Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Trường Chu Văn An và niên học 1955-56


Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi — Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.

Gọi là cũ, vì khu nhà đồ sộ, cây cối rợp bóng mát ở đầu phố, lúc ấy do nhà binh Pháp đóng, có tài liệu nói một binh đoàn xe tăng, nhưng tôi nhớ hình như là một đơn vị lính dù. Xe đỗ ngổn ngang bên trong, bên ngoài nhiều quãng còn chăng dây thép gai. Tôi chỉ nghe người lớn nói lại mà biết đó là trường Bưởi lừng lẫy.

Những năm tạm chiếm, học sinh Chu Văn An phải chuyển xuống học ở ngôi trường phố Cửa Bắc. Sau khi giải phóng thủ đô, trường mới dọn lên địa điểm hiện nay. Đấy cũng là năm tôi vừa vặn học xong tiểu học để chuẩn bị thi vào trường. Trong hai năm 1954-55 và 55-56, trường còn gộp chung cả trung học đệ nhất cấp ( bốn năm, đệ thất cho tới đệ tứ, ngày nay chúng ta gọi là trung học cơ sở), và đệ nhị cấp ( ba năm, đệ tam cho tới đệ nhất – tương đương phổ thông trung học).

Nhưng tôi còn phải vô duyên với Chu Văn An một năm nữa: lần đầu thi vào trường, khóa 1954 -55, tôi trượt.

Một năm thi trượt là một năm tôi đi học thêm, chờ năm sau thi lại. Một hai tháng vào tạm trường tư thục Thăng Long ở cuối phố Phùng Hưng. Rồi phần chính thời gian là đến một lớp ôn luyện ở phố Trần Quốc Toản. Ngày trước Quảng trường Ba Đình chỉ là một vườn hoa nhỏ tên nôm na gọi là vườn hoa Con Cóc. Từ phía Bách Thảo, có lối đi qua vườn hoa để thông ra đường Cột Cờ ( đại lộ Điện Biên Phủ ngày nay ) xuống phía Cửa Nam. Từ chỗ ở bên Thụy Khuê, sau khi đi dọc một quãng đường Hoàng Hoa Thám, tôi đã men theo con đường Cột Cờ — Cửa Nam này mới tới được nơi học.

Tôi đã đi như thế gần một năm ròng. Bước chân hướng về phía nam thành phố, nhưng lòng hướng cả về phía bắc, nơi có ngôi trường Chu Văn An thần thánh.

Có lẽ câu chuyện định hướng đời mình kiểu như thế này đối với một số bạn trẻ bây giờ có phần khó hiểu. Lớp người ít tuổi hơn tôi, lớp tuổi các cháu ở nhà, mới bắt đầu đi học không biết cảm giác đó. Quy trình thông thường là lớn lên ở đâu thì học cấp I ngay ở đấy. Rồi vào cấp II nào gần với nhà mình nhất. Không vào trường này thì vào trường khác. Tất cả hầm bà làng, cá mè một lứa hết. Đâu chẳng thế. Chẳng có trường nào hơn trường nào. Người ta tưởng là hàng đời nay, mọi người vẫn nghĩ như vậy.

Từ hồi kinh tế thị trường trở lại dân Hà Nội mới có chuyện phải cố cho con cái vào trường Hà Nội – Amsterdam, trường Chu Văn An.

Nhưng đối với gia đình tôi và bản thân tôi, mấy năm 1954-55 đã chỉ có một đinh ninh là phải vào Trường Bưởi. Cái chuyện chọn trường để học nó là đương nhiên như chuyện sống còn của con người. Tưởng như nó ở sẵn trong đầu óc, không phải nghe ai hoặc học theo ai hết.

Sau này nghĩ lại thấy thời gian chờ đợi ấy cũng lạ. Đằng đẵng một năm trời đi bộ hàng ngày năm sáu cây số để học thêm, chứ có ít đâu. Vậy mà chẳng cần vận dụng quyết tâm nghị lực gì cả. Bởi đây không phải là trường hợp riêng của tôi. Hồi ấy chung quanh mọi người đều nghĩ thế, ở địa vị mình mọi người đều làm thế. Vào trung học thì phải vào Chu Văn An. Và nếu chưa vào được thì bỏ ra học tư một năm để năm sau thi lại cũng không sao.

Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chờ đợi đã được đền đáp xứng đáng. Cổng trường, trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín.

Mấy hôm sau thì tựu trường.
Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.
Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.
Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.
Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng. Như đám cán bộ — công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.
Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.
Hồi những năm năm mươi của thế kỷ trước thì có khác. Cuối năm 1954, trường Thăng Long còn mở ở cái địa điểm cũ, đường Phùng Hưng. Một trường tư thục đệ nhất cấp thôi. Nhưng tôi nhớ ngoài cổng có một bảng kê ghi rõ trường có những giáo sư nào, giáo sư đó học ở những trường nào ra và đã từng dạy ở những trường nào.
Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.
Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.
Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.
Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ : kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy.Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca. Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.
Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi mới tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.
Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.
Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang chăm chỉ để trở nên anh tài đất nước, — không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.
Thế Lữ có hai câu thơ mà Xuân Diệu rất thích nhắc lại Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy – Ngàn năm chưa dễ đã ai quên. Những cảm giác trên đối với tôi là thiêng liêng vì nó thuộc về thuở ban đầu năm đệ thất.
Những năm từ khoảng 1958 trở đi, Chu Văn An cũ được xẻ ra thành hai trường riêng. Cấp II học buổi chiều, cấp III học buổi sáng. Nét quán xuyến trong đời sống giáo dục của chúng ta những năm về sau này là sự gần gũi với đời sống. Vẫn còn kỷ niệm về những giờ lên lớp, nhưng ấn tượng hơn lại là những buổi học ngoại khóa. Hồi cấp III, học sinh lớp 8C chúng tôi – lớp có Đặng Thùy Trâm — xuống xã Phú Thượng đâu đến nửa tháng, tham gia gặt lúa. Hàng tuần vào hai buổi sáng thứ tư thứ sáu, chúng tôi ra đường thanh niên, một số đi xe bò chở cát lên đầu giốc, một số theo xe goòng đổ cát xuống hồ mở rộng con đường Cổ Ngư gầy guộc cũ thành đường Thanh Niên bề thế. Hồi cấp II, có lần lớp sáu chúng tôi còn được điều xuống san đất ở Mai Dịch. Theo sự bươn trải chung của xã hội, các nhà trường trở về với sự lầm lụi hàng ngày.

 Ngay lúc ấy, một số kỷ niệm mấy năm về trước đã bắt đầu hiện về. Còn nhớ các anh lớp trên – tương đương lớp 11- 12 hiện nay – năm 1955 còn rất chững chạc, và các chị dưới trường Trưng Vương thì mặc áo dài, vận động mãi các chị mới mặc áo ngắn đi học.
Mới một hai năm qua đi, mà đã cảm thấy như xa lăm lắm.
Thế nhưng tinh thần của một cái gì tinh hoa, vượt lên thông thường, tôi nghĩ vẫn còn mãi trong lớp học sinh học Chu Văn An năm ấy.
Sắp tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Năm ngoái 2006, có người hỏi tôi có phải như Hà Nội mấy chục năm nay đã sa sút đi, con người Hà Nội xô bồ và quê mùa tỉnh lẻ hơn. Tôi bảo làm sao không mòn mỏi được, bởi cuộc chiến tranh lớn như vậy xô đẩy, và nhìn chung nửa thế kỷ qua, Hà Nội chưa bao giờ được là chính mình.
Những năm trước chiến tranh lớp thanh niên mới lớn chúng tôi nghĩ chuyện học xong là đi xa, chứ mấy khi nghĩ là mình sẽ cống hiến ở ngay Hà Nội.
Dẫu chưa hết hẳn, nhưng cách nghĩ ấy ngày nay không ai muốn nhớ tới nữa.
Bản thân cái việc giờ đây, nhiều người bắt đầu thấy cần phải nghĩ lại về Hà Nội và muốn đi tìm cái chất cao quý riêng của con người Hà Nội – riêng việc đó thôi cũng chứng tỏ có một Hà Nội kỳ lạ, Hà Nội mông lung mà cụ thể, một thứ chất Hà Nội không một biến động nào làm phai mờ nổi. Cả người sinh ra ở đây, cả người mới đến đây năm năm mười năm hai mươi năm, bất cứ ai bắt đầu tự hỏi về mình, mối quan hệ của mình với mảnh đất kinh kỳ thiêng liêng, và tưởng tượng ra một Hà Nội sang trọng để soi mình, ấy là lúc trong họ bắt đầu có một con người Hà Nội chân chính hình thành.
Số phận trường Chu Văn An – một địa danh văn hóa Thủ đô – có gì cũng giống như chính số phận Hà Nội.
Con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu những gì được chắt lọc trong thời gian, những gì gọi là tinh hoa thực sự, sẽ quay trở lại.

7-2007

Ba năm hai trường đại học sư phạm

 

Ba năm hai trường đại học sư phạm 

     
    Năm 1961,  học xong lớp 10 trường Chu  Văn An, nơi tôi mơ ước là khoa Văn Đại học  tổng hợp. Nhưng tôi thi trượt, và nói nôm na là bị “tống khứ “ vào Đại học Sư phạm Vinh, chỉ giữ nguyên được cái nguyện vọng  học văn.

    Học ở Vinh được hai năm, lúc tốt nghiệp thấy nhà trường có trưng cầu ý kiến  là ai có muốn học thêm thì cho ra theo lớp “văn 3 ” ở Hà Nội,  tôi ghi tên ngay.
 Quả thật lúc đó tôi chỉ tính trốn được đi dạy ngày nào hay ngày ấy !
    Ngoại trừ mấy năm dạy …linh tinh, chủ yếu là môn toán, cho các lớp học bổ túc trong quân đội ( tôi được lệnh động viên nhập ngũ ngày 1-8-1964 ), tôi chưa lên lớp ở bất cứ trường phổ thông nào.

   Từ đầu 1968, tôi chuyển về làm báo chuyên nghiệp trong quân đội, rồi từ 1979, chuyển sang ngành xuất bản, cả hai đều gắn với nghề viết văn mà từ hồi học phổ thông, tôi ao ước.

     Từng học qua hai trường Sư phạm khác nhau,vậy mà, xét tổng quát, sau khi ra trường, tôi chẳng có một chút duyên nợ nào với nghề  giáo dục.

     Song, tôi vẫn muốn nói  lời biết ơn chân thành với ba năm học Đại học Sư phạm và ai hỏi vẫn nói rõ tôi vinh dự là đã xuất thân từ Đại học Sư phạm.

       Mẹ tôi qua đời từ năm tôi mới lên bốn và cả tuổi suốt tuổi thơ tôi sống với một bà mẹ kế. Bà chẳng thương gì tôi, nhưng lại dạy dỗ tôi nhiều điều. Có lần bà giao tôi rửa một mớ rau to tướng. Nhà chỉ có cái chậu sành  bé tí, rửa làm sao bây giờ ? Bà dạy chia mớ rau to làm 4 mớ nhỏ, rửa 4 lần, kỳ sạch thì thôi. Tôi lây nhiều tính của bà, mặc dù trong bụng rất uất bà. Lây cả những tính xấu như keo kiệt bủn xỉn. Nhưng hơn bù kém, lấy lý trí mà xét, tôi vẫn biết ơn bà.

       Tuy không giống hẳn, nhưng những năm  học Đại học Sư phạm cũng có tác động tới cuộc đời tôi theo kiểu ấy.Thời gian này tập cho tôi nhiểu đức tính tốt, biết định hướng cuộc đời ngay trong môi trường mình bị áp đặt mình không thoải mái. Sau này trong đường đời mỗi khi gặp  khó khăn vất vả, tôi lại thường tự nhủ, thật là chưa tủi chưa nhục bằng những năm học Đại học Sư phạm,  cứ kiên trì là mình rồi sẽ đạt tới mục đích.
       Khi nhận giấy báo chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, tôi đã khóc hết nước mắt. Hồi đó, phương tiện giao thông từ Hà Nội vào Vinh còn kém lắm, xe ô tô hàng phải chuyển qua mấy con phà. Mà tôi  thì quá non nớt,  nói ra bảo bịa, quả thực  lúc ấy tôi  đã lẩm cẩm nghĩ bụng rằng làm gì có nơi nào xa đến mức đi ô tô từ sáng đến chiều mới tới (!)

     Đại học Sư phạm Vinh lúc ấy mới khai trương được một năm. Chỉ có hai khoa một văn một toán, mỗi khoa hai lớp, tổng cộng 4 gian nhà lá cho 4 lớp. Vì Vinh những năm ấy mùa hè nào cũng xảy ra những vụ cháy, nên tới hè 1963, chúng tôi chuyển lên nhà tầng, thứ nhà chung cư thô sơ ( hồi ấy gọi là khu tập thể ) mới bắt đầu xuất hiện .

    Điều kiện kinh tế thường không phải là lý do làm một người trẻ tuổi lúc ấy buồn. Năm 1961, gọi là ở Hà Nội, nhưng nhà tôi vẫn nhà tranh sân đất. Suốt đời học phổ thông tôi học dưới ánh đèn dầu và, tối tối đi bộ ra đầu ngõ nghe  Đài Tiếng nói Việt Nam qua tấm loa rè mắc ở cổng ga xe điện. Với một học sinh Hà Nội ngoại ô như vậy  thì Vinh và những vùng  phụ cận  khoảng 1961-63 có một đời sống  hiền hòa khiến đám thanh niên thấy  không có gì đáng phàn nàn.

    Nhưng làm khổ tôi hơn cả là cái không khí văn chương khoa Văn Đại học Tổng hợp đặt ở Láng mà lúc này đã cách xa tôi hàng vài trăm cây số.

    Người cho tôi biết những tin này là anh Nguyễn Đình Bưu. Thời gian học để thi đại học, tôi đã vào lò học chỗ anh, làng Nghĩa Đô đầu chợ Bưởi. “Lò” thời ấy là thế này, thấy hợp nhau, tôi  mang tiền mang gạo lên xin phép  bố mẹ anh cho học chung. Chúng tôi thử làm các bài  theo đầu đề có sẵn rồi trao đổi với nhau. Lúc học chia ngọt sẻ bùi, bây giờ anh đỗ tôi trượt, anh cũng thương cảm, thường xuyên viết thư kể chuyện học hành ra sao để tôi biết.

    Bưu càng kể càng như xát muối vào lòng tôi. Cuối cùng, không chịu được, tôi quay ra cay nghiệt tị nạnh, oán trách đời bất công, nói đau nói hỗn cả với những người chỉ hưởng cái phần họ đáng được hưởng. Bưu không viết thư cho tôi nữa. Sau này anh tiếp tục hành nghề,về hưu với chức Giám đốc Sở Văn hóa Bắc Ninh.

   Cũng may mà cùng với việc chấm dứt viết thư cho Bưu, tôi cũng dần dần xác định được hướng đi của mình. Tạm xem như tôi đang ở đáy vực. Tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện sẽ chọn dạy học làm nghề suốt đời, và càng không nghĩ mình cần trở thành một sinh viên tốt nghiệp giỏi. Nhưng đây vẫn là chỗ tôi có thể học được. Cái gì nhà trường dạy, lo học thật tốt. Cái gì không dạy thì tự học lấy. Ví dụ như học ngoại ngữ. Trừ  mấy ông mấy bà chuyên về văn học phương Tây hoặc Văn học Trung quốc -- hồi ấy vốn rất  lép vế ở các khoa ngữ văn --, còn theo tôi biết nhiều giáo sư ở ta không có thói quen tìm đọc sách báo nước ngoài thường xuyên, nhất là đọc báo và hiểu rộng ra cả cái đời sống nghiên cứu ở một nước ngoài  nào đó mà mình theo đuổi. Vì có bao giờ họ được yêu cầu làm việc đó đâu. Không làm mà vẫn giáo sư thì tội gì làm cho mất thời gian ! May mà lúc ấy tôi không nghĩ thế. Tôi nghĩ làm nghề gì cũng phải biết ngoại ngữ. Nghe Bưu nói học ngoại ngữ ở Đại học Tổng hợp năm ấy cũng chẳng hơn trong Vinh bao nhiêu, tôi thêm yên tâm. Ngoài việc theo học trên lớp, phần lớn thời gian tôi dồn cho  tự học tiếng Nga.

     Một khoảng không đã được tạo ra, và tôi tìm thấy hào hứng trong việc lấp đầy nó. Tôi không còn buồn sướt mướt như khi mới vào Vinh.

    Tôi quên không nhớ là ai đã nói, đối với một người mới vào đời, thất bại  nhiều khi lại cần hơn cả thành công. Vì nó giúp cho người thanh niên kia hiểu rõ mình hơn. Hiểu rõ năng lực thực của mình,  từ bỏ ảo tưởng thói kiêu căng vốn gắn liền với tuổi trẻ nhanh nhạy.

    Cụ thể trong trường hợp của tôi, việc chuyển vào học Đại học sư phạm dạy thêm cho tôi một điều nữa. Số phận cá nhân lúc ấy là nằm trong tay những tập thể hời hợt vô cảm. Xã hội không dạy con người học hỏi để tự đánh giá mình. Mà ai đã bị đặt vào thang bậc nào thì sẽ yên tâm nằm chết gí ở thang bậc ấy. Ngược lại  ---  không rõ học hỏi từ đâu nhưng sau việc thi trượt, và phải rơi vào một môi trường mình không lựa chọn --,  những ý nghĩ sau đây đã đến với tôi :
-- có thể là lúc ấy mình đã làm bài kém, nhưng thực lực của mình  là chuyện khác.
-- chỉ mình mới  đánh giá chính xác tài năng của bản thân  – cái tài năng sẽ đến  nếu biết học hỏi -- và một phần nghị lực của cuộc đời sẽ dành để chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai trong việc đánh giá mình.
-- Những điều học được ở trường  chỉ là một phần, cái chính của con người mới bước vào đời, là tự học. Phải học lấy hết. Phải tự đào tạo. Tìm lấy cho mình thầy. Tìm lấy cho mình sách.

     Chắc các bạn học với tôi ở Đại học Sư phạm Vinh còn nhớ, cả hai năm học ở 1B và 2 B (niên khóa 1961-1963), tôi chỉ là học sinh học khá, không bao giờ là học sinh giỏi, càng không bao giờ thuộc loại tiên tiến xuất sắc tuyên dương toàn trường, mặc dù tôi vẫn hết sức chăm chỉ hay lên thư viện mượn sách. Có gì đâu. Cú ngã thẳng cẳng là vụ thi trượt đã giúp tôi gỡ bỏ tâm lý hiếu thắng vốn có từ lúc học Chu Văn An. Giờ đây, tôi không màng cái sự hơn nhau lặt vặt. Tôi không cho rằng phải được điểm cao mới  là  giỏi văn. Chỉ có sau này trong khi len chân vào trường văn trận bút là giới báo chí xuất bản, dư luận mới đánh giá tôi chính xác.

     Lúc bấy giờ cũng đã biết nói ra như thế là kiêu, tôi chỉ im lặng,  ai muốn khen chê thế nào, tùy.
    Một lý do nữa khiến tôi cám ơn hai năm học Đại học Sư phạm Vinh. Do lần đầu tiên có trường đại học mở ở một địa phương, nên cán bộ giảng dạy thiếu. Chúng tôi thành một thứ học trò năm cha ba mẹ. Khi một thày “mượn” ở trường này, khi một thày “vay “của trường khác ( hồi ấy chưa có hai chữ thỉnh giảng ).

     Vả chăng nói chung là một trường đại học mới, không thể có những nhân vật tầm cỡ như các trường đại học ra đời sớm hơn.Theo tôi hiểu, giờ đây vai trò của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong nghiên cứu văn học cũng chói lọi rực rỡ ngang tầm các giáo sư Phan Cự Đệ Hà Minh Đức. Nhưng thuở dạy ở Vinh, thày Mạnh của tôi còn chưa được mấy ai biết đến, muốn in được một bài trên tạp chí Nghiên cứu văn học còn khó, trong khi đó, sau khi ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, cả loạt  giáo sư Trương Tửu Đào Duy Anh… được cho nghỉ  dạy, Hà Minh Đức  Phan Cự Đệ đã là một cặp  bài trùng,  tiếng nổi như cồn.

     Những trường mới lập như trường tôi lúc ấy do giáo sư Nguyễn Thúc Hào làm hiệu trưởng, vừa có được cái khao khát đi lên tự khẳng định, lẫn cái tự do không bị ràng buộc vào những danh hão.

     Nhất là trường tôi lúc ấy không có những tên tuổi mòn sáo  sống lâu lên lão làng, mà có nhiều cán bộ trẻ đầy triển vọng. Đó là các thày Nguyễn Đăng Mạnh Phùng Văn Tửu sau này đều từ Vinh trở về Hà Nội trở thành trụ cột của Khoa Văn Đại Học Sư Phạm, Hoặc thày Hoàng Văn Lân trong môn sử mà tôi không rành  lắm.

      Sau này tôi còn có nhiều dịp tiếp xúc với Nguyễn Đăng Mạnh như một đồng nghiệp, nhưng chưa bao giờ thấy ông nói về văn hay, như hồi ông dạy chúng tôi phần văn học 1930-45 ở lớp văn 2B niên học 1963-64. Sau này hình như chính ông không để công ghi lại những bài giảng về cả giai đoạn này nói chung mà giành sức viết riêng về Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, nhưng với tôi,  phần ông nói hay nhất nồng nàn nhất lúc ấy  là về Thơ mới.

     Trong phương pháp nghiên cứu, tôi nhớ hai điểm. Một là Nguyễn Đăng Mạnh thường có lối nói rất triệt để. Tay ấy chẳng hiểu gì về văn học cả. Với một  đồng nghiệp bất tài, ông sẵn sàng cho một câu phủ nhận sạch trơn như vậy. Hình như với ông thế giới văn học và thế giới đời thường là hai khu vực tách rời hẳn nhau, như sự tách bạch giữa cõi thiêng liêng và cõi phàm tục, và có lẽ nhờ niềm say sưa đắm mình trong cõi thiêng liêng kia, ông có được một sức làm việc mạnh mẽ, giành được một chỗ đứng, mà nhiều kẻ khác bất tài hơn, nhưng may mắn và giỏi luồn lọt hơn, không muốn ông có.

      Điểm thứ hai là về vai trò quan trọng của tư liệu.Tôi nhớ một lần lên lớp, Nguyễn Đăng Mạnh tuyên bố đại ý: Nếu tất cả những luận chứng dưới dây là sai thì tất cả những kết luận mà tôi nêu qua với các chị các anh ở phần trên sẽ lập tức vứt vào sọt rác. Với đám sinh viên chúng tôi,  bắt đầu thức tỉnh, song thường ăn nói hàm hồ một cách đáng thương,  nghĩa là thích sao nói vậy, chẳng chứng cớ chính xác gì cả  -- thì lối nói kiểu ấy thật có sức quyến rũ. Người ta có thể từ nó làm lại cả thế giới !

   

    Nếu ở Vinh tôi đã chỉ là một thứ sinh viên thuộc loại hàng tầm tầm  thì ra học văn 3 ở Hà Nội, tôi càng như lẫn đi giữa mọi người. Dăm năm sau, thấy tôi đi viết phê bình có bài đăng gần kín trang  trên báo Văn Nghệ từ 1965, rồi chuyển về tờ báo danh giá là Văn nghệ quân đội, nhiều bạn bè cũ nửa đùa nửa thực, này hồi đi học tớ không thể ngờ là có lúc cậu đi vào văn chương cơ đấy! Điều gì đã xảy ra với cậu?

     Vào một dịp khác tôi sẽ cắt nghĩa từ trường đại học bước vào đời sống điều gì đã xảy ra với tôi. Ở đây tôi chỉ ghi nhận một điều, ra Hà Nội tôi vẫn là anh cù lần.          

    Đơn giản lắm: hôm qua từ Hà Nội vào Vinh, kẻ thi trượt đã như nửa chết nửa sống, thì hôm nay trở về Hà Nội tôi lại là nhà quê ra tỉnh, có khá gì hơn. 

     Tôi học lớp 3C, thuộc tổ mấy không nhớ, chỉ nhớ hơn cả là mấy anh ở Văn đại học sư phạm Hà Nội. Như anh Phổ miền nam tập kết làm tổ trưởng, anh Luân làm tổ phó. Trong lớp, anh Phạm Tiến Duật cũng như anh Nguyễn Đình Ảnh là nổi nhất. Tính chung trong cả khối còn có Nghiêm Đa Văn mà tôi có biết từ hồi học phổ thông, có Nguyễn Khoa Điềm. Điềm tôi không quen, lại ở khác phòng. Nghe các bạn bàn nhiều về Điềm, nên một vài lần đi qua phòng anh, tôi cũng để mắt quan sát. Nhớ nhất là chồng sách anh để đầu giường, toàn những cuốn tiếng Pháp dày cộp. Năm ấy, Điềm  làm khóa luận về văn học phương Tây, đâu là  một vấn đề gì đó  của Balzac tôi nghe mà lắc đầu bái phục.

     Không đợi sau này nhiều người phát hiện, mà ngay hồi ấy, từ Vinh ra, tôi đã thầm nghĩ mình đang học với một lớp  sinh viên đầy tài năng. Các anh ấy tự tin coi văn học như một ngành hoạt động đầy thú vị.Và các anh ấy hiểu nó, yêu nó. Nhiều sinh hoạt văn học như các đêm thơ, đêm giao lưu nghệ thuật với các trường khác, các anh Lâm Quang Ngọc, Nghiêm Đa Văn, Phạm Tiến Duật, Tô Hoàng …to cao đẹp giai mặc com-lê lên biểu diến ai cũng xem như niềm tự hào của nhà trường. Cố nhiên trong những buổi ấy tôi chỉ đóng vai người xem hoặc đi kê bàn kê ghế gì đó. Sinh viên nội trú đều nằm giường ba tầng. Tôi nằm giường trên thì Phạm Tiến Duật nằm giường dưới, song đâu có bao giờ chúng tôi trao đổi với nhau về văn chương. Với Duật, văn chương là những bài thơ lúc nào Duật cũng chăm sửa trong đầu và chuẩn bị để mai kia gửi báo nào đó.Tôi thì túi quần lúc nào cũng chỉ có cuốn sổ từ tiếng Nga  hoặc lơ mơ nghĩ tới đống sách khô cứng mà ở Vinh không có. Cho đến khi cùng đi bộ đội, gặp nhau ở Hát Lót Sơn La, câu chuyện trao đổi vẫn chỉ là mấy nét sinh hoạt thời lính. Nhớ hơn cả về Duật sau mấy tháng Tây Bắc là câu thơ vui “người làm thơ đó đang trai—trên hai cổ áo có hai lá cờ“, ý nói đang làm chân binh nhì.

      Một năm học văn 3, giúp tôi sống cái cảm giác của một sinh viên Hà Nội. Nhà tôi vẫn ở Thụy Khuê. Chiều thứ bảy, không buộc phải về chiếc giường nội trú, đôi khi tôi lách ngay ra cái cổng sau nhà A. 7, băng qua cánh đồng ngô, rồi chạy bộ tiếp đoạn đường từ Trường Đảng đến chợ Bưởi. Ngày trước từ đường Hoàng Hoa Thám mà chúng tôi quen gọi là Đường Thành nhìn xuống,  chỉ một  con đường ngòng nghèo hai bên trồng toàn thứ cây nay hiếm là cây sòi. Từ 1964,  đường nhựa đã mở nhưng chỉ lưa thưa vài cái xe đạp và có khi cả ngày mới có dăm chiếc ô tô đi qua. Đã  tới làng Nghĩa Đô của anh Bưu, qua trước cổng nhà anh, nhưng tôi đầy mặc cảm không dám rẽ vào hỏi thăm gia đình.

     Chợ Bưởi với tôi có nhiều duyên nợ. Từ trước 1954, bà chị hơn tôi sáu tuổi sống bằng gánh hàng chai lọ thủy tinh và tam phong bóng đèn  một tháng sáu phiên có mặt  ở chợ. Những phiên giáp tết, chị tôi trải những tấm cót rồi bày riêng ra một quày hàng. Khách đi chợ tết lại đông, tôi thường lên chợ trông hàng giúp chị. Phiên chợ Bưởi tết Giáp thìn 1964 cũng vậy. Sau này anh Tô Hoàng có kể là hôm ấy các anh đi qua, thấy tôi mải cắt mấy cái bấc đèn cho khách, sợ tôi ngượng, nên không dám hỏi. 

        Về mặt chuyên môn, cũng không bao giờ tôi phải hối tiếc vì cái năm xung phong đi học văn 3 đó. Nếu trường Vinh như một ngôi chùa lớn lánh xa cõi tục giúp cho kẻ thất bại lấy lại niềm tin và cả nghị lực, ngồi bình tâm tiếp xúc với  nguồn giáo lý trừu tượng thì Đại học sư phạm Hà Nội mở ra trở lại cho kẻ ấy khung cảnh kỳ vĩ của cuộc đời. Quay về  trung tâm văn hóa lớn nhất của miền Bắc, các tối thứ bảy loanh quanh thế nào tôi cũng tìm được ít thời gian để mò đến cửa hàng sách ngoại văn Tràng Tiền (ở địa điểm của cửa hàng Bodega). Sau này tôi mới biết trước chiến tranh đó là nơi gặp mặt thường xuyên của những sinh viên  ham học. Không thể hướng tới Anh Mỹ, thì hồi đó người ta tạm bằng lòng với sách tiếng Nga tiếng Trung quốc, phần sách Pháp do Nga xuất bản. Hầu như thứ bảy nào cũng có sách mới, lý do tối thứ bảy cửa hàng tấp nập là vì vậy.

      Thư viện quốc gia với tôi đã quen từ hồi học Chu Văn An, hồi đó học sinh cấp III đã được vào đọc nay học Văn 3, tôi càng trở lại thường xuyên. Có  tối, Thư viện tổ chức nói chuyện về tập  Bài thơ cuộc đời của Huy Cận. Tôi và Nguyễn Hải Lộc (sau công tác ở NXB Hải Phòng) rủ nhau đi bộ lên Cầu Giấy rồi đáp tàu điện lên nghe. Đến lúc về, đã hết tàu điện, chúng tôi đành rủ nhau đi bộ. Con đường từ Tràng Thi xưa tới Cầu Giấy vốn trải nhựa đen, dưới ánh đèn đêm, bỗng trở nên bí  ẩn kỳ lạ trong vẻ hoành tráng của mình. Đây là một vẻ đẹp của Hà Nội mà mãi tới  lần ấy tôi mới biết. Người ta vẫn bảo nhau, thật ra, phần lớn người Hà Nội rất ít biết về Hà Nội ban đêm.

     So với hồi học ở Vinh, học theo các bài bản vốn có, ở văn 3  chúng tôi học theo chương trình thể nghiệm, tức là dừng lại ở một số chuyên đề, giảng kỹ rồi cho sinh viên thảo luận. Có những chuyên đề gọi là mới, nhưng cũng cũ mèm. Nhưng có những chương trình đối với tôi hết sức hấp dẫn, như các bài giảng về văn học Việt Nam 45-60 của thày Huỳnh Lý, hoặc các bài giảng về ngôn ngữ của thày Hoàng Tuệ. Lên lớp nghe thầy Hoàng Tuệ giảng, tôi thực sự cảm thấy mình được đối xử như một người tập sự nghiên cứu. Vốn  cho rằng  văn học nước ngoài là cái phải có sự học hỏi thật gấp, lại nhân học tiếng Nga, sau phần học văn học Nga – xô viết, tôi xin viết khóa luận về A. Chekhov. Các buổi tự học tôi thường chọn một lớp học nào vắng người ở khu nhà tranh cặm cụi đọc lấy vài đoạn trong tạp chí Voprosy literatury  viết về Chekhov để đưa vào bài. Thày Nguyễn Hải Hà  làm phản biện, thày Đỗ Xuân Hà ---có ai nói đùa hẳn  nhân vật Pier Bezhukhov  trong Chiến tranh và hòa bình chắc trông cũng nhang nhác  thế ---hướng dẫn đều tỏ ý khuyến khích tôi nên đi vào tiếng Nga theo hướng này. Lời khuyên đó nhiều năm sau còn giúp tôi thêm tinh thần tự học.      

      Tôi nhớ hồi ngồi phân tích Lời Kỹ nữ của Xuân Diệu, cách làm thông thường ở lớp văn 3 có chất đại học rõ rệt ấy vẫn là đem so sánh với Trên dòng Hương Giang của Tố Hữu, để rồi nhấn mạnh một bên thương yêu cứu giúp những người lầm lỡ, bên kia hưởng thụ, và đẩy con người ta chìm sâu vào vũng bùn trụy lạc. Trong bụng tôi nghĩ không phải thế, thật ra Xuân Diệu tìm thấy thân phận mình trong thân phận người kỹ nữ. Nhưng tôi thấp cổ bé miệng, nói có ai nghe. Thay cho tranh cãi, tôi ngồi chép lại  cả phần thơ trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, cả Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Lửa thiêng, Tiếng thu…, trong một quyển  sổ giấy đen. Đến nay tôi còn giữ được quyển sổ ấy, mỗi lần nhìn vào, thấy thật là chép trong đắm đuối, chép lấy được. Nhưng một năm trước ở Vinh tôi làm  sao có được những tài liệu quý đó, và hai chục năm sau khi ra trường, mãi tới khoảng 1984, đó vẫn  là thứ văn chương độc hại, tới các thư viện, phải có giấy giới thiệu đặc biệt mới được đọc, và một nhà nghiên cứu trẻ sẽ sớm cảm thấy dở hơi, nếu trong một bài viết lại thú nhận là mình đã đọc và mê những vần thơ đó.—một năm ở Hà  Nội lại thêm  kỷ niệm đáng nhớ !

     Một người có ý chí không chịu đầu hàng sự thất bại, tiếp theo là không chịu tuân theo sự săp xếp an bài của các thế lực vô cảm, tôi cảm thấy hình ảnh của tôi ở Đại học sư phạm lờ mờ hiện lên như vậy. Tôi còn may mắn ở chỗ, sau khi thi trượt, được sống ở môi trường sư phạm, một môi trường vào những năm ấy vừa không bị trói buộc vào chính cái vai được giao,vừa đầy khao khát tự khẳng định. Tinh thần trên còn dẫn giắt và nâng đỡ tôi, suốt thời gian dài từ sau khi ra trường cho tới nhiều năm về sau/.                                                                                                            

Một số suy nghĩ chệch hướng

 Một số suy nghĩ chệch hướng

Sau những câu chuyện mà tôi kể cho nhà văn Nguyễn Minh Châu về tuổi trẻ của tôi, có lần anh đã nói là có lẽ nhờ sống ở một vùng đô thị hiện đại, mà tôi có được một chút hoài nghi cần thiết khi bước vào đời.

Sự hoài nghi đó càng bắt rễ trong tôi, sau khi bị đánh trượt trong cuộc thi vào Tổng hợp Văn. Với một lòng tự tin rất tự nhiên của tuổi trẻ, tôi ban đầu chỉ nghĩ là người ta không hiểu mình. Mãi về sau, tôi mới nghĩ được rằng cái xu hướng mà xã hội muốn kéo mình theo là khác, mà xu hướng lớn của cả nền văn nghệ thì lại khác hẳn. Vì tôi đi theo cái hướng chung nên tôi thất bại. Nhưng tôi vẫn sẽ tiếp tục đi theo con đường đó, chỉ có điều là phải tìm cách chuẩn bị cho mình những hành lý thích hợp nhất. 


Có ngu dại đến mấy thì tôi cũng biết rằng hiểu biết của tôi là hạn chế. Và tôi phải học, trước tiên là học thêm ngoại ngữ để biết thêm về các nền văn học khác, về văn học nói chung.

Trong phần ghi về nguyện vọng khi thi vào Đại học, ngoài nguyện vọng thứ nhất là Tổng hợp Văn, tôi đã ghi nguyện vọng hai là vào khoa Trung Văn Đại học Ngoại ngữ. Hồi ấy mấy cửa hàng sách ngoại văn ở Hà Nội có bán nhiều sách vở tiếng Hoa, kể cả tiểu thuyết. Và tôi đã mua cuốn “Tam lý loan” của Triệu Thụ Lý về để thử đọc. Giá kể được theo khoa Trung Văn thì đời tôi sẽ hướng sang một hướng khác.

Nhưng cũng thời gian ấy, xu hướng học tiếng Nga đã rất mạnh mẽ, dù phần lớn dân trí thức Hà Nội học tiếng Nga qua tiếng Pháp, còn như những quyển sách dạy tiếng Nga cho người Việt thì còn rất sơ sài và kém cỏi. Bản thân tôi sau khi học sơ qua các giáo trình này, đã phải tìm tới một người bạn đang học khoa Nga ở Đại học Sư phạm, là anh Dương Đức Niệm. Anh Niệm sẽ chỉ cho tôi những quyển sách dạy tiếng Nga cho chính người Nga, nghĩa là lưu hành ở các trường Đại học của Nga, nhờ đó tôi có khá hơn.

Việc học tiếng Nga của tôi lúc đầu phải như một công việc dấm dúi. Cùng với các bài ngữ pháp thì công việc đầu tiên là học từ mới. Tôi không có máy để nghe, tôi chỉ lo thuộc mặt chữ. Tôi đóng cho mình những cuốn sổ tay con con vài chục trang. Các từ Nga mà tôi mới học được tôi ghi thoạt đầu bằng bút chì, sau đó tôi tô lại bằng bút mực. Tôi luôn luôn đặt các cuốn sổ đó ở đầu giường. Ký túc xá của sinh viên lúc ấy gồm nhiều giường hai tầng, tôi thường xin lên ngủ ở tầng trên để tránh sự để ý của mọi người. Tối tối, ngọn điện chung cho cả gian phòng đến chín giờ rưỡi thì tắt. Trước đó mười lăm phút, dù đang làm cái gì thì tôi cũng để lại mà lo ngồi lẩm nhẩm mấy từ tiếng Nga mà tôi mới học ban ngày. Tôi cứ lẩm nhẩm  như thế  cho đến khi thiếp đi trong giấc ngủ. Rồi đến sáng ra, khi đèn điện vừa bật thì tôi lại móc cuốn sổ ở dưới gối ra ôn lại. Cứ thế mà tôi dần dần sau ba năm, cũng có đủ một số vốn từ cần thiết để đọc sách. 

Quên tôi không nói từ trên là do chỗ muốn học tiếng Nga để dùng trong việc tự học lâu dài, tôi sớm hướng tiếng Nga vào việc đọc văn học. Cụ thể là tôi mua cho mình một cuốn giảng văn dùng cho mấy lớp khởi đầu ở trường Trung học của Nga, ở đó chẳng hạn có cả những truyện ngắn của A.P.Chekhov. Cùng với Puskin, Chekhov được coi là những nhà văn Nga viết tiếng Nga chuẩn nhất hay nhất mà lại dễ đọc dễ hiểu. Sau này khi ra Hà Nội học lớp văn ba, học văn học Nga với các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà, tôi đã mạnh dạn xin làm khóa luận về Chekhov và đã sử dụng một số sách báo tiếng Nga làm tài liệu tham khảo. Các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà thích lắm, giúp tôi nhiều lắm. Thầy Nguyễn Hải Hà còn theo dõi các bài báo của tôi đưa trên báo Văn nghệ với nhiều cảm tình và sự ủng hộ.