Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5

 Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5 

5.Chuyển chế độ. Đời sống văn hóa tinh thần ở Hà Nội năm 55 – 57

Cái ngõ nhỏ trên phố Thụy Khuê tôi ở là đất làm ăn của những người bán xôi và ngô khoai sắn, của những người công nhân nhà máy xe điện, nhà máy giặt nhà máy da, và một cơ sở trồng hoa và ươm cây của thành phố mà bọn trẻ con chúng tôi bắt chước người lớn thường gọi là La Pho. Dĩ nhiên không có cánh quân nào đó của Trung đoàn thủ đô tiến vào tiếp quản Hà Nội đi qua phố tôi và sự kiện 10/10/1954 không để lại trong tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Tôi chỉ nhớ việc lớn lúc ấy là mỗi gia đình phải lo mua sắm lấy một lá cờ đỏ sao vàng và những ngày lễ - ngày lễ hồi ấy chưa nhiều như sau này – phải treo trước cửa nhà. Rất nhiều cuộc họp đã được tổ chức để phổ biến chính sách mới. 

Chế độ mới trước tiên mang lại nhiều vấn đề kinh tế. Tự nhiên thấy lan truyền nỗi lo về nạn đói và cấp trên phổ biến bắt đầu một phong trào chống nạn đói bằng cách trồng khoai ụ. Thông thường thì khoai phải trồng thành luống trên ruộng. Nhưng chúng tôi đang ở thành phố lấy đâu ra đất để trồng, thế là người ta nghĩ ra cách là đan nứa quây thành vòng tròn như cái nia rồi đổ đất vào trong và gọi là ụ. Có nhà trồng đến 2,3 ụ trong sân dù sau này thu hoạch chẳng được bao vì lấy đâu ra đất tốt mà đổ ụ, lấy đâu ra kinh nghiệm làm ăn sản xuất của những vùng nông thôn lâu đời. 

Thuộc về những ân huệ mà chế độ mới mang lại, có một lần thấy phổ biến là mỗi gia đình được mua một cân đường với giá rẻ gần như cho không. Với ngõ 105 Thụy Khuê chỗ tôi ở thì địa điểm phát đường là nhà máy giặt. Mỗi gia đình cử một người ra xếp hàng từ 4,5 giờ sáng, tới gần trưa trở về cha con vợ chồng hoan hỉ như bắt được vàng.

Xuất hiện một danh từ mới gọi là hội trường tức là các địa điểm họp. Trong các hội trường thường thấy treo ảnh các lãnh tụ. Phổ biến nhất lúc bấy giờ là ảnh Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Bun–ga-nin rồi sau là Ma-len-cốp. Các ảnh đó thường được dệt trên vải cho bền. Còn trong các hiệu sách thì khá nhiều tranh ảnh trong đó tôi thích nhất là tấm ảnh một thiếu niên Trung quốc quàng khăn đỏ, tay ôm một chú bồ câu xinh đẹp. Dưới bức tranh có dòng chữ vuông đọc theo âm Hán Việt là Ngã môn nhiệt ái hòa bình đại khái có nghĩa là Chúng tôi rất yêu hòa bình. Bố tôi đã mua bức ảnh này và mãi dăm năm sau mới bỏ đi.

Tất cả như được tháo tung. Cuộc sống trở nên ồn ào vô kể. Có rất nhiều buổi liên hoan và do chưa có kinh nghiệm bao giờ nên các buổi tụ họp đông người ấy được người ta tổ chức rất luộm thuộm. Mà họp thì ít, chấn chỉnh nhau với hò hát thì nhiều. Cánh thanh niên và đám trẻ con chúng tôi thì được dạy nhiều bài hát, đáng kể là những bài ca ngơị hòa bình như là bài sau đây:

Đầy đồng lúa ngát thơm

Quanh quanh núi xanh rờn

Tây Bắc tiếng cười vang vang

Suối reo trong màu lá vàng


Hòa bình trở về với ta

Bướm ong nô đùa bên hoa

Tôi cũng nhớ không hết tất cả các tài liệu tuyên truyền được đọc hồi ấy, nhưng bên cạnh những hồ hởi trong tiềm thức của tuổi trẻ, bắt đầu tôi đã thấy nhen nhóm lên những sự ngờ vực nho nhỏ đôi khi là sự khó chịu.

Cuộc sống “mới” được các cán bộ tuyên truyền đâu về vẽ lại bằng những nét nguệch ngoạc. Người ta cứ tuyên bố như là nay mai sẽ là thật sung sướng thật hạnh phúc, tuy rằng hạnh phúc với nghĩa có cơm ngon canh ngọt quần áo sang trọng chưa thấy đâu mà trong cuộc mưu sinh hàng ngày chỉ toàn thấy những khó khăn.

Chế độ mới có vẻ thù ghét những người giàu có sang trọng. Chỉ thấy hồ hởi nhất là đám trẻ nghèo, ngày ngày rỗi rãi đi họp đi hành, còn đám người mải làm ăn thì lẫn vào bóng tối. 

Việc làm ăn sinh sống của các gia đình tự nhiên rất khó khăn. Riêng cái việc luôn luôn tổ chức phong trào nọ phong trào kia đã làm người ta mất thì giờ rất nhiều. Tuần nào cũng có những buổi tổng vệ sinh quét rác, nhưng hàng ngày thì người dân vẫn đổ rác vô tội vạ, quét nơi này lại đổ sang nơi khác.

Chế độ mới quá coi trọng việc làm ra của cải mà không nghĩ tới chuyện phân phối, chia sẻ các của cải đó cho mọi người. Việc buôn bán bị lên án. Chị tôi từ nhiều năm trước có gánh tam phong bóng đèn và các đồ thủy tinh gia dụng đi bán rong. Nay chị được vận động bỏ gánh hàng rong đó đi công trường xấy dựng chỗ này chỗ nọ. Các công trường được mọc ra với tổ chức rất luộm thuộm và năng suất rất thấp. 

Sau này khi đọc cuốn hồi kí Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy ông có viết một đoạn về sự sản xuất ở Miền Bắc sau năm 54 khá cụ thể. 

 Vì chính sách “hồng hơn chuyên", sự quản lí xí nghiệp rất kém: không làm kế toán đàng hoàng, cuối năm không tính lời lỗ, nhiều xí nghiệp không biết thu được bao nhiêu, tiêu mất bao nhiêu, mất mát bao nhiêu.

Khi thấy công việc không chạy, người ta không nghĩ cách cải thiện phương pháp làm việc, cứ tuyển thêm người, tuyển thật nhiều mà hầu hết không biết việc, rốt cuộc số tiền trả lương thợ tăng hơn sức sản xuất nhiều. Theo G. Chaffard thì nhà máy xi măng Hải phòng trong một năm, số thợ tăng 34%, số lương trung bình tăng 24%, như vậy là số tiền trả lương tăng gần 70%, mà sức sản xuất chỉ tăng có 3,5%.


Chế độ mới tự tuyên bố là thuộc về nhân dân lao động và chính quyền mới là của nhân dân lao động. Từ chân tổ trưởng tổ phó dân phố trở lên cứ ai nghèo là được trọng dụng, còn cái việc họ chỉ họp và nói nhiều, chẳng có sáng kiến gì hết… thì lại được ca ngợi. Những người có học sớm cảm thấy mình bị ra rìa thậm chí có tội vì đã tách rời nhân dân lao động. Việc này sẽ kéo dài suốt những năm về sau khiến cho tinh thần học tập của lớp trẻ ngày càng sa sút.

Do tổ chức kém nên nhiều phong trào rất rầm rộ ban đầu, sau cũng lép xẹp, mà đó lại là việc liên quan đến đời sống của các gia đình trong ngõ khiến cho mọi cuộc vận động mất dần uy tín. Ví dụ như cạnh nhà tôi có một gia đình đông con được vận động là nên làm kinh tế mới ở miền núi Phú Thọ Tuyên Quang. Mà gia đình người ta đâu có kinh nghiệm về làm ăn sản xuất, kết quả là ít vốn dành dụm ở Hà Nội mang lên tiêu pha mất hết, mọi việc canh tác dở dang rồi vợ ốm con đau do không hợp thủy thổ khí hậu, cuối cùng đánh liều bỏ nơi kinh tế mới mà về và trở thành chí phèo, tùy tiện làm ăn bất chấp chính sách.

Nếu kinh tế làm ăn buôn bán sát với đời sống bị coi thường thì các loại chủ đề chính trị nhiều khi đang là chuyện đâu đâu lại nhảy bổ vào đời sống người ta thành chuyện quan trọng. Nhẹ nhàng như đưa mọi người vào tổ chức nào thanh niên nào phụ nữ nào thiếu nhi, mà nặng nề nhất là việc đăng kí hộ khẩu. Nhưng công việc rất quan trọng và rất nghiêm túc này lại được giao cho những người ở các vùng tự do cũ trong kháng chiến nhất là người khu 4 từ Thanh Nghệ trở vào. Họ không biết việc và trình độ thì thường là rất yếu khiến công việc rất mất thời giờ và không kết quả.

Từ việc đọc các tài liệu tuyên truyền, người dân luôn luôn rót rằng đây là xã hội rất tốt đẹp không gì có thể hạnh phúc hơn. Vào trong sách vở, tôi thường thấy người ta tuyên bố là Chủ nghĩa cộng sản là thiên đường của nhân loại. Tôi mới 13 14 tuổi nhưng đã sớm cảm thấy rằng điều đó giống như một sự huyênh hoang, người nào tuyên bố rằng mình là nhất thì thường thường lại kém hơn là những người ít huyênh hoang khác.

Thực ra ngay từ hồi học cấp 2 tức là khoảng từ 1957 1958 trở đi tôi đã là cậu học sinh ham hố muốn biết những điều gì bên ngoài mình thậm chí là cả những điều không được phép.


Một ngày cuối năm 56, trên con đường Hàng Ngang Hàng Đào, tôi còn nhớ có rất nhiều khẩu hiệu ghi rõ là kỉ niệm 12 năm ngày thành lập Đảng dân chủ Việt Nam (30/12/1944 – 30/12/1956), bên cạnh các khẩu hiệu quảng cáo của một nhà thuốc tiêm mang tên là Labauratoire Vita.

Tôi lờ mờ cảm thấy rằng trong xã hội đang có một chuyện gì lớn lắm.

Nhưng hàng ngày tôi vẫn tìm cách ra cổng sở xe điện để nghe bản tin của đài tiếng nói Việt Nam. Mười hai giờ rưỡi chiều hàng ngày tôi mới phải từ gia đình ở xóm Ổi Thụy Khuê tới trường Chu Văn An, nhưng trước đó sau khi ăn cơm trưa xong xuôi, tôi vẫn cố dành ít thời gian để lên cổng Nhà máy da cách nhà tôi khoảng 500m để đọc báo Nhân dân, dán trên một bảng thông tin.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét