2. tôi học tiểu học
Tôi gọi bố tôi là thày và mẹ tôi là u. Về Đại Yên được một năm sau khi u tôi mất thì thày tôi tính chuyện cho tôi đi học và việc đầu tiên phải tính là làm cho tôi một giấy khai sinh. Khi đó 1949, tính theo tuổi ta, tôi vừa 7 tuổi, vậy tức là tôi phải sinh năm 1942. Cả đến ngày sinh của tôi, bố tôi cũng chỉ ang áng là đâu ngày rằm tháng mười một theo cách gọi cũ, tức là ngày 15 tháng 11 âm lịch và ông bê nguyên xi nó sang dương lịch. Hồi trước 4-1975, giới tạm gọi là trí thức thủ đô rất quen thuộc với việc đoán số tử vi, và theo sự giới thiệu của Nguyễn Khải, tôi cũng được loại thày như Hà Ân, Xuân Thiều chiếu cố một vài lần. Sau khi đưa các anh số liệu do ông bố tôi bịa, tôi chẳng chờ đợi gì nhiều, vậy mà kỳ lạ lá số vẫn khá đúng với tính cách con người tôi hồi nhỏ, và tôi đâm tin rằng cái cách mình sống đã là do sự quyết định của một thế lực thần bí nào đó không thể khác được.
Đại Yên và khoảng 1949 – 50 đâu đã có một trường tiểu học khang trang mà chỉ có một góc đình, ở đó tập họp lẫn lộn học sinh của mấy lớp khác nhau do thầy Vũ Đăng Mão phụ trách. Tôi đã liên tục theo đuổi được 3 năm tiểu học ở nhóm học trò nhốn nháo. Sau này khi gia đình tôi chuyển sang Thụy Khuê thì tôi chính thức được nhận vào lớp nhì của thầy Đỗ Danh Tầm (sau 10-1954 di cư vào Nam), rồi sang lớp nhất tức là lớp cuối cấp của thầy Nguyễn Văn Quỳ (ông cũng là nhạc sỹ Nguyễn Văn Quỳ, có mặt trong bộ phim Hà Nội đón chào bộ đội vào tiếp quản thủ đô; sau này ông sẽ dạy nhạc cho bọn tôi ở trường Chu Văn An niên học 1955-1956).
Quãng đường từ nhà tới đình Đại Yên lúc ấy chỉ độ hai trăm mét nhưng đối với tôi là quãng đường thân thuộc nhất trong làng Đại Yên mà tôi quen từ gốc cây ngọn cỏ, cùng là từng hàng gạch đã vỡ lủng củng lát trên đường. Đã đơn độc trong gia đình, tôi lại cũng không tìm thấy ở các bạn bè cùng lớp lúc ấy một môi trường đầm ấm. Bởi tôi chỉ là dân ngụ cư. Cái còn lại trong tôi chỉ là các bài học và mấy trang vở. Có lẽ hoàn cảnh của một cậu bé mất mẹ và hết mực vụng về lúng túng trong đời khiến cho tôi đã tìm thấy trong việc học một sự khẳng định mình.
Lại cũng giống như một lối thoát, hơn nữa, cả một thế giới khác. Ngay trong lớp học chắp vá của trường Đại Yên lúc ấy, tôi đã được thầy Vũ Đăng Mão truyền dạy cho một số bài học tiếng Pháp. Manh -tơ- năng giơ-ve da lê - côn -- Hôm nay tôi đến trường, đó là câu tiếng Pháp đầu tiên mà tôi ghi nhớ và tôi cảm tưởng là hình như sau thế giới ngôn ngữ đó có một cuộc đời khác. Một kỉ niệm nhỏ trong thời gian học ở trường Đại Yên là cái gọi trường tiểu học của tôi lại có giao hảo với một trường công giáo lúc ấy đặt ở vị trí của một nhà tu mà nay là Viện chống lao trung ương. Vào một dịp cuối năm, đám học sinh chúng tôi được lùa từ làng Đại Yên lên Đường Thành (tức đường Hoàng Hoa Thám ngày nay) rồi vào họp chung với trường công giáo nói trên, nói theo danh từ ngày nay tức là làm lễ bế giảng. Tại buổi lễ đó tôi được trao một phần thưởng là một cuốn từ điển Pháp Việt loại nhỏ. Dù rằng sau này sang học bên Thụy Khuê, tôi không được học tiếp tiếng Pháp, quyển từ điển kia tôi đã để đâu mất và rồi cả đời tôi cũng không bao giờ được tiếp tục học thứ tiếng cao quý đó nữa - nhưng quyển từ điển vẫn là một trong những kỉ niệm tuổi thơ hằn lên trong tâm trí. Sẽ mãi mãi còn lại trong tôi nỗi ao ước được học thêm ngoại ngữ. Tôi chia những người tôi quen ra làm hai loại, một loại thành thạo một hai ngoại ngữ và một loại chỉ biết tiếng Việt. Và dù ở đâu, trong đời sống hàng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp, những người biết ngoại ngữ - thường xuyên đọc sách báo nước ngoài, có thể quan hệ bình thường với người nước ngoài - là một loại người siêu đẳng, hay ít nhất cũng là một loại người có nhiều phần khác hẳn với đa số mà tôi vẫn quan hệ. Thường họ làm rất tốt công việc của mình, và nhờ biết ngoại ngữ, họ lại giỏi thêm tiếng Việt.
Ấn tượng về trường tiểu học với tôi rõ rệt nhất chỉ hình thành sau hai năm từ 1952 tới 1954 khi tôi học ở trường Thụy Khuê. Cũng như bên Đại Yên, trường lúc ấy đặt tạm ở một ngôi đình cũ, nhưng phân ra đàng hoàng, có đủ thầy cô và học sinh cho các lớp từ lớp năm tới lớp nhất. Tôi có cảm tưởng như mình được tiếp xúc với một cái gì chính quy hơn hẳn so với những lớp học nhộm nhoạm bên trường Đại Yên. Giá kể viết lại lịch sử giáo dục, chắc người ta phải ghi nhận là từ sau 1950, ngành giáo dục của Hà Nội “tạm chiếm” nhanh chóng đi vào chuẩn mực.
Thuở ấy học sinh rất thích được đi cắm trại. Vùng đất ước mơ của bọn học sinh ở trường Thụy Khuê lúc ấy là vùng ven Hồ Tây có tên là Võng Thị, Xuân La, Xuân Đỉnh. Từ Thụy Khuê theo xe điện lên Bưởi rồi đi bộ một quãng đường dài nữa, bọn học sinh lớp nhất chúng tôi đã từng có dịp lên tận Xuân Đỉnh làm những cuộc gọi là dã ngoại, giống như các đội hướng đạo sinh được tổ chức chặt chẽ trước 45.
Không rõ do liên hệ thế nào mà trường Thụy Khuê của tôi lại còn có những cuộc thi đấu bóng đá với học sinh Albert Sarraut, một trường theo hệ giáo dục Pháp giành cho học sinh tại Hà Nội đâu mãi tới năm 1965 mới giải thể. Các thầy của trường Thụy Khuê hồi đó kể cũng đã khôn ngoan, không chỉ lấy học sinh mà mượn ngay những thanh niên trong làng khỏe mạnh xung vào đội bóng để đi thi đấu và đội của chúng tôi thường xuyên chiến thắng trước đối thủ giàu có hơn mình, sang trọng hơn mình.
Càng về già tôi càng nhớ lại những năm học tiểu học với niềm ưu ái đặc biệt. Giáo dục ở nước Việt Nam thời Pháp thuộc là một nền giáo dục luôn luôn hướng tới những chuẩn mực đã hình thành trong quá khứ và còn giá trị trong tương lai, chứ không phải chỉ lo phục vụ xã hội đương thời.
So sánh thời tôi học tiểu học, với các lớp tiểu học ngày nay, tôi thường hay nghĩ đám trẻ bây giờ bị thiệt thòi khá nhiều. Việc đi học của chúng tôi có nỗi thú vị đơn sơ, mà dư vị còn mãi. Hồi ấy khá phổ biến một bài thơ ở dạng đối đáp: Xuân đi học trong lòng hớn hở/ Gặp chị Thu đi ở giữa đường/ Bảo rằng sao quá vội vàng / Trống kia chưa đánh đến trường làm chi. Trên con đường từ nhà đến trường, chúng tôi khám phá ra bao điều kỳ lạ. Còn học sinh ngày nay thường ngồi xe đạp đến với nhà trường với tâm lý của kẻ đua tranh, xét theo chương trình việc học quá nặng nề nào thi đua nọ, nào phấn đấu theo tiêu chuẩn kia. Có những trường người ta lập ra đội cờ đỏ chuyên môn theo dõi xem ai đến muộn đến sớm (cả thầy cô cũng bị theo dõi) thì sự hồn hậu đâu còn.
Một điều khá phổ biến nữa. Thường các giáo viên tiểu học dạy dỗ chúng tôi hồi ấy là những người rất yêu nghề và việc làm nghề của họ bên cạnh việc kiếm sống là tự nguyện. Đồng lương của họ hồi ấy khá ổn định (có thể nuôi được cả gia đình hai ba người) khiến họ yên tâm làm nghề suốt đời. Ngày nay thì khác, các giáo viên tiểu học thường chỉ ghé gẩm nghề này vài ba năm hoặc chục năm là cùng, rồi lại lo chuyển nghề hoặc đi học thêm thành giáo viên ở các cấp trên, tôi rất ít khi gặp được những thầy giáo cô giáo dạy cấp một mà lại yên tâm với nghề của mình. Tức là, thời nay loại cô giáo thầy giáo sinh ra để dạy cấp một đã tuyệt chủng.
Một ví dụ khác ở trường tiểu học học sinh khá nhiều trường hợp còn nói ngọng. Nhà trường thời nay quy các lỗi này là trách nhiệm của gia đình. Còn trong trường tiểu học ngày xưa, việc chữa nói ngọng cho các em là việc của thầy cô. Việc một thầy giáo cô giáo sau giờ lên lớp còn yêu cầu các em bị thói tật đó ở lại để thầy cô chữa cho bằng được – hành động đó không phải là hiếm.
Hồi ấy con người trưởng thành rất sớm, mặc dù chỉ mới học xong tiểu học nhưng họ đã là những người rất chững chạc, sẵn tinh thần công dân đáng kính trọng.
Tôi đặc biệt có ấn tượng về nội dung các sách giáo khoa mà học sinh tiểu học sử dụng.
Trong văn có sử, sách tiểu học hồi ấy đã có những bài nói về cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh
HẬN SÔNG GIANH
1- Đây sông Gianh! Đây biên cương thống khổ!
Đây sa trường! Đây nấm mộ trời Nam!
Đây dòng sông, dòng máu Việt còn loang.
Đây cổ-độ, xương tàn xưa chất đống.
Sông còn đây! Hận phân-ly nòi giống!
Máu còn đây! Cơn ác mộng tương-tàn.
Và còn đây! Hồn dân Việt thác oan.
Bao thế-kỷ chưa tan niềm uất-hận.
2- Ôi! Việt-Nam cùng Việt-Nam gây hấn,
Muôn ngàn sau để hận cho dòng sông.
Mộng bá-vương, Trịnh Nguyễn có còn không?
Nhục nội-chiến non sông còn in vết,
Ôi! sông Gianh! “Nơi nồi da nấu thịt”
Nơi gươm hồng tàn giết giống Lạc-Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng dòng sông.
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch.
- V.T.D.
(Bài thơ “Hận sông Gianh” của tác giả V.T.D. xuất hiện trong cuốn sách giáo khoa Việt văn Tân Quốc-Văn, Tập đọc - Học thuộc lòng do các giáo học trường Nguyễn Công Trứ tại Hà Nội soạn, trên sách có ghi dòng chữ “Đã được Bộ Quốc-Gia Giáo-Dục duyệt-y làm sách giáo-khoa trong các trường tiểu-học”. Bản này in năm 1952, lần thứ sáu, nhà in Nam Sơn, Hà Nội.)
Từ Fb Dang Than 30-3-25
Lại có những bài ghi nhận tình hình đất nước đang trong cảnh chiến tranh và chiến tranh có nghĩa là tàn phá những gì êm đẹp.
….
Lũy tre làng răng rắc vặn mình đau
Đàn súc vật lao đầu kêu tuyệt vọng
Ôi quê hương đắm mình trong khói súng
Đến bao giờ lại sống phút thân yêu
Mái tranh nghèo tha thiết biết bao nhiêu
Dòng sông mát yêu kiều bên bờ cỏ
Câu kết của bài
Ôi tha thiết ta thấy màu lửa đỏ -
Thiêu tàn trời thương nhớ ôi quê hương
Tôi muốn gọi Tân quốc văn lớp nhất là cuốn sách đưa tôi vào văn học. Ở đó ngoài các bài viết mà người ngày nay gọi là chính luận như các bài của Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, sách này còn gồm mấy loại bài vở rất cơ bản trích ra từ văn học tiền chiến. Tôi đã tìm thấy ở đây loạt bài đáng nhớ sau:
- Bài văn tả cảnh chùa Long Giáng trích từ Hồn Bướm Mơ Tiên, và bài tả một con đường phố huyện trích từ Dọc đường gió bụi, cả hai đều là tiểu thuyết của Khái Hưng.
- Bài viết về nỗi mơ ước của người nông dân với con trâu trong việc làm ruộng của mình, trích từ tiểu thuyết Con trâu của Trần Tiêu.
- Bài thơ Nhớ mẹ của Lưu Trọng Lư (Mỗi lần nắng mới hắt bên song…)
- Hai bài thơ Làng chài lưới và Lời con đường quê của Tế Hanh.
- Bài thơ Rằm tháng tám của Anh Thơ
- Bài thơ tả đêm hè của Bàng Bá Lân (Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa)
…
Tôi đã nhẩm thuộc những bài thơ lãng mạn ấy, như đã thuộc mấy câu tả chủa Long Giáng của Khái Hưng, in trong Tân quốc văn lớp nhất:
Trong làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả ngân nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm theo tiếng gọi của Mâu Ni, muốn theo về nơi hư không tĩnh mịch
…
Về mặt biểu cảm, và khả năng gợi nên yêu những bài thơ đoạn văn ấy thật khác xa với một số bài viết non nớt và ngớ ngẩn trong các sách giáo khoa bậc tiểu học (trước kia gọi là cấp 1) thời nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét