Một phương diện khác mà tôi lo lắng trong mười năm ấy là học tập. Do chỗ biết rằng cái học ba năm ở trường Đại học Sư phạm chưa đi đến đâu, tôi tận dụng việc làm quen với các cộng tác viên là các nhà nghiên cứu văn học chuyên môn, như Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh…, chưa kể là các sinh hoạt ở hội nhà văn mà tôi bắt đầu được tham dự để học hỏi thêm. Việc này tôi sẽ nói thêm ở sau, ở đây hãy nói về việc đi thư viện và học thêm tiếng Nga.
Do công việc không bị ràng buộc theo giờ hành chính, nên tôi thường chỉ ở tòa soạn buổi sáng, còn buổi chiều thì đi thư viện Quốc gia. Ngay sau hòa bình 1954, Hà Nội có nhiều thư viện nhỏ chẳng hạn Văn miếu hồi ấy cũng là nơi lúc đầu tôi thường đến, rồi thư viện Hà Nội ở quãng giao nhau giữa đường Bà Triệu và đường Trần Hưng Đạo. Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là thư viện Quốc gia mà hồi ấy gọi là thư viện trung ương. Ngay từ hồi học lớp 9, lớp 10, bọn tôi đã được phép vào đọc ở cái thư viện cao cấp ấy. Tôi nhớ, nhờ được xây dựng ngay từ thời Pháp thuộc, nên thư viện rất quy mô có cả một khoảng sân lớn trước sảnh chính, rồi khi vào phòng đọc tổng hợp tức là cái sảnh chính đó, chúng tôi có được những chỗ ngồi rộng rãi sau những cái bàn lớn. Lúc đầu ngay cả những sinh viên đang theo học ở các trường đại học vẫn chưa thể có mặt ở thư viện, nên các phòng hồi đó phải nói là thiên đường cho những người muốn làm việc. Tôi gặp ở đây những người bạn cùng lứa với tôi như Phan Hồng Giang, Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Thái Bình… Tôi cũng gặp ở đây những nhà nghiên cứu và nhà văn lớp trước, như nhà nghiên cứu mĩ thuật Thái Bá Vân. Thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện nhà thơ Trần Dần do bệnh tật thế nào đấy với dáng đi khó khăn lệch cả một bên người. Anh Lê Đạt thì thường chỉ đến để tra từ điển. Tôi nhớ là phòng đọc thư viện ngày ấy có rất nhiều loại từ điển trong đó có những quyển từ điển tiếng Pháp rất to đặt hết cả một cái bàn, và người tra từ điển thường phải đứng để làm công việc tra cứu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét