https://www.facebook.com/tacgiavuongtrinhan
MỤC LỤC
LỆCH PHA VÀ TRĂN TRỞ: ĐỌC SÁCH ‘CÁI VỘI CỦA NGƯỜI MÌNH’ 7
NHỮNG CÁNH CHIM PHIÊU BẠT... 14
NGƯỜI CHẾT NHIỀU HƠN KẺ SỐNG 22
NHÂN CÂU CHUYỆN NGƯỜI LÍNH BUỒN TRONG THƠ VĂN LÊ 26
CHẲNG NHẼ TOÀN LÀ CHUYỆN CŨ? 32
VĂN HÓA SÁCH VÀ QUAN HỆ THẾ HỆ Ở HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM 39
MỖI NGƯỜI TỪNG TRẢI QUA CHIẾN TRANH SẼ CÓ CÁCH KỶ NIỆM NGÀY 30-4 CỦA MÌNH 43
TRONG CÁI ĐƯỢC CÓ CÁI MẤT, TRONG CÁI VUI CÓ CÁI BUỒN, TRONG CÁI VÔ VỌNG CÓ CÁI HY VỌNG 48
CAMPUCHIA, MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC, MỘT CÁCH NGHĨ KHÁC 55
NGUYỄN MINH CHÂU: CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO Ư? – CẦN LẮM! 61
ĐƯA CÁC SỰ KIỆN THỜI SỰ VÀO TIỂU THUYẾT 67
VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975 76
MẤY NÉT GHI VỘI Ở SÀI GÒN ĐẦU THÁNG NĂM 1975 93
NHỮNG TRANG VIẾT “MỜI GỌI MỘT CUỘC ĐỐI THOẠI RỘNG LỚN HƠN VỀ DI SẢN CỦA NĂM 1975” 107
BIẾT BAO GIỜ, BIẾT BAO GIỜ? 113
CẦN ĐI TÌM SỰ KHÁC NHAU TRONG VIỆC NGHĨ VÀ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TRƯỚC SAU 30-4-1975 115
KHI GIÀ NGƯỜI TA KHÔNG THÊ SỐNG NHƯ LÚC CÒN TRẺ 123
SỨC SỐNG CỦA NHỮNG Ý TƯỞNG « CÁ BIỆT » 130
TIẾC THƯƠNG NHỮNG GÌ TỐT ĐẸP ĐÃ BỊ HỦY HOẠI. 134
MINH THÁI VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC 138
MÃI RỒI HÒA BÌNH THỰC SỰ CŨNG ĐÃ TỚI VỚI HÀ NỘI! 149
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH DƯỚI CON MẮT MỘT BẠN TRẺ Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 153
CHIẾN TRANH DƯỚI CON MẮT MỘT NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC (1965 – 1975) 159
EHRENBURG VÀ CUỐN HỒI KÝ CUỐI ĐỜI 165
TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỚI MỘT CÁCH NÓI "PHẢI CHĂNG" VỀ CHIẾN TRANH 170
TƯ DUY “HOẶC BẠN, HOẶC THÙ” VÀ SỰ SỐNG DAI CỦA MỘT CÂU VĂN THỜI CHIẾN 183
ĐÚNG LÀ MỘT HÀ NỘI RA HÀ NỘI - HÀ NỘI KHÔNG LẪN VỚI BẤT CỨ MỘT THÀNH PHỐ NÀO KHÁC 186
CHƯA HỖN LOẠN NGHĨA LÀ CHƯA TUYỆT VỌNG 187
ĐẰNG SAU MẶT TIỀN CÁC NHÀ TRONG PHỐ CỔ 188
THỜI ĐIỂM 1994? SAI HAY ĐÚNG? 193
SỰ MÒN VẸT & THÁCH THỨC CỦA HÀ NỘI HẬU CHIẾN 194
CẦN NHẤT LÀ SỰ CẢM THÔNG
Ngày 6 tháng 1 năm 2025
Câu nào dưới đây cũng hay, nhưng tôi thú nhất cái ý lúc khó khăn, cái điều tôi cần nhất chưa phải là sự giúp đỡ mà là sự thông cảm, đại khái là thế. Lại cũng có thể diễn tả rằng lúc khó khăn với tất cả cái đa nghĩa của nó, tôi muốn bạn nhắc tôi như một con người để tôi sẽ tự cố găng.
Tôi cũng rất thích mấy câu cuối. Người biên soạn ở đây gần như đã đạt tới trình độ người phát biểu những ý tưởng này.
Do chỗ làm nghề phê bình mà nhiều lúc bị người đời chê là ăn theo nói leo, tôi thích cái câu châm ngôn sau dù biết rằng nó hơi thiên vị một chút -- hiểu thấu tức là sánh ngang ( không rõ tác giả là ai )
TRI KỶ
Ngày 7 tháng 2 năm 2025
Theo các từ điển tiếng Việt thì tri kỷ ( đôi khi có thể không phải là bạn tâm giao) nhưng lại là người biết bụng dạ mình, hiểu rõ mình. Theo nghĩa ấy tôi muốn đưa lại cái stt bạn BQM đã viết khi giới thiệu tập CVCNM của tôi kèm kể cả mấy câu tôi còm- mèn sau khi đọc stt này và lần đầu tiên nhớ tới cái từ tri kỷ học trong sách vở hồi nhỏ.
Tôi cũng không bao giờ quên là từ khoảng hai chục năm trước -- khi tôi bước đầu đi vào con đường nghiên cúu văn hóa theo cách riêng của mình với khá nhiều nghi ngờ từ bè bạn và đồng nghiệp -- thì BQM trên trang blog Chúng ta của mình đã sớm theo dõi tôi tin tưởng tôi một cách rất tự nhiên. Qua trang Chúng ta này tôi đã có thêm nhiều bạn đọc.
LỆCH PHA VÀ TRĂN TRỞ: ĐỌC SÁCH ‘CÁI VỘI CỦA NGƯỜI MÌNH’
Ngày 25 tháng 2 năm 2025
của Vương Trí Nhàn
https://nguyenvantuan.info/.../lech-pha-va-tran-tro-doc.../
‘Các đồng chí có biết bên ấy chúng nó mặc quần áo bằng gì không? Bằng ni lông! Quần áo ni lông!’
Đó là nhận xét của thi sĩ Xuân Diệu, tác giả của những vần thơ tình nổi tiếng, trước cử toạ gồm các cán bộ và quân đội [1]. Ông nói về những điều mà ông cho là sự ‘sa đoạ’ của phương Tây. Bàn về các cựu tổng thống Mĩ, thi sĩ tỏ ra kinh ngạc:
‘Còn tổng thống bên Mỹ hết nhiệm kỳ không còn làm tổng thống nữa, các đồng chí có biết nó đi làm gì không? Đi quảng cáo cho các hãng buôn kiếm tiền!’
Đó là câu chuyện được thuật lại trong cuốn sách mới nhứt của tác giả Vương Trí Nhàn, nhan đề ‘Cái Vội của Người Mình‘ [2]. Câu chuyện được tác giả bàn thêm:
‘Nhắc lại những chuyện này để thấy những ngày xưa, chúng ta quá ấu trĩ và ngày nay đã hiểu biết hơn rất nhiều.‘
Tác giả giải thích khá rõ rằng ‘ngày xưa’ ở đây là miền Bắc thời 1965-1975, và ‘chúng ta‘ ở đây có nghĩa là những cán bộ như tác giả.
Theo tôi, câu chuyện nói lên một suy nghĩ non nớt, thiếu khả năng phân tích theo chiều sâu mà chỉ nhận vấn đề ở bề nổi. Sự ấu trĩ của cả nửa thế kỉ trước vẫn còn tồn tại và tiếp diễn trong ngày nay.
Suy nghĩ đó còn phản ảnh thói tự cao tự đại, có vẻ tự đánh giá cao bản thân mình và coi thường người phương Tây. Nếu chú ý kĩ, các quan chức Việt Nam hay gọi đồng nghiệp ở phương Tây bằng ‘thằng’, ‘nó’, ‘chúng nó’, nhưng trong thâm tâm thì lại tỏ ra thái độ thiếu tự tin. Đó là một sự mâu thuẫn nội tâm, và mâu thuẫn này dẫn đến nhiều ‘lệch pha’ trong cách ứng xử trong một xã hội hiện đại có tổ chức.
Và, đó chính là chủ đề mà tác giả Vương Trí Nhàn khai thác trong cuốn tạp ghi này. “Cái Vội của Người Mình” là một tập hợp những đoản văn mà tác giả gọi là ‘phiếm luận’ về những thói hư tật xấu của người Việt Nam thời hậu chiến. Xin nhấn mạnh là thời hậu chiến, tức sau 1975.
--
Đó là những thói hư tật xấu mà tác giả quan sát từ đời sống thường nhựt. Từ những thói gian dối trong làm ăn buôn bán, hành vi ngang ngược trong giao thông, và những bất cập trong thói quen sinh hoạt, đời sống tinh thần, mối quan hệ giữa người với người; những di luỵ quá khứ và tật xấu mang dấu vết thời đại; và những hạn chế trong tổ chức quản lí xã hội.
Qua những tiêu đề của cuốn sách, độc giả cũng có thể tự tìm thấy những gì mình quan sát thường nhựt: kiếm sống với bất cứ giá nào; mạnh ai nấy sống; hỗn loạn trong giao thông, hỗn loạn trong tâm lí; thầy không ra thầy, thợ không ra thợ; tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư; dục vọng và tai nạn; khổ vì làm tiền; nhân danh hiếu thảo, làm việc dã man; nói nhiều như là một căn bệnh; bế tắc nên sinh cờ bạc; cầu may và cầu lợi trong tâm lý người đi hội; độc đáo với bất cứ giá nào; hàng hiệu và đời sống tinh thần; con người suy thoái.
--
Có thể nói rằng những thói hư tật xấu này phản ảnh sự ‘lệch pha’ giữa một xã hội hiện đại và các giá trị và thói quen truyền thống. Quá trình chuyển đổi từ một xã hội nông nghiệp sang công nghiệp là một sự biến đổi sâu sắc, đã tái tạo cảnh quan kinh tế và cấu trúc xã hội của đất nước. Các nhà máy và khu công nghiệp mọc lên, đặc biệt là ở các thành phố lớn, đã có một sự chuyển dịch lớn trong thị trường lao động. Một phần lớn dân số di cư từ các vùng nông thôn, nơi cuộc sống truyền thống thường gắn liền với nông nghiệp, đến các khu vực đô thị để tìm kiếm việc làm. Họ phải cố gắng thích ứng với lối sống mới có tổ chức hơn so với lối sống ở miệt quê, và trong quá trình đó, đã xảy ra những hành vi gọi chung là lệch lạc.
--
Tác giả nhận xét rất đúng rằng: ‘Cuộc sống đô thị là cuộc sống được tổ chức. Con người phải tập làm quen với cách sống mới. Vì miếng cơm manh áo mà người dân từ nông thôn lên sống ở các đô thị nhưng bụng dạ thì hình như vẫn để cả ở chốn quê hương, xem những ngày xưa là cái mẫu mực tuyệt vời mà con người hôm nay không với tới được.’
Từ đó dẫn đến sự lệch pha: ‘Bước vào một cuộc chuyển đổi mà không được chuẩn bị, gần như cả cộng đồng đang sống kiểu nghiệp dư’.
Chỉ cần xem qua cuộc sống thường ngày ở chung cư (từ văn hoá đi thang máy đến vệ sinh công cộng), sự hỗn loạn trên đường phố, và cả xếp hàng để lên máy bay, v.v. đều thể hiện lối sống nghiệp dư. Tác giả nhận định:
‘Cái phần con người nghề nghiệp mờ nhạt thì thay vào đó ở nhiều người lại đang nổi lên cái phần con người kiếm sống. […] Đó chính là điểm yếu của con người trong xã hội ngày hôm nay‘.
--
Mà, không phải sự lệch pha đó xảy ra ở người di cư từ nông thôn lên đô thị, mà còn ở những cư dân đô thị. Từ những đô thị lạc hậu, qua đầu tư và du nhập lối sống từ phương Tây, những cư dân đô thị cũng thấy mình khó khăn để thích nghi với môi trường mới.
Một số người làm giàu rất nhanh, không phải nhờ vào tài năng mà biết cách khai thác các mối quan hệ. Họ là ‘Những kẻ thành công trong đường đời (giàu hơn và có địa vị xã hội cao hơn) đôi khi không phải là người giỏi giang mà đơn giản chỉ là những kẻ liều lĩnh hơn, dám làm … láo hơn.‘ Tuy nhiên,về bản chất thì họ vẫn là những người nghèo về văn hoá hay mới thoát nghèo về tài chánh.
Vì có nhiều tiền quá nhanh họ có nhu cầu tỏ ra là những người lịch lãm. Những thói bắt chước lố bịch và ‘Học mót, học lỏm, đua đòi, bắt chước không phải lối’ trở nên phổ biến ở giai cấp ‘nouveau rich‘. Tuy nhiên, về bản chất thì họ vẫn chỉ là những ‘trọc phú’, chứ không phải ‘nhà giàu’, và họ thiếu cái phong cách của một người trung lưu. Tất cả chỉ nói lên cái bản lãnh non nớt chưa tương xứng với địa vị.
Sự lệch pha còn diễn ra ở các lãnh vực như tín ngưỡng, văn hoá và giáo dục: ‘Sự lừa dối có mặt trong nhiều hoạt động của guồng máy xã hội và lan tràn cả trong lĩnh vực tinh thần thiêng liêng như tín ngưỡng, văn hoá, giáo dục. Không mấy ai còn thấy kiếp người là thiêng liêng nữa.’
--
Tại sao những thói hư tật xấu phát sanh sau 1975? Theo tác giả, một phần là do quan chức. Tác giả viết: ‘Muốn biết giới quan chức một địa phương ra sao, cứ xem dân ở đấy thì biết. Dân ngoan làm ăn tử tế tức là bộ máy làm việc tạm gọi là chấp nhận được, người ta còn tin. Còn dân hư, nhất định là những người quản lý họ có vấn đề, không tham nhũng thì cũng kém cỏi trong quản lý. Chỉ cần chịu tìm sẽ thấy ai có lỗi”
Tại sao? Tại vì các quan chức quản lí sau 1975 thường xuất thân và trưởng thành trong chiến tranh. Trong môi trường hoà bình, họ nghĩ sai rằng ‘đánh nhau khó bằng mấy mà còn làm được, nửa là quản lý kinh tế, cứ quyết tâm và có kỷ luật là hoàn thành tất.’ Sự chủ quan này dẫn đến thất bại. Theo tác giả. ‘Trong suy nghĩ của những người từ chiến tranh bước ra, cái tội không thạo việc, thạo chuyên môn.’
--
Trong bài ‘Di dân tự phát nhìn từ hai phía’ (trang 234), tác giả nhận định rằng sau ngày 30/4/1975, nhiều cán bộ miền Bắc được gởi vào Nam để tiếp quản, nhưng trong số đó, có những người tỏ ra ‘quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động. Chẳng những thế, một số khác sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ.‘
Nhận định này cũng nhứt quán với nhận định của học giả Nguyễn Hiến Lê. Trong hồi kí, ông viết: ‘Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau.’
Ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn thấy những quan chức mà bề ngoài thì sang trọng và thanh cao, nhưng về bản chất thì vẫn dung tục, tầm thường, và thấp kém. Gần đây, chúng ta thấy những quan chức và cả nghệ sĩ khi đi công cán ở nước ngoài đã có những hành vi đồi bại đối với phụ nữ. Hành vi đồi bại của họ, có lẽ do thiếu giáo dục [3], làm cho người Việt chúng ta xấu hổ trước cộng đồng thế giới. Họ là những người chưa trưởng thành nên đã để sự cám dỗ của thân xác và vật chất (cái ‘Da hàng thịt’) làm tha hoá cái ‘Hồn Trương Ba.’
--
Tác giả cho biết rằng thời thanh niên, ông chỉ được tiếp xúc với các tư tưởng phương Tây rất hạn chế, có lẽ là một cách nói khác về tình trạng ‘nhồi sọ’. Ông viết:
‘Trong đầu óc đám người, khi còn ngồi trên ghế nhà trường chỉ được nghe giảng về mỗi một thứ triết học là triết học Mác-Lênin như tôi, tên tuổi của những Platon, Aristotle chỉ tượng trưng cho những điều rắc rối trừu tượng. Nhưng đọc Platon mấy cuốn sách lịch sử triết học mới in, thấy bao chuyện cụ thể.’
Và, ông đi đến kết luận: ‘Sau 1975, hầu hết chúng ta là những người chưa có nghề nghiệp thực sự.’
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, một người tỏ thái độ rất khinh miệt người miền Nam và chế độ VNCH, từng thắc mắc: ‘Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.
--
Để kết thúc bài đọc sách này, tôi mời các bạn đọc đoạn sau đây trong sách ‘Cái Vội của Người Mình’:
trích:
“Trong thiên bút kí ‘Đại Đường Tây vực‘, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ. Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể:
‘Người Tốt Lợi phong tục kiêu ngoa, chuyên môn lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau cũng tính toán hơn thua chẳng cần người tốt kẻ xấu, cứ nhiều tiền là được quý trọng… Cư dân một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi.’
Thế còn bây giờ? Một lần, chập choạng tối, tôi đang đi trên đoạn đường gần ngã tư Hàng Chiếu – Đồng Xuân Hà Nội thì gặp mưa, đành tính chuyện lánh tạm vào một mái hiên. Bất ngờ nghe người ở trong nhà nói hắt ra:
– Biến đi cho người ta còn bán hàng.
Trời ơi! Con người đô thị bây giờ càn rỡ và bất nhân ngoài sức tưởng tượng!“
hết trích.
--
Tiếng kêu thất thanh của tác giả vang động trong tâm khảm của mỗi chúng ta vậy.
______
[1] Câu chuyện này cũng được kể trong sách ‘Viết Về Bè Bạn’ của Vũ Ngọc Tấn.
[2] Sách ‘Cái Vội của Người Mình’ của tác giả Vương Trí Nhàn, 347 trang, do nhà xuất bản Tổng Hợp ấn hành, giá bán 159,000 đồng.
[3] Ở các nước phương Tây, tất cả các quan chức đều được dạy về cách ứng xử sao cho tránh bị vướng vào những cáo buộc như sách nhiễu tình dục. Họ còn được dạy để không hành xử lưu manh và du côn với cấp dưới. Nhưng ở Việt Nam thì hình như không có những khoá học như thế này.
MỘT GỢI Ý NGHIÊM TÚC
Ngày 6 tháng 3 năm 2025
Các bạn nghiên cứu sử đã đi khá xa, trong khi giới nghiên cứu văn học - không kể văn học hiện đại mà ngay cả những nhà nghiên cứu văn học quá khứ - phần lớn cũng đang giậm chân tại chỗ nếu không kể đến đám người thù tạc. Mà con đường băt đầu từ lịch sử xem cét lại quá khứ thì mênh mông và khó khăn quá
NHỮNG CÁNH CHIM PHIÊU BẠT...
Ngày 15 tháng 3 năm 2025
Ở Hà Nội trước 1975, trong những câu chuyện của các nhà văn Bùi Hiển, Vũ Tú Nam tôi đã được nghe nói đến bà này. Cũng thời gian ấy, đọc Bách Khoa của Lê Ngộ Châu cũng thỉnh thoảng thấy những bài viết của bà viết về cuộc những cuộc bôn ba của người Việt ở nước ngoài. Không biết tôi nhớ có sai không, Võ Phiến từng nói đến cuốn Trà Thất của bà. Tự nghĩ hóa ra khi có chiến tranh, không chỉ người trong nước ở bên này lẫn bên kia đều khổ, mà người tránh ra nước ngoài vẫn có nỗi khổ riêng. Mà biết bao giờ, trong bộ sách viết về nước Việt trong và sau chiến tranh lại có cả những cuốn sách viết một cách đầy thông cảm về cuộc sống của những cánh chim phiêu bạt này...
NHÂN ĐỌC LẠI BÀI THƠ " XUÂN VỌNG" CỦA ĐỖ PHỦ, NGHĨ TỚI CÁC SÁNG TÁC VỀ CHIẾN TRANH VỀ TAI HỌA NÓI CHUNG
Ngày 20 tháng 3 năm 2025
Bài đã đưa trên blog của tôi 19 - 10 - 2021
---
VĂN BẢN
春望
國破山河在,
城春草木深。
感時花濺淚,
恨別鳥驚心。
烽火連三月,
家書抵萬金。
白頭搔更短,
渾欲不勝簪。
*
XUÂN VỌNG
--
Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hoả liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn câm (kim).
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thăng trâm.
*
Dịch nghĩa
--
Núi sông còn đó mà nước mất rồi,
Thành ngày xuân hoang tàn, cỏ cây rậm rạp.
Cảm thương thời thế, con người nhìn hoa mà mắt ướt lệ,
Buồn vì ly biệt, nghe tiếng chim hót cũng thấy ghê sợ.
Khói lửa báo giặc giã cháy suốt ba tháng liền.
Thư nhà lúc này ngàn vạn cũng không mua nổi.
Gãi mái đầu bạc thấy càng thêm thưa ngắn,
Muốn cài trâm mà chẳng được.
*
Bản dịch khuyết danh:
--
Nước mất, còn sông núi
Thành xuân cỏ chất chồng
Hoa thương thời nhỏ lệ
Chim giận biệt đau lòng
Khói lửa liền ba tháng
Thư quê đáng vạn đồng
Bạc đầu cùn mái tóc
Trâm bạc khó cài xong
*
Bản dịch Khương Hữu Dụng:
--
Nước mất nhưng núi sông còn,
Thành xuân quạnh quẽ um tùm cỏ gai.
Cảm thời, hoa để lệ rơi,
Biệt ly hoa cũng vì người xót xa.
Tháng ba rồi đến tháng ba,
Thư nhà buổi loạn đúng là vàng muôn.
Gãi đầu tóc bạc thêm cùn,
Búi lên sổ xuống, trâm luồn lại rơi.
*
Bản dịch Nam Trân tức Tương Như :
--
Nước mất còn sông núi
Thành xuân cảnh um tùm
Biệt ly lòng chim hãi
Cám cảnh lệ hoa tuôn
Lửa hiệu liền ba tháng
Thư nhà đáng mấy muôn
Gãi hoài cùn tóc bạc
Chừng tuột chiếc trâm luôn
*
MẤY LỜI CHÚ GIẢI VÀ BÌNH LUẬN
--
Tôi đọc bài thơ này lần đầu từ trước chiến tranh 1965-75. Qua cuốn Thơ Đường tập II (1963), chỉ láng máng cảm thấy thích vì nghe đâu nó được coi là một trong những bài hay nhất của Thơ Đường và đã đưa vào Đường thi tam bách thủ.
(Theo Wikipedia tiếng Việt Đường thi tam bách thủ ( 唐詩三百首) là một tuyển tập gồm hơn ba trăm bài thơ Đường do học giả Tôn Thù (1722-1778), còn được biết đến là ‘Hành Đường thoái sĩ’, tuyển soạn vào khoảng năm 1763 thời nhà Thanh.)
Tới những năm chiến tranh 1964-75, đọc lại mới thấy thấm thía.
Trong cái non nớt của tuổi trẻ, lúc đầu tôi chỉ thích mấy câu ba bốn.
Các bản cũ ở VN thường giải thích hai câu ba bốn này như sau
- Cảm thời thế nên hoa đầm nước mắt
Đau biệt ly, chim cũng khắc khoải lòng (theoThơ Đường tập II).
Từ đó ta hiểu sự buồn bã lan từ khung cảnh văn hóa sang khung cảnh thiên nhiên, và về tu từ tức là một biện pháp nhân cách hóa đã được sử dụng.
--
Ở phần dịch nghĩa nói trên, sở dĩ tôi ghi
Cảm thương thời thế con người nhìn hoa mà mắt ướt lệ, / Buồn vì ly biệt, nghe tiếng chim hót cũng thấy ghê sợ
là do đọc theo mấy bản Đường thi tam bách thủ do Trung quốc làm mà tôi đang có trong tay
như bản của Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1993,
bản tân tuyển của Nhân dân văn học xuất bản xã 1998, bản của Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2003…
Bản làm cho thiếu nhi của nhà Bắc Kinh thiếu niên nhi đồng xuất bản xã 1996 thì viết
“Hoa [vẫn đẹp thế] khiến cho con người rơi lệ,
chim [vẫn vui thế] làm cho người đau lòng”,
cũng gần với các ý trên.
-
Nhưng hay nhất trong bài chính là hai câu đầu và đây là điều mà mãi sau chiến tranh tôi mới hiểu.
Quốc phá sơn hà tại
-
Chỉ có năm chữ mà phác họa ra cả khung cảnh chiến tranh và cái hậu quả tổng quát của nó.
Cái làm ta cám cảnh chính là tình trạng nước đôi, tất cả dường như còn, mà tất cả lại đã mất hết.
Cái còn chỉ làm tăng thêm vẻ bi thảm mà cái mất mang lại.
Theo cách hiểu này, bài thơ toát ra một tinh thần nhân bản rất hiện đại.
TẤT CẢ DƯỜNG NHƯ CÒN,
MÀ TẤT CẢ LẠI ĐÃ MẤT HẾT.
Có lẽ đây cũng là tâm trạng khiến cho một ai đó đã thốt lên rằng, trong chiến tranh không bao giờ có kẻ chiến thắng với nghĩa trọn vẹn của chữ ấy.
Đối thủ của ta càng dũng mãnh thì chiến thắng của ta càng thêm vẻ vinh quang, cố nhiên rồi.
Nhưng để thắng một đối thủ dũng mãnh như thế, hẳn ta đã trầy da sứt vẩy và trở nên thân tàn ma dại.
--
Sau chiến tranh, bên thắng cuộc lại thường có tâm lý hiếu thắng tưởng mình làm gì cũng được.
Một số họ sẽ thua trong công cuộc hồi phục là vì vậy.
--
Hai câu cuối bài thơ nói đến một thứ buồn bã mà con người không sao vượt lên nổi. Con người lúc này đã tiều tụy thân thể, bại hoại tinh thần; cảm giác cuối cùng còn lại chỉ là sự bất lực.
--
Thế hệ tôi vừa trên dưới hai mươi thì bắt đầu cuộc chiến tranh quyết liệt mà mãi tới 30-41975 mới kết thúc.
Một số chúng tôi lại có trong tay ngòi bút, chúng tôi làm thơ làm văn viết sách viết báo.
Viết để làm gì?
Hồi ấy cả bọn chúng tôi sống theo mệnh lệnh là chỉ được viết để động viên người lính ở chiến trường. Chứ không được viết về xúc động của chính mình.
Chúng tôi không có thời gian và cũng được hướng dẫn là không cần biết là người xưa đã viết về chiến tranh như thế nào.
Thơ làm hồi chống Mỹ in ở Hà Nội thường kỵ nói về cảnh tàn phá và lại có một thứ luật lệ cấm tiệt các nhà thơ là không được nói đến nỗi buồn.
Ngày nay đọc lại một bài như bài Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật không những thấy ngớ ngẩn vì câu lý sự cùn
-Không có kính không phải vì không có kính
Bom giật bom rung kính rụng mất rồi,
mà còn thấy giả tạo thô thiển vớ vẩn trong cái câu tả thái độ con người
– Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Trong hoàn cảnh ấy, tôi thường nhớ lại XUÂN VỌNG trên đây của Đỗ Phủ như một sự miêu tả khái quát về chiến tranh và tai họa.
Dường như bắt đầu bài thơ, Đỗ Phủ đã có cảm giác buồn bã và ông đã để mặc cho dòng cảm xúc của mình trôi nổi, đến nỗi người ta thường cảm thấy hụt hẫng khi đọc đến những chữ cuối.
Hụt hẫng chốc lát mà bâng khuâng lâu dài.
Nhà thơ không lo lắng xem mình viết thế này để làm gì mình đang thuộc về bên nào, bên thua hay bên thắng.
Ông chỉ diễn tả một cảm giác nhân bản mà con người xưa nay thường trải nghiệm.
Con người qua chiến tranh trong các thời đại về sau đều tìm thấy mình qua thơ ông, dù bài thơ ông viết có khi đã trên ngàn năm.
NGƯỜI CHẾT NHIỀU HƠN KẺ SỐNG
Ngày 22 tháng 3 năm 2025
Phan Khôi
--
Sáng nay 12/3/21, qua viet-studies, tôi đọc được một bài viết của trang PNO 10/3, mang tên VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975: CHÚNG TA LÀ AI, Ở ĐÂU? trong đó có phát biểu của một quan chức Hội nhà văn “Tiến tới tổng kết văn học Việt Nam sau chiến tranh sẽ là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và phải làm”.
Trong ngổn ngang suy nghĩ mà cái đầu đề của PNO trên gợi ra và lục tìm những tài liệu liên quan, tôi nhớ lại một bài trên Fb của anh Lại Nguyên Ân, từ đâu hai năm trước thấy hay quá tôi đã sao chép lại, nay muốn giới thiệu lại với các bạn.
Nhưng truớc hết xin vân vi mấy điều.
--
Nghĩ lại lịch sử hóa ra trừ thời gian Pháp thuộc còn trước và sau đó dân mình triền miên sống trong chiến tranh và viết về chiến tranh là việc chung văn học Việt Nam phải làm.
Vậy mà cả thời cận và hiện đại, chúng ta gần như chưa làm hoặc nói cho phải ra thì có làm đấy nhưng chưa làm đúng làm rõ được tinh thần và mức độ cuộc chiến ở ta như nó vốn có.
Riêng về thời nay, một phần lý do là vì dấu vết chiến tranh để lại muôn hình vạn trạng và việc viết về chiến tranh có muôn ngàn cách khác nhau, chứ đâu phải chỉ có cách duy nhất mà mấy chục năm nay buộc nhau phải theo đến độ một số người đứng đắn cũng lảng tránh không muốn làm, quay ra viết về đủ thứ khác.
Tôi cũng là một người sống qua thời chiến và quá quen với kiểu viết chiến tranh thời nay khiến cho bây giờ gần như chai sạn và nhiều phen tự nhủ thôi bàn gì thì bàn chứ chẳng hy vọng gì nữa. Nay đọc thêm một bài có cái giọng hơi khác như của Phan Khôi tự nhiên lòng dạ cứ ngổn ngang là vậy.
--
Một liên tưởng nữa đã đến khi tôi đọc bài viết về mồ mả của Phan Khôi đó là một câu tổng kết về Quảng Trị mà tôi đã nghe được hồi vào vùng đất này những năm chiến tranh
"Lính nói về Quảng Trị: Tỉnh 6 vạn dân, thì 12 vạn lính. 1 tấc đất, 1 cân sắt. Sỏi đá ít hơn mảnh đạn."
Tôi đã đưa lại câu đó và cái tinh thần đó trong loạt bài mang tên Nhật ký Quảng Trị 7-9/1973 trong blog của tôi tháng 8 tháng 9 2018.
Hôm nay đây tôi lại nhớ tới câu nói đó như một minh họa thêm cho bài báo của Phan Khôi tám mươi sáu năm trước.
Thừa Thiên Huế cả hai ba trăm năm trước hay Quảng Trị 1973 chính là biểu tượng của cả nước vậy. Người chết nhiều hơn kẻ sống. Bởi người chết đã chết rồi chứ còn người sống trong những năm chiến tranh khốc liệt cũng đâu còn sự sống nguyên nghĩa và toàn vẹn.
***
(LNÂ) Hôm ở Huế, tình cờ nghe ai đó nhận xét trên đất vùng này thấy rất nhiều mồ mả. Bèn nhớ một bài tạp văn của Phan Khôi :
---
NGƯỜI CHẾT NHIỀU HƠN KẺ SỐNG
Cái đầu đề đó hiện ra ở dưới ngòi bút tôi hôm nay nhưng nó đến trong trí tôi từ chiều chủ nhật trước, sau một cuộc du lãm trên núi Ngự Bình.
Tội nghiệp cho tôi! Người ta đi chơi trên núi Ngự Bình thì sao họ thấy những cảnh gió mát, thông reo, trăng lên, khói tỏa là những cảnh nên thơ; mà còn tôi, vô duyên lắm thay, tôi không thấy những cái ấy mà chỉ thấy cái … chết!
Úi chà! Làm sao mà ở trên núi Ngự Bình trông xuống tôi thấy những mả là mả! Những cái bãi tha ma khuất đi dưới những trái đồi nhỏ làm mình ở trên cao trông xuống không thấy chẳng nói làm chi. Chỉ kể những bãi tha ma trông thấy rõ lắm cũng đến mươi cái là ít, mà số mả thì ôi thôi, không biết bao nhiêu mà kể.
Tôi thâu lại một con số rất nhỏ, cho đi rằng mười vạn nấm mồ. Thế cũng còn nhiều hơn số người hiện sống ở Kinh thành đây đến gấp tư gấp năm.
Người chết nhiều hơn kẻ sống là một cái hiện trạng đáng buồn cho người thấy nó.
Thình lình tôi hỏi tôi một câu trong lúc bất ngờ: Bởi sao ở chỗ Kinh thành lại có nhiều người chết thế kia?
Phải chăng chỗ này là chỗ danh lợi để nhử khách bốn phương: họ đến đây tranh đoạt cùng nhau cho chán rồi rốt cuộc rủ nhau ra nằm ở nơi đất sỏi cây cằn, chung quanh núi Ngự Bình trông xuống?
Phải chăng từ hơn ba trăm năm nay, chỗ này làm chỗ giành nhau, trước hết là Nguyễn với Trịnh, giữa là Nguyễn với Tây Sơn, sau là người Nam với người Pháp, rồi rốt lại chỉ còn nhắm xương tàn vùi trong những cái bánh dầy bằng đất để làm cảnh bằng điếu cho khách du quan?
Phải chăng bên cạnh cái cao quý, cái trọng vọng, cái vinh hoa, thì luôn luôn có cái thối tha, cái thảm sầu, cái vô danh vô vị?
Phải chăng gần với cái hách dịch là cái điêu tàn, tiếp sau cái sống lẫy lừng là cái chết ủ dột?
Số người chết mà nhiều đến gấp tư gấp năm như thế, làm cho tôi biết quả rằng sự sống của người sống ở đây là không vững chút nào. Họ chạy đằng nào cho lọt ra ngoài cái số chết gấp tư gấp năm ấy được?
Đã thế thì làm quái gì với cái hách dịch? Mà sống cho thật lẫy lừng chăng nữa, trong mươi, mười lăm năm tới đây cũng chẳng còn lẫy lừng với ai?
Tôi thấy cái cơ nguy của bao nhiêu người sống ở đây!
Tôi còn thấy cái cơ nguy hơn nữa của bao nhiêu người sống ở đây mà sống một cách hách dịch lẫy lừng, vì những người ấy chiếm một số rất ít!
Tôi cũng thấy cái cơ nguy của tôi nữa, vì tôi cũng là một trong đám người sống ở đây và tranh danh đoạt lợi!
Biết đâu vài mươi năm nữa lại chẳng có người như tôi, lên trên núi Ngự Bình trông xuống mà bằng điếu những nhắm xương tàn vùi trong cái bánh dầy bằng đất lại còn nhiều hơn ngày nay, mà trong đó có những người sống tầm thường, có những người sống lừng lẫy, có cả tôi!
SAO ĐUÔI
Nguồn:
Tràng An, Huế, s. 53 (30 Août 1935), tr. 2
Trần Mạnh Hảo (2014)
NHÂN CÂU CHUYỆN NGƯỜI LÍNH BUỒN TRONG THƠ VĂN LÊ
Ngày 24 tháng 3 năm 2025
-
Đọc stt của tôi về bài thơ Xuân vọng của Đỗ Phủ, bạn Phạm Hồ Thu đã có comment như sau:
Cái tâm tư ấy, cái tâm hồn ấy, ở ta, cũng có nhiều người viết đấy, nhà phê bình ạ, dù không viết giỏi như bậc thầy đã viết. Thế hệ chống Mỹ lớp sau đã viết khác lớp trước rất nhiều, dù cùng viết về chiến tranh.
Chịu khó đọc rộng một chút, ra ngoài những tên tuổi quá quen thuộc.
Xin thành thật cảm ơn nhà thơ. Tôi nghĩ cái việc cần thiết ấy riêng tôi đã và đang có nhiều bạn khác cùng làm, chúng ta nên sưu tầm đầy đủ. Sau đây là một bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo mà tôi đã sưu tầm từ mấy năm trước. Bài đã đưa trên blog cá nhân tôi ngày 22-01-2025.
*
Trước và sau tiểu thuyết nổi tiếng: “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, văn học dòng chính thống của chế độ đương thời, chừng như chưa có tác phẩm nào dám dựng chân dung buồn đau tới tận cùng của người lính chiến?
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, câu thơ của Phạm Tiến Duật có thể đại diện cho hình ảnh người lính chiến đi vào chỗ chết trong văn học mà vui như tết, mà vỗ tay vỗ chân hát hò mê sảng hơn trúng số !
Rất lạ, năm 2013, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân đã cho xuất bản tập thơ “ Vé trở về” của nhà thơ, nhà văn, nhà biên kịch điện ảnh, đạo diễn Văn Lê với hình ảnh người lính buồn từ A tới Z.
Người lính của thơ Văn Lê khác một trời một vực với người lính của Phạm Tiến Duật, khi anh được giấy gọi đi bộ đội vào miền Nam chiến đấu:
“Anh nhìn con dấu đỏ tươi trên lệnh động binh
Lòng trống vắng như vòm trời không đáy
Cánh đồng ngơ ngẩn buồn
Anh cũng ngơ ngẩn buồn trong váng nắng chiều sót lại”
Quê hương người lính không phải là thiên đường xã hội chủ nghĩa như tuyên truyền, mà là một cảnh loạn lạc, bi ai, tráo trở, buồn thương của đám tang cha mẹ:
“Rắn rết trong hang bò ra đầy ngõ
Náo loạn làng quê chó sủa
Náo loạn bầu trời vẩn vũ chim bay
Cuộc trở mình của tự nhiên diễn ra giữa ban ngày
Mọi trật tự bỗng nhiên gãy đổ
Sông suối thay lòng đổi dạ
Cuộc đưa ma tại làng quê nhức nhối tiếng gọi hồn”
Người lính trong thơ Văn Lê ra trận trong nỗi buồn sầu thảm :
“Đồng chiều ngơ ngẩn buồn
Anh ngơ ngẩn buồn bước về quá khứ
Ở đâu đó giữa hoang vu chợt cất lên tiếng thánh ca âm u khổ sở
Âm u khổ sở tiếng thánh ca của muôn loài sinh vật tiễn đưa anh”
Hãy nhìn hình ảnh người em gái cô đơn tiễn anh ra trận:
‘Em gái anh
Dáng như bà già
Khoác chiếc áo tơi mỏng manh như món đồ dễ vỡ
Nó đứng chờ anh ở ngay đầu ngõ
Miệng cười lóe vệt trăng non”
Và người lính ấy mang nỗi buồn vô tận vào cuộc chiến để chết buồn như chiếc lá :
“Câu chuyện về người lính hy sinh buồn như lá thu bay”
Các anh đã chết cho cái gì vậy :
“Những năm chiến tranh đất nước gieo neo
Giấy báo tử về làng như lá rụng
Khủng khiếp nhất là phải làm người sống
Sáng mở mắt ra đã nơm nớp trong lòng”
Hãy đọc tiếp niềm đau buồn của thơ Văn Lê khi anh tả nỗi buồn cô đơn của cô em gái –người thân duy nhất còn sót lại của người tử sĩ buồn:
“Ngày anh trai hi sinh bến nước bơ vơ
Cô chẳng còn ai mà chờ đợi nữa
Mọi trật tự trong cô sụp đổ
Cô lang thang cuối đất cùng trời
Xác xơ như bà lão ăn mày
Vô cảm như người điên ngoài chợ”
Cô gái đi tìm người anh đã chết trận như một người điên, trên quê hương điên, với những lý tưởng viển vông điên dại ai mang đến lừa mị quê hương :
“Những hi vọng tìm anh sau chiến tranh
Tràn ngập trong cô như nước mùa tháng tám
Xé lòng cô như cánh đồng gặp hạn
Ăn mòn cô như nắng lột da người”
Những người lính sinh Bắc tử Nam , chiến đấu để giải phóng nhân dân, để xây thiên đường xã hội chủ nghĩa ư ? Hãy nhìn đáp số cuộc chiến tranh chết hàng chục triệu người qua những dòng thơ Văn Lê viết về nỗi buồn lính :
“Quê anh bây giờ lôm nhôm lam nham
Anh ngắm nhìn mà thương con mắt
Những bức tường đá xanh biến mất
Nhường chỗ cho những ngôi nhà mái bằng nép sát vào nhau
Cao thấp nhấp nhô như người bị chắt đầu
Chẳng tìm đâu ra những mái nhà đội nón
Cuộc sống dường như đảo lộn
Chẳng còn ai vướng bận đến quá khứ xa xưa
Có lẽ vậy nên làng anh bây giờ
Cuộc sống mất đi cái hồn cái vía…”
Chao ôi, hàng triệu người lính đã chết trận để sau ngót bốn mươi năm, quê hương ta chỉ còn là cái xác không hồn? Những câu thơ Văn Lê bình dị, lắng đọng, sâu xa mà như một lời lên án bọn đầu nậu chiến tranh đã dùng máu mấy triệu người để làm cuộc buôn lớn có tên là cách mạng. Hãy nhìn xã hội tham nhũng vô phương cứu chữa, kẻ cầm quyền giàu có hóa thành tư bản để vô sản hóa nhân dân, tiếp tục cho nhân dân ăn bả lừa thiên đường thiên điếc. Nhà thơ quân đội, nhà văn cách mạng, nhà biên kịch đạo diễn có hạng Văn Lê đã vượt lên trước đội hình nhà văn lề phải để lý giải, để thúc giục nhân dân tỉnh ra sau khi bị ăn bả cách mạng thành ngớ ngẩn, thành mất trí :
“LÀNG QUÊ U U MÊ MÊ
NGƯỜI TA NHƯ ĂN CHÁO LÚ”
Cám ơn thi sĩ Văn Lê đã gọi sự vật bằng tên của nó, khi ông đanh thép tố cáo “trò lừa lý tưởng” cho dân ăn cháo lú của những ông lú cầm quyền :
“ Họ ( nhân dân –chú của TMH) lao ra bến sông bãi chợ
Giành giật miếng ăn của nhau
Chợ quê tràn ngập đồ Tàu
Chẳng thiếu thứ gì, ngoại trừ đồ thật !”
Thật đau thương cho một nhân dân sau khi đã cống hiến hàng triệu con em làm vật hiến tế hi sinh cho các cuộc chiến vì lợi ích ngoại bang như lời cố tổng bí thư Lê Duẩn từng nói : “ Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”, như lời thơ Tố Hữu : “Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”…lại được trả công bằng hàng giả cả từ tinh thần đến vật chất thế này ư ?
Văn Lê lý giải hiện tượng làng anh tha hóa, mất hết hồn dân tộc, đang tan tác như đám gà gặp cáo chỉ vì thờ sai thần, vào nhầm miếu:
“CÓ NGƯỜI BẢO DÂN LÀNG ANH NHƯ THẾ
ĐÃ VÀO NHẦM MIẾU LẠI CÚNG NHẦM THẦN”
Đọc đến đây, ai là người còn tấm lòng với đất nước đều hiểu nhà thơ Văn Lê không chỉ nói làng anh, mà nói dân tộc anh đã thờ nhầm thần Marx –Lenin, đã vào nhầm miếu cộng sản nên đất nước mới thành ra tan nát thế!
Sau khi thống nhất đất nước, Văn Lê rủ chúng tôi từ Sài Gòn ra Bắc về thăm quê hương (Hà Nam Ninh) sau ngót mười năm xa vắng. Chia tay ở thị xã Ninh Bình cuối năm 1975, hai đứa chúng tôi vào một quán phở mậu dịch.
Bát phở được bưng ra, chúng tôi cầm thìa lên múc phở nhưng thìa chảy hết nước ra ngoài, không thể ăn được. Mọi người bảo hai chú bộ đội từ chiến trường ra à, rằng thìa ở đây đã được cấp ủy duyệt cho cửa hàng phở lấy đinh đục nát thìa ra lỗ chỗ như hố bom để cho nhân dân chúng nó không còn ăn cắp thìa mang về nhà làm của riêng được nữa.
Văn Lê ngồi khóc.
Sài Gòn ngày 30 tháng tư năm 2014
==
Đưa lại một bài trên Fb của tôi bốn năm trước
CHẲNG NHẼ TOÀN LÀ CHUYỆN CŨ?
Ngày 28 tháng 3 năm 2025
Nhân đọc lại “Xin chữ cụ Nghè”, một truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (1932) tôi tự hỏi như vậy. Và tôi cũng nghe đâu đó một câu trả lời: KHÔNG! Ngày nay, những hình thái cũ xuất hiện mang bộ măt BẠO LIỆT hơn. VÀ ĐÓ CHÍNH LÀ CÁI MỚI
************
Chưa có bao giờ như những ngày này mỗi sáng thức dậy, tôi cảm thấy cả những trang tin tức thời sự lẫn những trang sách văn chương đổ đống trước mắt tôi, tôi cần phải đọc chúng, để rồi nhiều ngày tôi sống trong hỗn loạn, đến nỗi muốn từ bỏ tất cả.
Một điều đặc biệt là đối chiếu với hiểu biét của một người đã trên tám chục như tôi, thì rất nhiều khi tôi bị choáng ngợp vì cái mới.
Có đúng như thế không?
Tôi đành quay về với một số trang văn chương thời cũ.
Hôm nay tôi tự nhiên nhớ tới Nguyễn Công Hoan (1903-1977).
Ở trường phổ thông, chúng tôi được biết tới Nguyễn Công Hoan qua tiểu thuyết “Bước đường cùng”. Những năm học ở Đại học Sư phạm Vinh trong phần văn học tiền chiến học với thầy Nguyễn Đăng Mạnh, tôi được nghe nói nhiều hơn về Vũ Trọng Phụng, về Nam Cao, chứ không phải là về Nguyễn Công Hoan.
Sau này về công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội và Nhà xuất bản Hội nhà văn nghĩa là sống với giới văn nghệ, tôi cũng chẳng mấy khi được nghe các nhà văn đồng nghiệp bàn luận về nhà văn lão thành ấy, hoặc có nghe thì chỉ thấy nói ông là người thích bông đùa, coi sự đời chẳng có gì là quan trọng.
Các tiểu thuyết “Hỗn cảnh hỗn cư”, “Đống rác cũ” bị phê phán. Cuốn hồi ký “Đời viết văn của tôi” không mấy ai để ý. Mấy trăm trang “Nhớ gì ghi nấy” lúc đầu chỉ được in một phần nhỏ lấy tên là “Nhớ và ghi”…
Tôi ngờ rằng nhiều sinh viên khoa văn các trường đại học hiện nay khi được hỏi “Nhà văn Nguyễn Công Hoan có những truyện ngắn nào đáng chú ý?” sẽ khá lúng túng. Ấy vậy mà hôm nay trong cái mệt mỏi của một người bị choáng ngợp vì những cái mới mà báo chí và văn chương rao giảng như tôi nói trên, tôi lại nhớ một số truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, vì các truyện ấy phần nào có cái khả năng người ta gọi là chung đúc sự đời, thế sự.
Tôi không có các văn bản truyện trong tay nên chỉ ghi theo trí nhớ, mong được tha thứ.
HAI TÁC PHẨM VIẾT VỀ CÁI MỚI
của Nguyễn Công Hoan
1/ Truyện ngắn “Đào kép mới”.
Trước cách mạng, thường có nhiều gánh hát rong. Họ đi diễn qua các làng xóm và dừng lại lâu ở các phố huyện. Tối diễn thì ban ngày một vài diễn viên thường ngồi xích-lô đi quảng cáo, và với những vở diễn đã quá quen, thì họ chỉ có cách là lần này có những diễn viên mới tức là đào kép mới. Thiên truyện vạch rõ cái điều đơn giản, làm sao mà có diễn viên mới được, chẳng qua chỉ là một sự xáo trộn đơn giản đổi người đóng vai này sang vai khác và ngược lại.
2/ Truyện ngắn “Xin chữ cụ Nghè”.
Tục phúng viếng người quá cố ở các làng xóm ngày xưa thường kèm theo những câu đối, những lời chia buồn ngắn gọn và sâu sắc nhất. Chẳng hạn, có câu “Hạc giá tiên du”. Nhưng ở một số trí thức trẻ cũng đã sớm xuất hiện một xu thế là chán ngán những câu phúng điếu thường dùng. Lần ấy họ tìm thấy một phương án tối ưu, là gặp một cụ Nghè – đây là cách gọi dân gian để chỉ những người đã đỗ tiến sĩ. Cụ làm ra bộ rất trịnh trọng. Viết xong lại còn cắt nghĩa cho mọi người về cái sự tìm tòi nghiêm chỉnh của mình. Hóa ra vẫn chỉ là bốn chữ “Hạc giá tiên du” cũ rích.
Truyện đầu tôi chưa tìm thấy văn bản. Chỉ có truyện ngắn “Xin chữ cụ Nghè” tôi tìm thấy trên mạng, mời các bạn cùng đọc.
...
XIN CHỮ CỤ NGHÈ
Nguyễn Công Hoan
Gần chỗ tôi ở, có một cụ Nghè, đỗ khoa nào tôi không rõ. Cụ Nghè nổi tiếng là hay chữ. Những thơ phú, câu đối, cụ làm ra, toàn là chữ nho cả, tôi ù cạc như vịt nghe sấm, nhưng thấy người vùng này thuộc nhiều và đều phục là hay lắm.
Làng cụ ở cách nhà tôi độ ba cây số. Những ngày rỗi việc, tôi thường đi lại để được hầu chuyện cụ. Vì tính cụ vui vẻ, dễ dãi, nhất là tiếp đãi tôi, thì bao giờ cũng một cách đặc biệt. Thường cụ vẫn bảo tôi rằng nếu có cần việc gì về chữ nho, thì cụ sẵn lòng giúp.
Tôi vâng dạ, nhưng chửa có dịp nào được phiền đến cụ, vì chửa có dịp nào phải cần giao thiệp bằng chữ nho. Nhiều người cứ xui tôi xin cụ đôi câu đối, nhưng tôi không muốn. Vì vẫn biết cụ sẵn lòng cho, nhưng chính mắt tôi thường trông thấy phàm ai muốn nhờ vả cụ về chữ nghĩa, đều phải có đem hoặc cành cau, hoặc gói chè, hoặc có khi cả đồng bạc nữa, để biếu cụ. Chứ không ai chơi cái lối "nước dãi" bao giờ. Như thế thực là phải. Cho nên, chẳng lẽ bây giờ mình nhờ cụ, mà cũng xử như người ta, đem gì đến, thì sợ cụ cười rằng trẻ con không biết gì. Nhưng nếu ngộ không tạ cụ bằng thức gì, thì cụ lại chẳng bằng lòng vì cách "tây" quá ấy chăng. Bất nhược chẳng phiền cụ cho xong quách.
Một hôm nhận được giấy cáo phó của một người bạn thân báo tin ông cụ thân sinh mới tạ thế, tôi cùng vài người anh em định rủ nhau sửa đồ phúng chung.
Ngày thường, chúng tôi vẫn nghe lỏm nhiều người nói chuyện rằng phúng đám ma các cụ già, người ta hay dùng bốn chữ Hạc giá tiên du. Chúng tôi định thửa ở hiệu bốn chữ ấy. Nhưng mặt chữ không thuộc, nên không biết viết thế nào. Mà đành phận chữ chi là cò cũng không biết, thì thà chịu dốt còn hơn. Vả lại bốn chữ sẵn này, tuy hợp nghĩa, nhưng nó cũ rích, lại chẳng hay ho gì, không đủ tỏ được cái tình thân mật của chúng tôi đối với hiếu chủ. Chúng tôi bèn quyết không dùng mấy chữ sáo Hạc giá tiên du ấy nữa. Nhân có cụ Nghè ở gần, chi bằng chúng tôi lại xin ngay chữ cụ, tất được hay lắm.
Chúng tôi biết tính cụ Nghè thích đánh chén, mà xưa nay chúng tôi lại chưa được dịp vào hầu rượu cụ, nên nhân việc này, chúng tôi mời cụ đến xơi cơm, rồi nói chuyện xin chữ cho tiện.
Dặn dò người nhà làm cơm và mua rượu xong, chúng tôi cùng thân hành đến nhà cụ Nghè để đón cụ. Hôm ấy, được ngày cụ thong thả và mát trời, nên cụ đi ngay.
Cơm xong, tôi nói:
- Thưa cụ, tiện đây, chúng con có một việc muốn phiền cụ.
- Hừ! Các ông lại muốn nhờ làm câu đối chứ gì?
- Dạ.
- Thế thì việc quái gì phải bày vẽ ra như thế này cho thêm tốn?
- Bẩm có gì là bày vẽ. Chúng con chủ ý mời cụ quá bộ đến xơi cơm để chúng con được hân hạnh hầu rượu cụ mà thôi.
- Câu đối gì?
- Bẩm câu đối phúng.
- Phúng ai.
- Bẩm phúng ông thân sinh một người bạn thân.
- Được! Đem giấy, bút, mực ra đây.
Chúng tôi đưa lọ mực tây và bút sắt. Cụ không nghe, cười:
- Tôi có quen dùng những thứ này đâu?
Chúng tôi bèn chia nhau đi mượn cho đủ bộ. Khi thấy mang về, cụ bảo:
- Mài mực đi. Ông đổ ít nước lã vào đây, rồi mài thoi mực này mươi vòng vào chỗ này, khi nào đen thì thôi.
Chúng tôi vâng lời cụ. Khi mực mài xong, cụ để các đồ dùng trước mặt, lên ngọn kính, rồi hỏi:
- Viếng ông cụ thân sinh ra bạn thân phải không?
- Dạ.
- Ông cụ ấy bao nhiêu tuổi?
- Bẩm ngót bảy mươi.
- À thọ nhỉ? Con cháu khá cả đấy chứ?
- Bẩm vâng.
- Ông cụ ấy còn cha mẹ già không?
- Không ạ.
- Bà cụ còn chứ?
- Dạ.
- Được. ấy, phải biết đủ như thế, mới có thể giãi tỏ hết cả tấm lòng mình được.
Cụ nằm phục vị trước tờ giấy, chống tay vào cằm, nghiêm nét mặt lại, rồi rung đùi, cơ chừng để nghĩ. Chúng tôi ngồi chắp tay, yên lặng cả, để khỏi làm rối mất mối văn chương của cụ Nghè.
Một lúc, cụ ngồi nhổm dậy, nói:
- Mà cần gì phải câu đối? Bây giờ những đám ma văn minh người ta có hay dùng câu đối nữa đâu? Để tôi nghĩ cho bốn chữ rõ hay, các ông có bằng lòng không?
- Dạ!
- Được.
Cụ lại phục vị, cầm bút chấm vào nghiên, xoe ngòi cho tròn rồi viết. Chúng tôi châu đầu cả vào để nhìn tay cụ.
Đầu tiên, cụ nắn nót viết một dòng chữ về mé tay phải ở tờ giấy, chỗ đề niên hiệu:
Bảo Đại Nhâm thân niên trọng hạ nhật.
Rồi cụ đưa phắt tay sang mé trái tờ giấy, viết luôn một dòng chữ nữa đề lạc khoản:
Tử chấp: Trần Văn X, Trịnh Hữu Y, Nguyễn Mạnh Z, đồng trang vãn.
Cụ hỏi:
- Có phải tên các ông viết thế không? Dòng bên kia là đề ngày, tháng, năm đấy.
- Dạ.
- Tử chấp nghĩa là hàng con, các ông cũng vào hàng con cụ ấy.
- Dạ.
Chỗ giữa vẫn còn để trống. Cụ lại hỏi:
- Ông cụ có phải không nhỉ?
- Dạ.
Lúc ấy cụ lại ra dáng nghĩ ngợi hơn, gục hẳn mặt vào bàn tay và rung chân mạnh hơn trước. Rồi ngẩng dậy, cụ đặt bút, chấm vào mực, lăn mãi ngòi vào nghiên. Chúng tôi lại phải im phăng phắc, không dám thở mạnh để cụ loạn trí, mất chữ hay, chăm chăm con mắt nhìn theo tay cụ.
Độ năm phút sau, cụ đặt bút xuống chiếu, gãi chân, rồi kêu nực, chúng tôi quạt hầu. Cụ cầm bút rồi rung đùi. Một chốc, cụ lại xoay bút, không rung đùi nữa, đặt hẳn ngòi trên mặt tờ giấy, đưa đi đưa lại cái quản, ngoáy ngoáy trên không để lấy gân, rồi dí hẳn xuống, nắn nót, viết bốn chữ nét rậm rì to tướng.
Viết xong, cụ nhổm phắt dậy, trỏ vào từng chữ mà giảng cho chúng tôi được hiểu thấu cái hay. Cụ Nghè giảng rằng:
- Hạc là con hạc, giá là xe, tiên là cõi tiên, du là chơi, các ông hiểu chưa?
Hiểu rồi, chúng tôi lườm nhau, chỉ sợ có anh nào cười thì chết!...
-Annam tạp chí số 45, 1932
----------------------------
ĐOẠN KẾT
Thế có phải trên đời này chẳng có gì mới như NCH phác họa?
KHÔNG! Ngày nay, những hình thái cũ xuất hiện mang bộ măt BẠO LIỆT hơn. VÀ ĐÓ CHÍNH LÀ CÁI MỚI
Một bài viết của tôi đưa từ 2016. Nếu lướt qua thì xin đừng quên mấy câu mới viết ở cuối bài.
VĂN HÓA SÁCH VÀ QUAN HỆ THẾ HỆ Ở HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAM
Ngày 30 tháng 3 năm 2025
--
Mạng RFI 19-3 2016 cho biết báo Pháp l’Express có bài "Triều Tiên, xứ sở của những người có học thức."
..
Tôi trích hai đoạn:
+ Nhân sự kiện từ ngày 17 đến 20 tháng 3, 30 tác giả Hàn Quốc được mời là khách đặc biệt tham gia triển lãm sách tại Paris. , L’Express có bài phỏng vấn chuyên gia về văn hóa Hàn Quốc Martine Prost.
Bà giới thiệu Triều Tiên - là một đất nước châu Á có truyền thống sâu đậm. Với người Hàn Quốc thì tiêu chí tuổi tác được đặt lên hàng đầu. Người lớn tuổi phải được tôn trọng, một biểu hiện của sự tôn trọng đó là không được đặt người lớn tuổi hơn mình vào việc đã rồi.
+ Về đời sống văn hóa, bà Martine Prost cho biết người Hàn Quốc chịu khó đọc sách nhất thế giới. Nếu không muốn mất mặt hay xấu hổ trong khi giao tiếp với người hàng xóm thì một người Hàn Quốc phải biết ít nhất một vài cuốn sách. Ngay cả những người nghèo nhất cũng rất chịu đọc sách báo.
--
Tạm coi những thông tin trên là chân thực, đọc xong tự nhiên tôi nẩy ra một ý tưởng vui vui.
Tôi tự đặt ra một câu hỏi "Nếu cần viết một bản tin tương tự về văn hóa Việt thì lúc này đây, 3- 2016, mình sẽ viết như thế nào?"
Đây là bản tôi đề nghị, các bạn xem hộ:
Nhân triển lãm sách tại Paris, người ta đã đề nghi ban tổ chức tính việc mời một số tác giả VN tham dự, nhưng được trả lời rằng cũng có vài ba nhà văn VN có sách in ở Pháp đấy, nhưng trừ một vài trường hợp đặc biệt ,sách họ thường phổ biến trong phạm vi hẹp, bởi không mấy khi đến được cả với giới trí thức ưu tú cũng như bạn đọc đông đảo.
Và sẽ là không thích hợp nếu mời họ tham dự vào hội chợ sách: họ không có tác phẩm nào mới gây được chú ý như cả chục năm trước.
Người ta được biết người Việt cũng rất tự hào về truyền thống của cộng đồng, nhưng chỉ là truyền thống chống ngoại xâm chứ không phải trong các tiêu chí xã hội thông thường.
Mối quan hệ người già và lớp trẻ ở VN sau chiến tranh luôn bế tắc.
Trong các gia đình, lớp trẻ hiện nay oán trách lớp già là cổ hủ không biết xoay xỏa kiếm sống và tin rằng cần phủ định lớp già hoàn toàn.
Trong thực tế, lớp già tuy cổ hủ nhưng còn biết điều và biết sợ. Lớp trẻ hiện nay đa số coi việc phá cách làm liều...là phẩm chất đáng tự hào và sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.
Trong việc lập gia đình riêng, người trẻ thường tự quyết định tất cả. Cái chuyện bên Hàn quốc “không bao giờ đặt người già vào việc đã rồi” ở VN cần đảo ngược theo nghĩa đen.
Một câu thành ngữ đã được đúc kết: “con cái đặt đâu bố mẹ ngồi đấy”.
--
Về chuyện đọc sách, số lượng sách in và được đọc ở VN, có lẽ thuộc loại thấp nhất thế giới (?).
Về sức đọc của người dân, thống kê của các cơ quan văn hóa mà báo chí đăng lại 12 - 4 -2013 cho biết tính ra người Việt một năm chỉ đọc 0,8 cuốn sách. Mấy năm nay có khá hơn, nhưng chắc không bao nhiêu.
Chưa có thống kê về việc đọc sách của người giàu cũng như người nghèo, song có phần chắc sự khác nhau không đáng kể , bởi phần lớn số người giàu phất lên không phải là nhờ tài năng hay trí tuệ gì mà chỉ là nhờ giỏi xoay sở và biết lợi dụng các mối quan hệ làm ăn.
Ngay các nhà văn nhà báo cũng ít đọc. Do không biết ngoại ngữ, phần lớn họ chỉ đọc phần sách dịch vốn rất tạp nham mà giới dịch thuật non kém và giới xuất bản vốn mỏng làm ăn cò con ...dọn sẵn cho họ.
Các luận án sĩ tiến sĩ thạc sĩ được hoàn thành với số tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt dùng ở nội địa, và số lượng cũng ít đến thảm hại . Các văn bản gọi là công trình nghiên cứu đó phần lớn làm xong cất ngăn kéo.
Sách khoa học xã hội gần như không bao giờ trở thành mặt hàng người ta tìm kiếm ở các hội chợ sách.
Khẩu hiệu để các hội chợ sách chèo kéo người đọc thường là “Sách đang hạ giá”.
Trong mối quan hệ giữa người và người, việc đọc sách không bao giờ là tiêu chuẩn để xem xét đánh giá. Hồi chiến tranh, ở Hà Nội, người ta còn tự hào là mình không cần đọc, nhà văn mà đọc lắm sẽ bị ảnh hưởng người khác.
Vả chăng với nhiều người Việt hiện tại, các khái niệm xấu hổ, mất mặt... khá xa lạ, nói chi là mất mặt xấu hổ vì không đọc sách.
...
Bài báo trên l’Express nói trên có tên là "Triều Tiên, xứ sở của những người có học thức".
Tôi ngần ngại không dám viết ra đây cái tên định đặt cho mẩu tin vừa nghĩ , nhưng chắc các bạn đều hiểu.
------------------
MỘT ĐIỀU VỀ CHUYỆN ĐỌC SÁCH CẦN BỔ SUNG NGAY
Hiện đã hình thành một bộ phận trẻ đọc nhiều đọc thẳng từ sách báo nước ngoài và đã dùng sách vở để tác động tới xã hội.
Đây là điều tôi không nắm được.
Nhưng đại thể thì vẫn thế dù rối rắm khó lý giải.
MỖI NGƯỜI TỪNG TRẢI QUA CHIẾN TRANH SẼ CÓ CÁCH KỶ NIỆM NGÀY 30-4 CỦA MÌNH
Ngày 31 tháng 3 năm 2025
--
Bài tôi chia sẻ dưới đây là một ví dụ.
Nếu được đẩy tới cùng, còn có thể nói là chúng ta đang chuẩn bị cho MỘT BỘ SỬ KHÁC VỀ CHIẾN TRANH VÀ HẬU CHIẾN, một bộ sử của những người trong cuộc, những người "bằng đôi vai trần của mình gánh vác chiến tranh"
-
Tác giả: Sơn Vũ
-
Đọc lại,
CHUYỆN CŨ KỂ LẠI...
(chuyến đi phép đầu tiên sau 30-4)
Giữa năm 1977 tôi được về phép thăm nhà! Hồi ấy, được về phép thăm nhà với chúng tôi, lính 74 đoàn Hải Phòng chẳng khác gì trúng vé số. Tôi sở dĩ có được tấm vé số ấy cũng do may mắn…
Từ rừng Bù Đăng chúng tôi-những anh em được đi phép đợt ấy theo xe về Phước Long, nơi sư đoàn bộ đóng quân và lên xe về Tổng kho Long Bình, Biên Hoà.
Tổng kho Long Bình hồi ấy là trạm trung chuyển khách khổng lồ ở phía nam, nơi tập trung sĩ quan, hạ sĩ quan các đơn vị chờ ngày lên tàu xe ra Bắc. Bên ngoài cổng, từ ngày Tổng kho là trạm khách đã thành một cái chợ tạm, ở đó có thượng vàng hạ cám các món đồ được mang ra bày bán cho các chú, các anh bộ đội đang nằm chờ tàu xe ra Bắc !
Lính tráng ngày ấy nghèo, phải nói là nghèo xơ, nghèo xác, đồ đoàn đi phép nhiều nhất là hai ba lô, quà cáp quanh đi quẩn lại là cau khô, giày dép, búp bê...nhưng nhiều nhất là khung xe đạp. Mấy anh em chúng tôi thuộc trung đoàn 88, cùng quê Hải Phòng cũng nằm trong số lính nghèo, ít tiền nên chỉ ra chợ ngoài cổng, đứa mua cau khô, đứa tìm kính mát nhựa màu, hoặc bút bic, dép sapo...Tôi cũng có hai ba lô, một ba lô đựng quần áo, còn chiếc kia chứa sách: hai bộ sách học tiếng Anh ENGLISH FOR TODAY của Lê Bá Kông, mấy cuốn thơ tiền chiến của Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh..., cả cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh mua với giá 500 đồng tiền mới, số tiền nhuận bút do tôi viết bài cho báo Phụ nữ Sài Gòn và...hai bọc cau khô. Sau này khi xuống tàu ở ga Hàng Cỏ đi bộ ra bến Nứa, tôi nhận ra một điều là bọn tôi nghèo hơn tất cả, không đứa nào có khung xe đạp hay có búp bê cột trên ba lô?
(Những người đi phép mang nhiều đồ chủ yếu là cán bộ, sĩ quan. Ngoài ba lô, họ còn đóng đồ trong thùng gỗ, thùng sắt, nhiều người có đến hai, ba cái, một số người mang cả xe Dame, xe 67, xe mobilet, xe đạp, đầu và chân máy may về Bắc...)
Xe chở bộ đội đi phép ra Bắc lần ấy là xe tải của các đoàn Phi Long, Phi Hổ của người Sài Gòn, được lắp thêm băng ghế hai thành xe, trên mái và hai bên phủ bạt. Nghe nói việc trưng dụng bên ngoài vào chở bộ đội đi phép là do lái xe bộ đội chưa quen lên đèo, đổ đèo, còn các lái xe của Phi Long, Phi Hổ hầu hết ở tuổi trung niên, nhiều kinh nghiệm. Theo lời một bác tài, ở trong này, tức chế độ cũ lái xe chở khách, lái xe đường dài ngoài việc có bằng tương xứng, phải ở độ tuổi từ 35 trở lên mới được ôm vô lăng, cầm tài. Lúc ấy nghe nói thế thì biết thế, nhưng đến khi lên xuống các đèo Hải Vân và Cù Mông mới thấy cần sự kinh nghiệm của lái xe thế nào! Trước khi lên đèo, xe dừng nghỉ kiểm tra về kĩ thuật, lên đỉnh đèo cũng vậy rồi mới được đổ đèo, còn khi xe lên xuống mấy lơ xe xuống đường tay ôm khúc gỗ vuông chạy theo hai bên, khi xe dừng lại là chèn khúc gỗ vào bánh xe! Còn ở trên xe, bọn tôi kéo bạt nhìn ra hai bên, mây trắng nhờ từng dải vờn quanh, thỉnh thoảng lại có một chiếc miếu thờ những người bỏ mình do xe lăn xuống vực, mặt đứa nào cũng đổi sắc, không trắng nhợt thì xanh xám, chỉ đến khi xe đổ hết đèo mới thở ra nhẹ nhõm...
Các trạm dừng dọc đường là doanh trại hay căn cứ của quân đội Sài Gòn cũ được trưng dụng, như trạm Phan Rang chúng tôi ngủ đêm ở sân bay, trong các nhà dài mái vòm vốn là nhà chứa máy bay, ở Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế cũng là các doanh trại lính trước kia...
Trạm cuối cùng của xe tải là trạm Vinh, từ đây chúng tôi lên tàu ra Hà Nội! Ngồi trên tàu từ Vinh ra Hà Nội, tôi bâng khuâng nghĩ, thế là kể từ ngày lên đường vào nam, đến nay chúng tôi đã khép kín một vòng tròn: Cuối năm 1974 đầu 75 lên tàu từ ga Gôi vào ga Vinh và từ đây lên xe tải vào nam, gần ba năm sau chúng tôi lại ngồi xe tải từ nam (Sài Gòn) ra ga Vinh. Chỉ khác lần đi vào chúng tôi ngồi xe Giải Phóng, xe Zin do bộ đội lái đi đường 559-Trường Sơn, còn bây giờ chúng tôi đi ra theo Quốc lộ Một và ngồi xe tải do dân Sài Gòn chở!
Xuống tàu tại ga Hàng Cỏ vào lúc quá trưa, chúng tôi vội vàng kéo nhau ra bến Nứa mua vé xe về Phòng. Một điều rất dễ nhận thấy lúc ấy là sau ngày 30-4-75 gần ba năm, người dân đã nhìn bộ đội từ nam ra phép với con mắt khác. Lúc ngồi tàu từ Vinh ra Hà Nội, hay khi đi bộ từ ga tàu ra bến xe, những người tiếp chuyện chúng tôi hầu hết chỉ chú ý hoặc hỏi có mang được gì ra không; hoặc khi nhìn tôi và vài đứa khác mang hai ba lô, cái trước ngực, cái sau lưng mấy cô gái bên đường vừa chỉ vừa reo ông kia có hai ba lô kìa, với vẻ ngưỡng mộ. Cảm nhận của chúng tôi không nhầm, trên xe khách khi tài xế kiểm đếm ba lô, những người có hai ba lô đều bị đòi thu cước, họ cho đấy là hành lý, hàng hoá. Chúng tôi phân trần giải thích mãi tài xế vẫn chưa chịu, khách đi xe cũng không ai có ý kiến để mặc cho mấy chú bộ đội và lái xe đôi co. Tôi tức quá, kéo hai ba lô xuống mở ra: một chiếc đựng quân tư trang, mấy bộ quần áo cũ; chiếc kia là sách với hai bịch cau khô và chỉ vào ngực mình, nói dằn giọng: hành lý, hàng hoá là cái gì, bộ quần áo tôi đang mặc đây có phải là hành lý, là hàng hoá không, nếu tôi hết tiền có thể lột ra bán được chứ? Mấy anh em có hai ba lô cũng mở cho mọi người trong xe xem hành lý của chúng tôi, những người lính từng đi vào cõi chết trở về, ngoài quân tư trang chỉ có vài bịch cau khô, mấy đôi dép da, dép nhựa màu. Tôi nhớ thằng Lộc, người núi Đèo, Thủy Nguyên đập đôi dép nhựa lên ghế, giọng như nghẹn lại, đây là dép tôi mua cho cháu, nó thích búp bê nhưng tôi không có tiền mua! Đây, hàng hoá của tôi đây, ai mua không, tôi bán!
Cuối cùng tài xế cũng phải bỏ ý định thu cước ba lô của chúng tôi...
Về đến Hải Phòng, chúng tôi không theo xe về bến mà xuống ở gần Bách hoá tổng hợp Hồng Bàng và đi bộ về đó. Một ngày trên đường, hết tàu hỏa lại xe khách, mặt mày đứa nào cũng phờ phạc vì mệt. Chúng tôi xuống ba lô, vứt thành đống trên nền gạch và kêu một thằng trông đồ, còn lại kéo nhau vào bách hoá, nơi người ta đang bán mỳ tôm và nước chanh đá. Gói mỳ tôm trong Sài Gòn khi đói bụng hết tiền có thể ghé nhà dân xin được thì ở đây bán 1 đồng hai hào một gói, tức cửa hàng lời rất nhiều mà lại là mì tôm không người lái, chỉ đổ nước sôi, ngoài ra không có thêm một thứ gì? Chúng tôi đã ngao ngán từ vụ cãi nhau trên bến Nứa, về đây lại càng ngán ngao hơn! Nhưng sự ngao ngán không dừng lại ở đó, đến khi chúng tôi mua nước chanh đá mới thật kinh khủng. Không có xếp hàng mà tất cả tụm túm vào một chỗ, cả rừng cánh tay đưa lên chĩa về phía cô mậu dịch viên cùng với nhao nhao tiếng người mà tôi nghe rõ nhất là tiếng thằng Lộc, cô ơi cô, cô bán cho cháu, rất khẩn khoản, thống thiết, lặp đi lặp lại, còn cô bán hàng gương mặt vô hồn, im lặng, lạnh tanh, tay đưa ra như rô bốt lấy tiền ở bất kì ai đang chĩa tiền về phía mình. Chúng tôi đứng ngoài thấy không ổn, nếu chỉ trông vào thằng Lộc, nên góp thêm tiền cho hai thằng khác cùng chen vào mua, đứa nào mua được trước thì la lên để đứa kia khỏi chen mua nữa, tiếp đó cho chắc ăn cử một thằng ra quầy nhận nước xếp hàng sẵn, khi bên này mua được phiếu chạy qua bên đó lấy đồ đỡ phải chờ. Mẹo ấy của chúng tôi thành công, khi mua được phiếu thì cũng là lúc thằng xếp hàng bên kia tới lượt...Nhưng ôi thôi, đây lại là lúc sự ngao ngán lên đỉnh điểm! Cửa hàng không có đá, nước chanh bán ra chỉ là thứ nước được làm lạnh (như nước lọc để tủ lạnh) đựng trong chiếc cốc to, loại cốc uống bia hơi, có bỏ đường cùng với miếng chanh và một chiếc đũa để quấy!
Chúng tôi bưng nước ra bàn, ồn ào vắt chanh, quấy đường và hỏi nhau, nước này là nước sôi để nguội hay là nước máy chúng mày nhỉ, hỏi thế thôi chứ chẳng cần nghe trả lời rồi nhìn nhau cười và có tiếng đứa nào giục, cùng tiếng chửi thề, đ.má, thắc mắc gì, có nước mát uống là tốt rồi, uống nhanh lên còn ra phà về nhà với bu, nhanh lên...
PS: Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhớ lại chuyến đi phép đầu tiên về thăm nhà sau ngày 30-4-1975 tôi vẫn chưa thể quên được cảm giác khó chịu, cả buồn nữa khi chứng kiến thái độ của người dân miền Bắc nhìn chúng tôi, những người lính từ trong nam ra, nhiều người trong số họ tưởng trong ba lô của chúng tôi là đồng hồ, tiền bạc, của cải đắt tiền chứ không phải chỉ có cau khô và dép nhựa; về thái độ của người lái xe ở bến Nứa, cũng như cô mậu dịch viên trong bách hoá Hồng Bàng cùng với ly nước chanh có một không hai...
Cho đến nay, sau nhiều chục năm xoá bao cấp, thái độ và cung cách phục vụ khách hàng của những người làm các ngành nghề dịch vụ ở miền bắc đã thay đổi nhiều, khách hàng đã được xem là Thượng Đế, nhưng nhìn tổng thể thì vẫn còn một khoảng cách so với những người cùng nghề ở Sài Gòn những năm 75-77. Cũng xin nói thêm, ngay cả Sài Gòn hiện nay thái độ và cung cách phục vụ khách hàng cũng thua xa người Sài Gòn hồi ấy!
Sau này tôi có lần gặp và nói chuyện với M. người đi chung với tôi chuyến về phép năm 1977 hiện định cư ở Sài Gòn, nhắc lại M. bảo, nhiều khi nghĩ lại lần về phép ấy tôi không lí giải nổi vì sao khách đi chung xe với tụi mình không ai nói đỡ một câu? Họ không nghĩ đến con em mình vào trường hợp ấy sẽ thế nào, hay nhà họ không có ai đi bộ đội, đi B. Hoà bình mới có mấy năm mà lòng người nguội nhanh vậy sao? Rồi M. nói, nửa đùa nửa thật, đến bây giờ nhớ lại đoạn trường đi phép ấy vẫn còn kinh ông ạ, và đó cũng chính là lý do khi ra quân tôi chọn sống trong nam, không về quê nữa...
Ảnh minh họa: Cửa hàng thời bao cấp (st trên mạng), còn thua xa cảnh chen lấn ở bách hoá HB trong lần phép năm 1977.
TRONG CÁI ĐƯỢC CÓ CÁI MẤT, TRONG CÁI VUI CÓ CÁI BUỒN, TRONG CÁI VÔ VỌNG CÓ CÁI HY VỌNG
Ngày 2 tháng 4 năm 2025
Lời nghệ sĩ Trịnh Thị Lan thường gọi là bà cả Tam (1888 - 1971)
---
Lần theo mục kỷ niệm của Fb, tôi tìm thấy bài viết sau đây của tôi 9 năm trước và mặc dù biết rằng sau 9 năm trời, chắc ý mọi người đã thay đổi, tôi vẫn xin phép được đưa kèm cả 12 đoạn bình luận rất đáng quý.
***
XIN RÚT LẠI MỘT Ý KIẾN VỀ GIÁO DỤC
Thời tôi lớn lên, người ta nói nhiều về tính ham học người dân Nghệ Tĩnh.
Hai năm 1961- 1963, học ở Đại học sư phạm Vinh, tôi đã chứng kiến cái huyền thoại ấy.
Cuối tháng 3 và đầu tháng 4, mấy lần nghe tin đưa trên VTV 1, gần 40% học sinh Nghệ An không tham dự các cuộc xét tuyển vào đại học.
Cảm thấy như cả một thời đại đã qua đi, mà cái tinh thần rút gon lại tức là thế giới đảo ngược.
Việc từ chối giáo dục chính thống sẽ đưa chúng ta đến đâu?
Trên FB này ngày 30-1-2015, tôi đã đưa một vài ý kiến, đoạn đầu như sau:
CÓ PHẢI LÀ MỘT LỜI KHUYÊN VÔ TRÁCH NHIỆM?
Đi lại trên đường phố Sài gòn tôi thường trông vào các ông xe ôm. Vì bao giờ tôi cũng nhân dịp này, hỏi thêm họ vài chuyện có liên quan tới tình cảnh dân nghèo trong thành phố, nhất là chuyện đi học của con cái.
Sau khi nghe họ kể lể về gia cảnh, tôi thường bảo:
-- Thời buổi này bác ạ, trừ phi gặp đứa thật giỏi giang không kể, còn đừng có cho chúng nó đi học nhiều làm gì. Xong độ trung học cơ sở là thôi, cho đi học nghề. Các nghề linh tinh nhận tiền của dân ấy. Lam lũ nhưng chắc chắn. Bị coi khinh có khi lại sống.
-- Học lên đến đại học chỉ phí tiền mà ra vẫn thất nghiệp?
-- Đúng vậy. Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay, cấp nào cũng xoay. Kệ dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được họ đua với nhau. Với lại sau này họ còn có chỗ cho con họ thế chỗ.
…
Gặp ông biết nghe và hiểu tình hình, tôi còn nói thêm vài chuyện nữa.
Bây giờ cho trẻ đi học là chuốc lấy các loại kiến thức cũ mèm và nhiều thói xấu, mà xấu nhất là gian dối.
Cả đi làm nhà nước cũng vậy.
Âu là cứ trở về với dân gian. Chính dân gian lại dạy bảo nhau những điều tử tế.
Còn truy nguyên ư, nó xuất phát từ cái cảm giác tuyệt vọng của tôi về nền giáo dục đương thời. Làm sao mà có thể cải tạo cái bộ máy giáo dục hiện nay để chúng ta có thể yên tâm gửi con gửi cái cho họ được? Tương lai là mù mịt.
ĐẰNG NÀO CŨNG CHẾT
Cái hỏng nhất của tôi trong ý kiến nói trên là tin tưởng rằng dân gian có thể tự tìm ra lối thoát cho cái đời sống bế tắc mọi đường hôm nay.
Khi không thi vào đại học, các bạn trẻ xứ Nghệ và các bạn trẻ ở các vùng khác sẽ biết tìm tới cách đi vào các ngành nghề thiết thực, và tự đào tạo lấy bản thân.
Cái Lô gic mà tôi tưởng là thông thường ấy là sản phẩm của những bài học tôi học ở nhà trường thời niên thiếu: nhân dân sẽ tìm ra con đường của mình.
Ảo tưởng hết!
Nhìn lại các gia đình quanh mình, tôi thấy khả năng đề kháng của con người hiện nay đã bị tiêu hủy gần hết. Thời tiền chiến người ta còn gặp những người dân thường hiền lành chất phác bằng lòng với cuộc sống của mình - đọc một nhà văn như Thạch Lam là thấy rõ nhất.
Sau ba mươi năm chiến tranh, tinh hoa mất đi, nhìn vào con người chỉ thấy cái phần hoang dại. Bốn mươi năm hậu chiến, cái phần bã ấy có được tô vẽ đủ vành đủ kiểu, nhưng bản chất vẫn vậy.
Thời nay rất nhiều người quanh ta và chính ta nữa, gọi là được giải phóng, nhưng trên nhiều phương diện là trở nên hỗn hào hư hỏng, không còn biết thế nào là tử tế lương thiện, dám làm tất cả mọi việc mưu sinh và không bao giờ dừng bước trước nhu cầu vật chất tầm thường của mình.
Lấy ngay trong việc làm nghề kiếm sống hiện nay làm ví dụ.
Làm gì còn những người nông dân gắn bó với ruộng đồng?
Làm gì còn những người thợ thủ công tay nghề tinh xảo?
Làm gì còn những trí thức chuẩn mực và liêm khiết?
Trên con đường đạt tới mục đích rất dung tục, con người hiện nay nhiều khi dám làm những việc mà nói như một câu danh ngôn "đến thần thánh cũng phải kinh sợ."
Học xong trung học phổ thông, liệu có bao nhiêu phần trăm các em học sinh bỏ ra đi làm hôm nay có thể trở thành những con người có nghề nghiệp có lý tưởng sống tử tế như con người trong các thời đại trước vẫn sống?
Tôi mặc dầu rất muốn nhưng hơi khó thuyết phục mình rằng nên tin ở những câu trả lời tích cực.
-
HIỂU SAO VỀ HY VỌNG TUYỆT VỌNG?
Nhân dân đã bị làm hỏng.
Một kết luận cực đoan như thế lâu nay trong đầu óc tôi cứ hình thành dần dần và tôi ấp úng không dám nói ra, tự nghĩ rằng có lẽ phải tìm được nhiều ví dụ nữa để chứng minh; và quan trọng hơn, phải nghiên cứu để tìm ra cách đổi thay vận mệnh.
Một công trình như thế một hai người làm sao nổi?
Nhưng xin cứ ghi nó ra đây, âu cũng là một cách để sống lại cái tư tưởng mà các nhà tư tưởng nhiều thế kỷ trước đã nói "Con người không bao giờ được phép đầu hàng."
Gần với ta hơn, tôi nhớ có câu của Trịnh Công Sơn "Tôi ơi đừng tuyệt vọng!".
Tuy nhiên, chắc một số bạn cũng như tôi, nhiều lúc nghĩ rằng cái lối tự nhủ như thế, có vẻ như là một cách tự lừa mình, tự an ủi mình để sống cho qua ngày.
--
Trên đường học hỏi, tôi tìm được một vài ý tưởng hiện đại hơn.
+ Từ khoảng 1960s, tức là khi chỉ được nghe nhạc qua đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lớp người như tôi ghi tâm khắc cốt "Bài ca hy vọng" của Văn Ký do nghệ sĩ Khánh Vân hát. Từ hồi có mạng, tôi có nghe thêm mấy người khác như Mỹ Bình, Trung Kiên và chỉ thẩy Rơ Chem Phiang là đạt một cái mốc như Khánh Vân.
Nhưng gần đây một nam ca sĩ cũng mê là Lão Nông thì có câu bình luận rất hay: BÀI CA HY VỌNG CŨNG LÀ BÀI CA TUYỆT VỌNG.
+ Một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam. Bà bảo người diễn viên phải diễn sao cho "TRONG CÁI ĐƯỢC CÓ CÁI MẤT, TRONG CÁI VUI CÓ CÁI BUỒN, TRONG CÁI VÔ VỌNG CÓ CÁI HY VỌNG", thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.
+ Và cái câu tuyệt vời nhất, gần với hoàn cảnh chúng ta hôm nay nhất là mệnh đề kép của của nhà văn Pháp A. Camus, lúc này đây tôi nhớ đại ý:
"PHẢI TỪ GIÃ HẾT MỌI HY VỌNG TRẦN THẾ THÌ MỚI ĐẠT ĐƯỢC CÁI HY VỌNG CHÂN CHÍNH"
******************
Tất cả cảm xúc:
167Thanh Orange, Nguyen Duc Hop và 165 người khác
12 bình luận
48 lượt chia sẻ
---
Chia sẻ
.
Tin Nguyentrong
nhân dân đã bị làm hỏng...
Hgia Phuong
thấy 60' đưa tin dân vùng ấy đi buôn ma túy đã hơi bị nhiều !
Huykiem Ha
70 năm nay , xã hội VN được quản lý theo Trại Súc vật, sự tuyệt vọng là ở đấy. Câu Người ơi đừng tuyệt vọng vủa TCS cũng là để tự an ủi khi Chúa chưa gọi mà thôi.
Muốn không tuyệt vọng chỉ còn cách không là súc vật
Văn Vũ Hiệp
Bà cả Tam ai đào tạo mà nói hay thế Bác? Ưng Bác bien quá
Gia Triệu
Tâm tư quá bác ờ!
Lap Le
Tôi nhớ mãi câu cửa miệng của thời tôi còn trẻ: Đảng ta, Dân tộc ta, Nhân dân ta... với niềm tự hào ghê gớm, còn bây giờ hiểu ra thì còn lại là cái gì Ta?!
Thi Anh Nguyen
Việc gì có lợi thì làm,học mà ko dùng thì học làm gì-ko học vẫn giàu hơn, chức to hơn -suy ra học ko để làm gì-dân Nghệ rất thông minh-dân Nghệ đã tạo ra chế độ này,họ biết sai,họ đang sửa đấy-chờ đấy sớm hay muộn dân Nghệ nói riêng ( dân miên Trung nói chung ) sẽ cho ra lò một chế độ mới theo kiểu cả thế giới đang dùng
Nâu Nguyễn
Mỗi người sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử khác nhau, may thì nhờ, rũi phải chịu thôi, ko phải là cam phận mà là số phận, ai đã cho ta một mùa đồng vậy???
Trần Toán Đinh
Đã lâu rồi, có lẽ là mươi mười năm về trước, có người đã ghé vào tai tôi nói nhỏ "cái gì ngược với thế giới ấy là việt nam các ông đấy!", từ dó tôi để ý và ghi nhận.Hôm nay lại nghe nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn nói " thế giới đảo ngược..." về việc " gần 40% học sinh Nghệ An không tham dự các cuộc xét tuyển vào đại học, thí đúng là thế giới đảo ngược, chứ còn gì nữa. Thế mà đâu đâu cũng được nghe rao giàng " giáo dục là quốc sách hàng đầu" ... nhưng ngành giáo cái dục thì sao nhỉ "Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay, cấp nào cũng xoay. Kệ dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được họ đua với nhau. Với lại sau này họ còn có chỗ cho con họ thế chỗ". Tất cả mọi thứ hiện thời đều được rao giảng, rao giảng ở khắp nơi nơi, mà chẳng có cái gì là thực chất, toàn là bánh vẽ, toàn là hy vọng, Hy vọng đã gợi ý cho tôi nhái câu của Trịnh "Tôi ơi, đừng hy vọng", bởi hy vọng là ở thời tương lai. là chưa thành hiện thực, là không có thực, là mơ mộng có và là ảo tưởng và tôi ngẫm thêm câu nhận xét "cái gì ngược với thế giới ấy là Việt nam các ông đấy!",
Vuong Huu Tu
Buồn cho số phận dân tộc.
Nguyễn thị Kim Thanh
Khi chủ nghĩa thành tích lên ngôi thì sự trung thực ngày càng lụi tàn.
CAMPUCHIA, MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC, MỘT CÁCH NGHĨ KHÁC
Ngày 7 tháng 4 năm 2025
Ngoài chuyện tiền bạc, về tâm lý thôi mà nói, tôi thường đã rất ngại, không dám tính đi du lịch các nước giàu có bên trời Tây. Lý do là vì đi về chỉ thấy buồn, sao ở đó người ta sướng thế tử tế thế mà nước mình con người hư hỏng và xã hội trì trệ đến thế.
Nhớ có lần đọc một câu của B. Russel, do Hà Văn Tấn dẫn lại, bàn về sự hấp dẫn của sử, đại ý nói là đọc sử để hiểu những ngu ngốc của thời xưa do đó dễ dàng chịu đựng hơn những ngu ngốc của thời nay.
Tôi cũng muốn làm theo lời khuyên đó, và chuyển nó từ trục thời gian xoay qua trục không gian.
Tức là, nếu điều kiện cho phép, tôi thích đi lang thang ở những nước nghèo nước khổ, để khi quay về thấy yên tâm với nước mình.
Ví dụ như đi châu Phi, hay mấy nước kem kem ở Trung Đông và Đông Nam Á.
Nói thế thôi, chứ bây giờ chả ai nghèo khổ nữa, không bằng Tây nhưng họ biết học Tây để phát triển.
Chỉ có riêng ta, chả học làm ăn gì cả -- sau chục năm hô hào nay cái nghĩa của hai chữ hội nhập tóm lại ở một nội dung là mua hàng ngoại về mà xài - nên đằng sau vẻ sặc sỡ giả tạo là sự nghèo nàn thực sự, tìm nước chán hơn nước mình rất khó.
Tuy nhiên ở đâu thì qua sự so sánh cũng rút ra được ít suy nghĩ có ích .
Tôi đến Campuchia tháng 11-2010 với tâm thế đó và đã
cảm thấy có một chuyến đi có ích.
---
MỘT THỜI THANH BÌNH
Cảm tưởng bao trùm khi đi trên những con đường quốc lộ nơi đây là một sự bình thản. Làng xóm yên lành, trên nền không gian rộng rãi. Người ta không đổ ra đường để buôn bán.
Đến Pnompenh, sự bình thản ấy vẫn còn. Đô thị không có nghĩa là chen chúc. Xe máy đã nhiều hơn xe đạp, nhưng không thành những dòng sông cuộn nước. Ngay ở các ngã tư chưa có đèn đỏ, vẫn thấy có hiện tượng ô tô nhường nhau chứ không thúc vào đít nhau mà còi loạn lên như ở Hà Nội.
Pnompenh đây rồi. Vào một buổi chiều người đi đông nghìn nghịt ngoài đường, -- sau đó tôi mới biết là ngày hội té nước, cầu bắc qua sông bị gãy, tiếp đó là sự kiện bi thảm hơn ba trăm người chết và vài trăm khác bị thương.
Tuy nhiên, nếu như ở VN, việc đó sẽ làm cho cả thành phố rung động thì ở đây, mọi chuyện không gây hoảng hốt quá đáng.
Nhà nước không làm ầm lên cái chuyện kịp thời lo cứu trợ cho dân.
Sáng hôm sau, trước bãi cỏ hoàng cung, những người công nhân vệ sinh bình tĩnh dọn rác.
Hàng đàn bồ câu bay lên.
Trước cửa bệnh viện, người đến thăm nom không rên rỉ khóc lóc động trời mà xếp hàng vào thăm người thân khá trật tự.
Họ tin rằng xã hội sẽ biết cứu giúp người thân của mình một cách tốt nhất.
--
NHỮNG CÁI KHÔNG Ở SIEMRIEP
Ở đây tôi càng như trở lại một thời thanh bình cổ điển. Không thấy những đám thiếu niên làm ồn trên đường và chen chúc nhau trong các cửa hàng chơi game.
Không thấy các thiếu nữ váy dài váy ngắn, mắt xanh mỏ đỏ.
Không thấy các đám công chức túm tụm bia rượu.
Tôi tự giải thích cho tôi về sự thanh bình này:
Chiến tranh đã đi qua đất nước này, nhưng nó không xới lật lên tất cả, nó không biến con người trở thành những cái bã của chính mình thời tiền chiến.
Nếu sau chiến tranh người Việt mình không ai bảo ai gần như phát cuồng lên lao đi kiếm sống thì ở đây, người Miên yên tâm với tình cảnh của mình
Con người không quá nhiều ham muốn.
Không tính trả thù cho những năm tháng vất vả vì chiến tranh.
Không tự biến mình thành một xã hội tiêu thụ.
Đặc biệt vì Siemriep là nơi nhiều du khách nước ngoài tới để thăm Ăngkor Wát Ăng co Thom, nên tôi lại chứng kiến một nét khác làm nên lòng tự tin của văn hóa Campuchia. Họ không coi người nước ngoài là cái nguồn kiếm sống. Lại càng không coi những cái ngoại lai ấy là cái mẫu để học đòi bắt chước từng ly từng tí.
Họ tự tin ở cách sống riêng của người Campuchia và biết học hỏi người nước ngoài một cách khôn ngoan và thận trọng.
---
BÌNH THẢN TRƯỚC LỊCH SỬ
Cả ở Pnompenh lẫn Siemriep, phố xá được đặt tên bằng các con số là chủ yếu. Rất ít phố ở đây lấy tên người để đặt như ở bên ta.
Người Campuchia hình như không quá quan trọng đối với quá khứ của mình.
Lại càng không coi việc đặt tên một người cho đường phố là cách thưởng công cho người đó, vô hình trung tạo nên một cuộc chạy đua lố bịch.
Sống sát ngay Angko Wat Angkor Thom, nhưng người dân Siemriep không coi đó là nguồn kiếm sống, không chen chúc vào trung tâm để mở cửa hàng.
Mà người các địa phương khác cũng không rồng rắn kéo về cố đô để lây niềm tự hào .
Họ thản nhiên sống cạnh lịch sử, đến mức tôi cảm thấy hình như họ nghĩ rằng mình chưa đủ trình độ để giải thích quá khứ của mình.
Cảm tưởng này lại đến với tôi khi thăm Bảo tàng quốc gia Campuchia ở Pnomgpenh.
Giá vé vào cửa đắt, những 12 USD, nên người bản xứ vào không nhiều.
Thế sao chính phủ không tìm cách giảm giá vé để cho dân vào?
Sau tôi mới biết thật ra bảo tàng này do người Pháp chủ trì xây dựng đâu từ 1925 và đến nay vẫn giữ nguyên theo cách trình bày ban đầu.
Tức Bảo tàng này trình bày lịch sử Campuchia bằng con mắt người Pháp, chứ không phải bị cải tạo đi theo ý chủ nhà như ở ta.
Nhưng cái du khách bắt gặp ở bảo tàng lại là một xứ Campuchia đích thực, và tôi ngờ khi tới thăm nó cả người bản địa lẫn người nước ngoài đều hiểu và yêu Campuchia hơn.
Còn dân Việt từ quan đến dân do nghĩ rằng “không ai hiểu mình bằng mình”, chỉ biết làm ra những thứ bảo tàng quá nhiều đồ giả quá nhiều khẩu hiệu, phần xem được không bao nhiêu.
Thử hỏi giữa ta với người hàng xóm ai biết tôn trọng quá khứ hơn ai?
----- Một số bình luận -----
Trần Nguyên Phong
VN nhiều bảo tàng nhất thế giới, tuy nhiên, không người nào, kể cả Tây hay Ta muốn vào đó.
...
Nguyễn Cảnh Thuỵ
Qua Lào, Campuchia, ta đều có cảm giác thanh bình. Phải chăng Văn hóa Phật giáo đã tạo nên tính cách của các quốc gia này? Đặc biệt, bản lĩnh văn hóa của một dân tộc khiến ta ngưỡng mộ: từ không gian sống cho đến kiến trúc, trang phục, tập quán, đều "đậm đà bản sắc", không ngoại lai kệch cỡm như ở xứ mình!
La Phong Mua Thu
Cảm ơn nhà phê bình Vương Trí Nhàn! Nhịp sống của người Campuchia chậm rãi, ăn nói lịch sự hơn VN nhiều. Cách đây hơn 10 năm, đoàn du khách của chúng tôi cũng phải ngạc nhiên về phong cách làm du lịch văn minh, lịch sự của họ. Về đến cửa khẩu VN thấy những cái mặt cửa quyền hách dịch, ăn nói như cha người khác thấy mà ghét. Giữ gìn di tích thua cả mấy nước láng giềng chứ đừng nói châu Âu như Ý, pháp, Thổ Nhĩ Kỳ...
Pham Thu Nga Nga
Anh nên đi thăm Lào với Luông Phrabang và Vieng Chăn! Còn nhiều thú vị hơn nữa!!
Ngo Thuong
Đi đường bộ từ Tây Ninh, đến Nam Vang, lên Siemriep rồi trở về mới thấy nông thôn Cao miên dù còn nghèo nhưng thanh bình, người dân hiền hoà.
Nguyen Nguyên Phong
9 năm sau khác nhiều rồi anh. Ta thấy rõ sự ảnh hưởng từ 2 nước đặt chân vào 1 từ bắc Đông Á và 1 từ đông Đông Nam Á!
Lekhac Nghi
Sang Lào chúng tôi vẫn thường bảo nhau: chẳng cần đi đâu xa, chỉ cần sang Lào học cách quản lý xã hôi là tốt lắm rồi. Có lần tôi gặp bạn đại diện VTV ở Viên Chăn. Bạn ấy nói đã ở Là gần ba năm rồi cố để ý xem người Lào cãi nhau thế nào mà chưa gặp. Qua khỏi biên giới các cửa khẩu Việt Nam sang đến đất Lào là từ phong cảnh núi rừng , làng bản, con người đều toát lên không khí thanh bình, sạch sẽ. Đêm làng bản hai bên đường không rào dậu, cửa ngõ không khóa. Ấn tượng nhất là có lần chúng tôi đến thắp hương cho Cố Tổng bí thư Cay Xỏn Pong Vi Hẳn ở nhà bảo tàng (trước đây là nhà của Cụ thân sinh của TBT) tại Xavanakhet. Tất cả hộp tro của gia đình hai ba đời đều để ở một ngôi tháp nhỏ góc vườn. Khách vào tự do mở cửa tháp thắp hương cho các Cụ. Mãi sau mới gặp nhân viên thường trực đi ăn sáng về. Bình yên, giản dị đến thế là cùng.
Hien Trần
Cảm ơn nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn! Bài viết thật hay. Và xin share nhé!
Hai Nam Hoang
Ôi Campuchia dân tộc anh em.
Trung Nguyen Richard
Thật chí lý
NGUYỄN MINH CHÂU: CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO Ư? – CẦN LẮM!
Ngày 14 tháng 4 năm 2025
-
Một điểm nhấn trong những phát biểu của tác giả “ Dấu chân người lính” về đề tài chiến tranh.
-
Nguyên là bài ghi chép một số lời bàn về nghề nghiệp mang tên “Nguyễn Minh Châu: Không đến được với chủ nghĩa nhân đạo, anh không viết được về chiến tranh đâu.’
Bài đã đưa trên blog cá nhân tôi - 06, tháng 9, 2018
https://vuongtrinhan.blogspot.com/.../nguyen-minh...
---
Tôi định viết một cái gì như là bà mẹ và viên tướng. Anh lính và viên tướng cùng làm công việc quân sự cả. Nhưng người lính thì làm vì nhiệm vụ, ông tướng ngoài phần trách nhiệm lại có phần nghề nghiệp của ông ấy nữa, cho nên có lúc ông ấy quên cái phần vất vả của chiến tranh đi. Trong một trận chiến đấu, ví dụ bao giờ nó cũng có tính trước số thương vong, sau đó, trên cơ sở dự tính thế mà khớp lại xem mình dự tính tài đến mức nào. Có những ông tướng căng cả óc nghĩ về cái mức ấy. Bây giờ phải có một người mẹ người tốt dạy lại cho ông ta, thì ông mới hiểu được.
Ông tưởng tượng đoạn đối thoại ấy có ghê không?
***
Những xu hướng chính trị đang xô đẩy chính kiến và tình cảm của con người, nhưng chưa đến lúc nói đến những xung khắc về chính kiến, văn học hôm nay hãy nói đến những giằng xé về tình cảm, chỉ làm được việc như vậy đã khó.
Con người là vật tượng trưng của sự bất lực, hay nói đúng hơn, sự bất lực của mọi nỗ lực của con người, và đừng nên buồn vì điều đó. Cái quan trọng là không bao giờ nên để rơi mất những khát vọng và hy vọng. Chủ đề của tất cả những sự kiện mà tôi đang sống chính là sự thất bại của những khát vọng. Dần dần con người còn tiến đến thực dụng.
Viết về chiến tranh từ xưa đến nay, vẫn là giải quyết cái này. Giết người? Giải thích con người giết người. Anh giết một người: Anh là ai — con người bị giết là ai? Lòng căm thù, động cơ của sự giết người là một phạm trù của tình cảm hay phạm trù lý tính?
Cái nguy hiểm của chủ nghĩa tình cảm ở chỗ nó như một đám lửa. Vẻ đùng đùng bề ngoài che lấp mất cái gì đó sâu bên trong, cái gì đó đang khiến cho ngọn lửa bốc cháy. Nhà văn cần đề cao lý trí trong tác phẩm.
***
Cái tập mới này của tôi – Lửa từ những ngôi nhà –– sẽ viết về những chuyện vơ vẩn trong chiến tranh, sẽ làm cho người ta cảm thấy chiến tranh len vào khắp mọi chuyện, khắp mọi con người. Chiến tranh là cả một vấn đề xã hội chứ không phải chỉ là công việc của mấy ông lính.
Tôi đi Hải Phòng chỉ chưa đầy hai ngày, nhưng giá kể cho tôi viết thoả thuê, tôi có thể viết được cái gì đó về cuộc chiến tranh phá hoại. Thành phố như đã chết. Con sông Hạ Lý không chảy, mặt sông không còn dầu mỡ.
Thằng em tôi nó cứ reo lên. Nó đón tôi, nhưng nó lại nhạt nhẽo với tôi.
Tôi vào Hải Phòng, để mà cứu những đứa con khỏi trở thành nạn nhân. Cả Hải Phòng đã là nạn nhân.
Nhưng tôi lại bỏ Hải phòng tôi đi, tôi đạp xe suốt bốn tiếng ngoài đường, không vào nhà ai. Tôi không muốn vào Hải Phòng, cái thành phố tôi đã lấy vợ, có những đứa con, tôi không muốn thấy nó trong cái vẻ thành phố chết chóc.
***
Trong đợt đi Quảng Trị, tôi đã chú ý nhiều đến các đội điều trị. Là vì trong cái chiến dịch 1972 này, đó là cái phần việc mà mình thấy có thể nó còn là giữ gìn con người, bảo vệ con người.
… Nhưng đi vào vẫn thấy bí. Những ngày chiến dịch, những thằng Quân y làm việc cứ như một bọn mổ vịt mổ gà (cho đến cả y tá cũng mổ).
… Một thằng lính Quảng Trị nó nói với tôi: Quảng Trị đúng là cái máy nghiền thịt.
Tôi ngồi tôi xem lại cái phần Lửa từ những ngôi nhà. Và tôi tự hỏi bây giờ mình phải viết thế nào. Viết ca ngợi chiến tranh cũng không được. Viết phản chiến cũng không được. Thôi thì viết cái gì đó, người ta cứ phải sống, lầy lụa mà sống, mà chịu đựng.
– Viết về kiếp người ?
– Gọi thế cũng được nhưng nó hơi bi thảm quá.
***
“Mấy chục năm nay, xã hội mình toàn những người đi buôn cả. Cứ tìm tiểu thương ở đâu, tiểu thương ở ngay trong tư tưởng anh ấy, diệt làm sao được. Mình đi bộ từ đây xuống Bờ Hồ, qua mỗi hè phố lại thấy bà bán ngồi chồm hỗm, hỏi anh có gì bán không. Tưởng tượng chính là những người từ trong những hố cá nhân tránh mảnh bom kia mọc lên đấy, nó có bị giết thì tự nó lại mọc lên một cái đầu.
Mình vào Quảng Bình, thấy kể chuyện người ta háo hức đón đoàn mặt trận miền Nam, kêu lên với nhau rằng sao đến miền Bắc mà đoàn lại không vào Quảng Bình, và giá có vào thì người ta sẽ tiếp đón linh đình lắm. Trong khi ấy thì những thằng lính ở đường 9 Khe Sanh ra mặt xanh nanh vàng, húp bát bún con con trả đồng bạc vẫn khen rẻ, chẳng ai quan tâm cả. Chính bọn ấy mới là đại diện chân chính của miền Nam.
… Lại nghe nói đâu Trung ương có ý định bảo Hà Nội để lại một khu phố, để sau này, khách phương xa đến, làm nơi tham quan về những tội ác của địch. Mãi sau, một thằng nó phải bảo: Thôi, dân mình khổ đã nhiều rồi, cốt sao ông cho họ cái nhà họ ở đi cho chóng, còn làm gì mà phải xoay ra thế nữa.
… Người ta buôn bán ghê lắm, người ta buôn bán mọi thứ. Cả xã hội đi buôn. Nói thế mới gọi là vấn đề của văn học chứ!”
***
Người nào đi Quảng Trị về, cũng thấy chói lên cái câu hỏi về chiến tranh – cái câu hỏi đỉnh chạm trời, và chân sát mặt đất.
… Lắm lúc, chả muốn đọc những thứ người ta suy nghĩ nữa. Ai nghĩ cũng chẳng bằng mình. Đất nước này là đáng nghĩ nhất. Mình là thằng nghĩ có thể hay nhất.
– Phải viết thế nào đó cho hết mình. Đôi lúc như là chỉ cần ghi lấy những ý nghĩ vớ vẩn của mình cũng được, nghĩ xuôi rồi lại nghĩ ngược, quanh quẩn nghĩ gần rồi lại đẩy nó ra xa, đẩy nó ra xa, rồi lại kéo nó vào gần…Văn học là phải như thế.
***
Nhìn lại một số tác phẩm viết về chiến tranh
Tôi ngồi tôi đọc Sống mãi với thủ đô. Xem như ông Tưởng ở một đầu chiến tranh, mình ở đầu đằng này. Thấy trước từng ấy năm, mà ông Tưởng ông ấy lại còn tiến bộ hơn mình. Ông ấy còn dám nói cầm súng là một việc không ra sao, chúng ta buộc phải làm vậy. Còn mình, mình chỉ thấy việc cầm súng một việc anh hùng, tốt đẹp, chúng ta lầm lẫn mục đích với phương tiện. Và một số người cầm bút cũng lẫn giữa mục đích và phương tiện như vậy.
– Kiểm điểm lại thì thấy người viết mình loanh quanh lắm. Có độ 4-5 vấn đề, rồi cùng nhận ra và cùng chui cả vào đấy. Chả cứ chui vào về mặt tư tưởng, mà chui vào cả về mặt cốt truyện. Xem xem, từ ông Nguyễn Thi, ông Phan Tứ cho đến ông Xuân Thiều, cũng một cái thôn như thế, một cô trẻ trẻ bí thư chi bộ, lại một mẹ già, rồi một thằng địch. Sao mà mình giống nhau như lột. Tự nhiên câu cú chữ nghĩa cũng phải giống nhau.
… Nhưng tình hình mười năm tới, rồi cũng phải thế thôi. Ở mình đừng hòng viết về một cái gì hư ảo đâu, cái nền văn học ấu trĩ của mình rồi rút cục cũng chỉ như hôm nay. Chỉ có thể thế này, độ bảy phần nịnh thì viết lấy ba phần trung. Bảy phần như mọi người, và ba phần như của mình, lên diễn đàn hét ầm lên, nhưng cũng có lúc có thể ghé vào mọi người, nói vài điều tâm sự.
***
Người viết văn phải vừa viết, vừa hoài nghi mình mới được. Cảm thấy rằng mình đang còn ngờ vực cái điều mình vừa viết, để cho người đọc tiếp tục nghĩ. Còn như cái ông Lê Khâm, ông ấy viết văn cứ như dân Quảng Bình đúc gạch táp lô. Và ông ấy vứt cái gì ra, là tin nó vừa khít như trình độ nhà văn của ông ấy đấy.
Viết về chiến tranh chính ra lại có cái đưa đẩy đi, có cái để trốn. Mình phải động viên thằng lính, không thể nói hết mọi chuyện được. Viết về hoà bình mới thật khó quá, phải viết thực. Lắm lúc ngồi nghĩ, lâu nay nhà văn mình cứ xem có cần cái gì thì minh hoạ cái ấy, thế mà vẫn sống đuợc, lạ thật! Rồi sau này, chả còn gì.
Bây giờ trong văn học, những thằng bất tài sống hơn những thằng có tài. Mà trong mỗi người, chính anh lại sống bằng cái phần bất tài của anh hơn là những phần anh cảm thấy phải hơn, anh tài năng hơn. Thế mới chết!
Nhàn: Cái ông Nam Cao, ông ấy rất nhân bản.
Châu: Đồng ý với ông, cái nhân bản nó là cái quan trọng. So ông Nam Cao với ông Nguyễn Công Hoan thì Nam Cao nhân bản hơn. So Nguyên Hồng với Nguyễn Tuân, thì Nguyên Hồng cũng hơn. Bây giờ, bọn viết trẻ cũng thiếu. Bây giờ, bọn viết trẻ đã đến với chủ nghĩa anh hùng, trước khi đến với chủ nghĩa nhân đạo. Không đến được với chủ nghĩa nhân đạo, anh không viết được về chiến tranh đâu.
==
Mời đọc lại một bài tôi đã đưa từ 6 năm trước.
Cố nhiên nếu hôm nay viết lại tôi sẽ bổ sung một số chi tiết khác và phần nào có thêm một số gợi ý khác khi nhìn lại những bè bạn quanh ta. Nhưng có lẽ về căn bản thì những suy nghĩ của tôi hôm nay vẫn chưa thay đổi bao nhiêu - Tôi vẫn nghĩ thế và muốn bè bạn cùng nghĩ với tôi như thế.
ĐƯA CÁC SỰ KIỆN THỜI SỰ VÀO TIỂU THUYẾT
MỘT KHẢ NĂNG MÀ CÁC NHÀ VĂN ĐƯƠNG THỜI HAY BỎ QUÊN
Ngày 16 tháng 4 năm 2025
----
Trong khi áp dụng những kinh nghiệm của các nhà văn phương Tây khi bước sang thời hiện đại, các nhà văn tiền chiến ở ta như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng thường là những người đi đầu trong việc đưa các sự kiện thời sự vào trong tác phẩm của các ông, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết.
Nhưng từ sau 1945, thì ở Hà Nội và sau 1975 thì trên phạm vi cả nước, kỹ thuật này ít được các nhà viết tiểu thuyết sử dụng. Vì vậy tôi có phần ngạc nhiên khi được đọc stt này trên trang của anh Trương Văn Dân, nhờ đó biết thêm được một thủ pháp mà anh đã sử dụng – thủ pháp này cho thấy khả năng của TVD trong việc “đọc” các sự kiện thời sự và đưa nó gia nhập vào các xu hướng lớn trong lịch sử hiện đại.
***
Dan Truong Van
· trnpeoSsdo1t 1:0l45l39ll52cgcn 6ác 31l1al435glhg 1466ga44úa4 ·
29-3-2025
--
Sau trận động đất kinh hoàng ở Myanmar và làm nhiều cao ốc bị đổ... mời các bạn đọc lại một trích đoạn trong tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa" được viết từ 2007 (PNB- Nxb HNV 2011) phần nói về các nhà...chọc trời (trang 100-105):
ĂN CHAY LÀ CỨU THẾ GIỚI
" ... Tuy quen nhau đã lâu nhưng ít khi anh cho tôi tham dự vào công việc của mình. Chỉ thỉnh thoảng anh mới dẫn tôi đi gặp bạn bè, đồng nghiệp. Tôi còn nhớ lần đi ăn cơm tối với gia đình một nhà báo Mỹ. Đây là lần thứ hai sau 1975 nhà báo này quay lại Việt Nam để kết nối việc giao lưu văn hoá. Anh hiểu tiếng Việt khá tốt. Khác với lần trước, chuyến này anh kết hợp du lịch và công việc, dẫn cả vợ và con gái sang và có lẽ vì lý do này nên anh đã dẫn tôi theo.
Chúng tôi mời họ dùng bữa ở một quán cơm chay và rất ngạc nhiên khi thấy hai vợ chồng rất thích thú và ăn ngon miệng. Lúc vừa đến quán, anh chồng vui vẻ quay qua chúng tôi nói bằng tiếng Việt, phát âm hơi cứng:
- Ăn chay là cứu thế giới đó, các bạn biết không?
Tôi trố mắt nhìn chưa kịp hỏi thì William đã tiếp:
- Và nhân đạo nữa! Hiện nay có nhiều người đói mà lương thực được dùng cho chăn nuôi để lấy thịt bán cho người giàu. Ngành chăn nuôi gia súc không chỉ tạo ra một lượng lớn khí thải nhà kính, gây biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Mà trái đất sẽ nóng dần lên, băng đá ở hai cực sẽ tan, nước biển dâng cao nhấn chìm nhiều thành phố và làng mạc, đất canh tác ngập mặn dẫn đến đói nghèo và bệnh tật và còn bao nhiêu hiểm họa khác nữa sẽ ập đến cho loài người.
Trước khi qua Việt Nam tôi có đọc một tài liệu nói về sự biến đổi khí hậu, mà đó có thể là nguyên nhân gián tiếp dẫn tới sự sụp đổ của vương quốc Khmer cách đây gần 600 năm.
Vì thế giảm lượng thịt hay ăn chay là một biện pháp không những thiết thực và hiệu quả mà còn cấp bách trong việc cứu sự sống trên Địa cầu.
- Chí lý! Trước đây nhà danh họa nổi tiếng Leonard de Vinci cũng từng nói: “Chúng ta là ngôi mộ sống. Chúng ta đang sống trên cái chết của các loài sinh vật khác.”
- Đúng thế! William cười đồng tình.
Khi chúng tôi hỏi lần này sang, sau hai tháng ở cả Sài Gòn và Hà Nội, bạn có nhận xét gì thì anh ta trả lời rất chân tình:
- So với cách đây vài năm thì Việt Nam có một sự phát triển rất ấn tượng. Nhiều toà nhà đã mọc lên, kinh tế tăng trưởng, người dân sống tốt hơn trước. Nếu so sánh với tốc độ phát triển của các nước phương Tây thì đây quả là một thành tích rất đáng ca ngợi. Tuy thế, sống trong thành phố chừng vài tuần, du khách sẽ nhận ra đây chỉ là sự phát triển ngoài da, bên trong còn nhiều vấn đề dân sinh khá gay gắt. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo quá lớn, người buôn gánh bán bưng, chạy xe ôm khó khăn kiếm sống trong khi người giàu thì đua nhau khoe của. Những chiếc xe hằng triệu đô, những bữa ăn giá vài triệu đồng trong các nhà hàng sang trọng mọc lên bên cạnh những con hẻm nhếch nhác và bẩn thỉu. Hôm trước ở Hà Nội, chính mắt tôi trông thấy một thanh niên chừng 26 tuổi lái chiếc xe Rolls-Royce Phantom chạy qua trước mặt những người bán hàng rong đội nón lá. Chiếc kính trên cửa trái được quay xuống, anh gác cùi chỏ, phô cánh tay đeo chiếc đồng hồ mạ vàng có gắn kim cương. Thú thật tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.
Nhìn trên đường phố, tôi thấy có quá nhiều cửa hiệu quần áo, quán ăn, quán cà phê, tiệm mỹ phẩm làm người ta có cảm tưởng là các bạn chỉ chú trọng đua đòi, ăn chơi…chỉ lo ăn mặc, bề ngoài và không để tâm đến chuyện gì khác. Trong các quán cà phê, tôi thấy bất cứ giờ nào cũng có các bạn trẻ ngồi suốt ngày nghe nhạc, chơi game hay tán gẫu. Tôi không biết lúc nào họ học hành hay trau dồi chuyên môn.
Sau trận động đất kinh hoàng ở Myanmar và làm nhiều cao ốc bị đổ... mời các bạn đọc lại một trích đoạn trong tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa" được viết từ 2007 (PNB- Nxb HNV 2011) phần nói về các nhà...chọc trời (trang 100-105):
Tôi ngồi nghe chăm chú và thấy nhận xét của bạn không có gì để bắt bẻ. Nhà báo Mỹ khẽ ho như tạo chú ý rồi nói tiếp:
- Nhiều cao ốc mọc lên. Các tòa nhà chọc trời có ưu điểm là tận dụng đất đai và biến không gian trên trời vốn là của chung thành tư mà không mất tiền. Nhưng còn có một việc quan trọng mà tôi thấy cần phải cân nhắc: các kiến trúc sư hiện nay thích thiết kế các cao ốc bốn, năm trăm mét. Nhưng chẳng có kiến trúc sư nào thiết kế việc tháo dỡ các toà nhà này sau một trăm năm, khi nó mục nát. Chắc chắn là không thể phá sập bằng chất nổ, muốn xây dựng nhà “chọc” trời, bạn phải thiết kế làm thế nào để có thể tháo gỡ nó. Nhưng hiện nay chẳng mấy ai quan tâm. Có lẽ ta phải chờ một trận động đất để thấy nó ầm ầm sụp đổ?
Bạn còn nhớ không? Toà nhà L’Empire State Buiding được xây dựng trong năm 1929, ngay trong cuộc suy thoái kinh tế. Người ta mất 12 năm để xây dựng nó mà trong vòng 10 năm chẳng có ai lên đó ở. Tuy vậy, nó vẫn là toà nhà cao nhất thế giới!
Ngừng một lát, anh bạn Mỹ nói tiếp:
- Trước đây, ở Mỹ, người ta cho rằng xây cao tầng là nhằm để quảng bá cho tập đoàn. Giống như việc xây dựng một kiến trúc lạ mắt. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều cách khác để giới thiệu thương hiệu, như chất lượng sản phẩm, chứ nếu cứ đi theo lối mòn bằng nhà chọc trời thì chưa chắc đã hiệu quả.
- Trước khi qua Việt nam, anh có ghé Bangkok một tuần. Tôi có nghe nói đất ở thành phố này đang bị lún, không biết tin đó có chính xác không?
- Có đấy. Một nhà khí tượng học của Thái Lan cảnh báo là thành phố này sẽ chìm trong vài mươi năm nữa. Mực nước biển ngày càng dâng cao trong khi đất lún từ 1,5 - 5,3 cm. Ông nói rồi chúng ta sẽ chứng kiến cảnh xe hơi và xuồng đụng nhau trên đường phố.
- Theo anh biết thì lý do tại sao?
- Được xây dựng trên nền đất sét, đô thị Bangkok rất dễ sụp lún và quá trình này ngày càng trầm trọng hơn do việc khai thác nước ngầm quá mức và các tòa nhà chọc trời mọc lên ngày càng nhiều. Một trọng lượng khủng khiếp đè lên mặt đất!
Để đổi đề tài, anh hỏi nhận xét của William về đời sống xã hội, câu trả lời của nhà báo Mỹ đã làm anh giật mình. Tôi thấy anh mở to mắt:
- Hồi năm 71,72 lúc còn chiến tranh lính Mỹ và đồng minh hiện diện đông đảo ở Sài Gòn, có nhiều cô gái trẻ đi cặp đôi với lính Mỹ…và thường làm cho người dân phẫn uất. Chính mắt tôi trông thấy nhiều vụ tập kích, thanh niên sinh viên đánh người da trắng và xé quần áo cô gái, đuổi đi.
Giờ thì không có chuyện đó xảy ra. Cảnh tượng dân da trắng đi ăn cơm tối với gái trẻ Việt Nam nhan nhản ở những nhà hàng sang trọng, cô nào cô nấy đều trẻ đẹp, có người có văn hoá cao, và họ đều tự nhiên dắt tay người tình da trắng tuổi có khi đáng cha đáng chú mình mà không hề ngượng ngập.
William còn kể là trước khi vào Sài Gòn vợ con anh có sống ở Hà Nội một tháng. Thời gian này vợ anh cũng quen khá nhiều bạn bè Việt Nam. Trong một buổi tán gẫu khi cô vợ hỏi một quí bà rằng đàn bà Việt có ngoại tình không thì chị trả lời rằng ở Hà Nội có cụm từ tiếng Anh rất thông dụng. Đó là chữ MBA. Nhưng không phải là Master of Business Administration (Thạc sĩ quản trị kinh doanh). Mà là Married But Available (có gia đình rồi nhưng sẵn sàng đáp ứng).
Phải nói thêm là chị đó tốt nghiệp Đại học, làm việc ở Lãnh sự quán nước ngoài, có chồng là giám đốc một công ty xuất nhập khẩu và có hai con.
Vợ anh đã nghe câu trả lời mà đầu óc choáng váng.
- Một trong những điều tai hại của nước Mỹ hình như đang được du nhập vào đất nước này. Đó là cuộc chiến tranh giới tính và cổ võ để đàn-bà-chống-lại-đàn-ông. Bạn hãy nhìn những người phụ nữ trong các thành phố lớn: cứng rắn, mạnh khoẻ, tự tin, khinh mạn, kiêu hãnh. Tất cả những gì được gọi là nữ tính trong thế hệ chúng ta đều biến mất. Người ta cố tình xoá bỏ sự-mềm-yếu nhằm loại trừ sự khác biệt, để hai-giới-tính-bằng-nhau và kết quả là biến đàn bà thành một phiên bản xấu của đàn ông.
Có lẽ nhìn thấy ánh mắt kinh ngạc của tôi, anh bạn Mỹ liền trấn an:
- Đừng, xin cô Gấm đừng hiểu lầm, điều tôi nói không có liên quan gì đến chuyện bình-đẳng-quyền giữa nam và nữ. Tôi chỉ nhìn khía cạnh làm-hai-giới-bằng-nhau. Kết quả? Một sự bất hạnh lớn. Hãy nhìn kỹ họ trên phim ảnh Mỹ: Nhiều phụ nữ, khoảng bốn mươi, năm mươi tuổi, cô đơn. Nhiều người vừa ngậm điếu thuốc, phì phèo, tay dắt chó đi dạo trong công viên. Tên con chó cũng chính là tên của người đàn ông mà họ mất: Bill, Bob. Quan sát kỹ bạn sẽ thấy đó chính là những người đàn bà mà hai mươi, ba mươi năm trước đã hằng ngày chạy jogging để giữ thân hình thon thả, những người đã đầu tư tuổi trẻ cho cuộc chiến tự do tình dục, nam-bằng-nữ. Bây giờ họ đã già, những nếp nhăn trên trán, trên mặt như vẽ lên mối sầu của nỗi cô đơn.
Chị vợ của William từ nãy giờ yên lặng theo dõi bỗng chen vào và anh chồng dịch lại:
-Tôi rất đồng ý với phong trào nam nữ bình đẳng nhưng theo tôi: “Sự bình đẳng tốt nhất là để cho phụ nữ được làm phụ nữ, đừng bắt họ phải làm đàn ông. Bởi, khi người đàn bà thích làm công việc đàn ông thì gia đình tan nát!”
Chị còn nói thêm là có theo dõi các chương trình quảng cáo rầm rộ trên TV, quan sát các khóa dạy dancing, múa bụng, cách thức trang điểm... Hầu hết các chương trình này đều dựng hình tượng phụ nữ hiện đại mà không biết rằng trong cuộc sống của người phụ nữ còn nhiều điều quan trọng hơn là chăm lo sắc đẹp chỉ để thu hút sự chú ý của đàn ông, kiếm cơ hội an toàn về tài chính như việc làm thế nào để lấy được ông chồng giàu.
“Điều này sẽ để lại hậu quả xã hội rất lớn.”
“Bạn để ý nhé. Phim ảnh, sách báo vô nghĩa nhưng không hòan tòan vô hại đâu!”
Chị vợ nhìn chồng mỉm cười, chị còn cho biết là khi qua đây chị mới hiểu tại sao phần lớn những ông chồng ở các công ty Tây phương thường để vợ ở nhà và qua Việt Nam một mình. Khi vợ qua thăm, thấy Hà Nội, Sài Gòn đều nhớp nhúa, đời sống xô bồ, hỗn độn, có bà hỏi chồng là thế giới hết chỗ hay sao mà phải qua sống ở đây. Mấy ông trả lời là công việc. Mấy bà đâu hiểu là cuối tuần các ông được tự do và thoải mái đi săn gái Việt ở những quán karaoke, quán ăn, quán mát-xa, đấm bóp.
GIAO THÔNG
Lúc bà vợ kể chuyện thì William nhìn ra đường. Quán ăn nằm gần một ngã tư nên có khá đông người qua lại. Khi nghe tiếng còi xe, anh ta lắc lắc đầu và mỉm cười. Tôi hỏi tại sao thì anh đáp:
- Nhiều người nói muốn đánh giá một xã hội thì hãy nhìn xem họ đi đứng như thế nào. Hình như ở Việt Nam người ta không có ý niệm về đường ưu tiên. Ban đêm có thể chạy không đèn hay thoải mái bật đèn pha làm mù mắt người đi chiều ngược lại. Đi đường không cần luật. Người ta tự do chen lấn, chèn ép, mạnh ai nấy đi, và tha hồ bóp còi, đủ loại to, nhỏ, điếc tai và người giữ luật thì đứng nơi không ai thấy, gặp người vi phạm, kéo vào góc cây, thậm thà thậm thụt…"
***
Ở dưới là hình ảnh tấm bìa 3 cuốn sách mà gia đình anh Dân ( Trương Văn Dân và Elena Pucillo Truong) cho xuất bản thời gian gần đây, nó cho thấy khả năng làm việc "khủng khiếp" của 2 tác giả.
KỶ NIỆM TỪ NHỮNG VỊ KHÁCH
Ngày 18 tháng 4 năm 2025
1/ Mong mỏi từ lâu, sáng 18/4 vừa qua, tôi đã mời được nhà thơ Thanh Nhàn và nhà thơ Bằng Việt tới nhà, cả hai từng sống với gia đình tôi ở khu tập thể Thành Công gần 40 năm trước. Các bạn ấy là những người tôi quen biết từ khi bắt đầu chiến tranh, khoảng 1965 -1970. Chúng tôi đã nhắc lại nhiều kỷ niệm về các bạn viết văn làm thơ cùng lứa, ai mất ai còn, cùng những vui buồn của tuổi già.
---
2/ Trước đó, sáng 13/4, nhà nghiên cứu, Pgs Ts. Nguyễn Ngọc Thiện từng công tác ở Viện Văn và có nhiều năm tháng làm tổng biên tập phụ trách Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam đã tới thăm và bàn về một số việc giúp đỡ tôi. Dưới đây là mấy tấm ảnh ông chụp tại vườn nhà tôi.
---
3/ Đã hẹn từ lâu, tới sáng 9/4, người bạn trẻ Sao Mai mới có dịp đến thăm tôi. Lần này cùng đi còn có Bùi Quang Minh người hoạt động rất rộng rãi, và riêng tôi thì bao giờ nhớ tới anh, tôi cũng nhớ tới trang web Chungta.com, nơi đã giới thiệu nhiều bài viết của tôi từ rất sớm. Lúc đầu, tôi hẹn với Sao Mai là sang tôi chơi để giúp tôi hiểu về cách sống cách làm việc của các bạn trẻ hiện nay. Nhưng câu chuyện đã sớm chuyển theo hướng bàn về chính công việc của tôi khi đã về già và 7 năm nay lâm bệnh. Tôi hy vọng là tới đây chúng tôi còn có dịp gặp nhau, nó là điều kiện cần thiết để bản thân tôi trong điều kiện sức khỏe của mình, và với sự giúp đỡ của các bạn, hoàn chỉnh nốt công việc nhiều phần bừa bộn mà tôi đã làm trong 60 năm làm nghề. Điều duy nhất mà hình như hôm ấy tôi có vẻ như giúp được Sao Mai là tôi đã giới thiệu với bạn ấy các sáng tác của nhà văn Vũ Hùng, một nhà văn lớp trước chuyên viết về thiên nhiên cây cỏ, và nhất là các loài động vật. Tác phẩm của Vũ Hùng gần đây đã được nhà xuất bản Kim Đồng in lại gần như đầy đủ, nhưng vẫn chưa được các đồng nghiệp lớp trước biết đến nhiều.
Còn gì vui sướng hơn là trong tuổi già mà vẫn tìm được sự đồng cảm của các bạn trẻ. Tôi nghĩ, với tôi, trong cuộc đời làm nghề, buổi sáng gặp gỡ với Sao Mai và Bùi Quang Minh là một buổi sáng hạnh phúc. Hai tấm ảnh sau đây đã ghi nhận điều đó.
---
4/ Có lẽ cuộc tới thăm gia đình tôi sáng 4/4 của bạn Đỗ Phương Quỳnh thuộc loại những cuộc gặp gỡ rất bổ ích và lý thú với tôi trong những năm gần đây. Sau này tôi mới biết rằng người bạn rất lịch lãm này của tôi cũng đang trong tình trạng không được khỏe, khá nhiều bệnh già chi phối, chỉ vì nể tôi mà sang chơi. Đáng tiếc là hôm ấy cả hai vợ chồng tôi do say chuyện quá mà quên cả chụp ảnh kỷ niệm.
---
5/ Lùi xa hơn nữa là từ 2/3, tôi được anh Huệ Chi cùng với anh Lại Nguyên Ân, bạn Đặng Hảo, bạn Nguyễn Nguyên Bình tới thăm và tặng quà. Tôi cũng lại quên chụp ảnh, tấm ảnh sau đây tôi lấy từ trang của Nguyễn Nguyên Bình, sau khi đã rất cảm ơn thịnh tình của người bạn đồng nghiệp quen từ hồi chiến tranh, khi Bình là phóng viên báo Quân đội Nhân dân, còn tôi ở bên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
Ngày 20 tháng 4 năm 2025
Bài viết này in lần đầu trên báo Văn Nghệ (Tháng 5- 2008) và đã đưa lại trên blog cá nhân tôi ngày 30 thg 4, 2009, rồi trên FB này ngày 20-2-2021, bản dưới đây trích lại theo nguồn 2021 nên tôi mạn phép đưa kèm một số bình luận ở dưới
-
Tôi nghĩ lúc này mà có đồng nghiệp nào
Đứng ra mời
Các nhà văn đã viết từ hồi chiến tranh
Và cả các bạn lớn lên ở miền bắc nhưng viết về sau
Kể lại những tiếp xúc và những học hỏi
Đối với văn học miền nam
Rồi tập hợp lại
Thì chúng ta sẽ có một cuốn sách thú vị
------
Hồi tôi còn học trung học phổ thông, tức là đầu những năm sáu mươi, trong sách giáo khoa văn học trích giảng, vẫn có những phần nhắc lại một cách sơ lược rằng các thành thị miền nam có một nền văn học của mình – dù rằng nhắc để phê phán.
Năm 1959, Chế Lan Viên có bài đọc Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương, bài viết kèm theo nhiều trích dẫn.
Trước đó trên báo Văn nghệ còn thấy in một lá thư, trong đó nhà văn Nguyễn Tuân thay mặt Hội văn nghệ mời các nhà văn miền Nam cùng dự Hội nghị các nhà văn châu Á tổ chức ở Ấn Độ cuối năm 1956.
Lá thư có cái giọng thực sự chân thành và trân trọng “Thân gửi các bạn nhà thơ nhà văn miền Nam… Chúng tôi lấy làm sung sướng chuyển vào các bạn lời mời của Ban trù bị Hội nghị… Hội Văn nghệ Việt Nam trong khi cử ba bạn nhà văn nhà thơ miền Bắc sang dự Hội nghị cũng rất thiết tha mong mỏi được gặp các bạn để trao đổi những kinh nghiệm sáng tác của chúng ta.”
Sau vụ Nhân văn, những thông tin rộng rãi kiểu đó không còn nữa. Bước vào chiến tranh, lại càng tuyệt hẳn
Tuy nhiên trong những năm ấy, nhiều tờ báo nhiều cuốn sách bên kia giới tuyến vẫn có mặt, sách báo ở Sài Gòn ở các thành thị miền Nam vẫn len lỏi trở đi trở lại trong câu chuyện của giới viết văn ở Hà Nội.
Sự tiếp xúc xảy ra âm thầm lưa thưa lót đót, khi được khi chăng, nhưng không bao giờ chấm dứt.
Và khởi đi từ những năm chống Mỹ, nó sẽ có lúc bồng bột cuộn lên mạnh mẽ (mà cũng là xô bồ - tung tóe - nhếch nhác hơn, đầy trắc trở hơn) trong những năm hậu chiến và kéo mãi đến ngày nay.
Tại sao những người viết văn năm ấy đang còn trẻ là bọn chúng tôi lại chú ý đến mảng văn học đó?
Nếu có người hỏi như vậy, chính tôi cũng sẽ lúng túng và nói bừa rằng thích thì làm vậy.
Rồi người ta có thể kể người này có biết gì đâu, chẳng qua học đòi; người kia lúc nào cũng kín kín hở hở khoe rằng mình đã đọc để làm dáng...
Tất cả những cái đó có cả.
Thế nhưng ngồi nghĩ lại ở đây còn có một cái gì sâu xa hơn mà dần dần trong thời gian nó mới bộc lộ.
Có thể, vâng, tôi lờ mờ cảm thấy không chừng những con người đó và những cuốn sách đó sở dĩ có sức thu hút với bọn tôi là vì những lẽ vừa xa xôi vừa thiết thực.
Trong sự chờn vờn có có không không lẫn lộn, “nó” giống như một thách thức mà khi nghĩ tới, thúc đẩy chúng tôi làm tốt hơn công việc trước mắt.
Bằng cách đưa ra những trang viết khác hẳn chúng tôi đang viết, “nó “gợi ý về những việc có thể làm, nhớ lấy rồi ra lúc khác sẽ làm.
Ấy là không kể -- điều này thì chắc chắn chứ không còn nghi ngờ gì nữa --, “nó“ mở ra cho chúng tôi một chân trời mới về kiến thức văn học và thức dậy những ham hố phiêu lưu.
Đại loại đó là sự tò mò của tuổi trẻ hoặc cái khao khát được sờ vào những trái cấm.
Mà …tuổi trẻ bao giờ chẳng thế, trách chúng tôi thì “trách cả nhân loại “!
--
Hồi ấy trên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, có cả một chương trình dành cho người nghe ở các đô thị, trước tiên là trí thức văn nghệ sĩ Sài gòn. Nhiều nhà văn tên tuổi như Tô Hoài Xuân Diệu và các cây bút loại như Nguyễn Thành Long thường được mời viết cho chương trình này.
Muốn người ta viết thì phải có cái cho người ta đọc.
Tự nhiên là có nhu cầu phải tìm sách và có sự truyền tay sách vở. Trong bọn chúng tôi có anh Trúc Thông làm ở chương trình đô thị của đài. Gần như cả giới văn chương trẻ Hà Nội biết điều đó. Cứ nghĩ rằng nếu lân la tìm đến ngôi nhà 16 Hồng Phúc sẽ được ngó ngàng vài số tạp chí từ trong kia mang ra, lòng đã run rẩy và có phải đi xa mấy để đọc cũng chẳng ai thấy ngại.
--
Mấy năm gần đây một vài bạn trẻ thích nhắc đến thơ Thanh Tâm Tuyền.
Nhưng chính hồi ấy, chúng tôi biết đến nhiều hơn là một Thanh Tâm Tuyền ở văn xuôi.
Một lần nào đó đi họp với các cụ nhà văn tiền chiến, tôi chợt phát hiện ra Nguyễn Tuân đang giấu trong túi áo rồi thỉnh thoảng lại mở ra đọc cuốn Cát lầy của Thanh Tâm Tuyền. Vâng chính là nhà văn ấy, đang đọc cuốn sách ấy.
Tôi về kháo với anh em cơ quan. Tự nhiên là chúng tôi cũng bị lôi cuốn bảo nhau mò mẫm đi tìm.
Đến cả Nguyễn Khải cũng tìm.
Cát lầy, theo Nguyễn Khải, ăn ở sự ma quái của mình.
Cũng như sau này Nguyễn Minh Châu nói rằng thích Thần tháp rùa của Vũ Khắc Khoan vì ở đó có yếu tố tượng trưng.
Cả hai nhà văn Hà Nội của tôi viết theo lối thực, nhưng ở chỗ riêng tư, các anh bao giờ cũng nhấn mạnh rằng một thứ văn xuôi thăng hoa mới là điều đáng ao ước, và tôi cũng học theo các anh mà nói vậy.
Ai mà chẳng muốn khác đi một chút so với những gì mình đang có!
--
Sau Thanh Tâm Tuyền, thấy rộ lên trường hợp Nguyễn Thị Hoàng. Có lúc nghĩ lại thấy hình như truyện chẳng có gì, chỉ ăn ở cái lạ là mối tình của một cô giáo với một học trò, nó quá ư là “công”, là ngược với thói quen đạo đức còn nặng chất phong kiến của dân Hà thành.
Nhưng nên nhớ hồi ấy, cả Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng không ai được đọc. Thì cái chất mùi mẫn kia lại đâm có sức quyến rũ.
Và trong sự chăm chú đọc, người ta nhận ra ở nó cả những yếu tố còn lờ mờ, nhưng đã có ở chính mình.
Sổ tay tôi còn ghi nhiều cuộc trò chuyện với Nguyễn Minh Châu, trong đó có những nhận xét của anh Châu về Vòng tay học trò.
Về nghệ thuật, anh Châu bảo “văn chương nó viết nhuyễn thật. Không phải là uốn éo đâu mà với nội dung ấy thì phải viết kiểu ấy, nó mới nói hết được cái phức tạp của con người bây giờ “ (xem Trò chuyện với Nguyễn Minh Châu, tạp chí Nhà văn số 4-2008).
Ai đó nghĩ Nguyễn Minh Châu chuyên viết chiến tranh sao lại có thời giờ lưu ý phần nhân bản trong trang viết.
Nhưng đúng anh Châu là thế, nên anh mới cắt nghĩa Vòng tay học trò theo kiểu liên hệ tác phẩm của Nguyễn Thị Hoàng với Dấu chân người lính của mình “Có một đoạn, Nguyễn Thị Hoàng tả cô Trâm này với tay Minh ra gieo đỗ, nói về sức sống trong lòng đất. Tôi thấy mình cũng gặp nó ở chỗ ấy, trong một đoạn tôi viết Xiêm đi lấy thóc và tự hỏi tại sao không lấy gạo mà lại lấy thóc?...”.
Vậy là việc đọc Vòng tay học trò với Nguyễn Minh Châu, là một hành động nghề nghiệp nghiêm chỉnh.
Anh ngầm bảo rằng những tác phẩm của phía bên kia kích thích anh, như một lời mời gọi thú vị: “Đọc những tay này, tự nhiên mình dậy lên một thứ thâm thù: Mình cũng phải viết được cái gì để làm cho nó khiếp về mình mới được.“
Cũng không nhớ hết là nguồn sách ở đâu ra chỉ biết là những cái tên như Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ, Mai Thảo và Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ và Thế Uyên… đã đến với chúng tôi rất sớm.
Sau này đọc lại thấy sự hiểu biết của mình cũng lỗ mỗ chả bao nhiêu, nhưng lại chả cái gì là không thấp thoáng có mặt. Và có cả những cái tên những quyển sách mà có thể số đông chẳng có mấy ý nghĩa, nhưng với một số người nào đó lại có duyên nợ riêng.
Thật là trớ trêu, nhưng quả thật với tư cách một người mới làm quen với nghề này, cái mà tôi nhớ hơn cả từ văn chương Sài Gòn năm ấy lại là những tác phẩm viết về thân phận của người cầm bút.
Lần ấy, đọc Một ngày trong đời của Chiêu Hoàng truyện ngắn của Trùng Dương Nguyễn Thị Thái (in trên bán nguyệt san Văn 4-1973) tôi chỉ nghĩ người đàn bà viết văn ở đây sao gần mình.
Cũng đau đớn mà làm nghề, vừa viết để thỏa mãn cái tôi muốn tự khẳng định, lại vừa lo kiếm sống.
Những vui buồn ngổn ngang lấp đầy cuộc sống hàng ngày sao mà cũng na ná như tâm trạng của chúng tôi.
Một lần khác, tôi tìm thấy hình ảnh của những người quen mình và chính mình trong bóng dáng những người viết văn miền nam, đó là một đoạn văn của Mai Thảo viết về Vũ Khắc Khoan, in trên tạp chí Vấn đề, 1969
"Vũ Khắc Khoan. Một mái tóc đã chiều của một tâm hồn còn sớm. Những buổi chiều Sài Gòn buồn bã. Những buổi chiều Đà Lạt mù sương. Mỗi ngày qua thêm một sợi bạc. Âm thầm đe doạ, lặng lẽ tràn đầy. Ly rượu nửa khuya là ly thứ mấy. Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu. Muốn một thời đại hoàng kim. Thèm một tấm lòng bè bạn. Mỗi cơn say là một cảm khái ngà ngà. Vũ Khắc Khoan. Của một tự hỏi, tự hoài nghi và tự bâng khuâng lắm lắm về cái bình sinh mà mình chưa đạt. Ta đã dùng chi đời ta chưa? Ai đã dùng chi đời ta chưa? Ngó ra cái chung, cái đại cuộc cái toàn thể, nhìn trở vào cái riêng tây, rừng ấy mung lung, núi ấy chập chờn, nghe từng phiến đá tâm linh rụng dần những giấc mơ không thành tựu. Và tôi, một trong ít những người bạn của Vũ Khắc Khoan, tôi muốn nhìn ngắm anh như một cần thiết. Trong cuộc sống hàng ngày thôi, có rất nhiều những giờ phút buồn bã của chúng tôi có Vũ, người ta nhớ thêm được những điều đáng nhớ, quên mau được những điều đáng quên, và cuộc đời xem được là nhẹ hơn hoặc coi được là nặng hơn cái trọng lượng tầm thường và phí lý của nó."
---
Ngày 5-5-1975, vào Sài Gòn, sau khi đi thăm hiệu sách Khai trí, tôi nhờ một sinh viên dẫn đến tòa soạn Bách Khoa, gặp chủ nhiệm Lê Ngộ Châu rồi nhờ ông Châu nhắn gặp nhà văn Nguyễn Mộng Giác.
Có mấy lý do
thứ nhất theo tôi đọc được, anh Giác cũng là dân cũng học qua sư phạm như tôi và cách viết cũng nhiều chất trường ốc;
và thứ hai, anh Giác năm ấy so với những Vũ Hạnh, Võ Phiến … cũng là cánh trẻ.
Qua Nguyễn Mộng Giác, tôi làm quen với Hoàng Ngọc Tuấn và có lần đến thăm cả Nguyễn Hiến Lê.
Cái chính là chúng tôi cảm thấy cùng thân phận.
Tôi hay nói với Nguyễn Mộng Giác: Chúng tôi mà ở trong ấy, thì cũng thành các anh. Mà các anh ở đây cũng thành chúng tôi. Hoàn cảnh quyết định hết!
Không riêng gì tôi! Nghiêm chỉnh và sâu sắc, những kỷ niệm loại này, hẳn có ở nhiều bạn khác.
Và cả những kỷ niệm về hiểu lầm nhau, nghĩ sai về nhau, đánh đòn hội chợ chuyện này, thù sâu oán nặng chuyện kia, thật cũng là cái phù vân nhảm nhí của cuộc sống đâu mà chẳng có.
Tình trạng rón vào từng cục chẳng ai chịu ai là phổ biến của làng văn Việt Nam, cả giữa các nhà văn trong ấy, lẫn chúng tôi ngoài này. Thì trách nhau mãi sao tiện.
--
Nhưng thôi, hãy kể ít chuyện cũ đã.
Khoảng 1971-73 gì đó, có lần anh Nguyễn Thành Long khoe với tôi là nhân muốn trò chuyện với Thế Uyên, phải lặn lội về tận làng Bằng ở Hà Đông lấy tài liệu để viết một bài về Thạch Lam. Đoạn cuối truyện ngắn Cô hàng xén có câu “Tâm dấn bước. Cái vòng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện ra trước mặt, tối tăm và dày đặc“.
Hè 1972, có mặt ở Quảng Trị lúc thành phố chưa bị ném bom hủy diệt tôi mang về nhiều bài báo xé ra từ các số bán nguyệt san Văn, trong đó có bài Tự truyện viết sớm của E. Evtouchenko.
Chính là hồi đó, loại tài liệu này cũng là của hiếm.
Sẵn bản dịch của Vũ Đình Lưu, các bạn như Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, Lâm Quang Ngọc, … truyền tay nhau để đọc.
Tôi kể lại hai chuyện này để thấy sự chia sẻ của chúng tôi với văn học đô thị miền Nam - ngoài các lý do sâu sắc mà chúng ta phải tiếp tục khám phá -- chí ít còn ở hai điểm.
Thứ nhất sự chi chút gia tài văn học quá khứ.
Không có các anh trong ấy bao năm gìn giữ, Hàn Mặc Tử chẳng hạn, rồi Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… không thể trọn vẹn như ngày nay.
Thứ hai, sự tiếp nhận văn học nước ngoài từ các lý thuyết văn học tới các tác giả cụ thể. Các tạp chí ở Sài Gòn đã làm công việc này một cách tự nhiên và cuộc hội nhập với thế giới mà các bạn trẻ đầu thế kỷ XXI này đang làm là tiếp tục đi theo cái mạch đó.
--
Một số bình luận
-
Nguyễn Cảnh Thuỵ
Nhìn lại văn chương miền Nam thời VNCH mới thấy nó đa dạng, tiếp cận được cả các trường phái hiện đại của phương Tây, nó quan tâm đến mọi lĩnh vực của đời sống và tiếng nói đa chiều...
So với văn chương "Đàng Ngoài"- chỉ có một phong cách tả thực và một tư tưởng chính thống, thì nhìn ở góc độ văn hóa, rõ ràng văn chương "Đàng Trong" phong phú, hiện đại và thành tựu hơn. Nó chỉ có thể có được nhờ ở một xã hội cởi mở hơn về tự do học thuật, tự do xuất bản.
Bàn Đỗ
Văn học có tự do là có phát triển và sự lưu giữ như là một nhu cầu cân thiết của những người nghiên cứu. Cám ơn anh.
Trieu Nguyen Minh
Cũng như thế, cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, một số giáo chức chúng tôi ở miền Nam lại say sưa tìm đọc các bài viết của nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm. Chỉ có điều chúng tôi đọc và bình luận công khai vì chúng được in lại và phát hành rộng rãi cho những ai muốn tìm hiểu.
Tran Thien Tung
Để biết thì phải đọc. Đọc có thể hiểu nhau, tìm nhau.
"Tìm nhau trong hoa nở" của Phạm Duy, xin được đổi thành: "Tìm nhau như hoa nở".
Han Cao
Văn học nghệ thuật miền Nam đa dạng phong phú, có nhóm này nhóm nọ khác nhau tư duy đường hướng nhưng cùng nhau " đua nở" không bên nào chèn ép bên nào đến chết, kể cả chính quyền cũng tuân thủ Hiến Pháp không thủ tiêu những nhóm chống đối, vẫn để họ tự do phát triển, đương nhiên cũng có trường hợp ngăn chận nhưng không ác độc.
Tôi rất đồng ý với ông Nhan Vuong Tri về điều nếu ở bên này hay bên kia đều phải "gặp thời thế thế thời phải thế " cho tất cả mọi người dân không riêng ai. Nhưng sau 30/4/75 lớn tiếng " hòa hợp hòa giải dân tộc" mà không hiểu " thế thời" ?
Người văn nghệ miền Nam hấp thu tinh hoa thế giới họ rất hiểu điều ông NVT nói và họ rất trân quý những người văn nghệ miền Bắc có nhân bản lắm chứ. Nhưng không, họ bị coi là địch là kẻ thù cho đến nay những tác phẩm của họ vẫn chết trên quê hương của họ, nếu có ít ỏi được in thì cũng bị đục khoét cắt xén sửa đổi cho đúng định hướng hoặc đổi tên tác giả...
Đất nước đã liền giải sơn hà (nhưng đã không còn nguyên vẹn ) mà lòng người nam bắc lại nổi lên âm thầm nứt ra lằn ranh khó hàn kết.
46 năm, gần nửa thế kỷ, đất nước gôm về một mối nhưng văn thi ca Việt Nam đã viết được những gì đáng nói không ? Hay thỉnh thoảng có một vài bài thơ hay viết ra từ cái chết của dân miền Nam trong những ngày tháng 4-75 tiêu biểu như của Trần Mạnh Hảo ... Nguyễn NgọcTư về nỗi điêu linh của dân ...
Bài viết của ông NVT hay, các bạn ông nhận định về văn nghệ xã hội miền Nam hồi đấy đúng, nhưng các ông chưa làm được như họ. Tại sao ? Tự đáp và tự lo, tự làm để hậu thế còn có được đọc những tác phẩm hay và đồ sộ của các ông một thời đất nước thống nhất nhưng mất đất biển đảo.
Một tài liệu về đời sống văn nghệ
mấy năm sau 30- 4-75
***
Nhã Ca
GẶP NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN
Ngày 21 tháng 4 năm 2025
Chép theo trang Fb Cứ Nguyễn
--
Xế chiều. Chẳng nhớ là ngày nào, hình như cả tháng trước Giáng Sinh, khi anh Mai Thảo còn trong nhà, Trịnh Công Sơn có lần trở lại cửa hàng.
“Bà Nhã. Anh Nguyễn Tuân muốn gặp bà. Anh ngồi trên xe xích lô kìa.”
Xích lô đang đậu bên kia đường. Tôi bảo Sơn:
“Ông biết mà, tôi bận lo kiếm ăn, không văn chương chữ nghĩa gì nữa, không tiện gặp. Nhờ ông chuyển lời tôi cáo lỗi và kính thăm ông cụ.”
Mới cách đây không lâu, một bạn tới nói nhà thơ Lưu Trọng Lư từ Bắc vào, có lòng muốn gặp, tôi cũng đã trả lời tương tự.
Thơ Lưu Trọng Lư thời tiền chiến, chắc mãi mãi tôi sẽ còn trân trọng. Văn Nguyễn Tuân cũng vậy. Đọc Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, cả bài tùy bút Phở ông viết hồi Nhân Văn Giai Phẩm, quả có một thời tôi đã khiếp phục về chữ nghĩa tài ba của ông. Nhưng gặp để làm gì lúc này?
“Bà Nhã à. Bà nên dịu đi một chút. Tụi này thấy bà vậy, thật không yên tâm chút nào. Anh Nguyễn Tuân là người được nể trọng…Bà hiểu, tôi chỉ muốn bà được yên để lo nuôi các cháu.”
Sơn nói, giọng ôn nhu, dỗ dành. Phải cám ơn lòng tốt của Sơn thôi.
“Sơn coi, cửa hàng bề bộn, toàn đàn bà son phấn không hà. Biết làm thế nào…”
“Bọn này có chương trình đưa anh Nguyễn Tuân tới uống đằng Cửu Long. Bà tới liền nghe.”
Cửu Long là nhà hàng Hoàn Mỹ, Majestic cũ, hiện là nơi ăn nhậu sang trọng nhất thành phố.
“Tới liền e kẹt. Còn cửa hàng, đâu bỏ đi được. Phải kiếm đủ gạo đã…”
“Thôi thì thu xếp thế này. Ở Cửu Long ra, cả bọn họp bên nhà Nguyễn Hải ngay kế Mini Rex. Tên này xếp xòng bên Nghiên CứuVăn Hóa. Đây lại đó chỉ cách mấy bước à. Bà sang chút nghe.”
Sơn chỉ số nhà, rồi tất tả bỏ đi.
Thôi kệ. Cứ sang.
Mang lại cái áo bà ba đem về từ nhà tù, túm tóc bằng sợi dây thung, sau 5 giờ, tôi tới.
Căn phố đẹp ngay mặt tiền đường Lê Lợi. Bấm chuông. Tư sản mới có khác. Một bà vú ra mở cửa. Chủ nhà trông tướng tá phương phi. Bộ râu kiểng không che hết nốt ruồi bự. Đúng tướng diện lọai người suốt đời được ăn ngon mặc đẹp. Hèn chi, cách đây không lâu, con cháu có việc đi ra ngoài, về kể: Từ rạp Rex tới Ngã tư Công Lý-Lê Lợi, bị công an giao thông chặn đường. Nghe nói vì có bà Võ Nguyên Giáp tới thăm bà con trong khu này. Chắc chỉ là chủ nhà này thôi.
“À, đây là chị Nhã Ca phải không. Mời chị. Mình lên lầu.”
Một tầng lầu. Lại một tầng lầu nữa. Dòm qua, phòng nào cũng bàn ghế, sa lông, rèm cửa. Thời trước, ngay cạnh Mini Rex mà sang trọng được mức này, cũng là tay chẳng vừa. Bước lên nữa. Cửa mở.
“Mời chị. Đây rồi.”
Đông gớm. Xem còn ai nào. Kìa, Sơn Nam. Nhiếp ảnh gia Ngọc Tùng. Trịnh Công Sơn. Ngồi cạnh Sơn? À, nhớ rồi, Phạm Nhuận. Nhiều người nữa, không biết là những ai, tất cả quây quần quanh ông già tóc bạc chấm vai.
“Chào Bác.”
Tôi nói với ông Nguyễn.
“Ê. Nhã Ca đây hả. Ngồi xuống. Ngồi. Không gọi bác. Gọi bằng anh.”
“Dạ. Thì xin phép anh.”
Đã tính bỡn: cả nước chỉ có một ông Bác Hồ thôi, chắc anh kiêng. May sao ngừng kịp.
Chả biết mặt mũi ra sao mà ông Nguyễn gật gù.
“Thôi nghe. Anh em cả. Ngồi xuống. Nhã Ca uống được thứ này chứ?”
Chai rượu có hình ông già đội mũ, cầm ba toong. Rượu vàng sóng sánh.
“Wisky Scott cơ à?”
“Nhã phải nhớ, anh Nguyễn Tuân mà. Luôn luôn phải Scott thứ thiệt chứ.” Sơn cười, nói.
Khó tin. Hẳn là chỉ mới thấy lại thứ này từ ngày vào miền Nam.Ông Nguyễn đang nhìn tôi. Chắc thấy khó ưa rồi. Đành sửa lại cái mặt.
“Thì uống.”
Hình như mọi người đang thi nhau trổ tài nói. Đùa nhiều. Cười nhiều. Đến lượt tôi ngắm lại ông Nguyễn. Tóc bạc phơ, mỏng mịn như tơ, dài rủ xuống vai. Mặt xương. Trán cao. Hói kiểu cách. Miệng mỏng. Ăn nói duyên dáng.
Thấy tôi nhìn, ông Nguyễn cười, né người sang một bên, hỏi:
“Đẹp. Phải không. Nhã Ca?”
Nơi ông Nguyễn vừa nghiêng người, nhô ra hai bông hoa súng nở bung, đỏ lóet. Chờ tôi thấy rõ bông hoa rồi, ông nói thêm.
“Hoa súng đấy.”
Tôi đã nhìn rõ hơn. Dựa sát vách tường, ngay bên ghế ông Nguyễn ngồi, từ một bịch ni lông cột lùi xùi để dưới sàn nhà, có hai cọng bông súng vươn lên.
Một người nào đó giải thích:
“Hai bông súng trong hồ cảnh ở Majestic đấy. Ngay cạnh bàn rượu. Anh Nguyễn Tuân thích lắm, bảo hoa đẹp thế này, chỉ có chúng ta mới xứng đáng thưởng thức. Vậy là bọn này ngắt hoa mang về đây. Chị thấy hay không?”
“Hay lắm.” Tôi nói.
“Phải có một tấm ảnh chụp với cô em Nhã Ca chứ.”
Ông Nguyễn nói. Nhiếp ảnh gia Ngọc Tùng vội vã cầm máy hình đứng dậy. Thì chụp.
“Ảnh mầu cơ. Nào. Lại gần đây. Cạn ly.” Ông Nguyễn bảo tôi.
Cạn ly thật. Một người nào đó châm thêm khi ly rượu trên tay ông Nguyễn vừa cạn.
“Chị Nhã Ca, một ly nữa.”
“Cám ơn. Xin đủ.” Tôi nói.
“Nhã Ca giờ còn viết không? Ông Nguyễn hỏi.
“Buôn bán.”
“Giỏi nhỉ. Đàn bà, miền nào cũng giỏi. Cứ lúc hữu sự mới thấy cái tài giỏi của họ.”
“Chắc không giỏi nấu nướng bằng mấy đàn ông đâu. Món Phở anh tả hồi Nhân Văn Giai Phẩm, lâu nay, có thêm thắt được chút gia vị nào chưa?” Tôi hỏi.
“À há. Chị Nhã Ca. Hồi nẫy khi chị chưa tới, anh Nguyễn Tuân có nói không biết Nhã Ca ra sao mà ai cũng gọi là cọp cái, nó có răng nanh à? Đó, bây giờ anh nhìn coi. Chị Nhã Ca bình thường như mọi người. Không có răng nanh.”
Giọng có vẻ quen. Tôi nhìn lại. Phạm Nhuận. Nhà thơ trẻ này mặt mũi đôn hậu, nụ cười hiền lành, lời lẽ thường ôn nhu. Hôm nay, sao có gì khác thường? Tôi không có răng nanh, mà đôi khi cũng lòng lang dạ sói. Có cần nói điều ấy ra không? Không cần. Ông Nguyễn vẫn ôn tồn, kẻ cả:
“Viết lại đi Nhã Ca ạ. Nhã Ca viết tốt lắm. Anh có đọc một vài cuốn của cô.”
Tôi cười
“Chắc cả Giải Khăn Sô Cho Huế?”
Ông Nguyễn cũng cười, giọng càng ôn tồn hơn:
“Anh đọc hết rồi. Chuyện cũng không có gì mới mẻ. Chỉ có một hình ảnh cô tả anh rất thích là cái nón từ trên trực thăng rớt xuống mặt biển…”
Tôi phì cười.
“Bộ ở ngòai Bắc không còn tới cả cái nón lá?”
Tôi nhớ tên cuốn sách mới của ông Nguyễn vừa thấy ở hiệu sách: Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi. Đang tính thêm: Những chuyện giết chóc kiểu Mậu Thân Huế, đối với các anh ngòai Bắc, hẳn thấy là thường rồi. Đâu còn gì có thể gọi là mới. Nhưng Trịnh Công Sơn đã ngắt lời.
Sơn nói gì, tôi không nhớ rõ. Chắc cũng chỉ với ý tốt, muốn chuyển hướng câu chuyện. Cười thôi. Nhưng ông Nguyễn lại hỏi:
“Còn… hắn? Đang được học tập cải tạo ở đâu?”
“Cái gì mà học tập cải tạo. Anh muốn hỏi về ông chồng tôi à? Tù thôi. Đi tù thì nói đi tù, việc gì phải dùng chữ hoa mỹ.”
Ông Nguyễn cười, không có vẻ gì phật ý. Tôi bắt gặp ánh mắt Phạm Nhuận nhìn sang, gật đầu kín đáo.
Có người hỏi về một bài hát mới nào đó của Trịnh Công Sơn. Sẵn đàn, mọi người yêu cầu hát nhưng Sơn từ chối, nói thôi để khi khác.
Tới lúc cáo lui rồi. Không chừng chính sự có mặt của tôi làm cụt hứng những bài ca vui vẻ. Sơn vốn không phải là người thích nói nhiều, lúc nào cũng nhỏ nhẹ, từ tốn.
Sơn Nam có nói gì không? Có. Một lúc nào đó, nhìn cái áo bà ba tôi tha từ nhà tù về, anh nói:
“Nhã Ca bây giờ đứng chủ một cửa tiệm lớn ngay trên đường Tự Do, trông oai vệ quá.”
Rồi:
“Cô em chả còn dáng dấp gì một nhà văn cả. Như bà chủ hụi. Buồn năm phút.”
Đúng là căn nhà tôi đang ở cứ khiêu khích mọi người. Đã tính trả lễ. Nhưng thôi, nhìn kìa. Anh chỉ còn da bọc xương, ốm tới nỗi cả khuôn mặt, chỉ còn thấy linh động ở miệng và răng. Mới đó hồi nào, Hà Thúc Cần dựng phim Đất Khổ do tôi viết đối thọai, cạnh các nhân vật chính như Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Kim Cương, Dương Vân Quỳnh, có cả anh Sơn Nam ké vô một vai phụ. Trong vai một ông nhà văn nghèo mê đồ cổ, dù chỉ xuất hiện thoáng qua trong cảnh một quán nước ngọai ô, anh Sơn Nam lúc ấy còn linh họat, bén nhậy biết bao. Tội nghiệp anh ấy.
Tôi đứng dậy, chào ông Nguyễn. Hai cọng bông súng đã lìa gốc vẫn chờn bên vai ông. Mầu đỏ của bông súng tàn kề bên mái tóc bạc. Có hai người cùng chủ nhà tiễn khách. Phạm Nhuận:
“Nhuận bắt tay chị một cái. Chị Nhã Ca.”
Và Sơn Nam:
“Cô em. Lì xì anh đi.”
Ngó anh. Con Chim Quyên Xuống Đất ốm yếu, tong teo. Vẫn còn lòng quý mến chút Hương Rừng Cà Mau.
“Anh cầm lấy đi.”
“Thôi mà. Cầm đi. Đùa gì…”
Trịnh Công Sơn, ít lâu sau ghé lại, nhắc:
“Bà gặp anh Nguyễn Tuân đi. Có khó khăn gì, anh góp ý được.”
Xin đủ.
Đó là lần duy nhất tôi gặp ông Nguyễn. Cũng là lần duy nhất dự vào một buổi họp mặt có anh em nhà văn kẻ Nam người Bắc. Không bao giờ tôi có dịp nhìn thấy tấm ảnh mình đứng cạnh ông Nguyễn do anh Ngọc Tùng chụp.
Chỉ gặp lại Phạm Nhuận. Vài tháng sau, tới:
“Chị Nhã Ca. Nhuận tới thăm chị. Vội lắm.”
Mắt nhìn, cách chào, có vẻ lạ.
“Làm gì vội vậy. Không uống được với chị ly nước chanh hay sao?”
Hai chị em, hai ly nước chanh. Tới lúc từ giã, lại bắt tay, nắm chặt. Ai ngờ, từ giã thật. Ít lâu, nghe Nhuận đã đi thóat.
Mừng Nhuận. Bây giờ, là phần người còn ở lại.
MẤY NÉT GHI VỘI Ở SÀI GÒN ĐẦU THÁNG NĂM 1975
Ngày 28 tháng 4 năm 2025
Bài đã đưa trên trang blog của tôi ngày 22/04/2019
https://vuongtrinhan.blogspot.com/.../may-net-ghi-voi-o...
-------------------------------
Những ghi chép dưới đây của tôi được thực hiện ngay khi sự kiện đang xảy ra; bởi vậy xin các bạn tha thứ cho những non nớt và cái nhìn phiến diện của người viết trước những biến động to lớn của thời cuộc. Nhưng cái cảm hứng chính đã đến với tôi hồi ba mươi tuổi thì đến nay tôi vẫn giữ.
***
3/5
Sân bay Gia Lâm, cỏ dại, những phi công thũng thĩnh, phảng phất cảm giác hoang vắng. Nhưng Tân Sơn Nhất thì đang bẩn như một bãi chợ. Rộng quá, gấp bao nhiêu lần Gia Lâm, không tính được.
Lính phá như hồi Quảng Trị - chỗ nào cũng có dấu tích của bàn tay người lính đã sờ tới, nhưng chỗ nào cũng là sự bất cần bừa bãi ăn không được thì đạp đổ.
Cái sức sống ở đây đang thật là hạ cấp. Người ta không có khái niệm về sống chung mà chỉ có khái niệm về những thứ lặt vặt chất cho đầy dạ dày, cho đầy một cái ba lô.
Giấy trắng vứt như chuồng chồ, những thức ăn để lẫn với những thứ tạp nham khác. Một quân đội đi phá, không thể là một quân đội để xây, ngay cả khi đội quân đó chiến thắng.
Bên chiếc máy bay mấy chục chỗ kia, mấy người lính trong đơn vị đang tập xe đạp tò mò đứng lại xem. Nhiều cậu chân đi đất, quần sắn cao. Có cậu ngồi sau, chân thõng sang hai bên, chứ không phải đã biết ngồi một bên, như Hà Nội.
Một số thạo hơn tập hon-da. Tiếng xe máy phóng đi, như những cơn rồ dại thức dậy trong mỗi người.
Thấy một người lạ vào, lính hỏi đại loại.
- Anh quê đâu -- có anh nào quê Hà Nội không?
- Năm 72, nó đánh B52 ghê lắm phải không?
- Đồng hồ Poljot bây giờ bao nhiêu?
- Cái khách sạn này, nó mà chống đỡ thì mình chịu. Tường rất dày, bom bỏ trúng từng trên, từng dưới cũng không việc gì.
Đó là một người lính da vàng vì sốt rét, người lính chiến thắng. Khi tôi hỏi, anh ta bảo anh đã vào đây từ 1971. Anh đã vào đây, đi đường mất ít ra là 3 đến 6 tháng trong khi tôi chỉ đi mất có 3 giờ máy bay.
Sức sống, sức sống - lại nhớ ý nghĩ của mình - cái chết biểu lộ sự sống, sự hoang tàn thối nát cũng biểu thị sự sống đặc thù của nó. Trong lúc tôi viết những dòng này bên tôi nghe ve vẩy những con ruồi. Ở một cống ngầm trước mặt, nước cống chảy đều đều như cứa vào thời gian, trong khi đó, không biết từ đâu, nhưng trong phi trường lúc nào cũng thấy bật lên những đốm pháo sáng đỏ loè do lính bắn tập.
Tối ngủ trên khách sạn sân bay, nằm trên cái bàn đẩy, dùng một tấm kính rất đẹp lót lưng. Nghe nói rất nhiều chuột, khu trại Đa Vít chuộc cắn cả một đôi dép mới của ông Mỹ. Chắc chắn có nhiều muỗi lắm. Và phải ngủ sớm. Thôi, đêm đầu tiên ở Sài thành hoa lệ!
-
4/5
Không ngờ trong đời tôi, tôi lại phải chứng kiến khung cảnh như thế này, ở Mỹ, ở Tây Âu ra sao, nhưng ở đây, cái đuôi của xã hội tiêu thụ, tất cả hiện ra đầy đủ, thuận tiện, sang trọng không chê vào đâu được. Con người được tôn trọng, được thoả mãn đến tận cùng. Nhiều thứ quá, thứ gì cũng như mời chào mình, sẵn sàng phục vụ mình, nó tự hứa rằng không ai phục vụ tốt hơn nó cả.
Nhưng kinh khủng nhất là tình trạng hiện đại ấy đang bị đập vỡ. Cũng như các xóm ngoại thị Quảng Trị 6-1072, ở đây, hôm nay, tất cả ở trong tàn phá, ở trong thế xáo trộn. Trong lúc đi lang thang, tại những khu nhà tung tóe, những tiếng đập phá lục lọi rộn lên ở bốn chung quanh, tôi luôn luôn nhớ lại lời Nguyễn Minh Châu: "Lúc này giá kể có thể trốn đi đâu yên tĩnh mà ngủ một trận là thích nhất". Tôi cũng thế, tôi sợ sự hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi. Tôi không thích lục lọi, không thích dẫm lên mọi thứ vụn nát, không thích nghe tiếng súng nổ. Những ngày vừa qua, ở Hà Nội, tôi đã rất sợ cái cảnh bàn tán xuôi ngược, đợi chờ vơ vẩn. Nay vào đây, tôi càng cảm thấy bồn chồn hơn. Tiếng nhạc chưa bao giờ chọc vào thân kinh khó chịu như lúc này. Toàn là những chuyện khứa vào đầu óc con người. Lại nhớ những đoạn trong Bác sĩ Zhivago: chúng ta sống dưới một cái nhà không có nóc, ai muốn làm gì thì làm.
Thật là kỳ lạ, một người trong tôi, mấy hôm trước rất nôn nao chờ đón mọi sự đổi thay, hôm nay khi đổi thay tới không biết tìm đâu một chỗ để nghỉ ngơi và làm việc cho thoải mái. Tôi hiểu thế giới này là hỗn loạn, tôi có lúc muốn lao vào giữa cơn dông bão, nhưng thường lúc đã vào cuộc như lúc này, lại ngần ngại, không thấy thú vị gì hết, không hiểu sẽ xoay sở thế nào. Hình ảnh cái chiến thắng này ư? Một người luôn đánh vật với chiếc xe hon đa trong đêm, đập phá, giãy giụa, tìm mọi cách để sai khiến nó, mà không sao sai khiến nổi. Rồi anh ta sẽ phá bỏ nó đi không biết chừng, dù đã chiếm được nó trong tay, anh ta không biết điều khiển nó.
Một ngành hoạt động loại hiện đại nhất: phi trường. Và những người lính thuộc loại rừng rú nhất. Vậy mà những người lính bộ binh ấy đang làm chủ phi trường với sự hoang dã muốn làm gì thì làm. Mọi chỗ đều bị xới lật, tất cả gợi ra một cảm giác khó chịu đến không thể tưởng tượng nổi, cái cảm giác khó chịu ấy nó hành hạ tôi, khiến tôi cảm thấy hết sức đau khổ, có thể nói là cảm thấy nhục nhã nữa.
Nhục nhã vì thực ra, tôi đang là đồng bọn của những người này, tôi có liên quan tới tất cả những chuyện này. Tôi cũng đang là một kẻ chiến thắng - cái chiến thắng mà tôi không hiểu.
Cứ thế này mà suy, vậy thì cuộc đời còn gì là ý nghĩa gì nữa. Kẻ thắng lợi là kẻ vô văn hoá. Như một sự làm nhục văn hoá nói chung cái văn hoá mà tôi thường hết sức thành kính, tôi coi cuộc đời con người ta phải là đi về hướng đó. Vậy thì không phải chỉ có hôm nay thôi đâu, mà còn là những ngày sắp tới, cuộc sống sắp tới nữa. Cứ nghĩ cái xã hội mà 50 năm nữa miền Bắc chưa chắc đã tiến kịp, từ nay lại chịu sự quản lý của chúng tôi, do những người còn dốt hơn tôi chỉ huy - thì tôi không còn biết nói năng ra làm sao. Người ta sẽ viện dẫn đủ mọi thứ lý luận. Người ta sẽ bảo tôi phải bỏ qua hiện tượng, phải chú ý bản chất... Nhưng như thế tức là có cái gì đó phản lịch sử. Đúng thế, bạo lực vẫn thống trị tất cả.
Ngày hôm nay, tôi đinh ninh thế, là một ngày báo trước tất cả những gì sẽ tới của cuộc đời những ngày tới. Không hiểu sao, cuộc đời lại xoay chuyển theo cái hướng thế này. Kỳ lạ, cuộc đời vẫn luôn luôn mở ra những cái hướng mà không ai ngờ trước.
-
6/5
Người ta như thản nhiên quá chăng, thản nhiên trước tai hoạ sẽ tới? Con người như không biết nhiều gì những chuyện chính trị, con người chỉ có lo sống ham sống, và lo sống hàng ngày, những con người ấy sẽ thay đổi ra sao, tôi không hình dung nổi. Cái cảm giác chính, cảm giác về thân phận, cảm giác về chính mình, đang thức dậy trong tôi, khi tôi tiếp xúc với họ. Còn chính họ nghĩ ra sao, thì có giời mà biết.
- Xưa kia tôi cũng như anh
Mai đây anh cũng như tôi
Tôi giống như một người chết từ lâu, nay được tiếp xúc với những người sống - cái ao ước sống trong tôi - ao ước một cuộc sống được bảo đảm, tự do, cá nhân được tôn trọng, một cuộc sống lao động theo một nhịp điệu sôi nổi hơn, và nghỉ ngơi sinh hoạt thoải mái hơn, những ao ước ấy được cụ thể hoá thành xương thành thịt.
Nhưng rồi chúng tôi sẽ thống trị cuộc sống vốn có ở đây, cuộc sống hôm nay sẽ tan biến theo cái dòng sống vừa hỗn loạn vừa tẻ nhạt mà chúng tôi vẫn có... Đó là ấn tượng lớn nhất, mà tôi có được hôm nay.
Sự cuồng nhiệt của Sài Gòn
Tốc độ sống của Sài Gòn
Sự thản nhiên của Sài Gòn.
-
8/5
Sự gặp gỡ giữa hai xã hội khác nhau, với cái tình thế trớ trêu thắng thua như hiện nay tạo ra một cái gì giống như là cảm giác khó chịu. Tôi sống mệt mỏi, căng thẳng. Rồi tôi sẽ làm được việc gì bây giờ? Chịu không sao biết được.
Khi người ta sinh ra trong một xã hội khắc khổ, người ta có thể luôn luôn cảm thấy khổ, tới mức như một thói quen. Đến một xã hội chiều người, nịnh người, một xã hội tiêu thụ như xã hội này, người ta như một tu sĩ bước ra ngoài đời, không sao mà nhập vào ngay được.
Nhịp điệu sống ở đây cuồng nhiệt.
Sự thay đổi ở đây bất thường.
Và con người ở đây, thì lại quá quen thuộc với nếp sống đó, đến mức thản nhiên. Chúng tôi vừa bỡ ngỡ vừa xấu hổ với những bỡ ngỡ của mình, thật khổ. Như tôi chẳng hạn, tôi cảm thấy bị sốc quá đáng tới mức không sao trở lại tự tin cho được.
---
Nỗi đau khổ về chính mình, những người cùng đi với mình - nỗi đau khổ của quá khứ mấy chục năm nay giờ đang hành hạ tôi. Ở Hà Nội là những người rất già, rất chậm... ở đây, họ trẻ lại hóa thành những người rất khôn ngoan, lắm điều lắm nhời. Lắm lúc tôi như bất lực, không biết cách sao để nói chuyện với những người tôi từng yêu quý. Tôi rất muốn lấy lòng họ, sống hoà hợp với họ, để họ có thể yêu thương mình như ở ngoài kia. Nhưng chịu, tôi không làm nổi.
- Trên tất cả, tôi cảm thấy phải sống trong một thời đại mà cấu trúc tâm lý của mình hoàn toàn xa lạ.
Chiều nay, Sài Gòn mưa, cơn mưa rất lớn, trắng đất trắng trời. Người đi đường chúi cả vào một mái hiên nào đó chờ đợi. Mưa càng làm cho căn phòng của chúng tôi bức bối thêm, sau khi đã bức bối vì nước cứ dềnh cả lên, khắp nơi, cầu thang nhớp nháp, đồ đạc lộn tùng bậy - chúng tôi đang ở trong một cư xá Mỹ, mấy ngày đầu bị người vào hôi của, đến mức bây giờ lộn xộn quá đáng. Tôi nghĩ tới một hiện tình: mọi thứ tanh bành và chỉ đang được sắp xếp lại. Bao giờ sắp xếp? Chưa hiểu. Một cuộc cách mạng kéo dài 30 năm và bây giờ đang tiếp tục - dài quá, dài quá.
-
9/5
Ông Trần Bạch Đằng nói về tình hình văn nghệ Sài Gòn
- Ta bàng hoàng vì chiến thắng lẹ quá
- Có một số bàng hoàng vì chế độ cũ tàn nhanh quá.
- Tiếp xúc với lực lượng thứ 3: nên nói thẳng, không lầm rầm
- Những hình thức hôm qua không thích hợp
-----
- Bọn phản động nhất: lính kín, tổng nha
- Có những kẻ bảo chửi ông nội hắn, hắn cũng chửi
80% trí thức = lưu manh
Chữ văn nghệ sĩ chưa nói gì cả.
Thần tượng: Lê Xuyên, Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng
Nói chung, không sạch
Chúng ta không cần Viên Linh nói về cách mạng
Phải có một sự trừng phạt. Con cái chúng ta đã bị đầu độc. Không được lướng vướng tài năng
- Chúng ta phải có lương tâm - nhân dân hy sinh, bộ đội chiến đấu, không phải để chúng ta bị cuốn theo một chút tình cảm dễ dãi, tha thứ cho họ.
- Cách mạng chưa làm điều gì quá lố. Coi chừng hữu khuynh. Hàng ngàn thằng phản động.
Vòng tay học trò in lại, làm hại bao nhiêu người.
Không nên băn khoăn về đời sống họ.
Không có danh nghĩa gì. Gọi là cháu nội Văn Nghệ Giải Phóng không được. Cục cứt Văn Nghệ Giải Phóng cũng không được.
Đây không phải là lúc trầm tư về những hi sinh dân tộc.
- Chúng ta không chia quyền cho ai
Không việc gì phải tranh luận về tự do.
- Nhưng không phải mọi thứ đã hết
Bây giờ vẫn phải lo truy kích địch
- Khí thế 1975, so với 1945 kém xa.
Những người tốt: Nguyễn Hiến Lê - Nguyễn Văn Xuân - Giản Chi - Hoàng Trọng Miên - Bình Nguyên Lộc - Vũ Hạnh
- Lúc này, không có tác phẩm là có tội. Tác phong khẩn trương, không lề rề, bỏ mọi nghi lễ.
Bắc hay Nam tất cả đều là lực lượng VNGP
- Sự nghiệp là sự nghiệp chung
Tôi nghĩ trong ông Trần Bạch Đằng này
Nội dung: Tố Hữu
Bộ mặt: Lưu Quý Kỳ
Cách nói: Hoàng Minh Thi
-
Nát đá
Một sự gần gũi của xa lạ
Một nền văn hoá của vô học
Bàn tay sắt bọc nhung
Sự rơi tõm vào quên lãng
Hệ thống, Guồng máy từ trên xuống dưới
Con trội: mặt lạc hậu, mặt dở. Cỏ dại. Cỏ gianh: sắc nhọn, thẳng đuột
Bất cứ nơi nào, bất cứ thời điểm nào cũng chỉ mơ tranh đấu
Chiến thắng= Bóng tối
Vô vọng
Theo những con đường cũ: không có cách nào khác.
- Sự nản lòng thực sự
- Phản tự nhiên
- Số đông và số ít
Không kỳ vọng một điều gì
Chớ bao giờ ảo tưởng
"Cầm bằng chẳng đậu những ngày còn xanh"
Đất nước chẳng phải của chúng tôi.
-
10/5
Kém thích nghi biết bao là con người tôi. Tôi lao vào một hoàn cảnh mà tôi cứ đờ đẫn cả người, không sao quen thuộc nổi.
Nhưng trong tôi cũng mâu thuẫn biết bao. Tôi hết sức ham thích cuộc sống tôi mới tiếp xúc, nhưng trong lý trí, tôi cứ muốn phủ nhận nó. Mà cái lý trí này vào tôi đã thành tiềm thức, nó phản ứng một cách hết sức tự nhiên, biết làm thế nào? Tôi giãy giụa trong một môi trường nhiều thành phần đối kháng, ở đó chính mình chống lại mình. Sao mà khó bình yên như vậy.
Những trí thức bạt tử, những kẻ vừa hành lạc, vừa kiêu hãnh với sự hành lạc ở phía bên kia – cả những nhà văn nhà báo ấy bây giờ cũng bó cẳng chịu đầu hàng, và nói những điều thất bại?
Và bao nhiêu người dân vừa hồn nhiên vừa tội lỗi, vừa lao động, vừa hưởng thụ, vừa rồ lên cuồng loạn, vừa hết sức thản nhiên sống cho qua ngày. Thế là thế nào, ai biết được.
-
12/5
Tại buổi gặp mặt các sinh viên. Những câu hỏi của những sinh viên có suy nghĩ.
- Nếu chính phủ Dương Văn Minh thực hiện đúng như lời họ tuyên bố, các anh có chấp nhận không?
- Trong những năm tới ảnh hưởng của ngoại bang sẽ ra sao?
- Tại sao chính phủ cách mạng lâm thời ra mắt chậm như vậy?
...
- Chúng tôi hiểu xã hội này có nhiều cái dơ dáy. Người Mỹ ở đây càng dơ dáy. Nhưng chúng ta sẽ có một xã hội thế nào? Quyền tự do cá nhân có được bảo đảm không?
- Chúng tôi chấp nhận hy sinh, nhưng liệu hy sinh đó có thoả đáng.... Miền Bắc liệu có thể có một xã hội trong đó, khi một người để xe đạp ở đường, không bị ai dắt mất, và không có một em bé nào phải đi ăn mày.
Tôi thường trả lời họ:
- Cái căn bản là Mỹ đã đi, và miền Nam miền Bắc thành một Tổ quốc thống nhất. Còn như tương lai thế nào, sau này sẽ liệu. Tương lai nằm trong tay mỗi người thanh niên chúng ta.
- Trong thời gian tới, đúng là có nhiều vấn đề đáng suy nghĩ. Một dân tộc như dân tộc Việt Nam xứng đáng với những kết luận có tính triết học ghê gớm (một thượng toạ nói: Mỗi người Việt Nam trở thành một triết gia, sau khi Việt Nam này chiến thắng!)
Nhưng tôi cho, cái chính lại là hành động, dân tộc đau thương đang cần chúng ta hành động, để đóng góp vào những việc rất cụ thể, dù biết rằng không biết hành động thế nào (và thực ra, nếu không suy nghĩ cho đúng càng hành động, càng lầm lẫn, càng gây ra những rắc rối hơn.)
- Về mặt nào đó, chúng ta hình dung ra xã hội phía trước còn rất nhiều chuyện. Những ảnh hưởng ngoại bang ư? Sẽ là rất lớn đấy, nhưng không có gì đáng sợ. Bởi cái chính là mỗi chúng ta, là những người trong cuộc chúng ta.
Sài Gòn - Với tốc độ của hon da, cuồng loạn, hon da leo lên cả vỉa hè, hon da len vào cả những bàn ngồi uống nước bên vỉa hè.
Với sự thay đổi của màu sắc trên đường, của mốt ăn mặc.
Với một vẻ ngoài tràn ngập vật dụng, rất nhiều hàng hoá, con người luôn luôn được phỉnh nịnh, được thoả mãn...
Với tất cả những cái đó, tôi hiểu người viết trong này bị thách thức rất nhiều. Cái đặc điểm lớn nhất của văn nghệ ở đây là thương mại hoá - Cái xã hội thương mại mà nhà xã hội học xô-viết I. Kôn nói rằng rất cần thiết cho trí thức, theo tôi, lại đã đến mức quá đáng, không thể chịu được. Vậy biết giải quyết ra sao?
-
13/5
Tôi ghê sợ sự trì trệ. Nhưng tôi cũng không thích thú gì sự hỗn loạn. Nhất là một tính cách như tôi, tôi không phải là người giàu sức sống cho lắm.
- Lịch sử biến động càng lớn, mỗi con người càng hết sức bơ vơ.
- Sự giải phóng miền Nam đồng thời là sự giải phóng miền Bắc.
- Cả một xã hội chờ đợi
-
16/5
Sau 2 tuần giải phóng, Sài Gòn bắt đầu nhao nhác. Hàng vặt bày cả ra vỉa hè. Nhà nọ bán cho nhà kia. Nhưng lấy đâu ra tiền mà tiêu. Nhưng có ai làm ra cái gì đâu?
Xã hội đây là một xã hội tiêu thụ, nhưng về mặt nào đó, nó là xã hội đã hình thành, nó cần đến pháp luật, chính sách, tổ chức. Nó không phải là một xã hội tự cung tự cấp.
Nhưng người quản lý nó hiện nay không biết điều đó. Tiền nong, tài chính... lắm chuyện quá.
Cách mạng chỉ mới mang lại những khẩu hiệu, những chữ nghĩa. Nhưng người ta sống bằng những cái cụ thể khác.
Vả lại, những chữ nghĩa ấy vốn được giành cho một xã hội khác kia. Còn đây là một xã hội náo nhiệt quay cuồng về mốt, một xã hội sống tạm bợ, nương dựa, và bao lâu nay, như cái cây đang nở hoa, mà rễ đã bị ăn luỗng. Giữa "phương thuốc" và "căn bệnh" chẳng có gì là liên quan đến nhau hết. Làm sao mà giải quyết cho được?
Tôi cảm thấy bản thân mình không thích ứng được với hoàn cảnh. Tôi cũng bắt đầu chán cái Sài Gòn hỗn loạn này.
... Nhưng tôi biết đi về đâu? Trở lại với cái miền Bắc trì trệ, già cỗi kia ư? Cũng nản lắm. Mấy cụ già thì thào, bất lực. Những kẻ xấu hoành hành. Và bao trùm là những điều kiện sinh hoạt cơ cực, khiến cho con người không còn nghĩ được gì khác, con người như mất hết nhân phẩm.
Sự bơ vơ là ở tất cả mọi nơi. Cảm giác bơ vơ đến với tôi bất cứ lúc nào. Sự bơ vơ là khôn cùng.
Tôi nên làm gì? Tôi không rõ. Văn nghệ ư? Tác dụng trong đời sống vớ vẩn lắm. Và tôi cảm thấy mọi chuyện chả còn chi ý nghĩa. Tôi khổ sở vì tự do. Tự do chẳng biết làm gì cả.
Trong những ngày này, thắc mắc quá nhiều về công việc là một điều ngu ngốc đấy. Công việc bây giờ là sống như mọi người, bị cuốn đi, đến đâu hay đến đấy.
Trong những ngày này, mỗi cá nhân bé nhỏ đến thê thảm. Một người như Nguyễn Đình Thi, cũng không biết ở đâu (ông ta vào từ trước chiến dịch, nay không có tin tức gì hết). Sau khi giải phóng Côn Đảo, nghe nói những trí thức như Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư vẫn còn sống, nhưng chỉ sống cuộc sống hắt ra, không có ý nghĩa gì hết. Khi anh thành một con người lịch sử, thì về phương diện cá nhân, anh cũng chết luôn thế.
Vậy thì nói chi đến thân phận chúng tôi, những kẻ vơ vẩn, những cuộc sống tôi đòi. Khi tôi nghĩ đến những vớ vẩn, dại dột của mình, tôi chỉ còn an ủi: Bao nhiêu người hôm nay mất nghiệp, phá tán nhà cửa. Bao nhiêu người thay đổi địa vị, thất nghiệp, thơ ra thẩn vào. Không biết làm chi. Tôi chỉ là một cá nhân bé nhỏ như tất cả những người ấy, tôi làm sao hoàn toàn an toàn, vô can cho được. Tôi xin cam chịu. Có lẽ phải nghĩ rằng dẫu sao mình cũng còn khá hơn nhiều người khác.
Những nhận xét sơ bộ
- Ở đây, người ta sống theo mốt, nhưng lại không biết thực chất mốt là thế nào. Không tự ý thức. Không năng động theo nghĩa làm sao để suy ngẫm về mình.
- Một vẻ gì như thản nhiên, như vô tâm,
- Mốt, như một hình thức méo mó của mặc cảm
- Mốt, như một cái gì chỉ huy, hướng dẫn (khác với lối hướng dẫn của CNCS)
- Sự phổ biến của mốt ra đại chúng đồng nghĩa với sự thương mại hoá? Tất cả đều trở thành sử dụng cho đông đảo mọi người, đồng tiền chỉ huy mọi chuyện.
Sách vở bán xô, bán đại hạ giá.
Sự sụp đổ của một chế độ, như chế độ Sài Gòn, làm cho tôi hiểu thêm cái phía này: văn chương, nghệ thuật không là gì cả. Cả một thể chế được xây dựng chắc chắn như thế này còn bị sụp đổ, thì một bài văn, bài báo, có thấm thía gì? Tôi hiểu rằng chỉ có Bạo Lực thống trị tất cả. Và sau bạo lực là đêm tối, mọi chuyện tan biến đi như đêm tối.
Đứng trước một thành phố như Sài Gòn mọi người đều bị lột mặt ra chăng. Có tránh được chính mình chăng?
Chỉ trước sách vở, mới cảm thấy yên tâm một chút. Còn thì lúc nào tôi cũng bồn chồn. Tiện nghi hàng hoá, những cái đó lôi cuốn, không khỏi suy nghĩ về nó, đến nao cả lòng. Nhưng một mặt khác, thấy rõ những gì gọi là tương lai mới quan trọng. Mà dần dần, bước đầu, trong xã hội này, công việc cũng đã trở thành một thứ hàng hoá. Vấn đề có lẽ không phải là việc người ta sướng hay khổ, vấn đề là làm sao để cảm thấy lương thiện. Và ở phía CS, nơi người ta hằng xuyên như là tự xấu hổ về mình, như là một mặc cảm tội lỗi về cái tối của mình, thì sự lương thiện không được đặt ra.
Về Mỹ (ý kiến nghe được ở nhà bà Cúc)
1. Mỹ rất khôn ngoan: Nó cho mình gạo mỳ, dầu hôi trước, rồi mới bán sau. Khi đã dùng quen, thì bắt buộc phải mua của nó.
2. Các PX cố tình để lính Mỹ ăn cắp hàng bán ra thị trưòng. Mỹ muốn làm hỗn loạn thị trường của mình. Mỹ muốn tạo ra một xã hội giống Mỹ, do đó, cần Mỹ.
3. Người Mỹ rất ít tình cảm. Hôm qua, anh làm cho nó, thì nó quý hoá, trả lương rất hậu, muốn gì cũng được. Nhưng chỉ cần anh có việc gì găng go với nó, nó không nhận anh làm với nó nữa, thì thôi đấy, nó yêu cầu anh đừng để cho nó thấy mặt anh nữa. Không còn tình cảm gì hết.
4. Chính ra người Mỹ rất ke, dóc, khó lòng mà móc một xu ở nó - Chỉ trừ có gái, gái thì móc thế nào cũng được, đổi cả nhà nó cũng đổi.
5. Nhưng người Mỹ được cái không nói dối, và nó không thích mình nói dối.
Chính người Mỹ có một cái gì đó rất phong kiến.
---
Bản dịch bài viết ngắn này đã được đưa trên Tạp chí Việt Học - Số đặc biệt về 30.4
https://doi.org/10.1525/vs.2025.20.2.52
NHỮNG TRANG VIẾT “MỜI GỌI MỘT CUỘC ĐỐI THOẠI RỘNG LỚN HƠN VỀ DI SẢN CỦA NĂM 1975”
Ngày 30 tháng 4 năm 2025
--
Phần tiếng Việt trong bài của Alex Thai đưa trên Fb của tác giả 29-4-2025.
Khi đưa lại ở đây, tôi đã mạn phép tác giả tách bài thành những đoạn ngắn cho dễ theo dõi và đặt cho cả bài một cái tên chung lấy từ một ý của tác giả ở cuối bài.
--
Xin trân trọng giới thiệu tuyển tập
“Đoạn Tuyệt và Đoàn Tụ: Những Bản Dịch Mới về Kết Thúc Chiến Tranh tại Việt Nam" [Rupture and Reunion: New Translations About the End of the War in Vietnam]
do hai học giả, Tiến sĩ Trịnh Mỹ Lưu và Tiến sĩ Nữ-Anh Trần, biên tập và xuất bản trong tạp chí Journal of Vietnamese Studies, số 20.2 (tháng 4 năm 2025), nhân dịp kỷ niệm 50 năm kết thúc Chiến tranh Việt Nam.
Tuyển tập này được hỗ trợ bởi Viện Hòa Bình Hoa Kỳ và Tiến sĩ Andrew Wells-Dang.
--
Tuyển tập đặc biệt này mở đầu với Lời nói đầu của Tiến sĩ Andrew Wells-Dang và Lời giới thiệu của hai biên tập viên, tiếp theo là mười ba bản dịch nguyên tác thơ, nhạc và văn xuôi—trước và sau năm 1975—từ tiếng Việt sang tiếng Anh.
Mục tiêu của tuyển tập là đưa đến cho giới học thuật và độc giả Anh ngữ một cái nhìn sâu sắc và đa chiều về những trải nghiệm của người Việt trước và sau thời khắc 30 tháng 4 năm 1975.
--
Danh sách các tác giả có tác phẩm được dịch bao gồm: Nhật Ngân, Trịnh Công Sơn, Phan Thúy Hà, Vương Trí Nhan, Nam Lộc, Bảo Ninh, Đoàn Văn Toại, Trần Dạ Từ, Hữu Phương, Nhã Ca, Tô Thùy Yên, Việt Dzũng và Nguyễn Mộng Giác.
--
Các bản dịch được thực hiện bởi các dịch giả: Alvin Khiêm Bùi, Trang Cao, Rebekah Linh Collins, Khánh Hòa Lê, Ryan Nelson, Đan Nguyễn, Vĩnh Quốc Nguyễn, Vĩnh Phú Phạm, Như-Quỳnh và John C. Schafer, Quân Tuệ Trần, Alex-Thái Đình Võ, và Yên Vũ.
--
Ngoài phần chính của tuyển tập, chuyên mục Đa Phương Tiện [Multimedia Review] của tạp chí cũng giới thiệu một bài tiểu luận bằng hình ảnh rất đặc sắc của Tiến sĩ Stephen Black, với nhan đề “Việt Nam 1978: Cuộc Sống Sau Chiến Tranh Qua Ống Kính Một Du Khách Phương Tây" [Vietnam 1978: Life After the War Through the Lens of a Western Tourist].
Bài viết ghi lại đời sống xã hội tại Việt Nam ba năm sau ngày chấm dứt chiến tranh, qua ống kính của một du khách phương Tây.
--
Số đặc biệt này cũng bao gồm năm bài điểm sách của các học giả: Erik Harms, Andrew Wells-Dang, Sokhien Au, Tuấn-Ngọc Phan, và Kirsten W. Endres—mỗi bài là một góc nhìn sắc bén về các tác phẩm học thuật mới trong lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam.
--
Bìa tạp chí lần này là một chi tiết có ý nghĩa đặc biệt: hình ảnh từ bìa nhạc phẩm “Lá Thư Đô Thị” của nhạc sĩ Tuấn Lê (Lê Văn Tuấn, 1952–1988), được thể hiện bằng kỹ thuật khắc gỗ linocut bởi họa sĩ Lể Trọng, xuất bản ở Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 20 tháng 9 năm 1970. Tác phẩm này được cung cấp bởi Tiến sĩ Jason Gibbs, và được chỉnh sửa bởi Phạm Ngọc Hiển và Lê Châu.
*****************
Dưới đây là phần tóm lược bài giới thiệu của hai biên tập viên Trịnh M. Lưu và Nữ-Anh Trần cho tuyển tập đặc biệt này.
Lời giới thiệu
cho Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam, Tập 20.2 (Tháng 4 năm 2025)
-
NĂM MƯƠI NĂM SAU CHIẾN TRANH:
NHỮNG TIẾNG NÓI VIỆT VỀ HÒA BÌNH, CHIA RẼ VÀ KÝ ỨC
-
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 đánh dấu đúng nửa thế kỷ kể từ ngày Sài Gòn thất thủ và Chiến tranh Việt Nam chính thức chấm dứt. Đó là một biến cố lịch sử trọng đại, khép lại một cuộc chiến kéo dài, tàn khốc và mở ra tiến trình thống nhất đất nước sau hai mươi năm chia cắt.
--
Thế nhưng, sự kết thúc của chiến tranh không đồng nghĩa với sự hàn gắn dễ dàng. Trái lại, như Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam số đặc biệt này (Tập 20.2) cho thấy, hậu chiến là thời kỳ chất chứa những trải nghiệm đối nghịch, những chấn thương kéo dài, và sự phân hóa chính trị – văn hóa vẫn tiếp tục âm ỉ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.
-
Số đặc biệt này giới thiệu mười ba bản dịch mới các ca khúc, truyện ngắn, thơ và hồi ký của người Việt nhằm khám phá những khúc quanh của thời khắc chiến tranh kết thúc và di sản lâu dài mà nó để lại.
-
Thông qua những tiếng nói đa dạng—từ cộng sản đến chống cộng, từ trung lập đến không đảng phái, từ miền Bắc đến miền Nam, từ trong nước đến hải ngoại—tuyển tập hé lộ sự phức tạp của khái niệm "hòa bình" như một thực tại sống động.
--
Thống nhất quốc gia không xóa mờ được chia rẽ; trái lại, nhiều khi còn khoét sâu thêm. Những tác phẩm này đồng thời phản ánh khát vọng đoàn tụ và hòa bình, nỗi đau chia ly và mất mát, sự tan vỡ của gia đình, và các chính sách đàn áp sau ngày chiến thắng.
-
CHỦ ĐỀ VÀ ĐÓNG GÓP
Các tác phẩm được tuyển chọn trong số này xoay quanh bốn chủ đề chính:
Hòa Bình, Đoàn Tụ và Chia Cắt:
*Một số bài viết lý tưởng hóa viễn cảnh hòa hợp dân tộc—như ca khúc "Nối vòng tay lớn" của Trịnh Công Sơn. Nhưng nhiều tác phẩm khác, như truyện ngắn của Phan Thúy Hà hay bài ca lưu vong của Nam Lộc, lại phơi bày những chia rẽ, sợ hãi và ly tán mà hòa bình thực tế mang lại. Trong truyện "Ba người trên sân ga" của Hữu Phương, cuộc đoàn tụ vợ chồng cũng không tránh khỏi nỗi đau bị phản bội và mất mát.
*Cải Tạo: Một số tác giả từng trải qua các trại "cải tạo", nơi các viên chức và trí thức thuộc chính thể Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng bức lao động và nhồi sọ tư tưởng. Những hồi tưởng của Tô Thùy Yên và Nhã Ca hé lộ một cách hiếm hoi đời sống trong lao tù và sức ép tâm lý của hệ thống trấn áp.
*Thanh Trừng Văn Hóa và Văn Học: Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã phát động chiến dịch loại bỏ những gì được xem là "phản động" trong văn hóa miền Nam. Trí thức bị thanh trừng, sách bị đốt, và sáng tạo nghệ thuật bị kiểm duyệt. Những cây bút như Vương Trí Nhàn và Nguyễn Mộng Giác ghi lại bức tranh bi thương của một xã hội sau "giải phóng".
*Di Cư và Lưu Vong: Sau chiến tranh, làn sóng người rời bỏ Việt Nam bùng nổ. Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhiều người tìm cách vượt biển, thoát khỏi nghèo đói hoặc đàn áp chính trị. Những câu chuyện sống sót từ các trại tị nạn, hành trình vượt biên, và nỗi nhớ cố hương được khắc họa sâu sắc qua các tác phẩm của Việt Dzũng và những người khác.
BỐI CẢNH HỌC THUẬT VÀ LỊCH SỬ
Trong khi phần lớn các công trình học thuật về Chiến tranh Việt Nam tập trung vào vai trò của Mỹ, số báo này chủ trương tái định vị góc nhìn từ phía người Việt.
Việc giới thiệu các văn bản chưa từng được dịch sang tiếng Anh đã mở rộng cánh cửa tiếp cận với những tiếng nói bị lãng quên—đặc biệt là từ các nhà cách mạng miền Nam, những người trung lập, và người chống cộng.
Tuyển tập cũng góp phần lấp đầy những khoảng trống trong văn học Đổi Mới và hiện thực xã hội chủ nghĩa, quy tụ các tác giả thuộc nhiều thế hệ, quan điểm chính trị, và phong cách thẩm mỹ.
---
Danh sách tác giả bao gồm những tên tuổi nổi bật như Nhã Ca, Bảo Ninh, Vương Trí Nhàn, bên cạnh các tiếng nói mới như Phan Thúy Hà. Các thể loại đa dạng từ âm nhạc, thơ ca, truyện ngắn, hồi ký đến báo chí đã làm phong phú thêm bản đồ ký ức Việt Nam.
TÍNH SƯ PHẠM VÀ TÁC ĐỘNG CÔNG CHÚNG
Tập san này được thiết kế để phục vụ cả học sinh, giáo viên và độc giả đại chúng. Mỗi tác phẩm đều được chú thích để cung cấp bối cảnh cần thiết, và tổng thể số báo tạo điều kiện cho việc đối thoại sâu sắc với những tường thuật lịch sử còn gây tranh cãi.
Đây là nguồn tư liệu quý cho các môn học liên quan đến Đông Nam Á, ký ức chiến tranh, văn học, nghiên cứu di dân, và nhiều lĩnh vực khác.
--
Trên hết, số báo này mời gọi một cuộc đối thoại rộng lớn hơn về di sản của năm 1975. Bằng cách đặt cạnh nhau những hồi ức trái chiều về một cuộc đổ vỡ quốc gia, nó khuyến khích suy tư về hòa bình, ký ức và công lý lịch sử—không chỉ cho người Việt Nam, mà cho tất cả những ai còn đang sống trong cái bóng dài của chiến tranh.
BIẾT BAO GIỜ, BIẾT BAO GIỜ?
Ngày 1 tháng 5 năm 2025
-
Ngày 30-4 hai năm trước, trên trang Fb của mình, bạn Hậu Kc Nguyễn có viết mấy dòng dưới đây
Hậu Kc Nguyễn
odesSrtnpot0312á9t,00758600hu12m3842m 546 2h0cinhmaim8u7ftg ·
Ngoài kia là pháo hoa... Bao năm rồi mình chỉ mong ngày này giờ này tất cả nhà thờ, chùa chiền, trên TV và radio... vang lên tiếng chuông cầu nguyện cho tất cả những người đã mất trong và sau cuộc chiến vì bom mìn, vì chất độc, vì vượt biển...
Đã qua 48 năm… liệu đến năm thứ 50 – nửa thế kỷ sau chiến tranh – mong ước của mình có thành sự thật?
-
Tôi thấy hay quá nên một ngày sau 1-5 tôi liền đưa lại trên trang của mình.
Nhan Vuong Tri
odesSrtnpot0112á9t,00758600hu12m3852m 546 2h9cinhmaim8u7ftg ·
và có mạn phép tác giả xen thêm một ý nhỏ khác.
-
Hôm nay đọc lại thấy mấy câu xen thêm của tôi hôm ấy là lạc lõng nên không cần nhớ lại làm gì.
Mà mấy câu hỏi đơn sơ của bạn Hậu - đơn sơ nhưng bao quát, đầy đủ - lại gợi ra một điều đáng buồn khác.
Nửa thế kỷ đã qua rồi, biết bao điều ao ước đơn sơ của các thế hệ ít nhiều đã trải qua chiến tranh chúng tôi cũng chưa biết bao giờ được thực hiện.
--bao giờ ta biết quan niệm về chiến tranh như mọi xã hội khác vẫn quan niệm;
-- bao giờ ta biết ghi tận đáy lòng rằng chiến tranh gồm cả chiến công vinh quang lẫn tàn phá mất mát nhiều thế hệ sau không khắc phục nổi; riêng ở ta thì cuộc chiến tranh không chỉ để lại những vết thương như cách người ta hay nòi. Mà nó còn làm ly tán dân tộc ta do đó làm méo mó tâm hồn ta, làm xiêu vẹo cách sống cách nghĩ của mọi người chúng ta
--bao giờ ta viết được những trang sử chiến tranh mà các thế hệ sau khi đọc lên còn thấy rơi lệ và tự nhủ rằng sẽ sống và làm việc đưa nước ta theo kịp đà tiến bộ của các dân tộc để chiến tranh trước hết là nội chiến khiến các thế lực bên ngoài lợi dụng ,,,không bao giờ trở lại
---
thì bấy giờ chúng ta mớ trở lại một xã hội bình thường rồi muốn hùng mạnh hay phát triển gì thì hùng mạnh phát triển.
Trong tình hình như hiện nay, thậm chí có người bạn tôi ở chỗ riêng tư còn mạnh mồm nói hình như chúng ta - nhất là trong tư duy- có nhiều điểm chưa ra khỏi chiến tranh?!
CẦN ĐI TÌM SỰ KHÁC NHAU TRONG VIỆC NGHĨ VÀ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TRƯỚC SAU 30-4-1975
Ngày 9 tháng 5 năm 2025
---
"Tầm vóc sự giả dối trong chiến tranh" là tên một đoạn ghi ngắn của Hoàng Hưng đưa trên Talablog 24-3-09 - nay xin phép tác giả đưa ra mọi người cùng đọc.
Trích từ
Nhan Vuong Tri
Sdpnesorot2h3h5h0,h7ma122tii8g 57g613am94 22056030á0i82cn i9 ·
--
Trước khi mời các bạn đọc lại một stt mà có lẽ nhiều bạn đã đọc rồi, tôi muốn nói thêm một ý nhỏ.
Hơn 50 năm sau ngày nay "đọc" lại những cảnh diễn như trên thây giống như sự bịa đặt. Nhưng hồi ấy là thế. Mọi người phải nói giống nhau và nếu là cấp trên thì phải nói hay hơn.
Sau chiến tranh các nhà trí thức cùng cạ với Tố Hữu không còn bắt buộc phải diễn như thế nữa.
Sau 30-4-1975, hình như có một sự thoải mái hơn một khoảng tự do hơn trong việc nghĩ và nói về chiến tranh.
Tức là việc ghi nhận rằng khoảng tự do đó rộng hẹp đến đâu còn chưa được đặt ra. Và việc những người theo cách nói cũ gọi là “có ngòi bút trong tay” tận dụng được khoảng cách đó đến đâu thì đó lại là chuyện khác.
VÀ ĐÓ MỚI LÀ DỤNG Ý CHÍNH KHIẾN TÔI MUỐN ĐƯA LẠI BÀI VIẾT NÀY
****
TẦM VÓC SỰ GIẢ DỐI TRONG CHIẾN TRANH
Nhìn thẳng vào sự thật để ít nhất cũng thôi đi/ giảm thiểu những lời nói dối. Vâng, những lời nói dối có thể có lợi nhất định trong một giai đoạn.
Nhưng ngay cả khi đó, nó cũng đã tiêm độc tố vào trái tim khối óc cả người nói lẫn người nghe rồi.
Tôi không bao giờ quên một sự cố trong đời mình, sự cố đã khiến tôi dứt khoát rút lui khỏi văn đàn chính thống và bắt đầu con đường “làm thơ chui”, đúng vào lúc đang được o bế như một nhà thơ trẻ nổi lên của “thế hệ chống Mỹ”.
Đó là buổi họp các cộng tác viên về Thơ của báo Văn nghệ vào năm 1973.
Trước đông đủ thi hữu già trẻ, nhà thơ đầy uy lực Chế Lan Viên một mình lên lớp, “xạc” lớp trẻ về những vụ lộn xộn mới xảy ra như “Vòng trắng vòng đen” (thơ Phạm Tiến Duật), “Cây táo ông Lành” (truyện Hoàng Cát), “Ký sự đêm đợi tàu” (tác giả hình như tên Đỗ Phú?).
Tôi không thể quên tư thế trịch thượng (ông đứng nói, một chân gác lên thanh ngang của chiếc ghế tựa) cũng như những lời mà tôi không dám tin ở tai mình.
Ông bảo: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!” (nếu các anh cứ lộn xộn như thế).
Ông còn khẳng định: “Nếu như trên trời máy bay ta với máy bay địch quần nhau mà máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô lên: ‘máy bay địch rơi’ chứ!”
Tất cả im phăng phắc, không ai dám ho he. Và tôi là người duy nhất đứng lên tranh luận với ông.
Tôi nói đại ý: Vấn đề là anh có đủ lòng tin để hô lên như thế không đã chứ. Vì nếu chính anh không tin, thì làm sao anh thuyết phục được người đọc tin anh?
Sau buổi họp ấy, tôi hoàn toàn tỉnh thức: người ta chỉ coi văn nghệ là những lời tuyên truyên để lôi kéo quần chúng, bất chấp sự thật. Đến một thần tượng của chúng tôi lúc ấy, một nhà thơ có tri thức vào hàng cao nhất mà đã huỵch toẹt ra thế thì… Hỡi ôi!
Nhưng tôi phải công nhận, chính những lời nói dối có ý thức mà bộ máy truyên truyền miền Bắc đưa ra đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng trong cuộc chiến 1954-1975. Chính nó đã che giấu thực chất ý thức hệ và phe phái, làm nổi bật yếu tố dân tộc của cuộc chiến mà Thiện Ý [ có lẽ là một tác giả viết trên Talawas 2009 VTN chú] coi là nguyên nhân chủ yếu đưa miền Bắc đến chiến thắng.
(Sau này chính Chế Lan Viên đã ‘sám hối’ về những câu thơ thúc người lính ra trận trong một số bài “Di cảo” của ông).
ĐIÊN DẠI
Ngày 18 tháng 5 năm 2025
Mời đọc lại một bài tôi đưa từ 10 năm trước
-
Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở Hà Nội sao hiệu thuốc nhiều thế.
Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội mình.
Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.
Tra các từ điển Hán Việt thấy chữ ĐIÊN thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh.
Bệnh điên thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.
Một câu ngạn ngữ Hy Lạp “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.
-
Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại có liên quan nhiều tới giới trí thức.
Một đoạn trong bài viết "Vừa khóc vừa cười" của Nguyễn Mạnh Tường in trong Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4-2011:
Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.
Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà NMT nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng.
-
Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước:
Sau khi Liên xô sụp đổ, có một tiến sĩ (ở ta gọi là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhẩy lầu tự tử. Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.
Về quan hệ giữa những người điên với thời đại, một nhà văn Senegan là Semben Ousman đã có lần trả lời phỏng vấn về châu Phi hậu thực dân trên một số tạp chí 'Người đưa tin Unesco":
Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.
Có những tình thế quá bi đát mà người bình thường biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại.
Bấy giờ người điên—hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người – mới đóng vai trò của mình.
Cách duy nhất để giải thoát bế tắc là người ta phải điên lên một chút.
Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:
-- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những thằng điên.
Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác rồi ông nói lại, hay tự ông nghĩ ra.
-
Một đề tài của khoa tâm lý xã hội học nhưng cũng là của văn học: mối quan hệ giữa điên dại và các trạng thái tâm lí khác.
Tôi đang có trong tay cuốn sách tiếng Nga --Từ điển về sự điên rồ -- Slovar bezumija . Trong sách, bên cạnh việc duyệt lại xem đề tài điên rồ kỳ cục đã được đề cập tới trong văn học cổ kim ra sao, chủ yếu nói tới các trạng thái khác nhau của điên.
-
Văn chương đã nói về sự điên như thế nào? Tôi xin chỉ nhắc qua:
Một trong những vở chèo hay nhất của ta là vở Vân dại.
Nguyễn Du tả cây liễu :
Tối điên cuồng xứ tối phong lưu
( lúc càng điên càng đẹp)
Tú Xương :
Ai rằng ông dại với ông điên
Ông dại sao ông biết kiếm tiền
Khi diễn tả cuộc sống ở các đô thị mới hình thành thời Pháp thuộc, trong truyện Đẹp, Khái Hưng cũng bắt đầu đưa ra mấy nét phác họa về người đàn bà điên.
Chekhov là nhà văn vốn rất giỏi trong việc viết về những cái tầm thường nhạt nhẽo. Cái điên rồ cũng xuất hiện dưới ngòi bút của ông từ góc nhìn đó:
-- (... ) Sự điên rồ xét ra còn thiết yếu và lành mạnh gấp trăm lần việc chúng ta theo đuổi những ý tưởng chập chờn vớ vẩn để tìm cho đời một ý nghĩa.
(lời một nhân vật trong truyện Quan đại phu, bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, in ở SG trước 1975).
Một truyện ngắn Chekhov, Phòng số 6, được dịch in trên báo Văn HN 1957. Tôi nghĩ nói về tình trạng điên dại thì không thể không nhắc tới truyện ngắn này, bởi lẽ ở đó, một nhân vật lúc đầu đóng vai bác sĩ chữa bệnh điên cho kẻ khác, sau lại trở thành con bệnh, bị đưa vào căn phòng của các bệnh nhân.
Một bằng chứng tuyệt vời về tình trạng dở dở điên điên của thế giới này.
Cũng của Chekhov, dịch ra tiếng Việt, trong tập ở nxb Raduga, còn một truyện ngắn nữa mang tên Con bệnh thần kinh.
--
Trước sau 1960, có một bài hát thiếu nhi hình như là của nhạc sĩ Lân Tuất.
Để diễn tả cái cảm giác sung sướng của đứa trẻ, trong bài có một câu kêu lên như thất thanh
BAY LÊN NÀO EM BAY LÊN NÀO .
Cái giai điệu chơi vơi đó, thường được bọn trẻ con chúng tôi hát chệch đi thành:
ĐIÊN LÊN RỒI EM ĐIÊN LÊN RỒI.
---------------------------
GHI CHÚ của VTN sáng 18-5
Sau stt viết 10-5 đã sớm bị hủy, hai mẩu bài ngắn viết gần đây 13 và 15-5 cũng vừa được tôi xóa bỏ, bởi trong đó có những chi tiết dễ gây hiểu lầm. Xin được coi những ý tưởng ấy như chưa bao giờ được viết ra và miễn cho tôi phải chịu trách nhiệm về chúng. Xin cảm ơn.
GIÀ THỜI PHẢI NGOAN
Ngày 18 tháng 5 năm 2025
-
Đời đã năm mươi xuân
Còn chi hương sắc lạ
Mọc cành hoa trên đá
Mùa xuân không chịu lùi
Trước đây tôi chỉ biết đến mấy câu thơ ấy của Chế Lan Viên. Đó là lối nghĩ của người Việt chiến sĩ. Nay thì mới được gặp mấy câu thơ tuy phải cái tội là nôm na dông dài ...nhưng tạm được ở chỗ biết chỉ ra cách sống nên có của một người già trong một xã hội cũng đang già cỗi.
Tôi tự nhủ phải nhanh chóng thuộc và thấm nhuần tinh thần bài vè này để -- cả trong quan hệ chuyên môn nghề nghiệp và mọi mối quan hệ khác -- phần nào dẹp bớt được những ưu tư phiền muộn vô nghĩa vô bổ.
Còn hình ảnh cây gạo thì đẹp quá ai mà dám nghĩ tuổi già của mình được như thế này
KHI GIÀ NGƯỜI TA KHÔNG THÊ SỐNG NHƯ LÚC CÒN TRẺ
Ngày 18 tháng 5 năm 2025
{ sưu tầm từ trang l.m Trần Chính Trực}
.
Phần I
Đề dẫn của tôi -- Tinh thần của bài này là
KHI GIÀ NGƯỜI TA PHẢI
KHÔN HƠN THỰC DỤNG HƠN ÍCH KỶ HƠN
***
Bài trước hơi cổ và -- nói theo cách nói lớp trẻ bây giờ là - HƠI BỊ CÙN. Theo tôi bài dưới đây mô-đéc hơn.
NÓ ĐẶC BIỆT HỢP VỚI NGƯỜI GIÀ THỜI NAY.
Ví như mấy câu đầu đoạn 5
"Lúc về già nên và chỉ nói hai chữ "ngày xưa" (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với BẠN đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói "ngày mai" và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống."
-
Hoặc đoạn 8
8. Lúc về già đừng bao giờ đến CƠ QUAN CŨ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt.
Chỉ những ai trải nghiệm đủ vành đủ vẻ cái thời đa đoan bạc bẽo này mới có được một nhận xét thật cụ thể như thế.
-
Tôi chỉ khó chịu khi thấy đầu đoạn 6, tác giả dùng chữ THĂM QUAN. Tôi đã sửa đúng THAM QUAN. Tôi muốn thách các bạn hay dùng chữ THĂM QUAN này dẫn ra một cuốn từ điển tiếng Việt nào viết như vậy. Lúc này đây bên tai tôi còn vang lên câu hát đùa bỡn của cánh trẻ
Đám cưới đám ma
Ta đi với địch
Tham quan du lịch
Ta đi với ta
Đêm nằm với địch
Ta nhớ về ta
---
Phần II
Tôi muốn đặt cho phần chính văn này một cái tên
NHỮNG LỜI KHUYÊN
GIÀNH CHO NGƯỜI GIÀ THỜI NAY
*
1.
Lúc về già mình sẽ tuyệt đối không được chủ quan nghĩ rằng còn khoẻ, còn sung sức để nghĩ và làm những việc như hồi thanh niên. Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, SỨC KHOẺ là của mình.
2.
Lúc về già mình nên quan tâm đến BẢN THÂN, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn và thích thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
3.
Lúc về già mình sẽ SỐNG GẦN CON mà không sống chung với bất cứ đứa nào, chỉ sống với...vợ. Nếu cứ thương con cái, sống với chúng nó thể nào cũng đến lúc mình ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Con không có tiền mua nhà thì thuê, không đủ tiền thuê mình hỗ trợ, quyết không ở chung, trai gái dâu rể gì cũng vậy hết, một tuần đến thăm nhau 1 lần vào ngày cuối tuần là đủ.
4.
Lúc về già... rất già, nên đặt một chỗ ở một trung tâm DƯỠNG LÃO nào đó. Tiền ít ở chỗ xoàng, tiền nhiều ở chỗ tươm để được chăm sóc y tế tốt và có nhiều cơ hội vui chơi bên bạn đồng trang lứa.
5.
Lúc về già nên và chỉ nói hai chữ "ngày xưa" (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với BẠN đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói "ngày mai" và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
6.
Lúc về già, mình sẽ dành thời gian đi THAM QUAN những vùng đất mà chưa bao giờ đặt chân đến.
7.
Lúc về già mình phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “CON CHIM BAY LƯỢN”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
8.
Lúc về già đừng bao giờ đến CƠ QUAN CŨ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt.
9.
Lúc về già cần HIỂU rõ:
- Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
- Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
- Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn. Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi. Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ. Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ. Khác nhau là thế, mình phải coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, mà không mong báo đáp, chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
- Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu. Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Vậy nên cần chuẩn bị tài chính để sẵn sàng thuê người chăm sóc để con cái đỡ vất vả vì mình.
- Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….). Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh). Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống. Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.
- Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy tích cực là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy lạc quan để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.
- “Hoàn toàn khỏe mạnh” là thân thể, tâm lý và đạo đức đều khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
10. Lúc về già mình sẽ thực hiện : 3 QUÊN, 4 CÓ, 5 KHÔNGvà 6 VỊ BÁC SĨ .
- 3 QUÊN
* Một quên mình tuổi đã già
Sống vui, sống khỏe, lo xa làm gì.
* Hai là bệnh tật quên đi
Cuộc đời nó thế, việc gì nhọc tâm
* Ba quên thù hận cho xong
Ăn ngon ngủ kỹ để lòng thảnh thơi.
- 4 CÓ
* Một nên có một gia đình
Vì không – homeless – người khinh lẽ thường
* Hai cần phải có nhà riêng
Đói no cũng chẳng làm phiền dâu, con
* Ba là trương mục ngân hàng
Ít nhiều tiết kiệm an thân tuổi già
* Bốn cần có bạn gần xa
Tri âm, tri kỷ để mà hàn huyên.
- 5 KHÔNG
* Một không vô cớ bán nhà
Dọn vào chung chạ la cà với con
* Hai không nhận cháu để trông
Nhớ thì thăm hỏi bà, ông, cháu mừng
* Ba không cố gắng ở chung
Tiếng chì, tiếng bấc khó lòng tránh lâu
* Bốn không từ chối yêu cầu
Ít nhiều quà cáp con, dâu, cho mình
* Năm không can thiệp nhiệt tình
Đời tư hay việc riêng phần của con.
- 6 VỊ BÁC SĨ TỐT NHẤT TRONG ĐỜI :
* Ánh nắng mặt trời
* Nghỉ ngơi
* Thể dục
* Ăn uống điều độ
* Tự tin
* Bạn bè
--------------------------------------------
Cuối cùng luôn xác định TƯ TƯỞNG:
“Sinh - bệnh - lão - tử” là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống đàng hoàng để không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu CHẤM HẾT THẬT TRÒN ./.
SỨC SỐNG CỦA NHỮNG Ý TƯỞNG « CÁ BIỆT »
Ngày 25 tháng 5 năm 2025
--
« Ta thắng Mỹ thua » là câu nói đầu miệng của gần như toàn dân miền Bắc không phải chỉ sau 30 – 4 -1975, mà là ngay từ khi Hiệp định Paris được ký kết, tháng 1 – 1973.
Nhưng ngay từ hồi ấy một người bạn rất uyên bác của tôi là anh Phan Hồng Giang, vốn khá thông thạo về tình hình chính trị, đã thổi vào tai tôi một cách diễn giải khác đầu têu từ anh em làm bên khoa học xã hội: Mỹ không thắng Việt Nam là Mỹ thua. Việt Nam không thua Mỹ là Việt Nam thắng.
Còn đây là một cách cắt nghĩa khác - khá chừng mực -cũng về nội hàm chiến thắng: “Việc chúng ta năm nào cũng nói đến việc thắng Pháp, Mỹ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc thì có đúng không? Theo tôi là chưa đúng. Pháp, Mỹ đều là các siêu cường cả về khoa học, kỹ thuật, quân sự - đến Liên Xô thắng được phát xít Đức cũng phải nể. Thời điểm đó, mình thắng Mỹ làm sao được, mình là một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa có vũ khí gì hết, không làm ra được một chiếc ô tô, xe máy. Đó là chúng ta bảo vệ được độc lập và Pháp, Mỹ phải rút quân. Sự thực như thế nào nói như thế, không được nói dối”
Có phải đôi lúc những người bình thường chúng ta cũng lờ mờ cảm thấy như cách nói trên nhưng không dám nói, và lâu nay thì càng ít được nghe những câu tương tự? Có phải câu nói ấy đúng là một cách nhìn nhận phải chăng mà hợp lý, chứng tỏ một đầu óc hiểu biết sâu sắc và ở tâm thế một người trong cuộc? Các bạn đã nhận ra cách giải thích chiến thắng đó là của ai chưa? Vâng, đó là cách giải thích của tướng Lê Đức Anh, một nhân vật hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ của Hà Nội. Tôi nhớ vào khoảng hơn 10 năm trước đã được đọc, bẵng đi một thời gian thì không thấy xuất hiện trên báo chí nữa. Sổ tay tôi còn ghi được mấy dòng xuất xứ : Câu nói trên trích ra một bài tướng Lê Đức Anh trả lời một nhà báo của báo Giáo dục Việt Nam ở trang mạng http://giaoduc.net.vn/.../Dai-tuong-Le-Duc-Anh.../100882.gd . Có điều nay tìm lại trang mạng trên thì không thấy. May mà do tuổi già rỗi rãi, tôi mò mẫm thêm một lúc nữa thì thấy trang điện tử của Châu Xuân Nguyên có bài của Nguyễn Tôn Hiệt (https://url.spa/ye845). Người chủ trang không biết, người viết không biết, nhưng bài viết vẫn buộc tôi phải đọc đi đọc lại vì đã dẫn ra đầy đủ câu chuyện về một cách giải thích rất phải chăng mà tôi vừa kể ở trên. Tuy cách giải thích này không phổ biến nhưng theo tôi nó vẫn là một cách nhìn về chiến tranh mà các bạn nào thích nghiên cứu lịch sử nên tham khảo.
CHÚNG TA ĐANG CÓ THỨ LỊCH SỬ NÀO?
Nhân đây tôi xin kể một mẩu chuyện khác liên quan tới một lần tìm tòi không quá khó khăn nhưng vẫn là phải tìm. Từ lâu tôi đã mang máng nhớ một câu phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc, đại ý anh Quốc nói rằng ở ta, thường chỉ có một thứ sử học như chúng ta muốn, chứ không có sử học như nó vốn vậy. Đi tìm có bài viết nào của Dương Trung Quốc tập trung diễn giải ý tưởng nói trên thì không thấy. Trong một trường hợp ngẫu nhiên, tôi bắt gặp trong cuốn sổ tay tạp nham cũ kỹ của tôi một câu ghi nhận rằng ý tưởng nói trên của anh Quốc là do anh phát biểu trong buổi lễ trang trọng kỷ niệm 130 năm ngày sinh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ngày 10/6/2012 tại Hà Nội, và nhà sử học của chúng ta chỉ có nói qua thế thôi chứ không triển khai phân tích gì hết. Tôi viết gmail tới anh Nguyễn Lân Bình mấy chục năm nay làm chuyên trang về Nguyễn Văn Vĩnh, nhờ anh Bình tìm hộ nguyên văn bài phát biểu của đại diện hội sử học Dương Trung Quốc trong dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Vĩnh. Thì may mà anh Bình vẫn lưu bài viết đó ở đường dẫn - https://tannamtu.id.vn/?p=513 . Và trong bài nói gần 3000 chữ này, tôi chỉ tìm thấy một câu nói gồm 54 chữ lọt thỏm đi ở phần đầu, dòng 18 từ trên xuống: «…Từ đó, với tư cách người làm sử, tôi nhận thấy giới sử học đã có một khuyết điểm rất lớn là đã bỏ qua rất nhiều những vấn đề của lịch sử, rằng chúng ta chỉ muốn lịch sử như chúng ta muốn, chứ không phải là lịch sử như chúng ta có ». Tôi cũng chẳng dám hỏi anh Quốc có triển khai ý này ở bài viết nào nữa không, nhưng chỉ năm 54 chữ ấy đối với tôi cũng đã đủ gợi ra một phương hướng để suy nghĩ về nền sử học nước ta hiện thời.
SỰ BÌNH ĐẲNG CỦA CÁC Ý TƯỞNG
Vậy đấy, tôi tự nhủ, công việc của một người viết lịch sử chiến tranh, không phải chỉ là ghi lại các sự kiện các trận đánh mà còn là ghi nhận lại các tư tưởng về chiến tranh bao gồm cả cách nói về chiến thắng. Với các khu vực đề tài khác cũng vậy. Và gộp cả hai trường hợp lại trên đây vừa kể, tôi tạm tổng kết cho mình «về mặt số lượng, có những ý tưởng được nhắc đi nhắc lại hàng triệu triệu lần, còn những ý tưởng khác chỉ hiện lên thành con chữ dăm bảy lần, nhưng chúng vẫn là bình đẳng với nhau trong lịch sử »
NHẶT CÁNH HOA TÀN
Ngày 3 tháng 5 năm 2025
(Nguyên là tên một tập tạp văn của Lỗ Tấn. Chữ Hán - Triêu hoa tịch thập, nghĩa đen là hoa buổi sớm, chiều nhặt. Tôi thích cách dịch của Trương Chính hơn, dù biết đâu, trong tiếng Hoa cũng đã có cách hiểu như vậy)
----
Người sưu tầm ảnh đã giúp chúng ta hình dung lại cả một giai đoạn lịch sử. Loại ảnh này không bao giờ thấy trong các bảo tàng. Như những câu chuyện bàn luận của chúng ta trên Fb thời nay chả bao giờ lọt tai đám trẻ. Vậy mà sao vẫn viết, viết để làm gì?
Tôi chắc câu hỏi này SỐNG ĐỂ LÀM GÌ? VIẾT ĐỂ LÀM GÌ? còn theo mãi chúng ta cho tới khi chết hẳn.
TIẾC THƯƠNG NHỮNG GÌ TỐT ĐẸP ĐÃ BỊ HỦY HOẠI.
Ngày 1 tháng 6 năm 2025
Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình
--
Nếu tra trên mạng, chúng ta sẽ được biết rõ hơn về con người và tác phẩm họa sĩ Nguyễn Thanh Bình. Sinh năm 1954, từ một chiến binh đi đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông trở thành họa sĩ tiêu biểu những năm 80-90, với số lượng tranh bán được lớn vào bậc nhất trong thị trường VN hiện thời. Sau đây là ba đoạn trích từ những câu trả lời của ông trong một cuộc phỏng vấn với trang mạng Văn Việt. Do sơ xuất chúng tôi đã để lạc mất đường dẫn, mong được tác giả Nguyễn Thanh Bình và các bạn lượng thứ.
----
BỔ SUNG
Sau đây là đường dẫn bài trả lời phỏng vấn của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình trên Văn Việt do anh HOÀNG DŨNG cung cấp. Xin cám ơn anh HD:
https://vanviet.info/gap-go.../nguoi-viet-mot-cu-hoi-lon-13/
***
1/
*Theo anh/chị, lịch sử Việt Nam có gì đáng tự hào và có gì đáng hối tiếc?
-
TRẢ LỜI
-Ít có dân tộc nào mà suốt chiều dài lịch sử toàn đánh nhau. Tháng 3 năm 1975, khi trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột kết thúc, lúc hành quân vào nội đô, đập ngay vào mắt tôi bảng quảng cáo Coca Cola to tướng, đỏ thắm, nổi bật trên nền cây xanh. Đối với tôi, thứ nước giải khát ấy không lạ, vì đã biết đến nó thời thơ ấu. Lúc vào nhà một gia đình công nhân đồn điền cao su, ấn tượng không bao giờ quên là thái độ của gia đình ấy: không vồn vã cũng không thờ ơ. Họ lấy nước cho uống, với một vẻ bình thản kỳ lạ, và khi nhìn thấy trong căn nhà cũng đơn sơ, vách gỗ lợp tôn có ti vi, có xe máy, có cả chiếc tủ lạnh nhỏ, tôi ngay lập tức hiểu rằng “… Họ đâu có cần ai đến giải phóng!”. Cuộc sống của họ tuy là công nhân nghèo, nhưng điều kiện vật chất vượt xa 99.9% người dân miền Bắc!
Hồi ấy ngoài Bắc chỉ vài gia đình cán bộ cao cấp mới có tủ lạnh, ti vi thì hầu như không có vì chưa có đài phát! Tôi được xem ti vi từ nhỏ ở Praha, nên không lạ lẫm gì cái thiết bị gia dụng ấy, nhưng với tất cả lính tráng kể cả sĩ quan đơn vị tôi, thì chưa ai biết nó là cái gì. Vài năm sau, sau khi xuất ngũ (1978) lững thững đi bộ từ ga Hàng Cỏ về nhà (số 6 Chu Văn An, Ba Đình – Hà Nội), cảm giác hoàn toàn trống vắng, không vui, không buồn…
Không có chìa khóa vào nhà, ngồi trên bậc cầu thang đợi ông già về, tôi ngồi nhớ lan man về quãng thời gian đã qua, chợt nhận ra rằng: “Đó là một cuộc nội chiến tương tàn, thảm khốc!”.
Càng những năm sau này, mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc đó, càng củng cố nhận thức rằng: Lịch sử dân tộc Việt Nam đầy đau khổ, không có gì đáng tự hào cũng chẳng có gì để hối tiếc. Chiến tranh chống ngoại xâm hay nội chiến, chỉ là những cơn sốt của một cơ thể cố gắng sống còn, một khi đã bước qua, không có điều gì để hối tiếc… Có chăng, chỉ là hối tiếc những gì tốt đẹp đã bị hủy hoại.
2/
*Cái gì hay nhất và dở nhất trong tính cách người Việt? Cái cần nhứt cho con người Việt hiện nay là gì? Làm sao để thay đổi theo chiều hướng tốt hơn?
-
TRẢ LỜI
-Cách đây gần thế kỷ, sử gia Trần Trọng Kim từng nhận xét: “… Người An Nam đã lười nhác lại hay ăn cắp vặt ...”.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng tắt mắt, nhưng nói chung tính cách người Việt nhạt.
Thật thà ư? Người Thái, người Lào mới là thật thà.
Cần cù ư? Nông dân ở đâu cũng cần cù.
Dũng cảm ư? Tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản há chẳng phải điển hình của lòng dũng cảm.
Thông minh ư? Nhìn công cụ lao động và vật dụng sinh hoạt truyền thống của người Việt xem, mấy ngàn năm không thay đổi…
Nói chung, tính cách người Việt không có gì nổi bật, vì nếu nói đến “dân tộc” phải đặt nó trên bình diện “giữa các dân tộc”, nếu không, chỉ là việc “mèo khen đuôi mèo”.
Nhưng một tính cách nhạt nhoà, tự thân không có gì xấu, không có gì để tự ti hay tự ái, mà nó là điều cần được nhìn thấy để sửa đổi.
Cách đây nhiều năm, trong một buổi nói chuyện đề tài tương tự (về thơ) trong buổi khai trương Cà phê thứ bảy, chủ toạ đưa ra một câu hỏi: “Người Việt có tính sáng tạo không?”. Tôi phát biểu: “Thật sự, người Việt không có tính sáng tạo!”. Tôi đã làm dấy lên một cuộc tranh luận ồn ào kéo dài sau đó!
(Há há há… )
Người Việt giàu lòng tự ái chứ không biết tự trọng, ưa cãi lộn chứ không biết tranh luận một cách trí tuệ.
Đó chính là hệ quả của một lịch sử chiến tranh liên miên, phân hoá rã rời của một xã hội nông nghiệp.
Hẳn ai cũng thấy, nhiều người Việt đã thành công, thậm chí đạt đến địa vị cao ở các quốc gia văn minh. Điều ấy nói rằng: Tính cách và trí tuệ người Việt tuy chẳng hơn ai nhưng cũng không thua kém ai. Do đó, thể chế mới chính là yếu tố quyết định để thay đổi, chẳng những tính cách mà cả nếp sống xã hội theo chiều hướng tốt hơn.
Tại sao?
Ta hoàn toàn có thể thấy miền Nam trước 1975 hay Việt Nam trước 1954, đang định hình theo chiều hướng mà hôm nay ta phải “mong đợi, ước ao”. Đó cũng là điều ta phải hối tiếc cho lịch sử tang thương của dân tộc!
3/
*Anh/chị đang nghĩ/hy vọng gì về tương lai người Việt/nước Việt?
-
TRẢ LỜI
Chỉ mới mười lăm năm học Phật, biết đến và hiểu được bản chất của khái niệm vô thường. Không có gì thường trụ mãi mãi, vì thế tôi tin chắc rằng mọi sự sẽ thay đổi mà không cần phải hy vọng, không cần phải trông chờ vào những điều mong manh, không thực
MINH THÁI VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Ngày 7 tháng 6 năm 2025
(Vào những ngày tháng 6 – 2025 đọc lại, dĩ nhiên là bài viết hơn 30 năm trước của tôi có nhiều chỗ phải sửa chữa, phải nói lại. Nhưng để các bạn cùng thấy cả cái non nớt ấu trĩ của tôi một thời, tôi xin phép vẫn giữ nguyên như cũ)
------
Nếu như nghề viết văn đã có từ lâu thì nghề phê bình ở nước ta mới có từ đầu thế kỷ XX và phải nói là nó định hình rất chậm.
Phê bình là tiếng nói của dư luận xã hội. Phê bình không chỉ đứng ngoài sáng tác mà còn ở trong sáng tác, tức là một thứ tự ý thức để qua đó, toàn bộ văn học tìm hiểu chính mình rồi tự điều chỉnh và vận động.
Những cách hiểu ấy, không ai phủ nhận.
Nhưng trong thực tế vì là một ngành quá mới, nên phê bình còn phải mày mò vật lộn để tự khẳng định, tức biện minh cho sự có mặt của nó trong đời sống, đồng thời tìm ra những cách tồn tại khác nhau mà có thể có.
Không nói đâu xa, ngay gần đây thôi, tức là những năm 60, 70, thế kỷ XX, phê bình vẫn còn hết sức non yếu, vụng dại. Thông qua trường hợp của một người bạn cùng lứa là Minh Thái, tôi muốn ôn lại những bước thăng trầm của đám người viết phê bình trưởng thành trong thời chống Mỹ.
Từng có lúc chúng tôi hăm hở nghĩ rằng cái nghề này ghê gớm lắm và những việc làm của mình là quan trọng lắm.
Hóa ra toàn tơ tưởng hão!
Bao nhiêu dang dở không thành, bao nhiêu buồn cười, bao nhiêu nhí nhố đã bộc lộ, trong quan hệ của bọn tôi đối với văn chương, khiến cho chỉ làm một thời gian theo cái kiểu làm lúc đầu, chúng tôi phải phá ra đi làm nghề khác, hoặc vẫn ở đấy, nhưng làm theo cách khác.
Tuy nhiên, ít lâu sau nhìn lại, vẫn có một cảm tưởng chung là mọi chuyện không thể khác được, mình ở trong hoàn cảnh như thế, được dạy dỗ như thế, sẽ có cách sống cách làm việc như thể.
Và bởi lẽ mình đã đến với nghề một cách hết lòng, bằng cả tuổi trẻ của mình, nên cả lúc nhân ra thực chất của nó, cũng không dễ gì mà từ bỏ, ngược lại, chỉ thấy thương nhau, và bảo nhau ăn chịu với nghề, viết cho đên khi không viết được nữa.
*
Trụ sở các tờ báo có lẽ là một trong những nơi dễ dàng bậc nhất trong việc mang lại cho người ta những người quen. Nhất là khi người ta còn trẻ, và mới viết được ít bài đầu tiên thì nhu câu tìm ra những bạn bè cùng tuổi, cùng trang lứa trong nghề, lại càng rất tự nhiên, bởi nó là một cách để có thêm tự tin, thêm nghị lực sống và viết.
Nhớ về những năm mới vào nghề phê bình văn học của Minh Thái mà cũng là của một loạt cây bút cùng thời như Mai Quốc Liên, Phan Hồng Giang, Ngô Thảo, Định Nguyễn v.v... tôi nhớ ngay những cuộc gặp gỡ quanh các tờ báo như thế.
Bấy giờ, cả miền Bắc chỉ có hai ba cơ quan báo chí chuyên về văn nghệ, mà mục phê bình do các lão tướng trắn giữ: Đông Hoài, Khái Vinh ở báo Văn Nghệ, Nhị Ca ở Văn nghệ Quân Đội Hoàng Trung Nho ở Tác phẩm mới.
Còn bọn trẻ chúng tôi thường đóng vai một thứ ét cho các vị ấy và như thế đã là vinh dự lắm. Tuy nhiên, đấy là trong công tác biên tập. Còn trên nguyên tắc viết văn viết bảo là chuyện bình đẳng, dù già dù trẻ, mỗi tác giả chịu trách nhiệm về những gì đứng tên mình. Không phải bao giờ cũng có ý, nhưng sự thực là chúng tôi không khỏi thấp thoáng một chút ý thức về những đóng góp của một thế hệ phê bình mới.
Nhất là khi, nhìn ra thơ, nhìn ra văn xuôi, sự có mặt của những Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật, Triệu Bôn, Nguyễn Khắc Phục, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ... dường như đã là một sự gợi ý đẩy thuyết phục.
Đấy, cái lý do khiến cho bọn chúng tôi hay quẩn lại với nhau, là như vậy.
Trong cả bọn Phan Hồng Giang vùa học ở Nga về nổi lên với lối nghĩ vừa uyên bác vừa dí dỏm, Phan Hồng Giang lại là con trai thứ của nhà phê bình Hoài Thanh nên là một thứ con nhà nòi, biết rất lắm chuyện.
Mai Quốc Liên tài hoa và sắc sảo.
Định Nguyễn rù rì rù rì, nhưng tha thiết với sự viết lách thì không ai nghi ngờ. Còn Minh Thái, giống như một tướng tiên phong, lòng đẩy hăm hở, không ngại ngần, không biết sợ!
Tôi nhớ những lần Thái đến đưa bài cho tạp chí Văn nghệ Quân đội. Không bao giờ tôi đọc trong cách nói, trong dáng điệu của bạn một sự khép nép, rụt rè, như ở các cây bút trẻ khác.
Trước đó, đâu như hồi học phổ thông, người bạn này của tôi đã từng là học sinh giỏi văn và được một cái giải nhì trong kỳ thi chuyên văn toàn miền Bắc. Rồi đến hồi học đại học, Minh Thái lại từng là học trò yêu của giáo sư X., một người có thời gian dài tự giành và sự thực là đã giành được cho mình cái quyền xếp vị thế các nhà văn trong văn học sử và trong chừng mực nào đó thao túng được đời sống sáng tác đến mức cả những người rất ngại ông cũng phải vì nề ông, vì họ sợ cho những dòng chữ ông đánh giá họ.
Chính giáo sư X. ấy, theo chỗ tôi nhớ, đã xin cho Minh Thái về nhà xuất bản Văn học, với dụng ý là sẽ cắm ở đây một người đệ tử tin cậy.
Sự tự tin của Minh Thái ngoài cái phần bản tính tự nhiên, cũng còn do những thuận lợi như thế chi phối.
Nói để động viên nhau làm việc thôi, chứ cả bọn tôi hồi ẩy cũng chưa ai làm được gì nhiều. Thông thường, ngoài các bài báo vặt, bằng độ bàn tay, thì mỗi năm được chiếu cố lắm mỗi người mới giành được một cơ may để có thể viết một bài dài độ cả trang báo Văn nghệ, hoặc 4-5 trang Tác phẩm mới và tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Mai Quốc Liên đã viết về Hoa ngày thường chim báo bão của Chế Lan Viên.
Ngô Thảo viết về Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, cũng như Minh Thái đã viết về Đối thoại mới của Chế Lan Viên trong hoàn cảnh ấy.
Và có khi, trong cả năm trời, các bài viết vài ngàn chữ đó là một sự kiện đi đâu cũng có người nhắc tới, chính mình cũng rất muốn nhắc tới.
Người khôn của khó, nhưng khốn khổ, chúng tôi đã chọn cái nghề ấy và cái nghề ấy trong những năm chúng tôi bước vào đời tổn tại theo kiểu như thế, chúng tôi cựa làm sao nổi!
Lòng đầy nhiệt tình, ý chí sôi sục, quyết tâm có thừa, song nhìn lại, phải nhận trình độ của chúng tôi hồi ấy còn là hết sức hạn chế.
*
Tuy cùng gọi chung là phê bình, nhưng mỗi thời mỗi khác.
Những năm từ 1980 trở về trước, loại tác giả trẻ được học hành cân thận hoặc có bề dày tự học vững chắc như Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Lại Nguyên Ân gần như chưa xuất hiện, và chúng tôi còn biết ít lắm.
Về lý luận dẫn đường, loanh quanh chỉ có cuốn Nguyên lý văn học của Nguyễn Lương Ngọc và tập Timofeev mà Timofeev cũng chỉ đọc để biết thôi, chứ đâu đã có điều kiện để hiểu.
Không kể Lukacs, Bakhtin, đến ngay những Khrapchenko, Suskov, Pospélov... cũng chưa biết. Lại càng chưa ai biết gì về những cấu trúc văn bản, định hướng, tính mơ hồ đa nghĩa rồi sử thi, thì pháp v.v...
Đối với cả thế hệ hồi ấy, tiếng Trung Quốc bị tạm xếp xó, tiếng Nga còn lõm bõm, mà tiếng Pháp thì bị coi như lỗi thời (!) và giá biết cũng không có sách để đọc.
Cái mẫu duy nhất, là lối phê bình của Hoài Thanh. Nghĩa là xem phê bình đồng nghĩa với cảm thụ. Nghĩa là dùng tất cả tâm hồn mà lắng nghe, rồi chia sẻ cảm thông với tác giả, và khá lắm, là sờ vào từng chữ một để khen rằng chữ này có hồn, chữ kia đắc địa.
Nhưng Hoài Thanh làm vậy sau khi đã đọc thiên kinh vạn quyền.
Còn chúng tôi, hồi ấy ngoài mấy cuốn giáo trình sơ thảo chỉ có một ít thực tế là những gần gũi trò chuyện với các nhà văn, nhà thơ đương thời, hành trang vốn liếng thật quá mỏng mảnh.
Trong tình hình ấy, dĩ nhiên ưu thế là thuộc về những cây bút giàu xúc động, những cây bút biết vân vi bình tán và kể lại không đến nỗi nhạt "cuộc phiêu lưu của tâm hồn" mình qua tác phẩm.
Đọc lại các bài viết không riêng là của Minh Thái, mà của cả đám bạn tôi hồi ấy, người ta không khỏi thấy buồn cười, nếu không lớn tiếng chê bai thì các bài thường có cái giọng ve văn tán tụng và lấy sự duyên dáng, điệu bộ làm vẻ đẹp chính.
Cuộc sống hoá ra nhênh nhang, quanh quẩn.
Chẳng có gì là quá đáng, là tệ bạc, nhưng chỉ riêng sự tẻ nhạt, sự dấm dớ của nó, đã là đáng thương và không chịu nổi.
Rồi không ai bảo ai, mỗi người xoay ra một kiểu.
Phan Hồng Giang, một mặt lo đi học để làm phó tiến sĩ rồi tiến sĩ chính hạng (nay là tiến sĩ khoa học), mặt khác dồn hết công sức vào dịch.
Mai Quốc Liên tạm nén cái tâm thế hiện đại để dùi mài kinh sử, nghĩa là cắp sách đến học cụ Cao Xuân Huy, cụ Phạm Phú Tiết, rồi về làm văn bản chữ Nôm, chữ Hán.
Tôi không có cái may mắn như các anh ấy. Trong sự chán chường và bất lực thường trực, tôi loay hoay tự học tiếng Nga (học chỉ để đọc thầm chứ không để nói) và nhận với Lê Sơn bên Viện Thông tin khoa học xã hội một ít tài liệu về lược thuật, vừa kiếm ít tiền còm, vừa tự học.
Với sự nhạy cảm của một phụ nữ, có nhiên là Thái cũng không tội gì mà bằng lòng với cái mảnh đất chông chênh đang đưng...
Có một dạo, nhà phê bình ấy báo cho tôi biết là đã thôi nhà xuất bản Văn học để chuyên đi dạy học. Rồi cái nơi mới đến ấy cũng chẳng dung thân được lâu dài, tới đầu năm 1977, Thái xin chuyên về tạp chí Sán khẩu, cùng với Lưu Quang Vũ, Đặng Trần Cần, Nguyễn Ánh.
Ôi chao sự đời là những chuyến chuyển nghề, chuyến cơ quan !
Nó là tổng hợp cua bao nhiêu ngẫu nhiên: có người này rủ rê, được người kia hứa hẹn một ít quyền lợi... Rôi cũng như mọi việc đời, người ta sẽ tìm ra lý do chính đáng của thay đổi.
"Tôi về chỗ mới để có thể phát huy hết thế mạnh của mình".
Song cũng có một lý do khá quan trong mà không mấy ai nói ra: ấy là nhiều khi đi để mà đi, chưa biết chỗ mới ra sao, nhưng hãy từ bỏ được chỗ cũ cái đã.
Có phải chỉ riêng Minh Thái bị hút sang sân khấu đâu, bản thân tôi mấy năm 1976-1977 cũng đã thậm thụt định chuyển sang đấy, mà lý do là như thế này:
- Dẫu sao, sân khấu cũng khá gần với văn học. Nó có tích có tuồng như ở văn học có cốt truyện, và nó có nhân vật. Chứ chúng tôi không dễ để chuyên qua phê bình âm nhac phê bình hội hoạ, vì các ngành đó có những khía cạnh kỹ thuật mà phải có óc khoa học người ta mới có thể hiểu nó rồi viết về nó.
- Sân khấu còn thiếu người làm phê bình. Diễn viên, đạo diễn, tác giả kịch bản thì có, nhưng các khâu bình xét, phân tích, đánh giá và nói như bây giờ là quảng cáo nữa, các khâu ấy lại quá thiếu.
- Sau hết, một ngành nghệ thuật như sân khấu có cái vui, cái sôi động riêng. Nó không quá trang nghiêm như văn chương. Với tuổi trẻ, nhất là những ai tỉnh tình năng động, nó là rất thích hợp.
Không sống cho được cao sang sâu sắc thì thôi, tỉnh chuyện sống cho vui vậy - tôi ngờ rằng một người yêu đời và thiết thực, thiết thực theo kiểu hiện sinh, như Minh Thái, đã có lúc nghĩ vậy.
Sự chia tay của mỗi người chúng tôi đối với phê bình văn học cứ thế diễn ra không kèn không trống. Hồi ấy, chúng tôi cũng ngấm ngầm buồn. Song nghĩ lại thì thấy không làm sao khác được !
Chẳng qua có tác phẩm in ra thì phải có phê bình, thế thôi.
Các nhà văn nhà thơ cũng chỉ cần vài lời tô vẽ, chứ đâu đã cần đến một sự trao đổi trò chuyện có tính cách ngang hàng. Một việc thêm thắt như phê bình không có người này thì đã có người khác làm.
Trong hoàn cảnh cơ quan ngôn luận thiếu thốn, lúc nào chẳng có những thầy giáo trẻ dạy văn ở các trường đại học muốn có một bài viết in trên mặt báo để khẳng định giá trị mình trước học trò.
Vậy thì làm gì có chuyện phải cần đến một vài tên tuổi nào đó! Cái bi đát của chúng tôi là định biển một ít việc lặt vật ngẫu nhiên thành một nghề, trong khi sự thực là yêu cầu của nghề vào lúc ấy chưa có, và những chuẩn bị của chúng tôi lại càng chưa đủ.
Rồi tình hình sẽ tiếp diễn như nó đã diễn.
Chi ít năm sau khi chuyển đi viết phê bình sân khấu, Minh Thái đã có một uy tín riêng trong nghề nghiệp mới.
Tạp chí Sân khấu năm ấy, do Xuân Trình phụ trách, quan niệm phê bình là một thứ nghề hẳn hoi. Để bình giá tác giả tác phẩm, phải có các cây bút chuyên nghiệp, chứ không phải ai cũng tham gia được. Và thế là Minh Thái tha hồ "múa bút".
Nhiều bài báo tài hoa viết về Thế Lữ, Song Kim, Tào Mạt, Đoàn Anh Thắng... liên tục xuất hiện . Ở những bài viết này, Thái có dịp bộc lộ hết mình: nhạy cảm và tự tin. Thích những cách nói mạnh đậm và gây ấn tượng. Lúc nào cũng hôi hổi cảm xúc, và hồn nhiên tưởng rằng mọi người cũng dễ xúc động như mình.
Hình như có lúc một vải bạn bè đã than phiền rằng chẳng còn ai nhớ đến một Mình Thái viết phê bình văn học và tha thiết chờ đợi từng bài viết nhỏ đăng trên Tác phẩm Mới, hoặc Văn nghệ Quân Đội ngày nào nữa. Làm như ở đây, có một sự tham vàng bỏ ngãi, một sự "mài vui quên hết lời em dặn dò" nào đó, tóm lại là một thái độ không đáng trách, thì cũng là đáng tiếc.
Nghe to tát quá!
Sự thực, thì đâu có phải như vậy !
Sự thực, nếu ở lại với văn chương thuần tuý, rổ Minh Thái cũng chỉ sản xuất ra được những bài bình tán cổ lỗ, mà một người năng động và đầy cảm tính như chị, không thể chấp nhận mãi.
Cái chết của lối viết phê bình văn học mà chúng tôi theo đuổi hồi nào là sự ngẫn ngơ dở ông dở thằng của nó. Chẳng vươn lên nổi thành những suy tư có tầm khái quát việc đời hoặc những triết lý sâu sắc, mà cũng chẳng có được cái nhìn hồn nhiên của một trò chơi vui vẻ.
Cũng may, chúng tôi sớm nhận ra sự nhàm chán và như trên đã kể, tìm mọi cách giãy giụa để tự giải thoát.
Hoá ra, cuộc đời có cái lý riêng của nó: trong khi tưởng là đến với sân khấu nghĩa là bội bạc với văn học, thì Mình Thái lại tìm được cách để đưa lại cho ngòi bút phê bình của mình những sắc thái mới và một sức sống mới.
Theo chỗ tôi hiểu, sau giai đoạn làm nghề dang dở của lớp chúng tôi hồi chống Mỹ, giờ đây cái gọi là nghề phê bình có nhiều thay đổi. Vẫn có số ít các nhà phê bình vừa có kiến thức vừa có năng khiếu, tức là biết phân tích nghiêm túc tác phẩm theo những nguyên tắc lý luận sắc bén, đồng thời lại kết hợp vào đấy sự thưởng thức tinh tế của cá nhân người viết.
Hiềm một nỗi, loại phê bình thuần khiết này bao giờ cũng khó và không mấy ai thực hiện được đến nơi đến chốn.
Trong lúc ấy, sách vở cứ ra ùn ùn, và đòi được giới thiệu, được quảng cáo, được kêu lên để mọi người biết là mình đã ra đời. Thẩm định, bình giá... những việc ấy là chuyện lâu dài không thể làm ngay mà nhiều khi không chắc đã cần phải làm nữa kia !
Viết về một tác phẩm văn học giờ đây chẳng khác gì viết về một nhà máy vừa cho xuất xưởng một con tàu, hoặc có thêm những bao xi-măng mới, cái chính là phải viết sao cho nhanh, gọn, hấp dẫn, đủ sức kéo người ta đến với tác phẩm (chứ không tính chuyện đọc hộ người ta, như hồi trước bọn tôi vẫn tường).
Cũng cần nói thêm là từ chỗ coi mình "cao sang bắc bậc", phê bình văn học giờ đây không tự tách mình ra khỏi các loại phê bình nghệ thuật nói chung mà hòa với chúng làm một. Rất phổ biến là các nhà báo, sáng viết bài về phòng tranh này, chiều viết bài về đêm hoà nhạc kia, và hôm sau, thấy đứng tên sau bài viết về một bộ phim mới nhập.
Trong khi loại phê bình thứ nhất ngày càng xa vời, không mấy người với tới - mà có với tới cũng lọt thỏm đi, cũng chả được ai trân trọng (đôi khi lại còn làm phiền cho tác giả) - thì loại phê bình thứ hai rất đắc dụng, nó tạo nên sinh sắc cho đời sống báo chí và tạo cho người viết một sự hào hứng thú vị.
Khỏi phải nói, lối phê bình ngả sang làm báo này rất hợp với Minh Thái, tưởng như chị đã đợi nó từ lâu, và khi thấy hoàn cảnh thuận lợi thì nắm bắt được ngay. Một bản năng thích ứng mạnh mẽ thì thào vào tai người đó. Rằng thời cơ đã đến. Rằng không thể để những say đắm, những nồng nhiệt nơi mình bị vùi lấp mà phải truyền nó sang mọi người.
Kỹ thuật nghề nghiệp, nghĩa là cái cách làm cho trang viết dậy mùi lên, Thái học rất nhanh. Còn như phân máu thịt làm nên bài viết mà nhiều người chờ đợi, là những chuyện hậu trường, những ấn tượng riêng, những tiếp xuc riêng thì lúc nào mà chả ăm ắp trong tâm trí.
Và thế là ngòi bút ấy đã tạo cho mình một cuộc hồi xuân thật sự.
Từ Liên Xô cũ (nơi Thái làm luận án phó tiên sĩ) bay thẳng về Sài Gòn, cây bút ấy như cá gặp nước. Thái viết đủ thứ. Về người hát dân ca đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Về một cây dương cầm có triển vọng. Về sự sóng đôi Trịnh Công Sơn và Hồng Nhung. Về những đóng góp với sân khấu chèo của hoa sĩ Bùi Xuân Phái. Và Thái viết về Vũ Bằng, Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Ẩm.
Những bài viết, phải nhận là khá, và rất vừa miệng dư luận ấy, khiến cho người ta phải nghĩ lại về phê bình văn học. Có thứ phê bình ăn ở sự cần cù chê từng câu, bẻ từng chữ, nhưng lại có thứ phê bình như con bướm trong bài quan họ Hoa thơm bướm lượn, nghĩa là thoắt ẩn, thoắt hiện chập chờn làng tráng, có mặt ở mọi nơi, mà không nơi nào đủ sức níu kéo. Có hề gì cách làm một việc, cốt là nó đã được làm, như ở đây, nghề viết phê bình của chúng tôi, cốt nó bám vào đời sống văn học, nó có điều để nói với bạn đọc, và nhất là nó phù hợp với cá tính của người viết.
Dường như chinh Minh Thái cũng biết nay là lúc đời mình đang độ đắc chí hơn bao giờ hết, gặp bạn cũ, người không giấu được niềm vui :
- Này, bài viết của tôi về Thế Lữ được giải thưởng của tờ Thế giới mới đấy nhé!
- Ai cũng bảo sở dĩ bài tôi viết về Xuân Quỳnh hay, chỉ vì trong đó, tôi đâu chỉ viết về Quỳnh, mà cái chính là tôi viết về tôi, những nóng lạnh của chính tôi.
Rồi Thái khoe Thái có truyện ngắn đăng báo, Thái đã in thơ -- thơ tặng G., người bạn trai thuở Thái mới hăm hai hăm ba gì đó. Tôi hiểu trước mắt mình vẫn là một Minh Thái ngày xưa, với lòng tự tin và sự nồng nhiệt đến cuồng dại.
Nhờ sự thay đổi của hoàn cảnh, mà cũng là nhờ sự bươn chải vật lộn không chịu chết mòn ở những xó xỉnh cũ kỹ, Minh Thái đã tự tìm cho mình một khuôn mặt mới. Ở đây, có một chút gì đó, như là sự tự giải phóng nữa.
*
Tiếc nuối những ngày xưa làm gì!
Đằng nào cũng nghèo nàn nhạt nhẽo, thôi thì nhố nhăng đùa bỡn qua ngày chứ nghiêm túc lắm, chỉ tổ chuốc lấy giả tạo !
Ít ra, người bạn gái của tôi, hơn hai chục năm nay vẫn gắn với nghề cầm bút, sướng vui buồn bã, rồi nghèo giàu sang hèn gì cũng quanh quẩn với cây bút, thế là được rồi.
Ta không có quyền đòi hỏi quá nhiều ở một người, huống chi là người đó lại là phụ nữ !
Lại nhớ có lần, nhân nói điều gì đó liên quan đến gia đình nhà cửa, cuộc sống ngoài văn chương, Thái nói như đề lên một nguyên tắc và rạch một ranh giới :
- Nên nhớ người đàn bà này trước sau chỉ sống bằng đôi tay mình, chứ không chịu nương nhờ vào tay kẻ khác.
Tuy không biết hết chuyện riêng tư của bạn đồng nghiệp nhưng tôi ghi nhận ở đây một ý muốn, một cả quyết của Minh Thái. Và tôi hiểu như vậy đấy là cái tình thần chỉ đạo trong cuộc sống, cũng là tinh thần quán xuyên trong công việc cầm bút của chị.
Khi một người đã trung thành với mình và đã trở thành chính mình, ta còn đòi hỏi gì thêm nữa ?!
---------------
(1) Một số bài vừa được tập hợp trong cuốn sách: Nguyễn Thị Minh Thái Sân Khấu và Tôi, 380 trang, H.1995, giải thưởng Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam, 1995.
MÃI RỒI HÒA BÌNH THỰC SỰ CŨNG ĐÃ TỚI VỚI HÀ NỘI!
Ngày 11 tháng 6 năm 2025
--
Đối với người Hà Nội, năm 1975 là năm chấm dứt chiến tranh trên cả nước con cái không lo đi bộ đội nữa, còn từ 1973 sau khi hiệp định Paris được ký thì đã thực sự gọi là năm hòa bình
--
SAU ĐÂY LÀ NHỮNG BÌNH LUÂN TUYỆT HAY
xuất hiện trên mạng về những bức ảnh này vào ngày 12-6
NHÌN ẢNH HÀ NỘI NĂM 1973, TA NHƯ THẤY MỘT HÀ NỘI Ở CÁCH ĐÂY CẢ NGÀN NĂM ÁNH SÁNG.
hoặc
BÂY GIỜ, TÔI MỚI HIỂU TẠI SAO, NĂM 1973 – QUÁN PHỞ BÒ ÍT THẾ. HOÁ RA LÀ HỒI ẤY, BÒ GẦY QUÁ
******
Tuan Bim
HÀ NỘI – 1973
Nhìn những tấm hình do phóng viên nước ngoài, chụp ở Hà Nội năm 1973, ta như thấy một Hà Nội ở cách đây cả ngàn năm ánh sáng.
1/Hình thứ nhất cho thấy cảnh bơi thuyền pơ-rít-xoa trên hồ Gươm.
Tôi vẫn còn nhớ những hình ảnh này. Và còn nhớ: ‘nhà thuyền’ là ở bên Thuỷ Tạ.
Tuy nhiên, tôi chưa kịp thuê một con pơ-rít-xoa để chở bạn gái tưởng tượng đi dạo 1 vòng Bờ Hồ, thì tôi đã nhận được giấy gọi nhập ngũ.
Và thế là xa Hà Nội.
Và thế là không biết pơ-rít-xoa biến mất khi nào.
2/ Hình thứ hai cho thấy chiếc ghế đá trước cửa ‘nhà hàng Phú Gia’, mà người Pháp để lại cho ta, vẫn còn được Le Thai Tho làm bàn để chơi bóng ping-pông.
Đâu như mãi đến tận năm ‘2 ngàn’, tụi trẻ trâu được bố mẹ cho tiền mua ô tô, đã đâm gẫy chiếc ghế này.
Bây giờ, hình bóng này chỉ còn trong trí nhớ.
3/ Hình thứ 3 là ‘toa tầu điện đặc biệt’.
Mặc dù tôi thường xuyên ngóng xem tầu điện ở cửa ô Đồng Lầm làng tôi, nhưng tôi không hề nhớ, là có ‘chiếc toa tầu điện’ này.
4/ Hình thứ 4 là thiếu niên phố cổ - con nhà giầu.
Hồi đó, Vinh Linhthe mặc như thế này, đã được coi là ‘công tử Hà thành giầu có’ ….dồi.
5/ Hình 5 là cảnh ‘vá đường’ đầu phố Tràng Tiền.
Chẳng phải là nhà tiên tri, ta cũng biết được rằng: ‘con đường đi lên CNXH’ – còn nhiều ghềnh thác lắm.
Bây giờ vẫn ‘ghềnh thác’, nhưng trở ngại lại ở một phạm trù khác.
6/ Hình thứ 6 là ‘phương tiện vận tải chủ lực’ thời bấy giờ.
Bây giờ, tôi mới hiểu tại sao, năm 1973 – quán phở bò ít thế. Hoá ra là hồi ấy, bò gầy quá.
==
QUA NGUYỄN THỊ MINH THÁI
NHỚ VỀ ĐỜI SỐNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC
30 NĂM TRƯỚC
---
Tôi về hưu từ 2007 khi đã 65 tuổi, nhưng vẫn tiếp tục sống theo kiểu những năm cuối cùng làm nhà xuất bản Hội nhà văn, tức là mải viết theo kiểu của mình, cái phần mà tôi gọi là phiếm luận văn hóa.
Trước đó có một thời gian dài đến hơn chục năm, tôi gần như không tham gia vào đời sống phê bình văn học. Năm 2018 khi đã 75 tuổi, đã bị tai biến, nhưng vẫn nhóc nhách đọc và viết fb theo đuổi các đề tài cũ.
Nhưng hai ba năm gần đây khi đã ngoài 80, tự nhiên sinh ra tâm lý tiếc thương cái thời trai trẻ và có những lúc cho rằng thật ra không phải thời trung niên mà khi trẻ trên dưới 40 mới là những năm sống hồn nhiên tự nhiên, do đó đáng nhớ nhất.
Tôi muốn nhờ anh Ngô Thảo bố trí cho gặp lại người bạn trẻ Minh Thái là vì thế.
Hôm nay (6 – 6 – 2025), trong khoảng gần hai tiếng đồng hồ, ba chúng tôi cũng ngồi ôn lại những ngày xưa cùng làm báo, viết văn, trêu đùa nhau, chán chường nhau, rồi lại chỉ có cách tìm đến nhau để bàn chuyện tiếp tục viết sôi nổi hơn .
Trong số các đồng nghiệp cùng tuổi những năm ấy, Minh Thái để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc và vì càng ngược tính nhau, chúng tôi càng hay soi xét về nhau.
Trong khi tôi bên cạnh những lúc bốc đồng, lại thường có những lúc chán chường trễ nải, thì Thái sôi nổi yêu đời say sưa với công việc phê bình, tự tin hào sảng ở những trang viết ... của mình. Trong khi tôi sống một tuổi trẻ tẻ nhạt, tầm thường thì Thái có một cuộc sống sôi nổi đầy hấp dẫn. Thói thường là thế, một vài bạn nữ khác vừa yêu vừa xấu hổ, che che đậy đậy, thì Thái yêu ai yêu hết lòng, công khai không giấu diếm tình yêu, mối tình nào cũng nồng nàn đằm thắm, để rồi sang mối tình mới lại cảm thấy như được sống một cuộc đời bồng bột trẻ trung hân hoan trở lại.
Riêng về công việc phê bình, Minh Thái là bức vẽ phác chuẩn mực hình ảnh một người viết phê bình trẻ thời kỳ trước sau 1975, phải nói rằng đó là hình ảnh tiêu biểu mà tôi tìm thấy trong nhiều bạn bè cùng nghề cùng tuổi – còn tôi thường « đứng núi này trông núi nọ», lúc viết về những tác phẩm đương thời, lúc quay lại văn học sử, lúc giới thiệu văn học nước ngoài,… nghĩa là luôn luôn thích mò mẫm sang những khu vực khác để rồi chuốc lấy những thất bại khác, thì các bạn ấy trung thành với con đường đã chọn và đã gặt hái được những vinh quang nghề nghiệp xứng đáng.
Một phần những điều này đã được tôi trình bày trong bài « Minh Thái và những chặng đường phê bình văn học » dùng làm lời bạt cho cuốn sách « Đối thoại mới với văn chương » in ra ở nhà xuất bản Hội nhà văn năm 1996 và tái bản năm 1999, nó cũng đáng gọi là một kỷ niệm trong quá trình nhận thức về nghề phê bình văn học của tôi.
Trước khi mời các bạn cùng đọc bài viết này, tôi muốn nói thêm một ý, là hôm nay chúng tôi còn có dịp nhớ lại mấy người bạn cũ nhất là những người bạn vong niên, mà trong cuộc đời viết phê bình văn học có nhiều trắc trở. Như anh Văn Tâm chẳng hạn. Rồi các anh các chị khác : Khái Vinh, Thiếu Mai, Nhị Ca, Định Nguyễn… Tôi mong rằng có dịp sẽ trở lại đề tài này trong một dịp khác.
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH DƯỚI CON MẮT MỘT BẠN TRẺ Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975
Ngày 13 tháng 6 năm 2025
Đoạn 1: Nhớ lại “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque.
-----
Trích bài Nỗi buồn chiến tranh và “một nửa của sự thật …” của Hà Thị Lệ Hà
Nguồn: https://donggianghoanghoathamdn.wordpress.com/.../noi.../
***
Phần lớn người đọc Việt Nam biết đến “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh khá muộn màng so với thời điểm ra đời của nó, sau nhiều cơn cớ sóng gió phê bình và kiểm duyệt. Xuất bản lần đầu tiên năm 1987 với nhan đề “Thân phận của tình yêu”. Đạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam sau khi chính thức được phép xuất bản năm 1991. Được tôn vinh là “cuốn tiểu thuyết xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam”, “cuốn sách chạm vào mẫu số chung của nhân loại”, “thành tựu lớn nhất của văn học đổi mới” …
Lần đầu cầm trên tay “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh năm 2002, tôi đã đọc liền một mạch. Hiếm khi được đọc một cuốn như thế. Xót thương và cảm động! Nhiều câu văn, nhiều đoạn văn của “Nỗi buồn chiến tranh” khiến tôi thực tin người viết, cũng là một người lính, thực trải những đau đớn, dằn xóc nghiệt ngã tự trái tim mình.
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh lập tức làm tôi nhớ đến “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” (All quiet on the Western Front) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Đầu thập niên 1970, ở miền Nam Việt Nam, còn là những học sinh trung học, chúng tôi đã say mê đọc Remarque: “Một thời để yêu, một thời để chết”, “Chiến hữu” …, và đặc biệt là “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh”.
Những ngày ấy, chiến tranh hiện diện khắp mọi ngóc ngách: trên từng bản tin chiến sự hằng ngày của báo chí và truyền hình, trong từng âm thanh tiếng đại bác đêm đêm ầm ĩ dội về thành phố…
Bạn bè cùng trường, cùng lớp tôi, phần lớn là những đứa trẻ từ các làng quê Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên… theo gia đình tản cư về Đà Nẵng.
Có đứa, anh làm xã trưởng, nửa đêm bị du kích xông vào nhà chặt đầu.
Có đứa, ba làm quận trưởng, cuối tuần về lại nhà chiếc xe jeep bị đặt mìn nổ tung.
Ba tôi cũng là một người lính, ông điều hành một đại đội xe Hồng thập tự chuyên về tải thương, lúc còn tạm trú ở trại lính tôi đã nhìn thấy rất nhiều máu đặc quánh rồi khô lại trên vô số những tấm băng ca màu xanh xám.
Tuổi mười hai, mười ba, nghe những câu chuyện ấy, nhìn những cảnh ấy… chỉ biết buồn ngơ ngẩn mà không thể hiểu vì sao con người lại tàn ác với nhau, lại nhẫn tâm làm đổ máu nhau như thế. Sự thể ấy cũng khiến nhiều đứa trong số chúng tôi mau chóng rời bỏ tuổi trẻ và trở nên già nua rất nhanh, trong có vài năm ngắn ngủi mà trải nghiệm gần hết cả một cuộc đời hệt như nhân vật Paul Bäumer trong “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque.
-
“Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh. Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, khi cuộc Đại chiến đã đi được nửa đường và điểm nóng mặt trận đã chuyển hướng từ phía Đông về phía Tây (1916_1918).
Nhân vật chính là Paul Bäumer, một người lính Đức 19 tuổi. Mấy năm trước, anh cùng những người bạn học cùng lớp của mình nghe lời cổ vũ, tuyên truyền của giáo sư Kantorek: “chúng ta có hạnh phúc được sống trong một thời đại lớn; vì vậy chúng ta phải hòa mình vào thời đại ấy”, bảy người trong lớp họ hăng hái vào quân đội để tham gia chiến tranh.
Sau một khóa huấn luyện kéo dài mười tuần, họ được đưa ra mặt trận Miền Tây, nơi đang diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt giữa nước Đức và liên quân Anh Pháp.
Họ từng được giáo sư Kantorek thuyết phục rằng “tuổi trẻ là gang thép”, những chiến binh Đức là bất bại , nhưng ra đến mặt trận , trước đạn bom, họ mới thấy sinh mạng con người bé nhỏ , yếu ớt và thảm hại biết chừng nào .
Mở đầu “ Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” là hình ảnh mấy chục người lính đại đội 2 , đại đội của Paul Bäumer đang xếp hàng lĩnh thức ăn trưa .
Ngày hôm qua, sau một trận đánh ác liệt với quân Anh, đạn pháo tới tấp giã trên đầu, đại đội 2 gồm 150 quân của họ chỉ còn lại 80. Mọi sự xảy ra nhanh đến mức không ai hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra, không ai hiểu vì sao mình còn sống, cũng không ai kịp nhỏ một giọt nước mắt khóc thương cho những đồng đội của mình. Trái lại, dường như tất cả bọn họ đều còn thấy cảm thấy phấn chấn, hả hê vì bữa trưa ngày hôm ấy, khẩu phần dành cho 150 người gồm đậu hầm, xúc xích, bánh mì, thuốc lá …sẽ là của 80 người, một “khẩu phần kép”. Thật là no nê phủ phê.
Ăn uống xong rồi, họ xách những chiếc thùng gỗ ra cánh đồng cỏ sau lán trú quân, ba cái đâu vào nhau, chễm chệ ngồi lên rồi chơi bài, hút thuốc, đọc thư… vừa đắm mình trong bầu không khí dễ chịu đẫm hương hoa đồng nội, vừa khoan khoái trút những thứ mới được tiêu hóa trong dạ dày, ít ra cũng hai tiếng đồng hồ sau mới chịu đứng dậy.
Cũng trong trận ấy, một người bạn học _đồng đội của Paul Bäumer là Kemmerich bị thương. Một chân của anh đã bị cưa và có lẽ anh cũng chẳng còn có thể sống được bao lâu. Nhưng Kemmerich mới mười chín tuổi, anh không thể hiểu cái sự thể bi đát ấy. Và anh cũng chẳng thể nào hiểu vì sao anh bạn Müller thân thiết đến thăm mà cứ thèm thuồng lấm lét nhìn đôi giày của mình. Đôi giày của Müller đã quá cũ nát khi phải hành quân liên tục, trong khi giày của Kemmerich còn mới mà anh ta chẳng bao giờ còn có thể cần đến nữa.
Vậy đó, chiến tranh, ngay từ những ngày đầu, nếu không cướp đi mạng sống của con người thì cũng tước đoạt của họ mọi thứ cảm xúc, biến những chàng trai đầy mơ mộng trở thành những kẻ thô lỗ, cục súc và tàn nhẫn. Chỉ có thực tại, thực tại, và thực tại: ăn được thì ăn, ngủ được thì ngủ, yêu được thì yêu … Bởi nếu không như vậy, họ chẳng thể nào có thể sống qua những khủng khiếp, kinh hoàng.
Đó là những trận pháo kích dồn dập trong những chiến hào chật chội, những cái chết thương tâm và đau đớn của đồng đội …Mới hôm qua đại đội một trăm năm mươi người, hôm nay chỉ còn tám mươi. Mới cuối hè đại đội một trăm năm mươi người, sang đầu thu nay chỉ còn ba mươi hai trong hàng ngũ. Lớp lớp những chàng trai non trẻ măng tơ ra chiến trường và lần lượt gục ngã …Chỉ có thể nhờ vào may mắn mà một ít trong số họ còn sống sót để lại tiếp tục công việc nổ súng bắn vào con người.
Có lần, trong một trận tấn công, Paul Bäumer lạc vào chiến hào của đối phương và đã phải tự tay mình đâm chết một người lính Pháp. Nỗi đau đớn, tiếng rên rỉ kéo dài suốt đêm của người lính Pháp ấy, bức ảnh người vợ cùng đứa con gái nhỏ của người lính Pháp_người thợ sửa ống khóa hiền lành ấy đã khiến Paul Bäumer thảng thốt nhận ra sự thể kẻ anh vừa giết cũng là con người.
Anh nói với người ấy, bấy giờ đã là một cái xác chết: “Này anh bạn, mình có muốn giết cậu đâu. Nếu cậu lại nhảy vào cái hố này một lần nữa, mình sẽ không làm thế nữa đâu, miễn là chính cậu, cậu cũng phải biết điều. Nhưng đầu tiên, đối với mình, cậu chỉ là một ý nghĩ, một sự tính toán nảy ra trong đầu mình, rồi nó dẫn đến một quyết định. Chính mình đã đâm vào cái sự tính toán ấy. Bây giờ, lần đầu tiên, mình nhận ra cậu cũng là một con người như mình. Mình đã nghĩ đến những quả lựu đạn của cậu, đến cái lưỡi lê và các thứ vũ khí của cậu; nhưng bây giờ, mình nhìn thấy vợ cậu, cũng như nhìn thấy mặt cậu và những gì giống nhau giữa hai đứa chúng mình. Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình. Bao giờ chúng ta cũng nhìn ra sự việc một cách quá muộn. Tại sao người ta không nói cho bọn mình biết rằng chính các cậu, các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình, rằng các bà mẹ của các cậu cũng đau khổ như mẹ chúng mình, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau? Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình; tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình? Nếu chúng ta bỏ những vũ khí và bộ quân phục này đi, thì cậu rất có thể là người anh em của mình, như Kat và Albert vậy. Bạn ơi, cậu hãy lấy hai mươi năm của đời mình và cậu hãy đứng dậy đi… Đời mình còn gì nữa, cậu cứ việc lấy nốt đi, vì mình không biết là từ nay mình còn làm những gì nữa”.
Paul Bäumer và những đồng đội của anh, ngày càng thấy rõ, cuộc chiến tranh mà họ tưới tắm bằng chính máu của mình không thể đem lại niềm vinh quang cho bản thân họ. Người ta buộc các anh phải nổ súng bắn vào cuộc sống, phải giết người. Và lý do của sự giết chóc ấy ngay từ đầu đã thật phi lý.
Người ta nói rằng tổ quốc của họ đang bị xúc phạm. Nhưng những người lính thấy rằng: “Một quả núi của nước Đức làm sao lại có thể xúc phạm một quả núi của nước Pháp được. Một con sông, một khu rừng, một cánh đồng lúa mì, cũng thế thôi”, “Một anh thợ khoá và một anh thợ giày người Pháp sao lại muốn đánh chúng ta. Trước khi đến đây, mình chưa hề gặp một người Pháp nào, và phần đông người Pháp đối với chúng ta cũng thế.” Họ thấy rõ, không ai trong số hàng triệu những người lính bình thường, không ai trong số hàng triệu những người dân bình thường muốn có chiến tranh. Thế nhưng trong cuộc chiến tranh này, một nửa nhân loại lại trở thành đám thiêu thân lăn xả vào hỏa ngục, rốt cuộc đơn giản chỉ bởi vì những hoàng đế và tướng lãnh của đất nước họ đang sống cần có những chiến công.
Những ngày ấy ở mặt trận, những giống ký sinh trùng và chuột bọ không biết ở đâu chui ra mà sinh sôi nảy nở nhiều vô kể. Hàng trăm con rận béo múp trú ngụ trong một bộ quần áo lính rách rưới tả tơi. Chuột thì to lớn và gớm ghiếc khủng khiếp, người ta gọi chúng là “chuột xác chết”. Không chỉ gặm bánh mì, chúng còn ăn thịt lũ chó và mèo. Và chắc là vậy rồi, chúng xơi luôn cả xác người, bất kể người Đức, Anh, Nga hay Pháp…
Mùa hè năm 1918, tình hình mặt trận Miền Tây trở nên gay go và đẫm máu hơn bao giờ hết. Hoa Kỳ đã tham chiến. Quân Đức ngày càng kiệt quệ và tuyệt vọng. Bảy chàng trai cùng một lớp học ra đi ngày ấy nay chỉ còn lại Kan và Paul Bäumer.
Mùa hè năm 1918, cuộc sống với cái hình dáng tả tơi thảm hại của nó càng khiến người ta thèm khát. Hoa mào gà đỏ chói trên đồng nội Những cây cối trong hoàng hôn. Những ngôi sao và những dòng nước. Những giấc mơ và giấc ngủ triền miên.
Cũng mùa hè năm 1918, những tin đồn về đình chiến, về hòa bình bắt đầu xuất hiện.
Nhưng bất kể những người lính ngoài mặt trận khắc khoải chờ đợi thế nào, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, người vẫn tiếp tục chết. Kan, người bạn thân thiết cuối cùng, bị một viên đạn lạc, chết ngay trên vai Paul Bäumer, khi họ trên đường tới trạm quân y.
Tháng 10 năm 1918, Paul Bäumer chết. Anh là người cuối cùng trong nhóm bảy người cùng một lớp học ngày ấy nghe lời giáo sư Kantorek hăm hở ra chiến trường nằm xuống trong chiến tranh. Ngày hôm ấy là một ngày khắp cả mặt trận yên tĩnh đến nỗi bản thông báo tình hình chiến sự chỉ ghi một câu “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh”.
“Anh ta ngã xuống, đầu về phía trước, nằm dài trên đất, như người đang ngủ.
Khi lật anh ta lên, người ta thấy hình như anh ta không đau đớn lâu thì phải.
Nét mặt anh ta bình thản và như biểu lộ một vẻ bằng lòng về cái kết cục như vậy.”
Cùng với “Giã từ vũ khí” của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque được xem là tiểu thuyết hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tác phẩm cũng được xem là cuốn sách bán chạy nhất Châu Âu suốt thế kỷ XX.
(Còn tiếp)
CHIẾN TRANH DƯỚI CON MẮT MỘT NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC (1965 – 1975)
Ngày 15 tháng 6 năm 2025
*
Trích bài Nỗi buồn chiến tranh và “một nửa của sự thật …” của Hà Thị Lệ Hà
Nguồn: https://donggianghoanghoathamdn.wordpress.com/.../noi.../
--TIẾP THEO BÀI:
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH DƯỚI CON MẮT MỘT BẠN TRẺ Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975:
Đoạn 1: Nhớ lại “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque.
Sau đây là đoạn 2.
-----
LỜI DẪN CHO ĐOẠN 2:
Sự tương đồng giữa « Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh » và « Nỗi buồn chiến tranh », là điều mà hầu như tất cả những người đọc trong và ngoài nước khi đọc cuốn sách của Bảo Ninh đều cảm thấy, kể cả nhà văn Trung Hoa rất nổi tiếng hiện nay là Diêm Liên Khoa (Với các tác phẩm đã dịch sang tiếng Việt "Phong Nhã Tụng", "Người tình phu nhân sư trưởng", "Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn", "Kiên ngạnh như thủy", "Đinh Trang mộng" và "Tứ Thư") vốn cùng một cảm giác về chiến tranh với Bảo Ninh.
Cũng xuất phát từ cảm hứng căn bản đó, sau đây tác giả Hà Thị Lệ Hà sẽ điểm lại những nhận thức mới về chiến tranh mà chỉ khi đi vào cuộc chiến trận người lính miền Bắc mới nhận thức được.
Một nhận thức đau xót và đảo ngược lại mọi nhận thức trước kia được nhà trường và xã hội dạy dỗ.
Một nhận thức có cái vẻ ngoài « phản nhân văn ». Một nhận thức khiến anh luôn luôn muốn lẩn tránh nhưng lại không thể lảng tránh nổi vì tính đúng đắn của nó.
Cả đoạn văn được viết liền một mạch, để bản thân dễ tiếp nhận, chúng tôi mạn phép làm công việc tách các ý chính ra thành những đoạn ngắn và đặt cho chúng những đầu đề, những đầu đề này được viết bằng chữ in hoa. Cuối phần này là một ít trữ tình ngoại đề của tác giả Hà Thị Lệ Hà. Bài viết của tác giả này sẽ còn được chúng tôi trích dẫn trong các kỳ tới.
---------------------------------------
Cũng như “Mặt trận Miền Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh.
Tác phẩm lấy bối cảnh Việt Nam, chủ yếu mười năm trước và mười năm sau khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam kết thúc (khoảng từ 1965 đến 1985).
Nhân vật chính tên là Kiên, cũng là một người lính. Mười bảy tuổi, chàng trai Hà Nội ấy say sưa nghe lời hiệu triệu của thầy hiệu trưởng: “nước Mỹ sẽ bị hủy diệt”, “chính các em sẽ là những thiên thần trẻ tuổi của cách mạng, các em sẽ cứu nhân loại”, cùng bao bạn bè hăm hở rời trường học để vào chiến trường. Từ đấy, “cả thế hệ anh đã lao vào trận chiến một cách hăng say, một cách hung dữ, đã làm đổ máu mình, đổ máu người”.
-
Mười năm Kiên chiến đấu ở chiến trường Bắc Tây nguyên là những năm chiến tranh khốc liệt nhất. Hàng bao núi xương sông máu! Đói khổ, đạn bom và chết chóc vô kể! Chỉ riêng một trận đánh cuối mùa khô 1969, toàn bộ tiểu đoàn 27 một ngàn hai trăm người bị bao vây rồi bị tiêu diệt, chỉ còn sót lại mười người, trong đó có Kiên. Những cái tên “Truông Gọi Hồn”, “Đồi Xáo Thịt” … lần lượt ra đời, những oan hồn lính của hai bên, của cả dân thường … lưu lạc, vất vưởng khắp nơi khiến người còn sống yếu bóng vía phải phát điên.
[CHIẾN TRANH ĐÃ HIỆN RA
VỚI VẺ MA MỊ QUÁI GỞ]
“Dạo ấy, các vạt đất ven triền sông suối uống no nê máu người mà nở rộ những đám hồng ma. Ban đêm hương hồng ma càng “cô đậm, ngọt, ngào ngạt, thẩm thấu” vào giấc ngủ làm thành bao nhiêu là giấc ngủ mơ kỳ lạ gây những ám ảnh khoái lạc mê mẩn”.
Chiến tranh, dù nhân danh vào bất cứ điều gì, thực chất vẫn là sự chết chóc, là hủy hoại mọi thứ kể cả sắt thép, gạch đá, nói gì đến sinh mạng con người…
Đám trinh sát gai góc, dày dạn như Kiên nhờ chìm vào đám khói mê dụ đầy ảo ảnh của hồng ma mà quên mọi nông nỗi đói khát, đạn bom, chết chóc… của cuộc đời người lính. Nhưng khi họ tỉnh thức, sự hư hoại, mất mát từng ngày của chất người trong họ khiến họ âm thầm cảm thấy một nỗi tuyệt vọng thống thiết tràn ngập tâm hồn mình.
Chiến tranh, dù là giết được người hay bị người giết cũng đều khốn khổ khốn nạn như nhau. Trong cuộc tấn công ở rìa Ban Mê Thuộc năm 1975, khi những khẩu đại liên của Kiên và đồng đội bắn xối xả vào đám tàn binh của trung đoàn 45 ngụy đang tháo chạy khỏi vùng đất trống Phước An, hàng ngàn cái bia thịt rú lên rồi rũ rượi gục ngã_nhưng những cuộc tàn sát man rợ ấy tuyệt nhiên không thể đem lại cho họ cảm giác về một niềm vui sướng, một chút vinh quang nào.
Chương đầu của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” có một chi tiết kinh dị, ghê rợn và đầy ám ảnh. Năm 1974, giữa tro tàn của một ngôi làng ở Tây nguyên, Thịnh “con”, người lính cùng tiểu đoàn với Kiên, săn đuổi và bắn chết một con vượn. Tiểu đoàn đã chuẩn bị nồi niêu dao thớt cho một buổi liên hoan tưng bừng, nhưng khi cạo sạch được bộ lông con vật ấy ra họ mới phát hiện đó là thân hình trần truồng một mụ đàn bà nửa xám xịt nửa trắng hếu, cặp mắt dựng ngược trợn trừng. Cả bọn thất kinh rú lên rồi ù té chạy. Cái hình ảnh con người quái gỡ thê thảm đang bị con người đem ra làm thịt ấy rõ ràng là sản phẩm ghê tởm của chiến tranh. Chi tiết ấy rất có thể là thực, cũng có thể chỉ là một ẩn dụ , nhưng qua chi tiết vật người này , người đọc đều có thể cảm nhận được thông điệp của nhà văn gửi tới mọi người : chiến tranh chẳng thể là điều gì hay ho, nó là sự sự hủy hoại , sự tước đoạt tàn ác khủng khiếp nhất với hình hài và phẩm giá của con người .
[SỰ THAY ĐỔI TRONG CÁCH HIỂU CHIÊN TRANH CỦA NHỮNG NGƯỜI NHƯ KIÊN VÀ CÂU HỎI “TẠI SAO MÌNH CÒN SỐNG SÓT” ]
Nhân vật chính của “Nỗi buồn chiến tranh”, Kiên_ chàng trai ngày nào đã tưởng mình là “những thiên thần trẻ tuổi” hăm hở lao vào chiến tranh với lý tưởng từ chiến tranh, do chiến tranh sẽ tạo dựng cả một thế giới mới, “cứu cả nhân loại”, rốt cuộc cũng phải cay đắng nhận ra sự thật nghiệt ngã: “Chao ôi! Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”.
Nhưng điều khủng khiếp nhất đối với Kiên và đồng đội không phải chỉ là trải qua những thống khổ cùng cực của chiến tranh mà còn là phải đối mặt với những sự thể tầm thường và thô bạo của hòa bình.
Nếu bi kịch của nhân vật người lính trẻ Paul Bäumer trong “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh” là không thể sống sót qua chiến tranh thì BI KỊCH CỦA KIÊN TRONG “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” LẠI DƯỜNG NHƯ LÀ QUA HÒA BÌNH RỒI MÀ VẪN CÒN SỐNG SÓT. Nghịch lý chăng??? Cho đến trận chiến cuối cùng ở cửa ngõ Sài Gòn, cả trung đội trinh sát mười bốn người chỉ còn mỗi một mình Kiên. Chiều 30 tháng tư năm 1975, khi vẫn còn ngất ngây vì men chiến thắng thần tốc, những người lính như Kiên đã có cái cảm giác thật khó hiểu, thật lạ lùng: “hòa bình ập tới phũ phàng, choáng váng đất trời và xiêu đảo lòng người”.
[NỖI THẤT VỌNG VỚI HẬU PHƯƠNG CÀNG CHO NGƯỜI LÍNH HIỂU RÕ CHIẾN TRANH]
Hòa bình như một thứ cây “mọc lên từ máu thịt bao anh em mình” nhưng lập tức sau đó không lâu lại khiến những người còn sống phải chứng kiến bao sự mỉa mai, chua chát vì những cuộc trở về “Không kèn, không trống, không khúc khải hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có trước có sau người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ đội. Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé, tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác…”.
Tại các ga tàu miền Bắc, khi các đoàn tàu dừng bánh, “loa phóng thanh oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt trắng môi thâm này hàng lô xích xông những lời dạy bảo trớ trêu nhất đời, nào chống cầu an, chống đạn bọc lường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn vinh giả tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công thần?”
Hòa bình nhạt nhòa dần qua năm tháng và rồi sau đó với những người lính chỉ còn là một thứ ký ức tủi hờn: “Về sau, mỗi khi được nghe người ta kể hoặc được xem phim, được thấy cảnh ngày 30 tháng Tư ở Sài Gòn trên màn ảnh: cười reo, cờ hoa, bộ đội, nhân dân, nườm nượp, bừng bừng, hân hoan, hạnh phúc… tự nhiên trong Kiên cứ nhói lên nỗi buồn pha cả niềm ghen tỵ”.
[TỔNG KẾT và MẤY LỜI TỰ BẠCH]
Nỗi niềm bi thảm của những người lính Việt Nam thời hậu chiến trong những trang viết của Bảo Ninh là có thực. Bi thảm không phải chỉ vì những ám ảnh dai dẳng của sự mất mát trong quá khứ mà còn bởi những thô bạo, tầm thường của hiện tại và cả sự vô định mù mịt của tương lai.
Những tấm khẩu hiệu đã bị vứt đi.
Những cái mặt nạ đã rơi xuống.
Những phận người không biết về đâu.
Nhiều người trong họ mãi đắm chìm trong quá khứ, không phải đang sống mà là đang mắc kẹt giữa cuộc đời. Nhiều người trong họ chán ngán hiện tại, ước phải chi được chết một cách yên ổn như thân phận con sâu cái kiến trong những ngày chiến tranh. Nhiều người trong họ không tìm thấy tương lai, lại háo hức muốn trở lại những giây phút hào hùng của cuộc đời chinh chiến khi binh lửa chiến tranh mấp mé ở hai đầu biên giới (1978_1979).
Tháng 4 năm 1975, Ủy ban Quân quản Thành phố về đóng cạnh nhà tôi. Đó là dịp tôi được tiếp cận những con người mà mười mấy năm qua chỉ nghe chứ chưa từng gặp. Họ là những chàng trai xứ Bắc, những người lính khắc khổ, dày dạn chiến trường nhưng phần lớn còn giữ được nét thuần phác giản dị đậm chất nông dân. Họ đội mũ cối, đi dép cao su và hình như ai cũng hút thuốc lào. Chập tối, giờ sinh hoạt, từ ngôi nhà họ ở vang lên những lời ca hùng tráng: “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…”, “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước…”, “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận …”. Ban ngày họ ra ngoài rụt rè ngỏ ý bán đôi ba thứ: cân đường cát, phong lương khô, bánh xà phòng …đều là hàng viện trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, và cũng tìm mua đôi ba thứ: cái radio, cái casset cũ hay con búp bê, chiếc khung xe đạp xuất xứ Chợ Lớn … Đứa em nhỏ của tôi bấy giờ mới sáu tuổi, sau mỗi bữa cơm của mấy chú bộ đội lại xách cái rá chạy qua được mấy chú bộ đội tử tế gom cho những chỗ cơm thừa. Chỗ cơm ấy, chúng tôi đem rửa lại, xả sạch rồi phơi khô, đến bữa đổ thêm nước vào hấp lên là thành cơm ăn được.
Đôi ba tháng sau, Ủy ban Quân quản giải tán, từ đó tôi không bao giờ gặp lại họ nữa. Những ai đó đã đi về đâu? Những ánh hào quang ngắn ngủi ban đầu của ngày chiến thắng phút chốc nhạt nhòa rồi tắt lịm chỉ còn trơ ra tơi tả trần trụi những phận người “mờ mờ nhân ảnh”. Họ trở về quê để lại làm anh nông dân tay cấy tay cày. Họ lại đến trường để học và làm anh cán bộ. Họ ở lại thành phố và nắm những chức vụ trọng yếu trong chính quyền. Mấy chục năm sau, không biết số phận có làm ai trong họ như Kiên, trở thành nhà văn, chọn cách viết để giãi bày “để có một cứu cánh, một niềm cứu rỗi, để mà chịu đựng, để giữ lòng tin, để mà còn muốn sống” giữa cuộc đời!
(Còn tiếp)
EHRENBURG VÀ CUỐN HỒI KÝ CUỐI ĐỜI
Ngày 23 tháng 6 năm 2025
Bài đã đưa trên fb của tôi 23-6-2016
--
Khoảng 1965-70, khi tôi mới bước đầu làm quen văn học Nga – xô viết thì cũng là lúc nền văn học này, sau 50 năm phát triển, bước vào giai đoạn tổng kết, mà một trong những cách cách tổng kết lôi cuốn nhất là việc các nhà văn dành nhiều tâm huyết viết hồi ký.
Nhờ đó tôi đã được đọc "Chuyện đời tôi" của K Paustovsski, "Cỏ lãng quên" của V.Kataev, "Không ngày nào không viết mấy dòng" của Ju.Olesa và nhất là cuốn "Con người, năm tháng, cuộc đời" của I.Ehrenburg, một cuốn hồi ký đồ sộ nó giống như một thứ bách khoa thư của văn học Nga nửa đầu thế kỷ XX.
Sau này tôi đã cùng với các đồng nghiệp khác dịch một số chương trong cuốn hồi ký nói trên làm thành tập" Những người cùng thời" in ra ở Nxb Văn học năm 1985. Trong bản in lần đầu này, cuốn sách nhỏ còn được nhà văn Nguyễn Tuân viết cho mấy lời mở đầu, dưới đây là bài giới thiệu của tôi cho tập "Những người cùng thời" nói trên.
-
LỜI GIỚI THIỆU: MỘT CON NGƯỜI "BỀ NGOÀI U ÁM
SONG THẬT RA NÔNG NỔI NHẸ DẠ"
.............
Nhà văn Liên Xô I.G. Ehrenburg (1891 – 1967) vốn có một cuộc đời hết sức sôi nổi và đầy biến động từ trước 1917. Do tham gia hoạt động cách mạng bị lộ, bị đuổi học, ông đã có dịp qua sống lưu vong ở Pháp, giao du với nhiều nhóm nghệ thuật đang tập trung ở Paris lúc ấy. Từ những năm 20 trở đi, ông là thông tín viên của nhiều tờ báo Liên Xô, thường xuyên đi lại giữa các thủ đô lớnTây Âu.
Trước khi về nước tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc, ông đã có mặt gần như từ đầu đến cuối trong cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, rồi có mặt ngay ở thủ đô Pháp khi Paris bắt đầu bị quân phát xít chiếm đóng. Ngay sau khi đại chiến thế giới thứ hai kết thúc, trên cương vị Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới, Ehrenburg có dịp qua thăm nhiều nước: Ba Lan và Tiệp Khắc, Nhật Bản và Ấn Độ, Chi Lê và Hy Lạp, Thụy Điển và Italia…
Đi tới đâu Ehrenburg cũng tìm hiểu kỹ lưỡng đời sống văn hóa của con người ở xứ sở mà ông dừng chân. Bạn bè ông là các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ lớn trên thế giới. Nhiều sự kiện trọng đại trong đời sống văn hóa trở thành việc riêng của ông, cả chuyện bên ngoài sân khấu lẫn chuyện bên trong hậu trường, ông đều thông tỏ.
Bởi vậy, khi Ehrenburg huy động tất cả kinh nghiệm, từng trải viết ra hồi ký "Con người, năm tháng, cuộc đời" thì trước mắt chúng ta là cả một quang cảnh rộng lớn của đời sống văn hóa thế kỷ, ở đấy không chỉ có cuộc đời riêng của ông mà còn có nhiều chân dung con người rất có giá trị.
Người viết hồi ký này vốn có một đầu óc hết sức minh mẫn.
Bước đầu làm quen với I. Babel, S. Essenin, E.Hemingway;
những lần gặp gỡ P. Eluard,B. Brecht, A. Moravia;
một đôi phen cãi nhau chí tử với Aragon;
một dịp khác dẫn J.P Sartre tới thăm một nông trường ở Liên Xô và trực tiếp làm người phiên dịch trong cuộc trò chuyện giữa Sartre với một kỹ sư canh nông…
Những sự việc ấy không chỉ được Ehrenburg kể lại với nhiều chi tiết chỉ một người trong cuộc mới biết mà còn kết hợp với những nhận xét sắc sảo, nên để lại ấn tượng rất đậm trong lòng người đọc.
Sự hiểu biết cặn kẽ của ông với các vấn đề đặt ra trong đời sống văn hóa Liên Xô cũng như phương Tây, khả năng đặc biệt cuả ông trong việc phân tích sứ mệnh nghệ thuật và mối liên hệ phức tạp của nghệ thuật với các hiện tượng xã hội chính trị… đã giúp cho Ehrenburg dựng nên những chân dung độc đáo B. Pasternak và A. Fadeev, P. Picasso và V. Maiakovski…
Những chân dung ấy không chỉ cụ thể sinh động mà còn có sức khái quát sâu sắc .
Trong khi vẽ nên những chân dung ấy, Ehrenburg đồng thời phát biểu nhiều suy nghĩ của mình, và dần dà, mỗi lần một ít, phác ra những nét chân dung chính con người mình.
Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu Liên Xô M. Kuznetsov đã gọi "Con người, năm tháng, cuộc đời" là một tiểu thuyết và nghiên cứu tác phẩm của Ehrenburg trong bối cảnh một ngành tiểu thuyết Liên Xô viết quan trọng là tiểu thuyết đi sâu vào đời sống nội tâm (xem M. Kuzenetsov – Tiểu thuyết Xô viết, những con đường và những tìm tòi, M. 1980, trang 136 – 138).
Bản thân Ehrenburg đã từng nói trong chương mở đầu thiên hồi ký của mình:
“Trí nhớ người ta giống như ánh đèn pha của một chiếc xe đang đi trong đêm, khi thì nó cho thấy hình ảnh một gốc cây, khi thì một trạm gác, khi thì lại một con người. Nhằm trình bày một cách mạch lạc và chi tiết về cuộc đời mình, người ta (đặc biệt là các nhà văn) thường lấp đầy các khoảng trống bằng những dự đoán. Thật khó phân biệt rành mạch đâu là chỗ hồi ức kết thúc, đâu là chỗ tiểu thuyết bắt đầu”.
Tính chất chủ quan của tác phẩm là điều ông đặc biệt nhấn mạnh:
“Tôi không phải là người chép sử vô tư… Đây là cuốn sách viết về mình, hơn là cuốn sách viết về thời đại. Ngay khi cần miêu tả các sự kiện, tôi cũng không định miêu tả với đầy đủ tính liên tục về mặt lịch sử, mà chỉ miêu tả nó trong mối quan hệ với số phận bé nhỏ của tôi, với những suy nghĩ hôm nay của tôi”.
Tính chất chủ quan công khai và xu hướng tự thú cuồng nhiệt ấy làm cho trang viết của Ehrenburg có cái giọng như lạnh lùng, thậm chí tàn nhẫn.
Khi kể về bản thân, tác giả luôn luôn nói rằng mình gợi ảo tưởng dễ lầm lẫn, “bề ngoài u ám, song thật ra nông nổi, nhẹ dạ”.
Khi viết về người khác, ông thường trình bày họ như những con người mâu thuẫn, những thực thể phức tạp, hay thay đổi mà thực ra chỉ thay đổi quanh cái trục tính cách ổn định của mình.
Ngòi bút Ehrenburg không ngại động chạm đến những chi tiết mà người khác né tránh. Đây cũng là lý do khiến cho bộ hồi ký của Ehrenburg ngay từ khi mới in rải rác trên tạp chí Novui Mir, đã là đầu mối của nhiều cuộc tranh luận gay gắt.
Rất thích sự tinh luyện của tác giả trong việc dựng nên các chân dung, song nhiều người không thể đồng tình với ông khi đi vào giải thích các hiện tượng nghệ thuật phức tạp.
Mặc dù chủ yếu chỉ viết về những người đã khuất nhưng nhiều nhận xét của Ehrenburg vẫn làm cho những người đang sống cảm thấy bị động chạm.
A. Dymchits, một nhà phê bình Xô Viết rất nổi tiếng, vốn rất quý Ehrenburg thú nhận rằng, sau khi đọc "Con người, năm tháng, cuộc đời" thấy tình yêu của mình với tác giả từ nay là một tình yêu khó khăn.
K. Simonov đã cùng đi với Ehrenburg sang Mỹ năm 1946 nói rằng có nhiều điều ông nhớ khác hắn Ehrenburg, nhưng quyết định im lặng không tranh luận với tác giả làm gì.
Dẫu vậy, ai cũng công nhận quyển hồi ký này có sức quyến rũ riêng của nó. Nó cung cấp một bức tranh sinh động về đời sống nghệ thuật nửa đầu thế kỷ XX. Nó cho ta thấy một sự thực là giữa cuộc sống đầy biến động hôm nay, làm một nghệ sĩ - hơn nữa một nghệ sĩ chân chính, có tư cách - là khó khăn như thế nào, nhưng cũng thú vị như thế nào!
Là sản phẩm cô kết những kinh nghiệm sống của một con người giàu suy nghĩ, tác phấm cuối cùng của Ehrenburg thấm nhuần một lòng tin bền chắc vào sức mạnh của con người (đặc biệt là sức mạnh trí tuệ của họ) và khả năng của con người trong việc hiểu biết thế giới hiện đại. Bởi vậy, sau khi bảo rằng "Con người, năm tháng, cuộc đời" có những trang chủ quan, phiến diện, thậm chí có những chỗ đưa ra một hình ảnh méo mó về đời sống, hoặc giả dối, che đậy sự thực, song nhiều người vẫn công nhận đấy là tác phẩm quan trọng bậc nhất trong cuộc đời
Ehrenburg: nếu trong toàn bộ những gì ông đã viết ra chỉ được chọn một cuốn, người ta sẽ chọn "Con người, năm tháng, cuộc đời".
B. Polevoi kế rằng đọc hồi ký của Ehrenburg rồi, quay trở lại với những trang sách trước đây của ông, thấy nhạt hắn đi. Cảm tưởng ấy được nhiều người chia sẻ, mặc dù ai cũng biết rằng Ehrenburg viết ra thiên hồi ký của mình, khi đã ở tuổi 70, và sau "Con người, năm tháng, cuộc đời" tuyệt đối không viết gì thêm nữa.
Trong nguyên bản tiếng Nga, "Con người, năm tháng, cuộc đời" là một bộ sách đồ sộ gồm chín quyển, tống cộng khoảng I.500 trang tiếng Nga khố lớn, làm nên phần chủ yếu của hai tập cuối cùng trong bộ Tác phẩm 9 tập của Ehrenburg.
Tài liệu bề bộn vậy, nhưng thiên hồi ký lại nhất quán trong một cách viết trong sáng theo kiểu cổ điển. Vừa kể về mình, Ehrenburg vừa kết hợp kể về người khác. Ai đế lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tâm trí Ehrenburg vào giai đoạn lịch sử nào, ông dành cho người đó một chương trong phần nói về giai đoạn lịch sử ấy. Cuốn hồi ký do đó, rất dễ theo dõi và có nhiều chương có thể trích ra, như những chân dung văn học độc lập.
Ngay sau khi bản gốc được in ra ở Liên Xô "Con người, năm tháng, cuộc đời" đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, trong đó có bản tiếng Pháp do nhà xuất bản Gallimard ở Paris cho in, bản dịch ấy đã được nhiều nhà văn Viêt Nam tìm đọc từ trước 1975.
TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỚI MỘT CÁCH NÓI "PHẢI CHĂNG" VỀ CHIẾN TRANH
Ngày 25 tháng 6 năm 2025
---
Có rất nhiều cách định nghĩa về ngày 30/4/1975 và cũng có cả rất nhiều lời phản bác về những cách gọi gần như phổ biến nửa thế kỷ nay.
Riêng cách gọi 30/4 là ngày “chấm dứt chiến tranh” thì không ai dám phủ nhận.
Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã hiểu chiến tranh là như thế nào.
Và mọi việc đang được làm khá từ tốn, chẳng hạn đi tìm kinh nghiệm của các dân tộc khác về những cuộc chiến tranh khác.
Từ sau 1991, những kinh nghiệm của xã hội Nga không được người Việt chú trọng. Chúng ta mải tìm mải đọc những tài liệu tiếng Anh về xã hội Âu Mỹ.
Trong khi đó vẫn có những người như bạn Trần Hậu, tiếp tục "chung thủy" với tiếng Nga, và vẫn coi đó là một nguồn tài liệu cần thiết để giúp hiểu về xã hội Việt, người Việt.
Trong dịp 30/4 vừa qua, bạn Trần Hậu đã dẫn lại một cuộc phỏng vấn cho thấy thực chất chiến thắng của người Nga là “đắt giá” nếu không nói là thật kinh khủng, thật dã man như thế nào.
Bài viết đã nhận được rất nhiều sự đồng cảm của các độc giả người Việt. Nó là dấu hiệu cho thấy chúng ta cũng đang phải đi tìm một cách nói "phải chăng" về cuộc chiến tranh hôm qua và trong trường hợp này những kinh nghiệm của người Nga vẫn là những tài sản vô giá.
Sau khi đưa in trên fb, bài viết này đã nhận được rất nhiều bình luận đồng tình cũng như không thiếu cả những phản ứng ngược chiều của bạn đọc.
Dưới đây tôi xin chép lại không đầy đủ cả nguyên văn bài phỏng vấn mà bạn Trần Hậu đã đưa lẫn bình luận của độc giả.
***
Trần Hậu cùng với Phúc Lai GB.
eprdStosnouat0c1h05 ál937h9u61m32tag7n3fh0fg5cht5tl u24558gm ·
---
«CHIẾN THẮNG CỦA CHÚNG TA VĨ ĐẠI
NHƯNG ĐẦY CAY ĐẮNG!..»
(Trích bài trả lời phỏng vấn của nhà văn, cựu chiến binh Liên Xô Viktor Astafyev. Trong một dịp khác, chúng tôi sẽ giới thiệu thêm về nhà văn này).
-------------
Phóng viên: Không lẽ người Đức chiến đấu giỏi hơn người Nga chúng ta?
Astafyev: Giỏi hơn! Giỏi hơn về mọi mặt!
Phóng viên: Vậy làm sao chúng ta lại thắng được cuộc chiến?
Astafyev: Bằng máu. Rất nhiều máu. Bằng những hy sinh khủng khiếp.
Phóng viên: Phải chăng có thể thắng được một cuộc chiến tranh lớn chỉ bằng máu và thịt người?
Astafyev: Hóa ra là có thể. Năm 1941, ba triệu người của chúng ta đã đầu hàng làm tù binh, chúng ta đã đầu hàng quân đội chính quy của Đức. Chúng ta chiến đấu với ai? Chúng ta đã chiến đấu đến mức năm 1944, trong các chiến hào đã xuất hiện những người bị loét dạ dày, những người chân cong, những người dị dạng, vì sau khi bị thương lần thứ tư, từ quân y viện họ lại phải ra mặt trận. Nếu nói về sự vô nhân đạo thì đó là chính nó! Chỉ có Chúa mới biết được sự thật về cuộc chiến của chúng ta—nó đầy tội lỗi và máu me. Chúng ta đã bắn một triệu người trên mặt trận. Một triệu! Chỉ có những người đã thực hiện tập thể hóa, bắn người khắp mọi nơi, mới có thể làm được điều đó. Những người đã giam giữ hơn mười hai triệu người sau song sắt, bịa đặt đủ thứ tội ác…
--
Astafyev im lặng, ánh mắt ông tràn ngập ký ức đau thương, hướng về nơi xa xăm nào đó như thể ông lại thấy những cánh đồng bốc khói và nhuốm máu. Phóng viên nín thở chờ đợi câu chuyện tiếp tục. Cuối cùng, nhà văn cựu chiến binh lại lên tiếng, giọng ông run rẩy vì nỗi đau không thể kìm nén.
— Một triệu, - ông nhắc lại, như thể từ này đang làm bỏng cổ họng ông. - Một triệu người của chúng ta bị bắn không phải do kẻ thù, mà do chính đồng bào mình. Vì cái gì? Vì đã rút lui, vì đã sống sót, vì không thể chạy dưới làn đạn súng máy mà không có đạn. Vì có người cho rằng cuộc đời họ chỉ là những con số trong báo cáo. Chúng ta đã xua người đến chỗ chết như xua gia súc vào lò mổ. Mệnh lệnh rất tàn nhẫn: không được lùi một bước. Và sau lưng là lực lượng chống rút lui, đồng đội của mình, súng giương lên. Hãy thử lùi lại xem—một viên đạn sẽ bắn vào lưng bạn. Và người ta gọi đó là chủ nghĩa anh hùng.
-
Ông nắm chặt tay, những nếp nhăn trên mặt ông sâu thêm, như thể chúng được khắc bằng dao.
— Chúng ta không chỉ chiến đấu với người Đức, chúng ta còn chiến đấu với chính mình. Với một chế độ không thương xót ai. Công cuộc tập thể hóa đã dạy rằng: con người là vô nghĩa, đám đông mới là tất cả. Và trên mặt trận, điều đó vẫn tiếp diễn. Tôi đã thấy những chàng trai trẻ, hôm qua còn là những học sinh, bước dưới làn đạn vì không làm vậy sẽ bị tòa án quân sự xét xử. Tôi đã thấy những viên chỉ huy, vì lo sợ cho quân hàm của mình, đã ném các tiểu đoàn vào máy xay thịt, biết rằng không ai có thể sống sót. Và tất cả chỉ để ghi trong báo cáo: "Hoàn thành nhiệm vụ".
Astafyev thở dài nặng nề, mắt ông ngấn lệ, nhưng ông không để chúng rơi xuống.
— Và chúng ta đã mất bao nhiêu người trong các tiểu đoàn trừng giới? Họ đã bị đưa đến chỗ chết nhãn tiền. Người ta cho rằng họ sẽ chuộc tội bằng máu. Chuộc tội gì? Vì bị bắt làm tù binh ư? Vì đã sống sót sau khi bị bao vây? Chúng ta không tiếc thương ai, kể cả đồng đội, lẫn kẻ thù. Và tất cả là để đứng dưới lá cờ chiến thắng. Chúng ta đã chiến thắng, đúng vậy. Nhưng bằng giá nào? Chúng ta đã dìm kẻ thù trong máu của chúng ta, nhưng chính chúng ta cũng chết ngạt trong đó.
Ông im lặng, một sự im lặng nặng nề bao trùm căn phòng. Phóng viên không dám đặt câu hỏi mới, vì cảm thấy rằng những lời của Astafyev không chỉ là câu chuyện, mà là lời sám hối của một người đã chứng kiến địa ngục và suốt đời mang theo nó trong lòng.
- Và điều kinh khủng nhất là gì bạn biết không? – nhà văn cựu chiến binh đột nhiên hỏi, nhìn thẳng vào mắt người đối thoại.
- CHO ĐẾN NAY CHÚNG TA VẪN KHÔNG MUỐN NÓI VỀ ĐIỀU ĐÓ. CHÚNG TA CA NGỢI CHIẾN CÔNG, NHƯNG IM LẶNG VỀ TỘI ÁC. NHỮNG TỘI ÁC CÓ THẬT. CHỪNG NÀO CHÚNG TA CHƯA THỪA NHẬN CHÚNG, CHÚNG TA SẼ KHÔNG HIỂU ĐƯỢC CHIẾN THẮNG THỰC SỰ LÀ GÌ. KHÔNG PHẢI CÁI CHIẾN THẮNG ĐƯỢC MUA BẰNG MÁU CỦA HÀNG TRIỆU NGƯỜI, MÀ LÀ CÁI CHIẾN THẮNG DẠY CHÚNG TA BIẾT LÀM NGƯỜI.
Astafyev ngả người ra sau lưng ghế, như thể sức lực đã rời bỏ ông. Những lời nói của ông khắc nghiệt nhưng chân thực, vang vọng trong im lặng, nhắc nhở về cái giá mà nhân dân đã phải trả cho chiến thắng vĩ đại, nhưng đầy cay đắng.
(https://www.facebook.com/media/set/?vanity=PomniO...)
----
TRÍCH CÁC BÌNH LUẬN
.
Bui Lan Hoa
Chiến tranh Việt Nam cũng vậy thôi !
Nguyen Hoang Anh
Cũng như vậy về Vietnam War thôi. Khi bảo tàng Thành cổ Quảng Trị mới mở cửa, mình đọc được một bức thư chưa kịp gửi tìm được cạnh thi thể một chiến sĩ . Đọc sách báo thì chỉ thấy anh hùng, quyết tâm, sẵn sàng hy sinh… còn bức thư ấy thì khác. Anh ấy cũng là lính có kinh nghiệm, có chút chức vụ, không thể cho là nhát gan, nhưng bức thư ấy như một lời khóc than tuyệt vọng gửi cho mẹ mình. Anh ấy kể là bom đạn dập suốt ngày đêm, người chết và bị thương la liệt, chân tay gãy văng khắp nơi, chiến hào ngập máu… Nhưng kinh khủng nhất là không lúc nào ngủ được, tiếng la hét khóc lóc của đồng đội, tiếng bom pháo dập, tất cả muốn phát điên, và anh khóc: Mẹ ơi, mẹ cứu con. Con không được về với mẹ nữa rồi… Mình nghĩ người mẹ nào đọc được chắc chết mất, may mà thư không được gửi đi nhưng không biết sau này mẹ anh đọc được không…
Nhưng năm sau mình quay lại thì lá thư đó đã biến mất, chỉ còn toàn những ảnh chụp chiến sĩ hớn hở, cờ cắm khắp nơi…
Lịch sử đã chứng minh, trong chiến tranh kẻ nào dã man hơn sẽ chiến thắng
Minh Dũng Vi Tính
Mười mấy gần 20 năm trước e có chút thông tin về những điều này, nhưng lúc đó cũng giống như cả triệu người Việt bị định hướng, không thể nào tin rằng thần tượng của mình xấu như vậy, ác như vậy....và sau này dần dần tìm hiểu ngày mới nhận ra sự thật cay đắng như thế nào
Nghiêm Sỹ Cường
Lãnh đạo Liên Xô họ coi mạng dân như rác, coi máu dân như nước lã.
Ha Mai Vu
Bọn cuồng Nga không biết có được đọc bài này không nhi.
Nguyễn Quang
Lịch sử của Liên xô thì đc vẽ lên bằng máu và dối trá
Chí Tâm
Chiến tranh mà, nó có quy luật riêng của nó. Vậy nên tốt nhất là đừng để chiến tranh xẩy ra.
Hà Văn Lợi
Từ thời thượng cổ đến nay, trong tất cả các cuộc chiến tranh những kẻ hèn nhát, đảo ngũ hoặc đầu hàng đối phương từ cả hai phía "vệ quốc hay xâm lược", thì đều bị tiêu diệt, còn nếu chúng sống sót, thì cũng bị nguyền rủa muôn đời. Điều đó như một "kỷ luật tiên quyết" bất khả kháng của quân đội "vệ quốc hay xâm lược" trong cuộc chiến đấu một mất một còn giữa hai bên!
Nguyen Tuan
Sự thật trần trụi của chiến tranh và của các cái gọi là cách mạng!
Son Ho
Ôi Chúa ơi sao kinh khủng và tàn bạo vậy? Tôi không tin vào những gì tôi được đọc nơi đây! Lạy Chúa ban cho họ được bình yên nơi Nước Chúa Cái mà chúng ta được biết là Chủ Nghĩa Anh Hùng Cách Mạng. Sự nhân đạo và phẩm giá...có đâu sự kinh sợ này!!!
Giac An
Hơn 80 năm sau, hậu duệ của Hồng quân Liên Xô, vẫn hãm hiếp phụ nữ của nơi bị họ chiếm đóng, vẫn bắt buộc thương binh của mình phải trở ra mặt trận dù vết thương chưa lành, và vẫn nhận lệnh bắn vào đồng đội nếu họ bỏ chạy trở lại hay phải đầu hàng đối phương .. CÓ KHÁC GÌ ĐÂU
Tran Thi To Nga
Đau xót quá
Trần Xuân
Sự thật như vân đá càng mài càng lộ rõ! Hình như câu này của Victor Hugo ?
Hinh Tran
Những lời nói thật/ Thấm hơn ngọt bùi…
Đào Thị Hậu
Mặt trái của tấm huân chương. Dĩ nhiên chẳng ai đeo cái mặt trái ấy lên cả , nhưng nó luôn tồn tại ở bên trong.Sự thật cay đắng .
Đức Nguyễn Hữu
Kinh khủng quá.
Lieu Vo Ta
Rất cảm động
Trần Bỉnh Chư
Cảm ơn Hậu Trần nhiều!
Hien Ha Mai
Không thể không chiến thắng! Bởi vì đó là cuộc chiến một mất một còn!
Sự hy sinh lớn lao của họ đã cứu nhân loại khỏi sự nô dịch và giết chóc tàn bạo bởi lũ phát xít, đã có hàng chục triệu người chết ở trong các trại tập trung
Hồng quân và các chiến sĩ quân Đồng minh cũng như bộ đội Việt Nam ta: kẻ thù buộc họ phải cầm súng và hy sinh!
Nguyễn Sĩ Đại
Hien Ha Mai Đúng vậy! Không thể nhân danh sự nhân đạo chung chung mà phụ bạc, vô ơn đối với những người, với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Cảm ơn bạn Hậu đã cho thấy những cách nhìn khác nhưng không vì thế mà thay đổi sự thật...
Cuong Phan
Hien Ha Mai Stalin cũng có khác quái gì Hitler đâu. Tuy nhiên thì diệt được một thằng vẫn tốt hơn là có cả hai.
Tran Van Luyen
Sau hiệp định Pari 1973, tôi vào Nam qua đường Trường Sơn gặp các chuyến xe chở tù binh được trả từ các nhà tù Phú Quốc và Côn Đảo chạy ngược ra Bắc. Các binh trạm sắp xếp sao cho hai hướng vào và ra không thể cùng ở một trạm, sợ mất tình thần lính vào. Nhưng dọc đường chạm xe, có anh nói: "không được quay lưng".
Hoàng Xuân Kiểm
Trong khi đó nhiều người không biết rằng, theo luật thì
1) người lính Ukraina vẫn có quyền không tuân lệnh, nếu biết rằng mệnh lệnh là bất hợp pháp.
2) người lính đầu hàng trong hoàn cảnh bất lực, có thể bị bắn chết không bị quy tội phản quốc. Chế độ ưu việt đó là đường lực cho người lính xả thân vì yêu nước ! Nếu gặp hoàn cảnh buộc phải đầu hàng thì cũng không bị truy tội phản quốc!
Son Ho
Phúc Lai GB kinh quá cụ ạ. Có trí tưởng tượng cũng không hình dung nổi
Trần Phan ·
Phúc Lai GB chỉ những người chiến đấu bằng mõm mới hay nói về chiến công. Em gặp rất nhiều chiến binh thực sự, họ không muốn nhắc lại, vì họ chứng kiến và biết cái giá của chiến thắng như thế nào. Gần nhà em có một cựu đặc công, ổng thường được đồng đội truy điệu trước khi làm nhiệm vụ. Nào giờ thần kinh của ổng không bình thường, kiểu sang chấn. Thương lắm.
Hoàng Xuân Kiểm
Hôm này đang lặp lại điều đó trên chiến trường Ukraina, không phải lặp lại chiến thắng mà lặp lại tội ác đẫm máu!
Kim Le Chuong Nguyen
!!! Nước Nga, người Nga trả giá rất đắt cho các cuộc chiến tranh mà họ đã tham gia cho dù là Vệ Quốc hay Xâm Lược !
Hà Văn Lợi
Từ thời thượng cổ đến nay, trong tất cả các cuộc chiến tranh những kẻ hèn nhát, đảo ngũ hoặc đầu hàng đối phương từ cả hai phía "vệ quốc hay xâm lược", thì đều bị tiêu diệt, còn nếu chúng sống sót, thì cũng bị nguyền rủa muôn đời. Điều đó như một "kỷ luật tiên quyết" bất khả kháng của quân đội "vệ quốc hay xâm lược" trong cuộc chiến đấu một mất một còn giữa hai bên!
Cuong Phan
Kim Le Chuong Nguyen kệ mẹ chúng nó ngu thì chết chứ bệnh tật gì đâu. Cứ bơm nguồn lực cho Ukraina là được.
Nguyen Hoang Anh
Quên. Post này chống chỉ định với người chưa đọc hết Chiến tranh và Hòa bình, Bác sĩ Zhivago, toàn bộ tiểu thuyết về thế chiến 2 của Erich Maria Remarque, những người không khóc khi đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, ... Những người đó ở nhà xem VTV đi, đừng vào đây nhé.
Ahn Jong
Nguyen Hoang Anh khóc với Nỗi buồn chiến tranh không nhất thiết đối lập với vui mừng và trân trọng chiến thắng bạn nhé. Tôi không phản đối cảm xúc cá nhân, nhưng nhận xét khách quan là với đại đa số người dân, thì trân trọng và biết ơn kết quả là cảm xúc chính, có thể lấn át sự đau buồn. Bạn có sở thích gặm nhắm niềm đau để tỏ ra mình có cảm xúc. Còn đa số sẽ bớt nhắc lại cảm xúc tiêu cực và nhìn về tương lai.
Ahn Jong
Nếu ý bạn là có hy sinh, có thảm khốc, mất nhiều máu thì chiến thắng không vĩ đại, không đáng được tôn vinh, không còn giá trị? Chiến thắng mà chiến sĩ có những sợ hãi bình thường thì cũng trở nên tầm thường? Thì có thể nói cái gì có tính người hơn được không?
Kim Hoan Cao
Ahn JongĐó là chiến thắng của những tay đồ tể gây kinh hoàng cho toàn thế giới như: Hitler, Stalin,…
Nguyễn Thị Hương Giang
Cô nghĩ sao nếu bên mình không đứng lên chiến đấu và “dã man” như vậy ạ?
Bài viết gốc là góc nhìn của người lính từng tham gia chiến tranh còn góc nhìn của cô đặc biệt ở câu kết bài thì nếu sau có chiến tranh đất nước ta cần làm gì ạ?
Quỳnh Anh Hồ
Chiến tranh là dã man và nó đặt con người ta vào một bối cảnh không còn bình thường. Trong bối cảnh đó con người giết lẫn nhau trong khi ai cũng tìm cách sống sót. Trong bối cảnh đó tất nhiên nhiều giá trị nhân cách không tồn tại là lẽ tất nhiên. Những người lính vào chiến tranh cũng vẫn là con người, vẫn quý mạng sống của mình hơn tất thảy, họ cũng nhận biết được gian khổ và ác liệt và những hiểm nguy cho tính mạng bản th6n mình. Nhưng người lính nào có tinh thần kỷ luật cao, hiểu được giá trị của sự có mặt và chiến đấu của mình trên chiến trường sẽ tiếp tục ở lại và chiến đấu. Cũng có người lung lay và rời bỏ cuộc chiến và những người ở lại và mất mạng xứng đáng được tôn vinh dù họ ở bên nào của cuộc chiến. Không hiếm các vị chỉ huy bị chỉ trích là "nướng quân" nhưng thực tế chiến trường nói chung không cho họ có sự lựa chọn khác là đưa đơn vị bỏ chiến tuyến, bỏ chạy. Chiến tranh và chiến trường không phải chỉ là một trận đánh nên chấp hành mệnh lệnh là cái làm nên chiến thắng cuối cùng.
Nguyễn Đăng Sang
Cơ bản là khác bối cảnh, người đang ở trong hòa bình no đủ thì sẽ có thời gian để suy ngẫm, để phán xét nó dã man, vô nghĩa. Còn người trong cuộc, chỉ sống được đã là may mắn rồi, khi bản năng trỗi dậy thì đạo lý hay nhân văn nó chỉ là lý thuyết.
Nguyenquy Hai ·
Nhung người Nga nâng tầm nó lên cao lắm. Chủ thớt đánh đồng Nga với các nước phương Tây thôi.
Dang Lan Chi ·
Chắc chắn không người dân Việt Nam nào lại muốn có chiến tranh, muốn phải đổ máu. Nhưng khi đất nước chưa được giải phóng, thì buộc phải chiến đấu để giành độc lập, thống nhất.
Nguyen Hoang Anh
Dang Lan Chi muốn hô khẩu hiệu thì đến nhầm chỗ rồi. Ra nghĩa trang đường 9 mà hô đi!
Chikien Nguyen
Người viết bài này thực sự đã đi thăm Thành Cổ chưa, khi khai thác một góc nhìn hiển nhiên về nỗi sợ hãi trong chiến tranh?
Sự hoảng loạn trong chiến tranh khi nằm trong chiến hào, lô cốt...hứng chịu mưa bom bão đạn là bình thường.
Xin hãy một lần chui vào các lô cốt ít ỏi còn lại ở di tích và nhìn lên trần để thấy chi chít vết đạn, để dùng não mà phán đoán có tồn tại hay không nỗi sợ hãi! Họ, những người lính, có thể họ đã hy sinh hết, không có cơ hội ra ngoài để sử dụng vũ khí, và có lẽ, họ đã phải bắn lên trần để xua tan nỗi sợ...và góp phần giữ vững Thành Cổ trong 81 ngày!
Xin đừng đem vài mớ chữ "hơn người" trong tiểu thuyết "Chiến tranh và Hòa bình" ra làm thước đo hiểu biết chiến tranh và hòa bình!
Cũng xin đừng phỉ nhổ vào mọi chiến thằng bằng sự quy kết "là do dã man hơn".
Comvanphong Vanphong
Tôi biết một người lính trở về từ thành Quảng Trị, suốt những năm sau đó cho tận tới lúc mất, bảy năm, ông ấy, sự thực là không có nổi một ngày bình an trong tâm trí, không một giấc ngủ yên. Bom đạn, những tiếng là hét chất chứa không khi nào rời khỏi đầu.
Kim Hoan Cao
Lời nói thật của cựu chiến binh Liên Xô đã nói lên sự tàn bạo của Cộng sản từ bước khởi đầu.
Vũ Quốc Bảo
Ngay bây giờ những tên tù hình sự phạm những tội ác man rợ với đồng bào mình được thả ra khỏi nhà tù nhận cây súng để tham gia "chiến dịch quân sự đặc biệt" sau 6 tháng trở thành người hùng quay về hậu phương trả thù những người đã tố cáo chúng. "Chủ nghĩa anh hùng" cũng như tấm huân chương luôn có 2 mặt. "Phải chiến thắng bằng mọi giá", đấy là cái đích của lãnh đạo độc tài.
Nguyen Huu Hop
Nổi da gà khi đọc bài phỏng vấn này . Liệu cái gọi là chiến dịch quân sự đặc biệt đang diễn ra có như thế này không?
Ha Ph
Quân Đức giỏi hơn về mặt mặt không làm thế thì làm sao mà thắng được. Bài toán chỉ có một lời giải, và lịch sử chứng minh rồi nếu không chế độ phát - xít vẫn tồn tại.
Ngo Quang Trung
Ở đâu dân tộc nào cũng có bọn lật sử.
Phan Xuan Trung
Lịch sử nó vốn như vậy từ lúc sự kiện xảy ra. Ở Nga những bài viết như trên đã có rất nhiều từ thời cải tổ, khi thông tin đượ cởi mở công khai. Khổ nỗi người Việt Nam thân Nga hầu hết lại không biết tiếng Nga nên họ mắc kẹt lại với cái họ được học được nghe từ hàng chục năm trước. Khi họ thấy cái gì không giống với cái họ đã được tiếp nhận thì họ hét ầm lên "lật sử".
THỜI NAY? THỜI NAY!
Ngày 26 tháng 6 năm 2025
-
Thời chúng tôi có ai lại dùng một ngôn ngữ đưởng phố như thế này để bàn về những chủ đề thiêng liêng, như thế này
Mọi chuyện thiêng liêng thành nhảm nhí
( thơ Lưu Quang Vũ 1972 'Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn" )
Nhưng tôi cũng bắt đầu hiểu răng thời nay phải thế
--
Bài của Dương Quốc Chính:
THỦ DÂM TINH THẦN SÂU SẮC
Nói cho vuông, VN ngoài cái giỏi đánh nhau, mà chủ yếu là tự vệ, thì chả có cái vẹo gì ghê gớm ở tầm khu vực, chứ chưa nói đến quốc tế. Oách nhất là làm đại ca của 2 cu em Lào, Cam và thịt được em Chăm pa, hết vị. Ấy thế mà dân VN vẫn thích thủ dâm tinh thần thuộc loại có số má, hay nói cách khác, khoa học hơn, là có lòng tự hào dân tộc mạnh mẽ. Tự hào vì điều gì? Chả biết, có lẽ chỉ là đánh nhau giỏi?
Tinh thần dân tộc của dân VN được đẩy lên mức cực đoan. Ông nào không cực đoan thì bị coi là không yêu nước, là Việt gian... Phe đỏ thì đa số "yêu nước" kiểu này, nhưng phe vàng cũng đông gần bằng. Đặc biệt là bài Tàu cực đoan.
Kiểu dân tộc cực đoan này chủ yếu là do giáo dục nhồi sọ kích động tinh thần yêu nước 1 cách thái quá. Muốn cho dân yêu nước thì phải bịa ra chuyện là nước mình rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú, con người thì con rồng cháu tiên, thông minh tài giỏi, xinh đẹp, cần cù chịu khó, anh hùng, yêu chuộng hoà bình...
Tinh thần dân tộc cực đoan là đặc sản của các thể chế độc tài. Cứ để ý mà xem, dân tộc cực đoan nhất là Đức quốc xã, họ coi mình là chủng tộc thượng đẳng, dân tộc khác coi như cỏ rác, hoặc đáng thủ tiêu. Thứ nhì chắc là phát xít Nhật, Ý. Thứ 3 là Liên Xô (sau là Nga), TQ. Cơ mà bỏn thủ dâm tinh thần còn có lý, vì bỏn đều từng hùng mạnh, từng có nền văn minh rực rỡ.
Thể chế độc tài thường nhồi sọ dân bằng truyền thông và giáo dục, nên mới có thể đúc khuôn ra được 100 thằng dân như 1, đều hừng hực khí thế yêu nước. Nhưng trò đó là để phục vụ lãnh tụ, lòng dân về 1 mối, coi lãnh tụ như đại đế.
Vẫn những dân tộc đó, nhưng từ khi dân chủ hoá, thì tinh thần dân tộc đó vẫn còn nhưng không còn cực đoan. Thấy rõ ở Đức, Ý, Nhật.
VN, như kể trên, chả có vẹo gì, nhưng vẫn đú bẩn, cũng thủ dâm như bọn kia. Thế mới tài. Mình cho là công lao chính ở đảng ta tuyên truyền giỏi quá. Cách giáo dục, tuyên truyền kiểu này làm mấy thế hệ người Việt bị nghiện ảo giác, giờ khó tẩy não. Lúc nào cũng lâng lâng tự hào, thỉnh thoảng VN có tý thành tích kiểu Ngô Bảo Châu hay U23, lại được báo chí CM bơm thổi thêm, là dân ta phát rồ vì sướng. Vừa rồi có thằng ôm cờ VN sang vẫy ở World Cup 2018 để ăn mừng đội bạn giành thắng lợi, thế mới hài. Quá cả ngáo đá!
Tinh thần dân tộc là cần thiết với mọi quốc gia, nó giúp gắn kết người dân với nhau, tránh nguy cơ tan rã. Nhưng lạm dụng nó thì chả hay ho gì. Rừng vàng biển bạc nên dân tha hồ phá, mà tận diệt cá, mà tha hồ đào mỏ. Dân tộc cực đoan còn sinh ra bài ngoại, phân biệt chủng tộc và muốn đồng hoá các dân tộc thiểu số cũng như các dân tộc phụ thuộc.
Tinh thần dân tộc cực đoan không thể tồn tại ở thể chế dân chủ. Vì giáo dục và ngôn luận tự do cho người dân hiểu sự thật, không nhồi sọ được ai. Nước Mỹ có 300 năm vẫn giàu mạnh, cần gì đến 4000 năm lịch sử. Người dân càng dân tộc cực đoan càng chứng tỏ dân trí thấp, thiếu hiểu biết về lịch sử và bị chính quyền lợi dụng.
Mông Cổ, Ấn Độ từng có quá khứ vẻ vang nhưng bây giờ lại khá hiền lành, không tỏ ra cực đoan như Nga, Tàu. Là do họ có dân chủ.
TƯ DUY “HOẶC BẠN, HOẶC THÙ” VÀ SỰ SỐNG DAI CỦA MỘT CÂU VĂN THỜI CHIẾN
Ngày 29 tháng 6 năm 2025
-
Bài của Thúc Kháng
( sưu tầm tên mạng)
-
Đoạn văn ngắn sau đây cho thấy một mạch ngầm xuyên thời gian: bắt nguồn từ nền văn học kháng chiến ở Việt Bắc, một câu văn nhỏ một khi đã bước vào sách giáo khoa cũng đủ in dấu lại trong nếp nghĩ mấy thế hệ. Nó khiến ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc 50 năm mà người Việt vẫn khó hòa hợp hòa giải.
-----------------
Trên cái cõi mạng ồn ào, mỗi lần có ai đó được tung hô nhưng rồi lại bị “khui” ra là từng phê phán chính quyền, hay tệ hơn – chỉ là cháu chắt của một cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa – thì cả đám đông sẽ cùng lúc tụng một câu thế này: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”
Câu này, nguyên bản đến từ miệng ông Hai – nhân vật trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, một tác phẩm được đưa vào chương trình Ngữ Văn cấp 2. Ông Hai đã thốt ra câu trên khi nghe tin làng mình bị quân Pháp chiếm, ông nghi ngờ rằng dân làng đã theo Tây. Đứng trước lựa chọn giữa làng hoặc cách mạng, ông đã chọn cách mạng.
Ngày đó, tôi được dạy rằng cái “thù” của ông Hai là thứ “thù yêu nước”, là sự vĩ đại của tinh thần dân tộc. Nhưng tôi nhìn mãi cũng không thấy nó vĩ đại chỗ nào, ngày ấy không thấy, hôm nay vẫn vậy.
Hồi ấy, tôi ngây thơ nghĩ rằng đó chỉ là vài dòng chữ trong sách, đọc xong thì quên. Nhưng nào ngờ chính những dòng chữ đó lại là con dao mà chúng tôi – cả một thế hệ – dùng để đâm nhau, nhân danh lòng “yêu nước”.
Nếu trong thời chiến, cái tư duy “yêu – thù” ấy còn có thể gượng gọi là hiểu được, thì khi đất nước đã không còn chiến tranh như hôm nay, nó lại hóa thành một thứ bệnh. Thứ bệnh mà người mắc không biết mình bệnh và họ sẵn sàng công kích, chửi rủa bất kỳ ai hay bất kỳ điều gì mà họ cho là “phản động”, là “theo Tây”.
Đó là một kiểu tư duy nhị nguyên đã ăn sâu vào tiềm thức tập thể, thứ tư duy chia thế giới thành hai chiến tuyến rõ ràng: hoặc bạn, hoặc thù, không có lưng chừng.
Bi kịch của lối tư duy này nằm ở sự đơn giản hóa đến mức tàn nhẫn các mối quan hệ xã hội. Nếu anh không giống tôi, không ủng hộ tôi, không tin những điều tôi tin, thì mặc nhiên anh là kẻ chống đối.
Cách nhìn này không chỉ triệt tiêu khả năng chung sống trong khác biệt, mà còn phá hủy không gian công cộng, nơi lẽ ra người ta lắng nghe ý kiến mà mình không quen, không thích, hoặc không đồng tình. Vậy là không gian chung dần biến thành nơi để khẳng định lập trường, chứ không phải để đối thoại.
Tôi thường nghĩ về thế hệ mình – một thế hệ lớn lên cùng những bài học được biên soạn trong thời bình, nhưng lại nồng nặc mùi thời chiến. Từ sách Ngữ Văn đến sách Lịch sử, không thiếu những câu chuyện, nhân vật được phân định rạch ròi giữa hai phe, giữa “cách mạng” và “ngụy”, giữa “Tây” và “ta”.
Và điều đó không chỉ tồn tại trong sách. Nó được minh chứng rõ ràng trong thực tế chính trị.
THÀ CỨ THẾ NÀY CÒN HƠN!
Ngày 3 tháng 7 năm 2025
Tôi thích tấm ảnh này vì Hà Nội ở đây có cái vẻ vắng lặng và như đang chìm dần vào bóng tối. Nó thực hơn cái vẻ bóng lọng hoành tráng giả cầy hiện nay
ĐÚNG LÀ MỘT HÀ NỘI RA HÀ NỘI - HÀ NỘI KHÔNG LẪN VỚI BẤT CỨ MỘT THÀNH PHỐ NÀO KHÁC
Ngày 5 tháng 7 năm 2025
--
Tấm ảnh này nhìn toàn bộ cũng thích mà dừng mắt ở góc nào cũng "thấy vấn đề" nên cũng thích. Cả tầng trên tầng dưới, cả màu ngói cũ bức tường vàng, cả cái cột điện xiêu vẹo cả mớ dây điện với cái loa. Mà loa trên loa dưới , ngoài cái loa chỗ cột điện ở trên nghĩa là gần mái còn một loa nữa mới hơn
CHƯA HỖN LOẠN NGHĨA LÀ CHƯA TUYỆT VỌNG
Ngày 13 tháng 7 năm 2025
-
Bạn hãy để ý, trong hoàn cảnh thiếu đi một cái bàn, mấy đứa trẻ vẫn giữ được cái dáng từ tốn, không kẻ đứng kẻ ngồi nhốn nháo, các khuôn mặt đều ngẩng lên ở mức vừa phải, bốn cái bát được đưa lên ngang hàng.
Trong vẻ nghèo hèn đói khát, người ta vẫn còn cảm thấy ở cái hình ảnh thu nhỏ của xã hội ở đây một trật tự.
Còn khi sự kiếm sống đã trở nên hỗn loạn thì dù hào nhoáng sang trọng đến đâu, đó vẫn là một tình thế đáng sợ. Nó gợi nên sự bế tắc và cảm giác tuyệt vọng.
ĐẰNG SAU MẶT TIỀN CÁC NHÀ TRONG PHỐ CỔ
Ngày 13 tháng 7 năm 2025
--
Nguồn
Sơn Hoàng Vũ
ntdosperoSg 9,2u fg24mnghut327iáh4h429t53072cgu562c g491fm05 ·
==
Lần trước tôi đã kể về sự “oai” khi có nhà ở phố cổ Hà Nội! Nhất là phố cổ bắt đầu từ chữ “Hàng”. Nhưng nếu có nhà ở Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường thì sự “oai” phải tăng gấp đôi, gấp ba. Mà lại nhà mặt phố, có cửa hàng ở các phố này thì sự “oai” phải… thôi rồi! Khỏi phải nói.
Tôi đã từng một thời “oai” như thế!
Nhưng nói thật, bây giờ ngoái đầu nhìn lại mới thấy cũng… không “oai” lắm. Và tự cười một mình.
Bởi ấy là nhìn mặt ngoài phố buôn bán sầm uất thế thôi chứ đi sâu vào bên trong nhìn thấy điều kiện sống, cảnh quan, môi trường vệ sinh của các hộ thì thật là… kinh hoàng.
Thời xa xôi mỗi số nhà một chủ thì không nói làm gì.
Sau năm 1954, ở các phố cổ này mỗi số nhà chia cho hàng chục hộ gia đình với mấy chục con người.
Nhà ở đây hầu hết là nhà ống sâu hun hút.
Mỗi gia đình quây lại một gian; nhà thì được gian to, nhà khác được gian nhỏ, thậm chí có nhà chỉ được một gian nhỏ xíu nhỉnh hơn chiếc chiếu đôi.
Khách vào nhà phải đứng yên hoặc ngồi luôn xuống sàn không dám đụng đậy bởi giơ tay thì chạm sàn gác xép hoặc va đập tay vào tường hay vách ngăn.
Có thể nhiều người, nhất là các bạn trẻ thời nay không tưởng tượng được cái gác xép là thế nào.
Sao lại phải làm gác xép.
Nó thế này:
Vì nhà diện tích nhỏ, không đủ chỗ nằm ngủ cho các thành viên trong gia đình, nhất là nhà lại có tới 3-4 thế hệ ở cùng. Nên phải làm thêm gác xép.
Gác xép chính là gác lửng trong nhà được làm từ các thanh xà gỗ cắm vào tường, trên các thanh xà đó đặt các tấm ván lấy từ các thùng bao bì hoặc gỗ dán kiếm được từ đâu đó. Từ nền nhà tới đáy gác xép chỉ tầm 1,8 đến 2 mét, ai cao quá khổ rất dễ chạm đầu vào đáy các thanh xà.
Cửa lên gác xép là một lỗ chui lọt người. Nhà nào rộng một chút thì còn làm được cái cầu thang gỗ be bé bắc lên dựng đứng. Nhà nào hẹp, không để được cầu thang thì phải làm mấy thanh sắt uốn hình chữ “U” cắm vào tường để làm bậc leo lên.
Gác xép nhiều nhà do trần thấp nên khi đã ở trên đó thì chỉ có ngồi hoặc nằm. Đã rất nhiều lần do quên hoặc buổi sáng ngủ dậy mắt nhắm mắt mở, cứ tưởng mình đang ở dưới nhà, thản nhiên đứng lên thì… ôi thôi, ôm đầu và sờ lên đầu thấy có “quả ổi” to tướng!
Thật là nỗi khổ không biết chia sẻ cùng ai cho các gia đình nào có mấy đôi vợ chồng anh em ruột ở chung. Đôi nằm gác xép, đôi nằm dưới sàn đã là may mắn.
Nhiều nhà không được như thế, cái gác xép chật chội bé tí ấy chứa 2 thậm chí 3 đôi vợ chồng trẻ. Khi màn đêm buông xuống, đến lúc phải nghỉ ngơi thì ranh giới giữa các cặp vợ chồng ấy chỉ là tấm ri-đô vải mỏng manh. Nhiều đôi vợ chồng trẻ đêm “yêu nhau” không dám thở mạnh… Ngày ấy lấy đâu ra “nhà nghỉ” hay khách sạn để các cặp vợ chồng trẻ có chỗ đi “sơ tán” để tạo điều kiện “chiều” nhau…
Có thể nói những năm ấy là “thời của gác xép” bởi “nhà nhà” ai cũng phải làm như thế thì mới có đủ chỗ ngủ cho mọi người trong nhà.
Vì là một căn nhà lớn trước đây chỉ có một chủ, nay chia thành nhiều gian cho các hộ gia đình nên nhiều nhà không có tí ánh sáng mặt trời nào, suốt ngày phải thắp đèn.
Thời điện đóm phập phù hồi thập niên 60, 70, 80, thậm chí sang đầu những năm 90, ban ngày bị cắt điện thì nhiều nhà phải thắp ngọn đèn dầu. Ngồi trong nhà ban ngày mà tù mù cứ như đang ngồi trong cái am thờ.
Để vào các gia đình bên trong chỉ có mỗi con hẻm được ngăn ra, chiều rộng tầm 70 phân.
Thời chỉ có xe đạp còn có thể dễ dắt ra dắt vào. Nhưng đến thời xe máy thì quả là gian nan, muốn dắt xe máy vào ra, chỉ có mỗi cách là ngồi lên yên xe rồi dùng chân “bơi” vào. Đấy là xe máy cỡ nhỏ và cỡ trung kiểu xe Honda có yếm, còn anh chị nào có xe tay côn, ghi-đông xe máy vểnh như sừng trâu thì chỉ có nước đi gửi xe ngoài bãi.
Ấy là còn may có chỗ để mà ngăn ra lối đi riêng.
Nhiều số nhà do căn nhà hẹp, ngăn lối đi riêng thì hết diện tích, nên các hộ bên trong cứ phải nghễu nghện vào ra là phải đi qua nhà ngoài, bất kể nhà bên ngoài lúc ấy mọi người đang ăn cơm, tiếp khách hay đang nằm nghỉ!
Lắm đêm đã khuya, đang ngủ, có người bên nhà trong đi làm hay đi chơi về muộn quên đem theo chìa khóa, gọi người léo nhéo để ra mở cửa, làm cả nhà bên ngoài thế là mất giấc ngủ.
Vô cùng bất tiện.
Chỗ ở là vậy, còn chỗ nấu nướng ăn uống cũng không kém phần gian nan.
Sống trong điều kiện chật chội ấy thì gầm giường là “tổng kho”: thùng gạo, can dầu hỏa để đun hay thậm chí bó củi dự trữ… cũng nằm dưới đó.
Còn đun, mỗi nhà có cái bếp dầu “chạy” lưu động, tiện chỗ nào đặt đun chỗ đó. Mà ngày ấy quà bánh hay cơm hàng lấy đâu ra. Muốn có cái ăn thì phải ngày đỏ lửa bếp 2- 3 lần, không thì nhịn đói. Mỗi khi đun nấu xong, tắt bếp dầu mùi khét nồng nặc tra tấn cả xóm.
Sống trong khung cảnh như thế, nhà ai ăn gì, uống gì…, chẳng giấu nhau được.
Nhớ mãi cảnh nhà nào có người ốm, được “ưu tiên” ra hàng bồi dưỡng bát phở thì thường bọc theo gói cơm nguội để trộn thêm vào bát phở lèo tèo cho chắc dạ. Chỗ nấu nướng chật chội, cái đun khó khăn, đến đun ấm nước sôi cũng ngại, nên khi nhà có khách thì chủ nhà đành chịu khó xách cái phích ra chỗ tổ phục vụ ở đầu phố làm mấy hào nước sôi.
Cái ăn, chỗ ở đã vất vả nhưng nơi tắm rửa hay chỗ để giải quyết ‘đầu ra” bây giờ nghĩ lại và chứng kiến một số số nhà vẫn còn cảnh ấy mới thực sự kinh hoàng và không khỏi rùng mình.
Mấy chục con người của cả chục gia đình trong mỗi số nhà ấy chỉ có một nhà vệ sinh duy nhất kiểu hai ngăn, cửa giả sập sệ, hỏng hay gẫy cũng chẳng ai thay, ai chữa vì “cha chung không ai khóc”, nên nó đã trở thành nhà vệ sinh không có cửa.
Mỗi lần cần vào “chỗ ấy” để “giải quyết” thì cách từ mấy bước trước đó phải “dặng hắng” đánh tiếng để xem có tiếng “dặng hắng” hay tiếng nói “có người” ở trong vọng ra hay không. Không thấy thì mới dám chui vào.
Nhà “vệ sinh” kiểu ấy mỗi khi để lâu không có người đến lấy phân, các hố bị quá tải, phân bị trào như giống như dòng “nham thạch” nhỏ đùn ra từ khe núi lửa mi-ni!
Tôi còn nhớ mãi cảnh giở khóc giở cười với mình vào một ngày của cuối thập niên 80 ấy.
Hôm đó tôi đang đứng trông cửa hàng giúp vợ, tình cờ có đôi vợ chồng ông bà “Tây” là chuyên gia chỗ tôi làm việc, ngày nghỉ họ đi dạo phố cổ, ghé vào cửa hàng nhà tôi.
Đứng nói chuyện một lúc thì bà vợ tế nhị ghé tai tôi hỏi nhỏ:
“Có thể cho tôi đi nhờ nhà vệ sinh được không?”.
Tôi thật sự khó xử và lưỡng lự một phút, sau đó trả lời bà ta:
“Cũng được! Nhưng bà thông cảm cho là nhà vệ sinh chung của cả số nhà, không được tiện nghi lắm, lại nằm tít sâu bên trong, phải đi qua suốt cả dãy nhà đấy!”.
Tôi chỉ lối cho bà “Tây” đi vào. Và tôi quay ra. Vừa quay ra đi được mấy bước tôi thấy bà ta hớt hải chạy theo, một tay bịt mũi, tay kia xua lia lịa, mồm nói to “No! No! No!...”.
Tôi hiểu ngay chuyện gì xẩy ra. Bà ta thấy nhà vệ sinh “kinh” quá nên không dám vào.
Chuyện tắm rửa cũng thật gian nan. Nhà tắm của các hộ nơi phố cổ hầu hết là gầm cầu thang ngoài trời của chung cả số nhà. Số nhà nào cầu thang chung vững chãi rộng rãi còn đỡ, số nhà nào cả nhà và cầu thang xuống cấp ọp ẹp thì thật khổ. Trong những năm chiến tranh Hoa Kỳ ném bom Hà Nội cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, các gầm cầu thang này kiêm thêm chức năng hầm trú ẩn mỗi khi có còi báo động của thành phố rú lên. Hết chiến tranh, gầm cầu thang chỉ còn chức năng làm nhà tắm của cả số nhà. Ai tắm thì tự hứng nước từ cái vòi nước chung chảy ri rỉ bên ngoài, xách xô vào. Cửa giả xộc xệch, đèn đóm không có, chuột bọ làm ổ, gián bay vù vù…
Cái nhà tắm ấy chủ yếu chỉ “phục vụ” cho đàn bà, con gái, còn đàn ông và trẻ con thì tắm ở ngoài sân. Trời rét hay nóng cũng chỉ có thế!
Tình trạng này kéo dài tới đầu những năm 2000 và đến nay vẫn còn không ít.
Phố cổ Hà Nội, đằng sau các cửa hàng mặt phố hào nhoáng là như thế.
***
Nguyễn Văn Ất
Báo Pháp luật Việt Nam - 21.6.2022
THỜI ĐIỂM 1994? SAI HAY ĐÚNG?
Ngày 16 tháng 7 năm 2025
--
Thoạt đầu tôi hơi nghi ngại , nhưng rồi lý trí bảo với tôi rằng thời gian ghi chú bên bức ảnh có lẽ là chính xác. Gần hai chục năm sau chiến tranh, Hà Nội - ở đây là Mễ Sở, một vùng ngoại ô nổi tiếng - vẫn tiêu điều cũ kỹ như thế này đây.
SỰ MÒN VẸT & THÁCH THỨC CỦA HÀ NỘI HẬU CHIẾN
Ngày 26 tháng 7 năm 2025
1975 -1988. Chưa đầy 15 năm. Không bị xóa sổ, không thấy vẻ chết chóc, nhưng khung cảnh và con người đều đã mủn ra mục nát đi như sắp sửa đến tận cùng của sự sống. Còn như cách ngồi lạ lùng và vẻ mặt của hai thanh niên lại toát ra một vẻ thách thức - bất chấp cuộc đời hậu chiến là vô vọng như thế nào chúng ta vẫn phải sống
Ý KIẾN PHAN KHÔI: NGƯỜI VIỆT HẦU NHƯ THIẾU ÓC QUY HOẠCH ? CẢM TƯỜNG TRONG KHI TRẢI QUA MẤY THÀNH PHỐ CŨ
Ngày 4 tháng 8 năm 2025
***
Sau đây là một bài viết lấy từ tr. Fb của Lại Nguyên Ân 4.8.2024 và đưa lại trên fb này cùng ngày.
Một năm đã trôi qua và tôi thấy bài viết này vẫn xứng đáng được có thêm nhiều người đọc.
-
Dân tộc Việt Nam ta từ xưa là dân tộc sinh trưởng phát đạt trong nhà quê, chứ không như mấy dân tộc bên Tây phần nhiều sinh trưởng phát đạt trong các thành phố. Điều đó tưởng cũng vì cái hoàn cảnh của sự sinh hoạt mà ra: Họ sinh hoạt về nghề công thương thì ở thành phố tiện hơn; còn ta chuyên sinh hoạt về nghề nông thì ở nhà quê tiện hơn.
Bởi ta sinh trưởng phát đạt trong nhà quê, cho nên cách tổ chức làng tổng của ta rất khéo; nhưng ta không chú trọng về thành phố mấy, cho nên cách thiết lập thành phố của ta rất vụng.
Cái khái niệm vừa nói trên đó là nhân mới rồi tôi đi từ Quy Nhơn vào Nha Trang, trải qua mấy cái thành phố nhỏ như Tuy Hòa và Ninh Hòa mà tôi nghĩ ra. Cũng một lúc ấy, trong óc tôi sôi lên ít nhiều cái cảm tưởng nữa.
Ai chỉ ở Sài Gòn, Đà Lạt, Tourane, Hải Phòng, cùng mấy nơi giống như vậy, thì thật không nhìn biết được cái kiểu thành phố của người mình hồi xưa thế nào, bởi vì những thành phố ấy là của người Pháp mới sáng tạo ra hết; nhưng dầu cho ở Hà Nội, Nam Định, Hội An là những nơi thành phố cũ của ta cũng không thấy rõ rõ được cái chân diện mục của thành phố kiểu An Nam ra sao, bởi vì ở các nơi ấy, người Pháp cũng đã sửa sang lại nhiều lắm rồi.
Cho nên, ai muốn đi khảo sát để cho biết cái tài kinh hoạch bố trí thành phố của đời ông đời bà chúng ta hồi trước ra sao, thì duy có tìm tới những nơi còn nguyên tích chưa sửa đổi ấy là như vạn Tam Kỳ ở Quảng Nam, vạn Thu Xà ở Quảng Nghĩa, phố Tuy Hòa ở Phú Yên, phố Ninh Hòa ở Khánh Hòa, hay là những nơi nào giống như vậy.
Lấy con mắt chúng ta ngày nay mà xem những sự kiến trúc như thế, phải lấy làm quái lạ xiết bao! Ai nhìn những đồ kiến trúc ấy mà dám nhận rằng kẻ kiến trúc ra nó là một dân tộc văn minh, là một dân tộc có trình độ văn hóa cao lắm, thì người ấy cũng đáng cho là cả gan lắm vậy!
Xem qua những thành phố đó, cái nào đại để cũng như cái nấy, có thể quy nạp lại trong một câu phán đoán rằng: Người kiến thiết ra nó không có kế hoạch không có kiểu mẫu chi hết. Như vậy thì làm sao mà bảo được rằng một dân có học, một dân có văn hóa cao?
Ta xem qua cả một bận thì tưởng thấy lúc bấy giờ sự nhóm thành đô hội đó là sự tình cờ, như là không do ý chí và sự dự định của cư dân trong cái đô hội ấy. Coi những nhà cửa phố xá họ cất thì biết. Coi thử những đường xá ở đó, thì cái vết của sự tình cờ lại càng rõ rệt ra lắm.
Nhà cửa phố xá, cái thì lồi ra, cái thì lõm vào, chủ nó mỗi người cất theo ý riêng mình, không buộc phải đúng quy củ nào hết. Còn đường xá, bỏ sự chật hẹp dơ bẩn không nói, chỉ nói cái đường nào cũng cong co quanh quẹo đã làm cho chướng mắt những người có đôi chút quan niệm về mỹ thuật rồi. Quả nhiên là bởi sự tụ hội ngẫu nhiên, không có dự định trước, không có sắp đặt trước, đầu ít người, sau đông người mà ai theo ý nấy, rồi phó mặc cái kết quả ra thế nào đó thì ra!
Cho đến nơi đế đô ngàn năm nay là Hà Nội đó, mà di tích bây giờ còn lại, như Hàng Đào, Hàng Ngang đường sá phố xá bị chữa nhiều lần rồi cũng còn chưa hết vẻ ủm thủm. Lại như ở Hội An, dãy phố phía Bờ Sông quanh quẹo chật hẹp quá, đẽo gọt mấy lần rồi mà cũng không có thể làm cho rộng và ngay.
Cái gì chứ đến những con đường mà không biết vạch cho ngay thẳng, thì không còn giấu chỗ bất học đi đâu được!
Trong các sách nho, sách nào chả dạy cho người ta lấy điều chính trực. Nếu trong óc đã tiêm nhiễm sâu cái đức chính trực đó, thì có thể nào để mà chịu được những con đường hàng phố cong queo trước mắt mình?
Tôi nói như thế, hẳn lại có người cho tôi là bội bạc tiền nhân, làm con cháu trở đi chê ông cha là bất học. Ai trách thế thì tôi xin chịu. Nhưng bản ý tôi trong khi khảo sát đây, trọng về khách quan, trọng về sự thực, mắt thấy thế nào, miệng phải nói ra thế ấy, cốt muốn nhân một chút này để nhìn rõ cái trình độ văn hóa của ta ngày trước, cho nên nói thẳng mà không dám nể mích lòng.
Cái học hay là cái văn hóa, nó vốn vô hình, người ta nhìn thấy nó được, là nhờ ở những sự hữu hình bởi nó mà ra. Những sự hữu hình ấy tức là như chánh trị, phong tục, mỹ thuật của dân tộc. Đừng nói tôi, có một người ngoại quốc nào đến xem những nơi thành phố cũ của ta như Tam Kỳ, Thu Xà, Tuy Hòa, Ninh Hòa đó, thấy cái hiện tượng của sự kinh hoạch vô ý thức như vậy, mà bảo họ phải ca tụng cái văn minh của tổ tiên ta hồi trước, thì chi cho khỏi họ lắc đầu?
Có một cái thông tệ của các nơi đô hội ta hồi trước, ấy là sự ô uế. Càng những nơi đô hội lớn chừng nào, thì lại càng ô uế chừng nấy.
Ở Huế, vào thuở Tự Đức, đã có câu thơ
"Kinh thành phong vị ruồi và cứt"
cũng đủ là một cái chứng cớ hiển nhiên rồi.
Còn ở Hà Nội, cách 5-6 chục năm trước, ban đêm người ta ra phóng uế đầy đường, đến sáng nhờ có bọn đi gánh phân mới dọn sạch được hết. Những cái hiện trạng ấy cũng tỏ ra cái óc đời bấy giờ là đơn giản quá, sự lo nghĩ của họ không tới nơi.
Một nơi đô hội tụ lại hằng vạn con người ta, mà tuyệt nhiên không nghĩ đến sự tiêu hóa những cơm và thịt trong hằng vạn cái bụng ấy nó sẽ xổ ra chỗ nào, thì thật chúng ta phải chịu rằng sự sinh hoạt đời bấy giờ là quá ư cẩu thả, sự mưu cầu lợi ích cho xã hội đời bấy giờ là quá ư sơ lược.
Có lẽ người thuở ấy cho là việc ô uế, không thèm đặt miệng tới, cũng không thèm xử trí nữa, tha hồ cho nó ra sao đó nó ra. Nhưng than ôi! để cho đồ thối tha dơ bẩn nó ngổn ngang đầy đường thì còn chi là ngàn năm văn vật!
Đành rằng dân tộc ta là dân tộc quen ở nhà quê cho nên vụng cách sắp đặt nơi thành phố. Nhưng vụng gì thì vụng, chứ đường sá cong queo, đồ uế vật đầy rẫy thì sự đó phải đổ tội cho cái đức còn kém, cái học còn kém, trình độ văn hóa còn thấp, nào có phải vụng mà thôi đâu?
Người ta quý hồ phải biết mình cho rõ. Một dân tộc cũng vậy, ta phải biết trình độ của ta còn kém cỏi là thế, phải gắng sức mà tiến lên từ rày về sau. ấy là cái hy vọng đi sau cái cảm tưởng của tôi.
-----------------------------------------
Phan Khôi
Đông tây, Hà Nội, s.114 (14.10.1931)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét