Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

6.Một năm lang thang đáng nhớ

6.Một năm lang thang đáng nhớ 

Lý do chủ yếu khiến khiến tôi về sau không nhớ tới những ngày tháng đầu tiên Hà Nội được tiếp quản, chính là vì tôi phải lo để thi chuyển cấp từ bậc tiểu học lên trung học, và trong lúc nhốn nháo tôi đã học hành linh tinh nên đã thi trượt.
Tuy nhiên trong cái dở lại có cái hay. Do thi trượt vào trường Chu Văn An, tôi có một năm chuyên lo học thi để sang năm thi tiếp, nhờ thế tôi có điều kiện “xuống phố”, tức là mở rộng sự quan sát ra ngoài khu vực Thụy Khuê, cái vùng ngoại ô khoai sắn của tôi, để xuống tới khu vực ba sáu phố phường và các phố tây, mà việc học hành được triển khai thành những trường tư thục nhỏ vụn lúc ấy.
Cũng phải nói ngay là thời ấy việc học hành thi cử rất tự nhiên, nghĩa là không có hiện tượng thi đua năm nào cũng phải lên được một lớp, vốn rất giả tạo nó là đặc điểm của các trường mà tôi học về sau.
Cách tổ chức nhà trường thời Pháp thuộc là theo lối hình tháp, từ tiểu học lên trung học bao giờ cũng là một bước chuyển biến đáng kể nếu không muốn nói là một bước nhảy vọt, và việc người học trò muốn chuyển cấp phải qua một sự gạn lọc nghiêm khắc là một điều rất tự nhiên. Nói gọn lại là tôi cũng không bị gia đình mắng mỏ bao nhiêu về việc thi trượt. Thày tôi sau khi nghe tôi kể lể một hồi bằng lòng cho phép tôi bỏ ra một năm để thi tiếp vào trường Chu Văn An niên khóa 1955 – 1956.
Hồi ấy ở phố Phùng Hưng vẫn còn cơ sở của trường Thăng Long nổi tiếng từ trước 1945, với các giáo sư danh giá như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp. Vả chăng trong cái vẻ giản dị đơn sơ vẫn là đô thị loại một của Hà Nội năm 1954, thì nhà trường vẫn có cái vẻ khang trang riêng của nó. Tôi không rõ là trước tháng 10/1954 trường được tổ chức như thế nào nhưng ở thời điểm của mấy tháng cuối năm 1954 đầu 1955 đó, trường có cách tự trình bày rất oai, chẳng hạn ngay ngoài cổng trường có tấm bảng đen lớn, ghi rõ  danh sách các thầy giảng dạy trong trường mà hồi đó thì theo thói quen của thời tạm chiếm, giáo viên trung học vẫn được gọi là các giáo sư. Như giáo sư X. đã tốt nghiệp trường nào thời Pháp thuộc và đã dạy qua các trường công trường tư nào. Bấy giờ đã có một số giáo viên từ Việt Bắc trở về và trên tấm bảng đen cũng ghi rất rõ là các vị đó đã dạy ở các trường nào hồi kháng chiến chống Pháp. Học trò chúng tôi thời ấy bắt đầu biết kén cá chọn canh, biết tự hào về các danh tiếng của các ông thầy mà mình theo học. Quả nhiên là trong hai ba tháng theo học lớp đệ thất ở trường Thăng Long cuối năm 1954, tôi bắt đầu hiểu được tính chất trang trọng của các trường trung học công lập thời trước. Tôi không nhớ rõ tên tuổi của vị giáo sư đã dạy tôi môn quốc văn năm ấy, nhưng tôi còn nhớ là với ông tôi bắt đầu được tiếp xúc với tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và nhờ ông mà đã bắt đầu cảm thấy nghệ thuật tả người hết sức tài tình của tác giả này.
Nhưng tôi chỉ học ở trường Thăng Long được hai ba tháng. Bản năng đứa con của một gia đình nghèo túng bảo cho tôi biết rằng không thể học tư mãi được, cái chính bây giờ là phải lo để quay lại thi vào lớp đệ thất của trường Chu Văn An. Trước đó tôi đã được biết rằng ở cuối đường Trần Quốc Toản có một cơ sở luyện thi vào đệ thất trung học rất kết quả của giáo sư Nguyễn Hữu Lương, tôi lại về xin với gia đình cho đi học ở trường ông Lương, một lớp học tư ở nhà riêng có độ trên chục học trò gì đó. 
Khó khăn thấy rõ nhất lúc này của tôi là việc đi lại.
 Học ở trường Thăng Long, tôi có thể đi xe điện từ Thụy Khuê xuống bến vườn hoa hàng Đậu rồi tạt vào đầu Phùng Hưng.  Học ở lớp của thầy Lương, nếu vẫn dùng xe điện tôi phải qua bến Đồng Xuân, qua bến Bờ Hồ, tới tận bến Chợ Hôm mới  chuyển sang đi bộ. 
Thế là tôi nhanh chóng chuyển sang một lịch trình khác. 
Thoạt đầu tôi từ xóm Ổi leo dốc  đường  Hoàng Hoa Thám mà dân Làng Thụy chúng tôi gọi là Đường Thành, xuyên qua Bách Thảo. Hồi đó quảng trường Ba Đình còn gọi là vườn hoa Con Cóc vì có một bể nước chung quanh có mấy con cóc ngày đêm miệt mài phun nước, có lúc bọn tôi còn dám nhảy cả vào bể chơi đùa. Giữa vườn hoa Con Cóc và Bách Thảo có một lối đi thông, từ đó, tôi băng qua đoạn đường ngắn là tới đại lộ Cột Cờ mà sau này đổi tên là đường Điện Biên Phủ. Tiếp đó, tôi xuôi phố Hàng Bông Nhuộm, đi dọc theo phố Quán Sứ rồi lại ngoặt sang đường Trần Hưng Đạo để rẽ vào đường nay gọi là đường Trần Bình Trọng, từ đó đến lớp học.
Một năm lang thang học tư đối với tôi quả thật rất nhiều bổ ích. Học trường Thăng Long, tôi được biết thêm phố xá khu vực gần chợ Hàng Da và cả khu vực từ vườn hoa Hàng Đậu tới trường Thăng Long của tôi. Với tư cách học trò, tôi mê tơi trước mấy cửa hàng văn phòng phẩm, và các hiệu sách. Tôi nhớ những cái bút chì hồi ấy hàng nhập từ bên Pháp về, chì thật đen và màu vàng tươi thắm. Tôi nhớ những chiếc compa, đăt trong hộp nghĩa là thuộc loại “đở luých” (sang trọng). Tôi nhớ tới những chiếc bút máy Parker mà dân sành điệu hồi ấy còn thích đeo ở túi áo. Suốt những năm về sau, cả đến khi học cấp ba, chúng tôi chỉ có những chiếc bút chì mờ mờ mà lại hay gãy, chỉ có những tập giấy xấu xí và những cái bút máy làm theo lối thủ công như thế nào đó khi viết thường mực ra đầy cả tay. Còn hôm nay đi dọc theo đường Cột cờ tôi
Quay trở lại những ngày học ở lớp luyện thi vào đệ thất Chu Văn An.
Mấy tháng theo học ở lớp học thầy Lương, hàng ngày tôi lại có dịp lang thang một mình trên những con đường rợp bóng xà cừ. Trước kia tôi chỉ biết phố xá dẫu sao cũng là chật hẹp và chen chúc những người gồng gánh. Nay tôi đi trên vỉa hè của những đại lộ lớn có hàng cây rợp bóng. Theo chỗ tôi nhớ, mấy con đường gọi là Trần Phú Lê Hồng Phong thời nay, thời ấy gọi là đường Anh quốc Mỹ quốc, và mỗi căn nhà trên phố ngay từ hồi ấy được dùng là các đại sứ quán, quả là những kiệt tác về kiến trúc.
Học trò thời nay đến trường nhỏ thì có bố mẹ đưa đón lớn hơn một chút thì có thể tự đi xe đạp thậm chí lớn hơn một chút nữa dùng cả xe máy chạy điện. Tôi cho như thế là một thứ bất hạnh. Tự mình đi bộ tới trường sung sướng hơn nhiều. Đi một mình, tôi được nhìn ngắm tha hồ đường phố cây cối, tôi được ung dung quan sát cuộc sống của mọi người xung quanh. Lịch sử không thể quay đầu ngược lại, từ cuộc sống sôi động hiện đại, quay về cái vẻ thanh bình của thời cổ điển, nhưng tôi vẫn thường ôn lại tâm trạng những năm đi bộ tới trường để giải thích một sự bình tĩnh từ tốn nào đó trong cuộc đời. 
Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chăm chỉ của tôi  đã được đền đáp. Trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo ngoài cổng trường Chu Văn An, có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín. 
Mấy hôm sau thì tựu trường.
Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.
Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.
Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.
Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng của cuộc sống bình thường. Như đám cán bộ — công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.
Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.

Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.
Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.
Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.
Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ: kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy. Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca. Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.
Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.
Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.
Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang để trở nên anh tài đất nước, — không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.

Như trên vừa nói, do mải đi học, hai ba năm đầu sau khi Hà Nội được tiếp quản, sống trong chế độ mới, tôi vẫn chưa hiểu hết những biến chuyển quanh mình. Ca sĩ Ái Vân ngay khi mở đầu cuốn hồi kí của mình đã viết rất rõ ràng rằng cái việc gia đình mình ở lại Hà Nội sau năm 1954, và mình sinh vào đúng năm đó, là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của bà. Tôi cũng có thể nói như vậy, nhưng đó là về sau tôi mới nhận thức ra. Còn trong hai ba năm, từ 1955 đến 1958, tôi chỉ biết mơ hồ về xã hội mới. Ấy vậy mà nó đã để lại trong tính cách con người tôi nhiều nét ấn tượng rõ rệt.
Hồi ở Văn Nghệ Quân Đội những năm đầu chống Mỹ 1968 tới khoảng 1973, tôi thường có dịp trò chuyện với nhà văn Nguyễn Minh Châu. Một lần tôi rất bất ngờ nghe ông nhận xét là tại sao tôi lại có cái vẻ hoài nghi mà rất ít thanh niên hồi ấy có thể có. Hỏi xong không chờ tôi trả lời cho rõ thì ông lại gọi tôi lại giải thích có lẽ là trong khi các bạn viết văn của tôi phần lớn lớn lên từ những vùng nông thôn thì tôi lại lớn lên ở thành thị dù đó chỉ là một thứ “ngoại ô móc cống”. Càng nghĩ tôi càng thấy nhận xét đó là chính xác.
Theo tôi hiểu Nguyễn Minh Châu có ý nói rằng trong khi đa số thanh niên mới có một vẻ hào hứng tin tưởng ở xã hôi mới thì riêng tôi lại giữ được cái vẻ hoài nghi vừa phải rất cần cho lớp thanh niên khi bước vào đời.
Cùng với sự trở về của cách mạng, tôi được tham gia vào các lớp múa hát của thiếu nhi, được sống trong những sự hào hứng của các đợt lao động xây dựng thủ đô, được nghe giảng giải về các vấn đề chính trị đơn giản, đại khái là chính quyền hiện nay thuộc về nhân dân lao động, chúng ta đã đánh thắng được giặc Pháp, rồi chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội mới muôn vàn lần tốt đẹp so với xã hội cũ.
Được kèm theo những điệu xòe Tây bắc duyên dáng, là các bài dân ca:
Đầy đồng lúa ngát thơm
Quanh quanh lúa xanh rờn
Tây Bắc tiếng cười vang vang
Suối reo trên mùa lúa vàng

Ta yêu quê ta xanh ngắt cánh đồng bao la
Ta yêu Trung Quốc Liên Xô đắp xây cuộc đời
Phe ta lớn lao vì bao cuộc đời tươi sáng
Chiến đấu đến cùng cho đế quốc tan hoang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét