái Bá Vân. Thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện nhà thơ Trần Dần do bệnh tật thế nào đấy với dáng đi khó khăn lệch cả một bên người. Anh Lê Đạt thì thường chỉ đến để tra từ điển. Tôi nhớ là phòng đọc thư viện ngày ấy có rất nhiều loại từ điển trong đó có những quyển từ điển tiếng Pháp rất to đặt hết cả một cái bàn, và người tra từ điển thường phải đứng để làm công việc tra cứu. 


KIỂU PHÊ BÌNH CỦA TÔI

 KIỂU PHÊ BÌNH CỦA TÔI

Hồi học lớp 10 phổ thông, tôi với anh Nguyễn Đình Bưu cùng thích văn chương. Để theo dõi tình hình văn học đương thời, chúng tôi cùng ham đọc các loại báo chí văn học. Nói “các loại” … là nói cho sang giới văn nghệ lúc ấy chỉ có tờ Văn học ra hàng tuần và tạp chí Văn nghệ ra hàng tháng. Tờ thứ nhất thì không được hay lắm vì lúc đầu muốn làm một thứ văn nghệ thay thế thời Nhân văn lại do nhà văn Vũ Tú Nam phụ trách, còn tờ thứ hai khá hơn vì tiếp nối cái tinh thần của tạp chí Văn nghệ hồi 1948-1949 và bài vở do nhà thơ Xuân Diệu làm “đầu bếp”. Còn giới nghiên cứu thì có tờ Nghiên cứu Văn học, do cụ Đặng Thai Mai làm “sếp hờ”, mà mấy cây bút chủ đạo là dân tuyên huấn mới chuyển sang làm phê bình: Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hồ Tôn Trinh. Tôi với anh Bưu phân công, tôi mua tờ Văn nghệ, còn anh Bưu thì theo tờ Nghiên cứu Văn học. Hóa ra đó lại là một sự “tiền triệu” (báo trước): anh Bưu có kiểu tư duy theo dạng các nhà nghiên cứu khoa học xã hội mà cũng là cách giảng dạy ở các khoa Văn Đại học Tổng hợp lúc ấy, nên sau này thi vào khoa Văn Đại học Tổng hợp một cách dễ dàng. Còn tôi thì thi trượt phải chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, lý do đơn giản vì tôi toàn lo học cách thưởng thức tác phẩm và cách viết sao cho uyển chuyển giống như các nhà văn nghệ sĩ, các bài giảng ở cuối lớp 10, tức là lớp 12 hiện nay, về tính giai cấp tính Đảng của văn học … tôi chỉ học qua loa. Xu hướng viết báo sau này của tôi hình thành một cách tự nhiên và làm cho tôi dễ dàng làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân đội thực ra đã hình thành từ ngày ấy. Ngay trong viện văn học, tôi cũng thích làm quen với những cây bút có cách viết gọi là tài tử thật ra là cách viết mềm mại uyển chuyển không định phát triển thêm về lý luận và trước tiên là minh họa cho lý luận. Trong các sinh viên đại học vừa tốt nghiệp ở Nga về lúc ấy, tôi rất thích anh Phan Hồng Giang với tư duy linh hoạt và cái nhìn pha chút “uy-mua” về cuộc đời cũng như văn chương. Trong nhiều năm ròng, cả khi anh Phan Hồng Giang chuyển từ viện văn học về biên chế ở Hội nhà văn và làm tạp chí Tác phẩm mới thì tôi khi gặp anh ở cơ quan khi đến tận nhà anh, trò chuyện hay đúng hơn là học hỏi ở con người đã có dịp tiếp xúc với một nền lý luận mà lúc ấy chúng tôi đang hướng theo. 

Nói cho nghiêm túc, thì trong hơn mười năm làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi chỉ học được nghề làm báo, công việc chính của tôi là chuẩn bị cho những trang báo và viết các loại bài báo, từ mẩu tin đến đoạn văn ngắn. Một số bài gọi là phê bình của tôi lúc ấy được viết do yêu cầu của tòa soạn, tản mạn đủ loại khác nhau, nhất là không có một cơ sở lý luận vững chắc như các anh thuộc loại xuất sắc nhất, và đã từng theo học ở khoa văn Đại học Tổng hợp. 

Trong những năm chống Mỹ mà tôi nói ở trên, hoạt động báo chí xuất bản ở Hà Nội rất hạn hẹp. Cố nhiên lúc nào chúng tôi cũng thèm có được những tập sách chuyên về lý luận phê bình, như các anh Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ lúc ấy. Nhưng vừa mơ xong thì một người như tôi cũng hiểu ngay là quả ngọt không biết bao giờ đến phần mình. Một tập sách phê bình lúc ấy ngoài những bài viết về các tác phẩm, phải có những bài nền, công phu về các vẫn đề đường lối văn nghệ của Đảng. Ở tạp chí của chúng tôi lúc ấy, phần này thuộc về công việc của nhà văn đàn anh là anh Nhị Ca. Tôi thì đang say nghề theo cách hiểu của các nhà văn chuyên về sáng tác, và xa lánh lý luận, nên nhìn công việc của anh Nhị Ca thấy có phần xa lạ và thâm tâm cảm thấy rằng may mắn là bản thân mình chả bao giờ phải làm việc đó. 

Sau này, khi đã hơn chục năm sống trong giới văn nghệ, tôi cũng gặp được những cây bút phê bình xuất sắc mà lại có cách viết thật uyển chuyển, thật văn chương, rõ nhất là anh Lê Đình Kỵ và các chị Đặng Anh Đào, Đặng Thị Hạnh… 

Về quê hương Đông Hồ -Về gia đình và dòng họ

 Bổ sung chương 1

-

Về quê hương Đông Hồ -Về gia đình và dòng họ

Đồng bằng Bắc bộ nhất là khu vực Bắc Ninh có nhiều làng nghề. Làng Đông Hồ quê tôi thuộc dạng một trong những làng đó. Thường khi giới thiệu về làng người ta gọi đó là làng làm tranh, và quả thật đó là một nghề thủ công độc đáo, đã nuôi sống cả làng và là niềm tự hào của những người nông dân tài hoa biết duy trì nghệ thuật trong cái biển đồng bằng trồng lúa. Nhưng thực tế làng này trước tiên được hình thành từ nghề làm vàng mã để cúng trong những dịp tết nhất. Thoạt tiên người làng hình thành những khung tre nho nhỏ bằng độ đầu ngón tay người lớn, rồi lấy giấy quét phẩm màu vàng khuôn lại xếp chồng lên hàng ngàn viên gạch nho nhỏ ấy gọi là ngàn vàng. Còn hai chữ “hàng mã” có nghĩa là những vật thể cần thiết cho đời sống như ngôi nhà, bàn thờ và cả voi ngựa … được mô hình hóa lại trong những lồng tre ngoài phất giấy. Theo tục lệ có lẽ là truyền từ các vùng dân tộc bên Trung Quốc sang, vào những dịp cúng giỗ hàng năm cho những người chết giàu có, người ta đốt những thứ vàng mã ấy để phục vụ cho người chết ở thế giới bên kia. Cũng vì sống được bằng việc làm vàng mã đó nên làng tôi có những đặc điểm của một làng nghề, sống khá sung túc. Khi nói về truyền thống cách mạng của tỉnh Bắc Ninh người ta không bao giờ nhắc đến làng tôi. Khi nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp, dân làng tôi có theo đường Và, Ném… tản cư lên các vùng trên Bắc Giang, nhưng lại nhanh chóng quay về “lập tề” nghĩa là trở lại sống dưới sự quản lý của người Pháp. Sau năm 1954 khi chính quyền cách mạng trở về quản lý cả miền Bắc, nghề làm vàng mã làng tôi có bị thui chột và dân làng sống tạm gọi là ngắc ngoải bằng cái việc học làm nông nghiệp cũng như tiếp tục làm tranh, và một phần vàng mã theo kiểu làm chui tức là làm ngoài vòng pháp luật. Chỉ đến khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc mọi hướng làm ăn được khuyến khích, mê tín được chính thức hóa, chỉ cấm qua loa bên ngoài mà tha hồ bói toán cũng như đốt vàng mã bên trong thì làng tôi mới thật sự hồi sinh. Còn nghề làm tranh thì chỉ có cái tiếng và sản xuất thu hẹp lại như một mặt hàng du lịch vì làm sao tranh sản xuất theo kiểu thủ công xưa có thể cạnh tranh được với các loại tranh in hiện đại?

-

Khi hỏi thăm về họ Vương ở làng Đông Hồ, ai cũng biết là có, nhưng lại nói thêm rằng đó là một dòng họ rất nhỏ và nay đã phiêu tán đi nơi khác.

Theo lời ông bố tôi kể lại, thì ông nội bà nội tôi từ vùng nào đó phía Bắc có tá túc lại ở Đông Hồ vài chục năm, nhưng hai cụ nhanh chóng để con cái và cái cơ đồ vừa hình thành ở lại quê hương mà chuyển ra Hà Nội làm ăn. Suy nghĩ của các cụ khá hiện đại: muốn làm tranh cũng như làm vàng mã thì người ta phải có nguyên liệu là các loại giấy rồi từ giấy mới nhuộm xanh nhuộm đỏ để hình thành nên các mặt hàng. Từ Bắc Ninh, hai cụ đến tá túc ở khu vực Yên Thái bên hồ Tây. Làng này là nơi làm giấy. Thoạt đầu người ta ngâm các loại vỏ cây chuyên dụng cho rữa ra, rồi lại dùng vôi nung chảy trong các lò lớn ở nhiệt độ cao để cuối cùng ra một thứ bột, mang về đặt trong các bể lớn. Trong các làng nghề làm giấy, đàn ông lo đốt lò, đánh bột, thì đàn bà chuyên lo việc seo giấy túc là đãi các lớp bột đó thành từng tờ mỏng rồi trát lên tường cho khô và người ta có được thứ giấy rất đơn sơ dùng vào mọi công việc. Với việc chuyển hẳn một phần gia đình ra làng Hồ Khẩu (còn gọi là Yên Thái), ông nội tôi đặt cơ sở cho việc hình thành một trạm nhỏ chuyên đảm nhận việc chuyển giấy từ đây về quê hương Đông Hồ. Sau này lớn lên tôi được đọc trong một cuốn sách do người Trung Quốc viết, đại khái họ cắt nghĩa rất hay về thương nghiệp. Theo họ, thương nghiệp nghĩa là cảm thấy một nhu cầu; tổ chức sản xuất và lưu thông để thỏa mãn nhu cầu đó; nối liền những vùng đất và những con người. Phải nói là tôi cảm thấy may mắn vì cha ông đã chuyển cả địa điểm sinh sống lẫn cách làm ăn.


-

Thế nào là chất ngoại ô

Trụ sở chính của tạp chí Văn nghệ Quân đội là một khu nhà khang trang từng phòng có hệ thống vệ sinh riêng. Từ khi chuyển từ phát hành trong nội bộ quân đội ra việc phát hành chung trong cả nước, các thành viên của tạp chí được sống khá thoải mái. Tuy là sĩ quan quân đội nhưng không bắt buộc phải đội mũ đeo sao, và các sĩ quan hàng ngày có thể về gia đình riêng. Từ cuối năm 1965, cơ quản tổng cục chính trị sơ tán về mạn Sơn Tây thì các thành viên đa số thường vẫn cùng với gia đình sống ở Hà Nội, chỉ những đợt báo động đặc biệt và khi học hành mới phải đi sơ tán. Nhưng đấy là cách sinh hoạt của các nhà văn Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hải Hồ. Riêng hai anh Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách vì chưa có nhà ở Hà Nội, nên vẫn bám vào cơ quan, cả ở sơ tán cũng như sau 1968, thực tế là cơ quan chúng tôi đã chuyển hẳn về Hà Nội, thì tối tối trong cái cơ quan vắng vẻ ấy vẫn có hai căn phòng để đèn sáng thường xuyên cả đêm là phòng của Nguyễn Minh Châu và phòng của Xuân Sách. Tôi mới chuyển từ Đoàn kịch nói Tổng cục sang Tạp chí, do còn là hạ sĩ quan nên phải sống trong cơ quan nhiều hơn. Nhờ đó tôi có dịp nói chuyện rất nhiều với bậc đàn anh mà tôi hết sức yêu quý là Nguyễn Minh Châu. Chúng tôi trao đổi với nhau đủ chuyện từ quá khứ mới nhập ngũ đến hoàn cảnh gia đình hiện thời. Trong một lần như vậy, khi nghe tôi kể chuyện về những ngày ở làng Đại Yên, làng Thụy Khuê, Nguyễn Minh Châu bột phát nói ra cái điều mà chính tôi cũng bất ngờ: 

- Thảo nào mà cậu cứ có cái vẻ hoài nghi mà những thằng khác tài năng hơn có đọc sách nhiều hơn, nhưng do chỉ sống ở nông thôn, họ sống ở những vùng có thể trù phú hơn nhưng lại cổ hơn… không thể có được. Đó là sự hoài nghi. 

Và Nguyễn Minh Châu nói như đinh đóng cột:

- Hoài nghi chính là phẩm chất của những đô thị và những vùng cận đô thị.

Trở lại với những năm tháng mà tính cách tôi mới hình thành tức là những năm còn học tiểu học theo chương trình của nhà trường thời tạm chiếm, khi người Pháp còn làm chủ Hà Nội. Theo cách cảm nhận của một thằng bé ở trong cái hũ nút là làng Đại Yên làm nghề bán lá thuốc hoặc sau này chuyển sang cái phố Thụy Khuê nửa phố xá nửa ngoại ô, thì chúng tôi chẳng giàu mà cũng chẳng nghèo, dù bữa cơm không thật nhiều cá thịt và cũng không bao giờ bị đói. Đại Yên thì cũng đại khái như Đông hồ làng tôi cũ, nghĩa là một thứ làng nghề, các bà các cô đi bộ từ Đại Yên qua đê Hoàng Hoa Thám mà hồi ấy chúng tôi gọi là đường thành rồi lên tàu điện xuôi xuống phố Hàng Khoai, ngồi vào các gian hàng đã thuê sẵn, hàng bán ra hàng ngày. Thụy Khuê lại càng như vậy, các bà các cô thì sớm ra đã quẩy những gánh xôi lúa xôi nếp, theo đường xe điện xuống bán rong ở khu vực mà ngày này người ta gọi là phố cổ; muộn hơn một chút và kéo dài đến trưa thì đến lượt các bà các chị bán khoai, dùng làm một thứ hàng quà, nhịp sống cứ đều đều như vậy như nếp sống của cánh đàn ông hành nghề ở sở xe điện (cả lái tàu lẫn soát vé), ở nhà máy giặt và nhất là ở nhà máy da rất nổi tiếng vốn của những ông chủ người Pháp, từ sau 10/1954 thì trong tay mấy người chủ Việt rồi chuyển thành công ty hợp doanh. Do chỗ cuộc sống giống như một thứ đứng máy đều đều hàng ngày, chúng tôi chả bao giờ thật sung sướng nhưng cũng chẳng bao giờ lo đói khát, “tay làm hàm nhai” chẳng phụ thuộc ai mà cũng chẳng thấy ai bóc lột mình, cuộc sống chẳng biết bao giờ khá hơn nhưng cũng không bao giờ phải lo lắng rằng rơi vào cái cảnh chết đói. 

Như tôi đã kể ở phần trên, mấy cái xóm tôi ở lúc ấy không thể gọi là đất học, trẻ lớn lên thậm chí chỉ học đến tiểu học là cùng rồi chuyển đi làm nhà máy da nhà máy xe điện như cha anh chứ chả có ai học lên trung học, dù là trường trung học đệ nhất cấp Chu Văn An ở ngay đầu ngõ. 

Những lần vươn lên sau thất bại

 Những lần vươn lên sau thất bại

Thất bại đầu tiên trong đời tôi là khi tôi từ lớp 5 tiểu học chuyển sang trường trung học. Việc ấy xảy ra khi Hà Nội được quân đội về tiếp quản, trong khung cảnh có phần nhốn nháo lúc đó, tôi thi trượt vào trường Chu Văn An và phải đi học tư thêm một năm. Tất cả chuyện này tôi đã kể ở phần trên.

Có thể nói cái thất bại thứ hai khi tôi học hết lớp 10 tương đương với lớp 12 hiện nay, và thi vào khoa Văn, Đại học Tổng Hợp mới là một bước đi đau đớn kinh khủng và chỉ nhờ sau đó tôi vẫn gượng lại được, nên lại có thể nói là nó có ích.

Như trên đã nhiều lần nhắc qua, do cơ thể ốm yếu, khả năng quan hệ kém cỏi, nên tôi chỉ lấy học để gọi là giao tiếp với đời. Tôi học khá cả tự nhiên và xã hội. Các thầy trong lớp, thì thầy Văn muốn tôi làm cán sự Văn, thầy Toán muốn tôi làm cán sự Toán, cuối cùng các bạn trong lớp đề nghị tôi làm cán sự Trung Văn để có thể tham gia được cả hai tổ trên. Lúc biết tôi phải chuyển sang sư phạm Văn, thầy X dạy Lý của tôi hồi lớp 9 cứ tiếc mãi, ông bảo giá kể biết trước thì ông sẽ xin cho tôi vào tổng hợp Lý.

Mặc dầu thực ra khả năng của tôi về Toán chắc chắn hơn về Văn rất nhiều, song trong cái năm cuối cùng của cấp 3 ấy, một con người cá nhân trong tôi bừng tỉnh, tôi tha thiết muốn có sự có mặt của mình trong đời, mà lúc ấy thì chỉ có môn Văn mới là con đường ngắn nhất, để tôi tạm gọi là thành danh, tức là tự khẳng định mình.

Còn như nguyên nhân khiến tôi thi trượt thì sao? 

===========

 Sau khi khóc hết nước mắt, và thù đời, và oán trách số phận, và muốn trở nên hư hỏng cho bõ tức … cũng may tôi dần dần xác định được hướng đi của mình. Đaị học Sư phạm không phải nơi tôi mơ ước, song vẫn là chỗ tôi có thể học được. Cái gì nhà trường dạy, lo học thật tốt. Cái gì không dạy thì tự học lấy. Ví dụ như học ngoại ngữ. Tôi báo thù đời bằng cách … học tiếng Nga .

Một khoảng không đã được tạo ra , và tôi tìm thấy hào hứng trong việc lấp đầy nó . Tôi không còn buồn sướt mướt như khi mới vào Vinh.

Tôi quên không nhớ là ai đã nói , đối với một người mới vào đời, thất bại nhiều khi lại cần hơn cả thành công . Vì nó giúp cho người thanh niên hiểu rõ mình hơn. Hiểu rõ năng lực có thực, từ bỏ ảo tưởng và thói kiêu căng vốn gắn liền với tuổi trẻ nhạy cảm.

Xã hội lúc ấy không khuyến khích con người tự lo giành lấy “ một chỗ đứng dưới ánh mặt trời”. Mà ai đã bị đặt vào thang bậc nào thì phải yên tâm nằm chết gí ở thang bậc ấy. Tôi, trong thâm tâm, không công nhận sự sắp xếp ấy . Để tự vệ , những ý nghĩ sau đây đã đến với tôi :

– có thể là lúc ấy mình đã làm bài kém , nhưng thực lực của mình là chuyện khác .

– chỉ mình mới đánh giá chính xác tài năng của bản thân – cái tài năng sẽ đến nếu biết học hỏi .

– Chỉ có cách lao động cật lực để chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai trong việc đánh giá mình .

Sau hơn bốn chục năm nhìn lại giờ đây tôi có thể mạnh dạn nói rằng sự trưởng thành trong suốt cuộc đời phụ thuộc khá nhiều vào cách định hướng cuộc đời của tôi sau khi thi trượt. 






Khi nhận giấy báo chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, tôi đã khóc hết nước mắt. Hồi đó, phương tiện giao thông từ Hà Nội vào Vinh còn kém lắm, xe ô tô hàng phải chuyển qua mấy con phà. Mà tôi thì quá non nớt, nói ra bảo bịa, quả thực lúc ấy tôi đã lẩm cẩm nghĩ bụng rằng làm gì có nơi nào xa đến mức đi ô tô từ sáng đến chiều mới tới (!)

Đại học Sư phạm Vinh lúc ấy mới khai trương được một năm. Chỉ có hai khoa một văn một toán, mỗi khoa hai lớp, tổng cộng 4 gian nhà lá cho 4 lớp. Vì Vinh những năm ấy mùa hè nào cũng xảy ra những vụ cháy, nên tới hè 1963, chúng tôi chuyển lên nhà tầng, thứ nhà chung cư thô sơ (hồi ấy gọi là khu tập thể) mới bắt đầu xuất hiện .

Điều kiện kinh tế thường không phải là lý do làm một người trẻ tuổi lúc ấy buồn. Năm 1961, gọi là ở Hà Nội, nhưng nhà tôi vẫn nhà tranh sân đất. Suốt đời học phổ thông tôi học dưới ánh đèn dầu. Với một học sinh Hà Nội ngoại ô như vậy thì Vinh và những vùng phụ cận khoảng 1961-63 có một đời sống hiền hòa khiến đám thanh niên thấy không có gì đáng phàn nàn.

Nhưng làm khổ tôi hơn cả là cái không khí văn chương khoa Văn Đại học Tổng hợp đặt ở Láng. Người cho tôi biết những tin này là anh Nguyễn Đình Bưu mà tôi dã học chung. Chúng tôi thử làm các bài theo đầu đề có sẵn rồi trao đổi với nhau. Lúc học chia ngọt sẻ bùi, bây giờ anh đỗ tôi trượt, anh cũng thương cảm, thường xuyên viết thư kể chuyện học hành ra sao để tôi biết.

Bưu càng kể càng như xát muối vào lòng tôi. Cuối cùng, không chịu được, tôi quay ra cay nghiệt tị nạnh, oán trách đời bất công, nói đau nói hỗn cả với những người chỉ hưởng cái phần họ đáng được hưởng. Bưu không viết thư cho tôi nữa. Sau này anh tiếp tục hành nghề, về hưu với chức Giám đốc Sở Văn hóa Bắc Ninh.



Cũng may mà cùng với việc chấm dứt viết thư cho Bưu, tôi cũng dần dần xác định được hướng đi của mình. Tạm xem như tôi đang ở đáy vực. Tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện sẽ chọn dạy học làm nghề suốt đời, và càng không nghĩ mình cần trở thành một sinh viên tốt nghiệp giỏi. Nhưng đây vẫn là chỗ tôi có thể học được. Cái gì nhà trường dạy, lo học thật tốt. Cái gì không dạy thì tự học lấy. Ví dụ như học ngoại ngữ. Trừ mấy ông mấy bà chuyên về văn học phương Tây hoặc Văn học Trung quốc — hồi ấy vốn rất lép vế ở các khoa ngữ văn –, còn theo tôi biết nhiều giáo sư ở ta không có thói quen tìm đọc sách báo nước ngoài thường xuyên, nhất là đọc báo và hiểu rộng ra cả cái đời sống nghiên cứu ở một nước ngoài nào đó mà mình theo đuổi. Vì có bao giờ họ được yêu cầu làm việc đó đâu! May mà lúc ấy tôi không nghĩ thế. Tôi nghĩ làm nghề gì cũng phải biết ngoại ngữ. Nghe Bưu nói học ngoại ngữ ở Đại học Tổng hợp năm ấy cũng chẳng hơn trong Vinh bao nhiêu, tôi thêm yên tâm. Ngoài việc theo học trên lớp, phần lớn thời gian tôi dồn cho tự học tiếng Nga.

Một khoảng không đã được tạo ra, và tôi tìm thấy hào hứng trong việc lấp đầy nó. Tôi không còn buồn sướt mướt như khi mới vào Vinh.


Tôi quên không nhớ là ai đã nói, đối với một người mới vào đời, thất bại nhiều khi lại cần hơn cả thành công. Vì nó giúp cho người thanh niên kia hiểu rõ mình hơn. Hiểu rõ năng lực thực của mình, từ bỏ ảo tưởng thói kiêu căng vốn gắn liền với tuổi trẻ nhanh nhạy.

Cụ thể trong trường hợp của tôi, việc chuyển vào học Đại học sư phạm dạy thêm cho tôi một điều nữa. Số phận cá nhân lúc ấy là nằm trong tay những tập thể hời hợt vô cảm. Xã hội không dạy con người học hỏi để tự đánh giá mình. Mà ai đã bị đặt vào thang bậc nào thì sẽ yên tâm nằm chết gí ở thang bậc ấy. Ngược lại — không rõ học hỏi từ đâu nhưng sau việc thi trượt, và phải rơi vào một môi trường mình không lựa chọn –, những ý nghĩ sau đây đã đến với tôi :

– có thể là lúc ấy mình đã làm bài kém, nhưng thực lực của mình là chuyện khác.

– chỉ mình mới đánh giá chính xác tài năng của bản thân – cái tài năng sẽ đến nếu biết học hỏi — và một phần nghị lực của cuộc đời sẽ dành để chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai trong việc đánh giá mình.

– Những điều học được ở trường chỉ là một phần, cái chính của con người mới bước vào đời, là tự học. Phải học lấy hết. Phải tự đào tạo. Tìm lấy cho mình thầy. Tìm lấy cho mình sách.

Chắc các bạn học với tôi ở Đại học Sư phạm Vinh còn nhớ, cả hai năm học ở 1B và 2 B (niên khóa 1961-1963 ), tôi chỉ là học sinh học khá, không bao giờ là học sinh giỏi, càng không bao giờ thuộc loại tiên tiến xuất sắc tuyên dương toàn trường, mặc dù tôi vẫn hết sức chăm chỉ hay lên thư viện mượn sách. Có gì đâu. Cú ngã thẳng cẳng là vụ thi trượt đã giúp tôi gỡ bỏ tâm lý hiếu thắng vốn có từ lúc học Chu Văn An. Giờ đây, tôi không màng cái sự hơn nhau lặt vặt. Tôi không cho rằng phải được điểm cao mới là giỏi văn. Chỉ có sau này trong khi len chân vào trường văn trận bút là giới báo chí xuất bản, dư luận mới đánh giá tôi chính xác.

Lúc bấy giờ cũng đã biết nói ra như thế là kiêu, tôi chỉ im lặng, ai muốn khen chê thế nào, tùy.

Một lý do nữa khiến tôi cám ơn hai năm học Đại học Sư phạm Vinh. Do lần đầu tiên có trường đại học mở ở một địa phương, nên cán bộ giảng dạy thiếu. Chúng tôi thành một thứ học trò năm cha ba mẹ. Khi một thày “mượn” ở trường này, khi một thày “vay “của trường khác (hồi ấytôi có nghe loáng thoáng hai chữ thỉnh giảng ).

Nhất là trường tôi lúc ấy không có những tên tuổi mòn sáo sống lâu lên lão làng, mà có nhiều cán bộ trẻ đầy triển vọng. Đó là các thày Nguyễn Đăng Mạnh Phùng Văn Tửu sau này đều từ Vinh trở về Hà Nội trở thành trụ cột của Khoa Văn Đại Học Sư Phạm, Hoặc thày Hoàng Văn Lân trong môn sử mà tôi không rành lắm.

Sau này tôi còn có nhiều dịp tiếp xúc với Nguyễn Đăng Mạnh như một đồng nghiệp, nhưng chưa bao giờ thấy ông nói về văn hay, như hồi ông dạy chúng tôi phần văn học 1930-45 ở lớp văn 2B niên học 1963-64. Sau này hình như chính ông không để công ghi lại những bài giảng về cả giai đoạn này nói chung mà giành sức viết riêng về Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, nhưng với tôi, phần ông nói hay nhất nồng nàn nhất lúc ấy là về Thơ mới.

Trong phương pháp nghiên cứu, tôi nhớ hai điểm. Một là Nguyễn Đăng Mạnh thường có lối nói rất triệt để. Tay ấy chẳng hiểu gì về văn học cả. Với một đồng nghiệp bất tài, ông sẵn sàng cho một câu phủ nhận sạch trơn như vậy. Hình như với ông thế giới văn học và thế giới đời thường là hai khu vực tách rời hẳn nhau, như sự tách bạch giữa cõi thiêng liêng và cõi phàm tục, và có lẽ nhờ niềm say sưa đắm mình trong cõi thiêng liêng kia, ông có được một sức làm việc mạnh mẽ, giành được một chỗ đứng, mà nhiều kẻ khác bất tài hơn, nhưng may mắn và giỏi luồn lọt hơn, không muốn ông có.

Về phương pháp nghiên cứu, ông cũng bộc lộ một phong cách riêng.Tôi nhớ một lần lên lớp, ông tuyên bố đại ý : Nếu tất cả những luận chứng dưới dây là sai thì tất cả những kết luận mà tôi nêu qua với các chị các anh ở phần trên sẽ lập tức vướt vào sọt rác. Với đám sinh viên chúng tôi, bắt đầu thức tỉnh, song thường ăn nói hàm hồ một cách đáng thương, nghĩa là thích sao nói vậy, chẳng chứng cớ chính xác gì cả — thì lối nói kiểu ấy thật có sức quyến rũ. Người ta có thể từ nó làm lại cả thế giới !

Nếu ở Vinh tôi đã chỉ là một thứ sinh viên thuộc loại hàng tầm tầm thì ra học văn 3 ở Hà Nội, tôi càng như lẫn đi giữa mọi người. Dăm năm sau, thấy tôi đi viết phê bình có bài đăng gần kín trang trên báo Văn Nghệ từ 1965, rồi chuyển về tờ báo danh giá là Văn nghệ quân đội, nhiều bạn bè cũ nửa đùa nửa thực, này hồi đi học tớ không thể ngờ là có lúc cậu đi vào văn chương cơ đấy !

Đơn giản lắm : hôm qua từ Hà Nội vào Vinh, kẻ thi trượt đã như nửa chết nửa sống, thì hôm nay trở về Hà Nội tôi lại là nhà quê ra tỉnh, có khá gì hơn.

Tôi học lớp 3C, thuộc tổ mấy không nhớ, chỉ nhớ anh Phổ miền nam tập kết làm tổ trưởng, anh Luân làm tổ phó. Trong lớp, anh Phạm Tiến Duật cũng như anh Nguyễn Đình Ảnh là nổi nhất. Tính chung trong cả khối còn có Nghiêm Đa Văn mà tôi có biết từ hồi học phổ thông, có Nguyễn Khoa Điềm. Điềm tôi không quen, lại ở khác phòng. Nghe các bạn bàn nhiều về Điềm, nên một vài lần đi qua phòng anh, tôi cũng để mắt quan sát. Nhớ nhất là chồng sách anh để đầu giường, toàn những cuốn tiếng Pháp dày cộp. Năm ấy, Điềm làm khóa luận về văn học phương Tây, đâu là một vấn đề gì đó của Balzac tôi nghe mà lắc đầu bái phục.

Không đợi sau này nhiều người phát hiện,mà ngay hồi ấy, từ Vinh ra, tôi đã thầm nghĩ mình đang học với một lớp sinh viên đầy tài năng. Các anh ấy tự tin coi văn học như một ngành hoạt động đầy thú vị.Và các anh ấy hiểu nó, yêu nó. Nhiều sinh hoạt văn học như các đêm thơ, đêm giao lưu nghệ thuật với các trường khác, các anh Lâm Quang Ngọc, Nghiêm Đa Văn, Phạm Tiến Duật, Tô Hoàng …to cao đẹp giai mặc com-lê lên biểu diến ai cũng xem như niềm tự hào của nhà trường. Cố nhiên trong những buổi ấy tôi chỉ đóng vai người xem hoặc đi kê bàn kê ghế gì đó. Sinh viên nội trú đều nằm giường ba tầng. Tôi nằm giường trên thì Phạm Tiến Duật nằm giường dưới, song đâu có bao giờ chúng tôi trao đổi với nhau về văn chương. Với Duật, văn chương là những bài thơ lúc nào Duật cũng chăm sửa trong đầu và chuẩn bị để mai kia gửi báo nào đó.Tôi thì túi quần lúc nào cũng chỉ có cuốn sổ từ tiếng Nga hoặc lơ mơ nghĩ tới đống sách khô cứng mà ở Vinh không có. Cho đến khi cùng đi bộ đội, gặp nhau ở Hát Lót Sơn La, câu chuyện trao đổi vẫn chỉ là mấy nét sinh hoạt thời lính. Nhớ hơn cả về Duật sau mấy tháng Tây Bắc là câu thơ vui “người làm thơ đó đang trai—trên hai cổ áo có hai lá cờ “, ý nói đang làm chân binh nhì.

Một năm học văn 3, giúp tôi sống cái cảm giác của một sinh viên Hà Nội. Nhà tôi vẫn ở Thụy Khuê. Chiều thứ bảy, không buộc phải về chiếc giường nội trú, đôi khi tôi lách ngay ra cái cổng sau nhà A. 7, băng qua cánh đồng ngô, rồi chạy bộ tiếp đoạn đường từ Trường Đảng đến chợ Bưởi. Ngày trước từ đường Hoàng Hoa Thám mà chúng tôi quen gọi là Đường Thành nhìn xuống, chỉ một con đường ngòng nghèo chuyên trồng sòi. Nay đường nhựa đã mở nhưng chỉ lưa thưa vài cái xe đạp và có khi cả ngày mới có dăm chiếc ô tô đi qua. Đã tới làng Nghĩa Đô của anh Bưu, qua trước cổng nhà anh, nhưng tôi đầy mặc cảm không dám rẽ vào hỏi thăm gia đình.

Chợ Bưởi với tôi có nhiều duyên nợ. Từ trước 1954, bà chị hơn tôi sáu tuổi sống bằng gánh hàng chai lọ thủy tinh và tam phong bóng đèn một tháng sáu phiên có mặt ở chợ. Những phiên giáp tết, chị tôi trải những tấm cót rồi bày riêng ra một quày hàng. Khách đi chợ tết lại đông, tôi thường lên chợ trông hàng giúp chị. Phiên chợ Bưởi tết Giáp thìn 1964 cũng vậy. Sau này anh Tô Hoàng có kể là hôm ấy các anh đi qua, thấy tôi mải cắt mấy cái bấc đèn cho khách, sợ tôi ngượng, nên không dám hỏi.

Về mặt chuyên môn, cũng không bao giờ tôi phải hối tiếc vì cái năm xung phong đi học văn 3 đó. Nếu trường Vinh như một ngôi chùa lớn lánh xa cõi tục giúp cho kẻ thất bại lấy lại chút bình tâm và cả nghị lực, ngồi bình tâm tiếp xúc với nguồn giáo lý trừu tượng thì Đại học sư phạm Hà Nội mở ra trở lại cho kẻ ấy khung cảnh kỳ vĩ của cuộc đời.Quay về trung tâm văn hóa lớn nhất của miền Bắc, các tối thứ bảy loanh quanh thế nào tôi cũng tìm được ít thời gian để mò đến cửa hàng sách ngoại văn Tràng Tiền ( ở địa điểm của cửa hàng Bodega ). Sau này tôi mới biết trước chiến tranh đó là nơi gặp mặt thường xuyên của những sinh viên ham học. Không thể hướng tới Anh Mỹ, thì hồi đó người ta tạm bằng lòng với sách tiếng Nga tiếng Trung quốc, phần sách Pháp do Nga xuất bản. Hầu như thứ bảy nào cũng có sách mới, lý do tối thứ bảy cửa hàng tấp nập là vì vậy. Thư viện quốc gia với tôi đã quen từ hồi học Chu Văn An, hồi đó học sinh cấp III đã được vào đọc. Hồi học văn 3, có tối, Thư viện tổ chức nói chuyện về tập Bài thơ cuộc đời của Huy Cận. Tôi và Nguyễn Hải Lộc ( sau công tác ở NXB Hải Phòng) rủ nhau đi bộ lên Cầu Giấy rồi đáp tàu điện lên nghe. Đến lúc về, đã hết tàu điện, chúng tôi đành rủ nhau đi bộ. Con đường từ Tràng Thi xưa tới Cầu Giấy vốn trải nhựa đen, dưới ánh đèn đêm, bỗng trở nên bí ẩn kỳ lạ trong vẻ hoành tráng của mình. Đây là một vẻ đẹp của Hà Nội mà mãi tới lần ấy tôi mới biết. Người ta vẫn bảo nhau, thật ra, phần lớn người Hà Nội rất ít biết về Hà Nội ban đêm.

So với hồi học ở Vinh, học theo các bài bản vốn có, ở văn 3 chúng tôi học theo chương trình thể nghiệm, tức là dừng lại ở một số chuyên đề, giảng kỹ rồi cho sinh viên thảo luận. Có những chuyên đề gọi là mới, nhưng cũng cũ mèm.Nhưng có những chương trình đối với tôi hết sức hấp dẫn, như các bài giảng về văn học Việt Nam 45-60 của thày Huỳnh Lý. Lên lớp nghe thầy Hoàng Tuệ giảng về ngôn ngữ, tôi thực sự cảm thấy mình được đối xử như một người tập sự nghiên cứu.Vốn cho rằng văn học nước ngoài là cái phải có sự học hỏi thật gấp, lại nhân học tiếng Nga, sau phần học văn học Nga – xô viết, tôi xin viết khóa luận về A. Tchekhov. Các buổi tự học tôi thường chọn một lớp học nào vắng người ở khu nhà tranh cặm cụi đọc lấy vài đoạn trong tạp chí Voprosy literatury viết về Tchekhov để đưa vào bài. Thày Nguyễn Hải Hà làm phản biện, thày Đỗ Xuân Hà —có ai nói đùa hẳn nhân vật Pier Bezhukhov trong Chiến tranh và hòa bình chắc trông cũng nhang nhác thế —hướng dẫn đều tỏ ý khuyến khích tôi nên đi vào tiếng Nga theo hướng này. Lời khuyên đó nhiều năm sau còn giúp tôi thêm tinh thần tự học.

Tôi nhớ hồi ngồi phân tích Lời Kỹ nữ của Xuân Diệu, cách làm thông thường ở lớp văn 3 có chất đại học rõ rệt ấy vẫn là đem so sánh với Trên dòng Hương Giang của Tố Hữu, để rồi nhấn mạnh một bên thương yêu cứu giúp những người lầm lỡ, bên kia hưởng thụ, và đẩy con người ta chìm sâu vào vũng bùn trụy lạc. Trong bụng tôi nghĩ không phải thế, thật ra Xuân Diệu tìm thấy thân phận mình trong thân phận người kỹ nữ. Nhưng tôi thấp cổ bé miệng, nói có ai nghe. Thay cho tranh cãi, tôi ngồi chép lại cả phần thơ trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, cả Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Lửa thiêng, Tiếng thu…, trong một quyển sổ giấy đen. Đến nay tôi còn giữ được quyển sổ ấy, mỗi lần nhìn vào, thấy thật là chép trong đắm đuối, chép lấy được. Nhưng một năm trước ở Vinh tôi làm sao có được những tài liệu quý đó, và hai chục năm sau khi ra trường, mãi tới khoảng 1984, đó vẫn là thứ văn chương độc hại, tới các thư viện, phải có giấy giới thiệu đặc biệt mới được đọc, và một nhà nghiên cứu trẻ sẽ sớm cảm thấy dở hơi, nếu trong một bài viết lại thú nhận là mình đã đọc và mê những vần thơ đó - một năm ở Hà Nội lại thêm kỷ niệm đáng nhớ !

Một người có ý chí không chịu đầu hàng sự thất bại, tiếp theo là sự săp xếp an bài của các thế lực vô cảm. Tôi còn may mắn ở chỗ, sau khi thi trượt, được sống ở môi trường sư phạm, một môi trường vào những năm ấy vừa không bị trói buộc vào chính cái vai được giao,vừa đầy khao khát tự khẳng định. Tinh thần trên còn dẫn giắt và nâng đỡ tôi, suốt thời gian dài từ sau khi ra trường cho tới hôm nay./.


Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5

 Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5 

5.Chuyển chế độ. Đời sống văn hóa tinh thần ở Hà Nội năm 55 – 57

Cái ngõ nhỏ trên phố Thụy Khuê tôi ở là đất làm ăn của những người bán xôi và ngô khoai sắn, của những người công nhân nhà máy xe điện, nhà máy giặt nhà máy da, và một cơ sở trồng hoa và ươm cây của thành phố mà bọn trẻ con chúng tôi bắt chước người lớn thường gọi là La Pho. Dĩ nhiên không có cánh quân nào đó của Trung đoàn thủ đô tiến vào tiếp quản Hà Nội đi qua phố tôi và sự kiện 10/10/1954 không để lại trong tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Tôi chỉ nhớ việc lớn lúc ấy là mỗi gia đình phải lo mua sắm lấy một lá cờ đỏ sao vàng và những ngày lễ - ngày lễ hồi ấy chưa nhiều như sau này – phải treo trước cửa nhà. Rất nhiều cuộc họp đã được tổ chức để phổ biến chính sách mới. 

Chế độ mới trước tiên mang lại nhiều vấn đề kinh tế. Tự nhiên thấy lan truyền nỗi lo về nạn đói và cấp trên phổ biến bắt đầu một phong trào chống nạn đói bằng cách trồng khoai ụ. Thông thường thì khoai phải trồng thành luống trên ruộng. Nhưng chúng tôi đang ở thành phố lấy đâu ra đất để trồng, thế là người ta nghĩ ra cách là đan nứa quây thành vòng tròn như cái nia rồi đổ đất vào trong và gọi là ụ. Có nhà trồng đến 2,3 ụ trong sân dù sau này thu hoạch chẳng được bao vì lấy đâu ra đất tốt mà đổ ụ, lấy đâu ra kinh nghiệm làm ăn sản xuất của những vùng nông thôn lâu đời. 

Thuộc về những ân huệ mà chế độ mới mang lại, có một lần thấy phổ biến là mỗi gia đình được mua một cân đường với giá rẻ gần như cho không. Với ngõ 105 Thụy Khuê chỗ tôi ở thì địa điểm phát đường là nhà máy giặt. Mỗi gia đình cử một người ra xếp hàng từ 4,5 giờ sáng, tới gần trưa trở về cha con vợ chồng hoan hỉ như bắt được vàng.

Xuất hiện một danh từ mới gọi là hội trường tức là các địa điểm họp. Trong các hội trường thường thấy treo ảnh các lãnh tụ. Phổ biến nhất lúc bấy giờ là ảnh Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Bun–ga-nin rồi sau là Ma-len-cốp. Các ảnh đó thường được dệt trên vải cho bền. Còn trong các hiệu sách thì khá nhiều tranh ảnh trong đó tôi thích nhất là tấm ảnh một thiếu niên Trung quốc quàng khăn đỏ, tay ôm một chú bồ câu xinh đẹp. Dưới bức tranh có dòng chữ vuông đọc theo âm Hán Việt là Ngã môn nhiệt ái hòa bình đại khái có nghĩa là Chúng tôi rất yêu hòa bình. Bố tôi đã mua bức ảnh này và mãi dăm năm sau mới bỏ đi.

Tất cả như được tháo tung. Cuộc sống trở nên ồn ào vô kể. Có rất nhiều buổi liên hoan và do chưa có kinh nghiệm bao giờ nên các buổi tụ họp đông người ấy được người ta tổ chức rất luộm thuộm. Mà họp thì ít, chấn chỉnh nhau với hò hát thì nhiều. Cánh thanh niên và đám trẻ con chúng tôi thì được dạy nhiều bài hát, đáng kể là những bài ca ngơị hòa bình như là bài sau đây:

Đầy đồng lúa ngát thơm

Quanh quanh núi xanh rờn

Tây Bắc tiếng cười vang vang

Suối reo trong màu lá vàng


Hòa bình trở về với ta

Bướm ong nô đùa bên hoa

Tôi cũng nhớ không hết tất cả các tài liệu tuyên truyền được đọc hồi ấy, nhưng bên cạnh những hồ hởi trong tiềm thức của tuổi trẻ, bắt đầu tôi đã thấy nhen nhóm lên những sự ngờ vực nho nhỏ đôi khi là sự khó chịu.

Cuộc sống “mới” được các cán bộ tuyên truyền đâu về vẽ lại bằng những nét nguệch ngoạc. Người ta cứ tuyên bố như là nay mai sẽ là thật sung sướng thật hạnh phúc, tuy rằng hạnh phúc với nghĩa có cơm ngon canh ngọt quần áo sang trọng chưa thấy đâu mà trong cuộc mưu sinh hàng ngày chỉ toàn thấy những khó khăn.

Chế độ mới có vẻ thù ghét những người giàu có sang trọng. Chỉ thấy hồ hởi nhất là đám trẻ nghèo, ngày ngày rỗi rãi đi họp đi hành, còn đám người mải làm ăn thì lẫn vào bóng tối. 

Việc làm ăn sinh sống của các gia đình tự nhiên rất khó khăn. Riêng cái việc luôn luôn tổ chức phong trào nọ phong trào kia đã làm người ta mất thì giờ rất nhiều. Tuần nào cũng có những buổi tổng vệ sinh quét rác, nhưng hàng ngày thì người dân vẫn đổ rác vô tội vạ, quét nơi này lại đổ sang nơi khác.

Chế độ mới quá coi trọng việc làm ra của cải mà không nghĩ tới chuyện phân phối, chia sẻ các của cải đó cho mọi người. Việc buôn bán bị lên án. Chị tôi từ nhiều năm trước có gánh tam phong bóng đèn và các đồ thủy tinh gia dụng đi bán rong. Nay chị được vận động bỏ gánh hàng rong đó đi công trường xấy dựng chỗ này chỗ nọ. Các công trường được mọc ra với tổ chức rất luộm thuộm và năng suất rất thấp. 

Sau này khi đọc cuốn hồi kí Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy ông có viết một đoạn về sự sản xuất ở Miền Bắc sau năm 54 khá cụ thể. 

 Vì chính sách “hồng hơn chuyên", sự quản lí xí nghiệp rất kém: không làm kế toán đàng hoàng, cuối năm không tính lời lỗ, nhiều xí nghiệp không biết thu được bao nhiêu, tiêu mất bao nhiêu, mất mát bao nhiêu.

Khi thấy công việc không chạy, người ta không nghĩ cách cải thiện phương pháp làm việc, cứ tuyển thêm người, tuyển thật nhiều mà hầu hết không biết việc, rốt cuộc số tiền trả lương thợ tăng hơn sức sản xuất nhiều. Theo G. Chaffard thì nhà máy xi măng Hải phòng trong một năm, số thợ tăng 34%, số lương trung bình tăng 24%, như vậy là số tiền trả lương tăng gần 70%, mà sức sản xuất chỉ tăng có 3,5%.


Chế độ mới tự tuyên bố là thuộc về nhân dân lao động và chính quyền mới là của nhân dân lao động. Từ chân tổ trưởng tổ phó dân phố trở lên cứ ai nghèo là được trọng dụng, còn cái việc họ chỉ họp và nói nhiều, chẳng có sáng kiến gì hết… thì lại được ca ngợi. Những người có học sớm cảm thấy mình bị ra rìa thậm chí có tội vì đã tách rời nhân dân lao động. Việc này sẽ kéo dài suốt những năm về sau khiến cho tinh thần học tập của lớp trẻ ngày càng sa sút.

Do tổ chức kém nên nhiều phong trào rất rầm rộ ban đầu, sau cũng lép xẹp, mà đó lại là việc liên quan đến đời sống của các gia đình trong ngõ khiến cho mọi cuộc vận động mất dần uy tín. Ví dụ như cạnh nhà tôi có một gia đình đông con được vận động là nên làm kinh tế mới ở miền núi Phú Thọ Tuyên Quang. Mà gia đình người ta đâu có kinh nghiệm về làm ăn sản xuất, kết quả là ít vốn dành dụm ở Hà Nội mang lên tiêu pha mất hết, mọi việc canh tác dở dang rồi vợ ốm con đau do không hợp thủy thổ khí hậu, cuối cùng đánh liều bỏ nơi kinh tế mới mà về và trở thành chí phèo, tùy tiện làm ăn bất chấp chính sách.

Nếu kinh tế làm ăn buôn bán sát với đời sống bị coi thường thì các loại chủ đề chính trị nhiều khi đang là chuyện đâu đâu lại nhảy bổ vào đời sống người ta thành chuyện quan trọng. Nhẹ nhàng như đưa mọi người vào tổ chức nào thanh niên nào phụ nữ nào thiếu nhi, mà nặng nề nhất là việc đăng kí hộ khẩu. Nhưng công việc rất quan trọng và rất nghiêm túc này lại được giao cho những người ở các vùng tự do cũ trong kháng chiến nhất là người khu 4 từ Thanh Nghệ trở vào. Họ không biết việc và trình độ thì thường là rất yếu khiến công việc rất mất thời giờ và không kết quả.

Từ việc đọc các tài liệu tuyên truyền, người dân luôn luôn rót rằng đây là xã hội rất tốt đẹp không gì có thể hạnh phúc hơn. Vào trong sách vở, tôi thường thấy người ta tuyên bố là Chủ nghĩa cộng sản là thiên đường của nhân loại. Tôi mới 13 14 tuổi nhưng đã sớm cảm thấy rằng điều đó giống như một sự huyênh hoang, người nào tuyên bố rằng mình là nhất thì thường thường lại kém hơn là những người ít huyênh hoang khác.

Thực ra ngay từ hồi học cấp 2 tức là khoảng từ 1957 1958 trở đi tôi đã là cậu học sinh ham hố muốn biết những điều gì bên ngoài mình thậm chí là cả những điều không được phép.


Một ngày cuối năm 56, trên con đường Hàng Ngang Hàng Đào, tôi còn nhớ có rất nhiều khẩu hiệu ghi rõ là kỉ niệm 12 năm ngày thành lập Đảng dân chủ Việt Nam (30/12/1944 – 30/12/1956), bên cạnh các khẩu hiệu quảng cáo của một nhà thuốc tiêm mang tên là Labauratoire Vita.

Tôi lờ mờ cảm thấy rằng trong xã hội đang có một chuyện gì lớn lắm.

Nhưng hàng ngày tôi vẫn tìm cách ra cổng sở xe điện để nghe bản tin của đài tiếng nói Việt Nam. Mười hai giờ rưỡi chiều hàng ngày tôi mới phải từ gia đình ở xóm Ổi Thụy Khuê tới trường Chu Văn An, nhưng trước đó sau khi ăn cơm trưa xong xuôi, tôi vẫn cố dành ít thời gian để lên cổng Nhà máy da cách nhà tôi khoảng 500m để đọc báo Nhân dân, dán trên một bảng thông tin.