Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

FACEBOOK 2022

 

https://www.facebook.com/tacgiavuongtrinhan

MỤC LỤC

NGHĨ LẠI VỀ CHÍNH...SỰ NGHĨ Đđs

Ngày 9 tháng 1 năm 2022

Cổ nhân có câu “chớ có tham bát mà bỏ cả mâm”. Dịch câu nói ấy ra ngôn ngữ hiện đại, tức là trong khi giải quyết mọi việc, ta phải từ bỏ lối nghĩ thực dụng chật hẹp, lối chạy theo thành tích “mì ăn liền”, để hướng tới một cách nghĩ bao quát và sâu sắc hơn. 

Theo ý tôi đây là một trong những bài học đáng rút kinh nghiệm hơn cả, trước khi bước sang thế kỷ XXI.

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÀM VÀ NGHĨ

Có một câu nói cửa miệng - nhiều người trong chúng ta, kể cả các nhà trí thức, thường hay nhắc lại “nói thì dễ, làm mới khó”.

Một số người khi bắt tay làm một việc gì đó, mà e rằng sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là khi đã làm cái việc cần làm và làm sai, làm hỏng, rồi để chặn họng những lời phê phán của chung quanh, bèn phản bác một cách khéo léo: “ờ nói thì dễ, làm mới khó”.

Theo tôi hiểu chữ nói ở đây không chỉ là phát âm, dùng miệng cất lên thành lời để diễn đạt một ý tưởng nào đó, mà trong văn cảnh đã bao hàm cái ý nghĩ ngợi suy xét, tức vận dụng tư duy để giải quyết một nghi vấn (dân ta có câu: ăn có nhai nói có nghĩ). 

Vậy thực chất câu nói trên chính là: nghĩ thì dễ, làm mới khó.

Việc đề cao hành động ở đây, có lý do của nó. Trước nhiều công việc khó khăn hàng ngày, người ta chỉ gặp những người đứng ngoài lên mặt dậy khôn, hoặc bình luận lung tung chẳng dựa trên một sự nghiên cứu kỹ càng nào, cũng chẳng có sự xét đoán cụ thể  (nói như các cụ xưa: toàn những lời tán thối, bàn quanh bàn quẩn nhạt nhẽo vô bổ, thậm chí nghe rác tai và làm rối ruột những người đang hành động). 

Trong trường hợp đó, quả thật mới thấy quý người có kiến giải dứt khoát lại quyết đoán và sớm bắt tay vào hành động.

Thế nhưng, bình tĩnh mà xét, thì rồi cuối cùng, cái mà người ta cần, không phải chỉ là một hành động, mà là hành động có hiệu quả cao, tức không chỉ cần người dám làm mà là người làm giỏi, làm đúng. Và muốn làm đúng, phải có trình độ hiểu biết, có sự nghiên cứu tường tận, tóm lại cần người nghĩ đúng. Sự nghĩ ngợi chỉ là dễ, khi nghĩ một cách nông nổi, qua quýt, rồi lấy sự lợi khẩu làm bùa mê, lừa mình, lừa người, gọi là nghĩ mà chẳng có nghĩ gì cả. Cần cái nghĩ có khả năng gỡ rối, giải quyết công việc một cách hợp lý, cái nghĩ đó đâu dễ và câu châm ngôn cần thiết trong lúc này, có lẽ phải là “ làm đã khó, nhưng nghĩ còn khó hơn nữa”.

NGHĨ CŨNG PHẢI HỌC

Chữ nghĩ ở đây bao gồm cả sự tinh tường trong quan sát lẫn sự sâu rộng trong tầm nhìn, sự thông thoáng trong quan niệm, và sau hết sự nhạy cảm để lường trước mà tránh bớt đi những lỗi lầm đáng tiếc. Trong kho từ vựng của tiếng Việt, một phần sự đa dạng của suy nghĩ đã được mô tả: 

nghĩ sâu, nghĩ nông, nghĩ rộng, nghĩ hẹp,

 nghĩ chín và nghĩ chưa chín, 

nghĩ qua loa và nghĩ nát một điều gì đó. 

Cạn nghĩ thì chắc chắn là dở rồi, nhưng cả nghĩ chưa chắc đã là điều tốt, bởi sự nghĩ không chỉ được đo tính bằng thời gian hoặc sự khổ công mà cái chính là bằng hiệu quả, chất lượng. 

Có thể nói người đời hơn kém nhau ở khả năng nghĩ, tầm nghĩ và như vậy, nghĩ không phải là chuyện trời cho, ai cũng biết nghĩ, mà là một quá trình rèn luyện học hỏi, trau dồi, thể nghiệm liên tục. 

Không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học nhân văn đưa ra khái niệm homo sapiens (con người trí tuệ, con người có suy nghĩ) và xem đó là giai đoạn phát triển cao của nhân loại.

VƯỢT LÊN TRÊN SỰ THIỂN CẬN VÀ VỤ LỢI

Có một chiếc đồng hồ ở điện Versailles, Paris, được làm từ 1746 mà đến nay vẫn tiện dụng và hợp thời; đúng nửa đêm 31-12-1999,  nó đã gióng chuông và chuyển con số 1 (đeo đuổi trên hai trăm năm) thành con số 2, kèm theo ba số không. Và, “:theo tính toán hiện nay, chiếc đồng hồ này còn tiếp tục báo năm báo tháng báo giờ... nghiêm chỉnh thêm năm trăm năm nữa”.

Sở dĩ người xưa làm được việc đó, vì họ luôn luôn hướng về một cái gì trường tồn. Duy cái điều có người  liên hệ thêm “còn ngày nay, người ta chỉ chăm chăm xây dựng một toà nhà dùng độ hai mươi năm rồi lại phá ra làm cái mới” thì cần dừng lại kỹ hơn một chút.

Nếu người ta nói ở đây là chung cho con người thế kỷ XX thì nói thế là đủ. Một đặc điểm của kiểu tư duy hiện đại là nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu. Những cái gì có thể trường tồn được, thì họ vẫn làm theo kiểu trường tồn. Chính việc sẵn sàng chấp nhận mọi thay đổi chứng tỏ sự tính xa của họ.

Riêng ở ta, phải nói thêm: trong tình trạng kém phát triển của khoa học và công nghệ một số người cũng thích nói tới hiện đại. Nhưng trong phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi. 

Không phải những người tuyên bố “hãy làm đi, đừng nghĩ ngợi gì nhiều” bác bỏ sự nghĩ hoàn toàn. Có điều ở đây, bộ máy suy nghĩ bị đặt trong tình trạng tự phát, người trong cuộc như tự cho phép mình “được đến đâu hay đến đấy”  “không cần xem xét và đối chiếu với mục tiêu lâu dài rồi tính toán cho mệt óc, chỉ cần có những giải pháp tạm thời, cốt đạt được những kết quả rõ rệt ai cũng trông thấy là đủ”. Bấy nhiêu yếu tố gộp lại làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi và người ta cứ tự nhiên mà sa vào đó lúc nào không biết.

Khốn nỗi, chung quanh ta, số người suy nghĩ kiểu ấy không phải là ít.

Là thiển cận những người bán hàng chỉ lo lừa khách lấy một lần “chém thật  ngọt” mà không tính chuyện bận sau, người khách ấy có trở lại cửa hàng mình hay không. 

Là thiển cận, những vị “sếp” cơ quan chỉ lo chạy theo thành tích, không cần biết đến chất lượng công việc, và trong việc dùng người, chỉ thích những nhân viên dưới quyền khéo nịnh, dễ bảo, chứ không thích những người có chính kiến riêng. 

Từ một người dân đánh được một con chuột trong nhà liền vứt ngay ra đường cho xe kẹp, người bán rau quả còn dính thuốc sâu cho tới những trí thức đánh mất lòng tự trọng, khao khát chức quyền say mê theo đuổi học hàm học vị và sẵn sàng biến mình thành một thứ thầy cúng ê a nhắc lại những điều cũ rích, hoặc những nhà văn chỉ lo có thêm đầu sách để doạ thiên hạ, ngoài ra, sách in ra có không ai đọc cũng không cần biết... quả thật trong mọi phương diện cuộc sống, trong mọi ngành nghề, đâu đâu cũng có thể gặp những người thiển cận, chỉ đối chiếu công việc với những mục đích rất gần. 

Căn cứ để họ xác định cách sống chỉ là cái khu vực mà họ đang ngụp lặn, bon chen, chứ không có thế giới bao la và những thế kỷ dài dặc nào hết. Ngay cả khi họ tới đền chùa khấn khứa thì cũng chẳng phải họ đang trong tâm thế hướng thượng hoặc để tâm hồn vào một chốn cao siêu nào cả mà chỉ đơn giản là niềm tin rằng có thể tháng sau sẽ... có lộc! 

Người có kiến văn hạn chế thì dễ thiển cận đã đành.

 Nhưng cả những người có trình độ tạm gọi là cao, mà để cho cái lợi che mờ mắt, thì cũng rơi vào thiển cận một cách tự nhiên, và cái gọi là trình độ cao kia lại được sử dụng để bênh vực cho cái lối sống lối nghĩ tầm thường, người ta nhanh chóng rơi vào nguỵ biện mà không hay biết!

Đã in trong "Nhân nào quả ấy" 2004


CHUYỆN LAN MAN – TỪ THẾ GIỚI ĐẢO NGƯỢC TỚI NGHỊCH LÝ CUỘC SỐNG BĂT CHƯỚC NGHỆ THUẬT

Ngày 20 tháng 1 năm 2022

Mời đọc lại một bài đã đưa trên fb này 9/3/2016

---

Có một mẩu tin tôi đọc một lần, nhưng cứ nhớ mãi.

Tin các báo:

Trong phần chất vấn dành cho Thủ tướng phiên sáng ngày 17/11/15 tại Quốc hội, một đại biểu từ Tp HCM, ông Trương Trọng Nghĩa, nêu ra một nhận xét và đề nghị người đứng đầu chính phủ "giải thích thêm cho cử tri về việc này".

Nhận xét của đại biểu đó như sau :“Tham nhũng không giảm như các nghị quyết đã đề ra. Tham nhũng ngày càng tinh vi và có hiện tượng chi phối luật pháp và khi đó người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng chứ không phải là ngược lại”. (Cố nhiên, trong hoàn cảnh VN, phải hiểu thêm đằng sau đoạn văn trên có thêm hai ý 1/ cái người xử lý tham nhũng ở đây có thể không hiện diện ở tòa, nhưng đứng sau giật dây 2/ người chống tham nhũng ở ta ngày càng ít đi, vì trước tiên người ta sợ báo thù, ngại dại mặt “gái góa lo việc triều đình”, còn lại thường là nhóm tham nhũng này xử nhóm tham nhũng khác.)

--- 

Cái hiện tượng nêu ra ở đây khiến tôi nhớ tới một tình huống trong cuốn “Alice ở nước diệu kỳ” của nhà văn Anh L. Carrol (1832-1868).

Nguyên đây là câu chuyện về cô bé Alice chui vào lỗ thỏ để rồi lạc vào xứ sở trong mơ của Thỏ Trắng, uống chai nước và ăn chiếc bánh kỳ lạ, tìm cách mở những cánh cửa bí mật khóa kín, đối đầu với các bà hoàng hậu, và những lá bài ma thuật.

Sau một hồi phiêu lưu trong thế giới giả tưởng đoạn cuối cùng miêu tả trong truyện này, Alice ngẫu nhiên dự một phiên tòa trong cung vua: tòa xử một vụ ăn cắp bánh của hoàng hậu.

Ngẫu nhiên khi vua ra lệnh cho gọi nhân chứng thì chú thỏ trắng lại gọi ngay Alice. Alice chối:

- Tôi đâu biết về vụ ăn cắp mà làm chứng.

- Đó mới là điều quan trọng. Ý ngầm mà thỏ trắng không nói: chính là vì ngươi không biết ta mới cần ngươi.

Khi hoàng hậu nêu một lý do vớ vẩn để bảo Alice không được làm nhân chứng, vua quát hãy rời khỏi đây, và Alice nằn nì xin ở lại thì lại được chứng kiến một cảnh xử án không có nơi đâu.

- Vua: Hãy tiếp tục luận tội.

- Hoàng hậu: tuyên án trước rồi sẽ luận tội.

- Alice: Ai lại tuyên án trước luận tội sau bây giờ, thật phi lý!

- Hoàng hậu: đem con nhỏ này ra chặt đầu ngay.

Khi bị tuyên bố chặt đầu, Alice mới như tỉnh cơn mê. Với câu nói cuối cùng “tất cả bọn ngươi chỉ là một bộ bài không hơn không kém”, giấc mơ của Alice cũng chấm dứt.

----

Quay trở lại hiện tượng nêu ở trên. Nghe ông ĐBQH nói chúng tôi nhớ tới một sự thực: Có bao chuyện hàng ngày chúng tôi tưởng là bình thường, hóa ra không phải. Nay là lúc xã hội loạn ly, người lớn sợ trẻ con, thầy giáo sợ học trò, người tốt sợ người xấu, người ưu tú sợ kẻ bất tài. Cái tình thế xã hội mà vị Đại biểu Quốc hội vừa miêu tả “người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng” cũng chỉ là một phần của cái sự thực đó. Có thể tóm lại bằng công thức “thế giới đảo ngược.”

----

Cũng nhân dịp này, liên hệ tới thiên truyện “Alice ở nước diệu kỳ”, tôi nhớ tới một câu châm ngôn nghệ thuật:

- Không phải là nghệ thuật bắt chước cuộc sống mà chính ra là cuộc sống bắt chước nghệ thuật.

Cái ý này là của Oscar Wilde (1854-1900) 

Tôi không rõ là ông phát biểu trong lúc nào. Là một người đi học ở nhà trường Hà Nội sau 1954, rồi đi vào viết văn viết báo, suốt đời tôi tin theo công thức “nghệ thuật phản ánh cuộc sống”. 

Nay có người nói ngược lại và hình như không phải là không đúng. Vì tính chất nghịch lý của nó tôi vẫn nhớ mãi. Xin ghi lại ở đây để các bạn hiểu lý luận hơn giải đáp hộ.

PHỤ LỤC

Trên trang mạng kênh13.info 01/3-2016 tôi đọc được một đoạn có liên quan tới nghịch lý trên, xin đính kèm:

Sự nghiệp văn học đồ sộ của Oscar Wilde

Oscar Wilde là tác giả của khối tác phẩm văn học đồ sộ trong đó có 5 tập thơ, 9 vở kịch, 2 truyện dài, 1 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết.

“Bức chân dung của Dorian Gray” là tác phẩm nổi tiếng nhất được viết bởi tác giả này. Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim điện ảnh và gây tiếng vang rất lớn.

Điều thú vị là những câu nói trích dẫn từ các tác phẩm của ông nổi tiếng khắp thế giới, còn hơn cả chính tác phẩm của ông, trong đó điển hình như:

- Tôi không thích thời kỳ hẹn hò kéo dài. Nó khiến cho người ta biết hết mọi thứ về nhau trước khi kết hôn.

- Tôi có thể cưỡng lại mọi thứ, trừ sự cám dỗ.

- Chính là sự thú tội, chứ không phải các linh mục, khiến cho chúng ta cảm thấy được tha thứ.

- Cách duy nhất để thoát khỏi sự cám dỗ là đầu hàng nó.

- Điều duy nhất tồi tệ hơn việc bị mọi người bàn tán là không còn được ai bàn tán đến nữa.

- Trẻ con thường bắt đầu bằng tình yêu dành cho bố mẹ. Nhưng càng lớn lên, chúng càng hay phán xét bố mẹ. Thỉnh thoảng, chúng mới tha thứ cho họ.

- Không có cách gì hiệu quả để làm mất giá trị một con người bằng cách nói rằng, họ là kẻ phạm tội.

- Thế nào là một kẻ hoài nghi? Là người biết giá cả của mọi thứ nhưng không biết giá trị của bất cứ thứ gì.

- Kinh nghiệm là cái mà người ta dùng để đặt tên cho sai lầm của mình.

- Thật đáng buồn nếu trong cuộc đời, chúng ta chỉ nhận được những bài học mà chúng không còn giá trị sử dụng nữa.






TƯƠNG LAI MỌI CÁI SẼ TỐT LÊN

Ngày 15 tháng 4 năm 2022

Một trong những đức tính tôi luôn có dịp nhận thấy ở người Việt Nam, đó là họ có một niềm tin đặc biệt tích cực vào tương lai. "Mười năm nữa, mọi thứ sẽ tốt hơn", bạn có thể nghe ví dụ như vậy. Hoặc thỉnh thoảng: "Năm năm nữa mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn" hay "Hai mươi năm nữa mọi thứ sẽ tốt hơn lên."

Những câu nói như vậy thường nổi lên, ví dụ như, khi người ta bàn luận về tình trạng giao thông. Hoặc về sự ô nhiễm môi trường. Hoặc về đói nghèo. "Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có một hệ thống giao thông cực tốt và có trật tự như ở châu Âu!", người tiếp chuyện với bạn sẽ nói như vậy chẳng hạn, và sau đó gương mặt anh ta ngời sáng lạc quan. Khi mà ngay trước đó, anh ta vẫn đang buồn rầu bực bội, cho rằng giao thông ở Hà Nội hỗn loạn và luôn luôn tắc đường. Nhưng chậm nhất là hai mươi năm, khi có đủ tiền, và kinh tế phát triển, tất cả đường phổ rộng rãi hơn, Hà Nội có tàu điện ngầm mới toanh và hiện đại, ai cũng đi xe ô tô, khi đó tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn.

Điều này, một mặt, đó là một đức tính rất đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt khi một so sánh với người Đức, là những người lúc nào cũng luôn tin rằng năm tới tất cả mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Cũng giống như, quả đúng là tất cả mọi thứ năm này đều tồi tệ hơn nhiều so với năm trước.

Tuy nhiên, đấy cũng là một đức tính có chút gì đó đáng lo ngại, bởi vì nó dẫn tới một tác động ngược, nghĩa là sẽ chẳng có ai cảm thấy phải cố gắng để làm cho quả thực mọi cái sẽ tốt hơn. Tôn trọng luật giao thông? Hạn chế xài túi nilon? Hạn chế việc xả rác? Để làm gì, khi mà hai mươi năm nữa đằng nào mọi thứ cũng đều tốt hơn. Khi mà tất cả chúng ta đều giàu có. Dĩ nhiên sẽ nảy sinh ra câu hỏi, ở đâu trong vòng hai mươi năm nữa bất chợt nảy sinh ra một thế hệ những con người có đạo đức và đi xe trên đường phố theo đúng luật quy định, nếu như NGAY TỪ BÂY GIỜ khi họ đang còn là trẻ nhỏ đã học được những điều ngược lại: Chỉ những ai vị phạm càng nhiều luật lệ họ mới có thể đến được nơi mình muốn đến.

Về mặt này những người Đức kỹ tính dĩ nhiên đã đi trước một bước: không có niềm tin sâu sắc, rằng việc vượt đèn đỏ là điều báo hiệu sự sụp đổ của phương Tây, và ngay ngày mai tất cả các thành phố có thể sẽ phải chết một cách đau khổ trước mối hiểm nguy từ những hạt bụi siêu nhỏ, tất nhiên sẽ không dễ dàng gì trong việc làm theo những quy tắc nghiêm ngặt tương ứng. Điểm nhấn mạnh ở đây đó là việc hiện thực hóa, bởi vì ở Việt nam thực ra đâu có thiếu các quy định và luật lệ. Chính thức mà nói, tất cả mọi thứ xảy ra trên đường phố ở đây gần như đều bị cấm, và theo như hiểu biết của tôi, luật môi trường của Việt Nam thuộc vào loại nghiêm khắc trên thế giới. Chỉ có điều chẳng hề có ai quan tâm đến.

Đồng thời sự lạc quan về tương lai của nhiều người Việt Nam cũng có thể giải thích được, nếu người ta nhớ rằng suốt trong 30 năm qua, trên thực tế, mỗi ngày mỗi một thịnh vượng hơn, và nhiều vấn đề tự nó đã biến mất. Các bước nhảy vọt mà đất nước này đã làm được kể từ cuối thập niên 80 đến nay, đối với người châu Âu có lẽ họ sẽ không tưởng tượng nổi.

Mặc dù vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết liệu Hà Nội trong vòng 20 năm nữa có thực sự trở thành một dạng Singapore của người Việt. Với những con đường, mà người ta có thể ăn uống bên cạnh đó, những con đường trên đó các phương tiện giao thông nhẹ nhàng và thông suốt lướt đi, và nơi mà cứ cách 50 mét lại có một trạm xe buýt tại đấy khách đi xe có thể trả tiền bằng thẻ chip. Mặt khác, bản thân người dân ở Singapore cũng đã nói, rằng trước kia tất cả mọi thứ cũng rất hỗn loạn, và giờ đây họ không thể biết chính xác liệu con gà có trước hay quả trứng có trước: Trước tiên là có sự giàu có, và chỉ sau đó mới là tử tế và kỷ luật? Hoặc sự giàu có có được là do trước đó đã có ít nhiều tử tế và kỷ luật?

Số đông người Việt Nam rõ ràng đã tin vào cái đầu tiên, còn người Đức có lẽ sẽ ủng hộ nhiệt liệt cái thứ hai.

Hai mươi năm sau tôi sẽ quay lại đây lần nữa, và sẵn sàng đánh cược về thời gian này.


SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM  NHÂN BẢN

TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA

Ngày 21 tháng 4 năm 2022

Mấy hôm nay, đọc trên mạng cuộc trao đổi về đề thi môn văn kết thúc trung học phổ thông 2017.  

 Theo chỗ tôi đọc được cuộc trao đổi  dừng lại khá kỹ mấy chữ “THẤU CẢM” “TRẮC ẨN”. Và dù chưa chắc đã đi đến  đâu,  đó là việc cần thiết

Nhưng ở góc độ của mình, tôi  chỉ nghĩ sở dĩ câu chuyện xảy ra như vậy, mọi thứ  được mang ra trao đổi như vậy vì đối với chúng ta hôm nay nhất là đối với lớp trẻ nó, cái sự THẤU CẢM  với lại TRẮC ẨN ấy là cái gì xa lạ quá. 

Giá lúc này đây  trước mặt tôi là một học sinh chuyên văn. Tôi sẽ hỏi em  những bài văn nào trong  nhà trường đã dạy cho em về lòng trắc ẩn khiến em sẽ nhớ trong suốt cuộc đời. 

Không, hoặc  khiêm tốn mà nói là rất lờ mờ rất ít, có phải không em? 

Nói quá lên hẳn em sẽ bảo số lần em nghe nhắc tới chữ ấy chắc chưa đầy mười đầu ngón tay!

Trong các sinh hoạt trường lớp đội đoàn cũng vậy, chả bao giờ người ta muốn đưa mấy chữ ấy vào trong tâm trí em cả. 

Thế đấy, vậy mà bây giờ người ta nêu ra cho các em đi thi. 

Lỗi không ở người đã nêu vấn đề này trên mặt báo.

 Dù  những người ra đề này có lỗi nữa thì cũng không phải là một điều quá trầm trọng. Trong cơn bí và với mục đích thân thiện là muốn cho nhà trường gần với xã hội, họ đã cố gắng.

 Cái lỗi to lớn hơn sâu xa nằm  ở toàn bộ ngành giáo dục và suy cho cùng nữa là lỗi của cả xã hội, cái định hướng phát triển con người trong xã hội chúng ta. 

Ta hay nghĩ – và giáo dục lớp trẻ -- theo lối nghĩ  trong xã hội  mình là ai cũng hiểu ai ai cũng thương ai, rồi từ đó cho phép cái “con người tuyên huấn” trong mình tự do đấu tranh với những ai không công nhận cái chân lý tối thiểu đó. 

Ta ngại nói đến những gì lờ mờ non yếu trong tâm trí con người. Ta không hề quan niệm mỗi cá nhân là một cái gì phức tạp bởi -- như trong thời của bọn tôi càng rõ - sự phức tạp sẽ ngăn cản mỗi cá nhân trở thành người chiến sĩ “đi bất cứ nơi đâu làm bất cứ việc gì xã hội cần tới”  

Trong một xã hội “đồng phục” kiểu “Lôi Phong hóa”, sự hiểu biết lẫn nhau sự đặt mình vào địa vị kẻ khác không cần được đặt ra.

 Bởi thế, trong đời sống hàng ngày, ta chỉ hay nói đấu tranh phấn đấu vạch trần khuyết điểm tiêu diệt đến cùng sửa chữa phê phán quyết liệt.  Mấy thế hệ liền coi những biện pháp mạnh đó là cách duy nhất và tốt nhất giúp cho tính người nẩy nở...Hỏi làm sao con người ngày nay không lúng túng khi bàn  đến những chuyện tinh tế mà sâu sắc,  dù nó là những phạm trù hết sức quen thuộc với con người Việt Nam trước 1945 - những ai từng đọc nhiều thơ văn cũ hẳn chứng giám cho cái ý này của tôi.

Nhân đây, xin phép nhắc lại một chi tiết từ một bài báo nước ngoài.

Báo Pháp Khoa học & đời sống từng viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI,  một bạn trên Tia sáng số 9-98 đã dịch lại như sau :

1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới… 

Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác. 

Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội 

7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và 

8/Đô thị hỗn loạn.

Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những THỊ DÂN HUNG DỮ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội. 

Người ta kết luận “Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”.

 Bài báo này gợi ra cho tôi một sự so sánh 

-- trong khi theo đuổi một đường lối giáo dục  nhân bản và nói chung là xây dựng cho được một xã hội thân thiện với con người, thì những nền giáo dục ở các nước phát triển cũng không quên thăm dò những mạch ngầm nằm trong cách cư xử của họ, lấy đó làm điều cần nhắc nhở để giúp họ ngày một hoàn thiện

--  trong cái sự kém cỏi chung của ngành nghiên cứu con người   

-- tức bao gồm cả giáo dục  --, thì ở ta các ngành nhân học  này lại có xu hướng là xếp xó những vấn đề đang nảy sinh hàng ngày, hơn thế nữa lại còn cố tình chiều nịnh con người, ngăn cản họ tự nhận thức là cái yêu cầu bức thiết bậc nhất .

Điểm lưu ý cuối cùng: trong bài này tôi tập trung nói tới giáo dục. Quay trở lại với cái nghề của mình là nghề viết văn viết báo, tôi thấy chúng tôi cũng chẳng có gì khác.  Không cần kiểm ra chắc các  đồng nghiệp của tôi và các bạn từng yêu mến văn chương hẳn đều nhận ngay là  cái chủ đề  THẤU CẢM TRẮC ẨN với cách diễn giải như trên cũng xa lạ với chúng tôi bao nhiêu. chẳng cần suy diễn cũng có thể bảo rằng cái lỗi của giới cầm bút viết văn là một phần làm nên cái lỗi của các nhà giáo hiện nay.







CÓ PHẢI LÀ THẤT ĐỨC?

Ngày 8 tháng 5 năm 2022

CHUNG QUANH  VIỆC ĐÀO TAO TRÀN LAN CÁC TIẾN SĨ RỞM, ngoài trách nhiệm của  bộ máy quản lý,  tôi muốn nhìn thêm phần trách nhiệm của những người thày, các giáo  sư hàng đầu ở các ngành và cũng giới hạn sự xem xét ở khía cạnh đạo đức. Sau đây, là một bài viết từ đầu những năm 2000

CÓ PHẢI LÀ THẤT ĐỨC?

     Xã hội hiện đại là cả một guồng máy khổng lồ nó cuốn người ta đi và sự thực là nhiều khi chưa biết rõ việc làm của mình có ý nghĩa gì, nhiều người đã phải lao vào hành động để đáp lại sự đòi hỏi của hoàn cảnh cũng như để tạo nên những bước đi thích ứng với các đồng loại.

     Đến khi có dịp nhìn lại những lần "nhắm mắt đưa chân" kiểu ấy, người ta không khỏi bỡ ngỡ, như là ai khác chứ không phải mình đã làm việc này việc nọ.

     Song thì giờ dành cho phản tỉnh đâu có nhiều?

     Thế là các kịch bản cũ lại được tiếp diễn, kể cả các bi kịch.

     Và tôi ngờ rằng dù đã tỉnh táo đến đâu, nhiều khi chúng ta vẫn không hình dung hết quy mô của tấn bi kịch mà chúng ta đã thể nghiệm.

      Từ đây, lại dễ sinh ra thói xuê xoa, lấp liếm, thái độ lảng tránh sự thực, tức là cái bi kịch về sau thường đá thêm một chút sắc thái hài kịch.

      Dưới đây, tôi thử nêu lên một bi kịch nhỏ, mà một số người quen của tôi đã và đang trải qua.Tôi thành thật tin rằng các nhân vật của bi kịch không phải không nhìn thấy tình thế của mình.

    Có điều, nói như A.Camus, khi đã xuống thuyền rồi người ta không thể quay trở lại được nữa.

      Ấy là câu chuyện về một công việc đáng lẽ rất sang trọng. Việc một số giáo sư tham gia đào tạo lớp người kế tục, các phó tiến sĩ (nay đã đổi là tiến sĩ).

     Từ nhiều năm nay, anh Ng. tôi quen thường xuyên phải làm việc đó, bởi trong chuyên ngành nghiên cứu văn học, anh thuộc loại đầu đàn. Thời gian đầu, mỗi khi gặp nhau anh rất hay đả động tới chuyện này. Luôn luôn anh nhăn nhó và kể với tôi là các ông bà phó tiến sĩ tương lai ấy buồn cười lắm. Việc học ở ta, từ lớp dưới, vốn đã rất yếu nên sau mười mấy năm mài đũng quần trên ghế nhà trường, mang tiếng là đã xong đại học mà nhiều khi các học giả  tương lai đó "chẳng hiểu nếp tẻ gì cả" (trong ngôn ngữ hàng ngày, Ng. thường thích lối nói thậm xưng một chút như vậy).

     Nhưng có lẽ do sự nhạy cảm đặc biệt trước nhu cầu thời đại, phần lớn họ lại rất sính bằng cấp, có thể nói là muốn đạt tới bằng cấp bằng mọi giá.

     Thế là hình thành nên một nhu cầu mà những người như Ng. phải lấp đầy.

     Song làm mà vẫn ngại, vừa làm vừa chán chường.

      "Nhiều khi phải tự nhủ là mình đang làm những việc chả dây dưa gì đến văn chương thì mới dám tiếp tục" - anh Ng. có lần tâm sự.

     Nhiều năm đã trôi qua, mọi chuyện hầu như không có gì thay đổi nếu không muốn nói cứ đuối dần đi nữa. Tôi hiểu như vậy, khi thấy dạo này Ng. ít nói tới chuyện đào tạo.

     Trong hoàn cảnh của một người đã đến tuổi về hưu sắp lo làm sổ, anh chỉ còn mải miết tính nốt những việc đang dở dang và đáng lẽ nên để cho anh yên thì phải hơn.

     Thế nhưng trong cuộc đời này, ai dám bảo đảm là đã vắt kiệt cái máu Đông Ki-sốt trong người?

     Không hiểu ma đưa lối, quỷ đưa đường thế nào, chính tôi lại có lần máy mồm trở lại hỏi han về cái chuyện đào tạo của Ng:

- Thế sao anh vẫn tiếp tục nhận hướng dẫn?

- Đây là việc nhà trường giao cho, từ chối sao tiện? Hàng năm từ trên bộ đã có chỉ tiêu là phải đào tạo từng này từng kia người.

- ...

- Với lại không mình hướng dẫn thì người khác hướng dẫn. Guồng máy chung nó chạy theo hướng  của nó, mình có đi ngược lại cũng vô ích.

    Đến chỗ này thì tôi hiểu. Và tôi chợt nhớ ra những lời đồn đại của mọi người chung quanh về khía cạnh chính của vấn đề.

    Là không vất vả như luyện thi, nhưng công tác đào tạo trên đại học bây giờ cũng vớ bẫm lắm, càng học trò ở các tỉnh xa hoặc loại kém cỏi không biết gì càng nộp những phong bì nặng cho thầy.

    Không ai công bố con số cụ thể bao nhiêu, song người ta vẫn nói giăng giăng với nhau cả chỗ riêng tư lẫn chỗ đông người như vậy.

    Chẳng cần tinh ý gì lắm cũng có thể nhận ra sự thay đổi rõ rệt của Ng.

    Từ chỗ chê ỉ chê eo, anh đã hồn nhiên nhập cuộc.

     Bao nhiêu tài năng và nghị lực vốn có được anh đem dồn tất cả cho cái mục đích cụ thể mà người ta đã cột anh vào.

    Anh mang lại cho nó những ý nghĩa bất ngờ. Anh say sưa. Anh mê mải.

    Giờ đây có ai đó trong đám bạn bè tâm huyết lảng vảng định nói tới những bất cập trong công tác hướng dẫn luận án, anh không bắt lời nữa. Khi nói xa khi nói gần, anh gợi cho người ta cảm tưởng đây là chuyện mâm cơm nhà anh, và thiên hạ sẽ bất lịch sự, nếu cứ nhìn vào đó một cách soi mói.

    Không phải chỉ riêng anh Ng. của tôi rơi vào tình thế nói trên. Mà ở ngành nào, người ta cũng nghe những lời than thở và cách xử lý tương tự. Bởi vậy, tôi muốn được phép bàn rộng ra một chút.

     Các cụ xưa có hai tiếng "thất đức" để chỉ những việc làm để lại di hại cho nhiều đời sau.

     Giá bây giờ tôi bảo với những người như anh Ng. rằng công việc các anh làm có thể phải gọi là thất đức, lập tức sẽ có nhiều lý lẽ phản đối.

     Các anh là những giáo sư giỏi. Các anh chỉ đi dạy học, lo truyền thụ kiến thức cho người khác. Xưa nay, ở xứ ta, nghề dạy học cũng như nghề làm thuốc bao giờ cũng được trọng vì người làm nghề chỉ lo trồng cây đức cho thêm tốt tươi, chứ sao gọi là thất đức được?

     Nhưng thử nghĩ, dưới tay anh Ng. - "mang nhãn hiệu của anh Ng." - bên cạnh những cán bộ khoa học tạm được, cũng đã có bao nhiêu tiến sĩ rởm. Mà càng những người kém chuyên môn càng giỏi xoay xỏa, leo trèo. Sau khi có bằng cấp, một số trong họ sẽ đóng những vai trò trọng yếu trong nghiên cứu khoa học và đào tạo các lớp người sau. Nói cách khác, lớp người có bằng cấp rởm sẽ đông lên theo cấp số nhân.

     Mà truy tìm cú hích đầu tiên, vẫn phải gọi tên của Ng. và những đồng sự của anh. Tôi chưa hẳn yên tâm khi dùng chữ thất đức, nhưng chưa tìm ra chữ khác đích đáng hơn.

Đã in trong  "Nhân nào quả ấy", 2004

  Nhã Nam đang tái bản














TẦM VÓC SỰ GIẢ DỐI TRONG CHIẾN TRANH     

Ngày 9 tháng 5 năm 2022

Một đoạn nhớ lại  của Hoàng Hưng đưa trên  Talablog  24-3-09

tôi ghi trong sổ đã lâu nay xin phép tác giả đưa ra mọi người cùng đọc.

****

Nhìn thẳng vào sự thật để ít nhất cũng thôi đi/ giảm thiểu những lời nói dối. Vâng, những lời nói dối có thể có lợi nhất định trong một giai đoạn. Nhưng ngay cả khi đó, nó cũng đã tiêm độc tố vào trái tim khối óc cả người nói lẫn người nghe rồi. Tôi không bao giờ quên một sự cố trong đời mình, sự cố đã khiến tôi dứt khoát rút lui khỏi văn đàn chính thống và bắt đầu con đường “làm thơ chui”, đúng vào lúc đang được o bế như một nhà thơ trẻ nổi lên của “thế hệ chống Mỹ”. Đó là buổi họp các cộng tác viên về Thơ của báo Văn nghệ vào năm 1973. Trước đông đủ thi hữu già trẻ, nhà thơ đầy uy lực Chế Lan Viên một mình lên lớp, “xạc” lớp trẻ về những vụ lộn xộn mới xảy ra như “Vòng trắng vòng đen” (thơ Phạm Tiến Duật), “Cây táo ông Lành” (truyện Hoàng Cát), “Ký sự đêm đợi tàu” (tác giả hình như tên Đỗ Phú?). Tôi không thể quên tư thế trịch thượng (ông đứng nói, một chân gác lên thanh ngang của chiếc ghế tựa) cũng như những lời mà tôi không dám tin ở tai mình. Ông bảo: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!” (nếu các anh cứ lộn xộn như thế). Ông còn khẳng định: “Nếu như trên trời máy bay ta với máy bay địch quần nhau mà máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô lên: ‘máy bay địch rơi’ chứ!” Tất cả im phăng phắc, không ai dám ho he. Và tôi là người duy nhất đứng lên tranh luận với ông. Tôi nói đại ý: Vấn đề là anh có đủ lòng tin để hô lên như thế không đã chứ. Vì nếu chính anh không tin, thì làm sao anh thuyết phục được người đọc tin anh? Sau buổi họp ấy, tôi hoàn toàn tỉnh thức: người ta chỉ coi văn nghệ là những lời tuyên truyên để lôi kéo quần chúng, bất chấp sự thật. Đến một thần tượng của chúng tôi lúc ấy, một nhà thơ có tri thức vào hàng cao nhất mà đã huỵch toẹt ra thế thì… Hỡi ôi! Nhưng tôi phải công nhận, chính những lời nói dối có ý thức mà bộ máy truyên truyền miền Bắc đưa ra đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng trong cuộc chiến 1954-1975. Chính nó đã che giấu thực chất ý thức hệ và phe phái, làm nổi bật yếu tố dân tộc của cuộc chiến mà Thiện Ý coi là nguyên nhân chủ yếu đưa miền Bắc đến chiến thắng. (Sau này chính Chế Lan Viên đã ‘sám hối’ về những câu thơ thúc người lính ra trận trong một số bài “Di cảo” của ông).























CÁCH NGHĨ HIỆN ĐẠI

Ngày 10 tháng 5 năm 2022

1/

"Từ điển danh ngôn thế giới" do Lưu Văn Hy biên soạn bản của nhà Tổng Hợp TP HCM 2006 có một ưu điểm, so với một số cuốn khác tôi đã đọc. Ở đây, tác giả chọn được ra nhiều câu nói thú vị có liên quan đến đời sống chính trị hiện đại. So với tư tưởng cổ điển, nó mang nhiều chất nghịch lý, không xuôi chiều, nhưng lại có vẻ đúng với tình hình đương thời. Chẳng hạn, sách có dẫn lời nhà văn Mỹ Henry Brooks Adams (1838 – 1918) từng chỉ ra một khía cạnh của nghề chính trị: “Làm chính trị, trên thực tế, bất luận trong lĩnh vực nào, luôn luôn là việc tổ chức một cách có hệ thống lòng căm thù.” (tr 12)

 Một tư tưởng đang có sức mạnh lôi cuốn con người hiện đại là lòng yêu nước. Trong cuốn sách trên, thấy dẫn lại câu của tiểu thuyết gia Anh Elizabeth Gaskell (1810 -1865) nói về lòng yêu nước phổ biến thời nay: “Nội dung cơ bản của loại chủ nghĩa ái quốc ấy là ghét bỏ mọi quốc gia khác” (Tr 129)

Danh ngôn cổ chỉ khuyên người ta hết lòng yêu nước chứ đâu có chuyện khuyên một viên tướng rút lui, thậm chí phải nói là đầu hàng. Vậy mà trong cuốn trên lại có câu:

“Trong một cuộc nội chiến, một viên tướng cầm quân phải biết – bằng vào bản năng hơn là thực hành – phải biết chính xác khi nào ngả sang phe bên kia.”(Tr 283)

Truy về hoàn cảnh ra đời mới hiểu  ở đây người ta muốn nói cách xử thế của các công dân liên quan tới các cuộc nội chiến. Nội chiến là người trong một nước đánh nhau, bởi vậy cái mà con người hiểu biết  hướng tới, không phải phe này hay phe kia chiến thắng, mà cả dân tộc chiến thắng. Bằng bất cứ giá nào tránh được chiến tranh, vãn hồi hòa bình, ở đó người trong một nước bàn bạc với nhau về vận mệnh Tổ quốc. --  cái đó mới quan trọng. 

Lòng trung thành với quốc gia phải đặt cao hơn lòng trung thành với phe phái mà mỗi người là một thành viên.

Câu trên đây là của một viên tướng Mỹ thời kỳ nội chiến Nam Bắc. Nó được  Henry Reed nhà thơ Anh (1914 - 1986) chép lại. Chỉ có con người thế kỷ XX,  mới thấm thía những điều đó một cách sâu sắc và đưa lại cho chúng ta một ý nghĩ có vẻ như ngoại lệ, do đó là khó hiểu với những con người các thế kỷ cũ. 

2/

Sở dĩ tôi dừng lại ở một cách hiểu mới của con người thế kỷ XX về lòng yêu nước vì liên hệ với lịch sử Việt Nam , tôi thấy nó có thể có ích với chúng ta khi đánh giá lại các nhân vật lịch sử ở những giai đoạn éo le, chẳng hạn như Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh....

     Ta hay nói phẩm chất hàng đầu của trí thức là lòng yêu nước. Có người phũ ra còn nói không có lòng yêu nước thì người trí thức không đáng một xu.  Dựa vào cái đó người  ta sổ toẹt Trương vì ông đã cộng sự với người Pháp.

   Nhưng có thể có một cách nghĩ khác, gồm mấy vế:

-- theo quan niệm thông thường, một quốc gia độc lập  có nghĩa là quốc gia đó  do người trong nước cai trị  và yêu nước trong trường hợp này là giúp cho cái quyền tự cai trị đó được thực hiện.

-- nhưng trên thế giới hiện nay có khá nhiều quốc gia  chỉ có một nền độc lập mong manh, tuy do người trong nước cai trị, nhưng thực tế họ chịu sự thao túng của các thế lực nước ngoài.  Bảo là độc lập giả tạo không phải là chê bai họ mà là đã bóc trần cái thực tế của họ.       

-- đi vào cắt nghĩa tình trạng có các quốc gia độc lập giả tạo,  người ta thấy rằng vì  trong hoàn cảnh  toàn cầu hóa hiện nay, không nước nào có thể đứng một mình không quan hệ với các nước khác. Đứng một mình, quốc gia chỉ tồn tại mà không  phát triển. Mà đã không phát triển thì trước sau phụ thuộc vào nước khác, tức là bị các nước khác chi phối.Được sự giả dối bao che, sự tàn nhẫn lúc này lại lên đến mức khủng khiếp 

 --  chỉ người trí thức mới có cái nhìn vượt lên  phạm vi của nước mình như vậy. Do hiểu rằng muốn tồn tại phải phát triển, họ  cho rằng không cần phải phục vụ cho cái tình trạng trước mắt của quốc gia mà phải phục vụ cho tương lai của quốc gia. Khi phát triển theo đúng nghĩa của nó, quốc gia sẽ có được độc lập chân chính. Việc đó có thể tới muộn nhưng chắc chắn sẽ tới. Còn hơn cái độc lập trước mắt dở dang giả tạo bỏ thì thương vương thì tội.

3/

Một ví dụ tương tự.

Đối với cách hiểu phổ thông hiện nay -- được giảng dạy kiên trì ở các cấp học -- mất nước, đầu hàng là nhục, mất nước thì mỗi cá nhân không còn lý do gì để sống. Nhưng lịch sử châu Âu hồi thế giới thứ hai còn ghi, nếu khi Đức chiếm Na Uy, gặp phải sự phản kháng thì người Đan Mạch thấy sức mình không chống nổi Đức liền mở cửa đầu hàng. Sách vở về sau khi nhắc lại chuyện này không vì thế mà chê Đan Mạch và khen Na Uy.. Họ lại còn  cho rằng nhờ đầu hàng mà nước Đan Mạch khôn ngoan cứu được bao nhiêu mạng sống Do Thái. Người Tiệp thường cũng tự hào nhờ đầu hàng mà giữ được bao công trình tuyệt mỹ ở Praha.

Không chỉ thời nay mà trong các truyện dã sử Trung Hoa thời cổ,   rất phổ biến cái chuyện khi cảm thấy quân mình không đánh nổi quân địch, các viên tướng liền xin hàng để  bảo toàn sinh mệnh binh sĩ cấp dưới. Việc đó theo họ là quan trọng hơn cái danh tiếng "trung quân ái quốc". 

Nhìn rộng ra thấy trong lịch sử nước Trung Hoa, chính quyền TW đã hai lần đầu hàng những nước nhỏ hơn. Lần thứ nhất  đầu hàng người Mông Cổ, chấp nhận cả việc thủ đô Bắc Kinh được Hốt Tất Liệt  đưa lên một tầm vóc mới tồn tại mãi với thời gian. Lần sau mới ghê. Thua Mãn Thanh, cả nước Trung Hoa mấy trăm năm liền  sống theo cách sống người Mãn,  nhiều phong tục tập quán thay đổi. Nhưng tôi đọc sách lịch sử vẫn thấy ghi nhận Trung Hoa triều Mãn, tuy có mặt  trì trệ nhưng vẫn  là một bước phát triển rực rỡ, không có Mãn Thanh thì không có sự tiếp nhận tư tưởng phương Tây thành công cuối XIX đầu XX . Dân Mãn ít, triều nhà Thanh phải dùng nhiều quan chức người Hán cả cấp thấp lẫn cấp cao. Nhưng đương thời cũng vậy mà về sau cũng vậy không thấy sử sách Trung quốc lên án những người trí thức triều cũ cộng tác với kẻ chiếm đóng. Tại sao cả một giai tầng trí thức hùng hậu xử thế theo kiểu đó? Tôi  đoán họ nghĩ rằng mình vì một nước Trung Hoa lâu dài, chứ việc trước mắt không quan trọng.Và đó là cách nghĩ hiện đại.Chúng ta có thể đồng tình hay không nhưng phải nhận có một cách nghĩ như thế.


TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VN 

ĐÃ TỪNG CÓ  NHỮNG Ý KIẾN SÁNG SUỐT 

 MÀ BỊ LÃNG QUÊN

Ngày 13 tháng 5 năm 2022

   Ghi từ sách  "Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa VN" ( H, 1993) của Đỗ Huy và Trường Lưu 

--   Một khuyết tật của truyền thống văn hóa người Việt là các yếu tố trội bị san bằng  và hệ thống văn hóa xã hội không năng động đón đỡ để làm nẩy sinh các yếu tố  mạnh.

 --  Các yếu tố ngoại nhập thường xuyên bị giản lược hóa. Hệ tư tưởng Nho giáo  hay Phật giáo phát triển trong văn hóa VN không phải là những hệ tư tưởng  đầy đủ  như ở nơi nó xuất phát

***

  Trước đó, 1990,  cũng các tác giả này có cuốn "Bản sắc dân tộc của văn hóa"  do Viện văn hóa xuất bản, trong đó  có đoạn viết 

-- Trong những năm qua  chủ nghĩa Mác Lê – nin phát triển trong văn hoá VN một cách không bình thường. Một khuynh hướng giáo điều rập khuôn ảnh hưởng rất lớn đến diện mạo của văn hóa VN.

 Chủ nghĩa giáo điều  ở VN đã  mang lại  một tai họa lớn cho văn hóa 

 Đời sống văn hóa  … “ ì ạch như chiếc  xe lu khổng lồ  quanh quẩn trên các  cánh đồng  sình lầy”

-    Những người xây dựng nền văn hóa  mới  tuyệt đại bộ phận xuất thân  từ nông dân nghèo  nói chung là văn hóa của họ không thể đại diện cho  tiến bộ văn hóa  của chủ nghĩa xã hội, khi hệ thống chính trị  đưa họ  vào vai trò tổ chức nền văn hóa mới  họ tỏ ra không những không đủ trình độ đưa đất nước tiến lên  mà nhiệt tình của họ lại càng tạo nên động lực cho các nhân tố phản văn hóa xuất hiện.



NỖI SUNG SƯỚNG CỦA KẺ 

ĐƯỢC ĐỒNG NGHIỆP NHỚ LẠI MỘT CUỐN SÁCH CŨ

Ngày 14 tháng 5 năm 2022

Ảnh kèm theo là do tôi trích từ Fb Trần Đình Sử ngày hôm nay. Tôi đã  cảm ơn anh trong mấy câu còm - men bên dưới anh nay xin ghi lại để các bạn cùng đọc.

"Xin cám ơn anh Sử còn lưu giữ kỷ niệm cũ. 

Dăm năm sau tập CBĐN này. khi tôi làm tập sưu tầm Người xưa cảnh tỉnh và mon men định viết thói hư tật xấu người Việt  rồi bị đánh hội đồng, có lần găp nhau ở HNV, anh còn ân cần gọi riêng tôi ra, động viên tôi, khuyên tôi đừng mất tinh thần. 

Cách đây gần ba năm sau khi tôi đã bị tai biến, cùng Lại Nguyên Ân đến thăm tôi, lúc sắp về, anh còn nói nhỏ đủ cho tôi nghe tiếng rằng cùng với việc viết phê bình, VTN còn là một người viết văn - ý anh muốn nói các tập phiếm luận của tôi. 

Những kỷ niệm ấy làm sao tôi quên được."

--- 

 và NỖI SUNG SƯỚNG CỦA KẺ ĐƯỢC TÁI BẢN SÁCH 

Nhân dịp này, xin "báo cáo"thêm với anh Sử và các bạn một chi tiết nữa: 

cuốn CBĐN tôi tặng anh 20 năm trước là bản in lần thứ nhất. 

Sau đó sách đã được tái bản hai lần. 

Anh là nhà giáo dạy dỗ hàng ngàn hàng vạn sinh viên, sách viết ra tái bản là chuyện thường, có cuốn của anh in tới 7-8 lần, tôi biết. 

Còn bọn như tôi, mỗi lần sách cũ  được tái bản còn sung sướng hơn cả ra sách mới. 

  Đặc biệt CBĐN của tôi lần này 2021 được in  ở nhà xuất bản Kim Đông mà lại nằm trong bộ sách "Bạn văn bạn mình" bao gồm 10 cuốn chuyên về chân dung văn học

 10 cuốn đó là (xếp theo năm tháng in lần thứ nhất)

 “Phê bình và cảo luận” (Thiếu Sơn), 

“Hình dung và tâm tưởng” (Lan Khai), 

“Văn thi sĩ tiền chiến” (Nguyễn Vĩ), 

“Văn thi sĩ hiện đại” (Bàng Bá Lân), 

“Đốt lò hương cũ” (Đinh Hùng), 

“Chân dung văn học” (Nguyễn Tuân),

 “Mười chín chân dung nhà văn cùng thời” (Vũ Bằng), 

“Những gương mặt” (Tô Hoài), 

“Cây bút đời người” (Vương Trí Nhàn),

 “Bạn văn" (Nguyễn Quang Lập).

Trong danh sách này chỉ có hai người cuối cùng còn sống và tuổi "mới" bảy tám chục. Còn lại đều đã trên trăm tuổi và đã quy tiên.

HẢI MẠNH MẼ 

      THÌ MỚI CÓ THỂ TRUNG THỰC

Ngày 17 tháng 5 năm 2022

   Theo tờ Văn học nước ngoài của Hội nhà văn, vào dịp một năm  ngày mất của L. N.Tolstoi 28-8-1828 / 20-11-1910,  văn hào Pháp Anatole France có đọc một diễn văn  tại Đại học Sorbonne 12-11-1911  trong đó có đoạn có cái ý theo tôi là hơi lạ:

      “Bằng cuộc đời của mình, Người đưa ra tuyên ngôn của cái chân thực, thẳng thắn trung tín kiên quyết; của chủ nghĩa anh hùng điềm đạm và bền vững. 

      Người dạy chúng ta phải thực thà và mạnh mẽ.

      Quả vậy, chúng ta phải mạnh mẽ để không tàn bạo 

      phải mạnh mẽ để có thể trung thực, để được hiền hòa ,để được an dịu.

      Phải mạnh mẽ thậm chí là để cười nữa. 

     Chính vì Người có đầy sức mạnh cho nên bao giờ Người cũng trung thực. 

    Yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.

   (… ) Tolstoi kêu gọi chúng ta phải chân thực và như thế là Người đang khơi gợi để chúng ta tranh luận với Người một khi Người mắc sai lầm...”

  Tôi rất thích cái ý người ta phải mạnh mẽ thì mới không tàn bạo, phải mạnh mẽ để có thể trung thực, và yếu ớt thì không thể truyền bá được chân lý.

       Có thể dùng nó để giải thích tình trạng hiện thời trong cách đối xử với nhau của cộng đồng Việt. 

     1/ Nhiều khi người ta tàn bạo với nhau giả dối với nhau chỉ vì quá yếu.

    Yếu nhưng lại ác. Càng yếu càng ác.

     2/ Những kẻ không dám tranh luận với ta  bao giờ cũng là những kẻ yếu.

    Họ thường cắt cổ ta bằng những cái cưa cùn.


ĐIÊN DẠI

Ngày 18 tháng 5 năm 2022

Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở HN mình sao hiệu thuốc nhiều thế. 

      Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội mình. 

      Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.

      Tra các từ điển Hán Việt  thấy chữ ĐIÊN thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh ( khi viết bằng chữ vuông, thì chữ điên có bộ nạch chỉ bệnh tật.)

       Bệnh điên thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.

       Giá có ai để công tìm hiểu thêm tình trạng điên dại của nhân loại thời nay và trước tiên những lời bàn về chuyện điên? Chắc là nhiều ý tưởng hay ho lắm! 

      Một câu ngạn ngữ Hy Lạp vừa được một bạn nào đó dẫn ra trên mạng “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.

      Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại có liên quan nhiều tới giới trí thức.

 Một đoạn trong bài  viết "Vừa khóc vừa cười" của  Nguyễn Mạnh Tường in trong  Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4-2011:

       Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”. 

        Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà NMT nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng.

         Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước:

        Sau khi Liên xô sụp đổ, có một tiến sĩ (ở ta gọi là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhẩy lầu tự tử. Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.

     Về quan hệ giữa những người điên với thời đại, một nhà văn Senegan là  Semben Ousman đã có lần  trả lời phỏng vấn về châu Phi hậu thực dân trên một số tạp chí 'Người đưa tin Unesco" :

        Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.

       Có những tình thế quá bi đát mà người bình thường biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại. 

       Bấy giờ người điên—hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người – mới đóng vai trò của mình. 

         Cách duy nhất để giải thoát bế tắc là người ta phải điên lên một chút.

        Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:

         -- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những thằng điên.

       Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác rồi ông nói lại, hay tự ông nghĩ ra.

        Một đề tài của khoa tâm lý xã hội  học nhưng cũng là của văn học: mối quan hệ giữa điên dại và các trạng thái tâm lí khác.

        Tôi đang có trong tay cuốn sách tiếng Nga --Từ điển về sự điên rồ -- Slovar bezumija . Trong sách, bên cạnh việc duyệt lại xem đề tài điên rồ kỳ cục đã được đề cập tới trong văn học cổ kim ra sao, chủ yếu nói tới các trạng thái khác nhau của điên.   

      Văn chương đã nói về sự điên như thế nào? Tôi xin chỉ nhắc qua :     

      Một trong những vở chèo hay nhất của ta là vở Vân dại.

      Nguyễn Du tả cây liễu : Tối điên cuồng xứ tối phong lưu ( lúc càng điên càng đẹp)

      Tú Xương : Ai rằng ông dại với ông điên 

                       Ông dại sao ông biết kiếm tiền

       Khi diễn tả cuộc sống ở các đô thị mới hình thành thời Pháp thuộc, trong truyện Đẹp,  Khái Hưng cũng bắt đầu đưa ra mấy nét phác họa về người đàn bà điên.

         Tchekhov là nhà văn vốn rất giỏi trong việc viết về những cái tầm thường nhạt nhẽo.  Cái điên rồ cũng xuất hiện dưới ngòi bút của ông từ góc nhìn đó:

       -- (... )  Sự điên rồ xét ra còn thiết yếu và lành mạnh gấp trăm lần  việc chúng ta theo đuổi những ý tưởng chập chờn vớ vẩn để tìm cho đời một ý nghĩa. 

       ( lời một nhân vật trong  truyện Quan đại phu, bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, in ở SG trước 1975).

        Trước sau 1960, có một bài hát thiếu nhi hình như là của nhạc sĩ Lân Tuất. 

        Để diễn tả cái cảm giác sung sướng của đứa trẻ,  trong bài có một câu kêu lên như thất thanh BAY LÊN NÀO EM BAY LÊN NÀO .

        Cái giai điệu chơi vơi đó, thường được bọn trẻ con chúng tôi hát chệch đi thành: 

         ĐIÊN LÊN RỒI EM ĐIÊN LÊN RỒI .

Bổ sung lúc 18h

Bạn Vũ Đức Tân vừa nhắc một truyện ngắn Tchekhov, Phòng số 6. Tôi nghĩ nói về tình trạng điên dại thì không thể không nhắc tới truyện ngắn này, bởi lẽ ở đó, một nhân vật lúc đầu đóng vai bác sĩ chữa bệnh điên cho kẻ khác, sau lại trở thành con bệnh, bị đưa vào căn phòng của các bệnh nhân.

 Một bằng chứng tuyệt vời về tình trạng dở dở điên điên của thế giới này.

 Cũng của Tchekhov, tôi nhớ trong một tập truyện ngắn mà tôi biên tập lúc làm việc ở nxb Raduga, còn một truyện ngắn nữa mang tên Con bệnh thần kinh.

Nhưng lúc này tôi chẳng có một tài liệu nào trong tay nên chỉ gợi ra thế thôi. 

Tôi lại muốn đặt cho mình một câu hỏi nữa

Trong cơ man nào là các loại luận án cử nhân thạc sĩ tiến sĩ đã và đang làm ở các khoa văn học văn hóa học tâm lý xã hội học ở các trường đại học có luận văn nào làm về chứng điên dại trong một xã hội chiến tranh như xã hội ta và việc phản ánh nó trong văn học?

Bạn nào có biết mách giùm.

18/5/2015


BÀN TIẾP VỀ ĐIÊN LOẠN

Ngày 21 tháng 5 năm 2022

Tình trạng điên dại thường đến với con người trong những thời kỳ xã hội có những biến chuyển quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của họ.

"Về nhà" là  bộ phim được Trung quốc giới thiệu  tại liên hoan Cannes 2014 gây  được xúc động mạnh không phải vì sự góp mặt của bộ đôi Trương Nghệ Mưu Củng Lợi mà còn vì cách đặt vấn đề của phim về tác động của lịch sử đối với con người.

 Nội dung phim lấy bối cảnh của thời mười năm động loạn 1966-1976 ... 

Nhà trí thức Lục Yên Thức  là một tù chính trị được thả ra sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa, nhưng khi trở về nhà, người vợ không nhận ra chồng nữa vì bà bị mất trí nhớ.

Nguyên do như sau:  một ngày nọ, Yên Thức trốn trại và nhắn với vợ hẹn gặp nhau ngày 5 (nhưng lại không nói rõ là tháng nào !) ở ga xe lửa. 

Hai người chưa kịp gặp nhau thì Yên Thức bị bắt lại, do bị chính con gái -- vì ham lập công với tổ chức  -- tố giác.

Từ ngày đó, ký ức của người vợ như bị khựng lại ở thời điểm của cuộc gặp không thành. 

Từ khi được thả về, Yên Thức cùng với con gái đã tìm đủ mọi cách để giúp cho bà nhận ra chồng trở lại, lúc thì giả vờ đi xe lửa về để bà ra đón, khi thì giả làm « đồng chí » hàng xóm đọc cho bà nghe những bức thư mà ông viết trong tù nhưng chưa kịp gởi, thậm chí đọc những thư mà ông mới bịa ra thêm. 

Có lúc tưởng chừng bà đã nhận ra chồng khi ông lẻn vào nhà ngồi đàn những giai điệu quen thuộc trên chiếc piano cũ kỹ. 

Nhưng mọi công sức của hai cha con đều vô ích. Bà mẹ vẫn xem người chồng yêu dấu như kẻ xa lạ. 

Cho đến nhiều năm sau, khi đã tuổi già sức yếu, cứ đến ngày 5 mỗi tháng, bà đều ra ga xe lửa để đón chồng, và người đưa bà ra ga chính là chồng và đứa con gái. Bộ phim kết thúc với cảnh ba người đứng trong tuyết lạnh bất động chờ đợi, với tấm bảng trước ngực ghi tên Lục Yên Thức.

Tôi đã thử thuật lại câu chuyện theo báo chí nước ngoài. 

Một ý  toát lên từ phim: bên cạnh tình trạng điên "tích cực", kèm với phá phách, cần lưu ý tới tình trạng điên ở dạng âm tính, nó làm cho người ta dở sống dở chết, không còn là người bình thường nữa. 

Những người tốt thường điên theo kiểu này.

 Ở thời điểm của những đảo lộn xã hội bất ngờ, cùng với sự phát triển của tình trạng điên thì những tiêu chuẩn để người ta gọi nhau là điên ngày càng được giảm thiểu. 

Người ta dễ chấp nhận nhau, bỏ qua cho nhau.

Ở đâu cũng vậy mà ở nước VN sau chiến tranh càng vậy.

 Bấy giờ những người còn dám gọi  căn bệnh mọi người đang  mắc " theo đúng cái tên của nó" không chừng lại bị gán cho cái nhãn điên thực thụ.

GIẢ ĐIÊN 

Không phải "Bên kia bờ ảo vọng" hay "Những thiên đường mù" mà theo tôi chính "Tiểu thuyêt vô đề" mới là thiên truyện đáng nhắc nhở nhất của Dương Thu Hương. 

Tác phẩm kể về muôn vàn tình cảnh khác nhau đã đến với người lính miền Bắc trong những năm sống ở trong rừng. 

Mà đầu mối câu chuyện thì là chuyến đi  của một cán bộ quân đội, anh ta phải đi ngược từ tiền tuyến ra hậu phương. 

 Cấp trên giao anh ta nhiệm vụ áp tải một người đồng hương của mình về quê.

 Để có cái hạnh phúc hiếm hoi đó, người này đã giả điên.

Một vài câu hỏi có thể đặt ra: 

--Hàng thật phải xuất hiện như thế nào thì mới xui người ta làm hàng giả?

--Hẳn số người thành công khi làm hàng giả như nhân vật trong truyện không bao nhiêu so với số đã thất bại?

--Có bao giờ có người ban đầu giả điên, về sau lại điên thực?

...

Tôi tin rằng còn phải tiếp tục tìm hiểu nhiều về bệnh điên cả trong thời chiến lẫn thời hậu chiến ở ta 40 năm qua. Chừng nào bệnh điên được đặt đúng tầm vóc của nó mới có cơ may để hy vọng rằng dần dần ta sẽ hết điên.


RÁC VỚI CHÚNG TA

Ngày 25 tháng 5 năm 2022

Tôi đang chuẩn bị một bài viết mới có liên quan đến rác. Bài viết mang tên PHÁC THẢO MỘT "LUẬN ÁN" VỀ RÁC sẽ đưa vào ngày mai. Nhưng trước hết mời các bạn đọc lại một bài cũ của tôi đã đưa trên FB này ngày 31-5-2015, tức một năm trước.

CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN LÀ GỒM CẢ HOA LẪN RÁC

Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết, báo chí đã kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác. Chẳng hạn năm nào cũng vậy, khoảng từ rằm tháng giêng trở đi, một trong những dấu hiệu cho thấy những ngày tết nguyên đán chỉ vừa mới qua, là nhìn vào nhiều góc phố thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu đất bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy bên đường,chờ xe rác đến hót. 

Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi ( mới qua đời đầu năm 2001 ) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông là hoa và rác. 

Theo nghĩa này, tết nhất chính là một trong những thời điểm chính hoa trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa nó nói với chúng ta một vài điều mà lâu nay ta không để ý.

Rác -- chất thải nói chung ---vốn là một cái gì rất phiền phức với nghiã nó là một bộ phận của cuộc sống, tách nó ra khỏi cái hữu ích đôi khi rất khó. 

Có một thời gian nó đã trợ giúp anh trong đời sống, nó bạn bàu với anh, nó là niềm vui của anh. 

Cho nên chia tay với nó lôi thôi lắm. Lưu luyến. Ái ngại. 

Song việc đời là thế, cái gì cũng có niên có hạn của nó, cái gì rồi cũng có thể trở thành rác cả. 

Thuốc quá đát dùng còn có hại, một số loại hoa đến kỳ héo còn bốc mùi khó chịu và gợi bực mình, ai giữ trong nhà mãi được?

Nay là thời các thứ bao bì được làm rất đẹp, một hộp bánh mua về ăn hết rồi, dân Hà Nội nhiều người già cỡ tuổi tôi trở lên thường vẫn nhìn cái hộp với sự nuối tiếc, cố nghĩ ra lý do để giữ nó lại. 

Nhưng cái gì cũng giữ -- lọ đựng mấy viên thuốc cũng giữ, vỏ chai ruợu cũng giữ, hộp xốp đựng cái nồi cơm điện cái quạt cũng giữ --, thì nhà thành cái kho rồi còn gì, mà kho nào đựng hết ? 

Phải tự lên dây cót một lúc như thế rồi mới cả quyết quăng mấy thứ chai hộp ấy ra rác. Hoặc các loại báo tết, tờ nào giấy cũng trắng bìa cũng đẹp nhiều bài vở công phu nhiều nơi anh em biên tập mai phục cả năm chuẩn bị bài, nay đem bán cân cứ thấy dùng dằng. Hoặc những quyển từ điển nó là vật tuỳ thân của mình, mua được những cuốn mới biên soạn tốt hơn mà đứng trước quyển cũ cũng phải nhấc lên bỏ xuống dăm bảy lần mới dám thay thế.

RỒI CẢ NHỮNG CON NGƯỜI NỮA, NGƯỜI HÔM QUA RẤT ĐƯỢC VIỆC NHƯNG HÔM NAY QUÁ LỨA NHỠ THÌ, LÀ RÁC CHỨ GÌ ? 

THƯƠNG NHAU DÙNG TIẾP TAI VẠ NHƯ CHƠI. KHÁC CHI GIỮ RÁC TRONG NHÀ CHỈ TỔ LƯU CỮU Ổ BỆNH! 

Nói thế nghe tàn nhẫn quá.

Nhưng đứng lùi ra mà nhìn, vì quyền lợi tương lai mà nhìn, làm sao khác được.

HÀNG TỒN KHO đã lắm, người ta lại còn hay viện cớ đóng góp hôm qua để đòi xử lý cho được cả tình lẫn lý. 

Cứ vẩn vơ mãi với khúc Người ơi người ở đừng về. 

Thay thì thấy áy náy, mà để nguyên thì hỏng việc. 

Ác một nỗi, người lại không ghi thời gian sử dụng như thuốc và không phải bao giờ cũng héo hon trông thấy như hoa, sự tình nghĩa khiến cả họ cả làng sống chung với loại di luỵ này hàng ngày mà không biết làm thế nào cho phải.

Trở lại chuyện rác theo nghĩa đen của nó.

Người ta hình như không hay nghĩ nhiều về rác. Có cái gì thừa vứt ra đường cho xong. Khi riêng mình phải chịu đựng thì nó là rác, vứt ra đường thiên hạ chịu chung thì nó không là gì cả. 

Vậy đó, trong thái độ của một con người đối với rác bộc lộ đủ thứ: 

+ quan niệm của anh về sự vận động, sự đào thải của cuộc sống ; 

+ mức độ trưởng thành của anh về mặt ý thức (anh đã biết sống chung với xã hội chưa hay là mới chỉ biết lo cho bản thân mình và gia đình mình ?) ; 

+ thái độ của anh với cuộc sống ( anh vốn thực sự chi chút nâng niu nó và đòi hỏi cao về nó, hay thế nào cũng xong kiểu gì cũng được?). 

Nói tóm lại thái độ một con người đối với rác biểu lộ một phần trình độ sống của người đó.

Lúc rỗi ngồi nghĩ viển vông-- giá như có dịp được đi nước ngoài một cách nhẩn nha, sẽ để công nghiên cứu cái cách của mỗi nước đối với rác thải. 

Nghe tin là ở Nhật có loại máy gọn nhỏ chuyên chế biến rác cho từng gia đình. Giá kể không đắt quá, có lẽ nên khuyến khích để mỗi gia đình mua một cái.

.... Thôi lan man kiểu này thì không biết đến đâu là cùng. Ai đó từng nói đùa về rác ở một lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi “. Câu nói pha chút thậm xưng nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở hội lẫn người thích đi các loại hội hè.

Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp và sung sướng đặt nó vào lọ thì cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà ! “.

Cuộc sống đòi hỏi chúng ta ghi nhớ cái điều có vẻ khinh bạc đó, nhất là cuộc sống hiện đại. 

Đã in trong "Nhân nào quả ấy", 2004

 Nhã Nam đang tái bản



TỪNG CÓ MỘT NƠI 

HOÀN CẢNH  KHÔNG THỂ LÀM HỎNG CON NGƯỜI

Ngày 26 tháng 5 năm 2022

Mặc dù chê trách tôi về mặt lập luận, nhưng sau bài tôi viết lần trước ngày 23/5/2019, không ít bạn đã đồng tình với tôi về việc con người Việt Nam hôm nay đang bị làm hỏng một cách toàn diện. Chúng ta chẳng bao giờ nên bi quan một cách tuyệt đối, song sự làm lại con người hiện nay thì quả thật là khó, lý do là vì như chúng ta đều biết, mặc dù chưa từng được tổng kết  nhưng hoàn cảnh lúc ấy nhất là cuộc chiến tranh 1945 – 1975 thật quá đặc biệt nó khốc liệt vượt qua sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.

Chỉ cần nói thêm là  tôi đã nói điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quan sát  những con người  miền bắc từng được sống được giáo dục như tôi và trải qua chiến tranh theo kiểu chúng tôi,  trong khi đó thì  nếu nhìn cả thực tế nước Việt Nam sẽ thấy còn có những con người được giáo dục theo kiểu khác  có những niềm tin khác bị những quy luật khác chi phối và nay nhiều người vẫn đứng vững  trước mọi biến động để  làm ăn sinh sống rất tử tế. Xét trên đại thể, trong tình thế ngổn ngang của cả nước hôm nay những người còn được cái căn bản của con người ấy mới  chính là cái tương lai là niềm hi vọng của cả xã hội.

Có một sự việc xảy ra mấy ngày hôm nay, nó làm tôi thấy thêm cụ thể về cái  kết luận trên.

Ngày 22/5 và mấy ngày sau trên mạng dày đặc những bài viết về cái chết của nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 – 2019). Con người đã từng tham gia nhóm Sáng tạo bên cạnh Thanh Tâm Tuyền Mai Thảo, con người từng có mặt trong các trại tù cải tạo tổng cộng 13 năm và đã từ biệt cõi đời trên đất Mỹ xa xôi, con người đó có dịp hiện ra trước cả những người còn biết rất ít về ông như bản thân tôi một chân dung với  niềm tin  sâu sắc, bộc lộ ở những nét tình cảm như ủ kín mà vẫn tuôn trào, trong những dòng thơ miên man, đôi khi khúc mắc nhưng thật ra là từng dòng đều chắt lọc, nói lên cái khắc khoải cuối cùng của cuộc đời ông, đó là bài thơ “Ta về” mà rất nhiều người thú nhận rằng đã đọc lên là không thể bỏ xuống được.

Trước tiên cái đáng ghi nhận nhất của bài thơ “Ta về” là nó cho ta thấy cái cao thượng của những con người bị rơi vào hoàn cảnh bên thua cuộc và sau đó là tù đày cực khổ mà vẫn giữ được lòng mình trầm tĩnh, nhìn ngẫm về cuộc đời trong đó có đủ cả sự trân trọng những gì tưởng như đơn sơ nhưng gần gũi nhất của ngày hôm qua, lẫn sự tha thiết sống tiếp cuộc sống hôm nay và muốn lây truyền đạt những điều tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau. Ở đây con người trong cảnh khốn cùng tuyệt đối không thấy bộc lộ ra một chút nào gọi là oán thù căm giận trách móc. Thay vào đó là sự tin yêu trầm  lắng mà lại dai dẳng đầy sức ám ảnh.

Cái sức mạnh tinh thần của con người ở đây tưởng như muốn ghìm xuống ẩn giấu mà vẫn ngời ngời, khiến cho  cái hoàn cảnh tưởng rất bi đát lại vẫn hiện lên với  đủ vẻ  tươi tắn và đầy hy vọng. 

Con người tưởng như đã đi hết mọi nỗi cực khổ và đau đớn của đời sống hóa ra vẫn còn lại với tâm thế bình tĩnh nghĩ lại về cuộc đời đã qua và muốn truyền lại những thể nghiệm sống của mình cho những người khác.

Trong những năm chiến tranh, nhiều người ở miền bắc chúng tôi thường tự nhủ  rằng mình đã đi đến tận cùng của sự đau khổ và  tự hào là những hoàn cảnh khó khăn không làm gì được mình trước sau mình vẫn nguyên vẹn. Hóa ra chúng tôi nhầm. Một cái gì đó rất tốt đẹp đã chết đi trong chúng tôi,  bởi sang thời hậu chiến nhiều người  tự cho là mình có quyền làm tất cả những điều không được phép làm và coi đó là sự đền đáp đúng hơn là sự vớt vát lại chút hạnh phúc trần thế mà chúng tôi đã bị tước mất. Cái sự bị làm hỏng mà tôi nói trong bài trước gần như được mọi người miền bắc coi là tự nhiên.

Đọc bài thơ  của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975, tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong  sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả  gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.

Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết  có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Trường  hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ "Ta về" chứng tỏ  mọi ý đồ loại đó đã phá sản  đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975.


CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN LÀ GỒM CẢ HOA LẪN RÁC

Ngày 28 tháng 5 năm 2022

Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết,  báo chí đã kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác. Chẳng hạn năm nào cũng vậy, khoảng  từ rằm tháng giêng trở đi, một trong những dấu hiệu cho thấy những ngày tết nguyên đán chỉ vừa mới qua, là nhìn vào nhiều góc phố  thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu  đất bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy  bên đường,chờ xe rác đến hót. 

     Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi ( mới qua đời đầu năm 2001 ) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông  là hoa và rác. Theo nghĩa này, tết  nhất chính là một trong những thời điểm chính hoa  trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa  nó nói với chúng ta một vài  điều  mà lâu nay ta không để ý.

    Rác -- chất thải nói chung ---vốn  là một cái gì rất phiền phức với nghiã nó là một bộ phận của cuộc sống, tách nó ra khỏi cái hữu ích đôi khi rất khó. 

    Có một thời gian nó đã  trợ giúp anh trong đời sống, nó bạn bàu với anh, nó là niềm vui của anh. 

   Cho nên chia tay với nó  lôi thôi  lắm. Lưu luyến. Ái ngại. 

   Song việc đời là thế, cái gì cũng có niên có hạn của nó, cái gì rồi cũng có thể trở thành rác cả. 

  Thuốc quá đát  dùng còn có hại, một số loại hoa đến kỳ héo  còn bốc mùi khó chịu và gợi bực mình, ai giữ trong nhà mãi được?

   Nay là thời các thứ bao bì được làm rất đẹp, một hộp bánh mua về ăn hết rồi,  dân Hà Nội nhiều người già cỡ tuổi tôi trở lên thường vẫn nhìn cái hộp với sự nuối tiếc, cố nghĩ ra lý do để giữ nó lại. 

   Nhưng cái gì cũng giữ -- lọ đựng mấy viên thuốc cũng giữ, vỏ chai ruợu cũng giữ, hộp xốp đựng cái nồi cơm điện cái quạt cũng giữ  --,  thì nhà thành cái kho rồi còn gì, mà kho nào đựng hết ? 

    Phải tự  lên dây cót một  lúc như thế rồi mới cả quyết quăng mấy thứ chai hộp ấy ra rác. Hoặc các loại báo tết, tờ nào giấy cũng trắng bìa cũng đẹp nhiều bài vở công phu  nhiều nơi anh em biên tập mai phục cả năm chuẩn bị bài, nay đem bán cân cứ thấy dùng dằng. Hoặc  những quyển từ điển nó là vật tuỳ thân của mình, mua được những cuốn mới biên soạn tốt hơn mà đứng trước quyển cũ  cũng phải nhấc lên bỏ xuống dăm bảy lần mới dám  thay thế.

     RỒI CẢ NHỮNG CON NGƯỜI NỮA, NGƯỜI HÔM QUA RẤT ĐƯỢC VIỆC NHƯNG HÔM NAY QUÁ LỨA NHỠ THÌ, LÀ RÁC CHỨ GÌ ? 

    THƯƠNG NHAU DÙNG TIẾP TAI VẠ NHƯ CHƠI. KHÁC CHI GIỮ RÁC TRONG NHÀ CHỈ TỔ LƯU CỮU  Ổ BỆNH! 

    Nói thế nghe tàn nhẫn quá.

     Nhưng đứng lùi ra mà nhìn,  vì quyền lợi tương lai mà nhìn, làm sao khác được.

  HÀNG TỒN KHO đã lắm, người ta lại còn hay  viện cớ đóng góp hôm qua để đòi xử lý cho được cả tình lẫn lý.  

   Cứ vẩn vơ mãi với khúc Người ơi người ở đừng về. 

   Thay thì thấy áy náy, mà để nguyên thì hỏng việc. 

   Ác một nỗi, người lại không ghi thời gian sử dụng như thuốc và không phải bao giờ cũng héo hon trông thấy như hoa, sự tình nghĩa  khiến cả họ cả  làng  sống chung với  loại di luỵ  này  hàng ngày mà không  biết làm thế nào cho phải.

    Trở lại chuyện rác theo nghĩa đen của nó.

    Người ta hình như không hay nghĩ nhiều về rác. Có cái gì thừa vứt  ra đường cho xong. Khi riêng mình phải chịu đựng thì nó là rác, vứt ra đường thiên hạ chịu chung thì nó không là gì cả. 

    Vậy đó, trong  thái độ của  một con người đối  với rác bộc lộ đủ thứ: 

+ quan niệm của anh về sự vận động, sự đào thải của cuộc sống ;  

+ mức độ  trưởng thành của anh về mặt ý thức (anh đã biết sống chung với xã hội chưa hay là mới chỉ biết lo cho bản thân mình và gia đình mình ?) ; 

+ thái độ của anh  với cuộc sống ( anh vốn  thực sự chi chút nâng niu nó  và đòi hỏi cao về nó,  hay thế nào cũng xong kiểu gì cũng được?). 

     Nói tóm lại thái độ một con người đối với rác biểu lộ một phần trình độ sống của người đó.

     Lúc rỗi ngồi nghĩ viển vông--  giá như  có dịp được đi nước ngoài một cách nhẩn nha,  sẽ để công nghiên cứu  cái cách của mỗi nước đối với rác thải. 

     Nghe tin là ở Nhật có loại máy gọn nhỏ chuyên chế biến rác cho từng gia đình. Giá kể không đắt quá, có lẽ  nên khuyến khích để mỗi  gia đình mua một cái.

    .... Thôi lan man kiểu này  thì không biết đến đâu là cùng. Ai đó từng nói đùa về rác ở một  lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi “. Câu nói pha chút thậm xưng  nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở  hội lẫn người thích đi các loại hội hè.

     Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ  “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp  và sung sướng đặt nó vào lọ thì  cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà ! “.

     Cuộc sống đòi hỏi chúng ta  ghi nhớ cái điều có vẻ khinh bạc đó, nhất là  cuộc sống hiện đại. 

Đã in trong "Nhân nào quả ấy", 2002



CON NGƯỜI TỰ DO MỚI LÀ YẾU TỐ THỨ NHẤT

Ngày 24 tháng 6 năm 2022

Tôi xin mạn phép tác giả Nguyễn Đức Tùng đưa lại bài MỘT NGƯỜI BẠN HONGKONG này lấy từ trang FB của Nam Dao N M Hung ngày 13-6-2019

Ở đoạn cuối tôi sẽ nói rõ tại sao tôi thích bài này

1/

Thời đi học, tôi ở chung phòng với hai đứa bạn khá thân. Yang từ Hongkong, thích ăn mì gói Đại Hàn, Li từ Đại Hàn thích ăn mì gói Thái Lan, còn tôi không ăn mì gói Thái Lan vì ghét hải tặc, nên chỉ ăn mì Hongkong. Chúng tôi cùng học chương trình PreMed, dự bị y khoa. Yang sinh ra và lớn lên ở Hongkong, học trung học ở đó, du học ở Anh, lấy bằng cử nhân rồi đến Canada, chuẩn bị thi vào trường. Sau này anh không đủ điểm TOEFL, hồi đó đòi rất cao, hình như 600, theo hệ thống điểm cũ, nên chuyển qua học tiến sĩ hoá sinh, rồi trở về Hongkong dạy đại học. Anh là một người thông minh và tốt bụng, học rất giỏi. 

Chúng tôi thường cãi lộn về chính trị, Li từng biểu tình chống Mỹ can thiệp vào Nam Hàn, đòi Mỹ rút quân, anh không biết rằng chỉ cần Mỹ rút quân thì Bình Nhưỡng sẽ xua quân chiếm Seoul trong hai ngày và bọn sinh viên biểu tình sẽ bị bắt nhốt hết. Yang không chống Mỹ cũng không chống Anh nhưng hô hào việc Hongkong trao trả lại cho đất mẹ Trung hoa. Đất mẹ Trung hoa đối với anh không phải là Trung hoa dân quốc Đài Loan mà là Trung hoa lục địa của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, người đàn áp đẫm máu sinh viên Thiên An Môn trước đó vài năm. Anh yêu nước đến nỗi coi việc Hongkong là thuộc địa của Anh là một nỗi nhục, và thà chịu hy sinh tự do hạnh phúc của người dân Hongkong để giữ cái sĩ diện của một nước độc lập. 

Cả Li và tôi đều không đồng ý với quan điểm ấy. Thế là cả ba cãi nhau mỗi ngày văng cả nước bọt, trừ lúc cặm cụi học thi, nhưng trong bụng thì vẫn quý nhau lắm. Khi Hongkong được trao trả cho Trung Quốc ngày 1 tháng 7 năm 1997, Yang bay về ngay và hào hứng tham dự vào phong trào ủng hộ chính quyền mới. Ba năm sau, anh thất vọng, nhận ra rằng, như trong cách nói của chính anh, độc lập chẳng có nghĩa cái fucking con mẹ gì cả so với tự do, không sợ hãi. Tự do, chúng mày nghe chưa. Anh hét lên trong điện thoại với tôi. Đó là lần cuối chúng tôi nói chuyện với nhau. Sau đó mất liên lạc. Gần đây nhìn những đoàn người biểu tình chống luật dẫn độ ở Hongkong, hàng trăm ngàn người, có lúc lên đến hơn một triệu người, tôi nhớ lại người bạn cũ. Tôi cố tìm trong hình ảnh đám đông khuôn mặt tươi cười điển trai của Yang, hơi xanh vì thiếu ăn, vì suốt hai năm chúng tôi chỉ ăn mì gói, mà anh lại khoái mì Đại Hàn, thứ cay và mặn nhưng theo tôi ít dinh dưỡng hơn mì Hongkong, nhưng nhìn mỏi mắt không thấy anh đâu. Tất nhiên là không thấy, nhưng tôi vẫn hy vọng như thế. Bây giờ thì tôi tin anh đang đi giữa đám đông ấy. Yang, cố lên đi, bạn.

2/

Từ những năm đi học tiểu học cho tới suốt thời lớn lên, tôi được giáo dục theo tư tưởng chỉ có độc lập của Tổ quốc là quan trọng nhất và bất cứ cái gì có lợi cho tổ quốc thì đều được phép làm, thậm chí phải theo ai để làm cũng phải theo. Lớn lên  một chút tôi cũng thoáng thắc mắc chẳng hạn nếu vì tổ quốc mà phải nói dối và làm bậy thì việc đó có đáng không.  Khái quát hơn tức là  tôi băt đầu cảm thấy có những thứ giá trị còn lớn hơn độc lập của Tổ Quốc chẳng hạn như tự do hiểu biết và suy nghĩ của con người cái đó cần cho mỗi công dân của một xã hội tốt đẹp và nó sẽ là cơ sở để có những tổ quốc hùng mạnh .

Tôi nghĩ như vậy và tôi phân vân không biết cách giải quyết thế nào. 

Càng những ngày gần đây về già biết thêm nhiều chuyện và  đọc thêm sách, càng thấy sự suy xét lại của mình là  CÓ VẺ có lý, từ đó tôi đã viết mấy bài nhỏ trên mạng đặt vấn đề nếu giữa nhân dân và tổ quốc phải có một sự lựa chọn thì bao giờ người ta cũng phải chọn nhân dân chứ không phải chọn tổ quốc vì nếu có tổ quốc mà nhân dân hư hỏng thì tổ quốc đó trước sau cũng không tồn tại.  

Còn nếu như có  nhân dân và đó là một nhân dân tự do hiểu biết và sáng tạo thì bao giờ nhân dân đó cũng biết cách làm  việc để làm nên tổ quốc xứng đáng của mình.

Tôi đi tới ý tưởng này sau khi tìm hiểu lại cuộc chiến tranh 45- 75 và thấy rằng chiến tranh đã làm hỏng nhân dân miền Bắc   mình nhiều quá, đó là một mất mát không thể cứu vãn, nền độc lập thu được sau chiến tranh nói theo giáo sư Trần Đại Nghĩa cũng là độc lập hờ, thứ độc lập mong manh rất dễ mất . Còn phải tìm hiểu nhiều về sự phá hoại mà chiến tranh đã mang lại cho nền kinh tế xã hội cũng  như nhân cách của con người  -  trên thực tế chiến tranh đã làm tha hóa nhân dân. 

 Hôm nay tôi lại tìm thấy điều đó trong bài viết trên đây của Nguyễn Đức Tùng. Anh bạn Hồng Kông  mà N Đ T nói trước đây cũng có ý nghĩ là tổ quốc mới quan trọng còn  nhân dân sống trong chế độ thế nào cũng được, tự do suy nghĩ và hành động có bị áp đặt  thế nào cũng được. 

Qua thời gian sống ở Hồng Kông trực thuộc lục địa người ta mới thấy rằng hóa ra không phải như vậy. 

Tôi muốn in đậm đoạn sau 

"Khi Hongkong được trao trả cho Trung Quốc ngày 1 tháng 7 năm 1997, Yang bay về ngay và hào hứng tham dự vào phong trào ủng hộ chính quyền mới. 

Ba năm sau, anh thất vọng, nhận ra rằng, như trong cách nói của chính anh, độc lập chẳng có nghĩa cái fucking con mẹ gì cả so với tự do, không sợ hãi. Tự do, chúng mày nghe chưa. Anh hét lên trong điện thoại với tôi."



CHÍNH HỆ TƯ TƯỞNG HÓA KHOA HỌC 

ĐÃ LÀM NGHÈO VĂN HÓA

Ngày 22 tháng 7 năm 2022

Nhân cuộc trao đổi gần đây bên giáo dục về chủ đề “đòi hỏi hay không công bố quốc tế với các tiến sĩ”

 -- thực chất là chuyện chúng ta có muốn và liệu có thể đào tạo một lớp trí thức đạt chuẩn quốc tế không và nếu không thì tại sao --

Chúng tôi xin giới thiệu một ít kinh nghiệm về giới trí thức Nga trước 1991, 

tác giả bài viết là N. Kozlova, cơ quan đã đăng là tạp chí tiếng Nga Khoa học xã hội ngày nay (ONS) số 2-1991.

Bản dịch đã đưa trên blog cá nhân của tôi 14 tháng 10 2013 với nhan đề “Khoa học xã hội ở ta là thế, làm sao khác được!”

***

Trong xã hội Xô viết, xuất hiện một tình thế quái đản: “Khoa học giữ chức năng hệ tư tưởng, còn hệ tư tưởng thì khoác cái trang phục của khoa học”. 

Vấn đề này có cơ sở xã hội của nó. 

Trong chủ nghĩa xã hội, tồn tại một kiểu trí thức. Nhờ  đáp ứng được nhu cầu cấp bách của cách mạng, họ đóng một vai trò đáng kể trong quá trình lật đổ cái cũ cũng như xây dựng cái mới.

Trong tiếng Pháp có một danh từ les parvenus de la science – tức là những kẻ mới phất lên trong khoa học. 

Đó là những kẻ không có học hành cơ bản, nhưng ham hiểu biết và tin vào tương lai.

Ở họ, lòng ham hiểu biết và ý hướng muốn thay đổi thế giới nhập làm một.

Họ không chỉ quan tâm đến tri thức như là những chân lý vĩnh hằng, mà còn ý thức được sức mạnh tri thức khoa học ngay trong hoàn cảnh hiện tại.

Ham hiểu biết, nhưng do nhạy bén với nhu cầu trước mắt của cách mạng, đồng thời họ đi vào chống tri thức (nhất là các tri thức bậc cao, tri thức trừu tượng), và cũng luôn thể  phủ nhận cả giới trí thức. 

Đây chính là cách mà họ tìm ra trên con đường lập nghiệp.

Với họ, trí thức thường là một thứ ông lớn nhút nhát, hèn yếu khi gặp nguy hiểm, xa lạ với quẩn chúng, không đáng gọi là người.

Nhận thức này được những người cách mạng nhiệt liệt chào đón.

 Những người xuất thân từ nhân dân khi nắm quyến lực cảm thấy trí thức chân chính không đi với họ. 

Thế là giai cấp thống trị mới coi những nhà trí thức chân chính ấy là ích kỷ, xấu xa.  Đám quý tộc về mặt tinh thần, -- vốn hình thành từ xã hội cũ ,--  bị thù ghét coi như rác rưởi.(1)

Một khoảng trống được mở ra và đám trí thức tự học (2) sẽ tìm cách lấp đầy nó. 

Đám trí thức tự học này:

       --   Là đám tự đào tạo; là những nhà phát minh không thành đạt, những nhà thơ không ai thừa nhận.

     ---    Họ là những người không được học đến nơi đến chốn, nhưng lại thừa khát vọng muốn đứng ở hàng đầu.

     --  Họ đối xử với kiến thức một cách thực dụng. Thay cho việc đối chiếu hiểu biết của mình với chân lý vĩnh cửu , họ lại thích đối chiếu kiến thức đó với thực tế và xem khả năng ứng dụng của kiến thức là tất cả.

      -- Họ thích tiếp xúc với đám công chúng ít học – chữ mà ta gọi là quần chúng cơ bản.

      --    Họ thích làm lại khoa học – biến trường đại học thành chỗ ai vào cũng được, thành những cuộc mít tinh chính trị công cộng.

Từ đầu thế kỉ XX, ở nước Nga, người ta đã thường bàn về dân chủ hóa khoa học. A. Bogdanov muốn gạt bỏ tôn giáo, xóa bỏ tính trừu tượng ban đầu của nhận thức, vả bằng cách đó làm lại khoa học. Lúc này khoa học trở nên dễ hiểu với quẩn chúng, và tính dễ hiểu được coi như là tiêu chuẩn chủ yếu của khoa học chân chính.

Thế là những nhiệm vụ cơ bản của khoa học bị từ bỏ, quyền tự trị của khoa học bị coi như nhu cầu không thể chấp nhận được, nếu không nói là phi lý và giả tạo.

Người ta hướng khoa học vào việc giáo dục quần chúng, mà trong việc này thì lớp trí thức cũ, nhất là những trí thức hàng đầu, không được việc gì cả.

Từ đây trong xã hội mới, khoa học là vũ khí đấu tranh cách mạng, là phương tiện để tổ chức sản xuất và gắn kết xã hội.

Những ngành khoa học nào không làm được việc đó có thể và cần phải xóa bỏ.

“Chân lý cũng phải đỏ” đó là khẩu hiệu dành cho khoa học mới.

Tư tưởng về sự ưu thắng của hành động so với nhận thức cũng rất phổ biến và được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá đâu là thứ khoa học cần thiết và có giá trị. 

Tri thức [ được hình thành trong xã hội sau cách mạng] là một thứ tín điều mới. Nhưng đó là một tri thức nửa vời, tri thức bị giản lược.

Quá trình giáo dục cũng bị giản lược.

Quá trình này được hình thành đồng thời với sự quảng canh văn hóa, đưa văn hóa về với đám đông. 

Và quá trình này sở dĩ được kiên trì theo đuổi đến cùng vì nó được xem như một phương thức đạt tới công bằng xã hội là điều mà cách mạng hứa hẹn và đám đông đòi hỏi – ngoài ra thì họ không cần biết rằng đó là văn hóa thế nào cả.

Việc thanh toán nạn mù chữ có một mục đích cụ thể là đưa mọi người tham gia vào khoa học.

Điều quan trọng nhất là sau quá trình này, người ta thấy ẩn chứa một nguyên tắc lớn là không có chân lý chung chung, chân lý cũng có tính giai cấp, nó cũng được ấn định một cách chủ quan.

Đảng độc quyền chân lý, và đảng không thể đồng ý với kẻ thù bất cứ điều gì, kể cả những chân lý sơ giản.

-----

(1)   Riêng ở Việt Nam thì có hiện tượng lợi dụng trí thức cũ để thu hút quần chúng và chỉ khi đám trí thức đó không nghe lời mới vứt bỏ không thương tiếc. Nhưng đó là một việc khác (VTN)

(2)  Về sau, đám trí thức mới phất này đã tự  phong cho mình đủ thứ danh hiệu -- kể cả giáo sư, tiến sĩ và cả viện sĩ nữa, --  tuy các học hàm học vị này gần như không được nước nào công nhận.(VTN)


HOÀNG NGỌC HIẾN 

THỜI GIAN VIẾT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHẢI ĐẠO

Ngày 29 tháng 7 năm 2022

-------

Tháng 11 năm 1978, Nguyễn Minh Châu cho đăng trên tờ Văn Nghệ Quân Đội một bài viết nhan đề là "Viết về chiến tranh". 

Trong bài này, Nguyễn Minh Châu nhận định rằng nền văn học Miền Bắc trước năm 1975 và cả Việt Nam sau đó đều chưa hề có tiểu thuyết thực sự về chiến tranh, vì còn bề bộn sự kiện, nhân vật toàn là lý tưởng, chưa mô tả được các vấn đề đời thường của con người và xã hội trong chiến tranh. 

Bài viết gợi ra ở Hoàng Ngọc Hiến  những suy nghĩ khá bất ngờ về văn học xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của ông được phản ảnh trong bài viết tựa là "Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua", đăng trên tuần báo Văn Nghệ, số 23 ra ngày 9 tháng 6 năm 1979. 

Sau khi tóm lược ý kiến của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến viết như sau: "Hình như, Nguyễn Minh Châu viết, trong ý niệm sâu xa nhất của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại, mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại, thì mối quan tâm hàng đầu là mô tả sao cho chân thật. 

Đọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là chủ nghĩa hiện thực phải đạo". 

Hoàng Ngọc Hiến còn đi tới những khái quát sâu hơn: Thực ra ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ nói năng ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn nảy sinh chủ nghĩa hiện thực phải đạo”.

 ---

Để hiểu  tác động của bài trên hãy nghe Nguyễn Kiên bình luận:

Ông Hiến chắc khó lòng qua khỏi. Trên họ ghét lắm. Tuyên huấn rất ghét cái chữ hiện thực phải đạo, nó hơi đểu. Phủ nhận toàn bộ họ còn gì! Rồi lại cái ý viết không thật, vì đời sống không thật nữa. Nặng lắm.  (Trong chỉ thị của Tuyên huấn, có nói rõ: phải cử người xuống trường viết văn giải thích lại các vấn đề anh Hiến đã nêu trong bài viết)

-------

Tạp chí Văn học có bài phê phán ngay từ cuối năm 1979. Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật số 1/1980 cũng vậy. 

Chính diện nhất là bài Hà Xuân Trường (tạp chí Cộng sản 1/1980). 

Hoàng Ngọc Hiến tức lắm, viết bài trả lời, gửi thẳng đến tạp chí Cộng sản .

 Buổi sáng cậu trợ lý biên tập đến nhà Hiến. Hiến mời nước, thuốc, cậu ta chiếu cố hút cho, và nói như ban ơn

 - 9g sáng, anh đến để đại diện biên tập gặp.

- Tôi bận công việc hôm nay không đến được.

Đến lúc này, cậu ta hoảng, biện ra lý do xin lỗi. Cuối cùng Hiến bảo nếu thế 8g30 tôi đến. Đến nơi, họ mời lên gác lên đó nói chuyện văn chương cho tiện. Hiến bảo bây giờ người ta bàn văn chương ngoài hàng nước chứ gì. Nhưng rồi cũng lên.

Họ chưa nói lý do không đăng bài, mà còn nói xa xôi.

- Nghe nói anh có viết bài trả lời Tô Hoài.

- Điều đó ta không bàn ở đây. Tôi thừa hiểu là các anh đã đọc nát bài đó, bên cạnh bài tôi gửi tới tạp chí Học Tập, việc gì phải giấu nhau cho khổ nữa.

Khi họ từ chối chưa nhận vội, ông Hiến đốp chát:

- Tôi chỉ đề nghị các anh một điều là in đính chính. Đính chính cho rõ Hoàng Ngọc Hiến nói A, mà Xuân Trường nói B.

- Anh thông cảm cho, hiện nay thiếu giấy.

- Nhưng lúc nào cũng thừa giấy để vu khống tôi. Làm như thế là mao ít. Xuân Trường mao ít. Hồng Chương mao ít. Chính tôi cũng mao ít nốt, nhưng tôi đang cố vượt lên, và bị các anh cản trở.

 Trung quốc bây giờ nó đánh nhau, nó phê phán nhau, nó gọi nhau là kẻ thù. Còn anh Hà Xuân Trường đánh tôi vẫn gọi tôi là đồng chí. Như thế là đểu.

Các anh bảo đời sống là tốt đẹp văn nghệ ta là tốt đẹp. Với tất cả tinh thần của người cộng sản, tôi xin nói rằng các anh rất cơ hội. Đảng ta chưa tốt đẹp. Văn nghệ ta chưa tốt đẹp, ta còn bao nhiêu việc phải đấu tranh. Tại sao các anh lại cơ hội như thế được.

-----

Trong hội nghị “35  năm Văn học yêu nước và cách mạng” tháng 7 1980,  Xuân Trường ra vỗ về Hiến. Hiến làm ầm lên. Sau lên nói giữa hội nghị:

- Tôi đồng ý là hoãn cuộc luận chiến lại. Để chúng bao người phản bác, chúng ta phải tạm hoãn chống bạo ngược trong nước.

Trước đó, gặp ông Trường, nói rất căng.

Xuân Truờng: Chúng tôi sẽ phê phán anh Châu. Còn nếu đăng bài của anh, chúng tôi sẽ cho tiếp tục phê phán.

Hoàng Ngọc Hiến: Việc ông Châu, tôi không biết. Nhưng còn việc của tôi, anh cứ cho đăng đi, sau sẽ hay.

Tại một cuộc họp sau đó khi  họp với một số nhân vật văn nghệ,

 Trần Độ còn bảo :

- Lâu nay, có một xu hướng đánh giá lại văn nghệ của ta, đặt lại vấn đề quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực, do đó, vi phạm tới những nguyên tắc mà nếu cần chúng ta phải lấy máu ra bảo vệ.

Xuân Trường lên án tình hình sách vở nước ngoài vào lung tung. Các anh đừng thấy sách Liên xô có ý gì, nói theo ngay. Nhiều vấn đề chúng tôi nói đã lâu rồi. Nhưng chúng tôi viết thì các anh không đọc.

LỜI GIẢI THÍCH NGHE 

TỪ CHÍNH MIỆNG HOÀNG NGỌC HIẾN

*Hoàng Ngọc Hiến:

 ...Không phải là họ không biết đâu, thành ra không thể tranh luận với họ được.  Họ chống lại tôi một cách vô thức. Còn chính tôi, một chữ  như chữ hiện thực phải đạo thực ra nó cũng vọt ra một cách rất tự  nhiên, tôi không phải cân nhắc kỹ lắm, thế mới lạ. Bây giờ tôi đọc lại, tôi không thấy có gì là sai cả.

*Nhàn: 

- Như vậy là anh đã tiến từ tri thức, kiến thức sang quan điểm chứ không phải ngược lại, như thường thấy ở cách giáo dục của ta.

(Kiến thức tụ lại buộc anh phải phủ nhận ngày hôm nay, Nhưng người ta chỉ nghĩ, còn anh thì nói)

*Hiến: 

- Đúng.

*Nhàn: 

--Có bao giờ anh cảm thấy đơn độc?

*Hiến: 

--Không. Người tốt nhiều chứ. Vụ này của tôi cũng làm cho mọi người vui chứ. Có thể rút kinh nghiệm bao nhiêu điều.

*Nhàn: 

--Anh thấy bài học chính qua đợt này là gì?

*Hiến:

 --Nó không phải ở chỗ dũng cảm kiểu hăng máu vịt. Phải có một sự tỉnh táo trí tuệ ghê lắm. 

*Nhàn:

 --Vấn đề chính anh đã nói trong một số sách đã viết thời gian vừa qua là gì? và chủ đề trong thời gian tới?

*Hiến: 

--Tôi tưởng đó là điều tôi đã nói khá rõ trong tập sách đầu; đó là cần phải có những nhân cách lớn. Phải đấu tranh chống lại thói tư sản phàm tục. Đó chính là cảm hứng rất rõ qua kịch Mai a - mà do làm, tôi mới hiểu được.

-----

 Có mấy buổi họp toàn những vị cốp trong giới văn nghệ diễn ra trong ba ngày 17, 18, 19/12/1980.Tôi không được dự chỉ nghe Bùi Văn Ba (Phương Lựu) kể mấy ông Phan Cự Đệ, Đông Hoài, Lê Xuân Vũ  sớm quay ra công kích bài HNgHiến: nào gây khó khăn cho việc giảng dạy của họ, nào là rơi vào luận điểm tư sản (L. Goldman, Camus)

Hoàng Ngọc Hiến lên trả lời ngay. Nhưng ông không bào chữa cho mình vội mà hãy nêu một số ý kiến về đời sống lý luận

1. Về vấn đề đóng - mở. Sự thực đây là vấn để bảo tồn và phát triển.

Có nhiều người nghĩ bảo tồn là bảo tồn nguyên tắc, còn chỉ phát triển về mặt khoa học. Thật ra thì nguyên tắc cũng phải phát triển, nếu không, nó sẽ trở nên ẩm ương, hoặc dở hơi nữa.

Ví dụ như chuyên chính vô sản, ở một số nước thì chuyển thành vấn đề đảng toàn dân, ở ta thì chuyển thành làm chủ tập thể.

Ví dụ nội dung tính đảng đang đuợc chuyển thành nhân đạo cộng sản chủ nghĩa.

2. Về yêu cầu của lý luận phê bình

Người ta thường chỉ nói tới hai yêu cầu: quan điểm lập trường, và chất lượng thông tin của các bài.

Nhưng còn một điểm nữa, phải nhấn mạnh đó là chất lượng văn hoá - ngôn ngữ của bài. Có những người, có đủ hai yếu tố trên rồi, cũng vẫn không trở thành nhà phê bình, nếu thiếu yếu tố cuối cùng.

3. Về yêu cầu đào tạo đội ngũ

Như tôi - Hoàng Ngọc Hiến nói, tôi có thể làm được một ít việc, vì hồi trước, tôi có được học tiếng Pháp và sau đó, tôi có đi học Nga.

Nhiều anh em viết phê bình khác, anh anh Đức, anh Đệ, không đọc chắc chắn được một ngoại ngữ, thì làm sao có thể bàn chuyện gì đến đầu đến đũa được.

Về bài của mình, Hiến bảo đây là một bài tôi viết trong chùm bài viết cho tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, trong đó, tôi đề cập đến hàng loạt vấn đề: quản lý vận động của văn học thời kỳ mới, quản lý vận động của văn học mao ít của ta.

Phải nói là chưa bao giờ viết xong tôi hào hứng như vậy. Tôi tưởng là anh Trần Độ sẽ tăng lương cho tôi ngay.

Chính tôi cũng bất ngờ vì bài báo bị người ta lợi dụng. Có những người đến bảo vào tai tôi “Cậu phải đánh chúng nó thế mới đích đáng” Tôi  rất phản đối.

Theo tôi, rất nên chú ý là bài viết của tôi có cái nhan đề là “về một đặc điểm...” như vậy, tôi chỉ nói một đặc điểm, chứ không phải nói tất cả. Vả  chăng, bài viết của tôi là thuộc loại tiểu luận mỹ học, viết để đăng trên một tạp chí chuyên ngành, phạm vi phục vụ hẹp. Tôi đã có khuyết điểm là không kiên trì để lại đăng ở tạp chí đó mà lại mang đăng ở báo Văn nghệ,

....

Theo Phương Lựu, bài nói của Hiến tốt, tạo được không khí.

Còn nhiều người khác, công kích Hiến, nhưng không có gì sắc sảo. Kể cả ông Chế Lan Viên.

Trước lúc lên diễn đàn, Chế Lan Viên bảo với Hiến:

- Tôi sẽ đánh anh. Đáng nhẽ tôi với anh phải chung một trận tuyến đánh giáo điều đã. Nhưng bây giờ tôi đánh xét lại trước, rồi đánh giáo điều sau.

- Vâng, xin mời anh. Nhưng ta hẹn với nhau nếu anh không đánh được tôi, anh phải khao tôi một chầu thịt chó đấy nhé.

Thế là Chế Lan viên lợi dụng, vào đề ngay - Chúng ta đánh anh Hiến hơn một năm nay, mà anh vẫn tự hào là anh đúng. Chế Lan Viên gọi đây là hiện tượng Nhân văn 2. Nhớ được lý luận gì, tên tuổi nào ở phương Tây, ông lôi ra hết. Ông đặt cho Hiến 15 câu hỏi, theo lối bắt nọn, rất khó chịu. Rồi ra ngoài Chế Lan Viên còn bắt tay ông Hiến .

      (Số 2 của năm1981 báo Văn nghệ mới đăng bài Chế Lan Viên phê phán Hoàng Ngọc Hiến và Nguyên Ngọc - nhưng gọi tắt là ông X. Nguyễn Văn Hạnh cho là phen này Chế sẽ mất hết vốn liếng sẵn có, mất hết bạn bè, hoàn toàn cô độc.)

Ý của NgĐThi ở hội nghị:

- Nói như anh Hiến cũng là cực đoan và bè phái. Văn nghệ cao cả cũng có cái hay của nó. Thời cổ, Sôphốc là cao cả ,  và một người khác (Arítstôphan(hay Ơripít ?) là tả như thực, hai người đều hay.

Gớt là cao cả, là hay v.v. và v.v

Cho nên, nói viết như thế này hay thế kia không hay, là còn hiểu nông lắm.

Tôi (Nhàn) Theo ý anh, lý luận bây giờ có vấn đề gì?

Nguyễn Đình Thi: Phải trở về với những cái cơ bản. Gớt bàn về thơ, Bandắc bàn về tiểu thuyết đều nên dịch và cho in cả, tạo nên cái nền cho chắc. Thứ hai, là suy nghĩ về dân tộc, về nguồn của mình cho tốt. Đừng có tin ở những ông óp ông ép nào đó hiện nay. Họ sẽ bị quên đi thôi. Đừng để họ úm mới phải.

Trích  "Nhật ký văn nghệ 1980"

đưa trên blog của tôi 30.5.2019





THANH TÂM TUYỀN & MỘT THOÁNG TỰ TRÀO

Ngày 30 tháng 7 năm 2022

Trong một bài viết về Thanh Tâm Tuyền trên trang Fb Huỳnh Duy Lộc 27-5-2021 tôi thấy tác giả có dẫn ra  bài thơ gọi là “Thơ mừng năm tuổi” làm năm Nhâm Tý (1972) của tác giả những “Tôi Không còn Cô Độc” (1956) “Bếp Lửa” (1957)...

Nhận thấy bài thơ có cái dọng tự trào rất hiếm gặp ở các nhà văn miền Bắc - nhất là khi ông mới ở tuổi 36 - tôi xin chép lại sau đây

***

"Mừng cu Nghệ ba mươi bảy tuổi.

Ba mươi bảy tuổi. Một vợ, bốn con — ba trai, một gái.

Non chục quyển sách in, gần 20 năm văn nghệ (hơn kiếp đoạn trường Kiều) — Thơ, kịch, truyện ngắn, dài và tạp nhạp.

Non chục ngàn trang, đăng bừa bãi — kế độ nhật — chẳng buồn thu lượm / liệng nhét trong ngăn, hộc, tủ , kệ, thùng, rương.../ nhóm lửa lót nồi

Được chê bai, được khen ngợi,

được công kích, được tán dương,

được choàng hoa, được lăng mạ. Ồn ào.

Được gọi nhà văn, nhà thơ miền Nam. Tùy tiện.

Tiền phong, độc lập với người này. Phản động, tay sai với kẻ nọ. Múa gậy vườn hoang với đám kia (Cũng vui!)

Không thẻ hội viên văn nghệ. Không chân đoàn thể hay đảng phái. Không thế lực nhà thờ (La Mã hoặc Tin Lành) hay chùa chiền (Ấn Quang hoặc Quốc Tự).

Không thiết Tả, Hữu, Trung, Siêu. Mòng mòng. Hoan hỉ mòng mòng. Nghiêm túc mòng mòng.

Chưa một ngày rời chân khỏi nước. Mê nhớ Paris, mọi thủ phủ, mọi thành phố, chốn đám đông tụ tập chen chúc và hiu quạnh — chưa quen như đã thông tỏ.

Phiêu lưu xó nhà xó bếp, tửu quán trà đình, phường phố ngao du.

Ngớ ngẩn dăm ba mối tình còm. Tuyệt vọng…”

*** 

Trên tôi vừa nói các nhà văn miền Bắc rất hiếm gặp nếu như không nói là không có lối tự trào kiểu này. Trong cơ quan đơn vị luôn có họp hành kiểm điểm định kỳ đấy nhưng người ta lo khoe mình là chính để còn lên lương đề bạt và do đó dễ ín sách in báo chứ ai dại gì lạy ông tôi ở bụi này. Phải có một vốn văn hoá thâm hậu lăm mới có thể có một triết lý sống 

Nhân đây tôi nhớ lại một bài phú tự trào của Tú Xương

Phú thầy đồ

Thầy đồ thầy đạc

Dạy học dạy hành

Vài quyển sách nát

Dăm thằng trẻ ranh

Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía

Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh

Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát

Cho nên thầy lẩn quẩn loanh quanh

Trông thầy

Con người phong nhã

Ở chốn thị thành

Râu rậm như chổi

Đầu to tày giành

Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo

Cũng nhiều lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh

Nhà lính tính quan: ăn rặt những thịt quay, lạp xường, mặc rặt những quần vân, áo xuyến

Đất lề quê thói: chỗ ngồi cũng án thư, bàn độc, ngoài hiên cũng cánh xếp, mành mành

Gần có một mụ, sinh được bốn anh:

Tên Uông, tên Bái, tên Bột, tên Bành

Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo

Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè rượu cơm canh

Chọn ngày lễ bái

Mở cửa tập tành

Thầy ngồi chễm chện

Trò đứng chung quanh

Dạy câu Kiều lẩy

Dạy khúc lý kinh

Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép

Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành!

HY SINH TƯƠNG LAI CHO HIỆN TẠI

Ngày 8 tháng 8 năm 2022

Bạn MaiLanTruong mới viết trên trang của mình 

“Điểm chuẩn vào trường Công an gần như cao nhất, điểm chuẩn vào trường Sư Phạm gần như thấp nhất. 

Cứ nghĩ đến là mất ngủ. Sao lại đa đoan hoài vậy...!?”

Tôi nghĩ, chẳng qua nay là lúc người Việt  chỉ loay hoay với những chuyện trước mắt, mà không hề hay đúng hơn là thấy mình không đủ sức lo chuyện  tương lai. 

Và do chỗ mất hết niềm tin vào tương lai, nên người mình kẻ có điều kiện thì lo cho con cái đi học nước ngoài, kẻ không có khả năng trốn khỏi hiện tại  thì xoay ra bia rượu cờ bạc để hành lạc qua ngày.

Tuyệt vọng đang là thứ khí hậu chi phối cái thời đại hậu chiến mà người Việt tưởng là có quyền hy vọng hơn bao giờ hết. 

Có lẽ là tôi cổ hủ quá, nhưng từ những năm 60  cho tới ngày nay, không hiểu sao tôi vẫn thích mở ra nghe lại  “Bài ca hy vọng” của Văn Ký. Từ thời của  người ca sĩ miền Nam tập kết Khánh Vân tới nay đã hơn nửa thế kỷ. Đã bao nhiêu cách giải thích về hy vọng đã đến. Rồi lại ra đi. Một trong những người hát bài này là Lão Nông, gần đây  nảy ra cái ý xuất thần  “bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng”. Đấy là cái công thức tôi đang muốn tìm.

Thói quen suy nghĩ cũ thường thầm thì vào tai loại người như tôi “cái thời khó khăn này rồi sẽ qua đi rất nhanh...” . Không, nhà văn Thu Bồn có lần nói với tôi, hóa ra thời nay cái  đang tan nát lại rất bền vững.






CHÂN DUNG NHÀ VĂN 

QUA 'CÂY BÚT ĐỜI NGƯỜI'

Ngày 12 tháng 8 năm 2022

• TS Mai Anh Tuấn 

Sách "Cây bút đời người" của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vương Trí Nhàn tái hiện con người đời thường và con người sáng tạo của các nhà văn.

Trong cái nhìn của nhà phê bình Vương Trí Nhàn, một nhà văn thực sự đúng nghĩa không chỉ hiện diện trên tác phẩm, mà thường xuyên và quan trọng không kém, còn ở trong đời sống. 

Ở đó, họ cũng là con người với tất thảy tính tốt hay thói xấu, với những mơ mộng, trăn trở, lao động nghề nghiệp vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa đơn độc, nhọc nhằn. 

Nhà văn, nghề văn không biến ai đó trở nên khác biệt mà ngược lại, chính tư cách đó làm họ gần gũi, sinh động hơn giữa nhân gian vốn dĩ muôn hình vạn trạng.

--

BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NHÌN RA PHẨM TÍNH NHÀ VĂN 

Lựa chọn viết về các nhà văn, theo Vương Trí Nhàn, là một cách phác thảo, tái hiện con người đời thường và con người sáng tạo của họ. Muốn vậy, người viết ít nhất phải có khả năng quan sát kỹ lưỡng, phải thu thập nhiều dữ liệu, từ tác phẩm, con đường văn chương đến tính cách, lối sống của nhà văn. 

Có dữ liệu nhưng cũng phải biết sắp xếp, đặt trong bối cảnh thời đại, trong những biến chuyển cá nhân lẫn văn đàn để không bị cuốn theo những cả tin, phong thanh, vô sở cứ, càng không bị cảm xúc yêu ghét thuần túy lấn át góc nhìn.

Vương Trí Nhàn đã duy trì được bản lĩnh, vị thế của người quan sát như vậy, một phần vì ông từng trải qua công việc nghiên cứu, phê bình; phần khác vì, như ông tự thấy, có may mắn tiếp xúc trực tiếp, trò chuyện, bàn bạc “về công việc văn chương cũng như việc đời” với nhiều nhà văn nhà thơ.

Ông cũng đủ tỉnh táo để không thiêng hóa văn nhân, nhìn ra trong văn giới “có thánh thần và có ma quỷ”, “phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý”. Khôn ngoan khi giữ một cự ly gần, với thái độ trân trọng, đồng cảm và tri âm, Vương Trí Nhàn lần lượt dựng lại 12 chân dung nhà văn mà ông đã dành nhiều năm nghiền ngẫm. 

Trong số đó, có người cùng thế hệ Vương Trí Nhàn như Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, có người nổi danh trong giai đoạn văn chương kháng chiến chống Mỹ như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thành Long, lại có người là tác giả lớn từ trước 1945 như Tô Hoài, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu. 

Mỗi người một kiểu, nhưng hấp dẫn và có thể gợi ít nhiều suy nghĩ cho văn đàn hôm nay, theo tôi, là những phát hiện của Vương Trí Nhàn về phẩm chất nhà văn của họ. 

Đó phải là người khao khát được học, vượt qua ngưỡng hạn chế học vấn như Xuân Quỳnh; là người thể hiện được cảm xúc thật của mình trên trang viết, dẫu nó khác thời và khác người, như Lưu Quang Vũ; là người sống sôi nổi, phiêu lưu nhưng không nên tản mát văn tài như Nghiêm Đa Văn. 

Phẩm chất nhà văn đôi khi hiện hữu ở tinh thần chấp nhận cái khổ, thiếu thốn, một sự “dễ dàng trong cách sống” như Nguyễn Khải, nhưng đôi khi, cũng nên “lơ mơ sự đời”, ngay giữa đám đông “vẫn có thể chìm đắm trong những suy nghĩ riêng” như Nguyễn Minh Châu.

Người biết nhiều chuyện và có thể mang được “đủ thứ chi tiết linh tinh” vào trang viết như Tô Hoài phải là người “sòng phẳng và biết tới biết lui”, “lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt!”; người “rù rì lần bước” ngoài đời lại định hình được một phong cách “hoàn chỉnh và ổn định” trong thơ như Tế Hanh. 

Một người có hoàn cảnh xuất thân “làng nhàng”, ốm đau bệnh tật, đến với phê bình văn học vừa muộn vừa “cam tâm chấp nhận rằng mình thất bại trong việc đời” nhưng nếu biết “vừa học vừa chơi mà tiếng Pháp học được vẫn đủ để kiếm công ăn việc làm khi ra đời” thì cũng có chút đóng góp dịch thuật văn học như Nhị Ca. 

Cũng có người sớm bộc lộ tài năng, tác phẩm phổ biến rộng rãi, khi gặp điều kiện sống khó khăn thì “trở nên sinh động tự nhiên” nhưng khi gặp hoàn cảnh ổn định thì “yếu đuối” đến mức không viết được gì đáng kể như Thanh Tịnh... 

Phẩm tính nhà văn, rõ ràng, là một đại lượng khó lường, càng không dễ qui vào tốt xấu rành rẽ. Chúng nổi trội, nhất quán ở người này nhưng cũng biến đổi, đứt gãy ở người kia. 

Dĩ nhiên, phẩm tính đó cũng cần được rèn luyện, bồi đắp và, như Vương Trí Nhàn nhấn mạnh, phải kinh qua sáng tạo, qua dòng chảy cuộc đời. Không có một kiểu nhà văn chung chung, chỉ có nhà văn của con người này, số phận và cuộc đời này, cụ thể và duy nhất.

TƯ LIỆU VỀ MỘT THẾ HỆ NHÀ VĂN TÀI NĂNG

Không chủ trương viết văn học sử nhưng cuốn sách của Vương Trí Nhàn cũng là tư liệu giúp độc giả hôm nay nhìn lại, hiểu rõ hơn về một thời đoạn văn học đầy biến động, nhất là từ khoảng sau năm 1954 đến đầu Đổi mới. 

Thời đó, như trang sách gợi dẫn, có những ràng buộc oái oăm khiến nhà văn khó lòng thành thật, viết thật, hoặc, không cách nào khác, phải thích ứng thời cuộc chóng vánh.

Nguyễn Tuân cũng “nhập vai”, Tô Hoài “muốn viết gì thì viết, không định bụng thế này thế kia, mà cũng sợ mang tiếng khi viết”, Nguyễn Khải có “lối phù thịnh một cách rất tự nhiên”, Nguyễn Thành Long “người căn bản là lành, căn bản là tốt” mà thỉnh thoảng gặp phải “những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ”...

Giữ một cự ly gần, với thái độ trân trọng, đồng cảm và tri âm, Vương Trí Nhàn dựng lại 12 chân dung nhà văn mà ông đã dành nhiều năm nghiền ngẫm. 

Vương Trí Nhàn nhìn thấy ở họ những băn khoăn, chất vấn nội tâm trước trang văn, đồng thời cũng có những thỏa hiệp, xoay xở để sống, làm việc một cách bình thường. 

Một thế hệ tài năng, nhiều khao khát, “vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới đời sống văn hóa khác” như Vương Trí Nhàn chứng kiến, rút cuộc, vẫn không tránh khỏi những ảo tưởng, vụng về và mệt mỏi khi bước tiếp hành trình văn chương. Có lẽ, nếu có một giá trị mẫu mực nào đó từ những nhà văn này, có thể làm cẩm nang cho thế hệ cầm bút hiện nay, thì tôi nghĩ, đấy là những nỗ lực lớn, cả trong nhận thức lẫn việc làm, khi lựa chọn nghề cầm bút. 

Tài năng hay hoàn cảnh văn hóa xã hội hẳn cần thiết, và là nền tảng để đạt thành tựu, nhưng sự cố gắng, tự học và tự trưởng thành của người viết cũng tựa như nguồn năng lượng bứt phá lâu dài. Đây là điểm mà văn học sử ít khi tường tận, nên độc giả, để hiểu một đời sống văn chương đúng nghĩa, phải tìm đến tư liệu của người trong cuộc. 

Bản thân một số nhà văn mà Vương Trí Nhàn nhắc tới trong cuốn sách cũng từng viết, xuất bản nhiều tập tiểu luận - phê bình, chân dung văn học đặc sắc như Trang giấy trước đèn của Nguyễn Minh Châu, Tản mạn trước đèn và Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nghề văn cũng lắm công phu của Nguyễn Khải... 

Viết chân dung văn học, nhất là lối viết kết hợp giữa kể, hồi ức, tâm tình và nhận định, đánh giá như cuốn Cây bút đời người thể hiện, luôn là cơ hội để bộc lộ chính bản thân người viết. Dẫu tự đặt mình ở vị trí lắng nghe, quan sát và ghi chép, Vương Trí Nhàn cũng không giấu cá tính, quan điểm và trải nghiệm văn chương của mình. 

Ông dẫn dắt, chắp nối sự kiện nhưng khi cần, sẽ diễn giải, phân tích. Ông miêu tả, so sánh, kể lể nhưng không quên tranh luận, đối thoại. Ông cho thấy cơ sở của “họa người” là phải hiểu văn, hiểu “ngoài trời còn có trời”, nhưng cũng cần buộc mình nghĩ sâu hơn, phát hiện khía cạnh mới. 

Chưa kể độ lùi thời gian giúp ông tìm ra nhiều góc nhìn thấu đáo hơn. Trước thái độ thẳng thắn nhưng chân tình của Vương Trí Nhàn, tôi thấy các văn nhân xưa ít ra gặp may mắn, bởi họ không bị đặt trong những cái viết cuống cuồng, thêu dệt và thù tạc như đang phổ biến trên văn đàn hiện nay. 

Viết chân dung nhà văn, xét cho cùng, chẳng công kênh hay làm mất mặt được ai, nhưng vẫn là thể loại giúp người viết tự họa được bản tính và kiến văn của mình.

**

Cây bút đời người của Vương Trí Nhàn in lần đầu năm 2002 (NXB Trẻ), được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B hạng mục phê bình, lý luận năm 2003. Sách tái bản năm 2005 (NXB Hội nhà văn). Mới đây, NXB Kim Đồng in lại cuốn sách này trong tủ sách Bạn văn Bạn mình.



LÚC NÀY CÀNG CẦN ĐỌC SỬ  

Ngày 24 tháng 8 năm 2022

Đoạn sau đây vốn nằm trong một bài viết dài của Nguyễn Gia Kiểng “Những gì cần biết trước khi cuộc chiến Ukraine bước vào giai đoạn mới” đang được đọc nhiều trên mạng.

Tôi không đủ hiểu biết để khẳng định đoạn nói về người Nga trong tiểu luận sau đây có thật chính xác hay không.

Nhưng tôi tin tác giả Nguyễn Gia Kiểng tuyệt đối đúng khi lưu ý chúng ta rằng mỗi dân tộc có một quá trình hình thành riêng dẫn đến một tình trạng tâm lý riêng, điều này quyết định cách ứng xử của dân tộc đó với thế giới mà cũng tạo nên cái mà người ta gọi là số phận dân tộc. Và nếu như cách ứng xử đó nét chủ đạo trong tâm lý đó của dân tộc không phù hợp với thế giới hiện đại thì ta cần phải nghĩ cách thay đổi nó đi.

Một kết luận nữa tôi rút ra cho mình (có thể ai cũng biết nhưng bây giờ tôi mới thấm) là chỉ có thể hiểu được hiện trạng một dân tộc nếu hiểu được lịch sử dân tộc đó. Tôi cảm thấy cần đọc sử hơn cả cái mê hồn trận gọi là chuyện thời sự mà báo chí đương thời tạo ra. Tôi tự xác định cho mình nhất thiết phải đọc sử nhất là cái phần lâu nay mình hay bỏ qua là tiền sử, để hiểu thói hư tật xấu dân tộc. Trong đoạn trích của Nguyễn Gia Kiểng dưới đây có cái ý ngầm đó.

---

Lich sử nước Nga rất phức tạp nhưng một cách tổng hợp có thể nói là từ ngàn xưa Nga và các nước lân cận vẫn là một thế giới riêng, xa xôi, bao la, băng giá và tách biệt với phần còn lại của thế giới. 

Trong vùng đất đó, các sắc dân cướp phá và thống trị lẫn nhau, chiến tranh và bạo lực là quy luật tự nhiên và duy nhất.

 Đế quốc Nga đã được thành lâp từ thế kỷ 14 bởi một băng đảng cướp Viking

 Từ thế kỷ 10, đến thế kỷ 14 họ chiếm đóng và thống trị Kiev và vùng phụ cận rồi bỏ đi vì bị chống đối từ cả trong lẫn ngoài tiếp đó đến lập nghiệp tại Moskva dần dần bành trướng ra và mạnh lên. 

Do điều kiện địa lý khắc nghiệt, đế quốc Nga gần như bất khả xâm phạm. Các mưu toan chính phục dù là Napoleon thế kỷ 19, Hitler thế kỷ 20 hay Ba Lan trước đó đều thảm bại vì lý do thời tiết. 

Có một câu nói đùa rằng Nga có hai vị tướng đại tài bách chiến bách thắng là Giêng (January) và Hai (February). 

Sự an toàn đó và tập quán bạo lực của vùng đã khiến các vua chúa Nga thoải mái cai trị bằng bàn tay sắt. 

Tất cả các Nga Hoàng đều là những bạo chúa và được đánh giá qua những thành tích chiến tranh và chinh phục.

.

Những Nga Hoàng được tôn vinh nhất – Ivan Kinh Khủng, Peter Đại Đế, Catherine Đại Đế và gần đây Stalin- cũng là những bạo chúa hung ác nhất. Họ có thể học hỏi những kỹ thuật của Phương Tây, như Peter Đại Đế, nhưng không bao giờ chấp nhận văn hóa Phương Tây. 

Họ không chỉ bác bỏ mà còn thù ghét dân chủ. Họ không hề bị nhân dân lên án về những tội ác bởi vì trong cấu trúc tâm lý của xã hội Nga chủ quyền, nhân quyền và nhân đạo hoàn toàn vắng mặt. Chúng chỉ mới ló dạng một cách yếu ớt gần đây.

Cho tới nay Nga vẫn là một ngoại lệ, một thế giới riêng.

Putin không ngu xuẩn như nhiều người nghĩ, trái lại ông ta rất thông minh, nhưng ông ta là một sản phẩm và một tù nhân của lịch sử Nga. Putin muốn để tên lại trong lịch sử như một đại anh hùng đã khôi phục lại sự vĩ đại của Đế Quốc Nga và Liên Bang Xô Viết. 

Chính vì thế mà cho đến nay ông ta vẫn được đa số người Nga tôn sùng. Người Nga sau hàng ngàn năm bị ép buộc phải tôn sùng bạo lực và chiến tranh đã mắc luôn căn bệnh đó. Tôn sùng bạo lực và chiến tranh đã trở thành tâm lý dân tộc. 

Sai lầm chết người của Putin là không biết rằng thế giới đã thay đổi, ngoại lệ Nga phải chấm dứt và dù muốn hay không nước Nga cũng phải cố gắng để thích nghi.




KHI CÁCH MẠNG 

LÀ NHU CẦU NỘI TẠI CỦA MỘT THI SĨ

Ngày 29 tháng 8 năm 2022

Nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh Trần Dần; Ông sinh ngày 23-8-1926 nguyên quán Nam Định. Mất ở Hà Nội ngày 17-1-1997.

***

Dù có những sắc thái giống nhau, song số phận của mỗi tác giả văn học đương thời, suy cho cùng, đều là một biểu hiện độc đáo của mối quan hệ giữa tác giả đó với những thay đổi lớn lao trong hoàn cảnh xã hội hơn ba phần tư thế kỷ qua. Trường hợp Trần Dần  cũng không ra ngoài quy luật đó.

---

Đón nhận Cách mạng tháng Tám ở tuổi 19, Trần Dần cũng như một số cây bút cùng lứa sớm nhận ra rằng mình sẽ lớn lên cùng những biến đổi của đất nước sau mùa thu ấy. Cách mạng – như cách nói của Maiakovsky – là của họ. Họ muốn làm tất cả cho cuộc cách mạng ấy, theo đúng cung cách của cuộc cách mạng ấy. Bởi đó là điều từ lâu họ đã mong đợi.

Thế nhưng, làm gì bây giờ? Thoạt đầu cách hiểu của những người thanh niên này còn có phần lý thuyết thuần tuý. Chẳng hạn, có thể dự đoán trong những năm 45-50, ý nghĩ chi phối Trần Dần và bạn bè qui gọn lại một điểm: Tương ứng với cuộc cách mạng trong xã hội phải có một cuộc cách mạng trong văn chương. Cách mạng chẳng nhẽ lại cho phép người ta viết như cũ? Từ cách bố trí một dòng thơ trở đi, cũng phải thay đổi. Thứ văn chương vuốt ve mơn trớn, thứ văn chương của những chàng nàng lại càng phải thay đổi. Nghệ thuật phải được làm lại!

Điều đáng nói ở đây là không chỉ thời gian 45-46 – cái năm đầu tiên hồ hởi – mà mấy năm sau, khi kháng chiến đã bước sang những ngày gian lao nhất, giữa núi rừng Việt Bắc, những thể nghiệm nghệ thuật vẫn là cái đích lớn để Trần Dần theo đuổi . Ở tờ báo của trung đoàn Sơn La nơi ông công tác, nhà thơ khi ấy còn trẻ đã cho in những bài thơ như khẩu hiệu, và thơ được trình bày theo lối hình vẽ – một tìm tòi có lẽ được gợi ý từ các trường phái hình thức chủ nghĩa bên Pháp.

 Châu Mường La

đốt đuốc

TRONG

bao nhiêu hồi trống

Đêm

muôn tiếng hô

đó là đêm

MƯỜNG LA KHỞI NGHĨA

Không có đêm nào như đêm nay

          12 GIỜ

            Chúng ta 

đánh Mường La.

Tất cả những thể nghiệm này “trình làng” ngay trên những tờ báo in bằng thứ giấy thủ công thô nhám và giở mạnh tay là rách! Có sao đâu? Cách mạng cơ mà! Tinh thần Cách mạng - đây là cách mạng trong nghệ thuật - đâu có chờ đợi những dịp thuận lợi mới bộc lộ?

--

Nhưng cuộc cách mạng xã hội đang diễn ra trên đất nước – cuộc cách mạng mà mỗi lần nói tới, Trần Dần như còn run rẩy – cuộc cách mạng ấy chưa cần tới những thể nghiệm Trần Dần đang tìm.

Những việc đáng được coi là cấp bác nhất lúc này, giản dị hơn nhiều: động viên quần chúng tham gia kháng chiến. Người ta không rõ những biến chuyển nào đã đến trong óc một nghệ sĩ đồng thời là một cán bộ chính trị như Trần Dần vào những năm ấy. Chỉ biết là những yêu cầu này được ông sớm chấp nhận, và ở đây nữa, ông lại vừa lo phục vụ cách mạng một cách tận tuỵ, vừa loay hoay tìm ra ngôn ngữ nghệ thuật của riêng mình. 

Hãy nhớ lại các tác phẩm được viết ra khi ông chưa đầy ba mươi tuổi và mỗi khi nói lại, giờ đây, Trần Dần vẫn thấy tự hào, là Người người lớp lớp.

 Thiên tiểu thuyết được “hoài thai” trên đường hành quân tới Điện Biên Phủ ấy, khác với nhiều tiểu thuyết khác, ngay ở cái điểm xuất phát; nhân vật của nó là những con người mà người ta phải nghĩ tới, mỗi khi nói đến cách mạng. Chỉ lạ một điều là theo lời Trần Dần kể (bài in trong cuốn Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học 1945-1954, H, 1995) dù đó là Tô Vĩnh Diện, là anh Lục, anh Sâm… thì họ đều là “các nhân vật vô hình”, “hiện thân của một tình cảm vô thức”, có nhân vật mượn tên người nọ người kia ngoài đời mà hoàn toàn “do trí tưởng tượng” của tác giả sáng tạo.

 Hoá ra trước sau Trần Dần vẫn là mình. Ông không thể đi theo những đường mòn. Ông sẵn sàng làm cái việc mà đứng ngoài nhìn, người ta có thể bảo là điều hoà những cái tưởng không thể điều hoà nổi – miễn việc này theo ông là có ý nghĩa cách mạng thực sự.

Dù biết rằng Trần Dần đã rất tha thiết với những tìm tòi nói trên trong Người người lớp lớp, người ta cũng phải dè dặt khi đánh giá tác động của nó tới đời sống nghệ thuật đương thời. Nhiều tín hiệu tác giả phát ra, chưa có ai đón nhận. Suy rộng ra, còn có thể bảo, giữa nhận thức của một con người mà cách mạng là một nhu cầu nội tại – người cách mạng gốc, như bên Thiên chúa giáo, người ta bảo những người đạo gốc – với thực tế cách mạng hình như còn có sự so le?! 

Nhưng đó là lối xem xét của một người ngoài cuộc.

 Với Trần Dần, không có chuyện vừa đi vừa tính toán xem mình có thuận mắt chung quanh hay không, được hoan nghênh hay bị chê bai. Thậm chí, ông còn không buồn điều chỉnh bản thân ngay cả trong những hoàn cảnh gay cấn hơn nhiều. 

-- 

Để sang một bên câu chuyện của nhóm Nhân văn và Trần Dần trong mấy năm ấy, chỉ biết rằng, từ 1957 trở đi, dường như ông bị gạt ra khỏi sinh hoạt bình thường của văn học cách mạng. Mặc! trong hoàn cảnh đó, ông vẫn trung thành với chính mình, nhất là không xa rời cái ý tưởng mà mình theo đuổi từ khi còn trẻ. 

Nói cách khác, cách mạng vẫn là tâm thế chính của con người khí phách ấy. Và ông vẫn viết, viết như “đổ bớt” được chính mình đi cho đỡ nặng. Viết như đền ơn trả nghĩa những người đã giải phóng cho tuổi trẻ của mình. Viết như rung lại hồi chuông cách mạng thi ca đã khởi sự từ thuở 19-20. 

Tập thơ Cổng tỉnh  thật đã đúng là một hiện tượng đá đẻ “Đục như đi thuyền – luồng luồng sóng thạch”. Nói về cái đau đớn của con người biết suy nghĩ trong đêm trường mất nước nhiều câu thơ đúc lại trong một nỗi xót xa máu ứa.

Tôi cô đơn trời xanh cô đơn trời tím

Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô.

...

Vỡ tuổi ấu thơ! vỡ tất cả 

Tôi biết hợp về đâu? Tan tác hết,

Để bây giờ tôi phải kháng cự với mông mênh

Tôi phải đứng li lì ba ngả gió

Bằng tất cả những phương tiện ngôn ngữ sẵn có tác giả ném ra tới tấp hàng loạt hình ảnh, cốt để nói cho hết, nói bằng được cái bi đát, cái vô vọng của con người muốn được thay đổi

Khúc phố đổ đè ngang khúc phố què

Phố hoắc phố hơ thành trì ọp ẹp

Thều thào trống mọt buông canh

Im lặng. Im lặng bóp cổ hàng đèn treo

Xa xa một chiếc lá kêu. Kêu vàng đại lộ

Lá đỏ cháy ròng ròng qua các phố lụi hoàng hôn.

Cách mạng bùng lên là để hoá giải bao nhiêu vô lý nó làm sứt mẻ què quặt những hồn người, những phố xá, cách mạng tới là để chấm dứt cái mênh mông của đêm tối hoang dã như thế, hỏi làm sao một thi sĩ như Trần Dần thờ ơ cho được? Nói bao nhiêu, với ông, cũng là chưa thoả. 

Trong khi sử dụng những vật liệu có vẻ không thi vị chút nào, thực tế là ông lại biết mang lại một chất thơ riêng cho công cuộc cách mạng mà ông dành hết tâm huyết để ca ngợi. Trước mắt người đọc thấy hiện lên rõ nét một nhà thơ sứ đồ, mà cũng là một nhà cách mạng bẩm sinh, con người của dằn vặt trăn trở, con người quyết liệt, đi gần tới thô tục, cục cằn, con người căm thù xã hội cũ và tất cả những gì trì trệ, mòn mỏi, đến mức sẵn sàng chửi thề, đập phá, song lại cũng là con người có trái tim run rẩy, cặp mắt rưng rưng trước cái mới đang sinh thành.

 Đặt bên cạnh những kẻ ăn theo, những giọng vào hùa, những nhà thơ công chức, Trần Dần là một thế giới hoàn toàn ngược lại. Miễn là cái tư tưởng mà ông theo đuổi được nói ra, và ông được bộc lộ mọi si mê, mọi đắm đuối vì nó, thế là được rồi, còn có hề gì là những đau khổ riêng ông phải chịu! Người ta chỉ cắt nghĩa được sự xuất hiện của nhiều dòng thơ trĩu nặng tâm tình trong Cổng tỉnh khi biết rằng nó được viết ra một tâm thế như vậy. 

Chân vục trong bùn, song người thi sĩ này mắt vẫn hướng về ánh sáng và giữa nhiều hình ảnh của con người cách mạng trong thế kỷ, cuối cùng ông vẫn là một trong những hình ảnh gợi ra sự cảm phục cùng những ấn tượng thắm thiết.

Bài viết giới thiệu Cổng tỉnh (Thơ - tiểu thuyết 1994) 

trên báo TT&VH. 

Đã in lại trong tập Cánh bướm và đóa hướng dương 1999



CUỐN SÁCH MỚI VỀ NHO GIÁO

Ngày 31 tháng 8 năm 2022

NXB Hồng Đức và công ty Văn Lang vừa cho in bộ sách gồm nhiều tập sách nhỏ, mỗi cuốn là bản dịch một  Dẫn Nhập về các vấn đề văn hóa do Oxford University Press chủ trương. 

Trong khi một số bạn khác chú ý tới các mảng sách về các vấn đề hiện đại, tôi lại chú ý đến cuốn sách viết về đề tài Nho giáo: 

Từ lâu tôi quen đọc về Nho giáo qua sự hướng dẫn của các tri thức Sài Gòn trước 75, trong đó dễ đọc nhất là Nguyễn Hiến Lê. Cái mạnh của ông Lê -- nó cũng là lý do chính tôi thích đọc ông -- là nhìn triết học cổ điển phương Đông  kết hợp giữa quan niệm Trung Hoa  với ánh sáng của phương Tây, trong đó phương Tây là chủ đạo. 

Các tác giả Đông Phương học Anh Pháp Mỹ được ông Lê trích dẫn có nhiều, tôi không ghi lại ở đây được,  chỉ tin chắc họ đã  viết ra  những cuốn tốt nhất vào thời của ông.

Nay cuốn sách của Daniel. K Gardner có vẻ như bao gồm được những phát triển mới về Nho học ở phương Tây hai ba chục năm nay -- có thể tin điều này nếu  xem phần thư mục cuối sách .

Trong phạm vi hơn 200 trang, khổ 12x20cm tiếng Việt, tôi thật sự thấy sáng rõ hơn về một hai điểm cơ bản trong Nho giáo. 

Ở bìa 4 của cuốn sách, các nhà biên tập đã viết .. 

“Gardner khám phá những ý tưởng lớn của truyền thống Khổng học, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của nó trong đời sống Trung Hoa, tập trung vào hai câu hỏi triết học quan trọng nhất.

- Điều gì tạo nên một con người tử tế?

- Điều gì lập nên một chính quyền tốt? 

Đồng thời tác giả cũng mô tả cách các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống Nho gia (các hậu duệ của Khổng tử) đáp ứng mỗi chủ đề ra sao. 

Gardner đã làm sáng tỏ cái ý Nho giáo vẫn tồn tại trong các khía cạnh cuộc sống hiện đại. Hiện nay, người dân Trung Quốc lại một lần nữa tìm đến giáo lý của Khổng Tử để tìm lời giải đáp cho các vấn đề của một thời đại đầy biến động về kinh tế và xã hội."

Trong hoàn cảnh Việt Nam, tôi đã được đọc quá nhiều lời chê trách về sự lạc hậu của đạo Khổng thậm chí tác dụng phản động của học thuyết này.

 Nhưng bản thân tôi lại thấy chính ra Khổng tử vẫn là một nhà triết học thích hợp với đời sống hiện đại. 

Chủ đề thứ nhất của Khổng tử trên vừa nói là đào tạo con người. Lẽ nào đó không phải là vấn đề của mọi thời đại? 

Và điều thứ hai, cái câu hỏi "điều gì lập nên một chính quyền tốt" cũng đã thực sự mở ra cho các bạn đọc thấy một khía cạnh mà những người nghiên cứu về Khổng tử thời nay ở VN hay bỏ qua. Nho giáo là học thuyết cai trị và quản lý xã hội. 

Kết luận của cụ Khổng khá đơn giản: Nếu xã hội không hình thành nên nổi chính quyền tốt thì trước sau con người trong xã hội đó sẽ tha hóa hư hỏng.

Tôi rất tâm đắc với cái ý tác giả Gardner cho rằng Khổng giáo thích hợp với xã hội hiện đại. 

Dù không đủ sức chứng minh nhưng toàn bộ kiến văn tôi từng thu nhận được và cả lương tri vốn có lại mách bảo tôi rằng đến nay đạo Khổng vẫn là một lý thuyết chính trị phù hợp hơn cả với một hoàn cảnh của một dân tộc như dân tộc ta --  đây là  nói đạo Khổng ở phần tinh hoa tốt đẹp của nó chứ không phải đạo Khổng được nhà nước chính thống ở quê hương ông rao giảng và truyền bá.

Không nên vì đạo Khổng phát sinh từ một quốc gia đang hiếp đáp bắt nạt chúng ta mà rẻ rúng và lảng tránh nó, hơn nữa nói bừa về nó.

8/2016




NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH 

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN!

Ngày 21 tháng 9 năm 2022

Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học,  người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp.

       Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.

      Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời,  bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam.

 Người ta bảo rằng ông đã khỏa lấp nhiều khoảng trống lịch sử.

 Nhưng oái oăm thay, đó lại là những khoảng trống do chính ông tạo ra.

 Trong gần suốt cuộc đời ông -- theo chỗ đọc được của tôi -- ông đã để hết tâm huyết khởi động và cầm chịch cho thứ lịch sử cổ lỗ, trì trệ mà người ta đang sử dụng để định hướng quyền lực và dạy cho học sinh .

   Sự khác nhau giữa Phan Đình Diệu và Phan Huy Lê về căn bản chính là sự khác nhau giữa một người trí thức thực thụ và một trí thức cung đình hiện đại, nhưng được hình thành theo kiểu sử quan thời phong kiến.

 Những chuyển biến cuối đời của Phan Huy Lê rất đáng quý nhưng hơi muộn. Bản di chúc cuối đời của ông, nếu có thì theo tôi đoán nó sẽ là một câu ngắn gọn: 

--Hỡi những người làm sử hãy chuyển biến sớm hơn!

8/2018


TÌNH TRẠNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CON NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI

Ngày 22 tháng 9 năm 2022

Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều. 

Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi. 

Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.

Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.

Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung Quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.

SỰ THA HÓA CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá lừa lọc làm bậy bất chấp luật pháp… Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.

Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hoá chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.

Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.

Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.

Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in - chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.

Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch mà còn do sự tha hoá của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.

THẦY KHÔNG RA THẦY, THỢ KHÔNG RA THỢ 

Ở Hà Nội những năm sau 1954 có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng nói lại bây giờ nhiều người khó tin: Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!

Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hoá ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hoá, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.

 Ngày nay tình trạng trên có được dẹp bỏ một phần, nhưng lại có những biến tướng mới. Một cán bộ giảng dạy đại học trẻ than phiền với tôi, toàn bị sai vặt khi đi dọn thư viện, khi đi làm sổ sách, rồi  giúp vào  việc quản lý sinh viên... chứ chuyện chuyên môn thực sự chẳng ai khuyến khích.  

 Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.

COI THƯỜNG VIỆC NHỎ

Khi chuyển hoá vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.

Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khoá chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.

Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.

CHẲNG AI CHỊU ĐIÊN

Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.

Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được. 

Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ.













CÂY CỎ NƯỚC NGƯỜI TRÊN XỨ MÌNH

Ngày 29 tháng 9 năm 2022

Có một dạo Hà Nội có phong trào nuôi chó Nhật để xuất sang Trung quốc. Sau do người mình lai tạp lung tung, nên họ không nhập nữa, người làm ăn tử tế mất nghề.

   Trên đường phố, giờ đây tôi thỉnh thoảng vẫn gặp vài con chó Nhật còn sót lại. Chúng nhem nhuốc bẩn thỉu và cũng lam lũ chúi đầu vào đống rác kiếm ăn như chó bản địa.

     Không muốn nhìn nữa... Chỉ thấy nhớ thuở chúng được chăm bẵm nâng niu… mà thoáng qua một chút ngậm ngùi giùm cho kiếp lưu đầy xứ lạ.

     Khoảng đầu những năm chín mươi, ở Hà Nội nhà tôi cũng từng nuôi chó Nhật kiếm lãi, có con từng bán được cả cây vàng. Đặc điểm của chó Nhật mà tôi nhớ nhất là chúng không biết phân biệt người lạ và người quen,  càng không biết đề phòng kẻ lạ làm chuyện xấu xa với nhà chủ. Thấy ai chúng cũng vui vẻ, tưởng là bạn mình, đã không có chuyện đề phòng lại không có  chuyện giở mặt cắn trộm. Thế thì phù hợp với người mình sao được?

MỘT QUY LUẬT ?

    Lạ lùng cho đất An Nam      

Trời sinh ra thế biết làm sao đây

    Cái gì tốt tốt hay hay

Nước ngoài  đem lại cũng quay ra xoàng 

   Khoai tây trồng hóa khoai lang

 Thủy tiên cụ Tiễu đâm ngang hóa … hành

    Tú Mỡ trong bài thơ mang tên " Biến đổi", in trên Ngày nay 8-7-1939, đã viết vậy. Ông cười vì những cái tốt đẹp của nước ngoài khi vào xứ mình bị biến dạng như thế nào. Và trước tiên là số phận chúng rất yểu.

VÍ DỤ HÔM NAY

   Tôi viết những dòng này vì tuần trước vừa qua Phan Thiết. Từ thành phố ra Mũi Né, bên cạnh con đường ven biển với nhiều biệt thự, một con đường hai chiều mới được mở rất hiện đại.

 Ở giữa trồng hoa, hai bên trồng cây. 

 Chỉ khốn khổ là giữa vùng gió mà người ta trồng hoa giấy. Cây bông giấy trồng ở đồi cát càng dễ nở hoa sao lại nói khốn khổ? Thưa cây trồng trên thảm cỏ giữa đường phải nhỏ gọn, nói chung là phải bị khống chế về hình dáng và kích cỡ  chứ không thể để tự do  bò lan như ở các khu dân cư. Ở đoạn đường tôi  đi, từng bụi hoa giấy mới trồng, cành thấp cành cao lêu nghêu vươn ra, gió đánh tơi tả, cảm giác khốn khổ đã đến với tôi vì như vậy. 

Lại còn cám cảnh hơn là các hàng cây.

Cây đây  là loại anh đào, chắc là mới xin từ Nhật về.

 Mùa này đúng là mùa hoa nở. Nhưng đặt vào khung cảnh đơn điệu  của các đồi cát cực nam Trung bộ,  trên cái nền thời tiết nóng như rang, trong khung cảnh vắng vẻ tuyệt không có người đi bộ mà chỉ có những chiếc xe bóng lọng vụt qua,  sao cứ thấy như cây  và hoa bị đi đầy. 

" Nhân diện đào hoa tương ánh hồng", câu thơ Thôi Hộ vụt trở về trong trí. 

Chỗ của anh đào đáng lẽ là ở những khu dân cư, sang trọng quý phái nơi đó màu đỏ nhạt của hoa làm tôn lên vẻ đẹp của những mặt người. 

Có ai biết cho nỗi nhớ người của hoa không?



VỀ TUỔI GIÀ VỀ PHỤ NỮ

Ngày 19 tháng 10 năm 2022

Có nhiều cách nói về tuổi già. Mấy ông già tôi quen ngoài sông có lần ngồi đọc một câu sau: 

 Đố: Con gì ăn ít nói nhiều

Mau già lâu chết, miệng kêu tiền tiền.

 Trả lời: đám già.

Nhớ một lần khác, một ông già kể có lần một người mẹ đang chơi với con vui vẻ, thấy ông ta đến liền bảo kìa chào ông đi, đứa bé ngó một lúc rồi sợ quay ra khóc.Với nó, khuôn mặt già cả nhăn nheo là một cái gì xấu xa kỳ dị đáng sợ.

Cái già ở đâu cũng thế, chẳng cứ mặt người! Thế mà thử nghĩ xem, chúng ta sống giữa một xã hội già cả cổ lỗ - già trong tinh thần chứ không phải bề ngoài - cả lớp trẻ hiện nay, sao tôi trông cái cách kiếm tiền chơi bời hưởng thụ, cũng thấy họ già sớm quá

***

Nếu tuổi già tiêu biểu cho suy kiệt thì phụ nữ tượng trưng cho sự đỏng đảnh. Đây là ý của Henry Troyat. 

Ông này là một nhà văn Nga, sau Cách mạng tháng Mười lưu vong sang Pháp, viết văn, trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ông thường viết về nước Nga cũ, nhưng lại từ chối không bao giờ về thăm quê hương. Ông bảo, để cho cái cũ nó được sống đúng như nó có.

Sau đây là đoạn văn mà tôi tạm đặt tên là Đàn bà là gì?, ông viết nhân khi bàn đến nhân vật Grouchenka trong Anh em Karamazov

Người đàn bà, ấy là sự điên cuồng làm bằng xương thịt. Người đàn bà khô héo trong sự chờ đợi, đau khổ trong sự thực hiện những ý muốn của họ. Lúc thì họ ác độc để có cái thứ tỏ ra dịu dàng tiếp sau đó. Lúc thì họ dịu dàng để có cái thú được tỏ ra độc ác liền một khi. Họ có những e lệ tà tâm và những khoái lạc ngây thơ. Họ nói láo với đàn ông, với chúa, với chính họ. Họ đùa với cuộc đời. Họ đứng trước cuộc sống như đứng trước một tấm gương. Họ làm duyên làm dáng. Và họ thay đổi vẻ mặt điệu bộ để tự tạo cho mình cảm giác là mình đang sống. Đối với đàn ông sự trường tồn là bằng chứng của thực thể họ. Và chính do sự đổi thay mà người đàn bà xác nhận sự hiện hữu của mình. Cái người đàn ông muốn là một, còn người đàn bà muốn là nhiều. Người đàn ông chỉ tự cảm thấy mạnh trong sự ý thức đầy đủ về các đức tính và lỗi lầm của họ. Người đàn bà chỉ cảm thấy mạnh trong vô thức hoàn toàn về bản thân. Người đàn ông, chính là cái thế giới được tổ chức. Người đàn bà chính là cái vũ trụ dị dạng. Đối với người đàn bà, tất cả đều có thể, không gì là nhất thiết với họ cả. (Tôi chép từ bán nguyệt san Văn in ở Sài Gòn khoảng 1971-1972, số đặc biệt về Dostoievski)

Đỏng đảnh cũng là một phương diện chủ yếu của đời sống hôm nay.


TÌM HỌC NHỮNG CÁCH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

Ngày 29 tháng 10 năm 2022

Khi bí, hãy nhảy đại vào những khu vực anh chưa bao giờ ghé thăm và hãy nín thở chờ đợi – biết đâu ta chẳng tìm ra ở cái nơi tưởng xa lạ đó những gì quen thuộc, thậm chí những gì cần thiết. 

Không biết ai đó có lần đã nói với tôi điều đó và hôm nay tôi thử đi theo lối đó.

Lâu nay khi loay hoay với các chủ đế văn hóa VN, tôi chỉ mới tìm cách mở sang văn hóa Trung Hoa và văn hóa Đông Nam Á. Hôm nay tôi thử ngó sang ... văn hóa Hồi giáo -- Ả rập.

Lang thang thử đọc cuốn sách mang tên Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây của Bernard Lewis, Nguyễn Thọ Nhân dịch. Ghi nhận được vài điều, chẳng hạn cái ý về vai trò của các nhà thơ trong các nền hành chính ở vùng này:

“ Một vị vua chúa tầm thường nhất cũng nuôi ít nhất một nhà thơ để ca tụng mình bằng những vần thơ dễ nhớ và dễ quảng bá. Các vị đại vương thì có trong triều cả một tập thể thi gia chẳng khác gì một bộ tuyên truyền của chính phủ”

” Nếu việc của nhà thơ là tô điểm cho hình ành hiện thời của hoàng đế thì các nhà viết sử lại lo cho hình ảnh nhà vua truyền cho hậu thế “ ( tr 221)

Còn nhiều điều khác có trong văn hóa vùng Trung Đông tôi thấy nó như là những biến thể của văn hóa mình.

Tuy nhiên, bài học giá trị nhât là về cách nghiên cứu một nền văn hóa. Phần dẫn nhập giới thiệu hình ảnh một người đàn ông ngồi trong một quán cà phê, từ đó phân tích những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với con người Trung Đông.

Dường như nghiên cứu một nền văn hóa hiện nay, là nghiên cứu mối quan hệ giữa nền văn hóa đó với các nền văn hóa mà nó tiếp xúc – tôi tự xác định.


NHỮNG KẺ TRƠ TRÁO

Ngày 7 tháng 11 năm 2022

Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ. Tôi nhớ một câu đố vui  

“Có cây mà chả có cành 

 Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa 

 Người bán thì bảo rằng già 

 Người mua thì bảo thực thà còn non “  

và câu giải đúng là “cái cân”.

     Những ngày này thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó, không phải để suy nghĩ về tư duy kinh tế của người mình, mà cốt ghi nhận một xu hướng trong giao tiếp. 

      Là hình như nay là lúc trong nhiều chuyện chẳng có đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ queo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.

    Có những việc “ bánh đúc bày sàng”,  giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình. 

     Có người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế luồn lách cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi. 

      Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh. 

      Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh là cái sự việc năm trước, Bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký mua chỉ nhận: “ Chúng tôi hơi không được cẩn thận “ “ Chúng tôi chưa có kinh nghiệm “.

    Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế ?“, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều ? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được “... 

    Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa... lại tiếp tục trong bóng tối.  

   Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch T. Đ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những trò chơi động trời mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo.

   Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và...bị bắt quả tang. 

    Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng , van lạy rối rít.

    Song ông vẫn không có gì hoảng hốt. 

    Bảo đợi tôi mặc quần áo đã. 

    Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng tôi vào chơi nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản. 

    Thế thôi, rồi lững thững ra về. 

    Chẳng ai làm gì được ông cả! 

     Nói thật, theo dõi nhiều vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hoá ra kinh nghiệm của T.Đ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.

 NHỮNG LÝ LẼ ĐIÊN KHÙNG

  "Cổ học tinh hoa"  là một tập sách gồm 250 mấu  chuyện rút từ sách vở cổ Trung Hoa, do Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân soạn từ 1925 tới nay đã 90 năm, thời nào cũng được in lại,có mặt trong các tủ sách gia đình của lớp người có học.

     Trong sách có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của  người xưa. 

Một người lục tủ thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm. 

Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại  đòi. 

Chị ta  cãi: “Áo tôi mặc  đây là áo của tôi chính tay tôi may ra “.

 Anh kia  đáp lại bằng cái lý lẽ kỳ cục như sau:

 “Cái  áo thâm của tôi mất  thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa “. 

     Các tác giả "Cổ học tinh hoa" phân tích:

 +  mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười;

+ mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai; 

+mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba.

 Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm cái gì cũng dám nói.

    Tôi muốn bổ sung thêm, đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu về sự trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh của con người. Trong những trường hợp như thế này, nó thật đã vựơt lên trên hết mọi cách xử thế thông thường.   

     Và bạn có biết lúc đó chúng ta trở nên thế nào không? Tôi muốn nói khi trơ tráo và ráo hoảnh vậy,  ta trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.   

     Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo. Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.

     Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của chúng ta vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang,  chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên “ Ơ ! Con cứ tưởng … “ hoặc “Thế à, thế mà cháu không biết “.

      Giờ đây khi bị tố là tham nhũng,  nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi  “Ơ ! Tôi cứ tưởng...Tôi đâu có biết  “.

      Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con thường chỉ “ cháu không biết “ trước một vài đồng, còn người lớn bây giờ thì “ tôi đâu có  biết “ khi bỏ túi bạc tỉ, hàng trăm tỉ hàng ngàn tỉ.



TIẾNG ỒN ĐÁNG SỢ

Ngày 17 tháng 11 năm 2022

Mục điểm báo của RFI 12-11-15 đưa tin về Hàn quốc: lúc này cả xã hội gần như nín thở theo dõi con em mình thi cử. Việc này được cả nước chăm chút, nó khiến cho cả tới sinh hoạt giờ giấc cũng có phần xáo trộn. Ví dụ như hôm nay, có đến 69 chuyến bay cất cánh cũng như đáp xuống các phi trường lớn Hàn Quốc đã bị dời lại trong khoản thời gian từ 13g10 và 13g35 để không gây tiếng ồn, làm các em thi vấn đáp tiếng Anh phân tâm. 

   Nhân đây xin giới thiệu lại một bài phiếm luận của tôi đã in trong tập “Những chấn thương tâm lý hiện đại” 2009

CÓ PHẢI TRUYỀN THỐNG?

        Trên báo Phong Hoá số ra 14-9-1934, nhà văn Thạch Lam kể lại cuộc diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm về Thơ mới ở Hội Khai Trí Tiến Đức với một nhận xét tổng quát “người ta đến như một cuộc vui chơi“, “không ai nghe rõ được cái gì “. 

Thậm chí, cô Kiêm (diễn giả) muốn nghe lời mình cũng  không được. 

Vì “ đám đông quá ồn, bắt nguồn từ một óc xếp đặt  quá thiếu thốn“.  

Và Thạch Lam, người nổi tiếng có một tình yêu sâu xa với sự yên lặng, nhận xét khái quát: “Mà nói cho đúng nữa, người mình không bao giờ có biết cách xếp đặt một buổi hội họp cho được hoàn toàn. Hễ đâu đông người  là hỗn độn ồn ào rầm cả lên. “

   Tuy thế, nhớ tới Hà Nội trước 1945, nhiều người thuộc lứa bề trên của tôi vẫn nhớ rằng thủ đô hồi ấy thanh bình lặng lẽ lắm.  

    Năm 1997, tại Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, tổng thống Pháp trong lời trò chuyện với nhân dân thủ đô không quên ngỏ lời xin lỗi là họp như thế này là  khiến cho một thành phố nổi tiếng yên tĩnh như Hà Nội bị ồn mất  ít  ngày. 

    Chung quanh sự yên lặng, người ta là khách mà trân trọng quá, còn mình là chủ lại không  thấy quý. 

    Lại thêm một bằng chứng minh xác cho cảm tưởng lâu nay của tôi: Hà Nội thanh lịch của đời sống trước 1945 đã bị đánh mất.

 ĐÃ TỚI LÚC  MỌI SỰ YÊN LẶNG TRỞ THÀNH VÔ NGHĨA. 

      Bằng một cách khá kiên nhẫn, nhiều tờ báo ở ta đã đăng những bài than phiền về các loa phường. Có những tiết học đúng vào giờ loa hoạt động, thày trò chỉ còn có cách gấp sách bất lực nhìn nhau. Có những người nước ngoài đến thuê nhà, vừa thuê xong thì bỏ chạy, vì nhà  ngay dưới chân loa hàng ngày loa chõ ngay vào phòng. Tiếng loa áp chế ngay trên đầu người ta. Tiếng loa dai dẳng không dứt. Mà thường toàn là những giọng đọc vô cảm. 

      Nhưng theo chỗ tôi biết thì cả thành phố Hà Nội, cái chuyện khá chướng ấy cấp trên chưa có ý định bỏ. Lý do nhiều lắm và đây là một hiện tượng dịp khác ta sẽ bàn. Cố nhiên tôi cũng là loại sợ loa phường lắm. 

Nhưng trong sự ngán ngẩm về không khí ồn ào nói chung, có lần tôi nảy ra cái trò chơi vui vui là thử cãi hộ cho các loa phường ra sao. Và lời cãi của tôi như thế này: “Các vị thử nghĩ xem chung quanh có yên ả lặng lẽ gì cho cam? Không có loa phường thì mọi cuộc đi lại rượu chè mua bán xoay sở kiếm chác …cũng đã ồn ĩ quá rồi. Có ai người ta nghe loa đâu? Tiếng loa chỉ hoàn chỉnh thêm cái đời sống nhộn nhạo sẵn có “.

      Trong các sách "Quốc văn giáo khoa thư" học hồi còn nhỏ, tôi vẫn nhập tâm một lời khuyên, khi qua đường gặp đám ma, phải ngã mũ chào. Mỗi người  nằm xuống là một dịp để ta cùng nghĩ thêm về sự hư vô của cuộc đời. Vậy mà gần đây, đang đi ngoài đường thấy chỗ nào có đám là tôi lảng ngay ra phố khác. Tôi sợ gặp đám ma bởi ở đó quá ồn. Người ta lo khóc sao cho cả phố cùng nghe được mới thôi. Sự thương xót, khi được phóng to lên trong những chiếc loa hiện đại, mang tính cách một cuộc trình diễn ép buộc và đi sát tới giả dối. Tôi không có chỗ để  làm cái hành động tử tế mà tôi vốn muốn làm. Tại sự ồn ào tất cả. Có trời phật chứng giám cho lòng tôi vậy ! 

 ỒN ÀO MÀ VẪN TẺ NHẠT                                                                                                    

       Từ vài chục năm nay, vào những dịp tết nhất hoặc có lễ lạt, chung quanh Bờ Hồ thường vẫn thấy dựng lên nhiều quán nhỏ để bán các loại hàng. So với hồi bao cấp, những quán này được dựng tạo công phu hơn, vật liệu hiện đại hơn, nhưng nhìn kỹ vẫn quá cổ lỗ. Điều thấy rõ nhất: không gian quanh hồ tối sầm đi, như một bãi cỏ đầu làng nào đó. Hàng loạt loa truyền thanh được mắc nối tiếp, có khi đứng một chỗ nghe loa nọ lẫn với loa kia. 

      Chính báo chí gần đây viết về du lịch cũng bật mí: các tua du lịch có nghề  thường khuyên khách nước ngoài không đi vào những ngày hội. Vì đó là thời gian lộn xộn không xem được gì. Hóa ra sự ồn ào ở đây lại đóng một vai mới, nó tố cáo rằng chính ra đỜi sống ở ta triền miên trong sự tẻ nhạt

VIẾT THÊM 17-11-2015

Trở lại với cái ý các báo Pháp nói ở đầu bài này, tiếng ồn đáng sợ vì nó hại cho sự suy nghĩ. Từ đây tạm đi tới một kết luận: những xã hội ồn ào là xã hội trì trệ, vì nó cản trở sự suy nghĩ, vốn là một yếu tố duy nhất có thể thúc đẩy tiến bộ xã hội.Trì trệ thì sẽ đi tới thoái hóa, đó cũng là luật.

2015



LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG

Ngày 4 tháng 12  năm 2022

Theo một con số thống kê sơ bộ thì khoảng 70% dân nghiện ma tuý ở các mức độ khác nhau có độ tuổi mới 25. Dưới đây chúng tôi thử đưa ra một cách giải thích cái hiện tượng nguy hại đó dưới góc độ văn hoá - đạo đức.

Khi một thanh niên vào con đường nghiện ngập tức anh ta đang tự huỷ hoại thân xác. Trước mắt mọi người anh ta là hiện thân của một kẻ bạc nhược mất hết ý chí. Một sự suy đồi về tính cách chính thức bắt đầu.

 Đúng ra phải gọi là một cái chết đến sớm.

Tại sao ai cũng biết vậy, mà trong xã hội, tệ nạn ấy ngày một phát triển và không biết bao giờ mới có thể triệt bỏ?

Khi nêu câu hỏi này với một số người, tôi thường được nghe những câu trả lời đại khái:

-Tại nhà trường xã hội buông lỏng giáo dục

- Tại các cửa khẩu bị lũng đoạn để hàng lậu nhập vào.

- Ôi giời, vốn một mà lãi trăm lãi ngàn! Ông bà nào muốn hốt bạc của thiên hạ thật nhanh thì chỉ có cách đi vào con đường buôn bán cái thứ hàng đó.

Nhưng tôi cho rằng bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, ở đây còn có nguyên nhân chủ quan, tức bản thân “cơ địa”, cái đời sống tâm lý của một số thanh niên hiện nay, nó đang là mảnh đất lý tưởng để sự hư hỏng hoành hành. 

Và đây có lẽ là một ví dụ rõ nhất chứng minh cho cái điều đơn giản -- các hiện tượng tiêu cực bao giờ cũng có căn nguyên văn hoá - đạo đức sâu xa của chúng.

NUÔNG CHIỀU QUÁ MỨC

Tội lỗi nhiều khi chỉ bắt đầu từ một phút yếu lòng, một sự buông thả. Tệ hút xách cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhiều nạn nhân đã đến với tử thần do chỗ a dua với bạn bè, nhẹ dạ ham chơi ham của lạ, và khi biết mình “tay đã nhúng chàm” thì không rút ra nổi. 

Có vẻ như trong trường hợp này, các đương sự đáng được giảm nhẹ tội lỗi: Cái lối sống bầy đàn theo đuôi nhau, cái bệnh học đòi đua đả nhau, thanh niên thời nào chẳng có? 

Nhưng khi để cho một bộ phận thanh thiếu niên trở nên ẽo uột và dễ bị lôi kéo như vậy, thì trách nhiệm của những người lớn tuổi lại nặng nề hơn bao giờ hết. 

Ở đây có những thói quen, thoạt nhìn vô can, song lại tai hại vô kể. Nhiều người chúng ta, lớn lên trong những hoàn cảnh cơ cực, khi đã khá giả hơn một chút, thương thân mình rồi thương lây sang con, thường muốn cho con ăn tiêu thật thoải mái. 

Không ai cho là có lỗi khi trót nuông chiều trẻ quá mức.

Trong nhiều gia đình, lớp trẻ chỉ biết có quyền lợi mà không biết đến trách nhiệm. 

Các trường học bây giờ lại có lối cho điểm học trò thật cao để lấy thành tích. Trong sự dễ dãi với nhau, ta càng dễ hơn với trẻ. Và trẻ cứ thế nghênh ngang vào đời với sự tự tin chúng là những ông tướng. 

Trong khi kêu trời với nhau rằng thanh thiếu niên giờ đây nhiều em ích kỷ, ham hưởng thụ, dửng dưng với việc đời, với cái hay cái dở... nhiều người quên rằng chính mình đã góp phần nhào nặn nên những tính cách đó. Giá kể như chúng ta sớm biết đề ra những yêu cầu cao với trẻ, biết dạy dỗ chúng trở nên những con người nhạy cảm, có lòng vị tha, có nghị lực theo đuổi mục đích cao đẹp... thì đâu đến nỗi!

TƯỚC BỎ MẤT SỨC ĐỀ KHÁNG

Theo như cách nói của y học, cơ thể nào cũng có sức tự đề kháng. Trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, cơ thể huy động mọi bản năng để tự vệ, tức để duy trì sự sống. 

Thành thử đòn đánh mạnh nhất đối với một cơ thể là đánh vào khả năng tự đề kháng này. 

Bấy giờ cơ thể trở nên vô cùng yếu ớt, mọi sự thuốc thang chạy chữa chỉ còn rất ít ý nghĩa.

Đối với sức khoẻ tinh thần, tình hình cũng có nhiều phần tương tự. Khả năng tự đề kháng nói ở đây là sự phân biệt hay dở xấu tốt và lòng tin rằng người ta cần phải tốt và có thể tốt. 

Thiếu đi lòng tin ấy, con người ta sẽ mất hết khả năng tự kiềm chế và tự phấn đấu, sẽ sống buông thả, tuỳ tiện, rồi rơi vào tội lỗi lúc nào không biết.

Tiếc thay, cách cư xử của người lớn trong một số gia đình hiện nay khiến con cái họ cứ ngấm dần căn bệnh quái ác kia. Tức là một số thanh niên đang mất dần sức đề kháng trước sự cám dỗ của thói xấu, không còn khả năng chống đỡ.

THƯỜNG TRỰC BÀY RA NHỮNG TẤM GƯƠNG XẤU

Như các nhà nghiên cứu giáo dục vẫn nhận xét, thanh thiếu niên thường rất ngại phải nghe những lời giáo huấn từ phía người lớn, nhưng lại thường xuyên quan sát xem người lớn sống ra sao để rồi tìm ra kết luận cần thiết cho việc xử thế.

Vậy thì làm sao chúng có thể ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành khi biết rằng bố mẹ chúng chỉ phất lên nhờ khéo léo luồn lọt và giờ đây đang tìm cách tô điểm cho bản thân bằng mấy tấm bằng rởm? 

Việc nhà nước giao chỉ làm cầm chừng, cái gì có lợi riêng mới sốt sắng thúc đẩy. 

Giữa các đồng nghiệp nếu không móc ngoặc được với nhau thì đấu đá kèn cựa. 

Dửng dưng trước mọi lời chê trách.

Vào cửa nào cũng tính chuyện lót tay, chạy chọt, và quả thật “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng tiền đã thành một thứ dầu mỡ bôi trơn mọi mối quan hệ... 

...

Đó là những thói xấu hiện thời đang khá phổ biến trong xã hội, và khó lòng nói rằng chúng không ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của lớp trẻ. Cộng với những kém cỏi của nhà trường (cổ lỗ trong kiến thức và phương pháp giảng dạy; nghèo nàn trong quan niệm về đào tạo; và rồi cũng làm ăn, mua bài, xin điểm, bán bằng cấp...), có thể nói bao nhiêu yếu tố tiêu cực mà hàng ngày mọi người quan sát thấy ở mình và mọi người, và một phần được nói lên trên báo chí, đã làm cho tâm hồn một số thanh thiếu niên trở nên cằn cỗi. 

Chúng dễ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Những khái niệm mà xã hội cho là đúng đắn đối với chúng trở thành giả dối.

Thậm chí có những em không thiết sống. Tôi nhớ có lần được nghe kể: một thanh niên vừa đến tuổi trưởng thành thì phạm tội, bị án tử hình. Có mấy cô mấy bác có mặt ở phiên toà, thương tình, bảo cháu xin giảm án. Có dịp giáp mặt với cái chết, người thanh niên gạt nước mắt nói ra cái điều có lẽ là nghiêm chỉnh nhất trong đời mình:

- Cháu xin giảm án để làm gì ? Ở nhà bố mẹ không thương xót cháu; đi học nhà trường bất công; học không có chỗ, học xong không có việc làm - cháu sống để cùng kéo dài cái kiếp dài rạc như các cô các bác hay sao?

Những kẻ đã chết một phần tâm hồn thường dành cho mình quyền làm bất cứ việc gì chúng thích, không biết đến lương tâm, càng không biết đến pháp luật. Và trước mắt, đám trẻ này chỉ thèm hưởng thụ. Còn có môi trường lý tưởng nào với chúng, hơn cảnh nghiện hút?

KHÔNG PHẢI HÔM NAY TRẺ MỚI HƯ HỎNG NHƯNG CHƯA  CÓ THỜI NÀO TRẺ HƯ HỎNG NHƯ THỜI NAY 

 Trong nếp sinh hoạt cũ của ông cha ta, ngoài nhiều đức tính tốt cũng đầy rẫy nếp sống tiêu cực. 

Cả "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính lẫn "Việt Nam văn hoá sử cương" của Đào Duy Anh đều có một chương riêng nói về cuộc tiêu khiển, trong đó có mục phiện phò hút xách, và nói rõ cái hại của tục này. 

Trần Trọng Kim trong "Việt Nam sử lược" cũng nói người mình phải cái thích chơi bời, mê cờ bạc. Ca dao ghi lại trình tự làm ăn sinh hoạt các tháng trong năm, mở đầu bằng hai câu:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

Xưa ta hay bảo đó là nếp sống suy đồi của bọn thống trị. Nhưng giai cấp thống trị cũng là một bộ phận của dân tộc. 

Vả chăng, thói xấu chẳng chừa một ai, càng những con người cùng cực khi đã trở nên lưu manh càng trở nên bất cần, liều lĩnh.

Vậy là xét về bề nào cũng thấy nạn nghiện hút – và nói chung là mọi thói xấu -- trong lớp trẻ hiện nay có những căn nguyên sâu xa trong cách sống của chúng ta, thậm chí cả trong đạo lý cũng như truyền thống văn hoá. Chừng nào mà những căn nguyên đó chưa được làm rõ và thay đổi, thì những mầm mống bệnh tật còn có cơ nảy nở. Trị đám buôn bán thứ hàng độc hại ấy là rất cần. Song duy trì được đời sống tinh thần lành mạnh để những tệ nạn ấy không có đất mà phát triển - cái đó mới thật là việc cơ bản phải lo. Bởi đây là công việc có ý nghĩa văn hoá, nên giới văn hoá phải có mặt. 

Đã in trong Nhân nào quả ấy 2004

tập phiếm luận đang được Nhã Nam tái bản


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét