FACEBOOK 2019
CÁCH GIẢI QUYẾT RÁC Ở MỘT KHU PHỐ PHÁP 11
HÃY ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CÁC DANH NHÂN 18
NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY NGHỊCH LÝ 23
SUY NGHĨ CỦA TÔI KHI BIÊN SOẠN CUỐN "NGƯỜI XƯA CẢNH TỈNH" 25
NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH & TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT 31
VAI TRÒ TRÍ THỨC TRONG QUÁ TRÌNH TỰ NHẬN THỨC CỦA DÂN TỘC 36
DI CƯ NỘI ĐỊA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA 41
MỘT XÃ HỘI NHIỀU NGƯỜI ỐM DỞ 50
VỨT BỎ SÁCH VỞ Ư? RỒI LÀM SAO CỨU VÃN NỔI 53
CHẲNG NHẼ TRIỆT HẠ LẪN NHAU LẠI LÀ MỘT NGUYÊN TẮC SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT? 65
CHỈ CÓ NGƯỜI MÌNH LÀ NHẤT ! 69
ĐÀI LOAN - MỘT TRUNG HOA KHÁC 75
DÂN CHỦ TRONG CÁCH HIỂU CỦA PLATON 80
HIỂU SAO VỀ HY VỌNG & TUYỆT VỌNG ? 83
MUỐN VIẾT TỐT VỀ THÓI HƯ TẬT XẤU CẦN CÓ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA 85
CAMPUCHIA, MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC MỘT CÁCH NGHĨ KHÁC 91
CHÙA CHIỀN VÀ SƯ SÃI Ở ĐÀI LOAN 96
PHẢI MẠNH MẼ THÌ MỚI CÓ THỂ TRUNG THỰC 100
MỘT CHÚT LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM TỪ CÂU CHUYỆN ĐAN MẠCH ĐẦU HÀNG ĐỨC QUỐC XÃ 106
TỪNG CÓ MỘT NƠI HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ LÀM HỎNG CON NGƯỜI 109
THƠ HUY CẬN VÀ NHỮNG VẺ ĐẸP CỦA QUÁ KHỨ 117
VỀ TÍNH NHÂN BẢN VÀ TÍNH CHUẨN MỰC TRONG GIÁO DỤC HAI MIỀN 123
NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI GIÀU Ở VIỆT NAM HÔM NAY 130
YẾU KÉM TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP MỘT LÝ DO KHIẾN NHIỀU NGƯỜI VIỆT LƯỜI BIẾNG VÀ ĂN CẮP 133
CON NGƯỜI TỰ DO MỚI LÀ YẾU TỐ THỨ NHẤT 137
NHỮNG MẤT MÁT ĐÃ ĐẾN VỚI TIẾNG VIỆT HÔM NAY 141
NHỮNG LỜI TIÊN TRI CỦA NGUYỄN VĂN TỐ VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC SAU 19/12/46 145
GIAN THAM - CĂN BỆNH THƯỜNG TÌNH 148
GIÀU CÓ THÌ MỚI CÓ THỂ ĐỘC LẬP NGHÈO KHÓ THÌ KHÔNG BAO GIỜ TỰ QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC VẬN MỆNH CỦA MÌNH 154
CHỐNG THAM NHŨNG KIỂU CHÍ PHÈO 167
MỘT BÀI VỀ GIAO THÔNG TẠI VIỆT NAM IN TRÊN MẠNG 172
CUỘC TRỞ THÀNH CHÍNH MÌNH CỦA MỖI CÁ NHÂN : CÓ HẲN HAI GIAI ĐOẠN NGƯỢC NHAU 183
NGHÈO ĐÓI SINH RA BỆNH TẬT 188
NHỮNG CUNG BẬC CỦA CÁI HÈN Ở NGƯỜI VIỆT 191
QUA KHEN THƯỞNG BIẾT TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ XÃ HỘI 196
NHỮNG CUỘC “TRỞ THÀNH MÌNH” RẤT NGOẠN MỤC 200
VẬN MAY CÓ TỚI CŨNG CHẮC ĐÂU ĐÃ BIẾT TẬN DỤNG 203
Ngày 4 tháng 1 năm 2019
Có một cuốn sách với cái tên như vậy từng được in ở Trung Quốc và dịch ra tiếng Việt in ở nxb Văn học, 2002
Công bằng mà nói, phải nhận biếng nhác, dối trá, tham lợi, cầu an, nịnh nọt, trơ tráo, rồi cái gì cũng cười, cái gì cũng cho là không quan trọng...là những thứ tính chung của loài người, nhìn vào dân nước nào cũng thấy.
Mà cuốn sách tôi nói đây lại chỉ là một cuốn sách mang tính cách phổ thông, có lẽ là đã đăng tải làm nhiều kỳ trên một tờ báo nào đó bằng Trung văn trước khi in sách.
Bởi vậy sẽ là vô lý nếu đòi hỏi nó phải có những phát hiện ghê gớm liên quan đến những khuyết điểm của người Trung quốc (tên sách trong nguyên văn).
Đúng ra sự phân tích ở đây chỉ dừng lại ở chỗ làm cho người đọc thấy những mặt yếu kém trong dân tộc tính Trung Hoa và nói rõ chúng là phổ biến, là đang đầy rẫy trong cuộc sống chung quanh, từ đó giúp cho mọi người tỉnh táo nghiêm túc hơn trong việc nhìn mình cũng như đồng bào của mình.
Tuy nhiên, NTQTT vẫn nổi lên giữa vô số sách vở đang được dịch in và bày bán rộng rãi, ấy là vì nó đã giới thiệu được một xu thế suy nghĩ chi phối xã hội và xem như một định hướng của công tác nghiên cứu văn hoá ở Trung quốc hiện nay.
Thứ nhất, hãy nhìn vào những ví dụ, những bằng chứng mà các tác giả đưa ra để nói về từng thói xấu một.
Nhiều chuyện trong lịch sử được nêu ra,chẳng hạn Khổng Tử cũng thèm làm quan, Khuất Nguyên cũng thèm được dùng, Lý Bạch Vương Duy cũng có lúc nhờ cậy người có quyền thế để tiến thân. Rồi Dương Quýnh nhà thơ đời Đường tính hay tị nạnh, rồi Quách Mạt Nhược nhà thơ hiện đại kiêu ngạo khinh đời v..v..
Thoát khỏi khu vực cấm kỵ không ai dám đụng tới để cùng chung số phận với người bình thường, những nhân vật lớn trong lịch sử lại trở nên những dẫn chứng sinh động cho việc hình dung ra những nét căn bản của quốc tính.
Thứ hai, một điều quan trọng hơn là trong chừng mực nhất định, các tác tác giả bắt đầu tiến tới những khái quát tầm cỡ, một loại khái quát mà những ai muốn truy cầu sự thật một cách nghiêm túc không thể lảng tránh. Trong phần hay nhất của NTQTT là phần Nhân cách, người đọc được biết người Trung quốc không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh cam chịu trước cuộc đời bất công... mà còn “coi nhẹ tri thức văn hoá thù hằn tri thức văn hoá “.
Đây nữa, “giảo hoạt là sự kết tinh thông minh tài trí của người Trung quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại...”.
Những kết luận như vậy vượt qua phạm vi một số ý kiến về một dân tộc cụ thể, mà trở thành gợi ý để con người ở các dân tộc khác cũng phải suy nghĩ khi có nhu cầu tự nhận thức.
***
Ở nước nào cũng vậy, người dân thường cũng nghĩ đủ điều không hay ho về bản thân mình, có điều nói giăng giăng với nhau ở ngoài đường để cười giễu mình thì chẳng sao, nhưng thấy ai đó tính chuyện viết vào sách thì chính họ lại e ngại, cho rằng công khai hoá vậy là “vạch áo cho người xem lưng” hoặc ghê gớm hơn là “hạ nhục dân tộc” và bảo nhau càng ít đả động tới chuyện này càng tốt.
Rồi đến lượt các nhà cầm quyền cũng hùa thêm vào cấm đoán. Chính là để dân chúng chìm ngập trong không khí tự sùng bái, người ta càng dễ cai trị.
Ngay ở Đài Loan, cuốn Người Trung quốc xấu xí của Bá Dương ban đầu cũng chịu đủ đòn đả kích. Đừng nói là ở Trung quốc đại lục.
Thế nhưng do nhu cầu thúc đẩy xã hội phồn vinh, rồi các dân tộc đều có trưởng thành dần trong việc nhìn nhận bản thân.
Tôi không có tài liệu trong tay nhưng biết rằng ở nhiều nước loại sách người một nước tự cười mình tự nói ra cái xấu của mình một cách nghiêm túc, loại đó ngày càng nhiều.
Chẳng những thế, người ta còn sưu tầm nghiên cứu và cho in ra cả những loại sách đại loại người Anh dưới con mắt người Pháp, hoặc dân Pháp theo cách nhìn của dân Đức v..v..
Những lời gọi là tự nói xấu ấy chẳng làm ai nản lòng, ngược lại chỉ giúp cho các dân tộc đẩy tới cái công việc thú vị là khám phá bản thân.
Đi xa hơn người ta còn khái quát :
-- một dân tộc không thể nên người nếu không qua giai đoạn tự nhận thức một cách khoa học, khách quan trong đó có chấp nhận cả đau xót xấu hổ.
-- Trong quá trình tự nhận thức đó, các cấm kỵ sẽ được thu hẹp.
-- Và tự trào là một công cụ hiệu nghiệm.
***
Với Trung Hoa, một dân tộc gần gũi với chúng ta và xưa vẫn được các cụ ta gọi là đồng văn đồng chủng thì sao ? Người dân nơi đây thừa lòng tự hào về tài làm người của mình. Đất nước được xem là trung tâm của thế giới. Xã hội được xây dựng theo hình ảnh của thiên cung. Văn minh thì được gọi là hoa hạ ( không phải là bông hoa; hoa đây, có nghĩa là đẹp, tinh túy, lộng lẫy ...).
Nhìn vào sách vở Trung quốc được dịch in ra tiếng Việt vài chục năm nay lâu nay ta chỉ biết vậy và bảo nhau vậy.
Có biết đâu trong thực tế sách vở bên ấy từ lâu đã có hướng nghĩ khác và đã dội sang bên ta.
Khoảng mươi năm nay, báo giấy cũng như báo mạng ở ta đã trích in Người Trung quốc xấu xí của Bá Dương, một tác phẩm mà cũng như truyện chưởng của Kim Dung vốn thuộc mạch suy nghĩ của Đài Bắc Hồng Kông và chỉ gần đây mới được in ở đại lục.
Chúng ta cũng không nên ngại nhắc lại cái dẫn chứng đã quá cổ điển là tạp văn Lỗ Tấn với điều kiện bổ sung thêm: một Lỗ Tấn như vậy chỉ hình thành khi có sự chuẩn bị không khí của cả một thời đại.
Có một người hoạt động văn học đồng thời với tác giả AQ và còn sống lâu hơn vài chục năm là Lâm Ngữ Đường (1895-1976). Ông này cũng thuộc loại muốn nhìn con người Trung quốc một cách khách quan, giữa các trang sách hào hứng ca ngợi dân tộc đôi khi ông không quên dừng lại tự hỏi không hiểu sao đồng bào mình vốn cao nhã thông minh mà có lúc lại ngớ ngẩn tầm thường đến kỳ cục.
Khi viết về chất giảo hoạt nói trên, các tác giả Người Trung quốc tự trào đã phải dẫn Lâm Ngữ Đường là vì vậy.
Một cuốn sách khác cùng một xu hướng cũng đã được dịch ra tiếng Việt nhưng bị làm hỏng, đó là Mặt dày tim đen của Lý Tôn Ngô (1879-1944 ).
Nguyên là trước khi nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông ra đời, xã hội Trung quốc thời Dân quốc đã đi khá xa trên con đường hiện đại hoá, kể cả trong tư duy.
Nhằm bắt mạch quốc dân tính, Lý Tôn Ngô khởi xướng cả một quan niệm mệnh danh là Hậu hắc học, đại ý cho rằng anh hùng hào kiệt trong lịch sử Trung quốc nói chung không mặt dày thì tim đen. Lý Tôn Ngô có cái mạnh là ông không dừng lại ở những chi tiết đời sống quanh mình mà hướng cái nhìn vào lịch sử và ở đây ông cũng không chịu bất một hạn chế nào, cả những thánh nhân, triết gia, anh hùng cái thế cũng được ông mang ra khảo xét và đánh giá bằng những tiêu chuẩn nhân bản.
Sở dĩ một cuốn sách như Người Trung quốc tự trào có thể được biên soạn, ấy là vì trước đó đã có những nhà nghiên cứu dày công sưu tầm và mở ra những hướng mới trong suy nghĩ về quốc dân tính Trung quốc.
***
Chuyện dân tộc tự trào mang ý nghĩa một bước đổi mới tư duy.
Đứng ở góc độ mỹ học mà xét thì rõ là trong cách nhìn nhận có sự biến cải về mặt sắc thái.
Vấn đề tính dân tộc xưa nay vốn coi như cấm kỵ, lại được đặt trong màn sương khói thiêng liêng -- tức có tính huyền thoại, nay được đặt trong sự tiếp xúc suồng sã, nên ban đầu thường khó chấp nhận.
Song nghĩ cho cùng đây là bước đi mọi dân tộc phải trải qua trên con đường lâu dài là hiện đại hoá và đặt mình trong cộng đồng nhân loại.
Với ý nghĩa đó, có thể xem công việc các tác giả NTQTT là hết sức cần thiết.
Quá trình khai phá của những Lý Tôn Ngô, Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường, Bá Dương.... phải tìm được cách thâm nhập vào công chúng rộng rãi thì mới có cơ dựng tạo được những kết quả chắc chắn.
CÁCH GIẢI QUYẾT RÁC Ở MỘT KHU PHỐ PHÁP
Ngày 14 tháng 1 năm 2019
Hoặc là rượu mỹ phẩm bóng đá ...
Hoặc là các vấn đề chính trị
Nếu tôi không nhầm đó là nhũng tin tức được chúng ta quan tâm hơn cả từ các nguồn tin Pháp
Nhưng hôm nay tôi muốn các bạn dành ít phút cho câu chuyện về rác.
Bắt đầu từ vài phút về chuyện RÁC bên Pháp, rồi chúng ta sẽ phải để nhiều thời gian hơn cho chuyện RÁC ở VN.
***
Nguyên văn bài Phố Thiên Đường "không rác" ở Paris
đưa trên RFI ngày 11- 1 - 2019
---
Cứ mỗi giây lại có thêm 35 kg rác thải ở Paris. Như vậy, gần 2,2 triệu người dân thủ đô của Pháp thải ra mỗi ngày 3.000 tấn và mỗi năm khoảng 1,1 triệu tấn. Giảm khối lượng rác thải là một trong số mục tiêu của Kế hoạch Khí hậu Paris (Plan Climat Paris) mà thành phố muốn triển khai trên diện rộng để mọi công dân, mọi cơ quan, ngành nghề đều có thể tham gia, bắt đầu từ những hoạt động đơn giản nhất trong cuộc sống hàng ngày.
Vào tháng 12/2018, lần đầu tiên « Tuyến phố không rác » (Zéro déchets) được thí điểm ở phố Thiên Đường (Rue de Paradis, quận 10) nhộn nhịp, nằm giữa khu phố sầm uất gần nhà ga phía Đông (gare de l’Est), và thể hiện rõ sự đa dạng của Paris. Con phố dài 500 mét không sạch bong như tên gọi « không rác », vẫn còn đầu mẩu thuốc lá, vết kẹo cao su trên vỉa hè, nhưng mục tiêu của dự án là cùng giảm khối lượng rác thải, 10% trong năm 2019, của khoảng 6.000 người sống và làm việc ở phố Thiên Đường.
Bà Léa Vasa, trợ lý thị trưởng quận 10 Paris, giải thích trên đài phát thanh Europe 1 (06/12/2018) về dự án cùng giảm rác thải :
« Những người tình nguyện ( vì chúng tôi không ép ai cả), sẽ được hội Zero Waste Paris hỗ trợ, tùy theo hoàn cảnh của họ, vì rác thải có nhiều loại khác nhau, như rác thải từ các nhà hàng, hộ dân… Chúng tôi sẽ đồng hành với họ.
Đầu tiên, chúng tôi cung cấp nhiều thông tin nhất có thể, sau đó cùng họ chọn những việc nho nhỏ, dễ làm và giúp thực sự giảm được khối lượng rác mà người ta thải ra. Chúng tôi sẽ tiến từng bước trong suốt năm nay. Ngay khi gặp một trở ngại, chúng tôi sẽ áp dụng những giải pháp, hoặc đã tồn tại, hoặc mời các nhà sáng tạo muốn thử nghiệm giải pháp của họ, hoặc tạo ra những ý tưởng mới».
***
« Thiên Đường không rác»:
Tiểu thương ủng hộ từ ngày đầu
---
Quán cà phê San Jose - « 1 euro, rẻ nhất Paris » - của ông Patrice Pages, luôn tấp nập khách ra vào. Vừa luôn tay pha cà phê tại chỗ, vừa đóng gói cà phê rang xay cho khách mang về, ông Pages giải thích với RFI tiếng Việt :
« Phố Thiên Đường được chọn vì ở đây có nhiều trường học, nhà hàng, hộ dân cư và văn phòng. Chương trình vừa mới bắt đầu. Hiện tại, chưa có ai ở thành phố Paris đến làm việc với cửa hàng tôi, mà chỉ có hiệp hội Zero Waste Paris đến dán logo tham gia chương trình, ghi vào danh mục các cửa hàng tham gia trên website để người dân trong khu phố biết rằng họ có thể mua cà phê và đựng trong cốc mà họ mang đến.
Nhưng như tôi giải thích với hiệp hội Zero Waste Paris, từ 10-12 năm nay, khi bắt đầu bán lẻ cà phê, tôi đã có rất nhiều khách hàng mang cốc riêng đến mua để tránh sử dụng cốc dùng một lần. Còn nếu uống tại chỗ, chúng tôi có tách sứ. Nhưng khi họ đến mua cà phê mang về văn phòng, họ thường mang cốc đến, với trà cũng như vậy ».
Vẫn theo ông Pages, từ lâu, người dân sống xung quanh cửa hàng của ông đã ý thức được về việc giảm rác thải. Để khẳng định điều mình nói, ông mở cổng chính dẫn vào tòa nhà đối diện quán cà phê. Sau dãy hành lang dài là một khu sân chung và trong góc sân là một bình ủ phân hữu cơ lớn, đầy vỏ rau củ.
Việc biến rác hữu cơ thành phân bón đã được thành phố Paris triển khai từ khá lâu. Tính đến giữa năm 2018, thành phố Paris đã tặng khoảng 500 bình ủ phân hữu cơ cho người dân. Bà Léa Vasa giải thích :
« Một phần tư thùng rác là chất thải hữu cơ và chúng ta có thể dễ dàng biến chúng thành phân bón ngay trong nhà hoặc dưới sân chung của khu nhà. Ngoài thiết bị làm phân bón có thể làm tại nhà, chúng tôi cũng rất muốn thử hệ thống tái chế rác thực vật cho cả khu phố.
Ngoài ra, trong một thùng rác ở Paris, trung bình một nửa là bao bì mà chúng ta có thể tránh được. Ví dụ, như vỏ chai dầu gội đầu, chúng ta có thể thay thế bằng xà phòng Marseilles chẳng hạn, hoặc tự chế ra sản phẩm tẩy rửa trong nhà. Đối với vỏ bọc sản phẩm chia thành phần nhỏ, hoặc đồ sử dụng một lần như cốc uống ở các nhà hàng, các tiểu thương hoàn toàn có thể thay đổi cách làm ».
Phương pháp này được ông Abdoulaye, chủ nhà hàng Le Tricycle, nhiệt tình ủng hộ từ khi dự án được khởi động :
« Gần đây thành phố Paris khuyến khích người dân tự mang hộp cơm rỗng, dao dĩa hoặc mang túi đến mua đồ. Điều này giúp chúng tôi tránh được vấn đề bao bì gây rác thải. Dù đó là bao bì bằng giấy, bìa tái chế, chúng tôi đều tìm cách tránh tối đa. Với đồ ăn mua mang đi, chúng tôi cố để chung nhiều món trong cùng một hộp, thay vì mỗi một món trong một hộp riêng, nhằm sử dụng ít bao bì nhất có thể.
Ví dụ trong tương lai, nếu nhiều người mang hộp rỗng đến, tôi chắc chắn là có thể giảm được rất nhiều rác. Chúng tôi áp dụng chương trình này cách đây chưa lâu, khoảng một tháng, đã có nhiều người chú ý mang hộp rỗng đến, nhưng đúng là vẫn còn nhiều việc phải làm ».
Tầng hai nhỏ nhắn được dành cho khách hàng ăn tại chỗ. Ở nhà hàng Le Tricycle, không có bàn kê riêng, khách ngồi chung bàn và chia nhau bình nước uống. Đồ ăn được phục vụ trong bát gỗ, đồ uống trong cốc thủy tinh, không ống hút và giấy ăn làm từ giấy tái chế. Ngoài món ăn sẵn mang đi, khách hàng còn có thể mua rau củ quả được bày bán ngay trong các kiện gỗ trước cửa hàng, cùng với dòng lưu ý : « Mang túi của bạn tới ».
***
Mục tiêu
giảm ít nhất 10% khối lượng rác
--
Giảm lượng rác ngay từ gốc là mục tiêu chính mà thành phố Paris đề ra, vì cho dù bằng hình thức đốt hoặc tái chế, cả hai phương pháp đều tạo ra khí thải gây ô nhiễm không khí và nguồn nước.
Để người dân thấy được nỗ lực của mình, chính quyền quận 10 sẽ thường xuyên cân rác thải từ các xe thu gom trên toàn tuyến phố. Mỗi hộ gia đình còn có thể nhận được cân riêng để tự theo dõi và so sánh từng thời điểm khối lượng rác mà họ thải ra. Bà Alexandra Cordebard, thị trưởng quận 10, tỏ ra khá tin vào sự tích cực của người dân, vì theo bà, « người Paris đang đi tìm giải pháp để giảm rác thải ».
Hàng trăm chiếc gạt tàn bỏ túi sẽ được tặng cho những nhân viên hút thuốc lá làm việc trong phố để ngăn tình trạng đầu mẩu thuốc lá vẫn bị vất bừa bãi trên vỉa hè. Khoảng 26.000 đầu lọc thuốc lá được thu lượm chỉ trong vòng một ngày, vào tháng 06/2018, ở bên bờ kênh Saint-Martin là ví dụ mới nhất cho thấy thói quen xấu này của người Paris.
Ngoài đào tạo cho người dân trong khu phố về « Không rác thải » và phân loại rác, hội Zero Waste Paris, đơn vị phối hợp với thành phố Paris, sẽ tổ chức nhiều lớp học « tự làm » (do it yourself), như tự chế biến mỹ phẩm hoặc sản phẩm tẩy rửa, dạy nấu ăn từ thức ăn thừa, tự làm vải bọc tẩm sáp ong để thay giấy bạc bọc đồ ăn, dùng bình đựng nước thay vì uống nước đóng chai, sửa đồ thay vì vất bỏ hoặc mua mới…
Giảm 10% khối lượng rác cũng là mục tiêu đề ra cho cả thành phố Paris trong vòng 10 năm, từ 2010 đến 2020. Trong trường hợp thành công, kinh nghiệm từ phố Thiên Đường sẽ được nhân rộng ra nhiều quận khác của thủ đô, theo giải thích của bà Léa Vasa, trợ lý thị trưởng quận 10.
« Ý tưởng của chúng tôi là rút ra kinh nghiệm từ trải nghiệm này và từ từ phổ biến những gì mà chúng tôi đã thu lượm được, tiến hành những thử nghiệm mới và nếu cho kết quả tốt, chúng tôi sẽ nhân rộng hơn. Dù sao thì mục tiêu của chúng tôi là đi xa nhất có thể được và ở khắp nơi.
Chúng tôi biết rõ thách thức trước mắt. Nếu tất cả mọi người tiêu thụ như người Pháp thì chúng ta cần đến ba hành tinh tài nguyên. Kể từ ngày 02/08, nhân loại tiêu lạm vào nguồn tài nguyên mà thế giới có thể tái tạo. Vì vậy, chúng ta phải xem lại sâu sắc cách tiêu thụ và sản xuất của mình. Cho nên chúng tôi sẽ phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm thu được trong lần thử nghiệm này ».
HÃY ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ CÁC DANH NHÂN
Ngày 15 tháng 1 năm 2019
***
Những trang sử học
không có con người
--
Sử Việt Nam được lưu hành chính thức hiện nay có ba chỗ dở khiến nó không còn là sử nữa. Ba chỗ dở đó là
1/ Chỉ viết về lịch sử tồn tại của dân tộc mà không biết tới lịch sử phát triển.
Quá chú trọng việc viết về chống ngoại xâm mà không viết về các cuộc đấu tranh nội bộ.
Quá chú trọng quân sự mà không có sự nghiên cứu đầy đủ về kinh tế.
Chỉ viết về mặt sáng của lịch sử không viết về chỗ tối.
2/ Không có ngôn ngữ của sử học. Tức không có cảm giác về thời gian trong quá khứ
3/Không có nhân vật lịch sử
Dưới đây chỉ xin nói về điểm thứ ba.
Nhiều lần đi lại trên đường phố Sài Gòn, tôi gặp những cái tên phố rất lạ, một người như tôi tra vấn trí nhớ mãi cũng không thể biết đó là ai.
Nhưng nghĩ kỹ, tự nhiên thấy vui, không trách mình nữa. Đó là khi nhớ ra rằng cả với nhân vật đã quen, được coi là những nhân vật lớn nhất trong lịch sử, -- và thường dùng để làm tên gọi những đại lộ, những con phố chủ yếu của các thành phố lớn nhỏ -- , chúng ta cũng chả biết gì về họ cả.
May mà những năm ngoài năm mươi tuổi, tự nhiên trong tôi nổi hứng là đi tìm lại các bộ sử cổ nhất của nước mình.
Ngoài Đại Việt sử ký toàn thư, đọc thêm Việt sử thông giám cương mục, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên, Lê Quý kỷ sự… Và đọc thêm sách một số nhà sử học nước ngoài viết về VN. Khi bắt đầu có ý niệm về các nhân vật lịch sử được viết trong những bộ sử ấy, tôi mới có điều kiện để nghĩ về các nhân vật lịch sử đương đại. Trên đường tìm hiểu thêm cái thời mà mình đang sống, tôi cảm thấy có thêm sự hào hứng và những kích thích để suy nghĩ.
***
Sự đa dạng
của thế giới danh nhân
---
Nếu muốn kể ra một nền sử học hoàn hảo tôi vẫn muốn gọi ra sử học Trung quốc.
Các nhà sử học xứ này rất thông thạo về các danh nhân của họ. Sự ham mê viết về danh nhân kéo dài từ thời Tư Mã Thiên đến ngày nay.
Tới thế kỷ XX, loại sử này càng phổ biến, một số đã được dịch ra tiếng Việt.
Trong số ví dụ dễ kiếm, tôi muốn kể tới cuốn "100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc "(bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Văn Dương 2002) .
Sách này sắp xếp các chương theo sự phân loại nhân vật lịch sử như sau.
Chương I, dành cho các nhân vật ngoại hạng, như Khổng Tử, Lão Tử, Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Đông.
Cũng được coi là ngoại hạng, có Từ Quang Khải, chỉ làm quan tới Thượng thư bộ Lễ, song lại chuyên về nghiên cứu khoa học. Ở một nước có tinh thần dân tộc rất cao, đóng góp chính của ông này lại là thúc đẩy sự hấp thu nền văn hóa phương Tây.
Chương II, các vị đế vương các lãnh tụ vĩ đại, trong đó xếp cả Lưu Bang, Hán Cao Tổ, Võ Tắc Thiên, sau đó là Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch.
Chương III, các nhà tư tưởng v.v…
Chương IV , các nhà văn nhà thơ.
…
Đọc qua cả sách, tôi nhận ra một điểm. Dù phân chia thế nào thì có một nguyên tắc chung chi phối bộ mặt các danh nhân – tôi tin là không chỉ đúng Trung quốc với danh nhân Trung quốc mà còn đúng với danh nhân VN. Họ là những nhân cách đa dạng phức tạp nhiều chiều cạnh; ở họ mặt tối lẫn với mặt sáng, cái độ người ở họ được cô kết hơn hẳn đám chúng sinh mặt trắng chúng ta .
***
Hãy viết cả về các bạo chúa ,
nhưng là viết
với quan niệm hiện đại
--
Tiếp tục câu chuyện về cuốn "100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc.
So với các sách khác, sách này có thêm có phần phụ lục về 10 đại hôn quân bạo chúa và bề tôi gian nịnh, bao gồm vua Trụ, Tùy Dạng Đế, Từ Hy thái hậu, Tần Cối, Đổng Trác và Viên Thế Khải…
Cùng cách làm vậy, trong ngăn lịch sử đương đại ở các hiệu sách Trung quốc, người ta đã bầy những cuốn viết về mấy người tạm gọi là bạo chúa đương đại như Khang Sinh truyện, Giang Thanh truyện…
Tôi thấy có lẽ phải đi sâu thế mới gọi là làm sử.
Bởi viết lịch sử không chỉ có nghĩa là tìm ra những tấm gương để người đời noi theo.
Lịch sử còn hấp dẫn và cần thiết cho người ta qua việc miêu tả những nhân vật đã có ảnh hưởng tới sự vận động của xã hội dân tộc thời đại cả theo chiều thuận lẫn theo chiều nghịch.
Tôi ước ao có người nào đó khi viết quá khứ nước Việt sẽ đi vào cuộc đời cả những bạo chúa và bề tôi gian nịnh.
Qua các nhân vật này tôi sẽ hiểu thêm về những mặt tối những khía cạnh tiêu cực, những phần gọi là ma quỷ trong tính cách người Việt.
Có lần, một anh bạn trẻ hàng xóm tặng tôi cuốn "Tào Tháo-Thánh nhân đê tiện" của Vương Hiểu Lỗi Trung quốc, công ty alphabooks xuất bản.
Nhìn qua bìa 4, thấy trích một câu của Mao Trạch Đông “Tôi thích thơ của Tào Tháo, khí phách hùng vĩ, khẳng khái mà cô tịch, là nam tử hán đại trượng phu, văn chương xuất chúng” đã thấy lạ.
Lật lại bìa 1, đọc đầu đề cuốn sách càng nghĩ càng sốc.
Đã thánh nhân sao lại còn đê tiện đươc?
Sực nhớ lại cuốn " Hậu hắc học" của Lý Tôn Ngô, trong đó khái quát gần như không có ngoại lệ rằng danh nhân Trung quốc đều hoặc là mặt dày hoặc là tim đen.
Trở lại lịch sử Việt Nam. Trong tôi nảy ra mấy câu hỏi:
Chẳng nhẽ các danh nhân Việt Nam thuộc một loại siêu phàm khác?
Hay các nhà sử học Việt Nam lâu nay chỉ cho chúng ta biết những hình nộm?
Và quan niệm về con người ở xã hội Việt Nam tới hôm nay nhìn chung là quá cổ lỗ?
Nguyên là bài
Trở lại với các danh nhân lịch sử để hiểu các VIP hiện thời
đưa trên blog của tôi ngày 28-9-2014
Ngày 21 tháng 1 năm 2019
1/ “Thời đại ta là thời đại của những nghịch lý” - cái ý ấy tôi được đọc lần đầu là từ một bài viết của L.Landau, nhà vật lý Xô - viết từng được giải Nobel.
Về sau thấy nhiều người khác cũng nói cái tinh thần ấy.
Hoàng Phủ Ngọc Tường từng có câu tả Cà Mâu: Ở đây người ta “chèo thuyền giữa rừng, cá đẻ trên cây và những dòng sông thì đều bắt nguồn từ biển”.
Đó là cái nghịch lý trong khung cảnh.
Sau đây là một câu trong Kinh Thánh tôi nghe được từ Nguyễn Khải. “Mi là muối mà mi không mặn thì còn muối được ai” .
Anh Khải thích nhắc lại câu đó mỗi khi nói về sự tầm thường của văn nghệ minh họa: khi nó không còn là nó, thì không thể có những tác dụng mà người ta mong muốn.
2/Trong các chuyện chưởng của Kim Dung, có một triết lý trở đi trở lại: nay là thời chính tà lẫn lộn. Chính những kẻ thuộc tà phái lại cư xử với nhau đàng hoàng còn chính phái thì có tất cả những thói xấu của tà phái, chỉ có điều bọn họ cố tình giấu giếm cho nên càng đáng ghét. Và thái độ của con người trong thời nay được nêu lên trong cái quyết tâm sòng phẳng với mình:
- Thà làm chính tà còn hơn làm ngụy quân tử.
Vào khoảng những năm 1980 trở đi, khi bắt đầu phải suy nghĩ về hướng làm ăn trong thời hậu chiến, với quyết tâm làm sao vừa sống đủ vừa lương thiện, tôi thường “dịch” câu trên của Kim Dung thành cái mệnh đề chỉ đạo gia đình mình:
- Thà buôn bán mà đóng thuế đầy đủ còn hơn là cán bộ nhà nước mà ăn cắp.
Chả là ở Hà Nội trước 1975 và còn lan đến mãi về sau, người ta coi tư nhân buôn bán là xấu, chỉ có cán bộ nhà nước mới là những con người chân chính.
3/Cũng khái quát về sự hư hỏng của những giá trị mà xưa nay người ta vẫn cung kính, tôi nhớ cách nói của một nhà tư tưởng phương Tây:
- Bọn tiểu nhân thì không biết thế nào. Còn các vị quân tử thì tôi biết rồi, tởm lắm!
Một vài câu khác ghi được từ tiểu thuyết "Anh em Karamazov" của F. Dostoievski:
- Đối với những người không óc kinh nghiệm, nhiều khi cái mặt người đời lại là trở lực ngăn cản tình yêu.
- Sống với bất kỳ giá nào, tôi cho rằng họ Karamazov nhà ta, người nào cũng có đặc điểm ấy.
- Đối với một người tự do, không có nhu cầu nào cấp thiết bằng tìm một nhân vật để kính phục.
- Không gì quyến rũ con người bằng tự do ý chí, nhưng cũng không có gì đau đớn bằng tự do ý chí.
- Có những loại người mà thà làm kẻ thù của hắn, còn hơn làm bạn của hắn.
SUY NGHĨ CỦA TÔI KHI BIÊN SOẠN
CUỐN "NGƯỜI XƯA CẢNH TỈNH"
Ngày 22 tháng 1 năm 2019
Trích bài trả lời phỏng vấn trang mạng http://xn--netlfe-zva.com/
và đã đưa lại trên blog của tôi ngày 25 thg 8, 2008
"Tôi muốn là liều thuốc kháng sinh!"
---
- Vài năm nay, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn tiến hành công việc khá đặc biệt là sưu tầm, tuyển chọn và thể hiện những bài viết về "Thói hư tật xấu của người Việt". Đây là ý định đã có người theo đuổi nhưng sớm phải từ bỏ, đứt gánh giữa đường hoặc có người khác đang "ẩn mình" thực hiện.
Những gì nhà phê bình Vương Trí Nhàn đang làm và công bố rộng rãi gây nên nhiều ý kiến trái chiều: người đồng tình ủng hộ, kẻ phản đối gay gắt. Cuộc trao đổi thẳng thắn của với ông Vương Trí Nhàn sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về công việc này, từ đó đưa ra nhận định của riêng mình.
***
1/
- Chuỗi bài về "Thói hư tật xấu của người Việt" đứng tên nhà phê bình Vương Trí Nhàn, đăng tải hàng tuần trên báo Thể thao & Văn hóa xuất hiện bắt đầu bằng việc dẫn lời, trích lục các đoạn viết của các danh nhân xưa. Đến nay, ông đổi mục này sang "phiên bản" mới với việc tạo thành bài phân tích, bình luận, tổng hợp trực tiếp của mình. Việc làm này rõ ràng là khó khăn hơn, phải chăng là do đến lúc này ông mới sẵn sàng đối mặt với "thách thức"?
- Tôi sẽ kể ra đây con đường đưa tôi đến việc này. Đây là quá trình nghiên cứu cụ thể chứ không phải ý định bộc phát. Năm nay tôi đã 64 tuổi, và tôi sẽ còn theo đuổi đề tài này đến cuối đời.
Tôi vốn là người nghiên cứu về văn học. Trong giới, tôi bị đồng nghiệp chê nhiều lắm. Trần Đăng Khoa gắt tôi: Cái ông này chỉ giỏi nhìn tật xấu của mọi người thôi! Nói nôm na, là tôi "không chơi được". Nói vui, nếu tôi chưa có vợ thì có lẽ chẳng thể lấy vợ được. Ai lại thích người chỉ giỏi khơi thói xấu của người khác!
Tôi thấy cuộc sống bây giờ nhiều người nuông chiều nhau quá, dễ dãi với nhau quá. Khi gặp một người, ta chỉ muốn nói cho người đó vui, người đó sướng còn thực chất ta không đối xử tử tế với nhau như thế. Chúng ta gặp nhau chỉ để tán phét, tạo cho người ta vui vẻ, thậm chí nịnh, rồi sau lại cười người ta. Tôi thấy điều đó hoàn toàn không tốt.
Thời gian đầu, tôi viết về thói xấu của văn nghệ sĩ với quan niệm mình không giống mọi người, không phải thước đo người này mét mốt, người kia là mét ba. Chỉ đơn giản là mình nói về họ với điều mình nghĩ, mình thấy được. Từ viết về thói xấu của văn nghệ sĩ, tôi mở rộng chung ra thói xấu của người Việt Nam.
Tôi cho rằng bất kỳ dân tộc nào cũng có những tầng lớp tiêu biểu. Ví dụ, qua giới quý tộc là vua chúa, qua tri thức là những học giả và qua những người bình thường là nông dân... Còn có một mảng là qua những người viết văn, nghệ sĩ. Từ viết phê bình các nhà văn, tôi chuyển sang phê bình tật xấu của mọi người.
Thế nhưng đi vào con đường này vô cùng khó khăn. Những bậc đàn anh của tôi họ cũng có ý đồ cả đấy chứ, như giáo sư Trần Quốc Vượng, giáo sư Cao Xuân Hạo và bao người khác... Vài năm trước, Tiến sĩ Đức Uy từng ra quyển “Bí ẩn tâm lý người Việt” nhưng sách không đến được với người đọc.
Người đi trước đã vậy, đến tôi phải dùng hình thức khác. Ban đầu tôi mượn người xưa để nói người nay, "mượn mồm" chính những nhân vật mà không ai “chê” được như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... để nói về thói xấu người Việt. Còn những nhân vật khác như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... tôi sẽ để lại phía sau.
Có cái này buồn cười: khi nghiên cứu để dạy cho học trò thì chẳng thầy nào dạy cái này. Dạy về Phan Bội Châu cũng chỉ nói Phan Bội Châu yêu nước ra sao, chứ không nói đến chuyện Phan Bội Châu sang Nhật, đối chiếu người Nhật và người Việt mình như thế nào, người Việt không bằng người Nhật điều gì...
2/
- Ông có bao giờ nghĩ người ta không dạy những điều đó trong trường học vì nó chưa thực sự hữu ích, cần thiết?
- Theo tôi tất cả đều tự phát hết. Cái tự phát của mình xuất phát từ chỗ khi chúng ta chống Pháp và chống Mỹ, để khích lệ tinh thần, phải động viên nhau lên. Mà động viên thì không thể nói được hết cái xấu, chỉ toàn nói cái tốt. Như thế là phiến diện và không đầy đủ.
Tôi cho rằng hiện nay báo chí tuyên truyền, các nhà nghiên cứu cần phải nói thực chất người Việt ra làm sao. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, mà vấn đề là nói thực chất. Đã có các diễn đàn như “Nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ” trên báo Thanh Niên hoặc những vấn đề sôi nổi hiện nay như “nước Việt đang ra biển lớn”…Khi làm vậy, hãy tự hỏi mình trước tiên: Ta là người thế nào, ta tự nhận thức ra sao?. Từ thời Socrate đã nói, con đường quan trọng nhất là tự nhận thức. Nếu không nhận thức thì không làm được gì cả. Chúng ta hiện nay đang giống như bóng đá: động viên thật nhiều, cho tiền thật nhiều...
3/
- Công việc mà ông đang làm có thể gọi là quá trình “tự nhận thức”, và trước hết là của chính ông?
- Đúng vậy. Mục đích của tôi là tìm hiểu về quá trình tự nhận thức của người Việt. Tôi cho rằng nó là bước đi tất yếu của mỗi dân tộc trên con đường trở thành chính mình và cũng là con đường đi ra thế giới. Trên phạm vi toàn dân tộc cũng quan trọng mà trong phạm vi từng người cũng rất quan trọng.
4/
- Nhưng quá trình tự nhận thức đó hoàn toàn không đơn giản khi ông phải vạch ra cách đi…
- Tôi nghĩ thế này, trước tôi người ta đã làm gì, làm được đến đâu?, từ đó tôi lựa đường mà đi. Hôm nọ có một bạn đọc phản hồi, hỏi sao tôi trích dẫn nhiều thế mà lại không nói ý của riêng mình. Tôi cho rằng tìm được những nguồn trích dẫn đâu dễ. Hơn nữa tôi dùng những trích dẫn mà nhiều người công nhận là đắc địa, có giá trị.
5/
- Thế nhưng, cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc ông đang làm là “tầm chương trích cú”…
- Ngay câu này đã rất nhầm. “Tầm chương trích cú” là người đem từng câu đào đi, bới lại. Tôi chưa gọi là “tầm chương trích cú” được. Thậm chí sách vở còn thực tế hơn cả thực tế nữa. Sách vở cực kỳ quan trọng. Tôi hỏi các bạn viết văn, viết báo trẻ hiện nay xem các bạn đọc được bao nhiêu, tôi sẽ biết các bạn là người như thế nào. Chứ các bạn đừng nghĩ nghe vài lời khen đã thấy vui vẻ lắm, tự mãn lắm. Những thứ tủn mủn như giống khoai lệ ra sao, khoai Nghệ An thế nào đâu có quan trọng với việc viết văn. Điều quan trọng là tinh thần của con người Việt Nam. Bệnh tật trong sinh hoạt và những suy nghĩ của người Việt quan trọng hơn nhiều chứ!
NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN
SỰ HÌNH THÀNH & TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT
Ngày 31 tháng 1 năm 2019
Trích và có sửa chữa bài đã đưa trên blog của tôi ở đường link
HỎI
Nếu muốn nói trong hai ba chữ về người Việt xã hội Việt, thì ông sẽ dùng từ gì?
TRẢ LỜI
Tôi nhớ một nhà nghiên cứu văn hoá có nói: Đặc điểm tính cách, người Tây là duy lý, người Tàu là duy ý chí còn người Việt là duy tình. Chữ tình ở đây là lối sống giàu tình cảm, trọng tình nghĩa của người Việt.
Nhiều người cũng nghĩ như vậy.
Phần tôi, tôi cho rằng chỉ nên nói đặc điểm người Việt là tính tự phát rất lớn, thường là những cơn xúc cảm bùng lên, song không tiếp tục trải qua những suy nghĩ kỹ càng nên sẽ qua đi nhanh.
Tức, tôi không coi duy tình là một niềm tự hào. Trái lại, ta cần duy lý với nghĩa phải tính để vươn tới một trình độ sống khác.
HỎI
Cụ thể hơn, theo ông, "sự duy tình" có những điểm nào không đáng để tự hào?
TRẢ LỜI
Cả sự kém duy lý (vận dụng đến cùng trí tuệ) và kém duy ý chí (sự thôi thúc của tham vọng) đều góp phần kìm hãm sự phát triển của chúng ta.
Kém lý trí dẫn đến nông nổi, cạn nghĩ. Kém ý chí dẫn đến ngắn hơi, ăn xổi. Cái gọi là duy tình rút lại là đồng nghĩa với tùy tiện, lúc thế này lúc thế khác, và thường không dẫn đến sự sáng suốt cùng những quyết sách hợp lý, nhất là trong xã hội hiện đại.
Đằng sau nó là những nguyên nhân sâu xa...
HỎI
Liệu cách nhìn nhận của ông về cốt cách sống của dân mình quá cực đoan và khắt khe? Người Việt xưa nay vẫn tự hào là một dân tộc hiếu học, thông minh và có sức chịu đựng, bền bỉ?
TRẢ LỜI
Các phương tiện truyền thông và cả bản thân chúng ta vẫn thường tự ve vuốt mình bằng những nhận định như mấy ý bạn vừa nói.
Khi khái quát về văn hoá và tính cách Việt,bằng công thức “một khối tự phát khổng lồ" tôi biết có thể gây tự ái cho ai đó và có thể gây tranh cãi. Ngay như bản thân tôi, cũng đã nhiều lần tự tìm cách phủ định nó, nhưng hiện tại tôi vẫn chưa tìm ra được dẫn chứng phủ định thuyết phục.
Người Việt ít đặt vấn đề dụng công nghiên cứu cái gì cho sâu, cho kỹ. Chúng ta tự cho phép sống theo thói quen, nếu như có nói đến các lý thuyết, các định hướng nọ kia thì chủ yếu là đi thừa hưởng các kết quả nghiên cứu từ các dân tộc khác. Thêm nữa, chỉ treo lý thuyết lên gọi là có, chứ vẫn sống theo cách của mình.
Tôi ví dụ, đơn giản nhất là trong đời sống tôn giáo. Với đạo Phật, chúng ta hiểu biết lơ mơ. Về tất cả các lý thuyết, hầu như không nghiên cứu gì cả, chỉ toàn là truyền miệng với nhau, trong tu thì chỉ "thiền", "ngộ", tức là ngồi để tự nhiên nghĩ ra cái gì đấy.
Tôi nghĩ lối sống này làm nghèo chúng ta đi, từ sự trống vắng, kết quả thu được cũng chẳng gì hơn cũng là trống vắng. Trong khi ấy, thử so sánh, người Trung Quốc có không biết bao nhiêu pho kinh, chẳng hạn như ông Huyền Trang sang tận Ấn Độ lấy về, dịch ra, họ đã mang lại cho đạo Phật một sức sống mới.
HỎI
Theo ông, có những nguyên nhân nào tác động đến đặc điểm tính cách dân tộc ?
TRẢ LỜI
Khi nhìn vào những ngổn ngang trong đời sống trước mắt, nhiều người có ý cho rằng đó là bởi các lý thuyết mà chúng ta theo đuổi, chẳng hạn đạo Khổng hay lý tưởng cộng sản... này khác. Tôi thì lại thấy những nguyên nhân sâu xa cơ bản là nằm trong cái cốt cách mà dân tộc đã hình thành trong lịch sử.
Hiểu rõ nguồn gốc dân tộc, sự hình thành của dân tộc mình là một trong những cách để nhận chân lại mình.
Nói một cách thô thiển nhất thì như thế này: mỗi khu vực địa lý tạo ra một giống người với đặc điểm riêng của họ.
Chúng ta là người xứ nóng, vùng nhiệt đới được thiên nhiên ưu đãi, nên một mặt dễ sống, một mặt khác, nó tạo cho ta tính dễ dãi.
Người xứ nóng thường có cuộc sống đơn giản. Trước đây, thời các cụ, chẳng cần có quần áo cũng tồn tại được. Ngay trước Cách mạng tháng Tám, dân ta còn rất nhiều người đi chân đất.
Trong khi đó, người xứ lạnh, thời tiết khắc nghiệt đòi hỏi họ phải chuẩn bị cho cuộc sống cẩn thận hơn. Ngay từ ngôi nhà, đến ăn mặc phải bền chắc hơn, có sức chịu đựng hơn... Tất cả những điều này ảnh hưởng một cách vô thức đến tính cách dân tộc.
HỎI
Sau những nguyên nhân ban đầu ấy, mọi chuyện đã phát triển ra sao?
TRẢ LỜI
Một công cụ để một dân tộc nào đó tư duy, là chữ viết. Việc không hình thành cho được một thứ chữ viết riêng mang lại cho chúng ta rất nhiều hạn chế. Chính nó khuyếch đại thêm cái khía cạnh nông nổi tự phát mà chúng ta nói từ đầu.
Thời trung đại việc dùng chữ Hán đã mang lại cho chúng ta bao thiệt thòi. Rồi sau này, do lịch sử đổi thay, lại dùng chữ hệ Latinh. Lâu nay người ta chỉ thích nhấn mạnh rằng chữ Latinh góp phần thúc đẩy xã hội tiến tới. Tôi cũng thấy thế, nhưng lưu ý thêm chữ quốc ngữ càng làm cho chúng ta cẩu thả trong nói và viết. Nếp tư duy hời hợt lan rộng.
HỎI
Việt Nam, xét trong lịch sử, là một nước trải qua khá nhiều các cuộc chiến tranh. Yếu tố này có góp phần ảnh hưởng đến cái gọi là tính cách dân tộc không, theo ông?
TRẢ LỜI
Tất nhiên rồi. Trên nét lớn, chiến tranh ở ta còn để lại dấu vết nặng nề và càng lảng tránh nó, chúng ta càng bị nó ám.
Không cần có kinh nghiệm nhiều thì người ta cũng có thể biết chiến tranh là tình trạng ăn xổi, ở thì, lúc đó, trong khi sống với những mơ tưởng xa vời, thực tế là người ta lại chả biết rõ ràng ngày mai của mình như thế nào.
HỎI
Cụ thể hơn, 2 cuộc chiến lớn của dân tộc trong thế kỷ vừa qua, để lại dấu ấn như thế nào trong đời sống tinh thần người Việt?
TRẢ LỜI
Chuyện lớn quá, cho phép tôi chỉ nói một điểm có tính cách xuất phát: phải nói chính ra chiến tranh nuôi dưỡng ảo tưởng. Ta không biết rõ ta đã trở nên như thế nào. Ta tưởng rằng, sau chiến tranh, mình còn nguyên vẹn, nhưng thực ra mình đã mất mát rất nhiều. Nhìn vào nhiều mặt đời sống, tôi cảm thấy so với trước chiến tranh, có một bước lùi. Con người ít tham vọng hơn, dễ dãi với mình hơn mà lại buông thả hơn.
HỎI
Ông có cực đoan quá không? Có nhiều ý kiến cho rằng, chính cuộc chiến này đã khơi dậy, đánh thức được tiềm năng của các thế hệ?
TRẢ LỜI
Tôi cho rằng, nhận định đó là đúng nhưng chưa đủ, khi nói vậy chúng ta chưa thấy hết sự thực. Cuộc kháng chiến chống Pháp còn vừa sức với dân tộc ta. Còn cuộc chiến chống Mỹ ư? Với tư cách một người vừa lớn lên thì bước vào chiến tranh, tôi muốn nói rằng nó to lớn vĩ đại, nó kinh khủng quá, nó hút hết sức lực của cộng đồng. Chiến tranh ở ta như việc một người nhỏ bé phải đối mặt với một thách thức quá sức. Vẫn làm được đấy, nhưng sau đó sẽ mệt mỏi, một sự mệt mỏi kéo dài cho đến hôm nay.
Việc nghiên cứu tính chất của xã hội hậu chiến ở ta ít được xem trọng. Nhưng nhìn đâu cũng thấy.
Cả việc lớp trẻ lao đầu vào cuộc hưởng thụ lẫn một dư luận xốc nổi, khi quá khắt khe khi quá dễ dãi, tức là câu chuyện mà chúng ta nói từ đầu đến giờ, cũng là hiện tượng thường thấy ở các xã hội hậu chiến.
VAI TRÒ TRÍ THỨC TRONG QUÁ TRÌNH
TỰ NHẬN THỨC CỦA DÂN TỘC
Ngày 10 tháng 2 năm 2019
Một số suy nghĩ
sau khi NGƯỜI XƯA CẢNH TỈNH được xuất bản
***
Như tôi đã viết trong nhiều bài trước, khi bắt tay vào nghiên cứu tính cách người Việt, tôi đã sớm hình dung ra rằng đây là công việc quá sức mình.
Và để bớt lầm lỗi tôi đã chọn con đường là sưu tầm những phát biểu của những người đi trước mình về vấn đề này rồi có nói gì thì là nói thêm sau.
Có người bảo cuốn sách của tôi chỉ là công việc đi nhặt nhạnh, chứ không phải là cái tự viết ra.
Nhưng tôi cho là trong trường hợp của nhiều người như tôi, nên lo tìm đọc các tài liệu cần thiết hơn là lo việc phát biểu ý kiến của mình. Có chuẩn bị kỹ thì các phát biểu sau đó mới có thể có giá trị.
Có một điều không dám giấu: tôi đã làm việc khá dễ dàng.
Lâu nay khi sưu tầm tài liệu về tính cách dân tộc người ta chỉ chọn ra phần tích cực mà bỏ qua những nhận xét có tính chất phê phán.
Thành thử tìm vào tài liệu của tác giả nào, tôi cũng có thể lướt nhanh phần các nhà nghiên cứu khác đã làm và tìm ngay được phần cần tìm.
Công việc còn lại của tôi chỉ là góp phần chú giải.
Một điều tôi cũng muốn nói thêm: khi giới thiệu quyển sách, một số bạn chỉ nói là tôi dẫn ra các tài liệu từ báo chí, và đây là lời của các “danh nhân”, tức là các nhân vật lịch sử được người đời truyền tụng, được đưa vào sách giáo khoa.
Nhưng xin các bạn đọc lại tên sách: ở mấy dòng nhỏ trên bìa tôi đã nói rõ đây là cách nhìn của các nhà trí thức.
Tôi không nhớ chính xác ở sách nào nhưng chính triết gia hiện đại Francis Fukuyama là người có nói rằng các dân tộc phải được dẫn dắt bởi các trí thức ưu tú của mình.
Áp dụng vào lịch sử Việt Nam đã thấy điều đó thật chính xác. Mà việc đầu tiên của giới trí thức là giúp vào việc tự nhận thức của dân tộc.
Chính các trí thức mới là người đặt vấn đề nhận thức lên trước vấn đề hành động.
Nhất là đối với các trí thức đầu thế kỷ XX, thì do chỗ tiếp nhận được mặt mạnh của văn hóa phương Tây, họ mới có thể có cái nhìn phê phán đối với những chủ đề vẫn được coi là thiêng liêng và không nên bàn nhiều như tính cách dân tộc.
Tôi đã đưa vào sách phần ý kiến của các nhà nho như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... nhưng đây là phần các ông phát biểu khi đã từ bỏ quan niệm của các nhà nho để chuyển sang quan niệm của văn hóa phương Tây.
Trong các tài liệu nghiên cứu về Phan Bội Châu, các nhà sử học thường chỉ chú ý tới giai đoạn trước khi ông bị bắt.
Còn con người và trứ tác của ông sau 1925 cho tới 1940 bị bỏ qua.
Nhưng theo tôi trong tiểu sử Phan Sào Nam, 15 năm cuối đời này quan trọng ở khía cạnh khác.
Ở đó từ một chiến sĩ yêu nước ông trở thành một trí thức.
Đối với những người như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh... lâu nay ta gạt đi không coi họ là những người trí thức chân chính, nhưng chính phần nhận xét của họ về tính cách dân tộc lại rất sắc sảo do đó là phần nòng cốt trong cuốn sách của tôi.(1)
Tôi tiếc là trong cách trình bày hiện nay, cuốn sách chưa có phần index -- hồi trước hay dịch là sách dẫn. Nếu có index, điều tôi vừa nói sẽ hiện ra bằng con số chính xác.
Có một trường hợp hết sức thú vị: nhà nho Phan Kế Bính thường được coi là người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, điều đó chúng ta có thể thấy trong giọng văn có nhiều phần cổ của ông.
Nhưng khi viết cuốn “Việt Nam phong tục” ông đã dành phần lớn chữ nghĩa để nói về những phần tiêu cực trong người Việt, phong tục Việt. Ở chỗ đó thì nhiều trí thức sau này cũng không làm được.
---
Ghi chú
(1) Trong cuốn "Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Guơng Mặt Trí Thức", tập một, do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998, các soạn giả đã chọn ra 71 nhân vật. Đặc điểm trong khi chọn là nhiều lẫn lộn giữa tiêu chuẩn chính trị và tiêu chuẩn văn hóa.
Riêng vào thời kỳ đầu thế kỷ XX , chỉ có Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.
Tài liệu này tôi ghi đã lâu và hôm nay do bệnh tật tôi không kiểm tra lại được.Có thể sau 20 năm các tác giả sách trên đã có cách nghĩ khác.
Nhưng dầu sao tôi vẫn thấy đây là cách nhìn phổ biến hiện nay. Nó không chỉ biểu hiện ở cuốn đã dẫn trên mà còn thấy ở hầu hết các tài liệu khác.
Khi xem xét trí thức, các tác giả này nhấn mạnh yếu tố yêu nước theo cách hiểu về yêu nước đã cũ, buộc trí thức phải tham gia ngay vào công cuộc cứu nước trước mắt mà bỏ qua các trí thức suy nghĩ về sự phát triển lâu dài của đất nước.
Và vai trò của văn hóa phương Tây đối với sự hình thành những giá trị tự do đích thực thì lại chưa được coi trọng đúng mức.
DI CƯ NỘI ĐỊA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA
Ngày 17 tháng 2 năm 2019
Khi nói về văn hóa cư trú, ở ta thường chỉ tới đề cập tới việc xây dựng nhà cửa và khoa kiến trúc.
Trong khi đó cách chọn địa điểm cư trú và cách cư trú của cộng đồng trong một "thời gian lớn" - chữ của nhà nghiên cứu văn hóa M. M.Bakhtin - và trên những khung cảnh lớn, cái đó lại cần quan tâm hơn: đó là những động thái văn hóa ở tầm vĩ mô. Với tư cách một người nghiên cứu nghiệp dư, một cách tự phát, tôi một số quan sát có liên quan tới bộ phận văn hóa nói trên, xin trao đổi cùng các bạn.
NHÌN CHUNG VỀ DI CƯ
1/
"Đúng là một cơ cấu siêu hiện đại nhảy dù xuống một lãnh thổ hoang dại!”
Tôi đã tự nhủ như vậy khi chứng kiến những khách sạn toàn loại năm sao, bốn sao mọc lên ven biển Phú Quốc.
Không biết chụp ảnh nhưng tôi còn nhớ mãi hình ảnh ở góc đường nọ còn chưa có tên - một loạt biển quảng cáo cho những thương hiệu sang trọng cỡ thế giới lố nhố chen nhau giữa một cụm cỏ dại cao hơn đầu người.
Một cuộc nhảy dù khác ít ngoạn mục hơn là cuộc nhảy dù của những người dân của những vùng đất khác nhau tới vùng huyện đảo này.
Họ làm các nghề mà có thể tạm gọi là tạp vụ linh tinh phục vụ cho cả dân bản địa lẫn đám quý tộc hiện đại.
Miền Tây thì cố nhiên là nhiều nhất rồi.
Nhưng có cả những người mãi tận các tỉnh phía bắc.
Nay lại là thời người ta đua nhau đi tìm đặc sản và các cửa hàng ăn hoặc chuyên bán các đồ thủ công nào đó thì không bao giờ quên ghi rõ gốc gác nơi xuất xứ.
Nhớ đầu 2015, cùng anh bạn Nguyễn Văn Thành về thăm Nguyễn Dương Côn.
Hồi 1964, lên làm lính Tây Bắc tôi đã nghe câu ví “Thái Bình là đất ăn chơi – tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành.”
Nhưng đó là “tán”.
Giờ tôi mới biết trước đó Thái Bình đã là đất “tụ”.
Trai bỏ vợ gái bỏ chồng, rồi buôn bán bán thua lỗ, rồi tù oan án nặng - đám người mà xã hội học ngày nay gọi là thiểu số - đua nhau về vùng đất mới này để góp phần làm nên “công nghiệp” – theo nghĩa cũ – của tác giả “Bài ca ngất ngưởng” là ông Doanh điền xứ Nguyễn Công Trứ.
Phú Quốc giờ đây ít nhiều cũng có cái chất của Thái Bình gần hai trăm năm trước.
2/
Hồi còn mồ ma nhà văn hóa học thứ thiệt Trần Quốc Vượng, đọc ông tôi cứ thắc mắc sao ông sớm đi vào các vùng khác nhau khi nghiên cứu văn hóa Việt.
Nay đọc thêm các sách sử hiện đại mới được dịch – mà số một là những trích đoạn từ cuốn “Lịch sử người Việt” của K.Taylor -- , tôi mới hiểu cụ Vượng quá có lý.
Người dân Việt mỗi vùng quê di cư đi đâu cũng mang theo nếp văn hóa vùng mình.
Họ sẽ sống với nhau ra sao ở những vùng mới di chuyển tới ?
Tôi đoán chắc chẳng ai ở ta nghĩ nhiều về việc này.
Nhưng chính các tổ chức quốc tế đã nghĩ hộ.
Mấy năm nay, báo chí đã được phép cho dân biết nước ngoài nói về xứ mình như thế nào.
Bà Phạm Chi Lan mang về cái câu từ miệng một chuyên gia ngoại quốc hàng đầu “Có vẻ như người Việt đất Việt không chịu phát triển” , nghe đã tuyệt rồi.
Đến như cái câu thứ hai “Các anh lấy gì mà trả nợ?” thì thật đã tóm tắt đầy đủ cái tình thế xã hội Việt hiện tại.
Theo cái mạch đó, là chuyện dân di cư nội địa.
Bản thân khái niệm này cũng mới du nhập.
Tôi biết tới nó nhờ một mẩu tin mới nhất tôi đoán ít người chú ý.
"Được sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), sáng ngày 13 tháng 12 năm 2016, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tổ chức Lễ khai mạc triển lãm ảnh di cư có chủ đề “Nơi tôi gọi là nhà”.
Phát biểu tại buổi Lễ, quan chức hàng đầu của Tổng cục này nói “Ngày nay, di cư đã trở thành vấn đề toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, dòng người lao động di cư đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là dòng người lao động di cư từ nông thôn đến thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất. Di cư lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi trường chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các chính sách xã hội đối với người lao động di cư.”
Trong các yếu tố chi phối hiện tượng người di cư nội địa mà người phụ trách vấn đề Việt Nam nói ở đây chỉ thiếu mỗi vấn đề thiên hạ người ta coi là hàng đầu còn riêng ở xứ ta chỉ được xếp áp chót: vấn đề văn hóa.
TỪ ĐỒNG BẰNG LÊN CAO NGUYÊN
Tôi muốn nhân đây nhìn rộng ra một chút.
Ở trên, ta mới xét tác động của môi trường mới với người di cư.
Giờ hãy thử xét thêm những tác động ngược.
Những ý nghĩ sau đây liên quan tới không phải Phú Quốc mà là Tây Nguyên.
Chuyến lên Đắc Lắc của tôi tháng bảy 2016 thật là chuyến đi buồn bã với nghĩa chẳng thấy vị Tây Nguyên đâu cả.
Buôn Mê Thuột là một đô thị giống như nhiều thị xã còi cọc mãi giờ được đôn lên là thành phố, địa điểm duy nhất có chất cao nguyên đất đỏ là Bảo tàng Tây Nguyên được xây dựng dựa trên các thành quả nghiên cứu của người Pháp.
Quay về xem các bản tin phát trên truyền hình chợt thấy thiêu thiếu cái gì, sau nhận ra là sự thiếu vắng không thể tha thứ hình ảnh những đồng bào của anh hùng Núp .
Nghe giọng nói và nghe tên tuổi mấy ông xã trưởng huyện trưởng hoặc các ông kiểm lâm các ông tài nguyên môi trường ... biết ngay không Huế thì Nghệ An không miền trung thì miền bắc.
Những người này hẳn đã và sẽ áp đặt cho Tây Nguyên nơi cư trú mới của họ một nền văn hóa đồng bằng .
Điều gì đã xảy ra và sẽ xảy ra ?
Muốn dự đoán được, chúng ta phải đi vào thực tế Tây Nguyên mà chẳng hạn những hiểu biết của nhà văn kiêm nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc cung cấp thời gian vừa qua rất có ích.
Nhưng còn một yếu tố nữa chúng ta phải tìm tới: những công trình nghiên cứu của thế giới về vấn đề này.
Đó là hiểu biết về tác động của phương thức sinh hoạt con người vừa di cư, bao gồm cả hành động và tư tưởng của họ -- tóm lại tức là tác động của văn hóa mà ở trên đã nói -- với môi trường mà họ mới tới sinh sống.
Thu hoạch bước đầu của tôi: Khi xét và đối chiếu những biến động ở những khoảng thời gian lớn, có một ý tưởng trước hết cần nhớ, đó là hiệu ứng thời gian.
Xưa khoảng thời gian này kéo dài dăm bảy chục năm hoặc hàng trăm năm, nay thì rút ngắn hơn rất nhiều.
TỪ TỈNH LẺ TỚI TRUNG TÂM
TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH PHỐ
NGUY CƠ CỦA CUỘC SỐNG TẠM BỢ
1/
FB Nguyễn Kc Hậu ngày 8/1/2017 có bài mang tên “Sài Gòn dễ sống”, vốn viết từ 12/2015 nay mới đưa lại. Bài viết ca ngợi khả năng mà thành phố từng là hòn ngọc Viễn Đông bao dung những người nhập cư vào thành phố mấy chục năm nay, nên dễ hiểu là được hoan nghênh.
Dân ta vốn có thói quen nhân hậu “thương người như thể thương thân”.
Trong hoàn cảnh hậu chiến, rồi tới công cuộc phát triển kinh tế tự phát hỗn loạn và những biến đổi khí hậu dồn vào mấy chục năm nay, khả năng bao dung của Sài Gòn thật đáng phục, cư dân mới tới phải biết ơn Sài Gòn lắm lắm.
Mặc dầu trái tim của tôi, phần cảm tính trong tôi đồng tình với một suy nghĩ mà tác giả đã ấp ủ nhiều năm như vậy – tôi cũng có nhiều người thân trong gia đình lập nghiệp ở đây -- nhưng lý trí của tôi lại xui tôi lo bàn thêm với nhà nghiên cứu về đề tài này.
Ý tưởng chính của tôi, bên cạnh sự chia sẻ lại có phần bổ sung, hơn nữa có khía cạnh ngược lại với Nguyễn Thị Hậu, nên chắc sẽ làm cho nhiều bạn không đồng tình.
Nhưng tôi thấy cứ nói ra đây, mong bạn đừng tuyệt đối hóa nó, đừng đối lập tôi với một ý tưởng mà chính tôi cũng chia sẻ.
Cái điều mà tôi ngập ngừng mãi không tiện nói nhưng cuối cùng vẫn buộc phải nói ra, gói gọn lại là:
-- Chính vì chấp nhận dân nhập cư một cách bị động, một cách xô bồ dễ dãi mà mấy chục năm nay, Sài Gòn có phần bị pha loãng ra, có phần lùi lại, có phần như đánh mất mình; về mặt kinh tế xã hội Sài Gòn không thể trở thành một đô thị được chuẩn hóa, nó là nỗi niềm mà chúng ta thường kỳ vọng nhất ở thành phố.
2/
Tôi sống ở Hà Nội từ trước 1954 và sống liên tục tới nay. Sau 10/1954, việc nhập cư vào Hà Nội rất khó khăn, trai gái lấy vợ lấy chồng mà “đối tượng” là người ở các địa phương chung quanh thì không được nhập hộ khẩu.
Mới đầu tôi cũng thấy Hà Nội có cách tự vệ khá tốt trước cái hoàn cảnh tư tưởng tiểu nông bao trùm cả xã hội.
Sau tôi mới hiểu hồi ấy đang thời bao cấp, đưa người nhập cư về là phải lập thêm cho họ sổ gạo cùng các loại tem phiếu, một thành phố trung tâm của một đất nước đã bị phá hoại trong tám năm chiến tranh chịu sao nổi.
Đấy, cái lý của Hà Nội khi hạn chế người nhập cư là vậy.
Chứ xét chung thì sau 10-1954, do sự nhập cư thiếu sàng lọc liên tục xảy ra, Hà Nội trở nên quê mùa dần, mà cũng nhốn nháo lộn xộn hẳn đi - ai mà không thấy. Người Hà Nội cũ nhiều khi lại có cảm giác lạc lõng không theo kịp xu thế chủ đạo mới.
Cách quản lý Hà Nội bấy giờ không chỉ là phản khoa học -- khoa học quản lý và phát triển đô thị -- mà còn là ngược với kinh nghiệm của ông cha.
Tìm hiểu các lớp người Hà Nội cũ,, người ta được biết là mặc dù hình thành tự phát, song trong quá khứ, đô thị này phát triển trong quá trình sàng lọc với nghĩa dù làm nghề gì ở thang bậc nào chỉ những tinh hoa từ nơi xa tới mới trụ được ở thành phố, những người kém cỏi có nhoi ra đây cũng phải bán xới từ sớm.
Những người nhập cư tài ba và thông minh này đến với Hà Nội với sự hiểu biết tối thiểu thế nào là đô thị, nó khác với sự hồn nhiên tự nhiên vốn có ở nông thôn.
Nhờ thế họ hòa nhập nhanh, còn Hà Nội vẫn phát triển được mà lại là phát triển đúng hướng trở nên một thành phố đầu tầu của cả nước.
Động thái này cũng phù hợp với quy luật hình thành và tồn tại của các đô thị nói chung trên thế giới: Đô thị phải là sản phẩm của trí tuệ.
Đọc mấy ví dụ Nguyễn Thị Hậu đưa ra về thành công trong hòa nhập của dân nhập cư vào Sài Gòn mấy chục năm qua, tôi cứ ước ao giá có cơ quan nào đó có thể nghiên cứu về những phiền toái mà người dân thành phố phải chịu mấy chục năm qua do nhập cư tùy tiện vô tổ chức.
Trong điều kiện của khoa học xã hội hiện đại, điều này hoàn toàn có thể tính được.
Vả chăng không tính đâu xa, ngay mỗi người dân thành phố đã nhập vào thành phố ba bốn chục năm trước cũng đã cảm thấy gánh nặng của dân nhập cư dăm ba năm nay như thế nào.
Đi lại đông đúc hơn bởi đường xá chật chội hơn.
Công việc bị cạnh tranh không lành mạnh.
Các nơi giải trí quá tải.
Trường học trở thành nơi tranh chấp, điều kiện học hành của con cái ta bị phân tán, chất lượng đào tạo bị hạ thấp.
Tóm lại trong khi đón tiếp dòng người từ các vùng xa trở về, một cách bừa bãi tùy tiện, Sài Gòn cũng được nhiều cái lợi thật, nhưng đó là cái lợi trước mắt. Còn về lâu dài nếu không xử lý tốt – mà chúng ta có làm tốt cái gì bao giờ đâu -- một thành phố luôn luôn có những lớp “đất mượn’ như thế này sẽ rất khó vượt qua giai đoạn dông dài và bị động trong những năm chiến tranh để phát triển theo hướng hiện đại, mà vẫn giữ được cốt cách sang trọng vốn có.
Làm được điều đó không chỉ có lợi cho Sài Gòn mà còn có lợi cho cả nước. Đó là theo quan điểm phát triển. Còn như đặt vấn đề ở góc độ khác, người ta hẳn sẽ đi tới những kết luận khác.
Lấy lại từ bài trên FB 1-2017
Ngày 3 tháng 3 năm 2019
Dăm bảy năm nay, nhiều tờ báo chính trị kinh tế cũng có thêm mục bác sĩ trò chuyện với bệnh nhân. Và thường tôi tìm đọc những loại bài của Nguyễn Chấn Hùng, Lương Lễ Hoàng ... một cách hào hứng vì các bác sĩ đó có cách đặt vấn đề, cách viết rất hiện đại, vượt lên trên trình độ chung của báo chí chính trị xã hội hiện nay.
Từ chuyện nhỏ này tôi muốn nói một khía cạnh khác.
Các bệnh viện luôn luôn xúm xít những người là người. Đến với bệnh viện đôi khi là cả một cái tội. Một anh bạn tôi nói đùa giờ phải khỏe lắm người ta mới đi khám bệnh được.
Cùng với việc chữa bệnh là vấn đề bán thuốc. Có dịp đi du lịch bụi ở vài nước tôi không thấy đâu lắm hiệu thuốc như nước mình. Thời nay có vốn mà làm nghề xuất nhập khẩu thuốc chắc rất trúng. Không bao giờ sợ ế cả.
Ở phố Bồ Đề bên quận Long Biên của tôi, chỉ trong phạm vi khoảng hai trăm mét, đã thấy cả chục hiệu thuốc.
Vậy là các vấn đề sức khỏe con người nổi lên như một vấn đề xã hội có ý nghĩa hàng đầu.
Nói nôm na là ta đang có một cộng đồng rất nhiều người sống trong tình trạng bệnh tật. Các cơ sở y tế chỉ chữa những người ốm nặng thành ốm vừa vừa, và sự khỏe mạnh luôn luôn là phồn vinh giả tạo.
Sự suy thoái mọi mặt trong trong chiến tranh, nay mới thật bộc lộ với chiều sâu của nó. Tiếp đó mấy chục năm hậu chiến người người lao đầu vào cuộc làm ăn kiếm sống, sức khỏe lại bị phá hoại theo kiểu khác.
***
Sức khỏe thể chất của con người trong xã hội ra sao thì sức khỏe tinh thần là vậy!
Ở chỗ riêng tư, một anh bạn tôi đọc nhiều về sử còn mạnh mồm mà bảo rằng có lẽ chưa bao giờ con người ham sống một cách hèn hạ(!) như thời nay.
Tôi cảm thấy nói thế hơi quá lời. Nhưng trong bụng vẫn lảng vảng cái ý nghĩ nay là thời tỷ lệ những người lười biếng nịnh nọt giả dối nói chung là thiếu tư cách trong cả dân thường lẫn quan chức vượt cao hơn hẳn so với thời cũ.
Trong một bài phiếm luận đã viết tôi đã nói thật ra những Chí Phèo hay Xuân tóc đỏ ... còn có tư cách hơn nhiều người đang sống sờ sờ, kể cả những người được xã hội trọng vọng. Vậy mà chưa thấy ai nói khác. Thấy mình có vẻ được đồng tình, tôi lại thêm buồn.
Lúc rỗi rãi, tôi chỉ ước ao có ai đó đứng ra tổng kết về con người đương thời, nhất là xét con người ở tầm cao của ý chí, dục vọng, lòng tự trọng và thể hiện ra ở chiều rộng và chiều cao của trí tuệ. Ta chỉ hay so sánh người mình với người nước ngoài về trình độ hưởng thụ, chứ chưa ai đi vào cắt nghĩa tại sao họ lại đạt được mức sống như vậy.
Ngay cả việc đi vào khảo cứu so sánh con người đương thời với người Việt trong các thời cũ về mặt tinh thần cũng chưa thấy ai bắt tay vào cả. Trong khi đó thì tôi luôn luôn thấy người Việt đương thời có phần hợm hĩnh khi nghĩ về các thế hệ tiền bối song đó chỉ là bề ngoài, bề trong chúng ta ngày nay đuối hơn rất nhiều so với các cụ.
VỨT BỎ SÁCH VỞ Ư?
RỒI LÀM SAO CỨU VÃN NỔI
Ngày 10 tháng 3 năm 2019
1/
Nguyên nhân sâu xa: nỗi thê thảm của trí tuệ
---
Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều đám thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm,có một điều liên quan đến sự học làm người, đó là phải có định hướng về thực tiễn.
Thực tiễn mới là số một,
Sách vở không là gì cả.
Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách, đang đi học.
Một người thích đọc sách dễ bị những người khác coi là ấm đầu,không thức thời, không thể đi xa trên đường lập nghiệp.
Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn.
Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương
Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu khinh rẻ sách chà đạp lên sách như vậy.
Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đưởng sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác, đang bị từ bỏ.
Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ, sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.
Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội là người giàu (tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)
2/
Từ tạm thời bỏ sách
đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở
---
Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay là thời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường.
Lúc này chỉ có hành động là quan trọng.
Không được trù trừ phân vân.
Không được tính trước tính sau gì cả.
Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.
Cái tinh thần chế giễu học vấn mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.
Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết.
Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn.
Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.
Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới.
Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử, nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.
3/
Sự hoàn lương nửa vời
---
Sau chiến tranh, mọi chuyện đã có phần thay đổi.
Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài.
Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu.
Vì phong trào làm sách thời thượng này quá ồ ạt nên những người có thiện chí và muốn tiếp nhận phần tốt đẹp của kiến thức khoa học xã hội và văn học tiên tiến nhất trên thế giới cũng bị lép vế và không sao tìm được cách chuyển tải những tư tưởng đó tới đông đảo bạn đọc.
Nói cách khác bộ phận trí thức nước ta tiếp nhận những cái tốt đẹp của tư tưởng tiên tiến ấy và văn học còn là rất bé nhỏ và tác động của họ với toàn xã hội cũng còn rất hạn chế.
Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng hiện nay ở vào một độ lùi đáng kể với sách vở thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.
Trích ở bài mới đưa trên blog
ĐỌC SÁCH "NGƯỜI XƯA CẢNH TỈNH"
Ngày 14 tháng 3 năm 2019
Dưới đây là một bài viết của GS Nguyễn Văn Tuấn trên trang mạng cá nhân của ông, theo đường link
tôi xin phép được đưa lại để giới thiệu với bạn đọc. Xin cảm ơn ông và xin lỗi đã không đưa được những hình ảnh có trong nguyên bản.
***
"Người xưa cảnh tỉnh" (1) là một quyển sách thuộc vào nhóm sách 'học làm người' thời nay. Nhưng học để tránh thói xấu (chứ không học cái hay). Hai soạn giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh mượn những lời nhận xét của người xưa về những thói hư tật xấu để cảnh tỉnh người Việt ngày nay. Đó là một cuốn sách không hẳn dễ đọc, nhưng khi đã đọc thì khó buông được, bởi vì hình như người đọc có thể tìm thấy hình bóng mình hay những người chung quanh trong từng câu chữ trong sách.
Những sách cảnh tỉnh, vạch ra những thói hư tật xấu của một dân tộc không phải là mới, nhưng mới với Việt Nam. Người Mĩ đã có "The Ugly American". Người Úc có "The Ugly Australian". Người Nhật cũng có một cuốn sách tương tự (do một đại sứ Nhật viết). Gần chúng ta hơn, người Hoa cũng đã có một cuốn sách như thế. Thật vậy, đúng 20 năm trước, tác giả Bá Dương (Bo Yang) đã làm cho cả thế giới và cộng đồng người Hoa xôn xao khi ông cho xuất bản cuốn sách 'Người Hoa Xấu Xí' (Xú Lậu Đích Trung Hoa Nhân). Trong sách, Bá Dương (người Hoa sống ở Đài Loan) liệt kê và phê phán không khoan nhượng những nét văn hóa, những thói quen, những hủ tục 'xấu xa' của người Hoa. Ông không có một chữ nào để viết về những nét văn hóa 'đẹp' của Trung Hoa. Cuốn sách được bán rất chạy, và trở thành đề tài bàn luận của hầu hết các tầng lớp xã hội, từ giới bình dân đến trí thức. Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề 'The Ugly Chinaman and the Crisis of Chinese Culture' (và đã tái bản 3 lần), được xem là 'cẩm nang' của người phương Tây để hiểu biết hơn người Hoa.
Nhưng người Việt thì chưa có một cuốn sách hoàn chỉnh như những cuốn 'ugly' đề cập trên đây; có lẽ cuốn 'Người xưa cảnh tỉnh' là gần nhứt. Tuy chưa có, nhưng các học giả Việt Nam trong quá khứ đã nhiều lần nói lên những tính xấu của người Việt. Họ viết ra những điều đó trong nhiều dịp và bối cảnh khác nhau, có khi rất cá nhân, nhưng nói chung là rất rải rác và rời rạc. Chúng ta chưa có một tổng luận có hệ thống về thói xấu của người Việt.
Sách là một loại 'anthology' hay tập hợp những đoạn văn của các học giả Việt viết về tính cách và thói quen của người Việt. Đó là những học giả sống vào thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 như Nguyễn Trường Tộ, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Ngô ĐứcKế, Đào Duy Anh, Hoàng Đạo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, v.v. Họ viết ra những nhận xét đó trong các bài báo và khảo luận văn hóa. Thời gian họ viết ra trong những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, khi nền báo chí học thuật Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Những nhận xét đó được viết bằng thể văn có khi là học thuật, có khi là ngôn ngữ thô, nhưng nhiều khi là châm chọc.
Sách gồm 2 phần: phần đầu là sưu tập những câu nói của các học giả, và phần hai là tổng luận. Phần I được sưu tập bởi tác giả Vương Trí Nhàn (Hà Nội). Phần II được viết bởi tác giả Trần Văn Chánh (Sài Gòn). Phần đầu, Vương Trí Nhàn có công sưu tập đến 260 câu nói của các học giả. Ông sắp xếp các phát biểu đó dưới 13 tiểu mục: ăn ở, cư trú và mối liên hệ với thiên nhiên; tệ nạn xã hội; dân trí và ý thức xã hội; giáo dục; giao lưu tiếp xúc; tìm tòi học hỏi và tiếp nhận người nước ngoài; làm ăn buôn bán; nói năng, suy nghĩ, lễ nghi, phong tục; quan hệ giữa người với người; tổ chức quản lí làng xã; tổng quát về người Việt; trí thức quan lại; và văn hóa nghệ thuật và học thuật. Phần tóm tắt có thể xem dưới đây (2). Như có thể thấy, đó là một danh sách dài những thói hư tật xấu của người Việt.
Có thể xem cấu trúc quyển sách như là một tiểu luận mang tính học thuật định tính. Phần đầu là những dữ liệu (hay nói 'chứng cứ' cũng được), và phần hai là diễn giải những dữ liệu đó và đặt chúng vào bối cảnh hiện tại. Do đó, đọc phần đầu thì có thể hơi nhàm vì dữ liệu (260 câu trích dẫn), nhưng đọc phần hai thì thấy thú vị hơn vì người đọc sẽ hiểu những dữ liệu đó có ý nghĩa gì, và biết được những cách nhìn của tác giả. Bài tổng luận (tác giả gọi là 'tổng thuật') bắt đầu bằng một trường hợp liên quan đến một tiếp viên của Vietnam Airlines bị tạm giam ở Nhật vì nghi ngờ xách lậu hàng ăn trộm về Việt Nam, và tác giả Trần Văn Chánh bàn về những thói quen không mấy hay ho của người Việt. Tác giả trích lại nhận xét của học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược về người Việt: 'Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác.' Tác giả cho rằng nhận xét đó khá đúng với tâm tánh của người Việt (dĩ nhiên là nói chung), dù nhiều người không muốn nhìn nhận điều đó. Tác giả Vương Trí Nhàn đi đến nhận xét rằng 'Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình.'
Cũng như sách của Bá Dương, quyển 'Người xưa cảnh tỉnh' không có một lời nói nào tốt về người Việt, đơn giản vì đó không phải là mục tiêu của sách. Mục tiêu là mượn lời nói của người xưa để cảnh tỉnh người Việt thời nay. Người Việt thời nay, bên cạnh những nét văn hóa hay, còn có rất rất nhiều thói quen và quán tính chỉ có thể mô tả bằng một cụm từ: khó hòa nhập với thế giới văn minh.
Đó là những thói quen và quán tính mà tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh đề cập đến trong sách. Sách còn có những trích dẫn mà nếu đối chiếu lại ngày nay cũng khá thời sự tính, như nền giáo dục giết chết nhân cách (Đào Duy Anh) và nền giáo dục bị thương mại hóa (Thái Phỉ). Những thói như loanh quanh chỉ những ăn uống (nhận xét của Phan Kế Bính), mê muội hưởng lạc (Nguyễn Trường Tộ), mê tín gây lãng phí, ăn uống chơi bời bên cạnh nỗi đau của người khác (Phan Kế Bính), thạo sử người hơn sử mình (Hoàng Cao Khải), học đòi làm dáng sống sượng (Nguyễn Văn Vĩnh), chỉ biết học cái bề ngoài (Phạm Quỳnh), hiếu danh đến mất tự trọng (Phạm Quỳnh), chỉ trích và châm chọc (Lương Đức Thiệp), hay nghi ngờ và hại nhau trong công việc (Phan Bội Châu), khinh miệt cá nhân (Hoài Thanh), mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác (Hoa Bằng), v.v. tất cả đều dễ dàng nhận ra trong xã hội ngày nay.
Một câu hỏi đặt ra là những thói xấu vừa đề cập có phải là 'văn hóa'. Nếu lí giải rằng cái nền văn hóa Việt Nam là nguyên nhân của những thói hư tật xấu đó có vẻ đơn giản hóa vấn đề, bởi vì người Việt ở nước ngoài có vẻ có ít thói xấu như thế so với người trong nước, và ngay cả ở trong nước cũng có sự khác biệt lớn về lề thói ứng xử giữa người miền Bắc và miền Nam trước 1975, hay sau và trước 1975. Tức là có một yếu tố khác, hơn là văn hóa, có thể giải thích tại sao những cái mà tác giả gọi là 'thói hư tật xấu' của người Việt. Tôi nghĩ rằng đó là thể chế chính trị - xã hội. Khi nói 'thể chế', tôi muốn nói đến cái tiếng Anh gọi là 'institution', chứ không hẳn là chế độ chính trị. Nhưng dĩ nhiên, có người sẽ nói chế độ đẻ ra thể chế văn hóa, nên người ta cũng có lí do qui về chế độ.
Có nhiều nghiên cứu cho thấy người Á châu, kể cả người Việt, ít tin tưởng vào người lạ hơn là người Âu châu. Có lẽ vì văn hóa Á Đông phân biệt tương đối rạch ròi giữa Trong Nhóm và Ngoài Nhóm. Người Trong Nhóm dễ tin hơn người Ngoài Nhóm. Và, có người chỉ ra rằng các tập đoàn kinh tế người Hoa thường do người trong gia đình nắm quyền điều hành, còn các tập đoàn kinh tế Âu Mĩ thì ít có 'thể chế gia đình trị' đó, và do đó có thể giải thích tại sao nhiều tập đoàn kinh tế Á châu khó vươn ra 'biển lớn'. Riêng trường hợp Việt Nam, mới có một cuộc điều tra xã hội cho thấy có khoảng 23% là người ta tin tưởng lẫn nhau, và có đến 80% người trả lời sẵn sàng lợi dụng người khác để hưởng lợi cho mình, nói lên một xã hội bị sứt mẻ niềm tin nghiêm trọng. Với một xã hội như thế thì chúng ta khó kì vọng gì lành mạnh và tươi sáng cho tương lai, cũng giống như bên Tàu, dù kinh tế có phát triển đây đó nhưng thế giới vẫn xem người Hoa là một loại hạng hai.
'Người xưa cảnh tỉnh' có thể làm cho nhiều người cau có, thậm chí giận dữ, bởi vì tác giả chỉ nêu lên những thói xấu của người Việt. Nhưng nếu có những nhận xét giận dữ và phản ứng hằn học với quyển sách thì điều đó chỉ thêm minh chứng về tính xấu của người Việt mà thôi. Tuy quyển sách chưa phải là một quyển 'Người Việt Xấu Xí' (chứ chưa chắc 'xấu xa') như cuốn của Bá Dương, vì tác giả chỉ 'mượn' người xưa, chứ chưa trực diện tấn công như Bá Dương. Tuy nhiên, những lời của người xưa và lí giải trong sách cũng đáng để chúng ta tham khảo.
Nhưng mục tiêu của tác giả là cảnh tỉnh người thời nay. Cảnh tỉnh để tự sửa mình. Khi được hỏi người Việt nên bắt đầu từ đâu để tự sửa mình, tác giả nghĩ đến giáo dục và luật pháp. Tôi nghĩ đó có lẽ cũng là câu trả lời nhiều người nghĩ đến, nhưng chưa đủ. Giáo dục và luật pháp chịu sự chi phối nặng nề của thể chế chính trị, cho nên tôi nghĩ cái gốc và cũng là nơi khởi đầu chỉnh sửa chính là thể chế. Ngoài thể chế, tôi nghĩ vai trò của tôn giáo độc lập cũng vô cùng quan trọng. Có rất nhiều nghiên cứu tâm lí xã hội ở phương Tây cho thấy mối liên hệ dương tính giữa đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân và mức độ hoạt động độc lập của tôn giáo. Do đó, cảnh tỉnh là ở cấp độ cá nhân, dù rất quan trọng, nhưng vẫn cần phải có sự tác động của 'hệ thống' thể chế và tôn giáo.
'Người xưa cảnh tỉnh' cũng có thể ví như là một tấm gương. Tấm gương đó có tác dụng phản chiếu để mỗi chúng ta nhìn thấy những tì vết tâm lí của chính mình mỗi ngày. Tôi nghĩ cuốn sách xứng đáng có mặt trong tủ sách của mỗi gia đình người Việt. Tác giả Bá Dương đã qua đời năm 2008, và trước ngày qua đời ông nhận định rằng cuốn sách 'Người Trung Hoa Xấu Xí' của ông đã giúp cho người Hoa tốt hơn. Chúng ta cũng hi vọng rằng quyền 'Người xưa cảnh tỉnh' của hai tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh cũng có tác động tích cực như thế cho người Việt trong tương lai.
====
(1) Sách "Người xưa cảnh tỉnh: thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỉ 20" của hai tác giả Vương Trí Nhàn (sưu tầm) và Trần Văn Chánh (luận giải), do Nxb Tổng Hợp ấn hành năm 2018. Sách dày 284 trang, khổ nhỏ, giá bán 90,000 đồng.
NGUYENVANTUAN.INFO
tuan | Single Post
Professor Tuan Nguyen | Australia | Nguyễn Văn Tuấn
CHẲNG NHẼ TRIỆT HẠ LẪN NHAU
LẠI LÀ MỘT NGUYÊN TẮC SỐNG
CỦA NGƯỜI VIỆT?
Ngày 18 tháng 3 năm 2019
1/
Đọc truyện Thạch Sanh một trong những chi tiết tôi nhớ nhất, là khi Thạch Sanh chém được Mãng Xà Vương rồi, thì lập tức bị Lý Thông cướp công, và sự ăn cướp này đã lên đến mức tột cùng tàn bạo.
Khi nghĩ đến chi tiết này, tôi tự hỏi, tại sao Lý Thông lại chọn cách tận diệt Thạch Sanh như vậy.
Có thể làm khác lắm chứ, chẳng hạn, cứu Thạch Sanh lên, đưa Thạch Sanh và công chúa vào chầu đức vua cả hai cùng hưởng vinh hoa phú quý.
Đằng này, Lý Thông lại không cần nghĩ ngợi gì nhiều, lấp cửa hang để cho Thạch Sanh phải chết.
Hình như Lý Thông nhất định không chịu chia sẻ chiến công cứu công chúa với ai mà chỉ muốn một mình tọa hưởng và trong việc đó thì có phạm phải những tội ác lớn nhất cũng không từ.
Liên hệ với những sự kiện trong lịch sử dân tộc, tôi nhớ là lịch sử nước ta bao gồm rất nhiều cuộc nội chiến và trong những cuộc huynh đệ tương tàn đó, người ta không thể cùng chia sẻ quyền lợi mà chỉ nghĩ đến quyền lợi của phe phái mình, không hề nghĩ rằng làm thế tức là làm yếu đi sức mạnh của cộng đồng.
2/
Liên hệ với một trường hợp quen thuộc khác là truyện Tấm Cám. Khi Tấm được trời phật phù hộ, mẹ con Cám có thể chia vui mừng với Tấm lắm chứ .
Nếu Tấm làm hoàng hậu thì mẹ con Cám thả nào chả xin được một vai nào đó trong bộ máy quý tộc, và đối với cuộc đời mò cua bắt ốc hôm qua, thì đã là một bước đổi đời đáng mơ ước.
Nhưng mẹ con Cám lại chỉ nghĩ đến cách là triệt hạ Tấm bằng được (cho Tấm trèo cây cau và ở dưới chặt cây) rồi đưa Cám vào cung tính chuyện thay thế Tấm.
Ngay ở những người đàn bà có quan hệ ruột thịt với nhau thì khi chia chác quyền lợi vẫn chỉ có cách là “có tao không có mày”.
Những khái niệm gọi là cùng thắng (win-win) không bao giờ có trong đầu óc những người dân Việt kể cả những người bình thường.
Mà Tấm thì cũng đâu có thoát được lối nghĩ đó.
Một phần chủ yếu trong truyện Tấm Cám là giành để nói về cuộc đời Tấm sau khi trở thành hoàng hậu. Hồi tôi còn học cấp II, các thầy thường giảng là đoạn này phản ánh cuộc đấu tranh kiên trì giữa thiện và ác.
Nhưng hôm nay tôi muốn hiểu một cách khác.
Đây là một dẫn chứng về việc ở ta rồi những người tốt nhất cũng rất dễ trở thành người xấu và người ác như thế nào. Vâng, Tấm đã giết Cám một cách rất hồn nhiên như đoạn chuyện kể sau
( tôi dẫn theo bản ghi trong “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi
- Chị Tấm ơi chị Tấm, chị làm thế nào mà đẹp thế? Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:
- Có muốn đẹp không để chị giúp!
Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố.
Ta hãy thử nghĩ vân vi một chút. Nếu là một người có lối suy nghĩ bình thường, Tấm có thể bình tĩnh giảng giải cho Cám rằng không ai làm lại được thân thể, da dẻ mình và một sự thực như thế, thì làm gì mà Cám không hiểu nổi. Lần này nữa, Tấm cũng lại dùng đến một hình thức nó đã trở thanh bản năng tự nhiên trong người Tấm. tận diệt đối tượng cạnh tranh với mình.
3/
Tôi viết những dòng này trong khi đang bị những vụ nước chám nước mắm,vụ Thủ Thiêm, vụ Lộc Hưng ....ám ảnh hàng ngày. Chúng ta rất cần tìm hiểu cách suy nghĩ của các đại gia hiện nay. Ham muốn làm giàu là cả một nguyện vọng chính đáng. Nhưng tại sao họ lại tìm tới cách tận diệt đồng bào mình như vậy. Hay họ chính là nhũng người Việt " điển hình" tiếp nhận được nhũng "tinh hoa" trong quá khứ?
CHỈ CÓ NGƯỜI MÌNH LÀ NHẤT !
Ngày 19 tháng 3 năm 2019
Theo nhà nghiên cứu Nhật Shiba Ryôtarô (1923-1996), một khuynh hướng của người Việt là “xem người dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác”... do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.
Nhận xét này được nhiều người nước ngoài khác nhắc lại.
Trên đường học lại lịch sử Việt Nam, tôi rất cảm ơn tập san Nghiên cứu Huế (NCH) của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan (một GS trung học ở Sài gòn trước 1975)
Tập san do ông chủ trì sau 1975 đã giới thiệu hàng loạt bài của các tác giả nước ngoài viết về xã hội và con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Từ số Một ra đầu 1999, tập san này đã có in bài "Việt Nam vào thế kỷ XIX" qua hồi ký của John White, John Crawfurd George Gibson, tác giả là người Anh Patrick J. Honey.
Ông này là nhà nghiên cứu kỳ cựu về Việt Nam.Theo chỗ tôi nhớ (nếu bạn nào phát hiện là sai xin báo lại cho tôi ngay), ông chính là tác giả bài viết về Việt Nam in trong Đại Bách khoa toàn thư Anh bộ sách hàng đầu thế giới.
Ở tr 221, số NCH nói trên, sau khi nói về nhiều mặt sinh hoạt khác của người Việt, Patrick J. Honey có trích một đoạn trong hồi ký của Crawfurd:
“Người Việt rất tự kiêu và tự coi như dân tộc bậc nhất trên thế giới, không cả chịu nhận người Trung Hoa là người hơn mình. Họ coi người Cao Miên là man rợ và đối với người Xiêm La thì cũng chẳng nể nang gì hơn.”
Tôi thấy tin thêm ở các nhận xét loại này, khi nhớ lại một chi tiết trong truyện Tấm Cám.
Đó là đoạn vua hay hoàng tử cho mọi phụ nữ vào thử hài để tìm cho ra người đẹp. Khi Tấm đến thử, mẹ Cám cũng có mặt ở đấy.
Bà ta khinh rẻ Tấm coi thường Tấm không muốn cho Tấm nên người, nên bảo Cám:
Chuông khánh còn chả ăn ai
Nữa ư mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre.
Ta có thể đoán trong thâm tâm của mẹ Cám, lúc này nảy sinh một cảm giác tự nhiên không cần nghĩ ngợi gì nhiều cứ buột ngay ra.
Là sự kiêu căng thấy mình thuộc loại ưu hạng (chuông khánh), còn mọi kẻ khác đều là méo mó nửa đời nửa đoạn (mảnh chĩnh vứt bờ tre).
Quan họ Bắc Ninh cũng có đôi câu phảng phất tinh thần trên:
"Tôi đi khắp bốn phương trời
Không đâu lịch sự như người ở đây"
Rồi thì làng nào khen làng ấy vùng nào khen vùng ấy, cái tinh thần kiêu ngạo lây lan khắp nơi.
Nói theo ngôn ngữ hiện đại, tức “thiên hạ là cứt hết” “chỉ có mình là nhất, chỉ mình mới xứng đáng với những gì cao đẹp” và không còn nghi ngờ gì nữa “mình đây hơn hẳn thiên hạ”.
Ngẫu nhiên chăng? Không phải.
Đấy là lối nghĩ phổ biến của cả cộng đồng, bao gồm từ các bậc trí giả đến người bình thường.
Nó cũng ăn vào tâm lý cộng đồng và trở thành một nét tâm lý dân tộc bền vững trong trường kỳ lịch sử, chi phối các cá nhân khi phải xử lý mối quan hệ với người các dân tộc khác.
Lúc còn trẻ con chúng tôi đã được nghe người lớn bảo nhau "Ngớ ngẩn như chú Tầu nghe kèn".
Lớn lên, ở miền Bắc thì nghe chê Nga ngố.
Vào Sài Gòn sau 1975 cũng thấy người dân bảo nhau rằng nhiều khi thằng Mỹ rất dại.
Những gì ta thường tự nghĩ là ẩn kín trong lòng, và chỉ nói với nhau chỗ riêng tư, nhiều người nước ngoài khi tiếp xúc với người Việt, đã nhận ra từ rất sớm.
Thế còn tại sao từ các thế kỷ trước người mình lại có lối nghĩ thế này và những biến tướng của nó trong xã hội hiện đại ra sao, đấy là các đề tài tôi sẽ suy nghĩ tiếp.
TỰ ĐÁNH MẤT MÌNH
Ngày 23 tháng 3 năm 2019
Trong báo Tuổi trẻ cuối tuần, số ra ngày 11 – 11- 2018, tôi đọc được nhận xét của một nhà nhiếp ảnh nước ngoài viết về các di tích ở Đồng bằng bắc bộ, trong trường hợp này là chùa Phật Tích ở Bắc Ninh:
Đối với tôi, chùa Phật Tích đã vĩnh viễn biến mất trên trái đất này.
Ông nói điều này, sau khi chứng kiến chùa Phật Tích nói ở trên được tu tạo và gần như làm lại, tốn rất nhiều tiền của, nhưng lại cho thấy một ngôi chùa có cốt cách và tinh thần khác hẳn ngôi chùa cũ.
Tôi nhớ lại cái cảm tưởng của mình khi thấy trong một số Tuổi trẻ cũ hơn nữa, đưa tin về vùng đất du lịch Sa Pa nay bị thay đổi hết cái tinh thần vùng đất cũ, cách sinh sống của người dân như bao đời vốn vậy, và thay vào đó là những khách sạn hiện đại những phương tiện sống hiên đại nhưng lại chả có gì dính dáng đến nền văn hóa cổ truyền của những con người trên mảnh đất mà cha ông họ đã bao đời sinh sống.
Tôi muốn lăp lại cái câu của nhiêp ảnh gia người Pháp.
Tôi tin chắc rằng rồi đây du lịch Sa Pa dù có đông hơn những loại khách phàm tục nhưng sẽ ngày càng ít đi những người khách tử tế muốn làm những chuyến du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để hiểu biết thêm về sự đa dạng của con người và đất nước Việt Nam.
Chuyện xảy ra với Sapa lại đang xảy ra với Đà Lạt và ở nhiều nơi khác
Một lần tôi đã được nghe một sinh viên Mỹ nhắc lại một câu của nhà văn Vũ Bằng:”Chúng ta luôn luôn cảm thấy là đang đánh mất một cái gì đó rất quý báu, dù không biết thật rõ là mất cái gì”.
Đó là cảm tưởng của một con người sống trong thời VN bước vào hiện đại hóa lần thứ nhất và dù nhiều thay đổi nhưng căn bản vẫn là rất thịnh trị, thời của những năm tiền chiến huy hoàng.
Tiếp đó là chiến tranh.
Rồi tiếp đó là 40 năm hậu chiến mà so về mặt phá hoại bộ mặt của đất nước, thì thời chiến chúng ta còn làm một cách vô ý thức, chứ đến lúc hòa bình, thì chúng ta lại càng phá hoại tàn bạo hơn.
Một lần anh Trần Huy Quang là một nhà nghiên cứu xã hội học có nói với tôi về cảm tưởng của anh khi đi lại trên đường phố Sài Gòn. Anh bảo là từ ngày có tòa nhà Vincom đặt ở giữa phố Đồng Khởi thì anh không còn muốn đi lại trên con đường trước 1975 gọi là đường Tự Do đó nữa.
Năm 1984, cậu em tôi sau khi đi bộ đội, vào Sài Gòn kiếm việc bằng cách làm bảo vệ cho một căn nhà của phòng văn hóa Quận 1 trên đường Canmet.Sau này khi có gia đình cậu chuyển về sống ở quận Gò Vấp, và bây giờ sống ở quận 12. Những năm trước trong khi dẫn tôi từ bắc vào đi thăm thú Sài Gòn, thường bao giờ cậu cũng dẫn qua đường Đồng Khởi và đường Nguyễn Huệ. Một lần cậu thủ thỉ với tôi rằng Sài Gòn thật là Sài Gòn thì chỉ có quận nhứt. Ở đó người ta sống theo một quy luật riêng và hình như làm nên một xã hội riêng mà người ở các vùng khác không thể nào hiểu nổi. Cậu nói điều đó mấy lần khoảng 10 năm trước đây, nhưng những năm gần đây thì không bao giờ nhắc lại cái câu đó nữa, và khi tôi hỏi thì cậu lảng tránh, gần như không muốn nhắc tới một cái gì quý báu vừa đánh mất mà chỉ càng nói càng thấy đau lòng.
Chúng ta không thể sống khác được sao?
Chẵng nhẽ chúng ta không thể vừa có hiện tại vừa có quá khứ ?
Ngày 30 tháng 3 năm 2019
(Ghi chép khi đi du lịch bụi tháng 5-2010)
Chủ tâm của tôi đi lần này là muốn tìm hiểu thêm nền văn hoá Trung Hoa ngoài lục địa. Tôi đã làm điều này một phần trong những chuyến đi Singapore, Malaysia. Lần này, đối tượng khảo sát sẽ điển hình hơn (xin phép dùng chữ “khảo sát” cho oai. Đi nhặt nhạnh thêm ít tư liệu, thế thôi!)
Năm giờ chiều, giờ Đài Loan, chúng tôi xuống sân bay Đào Viên và ra cửa. Ngồi trên ô tô, nhìn ra chung quanh, ấn tượng lớn nhất là hình như chả có gì đập mạnh vào trí não của mình cả.
Sau khi đã đi qua Bắc Kinh, Thượng Hải, cảm giác của tôi, khi đi trên đất Đài Bắc, cũng tương tự như cảm giác sang Praha sau khi qua Moskva.
Từ cái khổng lồ đồ sộ, sang cái đời thường, cỡ quen với tầm mắt cách nghĩ của mình. Từ cái ham hố để khẳng định, thậm chí như là khoe mẽ, sang cái thanh thản, vừa phải. Nhà Đài Bắc 15-20 tầng là cao nhất, nhiều khi chỉ độ 10 tầng. Tỏa ra sau những đại lộ là những dãy phố nhỏ. Không có những vỉa hè thênh thang. Không có những hàng cây thật đều thật đẹp. Không thấy nhiều biển quảng cáo. Không thấy những ngôi nhà mới xây, pa-nô khai trương còn giăng đỏ chói.
… Nhưng chính vì thế, tôi cảm thấy dễ gần. Một dự cảm mách bảo tôi rằng không chừng đây sẽ là thành phố thân thiện.
+ ++
Một lần -- 1998 - đến thăm lăng Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh mà tôi nhớ mãi. Tuyệt vời theo nghĩa vừa độc đáo, vừa hoàn toàn có thể hiểu được, và thật tương xứng với cảnh quan núi non chung quanh, đúng là khu lăng mộ mang tầm vóc quốc gia.
Khu kỷ niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc không đẹp bằng. Nó gợi cảm giác có một cái xác quá to so với sức thu hút toát ra ngay từ lần gặp đầu tiên. Gian thờ chỉ gồm bức tượng, trông như những ngôi chùa từ thời Đường Tống ở núi Nga Mi. Toà nhà chính trông lại phảng phất phong vị Mãn Châu. Cũng mảng ngói màu xanh, tường trắng. Không có cái vẻ thâm u. Không gợi sự thiêng liêng xa vời. Nhưng chính vì thế lại mang lại cho người tới thăm -- dù chỉ lai vãng vài chục phút – một cảm giác gần gũi. Từ khu tưởng niệm ra phố, không cảm thấy hụt hẫng. Nói cách khác, cả khu tưởng niệm đã là một phần của đời sống người dân Đài Bắc.
+++
Tự nhủ du khách sẽ hiểu về người Đài Loan, nếu hiểu thêm lịch sử của họ. Sau 1949 mảnh đất bị Nhật đô hộ năm chục năm trở thành nơi nương náu của một đoàn quân thất bại. Sự tự trọng đã làm cho họ trở nên đứng vững trong thế giới này.
Khi ra đảo, cái xã hội Dân quốc bị thu nhỏ lại. Không còn đất đai không còn thành quách di sản. Nhưng còn con người, trước tiên là những gì trong đầu óc con người và hiện ra ở sách vở, ở những hiện vật trong Viện bảo tàng Cố cung. Tức còn văn hóa, thứ văn hoá Trung Hoa cổ điển đã đồng hóa được những ảnh hưởng phương Tây từ đầu thế kỷ XX. Thứ văn hóa này, có thể nói, có trong dòng máu mỗi người. Trong suy nghĩ và tình cảm. Trong thói quen sinh hoạt. Trong niềm tin tự khẳng định và khao khát có mặt trên thế giới.
Trong bước đường cùng, thế là người ta vẫn có một cõi riêng để tiếp tục làm người. Đài Loan vì thế có lẽ là ví dụ nổi bật về sự có mặt và sức mạnh của văn hoá.
+++
Tôi đã nói rằng đến Đài Loan để tìm hiểu thêm về văn hoá Trung Hoa ở một điểm mà nó như bị dồn ép, bị bứng từ nơi này qua nơi khác, như người ta bứng một bồn hoa, một chậu cảnh.
Khía cạnh bảo thủ rõ nhất thấy ở nơi đây, là vào các hiệu sách, thấy sách in ra chủ yếu vẫn theo lối in dọc từng cột chữ không phải theo lối in ngang đã phổ biến khắp nơi.
Đọc thư mục một cuốn sách, đáng lẽ ghi là in năm 1984, thì người ta lại đề là năm Dân quốc 73.
Đi sâu vào cách nói cách trình bày của sách vở, thấy vẫn nhiều từ ngữ, nhiều câu cú rộng ra là nhiều phương thức biểu hiện người ta thấy ở nước Trung Hoa thời Lỗ Tấn, chứ không phải Trung Hoa đại lục hôm nay.
TRÂN TRỌNG ẢNH HƯỞNG PHƯƠNG TÂY
Trước khi đi, tôi đã lên mạng, đọc sơ qua các tài liệu trên đó viết về Đài Loan. Cả những ghi chép cá nhân của một số bạn trẻ. Và bây giờ mang ra hỏi người hướng dẫn. Hoá ra sai nhiều quá, nghe tôi nói mấy người ngớ ra rồi cười .
Có bạn trẻ viết là Đài Bắc có một cửa hàng bán sách mở của 24/24.
Có bạn lại chụp cái ảnh Cố Cung, khiến tôi tưởng ở Thành phố Cảng này có một Cố Cung làm phỏng theo nguyên bản ở Bắc Kinh.
Toàn chuyện giời ơi đất hỡi!
Theo chương trình hôm ấy chúng tôi thăm “Dòng sông tình ái”, nhưng trong không khí oi ả của chiều hè, đoạn sông đào này chả có gì là mơ mộng.
May quá, người hướng dẫn cho chúng tôi đã tìm ra một địa điểm thay thế là ngôi nhà lãnh sự quán Anh lập từ thời nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII.
Nhớ lần qua Malacca, chỗ Malaysia giáp sang Singapore, cũng có một khu vực người ta xác định là dấu vết đầu tiên của người châu Âu trên mảnh đất xa xôi này.
Họ coi sự tiếp nhận với phương Tây đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử xã hội của họ.
Còn ở ta, ở Việt Nam, những chỗ ấy thường bị bỏ qua, thành hoang phế, hoặc để cho cái mới chồng lên cái cũ một cách bừa bãi.
Có một nhận xét bất chợt đến trong đầu tôi, Đài Loan giống như một phòng thí nghiệm ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá Trung Hoa và văn hoá phương Tây, một sự kết hợp nhuần nhị, chắc chắn, bền vững…
DÂN CHỦ TRONG CÁCH HIỂU CỦA PLATON
Ngày 31 tháng 3 năm 2019
Trong cuốn "Câu chuyện triết học" của Will Durant, bản dịch của Trí Hải và Bửu Đích, in ra từ trước 1975, NXB Văn hóa Thông tin tái bản 2008, ở các trang 29-30, người ta có thể đọc được những lời dẫn giải sau:
Về sự tham gia của đám đông vào việc quản lý xã hội, Will Durant lưu ý một nhận xét của Platon
Khi chính thể dân chủ đến, kẻ nghèo chiến thắng đối thủ của họ, tàn sát một số, trục xuất một số, và cho tất cả mọi người tự do bình đẳng.
Nhưng chính thể dân chủ tự phá hủy vì [bề ngoài] quá dân chủ.
Họ – đây muốn chỉ những người đề xuất chính thể dân chủ – muốn rằng tất cả mọi người đều có quyền tham gia chính phủ và ấn định đường lối quốc gia.
Sau khi bảo rằng mới xem qua thì việc bầu cử phổ thông – tức là cho tất cả mọi người tham gia vào việc lựa chọn các thành viên của bộ máy quyền lực – là một lý tưởng quá ư tốt đẹp, W. Durant cài ngay vào đấy cái ý của Platon cảnh báo rằng thực ra việc đó vô cùng nguy hiểm. Vì dân chúng không được giáo dục để có thể lựa chọn người tài giỏi ra cầm quyền và tìm ra đường lối thích hợp nhất.
Dân chúng không có kiến thức, họ chỉ lặp lại những điều nhà cầm quyền nói với họ.
Phát triển ý của Platon, Durant cũng đi guốc vào bụng các nhà chính trị khi chỉ rõ cái chiến thuật xoàng xĩnh: muốn ủng hộ hoặc đả phá một học thuyết, chỉ cần soạn những vở kịch [hiểu theo nghĩa rộng những tác phẩm văn nghệ] trong đó những học thuyết kia được đem ra chỉ trích hoặc cổ võ, rồi trình bày trước công chúng.
Thế là tha hồ dắt mũi họ.
….
Tổng kết về chuyện bầu bán, W. Durant viết:
Dân chúng rất ưa những lời nịnh hót; những kẻ khôn ngoan và vô liêm sỉ, tự gán cho mình cái nhãn hiệu bảo vệ dân chúng [nói lên tiếng nói dân chúng] thường được mở ra cả cơ hội lớn để nắm quyền lực tối cao.
Chính Platon đã tỏ ra kinh ngạc về sự điên rồ khi giao cho quần chúng [đang còn là đám đông những kẻ chưa trưởng thành] trọng trách chọn người cầm giềng mối quốc gia.
Về sự có mặt của một vài đại biểu đám đông trong bộ máy quyền lực
Theo W. Durant, Platon phàn nàn rằng đối với một việc nhỏ như việc đóng giày, may quần áo, người ta còn phải lựa chọn những người thợ chuyên môn, tại sao trong lĩnh vực chính trị là một lĩnh vực có tầm ảnh hưởng rộng lớn, người ta có thể tin rằng bất cứ kẻ nào chiếm được nhiều phiếu [hậu quả của việc được bảo kê hoặc giỏi tiếp thị trước công chúng] đều biết cách trị nước an dân.
Khi chúng ta bị bệnh, chúng ta không kiếm những thày thuốc đẹp trai hoặc những thày thuốc dẻo mồm khoe khoang mà mời bằng được những y sĩ lành nghề đã trải qua nhiều năm đèn sách và học tập.
Thế thì tại sao khi quốc gia lâm nguy chúng ta không tìm tới những người khôn ngoan nhất đức hạnh nhất?
Rút lại, theo W.Durant, ý của Platon là:
Để cho dân chúng cầm quyền không khác gì để cho con thuyền quốc gia lướt trong vùng bão tố, miệng lưỡi bọn chính trị gia càng làm mặt nước nổi sóng và có thể lật ngược cả hướng đi của con thuyền.
Không chóng thì chầy, một chính thể như vậy sẽ rơi vào con đường độc tài.
Tìm ra mọi phương pháp để loại bỏ bọn bất tài và bịp bợm ra khỏi bộ máy quyền lực.
Chọn lựa cho được những kẻ tài cao đức trọng.
Đó là vấn đề chính của triết lý chính trị.
Trích trong bài đưa trên blog ngày 12/10/14
HIỂU SAO VỀ HY VỌNG & TUYỆT VỌNG ?
Ngày 3 tháng 4 năm 2019
Nhân dân đã bị làm hỏng?.
Một lớp trí thức chân chính có khả năng hướng dẫn xã hội đi tới không biết bao giờ mới hình thành và đứng ra đảm đương hiệu quả vai trò của mình?
Nhưng chẳng nhẽ xã hội ta hết đường thay đổi?
Một kết luận cực đoan như thế lâu nay trong đầu óc tôi cứ hình thành dần dần và mặc dầu tôi đã tìm cách gạt đi nó vẫn trở lại.
Tôi lúng túng không dám đối mặt với nó, tự nghĩ rằng có lẽ phải tìm được nhiều ví dụ nữa để chứng minh ngược lại; và quan trọng hơn, phải nghiên cứu để tìm ra cách đổi thay vận mệnh.
Một công trình như thế một hai người làm sao nổi?
Nhưng xin cứ ghi nó ra đây, âu cũng là một cách để sống lại cái ý mà các nhà tư tưởng nhiều thế kỷ trước đã nói
"Con người không bao giờ được phép đầu hàng."
Gần với ta hơn, tôi nhớ có câu của Trịnh Công Sơn "Tôi ơi đừng tuyệt vọng!".
Tuy nhiên, chắc một số bạn cũng như tôi, nhiều lúc nghĩ rằng cái lối tự nhủ như thế, có vẻ như là một cách tự lừa mình, tự an ủi mình để sống cho qua ngày.
----
Trên đường học hỏi, tôi tìm được một vài ý tưởng hiện đại hơn. Trong đó có nhiều câu giúp ta giải tỏa những vướng mắc siêu hình
+ Lớp người như tôi ghi tâm khắc cốt "Bài ca hy vọng" của Văn Ký do nghệ sĩ Khánh Vân hát.
Từ hồi có mạng, tôi có nghe thêm mấy người khác như Mỹ Bình, Trung Kiên và chỉ thẩy Rơ Chem Phiang là đạt một cái mốc như Khánh Vân.
Nhưng một nam ca sĩ là Lão Nông thì có câu bình luận rất hay: Bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng.
+ Một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam. Bà bảo người diễn viên phải diễn sao cho "trong cái được có cái mất, trong cái vui có cái buồn, trong cái vô vọng có cái hy vọng", thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.
+ Và cái câu tuyệt vời nhất, gần với hoàn cảnh chúng ta hôm nay nhất là mệnh đề kép của của nhà văn Pháp A. Camus, lúc này đây tôi chỉ nhớ đại ý :
"Phải từ giã hết mọi hy vọng trần thế thì mới đạt được cái hy vọng chân chính"
Tức là trước mắt chưa phải là hành động mà phải suy nghĩ nhiều nữa suy nghĩ đến cùng thì mới tìm ra được cách hành động hợp lý và hiệu quả.
MUỐN VIẾT TỐT VỀ THÓI HƯ TẬT XẤU
CẦN CÓ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA
Ngày 5 tháng 4 năm 2019
Một ít kinh nghiệm nghề nghiệp
1/
Từ năm 1991, bên Viện khoa học xã hội VN “chạy” được một đề tài cấp nhà nước là chương trình nghiên cứu về văn hóa do nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm, trong đó có đề tài Đề cương văn hóa Việt nam trong giai đoạn mới (KX 04-17). Nhà văn Tô Hoài được phân công quản đề tài này. Ông chọn Hoàng Ngọc Hiến, Ngọc Trai và tôi làm chân rết.
Trong thời gian làm thư ký cho đề tài, tôi có dịp đọc tàm tạm một số sách từ lý luận văn hóa nói chung tới các công trình nghiên cứu về văn hóa VN trước đây.
Bản thân tôi đã viết được một tiểu luận hơn trăm trang đánh máy mang tên Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hóa Việt Nam (đã đưa lên trang blog của tôi).
Sự thực là nó còn yếu. Hồi ấy, tôi chỉ mới vỡ lòng về văn hóa VN. Thứ lý luận văn hóa tôi dùng lúc đó cũng là các tài liệu nghiên cứu văn hóa Anh Mỹ, dịch ra tiếng Nga – và đây là chỗ “tự mở đường” của tôi, song việc học hỏi đâu có là chuyện ăn xổi vài năm như thế được.
Vả chăng, tôi cũng tự biết cái tạng của mình. Tôi không đi theo lối hàn lâm dù là rất coi trọng các tài liệu hàn lâm. Tôi chỉ làm những thứ người ta gọi “cò con”.
Sẵn các tri thức tích lũy được từ thời gian làm việc trong nhóm Tô Hoài, – tôi mạnh dạn xông lên viết các bài phiếm luận về văn hóa, ngoài TT&VH là tờ báo chính tôi cộng tác lúc ấy còn gửi đăng cả trên Tuổi trẻ, Nông thôn ngày nay, Người đại biểu nhân dân, Thời báo kinh tế Sài gòn … và sau này đã tập hợp lại một phần trong hai cuốn sách Nhân nào quả ấy (2004) và Những chấn thương tâm lý hiện đại (2009).
Từ đó trở đi, việc học hỏi lý luận văn hóa vẫn được tôi theo đuổi đều đều. Tôi cho rằng ngay khi viết về những vấn đề thời sự như bạo lực lễ hội, sự vô cảm trong con người... các nhà báo cũng phải có một cái khung lý thuyết chắc chắn thì bài viết mới sâu sắc được.
2/
Khi viết riêng về các nhà văn, tôi đã mang tiếng là chỉ thạo về việc nhìn ra thói xấu cùng những non kém của đồng nghiệp. Khi nhìn chung ra cả xã hội, tôi cũng cứ chứng nào tật ấy. Thế thì làm sao mà dám đi vào nghiên cứu văn hóa như tôi định làm.
May quá một lần, tôi tìm được những gợi ý.
Trong khi ước ao đi tới một sự khái quát về văn hóa VN, ngoài việc đọc lý luận chay, tôi thường tìm đọc các cuốn lịch sử văn hóa nước ngoài, lấy đó làm mẫu để học theo.
Có một điều thú vị là mở đầu các cuốn lịch sử văn hóa ấy, các tác giả ngoại quốc thường dành khá nhiều tâm lực cho việc trình bày lý luận chung về văn hóa và ở đó tôi tìm được điểm tựa cho các lý lẽ mà tôi mới chỉ nhận biết theo cảm tính.
Lần ấy tôi tìm được cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc Ngô Vĩnh Chính và Vương Miện Quý chủ biên, Lương Duy Thứ và các đồng sự VN lo việc dịch ra tiếng Việt , nxb Văn hóa—thông tin H.2004. Ở bộ sách này, tôi đọc được cả một chương mang tên Tinh hoa và căn bã của văn hóa Trung quốc, trong đó nêu lên một khái quát: “Đương nhiên văn hóa Trung quốc có mặt ưu tú nhưng cũng có mặt lạc hậu thậm chí thủ cựu thối nát.” (Sđd tr 22).
Trong phần viết về ảnh hưởng của triết lý tới dân tình, phong tục, các tác giả này có đoạn viết liên quan tới toàn bộ tính cách dân tộc Trung Hoa:
-- Tinh thần nhân văn thành thục quá sớm của triết học cổ đại Trung Quốc, sự lan tràn của luân lý đạo đức, cách nhấn mạnh quá đáng tới sự hài hòa và trung dung, tất cả những đặc điểm đó cũng đem lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho dân tộc ví như thiếu tinh thần mạo hiểm, vượt khó, năng lực tự lập tự giải quyết mọi việc .thấp kém, tập quán tư duy thiên về hình như thượng [một thuật ngữ nay ít dùng; thời trước nó được xem là tương đương với khái niệm siêu hình học], các quan niệm truyền thống mang tính tuần hoàn phong bế… Rồi sự hình thành tính cách dân tộc nội khuynh, bảo thủ thuận tòng, không tranh đấu…Những điều đó cần thẳng thắn nhìn nhận (sđd, tr 83).
Từ lúc nhồi được cái thứ đó vào đầu, tôi thêm cả quyết trong việc dành hẳn thời gian và sức lực cho mục tìm hiểu thói hư tật xấu với phần công việc khó khăn mà hấp dẫn:
+ Phải vượt lên trên những biểu hiện cụ thể để tìm tới những đặc tính tổng quát, nó nằm trong cách sống cách nghĩ của người mình.
+ Phải tìm cách giải thích cho được sự hình thành các tính cách đó ở cộng đồng, chính việc này mở đường cho từng cá nhân suy nghĩ, khơi gợi năng lực tự nhận thức ở họ rồi cùng họ mỗi người tính chuyện tự thay đổi.
Tức là tôi đã được giải phóng về mặt tư tưởng.
Nên nhớ là tôi đi vào con đường nghiên cứu văn hóa một cách nghiệp dư.
Phần lớn các nhà nghiên cứu hiện thời thiên về tìm cách nói một chiều, nói tốt, nói theo hướng ca ngợi hết lời đối với văn hóa VN.
Hóa ra họ chỉ minh họa các ý tưởng mà người ta đặt hàng cho họ.
Do không bị bó buộc vào một nhiệm vụ nào được giao – đúng ra là không kiếm sống, kiếm danh vị và lợi lộc từ công tác nghiên cứu, -- tôi cảm thấy mình có được chút tự do tối thiểu.
Nhưng tôi vẫn bị cái lý luận chính thống về văn hóa đương thời khống chế. Giờ đây do nhìn rộng ra các nền văn hóa khác và tìm được những cơ sở lý luận khác, tôi mới thực sự tự do với nghĩa đi trên một con đường riêng tôi thấy đúng đắn nhất.
Nhiều lần tôi đã ăn đòn vì loạt bài thói hư tật xấu này.
Về chuyện bị đám đông ném đá thì không nói làm gì. Tôi còn bị cả bạn bè và các đồng nghiệp chê bai, hiềm khích, bác bỏ.
Tôi nhớ khoảng những năm 90, đọc các phác thảo công trình lớn của một người nay trở thành giáo sư đầu ngành của giới nghiên cứu văn hóa, tôi có bảo với ông mấy ý:
* chỗ kiểm tra để biết một hướng nghiên cứu có đúng hay không là đối chiếu nó với thực tiễn.
* bởi lẽ văn hóa là cái làm nên nội lực của một cộng đồng cho nên, với bức tranh văn hóa như anh miêu tả, thì tôi nghĩ là dân VN sẽ không có một cuộc sống khó khăn bế tắc như hiện nay.
* Anh cho phép tôi đi tới cùng của sự suy nghĩ nhá. Với một dân tình như hiện nay bức tranh văn hóa mà anh vẽ ra thậm chí có tác dụng ru ngủ họ, làm hại họ. Nghĩa là nguy hiểm cơ đấy.
Ông ta giận tôi lắm. Sau khi gọi điện xỉ vả tôi - là dân nghiên cứu nghiệp dư mà đã ti toe, không đọc nhiều sách bằng ông nên không thể nói liều - ông không bao giờ ông muốn nhìn mặt tôi nữa.
Nhưng có điều cú đòn như vậy có mang lại cho tôi chút tích cực!
Tôi thường nghĩ lại và thấy phải cảm ơn ông bạn quý đó. Nghĩ đến ông, tôi lo nghiên cứu các vấn đề cần viết một cách kỹ lưỡng hơn, để viết thuyết phục hơn. Không chỉ văn hóa học mà đây cũng là lúc tôi phải trở lại với sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học, và nhất là xã hội học...Có rộng mới có sâu. Cái ý tưởng mà lần đầu tôi dọc được từ một bài viết của cụ Đặng Thai Mai, giờ càng thấy đúng.
Trích ở bài
Tôi đã mò mẫm đi vào con đường nghiên cứu văn hóa như thế nào?
CAMPUCHIA,
MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC
MỘT CÁCH NGHĨ KHÁC
Ngày 7 tháng 4 năm 2019
Ngoài chuyện tiền bạc, về tâm lý thôi mà nói, tôi thường đã rất ngại, không dám tính đi du lịch các nước giàu có bên trời Tây. Lý do là vì đi về chỉ thấy buồn, sao ở đó người ta sướng thế tử tế thế mà nước mình con người hư hỏng và xã hội trì trệ đến thế.
Nhớ có lần đọc một câu của B. Russel, do Hà Văn Tấn dẫn lại, bàn về sự hấp dẫn của sử, đại ý nói là đọc sử để hiểu những ngu ngốc của thời xưa do đó dễ dàng chịu đựng hơn những ngu ngốc của thời nay.
Tôi cũng muốn làm theo lời khuyên đó, và chuyển nó từ trục thời gian xoay qua trục không gian.
Tức là, nếu điều kiện cho phép, tôi thích đi lang thang ở những nước nghèo nước khổ, để khi quay về thấy yên tâm với nước mình.
Ví dụ như đi châu Phi, hay mấy nước kem kem ở Trung Đông và Đông Nam Á.
Nói thế thôi, chứ bây giờ chả ai nghèo khổ nữa, không bằng Tây nhưng họ biết học Tây để phát triển.
Chỉ có riêng ta, chả học làm ăn gì cả -- sau chục năm hô hào nay cái nghĩa của hai chữ hội nhập tóm lại ở một nội dung là mua hàng ngoại về mà xài - nên đằng sau vẻ sặc sỡ giả tạo là sự nghèo nàn thực sự, tìm nước chán hơn nước mình rất khó.
Tuy nhiên ở đâu thì qua sự so sánh cũng rút ra được ít suy nghĩ có ích .
Tôi đến Campuchia tháng 11-2010 với tâm thế đó và đã
cảm thấy có một chuyến đi có ích.
---
MỘT THỜI THANH BÌNH
Cảm tưởng bao trùm khi đi trên những con đường quốc lộ nơi đây là một sự bình thản. Làng xóm yên lành, trên nền không gian rộng rãi. Người ta không đổ ra đường để buôn bán.
Đến Pnompenh, sự bình thản ấy vẫn còn. Đô thị không có nghĩa là chen chúc. Xe máy đã nhiều hơn xe đạp, nhưng không thành những dòng sông cuộn nước. Ngay ở các ngã tư chưa có đèn đỏ, vẫn thấy có hiện tượng ô tô nhường nhau chứ không thúc vào đít nhau mà còi loạn lên như ở Hà Nội.
Pnompenh đây rồi. Vào một buổi chiều người đi đông nghìn nghịt ngoài đường, -- sau đó tôi mới biết là ngày hội té nước, cầu bắc qua sông bị gãy, tiếp đó là sự kiện bi thảm hơn ba trăm người chết và vài trăm khác bị thương.
Tuy nhiên, nếu như ở VN, việc đó sẽ làm cho cả thành phố rung động thì ở đây, mọi chuyện không gây hoảng hốt quá đáng.
Nhà nước không làm ầm lên cái chuyện kịp thời lo cứu trợ cho dân.
Sáng hôm sau, trước bãi cỏ hoàng cung, những người công nhân vệ sinh bình tĩnh dọn rác.
Hàng đàn bồ câu bay lên.
Trước cửa bệnh viện, người đến thăm nom không rên rỉ khóc lóc động trời mà xếp hàng vào thăm người thân khá trật tự.
Họ tin rằng xã hội sẽ biết cứu giúp người thân của mình một cách tốt nhất.
--
NHỮNG CÁI KHÔNG Ở SIEMRIEP
Ở đây tôi càng như trở lại một thời thanh bình cổ điển. Không thấy những đám thiếu niên làm ồn trên đường và chen chúc nhau trong các cửa hàng chơi game.
Không thấy các thiếu nữ váy dài váy ngắn, mắt xanh mỏ đỏ.
Không thấy các đám công chức túm tụm bia rượu.
Tôi tự giải thích cho tôi về sự thanh bình này:
Chiến tranh đã đi qua đất nước này, nhưng nó không xới lật lên tất cả, nó không biến con người trở thành những cái bã của chính mình thời tiền chiến.
Nếu sau chiến tranh người Việt mình không ai bảo ai gần như phát cuồng lên lao đi kiếm sống thì ở đây, người Miên yên tâm với tình cảnh của mình
Con người không quá nhiều ham muốn.
Không tính trả thù cho những năm tháng vất vả vì chiến tranh.
Không tự biến mình thành một xã hội tiêu thụ.
Đặc biệt vì Siemriep là nơi nhiều du khách nước ngoài tới để thăm Ăngkor Wát Ăng co Thom, nên tôi lại chứng kiến một nét khác làm nên lòng tự tin của văn hóa Campuchia. Họ không coi người nước ngoài là cái nguồn kiếm sống. Lại càng không coi những cái ngoại lai ấy là cái mẫu để học đòi bắt chước từng ly từng tí.
Họ tự tin ở cách sống riêng của người Campuchia và biết học hỏi người nước ngoài một cách khôn ngoan và thận trọng.
---
BÌNH THẢN TRƯỚC LỊCH SỬ
Cả ở Pnompenh lẫn Siemriep, phố xá được đặt tên bằng các con số là chủ yếu. Rất ít phố ở đây lấy tên người để đặt như ở bên ta.
Người Campuchia hình như không quá quan trọng đối với quá khứ của mình.
Lại càng không coi việc đặt tên một người cho đường phố là cách thưởng công cho người đó, vô hình trung tạo nên một cuộc chạy đua lố bịch.
Sống sát ngay Angko Wat Angkor Thom, nhưng người dân Siemriep không coi đó là nguồn kiếm sống, không chen chúc vào trung tâm để mở cửa hàng.
Mà người các địa phương khác cũng không rồng rắn kéo về cố đô để lây niềm tự hào .
Họ thản nhiên sống cạnh lịch sử, đến mức tôi cảm thấy hình như họ nghĩ rằng mình chưa đủ trình độ để giải thích quá khứ của mình.
Cảm tưởng này lại đến với tôi khi thăm Bảo tàng quốc gia Campuchia ở Pnomgpenh.
Giá vé vào cửa đắt, những 12 USD, nên người bản xứ vào không nhiều.
Thế sao chính phủ không tìm cách giảm giá vé để cho dân vào?
Sau tôi mới biết thật ra bảo tàng này do người Pháp chủ trì xây dựng đâu từ 1925 và đến nay vẫn giữ nguyên theo cách trình bày ban đầu.
Tức Bảo tàng này trình bày lịch sử Campuchia bằng con mắt người Pháp, chứ không phải bị cải tạo đi theo ý chủ nhà như ở ta.
Nhưng cái du khách bắt gặp ở bảo tàng lại là một xứ Campuchia đích thực, và tôi ngờ khi tới thăm nó cả người bản địa lẫn người nước ngoài đều hiểu và yêu Campuchia hơn.
Còn dân Việt từ quan đến dân do nghĩ rằng “không ai hiểu mình bằng mình”, chỉ biết làm ra những thứ bảo tàng quá nhiều đồ giả quá nhiều khẩu hiệu, phần xem được không bao nhiêu.
Thử hỏi giữa ta với người hàng xóm ai biết tôn trọng quá khứ hơn ai?
CHÙA CHIỀN VÀ SƯ SÃI Ở ĐÀI LOAN
Ngày 17 tháng 4 năm 2019
(Trích ghi chép trong một chuyến du lịch bụi 5-2010)
---
THIÊNG LIÊNG, THUẦN KHIẾT
Đền Văn Vũ ở Đài Trung có một cách kết cấu rất lạ, mà tôi chưa gặp ở Trung quốc bao giờ ( hay là có mà tôi không biết?): đem Khổng Tử và Quan Công đặt chung trong một ngôi đền.
Ngoài cửa, hai bên tả hữu, có ghi rõ, một bên là Trọng Võ, một bên là Sùng Văn. Tinh thần này được thể hiện trong kết cấu ngôi đền.
Phần thờ Khổng Tử được đặt cao hơn, với bức hoành phi Vạn thế sự biểu, giống như ở Văn Miếu Hà Nội.
Nhưng phần thờ Quan Vân Trường mới thật hoành tráng và hấp dẫn.
Đến chùa Phật Quang Sơn. Bức tượng lớn 40 mét bằng vàng không quan trọng bằng toàn cảnh ngôi chùa. Tôi gặp ở đây không khí một thắng cảnh văn hoá Trung Hoa. Thật vậy, mặc dù thiếu vẻ cổ kính, chùa Phật Quang làm tôi nhớ tới, chẳng hạn, Linh Ẩn Tự ở Hàng Châu.
Một tinh thần nghiêm trang của đạo Phật đang ngự trị.
Trong lúc lo chụp ảnh, một người cùng đi trong đoàn du lịch chúng tôi đã từng qua cả Ấn Độ nhận xét:
- Anh xem, trên các phù điêu tượng Phật này, mặt người nào cũng quá đẹp, cũng thuần hậu mà thánh thiện .
Còn tôi, thì tôi yêu ngôi chùa này, ở hai khía cạnh khác.
Một là những hàng chữ đẹp, đẹp một cách sâu đằm mà phóng túng, tương tự như thứ văn hóa thư pháp có mặt ở Cố Cung, Di Hoà Viên, ở các danh thắng Hàng Châu, Tô Châu, đất Giang Nam hoa lệ .
Hai là cảnh những người đang học ở học viện Phật giáo này đi lại trong khuôn viên ngôi chùa. Họ như đang sống trong một thế giới khác. Cả những người ngồi làm “công việc hành chính” ở các bàn thờ nữa. Thường họ nói khẽ đủ cho người nghe. Thành kính thiêng liêng toát lên từ nét mặt cử chỉ của họ.
Thoáng có ý nghĩ, đây có lẽ là cả một quan niệm về tu hành. Còn ở Việt Nam hôm nay, hình như trong nhiều trường hợp, đi tu chỉ là nhận lấy vai trò môi giới chúng nhân với thần thánh. Tu hành giống như một công việc mà không phải là niềm tin, là lẽ sống. Có đúng thế không hay do sự quan sát và tiếp xúc còn hạn chế của bản thân, mà tôi có ấn tượng như vậy? Cuộc sống phàm tục xô đẩy khiến con người trở nên vô duyên với những gì cao khiết chân chính.
THÀNH KÍNH THÂN THIỆN
Cũng như ở VN, bên ngoài các khu du lịch đại lục là hàng dãy các hàng bán đồ lưu niệm. Ở Đài Loan thì khác.
Cả khu vực Phật Quang Sơn tôi không gặp. Khu vực Hồ Sen chỉ có một bà già ngồi lặng lẽ. Người ta trong lúc chờ đợi xúm quanh một ông già thổi kèn đồng. Trong tiếng kèn nghiệp dư, chất nhạc Đặng Lệ Quân vẫn toát lên gần gũi, đúng là cái vẻ trữ tình riêng thấy ở những bài ca thầm thì mà chúng tôi thường nghe trong đêm khuya.
Các đền miếu nơi đây chả đâu có hòm công đức. Hoặc là nếu bề ngoài hình như có thì nội dung khác hẳn.
Trên đường vào đền Xuân Thu ở Cao Hùng, ở một quãng ngoặt cũng có đặt một cái hòm và có cả một bà già ngồi cạnh.
Bà vui vẻ mời mọi người đặt vào vài đồng xu tiết kiệm nếu có, và để bù lại, bà đưa chúng tôi mấy tờ bưu ảnh.
Còn ở một khu miếu gần đấy, anh bạn cùng đoàn ghé qua, thì sau khi đặt một khoản nho nhỏ tiền “công đức” như ta gọi, anh được nhận một cái vòng tràng hạt đeo tay, chắc là mua ngoài cũng khá đắt.
Tôi buộc phải dừng lại ở cái chi tiết này lặt vặt này vì không quên được cảm giác bên nhà.
Vào nhiều đền chùa Việt Nam, những hòm công đức đặt trước chúng tôi như thầm vang lên những lời đe nạt:
- Có muốn yên lành tử tế, có muốn được trời phật phù hộ không? Liệu mà đóng góp vào đây đi!
Đằng này là một tinh thần hoàn toàn khác.
Đôi khi tôi muốn nói rằng trong nhiều trường hợp ở Hà Nội và các vùng chung quanh, nhiều người đã làm những công việc tôn giáo bằng một tinh thần phàm tục, bao gồm cả hợm hĩnh.
Và tình thế xảy ra giống như một sự áp chế nhau.
Tôi không tin đó là tinh thần hướng thượng chân chính.
Hai bên đường cao tốc từ Đài Bắc qua Đài Trung tới Cao Hùng thỉnh thoảng chúng tôi cũng bắt gặp những nghĩa trang. Lạ một điều là mộ ở Đài Loan thường chỉ xây rất thấp, hàng gạch viền quanh mộ độ 20cm, bia đặt đầu mộ chỉ nhỉnh cao hơn một chút độ 30-40cm gì đấy, dù là trên đó, vẫn đọc được những dòng chữ Hán viết theo lối cổ.
PHẢI MẠNH MẼ
THÌ MỚI CÓ THỂ TRUNG THỰC
Ngày 17 tháng 5 năm 2019
Theo tờ Văn học nước ngoài của Hội nhà văn, vào dịp một năm ngày mất của L. N.Tolstoi 28-8-1828 / 20-11-1910, văn hào Pháp Anatole France có đọc một diễn văn tại Đại học Sorbonne 12-11-1911 trong đó có đoạn có cái ý theo tôi là hơi lạ:
“Bằng cuộc đời của mình, Người đưa ra tuyên ngôn của cái chân thực, thẳng thắn trung tín kiên quyết; của chủ nghĩa anh hùng điềm đạm và bền vững.
Người dạy chúng ta phải thực thà và mạnh mẽ.
Quả vậy, chúng ta phải mạnh mẽ để không tàn bạo
phải mạnh mẽ để có thể trung thực, để được hiền hòa ,để được an dịu.
Phải mạnh mẽ thậm chí là để cười nữa.
Chính vì Người có đầy sức mạnh cho nên bao giờ Người cũng trung thực.
Yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
(… ) Tolstoi kêu gọi chúng ta phải chân thực và như thế là Người đang khơi gợi để chúng ta tranh luận với Người một khi Người mắc sai lầm...”
Tôi rất thích cái ý người ta phải mạnh mẽ thì mới không tàn bạo, phải mạnh mẽ để có thể trung thực, và yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.
Có thể dùng nó để giải thích tình trạng hiện thời trong cách đối xử với nhau của cộng đồng Việt.
1/ Nhiều khi người ta tàn bạo với nhau giả dối với nhau chỉ vì quá yếu.
Yếu nhưng lại ác. Càng yếu càng ác.
2/ Những kẻ không dám tranh luận với ta bao giờ cũng là những kẻ yếu.
Họ thường cắt cổ ta bằng những cái cưa cùn.
NHỮNG NGƯỜI ĐAN MẠCH ĐÃ ĐỐI PHÓ VỚI
ĐỨC QUỐC XÃ RA SAO?
hay là
TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA MỘT CUỘC ĐẦU HÀNG
Ngày 20 tháng 5 năm 2019
Khi tìm hiểu khi nào thì tiến hành chiến tranh là bắt buộc và liệu có thể đầu hàng mà vẫn giữ được danh dự và khí phách dân tộc hay không người ta hay dẫn chứng trường hợp tháng 4 năm 1940 Đan Mạch đã đầu hàng Đức.
Đầu hàng mà lại có lợi cho dân tộc ư? - đối với nước mình thì đây là một chuyện thật lạ.
Nhưng thực tế ngày càng có nhiều người - trong đó cả những nhà lịch sử thông thái nhất - rất nhiều người hiện nay coi hành động đầu hàng ở đây là một việc rất cần thiết và hợp lý.
May mắn cho tôi là trong khi tìm hiểu vấn đề này từ năm năm trước đã tìm thấy đoạn một đoạn trên Facebook của bạn Bạch Huỳnh Duy Linh, tôi đã cất kỹ và nay xin giới thiệu để mọi người cùng biết.
Các bạn muốn đọc đầy đủ cả bài của Bạch Huỳnh Duy Linh chỉ cần vào gogle gõ hàng chữ
“Bảo vệ tổ quốc không chỉ có nghĩa là cầm súng và lao vào những trận đánh tự sát”
thì sẽ tìm thấy
-----
Trong lúc người láng giềng Nauy kéo dài cuộc chiến gần một tháng, thì hai tiếng sau khi Đức Quốc xã tuyên chiến, đức vua Đan Mạch đã tuyên bố mở cửa biên giới và chấp nhận sự chiếm đóng của Đức. Đổi lại, đức vua vẫn sẽ được tại vị và Đan Mạch được duy trì bộ máy chính quyền riêng với quyền lực hạn chế. Suốt năm năm bị chiếm đóng, Đan Mạch là một trong những quốc gia mà phong trào kháng chiến diễn ra yếu ớt nhất.
Kết quả là Đan Mạch bước ra khỏi cuộc chiến mà không hề có thành phố nào của mình bị phá hủy. Hàng ngàn người Do Thái được che chở dưới cái bóng của đức vua đã thoát khỏi họa diệt chủng.
Cái giá cho sự sống còn và nền hòa bình đó là năm năm cúi đầu của đức vua Đan Mạch. Giai đoạn đó sau này thủ tướng Đan Mạch gọi là “không thể biện minh về mặt đạo đức”.
Tuy vậy, chính sách này có đúng hay sai thì kết quả là một nền hòa bình, tuy có phần bấp bênh, đã được duy trì ở Đan Mạch suốt thế chiến.
Chiến tranh suy cho cùng cũng là để kiến tạo và bảo vệ nền hòa bình.
Nhưng thỏa hiệp đôi lúc cũng là cách để duy trì sự sống.
Cái khác nhau giữa một chế độ vì dân và một chế độ mị dân là ở chỗ, chế độ mị dân có thể kêu gọi một cuộc chiến tranh vệ quốc nhưng bản chất cũng chỉ là để bảo vệ cho chế độ và che dấu sự yếu kém trong chính sách ngoại giao của mình, trong khi một chế độ vì dân có thể kêu gọi người dân bỏ vũ khí nhưng mạnh mẽ trên bàn đàm phán các thỏa thuận đầu hàng.
Khi Đức Quốc xã đặt vấn đề bắt giam người Do Thái trên đất Đan Mạch, vua Đan Mạch đã tuyên bố: “nếu bắt dân của tôi thì hãy bắt luôn cả tôi”.
Sau đó, bằng sự kiêu hãnh của một vương gia, ngài tuần hành trên lưng ngựa qua các đường phố Kobenhavn mà không cần lính gác trong sự tán dương của mọi người, bất chấp các cảnh báo ám sát từ phía Quốc xã.
Đó là biểu tượng của một chế độ vì dân.
Ở chế độ mị dân, dân đen chết vì để bảo vệ ngôi vua.
Ở chế độ vì dân, hoàng đế nhận về mình áp lực để bảo vệ con dân.
Bảo vệ tổ quốc không chỉ có nghĩa là cầm súng và lao vào những trận đánh tự sát.
Bảo vệ tổ quốc chính là việc sử dụng khí phách của dân tộc để đánh lui ý chí xâm lăng của kẻ thù.
Khí phách dân tộc là gì? Đó là thể hiện ở thái độ thức thời và không màng đến lợi ích cá nhân của người cầm quyền.
Là một dân tộc biết đối xử văn minh với người dân của quốc gia thù địch.
Là thái độ tuy buông súng nhưng không đầu hàng.
Là một chế độ chịu lắng nghe những giải pháp có lý và có lợi cho dân tộc mà không bị đè nén bởi ý thức hệ.
Và là tiếng nói của những người không cầm súng vì hòa bình chứ không phải vì sợ hãi.
Quốc gia có thể bị chiếm đóng nhưng phần hồn dân tộc vẫn vẹn nguyên.
Saddam Hussein đã từng kêu gọi người dân chiến đấu vệ quốc chống lại một kẻ địch đông hơn, hiện đại hơn và thiện chiến hơn, đó có phải là một chế độ vì dân hay không?
MỘT CHÚT LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM
TỪ CÂU CHUYỆN
ĐAN MẠCH ĐẦU HÀNG ĐỨC QUỐC XÃ
Ngày 23 tháng 5 năm 2019
“Tổ quốc có thể mất nhưng nếu nhân dân còn thì sẽ có ngày lấy lại được. Còn nếu như nhân dân đã mất thì tổ quốc có còn ( hoặc có giành được) cũng không có mấy ý nghĩa” .
Trên đây là kết luận một người bạn tôi rút ra từ câu chuyện nước Đan Mạch đầu hàng Đức Quốc xã mà tôi nói hôm trước và cho là nó cũng đúng với Việt Nam.
Tôi phản đối anh bạn bằng cách nói rằng ở Việt Nam sau cuộc chiến tranh 45 năm chúng ta được cả nhân dân dân và tổ quốc chứ, sao lại có thể vơ vào đây cái chuyện Đan Mạch 1940 .
Bạn tôi trả lời hơi dài dòng như sau.
Khi đầu hàng bằng phát xít theo kiểu của mình tức là những người chèo lái đất nước Đan Mạch hiểu nhân dân rất dễ bị tổn thương trong chiến tranh, chọn con đường tạm thời hi sinh danh dự trước mắt tổ quốc để bảo toàn nhân dân là con đường khôn ngoan nhất.
Còn nhân dân thì sẽ có ngày lấy lại được tổ quốc.
Tổ quốc có được nhân dân với ý nghĩa tốt đẹp của mình mới là tổ quốc đáng mong mỏi.
Còn ở ta “cấp trên” nghĩ rằng không có chuyện đó không cần đặt ra chuyện đó. Nhân dân mãi mãi tồn tại với thực chất tốt đẹp của mình trước mọi biến động lịch sử,
Bề ngoài thì sau cuộc chiến 1945- 1975 ta được cả hai. Nhưng tình hình “phát triển” hôm nay cho thấy ở ta sau cuộc chiến này yếu tố thứ hai - yếu tố nhân dân - không còn như cũ nữa. Do đã tham gia quá sâu vào chiến tranh - người ta đã xác định chiến tranh ở ta là chiến tranh nhân dân - sang thời hậu chiến dân ta không còn là một nhân dân mà chúng ta được giáo huấn và vẫn tin theo
Ra khỏi chiến tranh , nhân dân đã bị biến dạng và mang biết bao nhiêu thói xấu tới mức phải nói là đã hư hỏng nên họ không còn khả năng xây dựng lại cuộc sống theo những quy luật bình thường nữa.
Chúng ta chỉ còn nhân dân ở cái tên gọi hình thức.
Như vậy thì với cuộc chiến tranh 30 năm những nhà lãnh đạo ở ta chẳng phải là đã mất nhân dân là gì và khi đó khả năng tổ quốc tiếp tục bị đe dọa như chúng ta đang thấy là có thể hiểu được.
Ngoại xâm bây giờ không chỉ có nghĩa là người nước ngoài mang quân sang xâm lược rồi áp đặt bộ máy cai trị với người của họ.
Mà họ xâm lược bằng cách điều khiển bộ máy người Việt “phát triển” đất nước ta theo cách có lợi cho họ
Đó là hình thức xâm lược mà chỉ thời nay mới có
Bề ngoài tổ quốc vẫn còn nhưng thực chất là thế nào thì chúng ta đều biết.
Tôi hơi giật mình nhưng chưa biết cãi lại thế nào đành ghi lại ở đây để các bạn cùng nghĩ.
P/S Xin nói thêm - tôi không giấu cái chuyện có nhiều cảm tình với suy nghĩ của người bạn vừa dẫn ở trên, khởi đầu bằng cái luận điểm trươc mọi biến động lịch sử nhân dân mới là yếu tố thứ nhất
Có thể là cái nhìn của chúng tôi có phần quá đáng nhưng phải nói sau cuộc chiến tranh khủng khiếp, dân ta đang hư hỏng trông thấy
- nhân dân vô nghề vô nghiệp
- nhân dân “đói ăn vụng túng làm càn “
- nhân dân suy đồi đạo đức
- nhân dân chỉ ham hưởng thụ,
- nhân dân dối trá,
- nhân dân mê tín dị đoan
Còn về phần mình mỗi chúng ta cũng đã và đang hư hỏng , đã và đang bị hoàn cảnh tha hóa theo cái nhịp biến chuyền chung của xã hội.
Trên đây là những điều chúng tôi cảm thấy hàng ngày hàng giờ và thường bàn nhau mà chưa thể lý giải hết . Nếu được quan tâm chúng tôi sẽ chia sẻ với các bạn những suy nghĩ tiếp .
TỪNG CÓ MỘT NƠI
HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ LÀM HỎNG CON NGƯỜI
Ngày 26 tháng 5 năm 2019
Mặc dù chê trách tôi về mặt lập luận, nhưng sau bài tôi viết lần trước ngày 23/5/2019, không ít bạn đã đồng tình với tôi về việc con người Việt Nam hôm nay đang bị làm hỏng một cách toàn diện. Chúng ta chẳng bao giờ nên bi quan một cách tuyệt đối, song sự làm lại con người hiện nay thì quả thật là khó, lý do là vì như chúng ta đều biết, mặc dù chưa từng được tổng kết nhưng hoàn cảnh lúc ấy nhất là cuộc chiến tranh 1945 – 1975 thật quá đặc biệt nó khốc liệt vượt qua sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.
Chỉ cần nói thêm là tôi đã nói điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quan sát những con người miền bắc từng được sống được giáo dục như tôi và trải qua chiến tranh theo kiểu chúng tôi, trong khi đó thì nếu nhìn cả thực tế nước Việt Nam sẽ thấy còn có những con người được giáo dục theo kiểu khác có những niềm tin khác bị những quy luật khác chi phối và nay nhiều người vẫn đứng vững trước mọi biến động để làm ăn sinh sống rất tử tế. Xét trên đại thể, trong tình thế ngổn ngang của cả nước hôm nay những người còn được cái căn bản của con người ấy mới chính là cái tương lai là niềm hi vọng của cả xã hội.
Có một sự việc xảy ra mấy ngày hôm nay, nó làm tôi thấy thêm cụ thể về cái kết luận trên.
Ngày 22/5 và mấy ngày sau trên mạng dày đặc những bài viết về cái chết của nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 – 2019). Con người đã từng tham gia nhóm Sáng tạo bên cạnh Thanh Tâm Tuyền Mai Thảo, con người từng có mặt trong các trại tù cải tạo tổng cộng 13 năm và đã từ biệt cõi đời trên đất Mỹ xa xôi, con người đó có dịp hiện ra trước cả những người còn biết rất ít về ông như bản thân tôi một chân dung với niềm tin sâu sắc, bộc lộ ở những nét tình cảm như ủ kín mà vẫn tuôn trào, trong những dòng thơ miên man, đôi khi khúc mắc nhưng thật ra là từng dòng đều chắt lọc, nói lên cái khắc khoải cuối cùng của cuộc đời ông, đó là bài thơ “Ta về” mà rất nhiều người thú nhận rằng đã đọc lên là không thể bỏ xuống được.
Trước tiên cái đáng ghi nhận nhất của bài thơ “Ta về” là nó cho ta thấy cái cao thượng của những con người bị rơi vào hoàn cảnh bên thua cuộc và sau đó là tù đày cực khổ mà vẫn giữ được lòng mình trầm tĩnh, nhìn ngẫm về cuộc đời trong đó có đủ cả sự trân trọng những gì tưởng như đơn sơ nhưng gần gũi nhất của ngày hôm qua, lẫn sự tha thiết sống tiếp cuộc sống hôm nay và muốn lây truyền đạt những điều tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau. Ở đây con người trong cảnh khốn cùng tuyệt đối không thấy bộc lộ ra một chút nào gọi là oán thù căm giận trách móc. Thay vào đó là sự tin yêu trầm lắng mà lại dai dẳng đầy sức ám ảnh.
Cái sức mạnh tinh thần của con người ở đây tưởng như muốn ghìm xuống ẩn giấu mà vẫn ngời ngời, khiến cho cái hoàn cảnh tưởng rất bi đát lại vẫn hiện lên với đủ vẻ tươi tắn và đầy hy vọng.
Con người tưởng như đã đi hết mọi nỗi cực khổ và đau đớn của đời sống hóa ra vẫn còn lại với tâm thế bình tĩnh nghĩ lại về cuộc đời đã qua và muốn truyền lại những thể nghiệm sống của mình cho những người khác.
Trong những năm chiến tranh, nhiều người ở miền bắc chúng tôi thường tự nhủ rằng mình đã đi đến tận cùng của sự đau khổ và tự hào là những hoàn cảnh khó khăn không làm gì được mình trước sau mình vẫn nguyên vẹn. Hóa ra chúng tôi nhầm. Một cái gì đó rất tốt đẹp đã chết đi trong chúng tôi, bởi sang thời hậu chiến nhiều người tự cho là mình có quyền làm tất cả những điều không được phép làm và coi đó là sự đền đáp đúng hơn là sự vớt vát lại chút hạnh phúc trần thế mà chúng tôi đã bị tước mất. Cái sự bị làm hỏng mà tôi nói trong bài trước gần như được mọi người miền bắc coi là tự nhiên.
Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975, tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.
Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ "Ta về" chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975.
Ngày 3 tháng 6 năm 2019
(TBKTSG) - Ô nhiễm ở các đô thị gấp hàng chục lần mức cho phép. Rừng bị tàn phá hàng ngày. Khoảng 16.000 công chức, trong đó có không ít người ưu tú bỏ việc nhà nước ra làm riêng. Học sinh thi tốt nghiệp phổ thông viết những bài văn đọc lên cười ra nước mắt. Lạm phát hai con số. Phân bón bán cho nông dân cũng bị làm giả... Hàng ngày các tin tức thuộc loại tiêu cực đã quá nhiều. Nhiều tới mức câu chuyện “người Việt thuộc loại chuộng dùng hàng ngoại nhất châu Á” do một tổ chức nghiên cứu quốc tế nêu lên, và vài tờ báo trong nước đăng lại... chẳng khiến mấy ai bận tâm. Thế nhưng vẫn có những người nhắc tới. Đó là đám bạn mà tôi tạm gọi là mấy anh A. B. C. D. Thoạt tiên anh B. muốn chứng minh rằng hiện tượng sùng ngoại quá phổ biến bởi những lý do chính đáng: - Vừa rồi tôi với bà xã vào một cửa hàng kiếm một cái áo phông. Chọn ngay được một cái mặc rất hợp, đến lúc xem kỹ lại hóa ra hàng Tàu. Hơi ngán, mới cố lùng bằng được mấy cái hàng nội. Nhưng của mình cứ thế nào ấy, gò bó khó chịu, mà trông lại cũn cỡn, mặc vào đâm hèn cả người. Anh C., vốn thích nghiên cứu tâm lý, thử khái quát: - Nền sản xuất ở ta xuất phát từ mặt bằng quá thấp. Làm bừa làm ẩu đã thành cái nếp phổ biến. Hồi trước cả xã hội khép kín, hàng hóa không có buộc người ta phải dùng. Dùng một cách rẻ rúng, với một định kiến nặng nề. Nay có điều kiện là người ta bung ra thôi, ai còn phân biệt nội với ngoại gì nữa! Anh C. đồng tình: - Trong thâm tâm, mọi người đã đinh ninh rằng hàng mình không bao giờ bằng hàng người. Không ai bảo ai đều nghĩ tranh thủ mua lấy những thứ hàng ngoại nhập, cho biết mùi văn minh và hiện đại. Mọi người có vẻ ngùi ngùi cảm động. Anh D. có tiếng là lắm sáng kiến: - Vậy ta phải làm cuộc vận động. Vừa phải giáo dục quần chúng lòng tự tin dân tộc lại vừa phải giúp các cơ sở sản xuất nâng cao chất lượng để lấy lại uy tín. Lúc này anh A. mới lên tiếng. Đúng hơn là anh cho chúng tôi một gáo nước lạnh: - Các anh nói xong chưa, đến lượt tôi nhé. Điều tôi nhấn mạnh là căn bệnh này nay đã quá phổ biến và người ta dường như chỉ còn biết khoanh tay để mặc cho nó hoành hành. Tại sao? Đặt mình vào tình thế người đi mua xem, người dân có cái lý riêng của họ. Như anh B. nói, căn bản là hàng của ta làm kém quá. Theo khảo sát của Grey Group, 77% người tiêu dùng Việt Nam khi được phỏng vấn đã nói rằng họ ưu chuộng các thương hiệu nước ngoài. Ảnh: Lê Toàn. Hãy xét về lý, tức thử tính mối quan hệ giữa chi phí và hiệu quả. Mua hàng nội tưởng là rẻ lại hóa đắt, mua hàng ngoại tưởng đắt lại hóa rẻ. Bởi vậy, không có tiền thì thôi, chứ có tiền tôi mua hàng ngoại ngay. Trong việc chi tiêu, không thể có chuyện sĩ diện và tự trọng hão được. Đừng có ảo tưởng mà nghĩ rằng trong hoàn cảnh hiện nay, cần kêu gọi dùng hàng nội để giúp cho các ngành sản xuất trong nước phát triển. Đấy là lý thuyết thôi, chứ thực tế thì... Nói thật nhé, tôi cam đoan chính cái cánh hay kêu gọi mình dùng hàng nội ấy, lại toàn xài hàng ngoại. Vào nhà họ mà xem, con cái họ ăn ở thế nào thì biết ngay. Chả trách họ được. Chúng ta đã quá quen với chuyện nói một đằng, làm một nẻo. Nói vì có yêu cầu phải nói như vậy, còn làm thế nào thì tùy. Nếu đây đó người ta còn dùng lại cái chiêu bài chiếu cố hàng nội, chẳng qua chỉ vì lảng tránh không dám bước vào cuộc cạnh tranh chính đáng. Tức muốn bảo vệ cho sự lười biếng trì trệ. Nói ra thì bảo ác, chứ tôi cho rằng phải để cho hàng của nhiều hãng bị ế, công ty của họ phá sản thì may ra họ mới chịu đổi mới. Đến lúc ấy nghĩ lại, họ lại cảm ơn mình không biết chừng. Vì nhờ mình ghẻ lạnh mà họ nên người. - Vậy hóa ra theo anh, dùng hàng ngoại là một cách thúc đẩy xã hội tiến bộ? - Tôi không cực đoan đến mức ấy. Tôi chỉ muốn nói rằng phải xem xét sự vật từ nhiều góc độ, và đừng bị những thói quen cũ chi phối. Câu chuyện tại sao người mình ưa dùng hàng ngoại của chúng tôi kết thúc ở đây, mà chẳng đi đến một kết luận nào cả. Người nói cuối cùng, người ghi nhận rằng đây là một tình thế bất khả kháng, thấy thuyết phục chúng tôi dễ dàng quá, tự nhiên cũng bị hẫng. Anh thủng thẳng nói với giọng buồn buồn: - Tôi nhớ nhất là khi vợ con ốm, mình phải đi mua thuốc. Trên đường đi đã tự nhủ loại này nước mình làm được, mua hàng nội cho nó đúng cái tinh thần hiện đại, mà lại được tiếng là một người yêu nước. Nhưng cứ đến lúc cô bán hàng hỏi anh dùng loại nào là y như rằng cho tôi mấy viên của Pháp, của Mỹ nếu không thì Hàn Quốc cũng được. Vì chỉ sợ mua hàng nội về kém chất lượng, người ốm có khi lại ốm thêm. Thói quen này đã như một thứ tứ chứng nan y rồi, người ta đã quen chung sống với nó và hoàn toàn vô cảm, coi như tự nhiên. Thi thoảng, có lúc tự đối diện với bản thân, thấy ngay là con người mình đã tha hóa và hèn yếu đi từ lúc nào rồi! Nhưng ai cũng thế, tách riêng mình ra sao được?!
THƠ HUY CẬN
VÀ NHỮNG VẺ ĐẸP CỦA QUÁ KHỨ
Ngày 9 tháng 6 năm 2019
Từ hồi tuổi mới 20 – 25, Huy Cận đã biết tạo cho thơ mình một vẻ đẹp già dặn.
Cái tên Lửa thiêng, có lẽ không hẳn đã hợp với các bài thơ trong tập, đơn giản là vì chất thiêng mà Huy Cận gợi nhớ ở đây còn thấp thoáng một vẻ phôi pha trần thế và khó lòng nói là đã có được sắc thái riêng.
Mà phù hợp hơn, khi muốn tìm ra cái phần tinh hoa trong thơ Huy Cận tiền chiến, tôi muốn dùng chữ ĐẸP XƯA , như tên một bài thơ khác của ông.
Thật vậy, nếu nhớ tới Xuân Diệu, luôn luôn ta nhớ cái líu ríu cuống quýt mau với chứ vội vàng lên với chứ của ngày hôm nay thì giọng thơ Huy Cận lúc trẻ đã thật khoan thai trầm mặc, nó là tiếng nói của một nhà thơ luôn sống với một quãng lùi để có thể nhìn mãi tận xa xưa.
Cũng giống như Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, thơ Huy Cận hồi ấy cho chúng ta biết một khía cạnh đặc biệt làm nên cái điệu tâm hồn Việt Nam.
Ngậm ngùi.
Chiều xưa.
Tràng giang.
Nhạc sầu...
Những bài thơ đó thuộc về cách nghĩ một thời.
Quá khứ hằn lên với những vết mòn. Mờ xa mà thắm thiết. Và xa vắng. Và đìu hiu.
Tôi nghĩ tới cái màu ngói cổ.
Tôi nghĩ tới cái cái hoà sắc riêng của những đền chùa Việt Nam, những bức tường rêu phong, những hàng cột không chói lọi sơn son thiếp vàng, mà màu đỏ ở đây như có cái vẻ trĩu xuống đất, lẫn vào chung quanh, nhẫn nại, cam chịu.
Cũng đã có lần Huy Cận nói tới một vẻ đẹp hoang dại dân dã
Đường trong làng hoa dại với mùi rơm
Tôi cùng người đi dạo giữa đường thơm.
Nhưng những bài thơ hay nhất của ông thường có cái vẻ sang trọng pha chút quý phái.
Cố nhiên không bao giờ ta quên rằng hồn thơ ấy chỉ có thể hình thành nhờ ảnh hưởng Tây phương.
Dấu vết của thơ Pháp còn trải khắp tập Lửa thiêng ( kiểu như Sớm hôm nay hồn em như tủ áo -- ý trong veo là lượt xếp từng đôi ).
Có điều, ở những bài hay nhất trong tập, ta gặp lại cái vang hưởng Trung Hoa vốn đến với ta từ lâu lắm.
Xa rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu.
Tràng đạc là gì ?
Có phải là tiếng chuông lắc trên cổ con ngựa ?
Sao không nói sông dài mà lại phải gọi Tràng giang ?
Không ai định hỏi và xưa nay tác giả cũng không nói.
Cũng như ta không bao giờ thắc mắc về những gió thanh tân, tình vạn lý, những đồng trăng lục nhạt vàng thanh lối gần..., chỉ có cảm tưởng những chữ ấy câu ấy nói hộ một điều bấy lâu vẫn sống âm thầm dai dẳng trong mỗi tâm hồn.
Cái vẻ chín tới này không chỉ có mặt trong Lửa thiêng mà về sau, còn một lần nưã đến với Huy Cận.
Những năm sáu mươi của thế kỷ XX không chỉ là một giai đoạn thanh bình hiếm có đến với đất nước sau cuộc kháng chiến chống Pháp, mà còn đánh dấu một bước phục hưng thực sự trong đời sống thơ ở Hà Nội.
Nó không đi tìm những cái mới lạ.
Mà nó quay về với cái lãng mạn và bằng sự hồn nhiên của mình, đạt tới một trình độ cổ điển mới.
Chế Lan Viên có Ánh sáng và phù sa với cái phần e ấp chờ đợi hồi hộp khát khao ít thấy ; Ánh sáng và phù sa theo tôi là cái phần hay nhất trong sáng tác của họ Chế.
Rồi Tế Hanh có Gửi miền Bắc không dễ dãi như tác giả này vốn có; Xuân Diệu có Cầm tay, chùm thơ tình, mà chất lượng hoàn toàn có thể đọ với Thơ thơ ngày xưa.
Và Huy Cận có Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời …
Nếu đối diện với những bài hay nhất rút ra từ ba tập này, chúng ta sẽ thấy lại cái vẻ chín, đầy đặn, chắc chắn của thơ ông.
Thu tới ngoài kia
Nghe nhân thơm trong trái nặng
Nghe nhựa ấm trong cành thưa
Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín
Xôn xao cuống lá rụng thay mùa.
Sinh thời, nói chuyện với tôi, Nguyễn Minh Châu tỏ ý rất chịu bài Chín với mấy câu mở đầu như vậy.
Còn đám học trò cấp ba chúng tôi hồi trước chiến tranh thì mê đủ thứ,
cả cái vẻ lộng lẫy như trong một bức sơn mài toát lên từ sự hài hoà của trời đất trong Đoàn thuyền đánh cá,
lẫn cái đạm bạc như một bức tranh thuỷ mạc của Mưa xuân trên biển ( mà một câu trong đó là Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm ).
Thơ ông thường như thứ đồ gốm mộc mạc trong bàn tay anh thợ:
Xoay xoay bàn gỗ ơi
Đất mịn nhào nắng tươi
Anh làm thêm cái đẹp
Chưa có ở trong đời
Song lại có lúc vươn lên cả cái kỳ vĩ cái bất ngờ của những công trình văn hóa vượt thời gian và không gian ( Trò chuyện với Kim Tự tháp ), để rồi sau đó có những lúc dừng lại chia sẻ nỗi bồn chồn giữa đời và mộng (Xem tranh Tề Bạch Thạch ).
Quá mê các bậc đàn anh tới mức chịu đi sau làm cái bóng của họ là lỗi của một lớp người trẻ tuổi, song quả thực, có dễ gì vượt được một chuỗi tài năng cùng lúc toả sáng như vậy.
Họ đã có lúc chín trong hoàn cảnh của họ, còn chúng tôi phải chăng cái sự sống sít, dang dở theo mãi như một nghiệp chướng ? …
Một bạn Việt kiều, cũng quê Hà Tĩnh như Huy Cận, sau mười lần về nước, gần đây có nhận xét rằng người Hà Nội có vẻ quá “chúi mũi “ vào thưởng thức văn chương, tự ru ngủ trong những câu thơ vần vèo thánh thót mà coi nhẹ tư tưởng bộc lộ qua trang viết.
Lúc tỉnh táo và thử làm khác mình đi, tôi cũng muốn nghĩ thế. Nhưng biết làm thế nào!
Khác với thế hệ tiền chiến, và chừng nào đó khác cả thế hệ sau, người thanh niên Việt ở Hà Nội nửa sau thế kỷ XX vào đời không có âm nhạc cổ điển, không có hội họa hiện đại.
Chỉ còn có thơ mỗi khi muốn nghĩ về một thế giới khác.
Thơ, với chúng tôi, là sự có mặt trong đời, là hy vọng, là cái sự hồn nhiên được gặp gỡ với bao nhiêu tâm hồn xa lạ, nhưng trước hết là những dịp được trở về với quá khứ ông cha.
Một thứ "đêm đêm rì rầm trong tiếng đât – Những buổi ngày xưa vọng nói về"p ( thơ Nguyễn Đình Thi).
Như với Huy Cận mà hôm nay ra đi.
Chỉ vừa nghe tin ngày 19-2 ông đã vĩnh viễn nằm xuống là tâm trí đã xôn xao bởi bắt gặp những cảm giác tốt lành nhất cùng rung lên trong lòng.
Không còn những chuyện tầm thường thô lỗ của đời sống hàng ngày nơi một quan chức cỡ thứ trưởng bộ trưởng mà bọn tôi vẫn biết, không còn bao nhiêu trơ lỳ, già cỗi, thóai hoá, nó làm nhòe nhạt hình ảnh ông, gạt ông khỏi tâm trí những người cùng sống một thời.
Mà chỉ còn những câu thơ hay nhất tác giả từng viết, những câu thơ thời trẻ bọn tôi đã thuộc, lục tục kéo tới gom người ta lại.
Ấn tượng sau cùng về tác giả Lửa thiêng là thế, thơ Huy Cận đã thuộc về một phần tài sản tinh thần của cả mấy thế hệ hôm nay.
Nó kể với chúng ta rằng có một thời người Việt đã sống rất hài hòa rất trong sáng.
Đã làm nên những bài thơ chín đẹp rất trí tuệ.
Chứ đâu có như thơ và người hôm nay.
In trên TTVH ngày Huy Cận qua đời, 19-2-2005 ,
bổ sung 2-3-2013
VỀ TÍNH NHÂN BẢN
VÀ TÍNH CHUẨN MỰC
TRONG GIÁO DỤC HAI MIỀN
Ngày 12 tháng 6 năm 2019
Về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắcchúng ta còn phải nói rất nhiều. Sau đây là sự bổ sung của tôi cho một số ý đã trình bày trước đây.
TÍNH CHUẨN MỰC
BĂT ĐẦU TỪ NHỮNG CÁI RẤT NHỎ
Thoạt đầu do nhu cầu của chiến tranh, nền giáo dục kháng chiến 1946- 54 chỉ thu gọn lại trong thời hạn chín năm và đã rút gọn rất nhiều nội dung giáo dục, và điều quan trọng nhất là đã bỏ qua nhiều chuẩn mực tối thiểu của giáo dục. Từ 1954 nền giáo dục miền Bắc được khôi phục trở lại trong thời hạn mười năm rồi mười hai năm, nhưng cái tinh thần vi phạm chuẩn mực thì vẫn tiếp tục. Tuy nói rằng giáo dục con người toàn diện, nhưng thường là bỏ qua các vấn đề giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể lực mà chỉ chú ý giáo dục kiến thức thuần túy. Do điều kiện khó khăn ban đầu, việc học hỏi nhiều môn khoa học tự nhiên tiến hành theo lối học chay và điều đó kéo dài mãi khiến cho việc học của học sinh trở thành một sự nhồi nhét kiến thức mà không chú ý tới quá trình tự tìm tòi tự thể nghiệm. Đại khái đấy mới là ví dụ đơn giản nhất. Còn nói chi đến nhiều vấn đề tư tưởng sai lầm và cổ lỗ mà chúng ta vẫn cố chấp cà cho mình là duy nhất đúng.
Trong một lần nói chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở Sài Gòn khoảng năm 2013 – 2014, ông có kể với tôi một chuyện như sau:
Hiện nay, và đã bắt đầu từ mấy chục năm nay, việc thi vào các trường Y – Dược theo kiểu Hà Nội chủ yếu chỉ bao gồm những bài thi về toán hóa sinh, trong khi đó thì hồi trước 75, các bài thi còn bao gồm nhiều câu hỏi tự chọn đòi hỏi rất nhiều kiến thức của người sinh viên tương lai về khoa học xã hội và tình hình thời sự xã hội nói chung. Đại khái người ta có thể đưa ra cho sinh viên những câu hỏi: Tình hình các nạn dịch và các bệnh phổ biến ở Đồng bằng Nam bộ hai chục năm qua? Những gia đình nghèo ở các xóm lao động ngoại ô Sài Gòn thường chi bao nhiêu phần trăm thu nhập của họ cho y tế? Thí sinh có biết gì về chính sách y tế ở các nước Đông Nam Á cạnh ta? Tôi không nhớ thật rõ các câu hỏi, mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã kể nhưng cái tinh thần của các câu hỏi loại đó thì tôi không nhầm: Đó là buộc người sinh viên trong quá trình học tập và chuẩn bị để làm việc trong ngành học tương lai phải có sự quan tâm đến tình hình xã hội và hiểu rõ tính cách công dân cùng tính cách nhân bản của công tác y tế trong mỗi xã hội.
(Có bạn sẽ bảo trong chương trình thi vào các trường đại học khoa học tự nhiên hiện nay thường vẫn có các đề bài về chính trị. Tôi xin phép không diễn giải cụ thể ở đây, mà chỉ muốn nói tóm tắt, các bài thi đó thực tế là một thứ thần học xa lạ hết sức với đời sống và cuộc tập sự làm người của các sinh viên tương lai, cho nên không thể so sánh với các câu hỏi tuy không được dạy chính thức trong chương trình phổ thông, nhưng đã đòi hỏi người sinh viên tương lai phải có ý thức nghề nghiệp cộng với tinh thần công dân như thế nào – điều đã được làm trong các trường đại học Sài Gòn.).
KHÍA CẠNH CHỦ YẾU TRONG TÍNH NHÂN BẢN
LÀ KHÔNG RÚT GỌN CON NGƯỜI
Về tính nhân bản
Như đã công khai trình bày trong các tài liệu chính thức, mục đích của giáo dục miền Bắc chỉ là đào tạo những loại chiến sĩ khác nhau: Chiến sĩ trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước, chiến sĩ trong lao động xây dựng đất nước... Mà chiến sĩ nói nôm na ra là những người lính xung kích, những người lấy việc thực hiện những mệnh lệnh của cấp trên làm lẽ sống. Kết quả là ở đây chúng ta không có những con người mà chỉ có những công cụ, và cuộc sống trong cái phần nhân bản của nó ở mỗi con người bị rút gọn, trở thành thứ yếu; rồi đến lúc khi con người đã tỉnh ngộ ra thì họ chỉ còn là những chiến sĩ trong cái phần bề ngoài mà ngấm ngầm biến công việc thành phương tiện để lo liệu hạnh phúc cá nhân thường được hiểu theo nghĩa dung tục nhất.
Theo tôi hiểu, tuy cũng là một xã hội bị huy động toàn lực cho cuộc chiến, nhưng ở miền Nam trước 1975, người ta quan niệm về việc đào tạo con người theo cách khác. Chiến tranh không phải là bao trùm lên xã hội mãi mãi, việc đào tạo người lính phải bắt đầu bằng việc đào tạo những con người theo nghĩa nhân bản từ nhiều đời truyền lại; mà con người theo nghĩa vốn có này nghĩa là con người biết tự suy nghĩ thế nào là đúng thế nào sai thế nào là nên làm thế nào là không nên làm. Người công dân được đào tạo theo giáo dục miền Nam sau khi tham gia chiến tranh có thể vẫn quay về làm đủ các loại công việc khác nghĩa là tham gia vào bộ máy xây dựng xã hội hậu chiến.
Ngược lại người chiến sĩ theo quan niệm giáo dục miền Bắc được đào tạo với mục đích phục vụ cho chiến tranh họ chỉ thích ứng trong chiến tranh ngoài ra sẽ không được việc gì khác, sau chiến tranh trở về sẽ chỉ là những công cụ lỗi thời của công cuộc phát triển đất nước.
Như thế tức là tính nhân bản của giáo dục mâu thuẫn với việc đào tạo chiến sĩ ở nhiều khía cạnh khác nhau. Giáo dục nhân bản nhằm trang bị cho con người khả năng tự suy nghĩ tự đánh giá bản thân cùng hoàn cảnh và trên cái nền tiến bộ của xã hội tìm thấy chỗ đứng thích hợp. Còn việc đào tạo chiến sĩ như đã nói trên chỉ đòi hỏi người thanh niên một khả năng duy nhất là tuân thủ mệnh lệnh, ngoài mệnh lệnh và sự hướng dẫn của cấp trên ra họ không biết phải làm điều gì như một công dân như một con người. Trong một bài viết trên mạng gần đây tôi đọc được, một ông chủ Nhật Bản đã chê trách những người lao động cấp dưới Việt Nam ở một khía cạnh rất đơn giản: Trong những trường hợp tốt nhất, thường họ luôn luôn chờ đợi xem cấp trên bảo gì thì làm chứ không biết tự mình tìm ra việc để làm. Tính chủ động của họ rất kém nhất là tính chủ động công dân.
Muốn lý sự thế nào cũng không thể biện hộ khía cạnh phi nhân bản của việc đào tạo “con người thành chiến sĩ” trong giáo dục miền Bắc. Khí giáo dục theo kiểu ấy tức là người ta đã tước bỏ ở con người khả năng tự suy nghĩ và bồi đắp khả năng suy nghĩ trong suốt quá trình làm người của mình. Tức là người ta đã rút gọn con người, biến một thực tế phức tạp nhưng là một hiện tượng có thể hiểu được có thể hoàn thiện được thành một thực tế đơn giản bề ngoài nhưng bên trong chứa đầy những dục vọng tầm thường và đen tối và thực tế là không thể cải tạo được.
VỀ VIỆC ĐÀO TẠO CON NGƯỜI NGHỀ NGHIỆP
Một trong những điều bốn chục năm qua tôi cảm thấy rất rõ là sau chiến tranh, trong khi con người miền Bắc gần như đã quên hết cả những công việc bình thường xây nhà làm đường dạy con cái học hành chăm lo sức khỏe con người – hoặc nói đúng hơn họ làm việc đó rất kém cỏi – thì con người miền Nam trong tìn thế bên thua cuộc lại tỏ ra biết làm những công việc xây dựng và phát triển xã hội với sự thành thạo và trình độ hiện đại hơn nhiều. Đây cũng chính là thành tựu của nền giáo dục mà xã hội miền Nam đã “áp đặt” cho con người trong khoảng thời gian 1955 – 1975.
Mấy năm 2012 – 2016, khi ở Sài Gòn tôi đã có dịp đến nói chuyện nhiều lần với nhà văn Dương Nghiễm Mậu ở khu cư xá một ngõ nhỏ đường Lê Văn Sỹ. Điều trước tiên làm tôi ngạc nhiên là thấy ông sau hơn chục năm đi cải tạo trở về vẫn tiếp tục sống một cuộc sống bình thản của một người lao động (lúc này ông làm công nhân ở một xưởng sơn mài). Có thể là bề ngoài ông tỏ ra như vậy còn bên trong là cả một sự suy nghĩ phức tạp mà ông không nói với tôi, tuy nhiên giữ được một sự bình thản bên ngoài đến như vậy cũng đã là cả một công phu tu luyện đáng kính trọng. Và ông giải thích với tôi sở dĩ có được điều đó vì ông đã trải qua nhiều sự thăng trầm và trong hoàn cảnh nào ông cũng cố gắng đạt tới sự quân bình nội tâm để chủ động trong cuộc sống.
Trong cuộc chiến tranh trước 75, Dương Nghiễm Mậu là một người làm nghề viết văn một cách lương thiện và đạt tới trình độ nghề nghiệp hiện đại. Ông không quá để tâm vào những sinh hoạt đôi khi không khỏi có phần phù phiếm của đời sống văn nghệ Sài Gòn. Trong vai một phóng viên chiến tranh, ông có mặt ở cả nhiều điểm nóng lẫn cả những tiền đồn xa xôi vắng vẻ của những người lính và những sĩ quan cấp dưới. Muốn trở lại với không khí chiến tranh trước 75, người ta rất nên trở lại với những trang ghi chép, một thứ phóng sự chiến tranh của ông, đương thời từng đưa trên bán nguyệt san VĂN và nhiều báo khác( tôi đã có dịp nói tới các tác phâm này ỏ bài trên mạng https://vuongtrinhan.blogspot.com/…/mien-nam-truoc-4-1975-q…). Còn bây giờ trong những năm cuối đời ông hay ngồi kể với tôi những chiêm nghiệm của ông về con người đương thời. Ông bảo, anh có thấy không cái chung cư nơi tôi đang ở được hình thành nên từ trước 75, nên nó vuông vắn đàng hoàng, đường đi lối lại thẳng thắn, giữa nhà nọ với nhà kia, có sự hòa hợp tự nhiên. Còn các chung cư mới được dựng nên sau 75 thì chao ôi như một cái làng đường đi lối lại quanh queo, nhà cao nhà thấp lộn xộn mỗi nhà một kiểu. Ông lại bảo anh có nhớ cái hồi mấy năm liền sau 75 khi lương thực khó khăn thành phố không cung cấp được gạo mà chỉ có bột mì cho dân, trong khi dân Hà Nội cũng chỉ viên bột mì thành từng cục nhỏ mà nhá qua ngày thì dân Sài Gòn đã biết chế biến ngay ra thành các thứ mì sợi, ăn uống rất đàng hoàng. Dương Nghiễm Mậu còn kể ra nhiều điều quan sát khác để chứng tỏ đầu óc sáng kiến của con người miền Nam sau chiến tranh,ông thường rất tự hào về trình độ nghề nghiệp mọi mặt và tổng hợp lại là cả trình độ làm người mà xã hội miền Nam trước 75 đã bồi đắp cho con người nơi đây.
NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI GIÀU
Ở VIỆT NAM HÔM NAY
Ngày 14 tháng 6 năm 2019
1/
Một người ăn mày, trong cơn đói, phải tranh ăn với con chó của một gã nhà giàu, lỡ tay đánh gẫy của con chó hai chiếc răng.
Gã nhà giàu nọ lên xe ôtô phóng đuổi theo người ăn mày với ý nghĩ:
- À, mày đánh gẫy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng. Bất quá ba chục bạc là cùng!
Thiên truyện mang tên "Răng con chó của nhà tư sản" mà trên đây tôi vừa tóm tắt, được Nguyễn Công Hoan viết từ 1929.
Thú thực lần đầu đọc lên, tôi hơi ngờ ngợ, liệu có người ác, vô lương tâm, coi con chó hơn cả sinh mệnh của đồng loại ?
Nhưng rồi thực tế cho tôi biết là có một hạng người như thế với cách cư xử như thế.
Dân ta gọi họ là trọc phú (trọc ở đây nghiã đen là đục bẩn)
Sau khi giàu lên bằng những con đường bất chính, bon chen lừa lọc, họ coi cuộc đời chỉ còn ý nghĩa ở sự hưởng thụ và càng ngông nghênh thách thức với đời càng thích.
Hơn thế nữa – như Nguyễn Công Hoan đã nói trong truỵện ngắn trên — đó là những con người càn rỡ, những nhân cách kỳ dị, thông thường họ có cuộc sống nội tâm bảo là cực kỳ rắc rối cũng được bảo là nghèo nàn nhạt nhẽo cũng được.
2/
Trên báo chí ta gần đây, hình ảnh những người giàu bắt đầu xuất hiện. Và ta lại thấy ở đám đại gia hôm nay những nét của đám trọc phú xưa,
như lời cảnh báo của Huy Thọ, trong bài viết trên Tuổi trẻ 12-9-09 .Bài viết là một cảnh báo cần thiết.
Đúng là trong các đại gia gần đây không ít người có chất hãnh tiến, khinh thế ngạo vật, trơ tráo tàn nhẫn.
Họ gợi lại hình ảnh đám giàu xổi đã thành một bộ phận đáng ghét hằn lên trong tâm lý cộng đồng Việt bao đời nay mà văn học đã ghi nhận.
Song tôi không nghĩ rằng tất cả họ đều là trọc phú.
Thông minh sáng láng, khao khát tự khẳng định, quyết đoán dám làm cả những việc động trời, họ nhiều phen gợi cho tôi niềm kính phục.
Nhiều khi cách sống cách nghĩ tư thế khai phá sáng tạo của họ đã đánh thức tinh thần năng động của xã hội và mở ra lối thoát cho những tình thế bế tắc.
Chẳng qua trưởng thành trong thời nhốn nháo, nhiều phen họ đã phải lấy cái ác để vượt lên sự trì trệ.
Cuộc vật lộn hàng ngày quá quyết liệt tước đi gần hết của họ cả những niềm vui hồn nhiên lẫn những giây phút hướng thượng cao đẹp.
Nhìn một cách bao quát, tôi chỉ thấy tiếc.
Nếu được sự dắt dẫn của trí tuệ , lẽ ra họ có thể tìm được những định hướng khác.
Tài năng và sức lực của họ sẽ được huy động để trở nên có ích hơn cho cộng đồng, và như vậy, tên tuổi họ còn có khả năng ở lại với tương lai, với lịch sử, chứ không phải chỉ được truyền tụng kèm theo bao lời chê trách như hiện nay.
3/
Huy Thọ có nhắc tới cách sống và tồn tại của nhiều đại gia nước ngoài Warren Buffett, Bill Gates, Morita Akio (cha đẻ Sony).
Tôi đọc trong đây một sự gợi ý để suy nghĩ về lý do đang có quá nhiều mặt hư hỏng ở các đại gia VN hôm nay.
Một thời gian dài, đất nước trong thế cô lập, và giá trị duy nhât được đề cao là những gì có ích cho chinh chiến.
Luẩn quẩn trong cuộc sống tù đọng, doanh nhân VN, cũng như anh như tôi lúc ấy, tìm cách đánh bóng tên tuổi qua cách chơi trội so với chung quanh, và lấy việc học đòi bắt chước được sự phá phách cuồng loạn của thiên hạ làm niềm tự hào.
Hoàn cảnh hôm qua đã quy định cho con người như thế, ta nên hiểu cho nhau.
Nhưng trong hoàn cảnh làm ăn kinh tế hôm nay , nếu cứ diễn mãi nếp sống của đám chúa đất, và do đó nêu tấm gương xấu cho lớp trẻ, thì đó lại là điều đáng trách, đúng hơn là có tội.
Đã in ở Tuổi trẻ 14-9-09 (có bổ sung thêm đoạn cuối)
YẾU KÉM TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP
MỘT LÝ DO KHIẾN NHIỀU NGƯỜI VIỆT
LƯỜI BIẾNG VÀ ĂN CẮP
Ngày 21 tháng 6 năm 2019
Mở đầu chuyện Tấm Cám là câu chuyện người mẹ ghẻ của Tấm sai hai chị em đi bắt tép, đứa nào bắt được nhiều sẽ mang về thưởng yếm điều.
Bạn đọc xưa nay không mấy ai để ý đoạn này, song thật ra nó lại là một thông báo khá rõ về cách dạy con của người mình cũng như việc quản lý lao động trong các gia đình người Việt ở đồng bằng Bắc bộ.
Lẽ ra trước khi giao việc, người mẹ ở đây phải tính tới chuyện Tấm sẽ làm được những gì, Cám sẽ làm được những gì và như vậy mỗi người đáng được thưởng ở chỗ nào.
Đằng này mẹ Cám không hiểu gì về tâm lý con trẻ, hồn nhiên “ném xương cho chó cắn nhau”, rồi đứa lười có ăn hiếp đứa chăm cũng không cần biết.
Cách quản lý của mẹ Cám nói ở đây cũng được cách các địa chủ sử dụng khi thuê mướn người làm ruộng và cả các chủ xưởng nhỏ quản lý đám thợ. Nó chỉ khuyến khích sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến một thói tục đáng sợ của người lao động: không cần chăm chỉ, chỉ cần dối trá lừa lọc, ăn chặn công của người khác là tha hồ vênh vang về sự khôn ngoan của mình.
Người lao động cần mẫn chỉ cần sơ ý một chút thì sẽ bị thiệt. Xã hội không đánh giá đúng phần lao động của người ta, mà cũng không giúp người ta bảo vệ được thành quả làm ra. Không ai muốn chăm chỉ nữa. Nếu bí qúa, xoay ra ăn cắp, rồi liều mặt dày là xong.
Cách quản lý gia đình nói trên cũng được áp dụng ở các tổ chức lao động công cộng, và thâm nhập vào ngay cả công việc của nhà nước phong kiến ở ta thời trung cổ.
Đọc các bộ sách của các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam ở các thế kỷ 17-18, thấy họ có nhận xét chung khá thống nhất về trình độ nghề nghiệp của dân ta.
Họ bảo người Việt thường khéo tay, có óc mỹ thuật nhưng không hiểu tại sao cứ nghèo mãi và không bao giờ đạt tới sự hoàn thiện về nghề nghiệp.
Sau hỏi ra mới biết trong xã hội Việt Nam thời trung cổ có một lệ rất lạ. Tức là ai có tài trong việc làm các nghề thủ công như dệt lụa, thêu thùa hoặc xây dựng nhà cửa, và nói chung là các việc phục vụ cuộc sống quý tộc đều bị nhà nước trưng dụng. Vào đó họ bị đối xử như nô lệ.
Khi lao động không tự nguyện, và lao động không mang lại lợi ích trực tiếp cho bản thân, con người ta sinh ra đối phó, tự mình hạn chế mọi tìm tòi sáng tạo. Từ đấy, mọi vấn đề nghề nghiệp không trở thành bức thiết nữa. Cuộc đời của những người lao công này mòn mỏi, sống cho qua ngày, con người mất đi cái năng động mà họ vốn có.
Đọc các truyện Trung Quốc cổ, tôi nhớ nỗi lo sợ của những gia đình có con gái đẹp, vừa đẻ ra, thấy lớn lên có thể trở thành xinh đẹp mỹ miều thì chắc sẽ bị tuyển vào cung cấm và sẽ sống cuộc đời mòn mỏi của cung nữ.
Cá biệt, trong những trường hợp hiếm hoi có người đẻ được con gái đẹp liền làm cho xấu xa, thậm chí bóp chết, vì nghĩ không muốn con rơi vào tình trạng trở thành nô lệ suốt đời.
Tương tự như vậy, cái cách nhà nước Trung Quốc tập trung tinh hoa phục vụ cho đờì sống của giai tầng quý tộc cũng khắc nghiệt lắm.
Nhưng ở đó hệ thống quan lại thông minh hơn và họ biết cách giúp vua đối xử với những con người ưu tú một cách hợp lý hơn.
Ví dụ họ để cho những người làm nghề giỏi có một khoảng riêng tư nhất định, ngoài chuyện có sản phẩm tiến vua họ vẫn còn một khoảng tự do lo cho cuộc sống riêng gia đình mình.
Sự tham gia của bộ phận trí thức Trung Hoa khi nghiên cứu cách làm nghề càng khiến trình độ của những người lao động ngày một tiến hóa.
Trong điều kiện của một xã hội phong kiến ở một trình độ phát triển thấp hơn, thì việc đối xử của nhà cầm quyền Việt Nam với những phần tử ưu tú trong lao động nghề nghiệp bị nhiều hạn chế hơn hẳn, đó chính là yếu tố tiêu cực, khiến cho mong mỏi về sự hoàn thiện nghề nghiệp ở con người bị thui chột.
Trước sự quản lý ngu ngốc của nhà nước, người dân -- đương nhiên - có những phản ứng tiêu cực có hại ngay tới sự phát triển nghề nghiệp của họ.
Trong bộ “Việt Nam văn hóa sử cương” 1938, Đào Duy Anh dẫn lại một câu trong thiên “Quốc dụng chí” sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú “như nhà nước đòi sơn thì dân chặt cây đi; nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt; đòi gỗ thì dân quăng búa rìu; đòi tôm cá thì dân xé lưới”.
Câu chuyện về sự phát triển đạo đức của con người rút lại hóa ra phụ thuộc vào cách quản lý của nhà nước đối với cả xã hội.
CON NGƯỜI TỰ DO MỚI LÀ YẾU TỐ THỨ NHẤT
Ngày 25 tháng 6 năm 2019
Tôi xin mạn phép tác giả Nguyễn Đức Tùng đưa lại bài MỘT NGƯỜI BẠN HONGKONG này lấy từ trang FB của Nam Dao N M Hung ngày 13-6-2019
Ở đoạn cuối tôi sẽ nói rõ tại sao tôi thích bài này
1/
Thời đi học, tôi ở chung phòng với hai đứa bạn khá thân. Yang từ Hongkong, thích ăn mì gói Đại Hàn, Li từ Đại Hàn thích ăn mì gói Thái Lan, còn tôi không ăn mì gói Thái Lan vì ghét hải tặc, nên chỉ ăn mì Hongkong. Chúng tôi cùng học chương trình PreMed, dự bị y khoa. Yang sinh ra và lớn lên ở Hongkong, học trung học ở đó, du học ở Anh, lấy bằng cử nhân rồi đến Canada, chuẩn bị thi vào trường. Sau này anh không đủ điểm TOEFL, hồi đó đòi rất cao, hình như 600, theo hệ thống điểm cũ, nên chuyển qua học tiến sĩ hoá sinh, rồi trở về Hongkong dạy đại học. Anh là một người thông minh và tốt bụng, học rất giỏi.
Chúng tôi thường cãi lộn về chính trị, Li từng biểu tình chống Mỹ can thiệp vào Nam Hàn, đòi Mỹ rút quân, anh không biết rằng chỉ cần Mỹ rút quân thì Bình Nhưỡng sẽ xua quân chiếm Seoul trong hai ngày và bọn sinh viên biểu tình sẽ bị bắt nhốt hết. Yang không chống Mỹ cũng không chống Anh nhưng hô hào việc Hongkong trao trả lại cho đất mẹ Trung hoa. Đất mẹ Trung hoa đối với anh không phải là Trung hoa dân quốc Đài Loan mà là Trung hoa lục địa của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, người đàn áp đẫm máu sinh viên Thiên An Môn trước đó vài năm. Anh yêu nước đến nỗi coi việc Hongkong là thuộc địa của Anh là một nỗi nhục, và thà chịu hy sinh tự do hạnh phúc của người dân Hongkong để giữ cái sĩ diện của một nước độc lập.
Cả Li và tôi đều không đồng ý với quan điểm ấy. Thế là cả ba cãi nhau mỗi ngày văng cả nước bọt, trừ lúc cặm cụi học thi, nhưng trong bụng thì vẫn quý nhau lắm. Khi Hongkong được trao trả cho Trung Quốc ngày 1 tháng 7 năm 1997, Yang bay về ngay và hào hứng tham dự vào phong trào ủng hộ chính quyền mới. Ba năm sau, anh thất vọng, nhận ra rằng, như trong cách nói của chính anh, độc lập chẳng có nghĩa cái fucking con mẹ gì cả so với tự do, không sợ hãi. Tự do, chúng mày nghe chưa. Anh hét lên trong điện thoại với tôi. Đó là lần cuối chúng tôi nói chuyện với nhau. Sau đó mất liên lạc. Gần đây nhìn những đoàn người biểu tình chống luật dẫn độ ở Hongkong, hàng trăm ngàn người, có lúc lên đến hơn một triệu người, tôi nhớ lại người bạn cũ. Tôi cố tìm trong hình ảnh đám đông khuôn mặt tươi cười điển trai của Yang, hơi xanh vì thiếu ăn, vì suốt hai năm chúng tôi chỉ ăn mì gói, mà anh lại khoái mì Đại Hàn, thứ cay và mặn nhưng theo tôi ít dinh dưỡng hơn mì Hongkong, nhưng nhìn mỏi mắt không thấy anh đâu. Tất nhiên là không thấy, nhưng tôi vẫn hy vọng như thế. Bây giờ thì tôi tin anh đang đi giữa đám đông ấy. Yang, cố lên đi, bạn.
2/
Từ những năm đi học tiểu học cho tới suốt thời lớn lên, tôi được giáo dục theo tư tưởng chỉ có độc lập của Tổ quốc là quan trọng nhất và bất cứ cái gì có lợi cho tổ quốc thì đều được phép làm, thậm chí phải theo ai để làm cũng phải theo. Lớn lên một chút tôi cũng thoáng thắc mắc chẳng hạn nếu vì tổ quốc mà phải nói dối và làm bậy thì việc đó có đáng không. Khái quát hơn tức là tôi băt đầu cảm thấy có những thứ giá trị còn lớn hơn độc lập của Tổ Quốc chẳng hạn như tự do hiểu biết và suy nghĩ của con người cái đó cần cho mỗi công dân của một xã hội tốt đẹp và nó sẽ là cơ sở để có những tổ quốc hùng mạnh .
Tôi nghĩ như vậy và tôi phân vân không biết cách giải quyết thế nào.
Càng những ngày gần đây về già biết thêm nhiều chuyện và đọc thêm sách, càng thấy sự suy xét lại của mình là CÓ VẺ có lý, từ đó tôi đã viết mấy bài nhỏ trên mạng đặt vấn đề nếu giữa nhân dân và tổ quốc phải có một sự lựa chọn thì bao giờ người ta cũng phải chọn nhân dân chứ không phải chọn tổ quốc vì nếu có tổ quốc mà nhân dân hư hỏng thì tổ quốc đó trước sau cũng không tồn tại.
Còn nếu như có nhân dân và đó là một nhân dân tự do hiểu biết và sáng tạo thì bao giờ nhân dân đó cũng biết cách làm việc để làm nên tổ quốc xứng đáng của mình.
Tôi đi tới ý tưởng này sau khi tìm hiểu lại cuộc chiến tranh 45- 75 và thấy rằng chiến tranh đã làm hỏng nhân dân miền Bắc mình nhiều quá, đó là một mất mát không thể cứu vãn, nền độc lập thu được sau chiến tranh nói theo giáo sư Trần Đại Nghĩa cũng là độc lập hờ, thứ độc lập mong manh rất dễ mất . Còn phải tìm hiểu nhiều về sự phá hoại mà chiến tranh đã mang lại cho nền kinh tế xã hội cũng như nhân cách của con người - trên thực tế chiến tranh đã làm tha hóa nhân dân.
Hôm nay tôi lại tìm thấy điều đó trong bài viết trên đây của Nguyễn Đức Tùng. Anh bạn Hồng Kông mà N Đ T nói trước đây cũng có ý nghĩ là tổ quốc mới quan trọng còn nhân dân sống trong chế độ thế nào cũng được, tự do suy nghĩ và hành động có bị áp đặt thế nào cũng được.
Qua thời gian sống ở Hồng Kông trực thuộc lục địa người ta mới thấy rằng hóa ra không phải như vậy.
Tôi muốn in đậm đoạn sau
"Khi Hongkong được trao trả cho Trung Quốc ngày 1 tháng 7 năm 1997, Yang bay về ngay và hào hứng tham dự vào phong trào ủng hộ chính quyền mới.
Ba năm sau, anh thất vọng, nhận ra rằng, như trong cách nói của chính anh, độc lập chẳng có nghĩa cái fucking con mẹ gì cả so với tự do, không sợ hãi. Tự do, chúng mày nghe chưa. Anh hét lên trong điện thoại với tôi."
NHỮNG MẤT MÁT ĐÃ ĐẾN
VỚI TIẾNG VIỆT HÔM NAY
Ngày 6 tháng 7 năm 2019
Nhiều lần tôi muốn viết những thay đổi đã đến với tiếng nước mình mà không làm nổi.
Song cũng kịp nhớ lại đây đó đã có người viết, nếu là các bạn đang sống ở hải ngoại thì dễ có một khoảng cách mà B. Brecht gọi là lạ hóa nên càng có điều kiện hơn.
Chẳng hạn với một nữ tác giả là Trần Mộng Tú.
Talawas 20-7-09 có in lại một bài của bà này mang tên "Tôi là ai", trong đó có đoạn
Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc, tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộn nửa Hán nửa ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”, nói theo cách dùng chữ khá phổ biến bây giờ ở Việt Nam. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, đã thế họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
*****
Nghĩ về sự biến đổi của tiếng Việt theo hướng này biết là không tránh khỏi , tuy nhiên vẫn cứ thoáng buồn.
Nhà văn Trung quốc Phùng Ký Tái có nói đến khả năng phá hoại văn hóa của người đương thời. Nghe đã lâu giờ mới hiểu.
Trong cuốn "Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX", Đặng Thai Mai có dẫn lại lời của người Pháp về khả năng của người Việt sử dụng tiếng mẹ đẻ:
“ Có độ vài trăm người an-nam biết nói tiếng Pháp, vài ngàn người khác nói tiếng Pháp một cách bạt mạng, đó là bọn bồi bếp, thầy tớ cu-ly xe... ngoài ra con người nơi đây không biết tiếng an-nam cũng không biết tiếng Pháp. Cần phải nói rõ người an-nam vẫn nói tiếng họ, nhưng họ không biết viết và cũng không biết đọc. Cho nên tôi nói rằng chúng ta đang đào tạo những người mù chữ ( sđd, bản của NXB Văn học, 1964, tr 93)
Cái tình trạng thuộc về cuối thế kỷ XIX đó, đã phần nào bị vượt qua trong nửa đầu thế kỷ XX, song từ sau 1945 đến nay có những khía cạnh đang “lại gạo”.
Chết nỗi, nay là lúc ai cũng nghĩ là người Việt thì mặc nhiên mình thạo tiếng Việt. Và cái niềm tự tin ấy sở dĩ phát triển vì nó cho phép người ta không cần mất công tìm hiểu tiếng Việt mà đua nhau dùng bừa dùng ẩu.
---------
Phụ lục
----------
MỘT BÀI THƠ CỦA TRẦN MỘNG TÚ
Quà Tặng Trong Chiến Tranh
***
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai mầu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.
Tháng 7/ 1969
Dẫn theo
"Trần Mộng Tú, thi sĩ Việt Nam đầu tiên vào sách giáo khoa Trung Học Mỹ"
Bài của Cao La, nhật báo Người Việt
NHỮNG LỜI TIÊN TRI CỦA NGUYỄN VĂN TỐ
VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC SAU 19/12/46
Ngày 11 tháng 7 năm 2019
Trong một số trang Fb gần đây có nhắc đến mấy ý kiến của cụ Nguyễn Văn Tố về kháng chiến mà ông Nguyễn Thiệu Lâu đã ghi lại khi gặp cụ khoảng tháng 4, tháng 5 1947 ở một làng công giáo tên gọi là làng Thụt, Tuyên Quang.
Nhân có cuốn Quốc Sử Tạp Lục (Khai Trí Sài Gòn – 1973) của Nguyễn Thiệu Lâu trong tay - từng do nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan phtocopy giúp từ tủ sách gia đình - tôi xin chép lại ở đây cả đoạn từ cuối trang 72 tới đầu trang 74.
Ngồi dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn nước sông Lô đỏ ngầu những phù sa, cuồn cuộn chảy xuôi, nghe tiếng thác ầm ầm gần đây nhìn lên thượng nguồn thấy núi non trùng trùng điệp điệp, trên trời lơ lửng mây đen mây trắng, hai chúng tôi, một già một trẻ ngồi lặng yên suy nghĩ.
Hồi lâu, tôi lên tiếng :
- Ý kiến cụ về cuộc kháng chiến này của ta như thế nào?
- Ấy tôi cũng định hỏi ý kiến của ông.
Chúng tôi lại ngồi im, mãi cụ mới nói :
- Cuộc kháng chiến này sẽ kéo dài lâu lắm vì thực dân Pháp ngu. Dân ta sẽ khốn khổ với chúng, nhưng chúng sẽ không tái lập được cuộc đô hộ đâu. Nước họ đã kiệt quệ vì cuộc chiến tranh với Đức, họ sẽ chết vì chiến tranh ở thuộc địa. Rồi ông xem nước Pháp sẽ tụt xuống hàng nước Y-Pha-Nho. Á Châu sẽ mạnh. Trung Hoa và Ấn Độ sẽ phục hưng một cách nhanh chóng.
- Thế còn Nhật?
- Nhật sẽ phục hưng được nhưng không một dân tộc Á Châu nào ưa họ đâu. Họ thâm độc lắm.
- Còn nước ta?
- Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy, Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam – Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngóe ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi. Lắm lúc tôi nghĩ, buồn lắm. Suốt đời ăn hại. Chẳng biết chết rồi, về gặp ông bà ông vải, tôi biết ăn nói làm sao với các cụ? Nhưng thôi, nghĩ vẩn nghĩ vơ làm gì. Đời tôi thời bỏ đi rồi. Ông trẻ, cố mà sống.... .. Thôi, anh em chúng ta về.
-------------
Không có điều kiện phân tích tỉ mỉ, tôi chỉ xin gợi ý đây là những lời tiên tri rất xác đáng, đúng cho tình hình đất nước ngay từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cho tới tận 30 tháng 4 năm 1975.
Đáng đọc đi đọc lại nhiều lần là câu “Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy, Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam – Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngóe ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi”.
Ở đây có hai ý rất bất ngờ mà cũng rất chính xác, một là
CHÚNG TA SẼ ĐỘC LẬP BỀ NGOÀI MÀ THÔI
và hai là
NƯỚC NHÀ SẼ KIỆT QUỆ, NGƯỜI VIỆT SẼ GIẾT NGƯỜI VIỆT NHƯ NGÓE ẤY. CHỈ KHỔ CHO LŨ TRẺ
Dựa vào văn cảnh chung, tôi còn muốn đoán thêm nhà tri thức hình như băt đầu cảm thấy rằng trong khi mải nghĩ đến những nguyên nhân ngoại cuộc, thì rồi chúng ta - những người đóng vai tác nhân lịch sử -- lại chính là nguyên nhân mọi nỗi thống khổ của dân ta trong tương lai.
--
Nhìn chung cả đoạn tôi thấy cảm phục vô cùng cái khả năng nhìn xa trông rộng của một người như cụ Tố.
Trước các khúc quanh lịch sử các biến động long trời lở đất, chỉ những trí thức đứng ngoài mọi phe phái -- nghĩa là không định trở thành “bên thắng cuộc” -- mới có thể có được những tiên đoán và cả những dự cảm đau xót cho số phận nhân dân như đã dẫn ở trên.
GIAN THAM - CĂN BỆNH THƯỜNG TÌNH
Ngày 24 tháng 7 năm 2019
Có lẽ không ở nước nào, bệnh tham lại được nhắc nhở nhiều như ở ta. Tại sao?
Chúng ta là một xã hội không làm ra đủ của cải để nuôi sống mình.
Từ bao đời nay, con người luôn luôn tự nhủ rằng lẽ ra mình phải sung sướng hơn, giàu có hơn.
Rồi thất vọng. Rồi sinh ra làm liều làm bậy..
Dân gian có câu tham như mõ.
Theo quan niệm xưa, mõ là kẻ loại mạt hạng, “đứng ngoài vòng pháp luật”, không còn bị bất cứ lễ nghĩa nào ràng buộc. Lòng tham ở mõ mang tính cách trơ tráo.
Lại có câu tham như chó, với nghĩa kẻ tham là một giống vật hạ đẳng.
1/
CHỈ VÌ HAM MUỐN QUÁ MỨC
Chữ tham thoạt đầu chỉ có ý nghĩa trung tính – một thứ ham muốn hơi nhiều so với khả năng.
Trong nhiều trường hợp, tính tham được chỉ ra với nghĩa ưu ái, mà đó là chính đáng.
Trong những câu như" tham công tiếc việc", tham đồng nghĩa với nỗ lực đáng ghi nhận.
Trong một khái niệm như tham vọng cũng vậy.
Khi nói một người nhiều tham vọng, phần lớn tỏ ý khen ngợi, dù mới là khen ngợi một nửa.
Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của nêu rõ tính cách tiêu cực của tham là ham hố, không biết liêm sỉ.
Việt Nam tự điển của Hội Khai trí tiến đức cũng ghi ham muốn một cách không chính đáng.
Chết nỗi ở ta tham thường gắn liền với gian dối.
Người ta hay đặt chữ gian bên cạnh chữ tham, bởi lẽ máu tham bốc lên người ta không từ một thủ đoạn nào, khi đó sự giả dối là công cụ thông thường nhất và dễ kiếm nhất.
Trong hoàn cảnh cuộc sống quá khắc nghiệt, sự tham lam ở người Việt đồng nghĩa với sự nhẫn tâm, những thủ đoạn.
Tham với nghĩa sát phạt cạnh tranh mở đường cho ăn cắp ăn cướp.
Ăn cắp khác với ăn cướp ở chỗ một bên làm một cách dấm dúi, còn một bên là công khai, có pha thêm bạo lực.
2/
TRƯỜNG HỢP CỦA GIỚI QUAN CHỨC
Nguyên tham là một từ Hán, từ lâu ta đã vay để dùng. Mà trong các từ điển Hán - Hán, như Tân Hoa, Tứ giác, thì người ta ghi tham là lợi dụng chức quyền chiếm đoạt tài sản một cách phi pháp.
Cụm từ tham quan ô lại xuất hiện thường xuyên trong các sách kể chuyện lịch sử bộ máy cai trị Trung quốc.
Tham như vậy là một đặc tính phổ biến cho nghề làm quan.
Giới này bấy giờ là dân có học, không ai bảo là trẻ con nữa.
Chỉ họ mới hiểu thế nào là đủ, mới có liêm sỉ, mới kiểm soát được mình. Nhưng cũng chỉ họ mới có quyền lực và có cả lòng tự tin để bộc lộ lòng tham một cách thô bỉ. Nên càng đáng ghét.
Trong một số tài liệu người Pháp, tôi thấy người ta thường chê là quan lại Việt vừa tham vừa dốt.
Hai cái đức tính quý báu này phát triển ngang nhau, không cái nào thua cái nào.
3/
CHỈ VÌ TRÍ TUỆ HẠN CHẾ
Bình luận về một người tham, người ta thường bảo người đó còn trẻ con.
Nghĩa là tỏ ý chê rằng khờ khạo và ngầm có ý thông cảm tha thứ.
Ai mà chả tham!
Câu này giống như một thứ phẩy tay cho qua.
Để khỏi tham, tức để trở thảnh người lớn, đương sự phải ý thức được mình. Xem mình có thể có cái gì và không thể có cái gì, có thể làm được cái gì.
Để khỏi thất vọng thì chỉ nên ước muốn điều mình có thể đạt tới.
Muốn khuyên con người đừng tham, đạo nho kêu gọi một sự tri kỷ tri bỉ, tức biết mình biết người.
Và trong đường đời, người xưa khuyên nhau phải biết dừng lại đúng lúc (tri chỉ).
Sách vở đạo nho thường chê những kẻ tham là con người không biết tự cho là đủ --“không biết tri túc”.
Câu chuyện tham hay không tham rút lại là sự trưởng thành của con người, là tầm vóc trí tuệ mà người ta đạt tới.
Hai truyện cổ tích nổi tiếng Cây khế và Gà đẻ trứng vàng giống nhau ở chỗ cả hai cùng nói về sự thiếu hiểu biết của người tham khi xử lý các mối quan hệ với thiên nhiên.
Người nông dân trong Gà đẻ trứng vàng tưởng rằng trong bụng gà có vàng nên mới mổ thịt.
Còn người anh trong truyện Cây khế thì tưởng rằng con chim thần có thể chở bao nhiêu cũng được, nên bị chết mất xác.
Trong câu ca dao Mẹ em tham thúng sôi rền tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng, bà mẹ tham bởi không đánh giá đúng các yếu tố liên quan tới tương lai của người con.
Trong câu tục ngữ tham vàng bỏ ngãi, lòng tham đồng nghĩa với sự thiển cận, đặt các ưu thế vật chất lên trên ưu thế tinh thần.
4/
LŨ TRẺ GIAN GIẢO ---- CHÂN DUNG CHÚNG TA HÔM NAY
Nếu trở lại với những trang lịch sử xã hội sau 1945, người ta sẽ phải giật mình.
Một thời gian dài, cùng với nhiều thói xấu khác, lòng tham ở con người hầu như biến sạch.
Trong chiến tranh và cách mạng, người ta cảm thấy chẳng có gì phải giữ riêng cho mình.
Vả chăng lý tưởng con người lúc ấy trong sáng, ai cũng nghĩ hãy vì cái chung mà phấn đấu đi, rồi ra sẽ được đền đáp.
Ngày mai đây tất cả sẽ là chung
Tất cả sẽ là vui và ánh sáng
( thơ Tố Hữu trong tập Từ ấy).
Lúc ấy người ta không tham.
Nay thì cái ước ao hạnh phúc hóa ra câu chuyện ngày một xa vời, người ta bắt đầu cảm thấy nếu không tự lo thì sẽ chẳng ai lo cho mình cả. Cái điều mà chúng tôi gọi là tự do hoang dại nay tha hồ phát triển. Nó là mầm mống của cái ác.
Nay cũng là lúc tốt xấu nháo nhào, hay dở nhiều khi là chuyện vô nghĩa.
Carl Robinson một phóng viên kỳ cựu của hãng thông tấn Hoa Kỳ Associate Press, người đưa tin từ Việt Nam trong thời gian chiến tranh, nay sống ở Australia.
Trong bài "Why Vietnam Won't Fall", đăng trên trang World Policy Blog, cựu phóng viên chiến tranh Việt Nam viết:
“Xã hội Việt Nam ngày nay cực kỳ cá nhân chủ nghĩa".
"Thay vì có sự đoàn kết và một mục tiêu chung, mỗi người đều vì chính bản thân, đều có tâm lý mạnh ai người ấy lo.”
"Ví dụ so sánh tốt nhất là [ VN giống như -- VTNh thêm ] một trường đạo nội trú mà trong đó quy định đặt ra để người ta vi phạm hay là để cho người khác tuân theo mà không phải mình.”
"Ai cũng bị coi như trẻ con và thường xuyên được dạy giáo lý qua các khẩu hiệu, các nghi lễ và các giấc mộng cao xa."
"... và con cái họ chỉ biết hưởng thụ vật chất và chơi bời.”
"...Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều đồng lõa [với tham nhũng và hư hỏng]. Ai cũng gian giảo theo một cách nào đấy."
GIÀU CÓ
THÌ MỚI CÓ THỂ ĐỘC LẬP
NGHÈO KHÓ THÌ KHÔNG BAO GIỜ
TỰ QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC
VẬN MỆNH CỦA MÌNH
Ngày 6 tháng 8 năm 2019
Nguyên là phần đầu bài
Đọc 'Chiếu dời đô' bằng con mắt hiện tại
đưa trên blog này ngày 1-10-2010
---
Tôi cũng vừa đưa lại bài này dưới nhan đề
"Có thể rút ra từ "Chiếu dời đô" nhiều bài học thời sự"
***
So với Bình Ngô đại cáo thì Chiếu dời đô thường chỉ được chúng ta quan tâm ở một mức khiêm tốn, sự phân tích văn bản cũng sơ sài.
Điều này có thể giải thích là do cảm hứng chính chi phối xã hội Việt Nam từ sau 1945 đến nay là cảm hứng chiến thắng mà Bình Ngô đại cáo diễn tả rất hoàn hảo.
Thói quen tìm thấy mình trong lịch sử và hơn thế thích diễn tả mình bằng ngôn ngữ lịch sử đã xui con người hiện đại đồng lòng làm việc đó.
Tuy nhiên trong giai đoạn mới của sự phát triển đất nước, khi mà việc xây dựng nổi lên hàng đầu - "phát triển thật ra là một cách tốt nhất để bảo vệ một quốc gia" - thì việc trở lại với Chiếu dời đô lại có một ý nghĩa riêng.
DÁM THAY ĐỔI
LẤY SỰ THỊNH VƯỢNG CỦA XỨ SỞ LÀM TRỌNG
Mặc dù không được triển khai kỹ lưỡng và viết bằng một thứ " thiên cổ hùng văn" như Bình Ngô đại cáo , song Chiếu dời đô vẫn là - xin phép được sử dụng ngôn ngữ của văn hóa chính trị hiện đại - một thứ cương lĩnh chính trị nghiêm túc, bao quát nhiều vấn đề lớn của thời đại.
Sau khi đã nắm chính quyền, Ban lãnh đạo đất nước thấy việc cần kíp nhất là có những quyết sách lớn cho việc xây dựng đất nước (việc đặt kinh đô ở đâu thuộc loại quyết sách lớn đó).
Chỗ dựa để đưa ra những quyết sách này không chỉ là những kinh nghiệm của bản thân. Trong hoàn cảnh một miền đất mới tuyên bố về sự tồn tại của mình như một quốc gia, việc tham khảo kinh nghiệm của các xứ sở khác trở thành bắt buộc.
Một điều quan trọng hơn, cần xác định nội dung chủ yếu trong kinh nghiệm nước ngoài là gì.
Theo thói quen bảo thủ đã thành nếp nghĩ phổ biến, chúng ta dự đoán khi noi gương người xưa, ban lãnh đạo thời Lý sẽ chỉ nhìn thấy sự trung thành với truyền thống dân Việt. Nhưng chúng ta nhầm. Cùng với việc mạnh dạn phê phán tiền nhân - chê Đinh Lê là cạn nghĩ, không thức thời, không chịu học hỏi -Chiếu dời đô sớm đặt vấn đề về sự thay đổi mà các triều đại nổi tiếng ở phương Đông trước đó đã trải qua.
Ngay lúc ấy, kinh nghiệm quốc tế lớn nhất đã là không được đi theo những lối mòn, mà phải luôn luôn đổi mới. Dường như Chiếu dời đô muốn kêu lên như vậy. (Chỉ thiếu một sự quả quyết theo kiểu Trung Quốc một thời: "Thay đổi hay là chết!").
Thế đâu là chỗ dựa để đánh giá một sự thay đổi là đúng hay là sai?
Câu trả lời của Chiếu dời đô: phải mang lại cho xứ sở sự thịnh vượng.
Khi xem xét lý do đã được Chiếu dời đô nêu lên để làm rõ chỗ khác nhau giữa kinh đô cũ và kinh đô mới, các nhà nghiên cứu thời nay thường chỉ chú ý tới yếu tố phong thủy - Thăng Long là nơi trung tâm trời đất, có thế rồng lượn hổ chầu...
Nhưng điều mà trong bài này chúng tôi muốn bạn đọc chú ý là yếu tố địa lý ở đây không có tính thần bí mà mang ý nghĩa thiết thực. Một bên đất trũng tối tăm; một bên cao mà thoáng mát. Một bên trăm họ hao tổn, muôn vật tiêu điều; một bên không những không khổ vì ngập lụt, mà muôn vật lại rất phồn thịnh.
Rõ là một thứ địa lý học được nhìn dưới góc độ kinh tế.
Thuật lại việc Lý Thái Tổ đưa Chiếu dời đô ra để hỏi ý kiến các quan - một cử chỉ có ý nghĩa rất hiện đại - Đại Việt sử ký toàn thư viết rằng "Bầy tôi đều tâu: Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu, để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo".
Hai tiếng giàu có không mấy khi gặp trong kho từ vựng của vua quan phong kiến ở ta suốt trường kỳ lịch sử, kỳ lạ thay lại xuất hiện ở một thời cách xa chúng ta đã có ngàn năm tuổi này!
Một mầm mống của ý niệm kinh tế như đã nằm trong tư duy con người lúc ấy, kinh tế được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá sự thịnh trị (vốn là một khao khát lớn của mọi thời đại.)
----
Bổ sung 27-7-2019
Thế nhưng một cộng đồng không thể GIÀU CÓ -- mặc dù ham muốn tột bậc - nếu không làm lại mình sau chiến tranh và cứ chăm chăm vận dụng lại những tư tưởng chiến tranh cùng là sử dụng lại những con người thành đạt trong chiến tranh.
Làm giàu theo kiểu chiến tranh = bất chấp đạo lý bất chấp pháp luật - thường khi là sự làm giàu đầy tội lỗi
Chiến tranh khác hẳn hòa bình -- tôi có cảm tưởng đó là một điều cả những người chèo lái xã hội lẫn phần lớn dân "bên thắng cuộc" chúng ta vẫn chưa học được.
TRƯỚC NHỮNG VẺ ĐẸP ĐANG BỊ ĐÁNH MẤT
Ngày 9 tháng 8 năm 2019
Có một thời gian ở tạp chí Văn Nghệ quân đội, tôi được phân công quản phần nghệ thuật, nghĩa là đi viết hoặc đặt bài người khác viết về các triển lãm, các bộ phim mới ra mắt và hoạt động của các đoàn văn công.
Trung thu 1971, sau khi đi biểu diễn ở các đơn vị vận tải biển cho chiến trường miền Nam, Đoàn văn công Hải quân được đưa về nghỉ tại khi biệt thự của tướng Giáp tại Bãi Cháy Quảng Ninh.
Tôi được phân công xuống đó viết về Đoàn.
Trước khi đi làm báo, tôi đã có một năm làm giáo viên ở Đoàn kịch nói Tổng cục chính trị.
Kinh nghiệm cho tôi biết là con người và tài năng của các diễn viên bộc lộ đáng yêu nhất, không phải những khi họ ra biểu diễn trước khán giả, mà là trong những buổi biểu diễn nội bộ. Ở đó, họ được trở về với chính mình. Mà ở đó, họ có những đối tượng hết sức khó tính cần phải chinh phục— là các đồng nghiệp cùng đoàn --, nên cái khao khát bộc lộ chính mình càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Lần này, đến với văn công hải quân tôi cũng được dự một buổi tương tự. Biển. Trăng. Và nghệ thuật ở cái phần hồn nhiên tốt đẹp nhất của nó. Buổi tối hôm đó kỳ diệu đến nỗi tôi tin rằng không bao giờ tôi có diễm phúc gặp lại nữa.
Để giữ cho nó khỏi phai nhạt, hôm sau, tôi phải lập tức từ giã Đoàn.
***
Tôi nhớ lại cảm giác trên, khi chợt nhớ ra dạo này mình rất ngại lên Đà Lạt, thậm chí ngại đọc cả những bài nói rằng Đà Lạt đang bị làm hỏng, cái mảnh đất châu Âu này đang trở nên tầm thường dung tục đi ra sao. Xã hội chúng ta đang ngày càng thích học đòi theo những cái tân tiến và có cái vẻ như là đa dạng hóa. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, cái gốc của nó là một xã hội đồng phục, cái quan niệm "mọi con người mọi miền đất phải có hồn cốt giống nhau", vẫn ngự trị như cũ, hỏi làm sao mà một vẻ đẹp quý tộc như Đà Lạt có quyền tồn tại .
Mấy năm nay xuất hiện nhiều những bài báo cuốn sách nhắc lại vẻ đẹp hôm qua của Đà Lạt trong đó cuốn "Đà Lạt một thời hương xa" của Nguyễn Vĩnh Nguyên về mặt nội dung cho đến cách trình bày đều đáng gọi là một tuyệt phẩm. Những trang miêu tả sinh hoạt của các nghệ sĩ dừng lại ở Đà Lạt trước khi về Sài Gòn, tôi đọc được một ít mà cứ thấy buồn buồn và không dám đọc tiếp. Ngược với những vẻ đẹp ngầu đục đang bao quanh tôi hiện nay, tôi cảm thấy đó là những vẻ đẹp thanh cao sang trọng, nó đã tan biến đi lâu lắm và ngày nay người ta không sao tái tạo lại được. Tôi có cảm tưởng cách làm việc như của Nguyễn Vĩnh Nguyên là ngược với phần lớn các cây bút hiện nay. Trong khi đa số người viết chúng tôi khá nhất cũng chỉ lo chinh phục những người đương thời thì tác giả cuốn sách này đang hướng cả về những thế hệ bạn đọc sắp tới.
CHUYỆN RỪNG CHUYỆN LŨ
Ngày 24 tháng 8 năm 2019
Trong một bản tin thời sự VTV1 gần đây có một mẩu tin chạy bằng chữ viết nói rằng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam hiện nay chiếm 6% thị trường đồ gỗ của cả thế giới. Chỉ có một lần thoáng qua nhưng tôi thấy xấu hổ vì chúng ta đã phá hết cả rừng già của tổ tiên để lại để thỏa mãn những nhu cầu trươc mắt trong đó một phần là xa xỉ. Người Nhật thì khác hẳn. Trong các chương trình dạy ở tiểu học, học sinh bên Nhật sớm được dạy là chúng ta nghèo về các loại tài nguyên và người Nhật làm công nghiệp bằng cách đi mua nguyên liệu ỏ nước ngoài.
Gìờ đây cái câu “biển đã chết và rừng đã hết” quá phổ biến tới mức người ta nhắc lại với một vẻ thản nhiên. Người Việt mình vốn xa rừng nhạt biển, nay đã gần với rừng hơn; nghe nói biển chết không mấy xúc động ít ra là không xúc động như khi chứng kiến những khu rừng đại ngàn bị phá tan hoang, các sườn đồi trơ trụi lơ thơ vài thứ cây làm củi. Mà cảnh ấy muốn chứng kiến thì lúc nào cũng sẵn.
Anh Lê Văn Viện có thời gian dài làm phiên dịch cho các đoàn chuyên gia Tây Âu đi khắp miền Bắc. Khi tôi hỏi anh một câu ngớ ngẩn, có phải người nước ngoài tốt hơn người mình không thì anh không trả lời mà chỉ kể lại một mẩu chuyện. Lần ấy ở Quảng Ninh anh vừa ra phố về thì bắt gặp mấy chuyên gia Thụy Điển khóc tức tưởi. Khi hỏi tại sao khóc thì họ bảo Viện, mày không thấy rừng thông bên cạnh đang cháy hay sao? Anh Viện lúc ấy mới nhớ ra đúng là đang có đám cháy nhỏ mà mình không để ý.
Một bài báo viết về lụt bão vừa qua có cái tên Gỗ về nhà quan, lũ về nhà dân.
Giới quan chức những người tự coi là phần tử ưu tú nói ở đây lúc nào cũng leo lẻo về lòng yêu nước thương dân.Họ coi đó là nội dung chủ yếu của chương trình giáo dục cho lớp trẻ, nó còn quan trọng hơn cả nội dung lo học để làm một người tử tế.
CUỐN SÁCH VỀ NHO GIÁO
Ngày 31 tháng 8 năm 2019
NXB Hồng Đức và công ty Văn Lang vừa cho in bộ sách gồm nhiều tập sách nhỏ, mỗi cuốn là bản dịch một Dẫn Nhập về các vấn đề văn hóa do Oxford University Press chủ trương.
Trong khi một số bạn khác chú ý tới các mảng sách về các vấn đề hiện đại, tôi lại chú ý đến cuốn sách viết về đề tài Nho giáo:
Ảnh tôi đưa ở đây là bìa cuốn Confucianism – A Very short Introduction.
Từ lâu tôi quen đọc về Nho giáo qua sự hướng dẫn của các tri thức Sài Gòn trước 75, trong đó dễ đọc nhất là Nguyễn Hiến Lê. Cái mạnh của ông Lê -- nó cũng là lý do chính tôi thích đọc ông -- là nhìn triết học cổ điển phương Đông kết hợp giữa quan niệm Trung Hoa với ánh sáng của phương Tây, trong đó phương Tây là chủ đạo.
Các tác giả Đông Phương học Anh Pháp Mỹ được ông Lê trích dẫn có nhiều, tôi không ghi lại ở đây được, chỉ tin chắc họ đã viết ra những cuốn tốt nhất vào thời của ông.
Nay cuốn sách của Daniel. K Gardner có vẻ như bao gồm được những phát triển mới về Nho học ở phương Tây hai ba chục năm nay -- có thể tin điều này nếu xem phần thư mục cuối sách .
Trong phạm vi hơn 200 trang, khổ 12x20cm tiếng Việt, tôi thật sự thấy sáng rõ hơn về một hai điểm cơ bản trong Nho giáo.
Ở bìa 4 của cuốn sách, các nhà biên tập đã viết ..
“Gardner khám phá những ý tưởng lớn của truyền thống Khổng học, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của nó trong đời sống Trung Hoa, tập trung vào hai câu hỏi triết học quan trọng nhất.
- Điều gì tạo nên một con người tử tế?
- Điều gì lập nên một chính quyền tốt?
Đồng thời tác giả cũng mô tả cách các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống Nho gia (các hậu duệ của Khổng tử) đáp ứng mỗi chủ đề ra sao.
Gardner đã làm sáng tỏ cái ý Nho giáo vẫn tồn tại trong các khía cạnh cuộc sống hiện đại. Hiện nay, người dân Trung Quốc lại một lần nữa tìm đến giáo lý của Khổng Tử để tìm lời giải đáp cho các vấn đề của một thời đại đầy biến động về kinh tế và xã hội."
Trong hoàn cảnh Việt Nam, tôi đã được đọc quá nhiều lời chê trách về sự lạc hậu của đạo Khổng thậm chí tác dụng phản động của học thuyết này.
Nhưng bản thân tôi lại thấy chính ra Khổng tử vẫn là một nhà triết học thích hợp với đời sống hiện đại.
Chủ đề thứ nhất của Khổng tử trên vừa nói là đào tạo con người. Lẽ nào đó không phải là vấn đề của mọi thời đại?
Và điều thứ hai, cái câu hỏi "điều gì lập nên một chính quyền tốt" cũng đã thực sự mở ra cho các bạn đọc thấy một khía cạnh mà những người nghiên cứu về Khổng tử thời nay ở VN hay bỏ qua. Nho giáo là học thuyết cai trị và quản lý xã hội.
Kết luận của cụ Khổng khá đơn giản: Nếu xã hội không hình thành nên nổi chính quyền tốt thì trước sau con người trong xã hội đó sẽ tha hóa hư hỏng.
Tôi rất tâm đắc với cái ý tác giả Gardner cho rằng Khổng giáo thích hợp với xã hội hiện đại.
Dù không đủ sức chứng minh nhưng toàn bộ kiến văn tôi từng thu nhận được và cả lương tri vốn có lại mách bảo tôi rằng đến nay đạo Khổng vẫn là một lý thuyết chính trị phù hợp hơn cả với một hoàn cảnh của một dân tộc như dân tộc ta -- đây là nói đạo Khổng ở phần tinh hoa tốt đẹp của nó chứ không phải đạo Khổng được nhà nước chính thống ở quê hương ông rao giảng và truyền bá.
Không nên vì đạo Khổng phát sinh từ một quốc gia đang hiếp đáp bắt nạt chúng ta mà rẻ rúng và lảng tránh nó, hơn nữa nói bừa về nó.
CHỐNG THAM NHŨNG KIỂU CHÍ PHÈO
Ngày 19 tháng 9 năm 2019
Trong các chương trình địa lý bọn tôi học những năm sau hòa bình 1954 thường có câu đất nước mình rừng vàng bể bạc. Các vùng khoáng sản là cả một niềm tự hào. Tin tức về mỏ than in trang nhất trên các báo gây ấn tượng không chỉ với các đoàn xe và cần cẩu hoành tráng, mà còn hình ảnh những người thợ mỏ đi sâu vào lòng đất, khai thác khu mỏ một cách khoa học. Biểu tượng của một nền sản xuất hiện đại đấy!
Còn hiện nay, — thời của phát triển – nhớ đến các vùng mỏ là người ta nhớ tới khai thác theo lối thổ phỉ. Vài cái lều như lều vịt được dựng lên. Rồi từng bao tải con con được buộc sau xe đạp và chuyền tay từ xe nọ sang xe kia. Trên nền của một vùng đất hoang sơ, con người sao mà bé nhỏ thảm hại! Giống như những đứa trẻ nhân lúc bố mẹ đi vắng mở tủ lấy tiền ra phố chơi game, chúng ta ăn cắp của ngay quê hương xứ sở mình!
Mùa hè 2004, có dịp nghỉ ở Sầm Sơn, tôi được nghe một cậu xích lô giải thích về tình trạng đường xá ngổn ngang ổ gà khấp khểnh: “Có gì lạ hả bác, ban ngày giao thông vừa đổ cát sỏi ra đường, thì đêm dân họ ra họ hót về xây nhà xây sân, đâu mà còn vật liệu làm đường“.
Còn việc sau đây thì xảy ra ở Hải Phòng: một cây cầu mới xây ở bị bà con mình tháo nậy cả ốc vít, bù loong, để mang bán đồng nát.
Những hoạt động mang tính chất thách thức cả pháp luật như thế này rõ ràng cách phản ứng tự phát của người dân.
Ở chỗ riêng tư, ta hãy nghe họ lý sự:
– Không ăn thì mấy ông chính quyền cũng ăn.
– Các ông ấy ăn nhiều chứ mình được mấy!
Thì ra không phải là họ không hiểu rằng mình sai trái hư hỏng. Song họ vẫn làm. Họ chống tham nhũng và quản lý kém bằng cách thêm một tay đẩy nhanh cái quá trình tiêu cực ấy. Mà đây không phải chỉ là những phản ứng nhất thời. Phải xem nó – thời gian gần đây — là cả một xu thế chi phối cách sống cách nghĩ nhiều người.
Vụ thi cử nào cũng kèm theo bao tai tiếng. Dẫu vậy, trong nhận thức cuả nhiều người tôi quen, so với những vụ PMU18 hoặc Vietnam Airlines hoặc Vedan… thì những bê bối trong ngành giáo dục thường được xem là chả thấm thía gì.
Nói chung, người ta dễ thông cảm với chuyện mấy ông chính quyền địa phương dung dưỡng cho các trường “tùy nghi“ trong thi cử; người ta lại càng dễ bỏ qua cái chuyện mấy bậc cha mẹ học sinh xông vào tận trường thuê người giải bài rồi ném đáp án cho thí sinh.
Đặt những cuộc thi là cái mốc thì dễ dàng nhận ra có một sự nỗ lực liên tục trong hành xử của các bậc phụ huynh trong suốt thời gian con cái đến trường. Sự nỗ lực này kéo dài từ chuyện quà cáp cho thầy cho cô để xin điểm từ các năm tiểu học, cho tới việc chạy đôn chạy đáo xoay sở và mua chỗ cho con ở các cơ quan công sở sau khi con tốt nghiệp đại học.
Hình như trong muôn vàn thứ tội hối lộ, cái chuyện hối lộ để con cái có được mảnh bằng và chỗ làm việc là dễ tha thứ nhất.
Tại sao cách định hướng tương lai theo kiểu đó đang trở thành phổ biến?
Hãy nghĩ đến một lý do đơn giản: với nhiều người dân thường, nay là lúc hiện tượng tham nhũng đã trong tình trạng bất khả kháng.
Vậy thì chỉ có một cách tốt nhất để một người bình thường đỡ thiệt là họ cũng phải được tham dự vào cái bộ máy quan liêu đang hái ra tiền đó.
Mà làm gì có phép mầu nào khác, ngoài cách kiếm cho con cái các loại bằng cấp danh hiệu. Rồi chịu khó xuất ít vốn mua chức vụ, từ đó len dần vào bộ máy, để có cơ hội tham nhũng như ai.
Bỏ vốn ra rồi sẽ có lúc hoàn vốn, người ta ngấm ngầm rút kinh nghiệm. Không hẹn mà nên, nhiều người đã gặp nhau ở cái “ý tưởng lớn“ đó.
Đọc trên một số tờ báo, thấy nói các cuộc đình công trên toàn quốc đã lên đến con số hàng ngàn. Và trên diễn đàn Quốc hội, khi bàn về luật lao động các đại biểu có xu hướng muốn xem việc đình công này là một phản ứng tự nhiên, có sự tranh chấp không thỏa đáng thì phải có đình công, không thể vì cớ “ bảo đảm yêu cầu quản lý, yêu cầu ổn định “ mà xem cuộc đình công nào cũng là bất hợp pháp.
So với cách phản ứng trực tiếp bằng đình công của công nhân, thì cái cách bà con “nhẫn nhục chung sống với bất công” “lấy tham nhũng nhỏ để chống tham nhũng lớn” mà tôi thử miêu tả trên đây có vẻ không mấy thách thức, song chính ra nó mang lại những tai hại sâu xa và nặng nề hơn. Nói nôm na tức là cách “chống tiêu cực” ấy có vẻ Chí Phèo và nó gây hại ngay đến cả người trong cuộc, nó hạ thấp người ta xuống.
Ghi lại ở đây tôi chỉ muốn lưu ý rằng đạo đức và cách kiếm sống của con người trong xã hội là có liên quan đến nhau.
Từ những sự việc nho nhỏ hàng ngày trong lòng cộng đồng luôn luôn có sự tổng kết ngấm ngầm để biến thành “minh triết” chi phối sự tồn tại hàng ngày của mỗi cá nhân.
Trong y tế, một khi tình hình căn bệnh lây lan đã quá phổ biến, người ta gọi đó là một trận dịch. Trong sức khỏe tinh thần cũng có hiện tượng tương tự.
In lần đầu trên báo Người đại biểu nhân dân 7-2006. Bổ sung và in lại trong Những chấn thương tâm lý hiện đại, Nxb Trẻ, 2009. Hoàn chỉnh lần cuối, 8-2011.
Ghi chú ngày 12-8-11
Chí Phèo đã trở thành một thứ siêu mẫu trong xã hội hiện đại với nghĩa một cách sống trơ tráo liều lĩnh ăn vạ. Gần đây một số nhà nghiên cứu văn học có xu thế nhận ra trong nhân vật này của Nam Cao niềm khao khát lớn lao là được trở lại với cuộc sống lương thiện và xem đó chính là một điểm sáng trong hình tượng nhân vật. Song trong bài này, người viết vẫn dùng Chí Phèo theo nghĩa cũ.
MỘT BÀI VỀ GIAO THÔNG TẠI VIỆT NAM IN TRÊN MẠNG
Ngày 3 tháng 10 năm 2019
Tại bất kỳ quốc gia nào, vấn đề văn hóa giao tiếp là lối sống, nếp nghĩ của người dân được biểu hiện trong sinh hoạt hàng ngày, luôn thể hiện cho sự tiến bộ xã hội của đất nước ấy. Văn hóa giao tiếp là sản phẩm của ý thức, tri thức thông qua học tập, giáo dục từ gia đình, cộng đồng và nhất là tại các trường học. Tất nhiên, muốn đạt chuẩn nào đó về văn minh, thì còn phải cộng thêm yếu tố công nghệ khoa học hiện đại (tại thời điểm) được ứng dụng rộng khắp, phục vụ đời sống của con người trên đất nước ấy…
Từ xa xưa, chợ là nơi giao thương buôn bán, trao đổi hàng hóa. Và chính từ nơi này mọi giao tiếp ứng xử giữa con người với nhau, cùng với việc tiêu dùng sử dụng hàng hóa đã tao nên những hình thức văn hóa và văn minh sơ khai “kẻ chợ”. Từ hình thức chợ tự phát ban đầu, dần dần khái niệm về đô thị bắt đầu hình thành và liên tục phát triển thành các đô thị như ngày nay. Như vậy, biểu hiện nếp sống văn hóa tại những nơi công cộng đông người (thành thị), có thể được coi như là bộ mặt văn hóa của một khu vực, hay rộng lớn hơn đó là văn hóa của một đất nước.
Để có hạn mức đánh giá một điều gì đó cần phải có một thước đo, hay một sự so sánh. Việt Nam là một cái nôi của Nền Văn Minh Lúa Nước cho nên ta có thể so sánh với một đất nước có chung một nền văn minh tương tự đó là đất nước Thái Lan.
Trong một lần đi thăm Thái Lan, tôi không khỏi ngỡ ngàng về một quốc gia được coi là một cường quốc về… trồng trọt. Thái Lan là một nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đồng thời hoa quả của họ cũng chiếm một thị phần không nhỏ trên thị trường thế giới…Nhưng bước chân đến các thành phố của Thái Lan, đặc biệt là thủ đô Bang Kok du khách không khỏi bất ngờ về một đô thị văn minh hiện đại không kém gì các thành phố hiện đại của Châu Âu. Người ta khó mà cảm nhận, hay là nhận thấy một “Nền Văn Minh Lúa Nước” tại nơi này…
Các thành phố của Thái Lan đều là thành phố của các cây cầu và… xe Buýt. “Bước chân ra khỏi cửa là nhìn thấy cầu và xe Buýt”. Đó là những điều đập vào mắt mọi du khách. Đường phố của thủ đô Thái Lan hầu hết đều rất rộng thường là từ 8 đến 10 làn xe và tỉ lệ diện tích được sử dụng làm đường giao thông luôn chiếm từ 20% diện tích chung của thành phố trở lên.
Riêng về cầu thì nhiều nhất (về số lượng), phải kể đến cầu vượt dành cho người đi bộ sang đường, tuyệt đối không có kiểu “hầm vượt” như tại Hà Nội của Việt Nam. Đường ngầm chỉ dành cho xe cơ giới thay vì cầu vượt tại một vài giao lộ, và đường hầm dành cho tàu điện ngầm. Đó là một sự giỏi giang về hiểu biết tâm lý người tham gia giao thông, của kiến trúc sư thiết kế quy hoach đô thị. Kế đến là số lượng cầu vượt dành cho xe cơ giới tại các giao lộ, những cầu vượt này cùng với những cây “siêu cầu” là những đường sắt trên cao, đường cao tốc (tiếng Thái gọi là thang đuồn) dành cho ô tô xe máy trên cao (có những tuyến cầu dài hàng vài chục km là đường cao tốc nối thành phố này với thành phố khác) đã tạo ra những “nút giao thông… cầu” rất hoành tráng và tráng lệ, mà hoàn toàn không phá vỡ cảnh quan, cũng như nhịp điệu hài hòa của thành phố.
Nói đến sự hiện đại trong các thành phố của Người Thái thì còn phải liệt kê rất nhiều, nhưng mục đích của bài viết này nói về văn hóa giao tiếp là một mặt của văn minh đô thị, nên tác giả không đi sâu trong phần giới thiệu sự hiện đại của các thành phố ở Thái Lan…
Như đã giới thiệu, xe Buýt là phương tiện giao thông cơ bản của người dân, nhất là tầng lớp lao động. Tại Bang Kok có khoảng trên 1000 tuyến xe Buýt khác nhau, với đủ loại xe lớn nhỏ. Bước chân lên xe là hành khách được nghe “xà guặt đi kha”(xin kính chào) từ người phụ xe kiêm bán vé, dù đó là xe cao cấp có gắn máy lạnh hay là xe Free không tính tiền. Trên xe Buýt đặc biệt ít nghe tiếng nói chuyện riêng, người ta không bao giờ hỏi người lạ kế bên là “anh đi đâu ?” chẳng hạn. Trên xe Buýt có dành riêng chỗ ngồi cho người khuyết tật, các nhà sư, và tất nhiên là những người này không phải mua vé. Nếu có một cụ già hoặc một em bé thiếu nhi, hay một phụ nữ mang thai bước lên xe, thì ngay lập tức có người đứng lên nhường ghế ngồi. Không ai ngồi gác chân hay co chân lên ghế, đặc biệt là ít người ngồi gác chéo chân này lên chân kia, quay ngang quay ngửa vv…
Lần đầu, người viết bài này bước chân lên một chiếc xe Buýt loại kiểu cũ, chỉ có hai hàng ghế hai bên. Một hình ảnh rất đẹp đó là mọi người đều ngồi nghiêm trang, chân vuông góc với đùi, không ai duỗi chân thẳng chiếm chỗ lối đi ở giữa, rất giống với một đoàn binh lính đi hành quân…
Ở Thái Lan không có chuyện người sợ xe ! Mà là xe sợ… người. Nếu vì lý do nào đó mà một người phải băng qua đường thì những chiếc xe hơi sẽ kiên nhẫn chờ cho người đi bộ đó đi qua. Không có chuyện như ở Việt Nam lái xe thò đầu ra quát “muốn chết hả ?” hay thậm chí là một câu chửi hết sức tục tằn không có văn hóa…
Tại Thái Lan, những người chạy xe gắn máy trên đường cao tốc mới bị bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm.
Một người Việt sống lâu năm ở Thái kể lại câu chuyện mà anh ta đã chứng kiến tận mắt. Đó là cả đoàn xe khi đi qua một cánh rừng đã phải phanh gấp và dừng lại chờ cho một con rắn bò uể oải ngang qua đường.
Nếu một người đi bộ cùng chiều với xe hơi vô tình chiếm lối đi (tất nhiên là chỉ xảy ra trên đoạn đường hẹp) thì chiếc xe hơi đó sẽ kiên nhẫn chờ đợi cho người đi bộ đó nhận ra là có xe đi phía sau, chứ họ hoàn toàn không khi nào dùng còi vì sợ người đi bộ giật mình ! Nhưng như vậy không có nghĩa là người đi bộ cứ đi lăng xăng lộn xộn, vì mỗi người đều rất có ý thức khi tham gia giao thông…
Thủ đô Bang Kok có khoảng vài triệu chiếc xe ô tô các loại, nhưng đi cả ngày cũng khó nghe tiếng còi xe. Có chăng chỉ là tiếng còi điện chào nhau của mấy bác tài xế, hoặc là tiếng còi của mấy chiếc xe Buýt mời hành khách đi xe mà thôi…
Ngay cả mấy bác xe ôm cũng mặc áo đồng phục tử tế, và nhất là ai đứng trước, có khách đến thì đi trước. Không có chuyện tranh giành chèo kéo khách, thậm chí giằng túi xách lôi khách đi xềnh xệch như ở Việt Nam.
Tại các quầy dịch vụ hoặc các máy ATM, dù đông người hay chỉ vài người chờ đợi thì không ai bảo ai, họ đều tự giác xếp hàng không có chuyện chen lấn, xô đẩy...
Những câu “khỏ thốt, khọp khun khrắp”(xin lỗi, cám ơn) là những câu rất thường được nghe khi đi ra đường và trong sinh hoạt…
Không thể đưa ra nhận định là do học thức của họ cao, vì qua tìm hiểu thì đại bộ phận những người mà tác giả bài viết này đề cập đến, đều là tầng lớp lao động. Vậy chỉ có một cách giải thích duy nhất đó là do nhận thức trong giáo dục.
Tại Thái Lan, vào những ngày nghỉ thì không nói đến, nhưng những ngày thường, rất ít có trẻ em là thiếu nhi, thiếu niên đi ra đường chơi rông. Nếu bắt găp cảnh sát sẽ hỏi ngay: Tại sao cháu không đi học? Như vậy là từ trong nhà trường đến ngoài xã hội đều rất quan tâm đến các em nhỏ.
Một cái nôi hết sức quan trọng cho việc giáo dục đó là tôn giáo!
Thái Lan có rất nhiều tôn giáo, nhưng nhiều nhất là Đạo Phật (khoảng 70% dân số). Hầu như bất kỳ ai cũng theo một tôn giáo nào đó mà không có chuyện không tôn giáo. Chính những giáo lý của các tôn giáo đã dạy cho con người biết sợ các đấng thần linh và khuôn phép ở đời…
Một thông tin từ nhà nước về tình hình tôn giáo tại Việt Nam năm 2009 nói rằng “Việt Nam có trên 85 triệu người nhưng chỉ có 20% là có tôn giáo”. Con số này hoàn toàn không đúng, nhưng nếu đúng như vậy thì hiện nay trên 60 triệu người Việt Nam đang không có tôn giáo nào!
Đây là một thảm họa!
“Hỗn loạn” đó là hiện thực của xã hội Việt Nam ngày nay…
Người ta có thể lao vào ẩu đả lẫn nhau cho đến chết, chỉ vì một va quệt nhỏ trong giao thông. Có thể giết nhau chỉ vì một cái “nhìn đểu”, hoặc biết bao xích mích nhỏ nhặt khác mà thực ra, chỉ cần một lời xin lỗi là đã vừa đủ. Chưa kể đến những vụ cướp bóc tàn bạo, hãm hiếp tàn bạo mà những hành vi đó có lẽ chỉ xảy ra đối với loài thú dữ không có nhân tính mà thôi…
Phần “con” trong con người đang trỗi dậy khủng khiếp!
Phần “người”đang bị triệt tiêu một cách xót xa!
Ngày còn nhỏ, tôi đã chứng kiến một đàn gà bị nhốt trong một cái chuồng chật chội, mà người chủ quên không cho ăn. Loài gà vốn là một loài vật hiền lành, nhút nhát (có lẽ là hiền nhất trong các loài vật). Thế nhưng trong lần đó tôi đã tận mắt nhìn thấy chúng mổ vào hậu môn nhau cho đến chết, và dùng mỏ móc ruột các con gà nhỏ, yếu ra để ăn ruột của các con gà xấu số đó. Thì ra, đứng trước cái đói, cái chật chội bức bách, đến loài gà cũng trở thành ác quỷ!
Người ta tranh giành nhau cơ hội làm ăn, giành giật nhau lối đi trong giao thông. Người ta kiếm tiền bằng mọi giá, mọi thủ đoạn, bất chấp hậu quả sẽ như thế nào! Trong một xã hội sống gấp gáp, vội vàng như vậy thì những giá trị đạo đức hỏi tìm đâu ra chỗ đứng?
Về mật độ dân số, Việt Nam hiện nay có mật độ dân số cao gấp năm lần mật độ trung bình trên thế giới, và cao gấp 1,5 lần so với Trung Quốc (tài liệu của Qũy Dân Số Thế Giới).
Thật khủng khiếp, vì sự hỗn loạn trong xã hội Việt Nam ngày một gia tăng, những tội ác man rợ ngày nào cũng xuất hiện tràn ngập trên báo chí.
Nguyên do vì đâu?
Do nền giáo dục vô kỷ vô cương! Do vấn đề “thượng bất chính, hạ tất loạn”! Do kỷ cương phép nước bị lợi dụng cho những nhóm người có chức quyền! Do sự phân hóa bất minh giữa kẻ giầu và người nghèo! Do không gian sống chật chội (nhất là trong các thành phố). Liệu ai đó có muốn phát điên lên không, khi bị tắc đường hàng giờ trong làn khói bụi ồn ào và cực kỳ ô nhiễm, tiến không được, lui không được, mà trên đầu lại chình ình một cái “nồi cơm” là chiếc mũ bảo hiểm?
Điều quan trọng nhất là do mỗi người dân chưa ý thức đầy đủ về mối nguy hại tiềm tàng của sự hỗn loạn đang xảy ra trên đất nước Việt Nam.
“Trông người lại nghĩ đến ta”. Nhìn những chú chim đủ loại, từ Sáo, Mi, Cu Gáy, Qụa…, nhất là Bồ Câu tự do vô tư kiếm ăn, bay nhảy bên ven đường, nơi đông người qua lại mà tuyệt nhiên không có ai (kể cả các em nhỏ) xua đuổi, săn bắt chúng tại Bang Kok. Ta thấy chợt buồn cho văn hóa của một Hà Nội “Thăng Long ngàn năm văn hiến”, “thanh lịch người Tràng An”, “tử tế người Hà Nội” vv và vv.
Nói như vậy không phải là xã hội Việt Nam ngày nay không còn người tốt, việc tốt. Nhưng rõ ràng cái ác đang lấn át cái thiện. Sự sợ hãi là bản năng động vật của con người đang dày vò tâm trí người tham gia giao thông, người đi đường. Người ta sợ tai nạn giao thông đến bất thình lình, sợ bị giật túi xách, giật đồ trang sức bất kỳ lúc nào, kể cả lúc đang đi bộ. Chưa kể là có thể vô tình bị đánh nhầm, chém nhầm.
Đất nước Thái Lan không phải là Thiên Đường và chưa phải tuyệt đối mọi điều đều tốt đẹp. Nhưng xã hội Thái hoàn toàn đang là một giấc mơ đối với người Việt (trong nước) chúng ta!
TÌNH THẾ BẤT LỰC
Ngày 9 tháng 10 năm 2019
Ở Hà Nội trước 1954 có một bài học thuộc lòng mà học sinh tiểu học chúng tôi phải học.
Hôm nay trời lại mưa phùn
Đường em đi học lầy bùn khổ chưa
Trên đầu không nón che mưa
Có đôi guốc vẹt lại vừa đứt quai
Một tay che vạt áo dài
Một tay túm chặt lấy hai ông quần
Bùn sâu đến mắt cá chân
Sách em xốc lại mấy lần chực rơi
Xa xa trống đã điểm hồi
Em còn đứng mãi ngoài trời đội mưa.
Vào những ngày mưa phùn giá rét ở HN hôm nay, tự nhiên những câu lục bát ấy cứ lởn vởn trở lại trong đầu. Cái cảm giác lúng túng bất lực từng có từ hồi tuổi nhỏ hình như kéo dài cho đến bây giờ. Mà có phải riêng mình đâu, chắc những người “ cũng một lứa bên trời lận đận” hôm nay cũng thường có lúc chạnh lòng thấy mình chưa thoát khỏi tình cảnh năm mươi năm trước sáu mươi năm trước…
Ngày 14 tháng 10 năm 2019
Báo Lao động Tết Bính Tuất có bàI về khu di tích hoàng thành Thăng Long. Khu vực khai thác mấy năm trước coi là niềm tự hào thì nay bị để hoang. Những thứ của chôn mấy trăm năm dưới đất nay bị lôI lên giữa thanh thiên bạch nhật gây biến dạng. Nước và không khí trở thành nhân tố phá hoại. Nghe mà xót xa làm sao ! Nhưng càng xót xa hơn, nếu như biết rằng một chuyên gia nước ngoàI còn dự đoán, nếu không có sự xử lý kịp thời thì di tích hoàng thành rồi sẽ có lúc biến thành … bãI rác.
Một kiến trúc sư tôI quen bảo rằng, mình cũng nghĩ vậy, nhưng không dám nói. Thậm chí không dám nghĩ tới nữa vì thấy nó thảm quá mà chẳng biết làm sao để thay đổi cả. Được cáI dân mình luôn luôn có cáI để lo toan bận bịu, nên cũng dễ quên.
....
Chẳng phảI là tôI cố ý mê tín người nước ngoàI đâu, song quả thật nhiều lời cảnh báo của họ quá đúng, có lẽ vì có được sự khách quan mà đúng. Sau đây là hai tin khác nghe được gần đây tôI mà cứ muốn nói cho mọi người cùng biết. Một là một quan chức ngoại giao ở Hà Nội lâu, nhận xét rằng hiện nay ở Việt nam sự chênh lệch giữa giàu và nghèo đã lên đến mức kinh hoàng. Và hai là giám đốc trung tâm nghiên cứu Việt Nam ở Havard lưu ý là ở xã hội Việt Nam hôm nay, con người không có nhu cầu hiểu biết, thanh niên cố sống cố chết đi học chỉ cốt kiếm mảnh bằng rồi xin việc, chứ học để biết làm việc thì không mà học để làm người tốt hơn lại càng không.
....
Giá kể như ngày trước thì nghe những tin như vậy, có người đã kêu rằng họ ác ý. Nay chúng ta bình tĩnh hơn công nhận là họ nói đúng. Đây chính là cáI mới mà chỉ những ngày hôm nay mới có.
Nhưng vẫn chỉ là mới một nửa. Trước nhiều nhận xét có tính phê phán, phản ứng thông thường của ta là nghe đâu để đấy, tỉnh bơ đi coi như không có, thậm chí trong bụng có người thầm nghĩ giá họ không nói thế thì tốt hơn.
Cũng thuộc nhận xét của người ngoài đến thăm và làm việc ở nước ta, còn có một loại khác. Đó là những lời ngoại giao, cái gì cũng cảm động, cáI gì cũng khen, khá khách sáo và nhiều khi là những lời đãI bôI. Ai đi đến những miền đất mới chả phảI ngoại giao một chút như vậy, thực không có gì đáng trách. Chỉ lạ một nỗi là so với mấy lời chê bai đúng đắn thì cáI loại “ ngoại giao “ này lại được đàI báo ở ta thích nhắc đI nhắc lại. Chúng ta quá ngây thơ chăng? Hoặc đã mệt mỏi quá chăng? Các cụ xưa có câu “ Sáng tai họ điếc tai cày” ám chỉ cáI việc người ta chỉ nghe được những gì thích nghe. Hóa ra lời xưa vẫn đang chứng nghiệm.
CUỘC TRỞ THÀNH CHÍNH MÌNH CỦA MỖI CÁ NHÂN : CÓ HẲN HAI GIAI ĐOẠN NGƯỢC NHAU
Ngày 22 tháng 10 năm 2019
NĂM BẢY CHỤC NĂM TRƯỚC: CHẲNG AI ĐƯỢC LÀ CHÍNH MÌNH
Trong một lần gặp gỡ đầu 2016, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu có kể với tôi là ở nhiều xí nghiệp do người nước ngoài làm chủ hiện nay, có nhiều thợ mới.
Họ là những người nông dân bỏ làng ra tỉnh để làm ăn. Nhưng cách sống cách suy nghĩ của họ thì hoàn toàn là của những người nông dân đi làm thuê lang bạt.
Họ không được đào tạo đầy đủ.
Họ không có đồng lương hợp lý. Họ xa gia đình và sống trong một hoàn cảnh tạm bợ.
Họ luôn nghĩ rằng mình chỉ làm cho qua một thời gian, kiếm ít vốn để sinh sống và sau này sẵn sàng quay trở về làng quê nơi đã xuất phát.
Nguyễn Thị Hậu và các đồng nghiệp của chị -- dân xã hội học - cho rằng đó không phải là những người công nhân theo đúng nghĩa của nó.
Phần tôi trong những năm 1960 tôi thường hay gặp gỡ với nhà văn Võ Huy Tâm, tác giả cuốn tiểu thuyết Vùng mỏ mà tất cả các học sinh Việt Nam đều phải biết dù không mấy người yêu thích.
Anh Tâm đúng là một công nhân thật.
Anh kể với tôi, chỉ có công nhân thời nay thì mới ăn cắp, còn người công nhân thời Pháp thuộc không bao giờ ăn cắp vì nếu ăn cắp họ lập tức bị sa thải liền.
Vậy có thể nói là cái mà chúng ta hay xác định về nhau rằng là người thành phần nọ thành phần kia, hóa ra toàn chuyện áng chừng. Con người bây giờ như một câu thơ của Hồ Xuân Hương tả các nhà sư, "chẳng phải tàu chẳng phải ta" tạp nham hỗn hào thật khó xác định.
Khoảng năm chục năm trước, tôi có lần ngồi với nhà thơ Hoàng Hưng. Vốn cùng là dân học sinh Hà Nội, chúng tôi thử rút kinh nghiệm về quãng đời mài đũng quần trên ghế nhà trường và thử tính xem xã hội muốn mình thế nào, từ đó gọi xã hội hôm nay là gì.
Chắc là nghiền ngẫm đã lâu, anh Hưng bảo tôi, hãy tạm gọi nó là xã hội thích không được.
Mình đã hỏi nhiều người -- anh Hưng nói tiếp - tất cả những thằng học khá chúng mình đều có cảm tưởng là cả lớp không thích , nếu không muốn nói là ghen ghét đố kỵ. Vì đây là một xã hội cá mè một lứa, mình mà nổi lên là gây phiền cho nhiều người. Nhưng các anh học kém cũng không được yên. Phát hiện ra cậu nào thuộc dạng học sinh cá biệt thày chủ nhiệm cũng chỉ thị cho bọn học giỏi phải kèm anh ta bằng được, không để một ai dưới trung bình. Anh không có quyền kém cũng như những anh khác không có quyền giỏi. Thế chẳng phải thích không được là gì.
VÀ THỜI NAY
NHỮNG CUỘC “LẬP NGHIỆP” NGOẠN MỤC
Mới học cấp II (phổ thông cơ sở), bọn học sinh Chu Văn An những năm 1960 trở về trước chúng tôi đã được huy động đi dạy Bình dân học vụ. Nhà ở Thụy Khuê nên tôi được giao dạy ở khu vực làng Hồ (Yên Thái), chuyên làm giấy. Tuần hai buổi, thứ hai thứ năm, tôi theo xe điện lên Bưởi rồi cuốc bộ vào mãi cuối xóm, dưới ánh đèn dầu dạy cho một bác thợ seo.
Trí thức hóa công nông – đã từng có một khẩu hiệu như thế. Nói nôm na là thời ấy, người ta không được dốt.
Ngày nay tôi vẫn bị cách nghĩ đó ám ảnh, và thấy nó có vẻ đúng nhưng lại thấy rõ là nó đã lạc hậu. Nhìn những anh em làm lao động chân tay, chẳng hạn mấy bạn trẻ công tác bảo vệ ở chung cư mình đang sống – các anh em này khi rỗi rãi chỉ chơi game --, tôi đã mấy lần định bảo họ sao không theo học một chương trình nào đó, nhưng lại thôi ngay. Đấy cũng là lúc tôi buồn rầu nhận ra cái điều đơn giản rằng nay đã sang một thời khác. “Thời nay tử tế mới khó chứ lười biếng dốt nát tha hồ không ai chê trách, tương tự như cờ bạc rượu chè nhậu nhẹt đang được khuyến khích!” - ai đó đã nói với tôi như thế và tôi không cãi lại được.
Điều này đúng với cả các em đang cắp sách đến trường. Quyền được dốt của học trò ngày nay được thực thi nghiêm túc hơn nhiều so với các thế hệ trước. Em có kém cỏi đến mấy, các thầy các cô cũng chẳng quan ngại. Thang điểm ngày càng hạ, vả chăng đã có các lớp học thêm, và đường dây chạy bằng cấp ...- cả một cơ chế hình thành bảo đảm cho những bạn trẻ -- trong đó đặc biệt nổi lên một số lười học nhưng lại khôn ngoan giỏi giang trong việc xoay sở kiếm chác -- yên chí vào đời lập nghiệp. Họ được khuyến khích và dần dần đóng vai trò rường cột xã hội. Nhớ lại thời đi học chắc có lúc họ nghĩ giá kể mình gắng sức học giỏi theo nghĩa trường ốc thì chắc chẳng được như thế này.
Thế còn những học sinh học giỏi thời nay thì sao? Câu chuyện năm chục năm trước tôi với anh Hoàng Hưng bàn nhau nay đã trở thành lạc hậu. Xã hội đang khuyến khích những người trí thức giỏi giang theo cái nghĩa riêng mà chỉ thời nay mới có:
1/ trở thành gà chọi để mang khoe, biến thành cây cảnh để chứng tỏ tiềm năng trí tuệ của địa phương cũng như cả cộng đồng.
2/ được trao vài vai quan trọng trong bộ máy quan liêu, việc này khiến nhiều nhà chuyên môn giỏi ngày nay chỉ còn cái mã và nếu trong quá trình quan liêu hóa này họ có tha hóa biến chất thì cũng không ai tước bỏ cái vai chuyên môn hôm qua của họ. Họ đã trở thành một thứ bản thể mới, xa lạ với những lý tưởng trong sáng mà họ noi theo khi mới bước vào đời. Nhưng nhìn lại từ lúc còn hàn vi thì phải nói cái quyền được giỏi của họ vẫn được bảo đảm đấy chứ?
Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng? Suy trước tính sau, tôi vẫn chỉ thấy có một câu trả lời là gần như thế. Không phải ai thời nay cũng đi theo con đường tha hóa, nhưng theo thiển ý của tôi sức đề kháng ở mỗi người ngày càng yếu ớt. Thỉnh thoảng trên các trang mạng tôi cũng đọc được vài tin về các trí thức trẻ Trung quốc . Nhiều người trong họ du học Anh Mỹ trở về lúc đầu trong lòng cũng còn đầy lý tưởng, nhưng rồi, trên đường tiến thân và lo hạnh phúc gia đình, họ cũng nhanh chóng gia nhập vào bộ máy chuyên chế và tham nhũng. Trở thành chính mình lúc này đồng nghĩa với đầu hàng
NGHÈO ĐÓI SINH RA BỆNH TẬT
Ngày 29 tháng 10 năm 2019
Vào khoảng 1973 – 74, trên báo Nhân dân có một cuộc thảo luận về làm ăn thật thà. Về lý thì mọi người đều nghĩ dân ta được giáo dục đến nơi đến chốn, ắt chuyện không thật chỉ là chuyện ngẫu nhiên cá biệt. Sau đi vào cuộc thì hóa ra sự thiếu thật thà quá phổ biến. Chính tôi cũng thắc mắc như vậy cho đến một lần được nghe nhà văn Nguyễn Đình Thi giải thích. Ông nói khá dài, và đưa ra nhiều ví dụ nhưng tôi nhớ nhất là cái câu chốt lại của ông: ở trình độ kinh tế tiểu nông như mình thì người sản xuất có muốn cũng không thể thật thà được.
***
Một con số thống kê về rượu cho biết dân ta hiện nay cứ ba người thì có một người uống rượu, và tỷ lệ này tăng theo trình độ học vấn, chính trong tầng lớp có học vấn cao lại có nhiều người uống khỏe.
Tuy nhiên điều làm tôi chú ý là tỷ lệ rượu giả. Tức là chính các cơ sở rượu sản xuất theo lối thủ công lại có nhiều rượu giả hơn ở khu vực sản xuất theo dây chuyền công nghệ. Trong cảnh khó khăn, người ta dễ sinh ra làm liều làm bậy, làm hại sức khỏe của mọi người mà không có thời gian để hối hận.
***
Từ lúc còn học trên ghế nhà trường, chúng tôi đã được giáo dục: trong cảnh nghèo đói, dân mình thường thương nhau, lá lành đùm lá rách. Cho tới gần đây, khi xem lại cuộc triển lãm Hà Nội thời bao cấp, nhiều người vẫn thích nhắc lại là hồi ấy, cọng rau con cá cũng chia nhau tình làng nghĩa xóm rất đầm ấm. Tôi đồng ý với nhận xét đó, nhưng muốn bổ sung thêm, đó chỉ là một phương diện của thực tế. Không nên quên một phương diện khác là chính trong những năm khó khăn đó, con người sinh ra nhiều thói xấu: Có cái gì cũng che che giấu giấu, chỉ sợ người khác biết ; trong khi đó lại soi mói chung quanh và sẵn sàng trở nên cay nghiệt không muốn cho ai hơn mình; có thể nói, chỉ cần nghiêm khắc tự vấn lương tâm, mỗi chúng ta sẽ nhận ra hồi ấy, sự ích kỷ có những biểu hiện hết sức tinh vi. Chữ Hán có câu Nhân bần trí đoản ; nói nôm na tức là khi đã nghèo thì cách nghĩ của người ta cũng hết sức hạn hẹp. Và một trong những cách tốt nhất để làm cho con người trở nên cao thượng là làm cho họ trở nên giàu có hơn.
***
Cứ tưởng chỉ những gia đình giàu có mới có trẻ em hư hỏng. Song thống kê cho biết nhiều xóm liều ở các thành phố lớn hiện nay là ổ tội phạm, trong đó có nghiện hút.
Đã rõ là nghèo đói sinh ra bệnh tật — chữ bệnh tật ở đây là dùng với nghĩa rộng.
Có thể nói đây là một lý do để chúng ta càng thêm quyết tâm trong việc xóa đói giảm nghèo. Chỉ khi nào cùng biết căm giận tình trạng nghèo đói dai dẳng này và tìm cách vượt lên bằng nhữngcon đường chính đáng thì chúng ta mới khá lên được.
Nhưng tôi muốn nói thêm, những suy nghĩ cũ càng cổ hủ về cái nghèo còn nặng nợ trong mỗi chúng ta lắm. Trong khi nhận xét chung về tình hình trì trệ của văn hóa Hà Nội, một người Việt đang định cư ở Mỹ có một nhận xét khá vui vui: Chị bảo giả sử trên đường phố có hai người đụng nhau thì cách phân giải thường thấy là giữa hai bên ai nghèo hơn, người đó sẽ được cảm tình của mọi người và dù sai đến đâu cũng sẽ được tha thứ. Nghèo đói đang là cái cớ một số người sống lười biếng cẩu thả thường viện dẫn ra để … làm bậy.
NHỮNG CUNG BẬC CỦA CÁI HÈN Ở NGƯỜI VIỆT
Ngày 14 tháng 11 năm 2019
Bài sau đây tôi viết từ 12 năm trước, trong một chùm bài viết về thói hư tật xấu của người Việt đã được hình thành trong lịch sử và đưa trên tờ Thể thao văn hóa 2007.
Bởi vậy một trong những nhược điểm rõ nhất của bài là không có những liên hệ với tình hình của người Việt trong thời đại hiện nay, đặc biệt là trong quan hệ với các vấn đề xã hội - chính trị, rất mong các bạn đồng cảm có lòng yêu quý, sẽ tiếp tục làm công việc liên hệ ấy để chúng ta cùng đạt tới một sự tự nhận thức cần thiết.
Với những phản hồi của các bạn đối với các bài viết của tôi, thường tôi đọc rất kỹ và tìm cách tiếp thu để đưa vào các bài viết tiếp tục, còn thói quen và nhất là sức khỏe của tôi không cho phép tôi cảm ơn ngay và tranh luận khi cần thiết, rất mong các bạn hiểu cho.
*****
Không cần tìm đâu xa, trong các truyên cười dân gian, người ta đã bắt gặp vô số chân dung người Việt hèn. Anh chàng sợ vợ định nói phét thì gặp vợ về. Thầy đồ ăn vụng, thầy đồ liếm mật. Sư mô cũng gian dâm ăn cắp.
Có đến mấy truyện cổ tích trong đó có vai phú ông tham vàng bỏ ngãi, định gả con gái cho người này rồi thấy người khác giàu hơn lại hèn hạ bội ước. Cho đến cả chàng Thúc Sinh trong Truyện Kiều, trước cảnh Kiều bị vợ cả là Hoạn Thư hành hạ, cũng chỉ đành đóng vai giả câm giả điếc không dám đứng ra bênh vực con người mà mình từng thề non hẹn biển.
Dân nghèo nên hèn đâu cũng gặp, kẻ giàu hèn rất nhiều, cho đến cả mấy triều vua cũng kế nhau mà hèn một cách thê thảm.
Đó là vào giai đoạn từ đầu thế kỷ XVII trở đi khi Đàng ngoài rơi vào tình cảnh “vua Lê chúa Trịnh “. Vua bị tước quyền, chỉ ngồi đó là bù nhìn, mọi công việc do phủ chúa quyết định. Đến khi có người hỏi sao lại làm thế thì trả lời đại ý là như vậy việc nặng nhọc dồn cả sang vai chúa, mình được chân nhàn nhã, cũng chẳng là may hay sao (!)
Cũng là một thứ lý sự của kẻ hèn.
Ở phương Đông cũng như phương Tây, thật ra người xưa đã khôn ngoan bảo nhau “tránh voi chẳng xấu mặt nào“, biết sợ kẻ đáng sợ không phải là xấu.
Điều đáng nói ở đây là cái cách chịu thua và biết sợ của người xứ mình. Trong sự hèn ở đây, có thái quá biến thành khiếp nhược; lại có niềm tin rằng không bao giờ bằng người. Trước một việc lẽ ra phải lấy cái chết để tự khẳng định thì người ta vứt bỏ đạo nghĩa, hy sinh danh dự miễn sao bảo toàn tính mệnh; từ đây sinh ra cả một cách sống lẩn khuất chui nhủi.
Theo Nguyễn Tất Thịnh (Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt – 2006 ) và một số bạn khác, dân mình có một nhu cầu giấu giếm rất lạ. Đánh nhau kiểu hội đồng sau lưng mà không đối mặt đấu trường. Trên diễn đàn thì ngậm miệng nhưng bàn nát chuyện ngoài quán. Bao nhiêu tinh lực dành cho sự lẩn lách để tồn tại, bởi vậy ưa những hình thức phi chính thống. Nói năng cởi mở nhưng phong cách khép kín. Khi nói chuyện không dám nhìn thẳng. Hay nói nước đôi lập lờ. Giữa đám đông hay thì thào liếc ngang liếc dọc. Nói chung là tâm lý không ổn định, hay thay đổi thất thường.
Tất cả những thói quen tương tự không chỉ cho thấy nhiều người chúng ta là những kẻ yếu mà lại tố cáo một điều quan trọng khác sự hèn yếu ở đây tước đi ở con người lòng tự trọng, ý chí ngoan cường vượt lên trên tình thế bi đát trước mắt.
Trong nhiều truyện ngắn Tô Hoài viết trước 1945, người ta bắt gặp những đôi trai gái yêu nhau, đã thề không lấy được nhau thì chỉ có chết. Kết cục vài tháng sau trai đi lấy vợ gái đi lấy chồng bình thản như không, chả ai chịu chết cho thiệt thân.
Nguyễn Công Hoan vốn nổi tiếng với những những truyện ngắn gây cười. Song đến Tôi cũng không hiểu tại làm sao I và II, ( 1937 ) giọng ông trầm tĩnh hẳn đi. Truyện thứ nhất kể về một công chức ăn sáng trong giờ làm việc, bị sếp người Pháp bắt quả tang. Anh này lúc đầu cãi cứng, đến khi bị sếp bảo há mồm ra cho xem thì cũng há, để phô ra cả cái vẻ lố bịch khá thương tâm.
Trong truyện thứ hai một công chức khác ( đồng sự của anh trên) đi làm muộn, đặt một con tính cũng sai, chữa mãi không được, xoay ra cáo ốm và xin nghỉ không lương. Chủ thấy thế dọa cho anh thôi việc luôn. Rốt cuộc cái anh công chức hay bướng đó đành xin lỗi chủ, để rồi ra ngoài tâm sự với bạn, không hiểu tại làm sao mình lại có những phút đê tiện như thế.
Các nhân vật trong truyện dân gian hèn một cách bẩm sinh. Đến các công chức ở đây, cái hèn của họ vẫn tự nhiên, song bước đầu con người đã nhận thức đươc tình thế, ít ra đã tự mình đặt câu hỏi tại sao mình lại hèn vậy. Đây là sự vận động trong tâm lý mà chỉ con người hiện đại mới có, nó là cơ sở để người ta trưởng thành dần dần.
Song ở con người hiện đại, cái hèn còn có một hướng phát triển khác.
Nên biết là trong các từ điển tiếng Việt được soạn nghiêm túc, chẳng hạn Từ điển Hoàng Phê, hèn không chỉ có nghĩa là nhát yếu thấp kém mà còn có nghĩa là cách làm kém bản lĩnh, đến mức đáng khinh, ví dụ cái hèn của một kẻ đánh trộm, cái hèn của một kẻ dùng những mưu kế ít người ngờ nhất để đánh bại kẻ mạnh hơn mình.
Hèn ở đây là từ phản nghĩa của dũng cảm đàng hoàng khí phách.
Trong tâm lý học, người ta lại còn nói đến những quá trình tâm lý kỳ lạ khi hai mặt đối lập của cùng một quá trình tâm lý tự nhiên hoán vị cho nhau, ví dụ kẻ tự ti nhút nhát bỗng có lúc tự tin quá đáng, kẻ hèn nhát đến bước đường cùng vụt trở nên liều lĩnh làm được những việc mà bình thường chỉ người dũng cảm mới làm nổi - mà cuối cùng thì tuy vẫn gọi là thành công song cũng sụp đổ luôn về tính cách. Đây là những khía cạnh tâm lý thấy rất rõ ở người Việt hiện đại, có điều còn ít được miêu tả và nghiên cứu.
QUA KHEN THƯỞNG BIẾT TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ XÃ HỘI
Ngày 26 tháng 12 năm 2019
1/
Những chuyện dở trong khen thưởng tôi nghe được trước tiên từ giới thể thao. Đáng lẽ trước khi thi đấu phải lo đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá đúng thực chất của mình, thì với nhiều người phụ trách ngành này, điều quan trọng nhất lại là chạy giải thưởng để tạo ra một cú đột phá. Họ ngầm bảo: cứ treo giải thật cao, rồi việc gì cũng làm được. Trong một cách nghĩ như vậy, thấy có sự nông nổi, dễ dãi. Nhất là thấy có sự cầu may, thiếu tự tin, tự đặt cho mình những yêu cầu quá cao để rồi làm khổ mình, sau hết sinh ra cay cú lừa mình dối người . Riêng với những vận động viên thể thao thì đã nảy sinh tâm lý vòi vĩnh, mặc cả.
2/
Chẳng những thể thao lo thưởng mà ở đâu cũng thấy có chuyện giải thưởng. Đố vui. Mua hàng. Chọn bài hát. Đoán người trúng giải… Cứ muốn thu hút người ta vào một việc gì đó cho thật đông vui là thấy bày ra giải thưởng. Và tôi cảm tưởng lúc nào một bộ phận xã hội cũng như trong cuộc đỏ đen cờ bạc. Lúc nào cũng chen chúc ồn ào, cũng í ới giục giã nhau đi thi cho mau, may ra được thưởng, không thi ngay chỉ có thiệt. Lại còn nhiều đợt học tập tìm hiểu về vấn đề gì đó mà các địa phương và các đoàn thể vẫn làm nữa chứ! Làm ăn nghiêm túc thì dễ khô khan; phải thêm một tí giải thưởng vào như một chất xúc tác để cho hoạt động này thêm hấp dẫn - ban đầu người ta chỉ nghĩ đơn giản vậy. Nhưng rồi cứ đà ấy mà kéo, rút cục trước mắt chúng ta việc nghiêm túc biến thành một trò câu khách. Người ta thi, người ta làm việc, người ta bỏ ra bao nhiêu thời giờ, thậm chí người ta mưu mẹo kiếm chác nữa, tất cả chỉ vì giải thưởng.
3/
Hàng ngày xem ti vi luôn thấy có chuyện các đơn vị, các ngành mừng công kỷ niệm. Rồi nhân dịp sáu tháng đầu năm, nhân dịp cuối năm, các cơ quan bước vào tổng kết. Không rõ trong thực tế, những buổi tổng này có rút ra được kết luận nào sâu sắc không, nhưng xem cách đưa tin trên mặt báo và các phương tiện truyền thanh truyền hình, thì thấy nhiều khi nó được làm theo lối chiếu lệ. Ở đó người ta nói với nhau quá nhiều những lời sáo rỗng. Và ở đó, đang hình thành một lối đánh giá nhau xem xét nhau hòa cả làng, giản đơn, dễ dãi. Ý tôi muốn nói tới cái lối lôi nhau ra thưởng một cách… vô tội vạ. Thưởng tràn lan. Thưởng theo niên hạn. Cứ ai không có khuyết điểm gì lớn, là được thưởng. Thưởng như thế là một cách xúc phạm đối với những người làm việc tốt, họ nghĩ rằng có ai biết cho công lao đóng góp của mình đâu, cá mè một lứa cả, thế thì từ nay về sau, không tội gì phải cố cho thêm nhọc xác! Thưởng nhau đại trà như thế chỉ là làm hỏng nhau thêm, cái hại này ai cũng thấy vậy mà cũng cứ nhắm mắt để mở rộng phong trào phát thưởng và lĩnh thưởng.
4/
Một nhà nghiên cứu lịch sử trung đại kể với tôi rằng các vua triều Nguyễn có lối ban thưởng rất tế nhị. Thưởng cho một viên quan, chỉ báo cho ông ta biết rồi bảo cứ về, sẽ cho lính mang tới nhà. Tại sao? Vì trước triều đình như thế là đã bố cáo cho mọi người thấy là ông ta có công lao rồi. Còn không làm công khai, vì biết thông thường ở những xã hội còn kém phát triển như xã hội ta, con người khi nhận phần thưởng thường bộc lộ những mặt không mấy dễ thương, ví dụ như quá hý hửng đến mức gần như là hèn hạ. Vua hiểu triều thần, không muốn cái phần xấu xí trong người bầy tôi tài năng của mình có dịp bộc lộ, nên tránh cho ông ta trước. Bồi dưỡng nhân tài lâu dài mới là một mục đích sâu xa của ban thưởng.
5/
Khen thưởng không chỉ quan hệ với số đông. Mà trước tiên nó cho thấy năng lực và tầm vóc thực sự của những người chủ trì hoạt động một ngành nào đó và mở rộng ra cho tới cả xã hội . Những người này định ra những chuẩn mực như thế nào, hiểu biết về khu vực mình quản lý đến đâu? Có hiểu lao động của người dưới quyền và muốn trình độ họ ngày một nâng cao? Tức ở đây là chuyện tổ chức và định hướng công việc. Và đằng sau đó là quan niệm của nhà lãnh đạo về con người, cùng những cách tác động để kích thích con người. Gọi nó là một thứ văn hóa khen thưởng mới đúng, thứ văn hóa rất cần thiết cho những người có quyền.
Rút gọn từ bài
Khen thưởng cũng phải trở thành văn hóa blog VTN ngày 17-1-2010
NHỮNG CUỘC “TRỞ THÀNH MÌNH” RẤT NGOẠN MỤC
Ngày 28 tháng 12 năm 2019
Mới học cấp II (phổ thông cơ sở), bọn học sinh Chu Văn An những năm 1960 trở về trước chúng tôi đã được huy động đi dạy Bình dân học vụ. Nhà ở Thụy Khuê nên tôi được giao dạy ở khu vực làng Hồ (Yên Thái), chuyên làm giấy. Tuần hai buổi, thứ hai thứ năm, tôi theo xe điện lên Bưởi rồi cuốc bộ vào mãi cuối xóm, dưới ánh đèn dầu dạy cho một bác thợ seo.
Trí thức hóa công nông – đã từng có một khẩu hiệu như thế. Nói nôm na là thời ấy, như tôi nói trong bài viết ngày 25-12, người ta không được dốt.
Ngày nay tôi vẫn bị cách nghĩ đó ám ảnh, và thấy nó có vẻ đúng nhưng lại thấy rõ là nó đã lạc hậu. Nhìn những anh em làm lao động chân tay, chẳng hạn mấy bạn trẻ công tác bảo vệ ở chung cư mình đang sống – các anh em này khi rỗi rãi chỉ chơi game --, tôi đã mấy lần định bảo họ sao không theo học một chương trình nào đó, nhưng lại thôi ngay. Đấy cũng là lúc tôi buồn rầu nhận ra cái điều đơn giản rằng nay đã sang một thời khác. “Thời nay tử tế mới khó chứ lười biếng dốt nát tha hồ không ai chê trách, tương tự như cờ bạc rượu chè nhậu nhẹt đang được khuyến khích!” - ai đó đã nói với tôi như thế và tôi không cãi lại được.
Điều này đúng với cả các em đang cắp sách đến trường. Quyền được dốt của học trò ngày nay được thực thi nghiêm túc hơn nhiều so với các thế hệ trước. Em có kém cỏi đến mấy, các thầy các cô cũng chẳng quan ngại. Thang điểm ngày càng hạ, vả chăng đã có các lớp học thêm, và đường dây chạy bằng cấp ...- cả một cơ chế hình thành bảo đảm cho những bạn trẻ -- trong đó đặc biệt nổi lên một số lười học nhưng lại khôn ngoan giỏi giang trong việc xoay sở kiếm chác -- yên chí vào đời lập nghiệp. Họ được khuyến khích và dần dần đóng vai trò rường cột xã hội. Nhớ lại thời đi học chắc có lúc họ nghĩ giá kể mình gắng sức học giỏi theo nghĩa trường ốc thì chắc chẳng được như thế này.
Thế còn những học sinh học giỏi thời nay thì sao? Câu chuyện năm chục năm trước tôi với anh Hoàng Hưng bàn nhau nay đã trở thành lạc hậu. Xã hội đang khuyến khích những người trí thức giỏi giang theo cái nghĩa riêng mà chỉ thời nay mới có:
1/ trở thành gà chọi để mang khoe, biến thành cây cảnh để chứng tỏ tiềm năng trí tuệ của địa phương cũng như cả cộng đồng.
2/ được trao vài vai quan trọng trong bộ máy quan liêu, việc này khiến nhiều nhà chuyên môn giỏi ngày nay chỉ còn cái mã và nếu trong quá trình quan liêu hóa này họ có tha hóa biến chất thì cũng không ai tước bỏ cái vai chuyên môn hôm qua của họ. Họ đã trở thành một thứ bản thể mới, xa lạ với những lý tưởng trong sáng mà họ noi theo khi mới bước vào đời. Nhưng nhìn lại từ lúc còn hàn vi thì phải nói cái quyền được giỏi của họ vẫn được bảo đảm đấy chứ?
Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng? Suy trước tính sau, tôi vẫn chỉ thấy có một câu trả lời là gần như thế. Không phải ai thời nay cũng đi theo con đường tha hóa, nhưng theo thiển ý của tôi sức đề kháng ở mỗi người ngày càng yếu ớt. Thỉnh thoảng trên các trang mạng tôi cũng đọc được vài tin về các trí thức trẻ Trung quốc . Nhiều người trong họ khi du học Anh Mỹ trở về lúc đầu trong lòng cũng còn đầy lý tưởng, nhưng rồi, trên đường tiến thân và lo hạnh phúc gia đình, họ cũng nhanh chóng gia nhập vào bộ máy chuyên chế và tham nhũng. Trở thành chính mình lúc này đồng nghĩa với đầu hàng.
VẬN MAY CÓ TỚI CŨNG CHẮC ĐÂU ĐÃ BIẾT TẬN DỤNG
Ngày 30 tháng 12 năm 2019
Sau đây là một truyện cười tạm đặt tên là "Ba điều ước" – tôi đọc được ở đâu đó không nhớ, song mỗi lần ôn lại trong đầu, cứ thấy nó vận vào tình cảnh những người như mình.
Hai vợ chồng nhà nọ nghèo quá, bảo nhau giá kể bây giờ Bụt hiện ra cho mình mấy điều ước thì tuyệt biết mấy.
Lần ấy Bụt hiện ra thật. Bụt bảo cho các con ba điều ước.
Đang đói, anh chồng buột miệng:
-- Ước gì có khúc dồi chó.
Vừa nói xong thì một khúc dồi chó vừa nướng ngon lành hiện ra trên một chiếc đĩa.
Chị vợ tức lộn ruột. Thằng cha này ngu quá.
Trong cơn bực bội, thị liền ra đòn trả thù chồng :
--- Xin Bụt cho khúc dồi đeo ngay bên môi mà không ăn được, cho lão thèm đến lúc chết.
Bụt cho thực hiện ngay điều ước của người vợ.
Trong lúc người chồng bực bội thì thị cười như nắc nẻ.
Nhưng lập tức thị sầm ngay mặt lại. Sẽ cả đời sống với cái lão chồng thế này sao tiện?
Biết rằng trong ba điều ước có thể có đã mất tong đi hai, nhưng cuối cùng thị cũng phải ước xin cho miếng dồi chó biến khỏi mặt chồng, để rồi cả hai ngơ ngác như vừa sống qua một giấc mơ.
Tôi thường nhớ tới câu chuyện này để nghĩ về tình trạng cùng cực của con người hiện nay. Khi họ đã bị đầy ải quá mức, họ chỉ còn những ước nguyện vớ vẩn. Và rồi người nọ tìm cách phá hại người kia, không ai cho phép người bên cạnh mình thay đổi để được hơn mình.
Cả cộng đồng tay trắng lại hoàn tay trắng. Kể cả khi đã có Bụt cho ba điều ước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét