https://www.facebook.com/tacgiavuongtrinhan
MỤC LỤC
MỤC LỤC
VỪA HÁN HÓA VỪA THOÁT TRUNG MỘT TÌNH TRẠNG GIẰNG CO THẤY RÕ QUA CÁC TÀI LIỆU CHÍNH THỐNG 5
ĐANG CÓ TÌNH TRẠNG ĐỔI PHIÊN GIỮA CÁC THẾ HỆ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI 15
MỘT LỜI CHÚC TẾT CÓ THỂ DÙNG MÃI TỚI HÔM NAY 19
MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẦN THIẾT 23
DƯƠNG NGHIỄM MẬU: LỜI BẠT VIẾT Ở CUỐI TẬP NHÃ CA MỚI 1964 24
NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC. TIẾNG TRUNG. TỪ HÁN VIỆT 30
BA BÀI THƠ NGẮN CỦA BERTOLT BRECHT và MỘT LỜI ĐỀ TỪ CHO THẤY NHÀ THƠ VIẾT CHO CẢ CHÚNG TA 45
CÁI LỐI CHƠI XUÂN CỦA BÀ CON TA 48
KHÂM THIÊN SAU TRẬN BOM 12-1972 & NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT QUÝ SỬU 1- 1973 52
NHÀ VĂN TRUNG QUỐC DIÊM LIÊN KHOA: CHỦ NGHĨA HÒA BÌNH QUAN TRỌNG HƠN CHỦ NGHĨA ÁI QUỐC 61
CHỈ CÓ HÒA HIẾU SAU NỘI CHIẾN MỚI CỨU VÃN ĐƯỢC DÂN TỘC 76
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI, 1979 82
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 ( kỳ I) 89
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 (kỳ II) 105
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 (III) 117
NHÂN HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC PHÁP DANG TAY CHÀO ĐÓN NGUYỄN HUY THIỆP 147
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CHIẾN TRANH – ĐOẠN 1 151
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CHIẾN TRANH- ĐOẠN 2 157
MỖI DÂN TỘC CẦN TÁI SUY NGẪM MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG VỀ LỊCH SỬ CỦA MÌNH. 178
NGƯỜI KỸ NỮ, MỘT PHÉP THỬ ĐỘC ĐỊA 198
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1981 204
CON NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG THỜI BAO CẤP 228
BẾ TẮC ĐẾN CÙNG CỰC hay là HÌNH ẢNH XÃ HỘI VIÊT NAM HẬU CHIẾN TRONG MẮT NHÀ VĂN NGUYỄN MINH CHÂU 249
BỨC TRANH SÀI GÒN THỜI BAO CẤP 268
MỘT CHUYẾN ĐI THỜI HẬU CHIẾN 274
NHÀ VIẾT SỬ KINH TẾ ĐẶNG PHONG, MỘT TRÍ THỨC ĐÚNG NGHĨA 288
MẤY ĐIỂM NHẤN KHI TÌM HIỂU TIỂU SỬ NHÀ TRÍ THỨC ĐẶNG PHONG 298
HÀ NỘI NHỮNG NGÀY HẬU CHIẾN ĐẦU TIÊN - NGÀY 1-5-1973 302
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT ĐÃ SUY THOÁI ĐẾN MỨC NÀO? 316
SÀI GÒN KHÔNG CÒN NƠI TRÚ MƯA 328
SÁCH “HƠI THỞ TRONG BÀN TAY”: NHỮNG KHOẢNG TRỜI TUỔI THƠ THĂM THẲM ĐẸP 331
BỨC THƯ CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG PHƯƠNG TÂY VIẾT VỀ HÀ NỘI GỬI CHO VỢ Ở PARIS 345
Ý KIẾN NHỎ VỀ TRƯỜNG HỢP CHU NGỌC QUANG VINH 351
LỜI KỸ NỮ - BÀI THƠ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG SỐNG TRONG CẢ CUỘC ĐỜI XUÂN DIỆU 362
MỘT QUAN NIỆM ĐƠN SƠ VỀ THẾ GIỚI 371
CÁI NHÌN TRỰC DIỆN VỀ THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN ĐẠI 381
MỘT BÀI HỌC VỀ CÁCH ĐỐI XỬ VỚI THIÊN NHIÊN & THƯỞNG NGOẠN THIÊN NHIÊN 386
ĐỐT TỰ NHÌN MÌNH - ĐỐT TRONG CON MẮT CỦA CÁC NHÀ VĂN NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 392
SỰ PHỔ BIẾN CỦA CÁI TẦM THƯỜNG 408
KIM LÂN - NHÀ VĂN CỦA LỚP NGƯỜI “ĐẦU THỪA ĐUÔI THẸO 409
NGUYỄN HIẾN LÊ, NGƯỜI CẢI CHÍNH NHIỀU SỰ HIỂU NHẦM VỀ TRUNG QUỐC. 419
VỪA HÁN HÓA VỪA THOÁT TRUNG MỘT TÌNH
VỪA HÁN HÓA VỪA THOÁT TRUNG MỘT TÌNH TRẠNG GIẰNG CO THẤY RÕ QUA CÁC TÀI LIỆU CHÍNH THỐNG
Ngày 1 tháng 1 năm 2024
Trích lục từ bài viết “Viêt Nam có thể hoàn toàn 'thoát Trung' được không?” (Nguyễn Hải Hoành dịch) đã đưa 31-12-2023
http://nghiencuuquocte.org/.../viet-nam-co-the-hoan-toan.../
----------
TỰ THUẬT CỦA
BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM
Ở đây, phần lớn các văn bản thuyết minh và lời thuyết minh vật trưng bày đều dùng tiếng Việt và tiếng Anh; một số ít “nội dung nhạy cảm” thì chỉ giới thiệu bằng tiếng Việt.
Mặc dầu Trung văn không được dùng ở đây nhưng rất nhiều văn bản lịch sử và hiện vật lịch sử lại đều thể hiện bằng chữ Hán, nhất là phần lịch sử cổ đại.
Theo cách nói của giới sử học Trung Quốc thì lịch sử Việt Nam có thể sơ lược chia làm 5 thời kỳ:
1) Thời tiền sử và các truyền thuyết;
2) Thời kỳ Bắc thuộc, tức thời kỳ Việt Nam là một bộ phận của Trung Quốc, bắt đầu từ khi tướng nhà Tần là Triệu Đà bình định Bách Việt cho tới năm 938 khi Ngô Quyền của Việt Nam đánh bại quân Nam Hán, lập triều đại nhà Ngô độc lập;
3) Thời kỳ quốc gia độc lập, từ năm 938 đến năm 1884 khi nước Pháp biến Việt Nam thành thuộc địa; suốt thời kỳ đó, Việt Nam là nước phiên thuộc của nhiều vương triều Trung Quốc, trong đó có 20 năm Việt Nam bị nhà Minh thu hồi thành thuộc quốc;
4) Thời kỳ là thuộc địa của Pháp;
5) Thời kỳ độc lập sau Thế chiến II.
Các ghi chép lịch sử thường có nội dung khác nhau bởi lẽ chủ thể viết sử khác nhau, điều đó không khó hiểu.
Trong Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia, ở phần thời kỳ tiền sử, văn hóa Đông Sơn được giới thiệu nhiều nhất, coi là tiêu biểu của thời này, nhưng ở thời kỳ thứ hai thì nền văn hóa đó lại bị lược bỏ.
Trên thực tế, phần giới thiệu duy nhất về thời kỳ thứ hai là một bảng biểu “Chống xâm lược” xuyên suốt thời kỳ này, toàn bộ đều viết bằng chữ Quốc ngữ.
Thế nhưng khi đọc kỹ bảng biểu đó người ta có thể thấy một số “nội dung nhạy cảm”: chống Đông Hán, chống Lưỡng Tấn, chống Nam Triều, chống quân nhà Đường v.v…
Theo ghi chép của lịch sử Trung Quốc thì các nội dung này đều được định nghĩa là những sự kiện lịch sử “dân địa phương nổi dậy [dân biến]” hoặc “làm loạn [tác loạn]”, còn tại bảo tàng này thì tất thẩy đều được coi là nghĩa cử “chống ngoại xâm”.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia dành cho thời kỳ thứ ba phần giới thiệu rất chi tiết nhưng sợi chỉ xuyên suốt phần này thì không thay đổi, vẫn là chủ đề “Chống xâm lược phương Bắc” như chống quân Tống, chống quân Nguyên, chống quân Minh, chống quân Thanh… song le lại không một chữ nào nói đến mối quan hệ giữa chính quốc [tông chủ, tức Trung Quốc] với nước phiên thuộc [tức Việt Nam].
Trong phần này có một đoạn khá thú vị nói về thời kỳ 20 năm Minh thuộc:
Theo ghi chép trong “Đại Việt Sử ký toàn thư”, thì những năm đầu nhà Minh, trong triều đình nhà Trần ở Việt Nam có xảy ra sự kiện
một người họ Hồ [Hồ Quý Ly?] thuộc bên ngoại của nhà vua định cướp ngôi, nhà Minh phái quân đội Nam tiến sang Việt Nam để lập lại sự công bằng về đạo lý;
sau khi diệt xong Hồ, các quan lại và người cao tuổi bản địa cho biết hoàng tộc nhà Trần đã bị tuyệt diệt không còn người nối dõi, yêu cầu nhà Minh thu hồi quốc hiệu An Nam Quốc (Việt Nam), khôi phục chế độ đãi ngộ “quận huyện” của vương triều Trung nguyên trước kia.
TỰ KHOE LÀ
“CHÍNH THỐNG TRUNG HOA”
Cho dù phần tự thuật trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tràn đầy tinh thần “Chống phương Bắc” nhưng từ quá trình lịch sử Việt Nam được thể hiện trong mọi trưng bày ở đây rất khó có thể nói các đời vương triều Việt Nam có một quá trình chủ động “Thoát Trung”.
Trên thực tế, vào các thời Nguyên Mông, Mãn Thanh làm chủ vùng Trung nguyên Trung Quốc, các văn bản thư tịch của vương triều Việt Nam từng [có ý khinh bỉ] gọi hai kẻ thống trị phương Bắc ấy là “Mông Thát”, “Mãn Di”, mà tự khoe mình là “Chính thống Trung Hoa”.
Trong bảo tàng có một bản chiếu thư bằng gấm do hoàng đế triều nhà Nguyễn sắc phong một vị tướng chống quân Thanh, trên tờ chiếu đó thậm chí có mấy chữ Hán: “Kiến công Vạn lý tráng Trường thành”.
Vào cuối thời đại phong kiến, Việt Nam ra sức mở rộng lãnh thổ, dần dần chiếm lĩnh một vùng đất rộng ở châu thổ sông Mekong vốn thuộc Campuchia. Trong quá trình cưỡng chế đồng hóa người Cao Miên, Việt Nam càng cưỡng bức người “Cao man” (người Cao Miên) mặc Hán phục, học chữ Hán.
Sách sử chính thức của triều Nguyễn “Đại Nam thực lục” chép: “… Tai nghe nhiều thi quen, mắt thấy nhiều thì thuộc, cứ thế [người Miên] dần dà hòa nhập với phong tục người Hán; nếu lại có thêm sự giáo hóa của chính quyền, dùng văn hóa Hoa Hạ để biến đổi các dân tộc man di, xem ra sau vài chục năm thì có thể làm cho họ chẳng khác gì người Hán [Hán dân].”
Ở đây triều Nguyễn tự xưng là “Hán”, “Hạ” [tên cũ của Trung Quốc], “Hán dân”, khoe mình là dòng chính thống [đích hệ] của văn hóa Trung Hoa.
Nhà văn chuyên mục lịch sử Quách Hoa Mân từng viết trên mục “Tư gia lịch sử” mạng Bloomberg về sự cai trị đất nước của vương triều phong kiến nhà Nguyễn như sau: “Nước Đại Việt dù ở xa trung tâm thống trị của vương triều Trung nguyên nhưng lại toàn lực bắt chước và cấy ghép các chế độ văn hóa, kinh tế, chính trị của Trung Quốc. Triều Lý (1010-1225) chia chế độ quan lại làm hai ban văn võ, mỗi ban có cửu phẩm; các địa phương có Tri phủ, Phán phủ, Tri châu; trung ương còn có các trọng chức như Thái sư, Thái phó, Thái úy, Thái bảo. Thời kỳ đầu triều Lý đã xây dựng Văn miếu để thờ Khổng Tử và Chu Công, bắt chước chế độ khoa cử nhà Tống Đường…”
Phương thức sao chép các chế độ của Trung Quốc kéo dài suốt cho tới đêm trước ngày Việt Nam rơi vào vòng thuộc địa của Pháp.
Chịu sự cai trị trực thuộc của Trung Quốc trong hơn 1.000 năm cộng thêm hơn 900 năm bê nguyên xi mọi thứ của Trung Quốc về dùng, Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa quá ư sâu xa (sâu và rộng hơn nhiều so với Triều Tiên, Nhật).
Trong “Khối cộng đồng tưởng tượng”, Anderson luận bàn thế này: “Tuy rằng vương triều thống trị Hà Nội và Huế (kinh đô triều Nguyễn) mấy thế kỷ qua đều bảo vệ được nền độc lập, không bị Bắc Kinh xâm phạm, nhưng rốt cuộc họ vẫn cứ dựa vào bè lũ quan liêu dốc lòng bắt chước người Trung Quốc để cai trị đất nước.
Cơ quan nhà nước dựa vào chế độ “khoa cử” – kiểu thi viết về chủ đề là các kinh điển Nho giáo để lựa chọn và đề bạt người tài; các văn bản của triều đình đều viết bằng chữ Hán; về mặt văn hóa, mức độ Trung Quốc hóa của giai cấp thống trị cũng rất sâu.”
Rồi Anderson phân tích: Sau năm 1895, các trước tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và sau này là của Tôn Trung Sơn… truyền vào Việt Nam khiến cho “mối quan hệ lâu dài giữa Việt Nam với Trung Quốc không được [chính phủ thực dân Pháp] hoan nghênh”.
Bởi thế nên vào khoảng năm 1915, chế độ khoa cử bị bãi bỏ, thay bằng hệ thống giáo dục thuộc địa với tiếng Pháp là môn học chính.
Ngoài ra, chữ Quốc ngữ Việt Nam La tinh hóa được hết sức đề xướng, qua đó làm cho các thế hệ mới của người Việt Nam thuộc địa do không thể tiếp xúc với thư tịch của thời đại các vương triều cũng như văn học cổ xưa mà bị cắt đứt mối liên hệ với Trung Quốc – cũng có thể gồm cả quá khứ của bản địa Việt Nam.
Theo Anderson, đối với tầng lớp tinh hoa bản xứ Việt Nam, sự “Thoát Trung” do người Pháp cưỡng chế tiến hành không phải là chủ ý của người Việt, mà là một quá trình bị động.
Như vậy sau khi đã đánh đuổi thực dân Pháp (nhất là dưới sự giúp đỡ của quân đội Trung Quốc), Việt Nam hoàn toàn có thể trở lại con đường truyền thống “Trung Quốc hóa”, điều đó chẳng những có thể tăng cường mối quan hệ “láng giềng hữu hảo” giữa Việt Nam với Trung Quốc mà cũng có thể giúp cho người Việt Nam lập lại mối liên hệ với tổ tiên mình.
Song le sự thực lại không như vậy.
Phần tự thuật của Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam đến năm 1945 thì chấm dứt. Chỉ có thể tìm hiểu thời kỳ tiếp theo của lịch sử Việt Nam từ một bảo tàng khác – “Bảo tàng Cách mạng Việt Nam” ở bên kia đường phố. Viện Bảo tàng này trưng bày thời kỳ từ khi chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thức tỉnh cho tới ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam rồi đến chiến dịch Điện Biên Phủ, người Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp; về cơ bản có thể coi là lịch sử giai đoạn đầu quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó tràn ngập sự tuyên truyền mang màu sắc thần thoại, điều này không có gì khó hiểu.
TIỀN ĐỀ CẤU TẠO QUỐC GIA DÂN TỘC
Khác với các vật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các vật trưng bày trong Bảo tàng Cách mạng hầu như không có chữ Hán, thậm chí hầu như không có hai chữ “Trung Quốc”.
Tại đây, phong trào Việt Nam độc lập chống Pháp hoàn toàn do người Việt Nam tự thực hiện, không một chữ nào nhắc tới sự viện trợ của Trung Quốc.
Có điều đáng chú ý là ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà lãnh đạo xuất thân từ một gia tộc Nho học nhiều đời, có vốn hiểu biết chữ Hán vững vàng này đã đọc trước công chúng bản “Tuyên ngôn Độc lập” viết bằng chữ Quốc ngữ Việt Nam La tinh hóa. Sau đó không lâu, Hiến pháp năm 1946 ghi rõ chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thức của Việt Nam.
Cuốn sách “Khối Cộng đồng tưởng tượng” của Anderson không quan tâm nhiều tới lịch sử “Thoát Trung” của Việt Nam, nhưng trong sách có riêng một chương bàn về sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc ở các quốc gia thuộc địa sau Thế chiến II và con đường xây dựng nhà nước dân tộc.
Trong đó, tìm kiếm sự thừa nhận thân phận dân tộc mình là bước đi tất yếu để xây dựng quốc gia dân tộc, là cơ sở logic để thực hiện “Khối cộng đồng tưởng tượng”, mà quá trình tìm kiếm đó ắt phải là quá trình chủ động, tỉnh táo.
Đối với tầng lớp lãnh đạo Việt Nam sau ngày độc lập, trở lại “Trung Quốc hóa” tuyệt đối không phải là con đường đúng đắn để xây đắp sự đồng thuận của dân tộc.
Ngược lại, “Thoát Trung” mới là điều kiện tất yếu để xây dựng một quốc gia dân tộc. Nói cách khác, nếu Việt Nam muốn trở thành một quốc gia hiện đại độc lập thì “Thoát Trung” là nền tảng, là cốt lõi, là một sứ mệnh lâu dài.
Điều đó về cơ bản nhất trí với nhận thức “Thoát Trung” của Nhật Bản, Triều Tiên vốn là các nước trong vành đai văn hóa Trung Hoa, cho dù quá trình “Thoát Trung” của Việt Nam cần thời gian dài hơn, và quá trình đó càng đau khổ hơn đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam.
NGUYỆN VỌNG CỦA
TẦNG LỚP LÃNH ĐẠO VIỆT NAM
Sau Thế chiến II, 200 nghìn quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc tiến vào Việt Nam với danh nghĩa tiếp thu sự đầu hàng của quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam. Không lâu sau, quân đội Pháp cũng đổ bộ vào Việt Nam, yêu cầu phục hồi chủ quyền của quốc gia cai trị thuộc địa trước chiến tranh. Tưởng Giới Thạch lấy việc Pháp trả lại cho Trung Quốc một số lợi ích kinh tế như các tô giới trong lãnh thổ Trung Quốc làm điều kiện trao đổi để rút quân Quốc Dân ra khỏi Việt Nam.
Phần lớn các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thời ấy đều phản đối việc trao trả Việt Nam cho thực dân Pháp, nhưng Hồ Chí Minh lại ký vào Hiệp định.[1] Vì thế mới có chuyện trong ghi chép của nhà báo Mỹ Stanley Karnow có viết một danh ngôn của Hồ Chí Minh:
“Lũ ngốc này! Chẳng lẽ các anh không biết rằng để người Trung Quốc ở lại có nghĩa là gì ư? Các anh không nhớ lịch sử à? Lần trước người Trung Quốc đến đây, họ ở lại một nghìn năm. Người Pháp là kẻ từ bên ngoài tới, họ đã rất suy yếu rồi, chủ nghĩa thực dân đang chết, người da trắng tại châu Á đang hết đời. Nhưng nếu người Trung Quốc ở lại thì họ sẽ mãi mãi không bỏ đi đâu! Tôi thà lại ngửi cứt bọn Pháp thêm 5 năm mà không muốn ăn cứt bọn Tàu suốt phần đời còn lại.”[2]
Trong thế giới Trung văn, câu nói này của Hồ Chí Minh có những bản dịch khác nhau, có thể từ ngữ có chút dị biệt, nhưng ý nghĩa đại để như vậy. Mặc dầu về sau giáo sư Liam Kelley ở Đại học Hawaii có nghi ngờ về xuất xứ câu nói ấy của Hồ Chí Minh mà Karnow trích dẫn, thế nhưng qua liên hệ với hồi ký của một số nhà lãnh đạo Trung Quốc thì những phát biểu của Hồ Chí Minh đại loại như “Biểu hiện ngạo mạn của quân đội Trung Quốc thì giống như biểu hiện của quân đội Trung Quốc thời xưa từng thường xuyên xâm phạm Việt Nam”, và liên hệ tới chuyện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam xóa sạch sự viện trợ của Trung Quốc giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, thì chẳng nói cũng biết tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đúng là có xu hướng mạnh mẽ “Thoát Trung”.
Điều thú vị là Anderson sinh ra ở Côn Minh, từ nhỏ gia đình ông có thuê một bà bảo mẫu người Việt Nam; tuy sách của ông không bàn luận sâu về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc song ông lại nói chính cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam năm 1979 đã “trực tiếp gợi ý tôi viết cuốn Khối cộng đồng tưởng tượng”.
Hồi đó toàn thế giới đều cho rằng cuộc chiến ấy có nguyên nhân là sự đấu tranh phe phái trong thế giới cộng sản (Liên Xô và Việt Nam một phe, Trung Quốc và Campuchia một phe), hoặc là cuộc xung đột địa chính trị của ba nước lớn Trung Quốc, Mỹ, Nga.
Nhưng Anderson thì nhìn thấy rõ nguyên nhân lịch sử ở tầng sâu hơn phía sau cuộc chiến ấy – đó là chủ nghĩa dân tộc vượt qua ý thức hệ, vượt qua địa chính trị.
-----------------------
[1] Có thể tác giả muốn nói Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt, ký tại Hà Nội ngày 6/3/1946.
[2] Câu cuối này trong tiếng Anh là “I prefer to sniff French shit for five years than eat Chinese shit for the rest of my life.” – Theo: Stanley Karnow’s Vietnam: A History (New York: Viking Press, 1983).
ĐANG CÓ TÌNH TRẠNG ĐỔI PHIÊN GIỮA CÁC THẾ HỆ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI
Ngày 2 tháng 1 năm 2024
Đọc bài viết dưới đây và nhiều bài khác của tác giả Quang Phan tôi có cảm tưởng như vậy. Những quyền uy cũ rồi sẽ sụp đổ dần dần và sẽ trở thành vừa là trò cười vừa đáng thương hại.-----
Quang Phan
"Rằng hay thì thật là hay/nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào".
Hihi vừa đọc bài Tiếng Việt niềm tự hào của dân tộc ta của bác Nguyễn Hải Hoành - rằng "hay thì thật là hay/nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào".
Trái tim bác ấy, và cả trái tim ta nữa thấm đẫm niềm tự hào dân tộc. Bằng cái niềm tự hào ấy có thể đưa bất cứ ai vào một cuộc viễn du viển vông và vô bến bờ. Đi hoang rồi chẳng biết ngày trở lại!
Liam Kelley có nói về một thứ bệnh lý: Hội chứng tinh thần thuộc địa, khi chỉ trích các nghiên cứu về một văn minh Việt rực rỡ từ Nam Dương Tử. Nhưng Hội chứng tinh thần thuộc địa ấy cũng có thể ứng dụng cho những bài như của bác Nguyễn Hải Hoành. Đó là "thuốc ph.iện của nhân dân" - một thứ thuốc giảm đau, nhiều tác dụng phụ cho một thứ bệnh đau lâu dài của "dân tộc" xứ sở thuộc địa với mặc cảm truyền đời là chư hầu và thua sút Trung Hoa.
Lịch sử của tiếng Việt từ thủa proto Vietic đến bây giờ là khoảng 4000 năm, là thứ tiếng được tích hợp, giao (hay mix) bởi rất nhiều ngôn ngữ khác trong ấy có tiếng Tai - Kadai, và tất yếu có tiếng Hán. Tiến trình từ một thứ ngôn ngữ đa âm tiết đến cận song tiết rồi hòa đúc thành đơn tiết hoặc tách biệt từ cận song tiết thành song tiết là một tiến trình dài, chịu nhiều tác động của các ngôn ngữ như Tai Kadai, Hán (Hán Annam Trung Đại).
Tiếng Việt thiếu hụt hẳn những từ vựng miêu tả các lĩnh vực ưu tú - quý tộc; các từ về khoa học, kỹ thuật. Chính vì lẽ này người Việt Nam liên tục phải mượn - phải bồi đắp các từ mượn ấy cho chính ngôn ngữ của mình. Điều đó cho thấy rằng tư duy, giá trị nội hàm của người Việt là một nan đề 4000 năm không giải nổi. Và chắc rằng ta phải dùng 4000 năm nữa để giải mà không chắc đã giải được ấy chứ!
Việc chậm có chữ viết không phải là điều gì đáng tự hào mà chung quy là bởi những người Vietic đã chậm kiến tạo một nền văn minh. So với người Tai – Kadai, so với người Nam Đảo – hay Lâm Ấp quốc thì thực là kém xa, nói gì so với Trung Hoa? Việc ra đời chữ Nôm là nhằm ký lại âm của những người nói tiếng Tiền Việt Mường. Một thứ ngôn ngữ mà ta thấy rằng có rất nhiều từ cận song tiết và buộc phải ký bằng 2 chữ Hán, cho đến khi các từ cận song tiết đó thành song tiết hoặc hòa đúc thành đơn tiết. Các tác phẩm chữ Nôm thật sự là khó đọc, ngày nay ta đọc ví dụ Quốc Âm thi tập chẳng hạn sở dĩ dễ hơn là vì các văn bản ấy đã được san định tu sửa từ sau TK XVIII; truyện Kiều, hay các tác phẩm Nôm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du sở dĩ ưu tú vượt trội là bởi vì thứ ngôn ngữ Việt từ thế kỷ XVIII đã đi vào định hình (giai đoạn Tiếng Việt Trung Đại).
Chậm hình thành chữ viết, quá trình hình thành ngôn ngữ nhiều trắc trở, nhiều khúc cua và cả những lần quay xe rất gắt, hệ quả là trong văn chương truyền miệng người Việt không hề có trường ca và sử thi. Chúng ta chỉ có nội lực để làm ra bài ca mất gà hay bài ca bán cá mà thôi. Làm sao mà thứ tiếng giầu đẹp, nhiều biểu cảm như thế, làm sao một dân tộc anh hùng, trung hậu, bất khuất thế mà lịch sử 4000 năm lại không hề có được Trường Ca, chẳng hề có Sử thi cơ chứ? Làm sao nhìn mặt Thái, Mường, Ê Đê, Mạ cơ chứ?
Khổ thân ông Phạm Quỳnh, đếch có gì để tự hào về tiếng Việt nên phải lấy chợ búa, làng quê, bọn phụ nữ ra để tự hào: "Trích: "Học giả Phạm Quỳnh nhận xét: "Tôi dám quyết rằng văn chương truyền khẩu là thứ rất phong phú, không nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như nước ta. Người nào hay chê tiếng Việt là nghèo hãy về nơi dân thôn hay ra chốn chợ búa, nghe bọn phụ nữ nói năng. Tôi tưởng các bậc tu mi [đàn ông] phải ghê cái tài hùng biện của các bạn quần trồi [đàn bà]… [điều đó] đủ chứng minh rằng tiếng Việt ta giàu biết bao nhiêu. Hãy thử nghe hai người đàn bà nhà quê nói chuyện hay cãi nhau, từ đầu chí cuối toàn là phương ngôn tục ngữ cả, cứ từng hồi, từng tràng, như một bài diễn thuyết trường thiên. Tiếng ta có nhiều tiếng rắp đôi hay lắm, hay vô cùng, tưởng không có tiếng nước nào bằng". Cơ mà, thử hỏi, bên bếp lửa bập bùng, Kinh nghe người già K'Ho kể sử thi xem có thấy hoảng hồn không nào? Nghe thử Trường Ca Đam Săn cái coi xem thế nào? Bài hùng biện của "bọn phụ nữ" nơi “chợ búa ấy” làm sao bằng được Đam San đi tìm nữ thần Mặt trời chứ hử?
Tiếng Việt đẹp nhưng mà chưa giầu đâu. Để tiếng Việt giầu và mạnh thì ta phải là quốc gia phú cường cái đã. Đến khi đó thì nói cái gì cũng đúng! Còn giờ đang Trung Việt Cộng Đồng Mệnh Vận Thể thì hehe còn khướt!
Chúc mừng năm mới những người Việt Mường sống trong Hán quyển, ngàn năm vẫn băn khoăn ta là ai? Ta là ta hay ta là Tầu?
MỘT LỜI CHÚC TẾT CÓ THỂ DÙNG MÃI TỚI HÔM NAY
Ngày 3 tháng 1 năm 2024
TỪ fb Trần Hậu
NHÀ THƠ ĐỨC HEINRICH HEINE (1794-1856) CHÚC TẾT
--
…Tôi viết những dòng này vào giờ phút cuối cùng của năm 1843 đen đủi sắp qua.
Năm mới đang gõ cửa. Cầu mong nó bớt khắc nghiệt hơn năm ngoái!
Xin chúc người ngu thêm chút thông minh, còn người thông minh - thêm chút thơ ca.
Xin chúc phụ nữ có những bộ váy đẹp nhất và đàn ông rất nhiều kiên nhẫn.
Xin chúc người giàu có trái tim, người nghèo - có miếng bánh mì.
Nhưng trên hết, tôi mong rằng trong năm mới này, chúng ta sẽ ít lừa dối nhau hơn.
--
MỘT Ý NHỎ BỔ SUNG của VTN
Đọc đi đọc lại nhiều lần tôi chỉ còn chút áy náy khi dừng lại cái câu
"Xin chúc người ngu thêm chút thông minh, còn người thông minh - thêm chút thơ ca."
Với người Đức và thơ Đức 1843 thì còn có lý.
Với người Việt và thơ Việt hôm nay thì tôi thấy không hẳn đã đúng. Thay bằng chữ gì thì tôi chưa nghĩ ra , mong các bạn cùng bàn tiếp.
Chẳng nhẽ lại phải chú thêm là "thơ ca theo nghĩa tốt đẹp nhất của nó mà thế giới hiểu chứ không phải nghĩa đa số người Việt đang hiểu"
THEO TRIẾT GIA ĐỨC HANNAH ARENDT -- “SAU KHI PHẢI NGHE QUÁ NHIỀU DỐI TRÁ KHÔNG AI TIN CHUYỆN GÌ NỮA.”
Ngày 7 tháng 1 năm 2024
Sưu tầm từ MXH
--
Nguồn: Fb Song Chi 2-12-2023
Trích từ “Từ Thức: Tạp ghi tháng 11”
--
Hannah Arendt là một triết gia Đức, nổi tiếng về những tác phẩm nghiên cứu về các chế độ toàn trị.
Thường chỉ trong vài câu, Arendt tóm tắt gọn vấn đề, trong sáng, chính xác. Mà đó cũng không phải là một bài viết, chỉ là một câu trả lời phỏng vấn.
Theo Hannah Arendt:
“Khi chúng ta không còn báo chí tự do, tất cả có thể xẩy ra.
Cái cho phép một chế độ độc tài toàn trị, hay bất cứ một chế độ độc tài nào, nắm vững quyền hành, là sự kiện người dân không được thông tin: làm cách nào bạn có thể có ý kiến, nếu không có thông tin?
Nếu mọi người nói láo thường trực, hậu quả không phải là bạn tin những chuyện xảo trá, hậu quả tai hại là không ai tin chuyện gì nữa.
Quả vậy, những chuyện dối trá, tự bản chất của nó, phải thay đổi, thêm bớt và một chính quyền gian trá phải liên miên viết lại chuyện do chính họ bịa ra.
Người dân không phải chỉ nghe một lời dối trá, đôi khi tới hơi thở cuối cùng, họ phải nhận đủ cái đó, tuỳ theo nhu cầu chính trị.
Và một dân tộc không còn tin gì nữa, sẽ không quyết định gì nữa.
Người dân bị tước đoạt không những khả năng hành động, mà bị tước đoạt cả khà năng suy nghĩ, khả năng phán xét.
Với một dân tộc như vậy, bạn có thể làm tất cả những gì bạn muốn”
MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẦN THIẾT
Ngày 13 tháng 1 năm 2024
Thật không ngờ lại đã có người nghiên cứu trí thức kháng chiến mà lấy 1950 làm mốc, chắc đây là cuốn mở đường sau này còn có nhiều cuốn khác nữa.
Nhiều trí thức hàng đầu thời kỳ 45-54 đã tham gia kháng chiến.
Rồi có người còn tiếp tục đến cùng có người lại quay về thành. Mỗi người trong họ có cái lý của họ.
Mỗi người đáng viết riêng một cuốn sách.
Không phải để ca ngợi họ hay lên án họ.
Mà để hiểu họ.
TỪ ĐÓ HIỂU DÂN TỘC TRONG GẦN MỘT TRĂM NĂM VINH QUANG MÀ CAY ĐẮNG VỪA QUA
DƯƠNG NGHIỄM MẬU: LỜI BẠT VIẾT Ở CUỐI TẬP NHÃ CA MỚI 1964
Ngày 14 tháng 1 năm 2024
Đã đưa trên blog cá nhân ngày 19- 9- 2016
--
Tôi lưu giữ bài viết sau đây của Dương Nghiễm Mậu và thường đọc lại, vì ở đó tìm thấy nhiều thứ: tuổi trẻ của nhà văn, những ngày mới chuyển từ Hà Nội qua Huế vào Sài Gòn; mối giao tình gắn bó giữa ông và vợ chồng nhà thơ tác giả Nhã Ca Mới, cảnh gieo neo của lớp trí thức trẻ những năm sau 1954. Trong khi viết về một hiện tượng văn chương gần gũi, người viết cũng tìm thấy một cơ hội để nói những quan niệm nhân sinh chi phối ông, mối quan hệ giữa thế hệ ông với thời cuộc.
Văn Dương Nghiễm Mậu vốn có cái giọng rất lạ, nó phản chiếu hình ảnh một con người luôn đau đớn bất mãn, trong khi bắt buộc phải chấp nhận đầu hàng cuộc sống thì lại giữ nguyên cho mình cái bất khuất chống lại đời sống đến cùng. Và cả cách viết cách đưa tài liệu tiểu sử riêng ẩn hiện giữa những câu ngắn, đứt nối nữa - nó khiến cho thứ văn xuôi này tự nó như có nhiều bình diện còn những chi tiết tưởng như lạc lõng thì lại như mời gọi người đọc hãy tìm hiểu thêm ở ngoài văn bản. Viết bạt cho người mà Dương Nghiễm Mậu cũng viết cho mình.
***
Sau những cơn bão lướt qua, Sài Gòn lạnh. Tôi nhớ Hà Nội vào mùa này, tôi nhớ Huế cũng vào mùa này. Tối nay tôi trở về nhà sớm. Những đêm giới nghiêm vẫn còn kéo dài. Tôi nhận được một tấm thiếp trên bàn làm việc. Tấm thiếp cưới báo tin Kim lập gia đình. Trên đó, ngoài những hàng chữ in, Kim viết cho tôi một mẩu thư nhỏ. Anh Nghiễm ơi… giờ hạ huyệt đã đến, anh hãy vứt xuống đó một viên đất và một bông hồng… Một viên đất và một bông hồng. Tôi cười thầm, tôi chỉ có hai bàn tay không, chẳng có gì để vứt xuống. Những dĩ vãng dù trôi đi, nhưng dấu vết vẫn còn đó. Tôi chẳng biết phải làm gì để xoá đi, chôn đi. Cuộc phiêu lưu đã kéo dài trong nhiều năm… Tôi đã sống thế nào trong suốt thời gian qua. Bây giờ còn một ít kỷ niệm. Kim còn có nhớ. Chắc Kim đã quên (1). Nào có hề chi. Nói như thơ Nhã: Tôi như loài rong. Chìm dưới vùng ăn năn.
Từ những kỷ niệm của Kim gọi đến, từ những thời gian tôi gặp và thân với Từ. Từ nhắc với tôi về một người con gái Huế, người con gái đó tên Vân. Nói đến Huế, tôi nhớ lại những ngày đầu tiên rời Hà Nội vào sống ở Huế. Những trận mưa kéo dài ầm ĩ làm rêu thối mặt đất, làm váng đen mặt tường vôi vàng cũ, làm hẹp thấp bầu trời. Những bữa cơm khô như đá sỏi bên những người thân yêu. Tôi đã khóc ở Huế. Tôi nhớ Huế. Nhớ mãi Huế, một vẻ buồn bưng bít dồn nén từ những dãy núi lầm lì, từ những cánh đồng cát trắng nhem nhuốc, từ những cơn gió lào khô nóng, từ những mùa đông bất chợt ào xuống với cơn mưa tầm tã. Vẻ buồn bưng bít dồn nén còn đọng lại nơi chính cuộc sống của hơn trăm năm một đế đô với những thành quách, hào lạch và nỗi u uất bao nhiêu người sống trong những lề thói, tập tục, phong cách… Huế buồn chất ngất cô đơn với thế giới bên ngoài. Vân, tên của người làm thơ Nhã Ca, đã sống, lớn lên ở đó. Và Vân bỏ Huế, Vân làm thơ, Vân bắt đầu một cuộc sống khác. Tôi không hiểu những người đã rời Huế nghĩ gì về Huế. Phần tôi, tôi thù oán Huế nỗi thù oán cay đắng, vì Huế vừa bí ẩn vừa đáng yêu vừa đáng ghét. Điều ấy hãy nhìn vào mắt những người con gái Huế. Đôi mắt sâu hút vừa quyến rũ vừa đe doạ, vừa hiền lành vừa hung ác cuồng nhiệt. Khuôn mặt Huế, đời sống Huế. Khuôn mặt Vân, đời sống Vân, đó là một sự thực thơ. Nàng đã đứng dậy nàng đã đi.
Đọc thơ của Nhã, những mòn hết tuổi thơ, niềm hối tiếc, ăn năn, mất thời gian, lỡ nụ cười, buồn như cỏ khô, thở dài, ưu phiền, môi sầu, lãng quên, nghẹn ngào rất thường ở đâu tôi đã gặp, nhưng ở trong thơ của Nhã Ca nó khác hẳn, lạ hẳn. (2)
Sau cơn say váng vất kéo dài, tôi thức dậy. Tôi đã hỏi một người bốn mươi tuổi Khi các anh bằng tuổi các anh có buồn không, bây giờ chúng tôi buồn quá. Người đó nói với tôi: Khác các cậu bây giờ. Cậu thất tình phải không. Tôi gật đầu: nhiều thứ nữa.
Nhiều thứ nữa. Đọc thơ Nhã, tôi càng thấm thía với những gì tôi nghĩ. Nhã, cũng như tôi, các bạn hữu tôi… chúng tôi đều buồn.
Có người bảo tôi lấy vẻ buồn làm dáng. Tôi không thấy vậy. Suốt quãng đời đã qua tôi chưa có một câu chuyện gì vui để kể lại, một hạnh phúc làm vốn liếng. Những ngày nào vừa đặt chân xuống Sài Gòn, sống khốn khổ giữa những bạn hữu nghèo đói, những ngày Từ năm phơi mình ở Ngã tư Bảy Hiền, Bình Thới… bên những chồng giấy báo cũ. Những ngày chui lủi nơi căn phòng một bin-đinh. Những ngày Từ vào tù và Nhã bế cháu Sớm Mai hốc hác đi tìm chồng... Cuộc sống riêng tư mỗi người và đời sống xã hội, tất cả đó là những chua xót, dầy vò.. sự thật đó hiện diện trong thơ Nhã. Thơ Nhã là đời sống Nhã, là hình bóng chúng tôi.
Một buổi chiều, khi ở phố, tôi gặp nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Sau đó, chúng tôi cùng về một đường. Trên xe, anh Nguyễn Mạnh Côn hỏi tôi: Anh có mơ ước viết một tác phẩm thơ mộng hay không. Tôi nói có. Tôi vẫn mơ ước viết một tác phẩm thơ mộng, về một mối tình chẳng hạn. Nhưng tôi vẫn chưa viết được, chừng như chúng tôi mất đi sự say mê hào hùng…
Thơ Nhã là cơn váng vất đau buồn âm ỉ, như giọt cường toan trên vách đá xanh đen. Tôi đã mất say mê hào hứng, đó là sự thật. Tôi nghĩ điều mơ ước của tôi về một tác phẩm thơ mộng sẽ mãi mãi là ước vọng. Thơ Nhã, khuôn mặt mới của thơ mộng, hạnh phúc… khuôn mặt thiểu não, tiều tuỵ đó là khuôn mặt thật của thơ mộng, hạnh phúc trong đời sống chúng tôi.
Bây giờ Kim đã lập gia đình, người ta bảo như vậy là phản bội. Làm rất nhiều thơ, văn, trong nhiều năm, bây giờ Nhã mới in được tập thơ đầu cho mình. Sau những năm trôi nổi hằn học, chúng tôi mỗi lúc một buồn bã hơn, một độc ác tàn nhẫn hơn: những độc ác, tàn nhẫn từ trong tâm hồn mình, với chính mình. Chúng tôi đã chẳng dấu giếm gì điều đó. Bao nhiêu thần thoại đã bị huỷ thiêu. Trước thực tế, chúng tôi kiêu hãnh làm loài sâu bọ, một kiêu hãnh rất Người. Đọc thơ Nhã trước đó, phải chấp nhận thái độ này, thái độ mà, với chúng tôi thật đau khổ, nhưng chúng tôi không thể làm gì khác. Nhã nói với tôi: Anh có thể viết gì cho tập thơ của Nhã. Tôi đã viết một cách vụn vặt, một vài mẩu ngắn rời rã. Tôi vốn chủ quan. Nghĩ cho cùng chẳng nên viết gì. Nghĩ cho cùng Nhã cũng chẳng nên in thơ. Hoàn cảnh nầy còn viết văn, làm thơ gì nữa… Chẳng qua mình làm cho khuây vậy thôi. Như thế, chắc Nhã không buồn lòng vì những gì tôi viết. Và Kim, chắc em đã hài lòng.
---------------
Ghi chú
(1) Nhân vật Kim ở đây từng được DNM nhắc tới trong đoạn văn sau
Kim đã lấy chồng, đã sung sướng ra sao. Tôi lặng lẽ nhớ về những gì đã có. Trong những người đến với em, anh là người yêu em hơn hết. Em ngoại tình trong tư tưởng phải không anh. Tôi mỉm cười. Có điều anh ngu phải không. Kim lặng im. Có lẽ anh không yêu em như em tưởng. Tôi nói tuỳ em nghĩ. Thời gian đã trôi, đã trôi, mới đầu tôi tưởng tôi không yêu nhưng cho đến nay tôi rõ tôi yêu Kim.
(2) Sau đây là bài thơ của Nhã Ca mà một số mô-típ vừa được DNM nhắc tới
THANH XUÂN
Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây
Người đi chưa dạt dấu chân giày
Bàn tay nằm đó không ngày tháng
Tình ái xin về với cỏ may
Và lá mùa xanh cũng đỏ dần
Còn đây niềm hối tiếc thanh xuân
Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng
Và nỗi tàn phai gõ một lần…
Kỉ niệm sầu như tiếng thở dài
Đêm chìm trong tiếng khóc tương lai
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian, lỡ nụ cười…
Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh, em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ…
Theo Thi ca.Net
NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC. TIẾNG TRUNG. TỪ HÁN VIỆT
Ngày 23 tháng 1 năm 2024
1/
Tạp chí Nghiencuuquocte.org ngày 9-1-2024 vừa công bố danh sách 25 bài xuất bản trong năm 2023 trên tạp chí này được đọc nhiều nhất .Đó là:
1. Đức công bố chiến lược Trung Quốc và hàm ý đối với Việt Nam
2. Trung Quốc bình luận việc Hàn Quốc liên kết Việt Nam khai thác đất hiếm
3. Tại sao người Trung Quốc đổ xô mua nhà ở Nhật Bản?
4. Trung Quốc dập tắt luận điệu kêu gọi chiến tranh với Đài Loan
5. Đông Nam Á ngỡ ngàng trước sự đổi thay của nông thôn Việt Nam
6. Quá trình chiếm hữu và thực thi chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
7. Báo Trung Quốc bình luận như thế nào về VinFast?
8. Ngay cả Trung Quốc cũng không tin có thể thay thế Mỹ
9. Tại sao Trung Quốc đổi giọng điệu về quan hệ với Nhật Bản
10. Yêu sách đường chín đoạn đang gây thiệt hại kinh tế cho Trung Quốc như thế nào?
11. Chiến tranh biên giới Việt – Trung đã bị cố tình lãng quên như thế nào?
12. Ông Ngô Đình Quỳnh: “Tôi luôn giữ hình ảnh rực rõ về cha tôi, Ngô Đình Nhu”
13. Hàm ý của việc thiết lập Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt – Mỹ
14. Tây Balkan: Mặt trận thứ hai của Nga ở châu Âu
15. Tại Đài Loan, bạn bè đang bắt đầu mâu thuẫn với nhau vì Trung Quốc
16. Sau một thập niên, Tập lại bất ngờ đề xuất chia đôi thế giới với Mỹ
17. “Đội tàu trên giấy” của Mông Cổ đang giúp Nga né các lệnh trừng phạt
18. Mối đe dọa từ việc Trung Quốc cắt cáp internet của Đài Loan
19. Henry Kissinger: Làm thế nào để tránh xảy ra Thế chiến 3? (P1)
20. Chủ tịch nước nhận “thẻ đỏ”: Sự cố chính trị lớn nhất của VN trong nhiều năm qua
21. Phó Hiểu Điền: Bóng hồng đằng sau việc Ngoại trưởng Tần Cương mất chức
22. Chuyên gia: VN nên nâng cấp quan hệ với Mỹ càng sớm càng tốt
23. Vì sao nhiều người Ukraine phản bội tổ quốc
24. Jack Ma sụp đổ đánh dấu hồi kết cho thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc
25. Nhìn lại xu hướng bỏ chữ Hán ở Đông Á: Trường hợp Việt Nam
Tôi muốn các bạn cùng lưu ý tới danh sách này vì đếm thì thấy trong 25 bài thì có tới 16 bài liên quan đến Trung quốc tức là trên 6o%. Nó trái ngược với sự quan tâm đến đề tài này trên báo chí và cả MXH
“Mối quan hệ Việt Nam với Trung quốc trong lịch sử hiện đại?” là chuyện lớn quá, bàn bao giờ cho xuể.
Nhưng chỉ giành cho chủ đề này một sự quan tâm ít ỏi như chúng ta làm như thời gian từ 1945 đến nay thì quả là không ổn.
2/
Cha ông ta đã ít nhiều bàn về Trung quốc nhưng chưa được bao nhiêu. Vừa làm các cụ vừa lo bảo nhau “vô tốn” tức không sợ. Mải miết sao chép tài liệu của họ còn chưa xong thì sức đâu mà bàn về chính họ và quan hệ giữa ta và họ. Hoặc có nghiên cứu nhưng rồi lại lạc lối trong cái thế giới bao la là lịch sử Trung quốc và lịch sử quan hệ Trung quốc với nước ngoài.
Sau khi Tổ quốc bị người Pháp xâm lược, từ giữa thế kỷ XIX, nền văn hóa chúng ta lại có bước chuyển đột ngột là buộc phải ngả hẳn sang văn hóa Phương Tây. Sự khai hóa được tiếp nhận với những đau đớn và rất nhiều những mặt tích cực có ý nghĩa cơ bản không thể phủ nhận.
Phương Tây trở thành một “điểm đối chiếu” để ta nghiên cứu Trung quốc, nhiều tài liệu về Trung quốc trong đó có các tài liệu Việt Nam được soi sáng từ khoa học phương Tây và ngược lại. Trong công trình nghiên cứu văn hóa VN của các học giả như Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh Đào Duy Anh Nguyễn Văn Huyên...những hiểu biết về quan hệ TQ-VN nằm ở phần nền tảng vững chắc.
3/
Theo tôi hiểu sự nghiên cứu về Trung quốc từ sau 1945 đến nay bị sút kém tàn lụi bởi mấy lí do sau đây:
a/ Ta mải chống Pháp chống Mỹ và luôn thể chống nhau nữa. Mà trong những cuộc chiến tranh này, ta phải dựa nhiều vào Trung quốc cả về vật chất lẫn hệ tư tưởng. Từ sự định hướng của nhà nước đến sự phổ biến trong tâm lí dân gian, cái sự gián cách Hoa Việt hầu như bị lãng quên.
b/ Đến thời kì phát hiện ra rằng việc giúp đỡ Việt Nam củaTrung quốc thực ra là một cách để họ xâm nhập vào Việt Nam, thống trị Việt Nam, chúng ta lại xoay ra lối lảng tránh, không còn xem trọng việc nghiên cứu Trung quốc với tất cả mức độ cần thiết của nó.
Rồi từ trên xuống dưới đồng loạt bảo nhau rằng các tài liệu nghiên cứu Trung quốc về Việt Nam đều là có dã tâm xâm lược, không thể dùng được.
Lối làm ăn này thực ra chỉ là một cách kéo dài của kiểu quan hệ với giới nghiên cứu phương Tây trước 1975, tức là
“những gì không phải của ta đều là chống ta”,
“chỉ có ta mới hiểu được ta và viết đúng về ta”.
Mãi đến gần đây (cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI) các tài liệu của Âu Mỹ mới được dịch khá rộng rãi, nhưng việc tiếp nhận vẫn là lối cũ.
4/
Tâm lí chống Tàu hiện nay khá phổ biến. Cứ cái gì của Tàu thì ta bài xích (mặc dù phim Tàu thì nhiều người cứ xem hàng Tàu do chỗ giá rẻ của nó lại được đại chúng ưa chuộng).
Việc dạy Trung văn trước năm 1979 ở Hà Nội vốn đã à uôm chưa đâu vào đâu, từ sau chiến tranh biên giới trên phạm vi cả nước lại gần như rơi vào tình trạng bỏ lửng.
Nhưng từ những ngày gần đây thấy âm thầm khởi phát một xu thế quay về tiếng Trung rõ nhất là ở lớp trí thức trẻ cao cấp.
Có một lí do khiến cho việc học chữ Hán hiện đại ở dạng âm thầm này được thúc đẩy, đó lại chính là việc tiếp xúc với thế giới tiếng Anh được đặc biệt bùng nổ.
Cứ khi làm việc với những tiếng Anh mới mà không có trong tiếng Việt, là người ta quay về mở từ điển Anh Hán để xem người Trung quốc dịch từ đó như thế nào rồi mang nó vào tiếng Việt với cách đọc Hán Việt.
Làm như thế có cái lợi là vẫn được tiếng Việt hóa và tránh được mang tiếng sử dụng tiếng Anh một cách bừa bãi.
Nhưng có ai định hỏi những người thạo tiếng Anh đó rằng những từ Hán Việt mới nhập kia nghĩa như thế nào, thì câu trả lời thường là lờ mờ ấp úng
Tình hình hiện nay là nhiều trí thức trẻ rất giỏi chuyên môn sau khi học tiếng Anh sớm chuyển sang học thêm Trung văn, và trong việc này cách đọc âm Hán Việt của những từ Trung quốc đó (được ghi lại qua các từ điển Hán Việt) đã giúp họ sớm trở nên thông thái.
Trong khi đó trên thế giới hiện nay, vai trò của tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha đã lùi xuống thứ hạng ba, tư, mà đứng thứ hai sau tiếng Anh thì vẫn là tiếng Hán. Mà đã học thì người ta học thực sự, chứ không phải là thông minh theo lối láu cá chỉ lo vay mượn từng từ riêng biệt mà không học sâu vào cả nền văn hóa Trung hoa như ở mình.
5/
Cần phân biệt giữa việc học tiếng Hán, học tiếng Trung một cách phổ thông vào việc đào tạo những chuyên gia về tiếng Hán cổ.
Việc thứ nhất phải được xem như một việc bình thường mà lâu nay vì bận rộn chiến tranh và khôi phục kinh tế mà chúng ta bỏ qua.
Lẽ nào học sinh của chúng ta sau khi tốt nghiệp phổ thông không cần biết đến một ngoại ngữ nào cho rành rẽ? Mà trong các thứ tiếng chúng ta cần học, bên cạnh Anh văn sao lại không thể là Trung văn ngôn ngữ của quốc gia ở sát nách ta. Trong khi cả thế giới lao đi học Trung văn lẽ nào người Việt lại là một ngoại lệ.
Còn việc thứ hai tức việc đào tạo chuyên gia về tiếng Hán cổ. Đây là công việc dành cho một số ít người, nhưng lại cần đầu tư rất nhiều tiền của. Thiếu đi bộ phận nghiên cứu Hán cổ này, làm sao các ngành lịch sử và ngôn ngữ ở ta có thể phát triển.
6/
Gần đây dư luận bàn nhiều về việc dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông. Từ lúc luận bàn đến lúc đưa vào thực tiễn giáo dục một cách hiệu quả còn là mệt. Nữa là ngay trong khi luận bàn thì xu hướng ủng hộ dạy chữ Hán đã gặp rất nhiều phản bác.
Tôi tự giải thích cho mình tình trạng này như sau:
Chúng ta chỉ lo bàn bạc tranh cãi và tính giải pháp cho những vấn đề trước mắt.
Chúng ta rất ngại và hầu như không có thói quen đặt quá khứ ở tầm vóc đúng mức của nó tức trong mối quan hệ của nó với hiện tại và tương lai.
Để rồi lúc này hầu như giới khoa học xã hội đang ở vào tình trạng không đủ trình độ nghiên cứu và cả những công cụ cần thiết để lý giải quá khứ của chính mình.
BỊ CẦM TÙ BỞI QUÁ KHỨ
Ngày 28 tháng 1 năm 2024
Đưa lần đầu trên blog cá nhân VTN 05-4- 2015
1/
Do nhu cầu làm báo, mấy chục năm liền trước khi về hưu, tôi thường phải đọc lại báo chí tiền chiến ngày Tết để làm hàng phục vụ người đón xuân thời nay.
Nay đã đến lúc đọc lại chính cái viết về Tết của thời mình – tức là các bài báo tết từ sau 1945 tới nay, nhất là từ sau 1975 --, ấn tượng chính còn lại trong đầu óc tôi là một sự khác biệt:
-- người viết văn viết báo tiền chiến thường đứng trên góc độ của con người hiện đại, trở về với dân tộc hết sức thiết tha, nhưng bao giờ cũng có sự phê phán. Hoặc nếu không thì cũng cảm thấy quá khứ là một cái gì tốt đẹp nhưng đã vĩnh viễn qua rồi không bao giờ còn trở lại nữa, người ngày nay phải sống khác.
Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ .. là những người nói đến cùng cái tầm thường dung tục của cách ăn tết ngày xưa.
Còn Thạch Lam mở ra một cách nhận thức mẫu mực, vừa thấy nét đẹp cổ điển của Tết, vừa khẳng định rằng thời đại của những cái Tết cổ truyền đã qua xã hội đang tìm tới cách đón tết thời cũ chưa từng biết.
-- Trong khi đó, nhiều bài báo Tết thời nay gần nhau ở cái điểm phục cổ: chỉ thuần một giọng ca ngợi những cái Tết xưa, ra cái điều rằng ở đó tất cả là tốt đẹp, chúng ta phải gắng làm theo, không cần cải tiến thay đổi chi hết.
Không những đối với Tết mà với nhiều phong tục tập quán thời xưa, chúng ta cũng có thái độ như vậy.
Lý tưởng hóa quá khứ đang là khuynh hướng bao trùm tâm lý con người, chi phối sự phát triển xã hội.
Đáng lẽ phải thấy quá khứ có nhiều khuôn mặt thì ta lại chỉ cho nó có một khuôn mặt duy nhất. Trong khi giải quyết các vấn đề xã hội ta chỉ nhăm nhăm dựa vào những kinh nghiệm trong quá khứ coi đó là thư thuốc bách bệnh.
2/
Tôi tự giải thích về tình hình ấy như sau:
CHIẾN TRANH KÉO CHÚNG TA LẠI
Sự kiện lớn nhất chi phối đời sống gần ba phần tư thế kỷ nay vẫn là chiến tranh ba mươi năm.
Trước chiến tranh, chúng ta có một xã hội đang hiện đại hóa mà do chỗ nó được tiến hành dưới sự bảo trợ của người Pháp nên chúng ta vẫn không chịu công nhận nó là văn minh tiến bộ, vẫn xem xã hội đó không phải là của mình.
Nếu được gọi sự vật bằng cái tên của nó, phải nói cuộc chiến tranh mà chúng ta tự nguyện tiến hành đã đập vỡ cái xã hội ấy ra. Chỗ này chỗ kia có thể khác, nhưng trên đại cục thì xã hội trước 1945 đã bị giải cấu trúc. Hệ thống quốc gia được tổ chức theo kiểu một đạo quân và hậu phương của đạo quân đó tuy còn gọi là xã hội song chỉ còn là cái vỏ ngoài, ngoài những bộ phận bảo đảm cho hàng ngũ người mặc áo lính chiến đấu, thì mọi thiết chế khác đều đã phá sản.
Cái xã hội đi dần sang hướng hiện đại thời Pháp thuộc bị chúng ta đơn giản hóa và đưa nó về tình trạng tiền hiện đại. Trong bộ phận chủ đạo, bộ phận sau này trở thành bên thắng cuộc, có người hiểu cái giá mình phải trả, nhưng vì nhu cầu trước mắt không thể làm khác. Mọi lý lẽ được huy động để chứng minh việc trước mắt là duy nhất đúng.
HIỂU BIẾT
Sau chiến tranh mặc dù tuyên bố là đặt mình vào công cuộc phát triển, nhưng thế nào là phát triển thì chúng ta không biết.
Cái khuôn mẫu mà sau chiến tranh chúng ta muốn xây dựng chỉ là khuôn mẫu mà chúng ta đã phá, thậm chí về nhiều mặt đưa tới tình trạng tiền hiện đại như trên vừa nói. Mọi sự gọi những là hội nhập là ra với thế giới chỉ là trong thế bức bách phải làm. Đội quân cũ được phân công đi làm kinh tế đi làm giáo dục. Mọi khái niệm về văn minh văn hóa chi phối con người sau chiến tranh chỉ là những cái thời tiền chiến ta còn nhớ được, cộng với những cái mới lõm bõm học được từ nước ngoài.
NIỀM TIN
Không chỉ có cách sống mà cả trong tư duy, ở những con người từng hết lòng vì chiến tranh cũng thấy có sự trở lại với những khuôn khổ của cái tư tưởng đã hướng dẫn người ta làm cuộc chiến tranh.
Khía cạnh thứ nhất, mà cũng là khía cạnh bao trùm trong suy nghĩ con người lúc này: quá khứ là muôn vàn tốt đẹp.
Chỉ có quá khứ có giá trị.
Tương lai sẽ giống như quá khứ, trên cái mạch của quá khứ.
Lẽ tự nhiên một tâm thế nhất quán là sự sùng bái quá khứ được hình thành. Từng con người tự nguyện sống lại quá khứ, mà cả xã hội cũng không mong mỏi gì khác.
Trong chiến tranh cả xã hội sống bằng một niềm tin trung cổ kiểu như “chân cứng đá mềm” “có công mài săt có ngày nên kim”, “Dù có bao nhiêu gian khổ, chính nghĩa sẽ thắng”.
Khi sự kiên trì giữ vững niềm tin đó được kết thúc bằng một sự kiện mà ta ao ước và gọi chung là chiến thắng thì cũng là lúc tâm trí chúng ta đã đông cứng lại trong một niềm tự tin cao độ, rất gần với sự tự lừa dối.
Ta tin tưởng rằng đã đánh nhau được thì làm gì cũng được. Vốn đã quá mệt mỏi vì chiến tranh chúng ta không muốn tìm tòi gì nhiều. Tương lai tìm trong quá khứ một hình bóng phát triển duy nhất. Mọi cảm tình được dành cho quá khứ, cái quá khứ bị lý tưởng hóa và chỉ có một nghĩa duy nhất. Một cách tự nhiên, những con người hậu chiến thực ra đã trở lại với cái nếp sống trung cổ lúc nào không biết. Mọi phương tiện được huy động để phủ lên sự nhốn nháo bên trong một vẻ ổn định bề ngoài.
ĐÃ TỪNG CÓ NHỮNG CÁCH NGHĨ KHÁC
Không chỉ riêng ta, nhiều cộng đồng khác, nhiều dân tộc khác, nhất là những dân tộc từng có một quá khứ anh hùng cũng đang trong một tình trạng dằng xé như vậy.
Chẳng hạn như ở nước Nga. Ở bên ấy, cả trong thời xô viết lẫn thời gian sau 1991, sức níu kéo của quá khứ đều khủng khiếp. Để biện hộ cho sự trì trệ trong tư duy, người ta lớn tiếng lên án những kẻ muốn thay đổi, cho đó là sự vong ân bội nghĩa.
Và sự bảo thủ đã được đúc kết thành những câu nói có cánh. Như cái câu mà người ta thường bảo là của Rasul Gamzatov "Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác" .
Trong khi đó, trong một bài bình luận chính trị gần đây, bài Những xiềng xích của lịch sử Đông Á (http://nghiencuuquocte.net/.../nhung-xieng-xich-lich-su.../ ) tôi thấy tác giả Brahma Chellaney dẫn lại một câu ngạn ngữ : “Quên đi quá khứ thì mù một mắt, sống trong quá khứ thì mù cả hai”.
Mà đó lại là một câu ngạn ngữ của chính người Nga.
Ở ta cũng có tình trạng tương tự.
Chúng ta có một xã hội ta chỉ chấp nhận có một cách nghĩ của đa số, xem đó là cách nghĩ duy nhất, còn mọi ý tưởng xa lạ với cái chính thống đó, nếu không bị phê phán thì cũng bị bỏ qua. Cách làm lịch sử lại cũng theo kiểu đó mà tiến hành. Khi đọc lại sách báo cũ, những người làm sử hiện đại chỉ chọn ra những gì hợp với thời mình, minh họa cho “giai điệu chính” đang được mọi người công nhận. Còn như mọi ý nghĩ ngẫu nhiên bột phát có thể không đúng trong tình hình ấy song lại đúng về sau - thì chẳng ai buồn nhớ.
3/
Với một sự sáng suốt và phục thiện tối thiểu, mọi người chúng ta -- tôi tin là vậy - đều có thể tìm ra trong ký ức của mình những điểm sáng mà lâu nay bị gọi là lạc dòng nên đẩy vào trong quên lãng.
Phần tôi, dưới đây tôi dẫn lại một bài thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh làm trong khoảng thời gian tạm gọi là mười năm đen tối 1975-1985.
Vào một dịp khác tôi sẽ đặt bài thơ trong quá trình phát triển của xã hội hậu chiến và sự phát triển tư tưởng của tác giả; ở đây chỉ xin nêu lên một khía cạnh chủ yếu mà nhà thơ -- trong khi bám chắc vào cách dẫn dắt của một bài thơ tình — thật ra đã chạm tới cả một vấn đề lớn làm nên định hướng của xã hội:
-- công nhận là quá khứ tốt đẹp thật nhưng trong đó rất nhiều điều ngây ngô đơn giản và nếu làm lại ta sẽ chẳng làm như thế.
-- dù quá khứ tốt đẹp đến đâu thì nó cũng không phải là cái mẫu chúng ta làm theo. Mỗi thời mỗi khác, chúng ta phải biết tự khác đi trong hoàn cảnh.
CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ
Có một thời vừa mới bước ra
Mùa xuân đã gọi mời trước cửa
Chẳng ngoái lại vết chân trên cỏ
Vườn hoa nào cũng ở phía mình đi.
Đường chẳng xa, núi không mấy cách chia.
Trong đáy mắt trời xanh là vĩnh viễn
Trang nhật ký xé trăm lần lại viết
Tình yêu nào cũng tha thiết như nhau.
Có một thời ngay cả nỗi đau
Cũng mạnh mẽ ồn ào không giấu nổi
Mơ ước viển vông, niềm vui thơ dại
Tuổi xuân mình tưởng mãi vẫn tươi xanh
Và tình yêu không ai khác ngoài anh
Người trai mới vài lần thoáng gặp
Luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng
Tôi đã cười đã khóc những không đâu
Một vầng trăng niên thiếu ở trên đầu
Một vạt đất cỏ xanh rờn trước mặt...
Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc
Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa
Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già.
Tôi đã đi mấy chặng đường xa
Vượt mấy núi mấy rừng qua mấy biển
Niềm mơ ước gửi vào trang viết
Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư
Em yêu anh hơn cả thời xưa
(Cái thời tưởng chết vì tình ái)
Em chẳng chết vì anh, em chẳng đổi
Em cộng anh vào với cuộc đời em
Em biết quên những chuyện đáng quên
Em biết nhớ những điều em phải nhớ
Hoa cúc tím trong bài hát cũ
Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xưa
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.
Bài thơ làm 11-1984, in lần đầu trong số tết của báo Phụ nữ Việt Nam 1985 và có in lại trong các tuyển tập của tác giả, nhưng thường ít được chú ý. Ngày nay, người ta có xu hướng coi Xuân Quỳnh xa lạ với các vấn đề xã hội và chỉ là nhà thơ của tình yêu.
BA BÀI THƠ NGẮN CỦA BERTOLT BRECHT và MỘT LỜI ĐỀ TỪ CHO THẤY NHÀ THƠ VIẾT CHO CẢ CHÚNG TA
Ngày 31 tháng 1 năm 2024
Ngày 31-12 – 2023, tôi nhận được từ anh Nguyễn Xuân Xanh bài viết về Bertolt Brecht nhân dịp 125 sinh của ông, kèm theo mấy bài thơ ngắn cùng mấy bản dịch kiệt tác “Gửi người mai sau”
https://rosetta.vn/nguy.../bertolt-brecht-125-nam-1898-2023/
SỰ MỚI MẺ
NẰM TRONG MỘT CÂU DẪN
Có một điều đặc biệt là mở đầu bài viết,
Nguyễn Xuân Xanh dẫn ra câu nói của Joseph von Eichendorff
“Chúng ta trông ngóng được về nhà, nhưng không biết đi đâu … (Wir sehnen uns nach hause, und wissen nicht, wohin …)”.
--
Tôi hiểu ý câu này như sau:
“Tôi mong được về nhà tức được sống trong lòng tổ quốc
nhưng trong tình hình hiện nay tổ quốc mà tôi có,
đó không phải là tổ quốc tôi từng sống,
mà cũng không phải tổ quốc tôi muốn sống.
Vậy nên tôi nói tôi không biết đi đâu”.
Đó là tình cảnh Brecht năm 1945 mà cũng là của một số chúng ta hôm nay.
--
Với việc dẫn ra câu đề từ này nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Xuân Xanh đã cho chúng ta thấy tâm trạng của B.B cũng là tâm trạng của nhiều người khác, thuộc các dân tộc khác, ở các thời điểm khác.
--
Mời các bạn đọc đầy đủ các bài thơ của B.B mà anh Nguyễn Xuân Xanh đã giới thiệu ở địa chỉ trên, sau đây chỉ trích ra ba bài ngắn.
Còn nếu muốn đọc thêm, xin tìm ở một tập thơ Bertolt Brecht do Nguyễn Quân và Quang Chiến dịch, in ra từ vài chục năm trước..
---
NHẬN THỨC ( WAHRNEHMUNG )
Khi tôi trở về
Tóc tôi vẫn chưa hoa râm
Vui làm sao
Những nhọc nhằn của núi rừng đã qua
Phía trước những nhọc nhằn của đồng bằng còn đang chờ đợi.
--
BIA TƯỞNG NIỆM CHO M. (EPITAPH FÜR M.)
Thoát khỏi bầy cá mập
Hạ được đám cọp beo
Nhưng lại bị xơi tái
Bởi mấy đàn chấy rận.
--
GIẢI PHÁP (DIE LÖSUNG)
Sẽ không dễ dàng hơn sao
Trong trường hợp đó đối với chính phủ
Giải tán nhân dân
Và chọn một nhân dân khác?
CÁI LỐI CHƠI XUÂN CỦA BÀ CON TA
Ngày 3 tháng 2 năm 2024
Tác giả: Nam Chân
*
Một bài viết về các tệ nạn ngày Tết -- trích từ Hà thành ngọ báo tháng 1 năm 1933.
Nguồn
https://chuyenxua.net/bai-bao-ve-te-nan-tet-nguoi.../...
---
Tâm sự thêm:
Khi nào có dịp in lại cuốn NGƯỜI XƯA CẢNH TỈNH THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG CON MẮT CÁC NHÀ TRÍ THỨC NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX, tôi rất muốn bổ sung bài này
***
Các nước trên thế giới, tôi dám chắc không nước nào không có ngày tết; ngày tết có khác chỉ là khác ở chỗ ngày tháng tùy theo Dương lịch hay Âm lịch, hoặc cách ăn tết tùy theo phong tục từng dân.
Xét ra, người ta ăn tết thì không sao, mà bà con mình ăn tết thì bị lắm người ghét, lắm người kêu, thậm chí có người bàn nên bỏ tết.
Lời bàn ngang ấy làm cho nhiều người không hiểu vì sao.
Người thì cho rằng họ ghét tết vì họ muốn theo cái mới.
Người thì bảo họ ghét tết vì họ sợ ngày tết bận, sợ lễ mỏi gối, và sợ ăn tết đến bội thực.
Ý riêng tôi, tôi dám cho rằng, sở dĩ họ ghét tết là vì cái tết của ta nó xa xỉ, phiền phức lắm.
Nhưng đổ tại thế cả cũng không phải, vì cái tết của ta cũng lắm cái hay: như cúng lễ để nhớ cái công đức tổ tiên; cha con, anh em, vợ chồng, con cái xum họp để mừng nhau trong ngày xuân mới.
Nhưng khốn nỗi, ngày tết năm nào cũng vậy, bà con ta cũng cứ kéo dài rai rồi ăn tiêu xa xỉ quá, nào tranh, nào pháo, nào mã, nào vàng, nào cành đào, nào thủy tiên, chỉ toàn sắm những thứ tốn tiền vô ích!
Không những thế, chúng ta lại còn vẽ vời đi đền kia phủ nọ, nói rằng năm mới đi lễ cầu phúc cầu tài; nhưng xem ra, số người thành tâm đi lễ thì ít, còn phần đông là bọn công tử vỏ, tiểu thư vôi, giả dạng đi lễ cầu lộc cầu tài, mà kỳ thực chỉ cốt đi để khoe giòn khoe đẹp.
Rồi thì lũ năm lũ bảy, áo quần như nêm, nói nói cười cười, rập rìu lũ lượt. Họ đem nhau đến những nơi đền chùa đình đám làm nơi hò hẹn gió trăng.
Chẳng thế mà năm nào cứ trong dạo tháng giêng, cũng sản xuất ra bao nhiêu vãi non vãi trẻ!
Đó cũng là một cái tệ, nhưng chưa tệ như cái lối thưởng xuân bằng lá bạc quân bài!
Nhất là trong dạo tết này, người mình đã bày ra không thiếu gì trò, nào trò tam cúc, tài bàn, tổ tôm, bất rút, chân cạ, đô mười, ích xì, bài cẩu, có nhà quá vui lại giở cả xúc đĩa ra nữa.
Trong dạo tết này, khắp trong nước, có lẽ không mấy nhà không thưởng xuân bằng các cách chơi ấy. Từ nhà sang đến nhà hèn, cho đến cả những người không chơi cờ bạc bao giờ, cũng đâm vào mê man, mài miệt. Trước thì bảo để cầu vui, sau cay cú mới quay ra bóc lột lẫn nhau, bóp hầu bóp cổ.
Cho nên năm nào cũng cứ trong ba tháng xuân, ta thấy chán anh thất cơ lỡ vận, mếu máo nhăn nhó, vì đã chót mượn quân bài lá bạc thưởng xuân.
Mà nào có phải chỉ thua tháy mất tiền, trong đám cờ bạc, thì ai còn có lạ gì, gái trai lẫn lộn, thượng hạ bằng đẳng, rồi kẻ chơi đâm ra mất nết hư thân, trăng hoa ong bướm.
Cái hại cờ bạc là một cái hại gớm ghê, thế mà năm nào trong vụ xuân bà con ta cũng cứ say đắm.
Tóm lại, tôi dám nói rằng cái lỗi vui xuân của bà con mình, còn có nhiều cái xằng bậy như thế, nên mới có người chán ghét bàn nên bỏ tết!
Nhưng mà bàn bỏ hẳn thì thực không nên, vì cái dở là tại người làm, chứ nào có phải tết.
Vậy thì ta cứ ăn tết một cách phải chăng, cái gì xa phí, xằng bậy thì nên bỏ đi.
Nhất là cái lối suốt ngày đêm quây quần đánh bạc, cái thú liên miên ngày tháng trong các đền chùa, ta phải cần nên khuyên nhau bỏ hẳn, vì hai thứ chơi ấy, thường làm cho gia đình tan nát, trai bỏ vợ gái bỏ chồng.
Cái thói mê man về đền chùa, tôi dám chắc nhiều người đã tỉnh ngộ nên có thể bỏ được dễ dàng. Còn sự đánh bạc thì tôi tin rằng khó bỏ lắm, nếu cứ nói suông không.
Nếu có thể được, tôi xin chịu tiếng là hủ, là gàn, mà nhất định yêu cầu với các nhà chuyên trách trong ba tháng xuân nên lùng bắt hết thảy các nhà chơi bài bạc, bất cứ to, nhỏ, rồi thẳng tay trừng trị cho thì họa chăng có bớt được cái tệ cờ bạc dông dài, bê tha, bệ rạc.
KHÂM THIÊN SAU TRẬN BOM 12-1972 & NHỮNG NGÀY TRƯỚC TẾT QUÝ SỬU 1- 1973
Ngày 6 tháng 2 năm 2024
Trích "Nhật ký chiến tranh 1972 - 1975"
---
29/12
Gần như mỗi ngày, tôi ra Khâm Thiên lại thấy một khác. Hôm nay, y như một công trường. Nước dềnh lên trên lòng đường. Máy đứng, cái tay gầu xoay ngang xoay dọc.
Nhiều kíp thợ cùng làm việc. Những cô Thanh niên xung phong hay những cô phu hồ, thôi gọi thế nào chẳng được. Giờ nghỉ, các cô ngồi chật cửa hàng bún, bánh.
Vài người thợ điện ngồi vắt vẻo trên cột điện kéo lại đường dây. Mấy bác lo chữa điện trong các gia đình thì cầm theo một đống công tơ. Cả thành phố đều có việc. Cả thành phố không thể vô can đối với sự kiện này.
Lâu nay đối với mỗi gia đình Hà Nội, cuộc chiến tranh mới là sự vắng mặt của người thân. Những ngày hòa bình như một thứ quá khứ vẫn còn hiện diện.
Từ nay, với Khâm Thiên, cả cái quá khứ hôm qua cũng đã đi xa. Ta có một quá khứ khác.
Khâm Thiên như một cái gì đó chỉ ra rằng lâu nay Hà Nội đã có một bộ mặt mới mà ta không biết, nay với Khâm Thiên ta bắt đầu biết. Mỗi lần, có chuyện gì đấy, chúng ta lại nghĩ tới Khâm Thiên.
Mai đây ra sao? Có phải chiến tranh đến với thành phố là phải ngưng lại? Không chắc! Nguyễn Minh Châu thì bảo không biết đây là mở đầu, hay là kết thúc của cái thời chiến như một đêm đen dài dằng dặc này nữa.
Có một Hà Nội ở sau các phố xá. Thường đi qua Hàng Bột, nhìn qua lối ngõ, tôi vẫn cứ thấy một vệt rau màu xanh. Tôi biết có một Hà Nội bề mặt và Hà Nội sau lưng cái bề mặt ấy, một Hà Nội các xóm nghèo.
Không một quả bom nào rơi trúng lòng đường Hà Nội. Phố Khâm Thiên cũng vậy. Nên lần nào đến Khâm Thiên, tôi cũng đi vào phía trong của phố.
Hóa ra nơi đây, có một cái hồ lớn, chứa nước cống của thành phố. Còn nhớ hôm nọ, trong đêm, tiếng nước rơi xuống đá kêu lanh tanh.
Đoàn Công Tính tỏ ý hơi lạ khi những người dân hai bên hồ vẫn ra hồ rửa ráy. Nhưng Hà Nội lâu nay vẫn vậy.
(Trong bài ký tên Anh Thơ để viết tựa cho thơ Vân Đài, Tô Hoài từng kể ”Nhà chị Vân Đài ngày trước gần Hồ Gươm, thường ra đó để giặt dũ “)
Thành phố chúng ta nghèo như một cách sống nhũn nhặn, một niềm chung thuỷ, một triết lý bám vào cuộc sống mà sống.
Những mảnh đất bị bom được san lại. Cố sống cố chết, người ta kiếm được ít cọc đóng quanh nền. Người ta dựng tạm lên một túp lều.
Hà Nội mà lên lại nhà cửa của mình thì lạ lắm. Tôi đã thấy những túp lều chụp ni lông. Những mái gác phủ bạt. Những cái nhà, cả mái, cả cái gọi là tường, đều quây bằng một thứ bao tải muối.
Nhưng mà cốt sao được một chỗ che mưa nắng. Vì trong khi đó, tết vẫn đến, cái tết tưởng như tuần tự, mà sao vẫn êm đẹp và đầy hy vọng. Gian nhà ấy bị hơi bom làm sụt một góc, người ta dựng tạm làm cửa hàng. Đó là một hiệu may, những miếng vải nằm một xếp dài trên bàn, một cô gái vào thử áo vi ny lon trông khá diện, cô chủ hiệu trông cũng nhẹ nhõm. Tưởng như không hề có vụ B.52 hôm trước. Công việc làm ăn kéo đi.
Tôi hiểu người ta phải làm thế để kiếm lấy một cái tết.... Rồi sớm mai mồng một, mới thấy người ta ngồi, người ta khóc vì những mòn mỏi của kiếp người, về việc hợp và tan, làm và nghỉ, hy vọng và vô vọng – cuộc đời là tất cả những cái đó, nó dường như vô nghĩa, mà dường như rất có nghĩa.
Chiến tranh đến một thành phố, nghĩa là gạch, gạch đổ, bới gạch, bới vôi. Đất hình như trước sau vẫn thế. Chỉ có nhìn gạch mới biết đổi thay đổ vỡ là ghê gớm đến chừng nào. Những đống gạch lớn, tấp vào nhau. Phải dỡ từng viên. Ngồi cạo cạo cho hết vôi. Rồi lại chồng thành đống, dựng tạm làm tường.
Gạch là những gì cố định của một thành phố.
Chẳng phải hôm nọ, cậu Tụng nói nó sẽ đánh đến không còn một viên gạch nguyên là gì.
Đến khu Khâm Thiên bây giờ, chỉ nghe đều đều một tiếng lạch cạch. Tiếng của những con dao gõ vào gạch. Tiếng của thời gian.
Một thứ nhịp điệu riêng của Việt Nam? Không hẳn!
Với tình cảnh này, người ta tưởng tượng ra mọi cuộc chiến khác. Chẳng hạn, chắc nhà cửa của những người tị nạn bên Palestin cũng thế.
Một triết lý về sự sống -- chịu đựng. Và trong đó sẽ nẩy sinh sự sống.
Nhưng lúc này mà đi tìm triết lý về cuộc đời là vô duyên. Người ta cốt sống cái đã. Không muốn nghĩ…
Sao mà quên được những em bé ở Khâm Thiên. Nhiều nhất những em đi nhặt rác. Đất ven Khâm Thiên xưa vốn là bãi rác. Những đứa trẻ “yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sạch sẽ ngoan ngoãn” -- những đứa trẻ ấy đang đi nhặt rác. Con gái cũng quần phăng, giầy ba ta cho gọn ghẽ. Mỗi đứa cắp một cái rá, tay cầm một cái que bới. Bọn chúng quây lại đông nhất chung quanh một cái xe ủi. Mỗi lần xe chạy qua một đống đất, ủi đi một lớp đất, sau xe, lại phơi ra một lớp đất mới, trong đó lẫn cả mọi thứ vào trong gạch vụn. Bây giờ thì thứ gì cũng quý.
Một lần khác, tôi không khỏi cay cay mắt trước cảnh một em bé khác chỉ độ 4, 5 tuổi ngồi trên một đống gạch lủng củng. Trong khi mọi người ưu tư lo lắng, một đứa trẻ còn có việc gì khác ngoài ngồi nghịch? Những cục vôi trắng bay vẩn lên trong buổi chiều. Em chỉ có thứ đồ chơi là vôi vụn gạch vụn...
Tôi vụt nghĩ một lần nào đó, sẽ được đọc một bài viết trong đó một thanh niên kể tuổi nhỏ anh ta có những ngày chạy theo xe rác bên những hố bom Khâm Thiên.
Hỏi mấy người ấn tượng về Khâm Thiên tối đầu tiên. Cô Cư bán hàng dưới đó nhớ tiếng vịt kêu. Xuân Trình nhớ những bước chạy. Nhật Minh nhớ những thân hình người chết nằm, đất phủ đầy đầu.
Với cậu Giao em họ tôi, Khâm Thiên ngày 27/12 là cảnh người nằm ngang dọc ngổn ngang, mỗi người như một tầu lá chuối. Mùi hương thắp lên ghê ghê. Đến nỗi về sau, mỗi lần ở nhà thắp hương, Giao vẫn hơi sợ.
30/12
Chiều đi với Tính. Nhà anh Hồng đốt sách dọn nhà.
Một người đàn ông dắt xe đạp giữa những hàng cây cụt ngọn. Những đống gạch dọn được đổ ngay ra đường.
Cái âm khí của những ngày đầu tiên sau trận bom hiện ra ở những nét mặt người. Người dân Hà Nội mất đi cái vẻ ranh mãnh bình thường. Chỉ còn đăm đăm tập trung vào một việc nào đó.
2/1 /73
Ngõ chợ ngổn ngang. Người ta đổ các thứ ở nhà ra đường cái. Đống rác cao đến mái nhà. Đường dắt xe đạp vồng lên vồng xuống.
Người ra vào rất đông. Nhiều người Hà Nội gặp nhau ở Khâm Thiên. Mỗi người tìm lại cho mình một Hà Nội hôm qua. Đủ thứ ký ức thoáng hiện trong câu chuyện.
Đứng trong đám quấn khăn tang nhặt nhạnh lại đồ lề, một người đàn ông nhìn đám dong nhan đến xem, chửi:
-- Toàn một lũ vô công rồi nghề. Nhà người ta còn bận, ai dềnh dang được như chúng nó.
Dòng chữ trên tường:
Anh X nhà an toàn cả. Anh có về, tìm đến...
Đông nhất là những đám lật đống vôi gạch đổ, tìm người. Xe ủi làm việc tay gầu ngoạm vào đất, đổ ra. Cả trăm con mắt người đứng xem đổ dồn một điểm. Một người nào đó kêu ầm lên: Thôi, có người rồi, thối quá...
Cũng như tất cả các khu phố khác của Hà Nội, Khâm Thiên mang trong mình nhiều người, nhiều nghề nghiệp.
Hình như ý nghĩa Khâm Thiên là ở chỗ này: Khâm Thiên đại diện cho Hà Nội. Lâu nay, Hà Nội đã cử người ra măt trận. Nhưng đôi lúc, chúng ta vẫn tưởng rằng Hà Nội vô can, Hà Nội không dự gì vào cuộc chiến đấu này cả. Chính những tàn phá hôm nay chứng tỏ Hà Nội đã chia sẻ không thiếu thứ gì. Và, đã hỏng là hỏng nặng.
13/1
Người công nhân kể chuyện chữa lại cống. Ngõ chợ đã dọn sạch. Một người chạy từ ngoài đường vào hỏi: Anh ơi cho hỏi số nhà 15 có việc gì không.
Một người xích lô chỉ vào chỗ xe ủi xúc gạch tìm người: Kìa ở chỗ kia, đang thòi ra cái trán.
14/1
Người Khâm Thiên đi thăm nhau, một số ở xa về ra thẳng nghĩa trang.
19/1
Những gian nhà xếp gạch chồng thành tường. Cuộc sống đi vào hàng lối trong cái thế đơn sơ của nó. Cho đến cả những mảnh giẻ rách cũng được xếp vào một chỗ. Một đống khác: một vạt lông gà.
Một cây chuối còn sót lại trở thành cọc tiêu cho người ta dóng hướng.
Cuộc tìm bới những nhà cũ, chỉ kết thúc, khi người ta tìm thấy nền.
Thu dọn vôi gạch thế nào, cuối cùng cũng phải làm trơ ra cái nền.
Như là tất cả được xem xét lại. Đồ lề mỗi nhà được đánh giá lại. Lúc này, người ta mới hiểu người ta có những thứ gì.
Cho đến việc lấp hố bom, cũng chỉ hoàn thành, khi đủ đất san thành nền.
Ở nhiều nhà trên cái nền đất phố, lúc này mới thấy lật ra cái hầm cá nhân. Có lẽ lâu nay chỉ có căn hầm là cái gì ở sâu hơn hết trong mỗi nền nhà.
25/1
Em bé đội bao tải lông gà giẻ rách, cầm tờ báo xuân đọc. Một em nói với một em khác: “Chị còn được bố. Em mất cả mẹ, mất cả bố”.
Chiều nay trời nắng dù là cái nắng mùa đông, nhưng khi nó tắt đi, mặt đất vẫn như dịu lại. Buổi chiều là thời gian của gia đình, của những người đi làm đủ mọi nơi quay về ngồi quanh mâm cơm. Buổi chiều là thời gian của ngơi nghỉ.
Rồi cuộc sống Hà Nội lại bừng lên trong những buổi tối. Nếu như buổi tối mà vắng vẻ, thì còn gì là Hà Nội nữa.
Ở cái thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, người ta mới cảm nghe hết cái lặng lẽ của thời chiến.
27/1
Những đọt dừa non lại đã nẩy trên những cây dừa trơ trụi của phố Khâm Thiên. Nhưng nhiều mái nhà xô ngói vẫn chưa được lợp lại.
Chỗ nào có trẻ là chỗ đó có trò chơi. Nhiều trẻ tập lại sinh hoạt công cộng, thứ sinh hoạt công cộng rộng rãi nhất, trong lời báo máy bay: Đồng bào chú ý, tây bắc Hà Nội...
Tiếng báo động đã tập họp cả thành phố. Không có sinh hoạt công cộng nào có sức tập hợp thành phố, như tiếng còi báo động, và sau đó, còi báo yên.
Khâm Thiên chứng tỏ một sức hồi sinh của Hà Nội, cách hồi sinh của một thành phố nghèo.
Có sức sống của những thành phố giàu và sức sống của những thành phố nghèo. Những thành phố nghèo bao giờ cũng tự chứng tỏ nó sống với nghĩa là nó không chết. Nó còn sinh sôi. Ở đâu đó, sự sống biểu hiện ra ở trí tuệ. Ở đây chỉ là bản năng sinh sôi. Kể cả bản năng làm dáng theo cách nghèo của mình. Những người thanh niên mốt nhất là những người thanh niên nghèo.
1/2
Lại đến Khâm Thiên. Cột điện nghiêng đi, ở trên đèn vẫn sáng. Những mầm xanh trên những hàng cây bị long gốc. Cống nuớc đã xây xong. Một vòi nước mới bắc. Những người đi gánh nước, xếp hàng một dãy dài.
Một đài kỷ niệm mới lập. Triển lãm. Trong ảnh, thấy rõ gạch ngói còn ngổn ngang trên đường.
Trẻ con nhìn ảnh nhận mặt người quen:
- Kìa, bà cả.
- Ối, anh Tư.
Khôi phục có một nghĩa là san dồn lại những gì chiến tranh tàn phá. Nhưng còn những tình cảm, làm sao mà san dồn cho được.
Khâm Thiên ngày tết. Những người trong gia đình, ngồi dựa lưng vào những bức tường gạch kê, trò chuyện. Một cái khẩu hiệu trên tường: Không có gì quý hơn độc lập tự do (có lẽ do dân tuyên truyền trên thành phố mới cho người đến nhét vào). Ánh đèn rực rỡ lúc này trông lại đáng sợ.
Những nền nhà gác nghiêng đi, ở nhà dưới người ta vẫn bầy biện đủ thứ ảnh, khẩu hiệu. Đến 29 tết, tôi còn thấy người ta tay dao, tay thước, xây tạm nhà cửa.
Cái định nghĩa về nhà cũng giống như định nghĩa về mỗi con người chúng ta hôm nay: chắp vá, tạm bợ, chỉ cốt có một cái gì cơ bản nhất, ngoài ra thì không có gì nữa.
Ví như con người bây giờ nghĩa là sinh vật biết ăn uống, nói năng, biết làm theo ý định người khác. Còn nhà là một chỗ trú nắng, trú mưa. Thế thôi. Ở giữa phố, có một đài kỷ niệm, một cái giá gỗ cao hình cong, Nghiêm Đa Văn bảo như một cái sừng, được dựng lên.
Vợ chồng nhà Văn cãi nhau. Người ta lúc thì gọi là bia căm thù, lúc thì gọi là đài chiến thắng. Ai đúng hay cả hai đúng?
Người đến xem để xe đạp một hàng dọc đường, như vào một cửa hiệu.
Tôi nghĩ tới cái gia đình sống bên cạnh đó, mọi người dòm hành vào, mất hết cái riêng tư vốn có. Đây cũng là một hậu quả của vụ Khâm Thiên, chứ sao?
NHÀ VĂN TRUNG QUỐC DIÊM LIÊN KHOA: CHỦ NGHĨA HÒA BÌNH QUAN TRỌNG HƠN CHỦ NGHĨA ÁI QUỐC
Ngày 6 tháng 2 năm 2024
Cách đây hai ngày, tôi vừa dẫn lại từ một bạn khác danh sách một số tác phẩm điện ảnh Trung quốc trong chừng mực nào đó vượt ra ngoài khuôn khổ.
Quay trở lại với văn học, tôi cũng tìm được những trường hợp tương tự mà những phát biểu của nhà văn Diêm Liên Khoa khi sang thăm VN là ví dụ.
Nguồn báo mạng Phụ nữ 10/04/2019 -
https://www.phunuonline.com.vn/nha-van-trung-quoc-diem...
Những đoạn dùng chữ in hoa đều là do VTN nhấn mạnh
Khi đưa lại bài phỏng vấn này tôi tự hỏi,
-- ở VN hôm nay, có nhà văn nào từng phát biểu như Diêm Liên Khoa không
-- và quan trọng hơn trước khi nói, có nhà văn nào dù không nói nhưng đã nghĩ được như Diêm Liên Khoa không.
Tôi thì không thấy.
Bạn nào biết xin mách giùm.
*
Nhà văn Diêm Liên Khoa đã gặp gỡ sinh viên ngữ văn, nhân tiểu thuyết Đinh Trang mộng vừa xuất bản, tiểu thuyết Tứ thư đang rục rịch ra mắt tại Việt Nam.
Với những suy tư trực tiếp, nhìn thẳng vào lịch sử và hiện thực Trung Quốc, con người Trung Quốc, nhiều tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa đến nay vẫn gây tranh luận tại nước này.
Trong mấy chục năm viết văn, Diêm Liên Khoa nhận rất nhiều giải thưởng văn học danh giá trong nước cũng như quốc tế. Đặc biệt, năm 2014, ông là nhà văn Trung Quốc đầu tiên và là nhà văn châu Á thứ 2 (sau Haruki Murakami) nhận giải thưởng văn học Kafka - một trong những giải thưởng văn học danh giá trên thế giới hiện nay.
TIÊU CHUẨN ĐỀ CỬ CỦA GIẢI THƯỞNG NÀY LÀ TÁC PHẨM PHẢI CÓ “TÍNH NHÂN VĂN CÙNG VIỆC ĐÓNG GÓP VÀO SỰ KHOAN DUNG VĂN HÓA. HƠN NỮA, VAI TRÒ CỦA TÁC PHẨM PHẢI ĐỦ VỮNG BỀN, ĐỒNG THỜI THỂ HIỆN MỘT CÁCH HIỆU QUẢ NHỮNG BẰNG CHỨNG VỀ THỜI ĐẠI CỦA CHÚNG TA”.
Tại Việt Nam, 5 tác phẩm của ông đã được xuất bản: Phong Nhã Tụng, Người tình phu nhân sư trưởng, Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Kiên ngạnh như thủy, Đinh Trang mộng. Tứ thư là quyển thứ 6 và năm cuốn khác cũng sẽ được dịch, xuất bản tại Việt Nam trong thời gian tới.
Tại cuộc nói chuyện với sinh viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội, giáo sư Vương Nghiêu (Đại học Tô Châu, Trung Quốc) nói:
MẠC NGÔN, GIẢ BÌNH AO, DIÊM LIÊN KHOA LÀ NHỮNG NHÀ VĂN QUAN TÂM TỚI VẤN ĐỀ NHÂN TÍNH, ĐỀU THỂ HIỆN SỰ KINH SỢ VỚI NGÔN NGỮ VÀ DÙNG VIỆC VIẾT ĐỂ THÚC ĐẨY VĂN HỌC TRUNG QUỐC. NẾU KHÔNG CÓ 3 NGƯỜI ĐÓ, KHÓ CÓ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC TRUNG QUỐC HÔM NAY.
“Trong khi nhiều nhà văn khác hài lòng với thành tựu, Diêm Liên Khoa không dừng lại. Mỗi tác phẩm của ông là một sự nhảy vọt về tư tưởng và khi ông viết xong một tác phẩm, ta thấy, ông sẽ không thể viết thêm tác phẩm nào khác tương tự. Diêm Liên Khoa là nhà văn tiên phong, tiến bộ, không ngừng tiến về phía trước. Theo tôi, Diêm Liên Khoa là một nhà văn lịch sử” - giáo sư Vương Nghiêu khẳng định.
************
NẾU CHỈ NÓI VỀ TÍNH THIỆN,
VĂN HỌC KHÁ ĐƠN GIẢN VÀ NÔNG CẠN
1/
Phóng viên:
* Tiểu thuyết Đinh Trang mộng của ông từng được chuyển thể thành phim Tối ái (2011) với sự tham gia của Quách Phú Thành và Chương Tử Di. Ở phần đầu phim thể hiện, những chi tiết trong phim chỉ là hư cấu, không phải sự thật. Ý kiến của ông thế nào?
………………………
Nhà văn Diêm Liên Khoa:
Tôi muốn nhấn mạnh một điều ở đây: chỉnh thể câu chuyện là hư cấu, nhưng mỗi chi tiết nhỏ của câu chuyện lại là thực, thậm chí đều là những thứ đã từng xảy ra.
So với tác phẩm của tôi, bộ phim nghiêng về khía cạnh tình yêu nhiều hơn, nhiều chi tiết về cái ác đã bị cắt giảm. Tôi nghĩ, tiểu thuyết của tôi, nếu giữ nguyên mà dựng thành phim thì không thể công bố ở Trung Quốc. Việc kiểm duyệt điện ảnh thậm chí còn khó khăn hơn kiểm duyệt sách. Hơn nữa, sách của tôi phức tạp và có quá nhiều vấn đề, cũng khó dựng thành phim. Tôi cũng không mong muốn sách của mình dựng thành phim, vì điều đó chứng tỏ sách của tôi quá đơn giản.
2/
* Giáo sư Huỳnh Như Phương của Việt Nam nói, có vẻ, với những bậc thầy viết về nông thôn như Lỗ Tấn ở Trung Quốc hay Nam Cao ở Việt Nam thì nông thôn ấy còn có thể “cứu chữa”, nhưng Diêm Liên Khoa viết về đề tài này thì nông thôn đã không còn cứu chữa được nữa. Sao ông không viết về tính thiện mà lại viết về bóng tối, cái ác?
---------------------
- Tại Trung Quốc, có rất nhiều người viết về những vấn đề xán lạn của đất nước, thì cũng nên có những người viết về bóng tối như tôi. Tính thiện và tính ác là hai vấn đề lớn của văn học. Nếu văn học chỉ quan tâm tới cái thiện, tới tình yêu thì tôi cảm thấy, văn học khá đơn giản và nông cạn. Sự vĩ đại của văn học nằm ở chỗ, nó có thể quan tâm tới bóng tối, cũng như cái ác. Vì khi chúng ta quan tâm tới cái ác, ta mới trân quý cái thiện; chỉ khi sống trong bóng tối, mới cảm nhận được từng chút ánh sáng.
Tôi cho rằng, Trung Quốc hay Việt Nam cũng vậy văn học mà chỉ quan tâm một chiều thì rất lạc hậu. Tôi xin khẳng định, tất cả vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, trong thế giới này, đều là tài nguyên của văn học. Chúng ta không nên nhấn mạnh cái này là tốt, cái kia là xấu.
Đương nhiên, mỗi nhà văn sẽ có lựa chọn của riêng mình, khi đứng trước vấn đề thiện và ác.
Cá nhân TÔI CÓ CẢM GIÁC, MÌNH MANG SỨ MỆNH CẢM NHẬN BÓNG TỐI, MẪN CẢM VỚI BÓNG TỐI, VIẾT VỀ BÓNG TỐI, ĐỂ ĐÁNH THỨC MỌI NGƯỜI VỀ CHÂN - THIỆN - MỸ. Tôi cũng không chăm chăm viết về bóng tối, mà vẫn viết về những ánh sáng lóe lên trong bóng tối đó. Nếu đọc nhiều tác phẩm của tôi, các bạn sẽ hiểu, bóng tối và ánh sáng, cái ác và cái thiện tôi viết.
………………………
VĂN HỌC KHÔNG CÓ VÙNG CẤM
3/
* Trung Quốc được biết đến là một đất nước tôn sùng chủ nghĩa ái quốc. Nhưng TRUNG QUỐC TRONG TÁC PHẨM CỦA ÔNG LẠI ĐẦY BÓNG TỐI VÀ XẤU XA. Tới bây giờ, vẫn có những tác phẩm của ông không được xuất bản tại Trung Quốc. Ông có cảm thấy mình bị “ruồng rẫy” ngay trên chính quê hương mình?
… ………………
Không ai nói ái quốc là điều xấu, nhưng rõ ràng, TRUNG QUỐC ĐANG CHÌM ĐẮM TRONG SỰ MÊ MUỘI CỦA CHỦ NGHĨA ÁI QUỐC. Tôi xin nhấn mạnh chữ “chìm đắm”.
Hiện nay, chủ nghĩa này vô cùng lớn mạnh ở Trung Quốc. NHỮNG QUỐC GIA CHÌM ĐẮM TRONG CHỦ NGHĨA NÀY ĐỀU KHÔNG CÓ TƯƠNG LAI.
Tất nhiên, chủ nghĩa ái quốc không thể vĩ đại và quan trọng bằng chủ nghĩa hòa bình. Tôi hy vọng, SỰ MÊ MUỘI CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC, CHỦ NGHĨA NƯỚC LỚN SẼ DẦN ĐƯỢC GIẢM BỚT và chúng tôi được tiếp xúc nhiều hơn với các nền văn hóa - văn học của các nước xung quanh.
Còn cảm giác bị ruồng rẫy? Những điều tôi viết rất nhạy cảm. Sách của tôi đã từng bị cấm hoặc gặp trắc trở trong quá trình xuất bản, nhưng tới bây giờ, tôi vẫn cảm thấy mình là người may mắn, khi vẫn còn được viết. Tôi cũng không quan tâm tới việc người ta tán dương hay chỉ trích, vì bất kỳ cảm xúc nào đều không quan trọng với tôi. Tôi 60 tuổi rồi. Những điều tôi hướng đến là làm thế nào để viết về thế giới nội tâm của chính mình và làm sao để tiểu thuyết và kỹ thuật viết đạt đến trình độ cao nhất. Điều đó quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác.
THEO TÔI, VĂN HỌC KHÔNG CÓ VÙNG CẤM.
KHI VIẾT, TÔI THỂ HIỆN SỰ TỰ DO LỚN NHẤT CỦA NỘI TÂM, VÌ TÔI SÁNG TÁC KHÔNG PHẢI ĐỂ XUẤT BẢN.
TÔI VIẾT VÌ NỘI TÂM CỦA CHÍNH MÌNH CHỨ KHÔNG PHẢI VÌ ĐỘC GIẢ.
4/
* Ông nói thôn trang của ông là trung tâm của thế giới. Từ thôn trang đó, nhìn ra được những vấn đề của thế giới. Cụ thể ra sao?
………………………
- Thôn trang của chúng tôi là thôn trang HẬU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA điển hình. Nhưng từ thôn trang, có thể nhìn thấy những vấn đề của nhân loại. Tôi là đứa trẻ xuất thân từ nông thôn, từ bé đã sống trong sinh quyển có cỏ cây, đồng ruộng, vườn tược, chim chóc… Nhưng ở nông thôn Trung Quốc hiện nay, tỉnh dậy đã không còn nghe tiếng chim hót nữa. Tôi nghĩ, khi thôn trang không còn tiếng chim hót, tiếng gà vịt... ngày tận thế của nhân loại cũng gần đến rồi. Tôi rất hy vọng Trung Quốc hay Việt Nam đều giàu có, lớn mạnh; nhưng dù phát triển thế nào đi nữa, cũng nên lưu lại những âm thanh của chim chóc trên bầu trời.
Thế giới ngày nay, có lẽ, cũng chẳng có nơi nào như TRUNG QUỐC - CÓ THỂ CUNG CẤP CHO NHÀ VĂN NHỮNG TƯ LIỆU SỐNG VỪA HOANG ĐƯỜNG VỪA PHỨC TẠP, vừa có nhiều nội dung như Trung Quốc hiện đại. Vấn đề của nhà văn là tương tác và chọn phương pháp, hình thức thích hợp để viết mà thôi.
5/
* Tôi có đọc lời giới thiệu của ông nhân tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được xuất bản tại Trung Quốc. Từ Bảo Ninh, ông nhìn nhận thế nào về văn học Việt Nam cũng như những nước xung quanh?
…………………….
- Ở Trung Quốc hiện nay, mọi người vẫn đang theo đuổi và tôn sùng nền văn học Mỹ, châu Âu, nên lơ là các nền văn học giá trị xung quanh mình cũng như các nền văn học Đông Nam Á khác. Tôi nghĩ, các tác giả Việt Nam cũng chẳng kém gì các tác giả Trung Quốc. Tôi đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thấy rất thích, xúc động và kinh ngạc. Tôi tin rằng, không nhà văn Trung Quốc nào, kể cả tôi, viết về chiến tranh hay hơn Bảo Ninh. Ông đã viết ra được cái tàn khốc của chiến tranh và nói được những điều vượt ra ngoài văn học. Cách viết trữ tình của Bảo Ninh là yếu tố cốt lõi trong văn học truyền thống phương Đông của chúng ta. Tất nhiên, phong cách viết của tôi khác Bảo Ninh. Tác phẩm của tôi cũng tự nó phá ra bên ngoài cái lõi đó, bởi văn học muôn hình vạn trạng, tôi muốn thử nghiệm những thứ mới mẻ hoặc điên rồ khác.
6/
* Ông định tiếp tục hành trình văn chương ra sao? Qua các tác phẩm của ông, dường như ông đang chuyển dần từ chủ nghĩa hiện thực sang chủ nghĩa thần thực?
……………………..
- Tương lai, tôi rất muốn được viết những tác phẩm không phải tiểu thuyết, nghĩa là, tôi muốn viết một loại tiểu thuyết không giống với tiểu thuyết, vì tôi rất ghét những tiểu thuyết quá giống với tiểu thuyết.
Còn chủ nghĩa thần thực mà tôi đề xuất, TÔI CHỦ YẾU QUAN TÂM TỚI HIỆN THỰC MÀ CHÚNG TA KHÔNG NHÌN THẤY HƠN LÀ NHỮNG GÌ CÓ THỂ NHÌN THẤY. Tôi nghĩ, phải quan tâm tới cái chân thực bị chân thực che lấp; thậm chí, cần quan tâm tới những vấn đề căn bản không tồn tại. Những tác phẩm như Đinh Trang mộng, Kiên ngạnh như thủy… đã có những mầm mống của chủ nghĩa thần thực. Nếu các bạn đọc những tác phẩm sau này như Tứ thư, Nhật tức, Thụ hoạt... sẽ hiểu hơn về chủ nghĩa thần thực. Nhưng viết gì thì viết, tôi nghĩ, một tác giả tìm được phương pháp thích hợp với mình nhất và nói được một câu chuyện cá nhân nhất, là cách viết mà ta nên theo đuổi.
* Xin cảm ơn ông.
Đậu Dung (thực hiện)
TẾT HÒA BÌNH 1973
Ngày 8 tháng 2 năm 2024
3/2 (30 tháng chạp Nhâm Tí)
Phố xá Hà Nội chiều tất niên, tôi sống những giờ phút thảng thốt. Tết mà lại nắng, mọi thứ nhếch nhác cứ trơ ra trong nắng. Bụi bẩn. Xe đạp phóng ẩu. Những người đàn bà lo sinh kế. Mấy cô gái mới lớn thích diện nhưng nghèo. Những đứa trẻ hau háu đợi người đến bơm xe đạp. Trong khi đó thì người ta vẫn vui vẻ ra mặt. Thỉnh thoảng lại một tiếng pháo nổ rất bực mình.
... Chính vì muốn giải phóng khỏi tất cả những cái đó, tôi lánh đi, tôi quằn quại tìm cách đi. Lấy danh nghĩa phóng viên, tôi xin theo một chuyến xe lửa Hà Nội vào Vinh.
Đêm 30. Tôi đi để sống với những người khác, hay là để trốn chạy khỏi nỗi chán chường cá nhân-- hai cái đó thật khó phân biệt.
Người từ ga Hà Nội đi, lúc đầu tưởng độ 100, sau 700-800, 1000. Toàn là cán bộ nhà nước, với quá nhiều xe đạp.
Sau những đớn đau tê dại, tưởng như cuộc sống đã mất những thiêng liêng. Nhưng trong những ngày giờ như lúc này vẫn là những náo nức hy vọng.
Đêm nay, tôi sống giữa những người không quen biết, bởi chỉ có một chỗ giống họ là xa nhà. Nhưng cái chính là một không khí khác. Tôi được sống trên một cái gì đang đi. Giữa đêm đen, tôi sống biệt lập trong một vùng ánh sáng xa lạ.
Đến Nam Định thì giao thừa. Lòng tôi mơ theo lửa đỏ -- pháo hoa Hà Nội. Trong khi đó thì ở đây chỉ có những quả pháo nổ lẹt đẹt.
Ở một làng nào, lửa đỏ như vệt B52 trong đêm. Hay ai đó vui quá cho bắn pháo? Người ta nói chuyện gì lúc giao thừa, lúc vui?
Trên cái toa xe phần lớn bộ đội này, người ta lại nói chuyện chiến thắng. Nói tới tình thế. Nó chịu ta rồi. Nó sẽ cho ta mấy tỉ mỹ kim... Nhưng khi tôi hỏi mỗi người sang năm anh định làm gì, sang năm anh có kế hoạch gì -- thì không ai trả lời cả. Cũng như bom Mỹ đánh hôm trước, hôm sau trên báo có thơ ngay, còn khi tuyên bố hoà bình rồi, chả thấy ai hé răng gì cả.
- Hôm địch đánh 18, anh ở đâu?
Tôi hỏi câu đó với nhiều người. Ít ai có cái ấn tượng kinh khủng như tôi tưởng.
Trong khi đó, ngay chiều ba mươi trên tàu điện ở Hà Nội, một người đàn bà nói với tôi:
- Làng tôi may quá, chỉ chết có 4 người. Chẳng phải nói chứ chính là nhờ làng tôi làm hầm Cồn Cỏ. Thành ra cũng đỡ được nhiều lắm. Những làng khác, hầm đào nổi quây quây mấy hòn gạch, chết vô khối. Gớm hôm nó đánh xong, tưởng tất cả chết, chỉ mình mình còn sống. Sau thấy cũng còn nhiều người còn sống như mình.
Có một cái gì đấy, như là bất mãn, nảy sinh trong lòng tôi. Bất mãn trước một thực tế già cỗi, trì trệ của đất nước.
Thời đại vừa có gì rộng quá, đến nỗi chúng tôi không hiểu hết được. Lại vừa như là chật quá, vớ vẩn quá, có nhiều chuyện, tôi nghe mãi phát chán.
Tôi vốn không tin rằng mọi xã hội có thể xoay chuyển nhanh. Sống trong xã hội này, càng thấy trì trệ. Vậy mà vẫn thường xuyên bực bội. Gần như muốn phát khóc vì tốc độ chậm rề chậm rệt của chung quanh. Nhớ có lần ngồi trên gác Câu Lạc Bộ Ba Đình nghe nói chuyện, nhìn xuống phía quảng trường, thấy những bóng người đạp xe qua lại lơ thơ. Như từ thế kỷ nào xa lắm hồi vọng lại. Vậy mà chốc nữa, giá tôi đi xuống đó, thì cũng lại tự nhiên y như mọi người khác, cắm cổ đạp vội.
Một ý của Nguyễn Khải (nhân bàn về tình trạng sau chiến tranh mọi người ít nghe đài):
-- Người ta chóng quên ghê lắm. Càng chóng quên là những việc không dây dưa gì đến người ta. Như mình, mình cũng chỉ chú ý tới họ khi chiến tranh, còn bây giờ hoà bình, ai làm gì thì làm, mình biết đâu? Cho nên, mình mới phải nghĩ và nghĩ ngay về cái chuyện thế giới quan tâm đến Việt Nam. Mà quan tâm hơi lâu. Đúng là nó có dính gì đó đến họ, dính về mặt trí tuệ đấy.
Những năm chiến tranh, nhiều dân tộc chia sẻ với chúng ta chống Mỹ với ý nghĩa là dân tộc Việt Nam phải có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình.
Nghe thế chúng ta thấy lòng ấm áp.
Nhưng sau đó rồi thì chúng tôi cảm thấy bơ vơ. Điều mà họ nghĩ, với điều mà chúng tôi nghĩ, là có khác. Họ chờ đợi thấy một Việt Nam khác nhưng chúng tôi lại không có cái điều mà họ đang mong.
Thường thì đôi lúc, tôi cứ kinh sợ vì những đứa trẻ. Nó là biểu hiện sức sống của nhân dân này một cách rõ rệt hơn. Biểu hiện rằng dân tộc này không chết.
Nhưng có chắc rồi có một sự sống thật sự, một sự sống ở trình độ cao? Hay đó chỉ là biểu hiện sự sống của một cái gì đang chết sẽ chết. Như một cá nhân, bao người đã chết để xã hội chết theo?
Những bậc thầy về công việc vá víu - người ta nói về Việt Nam là vậy.
Giá anh bảo một người Việt Nam rằng anh phải sống nghèo hơn, khổ hơn, anh không được đi đâu làm gì cả, anh sẽ rên xiết trong anh điều lạc hậu... thì người Việt Nam kia sẵn sàng gật đầu. Tôi không chết. Tôi vẫn sống. Và tôi còn sinh đẻ nữa. Thế là đủ.
Nhưng bảo rằng anh phải làm ăn cho khá hơn, anh phải bớt sinh đẻ đi, anh phải nâng cao cuộc sống anh hiện nay -- thì người Việt Nam kia cảm thấy rất mực khó khăn.
4/2/73
Vẫn trên chuyến tàu ấy nhưng nay đã là mồng một tết Quý Sửu. Ga Nam Định, Thanh Hoá 1500 khách. Ga Vinh - 2000 khách. Hành khách trung bình chờ 30-38 giờ.
Hành khách lịch sự nhất là khách Hà Nội Hải Phòng.
Hành khách khó tính xấu tính nhất là khách mấy tỉnh phía nam, Thanh Hóa, Vinh, những vùng chiến sự. Lên tầu, tìm ăn ăn xong, rải ni lông ra sàn ngủ.
Ninh Bình - thành phố của núi đá và những công trình của con người, ngay trên một miền đất phẳng.
Núi rất nhọn, sông rất xanh, và cỏ rất cằn, đất rất rộng, đó là Ninh Bình. Những đoạn đường bụi đỏ hai bờ cây lá. Nông trường Đồng Giao nhà chỉ còn tường, nhiều đoạn đường mòn đi qua nền nhà.
Ngày tết thành phố chen chúc khác thường. Còn như ở đây, buổi sáng mùng một im lìm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe com măng ca hoặc một chiếc xe đạp.
Những người lớn đâu cả, chắc đang chè chén, bàn việc với nhau trong nhà. Chỉ có đám trẻ con chạy ra đường. Trẻ con từng đám, đứng chen chúc đầu ngã tư. Hàng chục đứa, cùng một màu áo xanh trứng sáo. Chúng nó không hết ngạc nhiên trước những đoàn tàu đi qua. Chúng nó băm bổ chạy dọc con đường sắt:
- Chúng mày được nghỉ học mấy ngày?
- Được nghỉ đến mùng 3 thôi. Giá kể đến mùng 4, mùng 5 thì thích.
...
- Lớn lên chúng mày đi bộ đội nhớ
- Vâng. Vâng... Thích lắm.
Hàm Rồng. Lại những khung cảnh chiến tranh. Một địa thế rộng. Lèn đá vệt bom đã cũ, lẽ ra, con đường bò ra, đường đầy bụi. Những chiếc xe tải vập vạp, lúc lẫn vào đoạn đường bụi đỏ, lúc lẫn vào đoạn đường bụi trắng.
Mờ sáng, đoàn xe tải chở phà bật đèn đi.
Càng sáng, càng nhiều xe.
Chỉ có những đoàn xe là gợi cảm giác đông vui. Khung cảnh khu vực nhà máy điện cũ nát như sống lại. Hố bom, cái thì cỏ lên xanh, cái thì còn đỏ miệng. Dáng người đi, lẫn vào trong đường xá trời đất. Mấy người đàn bà đi cắt cỏ. Cỏ dại. Người bây giờ cũng như là một giống cây dại. Ở thành phố, người nhiều, người lúc nhúc. Thành phố nghĩa là nơi đâu người ta cũng thấy dấu vết của con người, những vạt cỏ, những ánh đèn, bóng nhà cao. Vậy mà ở những quãng sông nước này, thiên nhiên khắc nghiệt và hoang vu quá. Hoang vu đến mức những mái nhà bị bỏ quên cũng trở nên ngất nghểu. Dấu vết con người sao quá nhạt nhòa.
Có lẽ vấn đề trung tâm mà tôi muốn để tâm nghĩ trong những ngày tới - bộ mặt của một đất nước sau chiến tranh. Những di luỵ của bom rơi máu đổ trong đời sống và trong tâm lý mỗi con người trong xã hội.
Hoà bình có một nghĩa chung với tất cả mọi miền. Nhưng với mỗi vùng miền, hoà bình lại có một nghĩa khác. Đối với Khu 4, hoà bình có nghĩa là một cuộc sống trở lại trên mặt đất.
Những cụm ga những đoạn cầu, nó như là nơi đối mặt của hai phía chiến tranh và hòa bình.
Ngổn ngang, không bao giờ mặt đất hết ngổn ngang. Những gì tàn phá chưa chịu lẩn đi mà còn chềnh ềnh đó. Nhưng một cái gì chủ yếu nhất -- sức hoạt động -- thì đang tự nó làm nên ấn tượng một sự thay đổi. Sự tình là cái sống phải lấn cái chết từng bước một. Phải gạt cái tàn phá sang một bên để mà gắng gượng đi lên.
CHỈ CÓ HÒA HIẾU SAU NỘI CHIẾN MỚI CỨU VÃN ĐƯỢC DÂN TỘC
Ngày 12 tháng 2 năm 2024
Dưới đây là đoạn quan trọng nhất trong bài kèm theo của bạn Nguyễn Thị Hậu
********
Có lẽ chỉ một lần hiếm hoi các vua chúa có hành xử một cách hợp đạo lý và thấu hiểu những đau đớn mất mát của cuộc nội chiến kéo dài gần trăm năm. Đó là vào năm 1672 trong một trận chiến quyết liệt không phân thắng bại giữa hai phe Trịnh – Nguyễn tại cửa Nhật Lệ, khi chiến thuyền quân Trịnh rút lui thì tất cả tù binh được chúa Trịnh Căn ra lệnh cho quần áo, phóng thích tại chỗ, ai muốn đi đâu thì đi. Đó là những người bị bắt đi lính, là người địa phương không theo bên này thì theo phía kia, gần như ngoài ý muốn.
Phía chúa Nguyễn thì Hoàng tử Hiệp (Nguyễn Phúc Thuần – con thứ tư của chúa Nguyễn Hiền Vương) cũng có hành xử nhân bản không kém: “Sau khi quân địch rút lui, phàm những quân lính Bắc Hà bị bắt, Thuần (Hoàng tử Hiệp) đều sai cấp cho tiền gạo quần áo, tha cho về, không giết một người nào. Lại đặt một lễ đàn trong thành Trấn Ninh tế tướng sĩ tử vong, cũng đặt một đàn ở ngoài thành Trấn Ninh để tế quân Hà Bắc chết trận”. Người chết bên này hay bên kia lũy Trấn Ninh đều là dân nước Việt, Hoàng tử Hiệp hiểu sâu sắc như vậy, tất cả đều xứng đáng giải oan trong tình thế lịch sử đau xót.
Có thể nhận thấy nhiều câu truyện lịch sử và chuyện cổ tích Việt Nam đều có hai mặt, hai bài học. Một mặt sáng, dễ nhìn thấy là bài học “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Nhưng còn một mặt khuất mà chỉ khi ta bình tâm lắng lòng mới có thể nhận ra, nhưng đó chính là bài học sâu sắc hơn mà tiền nhân muốn đời sau thấu hiểu: chừng nào con người còn coi sự trả thù bằng hành động, bằng lời nói là cách triệt hạ đối thủ (trong cùng đất nước hay giữa các quốc gia) thì chừng đó cái ác còn tiếp tục. Bởi vì sự nhân văn sẽ làm thay đổi con người, làm cho xã hội tốt đẹp hơn chứ không phải là sự trả thù. Cái ác có thể là phương thức nhanh chóng để giành được “chiến thắng” nhưng không không thu phục được nhân tâm, tạo ra và nuôi dưỡng tâm thức “ác giả ác báo” lâu dài trong thế hệ tương lai.
Một đất nước trải qua hàng ngàn năm chiến tranh và xung đột, chấm dứt tiếng súng nhưng nếu không thực tâm và thực hành hòa hợp hòa giải thì chưa thực sự có hòa bình. Lòng người chưa bình, tâm người chưa yên thì hành trình phát triển đất nước sẽ còn rất nhiều khó khăn!
SỰ ĐỎNG ĐẢNH CỦA MÙA XUÂN
Ngày 18 tháng 2 năm 2024
Ở cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội trước 1975, Nguyễn Minh Châu nổi tiếng là người … hay sổ ra những câu ngược đời. Chẳng hạn trong khi ai cũng nói là mùa xuân đẹp mùa xuân mơn mởn sức sống, thì có lần ông cho mọi người thất vọng bằng một câu xanh rờn:
-- Chính ra ở mình, mùa xuân lại là mùa bẩn nhất. Đấy các ông thử nhìn xem đường xá lầy lội có kinh không? Làng nào còn ít bụi tre, thì xuân này lá tre rụng đầy đường, mà chính các thân tre lại xơ xác trông gớm chết đi được!
Lúc nghe, vì quá sốc nên chúng tôi gần như lặng đi không nói gì. Chỉ khổ một nỗi về sau nghĩ kỹ lại, thấy đúng. Không ai dám nói tuột ra như Nguyễn Minh Châu, nhưng đúng có lúc ngại xuân thật!
Mưa phùn gió bấc, hơi một tí thì lạnh, hơi một tí lại nóng. Vừa trở gió, cửa nhà đã nhoe nhoét vì nồm. Muỗi ở đâu ra mà dầy như trấu. Nỗi sợ viêm họng với sợ sưng phổi làm người ta quên cả ngắm cảnh đẹp.
May lắm thì chúng tôi chỉ còn tự an ủi, phải nói thực ra mùa xuân quá nhiều vẻ. Nó mang trong mình quá nhiều tiềm năng. Cũng giống như việc đời, nó đỏng đảnh, nó bất trắc. Tức là luôn luôn có thể thế này và có thể thế khác, đẹp đấy mà cũng nhếch nhác ngay đấy.
Mấy hôm mùng một mùng hai bận bịu vì nghi thức và ăn uống, chính ra vẻ không khí Tết hơn cả lại là rằm tháng giêng. Lễ tết quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng. Từ nhỏ tôi đã được nghe nói như vậy, và càng lớn càng thấy nó đã ăn sâu vào tâm lý mọi người đến như thế nào. Người đi lễ nườm nượp từ sáng đến tối.
Tết Đinh Tỵ (1977) lúc đã muộn, khoảng mười giờ đêm, tôi mới đi bộ ra đền Quan Thánh (vì Văn nghệ quân đội gần đấy), trở về chỉ nhớ hai chi tiết. Một là nhiều người đến chậm, không chen được vào cắm hương, quay ra cắm cả vào các ngách tường gốc cây ngoài sân; hai là sau khi khách đến lễ ra về, các vị hành nghề ở đền ( chữ gọi là thủ từ ) để đỡ mệt mỏi, quay ra xả hơi bằng cách … mở băng Sơn ca 7 của Trịnh Công Sơn.
Hôm sau kể với Nguyễn Khải, ông cười sặc sụa, bảo là bịa, nhất định không tin. Tôi thì tôi nghĩ, chẳng qua nó chỉ cho thấy một tình trạng hỗn độn mà lớp người cũ như chúng tôi không quen.
Hỗn độn, nham nhở, pha tạp, không thuần khiết, những cái chả ăn nhập gì với nhau lại đặt cạnh nhau …, đó là tình trạng có thể gặp ở bất cứ đâu trong mùa xuân.
Nhân chuyện lễ bái ngày tết, còn nhớ một câu tục ngữ nữa Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành tiên -- Đi chùa đi chiền bán thân bất toại.
Hình như có một thời xã hội có sự phân chia rành mạch. Đã ăn cắp thì không dám tính chuyện đi đền đi chùa. Ngược lại lễ bái là cả một việc thiêng liêng mà chỉ những người tin chắc ở sự lương thiện của mình mới thành tâm theo đuổi. Hai loại người hai cách sống, rành mạch đâu ra đấy.
Còn ngày nay, càng những người “có chuyện “, bao gồm từ đám buôn bán bất chính giả dối lừa lọc cho tới các loại hối lộ, tham ô ăn cắp ( nói nôm na thì tham nhũng cũng chỉ là một loại ăn cắp ) lại càng kỹ càng trong việc cúng bái.
Thành ra cuộc đời cứ nháo nhào cả lên. Về mặt ý nghĩa, câu nói cảnh báo một sự thật: mọi chuyện không phải bao giờ cũng công bằng, sự thành tâm không phải bao giờ cũng tương ứng với hậu quả, không riêng gì con người mà thiên nhiên và thần thánh cũng đỏng đảnh, và đấy chính là sự hấp dẫn của những thế lực siêu phàm ấy.
Mỗi mùa đông lại cho người ta thấy một sự bất ngờ mới của thiên nhiên. Như mùa đông năm ấy, 2006. Ba bốn tháng liền, gần như không mưa. Trời đẹp, nhiều hôm nghe mục thời tiết trên truyền hình “Chúc các bạn có những ngày nghỉ cuối tuần tuyệt vời“ cứ thấy nao nao. Vẫn biết nắng vàng trời hanh thì thú vị thật, nhưng tận trong đáy lòng, vẫn nhớ những ngày mưa, hình như mình quen với mưa hơn.
Cầu được ước thấy, cả tuần trước tết Nguyên tiêu, không có lấy một ngày nắng trọn vẹn. Lúc nào bầu trời trên đầu cũng lảng vảng những đám mây. Lúc nào trời cũng ủ mưa. Cái nẳng thoang thoáng. Có thể sắp nắng bừng lên nữa. Mà cũng không chừng lại sắp mưa.
Những ngày khô hạn đã dạy cho tôi biết thế nào là sự quyết liệt của đời sống.
Mấy năm nay, cả trái đất nóng lên. Nhiều thành phố nằm sát mép nước biển bên Italia có khả năng bị nước tấn công. Năm ngoái năm kia bên Paris khối cụ già chết vì nắng cơ mà.( Bây giờ cái gì cũng thái quá. Chuyện mưa thuận gió hòa chắc chỉ còn trong sách vở.)
Những ngày dở dang mưa nắng lại càng dạy tôi tập quen với mọi diễn biến sắp tới. Điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những điều xấu nhất lẫn những điều tốt nhất. Đấy là quy luật của đời sống hiện đại.
Một nỗi buồn dù to lớn đến đâu, khi ta nhận thức được thì tự nó cũng mang lại một niềm vui chân chính. Câu nói đã thành công thức ấy, hôm nay với tôi vẫn là một phát hiện
Đã in trong “Những chấn thương tâm lý hiện đại” 2009
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI, 1979
Ngày 19 tháng 2 năm 2024
( Nhật ký hậu chiến)
• đã đưa trên blog cá nhân VTN hai lần, 08 tháng 2 2016 và 14 tháng 8 2021
Lời dẫn
Mấy năm 1979-1982 quả là đặc biệt trong đời sống xã hội, nên mặc dù chỉ quen ghi chép về các sinh hoạt trong giới văn học, trong năm ấy, đôi lúc – nghĩa là tùy hứng - tôi cũng thường “vào sổ” các sự kiện hàng ngày được nghe được biết trong sổ tay.
Tôi ghi một cách thật gọn và không kèm theo bình luận. Còn chính xác đến đâu thì quả thật không biét và đến nay lại càng không biết.
Lọc lại một số đoạn ghi năm ấy như bạn đọc sẽ đọc dưới đây, tôi hiểu mình thực ra vẫn chỉ làm việc theo hướng suy nghĩ lâu nay, -- mong từ cái nhỏ hiểu ra cái lớn và lấy quá khứ để giải thích hiện tại.
4/5
Ngày Phật đản. Những người tu hành vẫn có nét mặt hệt như mặt người ngoài đời mà tôi vẫn gặp. Sao ở giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận.
Ghi sao cho hết những kinh hãi về xã hội chung quanh. "Sự cuồng nhiệt muốn làm người Việt Nam" - hình như có lúc, một người nước ngoài thấy cung cách sống của những người dân đất này đã thốt lên như vậy. Tôi hiểu lúc nhìn chúng ta sống, một cái gì cuồng dại trong người họ bị đánh thức. Nay tôi cũng đang có cảm giác đó. Ngoài đường, lúc nào cũng ngàn ngạt những người. Những đám đông xếp hàng không nhúc nhích... Cướp giật, phe phẩy... Xa hơn nữa, lính đánh nhau ở Cămpuchia, đánh thắng ghê gớm. Nơi tưởng như đã rệu rã cả, sao người ta vẫn làm được một việc gì đó.
Mỹ bảo có 2 vạn người xin di tản trong khi ta nhận có 29 người(?). Ông Lê Đức Thọ than vãn chưa bao giờ ta thấy mất chủ quyền như lúc này. Ông Tố Hữu tuyên bố sẽ cho người đi học về Khoa học xã hội.
Khối Sep tố cáo ta là tự cô lập về chính trị, mà cũng là cơ hội. Ông Tố Hữu sang làm việc không được những người xứng đáng đón tiếp. Có tin ông này sẽ đi làm bí thư thành uỷ Sài Gòn.
5/8
Tàu trên 5 tuyến đường bị tắc. Trừ có tàu Thống Nhất.
Ngành đường sắt giải thích hết than.
Tin vỉa hè: 1 F của HN chuyển sang Bắc Lào làm đường băng máy bay.
V. Anh-giáo viên trường Chu Văn An: Học trò bây giờ lưu manh không thể tưởng. Nhiều giáo viên đang bàn không biết vài năm nữa, có tập họp chúng nó thành lớp được không nữa cơ.
Vấn đề không phải là 1-2 học sinh. Mà là một nếp nghĩ của cả một đám đông ở lớp ở trường.
Tôi hỏi Đăng có phải bọn em cho rằng tất cả người lớn đều xấu phải không?
Đăng bảo nhưng mà người xấu đến 70-80%.
6/8
Báo Nhân Dân đăng tin chính phủ quyết nghị cho tự do kinh doanh mặt hàng nhà nước không quản lý. Giá cả do người bán và người mua tự thu xếp.
Lần đầu tiên có một chính sách kiểu này.
Thời gian gần đây, một tù chính trị nhảy vào Đại sứ quán Anh. Những người phiên dịch ngăn lại, nhưng những người trong ĐSQ bảo đây là đất Anh. Người kia không xin cư trú chính trị, mà chỉ nhờ nước Anh nói với thế giới về tình hình tù chính trị ở ta ra sao.
Ở Sài Gòn, có một số vụ biểu tình đòi nhân quyền. Đài báo thường có tin Toà án nhân dân các tỉnh thành phố xử án bọn tổ chức di tản.
Từ tháng 6/78, đã có những người miền Bắc trốn ra nước ngoài (nhân vụ Hoa Kiều, làm giấy tờ giả) gửi thư về. Trong số đó, có cả những diễn viên như Giáng Hương ở Đoàn Kịch nói TW.
Khoảng cuối tháng 7 báo Nhân Dân có đăng một mẩu thời sự đại ý nếu cụ Khổng mà sống lại thì cũng phải than rằng các hảo hán đã giết hết các nhân tài rồi.
Trong tháng 7, có đăng bài của Phạm Hồng (?): Trung Hoa hai mặt, trong đó, tố cáo nhiều thói xấu của cái gọi là Chủ nghĩa Cộng sản phương Đông
Một bài báo Tây Đức nói sở dĩ có tình trạng người Việt Nam di tản như hiện nay là do phương Tây quá yếu đuối; chúng ta xuống đường trong những năm chiến tranh Việt Nam cũng vì ta quá yếu đuối; giờ ta phải trả giá cho yếu đuối đó. Người cộng sản bao giờ cũng có tính mục đích rõ rệt.
Nhận xét của một chuyên gia Liên xô về Việt Nam:
- Ở đây, người ta có thể làm việc nào đấy, mà không hiểu tí gì về công việc ấy, không thích thú gì với công việc ấy, không được huấn luyện bao giờ.
- Không ai kiểm tra ai cái gì hết.
- Tất cả mọi người đều biết tình trạng tồi tệ hiện nay, nhưng tất cả đều mặc kệ.
Nhận xét của các chuyên gia cao cấp ở lớp học của các bộ trưởng:
- Giải phóng xong, ta biến cả miền Nam thành kẻ thù.
- Trong những ngày qua, ta gần như coi cả thế giới là kẻ thù.
- Hẳn đến ngày nào đó, cả Liên Xô cũng trở thành kẻ thù của ta luôn thể.
10/8
Ông Phan Hiền thứ trưởng ngoại giao nói trước VTV: Mỹ đòi ta hạn chế người di tản vào một thời gian nào đó. Ta trả lời làm ngay thế nào được. Cũng như một vòi nước hỏng, thì còn cũng phải đợi tính, mới biết bao giờ thì xong chứ.
14/8
Đang có tin đồn: Liên Xô họ bảo những vai trò chủ chốt ở ta còn nhiều phần tử mao-ít. Bài ông Tố Hữu nói ở hội nghị công tác tư tưởng, cũng chỉ nói là chống bọn bành trướng Bắc Kinh mà không nói chống tư tưởng Mao Trạch Đông.
Trong Báo cáo chính trị ở đại hội 4, không hề nói tới nguyên nhân thắng lợi là sự giúp đỡ của các nước anh em. Đó là vì lúc đó, ta cho ta sang rồi, lên cỡ cường quốc, có thể ngồi cùng chiếu với Liên Xô rồi. Khiếp!
Luôn luôn thấy có những câu dặn dò đại loại:
- Anh Đồng bảo đừng có nghĩ thế này là mình biến thành một thứ vườn sau của Liên Xô.
- Anh Tố Hữu bảo ta vào khối Comecom rồi, đã vào thì phải vào cả thể xác lẫn linh hồn. Đừng nên nghĩ rằng như thế là Liên Xô thít thòng lọng vào cổ ta.
Các nước tư bản đang tìm cách đánh vào Đảng ta về mặt văn hoá. Bao nhiêu đảng viên khá Đảng dành cho đi các tư bản, nay nó cắt hết học bổng, viện cớ là ta không bảo đảm nhân quyền.
Ông Tố Hữu bảo tôi không thích mấy bài nói về học sinh đi thi toán gần đây. Có vẻ sô - vanh nước lớn lắm.
Ông Nguyễn Kiên thủng thẳng đế thêm là nước này nhận ra cái đó cũng đã lâu, nhưng từ chỗ nhận ra đến chỗ sửa còn lâu hơn. Từ mấy năm nay, tôi đi họp tuyên huấn, đã nghe phê phán. Rằng ta tuyên truyền rất vụ lợi. Chỉ có những gì thế giới làm có lợi cho ta thì ta tuyên truyền. Phải bỏ lối ấy đi. Thế mà có bỏ được đâu.
Chính Yên (báo Nhân Dân) tâm sự:
-- Viết bài tuyên truyền gì bây giờ cũng cảm thấy phạm tội. Đúng là mặc cảm sau một thời viết báo ca ngợi. Tôi thấy nói Mỹ đưa ta về thời đồ đá cũng đúng. Về vật chất nó đưa ta về thời đồ đá. Về tinh thần, nó đưa ta về thời đồ đểu.
Một người hơn 40 tuổi bị chèn xe máy gãy tay, không kêu gì.
- Tôi đã sống qua ba chế độ. Đấy là tôi muốn giữ nguyên bản chất chế độ cũ của tôi, thì tôi để nguyên. Vì tôi vốn mê tín, ở hiền gặp lành. Còn nếu tôi phát huy con người XHCN của tôi, thì tôi đã rạch mặt ăn vạ rồi.
Người Trung quốc về nước. Vùng Trà Cổ giờ gồm nhiều xã dân ở đồng bằng ven biển đi ra thế chỗ. Bước chân con người chệnh choạng trên mảnh đất mới, mảnh đất của nước mình mà nay mình mới biết.
Nhưng đó mới là đám tiền trạm. Đám sau đến Hải Phòng bỗng có lệnh còn phải chờ không được đi vội. Sống tạm bợ, biến thành trộm cướp, ỉa đái ngay ngoài đường.
Hà Nội nghèo, các cửa hàng nhuộm đông nghịt người. Tích kê được nhuộm mua lại mỗi cái 5-6 đồng. Mà toàn hàng cũ mang nhuộm. Có người lấy cả đăng ten rèm cửa ra để làm vải may quần áo.
(Lại nhớ Nguyễn Minh Châu có lần nhận xét ở Quảng Bình, cái nịt vú của đàn bà con gái cũng làm từ vải Tô Châu, tức hàng quân nhu Trung quốc)
Các bệnh viện quá đông người. Bệnh viện St.Paul khoa nhi ba trẻ con một giường, đêm có đứa ngã xuống đất chết luôn. Không có điện, nhiều trẻ bị chết, các bà mẹ trông cả về Lăng Bác mà khóc.
Trong khi đó, một bộ phim vừa được đạo diễn Bạch Diệp làm mang tên Người chưa biết nói. Phim kể về sự săn sóc con trẻ ở chế độ ta. Hàng chục bác sĩ trông nom một người. Trẻ ăn ngon như con nhà phe phẩy. Ngày thay mấy bộ quần áo.
Cuộc sống luôn luôn quá đáng.
Cô Châm kể chuyện sinh viên trên cơ sở II ĐHSP ở Xuân Hoà:
- Đi tàu, ngồi trên nóc toa. Có lần kéo cái phanh hơi của họ, cả tàu dừng lại.
- Lên lớp, thầy không có phấn. Sinh viên kêu đói, lớp xin nghỉ luôn.
- Cơm còn thừa, mang đổi cho dân lấy củi sưởi. Từ trên gác, ròng dây xuống cho bọn trẻ con, nó nhét củi cho mình. Hoặc đổi lấy bưởi.
- Nam sinh viên không có tiền, mua bán trả bằng bút máy. Được mấy cái đầu, sau toàn nắp giả.
- Buổi chiều, sinh viên ngồi hai bên đường rải chiếu ra, uống nước với nhau, như ăn mày.
- Ra chợ, ăn cắp rất thạo. Mấy thằng mặc cả nói loạn lên, một thằng đứng cạnh đấy nhót vào bị.
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 ( kỳ I)
Ngày 24 tháng 2 năm 2024
(Nhật ký hậu chiến)
***
Lời dẫn
Mấy năm 1979-1982 quả là đặc biệt trong đời sống xã hội, nên mặc dù chỉ quen ghi chép về các sinh hoạt trong giới văn học, trong năm ấy, đôi lúc – nghĩa là tùy hứng - tôi cũng thường “vào sổ” các sự kiện hàng ngày được nghe được biết trong sổ tay.
Tôi ghi một cách thật gọn và không kèm theo bình luận. Còn chính xác đến đâu thì quả thật không biét và đến nay lại càng không biết.
Lọc lại một số đoạn ghi năm ấy như bạn đọc sẽ đọc dưới đây, tôi hiểu mình thực ra vẫn chỉ làm việc theo hướng suy nghĩ lâu nay, -- mong từ cái nhỏ hiểu ra cái lớn và lấy quá khứ để giải thích hiện tại.
---
8/1
Trứng 1 đ một quả. Thịt 2,6đ. Tất cả các thứ đều lên giá. Giá vàng tăng từ 23,5 lên 30. Xe pơgiô khoảng 5,6 ngàn. Từ 1/1 nhà nước chỉ bán cho mỗi người trong gia đình một kg gạo một tháng. Đầu năm chưa có phiếu, vợ Bằng Việt đẻ, con chưa được cấp phát gì hết.
Ở một khu phố ngoài bãi, điện đột ngột lên cao, hàng loạt nhà bị hỏng đồ điện. Không ai đặt vấn đề đòi bồi thường.
Đăng kể chuyện trên đơn vị: cả b trưởng, a trưởng cũng trốn.
Càng tiếp xúc với những người lớn tuổi, càng nghe họ kể một cách khách quan công việc của họ hồi chiến tranh, tôi càng thấy ngày hôm nay hỏng thế này là tất nhiên, làm sao khác được.
Một ông thợ nề kể đi làm thuê, 10 người có 3 người được tốt, còn toàn là không ra sao. Đầu tiên, có gì chủ cũng mang hết cho thợ. Sau thì xoay thợ. Cũng một phần vì nghèo quá, có gì đã xả láng hết từ đầu.
Báo chí có một vài bài (ở những góc nhỏ) nói chuyện không đổi tiền, giá gạo sụt 1 đ.
14/1
Ngô Thảo nghe ở đâu về kể ở Thanh Hoá- Nghệ An, khi cán bộ mang phiếu đi đong gạo, thì cửa hàng gạo nhà nước phát cho mỗi người 36 đ, bảo đi mua gạo ngoài mà ăn. Các trường đại học trung cấp ở hai tỉnh đó, cho sinh viên nghỉ vô thời hạn.
Thanh Hoá, Bỉm Sơn, có một vụ giết người như sau:
Hai người bạn cũ. Một đi học kỹ sư ở nước ngoài về, một ở nhà đi bộ đội, rồi về làm bảo vệ ở một công trường (?)
Anh kỹ sư đến lĩnh hoặc xin gì đó. Người bảo vệ không cho, còn giết luôn cả người kỹ sư kia. Công nhân kéo đến bao vây. Bọn bảo vệ ở trong nhà doạ nếu ai vào sẽ bắn chết.
Bọn công nhân liền lấy đá lấp đầy chung quanh ngôi nhà bọn bảo vệ, chôn sống gần chục người trong đó. Họ làm từ 1 giờ đến 4 giờ thì xong. Công an không dám can thiệp.
Cô Oanh em tôi kể về một bà làm y tá ở Viện Việt Nam- Cu ba. Bảo bà sang bệnh viện Bạch Mai lấy máu về tiếp cho một bệnh nhân, bà đi.
Đến giữa đường, thấy có một ô tô sang Đông Anh, bà nhảy lên luôn, sang mua một ít khoai tây. Trở về nhà người ta hỏi, bà bảo Bạch Mai không có máu.
Thực ra, chờ bà không thấy về, người ta đã cử một người khác, đi lấy về rồi.
Bà nghe vậy thản nhiên, quay ra, bảo mọi người.
- Có ai chia khoai, lại đây!
Thế là tất cả lại quây cả lại, lấy khoai.
Bà ta khuyên bọn Oanh:
- Các em nên vào đây, người có chết còn không sao. Xin vào làm ở Việt Xô, các ông to chết, mệt lắm.
Giá báo Nhân Dân lên 1 hào (từ 15/1). Cà phê đen mậu dịch 1 đ (năm 1976, hai hào) mỡ hơn 30 đ một kg
Ở Hải Phòng ăn cắp ghê gớm. Người ta đổ cả hàng bao đường để lấy mấy miếng vải.
Giá xe đạp ở Hà Nội tăng. Lý do: ở các nước Đông Âu, giá hàng nhiều thứ tăng gấp đôi. Nam Hà, Thái Bình, đời sống khó. Không có dầu để chạy máy. Không có đạm bón cho lúa.
Bên Trung quốc, nay người ta không dùng tới khái niệm xét lại nữa. Lý do 1/ Việc Liên xô làm, Trung quốc này vẫn làm và còn làm ghê hơn 2/ Trung quốc không đặt ra vấn đề lý tưởng nữa. Vấn đề đặt ra ở Trung quốc bây giờ là làm gì có ích cho Quốc gia ( ai đó hình như W. Durant từng nói, các dân tộc sống thản nhiên bên cạnh hệ tư tưởng)
Ngày chủ nhật 27/1/1980 (10 tháng chạp năm Mùi) Hà Nội 240 đám cười.
Họ sợ sang năm, năm Thân.
Sau khi đẩy lùi chế độ cũ , Lào có nhiều cái làm khác Việt Nam :
- Mở cửa cho hàng Thái Lan qua
- Vẫn dùng cán bộ của chính quyền trước
Một ngưòi hay xem ti vi về đối ngoại: Mình nói về Comecom luôn đấy. Nhưng có lẽ không nhả cho nó cái gì, nên chả được cái gì.
Tháng giêng, ngày cuối cùng 31, mới được nhận lương. Tiền mới toanh. Lạm phát.
Ở Trung quốc, sinh viên đại học biểu tình chống quân đội, bởi cho là họ được hưởng quá nhiều quyền lợi
Cách nói đương thời:
Lý tưởng = cái tưởng như có lý.
Lương y là dì ghẻ.
Các cơ quan lập ra một uỷ ban chống tiêu cực. Nói như Xuân Tùng : Đó là những người tiêu sướng.
Câu hỏi của một sĩ quan Pháp khi Đức chiếm đóng Paris: Phải chăng lịch sử lừa dối chúng ta?
Một thượng tá CA lên đại tá bỏ 4000đ để chiêu đãi. Mở 2 két rượu quý, loại rượu Sài gòn, mua ngoài 250đ 1 chai. Trong số khách đến, có một cô gái Sài Gòn cũ, xinh xắn, nhiều quan khách cứ đòi hôn cô ta. Cô tâm sự với người bạn cùng đi:
- Em cũng không biết các anh là Việt cộng thật hay Việt cộng giả nữa.
Tất cả cười ồ lên, coi là một câu đùa ý vị.
Đạo diễn Ý Fellini
Người ta bảo với chúng tôi rằng tôi là một dân tộc vĩ đại nhất và hạnh phúc nhất. Chúng tôi tin ở điều đó, kết cục không còn biết gì về các dân tộc khác, cũng như về bản thân mình.
Hiện ở Hà Nội có khoảng 50 gia đình đặc biệt, mỗi gia đình có 400.000 đ tiền mặt.
Nhân viên đường sắt đi buôn, công an đường sắt lo khám chủ yếu đám nhân viên đó. Cứ một quãng lại phải thay người tăng bo, không cho họ áp tải suốt đường.
Bộ đội như Dũng, trốn về từ 23 tết, dọn nhà, xong chạy lung tung xin việc làm làm lấy tiền tiêu tết. Nó bảo kiếm lấy vài hào (giờ hào để chỉ đồng)
Năm 1980, chỉ nhập đủ dầu để thắp đèn ở nông thôn.
Một sinh viên đói quá, không dám ra đến đường, sợ thấy hàng quà thì thèm.
Các cơ quan thi nhau lấy xăng nhà nước mang bán lấy tiền, đi mua lợn ăn tết.
Ở Nghệ An, ông Trương Kiện đào một cái đập gì đấy, chết mấy chục người, vẫn vào trung ương. Đại hội Đảng bộ tỉnh, số phiếu đứng thứ 37, lại vẫn làm bí thư. Nhưng lúc bầu thường vụ không ai chịu cùng làm thường vụ với ông ta. Trung ương phải thay.
Giải bóng đá hạng A toàn quốc, lần đầu tổ chức, thì xảy ra chuyện xcăng đan -- đội Thể Công tẩy chay. Bắt cầu thủ cắt tóc ngắn, họ không cắt, lại còn tuyên bố: Đào tạo 11 cầu thủ chúng tôi còn khó hơn 11 bí thư tỉnh uỷ.
Người ta tức quá, định tống cả bọn đi biên giới.
Tên một tác phẩm của Ortega y Gasset : sự nổi loạn của đám đông.
Giá hàng tết tăng, một cái bánh chưng khoảng 15-20đ. Tiền về muộn, mãi mới thấy cán bộ nhà nước xếp hàng đi mua hàng tết, trong khi mấy ngày trước ê hề không ai mua
Ai đó bảo câu thơ Chào 61 đỉnh cao muôn trượng là để chỉ đời sống không bao giờ lại còn sung sướng vậy!
Nhà Ân, 11g đêm mới có điện, 5 giờ sáng thì tắt.
Rét quá, không làm được việc gì.
Bích (bạn Oanh ) kể:
- Cả lớp tích cực. Lao động đạt 300%. Vào Lâm Đồng (đường chim bay cách Đà Lạt 50km). Nước độc hơn nước cống Hà Nội(?), chỉ có 1 giếng dùng được, cách 5km. Học sinh hư, chỉ mong đuổi học về đi kiếm ăn. Tặng hoa cô giáo 20-11 xong lại đòi lại. Không có đài báo, chỉ có thư. Ra thị trấn nghe đài đã thấy thích.
Xuể: Tôi vào Bảo tàng Nam Đàn... Trong khi tôi co ro trong bộ quần áo rét rất dầy, áo bông khăn len, thì trẻ con cởi chuồng, mặc một áo mỏng, đứng trông xe. Giám đốc Nguyễn Sĩ Thoán gầy như một bóng ma ngồi đó, trong tiếng đều đều của đài, đưa lại bài phát biểu của một ông trên. Đầu giường ông giám đốc là cuốn Không được đụng đến Việt Nam của Nxb Quân Đội
Ở Nam Đàn, một vụ mỗi khẩu được chia 7kg thóc. Để ngậm cũng không đủ.
Tôi lên biên giới công tác, ốm. Lính bảo, hàng tháng nay chúng em không có đường, biết chạy đâu ra đường cho anh ăn cháo bây giờ.
Một tay cần vụ ở báo QĐND còn hưởng tiêu chuẩn cao hơn một ông đại tá ở biên giới.
Ông Ph. H, bí thư Nam Hà, 60 tuổi lấy vợ 2, đám cưới tổ chức 10 ngàn (?) xong, tổ chức cho vợ lên Đà Lạt chơi, lấy cớ là đi thăm vùng kinh tế mới. Định sang Cămpuchia, nhưng bị công an giữ lại.
Ông ta làm một ngôi nhà rất đẹp. Dân có ca dao:
Ai về thăm đất Nam Hà
Mà xem con khỉ có nhà bê tông
Khỉ ơi khỉ có biết không
Ta đây là chủ, mà không có nhà.
Nhuận bút bài Một nhành xuân của Tố Hữu (Nhân Dân tết 1980) là 500. Mới đầu bọn Ban văn nghệ định đưa 120 ( bằng cách mua lên một đôi gà thiến), nhưng ông Hoàng Tùng bảo cứ 500 và đưa tiền mặt.
Rồi lại lên ti vi, lên đài, chỗ nào dùng đều có tiền.
Ông Trần Lâm lên gặp phải mang theo băng ghi âm. Sợ trong khi báo cáo cấp trên, có gì thất thố chăng?
Sau bài viết Một nhành xuân ấy, Đài tiếng nói VN cử một tay biên tập cứng là Trần Mạnh Thường viết bài bình luận. Thường viết xong được khen và người ta định đưa hắn lên tivi. Thường xấu hổ, không muốn. Lãnh đạo bảo, các cậu khiêm tốn thật. Việc mình làm được, không việc gì phải khiêm tốn. Vậy cứ lên tivi đi.
Người ta không thể hiểu là Thường xấu hổ vì những cái đã viết.
Vũ Quần Phương bảo đúng là thế hệ trước không thể hiểu nổi thế hệ sau.
18/3
Giá vàng lên. Một ngàn đồng được hơn hai đồng cân vàng. Giá báo Văn nghệ từ 2 hào lên 3 hào rưỡi. Giá vé máy bay từ 120 lên 220.
Một anh bạn trong cơn mê... nhà, kể rằng để dành được 10.000 thì giá nhà đã lên 15.000. Ma Văn Kháng bảo giờ có tay nhà ở Hà Nội đã đủ, lại đang tính nhà ở Nha Trang để nghỉ.
Đoàn Công Tính bảo, nay là lúc không ở đâu giá ô tô nhà lầu rẻ như nước mình.
Quân kể hai nhận xét của các chuyên gia Đức:
- Ở chúng mày hình như không có luật đi đường. Hình như thằng nào bóp còi to, thằng đó được.
- Nhưng mà tại sao con mắt mọi người vẫn ánh lên một cái gì đấy?
Tôi bảo : Còn gì nữa, đó là lòng ham sống.
Sống ở Hà Nội bụi mù trời, xe đạp kẽo kẹt trên đường vẫn cố đẩy lên, tranh nhau cãi nhau, giành chỗ, xếp hàng, kiếm lấy một cái áo đẹp...
Bên cạnh những lúc chán ngán, nhiều lúc nhiều người vẫn muốn kêu lên:
- Thật may là còn sống còn được làm người.
Muôn năm, muôn năm cuộc sống! Chiến tranh đã lùi xa. Ngày mai ra sao ư - kệ nó!
Một người vào miền Nam kể:
- Một gia đình bình thường, làm cho mậu dịch một sản phẩm nhỏ - ngòi bút viết. Sau ba tháng thu 50 ngàn.
- Một khu công nghệ nhà nước, vốn 700 triệu, nhiều năm lỗ vốn, mãi 1979 mới lãi 3 triệu. Trích ra 25 vạn làm tiền thưởng.
Tết ở Sài Gòn. Người ta buộc vài chục bánh pháo sau xe hon - đa, phóng xe, đốt pháo rầm trời.
Sao khi chuyển sang cái nhà xuất bản Tác phẩm mới này, tôi tự hỏi sao phải nghĩ về VNQĐ lâu thế, như xưa phải nghĩ về mấy bạn gái mình thì yêu mà họ chê mình vậy. Sau nghĩ ra:
- Chỉ vì ở cơ quan dân sự này hàng tháng không được chia mấy cân thịt như cơ quan cũ.
Thuốc lá sợi trộn lẫn nhiều lá sắn, giá thuốc sợi 10, giá lá sắn 4.
Lâm Quang Ngọc kể cả nhà quấn thuốc, 1 tháng được khoảng 300.
Ông Kiên kể: Đang đi đường, đến một quãng lội thấy người xúm lại rất đông. Những thanh niên quần bò áo bay cũng đứng lại, mò mẫm. Xe ô tô qua cũng kệ. Tại sao? Vừa có một xe chở đá lửa đi qua, đánh rơi rất nhiều. Đã có người nhặt được.
Một người cháu ông Vũ Tú Nam gãy tay từ Nam Định phải chở lên Hà Nội để vào nhà thương. Vì Nam Định không có bột để bó.
- Tại sao các cửa hàng thiếu mì sợi. Vì xe ô tô không chịu chở loại hàng này. Họ không ăn cắp được.
- Các chuyến xe buýt trong thành phố phục vụ khách rất tận tuỵ. Vì nghề này, người ta bỏ tiền túi rất dễ.
Rau muống 1-1, 2 đồng một bó. Nhà nước không bảo đảm cung cấp hàng cho dân không phải cán bộ. Dân chỉ được phát bìa mua hàng có 3 tháng.
Cách dùng tiền: có gia đình bán hết các phiếu lấy 4000. Để làm gì? để cho 1 tổ hợp sản xuất vay, lấy lãi 10%. Một tháng gia đình thêm 400 cộng với 1000 tiền lương tạm đủ ăn.
Giá gạo đã lên 9đ một kg, ở Vĩnh Phú lên 10đ.
Ở Cửa Nam có một thanh niên giết người vì mấy chục bạc.
Lúc xử tử hắn, bố mẹ anh chị em sụt sùi. Hắn giậm chân hét lên “Các ông các bà có im đi không. Sống với chết cũng thế, việc gì mà khóc”
Ở khu Kim Liên Trung Tự, trước kia những vạt đất giữa các nhà đều cấm tăng gia mà giành làm nơi cho trẻ em chơi.
Nay người ta cuốc bật cả nền gạch lên để trồng rau.
15/4
Tôi đến cơ quan. Ông Vũ Tú Nam ốm. Ông Phó giám đốc Mãi đi lên Vĩnh Phú tính chuyện xin giấy (từ đầu năm tới nay chưa ra một quyển sách nào). Ông Nguyễn Kiên đi Campuchia. Lương tháng 4 chưa có. Nhuận bút, tạm ứng chưa có. Lại Nguyên Ân con ốm mấy ngày, vẫn phải đi Vĩnh Phú.
Xuân Quỳnh kể Vũ có một truyện ngắn được giải, trị giá 100đ. Quỳnh đi vay trước, giả bà Khánh 50đ. Còn 50 đ, về 20 đ mua cây tre để với tấm giấy sơn cũ, chữa lại mái cái lều; để riêng 30đ làm cơm mời thợ.
Đi mua 1, 5 đ cà phê về, con làm đổ, đánh con một trận, sau lại hối hận.
Yến kể Hảo (nhà cô Ch.) vào Sài Gòn lái xe chở hàng sang Campuchia (lính vận tải) không có tiền, vay một người 300 để buôn, trả xong nợ còn 300 lãi gấp đôi. Từ đó cứ đi về đều.
Một thiếu uý mang về cho ông bố ở nhà 200 ngàn đồng. Chắc nhiều nhà văn lại tiếc, sao lại đi viết văn!
Hà kể một phiểu Tôn Đản mỗi tháng được mua theo giá rẻ 3 cân thịt, 3 cân cá, 2 cân đường, 20 quả trứng, 1 tút thuốc. Ngoài ra còn bánh kẹo, rau, xà phòng, dép, vải vóc (Cả nhà có thể bấu xấu vào đấy.)
Phiếu đề ông Thông loại Văn nghệ sĩ tiêu biểu, cỡ ngang thứ trưởng. Những người được phiếu cùng đợt là Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Văn Bổng.
25/4
Xã luận báo Nhân Dân nói đến chuyện ở Hà Đông, một hội trường 800 người đúng lúc đưa vào sử dụng thì bị sụp. May mà do cụ Tôn Đức Thắng chết, người ta tạm không sử dụng mấy hôm, nên không ai việc gì.
Ở Hải Phòng 1/3 hàng bị ăn cắp.
Công nhân coi kho dùng dao chặt bánh xe đạp của khách gửi về qua cảng, chỉ cốt lấy mấy cái may ô quấn quanh xe. Hiện trên phải đưa lính về thay công nhân.
Tổng kết về các vụ ăn cắp, đẩy hàng trên tàu Thống Nhất: 40% trong nội bộ ngành (nhân viên đường sắt, có cả công an)
30% cán bộ
Chỉ 3% lưu manh chuyên nghiệp.
Ở Hà Nội nghề quấn thuốc lá ế ẩm. vì... thuốc ngoại rẻ hơn thuốc nội. Bảy hào một điếu More
Hàng mang từ nước ngoài về. Để rút vàng ra.
Ở Thái Lan, Mỹ bán hàng theo lối bán thật rẻ. Nhưng phải trả bằng vàng. Thế giới người ta đang tích luỹ vàng, sợ chiến tranh lạnh trở lại.
Một ngày ở khoa ngoại bệnh viện St. Paul, đón chừng 40 vụ đâm nhau mà bị thương.
Báo Nhân Dân 10-4 có bài kể: Ban tổ chức hội chùa Hương thường lấy tiền của khách gấp 5 -10 lần giá quy định. Cả một hệ thống tổ chức ở đấy trở thành một thứ cai thầu hung hãn. Có một thuyền học sinh xuống, theo giá vé, không có tiền hối lộ cho họ, họ không chịu chở, lại đuổi các em lên. Các em không lên, hai bên xô đẩy thuyền chìm, họ dùng mãi chèo đánh một em vào gáy chết ngay. Họ giam một cán bộ và một bộ đội trong 8 giờ liền.
14/5
Hình ảnh của một người trên báo chí, sách vở (và cả trong cái gọi là lịch sử nữa) với thực chất của con người đó, chẳng nhẽ lại có thể xa cách nhau đến thế hay sao?
Nixon có loạt bài trên Paris match bản dịch được đăng lại trên Bản tin tham khảo cuối tháng 4.
Chiến tranh thế giới thứ ba đã được chuẩn bị ngay từ đại chiến thế giới thứ hai. Stalin chiếm đất. Tây Âu phụ thuộc Trung Đông. Liên Xô tiến vào đó Afganistan Nam Yemen.
Ở châu Phi, tất cả chính phủ mà Liên xô ủng hộ đều là bọn tham tàn, không đếm xỉa gì đến đời sống trong nước, miễn là họ nghe theo Liên xô, là Liên xô ủng hộ họ.
Nếu để cho các dân tộc tự nguyện lựa chọn, họ sẽ không lựa chọn chủ nghĩa cộng sản.
Các đại sứ luôn luôn than phiền với tôi: người Nga rất hay nói dối. Nói chung là họ hành động không chịu một ràng buộc nào hết. Một châm ngôn quan trọng của Níxon: Không bao giờ nên nghĩ rằng có một việc gì mà mình không bao giờ làm.
Những chuyện hình sự:
Một ông già thấy trộm vào vung dao đuổi trộm, nhặt được mấy ngón tay.
Mấy hôm sau có hai người xưng là công an vào, hỏi han sự việc, mời cụ lên dồn, kể cho rõ. Cụ đi 2 ngày không về.
Cụ bà ở nhà, tự nhiên có một người đến chơi, tự xưng là người quen cũ, lâu lắm mới lại thăm cụ ông. Chờ mãi không thấy, khách cáo xin phép ra phố một chút, gửi tạm chiếc ba lô. Khách không quay trở lại. Cụ bà bồn chồn, lên báo công an. Công an đến giở ra, trong ba lô: xác ông cụ.
Có khác gì chuyện Thuỷ Hử?
Một người đàn bà, thấy người khác bị móc túi, cố nói to lên, giữ hộ.
Tên ăn cắp lủi mất. Lát sau, có 2 thanh niên lên xe. Hắn chen vào sát chị đàn bà:
- Chị tốt bụng nhỉ!
- Chị thương người quá!
- Nhân hậu ghê cơ!
Hắn đưa tay lên vuốt má người đàn bà. Máu chảy ròng ròng.
Trong những ngón tay hắn, có kẹp manh xơ lam.
Thịt lợn lên 40đ 1kg
Gạo hôm 1/5, do chuyện cắt gạo, lên 10đ5-11đ. Nhưng rồi lại tụt 7,5-8đ
Chung quanh chuyện gạo nước, cả xã hội ồn lên vì thèm muốn và bất lực.
Nguyên từ mấy tháng trước, đã thấy nói sẽ phân phối lại lương thực. Chỉ cán bộ nhà nước được ăn 13kg. Ngoài ra người làm ngoài, có gì cung cấp nấy. Vì nhà nước cũng phải đi mua bằng giá ngoài.
Đồn rằng đã có đủ loại Nghị quyết chỉ thị Thủ tướng. Tất cả cảm thông. Nhưng chỉ sau khi có quyết định thi hành ở Hà Nội một ngày, phải hoãn ngay. Người ta phản ứng quá.
Ph bảo:
- Thế nào là phe? Bán mấy bao thuốc lá ở đường chăng? Người đó là ai, là mẹ, ta , chị ta. Bọn phe lớn bây giờ nó buôn bằng ô tô cơ. Lấy xe Von-ga đi chở hàng, mới hiệu nghiệm chứ. Cánh phe phẩy vớ vẩn ngoài phố, vợ con cán bộ đó, có việc và bảo đảm đời sống cho họ xem, họ bỏ ngay.
Anh tưởng truy đuổi phe phẩy thế là công bằng à ? Còn có một chuyện bất công lớn hơn . Bộ máy xí nghiệp nhà nước nhiều chỗ bất lực, không làm ra sản phẩm cho xã hội. Lương thấp thật, nhưng lại là cao quá, so với kết quả lao động. Rộng hơn chuyện một chính sách -- người ta thấy hoang mang, từ nay, đâu là phải trái, sai đúng bây giờ. Chính trên cũng thấy là nhiều chính sách đã sai quá nhưng không sửa được gì. Và từ nay, còn hòng làm được việc gì!
Trên bảo: có 1,5 triệu đảng viên. Có cậu nói quá lên bảo phải đến 0,5 triệu hỏng, đuổi ra khỏi Đảng cũng không tiếc, miễn là đảng trong sạch.
Tôi nghĩ thế còn trình độ ? Trong sạch làm sao có thể tách rời trình độ. Vì sự dốt nát đẻ ra không trong sạch.
Một người nói: Dân mình tốt quá. Ở nước ngoài thiếu cà phê nó đã biểu tình.
Ông Phương Lựu: một loại dân thíếu cà phê biểu tình, nhưng về vẫn làm ăn hết sức; và một loại dân không nói gì, nhưng về không làm, lười biếng, đục khoét,-- anh chọn đằng nào?
Dân Việt Nam có chỗ dữ của nó chứ!
Từ 6/80 có công văn giấy 1980 giảm 28%
Chuyện gạo:
Cụ Hồ gạo một đồng ba
Cụ Tôn chậm chạp gạo ba bốn đồng
Bây giờ ông Duẩn ông Đồng
Gạo bẩy tám đồng, giá vẫn còn hơn.
Có thể trong năm 1980
- Lặng lẽ cho bộ đội về, vì quân quá đông.
- Không tuyển sinh vào đại học, tuy vẫn tổ chức thi và báo điểm như thường.
Phương Lựu: Cũng phải nghĩ tới chuyện đó đi thì vừa, chứ cứ đào tạo thế này để làm gì?
Một chuyên gia Liên xô hỏi Bộ Văn hoá:
- Hà Nội không có chỗ nào vui chơi công cộng. Vậy thanh niên các anh tán tỉnh nhau ở đâu?
- Tìm hiểu trong lao động.
- Thảo nào mà năng suất lao động của các anh tồi vậy
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 (kỳ II)
Ngày 26 tháng 2 năm 2024
Nhật ký hậu chiến.
***
Lời dẫn
Mấy năm 1979-1982 quả là đặc biệt trong đời sống xã hội, nên mặc dù chỉ quen ghi chép về các sinh hoạt trong giới văn học, trong năm ấy, đôi lúc – nghĩa là tùy hứng - tôi cũng thường “vào sổ” các sự kiện hàng ngày được nghe được biết trong sổ tay.
Tôi ghi một cách thật gọn và không kèm theo bình luận. Còn chính xác đến đâu thì quả thật không biét và đến nay lại càng không biết.
Lọc lại một số đoạn ghi năm ấy như bạn đọc sẽ đọc dưới đây, tôi hiểu mình thực ra vẫn chỉ làm việc theo hướng suy nghĩ lâu nay, -- mong từ cái nhỏ hiểu ra cái lớn và lấy quá khứ để giải thích hiện tại.
---
16/6
Phổ biến một nghị quyết mới, có các nhận định
- Người ăn lương đã đến mức không thể chịu được nữa.
- Chống tiêu cực, không chống nổi.
- Ta đầu tư vào xây dựng cơ bản quá nhiều. Nhiều công trình đắp chiếu nằm đấy, khi xong cũng đã lạc hậu.
- Sẽ gần như không chiêu sinh đại học thời gian tới. Học sinh hết lớp 10 chuyển về nông thôn, vào vùng B2 cũ, đi xuất khẩu lao động.
Trích từ Cuộc chiến đấu của tôi (Mein Kampf ) của Hitler
“Phải làm sao để cho tất cả những cái được in ra, từ vần vỡ lòng cho trẻ em tập đọc đến tờ báo hàng ngày, làm sao để cho tất cả sân khấu, điện ảnh cho đến một cột áp phích -- đều phải phục vụ cho cái sứ mệnh duy nhất và cao cả là lay chuyển những bộ óc sống động của dân tộc chúng ta, cho đến khi lời cầu nguyện nhát sợ mà các Hội những người yêu nước của chúng ta hướng lên trời “Lạy chúa, xin cho chúng con được tự do” trong đầu óc mỗi đứa trò nhỏ nhất , sẽ biến thành lời cầu nguyện chân thành này:” Lạy chúa hãy ban phuớc lành cho cuộc chiến đấu của chúng con.”
Ông Nguyễn Kiên: Nhà tôi ăn cơm chỉ có tương và cà. Tương có thêm thìa đường.
Một ông chú của Quân ở quê ra:
- Văn nghệ các anh bây giờ toàn trừu tượng.
Báo Nhân dân ngày 17-6 trong mục bạn đọc viết, nêu 3 việc:
1. Nhiều người khai man về lương thực
2. Một xe lửa ra khỏi Vinh 2km thì... đỗ lại để cho con buôn vứt hàng lên tàu. (Hôm nọ, đã có chuyện: nhân viên nhà ga, mang xăng lên tàu, để xăng cạnh bếp, xăng bốc cháy, cả một toa tàu đi đời)
3. Công ty san nền chở thuê cho xí nghiệp Chùa Bộc một số than. Không có tiền lót tay cho lai xe họ không chịu chở. Bàn đưa tiền này cho công ty san nền biến thành tiền thưởng. Công ty này làm một thời gian, lại không chịu, xui lái xe đòi tiền tiếp.
Chị M. hàng xóm kể : Một bà ở cơ quan có một đứa con gái chủ nhật nào cháu cũng dậy sớm, khăn áo chỉnh tề, vào thăm Lăng. Dậy sớm, mệt, bụng đói. Nhưng cố đi để tha bằng được một cái bánh mỳ về nhà gặm ăn, và sung sướng vì đã kiếm ra tiền.
Nhiều nhà, trẻ con rất hay xếp hàng thăm Lăng (phải ăn mặc rất đẹp) cũng là cốt để mua bánh mì rẻ. Ba hào một cái.
Oanh kể: Nhiều người bán máu ở các bệnh viện. Nay máu họ kém quá, bệnh viện không mua nữa, họ cứ ngồi đấy, bắt mua. Vì họ quen tiêu rộng rồi.
Các nghề ở mỏ đều sớm hủy hoại con người. 30 tuổi không lái xe nổi nữa. Người yếu, mắt kém. Năng suất không lên được. Bữa cơm công nghiệp của công nhân nhà nước cho 5 hào. Mua được 5 của khoai tây luộc.
Hiền con ông Thảo kể lớp nó phá hết bàn ghế rồi. Mang dao bầu đến phá. Phi dao găm cho nứt bảng ra. Khênh bục đi. Bây giờ tất cả lấy dép ra ngồi đất học, thày phải kiễng lên mới viết nổi lên bảng. Mà có lần học trò vẫn dùng gạch ném lên cửa kính, choang lên một tiếng, mảnh vụn bắn cả vào người thầy.
Tôi kể Hiền nghe chuyện ông Kháng đã kể cho tôi mấy hôm trước. Thầy gọi một cậu đọc bài, nó đứng đực ra rồi hạ một câu xanh rờn:
-- Thôi ông cho điểm 1 đi, tôi về.
- Lớp cháu cũng thế, Hiền nói.
- Rồi lúc thầy quay ra viết bảng thì ném phấn lên đầu thầy.
- Lớp cháu cũng thế.
-- Rồi, sau khi thày xỉ vả cho một hồi, lại viết tiếp thì một tiếng huýt sáo vang lên. Ngoảnh lại hỏi, không ai biết.
- Lớp cháu cũng thế.
Yến kể: có những bọn học sinh bỏ sang Lào. Hoặc bỏ lên biên giới (y như hồi trước 1945), sau lại về. Nhà trường không dám đuổi.
Tôi hỏi Hiền:
- Lớp có kính trọng một thầy nào không?
- Có. Có một thày mới dạy hộ một vài giờ, nhưng chúng nó rất quý, vì khi dạy, thầy bảo: Tôi sẽ dạy các em những điều người ta viết trong sách. Tôi phải làm thế. Còn thực tế ngoài đời như thế nào, các em đã biết.
Nguyễn Minh Châu: Người đời bây giờ, có cái đặc tính là gian manh. Có người càng giàu càng gian manh, có người càng nghèo càng gian manh. Càng lên to càng gian manh, càng bị chèn ép cũng gian manh. Càng trẻ càng gian manh, càng già càng gian manh.
8/7
Ông Nguyên Ngọc ( Bí thư Đảng Đoàn Hội) phổ biến một số ý của ông Lê Đức Thọ.
Ta không ngờ khả năng quản lý của ta lại kém đến vậy. Kế hoạch lung tung. Có 7000 công nhân máy kéo. Mà đi nhập một lúc 70.000 máy (ở các nước, 3 công nhân một máy kéo). Nhà máy đường Vạn Điểm năng suất 20 vạn tấn/năm. thực chất chỉ làm được có vài vạn tấn. Vì không có mía.
Giá thu mua mía 6 xu 2/1kg, rẻ quá người ta không làm. Nhà máy đường trình quy hoạch lên trên 10 năm nay chưa được thông qua. Thuế nông nghiệp thất thu 50%. Giáo trình của trường tài chính 20 năm nay không đổi. Cán bộ (cả trung cao cấp) mệt mỏi, hưởng lạc. Thông thường, hiện nay, cán bộ dưới giỏi hơn cán bộ trên.
Ông Châu ghé tai tôi: Làng tôi, buôn cả đô la. Bọn con gái chỉ huy được cả lái tàu, bắt đỗ đâu, phải đỗ đấy.
Về chiến tranh ở Cămpuchia hiện nay (vẫn lời ông Thọ) ta không thể chủ động như trong chiến tranh giải phóng. Thương vong trên mặt trận Cămpuchia một ngày tính bằng con số hàng ngàn (?)
Sao con người mà tôi biết được trong sách vở phương Tây ghê gớm thế, mà con người trong cuộc sống của tôi bây giờ vớ vẩn thế.
18-7
- Cơ quan Hội Liên hiệp VHNT không có thuốc phát cho anh em.
- Xà phòng mậu dịch từ 0,7 lên đến 3,5đ
Bà Hoàng Thị Đậu theo thuyền vượt biên không thoát, bị bắt về Hà Nội. Người ta báo cho cơ quan cũ đến thăm, không ai dám đến. Ông Phong Lê, bà Vân Thanh, bà Chu Nga xin thế vào xuất ấy. Ông Phạm Huy Thông (Tiếng địch sông Ô) và ông Hoàng Trung Thông (Mà vẫn mênh mông bát ngát tình) đều lớn tiếng phê bình: sao lại nhân đạo chung chung thế. Nhỡ bà Đậu là gián điệp thì sao?
26/7
Mưa bão. Nhiều cây đổ trên các ngả đường. Dân ra cắt ngay, Cty công viên khỏi phải dọn.
Mất điện 3 ngày liền. Mất luôn cả nước, trong khi đó mưa vẫn to. Có nhà đục ống máng ra, lấy nước. Có lẽ nhà ấy nuôi lợn.
Sau bão, có thông báo: các khu phố cử một ngày có điện, lại một ngày mất điện (không kể hàng ngày cả thành phố cắt từ 5h sáng đến 6 giờ chiều). Thư viện Quốc gia vắng teo, vì không có điện. Ngày hè mà 5h30 chiều thư viện đã đóng cửa.
6/8
Những ngày cả nước “rồ” vì Phạm Tuân:
- Cho Phạm Tuân huân chương Hồ Chí Minh hạng nhất (tướng Giáp. chỉ được hạng ba)
- Sẽ làm cho cả nhà cửa.
- Một cô phóng viên bảo Phạm Tuân, anh có thấy không, trong 35 năm từ sau cách mạng tới nay, tám ngày vừa qua là tám ngày vẻ vang nhất của dân tộc.
Tính kể đi tàu từ Sài gòn đến Vĩnh Linh, lúc nào cũng có người mời gọi mua hàng tiền trong túi cứ chực nhảy ra thôi. Còn từ Vĩnh Linh ra đây, không có gì để mua, không có ai mời mua, có tiền đi tìm mua cũng không nổi.
Tính bảo muốn biết nước mình ra sao, hãy đi tàu Thống Nhất một chuyến.
Ông Hạnh đi Liên xô về:
- Chưa bao giờ tình hữu nghị Việt xô gắn bó như hiện nay. Nhưng cũng chưa bao giờ giá trị người Việt Nam ở Liên xô hạ thấp như hiện nay.
Ông Phương Lựu: Ta đi với Liên xô phải thôi. Nhưng vì quá muộn, nên như đi ăn xin. Giá biết mà đi sớm hơn, cái tư thế sẽ đỡ hèn hơn.
Tất cả các điều được ghi trong hiệp ước Việt Xô không được thực hiện. Tại Liên xô chăng? Không, tại ta. Ta không chuyển gì về tổ chức cả.
Quốc (Viện Sử): Chúng ta bây giờ già nhanh vì 3 lý do.
1/ ăn uống kém
2/ không có thông tin. Trong xã hội ta, kẻ có kiến thức không phải là kẻ mở đường cho cuộc sống.
3/ không biết đối thoại (không thể giao tiếp với thế hệ trẻ)
Quân: cứ đà này, 5 năm nữa sẽ ra sao?
Đi hội thảo quốc tế về thanh niên. Trong khi ta còn nói nhiều về lẽ sống thì các nước khác nói nhiều về lối sống, ăn uống xe cộ quần bò áo phông…
Đại biểu Mỹ bảo: Những người quần loe, tóc dài bên tôi phần lớn tham gia chống chiến tranh ở Việt Nam. Đám đi lính lại cắt tóc ngắn.
Khủng hoảng của xã hội Thuỵ Điển là không có mơ ước.
Đăng:
-- Lính ăn 5,2 lạng một ngày. Chỉ được hơn 2 lưng, có thằng kêu 2 lưng không làm gì được nữa. Không đủ sức đẩy pháo ra khỏi nhà. Cán bộ cũng cáo ốm. Có mấy chục con lợn, lính giết cả. Để, lấy gì mà nuôi. Nó lại ăn tranh của người mất.
Ngô Thảo đi tàu chợ từ Vinh ra Hà Nội 3 ngày 3 đêm. Vì không có dầu máy. Không ai chịu trách nhiệm hết.
Trên tàu, 70% dân Quỳnh Lưu đi buôn; có một cụ già cũng đi.
- Cụ ở nhà, còn đi làm gì nữa.
- Chủ nhiệm cũ đây. Giờ con làm chủ nhiệm, mẹ đi buôn.
Ở Vĩnh Linh, có phong trào rời làng ra bãi cát, để lấy đất trồng trọt.
Gia đình thương binh liệt sĩ ở thấp nhất; gia đình trung bình ở giữa; cán bộ đảng viên ở trên cùng.
Một ông xây hẳn nhà gạch lên.
Bây giờ, đói, dân bỏ về. Chỉ còn trơ cái xác nhà ông đảng viên kia. Vợ con ông cũng bỏ về nốt (chung quanh không có cây cối nước non gì hết). Ba ngày vợ bới cơm cho ăn một lần.
Cơm ở Vĩnh Linh, tức là khoai.
Chi đoàn không giới thiệu con một đảng viên lên Đảng, vì 1/ bố nó là thằng tham ô, 2/ là phản động (đề ra nhiều chủ trương sai lầm làm cho dân khổ)
Cả xã Vĩnh Thái (?) bảo nhau vào Minh Hải, Thanh Hải gì đấy làm ăn.
Công trường cầu Thăng Long cứ bỏ đấy, không làm nốt được. Vì không có cán bộ để làm. Cả công trường không có lấy một chỗ uống nước cho công nhân. Chỉ có một vài quán phe phẩy. Công nhân không có gì ăn. Chỉ có ăn cắp. Ăn cắp 10kg xi măng trở lên mới bị bắt. Mà ăn cắp 5kg mới đủ sống.
Vừa rồi Ty công an đã cho bắt mười mấy người. Đại loại, một tay chuyên môn mua quang sọt cho công trường, ăn cắp khoảng 20 vạn.
Ông Hoàng Thế Dũng ở báo Quân đội hồi 63 bị bắt ra sao? Đang làm phó tổng biên tập thì bị xe chắn ngang đường. Bắt đi tù, sau đó 4 năm cho về cạo rỉ ở nhà máy xe đạp, được 4 năm nữa cho về nông thôn.
Gần đây, có người đến bảo ông không làm sao cả. Tự do. 6 tháng mới được phục hồi. Người vợ đã bỏ đi lấy người khác, con đã ly tán cả. Bây giờ về Thư viện quân đội.
Chuẩn bị lấy mấy chục nghìn lương trung tá từ đó đến nay.
Ca vè dân gian
- Ăn rau muống, uống nước ao, nói chuyện tào lao, bay vào vũ trụ
- Bay vào vũ trụ làm chi
Sao không lo gạo lo mì cho dân
Bạn Yến, cậu D. lấy một nguời vợ hơn tuổi. Gia đình không bằng lòng. Cứ lấy, tưởng sống độc lập được. Bây giờ vợ đẻ, cửa mình có mủ, dạ con có mủ, phải tiêm kháng sinh liều cao, người cứ cứng lại, hết sữa, con gửi về cho bà ngoại trông 17 đ một hộp sữa. Vợ nhớ con khóc mắt sưng húp. D. phờ phạc vì hầu vợ ngày nào cũng phải vào thay rửa cho vợ. Hạnh phúc và điêu tàn.
Báo cáo trong nội bộ:
- Từ đầu năm Hà Nội khoảng 80 vụ các cửa hàng lương thực ăn cắp.
- Phân bón tuồn ra ngoài
- Nhân dân cán bộ hoang mang, 80% đảng viên không làm công tác đảng là công tác quần chúng. Hà Nội định giảm biên chế 20% không làm nổi.
Một chuyên gia về ngoại thương Liên Xô sang Việt Nam
- Ở đâu buôn lậu ghê nhất
- Madagasca ?
- Việt Nam buôn lậu khác các nước ra sao?
- Nước nào buôn lậu cũng sợ cảnh sát cả. Riêng Việt Nam buôn lậu không sợ cảnh sát.
Tính kể tôi đã thử buôn thuốc. Nghe nói thuốc cảm đắt lắm, trong kia đồng bạc một viên, ngoài này có một hào. Thế là mua một lọ, hơn trăm bạc. Vào kia, không ai mua cả. Hoá ra lỗ.
Ông Hồ Đắc Di bảo chúng ta đã thực sự tổ chức được một tình trạng vô tổ chức thật toàn vẹn.
Ý Nhi:
- Con tôi 5 tuổi đã biết bảo: Hồi trước sướng, má nhỉ.
Sự kiện Ba Lan cuối tháng 7 đầu tháng 8. Bãi công, đòi những người cầm đầu Đảng & nhà nước phải dần dần từ chức hết, kể cả Bí thư thứ nhất.
Không manh động, nên quân đội Liên xô không dám làm gì. Đưa ra 21 yêu sách thì 20 yêu sách rưỡi phải chấp nhận ngay từ đầu.
Bài của ông Kania, dịch in trên báo Nhân Dân ngày 17-9, mở đầu bằng những câu rất hay: Trong suốt cuộc đời theo Đảng của mình chưa bao giờ tôi thấy tình hình đất nước bi đát và phức tạp như thế này.
Kania có một nhận thức rõ ràng, chính xác -- dẫu sao, Đảng cũng chỉ là một bộ phận của dân tộc, Đảng không thể thông minh hơn dân tộc được.
Thực ra, toàn bộ tình hình Ba Lan cũng buộc người ta phải đặt vấn đề như vậy. Bản thân hành động tháng 7 vừa rồi, chứng tỏ giai cấp công nhân không chịu nhận Đảng làm giới hạn. Giai cấp công nhân còn thông minh hơn Đảng nhiều.
Giai thoại
Việt Nam bị Liên hợp quốc đuổi. Nằn nì mãi, nó bắt phải khai lại lý lịch.
Họ và tên: An Nam, tức Việt Nam
- Nghề chuyên môn: đi ăn xin...
- Anh em: Cămpuchia và Lào nhưng đều vô nghề nghiệp
- Sở trường: đánh nhau
- Mức sống: thấp nhất thế giới.
... Nếu ở lại, xin tích cực đóng góp vào việc thảo nghị quyết.
Một tờ báo Pháp
Nước Việt Nam luôn luôn nói theo chủ nghĩa xã hội nhưng họ lại hành động như chủ nghĩa đế quốc và sống như chủ nghĩa phong kiến.
Sinh ra trong nghèo đói, hiện nay đất nước đó lại đang hấp hối trong nghèo đói.
Ông tổng thư ký Liên hợp quốc họp báo ở Paris sau chuyến đi Việt Nam
Ở đây, khi lương người nhân viên bình thường, không mua nổi 2kg thịt 1 tháng thì không thể bàn về nhân quyền được. Miền Nam đó là một thuộc địa của Mỹ nhưng Hà Nội là một thành phố chuồng chim.
Nghề của tôi là đọc diễn văn và nhiều lúc tôi chán ngấy việc này. Nhưng ở Việt Nam, nhà cầm quyền được tiếng là kiên cường, không hề có việc gì khác, ngoài việc đọc diễn văn. Họ, trong lúc này, không biết lo cho dân họ việc gì cả. Trước đây ít ngày tôi từng phải tham gia một hội nghị chống di tản. Tôi không thích gì việc di tản. Nhưng đến Việt Nam lần này, tôi hiểu tại sao người ta di tản. Đó là cái cách duy nhất giúp cho người ta tồn tại.
Tôi hiểu 25 vạn người Việt Nam đi được nước Mỹ trợ giúp. Tôi muốn người Mỹ làm việc
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 (III)
Ngày 28 tháng 2 năm 2024
Nhật ký hậu chiến
***
Hai tàu thuỷ chạy đường Quảng Ninh Hải Phòng trốn sang Hồng Kông. Thuỷ thủ + công an thông đồng với nhau. Nhiều hành khách bất ngờ được di tản với giá vé 1,2đ
Trận bão số 6 - 1980 ở Thanh Hoá, 6 huyện bị lụt, nhà cửa mất 80%. Một cái cầu nhỏ, cầu Tào Xuyên, bị nước đe doạ. Người ta phải cho cả một toa tàu chở đá đến để giữ cầu.
Đột xuất kiểm tra xe ôtô Hà Nội - Hải Dương, khoảng 50 vé, thì 17 vé do nhà xe tuồn ra ngoài, bán lãi 15đ 1 vé
Trần Ninh Hồ được chia nhà. Do quen một người cùng làng, làm ở Sở nhà đất Sài Gòn. Tết cả nhà mình đến bỏ bom nhà nó, Trần Ninh Hồ cắt nghĩa.
Ông Ma Văn Kháng đi nhà máy dệt Nam Định về kể: 13.000 công nhân, 1.000 người ăn cắp. Ra cửa, khám nhau như thời Pháp.
Mỗi người chỉ lấy ngày 1 hay 2 con sợi cũng đủ chết. Cái đau nhất là một chiến sĩ thi đua 7 năm liền, giờ ăn cắp. Phải bù cho công nhân bằng cách bán vải bù cho họ, 5 đ độ 20 mét vải, ra họ bán ngoài.
Mới đầu chủ trương ai ăn cắp và nghỉ bừa, không được mua kiểu đó. Sau họ chỉ đề nghị: tha cho người nghỉ bừa
Lý do vỡ trận như vậy - Trả lương quá thấp. Vải làm ra, tiền lãi nhiều, lương chỉ đáng vài phần trăm, y như thời Pháp.
--Nghe kể Tỉnh ủy H N N đánh nhau. Bí thư Tỉnh đi vào Lâm Đồng thăm khu kinh tế, mang theo 3 vạn đồng tiền mặt, vài tấn đường, rất nhiều giò, thịt. Phó bí thư đi viện. Ở nhà, ban thường vụ tỉnh uỷ ăn cánh với nhau, cách chức một lúc 11 trưởng ti, gọi đến đàng hoàng bảo anh bàn giao (phe Ninh Bình đánh đổ phe Nam Hà); cả chủ tịch tỉnh, tay Soạn, mới lên 13 ngày, cũng phải đi Cămpuchia.
Thủ tướng Triệu Tử Dương: có thể sẽ phối hợp sự phát triển kinh tế với sự nghiêm khắc về chính trị, theo kiểu Đài Loan, Nam Triều Tiên.
10/10
Đâu cũng thấy tin đồn nhóm diễn viên Vân Khánh trốn đi nước ngoài. Họ lấy cớ đi biểu diễn, xuống Quảng Ninh rồi đi.
Trước đó, hai vợ chồng Vân Khánh giả vờ ly dị. Đến khoản chia gia tài, họ bảo: thôi, để bán đi, lấy tiền chia cho tiện. Có tiền, họ giải quyết được việc đi khá dễ.
Nghe nói một sinh viên ta từ Liên xô đi tham dự cuộc thi toán quốc tế ở Anh trốn vào đại sứ quán Anh.
Có người thông cảm: Thôi ai thoát được, may người ấy.
Một bài báo của Tây Đức về Việt Nam có cái tít nhỏ: Một dân tộc lêu lổng
Một bộ phim của Thuỵ Điển chiếu cho quốc hội của họ hồi trước, đã có nhan đề Một dân tộc không thể cộng tác. Nay lại có một phim khác mang tên Một dân tộc không thể khôi phục.
Ông Lê Văn Lương – thường trực ban bí thư -- đến hội nghị mừng công của nhà máy sản xuất quạt.
- Các đồng chí có nói thiếu điện và thiếu nguyên vật liệu. Về điện, tôi không biết nói thế nào. Tất cả cười. Ông nghỉ một lúc. Còn về nguyên liệu, các đồng chí chịu khó chạy lấy.
Ma Văn Kháng bảo y như một ông nông dân
Những việc liên quan kỷ niệm Nguyễn Trãi
Ông Võ Nguyên Gíáp nói về Nguyễn Trãi, y như nói về Cụ Hồ. Đoạn nói Nguyễn Trãi là nhà văn hoá, chỉ gợi ra được một chuyện Nguyễn Trãi làm văn.
Chọn nhầm ảnh. Nhân viên đưa ra một ảnh hơi mờ. Ông Hoàng Tùng bảo bên Hà Nội mới nó có cái ảnh rõ lắm. Sang lấy về in. Hoá ra ảnh Phan Thanh Giản. Báo phải xin lỗi và gọi chệch là ảnh Dương Khuê. Vì mình xưa nay vẫn ghét Phan Thanh Giản mà.
Một tay tâm thần ở chợ Hôm, cầm dao chém đứt đầu đâu 5, 6 người, bị thương nhiều người khác. Hắn cầm dao đi qua nhiều phố. Cho nên người ta tưởng là có nhiều kẻ đi chém bậy, lại đổ đi lùng một hồi.
Béc-linh-gơ (ĐCS Ý) – Theo tài liệu tham khảo đặc biệt
Trường hợp Tiệp Khắc -- Liên xô bỏ qua cơ hội thí nghiệm mở rộng dân chủ trong nội bộ các nước XHCN.
Trong chính trị, không có bản chất với hiện tượng gì. Những điều gì chưa xảy ra thì sẽ xảy ra, đang xảy ra.
Từ nay ĐCS Ý rút bỏ danh từ chủ nghĩa Mác Lê. Đảng chỉ thừa nhận lý tưởng và truyền thống văn hoá bắt nguồn từ tư tưởng Mác -- Ăng ghen và được đổi mới nhờ các tư tưởng của Lê-nin
Cái có thể học ở Mỹ là cách làm ăn có hiệu quả, óc mạo hiểm, một khả năng học tập cực lớn.
Nước Mỹ tiến một bước dài trong việc không còn đơn thuần coi triết học như một khoa học nhân văn nữa.
Các nước cộng sản không chỉ là cộng sản. Đó là những quốc gia với những sự xung đột nhau về quyền lợi, những sự kình địch nhau, thù oán nhau, những cách đào tạo về ý thức hệ và những sự cuồng tín riêng
Giáo hoàng: “Hãy coi chừng nếu tiếp tục sản xuất vũ khí thì rồi cuối cùng, người ta sẽ đem dùng nó đấy”
Chuyện thất thu
- Thất thu ở khâu vận tải hành khách trong thành phố khoảng 30%
- Thất thu ở khâu nhà đất. Nhiều người không nộp tiền nhà. Từ khâu cho ở, đến khâu có hợp đồng, có khi hàng năm.
Đối đáp trên đường
- Chị làm em mải nhìn, đâm cả vào xe người ta đây này.
- Mày có mê mớ rau muống của tao thì có!
Một người vào nhà Hồng. Bố mẹ Hồng đi vắng. Anh ta chỉ đứng ngoài cửa.
- Thôi, cứ đứng đây cũng được. Vào, cháu nó lại phải trông nhà, phiền ra.
27/11
Gạo lên 13 đồng một cân (giải thích – do lương cán bộ vừa được thêm phần phụ trợ). Guốc mỗi đôi lên một đồng.
Bác Hòa hàng xóm Thụy Khuê giữ trẻ 70 đồng một tháng.
Ông ngoại cháu Tú kể mỗi sáng mở mắt dậy lại sợ. Đường đường là một ông chủ nhiệm Hậu cần quân khu muốn gì có nấy. Nay về hưu phải trông hai cháu, trong đó có một cháu nhỏ 4 tháng. Lo cho nó từ chai sữa, múi cam.
Hai cán bộ công đoàn Đức sang VN, vào TP HCM quay ra tới sân bay Nội Bài. Xe đi đón hỏng, nằm ở Gia Lâm chữa, bắt họ phải ngồi sân bay chờ mấy tiếng. Về Hà Nội họ chỉ kêu: Cho chúng tôi uống nước. Uống xong họ bỏ về khách sạn, không dự chiêu đãi.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ tư. Đến ngày cuối cùng vẫn chưa biết ai sẽ làm chính khóa tới. Bọn tổ chức phải làm danh sách, nếu ông Đặng Quốc Bảo tiếp tục, cánh này sẽ làm; nếu người mới cánh kia sẽ làm.
Đại hội chính thức 3 ngày, nếu cả trù bị đâu 1 tuần. Trở về mỗi đại biểu được:
1 bộ quần áo comple, 1 va li rất nhiều sổ sách.
Trung ương Hội phụ nữ cho mấy chục ngàn.
Tổng công đoàn cho 30 ngàn.
Quân đội cho 1 triệu. Thả nào có tiết mục ông VănTiến Dũng đến trao cờ cho ông Đăng Quốc Bảo.
4/12
Từ khoảng tháng 10 (hay 11), vụ Đặng Thái Sơn nổi lên mạnh mẽ.
Dân ai người ta cũng thích, thích hơn cả vụ Phạm Tuân. Có lẽ vì Phạm Tuân, là chuyện Tây nó cho, mà đây là tài thật.
Một kiểu nói dân gian: “Chó nó cũng lên vũ trụ được, nữa là người.”
Nhiều người coi hiện tượng ĐTS là tài năng âm nhạc của dân tộc. Bằng Việt bảo hình như âm nhạc, ta còn có Trần Văn Khê, Nguyên Thiện Đạo, chứ mọi thứ khác có gì.
Khi nói về các khu vực văn học hay điện ảnh, mình cứ bốc nhau lên, chứ có đâu vào đâu. Còn khu vực âm nhạc mình bị bắt buộc phải theo Tây, cho nên dễ nên người hơn.
Theo Bằng Việt, nghe tiếng nhạc của Đặng Thái Sơn, thấy rõ một người rất tự tin. Và có cái chất riêng của tuổi trẻ. Nó cũng được tới trình độ của những Gilzburg, Oborin, Kogan đấy.
Tôi nhớ hồi mình 20, 22. Hình như vào tuổi ấy, con người cảm thấy mình có thể làm được đủ mọi chuyện, chỉ hích một cái, là cả thế giới đổi thay theo(!).
Bây giờ thì mất mất cái đó rồi, chỉ còn lo kiếm sống. Sự khiếp nhược đến quá sớm.
Từ lâu, đã nghe những chuyện xì xào chung quanh Đặng Thái Sơn. Ra có những chuyện xưa nay giấu. Sơn là con ông Đặng Đình Hưng, cho nên lúc được trường nhạc bên Liên xô nhận, vẫn không được đi. Sau bà Liên, mẹ Sơn phải lên nói với ông Đồng mới xong. Đến kỳ thi bên Ba Lan, Sơn cũng chưa được chú ý gì. Ở Liên Xô điện về nhà cho đi, Bộ ngoại giao+Bộ Văn hoá bảo không có tiền.
Sau ông Natason, thày giáo của Sơn bảo rằng nếu không ông ta bỏ tiền riêng cho Sơn đi. Bên nhà phải đồng ý vậy. Ở Ba Lan, Sơn cũng sống rất khổ.
Người khác đi thi, còn có cả gia đình đi theo. Sơn chỉ có một mình. Đến lúc vào kỳ ba, Sơn thiếu cả quần áo đàng hoàng “Nước mày sao khinh rẻ tài năng vậy” - bà giữ cửa khách sạn bảo vậy.
Vả chăng vấn để bảo vệ người cũng rất quan trọng. Ở một kỳ thi như thế này, trên thế giới, nó hại nhau là chuyện thường. Bà ta phải dặn Sơn là nhớ gõ cửa như thế nào mới mở cửa... Để tránh kẻ lạ v.v....
Trần Vũ Mai bảo căn bản là trong Chopin với tay Sơn này có những khía cạnh rất gần nhau. Gần là ở chỗ nào? Nước mình thường bảo mình anh hùng. Nhưng căn bản là đau khổ ghê gớm chứ gì? Đây là chỗ làm cho Sơn gần Chopin đấy. Một thằng thanh niên ở Mỹ, sống sung sướng giàu có, làm sao hiểu được Chopin.
Mỡ lên 40đ một cân. Ở Hàng Lược có đám cưới lo cho con gái 20.000đ (Riêng cho con 10.000đ để mua nhà). Mỗi bánh pháo 2,5m.
Cậu Cường gửi cho ông ngoại 100 khăn mặt mỗi cái bán được hơn mười đồng (bán buôn, bán lẻ có thể 12đ).
Ông Kiên, một cán bộ Đoàn cũ, cho rằng hiện nay ai cũng nhất trí ở chỗ là thanh niên có vấn đề. Thanh niên nó đang lảng ra, không gắn bó với Đảng- Nhà nước gì cả. Nó mê tín rất ghê. Tưởng là nó đùa chơi, nên mặc kệ. Hoá ra nó tin thật. Đang có sự khủng hoảng trên phạm vi toàn xã hội.
Khai tem phiếu 1981: 20 cột mục.
Báo cáo ông Trường Chinh tại kỳ họp Quốc hội 12 đại ý nói đất nước tuy thống nhất nhưng hai miền vẫn khác nhau. Dân ta không có thói quen tôn trọng pháp luật.
Những đứa trẻ trên đường Hà Nội lấy một cái chổi cùn, đốt lên để sưởi, nhưng reo ầm lên ô – lanh- pích, ngọn lửa ô - lanh - pích.
Một chiếc xe đạp phóng bạt tử qua ngã tư. Lúc tôi nhìn theo, thấy một cô gái, đầu để đôi bím kiểu 1960, nhưng mặc quần loe, xách cái túi lưới thưa, trong có tờ tạp chí Xây dựng Đảng.
Tạp chí Kinh tế Viễn Đông 7/12/80 viết: Kinh nghiệm của các nước cộng sản cho thấy nạn tham nhũng khó mà thanh toán nếu không phải là không thể thanh toán được; và theo ý kiến của một số nhà khoa học thì tệ đó thực sự là cần thiết để cho toàn bộ xã hội khỏi bị chế độ quan liêu của bản thân nó bóp nghẹt.
Sự khốn khó của kiếp người
Cách đây mấy tháng, ở chợ Hôm có một vụ đốt nhà giết người. Hai người hàng xóm ở cùng nhau, cùng là dân phe. A. đổ xăng ra nhà, đốt, cho B. chết +với cả chồng, con+ 1 đứa con trong bụng = 4 người
Người ta ồn lên vì nỗi giết người.
Toà xử tử hình.
Nhưng tất cả người đi dự phiên toà xin phạt nhẹ hơn. Ai cũng thương khóc.
A. là một người con gái khoảng 20 tuổi. Người nông thôn, nhưng vì gia đình mẹ chết, bố đi lấy vợ, nên bỏ lên Hà Nội.
Lấy người chồng bây giờ là lấy lẽ. Chồng hiện thời đi cải tạo lao động ở đâu rất xa. Chị ta phải tần tảo nuôi mẹ chồng, nuôi con. Người rất tử tế. Trong khi đó, vẫn là tạm trú ở Hà Nội, vẫn không có hộ tịch.
Đối thủ của chị ta cũng trẻ như chị, cũng dân phe phẩy. Nhưng mụ rất ác. Mụ từng bắt chồng ngồi yên để đánh. Gửi con ở nhà mẹ đẻ, có chút gì đó phải lôi về, mụ riếc móc: Phen này thì ngồi đấy mà há mồm.
Hai nhà đã chửi nhau đánh nhau nhiều phen. Trong phiển toà, A. kể có những lần đánh nhau, mụ B. cắn đứt đầu vú chị ta. Trông thấy, ai cũng rùng mình.
Bởi vậy, A. nghĩ nếu không giết nó nó cũng giết mình chết.
Lúc A. đi lùng mua xăng, một ý nghĩ loé ra. Đốt cho nó chết, rồi mình cũng đâm đầu vào đấy chết luôn thể.
Nhưng hỏi mãi, chẳng thấy đâu có bán xăng. May có một người khuyên đến phố Huế, đâu 2, 5 đ một lít.
A. giục mẹ ẵm con đi, một mình ở nhà hành sự. Để thùng xăng cạnh cửa, giả vờ làm cháy cái gì đó, B. chạy ra, ẩy cửa, xăng đổ tung toé. Lửa thiêu chết cả mấy người.
A. thấy cái chết sợ quá bỏ trốn.
Sáng sớm, ra bến ô tô về quê, có mấy gã con trai tưởng ả là gái làm tiền trêu, ả bảo đừng có trêu tao, tao vừa đốt nhà thiêu chết người đây. Công an nghe tiếng bắt lại.
Ra toà, A. chỉ bảo:
- Tôi xin nhận tội chết. Chỉ xin cho con tôi bú một lần cuối cùng.
Sao mà có hơi hướng Dostoievski quá. Xã hội xấu, đẩy người ta vào vòng tội ác. Trần Vũ Mai bảo chính người tốt người ta mới hay phẫn trước mọi việc bất công và sinh ra làm liều.
Thư làm nhà in kể:
-- Em ngày làm cho nhà nước tối thiểu 200, được lĩnh có 1,5 đ .Một ông khác tính làm ra vài vạn, được lĩnh có 2.000 (1năm). Tham ô ăn cắp kinh khủng. Có thằng thông đồng với bảo vệ, ngày mang ra hàng cân báo (nếu in báo). Hiện nay, thằng nào lấy đến 4 tờ cũng bị bắt. (Giá ngoài, như chị Yên mua, để nhuộm là 4 hào 1 tờ)
Đọc ở đâu đó "Tôn giáo là một nhân tố góp phần ổn định hoàn cảnh. Sự ổn định này tức là văn hoá".
--
26/2
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1980 (kỳ II)
Nhật ký hậu chiến.
***
Lời dẫn
Mấy năm 1979-1982 quả là đặc biệt trong đời sống xã hội, nên mặc dù chỉ quen ghi chép về các sinh hoạt trong giới văn học, trong năm ấy, đôi lúc – nghĩa là tùy hứng - tôi cũng thường “vào sổ” các sự kiện hàng ngày được nghe được biết trong sổ tay.
Tôi ghi một cách thật gọn và không kèm theo bình luận. Còn chính xác đến đâu thì quả thật không biét và đến nay lại càng không biết.
Lọc lại một số đoạn ghi năm ấy như bạn đọc sẽ đọc dưới đây, tôi hiểu mình thực ra vẫn chỉ làm việc theo hướng suy nghĩ lâu nay, -- mong từ cái nhỏ hiểu ra cái lớn và lấy quá khứ để giải thích hiện tại.
---
16/6
Phổ biến một nghị quyết mới, có các nhận định
- Người ăn lương đã đến mức không thể chịu được nữa.
- Chống tiêu cực, không chống nổi.
- Ta đầu tư vào xây dựng cơ bản quá nhiều. Nhiều công trình đắp chiếu nằm đấy, khi xong cũng đã lạc hậu.
- Sẽ gần như không chiêu sinh đại học thời gian tới. Học sinh hết lớp 10 chuyển về nông thôn, vào vùng B2 cũ, đi xuất khẩu lao động.
Trích từ Cuộc chiến đấu của tôi (Mein Kampf ) của Hitler
“Phải làm sao để cho tất cả những cái được in ra, từ vần vỡ lòng cho trẻ em tập đọc đến tờ báo hàng ngày, làm sao để cho tất cả sân khấu, điện ảnh cho đến một cột áp phích -- đều phải phục vụ cho cái sứ mệnh duy nhất và cao cả là lay chuyển những bộ óc sống động của dân tộc chúng ta, cho đến khi lời cầu nguyện nhát sợ mà các Hội những người yêu nước của chúng ta hướng lên trời “Lạy chúa, xin cho chúng con được tự do” trong đầu óc mỗi đứa trò nhỏ nhất , sẽ biến thành lời cầu nguyện chân thành này:” Lạy chúa hãy ban phuớc lành cho cuộc chiến đấu của chúng con.”
Ông Nguyễn Kiên: Nhà tôi ăn cơm chỉ có tương và cà. Tương có thêm thìa đường.
Một ông chú của Quân ở quê ra:
- Văn nghệ các anh bây giờ toàn trừu tượng.
Báo Nhân dân ngày 17-6 trong mục bạn đọc viết, nêu 3 việc:
1. Nhiều người khai man về lương thực
2. Một xe lửa ra khỏi Vinh 2km thì... đỗ lại để cho con buôn vứt hàng lên tàu. (Hôm nọ, đã có chuyện: nhân viên nhà ga, mang xăng lên tàu, để xăng cạnh bếp, xăng bốc cháy, cả một toa tàu đi đời)
3. Công ty san nền chở thuê cho xí nghiệp Chùa Bộc một số than. Không có tiền lót tay cho lai xe họ không chịu chở. Bàn đưa tiền này cho công ty san nền biến thành tiền thưởng. Công ty này làm một thời gian, lại không chịu, xui lái xe đòi tiền tiếp.
Chị M. hàng xóm kể : Một bà ở cơ quan có một đứa con gái chủ nhật nào cháu cũng dậy sớm, khăn áo chỉnh tề, vào thăm Lăng. Dậy sớm, mệt, bụng đói. Nhưng cố đi để tha bằng được một cái bánh mỳ về nhà gặm ăn, và sung sướng vì đã kiếm ra tiền.
Nhiều nhà, trẻ con rất hay xếp hàng thăm Lăng (phải ăn mặc rất đẹp) cũng là cốt để mua bánh mì rẻ. Ba hào một cái.
Oanh kể: Nhiều người bán máu ở các bệnh viện. Nay máu họ kém quá, bệnh viện không mua nữa, họ cứ ngồi đấy, bắt mua. Vì họ quen tiêu rộng rồi.
Các nghề ở mỏ đều sớm hủy hoại con người. 30 tuổi không lái xe nổi nữa. Người yếu, mắt kém. Năng suất không lên được. Bữa cơm công nghiệp của công nhân nhà nước cho 5 hào. Mua được 5 của khoai tây luộc.
Hiền con ông Thảo kể lớp nó phá hết bàn ghế rồi. Mang dao bầu đến phá. Phi dao găm cho nứt bảng ra. Khênh bục đi. Bây giờ tất cả lấy dép ra ngồi đất học, thày phải kiễng lên mới viết nổi lên bảng. Mà có lần học trò vẫn dùng gạch ném lên cửa kính, choang lên một tiếng, mảnh vụn bắn cả vào người thầy.
Tôi kể Hiền nghe chuyện ông Kháng đã kể cho tôi mấy hôm trước. Thầy gọi một cậu đọc bài, nó đứng đực ra rồi hạ một câu xanh rờn:
-- Thôi ông cho điểm 1 đi, tôi về.
- Lớp cháu cũng thế, Hiền nói.
- Rồi lúc thầy quay ra viết bảng thì ném phấn lên đầu thầy.
- Lớp cháu cũng thế.
-- Rồi, sau khi thày xỉ vả cho một hồi, lại viết tiếp thì một tiếng huýt sáo vang lên. Ngoảnh lại hỏi, không ai biết.
- Lớp cháu cũng thế.
Yến kể: có những bọn học sinh bỏ sang Lào. Hoặc bỏ lên biên giới (y như hồi trước 1945), sau lại về. Nhà trường không dám đuổi.
Tôi hỏi Hiền:
- Lớp có kính trọng một thầy nào không?
- Có. Có một thày mới dạy hộ một vài giờ, nhưng chúng nó rất quý, vì khi dạy, thầy bảo: Tôi sẽ dạy các em những điều người ta viết trong sách. Tôi phải làm thế. Còn thực tế ngoài đời như thế nào, các em đã biết.
Nguyễn Minh Châu: Người đời bây giờ, có cái đặc tính là gian manh. Có người càng giàu càng gian manh, có người càng nghèo càng gian manh. Càng lên to càng gian manh, càng bị chèn ép cũng gian manh. Càng trẻ càng gian manh, càng già càng gian manh.
8/7
Ông Nguyên Ngọc ( Bí thư Đảng Đoàn Hội) phổ biến một số ý của ông Lê Đức Thọ.
Ta không ngờ khả năng quản lý của ta lại kém đến vậy. Kế hoạch lung tung. Có 7000 công nhân máy kéo. Mà đi nhập một lúc 70.000 máy (ở các nước, 3 công nhân một máy kéo). Nhà máy đường Vạn Điểm năng suất 20 vạn tấn/năm. thực chất chỉ làm được có vài vạn tấn. Vì không có mía.
Giá thu mua mía 6 xu 2/1kg, rẻ quá người ta không làm. Nhà máy đường trình quy hoạch lên trên 10 năm nay chưa được thông qua. Thuế nông nghiệp thất thu 50%. Giáo trình của trường tài chính 20 năm nay không đổi. Cán bộ (cả trung cao cấp) mệt mỏi, hưởng lạc. Thông thường, hiện nay, cán bộ dưới giỏi hơn cán bộ trên.
Ông Châu ghé tai tôi: Làng tôi, buôn cả đô la. Bọn con gái chỉ huy được cả lái tàu, bắt đỗ đâu, phải đỗ đấy.
Về chiến tranh ở Cămpuchia hiện nay (vẫn lời ông Thọ) ta không thể chủ động như trong chiến tranh giải phóng. Thương vong trên mặt trận Cămpuchia một ngày tính bằng con số hàng ngàn (?)
Sao con người mà tôi biết được trong sách vở phương Tây ghê gớm thế, mà con người trong cuộc sống của tôi bây giờ vớ vẩn thế.
18-7
- Cơ quan Hội Liên hiệp VHNT không có thuốc phát cho anh em.
- Xà phòng mậu dịch từ 0,7 lên đến 3,5đ
Bà Hoàng Thị Đậu theo thuyền vượt biên không thoát, bị bắt về Hà Nội. Người ta báo cho cơ quan cũ đến thăm, không ai dám đến. Ông Phong Lê, bà Vân Thanh, bà Chu Nga xin thế vào xuất ấy. Ông Phạm Huy Thông (Tiếng địch sông Ô) và ông Hoàng Trung Thông (Mà vẫn mênh mông bát ngát tình) đều lớn tiếng phê bình: sao lại nhân đạo chung chung thế. Nhỡ bà Đậu là gián điệp thì sao?
26/7
Mưa bão. Nhiều cây đổ trên các ngả đường. Dân ra cắt ngay, Cty công viên khỏi phải dọn.
Mất điện 3 ngày liền. Mất luôn cả nước, trong khi đó mưa vẫn to. Có nhà đục ống máng ra, lấy nước. Có lẽ nhà ấy nuôi lợn.
Sau bão, có thông báo: các khu phố cử một ngày có điện, lại một ngày mất điện (không kể hàng ngày cả thành phố cắt từ 5h sáng đến 6 giờ chiều). Thư viện Quốc gia vắng teo, vì không có điện. Ngày hè mà 5h30 chiều thư viện đã đóng cửa.
6/8
Những ngày cả nước “rồ” vì Phạm Tuân:
- Cho Phạm Tuân huân chương Hồ Chí Minh hạng nhất (tướng Giáp. chỉ được hạng ba)
- Sẽ làm cho cả nhà cửa.
- Một cô phóng viên bảo Phạm Tuân, anh có thấy không, trong 35 năm từ sau cách mạng tới nay, tám ngày vừa qua là tám ngày vẻ vang nhất của dân tộc.
Tính kể đi tàu từ Sài gòn đến Vĩnh Linh, lúc nào cũng có người mời gọi mua hàng tiền trong túi cứ chực nhảy ra thôi. Còn từ Vĩnh Linh ra đây, không có gì để mua, không có ai mời mua, có tiền đi tìm mua cũng không nổi.
Tính bảo muốn biết nước mình ra sao, hãy đi tàu Thống Nhất một chuyến.
Ông Hạnh đi Liên xô về:
- Chưa bao giờ tình hữu nghị Việt xô gắn bó như hiện nay. Nhưng cũng chưa bao giờ giá trị người Việt Nam ở Liên xô hạ thấp như hiện nay.
Ông Phương Lựu: Ta đi với Liên xô phải thôi. Nhưng vì quá muộn, nên như đi ăn xin. Giá biết mà đi sớm hơn, cái tư thế sẽ đỡ hèn hơn.
Tất cả các điều được ghi trong hiệp ước Việt Xô không được thực hiện. Tại Liên xô chăng? Không, tại ta. Ta không chuyển gì về tổ chức cả.
Quốc (Viện Sử): Chúng ta bây giờ già nhanh vì 3 lý do.
1/ ăn uống kém
2/ không có thông tin. Trong xã hội ta, kẻ có kiến thức không phải là kẻ mở đường cho cuộc sống.
3/ không biết đối thoại (không thể giao tiếp với thế hệ trẻ)
Quân: cứ đà này, 5 năm nữa sẽ ra sao?
Đi hội thảo quốc tế về thanh niên. Trong khi ta còn nói nhiều về lẽ sống thì các nước khác nói nhiều về lối sống, ăn uống xe cộ quần bò áo phông…
Đại biểu Mỹ bảo: Những người quần loe, tóc dài bên tôi phần lớn tham gia chống chiến tranh ở Việt Nam. Đám đi lính lại cắt tóc ngắn.
Khủng hoảng của xã hội Thuỵ Điển là không có mơ ước.
Đăng:
-- Lính ăn 5,2 lạng một ngày. Chỉ được hơn 2 lưng, có thằng kêu 2 lưng không làm gì được nữa. Không đủ sức đẩy pháo ra khỏi nhà. Cán bộ cũng cáo ốm. Có mấy chục con lợn, lính giết cả. Để, lấy gì mà nuôi. Nó lại ăn tranh của người mất.
Ngô Thảo đi tàu chợ từ Vinh ra Hà Nội 3 ngày 3 đêm. Vì không có dầu máy. Không ai chịu trách nhiệm hết.
Trên tàu, 70% dân Quỳnh Lưu đi buôn; có một cụ già cũng đi.
- Cụ ở nhà, còn đi làm gì nữa.
- Chủ nhiệm cũ đây. Giờ con làm chủ nhiệm, mẹ đi buôn.
Ở Vĩnh Linh, có phong trào rời làng ra bãi cát, để lấy đất trồng trọt.
Gia đình thương binh liệt sĩ ở thấp nhất; gia đình trung bình ở giữa; cán bộ đảng viên ở trên cùng.
Một ông xây hẳn nhà gạch lên.
Bây giờ, đói, dân bỏ về. Chỉ còn trơ cái xác nhà ông đảng viên kia. Vợ con ông cũng bỏ về nốt (chung quanh không có cây cối nước non gì hết). Ba ngày vợ bới cơm cho ăn một lần.
Cơm ở Vĩnh Linh, tức là khoai.
Chi đoàn không giới thiệu con một đảng viên lên Đảng, vì 1/ bố nó là thằng tham ô, 2/ là phản động (đề ra nhiều chủ trương sai lầm làm cho dân khổ)
Cả xã Vĩnh Thái (?) bảo nhau vào Minh Hải, Thanh Hải gì đấy làm ăn.
Công trường cầu Thăng Long cứ bỏ đấy, không làm nốt được. Vì không có cán bộ để làm. Cả công trường không có lấy một chỗ uống nước cho công nhân. Chỉ có một vài quán phe phẩy. Công nhân không có gì ăn. Chỉ có ăn cắp. Ăn cắp 10kg xi măng trở lên mới bị bắt. Mà ăn cắp 5kg mới đủ sống.
Vừa rồi Ty công an đã cho bắt mười mấy người. Đại loại, một tay chuyên môn mua quang sọt cho công trường, ăn cắp khoảng 20 vạn.
Ông Hoàng Thế Dũng ở báo Quân đội hồi 63 bị bắt ra sao? Đang làm phó tổng biên tập thì bị xe chắn ngang đường. Bắt đi tù, sau đó 4 năm cho về cạo rỉ ở nhà máy xe đạp, được 4 năm nữa cho về nông thôn.
Gần đây, có người đến bảo ông không làm sao cả. Tự do. 6 tháng mới được phục hồi. Người vợ đã bỏ đi lấy người khác, con đã ly tán cả. Bây giờ về Thư viện quân đội.
Chuẩn bị lấy mấy chục nghìn lương trung tá từ đó đến nay.
Ca vè dân gian
- Ăn rau muống, uống nước ao, nói chuyện tào lao, bay vào vũ trụ
- Bay vào vũ trụ làm chi
Sao không lo gạo lo mì cho dân
Bạn Yến, cậu D. lấy một nguời vợ hơn tuổi. Gia đình không bằng lòng. Cứ lấy, tưởng sống độc lập được. Bây giờ vợ đẻ, cửa mình có mủ, dạ con có mủ, phải tiêm kháng sinh liều cao, người cứ cứng lại, hết sữa, con gửi về cho bà ngoại trông 17 đ một hộp sữa. Vợ nhớ con khóc mắt sưng húp. D. phờ phạc vì hầu vợ ngày nào cũng phải vào thay rửa cho vợ. Hạnh phúc và điêu tàn.
Báo cáo trong nội bộ:
- Từ đầu năm Hà Nội khoảng 80 vụ các cửa hàng lương thực ăn cắp.
- Phân bón tuồn ra ngoài
- Nhân dân cán bộ hoang mang, 80% đảng viên không làm công tác đảng là công tác quần chúng. Hà Nội định giảm biên chế 20% không làm nổi.
Một chuyên gia về ngoại thương Liên Xô sang Việt Nam
- Ở đâu buôn lậu ghê nhất
- Madagasca ?
- Việt Nam buôn lậu khác các nước ra sao?
- Nước nào buôn lậu cũng sợ cảnh sát cả. Riêng Việt Nam buôn lậu không sợ cảnh sát.
Tính kể tôi đã thử buôn thuốc. Nghe nói thuốc cảm đắt lắm, trong kia đồng bạc một viên, ngoài này có một hào. Thế là mua một lọ, hơn trăm bạc. Vào kia, không ai mua cả. Hoá ra lỗ.
Ông Hồ Đắc Di bảo chúng ta đã thực sự tổ chức được một tình trạng vô tổ chức thật toàn vẹn.
Ý Nhi:
- Con tôi 5 tuổi đã biết bảo: Hồi trước sướng, má nhỉ.
Sự kiện Ba Lan cuối tháng 7 đầu tháng 8. Bãi công, đòi những người cầm đầu Đảng & nhà nước phải dần dần từ chức hết, kể cả Bí thư thứ nhất.
Không manh động, nên quân đội Liên xô không dám làm gì. Đưa ra 21 yêu sách thì 20 yêu sách rưỡi phải chấp nhận ngay từ đầu.
Bài của ông Kania, dịch in trên báo Nhân Dân ngày 17-9, mở đầu bằng những câu rất hay: Trong suốt cuộc đời theo Đảng của mình chưa bao giờ tôi thấy tình hình đất nước bi đát và phức tạp như thế này.
Kania có một nhận thức rõ ràng, chính xác -- dẫu sao, Đảng cũng chỉ là một bộ phận của dân tộc, Đảng không thể thông minh hơn dân tộc được.
Thực ra, toàn bộ tình hình Ba Lan cũng buộc người ta phải đặt vấn đề như vậy. Bản thân hành động tháng 7 vừa rồi, chứng tỏ giai cấp công nhân không chịu nhận Đảng làm giới hạn. Giai cấp công nhân còn thông minh hơn Đảng nhiều.
Giai thoại
Việt Nam bị Liên hợp quốc đuổi. Nằn nì mãi, nó bắt phải khai lại lý lịch.
Họ và tên: An Nam, tức Việt Nam
- Nghề chuyên môn: đi ăn xin...
- Anh em: Cămpuchia và Lào nhưng đều vô nghề nghiệp
- Sở trường: đánh nhau
- Mức sống: thấp nhất thế giới.
... Nếu ở lại, xin tích cực đóng góp vào việc thảo nghị quyết.
Một tờ báo Pháp
Nước Việt Nam luôn luôn nói theo chủ nghĩa xã hội nhưng họ lại hành động như chủ nghĩa đế quốc và sống như chủ nghĩa phong kiến.
Sinh ra trong nghèo đói, hiện nay đất nước đó lại đang hấp hối trong nghèo đói.
Ông tổng thư ký Liên hợp quốc họp báo ở Paris sau chuyến đi Việt Nam
Ở đây, khi lương người nhân viên bình thường, không mua nổi 2kg thịt 1 tháng thì không thể bàn về nhân quyền được. Miền Nam đó là một thuộc địa của Mỹ nhưng Hà Nội là một thành phố chuồng chim.
Nghề của tôi là đọc diễn văn và nhiều lúc tôi chán ngấy việc này. Nhưng ở Việt Nam, nhà cầm quyền được tiếng là kiên cường, không hề có việc gì khác, ngoài việc đọc diễn văn. Họ, trong lúc này, không biết lo cho dân họ việc gì cả. Trước đây ít ngày tôi từng phải tham gia một hội nghị chống di tản. Tôi không thích gì việc di tản. Nhưng đến Việt Nam lần này, tôi hiểu tại sao người ta di tản. Đó là cái cách duy nhất giúp cho người ta tồn tại.
Tôi hiểu 25 vạn người Việt Nam đi được nước Mỹ trợ giúp. Tôi muốn người Mỹ làm việc
--
Nhật ký hậu chiến
***
Hai tàu thuỷ chạy đường Quảng Ninh Hải Phòng trốn sang Hồng Kông. Thuỷ thủ + công an thông đồng với nhau. Nhiều hành khách bất ngờ được di tản với giá vé 1,2đ
Trận bão số 6 - 1980 ở Thanh Hoá, 6 huyện bị lụt, nhà cửa mất 80%. Một cái cầu nhỏ, cầu Tào Xuyên, bị nước đe doạ. Người ta phải cho cả một toa tàu chở đá đến để giữ cầu.
Đột xuất kiểm tra xe ôtô Hà Nội - Hải Dương, khoảng 50 vé, thì 17 vé do nhà xe tuồn ra ngoài, bán lãi 15đ 1 vé
Trần Ninh Hồ được chia nhà. Do quen một người cùng làng, làm ở Sở nhà đất Sài Gòn. Tết cả nhà mình đến bỏ bom nhà nó, Trần Ninh Hồ cắt nghĩa.
Ông Ma Văn Kháng đi nhà máy dệt Nam Định về kể: 13.000 công nhân, 1.000 người ăn cắp. Ra cửa, khám nhau như thời Pháp.
Mỗi người chỉ lấy ngày 1 hay 2 con sợi cũng đủ chết. Cái đau nhất là một chiến sĩ thi đua 7 năm liền, giờ ăn cắp. Phải bù cho công nhân bằng cách bán vải bù cho họ, 5 đ độ 20 mét vải, ra họ bán ngoài.
Mới đầu chủ trương ai ăn cắp và nghỉ bừa, không được mua kiểu đó. Sau họ chỉ đề nghị: tha cho người nghỉ bừa
Lý do vỡ trận như vậy - Trả lương quá thấp. Vải làm ra, tiền lãi nhiều, lương chỉ đáng vài phần trăm, y như thời Pháp.
--Nghe kể Tỉnh ủy H N N đánh nhau. Bí thư Tỉnh đi vào Lâm Đồng thăm khu kinh tế, mang theo 3 vạn đồng tiền mặt, vài tấn đường, rất nhiều giò, thịt. Phó bí thư đi viện. Ở nhà, ban thường vụ tỉnh uỷ ăn cánh với nhau, cách chức một lúc 11 trưởng ti, gọi đến đàng hoàng bảo anh bàn giao (phe Ninh Bình đánh đổ phe Nam Hà); cả chủ tịch tỉnh, tay Soạn, mới lên 13 ngày, cũng phải đi Cămpuchia.
Thủ tướng Triệu Tử Dương: có thể sẽ phối hợp sự phát triển kinh tế với sự nghiêm khắc về chính trị, theo kiểu Đài Loan, Nam Triều Tiên.
10/10
Đâu cũng thấy tin đồn nhóm diễn viên Vân Khánh trốn đi nước ngoài. Họ lấy cớ đi biểu diễn, xuống Quảng Ninh rồi đi.
Trước đó, hai vợ chồng Vân Khánh giả vờ ly dị. Đến khoản chia gia tài, họ bảo: thôi, để bán đi, lấy tiền chia cho tiện. Có tiền, họ giải quyết được việc đi khá dễ.
Nghe nói một sinh viên ta từ Liên xô đi tham dự cuộc thi toán quốc tế ở Anh trốn vào đại sứ quán Anh.
Có người thông cảm: Thôi ai thoát được, may người ấy.
Một bài báo của Tây Đức về Việt Nam có cái tít nhỏ: Một dân tộc lêu lổng
Một bộ phim của Thuỵ Điển chiếu cho quốc hội của họ hồi trước, đã có nhan đề Một dân tộc không thể cộng tác. Nay lại có một phim khác mang tên Một dân tộc không thể khôi phục.
Ông Lê Văn Lương – thường trực ban bí thư -- đến hội nghị mừng công của nhà máy sản xuất quạt.
- Các đồng chí có nói thiếu điện và thiếu nguyên vật liệu. Về điện, tôi không biết nói thế nào. Tất cả cười. Ông nghỉ một lúc. Còn về nguyên liệu, các đồng chí chịu khó chạy lấy.
Ma Văn Kháng bảo y như một ông nông dân
Những việc liên quan kỷ niệm Nguyễn Trãi
Ông Võ Nguyên Gíáp nói về Nguyễn Trãi, y như nói về Cụ Hồ. Đoạn nói Nguyễn Trãi là nhà văn hoá, chỉ gợi ra được một chuyện Nguyễn Trãi làm văn.
Chọn nhầm ảnh. Nhân viên đưa ra một ảnh hơi mờ. Ông Hoàng Tùng bảo bên Hà Nội mới nó có cái ảnh rõ lắm. Sang lấy về in. Hoá ra ảnh Phan Thanh Giản. Báo phải xin lỗi và gọi chệch là ảnh Dương Khuê. Vì mình xưa nay vẫn ghét Phan Thanh Giản mà.
Một tay tâm thần ở chợ Hôm, cầm dao chém đứt đầu đâu 5, 6 người, bị thương nhiều người khác. Hắn cầm dao đi qua nhiều phố. Cho nên người ta tưởng là có nhiều kẻ đi chém bậy, lại đổ đi lùng một hồi.
Béc-linh-gơ (ĐCS Ý) – Theo tài liệu tham khảo đặc biệt
Trường hợp Tiệp Khắc -- Liên xô bỏ qua cơ hội thí nghiệm mở rộng dân chủ trong nội bộ các nước XHCN.
Trong chính trị, không có bản chất với hiện tượng gì. Những điều gì chưa xảy ra thì sẽ xảy ra, đang xảy ra.
Từ nay ĐCS Ý rút bỏ danh từ chủ nghĩa Mác Lê. Đảng chỉ thừa nhận lý tưởng và truyền thống văn hoá bắt nguồn từ tư tưởng Mác -- Ăng ghen và được đổi mới nhờ các tư tưởng của Lê-nin
Cái có thể học ở Mỹ là cách làm ăn có hiệu quả, óc mạo hiểm, một khả năng học tập cực lớn.
Nước Mỹ tiến một bước dài trong việc không còn đơn thuần coi triết học như một khoa học nhân văn nữa.
Các nước cộng sản không chỉ là cộng sản. Đó là những quốc gia với những sự xung đột nhau về quyền lợi, những sự kình địch nhau, thù oán nhau, những cách đào tạo về ý thức hệ và những sự cuồng tín riêng
Giáo hoàng: “Hãy coi chừng nếu tiếp tục sản xuất vũ khí thì rồi cuối cùng, người ta sẽ đem dùng nó đấy”
Chuyện thất thu
- Thất thu ở khâu vận tải hành khách trong thành phố khoảng 30%
- Thất thu ở khâu nhà đất. Nhiều người không nộp tiền nhà. Từ khâu cho ở, đến khâu có hợp đồng, có khi hàng năm.
Đối đáp trên đường
- Chị làm em mải nhìn, đâm cả vào xe người ta đây này.
- Mày có mê mớ rau muống của tao thì có!
Một người vào nhà Hồng. Bố mẹ Hồng đi vắng. Anh ta chỉ đứng ngoài cửa.
- Thôi, cứ đứng đây cũng được. Vào, cháu nó lại phải trông nhà, phiền ra.
27/11
Gạo lên 13 đồng một cân (giải thích – do lương cán bộ vừa được thêm phần phụ trợ). Guốc mỗi đôi lên một đồng.
Bác Hòa hàng xóm Thụy Khuê giữ trẻ 70 đồng một tháng.
Ông ngoại cháu Tú kể mỗi sáng mở mắt dậy lại sợ. Đường đường là một ông chủ nhiệm Hậu cần quân khu muốn gì có nấy. Nay về hưu phải trông hai cháu, trong đó có một cháu nhỏ 4 tháng. Lo cho nó từ chai sữa, múi cam.
Hai cán bộ công đoàn Đức sang VN, vào TP HCM quay ra tới sân bay Nội Bài. Xe đi đón hỏng, nằm ở Gia Lâm chữa, bắt họ phải ngồi sân bay chờ mấy tiếng. Về Hà Nội họ chỉ kêu: Cho chúng tôi uống nước. Uống xong họ bỏ về khách sạn, không dự chiêu đãi.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ tư. Đến ngày cuối cùng vẫn chưa biết ai sẽ làm chính khóa tới. Bọn tổ chức phải làm danh sách, nếu ông Đặng Quốc Bảo tiếp tục, cánh này sẽ làm; nếu người mới cánh kia sẽ làm.
Đại hội chính thức 3 ngày, nếu cả trù bị đâu 1 tuần. Trở về mỗi đại biểu được:
1 bộ quần áo comple, 1 va li rất nhiều sổ sách.
Trung ương Hội phụ nữ cho mấy chục ngàn.
Tổng công đoàn cho 30 ngàn.
Quân đội cho 1 triệu. Thả nào có tiết mục ông VănTiến Dũng đến trao cờ cho ông Đăng Quốc Bảo.
4/12
Từ khoảng tháng 10 (hay 11), vụ Đặng Thái Sơn nổi lên mạnh mẽ.
Dân ai người ta cũng thích, thích hơn cả vụ Phạm Tuân. Có lẽ vì Phạm Tuân, là chuyện Tây nó cho, mà đây là tài thật.
Một kiểu nói dân gian: “Chó nó cũng lên vũ trụ được, nữa là người.”
Nhiều người coi hiện tượng ĐTS là tài năng âm nhạc của dân tộc. Bằng Việt bảo hình như âm nhạc, ta còn có Trần Văn Khê, Nguyên Thiện Đạo, chứ mọi thứ khác có gì.
Khi nói về các khu vực văn học hay điện ảnh, mình cứ bốc nhau lên, chứ có đâu vào đâu. Còn khu vực âm nhạc mình bị bắt buộc phải theo Tây, cho nên dễ nên người hơn.
Theo Bằng Việt, nghe tiếng nhạc của Đặng Thái Sơn, thấy rõ một người rất tự tin. Và có cái chất riêng của tuổi trẻ. Nó cũng được tới trình độ của những Gilzburg, Oborin, Kogan đấy.
Tôi nhớ hồi mình 20, 22. Hình như vào tuổi ấy, con người cảm thấy mình có thể làm được đủ mọi chuyện, chỉ hích một cái, là cả thế giới đổi thay theo(!).
Bây giờ thì mất mất cái đó rồi, chỉ còn lo kiếm sống. Sự khiếp nhược đến quá sớm.
Từ lâu, đã nghe những chuyện xì xào chung quanh Đặng Thái Sơn. Ra có những chuyện xưa nay giấu. Sơn là con ông Đặng Đình Hưng, cho nên lúc được trường nhạc bên Liên xô nhận, vẫn không được đi. Sau bà Liên, mẹ Sơn phải lên nói với ông Đồng mới xong. Đến kỳ thi bên Ba Lan, Sơn cũng chưa được chú ý gì. Ở Liên Xô điện về nhà cho đi, Bộ ngoại giao+Bộ Văn hoá bảo không có tiền.
Sau ông Natason, thày giáo của Sơn bảo rằng nếu không ông ta bỏ tiền riêng cho Sơn đi. Bên nhà phải đồng ý vậy. Ở Ba Lan, Sơn cũng sống rất khổ.
Người khác đi thi, còn có cả gia đình đi theo. Sơn chỉ có một mình. Đến lúc vào kỳ ba, Sơn thiếu cả quần áo đàng hoàng “Nước mày sao khinh rẻ tài năng vậy” - bà giữ cửa khách sạn bảo vậy.
Vả chăng vấn để bảo vệ người cũng rất quan trọng. Ở một kỳ thi như thế này, trên thế giới, nó hại nhau là chuyện thường. Bà ta phải dặn Sơn là nhớ gõ cửa như thế nào mới mở cửa... Để tránh kẻ lạ v.v....
Trần Vũ Mai bảo căn bản là trong Chopin với tay Sơn này có những khía cạnh rất gần nhau. Gần là ở chỗ nào? Nước mình thường bảo mình anh hùng. Nhưng căn bản là đau khổ ghê gớm chứ gì? Đây là chỗ làm cho Sơn gần Chopin đấy. Một thằng thanh niên ở Mỹ, sống sung sướng giàu có, làm sao hiểu được Chopin.
Mỡ lên 40đ một cân. Ở Hàng Lược có đám cưới lo cho con gái 20.000đ (Riêng cho con 10.000đ để mua nhà). Mỗi bánh pháo 2,5m.
Cậu Cường gửi cho ông ngoại 100 khăn mặt mỗi cái bán được hơn mười đồng (bán buôn, bán lẻ có thể 12đ).
Ông Kiên, một cán bộ Đoàn cũ, cho rằng hiện nay ai cũng nhất trí ở chỗ là thanh niên có vấn đề. Thanh niên nó đang lảng ra, không gắn bó với Đảng- Nhà nước gì cả. Nó mê tín rất ghê. Tưởng là nó đùa chơi, nên mặc kệ. Hoá ra nó tin thật. Đang có sự khủng hoảng trên phạm vi toàn xã hội.
Khai tem phiếu 1981: 20 cột mục.
Báo cáo ông Trường Chinh tại kỳ họp Quốc hội 12 đại ý nói đất nước tuy thống nhất nhưng hai miền vẫn khác nhau. Dân ta không có thói quen tôn trọng pháp luật.
Những đứa trẻ trên đường Hà Nội lấy một cái chổi cùn, đốt lên để sưởi, nhưng reo ầm lên ô – lanh- pích, ngọn lửa ô - lanh - pích.
Một chiếc xe đạp phóng bạt tử qua ngã tư. Lúc tôi nhìn theo, thấy một cô gái, đầu để đôi bím kiểu 1960, nhưng mặc quần loe, xách cái túi lưới thưa, trong có tờ tạp chí Xây dựng Đảng.
Tạp chí Kinh tế Viễn Đông 7/12/80 viết: Kinh nghiệm của các nước cộng sản cho thấy nạn tham nhũng khó mà thanh toán nếu không phải là không thể thanh toán được; và theo ý kiến của một số nhà khoa học thì tệ đó thực sự là cần thiết để cho toàn bộ xã hội khỏi bị chế độ quan liêu của bản thân nó bóp nghẹt.
Sự khốn khó của kiếp người
Cách đây mấy tháng, ở chợ Hôm có một vụ đốt nhà giết người. Hai người hàng xóm ở cùng nhau, cùng là dân phe. A. đổ xăng ra nhà, đốt, cho B. chết +với cả chồng, con+ 1 đứa con trong bụng = 4 người
Người ta ồn lên vì nỗi giết người.
Toà xử tử hình.
Nhưng tất cả người đi dự phiên toà xin phạt nhẹ hơn. Ai cũng thương khóc.
A. là một người con gái khoảng 20 tuổi. Người nông thôn, nhưng vì gia đình mẹ chết, bố đi lấy vợ, nên bỏ lên Hà Nội.
Lấy người chồng bây giờ là lấy lẽ. Chồng hiện thời đi cải tạo lao động ở đâu rất xa. Chị ta phải tần tảo nuôi mẹ chồng, nuôi con. Người rất tử tế. Trong khi đó, vẫn là tạm trú ở Hà Nội, vẫn không có hộ tịch.
Đối thủ của chị ta cũng trẻ như chị, cũng dân phe phẩy. Nhưng mụ rất ác. Mụ từng bắt chồng ngồi yên để đánh. Gửi con ở nhà mẹ đẻ, có chút gì đó phải lôi về, mụ riếc móc: Phen này thì ngồi đấy mà há mồm.
Hai nhà đã chửi nhau đánh nhau nhiều phen. Trong phiển toà, A. kể có những lần đánh nhau, mụ B. cắn đứt đầu vú chị ta. Trông thấy, ai cũng rùng mình.
Bởi vậy, A. nghĩ nếu không giết nó nó cũng giết mình chết.
Lúc A. đi lùng mua xăng, một ý nghĩ loé ra. Đốt cho nó chết, rồi mình cũng đâm đầu vào đấy chết luôn thể.
Nhưng hỏi mãi, chẳng thấy đâu có bán xăng. May có một người khuyên đến phố Huế, đâu 2, 5 đ một lít.
A. giục mẹ ẵm con đi, một mình ở nhà hành sự. Để thùng xăng cạnh cửa, giả vờ làm cháy cái gì đó, B. chạy ra, ẩy cửa, xăng đổ tung toé. Lửa thiêu chết cả mấy người.
A. thấy cái chết sợ quá bỏ trốn.
Sáng sớm, ra bến ô tô về quê, có mấy gã con trai tưởng ả là gái làm tiền trêu, ả bảo đừng có trêu tao, tao vừa đốt nhà thiêu chết người đây. Công an nghe tiếng bắt lại.
Ra toà, A. chỉ bảo:
- Tôi xin nhận tội chết. Chỉ xin cho con tôi bú một lần cuối cùng.
Sao mà có hơi hướng Dostoievski quá. Xã hội xấu, đẩy người ta vào vòng tội ác. Trần Vũ Mai bảo chính người tốt người ta mới hay phẫn trước mọi việc bất công và sinh ra làm liều.
Thư làm nhà in kể:
-- Em ngày làm cho nhà nước tối thiểu 200, được lĩnh có 1,5 đ .Một ông khác tính làm ra vài vạn, được lĩnh có 2.000 (1năm). Tham ô ăn cắp kinh khủng. Có thằng thông đồng với bảo vệ, ngày mang ra hàng cân báo (nếu in báo). Hiện nay, thằng nào lấy đến 4 tờ cũng bị bắt. (Giá ngoài, như chị Yên mua, để nhuộm là 4 hào 1 tờ)
Đọc ở đâu đó "Tôn giáo là một nhân tố góp phần ổn định hoàn cảnh. Sự ổn định này tức là văn hoá".
NHÂN HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC PHÁP DANG TAY CHÀO ĐÓN NGUYỄN HUY THIỆP
Ngày 29 tháng 2 năm 2024
của Thụy Khuê, là chị đã bước đầu gợi ý chúng ta hướng tới một khu vực mới: tác động Ngày 25/2/2024, tại không gian văn hóa Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê đã có cuộc nói chuyện về những chuyến đi Pháp của tác giả “Tướng về hưu”. Bên cạnh chủ đề chủ yếu đó, diễn giả cũng đã đề cập tới một vài vấn đề về việc nghiên cứu tác phẩm của nhà văn đã quá cố.
Theo nhà báo Hoàng Hương người viết bài tường thuật, thì nhà nghiên cứu Thuỵ Khuê có nói một ý tạt ngang “Bà có cảm tưởng trong nước không hiểu đúng về tầm vóc của Nguyễn Huy Thiệp, bà mong các nhà nghiên cứu trong nước cho ý kiến về điều này”.
Tôi thấy đồng tình. Nghĩ rộng ra một chút, tôi cho rằng ở đây chị Thụy Khuê đã đặt vấn đề về sự tiếp nhận Nguyễn Huy Thiệp ở xã hội VN hậu chiến, một sự tiếp nhận mà như chúng ta đều biết là một quá trình rắc rối lúc thăng lúc trầm.
Tôi biết rằng có cả một lý thuyết về tiếp nhận văn học, nhưng ở đây tôi chỉ nói theo cách hiểu thông thường.
Qua sự tiếp nhận Nguyễn Huy Thiệp, xã hội đã tự bộc lộ xu thế thẩm mỹ và quan niệm văn học của mình đại khái đó là một thứ quan niệm giằng co cũ mới “cũ chưa qua mà mới chưa tới”.
Và những ai muốn nghiên cứu tác giả “Tướng về hưu”… rất nên biết thậm chí phải biết lịch sử vấn đề này, để thấy qua trường hợp của anh Thiệp, tình trạng có thực của các nhà văn Việt Nam và sự vượt lên khó khăn, đầy thách thức của những tài năng thực sự.
Một phương diện khác tôi cũng cảm thấy (mặc dầu do tình trạng sức khỏe không có dịp nghe mà chỉ đọc tường thuật) bài nói chuyện của dịch thuật hoặc đúng hơn của việc một tác giả vượt qua biên giới của xứ sở mình để tới một xã hội khác đã khiến cho tác giả và tác phẩm đó tìm thấy đúng khuôn mặt của mình, vị trí của mình trong văn học ra sao.
Trước Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta chỉ mới biết tới những trường hợp tác giả trong nước được các cơ quan văn học chính thức chủ động giới thiệu với nước ngoài, và chỉ xảy ra khi giữa sự đánh giá trong nước và sự đánh giá của nước ngoài là thuận chiều.
Đằng này việc Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu ở Pháp là một đột phá theo kiểu ngược lại.
Ngay trong những năm đầu tiên của sự sáng tác, tuy Nguyễn Huy Thiệp được công chúng hết lòng yêu mến, thì dư luận chính thức lại phân vân, phân tán, phe cấp tiến vừa hoan nghênh là phe chính thống tìm cách phủ nhận. Trong hoàn cảnh đó, sự đón nhận của nước Pháp đối với tác giả “Tướng về hưu” có thể hiểu như một hành động ưu ái đặc biệt mang tính giải cứu.
Từ nước Pháp, Nguyễn Huy Thiệp có dịp làm quen với cả Châu Âu, và không chỉ trình bày tác phẩm của mình, ở đó tác giả còn trình bày khá rõ ràng quan niệm sáng tác riêng, điều mà trong nước nhiều khi anh phải giấu kín, hoặc đánh trống lảng hoặc nói những điều mà mình không nghĩ.
Ở đây ta nhớ lại trường hợp cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh khi ra đời sau mộ ít ưu ái cũng bị một trận phong ba bão táp vùi dập tơi bời và chỉ nhờ có công cuộc xã hội Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới (đơn giản là có nhiều bạn đọc -- ở những nước VN thèm muốn quan hệ - tìm đọc) mà sách được in lại và được nghiên cứu trong một số trường Đại học.
Như vậy là trong cả hai trường hợp này, tác động bên ngoài đã giúp cho những phát triển đúng hướng được tồn tại. Những cách tân chân chính dần dà tìm được sự khẳng định. Đây là cả một chuyển hướng lớn đối với lịch sử văn học VN đương đại các nhà nghiên cứu cần để ý.
Như đã nói ở trên, tôi không có dịp được nghe chị Thụy Khuê trực tiếp nói chuyện, chỉ nhờ đọc tường thuật mà thấy thức dậy một số suy nghĩ vốn có từ lâu nhưng lại gạt đi ngay vì biết là điều lạc lõng. Ai ngờ…
Chung quanh chủ đề “nước Pháp và Nguyễn Huy Thiệp”, tôi đặc biệt nhớ một chi tiết – Lay trời trí nhớ không phản bội tôi --“Tướng về hưu” bản dịch tiếng Pháp xuất hiện không phải theo dạng chui nhủi nào đó mà được đưa lên tạp chí “Les Temps modernes”, tạp chí thuộc loại sang trọng bậc nhất của trí thức Pháp do nhà văn J.P.Sartre sáng lập.
Với riêng tôi thì chi tiết này như là một sự khẳng định rằng văn học Việt Nam đương đại trước sau phải đi theo con đường lớn của văn học thế giới. Mà Nguyễn Huy Thiêp là một thứ chim báo bão đầu tiên.
--
Một liên tưởng ngoại đề.
M.Solokhov là một nhà văn Xô Viết được lòng nhà nước, mà lại được phương Tây tặng giải Nobel, và dịch ra nhiều thứ tiếng. Giới phê bình Xô Viết lúc ấy liền khai thác kỹ càng chuyện này, họ biên soạn cả một tập sách dày dặn mang tên “Sông Đông êm đềm chiến đấu”. Bao giờ chúng ta lại có một tập sách kể chuyện tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp chu du nhiều nước phương Tây?
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CHIẾN TRANH – ĐOẠN 1
Ngày 5 tháng 3 năm 2024
Đoạn1/ “Những nữ dân công Thanh Hóa”
*
Trích Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975
-------------
1972
14/7
Về T.70. Có lệnh quay ra. Từ vương quốc của hoang dại, bọn tôi sẽ trở lại vương quốc của sự nhân tạo, cấy trồng. Những chán ngán trong gia đình, những lúng túng trong công việc, và sự không phương hướng trong tình thế chung – sẽ lại đối mặt tất cả. Sau chuyến đi này liệu mình có khác được chút nào?
Lo đường ra. Nghe người ta nói đường ra mà sợ. Địch đánh liên miên. Ngoài kia, cách chỗ tôi đang ngồi viết không xa, những người dân Thanh Hoá, dân công đang ngồi bệt xuống đất nói chuyện. Thanh Hoá, cái tỉnh bè bè ra đó, người đông quá xá, người nào tiếng cũng bè bè, dáng dấp cũng bè bè. Đàn ông, có người 47- 48, thuộc loại đã đi dân công từ cuộc kháng chiến lần trước, đi từ Điện Biên Phủ, và bây giờ họ lại đi. Bốc hàng, cáng thương, cấp dưỡng. Những cái quần bạc phếch, những cái áo vá. Trông đàn ông xứ Thanh không hiểu sao người nào cũng như từ cổ sơ trở về, đặc vẻ đàn bà, vơ véo đâu được một cái thắt lưng bộ đội, một cái mũ, tự lấy làm bằng lòng lắm rồi. Và họ đã sống như thế, ăn tết như thế.
Vì cái vẻ ốm o của họ, những cô con gái cứ gợi cảm giác sờ sợ, khiến tôi không dám nhìn lâu.
- Chỉ đàn bà có chồng mới không phải đi.
- Cho nên khối cô rình rập lấy chồng.
- Không đi ở nhà cũng khổ. Nó đánh chỗ đê phía bắc sông Mã rồi.
- Nghe bảo Hoằng Hoá vừa rồi vẫn hoàn thành nhiệm vụ.
- Nhưng mà mưa này mới gay.
- Thôi sống chết cũng phải làm. Nơi nào khó thì lại kêu gọi đảng viên đoàn viên. Hết loạt nọ đến loạt kia. Không chừng sinh viên cũng phải về làm ấy chứ.
- Nhà tôi cạnh chỗ bom nổ có độ sào ruộng.
- Quê ta ở cứ liền liền, nhà nọ cạnh nhà kia, không bằng từ đây đến chỗ cái ghế bom bỏ tránh sao nổi.
- Thôi, Bác đã bảo, càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan.
Tiếng bom vẫn ầm ì như đã là một thuộc tính của bầu trời này, một thứ đỉa dai dẳng bám vào bầu trời, người ta cố dứt nó ra, không dứt nổi.
Ở cái trạm của tôi, ngày bao nhiêu khách, quây quanh các máy điện thoại. Thông báo về tình hình trên đường. Gặp cấp trên, xin phương tiện, xin ý kiến. Việc nào cũng cập rập. Và mọi người đều có cái vẻ bồn chồn, y như có bao nhiêu sống chết phụ thuộc vào những cuộc đàm thoại đó.
Nhưng rồi ai nấy bình tĩnh trở lại. Không, không phải là bình tĩnh, mà là lì lợm, mặc mẹ mọi thứ.
Đi đâu cũng thấy lính tráng cũng như cán bộ ăn và mời nhau ăn. Vì một bữa ăn, một gói chè, một suất tiêu chuẩn đường sữa, người ta có thể đi vật nài quản lý hàng ngày trời. Bao nhiêu con người, bao nhiêu ngày tháng bỏ phí. Với những người vừa ở mặt trận ra, lúc này đây, không có gì chuyện quan trọng hơn ăn uống. Ấn tượng chung là một cái gì ườn ra, nhếch nhác, ngán ngẩm, vô cảm.
Trì trệ đã thành một thứ khí hậu, ngay ở cái nơi gần mặt trận này. Nhưng rồi tôi nghĩ -- kéo dài mãi ra ngoài kia, cả Hà Nội của tôi, cả cái tạp chí VNQĐ của tôi, đâu đâu cũng cảm giác trì trệ ấy đè nặng, như những buổi chiều miền núi oi bức.
Cái sức mạnh của dân tộc bây giờ là ở sự chịu đựng. Một dân tộc như thế, rồi sẽ ra sao? Sự chịu đựng vô giới hạn, đến độ người nước ngoài chắc không sao hiểu nổi.
Chỉ còn một thứ rành rọt kỳ lạ, mà, bất cứ lúc nào ở trạm này lắng nghe cũng thấy, đêm hôm nghe càng thấy: tiếng đài phát thanh. Tiếng đài vốn từ đâu vọng về, tức là một cái gì không thật -- cái đó đã đành. Có điều cái thứ không thật ấy lại nhắc đi nhắc lại, đều đều thành nhịp điệu đáng sợ, trở thành thật hơn mọi cái có thật khác. Đêm nằm, người ta dí cả đài vào bên tai tôi, mà tôi không dám kêu và không có quyền kêu. Tất cả mọi người chung quanh đều sống như vậy, tôi không có quyền sống khác. Đáng lý mình cũng phải tập ăn, tập ngủ tập chơi bài, tập lì lợm và chuẩn bị chen vào đội ngũ chiến thắng, tôi tự nhủ. Nhưng lại biết ngay từng ấy việc mình không làm được việc nào cả.
15/7
Gọi là đánh nhau, nhưng có lẽ ở nước nào cũng thế, người ta cầm súng bắn nhau không mấy, mà nhiều nhất, dai dẳng nhất và kinh khủng nhất là những ngày sống gần như chui rúc trong rừng, bên suối, những ngày ôm gối nhìn trời mưa, những ngày chờ đợi.
... Rồi rất lâu nữa, tôi phải xoay vào để hiểu. Cái giá trị của đời sống dân tộc lúc này là ở sự chịu đựng. Trong vật vã chấp nhận, không quên làm dáng, ra oai nhỏ nhen lặt vặt với nhau, để rồi lùi ra xa để nhìn, vẫn thấy vĩ đại. Chắc nhiều người cũng như tôi bắt đầu thấy chán sự vĩ đại kiểu đó, ước ao những sự vĩ đại khác - những sự vĩ đại về phát minh, về sáng tạo chẳng hạn.
Nhưng mà thích hay không thích, giờ đây, mỗi người cũng hoàn toàn chịu sự chi phối của đặc tính cộng đồng, cũng triền miên trong sự chịu đựng và chấp nhận.
... Đêm qua, gần sáng thì trời mưa. Những người dân công ốm đau nằm võng tận ngoài rừng, lại lục tục chạy vào trú tạm ở các lán, các cô gái vừa ấm nồng vừa ướt át đó, run rẩy và lạnh buốt đi trong gió, co ro ngồi nằm nhờ. Một cô, lúc sắp sửa lại đồ đạc ba lô, ngán ngẩm thốt lên:
- Thôi, đã gọi chiến tranh là phải thế.
Đúng quá còn gì! Nhưng chung quanh chỉ im lặng đồng tình chứ không ai nói tiếp, vì còn biết nói gì nữa. Không khí chung càng như chết lặng đi.
Có những câu nói kiểu ấy. Chúng vốn sâu sắc, nhưng vì nhắc lại nhiều lần, nên lại là một sự vô nghĩa. Ví dụ như hôm qua, nghe một cậu bảo “Nếu những thứ đồ đạc của cải chiến tranh này chế ra cho mình dùng, thì đời sống mình nâng cao biết mấy”. Ừ, người nói câu ấy, vừa là thông minh thật, mà cũng là lơ mơ lạc lõng thật.
... Từ chuyện dân công, muốn nói nhiều hơn đến những người đàn bà trong chiến tranh. Có lúc nghĩ đáng ra đàn bà không nên có mặt ở nơi hòn tên mũi đạn như thế này. Nhưng bây giờ mọi xó rừng đâu cũng có họ. Mà nghĩ cho cùng, không có đàn bà thì làm sao hiểu được cái tình cảnh mà chúng ta lâm vào, hiểu được cái phần nữ tính với nghĩa chấp nhận, thụ động -- nó là số phận chung của mọi người chúng ta trong cuộc chiến hôm nay.
.... Người ta nói rằng tất cả sẽ quen đi - trong chiến tranh. Nhưng tôi đã hỏi rất nhiều người rồi. Không ai quen được. Không ai thích được. Một bác sĩ bảo không thể nào thích y học quân sự hơn y học nhân dân... Và dân tộc nào mà thích được chiến tranh?!
Một cộng đồng đau khổ đến nỗi bất cứ sự thật nào nói ra cũng làm người khác đau lòng, người nọ sợ cho người kia, bởi trước hết sợ cho mình.
Một cộng đồng người nào cũng cô đơn, nhưng trước mặt nhau lại phải luôn luôn tỏ ra hồ hởi, lạc quan (cũng như miệng nói lo cho việc chung, nhưng người nào cũng phải lo cho việc của riêng mình).
Một dân tộc như vậy, là một sản phẩm của chiến tranh.
... Bị chiến tranh đẩy tới, xâm nhập làm biến dạng cả mày mặt lẫn hồn cốt, -- rồi người ta sẽ sống trong thời bình thế nào, ví dụ như liệu có thể làm lại cuộc sống bình thường sống theo những lề luật của thời bình, xây nhà xây cửa dạy con dạy cái, làm nên một nền văn nghệ của thời bình chẳng hạn? Nhiều lần tôi tự hỏi mà cũng nhiều lần không biết cách trả lời.
NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CHIẾN TRANH- ĐOẠN 2
Ngày 6 tháng 3 năm 2024
Đoạn 2/ “Những cô bộ đội và thanh niên xung phong ở binh trạm 12”
*
Trích “Nhật ký chiến tranh” ghi trong những ngày giữa năm 1969 khi tôi theo Phạm Tiến Duật vào Đoàn 500 - một binh đoàn tách ra rồi lại nhập vào 559. Lòng người lúc này còn trong sáng không ai cảm thấy chiến tranh là cả một gánh nặng nhất là quãng 1972 trở đi như tôi ghi hôm trước, bản thân tôi cũng còn nhiều non dại
--------------
20/5 /1969
Nghe Duật giới thiệu Binh Trạm 12. 5 năm nay, lứa TNXP thứ hai lại gần hết hạn. 5 năm trước, một số cô gái ấy thích chuyển sang bộ đội, bây giờ lại cứ ở TNXP. Một cái cầu độc mộc mà ai cũng phải qua, trước khi bước vào cuộc đời chăng?
Nghe kể về những chuyến xe vượt khẩu và chuyện thường ngày ở binh trạm. Lính bạ cái gì cũng lấy lưỡi lê chọc thử, xem có gì ngon thì ăn, ăn chán thôi. Lấy thuốc lá sợi chống lầy. Duật gặp mấy cậu khoe em có thứ giấy này làm phong bì, mịn mặt lắm, chỉ tội hơi cưng cứng. Hỏi ra thì là giấy ảnh. Có ai biết đâu? Ở hai đầu mọi thứ đều quý. Chỉ ở giữa lúc vận tải trên vai người lính, nó là một cái gì lẫn đi giữa cát bụi .
Người phụ nữ trên tuyến lửa. Những cô lái xe. Không ai khóc đâu, rất là hiền không bao giờ to tiếng với người khác cả. Chí có một lần dây điện chập, các cô khóc, các anh bộ đội trên xe nhảy cả xuống, phải múc cát xúc đất hất vào trong xe mới đỡ.
Duật kể: một cô lái xe khác, khi xe mình bị xe khác quệt, xuống, rút khoá điện đối phương “Anh chữa cho tôi xong hãy đi."
--
Nguyệt đi TNXP từ 1965. Mẹ và bố không đồng ý nhưng quyết đi bằng được. Bố dồn tiền vào cho mẹ, bề ngoài bố không cho một xu nào cả, Nguyệt chỉ được bố đưa cho tờ giấy trắng:
- Con đã muốn đi thì bố mẹ cũng không gàn. Bố mẹ chỉ dặn đi thì cố theo chị em, không được đào ngũ về, gia đình mình bây giờ như tờ giấy này này, nếu con làm xấu việc gì thì cũng như là đổ vào đấy mấy giọt mực.
Chuyển sang bộ đội, không hỏi ý kiến gia đình. Nên khi về phép bố mẹ bù lu bù loa, tưởng là con xấu hổ, gãy chân gãy tay không dám về.
Mẹ bị một mảnh bom vào đầu. Về nhà em gái giận lắm: “Chẳng nhẽ em lại không gọi chị nữa chứ, em gửi bao nhiêu thư vào mà không thấy chị trả lời” Thì ra Nguyệt có nhận được thư, nhưng ý không rõ, tưởng mẹ ốm xoàng thôi. Lên thăm mẹ, thấy mẹ đã lẫn, múa với hát ở ngoài bãi. Có người bảo con Nguyệt nó vể, mẹ chỉ tay ra xa, nó đang tận Quảng Bình kìa mà. Rồi mẹ lại múa lại hát.
Mẹ đã qua 108, 103. Người ta bảo: giá đồng chí không ở ngành y cơ, ở ngành y thì chúng tôi cũng nói thật, bà cụ không sống được đâu!
Mà sao Nguyệt vẫn cười vẫn kể chuyện, Duật tự hỏi có gì tàn nhẫn quá trong đó nhỉ? Chẳng nhẽ thế nào bây giờ.
Các cô gái ở đội xe, những cô gái trung bình 68kg. Một cậu nhỏ con nói đùa không hiểu họ có còn là phụ nữ nữa không? Những cô gái thông tin hơi xấu một tí, các cô khu 4 phải tập nói tiếng khu 3 khi trực ở tổng đài (sao qua đài, tiếng người nghe vẫn đáng yêu hơn). Huệ, một cái áo vá, một vẻ gì buồn mà cương nghị. Cô Quý tóc chỉ trùm hết gáy, trông khổ sở và tội nghiệp, vẫn phải cố vui. Chung quanh có người bảo nó mà buồn thì buồn suốt đời.
Ở đây, phụ nữ hay khóc mà vẫn đi sửa đường, đi lấy củi, làm nhà như mọi người.
--
Những cô gái ở cơ quan Đoàn bộ. Nhuỵ ở 559 ra, mới nghỉ phép về quê lấy chồng, chồng bên y dược dân sự.
Trước khi cưới ở vào tâm trạng như Thuý Kiều, sau quãng đời phong trần sợ nguời khác coi mình không ra gì.
- Thế là cô coi người ta không ra gì đấy.
- Không phải thế, chính vì em rất tôn trọng bạn em. Em rất quý bạn em, em muốn cuộc đời người ấy hạnh phúc. Em sẵn sàng hỏi vợ cho anh ấy ngay bây giờ. Em bảo dứt khoát: tuỳ anh đấy, nếu anh không đồng ý thì em cũng sẵn sàng. Anh ấy bảo bây giờ cô kể tôi nghe ít chuyện 559 nào. Cho người hậu phương cũng được lên tiền phương môt chút. Em nói nhiệm vụ ở đâu cũng vậy. Không có người hậu phương thì không có người tiền phương.
Thế nhưng một lúc sau, lại thấy cô kể: em giục anh ấy đi bộ đội rồi. Anh ấy cũng phải rèn luyện đi chứ, khối người ở các trường đại học ra, lúc đi cũng khó khăn ngại ngần đấy.
22/5
Từ Hương Đô sang huyện Minh Hoá. Qua những Khe Tang, Khe Ke. Như là đường núi Tây Bắc, đường vòng vèo, đất đỏ. Trông một cái xe đi ban ngày, cứ thấy trơ trọi, một chiếc xe zin lên dốc cũng khốn khổ như một đứa trẻ bị tội.
C này nhiều các cô gái Hà Tây từng đi TNXP – hễ gặp lính chờ xe đi nhờ là hỏi có muốn về Hà Tây không?
Một cậu bên pháo cao xạ vừa ném đá vu vơ vừa kể thường những khi đi công tác qua, phải ghé nhờ xe họ nấu hết. Nấu nhà dân mình ăn, chẳng nhẽ con họ đừng? Hà Tây nhiều đứa đẹp. Nhưng toàn những đứa điên tình.
Chiều, ở hang đá. Tiếng bom không hiểu ở đâu, lượn từ núi nọ sang núi kia. Đường lên hang vắt vẻo, lán chính trị ở cao nhất, phía dưới là khu vực tổng đài, một cô gái đang “mách lẻo” đều đều như một con vẹt.
22/5
Gặp Lâm Thao, cô bé ăng ngoong em không ăng cháo đâu, mình bảo một cách ngơ ngẩn: y như tiếng Sà goòng
- Em được nhận thì đi thôi, trong lớp chả có ai đi cả… Vào làm cấp dưỡng rồi làm quản lý, cuối tháng không hụt đồng nào, lại thừa được hai chục.
Mấy lần định kết nạp đoàn rồi, mà vì ít tuổi quá, không được.
Những ngày làm giao liên ấy - một số người khác kể lại - cô còn cứu được mấy người nằm dưới hầm. Chả biết sợ là gì.
- Em làm y tá, mỗi một mình là phụ nữ. Ngày về đây lấy thuốc không biết đường vòng nào mà đi, cứ đi đường thẳng, lội qua ngầm Lộc Yên ướt hết cả quần áo, người ta cứ cười.
- Hôm nọ được về nhà rồi. 5 ngày, mẹ cho ăn 3 con gà, mua cho chục đồng bạc cá, ở đấy sẵn cá lắm.
Mẹ em hiền mà thương người lắm. Bà cụ chăm bao nhiêu bộ đội đấy.
Những buổi nói chuyện với các cô gái ở đây, không đâu vào đâu mà làm cho mình hết sức hào hứng. Con gái là thế. Cô Thu y tá sẵn sàng phá những cuộn băng ra, đưa cho mình những cái kim băng xinh nhỏ, rồi tra thuốc đau mắt, rồi cho đôi giày. Cô Hải cũng vậy, thân ngay đuợc, rửa bát hộ một cách hết sức tự nguyện.
23/5
Rừng Trường Sơn là đây. Trên là núi và dưới là khe. Những con suối trường chinh, ngấm ngầm mà hung hãn, gặp núi cản cũng xô cả núi mà đi, đất đỏ đục ngầu rồi cũng trong xanh trở lại.
Đường lượn ven núi, gặp núi thì thành ngầm, rồi đường lại vượt lên, nhìn con suối dưới kia róc rách. Lên cao thì đường gặp núi. Đất sẵn sàng lở. Khi có máy bay lượn, mình theo thói quen, chúi vào bên núi thì một cậu bảo: “Ra ngoài này đi anh, núi lở xuống bây giờ”.
Đứng trên những mỏm đường cao nhất, thấy toàn cảnh trọng điểm, lượn lên lượn xuống. Hút xuống dưới, ba cô thanh niên xung phong đi lủi thủi nhỏ dần. Ngẩng lên cao, mãi kia là đỉnh đồi đất đỏ, những cây cao lớn đổ vật cả xuống, như một người ngã xóng xoài, tay ở dưới mà chân ở trên. Cỏ chung quanh đã lên xanh, cây thì vẫn còn trơ một cái màu gỗ nhạt huếch…. Có lúc nghĩ rằng tại sao lại rủ nhau chui vào những miền rừng làm gì nhỉ. Ở đây hoang vắng quá, những ngã ba, những “cua” những trọng điểm không có tên, toàn gọi bằng số, cây số 43 năm trăm, cua 12, trọng điểm 21, ngầm com măng ca, chỉ có một ngầm gọi là Đông phương hồng.
29/5.
Những ngày ở Hương Đồng Hương Khê nắng nóng, mần tịt cả người, lúc nào cũng buồn ngủ. Trưa, ăn cơm về, mình nằm lăn ra giường ngủ thiếp đi, thỉnh thoảng, thỉnh thoảng chừng nhiều mồ hôi quá lại chợt thức dậy, lấy khăn lau một lượt mồ hôi nhưng không có khăn, lấy luôn cái áo lau mặt. Trong khi đó, Duật và cô Nhót đang tập đánh máy. Duật đến là hấp dẫn, lúc nào cũng có phụ nữ đến với nó, đứa ăn cơm xong đến xin ngụm nước, đứa đến mè nheo cái nọ cái kia.
Những ngày ở đường 12 này, lại chỉ có mưa, nước suối đỏ bẻm. Và hôm nay hiu hiu gió, như một ngày đầu thu, như một thứ rét nàng Bân, như câu thơ Tế Hanh “những ngày vui nghĩ lại thấy ngùi ngùi". Nhớ các anh ở nhà, nhớ bạn bè, nhớ công việc. Trước lúc đi, Xuân Quỳnh bảo:
- Đi viết thư về... Chính những lúc đi xa độ 1, 2 tháng, một mình, nghĩ cũng buồn lắm.
Cố nhiên, mình lại phải bảo mình rằng ở Hà Nội, nhiều lúc mình vẫn thấy cô quạnh, những lúc chán nản. Hết giờ làm việc là lo đi chơi: "Giờ đến ai thì có nhà nhỉ?". Đi hết mình, đi hết những nỗi buồn, và thấy con đường xa lắc. Hân bảo giữa nỗi buồn cô đơn và nỗi buồn một người có vợ, tuỳ anh chọn lấy một.
--
Đến Hương Đô, rất quý các cô gái ở đấy, cô Bàng, cô Nhót. Cô Băng Tâm có con mắt rất sáng và nụ cười dịu dàng. Cô Huệ, cô Xuân bên Tổng đài 500, đeo cái vòng trên cổ, người như dễ thương hẳn lên. Đến Binh trạm bộ, các cô ở đây, cô Thu cô Nhuệ mến khách và dịu dàng làm sao. Còn ở các đội TNXP thì – sau cái non trẻ vụng dại - sao quá nhiều những con người yên lặng, chậm rãi, mệt mỏi, ẩn giấu đầy dục vọng?
Ông Vũ Cao thường bảo tôi: Cái thằng này bao giờ cũng lý tưởng, sách vở. Xem thằng này với thằng Đỗ Chu sau này lấy vợ thế nào?
... Tôi thì tôi tự nghĩ vẫn trên con đường hành hương đi tìm phụ nữ. Lại thấy vẳng lên những câu thơ của Aragon:
Chỉ có nàng thôi mới xinh đẹp dịu dàng
Nàng hiện lên như tháng mười đỏ thắm
Hôm nọ bảo với Duật rồi, câu thơ của Drunina "Trong ngây dại của tâm hồn phụ nữ - Em chỉ cần nương tựa xuống vai anh" có phải chỉ nói về phụ nữ đâu, mỗi người nam giới đều có lúc cảm thấy cần phải nương tựa xuống bên một người phụ nữ nào đó.
--
Phát hiện lớn nhất là trong lần trước, thấy con người lớn lên trong chiến tranh. Đi sâu vào tuyến, lần này tôi nghĩ khác đi: chiến tranh sẽ tạo ra một lớp người mà tất cả thời gian, năng lực, chí hướng là tập trung vào việc giết, phá hoại, làm lấy được, nghe lệnh, trói tình cảm của mình lại, rồi khi cần thì lại bùng lên một cách rất là man dại. Chiến tranh tạo ra lớp người ấy, chiến tranh qua rồi nhưng lớp người ấy còn mãi.
--
Đại đội TNXP: Nhà ở làm hàng ngàn công mà không xong, gian nhà rách nát, tạm bợ, trên căng tăng, dưới căng bạt, chung quanh là đồ lề, những tấm chăn chiếu quét đất tha hồ cho chân người dẫm lên.
Bộ đội thì có chuyện công binh dỡ hầm của cao xạ hai bên to tiếng với nhau. Nghe nói có lần phải dùng đến cả cách quăng nhau xuống sông.
--
Bao nhiêu cô con gái đã vào hoả tuyến này. Ở rừng Lào, con gái phải lấy tay gạt đuổi những con nòng nọc đen đi lấy nước tắm rửa. Một lần đang tắm thì nó đánh rất gần. Mới đầu các cô còn tránh tạm vào một hòn đá. Rồi sau chỉ kịp khoác cái áo lên, cứ thế trở về khu nhà ở.
Những bữa cơm TNXP ở đây, ít thức ăn quá, người ta phải ăn nháo nhào bát đầu cho xong, rồi bát sau thì bắt đầu xoay tí muối. Mỗi người được mua một quả trứng luộc rồi, sau bữa cơm của người nào người ấy giải quyết.
Những cô con gái ngồi giữ kho suốt ngày có người nhờ may vá. Chuẩn một kéo. Đào một kéo. Đến nơi thấy thế, Sát phụ trách hành chính nhì nhèo "Chúng mày cứ lấy hết cả kéo trong kho thế thì còn bảo quản nỗi gì nữa." Nhưng rồi chính ông ta lại bảo con gái ở đây nó thiếu vải lắm anh ạ. Bây giờ mỗi đứa xin lỗi anh chỉ còn một cái quần phăng với cái quần đen, cái nào cũng tàu tàu cả. Đơn vị thì phát đủ rồi, cơ quan chịu sau. Hôm nọ C3 bị đánh, lại vận động cho lần nữa, ai có 3 thì cho 1. Kết quả là chả ai có gì dùng khi cách nhỡ nữa.
... Chao ôi, rồi những đứa con gái này về, sẽ làm nên những công trạng gì, sẽ biết làm gì.
30/5.
Suốt một tuần đất Quảng Bình này là mưa, giá ngại thì không còn muốn ra khỏi nhà.
Con đường về anh mưa hút lối
Trắng ngang trời không gian mênh mông
..
Thời gian đi không gian dường đứng lại
Chẳng biết nhớ thơ hay nhớ chính con người nói chuyện rất thông minh đó nữa.
Nhưng mà mưa ở đây nó lại càng để lộ ra cái buồn bã cuối chiều của công việc. Đơn vị đến đây từ 27 tết. Nghe các cô ấy kể lúc đầu chuyển đến để phục vụ xe vào rất nhiều trong dịp tết, cho nên nhà cửa làm chỉ tạm bợ. Đến bây giờ thì mưa xuống, nhà nào cũng kêu dột. Kho dột, chỗ ở dột. Mấy cậu đến làm nhà kho gấp đi khiêng độ chục tấm gianh về dọi lại một chái, dùng độ 3 tấm rồi lại vứt đấy.
--
Những cô gái ở đây cứ làm cho mình luôn nghĩ đến những người ở nhà. Nhạc, cô cấp dưỡng bảo ở đây chẳng hiểu bao giờ khá hơn. Tôi bảo những trường hợp hai vợ chồng nuôi một đứa con ở Hà Nội, cũng cực nhục lắm. Vậy thì ở đâu vất vả hơn? Hạnh phúc cuộc đời này là cái gì?
3/6.
Sang C2 đội 89, vẫn là chuyện các cô TNXP.
Quyên: Mẹ em mất từ năm em được độ một tuổi. Bà ngoại em chỉ được có hai người con gái, mẹ em là chị, lại mất sớm. Bà em mới bảo dì em rằng mày có thương cháu thì mày về nuôi lấy nó.
Mãi lúc đi TNXP em mới biết. Hồi trước, có lần mẹ em đánh em đau quá, em mới bảo con đẻ ra mà còn thế đấy, dì ghẻ con chồng thì còn ác đến đâu. Mẹ em không nói gì nữa, mẹ em chỉ khóc. Hôm em đi, bác em mới gọi bảo rằng đấy là dì mày đấy.
... Chúng em đi từ ngoài kia vào thích lắm. Đi đến đâu cũng hỏi. "Mẹ có cà cho con mấy." Bà cụ bảo: "Chẳng có cà mùa này. Nỏ có cà, con có ăn ghém thì ăn thôi. Sao mẹ bảo gì, các con cũng vâng thế." Người khu 4 hiểu hết tiếng người khu 3 nhưng người khu 3 không hiểu tiếng khu 4 đâu. Ở nhà dân, về đến nhà là lục lọi thức ăn. Có lần đi trực về, 4 giờ sáng thì về đến nhà, lục cơm nguội với cá ăn sạch, đi ngủ, đến 10 giờ mới dậy.
Lúc đầu thức ăn chỉ muối và mì chính. Thế mà cũng đánh hết mấy bát.
---
Giữa khoảng rừng xanh, những thân mốc lá xanh chẳng hạn, bỗng hiện lên màu đỏ của thứ hoa gì đó trong rừng. Màu đỏ ấy không tươi, không thẫm như hoa vông hoa phượng, màu đỏ ấy sặc sỡ và lại tái tái thâm thâm như hoa gạo cuối mùa, như những bông hoa gạo 1, 2 ngày trước khi rơi trên mặt đất. Có thể ví một hiện tượng văn nghệ, một cái gì đó trong văn nghệ với màu hoa đỏ ấy được không. Mình đã nghĩ như thế khi đến thăm đại đội cao xạ.
Chợt nhớ các bạn. Hai người mà mình quý nhất là Đỗ Chu và Xuân Quỳnh. Một người vừa sợ vừa thích là Lưu Quang Vũ. Có thể nằm thượt ra, nói những chuyện nghiêm trang nhất mà cũng ghê gớm nhất bên Lâm Quang Ngọc. Lại có thể rủ rỉ rù rì nói chuyện với Nghiêm Đa Văn. Nhớ có lần hai đứa cùng tranh nhau nói: mình và Bằng Việt. Với Lâm, mình nói năng thả cửa. Bùi Bình Thi sẵn sàng tán thành những ý kiến người đối thoại, gật gật đầu rất nhanh và cười ha hả?... Ôi các bạn tôi, mỗi người làm giàu cho tôi một chút, chỉ có tôi nhớ các bạn hay là chính các bạn cũng nhớ tôi.
TNXP và bộ đội. Bao giờ thì cũng phải có những đơn vị ấy đi với nhau. Tưởng tượng thiếu một đơn vị thôi, buồn biết mấy. C7 ở tận trong mặt sau của một trái núi. Nội quy: cấm không được đi chơi tối. Chỉ chiều về, các cô gái lần khân hơn một chút. Gần nhà cũng có suối, nhưng họ kỳ cọ rửa ráy rõ sạch chỗ cái suối ngoài gần đường. Cả bọn như một bày chim lớn. Rồi về qua cửa bộ đội. Đánh tiếng, rúc rích đùa. Các anh bộ đội chừng cũng đã quen, ăn cơm xong, ra hiên nhà ngồi chơi, đợi.
- Mấy khi đi làm về, các o vào uống bát nước.
Cứ thế tán tỉnh nhau đến tắt nắng. Về còn lưu luyến, ở chơi tí nữa, hãy còn sớm em.
--
Ngày mưa - B3 làm cái nhà hậu cần ở dưới nhà nữ. Tất cả cá cô đều đi giày trông cứ nặng nề và hách dịch một cách vô lý. Cô Mai to chặt sậy làm phên ở giữa nhà, một cậu nói vọng xuống "Không chặt cho đều thì tôi quẳng đi", Mai to trả lời rất tự hào:
- Mình cứ yên chí, lần này tớ làm cho mình thật đều.
Hễ ai đi qua, Mai lại hét tướng lên"Không được bước vào chỗ này!" Cô chỉ sợ người ta dẫm vào sậy, chốc nữa vác lên, bẩn hết áo.
Lai, chàng trai mũi tím bầm lại vì nặn trứng cá, hôm nay giời mưa mà diện rất tươm tất, giày thấp cổ có cả bít tất. Lai vác những thanh gỗ bằng cổ tay về lợp hầm. Quá là vô ý, tránh được dưới đất thì lại lấm tiệt các thứ khác ở trên dây thép. Mưa quá. Trung đội trưởng Thự cho anh em nghỉ vào nhà. Tất cả ào vào, làm cho cái nhà lúc trước chỉ có cô Ngần ốm bỗng rộn cả lên. Từ lâu đã nghe nói con gái ở đây rất chiều con trai, mưa, các cô phơi quần áo hộ cẩn thận. Đi giặt về, Huệ cầm quần áo luôn thể. Con gái là rau tàu bay, con trai là mỳ chính. Chẳng hiểu ai nói câu ấy đầu tiên. Bây giờ vào trú mưa cũng thế. Thự, chàng trai tay vừa vồ đất dưới kia bây giờ dụi dụi tay, tìm chỗ lau. Bỗng nhớ ra có một bình nước uống.
- Anh nào dội hộ tớ một tí.
Nhiều người nhao nhao:
- Lại dội lại dội ông huyện.
- Không để cho ai người ta uống nữa
- Thôi, ra đây cho xong đi nào. Và Nghiện, cô bé hơi xấu ấy dội hộ. Vừa dội, Nghiện vừa nguýt Thự một cách không rõ thế nào. Vừa lúc Nghiện quay đi là Thự giật lấy cái khăn ruộm màu nguỵ trang trên vai Nghiện. Cô bé nhớ ra thì đã muộn. Thằng con trai la lên: Xong rồi, xong rồi.
Thời chiến này, cái gì người ta cũng làm khô làm hộp, rau kho thịt hộp. Vậy thì cái điều người ta làm khô văn nghệ cũng tất nhiên. Gọn, nhẹ - không thể khác được.
--
MẤY GƯƠNG MẶT
Bích Liên C2 D thông tin.
Lần đầu qua cầu Hàm Rồng không dám sang. Cầu chuyển rùng rùng phải nhờ một anh khác dẫn sang. Báo động nhảy cả xuống đầu một anh bộ đội.
Sang Lào, đứng cầm đèn gác đường rồi sang đánh kẻng. Máy bay đến, sợ không dám đánh kẻng chỉ kêu máy bay máy bay. "Sợ đánh kẻng biệt kích nó nghe".
Có người rủ đào ngũ. Sợ về trả sổ, trả khăn cho người ta ư? Lúc đi, ăn bao nhiêu cũng không lên cân được, chỉ có 39kg.
Viết thư cho mẹ: Con bé thì đứng vào đâu mà chẳng được. Có hy sinh cũng là vinh dự.
Bé quá, Thu TNXP đi, người ta cứ bảo "con bé này, ở đâu vào" "Cháu ở TNXP đấy mà". Người ta phải nhận.
Vào đội mang cơm thì hay đánh đổ, lại phải đi làm. Lên trên Lùm bùm Tà Khống. Nhịn ăn, từ 18g hôm nay thì đến 18giờ hôm sau mới có người thay.
Đợi bao giờ được vào bộ đội mới về phép. Thủ trưởng cho đi học y tá cũng không đi. Vào bộ đội được giao anh nuôi, dù ở nhà, chưa biết nấu cơm.
Vào tổng đài, đi chữa dây. Để máy khô, phải cời áo ra mà bọc máy. Chữa xong lại chập, về lại đi. Mưa rét, chưa ăn cơm. Dây đứt, không biết đứt chỗ nào (đứt ngầm) phải chẻ đôi dây ra thử. Qua sông, đội máy lên đầu.
Mẹ viết thư có cần gì thì mẹ gửi cho. Của mẹ chứ của ai mà sợ thiệt.
Người ta bảo: nhớn thì mới ốm nhiều, bé thì ốm ít.
Đi làm cấp dưỡng. "Tôi đi hái rau" - Gặp người dân tộc, hãi. Vì thấy người Khùa họ không mặc quần áo gì cả. Khóc từ rừng khóc về nhà. Bị một anh mắng bảo về không về, ở đây khổ cả mày lẫn khổ cả chúng tao.
Đội này có lúc ăn ngày 1kg gạo, có khi ăn măng tươi suốt. Thiếu nước, cạo tinh tre... Có nhiều món không biết các anh ấy làm thế nào thành ăn tạm được. Chị Hiền chết. Lúc “đi” dặn mày ở nhà có mưa thì thu quần áo vào cho các chị ấy. Cố vài năm thống nhất về cho ăn cam quê tao tha hồ.
Chị ấy chết, vừa hãi, vừa muốn ra xem. Đến nơi thấy chị chẳng còn gì.
Bé quá, gọi mọi người bằng anh chị.
Hôm đăng ký đi, nói với cán bộ:
- Chú chú, cho cháu đi với, các chị ấy bảo tha hồ ăn quả rừng.
- Muốn ăn thì tao bảo nó lấy về cho. Đi làm gì.
Cứ xin đi. Mẹ em vẫn bảo con có vào đấy mới biết. Trong thư mới gửi, mẹ bảo mọi người cho em nó về chỉ độ 1/2 ngày cũng được. Em bây giờ nó biết làm gì rồi.
--
Kim Liên:
Vùng em quê nghèo tháng 8, nước đến cổ, Đói no sao cũng được. Lúc đi, các ông cán bộ hợp tác làm đội trưởng, phó bí thư chi bộ, làm chính trị viên, các ông ấy không tâm lý gì đâu, hơi một tí là các ông ấy mắng cho. Một cậu đi chậm: Gạt thằng ấy nó ra, sống thì sống chết thì chết, để cho cả đoàn cùng đi.
Vào đến Vinh thì một cậu đào ngũ. Lại gặp một ông bộ đội, thấy nói TNXP đồng hương ông ấy vào hỏi, thổi cơm nấu nước ông ta ăn tử tế. Đến lúc hỏi ra thì thằng em ông ấy đào ngũ, ông ấy khóc mãi. Đến Thái Hoà (Nghĩa Đàn) lại nhiều người đào ngũ nữa (ở đấy nhiều xe, tuần 4 chuyên ra Hà Nội) Có 5 người trốn, 4 cô với 1 anh. Họ về họ nói đơn vị qua Hàm Rồng bị đánh hết cả rồi, chỉ có mấy người họ trốn được phải về, ở nhà thấy thế khóc hết nước mắt. Sau có thư gửi về ở nhà mới tin. Bọn trốn về khổ lắm, mất hết cả Đoàn. Mẹ ở nhà viết thư lên. Có chết thì chết, đừng trốn về, xấu hổ cả nhà. Sang Lào - thiếu thốn mọi thứ. Toàn tháo chăn ra làm chỉ. Ăn thì cứ đi nhấm lá rừng, thấy cái gì chua chua là nấu ăn được. Có lần nhấm phải những thứ chát săn cả lưỡi.
Hường:
- Bỏ học, nhất định xin đi. Bố đánh. Mẹ giấu sổ hộ tịch. Cứ làm đơn xin đi. Con nói thực, không cho con đi, mai con chết. Trước lúc đi, một trận đòn nên hồn. Bố đánh không khóc vẫn đòi đi. Lúc bố cho đi lại khóc tủi thân. Bố dặn đừng ăn bậy ăn bạ mà khổ. Gửi giấy khen về nhà thì mẹ lại lo. Thế này thì nó ốm mất. Biết thế thu lại, để gửi về sau.
Mẹ sơ tán. Chị đi Phú Thọ... Bố làm không đủ bảo con xin về. Đơn ở nhà gửi lên bảo ký tên và thì giữ đơn lại, rồi viết về nói là gửi rồi.
---
MỘT TỐI CHUNG VUI
Con gái TNXP ngoan hơn con gái bộ đội vì không được chiều. Thu, lặng lẽ ít nói nhưng đâu cũng rí rủm lắm. Chanh láu và hơi xấc. Quý thì rất chiều người và lịch sự, Quyên bên C2 nữa, con mắt và cái cằm như là của con trai, rất nghịch. Nhưng giá kể hỏi nên viết thư cho ai trước hết, thì tôi sẽ gọi tên Hoa.
Khi tôi đến hôm đầu tiên, em ngồi hơi xa, chỉ cười. Hôm sau, lúc nào nhìn thấy tôi, em cũng cười. Buổi tối ấy tôi lại đến chơi, em đang hát, em nằm đấy mà hát, tiếng hát vỏng vót :
Yêu bao sông nước quê ta,
có những chuyến phà ngày đêm vui hát
Yêu bao bờ bến quê ta...
Ấy là những bài hát của giao thông, Ấy là những bài hát của chính các em. Có lẽ vì thế mà em đã hát rất say mê, như em mới nghĩ ra như vậy. Khi em hát những tình ca điệu chèo của quê hương Thái Bình, tôi vốn nghe mãi phát chán những điệu chèo hát trên đài rồi mà với em tôi lại thấy duyên quá.
Trong cái buổi tối lờ mờ của trăng đầu tháng rừng già, tôi không nhìn rõ mặt em, chỉ thấy như cả người rạo rực, tôi không muốn ai nói chuyện nữa để lặng cho tôi với tiếng hát. Mặc các cô khác len vào, tôi vẫn nghe rõ tiếng em. Và khi các cô ấy xoay ngọn đèn về phía tôi, tôi hơi xấu hổ vì biết mình đang ngây dại mê thanh mê sắc nhưng cũng vẫn ngồi đấy, cười cái cười tâm lý mà riêng tôi mới có như các bạn ở nhà vẫn giễu.
Mắt ngước ra ngoài trời nhìn đi rất xa, toàn thân tôi như bay lượn theo tiếng hát.
Đến khi em và các bạn hát bài "Các cô gái mở đường" thì tôi như ghen với Xuân Giao vì nhạc sĩ đã ghi được một cái nhịp mà nó biết gợi lên bước đi của các em, một thứ bước đi khoan thai rộn ràng rất mực.
Hoa, tôi biết là em không đẹp, nước da hơi đen, và nụ cười hơi phô, nó không hàm tiếu cầm chừng như chính tôi vẫn thích... Hoa! Nhưng tại sao tôi cứ vấn vương về em, muốn bắt lấy cái nhìn và nụ cười của em. Bởi tôi đang đi tìm một người tôi mến yêu. Nhưng tại sao người đó lại rơi vào em nhỉ. Tôi biết viết bức thư đầu tiên cho em như thế nào đây? Tôi là thằng tằn tiện ít bộc lộ tình cảm, nên tôi cũng rất giàu có, tôi biết sử dụng tình cảm của mình thế nào cho vừa, ơi em xa xôi, ơi em mới quen, ơi em và tiếng hát. Cả cô Lan khôn ngoan mà kín đáo, cả Quyên hay nhìn trộm đợi chờ, cả Huệ hiền và hiểu đời, cả Quý, cả Thuần, cả Nghi có con mắt nhìn thẳng vào người con trai, như van lơn, như cầu khẩn... không ai làm tôi vương vấn như em.
---
Ngày mưa: Ngày các cô gái khâu vá, ngày người ta ngồi nói chuyện về những con đường mà người ta đã làm, những chương đời mà người ta đã vượt.
Ngày mưa để người ta lo nghĩ về công việc trong những ngày sau đó. Ngày mưa là ngày của tình yêu, nó ấp ủ những gì hứa hẹn của hôm sau.
Tại sao các cô gái C2 hay nói những chuyện nhố nhăng? Bởi vì nói những chuyện nghiêm túc bao giờ cũng đồng nghĩa bi quan và thất vọng. Cười nhiều, sự cười nhiều là sản phẩm của những gì hết sức đau khổ.
Buổi tối các cô ngồi ra cửa hát.
- Tốp ca nữ hát Các cô gái đi mở đường, do các diễn viên đội văn nghệ C3 và C4 trình bày.
Hoa giới thiệu và hát trước; đến chỗ hết câu này, bắt sang câu khác, khi mấy bạn lí nhí vì quên thì dọng Hoa bao giờ cũng to hơn cả. Đất núi, sân phía trước nhà không rộng, các cô đứng dọc hàng một cô nọ ôm chặt cô kia. Trong nhà nhìn ra, vẫn thấy các cô lắc lư như những diễn viên chuyên nghiệp trên sân khấu. Thật ra đến cả tên bài hát cũng không thuộc các cô chỉ nhớ câu đầu tiên của các bài...
Lúng túng mãi rồi trong nhà phải cử một cô đi sang nhà bên cạnh mượn cái đèn bật (bật lửa).
- Anh vào trong nhà chơi, anh Nhàn.
Sau khi yêu cầu tốp ca hát, một bài "chầu văn", biết rằng các cô hết vốn, tôi vào ngồi trong nhà. Quen tính tôi, các cô mang hai bi đông nước. Lan rót nước:
- Này, Nghi mời nước anh Nhàn đi. Bưng hai tay vào.
Tôi phải trả lời đại khái nói nghe Lan tâm lý lắm, hôm nay mới biết đấy. (Lúc trước thấy Lan ăn mặc khác tôi đã trêu "Gớm hôm nay cô Lan trông lạ quá". "Anh cứ nói thế, em chào anh mấy lượt anh có thèm nói lại đâu?”)
Có tiếng người phía dưới, thì ra Phượng trung đội phó. Lâu nay cả trung đội biết rằng Phượng hay nói nghịch. Vừa đến nơi, Phượng đã nói đùa:
- Lên xem các gái hôm nay đã khỏi chưa hay lại thành 35 công nào. Tất cả cười lên một lượt. (Hôm nọ trong lúc lợp nhà, Phượng đã nói đùa: Người ta 30 công nhưng Chanh nó 34 công cơ. 30 công ốm với 4 công người khiêng đi viện.)
Mai tồ rót nước mời Phượng:
- A à, em Mai hôm nay quý anh Phượng ghê nhỉ. Song Phượng Tuyết Mai được đấy chứ.
Nhưng một cô khác đốp luôn:
- Hôm nay anh Khôi giảng bài cứ định gọi chị Nghiện, chỉ chị Nghiện thôi, thì lại đọc tên anh Phượng. Buồn cười nôn cả ruột.
Hoá ra một câu chuyện nghiêm chỉnh rồi, Nghiện là một bé hơi xấu, nhưng rất yêu Phượng và có lẽ họ cũng đã yêu nhau.
Mục đích Phượng sang là để phân công người.
- Lan ạ, hôm nay tiểu đội mày có mấy người làm sao hả?
- Cũng chẳng nhớ là mấy nữa, Lan cứ hậm hờ. Sáu hay là bảy nhỉ, để em tính đã.
Phượng cũng không cần biết cho chính xác làm gì, ốp luôn. Thôi, mai vẫn cho đi dọn chỗ 35, chỉ để độ hai đứa ra cây số 34 làm nhé. Còn tiểu đội cái Hoa cũng đi làm chỗ cũ, lấy 2 đứa đi gánh tranh.
Chẳng đợi Phượng dứt việc, các tiểu đội trưởng nhao nhao phân việc. Lan gọi với sang chỗ Thoa:
- Chị Thoa ơi, chị Thoa.
Vẫn không thấy nói gì.
- Chị Thoa yêu quý ơi, mai hai chị em mình đi ra cây số 34 nhé.
Ngồi trong bóng tối, chỉ thấy một người quay ngoắt đi. Bấy giờ Lan mới dỗi:
- Thôi, cứ thế là chị tôi nghe thấy rồi đấy. Gớm, chị Thoa em lại không thân với mèo con nữa rồi.
Chả trong tiểu đội, Lan ít tuổi hơn một chút. Và khi đùa nhau, khi vật nhau, các cô đều gọi nhau là mèo con cả.
Trong khi mấy cô khác còn đang nhao nhao hỏi -- nghĩa là bất chấp tiểu đội trưởng, hỏi luôn trung đội trưởng về mình -- "Mai em làm gì Phượng" ”Mai em làm gì anh", thì Phượng đã xoay sang đùa.
- Còn bọn cái Thu, cái Gái đâu. Mai cái Thu tập họp lại, chờ lên hang Cha lo gánh đá. Cứ chọn thứ đá nào không đổ mồ hôi thì mang về là được.
Và buổi sang phân công việc của Phượng kết thúc một cách vui vẻ. Trông anh chàng lại nhớ những buổi liên hoan có những tay hễ gặp ra, hoá trang trông thiểu não, có khi răng sứt, chân cụt, thất tha thất thểu ra, lúc vào lại còn cà khịa.
- Có thách tôi rút không nào? Tôi rút cho mà xem chứ tưởng, tưởng...
Tài lắm, nhưng chỉ là tài trong phạm vi khe núi góc rừng.
Từ nãy, Hoà và một cô Mai khác, Mai Trần vẫn ngồi tâm sự ngoài hiên. Thì ra cô Mai kia mới về thăm gia đình lên. Cô kể vè hành trình rồi kết luận:
- Đi đến đâu cũng được các anh ấy gửi, anh nọ gửi cho anh kia ấy mà...
Gớm, về đến nhà mất 4 ngày. Con bé Máy nó bị rút hết cả bím, nó cứ quờ quạng như trẻ con trời ơi, trời ơi - nói xong lại cười cười xong lại khóc.
- Ở nhà vui lắm mày ạ. Đi họp thì một gian họp mấy gian xe đạp, nam toàn Phượng hoàng, nữ cũng Phượng hoàng với Thống Nhất. Hôm nọ đội bóng nam Thái Bình đấu với Lương thực TW, nữ Thái Bình đấu với Nam Định, nữ mình được, toàn những 15-3...
- Eo ôi, ngoài ấy diện lắm, toàn áo cổ Nhật Bản.
Tôi hỏi: Thế năm nay Hoà đã về chưa?
- Em sợ đường đi xa lắm, với lại về nhà ai cũng chê gầy với đen, lên đây như chị Mai thì lại gầy và đen hơn lúc chưa đi. Thôi cứ ở lại vậy.
MỖI DÂN TỘC CẦN TÁI SUY NGẪM MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG VỀ LỊCH SỬ CỦA MÌNH.
Ngày 7 tháng 3 năm 2024
Nguyên là bài
“Vì sao người Trung quốc vô duyên với tự do dân chủ?” Tác giả: Tiêu Kiện Sinh (Trung Quốc) | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
https://nghiencuuquocte.org/.../vi-sao-nguoi-trung-quoc.../
Tôi tìm thấy bài này là do ngày 15-2-2024 bài được đưa trên mạng Văn Việt với nhan đề “Vì sao chúng ta vô duyên với tự do dân chủ?”.
Cách đặt vấn đề “ cần tái suy ngẫm một cách có hệ thống” lịch sử dân tộc không chỉ đặt ra với giới nghiên cứu lịch sử Trung quốc mà cũng là đúng với giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam chẳng hạn trong việc nghiên cứu về lịch sử hình thành dân tộc, nguồn gốc dân tộc đang diễn ra gần đây.
Vang vọng nhất là cái câu:
"Một dân tộc không thể triệt để suy ngẫm lại lịch sử nền văn minh của mình thì rất khó nói đó là một dân tộc có hy vọng."
Riêng trong hoàn cảnh Việt Nam sự suy nghĩ lại này chắc chắn sẽ khó khăn vô hạn và hứa hẹn nhiều đau xót hơn.
Vì chúng ta không có một nền sử học lớn như Trung quốc.
Mà lại càng khó khăn hơn vì chúng ta vừa trải qua một cuộc chiến tranh lấy những tư tưởng sử học cũ làm nền tảng.
Nhưng chính vì thế càng cần thay đổi như cái câu mà người ta hay nói THAY ĐỔI HAY LÀ CHẾT!
--
Thập niên 80 tôi nảy ra ý nghĩ tái suy ngẫm một cách có hệ thống về lịch sử Trung Quốc. Hồi ấy nhiều người vẫn còn quen dùng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp để xem xét các vấn đề lịch sử, lồng ghép lịch sử sống động vào trong cái khuôn phép giai cấp và đấu tranh giai cấp, tùy tiện xuyên tạc lịch sử, chia con người ra làm hai loại lớn là “cách mạng” và “phản động” để đánh giá người ta, không tôn trọng sự thực lịch sử. Tôi cảm thấy hiện tượng đó làm cho lịch sử bị đơn giản hóa và dung tục hóa.
Đến nay mấy chục năm đã trôi qua, sử học của Trung Quốc đã có tiến bộ lớn. Nhưng trên nhiều vấn đề trọng đại, sử học Trung Quốc vẫn chưa có sự thay đổi thực chất, vẫn ở trong trạng thái tư tưởng hỗn loạn. Người nước ta không muốn triệt để suy ngẫm lại lịch sử của mình, cho nên không thể nhận thức chính xác các thành tựu văn minh trong lịch sử Trung Quốc, không học được các bài học kinh nghiệm thực sự hữu ích.
[Chúng ta] chưa có nhận thức đúng đắn cái gì cần vứt bỏ, cái gì cần thừa kế và phát triển. Kết quả là cái đáng bỏ thì không bỏ, ngược lại còn được coi là tinh hoa văn minh để thừa kế, còn cái tinh thần văn minh nên thừa kế và phát triển thì lại bị coi là cặn bã để vứt bỏ.
Ví dụ, Lão Tử đề xướng chủ trương “Kính thiên thuận đạo”, “Vô vi nhĩ trị”, Nho gia [Việt Nam gọi là Nho giáo] đề xướng thái độ khoan dung “Nhân giả ái nhân”, “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” [1], Mặc Tử đề xướng tư tưởng bác ái, bình đẳng, phản chiến, v.v.
Những tư tưởng và chủ trương chính trị rất hay ấy lại bị phủ định trong một thời gian dài; ngược lại, các tư tưởng bạo lực và chuyên chế và thói giang hồ về sau xuất hiện thì lại được khẳng định và thừa kế lâu dài.
Do tinh hoa văn minh trong lịch sử Trung Quốc không được kế thừa và phát triển nên kết quả là nền văn minh nước ta chưa đi lên con đường phát triển lành mạnh.
Mỗi dân tộc cần nhận thức đúng đắn lịch sử của mình. Chỉ có thế thì mới có thể tỉnh táo biết được đâu là tinh hoa và cặn bã trong nền văn minh ấy, từ đó tìm được cho dân tộc con đường đúng đắn để sinh tồn và phát triển.
Một dân tộc không thể triệt để suy ngẫm lại lịch sử nền văn minh của mình thì rất khó nói đó là một dân tộc có hy vọng.
Rất rõ ràng, một dân tộc không thể đối xử đúng đắn với ngay cả lịch sử nền văn minh của mình thì sao có thể hy vọng dân tộc đó hướng tới tương lai với một chí khí vĩ đại.
Cho tới nay, rất nhiều người vẫn còn coi Xuân thu Chiến quốc là thời đại đen tối, chia rẽ, rối loạn, chư hầu cát cứ, quân phiệt hỗn chiến. Về căn bản, họ chưa nghĩ xem một xã hội đen tối thì sao có thể xuất hiện tình hình Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng? Sao có thể sinh ra được nhiều như thế các nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn học và nhà khoa học? Sao có thể làm cho các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội xuất hiện cảnh tượng phơi phới vươn lên, phát triển mạnh mẽ như thế?
Cho tới nay rất nhiều người vẫn coi việc Tần Thủy Hoàng dùng bạo lực thống nhất sáu nước, xây dựng quốc gia chế độ chuyên chế hoàng đế đại nhất thống cao độ là một tiến bộ vĩ đại của lịch sử.
Thế nhưng họ không nghĩ xem nếu là tiến bộ vĩ đại thì vì sao sau khi Tần diệt xong sáu nước, Trung Quốc lại không tái xuất hiện các nhà tư tưởng vĩ đại như Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử? Vì sao nước ta luôn luôn xuất hiện tình trạng loạn lạc có tính chu kỳ mà không thể nào thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn đó? Vì sao người Trung Quốc trong xã hội triều đại nhà Tần sống khổ như vậy? Vì sao xã hội nhà Tần nhanh chóng thiên hạ đại loạn rồi đi tới sụp đổ?
Cho tới nay rất nhiều người vẫn cho rằng triều đại nhà Tống là một triều đại chuyên chế, thối nát, lạc hậu, nghèo yếu; họ có thái độ phủ định toàn bộ đối với nền văn minh do nhà Tống tạo nên.
Thế nhưng họ chưa nghĩ xem nếu là một xã hội chuyên chế, thối nát, lạc hậu, nghèo yếu như thế thì tại sao xã hội ấy lại sáng tạo nên một nền văn minh dẫn đầu thế giới hơn 100 năm?
Vì sao xã hội ấy cống hiến cho thế giới những phát minh vĩ đại như thuốc nổ, kim chỉ nam, kỹ thuật in chữ rời?
Vì sao dưới đời nhà Tống lại xuất hiện nền kinh tế hàng hóa phồn vinh như trình bày trong “Thanh minh thượng hà đồ”?
Tại sao người nhà Tống lại sinh ra tiết tháo vĩ đại “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”?
Vì sao người nhà Tống lại sinh ra được khí tiết dân tộc cao thượng như “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” [2]?
Cho tới nay rất nhiều người còn thích thú cái gọi là “Khang Càn thịnh thế” [thời kỳ phồn thịnh dưới các triều vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long, kéo dài 134 năm].
Thế nhưng họ không nghĩ xem, nếu “Khang Càn thịnh thế” tiến bộ, phồn vinh như vậy thì tại sao hoàng đế Càn Long mới chết được có 41 năm thì Trung Quốc lại phải cắt đất, bồi thường, mất chủ quyền, làm đất nước chịu nỗi ô nhục khi bị súng lớn của người nước ngoài bắn phá?
Vì sao từ đó trở đi người Trung Quốc bị coi là bệnh nhân Đông Á, bị người ta coi là quái vật và đồ ngu ngốc để cái đuôi lợn ở sau gáy [tức để đuôi sam như người dân tộc Mãn]?
Vì sao Cung Tự Trân [3] lại phải viết câu thơ bi đát “Cửu châu sinh khí thị phong lôi, vạn mã tề âm cứu khả ai, ngã khuyên thiên công trọng đẩu sậu”?
Giờ đây mọi người đều nói phải phục hưng văn minh Trung Hoa vĩ đại.
Nhưng khi nói thế phải chăng mọi người đã nghĩ tới chuyện thế nào là văn minh Trung Hoa vĩ đại? Cái vĩ đại của nó thể hiện trên những mặt nào?
Ngày nay cần phục hưng văn minh Trung Hoa như thế nào? Có ai đã thực sự làm rõ các vấn đề này chưa? Nếu còn chưa rõ văn minh Trung Hoa vĩ đại ở chỗ nào thì sao có thể nói tới chuyện phục hưng nó?
Đại loại những vấn đề ấy đều không thể không làm cho người ta có một cảm giác mạnh mẽ: tuy đã trải qua mấy chục năm cải cách mở cửa, người Trung Quốc vẫn chưa có nhận thức tỉnh táo về lịch sử nền văn minh của mình, vẫn còn ở trạng thái mông muội. Họ hoàn toàn chưa làm rõ cái nào là tiên tiến, cái nào là lạc hậu, cái nào là văn minh, cái nào là dã man. Nếu nói trong thời đại Cách mạng Văn hóa trước cải cách mở cửa, do lý thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp còn khống chế tư tưởng mọi người, họ không thể nhận thức đúng đắn lịch sử của nước mình, điều đó có thể thông cảm, thế thì ngày nay đã cải cách mở cửa mấy chục năm rồi mà người Trung Quốc vẫn còn chẳng hề động lòng, vẫn tê liệt cảm giác, thì điều đó rất không nên có. Một quốc gia, một dân tộc sao có thể lâu dài ở vào trạng thái như vậy ?…
Chính vì nguyên nhân đó mà tôi cảm thấy cần thiết phải dùng các quan điểm văn minh hiện đại như dân chủ, pháp trị, tự do và nhân quyền để triệt để tái suy ngẫm lịch sử nền văn minh Trung Quốc. Tôi cảm thấy trước tình hình phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc, chúng ta cần tiến hành tái suy ngẫm sâu sắc lịch sử nền văn minh nước ta. Có như vậy thì mới hiểu được vì sao Trung Quốc ngày nay lại như thế này, mới biết được người Trung Quốc đã làm đúng làm sai những mặt nào, tại sao người Trung Quốc lại mắc các sai lầm ấy, qua đó hấp thu những bài học kinh nghiệm hữu ích…
Một vấn đề hiện thực nhất là nên cải cách thể chế chính trị hiện nay như thế nào nhằm thích ứng tình hình kinh tế phát triển nhanh chóng của nước ta, qua đó xây dựng nên một xã hội dân chủ, pháp trị, công bằng, tự do và hài hòa. Có người cho rằng Trung Quốc muốn cải cách thể chế chính trị một cách hữu hiệu thì phải bắt chước mô hình chính trị dân chủ của phương Tây, thực hành thể chế hiến chính dân chủ toàn dân tranh cử, các chính đảng thay nhau nắm chính quyền, tam quyền phân lập, v.v., cũng tức là toàn bộ Tây hóa. Nhưng cũng có người cho rằng mô hình chính trị phương Tây không thích hợp tình hình Trung Quốc, việc cải cách thể chế chính trị Trung Quốc tuyệt đối không được đi con đường toàn bộ Tây hóa.
Vậy thì rốt cuộc Trung Quốc có thể đi con đường toàn bộ Tây hóa được không? Nếu không thì đi con đường thế nào? Nói phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa có đặc sắc Trung Quốc, thế thì thể chế chính trị của xã hội ấy nên như thế nào? Nếu nói chế độ chính trị Trung Quốc hiện nay rất hoàn thiện, không cần cải cách, thế thì vì sao lại xảy ra những đại bi kịch lịch sử như “Chống phái hữu”, “Đại Nhảy vọt”, và “Cách mạng văn hóa”? Vì sao trước những tai họa dân tộc cực kỳ nặng nề như vậy mà chế độ của chúng ta lại không có bất cứ phản kháng nào? Khi Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và nhiều nhà lãnh đạo cùng các nhà trí thức và dân chúng bị đối xử bất công mà chết, vì sao chế độ của chúng ta không thể bảo vệ họ một cách mạnh mẽ? Vì sao hiện nay các hiện tượng thối nát như quan chức và doanh nhân câu kết, quyền và tiền trao đổi với nhau, biến của công thành của tư, tiêu xài hoang phí, mua quan bán chức, bọn xã hội đen điên cuồng hoạt động, và quyết sách sai lầm, phân phối bất công, đạo đức suy đồi, lãng phí tài nguyên, môi trường sống xấu đi… lại chưa được giải quyết triệt để?
Cho nên xét theo tình hình thực tế, thể chế chính trị của Trung Quốc không những phải cải cách mà còn phải tăng tốc quá trình cải cách. Nếu không thì không thể tưởng tượng được việc làm sao có thể xây dựng Trung Quốc thành một xã hội thực sự dân chủ, pháp trị, tự do và hài hòa, làm sao có thể thực hiện được mục tiêu Trung Quốc ổn định lâu dài, kinh tế phát triển bền vững, ổn định và lành mạnh.
Lịch sử chứng tỏ, phát triển kinh tế không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của xã hội, chỉ có xây dựng một chế độ chính trị tốt đẹp thì quốc gia mới có thể đi lên quỹ đạo phát triển lành mạnh, thực hiện ổn định lâu dài. Nhà kinh tế nổi tiếng Dương Tiểu Khải có viết bài “Thế yếu của quốc gia đi sau” vạch ra vấn đề này. Ông cho rằng các quốc gia lạc hậu do phát triển muộn nên có rất nhiều thứ có thể bắt chước các nước phát triển.
Có hai hình thức bắt chước. Một là bắt chước chế độ và một là bắt chước công nghệ và mô hình công nghiệp hóa. Vì là nước đi sau cho nên có thể, dưới tình hình chưa có chế độ cơ sở, thông qua bắt chước công nghệ mà thực hiện phát triển nhanh. Có điều là, kiểu bắt chước ấy tuy có thể làm cho quốc gia lạc hậu trong một thời gian ngắn phát triển rất tốt, nhưng lại sẽ để lại nhiều tai họa âm ỉ, thậm chí phát triển lâu dài có thể thất bại, nguyên nhân là ở chỗ không có một chế độ xây dựng tốt để làm đảm bảo. Cho nên ông hy vọng Trung Quốc không nên đi con đường của các nước châu Mỹ La Tinh, do chưa xây dựng được một chế độ xã hội tự do, công bằng, tuy có một thời gian phồn vinh nhưng cuối cùng các nước này đều suy thoái; nên nhìn thẳng vào thế yếu của quốc gia đi sau, dùng việc xây dựng chế độ có tính cơ sở để thực hiện “Dùng chế độ [chính trị] để đưa đất nước tiến lên”. Dương Tiểu Khải cho rằng, từ Ngũ Tứ trở đi, người Trung Quốc đề xướng nhiều về dân chủ và khoa học nhưng lại bỏ qua tự do và cộng hòa. Ông cho rằng, trên ý nghĩa nào đó, tự do và cộng hòa càng quan trọng hơn dân chủ và khoa học. Cũng tức là nói chỉ có xây dựng quy tắc hiến chính và cơ chế cam kết khả tín của Chính phủ, hạn chế các hành vi chủ nghĩa cơ hội của Chính phủ, bảo đảm xã hội công bằng chính trực, bảo đảm quyền lợi và tự do của cá nhân, phát huy đầy đủ sức sáng tạo của cá nhân, đó mới là cái căn bản để Trung Quốc đi lên giàu mạnh phồn vinh.
Sau sự kiện 4/6/1989 [4], xã hội Trung Quốc đã thay đổi rất lớn. Một mặt sức mạnh quốc gia tăng lên, một số thiết bị hạ tầng cơ sở như thông tin liên lạc, năng lượng, xa lộ cao tốc và xây dựng đô thị đều đã tiếp cận hoặc đạt mức của một số nước phát triển, nhìn chung đời sống nhân dân được nâng cao rất nhiều. Nhưng mặt khác, mô hình Nhà nước chủ đạo tập trung tài nguyên đầu tư thiếu sự xây dựng chế độ tốt, thiếu sự giám sát mạnh mẽ của xã hội, kết quả cũng có mặt tiêu cực lớn. Đó là quan chức nhà nước lợi dụng quyền lực trong tay tiến hành tham nhũng trên các mặt đề bạt cán bộ, trưng thu ruộng đất, đấu thầu dự án, dẫn đến sự phình to bộ máy quan liêu và tham nhũng, cộng với sự bất công trong phân phối và sự suy đồi đạo đức của mọi người đã gây nên những vấn đề xã hội nổi trội.
Trước tình hình đó nhiều nhà trí thức đã kêu gọi Trung Quốc cần tăng tốc cải cách thể chế chính trị, từng bước xây dựng chế độ hiến chính dân chủ, bảo đảm quyền tự do và các quyền lợi hiến pháp quy định cho nhân dân về ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng, xuất bản, hội họp, lập hội, sao cho Trung Quốc đi lên quỹ đạo dân chủ và pháp trị, để cho Trung Quốc chẳng những có văn minh vật chất mà còn có nền văn minh tinh thần vĩ đại.
Lịch sử chứng tỏ trên thế giới không có chế độ hoặc nền văn minh nào mười phân vẹn mười. Dưới chế độ cộng hòa dân chủ và lập hiến, xã hội vẫn có tham nhũng, sự cấu kết quan chức với doanh nhân, hiệu suất hành chính thấp và các hiện tượng bất công, bất hợp lý. Nhưng dưới chế độ hiến chính dân chủ, các hiện tượng đó không cấu thành sự thối nát có tính hệ thống, không nguy hại tới sự vận hành bình thường nền hành chính quốc gia; nếu có thì cũng dễ bị nhanh chóng vạch ra và được sửa chữa. Nhưng chế độ chuyên chế trung ương tập quyền có một tệ nạn lớn nhất là toàn bộ hệ thống quan liêu từ trên xuống dưới đều thối nát sa đọa và lừa dối, kiểm soát khống chế, tước đoạt nhân dân nhưng lại khó bị vạch ra – bởi lẽ quyền lực không bị giám sát hữu hiệu.
Bởi vậy, cho tới nay mô hình chính trị dân chủ phương Tây vẫn là mô hình tương đối tiên tiến, có tác dụng hữu hiệu chế ngự quyền lực và chống tham nhũng, có giá trị phổ quát trên thế giới, không phụ thuộc vào ý thức hệ tư bản hay chủ nghĩa xã hội. Xã hội loài người cho tới nay chưa phát minh được một chế độ nào tốt hơn có thể thay thế chế độ hiến chính dân chủ. Cho nên người Trung Quốc nên cố gắng học tập và bắt chước thành quả văn minh ưu tú này của nhân loại. Các nước phương Tây đã học tập và áp dụng “Tứ đại phát minh” của Trung Quốc (thuốc nổ, kim chỉ nam, kỹ thuật in chữ rời và chế độ khoa cử), thế thì vì sao Trung Quốc không học và áp dụng chế độ hiến chính dân chủ của phương Tây?
Trong sách “Tiến trình cải cách” ghi lại lời cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương có đoạn viết: “Dĩ nhiên một ngày nào đó trong tương lai có thể sẽ xuất hiện một chế độ chính trị tốt hơn, cao cấp hơn chế độ nghị viện dân chủ, nhưng đó là chuyện tương lai, bây giờ chưa có. Vì thế có thể nói một quốc gia muốn thực hiện hiện đại hóa, thì chẳng những phải thực hành kinh tế thị trường, phát triển văn minh hiện đại, mà còn phải thực hành chế độ chính trị dân chủ. Nếu không thì quốc gia ấy không thể làm cho nền kinh tế thị trường của mình trở thành kinh tế thị trường lành mạnh, hiện đại hóa, cũng không thể thực hiện xã hội pháp trị hiện đại. Sẽ lại như nhiều nước đang phát triển (trong đó có Trung Quốc), xuất hiện tình trạng quyền lực thị trường hóa, xã hội thối nát và phân hóa hai cực nghiêm trọng.”
Nguyên là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, những năm cuối đời ông Triệu Tử Dương suy đi nghĩ lại rút ra được kết luận như trên không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đó là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn chính trị nhiều năm, là kết quả tái suy ngẫm của ông về con đường phát triển của Trung Quốc. Vì thế các quan điểm của ông rất đáng được mọi người coi trọng.
Dĩ nhiên, tại Trung Quốc, một quốc gia đất rộng người đông và có mấy nghìn năm truyền thống chuyên chế, muốn tùy tiện vội vàng tiến hành cải tạo toàn bộ theo hướng của phương Tây thì chắc chắn có khó khăn. Bởi lẽ trong lịch sử mấy nghìn năm nước này chưa thực sự xuất hiện cơ sở xã hội để thực hành chính trị dân chủ phương Tây. Trong lịch sử cận đại Trung Quốc cũng từng thực hành những cải tạo phương Tây hóa như áp dụng chế độ quân chủ lập hiến và xây dựng Dân quốc Trung Hoa và vì thế người Trung Quốc đã phải trả giá bằng nhiều hy sinh lớn, song kết quả chẳng những không thành công mà còn làm cho xã hội Trung Quốc về sau lâm vào nguy cơ sâu sắc hơn. Bởi vậy cần làm thế nào để, dưới tiền đề giữ vững ổn định xã hội, đẩy mạnh cuộc cải cách thể chế chính trị nhằm thực hiện sự đổi mới nền văn minh Trung Quốc – đã trở thành vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Tìm ra được câu trả lời cho vấn đề này là trách nhiệm thiêng liêng của ngành khoa học xã hội Trung Quốc. Muốn thiết kế thành công việc cải cách thể chế chính trị Trung Quốc thì phải học mô hình chính trị tiên tiến của phương Tây, cũng phải hấp thu kinh nghiệm và bài học trong lịch sử Trung Quốc, bởi lẽ việc xây dựng mô hình chính trị của Trung Quốc thì bắt nguồn từ truyền thống lịch sử lâu dài của nước này.
Chính là xuất phát từ động cơ ấy, trong cuốn sách này tôi đã đối chiếu sự phát triển văn minh phương Tây để chú trọng nghiên cứu một số vấn đề như sau: Vì sao Trung Quốc cổ đại chỉ có thể sinh ra nền văn minh nhất nguyên hóa chuyên chế quân chủ mà không sinh ra được nền văn minh đa nguyên hóa dân chủ như Cổ Hy Lạp, Cổ La Mã? Nền văn minh chuyên chế nhất nguyên hóa của Trung Quốc ra đời như thế nào, rồi phát triển và tăng cường ra sao? Vì sao trong xã hội chuyên chế quân chủ, dưới thời Đường Tống, nhất là đời nhà Tống, người Trung Quốc lại có thể sáng tạo được nền văn minh tiên tiến dẫn đầu thế giới trong hơn 100 năm? Vì sao phương Tây có thể sinh ra được nền chính trị lập hiến? Vì sao nền văn minh nhất nguyên hóa của phương Tây thời Trung thế kỷ lại có thể thực hiện chuyển đổi thành nền văn minh đa nguyên hóa? Còn nền văn minh nhất nguyên hóa của Trung Quốc trong thời kỳ cận đại vì sao lại không thể chuyển đổi như vậy? Đâu là nguyên nhân căn bản gây ra sự thất bại chuyển đổi ấy? Vân vân.
Đồng thời tôi còn phân tích tình trạng văn minh xã hội Tây Chu, Xuân Thu Chiến quốc và các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh; phân tích và đánh giá một loạt sự kiện lớn như Biến pháp Thương Ưởng, nước Tần diệt sáu nước xung quanh, Chiến tranh Thuốc Phiện, Duy Tân Mậu Tuất, chế độ quân chủ lập hiến, Cách mạng Tân Hợi, phong trào Ngũ Tứ, sự kiện tự trị liên tỉnh năm 1921, phong trào Hiến chính năm 1946. Ngoài ra còn trình bày các tìm hiểu về tư tưởng Nho giáo và phương thức tư duy của người Trung Quốc.
Do trình độ có hạn của tác giả, nhiều quan điểm và cách nhìn chưa chắc đã chính xác; nhưng tôi cảm thấy quan điểm của cá nhân chính xác hay không, điều đó không phải là quan trọng nhất. Sự tái suy ngẫm sâu sắc về lịch sử nền văn minh Trung Quốc mới là điều quan trọng, bởi lẽ nó sẽ giúp mọi người tái nhận thức một cách khách quan lịch sử nước mình, giúp mọi người thăm dò khám phá kinh nghiệm thành công và mô hình cải cách thể chế chính trị. Điều đó có ý nghĩa tích cực đối với việc nâng cao tố chất dân tộc, thúc đẩy văn minh Trung Quốc tiến lên, thúc đẩy việc xây dựng Trung Quốc hiện đại hóa.
Cốt lõi của nền văn minh hiện đại là hạn chế sự lạm dụng quyền lực công của Chính phủ, bảo đảm quyền lợi và tự do của các cá nhân. Hiến chương Liên Hợp Quốc thông qua ngày 26/6/1946 coi “Tăng tiến và khích lệ sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của toàn nhân loại” là một trong các tôn chỉ của Liên Hợp Quốc. Tuyên ngôn nhân quyền thế giới do Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948, câu đầu tiên viết: “Thừa nhận sự tôn nghiêm vốn có, sự bình đẳng và các quyền lợi của tất cả các thành viên trong gia đình là nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình thế giới… Một thế giới mọi người được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và thoát được mọi nỗi sợ hãi và cảnh nghèo đói đã được tuyên bố là nguyện vọng cao nhất của dân chúng”.
Trung Quốc là nước ký Hiến chương Liên Hợp Quốc và Tuyên ngôn Nhân quyền. Cố nhiên Chính phủ Dân quốc Trung Hoa phải gánh vác nghĩa vụ thực hiện các nguyên tắc đó. Tháng 10/1945, Mao Trạch Đông tuyên bố với tư cách Chủ tịch Chính phủ trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Trung Quốc phải thực hiện “Các nguyên tắc dân sở hữu, dân trị, dân hưởng của Lincoln và bốn tự do lớn của Roosevelt”. Trong Hiệp định Song thập do Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng Trung Quốc ký kết năm 1945 và Cương lĩnh xây dựng hòa bình do hai đảng nói trên cùng một số đoàn thể chính trị khác ký năm 1946 đều xác định mục tiêu Trung Quốc sẽ thực hành chế độ hiến chính dân chủ và xây dựng Trung Quốc thành một nước dân chủ, tự do, hòa bình, giàu mạnh.
Sự thành bại của một quốc gia quyết định bởi trình độ tự do cá nhân sống trong quốc gia đó, trình độ chuyển biến từ thần dân thành công dân của họ. Nghiêm Phục [5] nói: “Quốc quý tự chủ, dân quý tự do”. Ông cho rằng then chốt sự thành bại của quốc gia là cá nhân “có tự do hay không có tự do”. Một quốc gia mà cá nhân không có tự do tư tưởng, không có nhân cách độc lập thì đó là cái gốc của việc quốc gia đó chưa thể đi lên con đường hiện đại hóa, chưa thể trở thành nước lớn mạnh, người dân chưa thể trở thành công dân.
Có người cho rằng quyền sinh tồn là quyền con người lớn nhất; giờ đây người Trung Quốc đã được hưởng đầy đủ quyền sinh tồn tức là đã được hưởng nhân quyền. Đây là quan điểm sai lầm. Quyền sinh tồn không phải là quyền lợi riêng của loài người; các loài động vật cũng có quyền sinh tồn. Coi nhu cầu sinh lý và bản năng kiếm sống của giới động vật là nhân quyền – đây là sự bóp méo và báng bổ nhân quyền. Nhân quyền là quyền lợi riêng loài người mới có; nhân quyền có hàm nghĩa rất rõ ràng: đó là tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do xuất bản, tự do hội họp lập đoàn thể, v.v. Đây là nội dung nhân quyền do hiến pháp quy định. Muốn bảo đảm thực hiện những quyền con người đó thì phải mở rộng nền chính trị; nếu không thì không thể bảo đảm nhân quyền.
Hiện nay Đài Loan đã đi lên con đường hiến chính dân chủ. Đại lục Trung Quốc cũng nên thực hiện lời cam kết của mình, từng bước ổn thỏa mở rộng nền chính trị, đi lên văn minh hiện đại hiến chính dân chủ. Việc xây dựng nền hiến chính dân chủ không thể xa xôi vô thời hạn, trở thành cái bánh vẽ trong đầu óc người Trung Quốc, mà nên có thời gian biểu, có lộ trình nhằm chấn phấn tinh thần dân tộc, tăng lòng tin của nhân dân về tương lai và tình yêu đất nước, tăng lực ngưng tụ lòng người. Điều này vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng một quốc gia vĩ đại.
Ngày nay, khi ôn lại lịch sử, chúng ta không thể không vô cùng hy vọng về tương lai của Trung Quốc, nhưng cũng không thể không cảm khái sâu sắc về sự thay đổi của lịch sử: mô thức thay đổi triều đại theo kiểu được làm vua thua làm giặc khiến cho người Trung Quốc chịu đựng quá nhiều đau khổ; cường quyền và bạo lực nên được chấm dứt; đằng sau quốc nạn tham nhũng là các khiếm khuyết nghiêm trọng về chế độ, quyền lực thiếu chế ước khiến cho các quan chức mặc sức làm bậy. Sự mở rộng vô hạn quyền của quan chức đã trở thành nguồn gốc của các trở ngại tiến bộ xã hội và mất ổn định xã hội. Cho dù xây dựng chế độ gì, áp dụng mô hình chính trị nào thì mọi quốc gia đều phải coi hiến chính dân chủ là sự xếp sắp chế độ cơ bản không thể thiếu được, đều phải đặt vấn đề hạn chế quyền lực Chính phủ và tôn trọng quyền lợi và sự tự do của mỗi cá nhân lên vị trí hàng đầu.
Một quốc gia văn minh thì phải giải quyết mọi vấn đề trên cơ sở dân chủ, pháp trị, bất cứ ai cũng phải hoạt động trong phạm vi hiến pháp. Trong tình hình bị cưỡng chế bạo lực, mọi công dân không nên làm những việc đi ngược ý chí của mình. Nếu công dân bị cưỡng bức nói ngược lòng mình, làm ngược lòng mình thì chẳng còn tự do gì để bàn. Chỉ cần không vi phạm hiến pháp và pháp luật thì không công dân nào nên bị cưỡng chế. Nhà tư tưởng Anh Karl R. Popper có một danh ngôn: “Mỗi người đều chỉ có quyền hy sinh vì sự nghiệp của mình nhưng không ai có quyền khuyến khích người khác hy sinh vì một lý tưởng.” Điều này nên là nguyên tắc cơ bản mà một xã hội văn minh phải tuân theo.
Việc xây dựng chế độ hiến chính dân chủ của phương Tây bắt nguồn từ một tư tưởng quan trọng – đó là không tín nhiệm quyền lực, cũng tức là không tin vào nhân trị. Kinh Thánh nói “Ngoài Thượng Đế ra, chẳng có ai là lương thiện cả.” Nếu con người đã không tin cậy được thì ắt phải tiến hành chế ước quyền lực do con người nắm giữ. Vì thế các quốc gia phương Tây đặt ra nhiều trình tự để phân tán quyền lực và tiến hành chế ước lẫn nhau giữa các quyền lực, qua đó ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của Chính phủ. Ví dụ bầu cử dân chủ, tự do báo chí, chính trị đa đảng, địa phương tự trị, tam quyền (lập pháp, hành chính, tư pháp) phân lập, kiểm sát viên độc lập, đoàn bồi thẩm độc lập, chánh án độc lập, nhà nước hóa quân đội… Việc đặt ra, xây dựng và hoàn thiện các chế độ đó đã trải nghiệm mấy trăm năm, trong đó tư tưởng cơ bản là bảo đảm các quyền lợi và tự do cá nhân không bị chính quyền xâm phạm. Có lẽ những chế độ đó chưa phải là phương thuốc hiệu nghiệm có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề, nhưng nó là một mô hình sinh hoạt lý tưởng mà nhân loại theo đuổi, là then chốt để một quốc gia, một dân tộc đi lên hưng thịnh.
Trong thời kỳ cận đại, vì để thực hiện mục tiêu vĩ đại hiến chính dân chủ tại Trung Quốc, nhiều người đã nối tiếp nhau tiến lên, nhiều vị tiên liệt như Đàm Tự Đồng, Tôn Giáo Nhân đã đầu rơi máu chảy, trả những cái giá lớn, thế nhưng với người Trung Quốc thì hiến chính dân chủ vẫn như bóng trăng dưới nước, đóa hoa trong gương, có thể nhìn thấy nhưng không thể sờ vào. Năm 1911, Trung Quốc xây dựng nên nước cộng hòa đầu tiên của châu Á. Tiếp đó năm 1949 lại một lần nữa xây dựng nước cộng hòa. Ngày ấy người Trung Quốc đều nghĩ rằng dân chủ đã đến với họ. Thế nhưng cuối cùng thì vẫn là sự thay đổi triều đại kiểu được làm vua thua làm giặc, giấc mơ dân chủ tự do của người Trung Quốc vẫn là cái ảo ảnh.
Vì sao thực hiện dân chủ tự do tại Trung Quốc lại khó như vậy? Vì sao người Trung Quốc lại vô duyên với dân chủ tự do như vậy? Đây là một câu hỏi muôn thủa. Để giải đáp, rất nhiều người đã nghiên cứu bàn luận nhưng chưa ai có thể đưa ra câu trả lời được mọi người tin phục.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tìm hiểu của những người đi trước, sách này tiến hành phân tích bàn thảo một lần nữa về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, tính cách dân tộc, nhằm tìm ra những chứng cớ và con đường để Trung Quốc có thể đi lên văn minh hiện đại. Mong rằng các quan điểm của sách này có thể cung cấp cho mọi người một số gợi ý hữu ích.
Ghi chú (của người dịch)
* 萧 建 生 (1955-), nhà báo, người dân tộc Thổ Gia tỉnh Hồ Nam, tốt nghiệp ngành văn học Hán ngữ Đại học Phát thanh Truyền hình Trung ương, hiện là biên tập viên “Nhật báo Hồ Nam”.
[1] (Theo baike.baidu.com) Kính thiên thuận đạo 敬天顺道: Kính trọng Trời, thuận theo Đạo, nghĩa là tuân theo quy luật của thiên nhiên. Vô vi nhĩ trị 无为而治: Cai trị thiên hạ thuận theo tự nhiên, để cho dân tự do phát triển. Nhân giả ái nhân 仁者爱人: Người có lòng Nhân thì tràn đầy tình yêu thương, là người có trí tuệ lớn, có nhân cách cao cả. Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân己所不欲勿施於人: Điều gì mình không muốn thì cũng đừng áp đặt cho người khác.
[2]. 人生自古誰無死, 留取丹心照汗青 Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Xưa nay có ai sống mãi không chết đâu, (tôi muốn) để lại tấm lòng son yêu nước để chiếu rọi sử sách. Ý nói người có lý tưởng cao quý thì sẵn sàng chết vì sự nghiệp của nước nhà. Một câu trong bài thơ nổi tiếng “Quá Linh Đinh Dương” của Trạng nguyên Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1283), vị tướng chống giặc Nguyên xâm lược và nhà thơ yêu nước đời Nam Tống.
[3] Cung Tự Trân, 龚自珍1792-1841, nhà tư tưởng và nhà văn học đời Thanh, chủ trương chống sự xâm lược của phương Tây, vạch trần sự thối nát của xã hội phong kiến. Đoạn thơ đầy đủ là 九州生氣恃風雷,萬馬齊喑究可哀. 我勸天公重抖擻,不拘壹格降人才. Ý nói: Bất mãn sâu sắc trước bầu không khí nặng nề của xã hội Trung Quốc cuối đời Thanh, tác giả kêu gọi cải cách xã hội, cho rằng biến đổi càng lớn càng tốt, lớn đến như tiếng sấm mùa xuân kinh thiên động địa; tôi khuyên ông Trời hãy chấn phấn tinh thần, đem người tài cho chúng tôi.
[4] Vụ đàn áp cuộc biểu tình của sinh viên ngày 4/6/1989 tại quảng trường Thiên An Môn.
[5] 严复, 1854-1921, nhà tư tưởng khai sáng, nhà giáo dục và phiên dịch nổi tiếng đời Thanh. Quốc quý tự chủ, dân quý tự do: Ý nói tự chủ là điều quý nhất đối với quốc gia, tự do là điều quý nhất đối với nhân dân.
Nguồn: 中国文明的反思 (前言) 新世纪出版社, 香港, 2009年9月25日Bài viết nhân dịp Quốc khánh Trung Quốc và kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tân Hợi (10/10/1911).
NGƯỜI KỸ NỮ, MỘT PHÉP THỬ ĐỘC ĐỊA
Ngày 8 tháng 3 năm 2024
Sự tồn tại của nghề kỹ nữ tuy là cả một tệ nạn xã hội song suy cho cùng cũng là một hiện tượng văn hóa.
Từ xưa tới nay, loại tác phẩm khai thác đề tài này lại khá nhiều, tới mức nếu vứt bỏ chúng đi, người ta không khỏi làm nghèo cái di sản văn học do các thế hệ trước để lại.
Xét cho thật kỹ các từ ả đào, cô đầu, kỹ nữ, thương nữ, gái làng chơi, gái giang hồ, gái làm tiền, gái mại dâm, nhà thổ, đĩ điếm.... vẫn có sự khác nhau chút ít trong ý nghĩa và trong sắc thái tình cảm.
Song dẫu sao giữa những người này vẫn có một nét chung nào đó - đại khái đấy là những người đàn bà không thuộc về một người mà thuộc về nhiều người, ai có tiền là có quyền làm chủ. Họ phải lấy câu ca tiếng hát, và trong nhiều trường hợp cả cơ thể họ ra chiều khách. Niềm vui sống ở đấy mà phương tiện sinh sống cũng dựa cả vào đấy.
Vì gần như thời nào cũng có những người làm cái nghề đặc biệt ấy, nên lẽ tự nhiên là sáng tác văn học viết về họ cũng nhiều, càng sang thời hiện đại càng nhiều. Và cùng với thời gian, việc mô tả thế giới của những người đàn bà này ngày càng kỹ lưỡng hơn, sâu sắc hơn.
Các nhà văn cao sáng, những người làm nên vẻ vang cho các nền văn học lớn trên thế giới, như Tolstoy, Dostoievski ở Nga; Balzac, Hugo... ở Pháp, ít nhiều, trong các tiểu thuyết, đều có đả động tới đám kỹ nữ này.
Trong văn học Trung Quốc, thơ viết về thân phận “chị em” đã nhiều, tiểu thuyết viết về cuộc sống ở các xóm bình khang lại càng lắm, một người bình thường có thể đọc cả đời không xuể.
Điều đó có ảnh hưởng đến Việt Nam. Tác phẩm lớn nhất của văn học ta, thiên truyện phổ biến khắp chợ cùng quê - ý chúng tôi muốn nói đến Truyện Kiều - là câu chuyện xoay quanh đời một cô gái thanh lâu hai lượt thanh y hai lần, và bao nước mắt đã nhỏ vì cô Kiều thông minh tài hoa đó.
Đến đầu thế kỷ XX, khi văn xuôi quốc ngữ phát triển, và việc viết văn làm thơ không phải là món trà dư tửu hậu hoặc một phen bộc bạch tâm sự của mấy vị nhà nho hay chữ chờ đi làm quan, mà là một nghề hẳn hoi, thì tác phẩm viết về cuộc đời các cô điếm dần dà xuất hiện gày càng nhiều. Tại sao?
Người viết văn làm thơ phần lớn cũng là du khách, khách thanh lịch, khi quá mệt mỏi hoặc lúc buồn bã chán chường không tìm thấy nghĩa lý cuộc đời, thường cũng tìm tới chị em để giải khuây, đấy là một lẽ.
Song cái chính là trong khi tiếp xúc, nhiều người viết văn lại tìm thấy trong cuộc sống của chị em những khía cạnh gần gũi với thân phận mình.
Cũng một lứa bên trời lận đận, câu thơ ngày xưa được họ nhập tâm như lời thốt lên từ đáy lòng.
Cả bài thơ Lời kỹ nữ của Xuân Diệu không gì khác cũng là tâm sự của chính nhà thơ khi thấy cuộc đời ghê rợn lại quá lạnh giá, mà mình thì hoàn toàn đơn độc.
Theo các nhà thơ, đấy cũng là cái tâm trạng thường xuyên đến với những người làm cái nghề được gọi là bán trôn nuôi miệng mà lại chưa chịu hoàn toàn hư hỏng.
Cũng nên nói ngay là mặc dù cùng một đối tượng miêu tả, nhưng mỗi nhà văn - ở đây chúng tôi chỉ dừng lại ở các cây bút hành nghề trước 1945 - vẫn nhìn đám đĩ điếm ấy một khác, phù hợp với quan niệm của nhà văn đó về con nguời nói chung.
Có lối lý tưởng hoá người đàn bà giang hồ của nhóm Tự lực (trường hợp tiểu thuyết Đời mưa gió) nhưng lại có lối trình bày hiện thực trắng trợn, tàn nhẫn của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.
Trong Người ngựa và ngựa người, ả giang hồ ế hàng này hiện ra cùng quẫn nhếch nhác rồi hèn hạ, rồi giả dối, như nhiều người đời khác, vẫn thường được Nguyễn Công Hoan nói tới một cách khinh rẻ (chữ người ngựa ở đây để chỉ anh phu xe, còn chữ ngựa người để chỉ người đàn bà bất hạnh ấy).
Vũ Trọng Phụng cũng không hề gượng nhẹ khi phải phác ra hình ảnh những nhà lục xì và những người làm đĩ. Rất tự nhiên, nhà văn họ Vũ lấy họ ra để chứng minh cho căn tính dâm của con người nói chung. Đời ở tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng bẩn, nên chi trong các ngôi nhà mà đám đàn bà này hành nghề, đời càng hiện lên nhớp nháp, nhầy nhụa.
Tuy nhiên trong văn học không chỉ duy nhất có hai cách nhìn như vậy. Ở giữa hai thái cực trên - thi vị hoá và tô đen bôi bẩn - vẫn còn thấy có những trường hợp loại nhân vật phụ nữ này được miêu tả với chút tình cảm dịu dàng, có đau xót nhưng lại có thông cảm.
1. Trong Thề non nước của Tản Đà, cô đầu Vân Anh vốn là con nhà có học, biết chữ nho, có thể làm thơ xướng hoạ với khách (bản thân bài thơ Thề non nước được Tản Đà kể như là do hai người nối tiếp nhau đặt lời mà thành). Cách cư xử của Vân Anh thì tinh tế, ý nhị khiến người có học cũng phải vì nể.
Các tài liệu văn học sử còn ghi rõ chính bà thân sinh ra thi sĩ Tản Đà cũng là một cô đầu. Và cái cốt cách người mẹ như còn phảng phất trong hơi thơ của ông ấm Hiếu. Không thể tưởng tượng ra đời sống văn học đầu thế kỷ nếu thiếu đi ngòi bút Tản Đà tài hoa duyên dáng!
2. Chỉ có một lần nhà văn Thạch Lam vẽ nên cái cảnh nhà săm trong thiên truyện Tối ba mươi. Có điều, nhân vật chính của thiên truyện này lại là hai cô gái còn giữ được phần nào tâm hồn trong sáng bẩm sinh như xưa nay các nhân vật của Thạch Lam vốn vậy. Trong cái Tối ba mươi ấy, Liên và Huệ - tên hai cô gái phải rơi vào cảnh thanh lâu – vẫn không quên thắp hương bày bàn thờ gia tiên rồi cùng nhau yên lặng nhớ lại từng kỷ niệm êm đềm trong quãng đời ngây thơ lúc nhỏ.
Nên nhớ rằng ở Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng, nhiều nhân vật có tiền tài, có địa vị vẫn hiện ra bẩn thỉu vụ lợi, nhiều nhân vật mang tiếng là có tri thức mà suy nghĩ và cử chỉ thì lại đặc lưu manh. Ngược lại ở hai cô gái điếm của Thạch Lam, vẫn có sự thành kính với đời mà chỉ có những con nhà gia giáo mới có. Tóm lại họ vẫn là những con người cao quý.
3. Nhân vật trong các truyện ngắn truyện vừa Tô Hoài viết trước năm 1945 thường là đám dân nghèo chuyên dệt cửi xeo giấy, khá hơn một chút thì có mấy anh giáo kiết gõ đầu trẻ trong làng. Tương ứng với họ, là đám cô đầu phố phủ còn nguyên chất ngoại thành. Như Tô Hoài viết trong Quê người, những cô đào rượu ấy phải khi vắng khách lại đi “ra đồng bắt ốc hái rau muống cấy thuê”. Không ai trong họ có một tính cách rõ rệt, chỉ nghĩ đến họ đã thấy thương hại.
4. Trường hợp của các nhân vật Nguyễn Tuân thì lại hoàn toàn khác. Trong nhiều thiên tuỳ bút, Nguyễn Tuân từng công khai kể lại những ngày ông lăn lộn ở các xóm bình khang mà ông gọi là những ngày phóng túng hình hài, với bao chi tiết vừa đau xót vừa tức cười. Vào với các xóm cô đầu ở bất cứ đâu, ông cũng ngang ngược thả sức quấy đảo trêu chọc mọi người. Song thật sự chàng Nguyễn cũng là một người đối xử với chị em hết sức có tình. Nhà thơ Hoàng Trung Thông kể rằng có lần nghe tin một người cô đầu quen biết cũ qua đời, Nguyễn Tuân đã ứa nước mắt.
Đời Nguyễn nhiều lần ứa nước mắt khóc như thế.
Trong Chiếc lư đồng mắt cua có một nhân vật cô đầu tên là Tâm. Theo như cách kể của tác giả thì Tâm là một người rất thạo, chính cô cũng nhận là cô “gần như thập thành” lại “hơi du côn”, “đã có tai tiếng là đi vụt thiên hạ dữ lắm, không sẵn tiền thì không nên quen con Tâm”. Thôi thì Tâm cũng đủ vành đủ vẻ khinh bạc vênh váo trắng trợn, tóm lại là có đủ những đức tính mà Nguyễn Tuân vẫn phô ra với đời để chứng tỏ là bất cần đời. Có điều, cũng như Nguyễn Tuân, Tâm lại là dân say nghề, một tay cự phách trong nghề, tiếng hát, nói như cách nói của thời ấy, “ rất nhiều tinh thần”, khiến cho những người sành sỏi cũng phải bái phục. Mặt khác Tâm là người sống có tình có lý, đã định làm cái gì là làm bằng được, đàng hoàng khảng khái.
Quả thật Nguyễn Tuân đã soi vào tâm mình để thấy bóng dáng của Tâm, và mượn Tâm để hình dung ra chính mình. Đối với một nhà văn, như vậy là nhân vật cô đầu Tâm đã ở vào chỗ tột cùng của sự trọng vọng.
Qua truờng hợp của những Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng... nói ở trên, có thể rút ra một nhận xét đơn giản: Nhà văn thế nào thì nhân vật gái giang hồ được họ miêu tả cũng na ná như vậy.
Trong văn học, người kỹ nữ vẫn là một phép thử. Như trong đời sống.
-----------
Đã in “Chuyện cũ văn chương” 2001
CHUYỆN ĐỜI SỐNG HÀ NỘI 1981
Ngày 11 tháng 3 năm 2024
Nhật ký hậu chiến
Đã đưa lên blog cá nhân VTN hai lần 2011 và 2021
-----------------
17/1
Ý Nhi kể con ốm nhiều ngày vì thiếu ăn. Ban ngày, cả nhà muốn bán ti vi, ban đêm, lại muốn giữ lại để xem. Ân thì đau bụng đi ngoài. Sau 2 tháng ăn rau, giờ mua được 2 cân cá dầu bé tí để ăn – có thể đó là lý do chăng?
Ông Kiên kể vợ vừa phải mang bán mảnh vải định may quần.
Ông Nhị Ca bảo đời phải có ân oán chứ. Mấy chục năm nay, dân cán bộ khinh dân buôn bán, bây giờ đến lúc bọn buôn bán nhỏ nó khinh lại.
Báo Hà Nội mới ngày 16/1/1981 đưa tin có hai vụ giả mạo giấy tờ, lấy ra của nhà nước 60 tấn gạo.
18/1
Lại nói chuyện đói kém. Nghe nói, ông thứ trưởng Mai Vi đã phải lên trên kêu xin trợ cấp cho văn nghệ sĩ (khoảng 30 ngày) để sống qua ngày. Các đoàn nghệ thuật đi làm ngoài kế hoạch như điên. Tha hồ gây quỹ. Công thức tính tiền lần này: làm thêm 10, diễn viên + lao động được 8 quỹ 1 nhà nước 1.
- Thế còn các cơ quan không làm thêm được thì sao?
Từ trên cùng, ông Phạm Văn Đồng dứt khoát:
- Nhà nước chỉ có thế, ai không làm được thì giải tán.
Nghe đâu Nguyễn Khắc Viện đã gửi thư lên ông Thọ: Lúc này không phải lúc bàn về lý luận, mà là lo cái dạ dày.
29/1
Ng M Châu: Đời mình chỉ thấy hai chuyện ghê gớm, Trung quốc nó đánh mình là một, với hợp tác cho khoán là hai. Gần bằng thế này còn gì nữa - ông úp bàn tay xuống lại ngửa bàn tay lên.
Ng M Châu kể chuyện Ng Thanh Bình xuống Bắc Thái phổ biến cho khoán, dân nó phản ứng, không chịu làm theo, họ cho là cái lối đó là của ngày xưa lạc hậu rồi.
Và Ng M Châu bình luận thêm, này, có khi lãnh đạo tỉnh nó nghe được, mà đám quần chúng lại nhảm không biết chừng. Con người bây giờ không ai cầm nắm được câu trả lời trong tay. Cả thằng tốt lẫn thằng xấu, thằng nào cũng đầy dớt dãi.
27/1
Báo Nhân Dân đăng phổ biến của chính phủ cho phép các xí nghiệp mở rộng kinh doanh. Thay hàng loạt bộ trưởng. Những tên tuổi mới, chưa xuất hiện ở đâu bao giờ.
12/2
Tết. Sôi nổi nhất là chuyện ở khu Vĩnh Hồ. Một giám đốc đuổi một công nhân là bộ đội về. Người này đã có tiền án. Đêm ba mươi, người này đến nhà giám đốc mang theo một cái ba lô.
Gần đến giao thừa, giám đốc ngầm bảo một đứa con đi báo công an. Nhưng con chưa kịp về, thì có một tiếng nổ kinh khủng.
Ba lô kia là ba lô bộc phá. Căn phòng ông giám đốc, và cả căn phòng đó ở tầng trên, tầng dưới (cộng 3 hộ, chạy theo chiều dọc) sụp đổ, chết không sót một người.
Bằng Việt bảo tôi nghe kinh quá, những cuộc đời có thể đi qua không còn lại chút dấu vết gì.
Con gái bảo bố ơi, sao con chẳng thấy kinh gì cả.
Chồng Minh Thái vào bệnh viện Cu ba. Lão bác sĩ công khai bảo anh lo cho tôi ít cà phê tôi uống cho tỉnh táo. Rồi xem cơ quan anh có bán gì, để cho tôi một ít, tôi khỏi phải lo, mới yên tâm chạy chữa được. Hỏi ra, những người vào viện đều phải biếu, khi con gà, cân gạo.
Bác sĩ đi tiếp khách bảo một bệnh nhân: “Tôi mượn mấy quả cam nào”. “Mượn” thật.
Nghe bệnh nhân kêu khát nước “Sao không bảo người nhà bà mang nước đi? Đây không có nước.”
Gần tết nhân viên đến bệnh viện, nhưng đi mua sắm, rồi về đun nước tắm gội đầu, nói chuyện ầm ĩ.
Yến kể ở bệnh viện St.Paul, khoa cấp cứu còn không có thuốc.
Gặp tác giả Núi Đôi, Mậu + Anh Ngọc bảo chúng em định đến nhà anh chơi. Ông Vũ Cao cười:
-- Kể đi chơi bây giờ cũng khó, mà tiếp khách bây giờ cũng khó. Ví dụ không phải bao giờ tôi cũng có thuốc lá mời khách đâu.
Ý Nhi bảo không họp, tôi có thể đứng xếp hàng 2-3 giờ, lấy nửa lít nước mắm. Mà họp thì thấy mất thì giờ quá. Nhưng không thế, cũng không biết làm gì.
Nghe kháo về tình hình một vài cơ quan Bộ Văn hoá:
- Đoàn xiếc: tất cả cơ quan tẩy chay ông Ngô Ngọc Yêng, đoàn trưởng. Bộ bênh. Anh em gần như bãi công. Phải cho ông này về sớm.
--Tạp chí Sân Khấu tổ chức họp, để làm một số báo về mỹ thuật sân khấu. Ông T. V. quyền TBT chủ trì. Một biên tập viên là Đ. đứng lên bảo: Tôi phản đối cuộc họp này. Một biên tập viên tuyên bố phải đuổi Đ ra khỏi cơ quan. Ông T. V. gọi mấy cậu đàn em đến nhà cho ăn, thảo đơn, bảo mọi người ký, đề nghị Đ. đi. Trong khi đó, Đ và hai người nữa phát đơn kiện lên tuyên huấn Trung ương, đề nghị đuổi ông T.V.
Cách kiếm ăn của một phóng viên nổi tiếng trong chiến tranh. Ảnh diễn viên X. đang được mọi người chú ý ư? Đi chụp lại gửi các quầy báo, như người ta đưa thuốc lào. Lần đầu lỗ. Nhưng sẽ ăn ở lần sau.
Khoán nông nghiệp. Nông dân nhắc nhau tối thiểu mười ba, tối đa mười tám. Đây là nói số cân gạo mỗi bên được hưởng.
So ra độ chênh giữa người chăm và người lười cũng chẳng là bao.
Kết luận, làm chết xác đâu có được gì?
Khoảng tết và sau tết trứng lên tới 2,5 đ 1 quả. Chắc ra giêng mới hạ.
Ở một hợp tác xã, giao ruộng đã cấy cho một gia đình, giao hôm trước, hôm sau họ nhổ tất cả lên, cấy lại.
Ở một nơi khác, chưa cấy, chỉ gieo mạ. Bốn mẹ con nhà nọ ngồi chọn, vứt đi cả nửa số mạ đó. Chúng tôi không nhận số mạ này.
Giống hỏng quá, nhiều giống tốt, mà Lê Quý Đôn ghi trong Vân đài loại ngữ, nay không còn nữa.
Cầy bừa do HTX đảm nhiệm. Nông dân đứng ở đầu bờ, bảo ông thợ cầy, ông đi cho tôi vài đường nữa, tôi biếu ông vài phẩy.
Đúng là xã hội đang tan băng. Nhưng một là xác chết đầy ra. Hai là tan không đều, nếu thấy có nơi nó tan, nơi mình chưa tan, đừng có thắc mắc.
Anh thử làm một thứ biên niên sử xem. Mọi chuyện ở Trung quốc và Việt Nam xảy ra rất hợp với nhau, chỉ xê xích chút ít. Sở dĩ các ông nhà mình, các ông ấy dám làm một số việc, là vì các ông ấy nghe tin ở Trung quốc, nó cũng đang rữa ra và họ cũng đang làm kiểu ấy. Bao giờ họ cũng đi trước mình.
20/2
Tính bảo ở nước mình có mấy vụ quan trọng là cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, chống xét lại... Đánh mất những nhân tố tốt, cái đó một phần. Nhưng nguy hiểm nhất, là nó tạo ra những phần tử cơ hội. Nó khuyến khích sự láo lếu.
Một ví dụ về cách làm ăn hồi ấy. Cuối một đợt đấu tranh, ở tờ báo , ngưòi ta phổ biến thêm:
- Đây mới chỉ là một số vấn đề chung. Còn như đồng chí nào có thắc mắc, hoặc có gì báo cáo thêm, lên gặp đảng uỷ.
Ai lên? Toàn dân cơ hội. Những người như ông H, cũng biết là bọn kia xấu, nhưng cảm thấy nói ở hội nghị đủ rồi, không cần lên nữa. Sau mới biết thiệt. Tất cả những kẻ lên bô báo, đều được lên cấp rất nhanh. Loại thứ trưởng lên kiểu như vậy, hiện nay không hiếm.
Đọc Nhật ký Diên An - Vladimirov. Tác giả ghi về các nhà lãnh đạo Tầu:
--Giữa họ với nhau không ai tin ai. Họ như ổ cướp.
--Họ luôn luôn làm ngược những cái mà họ đề lên rất cao là chủ nghĩa Mác, là phục vụ nhân dân, phép biện chứng.
Họ chẳng có lý tưởng gì. Họ chỉ say mê quyền lực.
“Đồng chí sẽ trở thành người Trung Hoa. Tâm trạng của đồng chí, ngay đối với những người gần gũi, cũng không bộc lộ ra điều gì cả.” -- Mao nói với tác giả vậy.
Mao về bản chất là một nghệ sĩ, ông ta biết gác những cảm xúc của mình và khéo đóng vai trò cần đóng ngay cả trước những người rất quen biết.
Chu Ân Lai thì đặc biệt quan tâm để tìm cho được cách xem xét tỉnh táo nhất trong khi giải quyết các vấn đề khác nhau. Nói nhiều nhưng lại rất kín đáo. Dễ chừng thích ứng với bất cứ hoàn cảnh nào. Làm việc 18 giờ một ngày.
Nhận xét của Lâm Bưu:” Đảng ta đang quân sự hoá”
Một tài lẻ của Mao là biết đóng vai người khác, rồi lại hỏi xem mình đóng có giống không.
Mao chỉ say mê tư tưởng cổ đại Trung quốc.
(Ehrenburg từng bảo tôi không thể hiểu được những tư tưởng đó).
Đọc cuốn Nhật ký Diên An này, tôi chỉ nghĩ không biết tác giả có hiểu rằng Tầu sao thì Nga vậy, cũng cùng một giuộc cả.
6/3
Anh Nghi cưới vợ. Nhà vợ thách 40 cân thịt, ba sỏ lợn, vài chục cân gạo nếp cộng thêm quần áo cô dâu, đến vài chục ngàn.
Xuân Quỳnh kể một diễn viên đoàn kịch, cưới vài trăm ngàn. Nó toàn ăn yến ăn vây.
Cái bi đát của xã hội này là người ta tước đi của những người bình thường khả năng chống lại cái ác. Cái ác như là được o bế, được bao che.
Lâm kể chuyện Sài Gòn: Thanh niên thường mượn cớ múa tập thể để nhảy với nhau. Củi đắt. Ở một khu rừng gỗ tạp gần Sài Gòn, ba thế lực tranh chấp nhau là công an, kiểm lâm, du kích địa phương.
Những người lãnh đạo văn nghệ rất sợ các văn nghệ sĩ hôm qua. Tết ở Sài Gòn, người ta chỉ chơi pháo cho vui, không ném vào người như ở ngoài Hà Nội.
Ông Nhị Ca ốm, trung bình ngày tiêu 20đ. 5đ tiền thức ăn, 5 đ tiền thuốc, 10đ tiền đấm bóp.
10/3
Tất cả các thứ đắt lên một cách khủng khiếp. Cắt tóc 1,5 đ. Trứng 1,7 đ. Phong bì 0,1 -- 0,15 đ một cái. Tạp chí Văn học hứa trả tôi bài Thi pháp 100đ vì tạp chí sắp bán 2,5đ.
Truyện Người đàn ông với vòng hoa tang tôi dịch, báo Văn Nghệ trả được 40đ. Hồng Phi bảo thế là rẻ.
Trong khu vực công nghiệp nhẹ, giấy lên gấp ba. Bán giấy thành phong bì còn lãi hơn in sách (dù bất cứ loại gì). Giấy vụn ngoài thị trường 13đ /1kg. Lo việc in báo, Ngô Thảo + Doãn Trung xoay như chong chóng. Kéo nhau vào Sài Gòn tì tì.
Người ta phân tích:
- Trước sau nhà nước cũng phải trợ cấp cho cán bộ công nhân viên.
- Sản phẩm xã hội tăng. Lương công nhân làm khoán bây giờ 4-500. Có nơi HTX thu vài ngàn. Có nhiều người tự nhiên có rất nhiều tiền.
Ng M Châu bảo so với giá vàng, thì chưa bao giờ hàng hoá rẻ như bây giờ.
11/3
Một câu hỏi thường được đặt ra -- chiến tranh để lại dấu vết trong mỗi người thế nào.
Buổi chiều, ở nhà trẻ Thành Công, một đứa bé mãi không thấy ai đến đón. Trông nó gày yếu lắm.
Người mẹ tới. Chị ta còn trẻ, chỉ độ 22. Một tay bế con, tay kia xách xe về (không kịp buộc ghế), trông thất tha thất thểu.
Lúc này mọi người mới biết hoá ra chồng chị là thương binh nặng, ở nhà vẫn nhận đi đón. Nhưng hôm nay anh ta lên cơn thần kinh thế nào đó, quên. Người mẹ về đến nhà thấy xe vẫn để đấy, ghế còn rời không buộc vào xe, biết là chồng quên.
Những người phát động chiến tranh thường nói rất văn hoa và hào hùng. Bọn nhà văn chúng tôi cũng vậy. Nhưng một cảnh sơ sài như hôm nay thôi đã cho thấy chiến tranh là gì. Là có rất nhiều gia đình tổn thương, nhiều người phụ nữ khổ sở. Cộng cả hai ý hào hùng và tan nát lại mới đúng.
Còn như muốn biết dấu vết trong văn học hãy cứ đọc lại ông Tuân ông Diệu thì biết. Ít ra cũng phải nhận là thời đánh Mỹ, bên cạnh hùng khí, trong chúng ta vẫn âm ỉ nỗi sợ trong lòng. Bằng chứng? Trong giọng văn của các bậc thầy văn chương này hồi chiến tranh, nghe thoáng có chút gì đó lải nhải lảm nhảm, giống như cách lên tiếng của con người trong những bộ tộc xưa khi còn man rợ. Hình như tiếng Pháp gọi là barbare.
Trần Độ công nhận nỗi lo lắng của dân lúc này là đời sống, an ninh, việc dạy dỗ con cái.
Ông Dũng ở Lê Văn Hưu chạy cái nhà ở chỗ chợ Hàng Da, phải lên tận các ông to. Nhưng nào có được ngay. Riêng vi thiềng cho Chủ tịch uỷ ban nhân dân quận tàm tạm đã là 3000, mà chưa xong.
Anh T. nghe ở đâu về bảo ở khu Hoàn Kiếm, có khoảng hơn 10 người tỉ phú(?). Phần lớn khoảng tuổi 30 – 40.
Ông V H Sến, một người sưu tầm đồ cổ ở Sài Gòn đang có hai nguy cơ 1/đói, phải bán đồ đi ăn, 2/ luôn luôn bị làm phiền, nhiều kẻ vào hỏi.
Hải Phòng cháy một kho lớn - kho 5 hay kho 6 gì đó. Rất nhiều hàng quý đồng hồ, máu khô, vải vóc. Nghe tin cháy, ông Phạm Văn Đồng phải đến tận nơi.
Bọn đốt nó phối hợp tài tình đến nỗi tất cả các xe cứu hoả đều hết xăng. Phải điện gọi xe Hải Dương, Thái Bình. Mái tôn đổ xuống, nước dội vào chỉ... lạnh tôn đi, không phá được, không cứu được hàng.
8/4
Tin quốc tế: 500 đảng viên Cộng sản bình thường ở Ba Lan họp mặt không theo sự chỉ huy của ai cả, đòi cải cách tình hình, đòi thay đổi Ban lãnh đạo trước - theo cách bỏ phiếu kín - rồi mới thảo ra cương lĩnh sau.
Công đoàn Đoàn kết bắt đầu có giờ riêng trên TV.
Fidel Castro nói tại Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô, phê phán Việt Nam:
+ chỉ chống chủ nghĩa bành trướng, không chống chủ nghĩa Mao.
+ đi với Liên Xô không hết lòng.
+ không chủ ý đến quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa xã hội là không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Tình hình Việt Nam - Cu ba căng đến mức là những ngày này, báo Nhân Dân luôn luôn nói đến Cu ba, vụ Hiron được làm um cả lên. Khi đang ghét ai mà không chửi ra mặt được thì làm bộ hết sức quý hoá - đó là môn võ Tàu rất được thông dụng ở ta.
6/5
Hôm qua họp hội nghị bàn về danh nhân.
Ý hay của một số người -- Danh nhân Việt Nam không có tầm vóc quốc tế. Phần lớn là các anh hùng, số phận chỉ liên quan tới dân tộc.
Còn danh nhân văn hoá của mình (kiểu Hải Thượng Lãn Ông, Phùng Khắc Khoan) thì tầm khái quát văn hóa chưa đủ để giới thiệu ra nước ngoài.
Tại sao xã hội ta không phát triển được?
Theo Lê Văn Lan, cái chính là xã hội ta là xã hội nông dân, nó lại được khép kín chặt chẽ quá. Đến mức như là những lớp kén, không gì phá vỡ nổi.
Nông dân thì bao giờ cũng thù ghét trí thức, ta nhớ không phải ngẫu nhiên, khi Xô Viết Nghệ Tĩnh nổi lên, khẩu hiệu của phong trào là trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ.
- Thế Trung Quốc không phải là xã hội nông dân à?
- Không, nó là một xã hội buôn bán chứ. Ngay cái cách cư xử của nhà vua với các chư hầu, cũng là một thứ buôn: nó yếu ta đánh, nó mạnh thì ta xin hàng, lót tay quỵ luỵ.
(Trí thức Trung Quốc hình thành sớm tại các thành thị có vai trò quan trọng, có đô thị thì trí thức mới có đất để hoạt động. Vì chỉ đô thị mới đáp ứng được nhu cầu tự do cho trí thức.)
Tình hình Ba Lan - theo Doanh, một người đi dịch trong Đại hội Đảng XHCN thống nhất Đức kể --, Jirek là một thứ bài Xô nặng nề, trong thời gian làm bí thư thứ nhất, ông ta đã cho xây dựng khoảng 600 nhà thờ.
Khi tình hình bắt đầu lộn xộn, ông cảm thấy vai trò của mình đã hoàn thành, liền xin từ chức.
Dân Ba Lan bài Xô rất ghê. Họ sẵn sàng vào rừng để chống Liên Xô đến cùng. Liên Xô chưa hiểu sẽ cư xử ra sao, chỉ thấy bảo chớ can thiệp vào nội bộ Ba Lan. Một thí nghiệm về việc mở rộng dân chủ trong lòng Chủ nghĩa xã hội chăng?
Ông Ngô Thảo kể cả quân trường Quang Trung chỉ có 2 cái giếng. Đánh nhau vì lấy nước. Ra cổng, mất ngàn bạc. Gì cũng mất tiền. Ông Doãn Tuế đến kiểm tra bảo chúng nó làm thế này, đến tướng cũng phải đào ngũ. Đợt lấy quân vừa rồi, lấy 7 vạn đào ngũ 4 vạn. Các địa phương bây giờ giao quân tại chỗ, chứ không giao quân ở đơn vị nữa. Quân đoàn 4 sợ không dám lấy lính Sài Gòn. Vì thế thì nó đào ngũ hết.
Một ví dụ về người thành đạt của xã hội này. Ông K.T vốn là chỉ huy một đoàn nghệ thuật được theo Đ Thái Sơn đi nhiều nơi trên thế giới để biểu diễn. Hái ra tiền. Triệu phú chứ chẳng phải chơi.
Trước đó, ông ta bị chuyển công tác vì tội trong khi làm nhiệm vụ, không quên buôn mì chính từ bên Lào về.
Đọc Nghệ sĩ chèo Hoa Tâm
Lương một diễn viên loại như bà Nhữ (mượn ở Hà Nội về hát, khi gánh hát còn ở Vĩnh Yên) là 10đ / tháng. Lương của cô Định (Hoa Tâm) là 8 đ / tháng. Giá cả hồi ấy: 1 xu 1 bữa cơm đầu ghế (ăn cơm có canh, có cá, có dưa, ăn no) 10đ hồi ấy bằng khoảng 3.000đ đến 5000đ bây giờ.
Nghị quyết tư tưởng ghi chú số đảng viên bị kỷ luật thời gian qua 20 vạn, 12 vạn đưa ra khỏi đảng(?). Báo sụt số lượng. Báo chỉ còn bằng ¼ hồi chiến tranh. Báo Nhân Dân trước in 50 vạn. Nay còn khoảng 15.
18/5
Ông Trần Tự ở Hải Phòng về kể dân Hải Phòng rất khoái vụ cháy vừa rồi. Vào hôi thoải mái. Không hôi, được mua các thứ cháy dở cũng đã thích lắm. Các loại vải thường đâu có được vào kho đó.
Kho được xây theo hệ thống các kho hiện đại, điện tắt mở tự động, khi cần người ta dâng nước trong các bể chứa sẵn để dập đám cháy.
Hàng trăm người thường cũng không đốt nổi. Chỉ có những người thông thạo bộ máy của nó mới thực hiện được.
Ví dụ về hàng tốt -- 6 tấn đồng hồ quý bị huỷ. Hàng tấn máu khô v.v.
Tôi nói đùa, tóm lại, không một nước nào dám chơi sang như nước mình.
Cô Châu kể: Tôi vào Sài Gòn, xếp hàng đi lấy vé tàu về quê. Tàu hẹn 6 giờ, 7 giờ, rồi 12 giờ, nhưng không lần nào chạy nổi. Bố tôi bảo ngành giao thông của cả nước mà tư cách không bằng một con điếm.
25/5
Đâm chém đến với nhà trường. Một học sinh hư bị cô giáo đuổi ra khỏi lớp. Sau lại còn đứng ngoài chửi cô nữa. Cô tức quá, tát nó một cái. Thằng bé về mách bố. Bố là một thương binh, nay về đạp xích lô. Hắn đến chửi, đánh cô giáo bị thương nặng, nhưng tiểu khu (tức UB phường) vẫn bênh người thương binh kia. Giáo viên ở trường bãi khoá. Học sinh đến bôi cứt vào đầy bàn.
(Báo Hà Nội mới nói rõ là tay xích lô đánh cô giáo ngay trước mặt đám học trò. Kinh khủng!!)
Lại một dấu hiệu của thời hậu chiến mà người ta lảng tránh, không muốn “gọi sự vật bằng cái tên của nó”.
2/6
Hoà kể anh vợ được một ông giáo sư Liên xô mời sang họp chương trình intercosmos. Nhận được thư riêng của ông Liên Xô kia mới biết, đi hỏi thì ra có giấy mời đã 2 tháng rồi, nhưng không ai chuyển cho mình. Chạy đủ việc, từ chỗ Phó thủ tướng xuống đến giấy đổi ngoại tệ... Nhưng khó nhất là chạy xe ra sân bay. Nơi cho đi, Ủy ban khoa học và kỹ thuật - không có xăng. Cơ quan của cậu ta - Tổng cục Bưu điện - phải lo xe. Nhưng hẹn lái xe 12g, 12g15 họ mới đến. “Mai đi có được không?” Lái xe bảo thế. Lại phải van vỉ một hồi.
Cầu Long Biên Hà Nội. Trong những giờ cao điểm trung bình cần một giờ cho 270 xe đi qua. Nay phải chuẩn bị cho 1000 xe, thì làm sao mà chở được.
Một bài viết về rác thành phố bảo rằng chính các cơ quan nhà nước xả rác và phá hoại trật tự công cộng nhiều hơn nhà dân. Nói chung, trong nhà sạch sẽ hơn ngoài đường. Buổi tối ở Hà Nội đèn đường tối như đom đóm, trong khi đó, ở các nhà quan, đèn sáng lấp loáng.
Một vụ tham ô tập thể được phanh phui trên báo. Lúc đầu chính Bộ chủ quản còn bênh. May mà Ủy ban kiểm tra làm đến cùng. Viết bài trên báo Nhân dân hẳn hoi. Một người bình luận bảo mọi vụ tham ô chỉ trót lọt nếu được cấp trên đồng tình. Tôi thì cho rằng cái lối để cho đơn vị tự kiểm tra mình như thế này, chỉ thúc đẩy thêm nhiều vụ tham ô khác, và số lọt lưới sẽ đông hơn số phát hiện được.
Ông Vĩnh đánh máy cơ quan kể ngày trước ông ta làm thư ký đánh máy ở Sở cẩm, lương hơn 90đ 1 tháng. Gạo hồi ấy giá 1,2 đồng 1 tạ. Như vậy lương ông ta bằng 80 tạ gạo tương đương 80 ngàn đồng bây giờ.
Yến (vợ Tính) đi họp phụ huynh cho con ở trường Thành Công. Cô giáo phân trần không phải cô muốn phụ đạo làm gì. Nhưng vì nhà trường yêu cầu vậy. Tháng mỗi em có 2 đ, nhà trường lại trích làm quỹ một số nữa, nên cô chỉ thu được có hơn chục bạc một tháng.
Vậy mà có phụ huynh còn kèo nhèo, cho là cô kiếm chác. Nói đến đây, tủi thân quá, cô khóc.
Nhân đó, những phụ huynh lên than thở về chuyện nghèo, chuyện con hư, lại khóc một lần nữa. Thế là buổi họp biến thành một đám khóc lu bù.
Thịt lên 70đ 1 kg (thịt thăn). Trứng vịt 2đ/1 quả
XQ kể: Năm ngoái, có một vụ đánh nhau ngoài đê. Dân đổ ra xem, đàn ông người nào cũng cởi trần.
Đồn đại quanh giải bóng đá 1981 vòng 1:
Trọng tài Đ Đ Xuyên thổi cho Sở CN mấy quả phạt đền, phải được vài chục ngàn. Trong khi đó một ông D Mùi bị bọn LT T P tấn cho liểng xiểng. Thổi cho Than Quảng Ninh một quả phạt trực tiếp - đúng luật. Thế mà bọn LTTP vẫn cáu. Lúc giao bóng, mấy tay sút bóng bắn vào người trọng tài, một tay xông vào đạp, đánh, đến bị thương nặng. Nhưng ghê gớm nhất, là người xem lại nhiệt liệt hoan nghênh cuộc hành hung này, hoan hô từ đầu đến cuối.
Tình hình Ba Lan 10 tháng nay, Đảng cộng sản, ông Kania công khai đối đầu với Liên xô.
Công đoàn Đoàn kết bắt đầu tự tin: chúng tôi không can dự vào công việc chính trị, mà chỉ nói chuyện cơm áo gạo tiền.
Chúng tôi thấy vấn đề đổi mới ở Ba Lan và vấn đề bài Liên xô là hai chuyện hoàn toàn riêng biệt.
25/6
Một ví dụ chứng minh rằng ta “rất hiểu về tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật”: Người ta khăng khăng đòi thực hiện viện Hàn lâm (cho nó oai?) tuy có những người như ông Trần Đại Nghĩa, thấy không nên làm.
Còn nhớ ngay sau 1975, có người – hình như là ông Phạm Văn Đồng - nói xơi xơi “Thôi, hai mươi năm thì quá nhanh, cứ tính độ ba mươi năm ta sẽ đuổi kịp Nhật“(!)
Tiếu lâm:
Ở Liên xô một lần có một người dân chót buột mồm ”ông Brezhnev là ngu xuẩn”. Toà luận tội và mọi người đều biết nặng lắm, thì ông ta cũng chỉ bị một vài năm tù vì “phỉ báng người khác”.
Toà họp kín. Nhiều cuộc tranh luận sau toà đi đến nhất trí và gọi dân vào nghe. Hoá ra, bị cáo bị kết tội chung thân.
- Tại sao?
- Không, đây không phải chỉ là vấn đề phỉ báng người khác, mà là một tội rất nặng. Tội “tiết lộ bí mật quốc gia”.
3/7
Về tình trạng ở tù của đám NQ9
Đặng Kim Giang trần tình: Tôi 50 tuổi, cơm bị trộn vôi không ăn được, xin ăn cháo, thì cháo pha cát.
Tr. Thư, một người đọc Ehrenburg nhiều, và dịch Paris sụp đổ, tả rất chi tiết. Tôi bị giam trong một phòng kín, hàng ngày cơm thả từ trên xuống, chỉ nghe tiếng động mà biết cơm ở phía nào, và chỉ cho vào mồm mới biết được ăn gì.
Ỉa ngay trong phòng kín đó, có một cái hố đào sâu xuống đất, nhưng không bao giờ nhìn thấy nó cả, chỉ đặt chân đúng chỗ hai hòn gạch, thì biết là có thể ỉa cả được rồi.
Phòng giam bê tông cốt sắt nóng quá, những đêm hè, tôi cũng phải về chỗ hố xí đó, ngồi lên mấy hòn gạch cho hơi đất bốc lên, dịu dịu một chút, chừng hai giờ sáng mới chợp được một lúc.
Tính kể về ông Lưu Thiếu Kỳ trước khi chết. Một buổi sáng, tại một sân bay nọ ở bắc TQ, người ta thấy mấy người khiêng ra khỏi máy bay một cái xác, phủ trong chăn. Khi mở chăn ra, đó là một người bị giam hãm hành hạ lâu ngày. Đó là thân hình của nguyên chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Tính lại kể khi bọn phi công Mỹ về nước, hỏi cậu Dung (....)
- Ông thấy bọn nó tố cáo cái gì của mình là tàn ác nhất?
- Một tay đại tá bảo tao chưa thấy ở đâu có lối giam cầm dã man như thế này. Dã man vì bắt người ta ở riêng một mình, không được tiếp xúc với các người cùng bị tù, không được nhận thư của gia đình.
...
17/7
Đại hội đảng cộng sản Ba Lan. Một phó thủ tướng lên tranh chức thủ lĩnh Đảng với thủ lĩnh đương nhiệm.... Ông phó này đọc diễn văn, người vỗ tay nhiệt liệt.
Tổng cộng có tới 7 người ra tranh cử như vậy.
Thư kể công nhân 10 người, 9 người rưỡi ăn cắp (trừ tổ trưởng, chỉ ăn cắp chút ít). Đi làm, hôm nào đến cũng tán phét một lúc, rồi chửi loạn cả lên một mẻ sau mới bắt tay vào công việc.
4/8
Nhị Ca (đã theo Xuân Thiêm từ quân đội chuyển về Hội liên hiệp)
-- Từ hồi kháng chiến, tôi đã thấy mọi chuyện không ra sao, toàn chủ tịch xã không biết chữ điều khiển thì còn làm được cái gì nữa.
- Năm 1975, vào Sài Gòn, mới thấy hết cái kinh khủng của cốt nhục tương tàn. Mà rút cục, độc đoán thắng dân chủ, phong kiến thắng tư sản, thế mới buồn cười.
- Ông đừng nói lao động lao động. Trong xã hội này, ai tổ chức cho ông lao động, ai thuê ông, ai dùng ông, đó mới là yếu tố quyết định. Như ở nông thôn chẳng hạn, chia ruộng cho nông dân xong, họ chưa cầm ấm tay, lại tước luôn. Hợp tác là gì, là một thứ chế độ nông nô đời Trần, chứ làm gì có máy móc với quan hệ sản xuất. Chả phục vụ ai, chỉ phục vụ các ông ấy, các ông ấy muốn làm Quang Trung cả.
Tôi tự nhận tôi có tài cán gì đâu. Tôi chỉ làm cho vui, ở đâu tôi cũng thấy thoải mái, chả gây sự với ai hết. Ở VNQĐ cũng sướng. Mà ra ngoài này cũng sướng. Đúng là ra để đi (nước ngoài) chứ còn gì nữa.
5/9
Tàu Liên Xô rất ít vào cảng Hải Phòng mà muốn vào Sài Gòn vì ở đó bốc dỡ nhanh hơn và cung ứng sinh hoạt tốt hơn.
Đỗ Thái Bình bảo vào Sài Gòn bây giờ chả ai coi mình ra gì, đến nhà cửa nó cũng không cho nữa.
Cư đi Liên xô về kể:
- Sở dĩ Đặng Thái Sơn được giải Chopin vì năm đó kém quá, không có ai đáng được giải nữa.
- Ở Liên Xô những năm này, chỉ có bọn lùn [bọn tầm thường chỉ có chút tài mọn] là sống khỏe. Gì nó cũng làm được. Nhưng những tay thật xuất sắc (loại như Shostakovits, Prokofiev) bây giờ không có.
Khoảng thời gian 1960 cho đến 65, đúng là mùa xuân của xã hội Xô Viết.
Bây giờ phương Tây nó không thèm sang Moskva nữa. Phim ảnh không sang. Festival không. Nhạc sống không sang.
Ở trường Hội nhà văn, Hoàng Ngọc Hiến và Phạm Vĩnh Cư đã quyết định... không cho các học viên học ngoại ngữ nữa. Kết quả, nếu có thể nói, chỉ đạt 1 % so với yêu cầu. Ngoài ra, không được việc gì cho cái đám đông đầy tham vọng đó.
Nên nhớ, hồi đầu ông Hiến rất thích cho học viên học ngoại ngữ và các học viên cũng hăm hở không thể tưởng. Có cậu đã tuyên bố nên gọi lớp này là lớp Bổ túc ngoại ngữ. Anh em tự nghĩ văn học thì mình đã viết rồi, chỉ có ngoại ngữ là chưa biết.
Thế mà đến lúc người ta phải cho nghỉ học.
Tôi ngờ rằng chiến tranh, --nhất là chiến tranh ở VN -- làm cho người ta mất đi nhiều thói quen bình thường mà việc học ngoại ngữ đòi hỏi, ví như thói quen cần mẫn làm một việc gì đó mà không có hiệu quả ngay, hoặc thói quen phải chấp nhận học thuộc lòng cái gì đó chứ không có việc lý giải tại sao tại sao làm thế.
Lúc nào cũng thấy người kêu khổ. Lúc nào cũng cảm thấy muốn nói to lên rằng mình khổ lắm rồi. Hoà bảo cứ ba người ngồi với nhau là thả nào cũng có chuyện nói xấu chế độ.
Ngày 2/9 năm nay buồn bã không thể tưởng. Nhà nước không bắn pháo hoa và nói chung không có gì để cho dân. Trên phố nhiều nhà không treo cờ.
Giá cả leo thang đến với những đồ vật nhỏ nhất. Vỡ cái ấm cái chén là chuỵện lôi thôi, mất vài đồng như chơi.
Ai đó bảo ở SG dân số đã lên tới 7,5 triệu(?). Chắc có nói quá lên, nhưng quả là tăng lên nhiều. Không có hộ khẩu người ta cũng cứ chuồn vào rồi chạy dần. Tạm bợ không phải là cách sống của thời chiến mà cũng là của thời hậu chiến.
Vải valize HN mang vào SG làm thành quần áo lại mang ra HN bán. Đồ chơi của SG cũng tốt, những cái bếp điện bằng nhựa không thiếu chi tiết gì, cái nào cái nấy khít khàng chặt chẽ.
Ông Khải kể thằng con dạo này chạy được chân làm khách sạn, ăn ở đấy, cà phê thoải mái, tháng còn mang được 600 về cho gia đình.
16/9
Đi họp chi bộ đường phố.
- Lần đầu tiên, từ Giải Phóng thủ đô 1954 có chuyện biểu ngữ dăng ra bị dỡ cờ, khẩu hiệu bị ăn cắp. Không phải vì thiếu (vải biểu ngữ rất xấu), cơ bản vì phá hoại.
Ở nhiều địa phương, trước bầu cử, cùng có chuyện tương tự. Ở quận Ba Đình tối 30/8 dăng ra, sáng 1/9 đã mất.
Cờ bạc nhiều. Đường Ngọc Hà, tối tối thanh niên tụ tập cờ bạc. Ở Hàng Giấy, công an gác dân, tối cứ quây quần cả đám, vòng trong vòng ngoài, chả biết giời đất gì nữa.
Có người dân tuyên bố, cần việc gì thời nay cứ đếm đếm là xong tất.
Cánh áo vàng hay thì thụt vào những nhà phe phẩy.
Bà Phú bán nước ở sau thư viện kêu từ nay thấy bóng chúng nó thì có điếu đầu lọc nào phải cất đi sớm. Toàn chịu với mai giả, mai cái mả bố nhà chúng nó.
Thanh niên đi bộ đội, người đi tiễn về đến nhà, đã thấy nó về trước mình rồi.
Mùa hè, nhà máy sản xuất nước đá phân phối đi các nơi. Năm ngoái, chỉ 75% đá về tới đích. Năm nay 60%. Đầu tháng 9 rồi, mì tháng 8, chưa bán. Hết mì.
Mấy vấn đề thành uỷ HN nát đầu chưa giải được:1/ gạo mì, 2/ phiếu có rồi, không có vải, 3/ lính không đi nghĩa vụ...
29/9
Hai vụ sinh viên “nổi loạn” một của trường Bách Khoa và một của trường Tổng hợp.
Ở Bách Khoa, đại loại người ta chiếu phim. Một số sinh viên đòi vào không được. Ẩu đả. Sinh viên bênh nhau, kéo đến tận nhà người soát vé kia, phá nhà, san đổ mọi thứ.
Ở Tổng hợp, hình như ngược lại. Sinh viên gác cổng một buổi biểu diễn, một số lưu manh phe phẩy kéo vào. Đánh nhau to. CA được gọi điện không đến. Sinh viên kéo đến nhà bọn phe phẩy kia đập phá, sau lại mượn cả ô tô bộ đội đến, chà xát cho tan mấy căn nhà kia.
Gọi lên CA:
-Tại sao các anh làm thế?
- Chúng tôi phải bảo vệ chính quyền vô sản.
Tuấn kể. Mới tính trong một số thành phố lớn, đã có 1,2 triệu thất nghiệp. Hà Nội 32 vạn. Sắp tới bộ đội về 20 vạn. Hàng năm, cả nước, có thêm 1,2 triệu người đến tuổi lao động.
Bản tin tham khảo đưa ra con số Trung quốc hiện có khoảng 20% (10 triệu thanh niên) thất nghiệp.
Về giá cả. Sách lên 53đ một ngàn chữ. Báo Nhân Dân 5 hào. Báo Văn nghệ 1,5 đ. Lốp xe đạp 250đ, một cái chậu tắm trẻ con 400-500đ. Một cái xoong quấy bột cũng vài chục. Giá vé máy bay định lên 1200 và tàu hoả Hà Nội-Sài Gòn 750 đồng. Xăng từ 1 lên 7,5đ.
Một đám tang sau 1-10 chi tiền xe trên 500 (trước chi khoảng 86đ)
Một bài xã luận trên báo Nhân Dân mang tên Kỷ luật giá cả. Ai đó buột miệng: Cả nước bị kỷ luật.
Ngày 1/8 báo Nhân Dân có tin nông trường Mộc Châu thường xuyên đổ đi hàng tấn sữa mỗi tháng. Tháng 5/1981 đổ 14 tấn. Vì không có đủ sắt tây làm hộp.
Trước đó mấy hôm, cũng báo này có tin một cán bộ Bộ ngoại thương một chuyên gia xuống cảng lấy hàng.
Gặp cả giám đốc cảng cũng không có ai chịu làm. Cẩu nghỉ, công nhân bốc vác nghỉ...
Cuối cùng, tự “khách hàng” phải đảm nhận việc bốc dỡ.
Tuấn kể các chuyên gia ở UB kế hoạch nhà nước đều xin về nước.
Ca dao tục ngữ:
Trần Phương, Trọng Truyến, Trần Quỳnh
Gặp ba thằng ấy, dân mình đói to
Nhà nước tăng lương Trần Phương tăng giá
Nghe đồn nguyên tắc của Trần Phương: Tăng giá đến mức người mua không mua được nữa thì thôi.
26/10
Mấy vụ bê bối:
- Bùi Thanh Liêm, phi công vũ trụ, chết vì đâm xuống biển. Lại là con một. Bà mẹ lên khóc lóc, đi làm, đến cái lốp xe không có (trong khi Phạm Tuân, nhà nước làm cho cả một con đường vào nhà).
- Một ông tướng chết. Đang ngồi ô tô thì xe gặp một con bò chạy lồng trên đường. Tay lái xe lái quật lại, xe bị nhào xuống ruộng, bản thân ông tướng bị thương.
Đang ở quãng Phà Ghép, điện về, xin trực thăng vào cấp cứu.
Máy bay đâm vào một đám mây tích điện, chết hết. May lão còn được cái xác.
(Lão này, đi đâu phá đấy, gần đây, vào Khu IV, cho dân công đi đốt chợ để trị đầu cơ, do đó, coi như lập công!)
- Một phi công trực thăng trốn ra nước ngoài. Nghe đâu phi công bị kỷ luật xuống làm thợ, anh ta ăn cướp máy bay. Lôi cả gia đình đi. (Dân kể tưởng máy bay hết xăng, nó hạ ngay xuống sân Long Biên - sợ quá, dạt cả ra).
13/11
Rau muống to, lên tới 3đ một mớ. Gạo trong khẩu phần ăn tăng lên, hình như Liên Xô không cho mỳ nữa, chết đói mất.
Năm nay ít mưa, cây cối khẳng khiu chẳng lớn được.
Mùa màng lại bị rầy nâu. Không có thuốc sâu, đến bình cũng để phun thuốc cũng không có nốt. May mà đã khoán, để cho người ta đi làm một chút. Ông Hiến nói bô bô ở thư viện không khoán chính phủ này đổ rồi.
Một bài trên báo Nhân Dân tháng 10/1981 viết nhà nước phá rừng là ghê gớm nhất, tốn kém nhất. Sau đó mới đến nhân dân (Nhà nước= cơ quan nhà nước, cơ quan lâm nghiệp...)
Hồ Tây, cá đánh 1 con mất trộm 1 con. Cá đánh được ngày càng bé đi.
Sài Gòn 1981 xuất cảng 15.000 xe đạp. Hà Nội đặt 5000 xe, đến 11/1981 chưa được chiếc nào.
Tuyên bố về nhân quyền quốc tế: Người lao động phải được trả lương công bằng, hợp lý để anh ta và gia đình anh ta sống có nhân phẩm.
CON NGƯỜI VÀ TƯ TƯỞNG THỜI BAO CẤP
Ngày 18 tháng 3 năm 2024
Nhân cuộc trưng bày về cuộc sống Hà Nội 1975-86 tại Bảo tàng dân tộc học' 2006.
Bởi cuộc trưng bày này cũng có thể mang cái tên là CUỘC SỐNG HÀ NỘI THỜI HẬU CHIẾN nên chúng tôi đặt vào đây trong loạt bài Hà Nội hậu chiến còn tiếp tục.
***********
MỘT CÁCH LÀM SỬ
Mặt nghệt ra như mất sổ gạo. Một yêu anh có may ô -- Hai yêu anh có cá khô để dành -- Ba yêu rửa mặt bằng khăn--- Bốn yêu anh có cái quần đùi hoa. Những câu ca dao tục ngữ ấy được dịch hẳn ra tiếng Anh rồi được kẻ nắn nót cẩn thận trên những bức tường lớn, dưới đó là mấy gian trưng bày các hiện vật theo một cách thức mà trong điều kiện ở Hà Nội này phải gọi là “hoành tráng”.Đó là một căn hộ thu nhỏ với những vật dụng phổ biến một thời, kể cả cái hố xí được ngăn lại để nuôi lợn. Đó là một cửa hàng gạo có kèm theo thông báo tháng này bán gạo thế nào. Rồi một cửa hàng bách hóa với biển hiệu rỉ nát và những bao thuốc cũ mèm, tưởng như sắp mốc đến nơi.
Bộ sưu tập "Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp" đã trình diện như thế tại bảo tàng có uy tín số một hiện nay, Bảo tàng dân tộc học.
Một định hướng lớn của bộ môn lịch sử - văn hóa thời hiện đại là đi vào những chuyện có vẻ không có gì đặc biệt, nói theo nhà nghiên cứu F. Braudel, “những cấu trúc của sinh hoạt đời thường”.
Một lần tôi đọc tờ báo chuyên về điểm sách của Nga, được biết bên Moskva họ cho dịch cả những cuốn kể chuyện nước Đức thời Hitler, người dân thường đọc sách gì, xem phim gì, đi làm bằng phương tiện gì, học sinh học sử ở trường ra sao, mơ ước về tương lai ra sao. Còn bản thân người Nga cũng làm những cuốn tương tự, trình bày riêng về từng giai đoạn như các thập kỷ sáu mươi, bảy mươi thế kỷ XX.
Mà chẳng phải đến thế kỷ XX người ta mới làm vậy. Trung quốc, ngoài các bộ chính sử kinh điển, lại sớm có từ lịch sử ăn mày, lịch sử lưu manh, tới lịch sử trò chơi, lịch sử tuyển chọn người đẹp tiến cung (bản tiếng Việt mấy cuốn này đều đã in ra từ mấy năm trước).
Còn ở mình thì sao? Cách hiểu về sử quá cổ lỗ.
Lịch sử thường chỉ dành riêng cho những chuyện quen gọi là thiêng liêng, và quá khứ thì cứ bị quấn vào hiện tại, để rồi người viết lúng túng như gà mắc tóc, làm khoa học cũng cũng vật vờ mà làm chính trị cũng nửa vời kiểu ăn theo, chẳng đâu vào đâu.
Giở lại cuốn Từ điển tiếng Việt của Văn Tân do NXB Khoa học xã hội cho in năm 1977, thấy mặc dù đã nói tới hiện tượng móc ngoặc đến những người chuyên nghề phe phẩy, song hai chữ bao cấp vẫn chưa có mặt. Người ta cũng có thể quan sát thấy tình trạng tương tự ở các từ điển từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài (chẳng hạn từ điển Việt Hán) cùng xuất hiện trong thời gian trên. Mãi đến từ điển Hoàng Phê mới thấy bao cấp được định nghĩa đầy đủ.
Từ nhiều năm nay trong xã hội đang tồn tại một tình trạng sinh hoạt tinh thần có thực -- những vấn đề có ý nghĩa nhận thức như “ta đang là gì”, “ở vào tình trạng như thế nào “ không được xã hội xem trọng ; mỗi khi cần thay đổi, chỉ thích bàn nên làm thế này thế nọ mà không chịu nghĩ lại xem bắt đầu từ đâu, dân mình đang có những chỗ hay chỗ dở ra sao. Nói chung nhiều lúc thích sống về phía trước hơn là quay lại chuyện cũ.Mà khi người ta không tự hiểu mình, không có sự đánh giá đúng đắn về quá khứ thì mọi hành động lao tới phía trước rất dễ sai lệch.
Xét trên mặt bằng chung đó, phải nói phòng trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp là một nỗ lực khai phá mở ra một hướng nhìn lại quá khứ rất có triển vọng. Nhờ sự gợi ý và giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế (1), lần đầu tiên có một cách tổng kết lịch sử theo cung cách rất hiện đại. Nhân triển lãm người ta có thể nghĩ lại về cách sống một thời, từ đó liên hệ với sự phát triển của con người trong hoàn cảnh của nền kinh tế thị trường hôm nay.
MỌI CHUYỆN CÓ TỪ BAO GIỜ
HAY LÀ MỘT ÍT SỰ KIỆN “ĐÃ THUỘC VỀ LỊCH SỬ”
Sẽ là không thừa nếu “chính danh” một chút, tức tìm cách gọi đúng tên sự vật trước khi bàn về sự vật đó.
Về mặt thời gian, lẽ ra, cuộc trưng bày trên Bảo tàng dân tộc học phải mang cái tên là CUỘC SỐNG HÀ NỘI THỜI HẬU CHIẾN. Còn nếu muốn đi vào thực chất kiểu sống những năm ấy, thay cho bao cấp, người ta có thể dùng những chứ khác như thời trì trệ.
Bề nào mà xét thì cũng phải có cái nhìn bao quát từ chiến tranh 1965 - 75, và lùi lại cả giai đoạn từ sau 1954 trở đi cho tới ít nhất là 1986.
Trong cái mạch chung đó, giai đoạn sau từ 1975 cho tới 1986 chỉ là một phân đoạn --- tuy là phân đoạn chín nhất, bộc lộ một cách đầy đủ nhất bản chất của một giai đoạn phát triển xã hội.
Những ai từng đọc các bộ lịch sử Liên xô cũ hẳn nhớ, chủ nghĩa Cộng sản thời chiến từng được giải thích khá kỹ và tinh thần của nó còn chi phối tới khi nhà nước sụp đổ.
Ở Trung quốc, những quan niệm cơ bản đã được thể nghiệm từ thời Diên An để sau 1949 triển khai ra toàn đại lục rộng lớn, kể cả Bắc Kinh Thượng Hải.
Còn đối với nhiều người dân Hà Nội, thì đó là cả một câu chuyện khá dài.
Trong hồi ký Cát bụi chân ai, Tô Hoài từng kể về không khí Thủ đô sau 1954:
“Chín năm ở rừng, không có lương, quần áo phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lấy ở kho từng miếng, cơ quan sắm dao kéo húi đầu cho nhau. Trở lại thành phố, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề. Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà Thủy tạ. Nhà hàng Phú Gia vang đỏ vang hồng vang trắng vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên. Áo khoác da lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế. Hàng Trung quốc thôi thì thượng vàng hạ cám. Kim sào, kim khâu, chỉ mầu, củ cải, ca la thầu sắng xấu mỳ chính xe đạp cái xe trâu cao ngồng. Ca xi-rô ngọt pha vào bia cho những người mới tập tọng uống bia. Bắt đầu được lĩnh lương tháng. Không nhớ bao nhiêu, nhưng tối nào cũng la cà hàng quán được. Có cảm tưởng cả loài người tiến bộ đổ của đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ”(2)
Nhưng cái giai đoạn thoải mái mà Tô Hoài tả đó chỉ ngắn ngủi chốc lát. Hàng hóa nhiều không phải vì làm ra mà vì mới tiếp quản thành phố sẵn của kho đem bán. Nguồn hàng không phải tự mình làm ra ấy cạn rất nhanh. Và cái câu mà một tờ báo lấy làm đầu để “màu thời gian xám ngắt” (Tiền phong chủ nhật 17-6-06) bắt đầu từ đây.(3)
Trước tiên là sự thiếu thốn.
Nhiều mặt hàng thiết yếu sản xuất ra không đủ, phải bán nhỏ giọt mà là nhỏ giọt theo kiểu người thời nay khó tưởng tượng được.
Sách Kinh tế Việt nam 1945-2000 do Đặng Phong chủ biên có chụp lại thông báo của Sở thương nghiệp Hà Nội 11-1956, trong đó nói rõ các đại lý diêm được “nâng mức bán lẻ từ một đến năm bao”, tức là mỗi người được mua năm bao sau một lần xếp hàng.
Đây nữa, một ít con số mà tôi “làm cái sái nhì” lấy lại từ cuốn sách vừa dẫn.
Trên công báo 1955, có ghi mỗi công nhân viên về nguyên tắc mỗi năm được cấp 5-7 mét vải. Đầu 1955, sinh đẻ được cấp 5 mét diềm bâu khổ 70mm, 30 kg gạo; văn phòng phí gồm 1,5 thếp giấy /tháng / người.
Bình quân 10 người / tờ báo Nhân dân, một tờ Cứu quốc. Quạt điện cấp cho các vị từ cấp Thường vụ Ban thường trực Quốc Hội, Bộ Thứ trưởng, các chuyên gia nước ngoài, các đoàn ngoại giao. Cũng diện Bộ Thứ trưởng được dùng điện đèn, điện quạt tùy yêu cầu (tr. 665).
Sự thiếu thốn này kéo theo cả một quy trình sống mà người ta phải thích ứng.
Khoảng trước sau 1960, bắt đầu có chế độ sổ gạo áp dụng cho toàn dân. Rồi tiếp sau đó, dường như tất cả nhu yếu phẩm đều có phiếu, như phiếu mua pin cho máy thu thanh – mà hồi đó người Hà Nội quen gọi là đài --, phiếu mua phụ tùng xe đạp. Có hai điều không cần phải nói ai cũng biết
1/ định lượng cung cấp cho đại bộ phận các thành viên xã hội ngày mỗi giảm
2/ chất lượng các nhu yếu phẩm ngày một kém.
Điều này đã được một cán bộ thương nghiệp nhẩm thành bài vè Nhất gạo nhì rau –
Tam dầu tứ muối –
Thịt thì đuôi đuối --
Cá biển mất mùa –
Đậu phụ chua chua –
Nước chấm nhạt thếch --
Mì chính có đếch –
Vải sợi chưa về --
Săm lớp thiếu ghê –
Cái gì cũng thiếu (tr 412).
Tất cả cứ thế mà trượt dài cho đến giai đoạn hậu chiến.
THÍCH HỢP NHƯNG ĐỂ LẠI NHIỀU DI LỤY
Thời bao cấp (75-86) luôn được biết đến như một thời gian khó với cơ chế quản lý kinh tế xã hội không thích hợp. Trong bản giới thiệu trước khi dẫn vào triển lãm Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp có ghi như vậy. Xét theo lẽ phải thông thường, có thể thấy điều đó là đúng. Làm sao mà quản lý xã hội kiểu đó là thích hợp được?
Nhưng nên nhớ điểm xuất phát của chính sách này là hoàn cảnh “thời chiến”, một cuộc chiến tranh chúng ta luôn luôn ở thế yếu và phải có những nỗ lực vượt bậc.
Tất cả cho tiền tuyến.
Thóc không thiếu một cân – quân không thiếu một người.
Những khẩu hiệu đó được hiểu chính xác đến từng chữ.
Người ở hậu phương lúc này như sống theo ăn theo.
Thế thì có thiếu cũng là bình thường!
Vả chăng, để tiến hành chiến tranh, xã hội cần phải kết lại thành một khối rắn chắc, mà muốn thế, cần ghép mọi người vào tổ chức, nói theo một danh từ của khoa nghiên cứu VĂN HÓA TRUNG CỔ là “ ĐOÀN NGŨ HÓA “ họ, buộc họ vào một mớ cho dễ sai khiến.
Việc phân phối theo kiểu bao cấp chỉ là kết quả của một quá trình lớn lao hơn: Tất cả những gì thuộc về con người phải được quản lý.
Nếu nhìn nhận liền cả một quá trình như thế thì có thể thấy rằng không phải cái cơ chế quản lý kinh tế mà ta gọi là bao cấp ấy là không thích hợp, mà có thể nói nó là một cái gì hết sức thích hợp mới đúng.
Tương tự như câu chuyện hợp tác hóa.
Chắc chắn là không có hợp tác hóa không thể đánh Mỹ được.
Tại sao vậy?
Bởi có hợp tác hóa thì mới dễ dàng huy động được những sản phẩm mà nông dân sản xuất được để tiếp tế cho chiến trường.
Có hợp tác hóa mới dễ đưa người đi bộ đội.
Đó không phải là một kiểu quản lý khôn ngoan và có hiệu quả ư? Tất nhiên rồi.
Nhưng không thể có cách nào khác.
Ra đời trên cơ sở một cơ chế sản xuất bị kìm hãm, quy trình bao cấp sau đó quay trở lại củng cố sự kìm hãm đó, tức làm cho tình trạng trì trệ càng thêm trì trệ.
Cái được rất nhiều, nhưng cái mất còn lớn hơn nữa.
Và cái đáng sợ nhất là không ít người coi cách quản lý đó là duy nhất thích hợp nên không nghĩ đến chuyện làm khác đi, thậm chí hủy bỏ, khi hoàn cảnh đã thay đổi.
Bởi nó tiếp tục duy trì có tới cả chục năm sau chiến tranh, nên cuộc trưng bày mới được khuôn vào quãng thời gian 75-86 nói trên.
Lúc này cái chế độ bao cấp đã đạt đến mức “ cổ điển” của nó.
Người ta sống trong đó như cá trong nước, nghĩa là tự nhiên thuần thục, và đành lòng chấp nhận tất cả.
Chỉ lấy ví dụ về lương, đây là con số đưa ra trong cuốn sách Kinh tế Việt Nam1955-2000 cách tính toán mới phân tích mới (Trần Văn Thọ chủ biên, nhà xuất bản Thống kê 2000): so với năm 1978, thì mức lương năm1980 chỉ bằng 51,1% và năm 1984 chỉ còn 32,7%. (4)
Sự vô lý đã lên đến mức không cách gì bào chữa được nữa.
NHỮNG SỰ GẬM NHẤM THƯỜNG TRỰC
Tiếu lâm Việt Nam nổi tiếng với các loại truyện có liên quan tới miếng ăn, từ thày đồ ăn vụng mật tới anh chàng sang nhà bố vợ, nhờ con gà vướng dây mà gắp lia lịa.
Với rất nhiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, với Đói của Thạch Lam hoặc Một bữa no của Nam Cao … người ta đã thấy văn chương tiền chiến có nhiều tác phẩm cảm động đi vào miêu tả những liên hệ của con người với miếng ăn.
Hồi ký Từ bến sông Thương của Anh Thơ kể hồi kháng chiến chống Pháp, có lần tác giả bắt gặp Xuân Diệu đang trên đường vào Khu Bốn. Hỏi tại sao vào, mới biết ra ở Việt Bắc thiếu cái ăn quá, tác giả Thơ thơ “du” Thanh Nghệ để tìm cách cải thiện sức khỏe.
Mối quan hệ giữa con người và miếng ăn vốn đặc trưng cho mỗi thời đại.
Tháng mười 1954, khi Hà Nội mới giải phóng, tôi ở vào tuổi 12. Trong số những kỷ niệm liên quan tới sự kiện này, có việc một hôm chính quyền bán theo giá rẻ gần như cho không mỗi hộ một kg đường. Cả cái xóm nghèo Thụy Khuê chúng tôi háo hức chờ đợi. Và ở tuổi 12, tôi được theo người lớn đi xếp hàng từ bốn giờ sáng. Quý lắm, hể hả lắm, mỗi lần nói tới giải phóng Thủ đô lại nhớ cân đường mua rẻ.
Gần mười năm sau, mùa hè 1963, trong những ngày học Đại học sư phạm Vinh, một lần lớp Văn II B của tôi lên huyện miền núi Nghi Lộc giúp dân thu hoạch lúa. Để động viên, cấp trên phát chúng tôi mỗi người một lạng đường gói vào tờ giấy báo. Xin phép gạt nỗi xấu hổ ra một bên để thú thực là ngay trong buổi họp, nhiều sinh viên, trong đó có tôi, đã giở cái gói mỏng teo đó ra, liếm sạch, vừa liếm vừa nhìn nhau cười, vì không ai bảo ai mà ứng xử giống nhau thế!
Đúng như một trong những câu ghi trên tường cuộc triển lãm này đã xác định, trong suốt cái thời gian khó đó, có những lúc cái sự ăn trở thành tất cả đối với con người. Từ sáng đến tối chỉ nghĩ chuyện ăn. Ăn là thiêng liêng. Ăn là dấu hiệu chứng tỏ mình đang được sống. Thay cho câu “ tôi tư duy vậy tôi tồn tại “, điều tâm niệm của con người lúc này là “tôi còn được ăn, vậy tôi tồn tại”.
Ngoài sự ăn, trong may mặc, đi lại, và cả trong vui chơi giải trí nữa, con người lúc ấy cũng ở vào tình trạng tương tự. Những câu nhại Kiều “Bắt ở trần phải ở trần --- cho may ô mới được phần may ô” lan ra như cỏ dại, câu này chết đi, câu khác lại được truyền tụng.
Nói rằng thiếu thốn còn quá đơn giản, phải nói sự thiếu thốn lúc ấy đã lên đến mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng. Hơn nữa, sự thiếu thốn triền miên ấy đã in dấu vào tâm lý mọi người và trở nên một cách nghĩ thường trực, nhìn bên ngoài có chút gì kỳ quái, thế mới đáng sợ.
Lại nhớ Ngô Tất Tố có bài tiểu phẩm kể Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Trong số những người phát biểu cảm tưởng sau khi xem trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp, cũng có người có cái ý nghĩ tương tự như nhân vật Ngô Tất Tố, tức là nói đến khả năng vượt lên trên sự đói, với một chút tự hào. Tuy nhiên, nếu có muốn cười thì thật ra nhiều người chúng ta thường đã phải giấu đi những giọt nước mắt.
Vâng, làm sao khỏi ứa nước mắt, khi nghĩ tới những sáng kiến hồi đó.
Nuôi lợn ngay trong các căn hộ 20 mét của các chung cư.
Lộn cổ áo sơ mi và “ tích kê “ những chỗ ống quần dễ rách.
Nhặt mảnh phim về kết thành làn.
Thu góp từng cái ruột bút bi viết hết để mang về bơm lại. Lộn trái phong bì để sử dụng thêm lần nữa …
Nhiều chuyện lắm và có những chuyện bây giờ phải diễn giải ngọn ngành mới hiểu nổi.
Bảo rằng đó là tiềm năng sáng tạo được bộc lộ thì cũng đúng. Nhưng tôi cứ thấy tủi cho chữ sáng tạo thế nào. Sáng tạo liều, sáng tạo quẩn, sáng tạo lấy được …, chắc còn có thể mệnh danh cho sự sáng tạo ấy bằng nhiều chữ nghĩa xót xa khác.
NHỮNG THAY ĐỔI ĐÃ ĐẾN VỚI CON NGƯỜI
Nói như ngôn ngữ thời nay,cái giá để duy trì sự nhất trí và do đó sự ổn định như vậy “ không rẻ “.
Về mặt sản xuất,đã thấy chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại. Nó tước đi của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên. Nó kìm hãm sức làm việc khiến cho toàn bộ sản xuất ngưng trệ thậm chí thụt lùi.
Nhưng không chỉ có thế. Tác động sâu xa mà nó để lại trong đời sống tâm lý và toàn bộ cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt.
A.Chekhov là một nhà văn Nga vốn rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ làm hại tới phẩm chất con người. Qua miệng một nhân vật, ông từng khái quát “những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo nghiệt ngã, và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”.
Ông từng dựng lại một nhân vật suốt đời lo kiếm sống và khi về già lấy việc được ngồi ngắm những trái cây thu hoạch trong vườn mình làm điều mãn nguyện (Quả phúc bồn tử).
Bởi đã có lúc quá thiếu thốn, nên khi no đủ con người vẫn hiện ra bệ rạc đáng thương.
Sự tha hóa con người ở mọi thời đại không ra ngoài hai hướng mà Chekhov đã khái quát ở trên.
Sau đây là một trường hợp gần với chúng ta hơn, một cách ứng xử bề ngoài có vẻ như không có gì quá đáng mà chỉ thoáng một chút kỳ dị, nhưng không vì thế mà bớt đi vẻ bi thảm.
Trong truyện Chơi vơi trời chiều (5), nhà văn Trung quốc Thiết Ngưng từng đưa ra một nhân vật rất lạ: do có thời gian bị đày xuống nông thôn và chịu cảnh rét buốt thấu xương, bà dạy mẫu giáo ở một huyện nọ nảy sinh một thói quen là lúc nào cũng lo rét sợ rét, và không đủ phương tiện chống rét ; thế là đi đâu, tới cửa hàng bách hóa nào, bà cũng lùng sục để mua chăn bông, rồi về “ xếp cao từ nền nhà lên tận trần”.
Những ngày thiếu thốn cũng đã để lại trong tâm lý con người Việt Nam nhiều loại di lụy tương tự.
Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta.
Hèn theo nhiều nghĩa.
Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt.
Và chỉ có những niềm vui tầm thường.
Mua được cân gạo không bị mốc, vui.
Cưới cho con trai cô vợ làm ở cửa hàng lương thực nên cả họ mua bán dễ dàng, quá vui.
Đi bộ mấy cây để đến nghe nhờ đài ở một nhà bạn, cũng đã vui lắm.
Vui đấy rồi thấy mình sự khốn khổ của mình ngay đấy, và ngày mai, lại vẫn tiếp tục cái tầm thường dễ thương đó.
Cũng theo những cách thức rất từ tốn, sự xót xa đã đến, mà chỉ những lúc thật tĩnh trí người ta mới nhận ra, nhưng nó cứ bám vào đầu óc ta mãi. Được giải thích kỹ lưỡng, ai cũng hiểu hy sinh là cần.
Nhưng vì sự hy sinh này đã kéo quá dài nên người dân không khỏi sinh ra mệt mỏi. Nhiều sự uể oải diễn ra ngoài ý muốn. Và nguy hiểm nhất, sự ngại ngùng khi nhìn về phía trước. Con người cảm thấy không bao giờ mình có thể vươn tới những cái cao đẹp. Mình đã bị đánh mất. Nhắm mắt buông xuôi, tự cho phép làm bất cứ điều gì khi thấy cần, miễn là tồn tại. Lòng tự trọng kiểu nhân vật lão Hạc của Nam Cao không còn. Mà đến một chút phẫn uất của Chí Phèo cũng không còn nốt.
Theo chỗ tôi biết, trong thời gian gọi là ngưỡng cửa của công cuộc đổi mới (khoảng 1985-86), nhà mác - xít Trường Chinh vốn người kiên định bỗng có một sự chuyển biến. Trước đây, ông nghĩ rằng sự chịu đựng của nhân dân là không giới hạn. Tới lúc này thì không phải thế nữa. Sự chịu đựng có thể xói mòn lương tâm và làm thoái hóa con người. Bởi hiểu thế, ông nghiêng hẳn về cải cách.
NHỮNG MỐI QUAN HỆ BỊ BIẾN DẠNG
Đồng thời với việc tác động vào tâm tính con người, những ngày bao cấp cũng mang lại cho mối quan hệ giữa người với người những biến dạng. Sự biến dạng này mỗi ngày một ít, đến mức người trong cuộc khó nhận ra, nhưng rồi cuối cùng vẫn hằn lên thành những quy tắc rõ ràng, dù là quy tắc không ghi thành văn bản.
Bảo rằng mục tiêu của cả một thế hệ Việt Nam trong đêm trước đổi mới là “ sống và sống đẹp “ như gần đây một vài tờ báo đã viết thì không ai cãi lại được. Riêng những năm đầu chiến tranh thì quả là một thời kỳ Nghiêu Thuấn. Ở Hà Nội, các nhà đi sơ tán chỉ khóa cửa bằng một cái khóa sơ sài. Ra đường, cánh bộ đội chúng tôi vẫy xe dễ dàng. Người nọ nghĩ về người kia với một niềm tin tự nhiên. Đẹp là đẹp theo nghĩa ấy!
Song có một sự thực là đến đầu những năm bảy mươi, mọi chuyện đã khác và từ sau 1975 thì càng khác.
Dễ thấy nhất là chuyện những chiếc xe đạp; ngoài khóa chính lại còn phải khóa thêm cái yên.
Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai: Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn.
Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp.
Chính sách em học đã thông -- Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều: Quả thật, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi không có cách nào khác để sống. Và bởi nhiều ăn cắp quá nên không bị coi là việc xấu nữa.
Tương tự như thế là sự dối trá. Hồi ấy báo chí ít lắm, mà từng tờ cũng it trang ít chữ, vậy mà có lần trên báo Nhân dân (tôi nhớ đâu như 1974) có cuộc thảo luận về làm ăn thật thà, điều đó chứng tỏ là lúc đó sự dối trá trong làm ăn đã lan ra rất rộng. Không thật thà trong việc làm ra của cải. Nhất là không thật thà trong chuyện phân phối.
Nếu thời gian đầu, giữa người với người có sự chia ngọt sẻ bùi thì càng về sau (xin nhấn mạnh một lần nữa: đặc biệt nhất từ 1975 trở đi), một xu thế ngược lại ngày càng nổi lên và đóng vai trò chi phối: trong cảnh nghèo rỗi rãi, người ta rất hay soi mói để ý đồng nghiệp và hàng xóm.
Nghi ngờ xen lẫn ghen tị. Nghi ngờ: “đói ăn vụng túng làm càn”, ai cũng một lần da đến ruột, ai cũng sẵn sàng làm bậy như mình thôi. Và ghen tỵ, ghen tị một cách tự nhiên, thậm chí không biết rằng đang làm một hành động độc ác.
Cùng cảnh khổ với nhau, không lẽ gì có người hơn kẻ kém.
Vậy không ai được phép hơn mình.
Không cho ai ngóc đầu lên cả.
Cách gì cũng có thể làm, miễn là kéo được nhau xuống.
Trên nét lớn, nhiều người biện hộ: con người phải thay đổi như vậy để thích ứng với hoàn cảnh. Tôi thấy cũng có lý, chỉ nói thêm, quá trình thích ứng này không nên chỉ được xem như một cái gì đáng khen, đáng mừng mà thực ra là một quá trình kép, tích cực có mà tiêu cực cũng có, tiêu cực rất nhiều nữa.
Trong một tài liệu mang tên Xã hội học cá nhân, nhà tâm lý học người Nga I.X.Kon từng nêu mấy nhận xét có tính chất lý luận. Kẻ lo thích nghi là kẻ trí tuệ kém phát triển hơn người độc lập. Họ ít khả năng làm chủ bản thân trong những điều kiện căng thẳng. Họ thường nghe ngóng dao động và rất dễ quay trở về với tình trạng vốn có, nói nôm na là họ rất bảo thủ. Bởi họ không đủ lòng tự tin.
So với những nhân cách độc lập, và được phát triển trong điều kiện chính thường, thì quan niệm của họ về bản thân phiến diện hơn hời hợt hơn. Đứng trước thực tế khách quan, năng lực phán đoán của họ rất thấp. Với người chung quanh họ vừa thiếu tin tưởng vừa dễ bị lừa. Nói chung là họ rất thụ động, hay đạo đức hóa các mối quan hệ và sợ xa rời tiêu chuẩn.
Không cần gò ép chút nào, cũng có thể thấy những đăc điểm đó của con người thích ứng cũng là đặc điểm của chính chúng ta thời bao cấp, với cách biểu hiện khi tinh tế hơn khi trắng trợn hơn, song loại nào cũng có.
NHỮNG QUAN NIỆM THÔ THIỂN VỀ CON NGƯỜI
VÀ NHỮNG THANG BẬC CHẶT CHẼ
Từ những hoạt động lặp đi lặp lại, lẽ tự nhiên có sự hình thành những quan niệm.Trở lên, tôi đã nói những tác động của quá trình đoàn ngũ hóa, hợp tác hóa cũng như sự bao cấp nói chung tới quan niệm sống của mọi người dân thường, mọi công dân. Thế còn ảnh hưởng của nó tới ngay người quản lý xã hội? Đây là cả một câu hỏi lớn, dưới đây chúng tôi chỉ nói tới hai điểm nhỏ.
Thử đọc một cái lệnh về quản lý lạc được ghi lại trong cuốn Kinh tế Việt Nam 1945-2000:
Không có thị trường tự do về buôn bán cũng như về trao đổi các mặt hàng kể trên, cụ thể như lạc chỉ để lại vừa đủ làm giống cho vụ sau tính toán cho sát. Người sản xuất không tiêu dùng là tốt, người trồng lạc không ăn lạc không dùng lạc để làm kẹo hay luộc để bán … Đối với nông sản dùng để chế biến thực phẩm cho nhân dân thì nhà nước phải quản lý chặt chẽ trên thị trường, không để ai buôn bán kiếm lời.
Đằng sau những lời lẽ cứng nhắc là một quan niệm khá thô thiển: người ta nghĩ rằng mỗi thành viên xã hội không là gì cả, mỗi công dân không thuộc về chính mình mà trước tiên là của cộng đồng. Cái gì cũng có thể và cần phải quản lý -- xã hội và con người chỉ còn là một thứ đất sét, muốn nhào nặn thế nào cũng được. Đây chính là cái tư tưởng làm nền cho sự quản lý.
Để biện hộ cho mình, một thời gian dài, chúng ta khăng khăng cho rằng những biện pháp như trên là duy nhất đúng và giá kể tiếp tục như thế mãi mãi thì làm gì cũng được. Đáng lẽ phải hiểu rằng lối quản lý đó gây ra rất nhiều tai hại trong nếp sống cũng như tư tưởng con người thì người ta lại lầm tưởng nó là cái mẫu lý tưởng nên theo, và sau này chỉ bần cùng bất đắc dĩ mới từ bỏ.
Tư tưởng đó cố nhiên chỉ có thể nảy sinh ở những người ít kinh nghiệm nhưng lại quá tự tin không chịu rút kinh nghiệm. Không tính hết hậu quả các chính sách xã hội của mình. Dễ cứng nhắc, thô bạo.
Còn một vấn đề nhức nhối nữa thường ngự trị trong đầu óc mỗi người mỗi khi nhớ lại thời bao cấp (mà đến nay cũng chưa chấm dứt được là), đó là cảm tưởng về một xã hội có sự phân chia theo những thang bậc chặt chẽ.
Mọi chuyện cũng bắt đầu từ kinh tế. Sự cung cấp được chia ra theo ngạch bậc. Cán bộ cao ăn cung cấp – cán bộ thấp ăn chợ đen—Cán bộ quen ăn cổng hậu. Phải nói ngay là cũng như toàn bộ chế độ bao cấp nói chung, việc phân chia theo ngạch bậc là hoàn toàn tự nhiên, không thể làm khác.
Thế nhưng không phải vì thế mà làm thế nào cũng được!
Đây là một số số liệu ghi trong cuốn sách Kinh tế Việt nam 1945-2000: Trong khi người dân thường mỗi tháng chỉ được 150 gram thịt, thì cán bộ cao cấp trên được 6kg, tức là bốn chục lần lớn hơn. Và tính ra chênh lệch là 100 đồng. Ngoài ra còn thuốc lá chè đường sữa len dạ, cũng tạo ra khoản chênh lệch khoảng 100 đồng nữa.
Theo cách nhìn hiện đại thì cái sự hơn kém giữa trên với dưới trên kia mô tả, kể cả những khoản giấu diếm – cũng chả là bao. Nhưng đặt trong mặt bằng chung của thời chiến, đó đã là một sự chênh lệch lớn. Bởi vậy những lời biện hộ cho rằng so với lương tối thiểu là 26 đồng thì lương bộ trưởng chỉ gấp tám lần (khoảng từ 200 đến 220 đồng) – lối biện hộ ấy không thuyết phục được ai.
Vốn cũng từ dân nghèo mà ra, người quản lý biết ngay rằng mình hưởng có phần quá. Lại do chỗ muốn an lòng người dân, một khuynh hướng tìm cách che giấu hình thành. Ban đầu là tự nhiên. Về sau là cố ý.
Từ đây nẩy sinh một ấn tượng, thường in đậm trong đầu óc mọi người mỗi khi nhớ tới cái khoảng thời gian gọi là thời bao cấp. Đó là hình ảnh một xã hội mang tính thang bậc chặt chẽ. Cái này thì người dân thường Hà Nội trước sau 1975 cảm thấy rất rõ. Bởi hồi ấy, xe ô-tô ở Hà Nội rất hiếm, nên chỉ cần nhìn một chiếc xe con đi qua, chúng tôi biết ngay là đã có một vị cỡ nào vi hành. Xe Pobeda và sau này là Vonga đen ư? Cố nhiên là bộ trưởng trở lên rồi. Các thứ trưởng và cấp tương đương đi những chiếc nhỏ hơn và ít oai vệ hơn, tức là loại Moskovits. Một nhà văn hay ghi những chuyện vặt là Tô Hoài còn kể ngay cách trang trí sau xe cũng có phân biệt. Như thế đấy, một nếp sống đặc sệt chất quan liêu nảy sinh ngay trong thời buổi khó khăn và con người tưởng là bình đẳng nhất.
XƯA NAY NỐI TIẾP
Các nhà kinh tế gần đây hay nói tới cơ chế xin cho, nó là yếu tố cản trở tính năng động của xã hội. Nhưng ngồi thử vân vi thì biết: Tác phong quan liêu cửa quyền. Thói quen luồn lách, chỉ chực phá luật kiếm lợi riêng. Nhịp sống uể oải đến đâu hay đến đấy. Lối suy nghĩ rập khuôn. Những đam mê đen tối. Niềm khao khát thường xuyên muốn được tận hưởng những gì chỉ mới nghe mới thấy từ những xứ sở xa lạ …Bấy nhiêu thói xấu mà hôm nay chúng ta khó chịu (cũng như bao thói khác chưa kể ở đây), chẳng phải đều bắt nguồn từ cái quá khứ mà chúng ta muốn không bao giờ lặp lại đó?!
Theo Từ điển Hoàng Phê, bao cấp là “cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”. Cuộc trưng bày Cuộc sống Hà Nội thời bao cấp là một minh họa đích đáng cho cái định nghĩa phổ thông đó và mở ra cho chúng ta một dịp để nghĩ lại mọi chuyện. Với việc không dùng tiền tệ để thanh toán, và đẩy hoạt động sản xuất về tình trạng tự cấp tự túc, cách phân phối ấy là một bước lùi trong tư duy kinh tế. Còn nhìn rộng ra các mặt khác thì xã hội lúc ấy là xa lạ với khái niệm xã hội dân sự. Bởi về đại thể, đó là một xã hội không bình thường, nên những cố gắng bình thường hóa nó trở lại của chúng ta hai chục năm gần đây mới khó khăn đến thế !
-------
(1) Cuộc trưng bày này nằm trong chương trình tổng kết 20 năm đổi mới do UNDP và các quỹ khác như quỹ Ford, quỹ Sida tài trợ. Mở cửa từ tháng sáu tới hết năm 2006.
(2) Điều thú vị là đoạn này của Tô Hoài lại được sử dụng như là tài liệu minh họa tốt trong một cuốn sách giáo khoa về kinh tế, cuốn Kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II 1955-1975 – Đặng Phong chủ biên Nhà xuất bản Khoa học xã hội –2005. Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học thực sự. Một số trích dẫn dưới đây có ghi chú số trang là lấy từ bản in này
(3) Nhại một câu thơ của Đoàn Phú Tứ Màu thời gian tím ngát, bài Hương thời gian
(4) Dẫn lại từ Phạm Thị Quý chủ biên, Giáo trình lịch sử kinh tế Việt nam, NXB Đại học kinh tế quốc dân,2006, tr 399.
(5) Bản dịch đã in ở NXB Hội nhà văn 2006
BẾ TẮC ĐẾN CÙNG CỰC hay là HÌNH ẢNH XÃ HỘI VIÊT NAM HẬU CHIẾN TRONG MẮT NHÀ VĂN NGUYỄN MINH CHÂU
Ngày 21 tháng 3 năm 2024
Qua khung cảnh một phiên chợ Tết vùng quê xứ Nghệ, truyện ngắn dưới đây đã phác họa ra cả tình trạng của xã hội Việt Nam sau chiến tranh: ngưng đọng và luẩn quẩn, cổ lỗ và đầy bạo lực. Những người trong cuộc sống mà như chết lặng đi trong một quá khứ kéo dài, còn một người từ xa về cũng không nhìn đâu ra những nhân tố có thể tạo thay đổi. Ấn tượng cuối cùng để lại trong đầu óc người đọc chính là câu hỏi thảng thốt khi nhân vật từ xa về này hướng về lớp trẻ và thầm tự nhủ:
--“Kim, Kim, Kim, đời cháu mai ngày sẽ ra sao, nếu gắn chặt với những làng xóm quê nhà yêu dấu?”.
Tác phẩm được viết tiếp theo thiên truyện xuất sắc nhất của tác giả - truyện Phiên chợ Giát, và hình như có xu hướng làm mềm đi mà cũng đỡ gay gắt hơn do đó dễ tiếp nhận hơn Phiên chợ Giát.
• Chợ tết được in trên tạp chí Văn nghệ quân đội số đầu xuân 1988, thì 1-1989, nhà văn qua đời
Hơn ba chục năm đã qua, hôm nay đây đọc lại thiên truyện Chợ tết tôi ghi nhớ rằng thế hệ mình và sau mình ít nhiều có chung số phận với cô gái tên Kim trong truyện. Câu hỏi mà nhà văn nêu ra cho Kim cũng từng là câu hỏi mỗi người chúng tôi đặt ra với chính mình. Song trừ phi có tự mình lừa mình không kể, còn đã mấy ai tìm được sự giải thoát thực sự. Bởi từ đó tới nay, xã hội Việt nam tưởng là có nhiều thay đổi – song do chỗ chưa nhận thức được bước lùi lịch sử mà chiến tranh mang lại nên vẫn có thể nói là chưa tìm ra lối thoát và câu hỏi xưa vẫn còn nguyên giá trị.
***********
CHỢ TẾT
Khoác ba lô đứng bên chiếc cầu gãy giữa làng mình, Định nhìn thấy một ngọn roi bằng đuôi cá đuối quật vun vút vào không khí phía trên đầu đám người đang họp chợ.
Cũng chẳng nhìn rõ mặt mũi một ai, chỉ thấy lố nhố một đám nón, rặt nón mê xỉn một màu lúi húi cúi xuống những cái mẹt cá.
- Hai, bốn, sáu,... Quân tuyệt tự tuyệt nọc... tám, mười... -- đám đàn bà kẻ biển cùng kẻ buôn chẳng kịp ngẩng lên, buông một tiếng rủa giữa lúc mải miết đếm cá.
- Mày còn chửi cà. Mày là đứa nào? Ngọn roi quất xuống một nhát trên chóp một cái nón mê đã bật vành. Lập tức một cái mặt đàn bà ngẩng lên, một mớ váy, yếm cũ rách phấp phới bật vùng dậy giật phắt lấy thanh roi trên tay lão già mặt đỏ gay mắt trắng dã.
Lão đàn ông kia đâm quàng bỏ chạy, miệng kêu: "Ả đuổi tui, nó lấy mất hết cá cà!".
Bị mụ đàn bà rượt một vòng, nhưng khi chạy qua trước mặt Định, lão đàn ông tự nhiên đứng sững lại.
- Chao ôi kìa bác Đất - Định la to - em tìm vào nhà thờ họ chẳng thấy anh, phải ra đây. Mụ đàn bà rượt tới, mớ yếm áo tanh rềnh mùi cá tươi cũng dừng lại, có vẻ nhận ra Định, vừa ngỡ ngàng mừng rỡ, vừa xấu hổ.
Định nhìn. Thoạt đầu chẳng nhớ ra ai. Trên mười năm nay Định mới đảo qua làng vài lần, mà lần nào cũng vội vội vàng vàng y như cái lần cuối năm này. Chỉ láng máng nhận thấy chắc xưa cũng là một người con gái có sắc ở trong làng.
Mụ đàn bà mỗi lúc một xấu hổ. Mụ vứt chiếc roi xuống chân người đàn ông rồi y như người đang đi trốn, cắm đầu chạy.
Đến lúc bấy giờ Định mới sực nhớ.
Trong bụng toan chạy theo nhưng lại sợ chỉ làm nguời đàn bà thêm xấu hổ.
Từ trong xa xôi, Định nhớ lại một ông chú họ rất hiền hay mặc chiếc áo lụa mỡ gà thường ngồi sau một hàng ngăn kéo dán những tờ giấy đỏ viết tên các vị thuốc bắc và tà áo dài trắng của Tề có rây vài vệt mực tím từ trong dãy phố chợ đi ra giữa hai hàng cây chè tàu. Những quả táo tàu cất trong cặp sách Tề hay dúi cho Định. Chắc chắn giá không có họ với nhau thì Định đã lấy Tề.
Lão Đất cười, há cái miệng đỏ hỏn như miệng trẻ con mới đẻ phả đầy hơi rượu một hồi lâu sau mới thốt ra được mấy tiếng lắp bắp. "Con Tề. Con Tề con nhà chú Lưu chả lẽ chú Định không nhớ?", rồi hỏi:
- Anh em nhà chú ngoài ấy có nhận được cái giấy tôi đánh ra không?
- Có, Định đáp, vì thế mà áp tết em cũng phải ghé về. Xem ở nhà cần công việc gì.
- Chú đã đảo qua lên chỗ thằng Khúng chưa?
- Chưa.
- Ở nhà anh em vừa bàn kỳ này dựng lại cái nhà thờ họ, lại còn hai cái mả của ông bà thân sinh chú, hồi này thằng Khúng nó ít về làng quá, tui đã đắp nhiều bận nhưng trâu bò nó phá tợn lắm.
- Em ơn anh. Trưa nay em nhờ anh dẫn ra ngoài mộ... Nhà anh bây giờ ở đâu?
- Đây, đây. Thì tui đang dẫn chú về. Ở nhà tui chơi ra ngoài giêng tế tổ rồi hẵng đi.
Ông anh họ cắp ngọn roi cá đuối vào bên nách, cánh tay bên kia quắp lấy cánh tay Định lôi đi giữa hai hàng nón vẫn cúi gập xuống lúi húi trên những mẹt, những thúng cá.
"Vào trong chợ. Vào trong chợ hết không thì chết!" Lão Đất giắt Định len bàn chân vào được đến đâu lại tiếng quát thét đến đấy.
Chẳng một ai thèm nhúc nhích.
Mấy lần đã toan rút thanh roi ra nhưng chắc hắn ngại có Định bên cạnh nên lão Đất chỉ khuỳnh khuỳnh cánh tay rộng hơn để thị oai, đi qua mẹt cá nào lão lại lấy bàn chân đá nhẹ một cái, gọi tên từng người mà bảo: "Vào trong chợ. Vào trong chợ mà họp không thì chết!"
Rồi bất ngờ lão quay hẳn người về sau, rút chiếc roi kẹp trong nách, quắc mắt dứ dứ về phía chiếc cầu gỗ dài chưa đầy chục thước đứng cao chênh vênh giữa trời đã bị tàu bay Mỹ cắt làm đôi, lão lại nhắc lại cái câu ban nãy bằng giọng hăm doạ tợn tạo hơn.
Dưới chân cầu toàn cọc sắt lừ đừ.
Từ bên kia trôi sang một chiếc đò gỗ nêm đến chật ních người đi chợ bán cá, hai bờ sông nhầy nhụa bùn nước mặn khoảng cách khéo lắm chỉ dài gấp đôi thân con bò.
Dòng sông nước mặn như khúc lòng lợn lượn vòng vèo dưới chân cầu, trịnh trọng chảy qua một cái bến lát đá Thanh trước cổng ngôi đền làng. Cái "bến đền làng" nổi tiếng ấy chắc Tề còn nhớ, Định thầm tự hỏi, hai đứa có lần rủ nhau tụt xuống ngồi tận hàng bậc đá cuối cùng, vừa ăn những quả táo tàu, vừa nhìn ra những chiếc thuyền chở vôi, chở nước mắm đều gác mái chèo, chỉ chống sào để khỏi làm kinh động ngôi đền - bây giờ những hàng ván bia gỗ dựng xen với hàng rào nứa chạy dài ôm bọc suốt cả bốn mặt ngôi đền linh thiêng như những dãy hàng rào chống thú.
Định ngơ ngác. Những luỹ cây um tùm đầy huyền bí không còn. Ngôi đền làng không còn. "Công ty ngoại thương hải sản" chỉ còn mấy chữ treo trên ba lối của của ngôi cổng đền sụp đổ. Định ngơ ngẩn dừng chân cố tìm hai bức hình đắp nổi "ông Thiện" và "ông Ác" đứng dựa lưng vào bức tường cổng đền làng nhìn ra khúc sông, trong khi đọc hàng chữ kẻ nguệch ngoạc trên một tấm gỗ mộc.
Lão Đất đưa Định về đến nhà.
Lão chống thanh roi đứng giữa nhà kiêu hãnh nhìn theo Định đang ngắm ngôi nhà của mình. Một cái nhà hầm nửa nổi nửa chìm. Nửa nhà ghép bằng những tấm ván tháo rời từ các hòm chứa đạn pháo cao xạ, một nửa nhà ghép bằng gỗ ván thuyền bị tàu bay Mỹ bắn cháy dọc các bờ bãi.
Ở ngoài Hà Nội, từ nhiều năm Định đã biết cái nhà thờ họ thuộc chi thứ của mình bị trúng bom.
Lão đất đã cất công khuân về bảo quản ở đây.
Một đống gỗ, toàn gỗ lim, cái kèo, cái cột, cái trạm trổ, cái chỉ bào xoi chất một đống áp trước cửa.
Định nhìn thấy giữa đống gỗ một hai bức ván chạm long, quy hai lớp, và một cây cột to lại dài như cột đền. Chắc là lão Đất đã lấy của đền cho cái nhà thờ họ sắp dựng lại.
Bên trong nhà bày biện y như một viện bảo tàng chiến tranh. Vì đây nguyên là ngôi nhà sở chỉ huy của một đại đội pháo cao xạ 57 bảo vệ vùng biển. Trên bức vách gỗ hòm đạn còn lưu lại một hàng tờ giấy to vẽ đường bay của địch từ ngoài biển lao vào, từ trong Cầu Bùng ra, từ trên rừng lạc xuống.
Lão Đất quả là một trưởng họ không thể chê vào đâu được. Những cái gì bài trí trong ngôi nhà thờ họ trước đây còn giữ lại được sau trận bom đều được lão sắp xếp gọn ghẽ trên một chiếc hương án và một chiếc án thư kê sau lưng hương án, đúng như sự sắp đặt trong ngôi nhà thờ ngày trước. Thành thử trên cái nền nhà, chỗ để ở chẳng còn mấy.
Định ngắm hồi lâu một bức ảnh đóng khung treo giữa bức vách ván truyền, hai bên cắm hai bông hoa giấy. Mũ bình thiên, quân hàm vai, hai "miếng tiết"tô phẩm đỏ trên hai ve áo quân phục.
Chủ nhà vừa chạy ra bên ngoài trở vào, ôm bên nách cái chai, miệng há ra một hồi mới nghe tiếng hỏi:
- Chú biết ai đó không?
- Cháu Đất. Chúng em ở ngoài đó có biết tin buồn cháu Đất hy sinh...
- Thằng Đất, thằng con đầu của tui nó hy sinh rồi chú Định ạ. Nó mất trong nam.
Định biết ông anh họ mình có những ba đời vợ, người kẻ ruộng, người kẻ rừng, người kẻ biển, vì thế mà con cái đông, Định không biết xuể. Định chỉ nhớ mặt hai người đầu là thằng Đất và con Cát. Còn cả một dây sau lão cứ thứ tự mà đặt tên theo câu "Non xanh nước biếc". Những đứa sinh sau cùng phần lớn với người vợ kẻ biển hiện giờ, chắc là về già nguồn thơ văn của lão đã cạn cho nên chúng mang những cái tên ít hay.
- Nhà đi đâu hết cả, anh? Định hỏi.
- Cả nhà tui sáng nay đang mở chiến dịch vây ráp - lão Đất đưa mắt nhìn ra trước nhà, thở dài hắt ra - đó chú coi, phiên chợ ba mươi Tết, lều quán đã dựng xong, đàng hoàng to đẹp như vậy mà cả nhà tui toả ra lùa khắp các ngả trong làng như lùa giặc, chúng nó vẫn không chịu vào họp. Bạ đâu họp đó. Chú Định, chẳng lẽ chú cũng không còn nhớ cái chợ làng ta chính là ở tại đây hay sao?
Định leo lên cái gờ đất uốn hình vành khăn, cao như bức thành, chân gờ đất choãi ra đạp cả vào bức vách gỗ bên hồi nhà.
Đứng trên bờ thành công sự, khẩu đội pháo bộ đội đã rút đi từ lâu nhìn ra tứ phía, cái chợ lâu đời ngày xưa bây giờ chỉ thấy hố bom, những đường giao thông hào nối liền ba ụ pháo cao to sừng sừng như quả núi, một ụ nằm tận sát ngoài bến đò chợ.
Trên nền đất lồi lõm, mấp mô mới dựng lên chơ vơ hai chiếc lều bằng nứa lợp phên tranh.
Mới thấy dọn trong một ngôi lều là một cái sạp sách của cửa hàng sách quốc doanh, mặt hàng chủ yếu được bày là những bức tranh cá chép, tranh mâm ngũ quả, cùng mấy bộ liễn.
Tận góc khuất một ngôi lều khác là một lão thầy bói mặc chiếc áo Tôn Trung Sơn mầu xám như một cán bộ thuế vụ, chẳng biết sáng hay đui, mắt kính đen ôm nửa mặt, hai bàn tay rờ rờ trên mặt chiếc tráp bằng hòm đạn.
Lão Đất thoắt biến mất rồi lại về nhà với cây roi cầm ngang trên tay, mặt mũi hầm hầm đầy giận dữ, cùng Định tợp mấy chén rượu nhấp với mực khô. Định cầm chén rượu ngồi nhìn ra một ngả vào chợ - vẫn là cái lối đi vào chợ ngày trước nhưng nhà cửa, sân vườn hai bên đều đã hoang tàn. Định đoán mấy chục năm qua ông chủ cắt thuốc bắc đã mất nhưng vẫn hỏi:
- Chú Lưu còn sống không anh?
- Chết từ bao giờ rồi ấy chứ còn hỏi.
Định vẫn cầm chén rượu, ngó qua ngó lại cố tìm một khoảng vàng óng ánh của mớ dây tơ hồng leo trùm lên một bờ cây chè tàu xén vuông góc thẳng tắp nhưng Định chỉ thấy trên lối đó những bức rào nứa đan mắt cáo đổ dúi dụi và phía sau là những nếp nhà ngói bị tốc mái.
- Này anh, Định lại hỏi, Tề... có còn ngoài chỗ đầu cầu không?
- Nó sợ gặp lại chú hay sao ấy, đã bán tháo mớ cá, về nhà rồi.
- Em xem cô ấy... hình như bây giờ vất vả?
- Lại còn vất vả? Khổ nhục như con chó, tính nết cũng khác đi. Thằng chồng nó đánh, mấy lần đã chạy đi trẫm mình.
- Nhà ở đâu?
- Bên kia sông. Nhưng con gái nó đang bán sách ngoài lều ngay trước mặt nhà mình đây này.
Lão Đất lại đưa mắt nhìn ra cái vùng đất bãi chiến trường trước nhà lão mới lác đác đã thêm vài hàng xén, vài hàng cá, một tay có vẻ dân "cà lơ" và một lão thợ rèn vừa đến đặt lò bệ bên cạnh lão thầy bói.
Một cái chợ chết đi sáu bảy năm đang sống lại.
Lão Đất được uỷ thác trọng trách làm công việc này, vì biết chỉ có bàn tay lão mới làm nổi. Vì sáu bảy năm trước, cùng với ngọn roi bằng đuôi cá đuối ấy lão đã giải toả được chợ, khi thằng địch leo thang từ trong Cầu Bùng ra.
Xem trong ý tứ, cả hai lần, giải toả chợ hay nhóm lại chợ, lão Đất đều làm tận tuỵ và đầy hứng thú. Cũng như suốt đời lão đã làm tộc trưởng chi họ một cách tận tuỵ và đầy hứng thú.
Định hiểu kỹ ông anh họ của mình lắm. Đấy là cái máu mê của bất kỳ một anh nông dân nào. Thích nhoi lên làm người cầm đầu, thích uy quyền.
Lão Đất vội vã cắp cây roi vào nách, bảo Định:
- Hay là chú đi với tui.
- Đi đâu?
- Đi đâu thì đi.
Theo lão đến trước cổng đền, Định lại đưa mắt nhìn ra khúc sông thiêng, nhìn ngọn roi bằng đuôi cá đuối lởm chởm gai lăm lăm trong tay người anh,
- Anh lại ra chỗ hàng cá?
- Đáng lẽ tui đã tập trung xong mấy phiên trước rồi mới phải. Chú có biết ngày giải tán chợ, tui làm mau hơn bây giờ không?
- Vì sao?
- Tại vì có bom thằng Mỹ nó thúc vào mông cho. Cái quân hàng cá làng mình chỉ ưa nặng.
Nói rồi lão Đất đi vượt lên. Định đứng lại trước cổng đền nhìn theo, thấy lão leo lên cái mố cầu đứng nói mấy câu rồi hầm hầm chạy vào giữa đám nón đang nhấp nhô. Như thế là, lão đã quyết định thay đổi đường lối hoà bình bằng thái độ bạo lực. Lão không đánh vào không khí mà giang tay quát thực lực vào người ta, tay đánh chân đá tung những mẹt cá.
Hai ba mụ đàn bà nhe răng ra, lao vào lão. Còn lại bao nhiêu sợ hết vía, ai cũng nghĩ phải làm sao giữ được cá, liền ôm lấy những thúng, những mẹt cá chạy rần rật, cả đám đàn bà kẻ buôn người bán xô nhau chạy một mạch vào trong chợ.
Lão Đất áo quần tơi tả, đứng cười ngất. Thừa thắng lão vác thanh roi đi giải toả những cái chợ lẻ khác. Cánh hàng quà, hàng hương, đám người bán hoa giả, hoa thật cũng chỉ sợ hỏng mất hàng, mới nghe sự kiện xảy ra ở chợ cá đã ngoan ngoãn gồng gánh vào chợ.
Thật đơn giản, lại mau lẹ.
*
Quãng quá trưa, khi định được lão Đất giắt đi dụi mả bố mẹ mình trở về thì cả khu chợ đã đông nghịt. Nhất là không khí của nó đã ra dáng một phiên chợ Tết.
Trên mảnh đất bom đạn và chiến tranh đã nhào nặn đến biến dạng, Định có dịp thấy tất cả những gì quen thuộc với Định từ nhỏ, chính Định cũng đã quên đi, thì nó vẫn còn đó. Định thích thú ngắm nghía những con lợn đất sơn đỏ, những chiếc kèn cũng bằng đất vắt hình con gà trống, những nhánh hoa thờ với những bông hoa bằng giấy kim tuyến lỗ chỗ vết kim châm.
Chen lấn giữa đám con nít bâu quanh một chiếc bàn, Định đứng xem một anh chàng đội mũ phớt tàng, mặt rỗ hoa đang vắt con giống. Từ một hàng những vắt bột nếp nhuộm màu ngũ sắc với một chiếc que tre, mười ngón tay cứ thoăn thoắt trong nháy mắt đã làm sống lại những Phàn Lê Hoa, những Quan Công, v.v..
Bánh mướt, bánh xèo... Định la cà suốt một dãy bán miếng chín quen thuộc với Định từ bé. Định đi dưới giao thông hào, leo lên bờ hố bom. Các dãy hàng cá, hàng gạo, hàng vôi, hàng nồi đất..., lão Đất chỉ có việc dùng roi xô người ta vào, ấy thế mà đến lạ, thật không thể nào hiểu nổi, ai ngồi đâu lại ngồi đấy, tự sắp xếp như sáu, bảy năm về trước, y như tự nó cuộc sống đã có một thứ ký ức đầy chuẩn xác.
Định buồn rầu nhận thấy chính vì thế, mặc dầu mặt đất bị xáo trộn nhưng cuộc sống con người lại ngưng đọng, như một sự lặp lại.
Một cái gì bao quanh Định, một không khí luôn luôn bao bọc Định, đấy là sự quen thuộc, một nếp sống quen thuộc đã có từ lâu đời, và chả có gì bị phá vỡ đang phô diễn trong phiên chợ Tết ban đầu khiến Định say mê và rưng rưng cảm động, song sau đó hình như chính nó lại làm Định đến phải phát mệt, và sợ - Định tưởng mình cùng với cả một đám đông đang sôi sục đến chóng mặt trong một cái guồng quay đầy luẩn quẩn.
Lão Đất mặt mũi rạng rỡ, miệng phả ra hơi rượu, hét vang cả chợ trong khi khệnh khạng đi lại phía Định: "Đó chú coi, tui không ra roi thì làm sao có chợ? " (Định nghĩ thầm, buồn rầu: Mà lão nói đúng thật!).
Lão véo má chị bán trầu, cầm một lá, chạy sang anh hàng vôi quẹt một tý, lại sang bà hàng cau, vốc một nhúm. Lão nhai bỏm bẻm. Rồi dạo qua trước mặt mấy o hàng xén, lão trút hết nắm cau khô cầm trong tay cho họ, nhặt một vuông khăn mặt bông vắt lên vai.
Đầy vẻ phong tình, lão í ới hát:
"Nhớ ai lệ chảy bùi ngùi
"Khăn lau chẳng sạch, áo chùi chẳng khô.
Rồi lại còn phong tình hơn nhiều nữa, lão lại hát:
"Đêm nằm vuốt bụng thở dài.
"Bụng ơi bụng hỡi vì ai bụng tròn.
Đấy là mẹo cao của lão. Mấy o hàng xén chưa chồng đỏ mặt lên giật nẩy người xua lão ùi ùi như đuổi tà. Cầm chiếc khăn mặt bông vắt sang vai bên kia, lão bước đến trước mặt lão thầy bói.
- Ông người đâu? Lão Đất hỏi.
- Tui người trên Nhân Sơn xuống.
- Cái gì đây? - Lão Đất lôi chiếc khăn mặt bông trên vai xuống.
- Không thấy. Tôi đui.
- Nghe tiếng, ông có biết tui là ai không?
- Tiếng thì không nhưng nghe giọng thì biết.
- Vậy là ai?
- Ông chủ tịch xã.
- Tui còn to gấp mấy chủ tịch xã.
- Bẩm thưa, chắc ông là chủ tịch huyện? Lão thầy bói sợ hết vía.
- Tôi còn to gấp mấy ông chủ tịch huyện ông biết không? Vậy thì ông nghe tui nói nhé. Nghề ông là nghề mê tín dị đoan. Chính phủ cấm. Ông hiểu không?
- Thưa ông chủ tịch huyện...
- Lại tự do... cái gì chứ gì? Phải rồi, gọi là tự do tín ngưỡng. Chữ với nghĩa đếch gì mà như hóc xương cá... Tui là chủ tịch huyện mà ông còn định dạy chính sách cho tui hử? Chỉ nôm na thế này, tui là quản chợ. Có thêm ông thì chợ Tết mới ra chợ Tết. Mà vui. Ngày thường cũng vậy. Tui không cấm. Chính phủ cấm nhưng tui đây không cấm. Tui chỉ bắt ông tuân theo hai việc. Việc thứ nhứt là đóng thuế lều, lại thuế chợ. Việc thứ hai là ông phải đoán quẻ cho ai nấy đều vui vẻ cả. Con cái người ta ở ngoài chỗ hòn đạn mũi tên không ai chết. Thuyền bị giông bão ở ngoài biển không đắm. Nhà tui ở kia kìa. Tui ngồi trong nhà mà nghe mấy mụ đàn bà khóc bù lu bù loa lên giữa chợ là không được.
Định đứng dựa cây cột lều chờ nghe lao Đất ban bố chính sách chợ đối với lão thầy bói xong mới dám đến gần, nắm lấy cánh tay lão lôi đi.
Vốn là đám mấy anh em Định ở ngoài Hà Nội đều là cán bộ nhà nước cũng tự coi mình như cánh làm nên trong họ, mà họ hàng ở nhà cũng trọng vọng, lấy đấy làm điều tự hào.
Bức thư của lão Đất gửi ra, ông anh đầu của Định đọc kỹ lắm. Ông anh đầu của Định là một nhà khoa học trong quân đội, đã đi ra nước ngoài nhiều, khi về hưu đóng đến cấp đại tá.
Ý kiến của cái ông trưởng ở ngoài ấy là kỳ này mấy anh em sẽ cúng vào nhà thờ họ một chiếc trống.
"Chú Định ạ, lần này về, chú hãy cố mua một chiếc trống, mà phải là một cái trống cái".
“Cồng kềnh. Hay là em mua một chiếc trống bé ở đây mang về?"
"Chú thiển nghĩ lắm. Mà chỉ lười!".
Ngồi với ông anh một lúc, Định mới kịp nghĩ ra và cười ầm lên. Một nhà khoa học mà rồi cuối cùng vẫn là một anh nông dân, vẫn mang đầy đầu óc một anh nông dân, mà cao thâm lắm, cái trống cái do mấy anh em Định cúng vào nhà thờ họ đánh lên trong ngày Tết nghe oai linh biết bao, mấy anh em Định không có mặt mà cũng như có mặt.
Lão Đất và Định đứng dưới mái lều nghe tiếng trống các loại đánh cứ rộn lên ở đâu đó ngoài khu chợ. Nghe tiếng trống, bao giờ lão Đất cũng thấy trong người không yên một chút nào, dường như mỗi đường gân, mạch máu, thớ thịt của lão cứ rung lên, vừa cuồn cuộn trỗi dậy đầy hứng khởi lại vừa bủn rủn, hai chân lão vừa muốn chạy phóng lên phía trước lại vừa muốn chạy giật lùi về sau.
Có lẽ từ đời tổ tiên đã để lại trong đáy lòng của lão cùng với tiếng trống là giặc dã, là giặc lụt, là sự hiện về của ông bà, thần linh.
Lão Đất không dám ra doi với đám bán trống, kiềng mặt chúng, lẽ vì thế. Sáng nay sau khi đã dẹp xong hết các nhóm chợ, lão có đến nhắc nhở. Đến bây giờ duy nhất chỉ đám hàng trống là vẫn đang còn nhởn nhơ ở ngoài, trên mấy miếng ruộng dùng làm giường mạ sau lưng đền.
Đặt chân đến đây thái độ lão Đất hoà nhã hẳn.
Cầm dùi đánh thùng thùng vào mặt lại gõ cách cách vào tang, thử mãi, lão quyết định mua một chiếc trống cái không lớn nhưng mặt căng, gỗ tang không hứa hẹn bị mọt.
- Ông mua cho trường học hay cho việc họ? Kẻ bán trống, một anh dân mạn xã trong quấn khăn đầu rìu hỏi lão, chẳng biết hỏi thật hay bỡn.
- Tôi là lão Đất, quản chợ. Tôi mua cho việc họ.
- Nhốt chúng tôi vào trong chợ thì chỉ điếc tai thiên hạ. Ông cho đám chiêng trống chúng tôi ở ngoài này là phải. Vậy mà mấy mụ hàng cá đến là hay đơm đặt. Họ vu cho ông đánh họ phải không? Láo ! Láo!
- Giá bao nhiêu cái trống?
Gã hàng trống quấn khăn đầu rìu rõ ràng là muốn chọc tức lão Đất chơi, trả thù cho cánh hàng cá. Hắn gọi một cái giá mà lão Đất biễt là gọi xỏ.
Lão Đất cũng không nói gì, thậm chí lại còn chào rồi mới đi.
Lão tức như bị bò đá nhưng lòng trân trọng đối với tiếng trống linh thiêng vẫn khiến lão ngậm miệng. "Anh em chú đã có lòng với họ thì trao tiền cho tui, lão nói bằng giọng buồn bã, ra giêng cha con tui vào trong Cầu Bùng mua khiêng ra".
Định an ủi lão nhưng trong lòng rất lấy làm phục gã bán trống.
Đi sau lưng người anh họ trở về trong chợ, đi qua một cái bờ rào nứa đan mắt cáo của nhà ai. Định lại nhớ khu vườn xưa với những rặng cây chè tàu, nhìn người đàn bà nào trong chợ với yếm, váy tơi tả, xơ xác. Định cũng sực nhớ đến Tề cùng những ngưòi làng vất vả vì miếng ăn, chưa trẻ đã già.
Định giật mình nhận thấy một điều hiển nhiên là giá anh em Định vẫn cứ quẩn quanh ở làng thì cũng như họ, cũng hoà nhập vào cái guồng quay số phận ấy. Định, các ông anh Định lại giống y hệt như người anh họ, như lão Đất.
*
Lúc bấy giờ, trong một ngôi lều, cô gái coi sạp hàng sách quốc doanh đang đổ ngả nửa người xuống giữa mớ tranh tết, hàm răng trắng nõn nhe ra cười, mải nhìn ra một cái hố bom ngay trước mặt lều, ở đấy cả góc chợ đang nháo loạn lên. Có một con lợn giống bị sổng rọ, người ta đã lùa được chú lợn xuống đáy hố bom nhưng không sao bắt được. Cô gái mải xem trò vui, đến lúc quay nhìn sang bên cạnh mới thấy một ông khách đã có tuổi đứng đó không biết từ bao giờ, đang nhìn mình. Cô ta vội đứng thẳng dậy.
- Tranh tết năm nay in đẹp lắm, bác ạ. Bác mua đi. Hay là bác mua đôi câu đối.
Định cầm lên một bức cá gáy vượt Vũ Môn, ngó qua.
- Cháu tên là gì?
- Thưa bác, cháu tên là Kim.
- Cháu là con thứ mấy của mẹ Tề?
Cô gái tròn mắt:
- Cháu là thứ tư. Bác biết… mẹ cháu?
- Bác là Định, ở ngoài Hà Nội về. Bác cháu mình có họ với nhau đấy.
- Chắc là họ bên ngoại, bên mẹ cháu. Bác cũng tế tổ ở nhà thờ bác Đất?
- Phải. Mẹ cháu có khoẻ không?
- Mẹ cháu khoẻ lắm. Mời bác sang nhà cháu chơi.
- Cảm ơn cháu. Cháu được học đến lớp mấy.
- Cháu học được ít lắm. Nói giấu gì bác, nhà cháu vất vả lắm.
- Bố cháu làm nghề gì?
- Bố cháu thì cháu... chẳng biết nói ra sao. Mai, mồng một, mời bác sang chơi. Nhà cháu ở bên kia đò.
Định mua một đôi câu đối. Định cuộn lại cầm trên tay, lại mua một ít quà bánh ngoài chợ.
Chiếc đò chợ lui tới giữa hai bên bờ bằng một khúc dây chão to như con trăn, lúc nào cũng sũng ướt, đầu bên này buộc vào một chiếc cọc sắt chôn chân bên ụ pháo. Nhìn người đàn ông kéo đò, Định tưởng thấy thời gian ở đây hàng mấy chục năm qua như ngưng lại. Vẫn nguời kéo đò ấy, trạc ngoài năm mươi, tiếng nói chỏn lỏn, mắt lông quặm lúc nào cũng đỏ rựng, một vuông khăn đen của đàn bà chít ôm sát lông mày nom như hiệp sĩ Tàu. Ngày chưa cắp sách đi học, bám váy mẹ đi chợ Tết Định đã nhìn thấy ông ta như thế. Quái quỷ, chẳng lẽ người kéo đò không già, không chết?
Định hỏi thăm mấy người chung quanh, thì được biết người kéo đò cũ đã chết từ lâu, và đây là con người kéo đò ngày trước.
Ở bên kia đã là xã khác. Tề đi lấy chồng khác xã ở bên kia làm ăn còn khó khăn hơn bên này. Định leo lên ụ pháo đứng nhìn sang. Một dải chi chít những mái tranh nằm kề những nại muối vào mùa đông vắng tanh, và giát những trạt bãi đất phẳng lỳ mênh mông, không một bóng cây.
Định biết ở đấy vào vụ hè dưới trời nắng chang chang chỉ có giọt mồ hôi mặn của con người pha với giọt nước biển mặn để đúc nên hạt muối mặn.
Định muốn sang nhà gặp Tề nhưng lại sợ Tề càng xấu hổ vì nhà cửa. Mấy lần ông kéo đò khoát tay giục nhưng Định vẫn đứng đó.
Chợt Định nhìn thấy một bóng thiếu nữ vừa chớm nhớn vận chiếc áo cánh trắng duyên dáng chạy vụt xuống bến đò như một làn ánh sáng, khiến Định lầm tưởng cô em họ ba mươi năm về trước. Kim, Kim, Kim, đời cháu mai ngày sẽ ra sao nếu gắn chặt với những làng xóm quê nhà yêu dấu?
- Kim!
- Bác, sao bác đứng đây? - vẻ vồn vã của Kim sao mà giống Tề ngày trước, đầy vẻ trẻ con - hay là bác cùng sang với cháu...
- Rồi bác sang - Định lưỡng lự một chút - hay là cháu về bảo với mẹ cháu là đến trưa mai, bác còn ở bên này.
Định trao vào tay Kim gói quà, lại cả đôi câu đối Tết. Định cũng đâm ra nhác đọc, mà câu đối Tết năm nào chả viết những câu như mọi năm trước?
11-87
BỨC TRANH SÀI GÒN THỜI BAO CẤP
Ngày 23 tháng 3 năm 2024
Bài sưu tầm trên mạng
Nguồn
https://sites.google.com/.../buc-tranh-sai-gon-thoi-bao-cap
Thỉnh thoảng, khi cả nhà có dịp ngồi ăn tối với nhau, tôi vẫn thường nghe ba mẹ ôn lại kí ức về chuỗi ngày khó khăn, chật vật của tuổi thơ lớn lên trong thời bao cấp.
Ấy nhưng có lẽ được sinh ra khi chiến tranh đã qua đi tự rất lâu và may mắn được hưởng một tuổi thơ an nhàn với đủ đầy vật chất nên tôi không thể nào hình dung được những khổ cực mà người trẻ thời ba mẹ đã trải qua.
Tôi chỉ biết rằng hai chữ BAO CẤP là một cái gì đó rất ghê rợn và như một bóng đen ám ảnh những người thuộc thế hệ 6x, 7x và 8x đời đầu.
Khi nói về thời bao cấp, ba vẫn thường bắt đầu câu chuyện như thế này: “Đó là những chuỗi ngày khổ mà chẳng thể than với ai. Bởi than thế nào khi xung quanh ai ai cũng như mình!”
Để viết ra bài này, tôi đã dạo một vòng khắp các web lớn nhỏ để tìm một cái định nghĩa rõ ràng cho khái niệm “Thời bao cấp”. Đa phần cac tác giả đều đưa những khái niệm rất Mác Lê Nin để giải thích về giai đoạn này.
Nhưng Saigon không phải là cuốn sách lịch sử hay trang tuyên truyền triết học nên thôi để tôi “bình dân hóa” nó theo sự hiểu biết của mình vậy.
Hiểu nôm na thì thời bao cấp là giai đoạn nhà nước nắm độc quyền kinh tế và người dân không được phép kinh doanh tự do.
Theo lý giải của người cầm quyền thì đây là cách để “kế hoạch hóa kinh tế”.
Kiểu như mọi tài sản làm lụng rồi sẽ được quy về một mối cho nhà nước, sau đó nhà nước phân chia theo đầu người.
Bất kể bạn bỏ sức làm nhiều hay ít thì tới tháng, mỗi người cũng chỉ được “lãnh lương” đều phần như nhau, không hơn không kém.
Khác ở chỗ “lương” được trả tượng trưng vài đồng. Còn lại toàn bộ được thay bằng tem phiếu và sổ gạo (Do có luật hạn chế trao đổi bằng tiền mặt) và bạn sẽ đem phiếu đi đổi hàng hóa
(Tôi thiết nghĩ cái ý tưởng chơi game ở trung tâm thương mại đổi phiếu điểm và lấy phiếu điểm đổi quà cũng từ đây mà ra!)
Theo lời ba kể thì ngày trước, có nằm mơ cũng chẳng dám mơ được một bữa ăn no thì sao có thể nghĩ đến chuyện ăn ngon. Lúc đấy, có bo bo, khoai mì ăn động đặng cầm hơi sống qua ngày là may phước. Bữa nào được ăn cơm trắng hay bánh trái thì bữa đấy được gọi là “ăn sang”.
Hẳn bạn cũng đang thắc mắc như tôi đã từng rằng: Mọi người có “phóng đại hóa” vấn đề không? Khi mà nhà nước “bao lo” như thế thì làm thế nào lại có chuyện đói trường kì và sinh ra bất công xã hội được?
Vậy chúng ta cùng hình dung thế này: bạn sẽ sống thế nào nếu một tháng được cấp cho 1,5 lạng thịt bò – tương đương một miếng thịt trong phần bít-tết nếu bạn ăn ở nhà hàng – và 13 kg gạo?
Thôi đừng đong đếm nữa. Số lương thực đó chẳng bỏ nhét răng bạn đâu, đúng không?
Vậy mà thời bao cấp người ta đã bị đãi ngộ như vậy đấy! Cụ thể như sau: Mỗi gia đình sẽ được phát cho một cuốn sổ gạo. Tiêu chuẩn phát gạo được đặt ra là nếu làm công nhân lao động nặng, một tháng bạn sẽ được cấp 20 kg còn cán bộ công chức được 13 kg.
Tuy nhiên, trong đó gạo sẽ được “độn” ngô, khoai, sắn, bo bo vào. (Chẳng hạn như 13 kí gạo thì trong đó “thực phẩm độn” chiếm 10kg!). Đó là chưa kể số gạo gia đình bạn nhận được có chất lượng vô cùng tồi tệ, lên mốc xanh mốc đen.
Từ đây có thể thấy đối với thời này mà nói thì tem phiếu và sổ gạo là của cải chung quý giá nhất mà cả gia đình phải chung tay bảo vệ.
Nếu để mất thì kết cục của cả gia đình đảm bảo bi thảm vô cùng. Bên cạnh nhịn đói là chuyện sẽ tiếp diện trong hàng tháng ròng do thủ tục xin cấp sổ lại rất rườm rà và phức tạp thì việc đi vay mượn lương thực là việc không thể tránh khỏi.
Do đó, cũng ở thời bao cấp này mới nẩy sinh câu nói “Mặt như mất sổ gạo”
Câu ấy chỉ những người có gương mặt nhăn nhó, khổ sở và pha lẫn những buồn bã, lo âu.
Nó được ra đời và truyền miệng trong quần chúng nhân dân.
Về phần thịt, như đã nêu trên, dân tự do mỗi tháng nhận được 1,5 lạng thịt bò hoặc heo, làm cán bộ nhà nước thì nhỉnh hơn với 3-5 lạng thịt/tháng. Cá biệt, nếu làm “cán bộ cao cấp” thì số thịt bạn được phép mua vọt lên tận 6kg/tháng.
Bên cạnh đó, thời này không có khái niệm “thịt ba rọi” nửa nạc nửa mỡ. Và giữa nạc với mỡ bạn chỉ được phép chọn một trong hai. Hầu hết các gia đình đều chọn mỡ. Không phải vì họ thích ăn béo (tất nhiên!) nhưng do lúc bấy giờ dầu ăn không có trong danh mục được sử dụng nên nếu muốn chiên, xào thức ăn thì người ta phải dùng mỡ. Thế là nghiễm nhiên phần thức ăn mà thời nay chúng ta thưởng bỏ đi bỗng trở nên quý giá hơn hết.
Bên cạnh đó, bạn sẽ được cấp 3-5 kg rau/tháng, nhà có con nhỏ sẽ được 4 lon sữa ông thọ cho các bé. Nếu mẹ bé có thể chứng minh được mình bị mất sữa hoàn toàn thì bé sẽ được 8 hộp.
Bởi vì thế mà suy dinh dưỡng là tình trạng phổ biến ở trẻ em giai đoạn này do lượng sữa cung cấp không đủ dùng nên các bé phải bú nước đường thay thế!
Sống trong thời kì trước Đổi Mới, đừng nghĩ “có tiền mua tiên cũng được”.
Bởi dù cho bạn có phe phẩy một cọc tiền trong tay, nhưng không ai dám bán hàng cho bạn, thì mớ tiền đó chẳng khác gì giấy vụn. Những người dám “cả gan” bán hàng thời đó sẽ được gọi là “phe phẩy”, “tư thương” hay “chợ đen”. Gọi là “cả gan” bởi nếu như chẳng may giao dịch chui đổ vỡ và bị phát hiện thì họ sẽ bị công an bắt và tịch thu hàng hóa. Do vậy, có thế nói “chợ” hay “siêu thị” là những khái niệm không tồn tại.
Bạn chỉ có thể đổi được hàng hóa khi bạn có tem phiếu trong tay. Ngay cả khi có tem phiếu, cũng chưa chắc bạn có thể có được món hàng hóa mình muốn. Bởi trước khi được gặp các “mậu dịch viên” – những người chuyên phân phát sản phẩm, lương thực ngày trước – bạn sẽ phải bỏ thời gian đừng xếp hàng. Nếu chẳng may đến lượt bạn mà hàng hóa vừa kịp hết thì bạn cũng chẳng thể làm gì hơn ngoài việc quay lại vào hôm sau và lại tiếp tục…xếp hàng.
Ngoài lương thực và thực phẩm, bạn sẽ còn được phát một ít vải để may tầm 2-3 bộ quần áo trong một năm (tầm 5-7 mét vải). Do đó, chuyện mặc quần cụt, áo vá và chịu lạnh khi giò lùa về cũng là điều gì đó hết sức bình thường với người thời này.
Có thể nói đây là “giai đoạn thất bại và tù đọng nhất của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỉ 20″ khi cả hai nhu cầu cơ bản nhất của con người là “ăn no mặc ấm” mà nhà nước cũng không cách nào đáp ứng được. Người miền Nam ngày trước vốn quen với nền kinh tế tự do và cuộc sống có thể gọi là đủ đầy. Ấy vậy mà đột ngột sau giải phỏng, mọi thứ chợt sụp đổ tan tành. Cái đói, cái khát cộng hưởng cùng cái khổ thiếu thốn vật chất kéo dài triền miên từ tháng 4/1975 đến tháng 4/1989 mới thật sự kết thúc khiến con người bỗng trở nên hoảng loạn và chừng như muốn gục ngã.
Chợt nhiên tôi lại cảm thấy thật khâm phục sự mạnh mẽ và sức chịu đựng của ba mẹ cũng như những người đã sống vào cái thời điểm mà bầu không khí của cả nước bị bao trùm bởi một làn khói xám. Dù không hiểu hết những cơ cực mà họ đã trải qua, nhưng cũng phần nào hình dung được sự khủng khiếp của giai đoạn đen tối ấy khi những kinh hoàng và ám ảnh dường như vẫn còn nguyên trên đôi mắt ba mẹ mỗi lần kể chúng tôi nghe câu chuyện tuổi trẻ của mình…
MỘT CHUYẾN ĐI THỜI HẬU CHIẾN
Ngày 24 tháng 3 năm 2024
Bài sưu tầm trên mạng
Tên bài trong nguyên văn Chuyến đi Vĩnh Phú – Bích Huyền
---
Ngồi trong toa của con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. tay khư khư ôm chặt chiếc túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Dim đang cố len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần ra tới cửa, Dim còn ngoảnh lại nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi cũng khóc. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Dim trong giây phút ngắn hai chị em chia tay nhau. Dim như bị xô xuống khỏi con tàu...
Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn vàng vọt không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Người đi, kẻ lại, người mang, kẻ vác... xô đẩy, chen lấn nhau. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới trên một khoảnh đất gồ ghề, tăm tối. Tôi cũng vừa từ đám đông đó lên đây. Bọn cán bộ nhà nước được lên tàu trước từ ga Phạm Ngũ Lão, trên những toa riêng hoặc những toa có giường nằm...
“Thật may, nếu không có Dim đi tin thì làm sao mình còn đủ hành lý!” Lần đầu tiên tôi thấy Dim khỏe quá! Hai tay hai túi xách nặng, cồng kềnh, chen đám đông phăng phăng mở lối cho tôi lên tàu. Bọn cướp giật trà trộn giựt xách tay, rạch ví, móc túi. Tiếng la thất thanh. tiếng chửi thề. Tiếng khóc, tiếng gọi nhau... tất cả tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Thần kinh tôi như muốn đứt ra. Hai chị em chỉ kịp bám lấy song sắt của toa tàu là đã như có người đẩy lên rồi. “Kìa! Nó giựt đồng hồ của tôi!” “trời ơi! ví của tôi đâu mất rồi!” Mặc kệ. Mạnh ai nấy chen. Chân tôi bị dẫm lên đau điếng. Áo quần tôi tả tơi, xốc xếch, đầu tóc rối bời.
Giờ đây, tôi ngồi trên tàu, dưới kia cảnh tượng vẫn đang tiếp diễn...
Tiếng còi hú vang báo hiệu sắp đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly. Tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng tùy theo tâm trạng của mỗi người. Lòng tôi hôm nay, tiếng còi nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe dọa những con người thất thế - như tôi - một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo” tại một nơi rừng sâu, nước độc tận cùng miền Bắc.
Không có một bóng người đứng trên thềm ga đưa tin. Không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, như tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy u buồn ngày nào trong một ca khúc tin đưa nào đó... Xa rồi, chỉ có hàng ngàn con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga giành giựt tranh nhau từng miếng cơm sạn mốc, từng manh áo rách.
“Giấy tờ đâu? Mở túi này ra!” Giọng hách dịch của tên kiểm soát. Rồi những khuôn mặt lạnh lùng của toán công an kinh tế phía sau. Một tên nghênh ngang cầm đèn pin, bất kể rọi vào cả mắt hành khách. Một tên cầm chiếc gậy ngắn, xấc xược thọc thọc vào hành lý của khách... Đến lượt tôi: “Giáo viên. Về Bắc nghỉ hè à? A, đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo. Thăm nuôi tù thì nói mẹ nó ra đi. Học tập học tiếc cái nỗi gì với cái bọn ngụy ác ôn đó. Thôi, khỏi xét.” Lẽ dĩ nhiên, xét làm gì ba cái đồ lương thực. Họ muốn bắt những con buôn. Tôi cố nén tức giận, tủi hờn, mừng rỡ nhận lại tờ giấy phép, không có tờ giấy này tôi không thể vượt qua mọi cửa ải từ Nam ra Bắc. Chạy chọt hàng bao nhiêu nơi, chờ đợi hàng bao nhiêu ngày, tôi mới có được mảnh giấy đen thui này đây.
Họ di chuyển xuống hàng ghế dưới, tiếp tục hạch sách, lục lọi. Và hành khách tiếp tục năn nỉ, van xin. Hàng hóa nào có nhiều nhặn gì cho cam! Chục mét vải. Dăm gói bột ngọt. Rổ rá nhựa, xô xách nước. Bình nước mắm... Vậy mà có người vẫn khóc ngất khi bị tịch thu. Nồi cơm độn mì, độn khoai tay chỉ mong vào tiền lời nhỏ nhoi đã mất cả rồi.
Tiếng máy xình xịch. tiếng còi tàu rú lên từng hồi như thúc giục, như đồng lõa với những việc làm sai trái trên con tàu mang tên Thống Nhất Bắc Nam.
Bên ngoài trời tối, không một ánh sao. Sương khuya lạnh buốt. Vài con đom đóm lập lòe. Chung quanh tôi, mọi người đều đã nằm ngủ la liệt. Người trải miếng ni-lông dưới chân ghế chật hẹp, người nằm ngả nghiêng trên đồ đạc, ngổn ngang chật cả lối đi. Võng mắc chi chít. Tiếng ngáy, tiếng thở mệt nhọc vang lên. Tôi mệt mỏi tựa đầu vào thành ghế gỗ. Có lẽ chỉ còn có một mình tôi thao thức nên thấy đường dài. Nhớ mẹ, nhớ con, nhớ nhà.
Thế là tôi đã phải xa nhà, xa những người thân yêu, vượt mấy ngàn cây số, đi đến một nơi xa lạ. Làm sao tránh khỏi lo âu? “thân gái dặm trường”, lời nói người xưa thật đúng tâm trạng của tôi bây giờ.
Cũng trên quãng đường này, trong toa xe lửa của một thời xa lắc - thuở còn đi học - ánh mắt long lanh, giọng cười ròn rã reo vui suốt cuộc hành trình. Trại hè Nha Trang, trại hè Thống Nhất Huế. Trại hè sinh viên Huế-Saigon Đà Lạt. Mỗi mùa hè là một mùa tưng bừng hứa hẹn. Còn đâu nữa những tiếng cười khúc khích, tinh nghịch của các bạn tôi trong những đêm không ngủ? Các bạn học cũ của tôi, giờ phiêu bạt nơi đâu? Phạm Hữu Lộc, Bùi Thức Phước, Nguyễn Long Hải, Duy Trác... trong những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản. Ấu Oanh, Hoàng Oanh, Ngọc Diệp, Kim Oanh... bán đứng buôn chạy quần áo cũ, thuốc tây. Hồng Thủy, Hồng Hảo, Ngọc Tâm, Hương Kiều Loan... ngàn trùng cách biệt.
Tôi cố quên đi những gương mặt đang say men chiến thắng Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương, Kim Tuyến. Tôi ngậm ngùi thương tiếc Lê Hữu Bôi, bị thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Bốn năm “giải phóng miền Nam” rồi, bốn năm quay cuồng, vật lộn với cuốc sống mới, có bao giờ được một vài phút suy tư?
Qua mỗi lần tàu ghé một sân ga, bất kể ngày đêm, hàng hóa rỡ xuống, chất lên nhanh chóng gọn nhẹ. Bọn chỉ huy đoàn tàu kết hợp cùng bọn công an kinh tế buôn bán thì còn sợ gì ai xét. Trong khi những người dân, hàng chỉ có một chút xíu thôi mà vẫn bị dòm ngó, hoạch họe đủ điều.
Những giỏ xoài Nha Trang của vợ chồng chú bộ đội ngồi trước mặt tôi đã biến mất. Những giỏ xoài treo toòng teng trên đầu, những giỏ xoài la liệt dưới sàn tàu đều trống trơn. Càng đi xa hơn thì hành lý trên tàu càng vơi nên hành khách còn có lối đi. Hành khách buôn dọc đường. Xã hội chủ nghĩa cấm buôn bán cá thể mà hầu như cả nước đều buôn. Cán bộ công nhân viên mua được nửa ký đường, lon sữa, mươi gam bột ngọt mỗi tháng đều mang ra chợ bán cho người buôn, kiếm chút tiền bù đắp vào đồng lương ít ỏi. Cũng nhờ đó mà tôi mới mua được những thực phẩm thăm nuôi chồng. Tôi thở dài ngao ngán cho kiếp sống đói nghèo.
Tàu càng rời xa miền Nam, làng mạc càng hiu hắt. Bốn năm tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội là đây? Đồng ruộng khô cằn, xóm làng xơ xác. Con tàu đưa tôi vượt qua vĩ tuyến 17, tới miền Trung “ôi, quê hương xứ dân gầy” của nhạc sĩ Phạm Duy. Dân không chân lấm tay bùn - vì đồng ruộng bỏ hoang - mà sao đen đủi. Gương mặt ngơ ngơ ngẩn ngẩn, đứng trước những thau nước chờ khách trên tàu xuống mua rửa mặt, rửa chân.
Một bà cụ lưng còng xuống, manh áo vá không đủ che thân, xách ấm nước đi bán rong. Đường tàu mỗi lúc một xấu, nhất là Thanh Hóa. Con tàu tròng tranh nghiêng ngả. Đồ đạc rơi đổ cả vào người.
Làng quê miền Bắc kia sao? Tôi ngờ mình đang nằm mơ. Bởi hiện thực quá phũ phàng.
“Việt Nam đất nước ta ơi,
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn...”
Miền Bắc hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Đồng ruộng xóa mờ ranh giới, bao la bát ngát thẳng cánh cò bay... chỉ là hình ảnh tưởng tượng của cán bộ vẽ ra, khi tuyên truyền, khoác lác với dân miền Nam. Trước mắt tôi... đồng khô, nắng cháy. Xa xa xóm làng hoang vắng. Quán nước bên đường che bằng một mái tranh cũ nát, chiếc chõng tre lỏng chỏng một vài món quà lặt vặt: viên kẹo bột vàng, trái chuôi thâm đen. Điếu cầy tre, ấm nước, ly trà cũ bẩn... Mỗi lần tàu ngừng, hành khách tranh nhau mua từng bát cơm khô cứng, lèo tèo một ít rau xào...
Tôi đến Ga Hàng Cỏ - Hà Nội sau ba ngày, ba đêm trên tàu như một người bị tra tấn. Rã rời, mệt mỏi. Hà Nội hiện ra trong mắt tôi với tất cả sự nghèo nàn, lạc hậu. Đèn đường vàng vọt. Trong nhà, ánh điện lù mù nhưng tôi vẫn nhìn thấy nhà nhà ngồi quanh mâm cơm để dưới đất. Đó là hình ảnh đầu tiên về Hà Nội.
Nhà anh chị tôi ở tầng thứ tư của một khu nhà tập thể vùng Kim Liên. Chỉ là một phòng nhỏ hai mươi mét vuông. Độc nhất một cái giường cũ mọt dành cho bố mẹ và đứa con út còn bé. Hai đứa con lớn học đại học nằm dưới đất. Kệ sách vở đụng trần nhà. Dưới gầm giường lỉnh kỉnh bát chén, nồi niêu, xô nước. Gia đình anh chị tôi điển hình cho giới trí thức Hà Nội: chồng, cán bộ nghiên cứu khoa học, vợ bác sĩ. Tôi rùng mình lo sợ tương lai.
Hà Nội với những con đường nhỏ hẹp, đầy ổ gà, bụi bậm. Hà Nội với nhà cửa cũ nát, xiêu vẹo. Hà Nội với con người nhâng nhâng, nháo nháo, chửi thề nói tục. Không phải một thủ đô văn minh lịch sự như theo lời những cái máy nói đã mạt sát Sàigon, ca tụng Hà Nội - mà trong những buổi học tập chính trị ròng rã qua năm tháng, chúng tôi đã phải nghe. Hà Nội trong ký ức tôi, trong thơ, trong nhạc... chỉ là hư ảo.
Lên ga Bình Triệu, xuống ga Hàng Cỏ: kinh hoàng. Tiếp tục cuộc hành trình, tôi đáp tàu đi Vĩnh Phú. Ga nhỏ, người đông. Mùi hôi thối dưới đất, mùi mồ hôi nồng nặc trong ánh nắng hè gay gắt. Tôi muốn nôn oẹ. Lại bị hạch sách, nạt nộ khi làm thủ tục để được lên tàu. Lại chen lấn, xô đẩy. Tôi chạy mãi tìm cửa lên tàu. Toa nào cũng chật cứng người. Cuối cùng chỉ còn giành được một chỗ đứng ở cuối nơi toa tàu nối nhau. Khi con tàu ra khỏi thành phố, một số thanh niên leo lên nóc, tôi mới có một chỗ để ngồi bó gối.
“Ban nãy tao leo lên toa chở lợn, gà. Bị đuổi xuống.”
“Xã hội này là súc vật sướng hơn!”
Tôi nghe tuổi trẻ miền Bắc nói chuyện như thế.
Gió thổi mát lạnh. Trời vần vũ cơn mưa. Cứ ngồi như thế này cho đến tối hay sao? Thế rồi sức chịu đựng của tôi vẫn vượt qua những trận mưa trời làm ướt sũng toàn thân, những trận mưa than từ ống khói tàu nhả xuống. Cũng may là than đá, nếu không biết bao nhiêu hành khách kém may mắn không được ngồi trong toa như tôi sẽ bị nhuộm đen như thế nào?
Con tàu nặng nềđi qua những cánh rừng cọ xác xơ, những đồi chè cằn cỗi thưa thớt dưới cơn nắng cháy.
“Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi,
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca...”
Tôi không hiểu sao Tố Hữu lại có thể làm được những câu thơ với những hình ảnh tươi đẹp như thế?
Ga Ấm Thượng là trạm cuối cùng, tôi xuống. Nơi đây chỉ là một túp lều tranh vách nát giữa vùng đất đìu hiu của miền thượng du Bắc Việt. Bốn bề hiu hắt, vắng vẻ. Trời chập choạng tối. Ánh đèn dầu leo lắt run rẩy như muốn tắt làm tăng thêm vẻ hoang vu.
Tôi sẽ ở lại đây một đêm.
Sau một ngày dài ngồi bó gối trên tàu, tôi muốn ngả lưng trên chiếc giường tre ọp ẹp có trải manh chiếu nát. Những con rệp lâu ngày bị đói rủ nhau ra tung hoành làm tôi phải bật dậy suốt đêm. Sáng sớm đã có tiếng xì xầm ở bên ngoài. Dân quanh vùng lén mang chuối, gạo, gà... bán cho những người thăm nuôi tù. Họ giành nhau để được tên cán bộ nhà ga phân phối khuân vác từng thùng lương thực xuống thuyền để lấy tiền công.
Sang đò ngang, lại chuyển đò dọc. Tiền khuân vác, tiền chuyên chở, bao nhiêu cũng phải trả.
Con thuyền cũ chòng chành vì nặng hành lý. Khách trên thuyền chỉ có khoảng năm người. Từ Saigon hay từ các tỉnh miền Nam đi thăm nuôi. Thuyền không có mái. Hơi nóng từ trên trời giọi xuống, từ dưới nước bốc lên. Tôi như muốn ngất lịm đi vì say sóng. Đây là con sông Lô trong nhạc Văn Cao. Không có tiếng hò, tiếng hát trên sông. Chỉ có tiếng mái chèo đập nước, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền. Hai bên bờ sông, chỉ toàn là cây dại. Hoàn toàn im lặng.
Khi mặt trời đứng bóng, thuyền cập bến đò Ngọc. Trái với tên bến Ngọc, bến đò này toàn sỏi đá lởm chởm. Từ bờ sông lên tới đường đi, chúng tôi phải trèo lên từng phiến đá sắc cạnh. Phụ nhau kéo đồ đạc lên rồi ngồi chờ xe trâu tới thuê chở chuyển đồ vào trại.
Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây khô. Bên kia sông, không một mái nhà. Cỏ cây chằng chịt. Phía sau lưng, hoang vắng. Một lối đi nhỏ mất hút sau rặng cây rậm rạp. Đứa bé trai khoảng trên mười tuổi, không biết từ đâu xuất hiện. Chiếc quần ngắn cũ chắp vá đủ màu bọc ngoài đôi chân gầy guộc. Lấm lét nhìn chung quanh, nó đến gần chúng tôi, khẽ nói:
“Cho nhà cháu vác vào trại nhá! Tiền công rẻ hơn xe trâu.”
“Trại có gần đây không hả cháu? Đi chừng bao lâu? ...”
Chợt thằng bé chạy vụt vào lùm cây.
“Này, chị kia, nói chuyện gì với nó thế?”
Tên công an, mặt non choẹt, vác súng đi tới: “Gia đình nhà đó “nà” bọn “nười” lao động. Không chịu sản xuất, chỉ định “nàm” thuê.”
Đưa đôi mắt nhìn khắp lượt có vẻ đe dọa, hắn hất hàm nói tiếp: “Đợi đấy. Sẽ có xe của Hợp tác xã phục vụ. Ai không tuân lệnh, cúp thăm nuôi.”
“Việt Nam tham dự Thế Vận Hội mang về ba cúp: Cúp điện, cúp nước, cúp lương thực. Giờ đây lại sắp lãnh thêm một cái cúp nữa.” Tiếng thì thầm, rúc rích của hai thanh niên đi cùng chuyến.
Tiếng lọc cọc từ xa mỗi lúc một gần. Xe trâu đến. Những mảnh cây ngang dọc sơ sài đóng vào nhau. Bốn bánh xe đẽo bằng gỗ. Sợi dây thừng lớn nối từ cổ xe vào mình một con trâu già. Cán bộ hợp tác xã nhảy xuống khỏi xe. Chúng mời nhau điếu thuốc lá Thủ Đô. Lương thực được chúng tôi khuân chất lên xe. Bao nhiêu thùng là bấy nhiêu tiền. Thùng to, nhỏ giá chở khác nhau. Tên cán bộ ngồi trên một thùng đồ vững vàng nhất. Chiếc roi mây quất nhẹ vào mình trâu để con trâu bước đi. Ngươì thăm nuôi lẽo đẽo đi bộ theo sau. Trời nắng. Đường gồ ghề những đá. Người và vật lê bước nặng nhọc. Đi, đi mãi... Sâu tít vào rừng. Đường vòng vèo tưởng như không có lối ra. Qua những con suối cạn, ì ạch mãi chúng tôi mới đẩy được xe qua. Tên cán bộ ngừng lại cho con trâu nghỉ mệt. Dãi nhớt đầy miệng, trâu thở phì phò. Tội nghiệp cho cả trâu. Tội nghiệp cho cả người thăm nuôi. Cổ tôi khô. Đầu nhức như búa bổ. Tôi ngồi vật xuống cỏ...
Trời đã xế chiều, ánh nắng nhạt dần. Người và vật vẫn tiếp tục cuộc hành trình trong yên lặng. Có tiếng lá khô vỡ vụn. Không phải tiếng xào xạc của lá cây rơi rụng. Không phải tiếng chân chạy của thú rừng.
Cặp mắt tôi như sáng lên. Một toán người bẻ lá đi ra. Có người thân quen không nhỉ? Bộ quân phục của binh chủng thủy quân lục chiến dù phai màu theo năm tháng, dù bị rách vá bởi kiếp đọa đầy, vẫn không làm mất đi vẻ thông minh sáng sủa của những người tù. Vai vác cuốc, tay cầm xẻng, bi đông nước lủng lẳng thắt lưng, các anh nhìn chúng tôi với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.
Tên công an thấp bé ôm súng chạy xộc lên phía trước. Tôi đi sát bờ cỏ, len lén rắc kẹo lên lối đi. Những mảnh giấy cuộn tròn thật nhỏ vội vàng chuyền tay. Lời nhắn gửi của các anh gửi về Saigon.
Quãng đường rộng hơn, bằng phẳng. Đó đây, thấp thoáng mái nhà. Tôi gặp Ngô Kim Thái, bạn học cũ Trưng Vương đi trở ra. Chúng tôi chỉ kịp chào hỏi nhau vài ba câu. Sắp tới K5. “K1 hả? Còn đi lâu lắm...”
Xe trâu mỗi lúc một nhẹ hơn khi ghé qua một K. Tôi là người cuối cùng, đi vào K có con số nhỏ nhất. Lố nhố vài người đến trước đứng trên thềm. Mọi người nhanh nhẹn phụ giúp chuyển đồ trong khi tôi trả tiền xe.
Xếp đồ vào phòng qui định, tôi chỉ kịp nhận giường chiếu là buông mình nằm mê mệt.
“Chị! Dậy đi chị! Không trình giấy, ngày mai làm sao được gặp?”
Nghe đến giấy tờ, tôi bật người lên. Quên cả nhức đầu. Tú, người lay gọi tôi, có gương mặt trái soan, còn rất trẻ. Tú đi chuyến tàu đêm, đến đây từ sáng.
“Phòng tắm ở đâu?”
“Phòng tắm hả?” Tú cười chỉ về hướng sau nhà.
“Mấy tấm phên che không kín. Có còn hơn không. Nhưng nước bẩn lắm. Phải xuống tít dưới kia lấy nước ở suối. Em có mua được một cái xô. Cho chị mượn đó.” Tôi cảm ơn người bạn mới.
“Trước anh làm gì?”
“Chiến tranh chính trị.”
“Cấp bậc?”
“Trung tá. Chức vụ luôn nhé! Tham mưu trưởng trường Đại Học chiến tranh chính trị Đà Lạt.”
“Chết, chức to quá! Chồng em cũng chiến tranh chính trị. Cấp úy nhỏ nhất thôi. Mà chị ơi, đúng rồi! Chính trị tội nặng nhất. Họ gọi là thành phần ác ôn, tập trung tại K1. Không biết họ nhốt mấy ổng có gần đây không nhỉ?” Tú thì thầm. “Họ cấm không cho người thăm nuôi ra khỏi khu này, cho nên... em chẳng biết gì hơn.”
Tôi nhìn quanh, Vẫn cỏ cây chằng chịt. Chỉ có hàng rào chung quanh khu tiếp tân này là được cắt xén cẩn thận, ngay ngắn. Ngôi nhà ba gian. Tường cây, mái bằng lá cỏ khô, nền đất. Hai gian dành cho thân nhân. Khoảng sân nhỏ với những bồn hoa, luống cây cảnh xếp bằng sỏi đá đơn sơ. Khung cảnh nơi đây chắc chắn phải có bàn tay của những người tù. Lòng tôi chùng xuống. Ngậm ngùi. Phía xa là nhà bếp. Trong ánh lửa bập bùng, thấp thoáng bóng người mẹ già, người vợ trẻ lui cui đun nấu thức ăn tươi cho ngày mai. Thịt gà kho gừng, thịt bằm ớt rang khô. Bát canh rau, thịt kho trứng... Những món ăn quen thuộc như chìm vào quên lãng - vì bên ngoài cũng thiếu thốn, có được ăn đâu?
“Chị có nhìn thấy những cây nhang cắm trên cành cây phía đằng kia không? Của một bà phòng bên cạnh. Ổng chết lâu rồi.”
Tôi lạnh người. Sáng nay mới biết. Dã man. Để người ta lặn lội ra đây?
Đêm xuống. Bao trùm núi rừng. Tôi thao thức không ngủ. Lo lắng. Chỉ mong trời sáng. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi được một chút để rồi được đánh thức bởi tiếng khua động của mọi người chung quanh.
Giây phút chờ đợi như kéo dài. Hơn tám giờ, hai tên công an ôm giấy tờ đến, lững thững trong khi mọi người nôn nóng. Gọi tên ai, người đó mới được vào phòng đợi.
“Con chị tên gì?”
Kỳ quá! Hôm qua đã ghi rồi mà. Người đàn bà ấy đã đứng tuổi, đi cùng chuyến đò với tôi. Tên công an thì chưa đến hai mươi tuổi. Bà đáng tuổi bà, tuổi mẹ hắn.
“Thưa ông...”
“Này, chị phải bỏ ngay cái giọng quan niêu phong kiến ấy đi nhá!”
Giọng rụt rè: “Thưa anh...”
“Ai anh em gì với cái nhà chị?”
Tiếng nói cất lên như một tiếng thở dài:
“Thế bây giờ tôi phải gọi như thế nào đây?”
“Gọi nà cán bộ. Báo cáo cán bộ. Biết chưa?”
Lần lượt mỗi người vào như bị hỏi cung. Mỗi người bị tên công an vặn vẹo, nạt nộ. Gian phòng nhỏ hẹp, chỉ đủ kê một cái bàn nhỏ ở góc cửa ra vào, tên công an ngồi làm cái việc hỏi cung. Một cái bàn dài, rộng kê ở giữa. Thân nhân ngồi một dãy. Phía bàn đối diện dành cho tù nhân. Vị trí của mỗi người tùy theo sự sắp xếp của công an.
Và giây phút chờ mong đã đến. Người thân của chúng tôi đã được giải tới. Mọi người trong phòng nhốn nháo. Người ngồi bên trong đứng lên để được nhìn rõ hơn. Những người tù thong dong bước tới mỗi lúc một gần. Quần áo mang trên người còn nguyên nếp gấp. Quần áo mang theo, nhưng lần này sao rộng thùng thình như đi mượn. Cặp mắt ai cũng sáng lên khi nhận ra người thân yêu.
Tên công an áp giải bắt xếp hàng ở dưới sân. Hắn hất hàm cho từng người vào. Hơn bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những nét thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng chẳng mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.
Năm phút. Mười phút. Thời gian trôi nhanh. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Đôi mắt tên công an gườm gườm. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn đâm vào da thịt.
Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về. Chúng tôi theo ra cổng, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây.
“Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Thuở còn đi học, nghe cô Tỉnh giảng Kiều say mê. Nhưng chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi buồn cô phụ. Tôi nuốt nước mắt nghẹn ngào. Bỗng dưng vạn vật mờ tất cả.
NHÀ VIẾT SỬ KINH TẾ ĐẶNG PHONG, MỘT TRÍ THỨC ĐÚNG NGHĨA
Ngày 13 tháng 4 năm 2024
• Đã đưa trên blog cá nhân VTN 18 tháng 8 2020
---
Một lần nhân viết về thói hư tật xấu thời bao cấp, tôi có tìm đọc các tài liệu của nhà viết sử kinh tế Đặng Phong và tìm thấy rất nhiều thú vị. Tôi tuy không hiểu phần nội dung kinh tế cho lắm nhưng khái quát lên thấy rất đúng những nhận thức về cuộc sống về xã hội hiện nay mà lại còn đang bị bưng bít.
Đọc thêm vào các tài liệu về ông, càng thấy đây là một trí thức theo đúng cái nghĩa mà tôi thấy được sử dụng ở các nền văn hóa khác.
Mặc dù trong nước ông chỉ được coi như một chuyên gia và chưa từng được phong chức danh giáo sư nhưng khi đi giảng dạy ở nước ngoài ông vẫn thường được nơi mời giới thiệu là một giáo sư uy tín.
Mở Google tìm hai chữ ĐẶNG PHONG tôi thấy rất nhiều bài có giá trị mà hay nhất chính là bài viết trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đang có trên mạng https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Phong
• Ông sinh năm 1937 tại Hà Tây, mất vào ngày 20 tháng 8 năm 2010.
Đặng Phong trước tiên là người của sử chứ không phải chỉ là người của kinh tế học.
Sử học đang là ngành nghiên cứu cần đổi mới mạnh nhất hiện nay.
Quan niệm về sử có thay đổi thì mọi ngành khác mới thay đổi theo được.
Trong sử học chúng ta vừa phải lo “làm lại” quá khứ vừa phải ghi chép ngay một cách đúng đắn về đương thời.
ĐÓNG GÓP CHO LỊCH SỬ KINH TẾ
Cho tới khi ông mất, ông là người giữ kỉ lục đầu tư nhiều thời giờ và cố gắng cho lịch sử kinh tế Việt Nam.
Để viết ra những công trình đồ sộ đó, ông đã phải bỏ ra một thời giờ nhiều lần lớn hơn để sưu tập tài liệu.
Theo ông những chuyện dân gian, những gia phả, những phong tục tập quán, ca dao tục ngữ phải được coi là nguồn sử liệu quan trọng.
Ông nắm vững lịch sử kinh tế Việt Nam, bất cứ một sự kiện kinh tế ở giai đoạn nào ông cũng có thể đặt ngay vào logic toàn cảnh của nó.
Ông được đánh giá là một cuốn tự điển sống về lịch sử kinh tế. Ông đã để lại trên một chục cuốn biên khảo, đều rất phong phú về tài liệu, kèm theo những nhận định chính xác và sắc bén. Đặc biệt là cuốn Lịch sử Kinh Tế Việt Nam (dày hơn 2000 trang).
--
QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ
Ông hiểu kinh tế lại càng hiểu ý nghĩa chính trị của kinh tế. Danh nghĩa "nghiên cứu lịch sử kinh tế" cho phép ông tìm kiếm không phải bao giờ cũng dễ dàng những tài liệu bị giấu giếm cẩn mật, để rồi viết và công bố cả những điều cấm kỵ.
Lối nhận định chính trị của Đặng Phong không lý thuyết và hàn lâm. Ông có niềm tin rằng chế độ chính trị phải thay đổi như một bắt buộc của lịch sử.
Từ các trang viết của ông toát ra một điều các chế độ chính trị không thích nghi với đà tiến hoá của lịch sử nhân loại, sẽ không thể tiếp tục tồn tại, và Việt Nam là một trong những dân tộc đang gặp thách đố sống còn đó.
Và, lịch sử thế giới không chỉ là đấu tranh giai cấp như Marx nhận định, mà lịch sử phức tạp hơn nhiều, nhưng nếu phải tóm tắt một cách thật giản đơn lịch sử thế giới thì đó là cuộc hành trình của con người về phía tự do.
Cho tới khi tìm được một công thức mới hay hơn, dân chủ là phương thức tổ chức phù hợp nhất để bảo đảm tự do cho nên cũng có thể nói lịch sử là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ.
DƯỚI CON MẮT MỘT NGƯỜI BẠN
ĐANG SỐNG Ở HẢI NGOẠI
Đặng Phong không có nhiều bạn, ông chỉ có một ít những người bạn thân...
Về một số trí thức tên tuổi trong nước, Đặng Phong nghĩ là họ không thực sự muốn đấu tranh để thay đổi, họ chỉ nói ra những điều có vẻ phản kháng vì đó là những điều đúng và có nói ra cũng không hại gì; họ bon chen và ông thì ông không thích bon chen.
Còn với những người đối lập thực sự và trực diện? Đặng Phong cũng không có nhu cầu gặp họ, ông không phải là người móc nối và tổ chức, ông thích đóng góp trong cương vị của một nhà nghiên cứu...
Nhiều tác phẩm của ông giống như những bản cáo trạng gay gắt đối với những sai lầm của chế độ và khiến người đọc hiểu rằng những sai lầm đó đã xảy ra vì không có dân chủ.
Dưới một bề ngoài giản dị xuềnh xoàng ông là một học giả lớn và trí thức lớn.
Những tác phẩm ông viết ra tuy rất ít người đọc nhưng là cả một kho tàng tư liệu quý báu cho những ai còn quan tâm đến cái trở thành của đất nước và dân tộc này, một đất nước và một dân tộc mà ông đã yêu một cách tha thiết.
Ông đã phân biệt được cái chính và cái phụ, cái tạm bợ và cái lâu dài, sự cao cả thực sự và sự hào nhoáng.
Ông đã không chấp nhận làm một sản phẩm của thời thế mà đã đóng góp thay đổi thời thế.
MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH CỦA ĐẶNG PHONG
• Về tư duy kinh tế:
--
“Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ "lực lượng lao động hợp tác xã" thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta - bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa ”
“Tư duy kinh tế sắp tới là tư duy thiết kế những hàng rào thông minh, tập trung xây dựng hàng rào tích cực, để mỗi cá nhân muốn xấu cũng không xấu được, làm điều tốt cho bản thân nhưng phải tốt cho xã hội. Và những vị trí quan trọng phải dành chỗ cho những bộ óc thông minh ”
• Về Việt Nam Cộng hòa:
--
“ Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm..., Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn... Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi.
****
Mời đọc thêm
CÁI TÂM CỦA MỘT SỬ GIA
– NHÂN MƯỜI NĂM NGÀY MẤT ĐẶNG PHONG
của Nguyễn Minh
trên trang Viet-studies 13 thg 6, 2020
http://hstudies.net/.../NguyenMinh_DangPhong.htmlh...
Trong lúc vô tình xem thông tin trên mạng, chợt nhớ từ khi giáo sư Đặng Phong qua đời, đến nay đã mười năm. Tháng tám năm nay là đúng mười năm.
Tôi vốn chỉ thích ở ẩn đọc sách, không ưa quảng giao, hơn nữa lại rời Việt Nam từ lâu, nên không có duyên gặp gỡ Đặng Phong, chỉ biết ông qua trước tác. Những dòng tôi viết dưới đây chỉ là cảm nhận của một người đọc tác phẩm ông, xem như một nén hương lòng, tưởng nhớ một nhà học giả chân chính.
Dĩ nhiên tôi không có tư cách chi, nhưng giả dụ có, và được trao quyền chọn ra hai sử gia Việt Nam tiêu biểu nhất trong khoảng nửa cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, tôi sẽ chọn Hà Văn Tấn và Đặng Phong, mặc dù Đặng Phong chỉ giới hạn mình trong phạm vi kinh tế sử.
Có người nhận xét tác phẩm Đặng Phong là “history of the economy”, không phải “economic history”, hàm ý rằng ở Đặng Phong không có một chiều sâu kinh tế học. Có lẽ với người ấy, kinh tế phải là những lý thuyết cao kỳ, với những mô hình kinh tế lượng (kinh toán học) tháp ngà.
Nếu quan niệm như trên, bạn không nên tìm đến Đặng Phong, bởi với Đặng Phong, kinh tế là đời, và từng giọt nước cũng quan trọng như cả dòng sông. Đặng Phong viết: “Một giọt nước không phải là dòng sông. Đúng. Nhưng cũng chưa thấy có cái gì được gọi là dòng sông mà không có nước.”[1]Sử của Đặng Phong là lịch sử của những giọt nước, là bức tranh lớn ghép nên từ những mảnh khảm đa dạng, muôn màu.
Việc Đặng Phong là sử gia hơn là kinh tế gia khiến ông gần gũi với tôi. Lịch sử kinh tế vốn khô khan, lịch sử tư duy kinh tế lại càng khô, thế mà ông viết đề tài nào cũng khiến tôi đọc say sưa như tiểu thuyết. Tài là vậy!
Nhưng cái tài của Đặng Phong, nhiều người đã đề cập, thiết tưởng không cần nhắc nữa. Ở đây, tôi muốn nói nhiều đến cái tâm.
Thế nào là một sử gia có tâm? Theo tôi, đó là một người không đứng về bất kỳ phe phái nào, chỉ lấy sự thật làm gốc, và luôn luôn giữ tinh thần khách quan hết mức có thể. Tiêu chuẩn này nghe qua đơn giản, thật ra rất khó đáp ứng, hiếm ai đáp ứng được hết.
Muốn giữ cái tâm trong một xã hội như xã hội Việt Nam, đôi khi phải có dũng khí.
Đặng Phong đã có dũng khí, khi trong bộ sách để đời Lịch sử kinh tế Việt Nam, ông trước sau như một, chỉ gọi Hồ Chí Minh là “ông”, không hề có một chữ “Bác”, cũng không một chữ “Người”.
Ngô Đình Diệm là “ông”, Hồ Chí Minh cũng là “ông”, bởi đứng trước lịch sử, mọi nhân vật đều bình đẳng.
Tùy theo bối cảnh, một điều rất bình thường có thể trở nên phi thường. Chữ “ông” mà Đặng Phong dành cho Hồ Chí Minh là một chữ phi thường, bởi ngoài Đặng Phong, còn sử gia “xã nghĩa” nào khác dám “hỗn” như vậy?
Tương tự, để tôn trọng sự thật lịch sử, khi nhắc tới sự kiện cải cách ruộng đất, thay vì nhận xét kiểu như “sai lầm đáng tiếc”, Đặng Phong nói thẳng là “tàn ác”[2]. Ngay tại Việt Nam, trong một công trình nhà nước, mà dám nói đến như vậy, thật là đã đi đến cùng cực của giới hạn.
Với “phía bên kia”, tức Việt Nam Cộng Hòa, Đặng Phong tỏ thái độ khách quan, công bình. Nếu như các bộ “kinh tế quốc sử” khác, chẳng hạn 45 Năm Kinh Tế Việt Nam (1945-1990)[3] do Đào Văn Tập chủ biên, chỉ dành cho miền Nam lèo tèo vài trang ở cuối mỗi chương, thì Đặng Phong viết về Việt Nam Cộng Hòa đến 250 trang. Ngoài ra, ông còn viết hẳn, in riêng một quyển về kinh tế Việt Nam Cộng Hòa[4]. Tuy ông không khẳng định rõ ràng, nhưng sự thật do ông trình bày tự nó đủ nói lên tất cả, rằng kinh tế miền Nam ưu việt hơn miền Bắc về nhiều điểm. Kinh tế gia miền Nam ngày nay nhiều người còn sống, song buồn thay, tôi chưa thấy ai viết được một tác phẩm kinh tế sử Việt Nam Cộng Hòa công phu, đầy đủ như công trình của “Việt cộng” Đặng Phong[5].
Hiển nhiên, cũng có những chuyện Đặng Phong không thể nói ra. Khi gặp những chuyện ấy, hoặc ông im lặng chứ không bẻ cong ngòi bút, hoặc tốt hơn nữa, là tìm cách “lách” để nói cho được. Viết tức là lách. Tôi nhớ trong một lần trả lời phỏng vấn, Đặng Phong nói ông có “cách của mình” để lách thành công.
Thí dụ, Đặng Phong không thể chỉ trích Lê Duẩn. Ông vẫn khen, nhưng qua cách trình bày của ông, người đọc nhận rõ tư tưởng Lê Duẩn, chẳng hạn tư tưởng “làm chủ tập thể”, thật sự chỉ rỗng tuếch, giống như những “bông hoa điếc”, tức là tuy đẹp mà vô tích sự. Thêm vào đó, những lúc cần chê Lê Duẩn, ông mượn lời của những “cây đa cây đề” như Võ Nguyên Giáp[6].
Khi gặp những thông tin “nhạy cảm”, như vụ nổi dậy chống chính quyền ở Quảng Ngãi vào năm 1950[7], hay vụ xử bắn bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) [8], Đặng Phong không thể đề cập trong nội dung chính của sách. Ông lách bằng cách đưa chúng vào mục “biên niên sự kiện”, nằm ở phụ lục cuối sách. Kiểm duyệt không đọc tới đấy, độc giả chắc cũng ít người đọc tới đấy. Tôi cho rằng Đặng Phong “nhét” các thông tin trên vào đấy chỉ để khỏi thẹn với lòng mình, và để giữ vẹn cái tâm của một “thái sử công”.
Thời buổi ngày nay, mấy ai còn được như ông?
Khi Đặng Phong qua đời, tôi từng nghĩ vậy là Việt Nam chẳng còn một sử gia kinh tế chân chính nào nữa.
Mười năm qua đi, tình hình vẫn thế.
Nghĩa là chẳng có ai cả!
Nguyễn Minh
Adelaide, tháng 6, 2020
----
[1] Đặng Phong 2002, Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000, Tập 1: 1945-1954, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.8.
[2] Đặng Phong 2005, Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000, Tập II: 1955-1975, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.86.
[3] Đào Văn Tập 1990 (chủ biên), 45 Năm Kinh Tế Việt Nam (1945-1990), Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
[4] Đặng Phong 2004, Kinh Tế Miền Nam Việt Nam Thời Kỳ 1955-1975, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
[5] Một thuận lợi của Đặng Phong là ông thực hiện một công trình nhà nước, nên có cơ hội phỏng vấn, thu thập thông tin trực tiếp từ những nhân vật cộm cán trong chính quyền Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng chủ động tiếp cận các nhà hoạch định chính sách Việt Nam Cộng Hòa, chẳng hạn giáo sư Vũ Quốc Thúc, đồng tác giả kế hoạch kinh tế hậu chiến Thúc-Lilienthal.
[6] Đặng Phong 2008, Tư Duy Kinh Tế Việt Nam: Chặng Đường Gian Nan Và Ngoạn Mục 1975-1989, Nhà Xuất Bản Tri Thức, Hà Nội, tr. 83.
[7] Đặng Phong 2002, Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000, Tập 1: 1945-1954, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.603.
[8] Đặng Phong 2002, Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000, Tập 1: 1945-1954, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr.610.
MẤY ĐIỂM NHẤN KHI TÌM HIỂU TIỂU SỬ NHÀ TRÍ THỨC ĐẶNG PHONG
Ngày 13 tháng 4 năm 2024
1/
Ở trường hợp của các trí thức miền Bắc, hiếm thấy một người nào như ông từng tốt nghiệp hai trường đại học trong nước, sau đó lại đi tu nghiệp ở đại học phương Tây và thành thạo các kiến thức mà nhà trường Âu Mỹ đào tạo cho các chuyên gia của mình. Ông không bị buộc chặt vào cả kinh tế học lẫn triết học mác xít mà đã vượt ra để đạt đến trình độ tiên tiến của các ngành khoa học xã hội trên thế giới.
2/
Cũng như các tri thức phong kiến, người trí thức ở các nước xã hội chủ nghĩa sau khi học xong là gia nhập vào hệ thống cán bộ tương đương hệ thống quan trường thời phong kiến.
Và còn hơn cả tri thức phong kiến, người cán bộ ngày nay một khi đã gia nhập vào bộ máy thì không thể treo ấn từ quan tức không thể giữ được quan niệm riêng và cách làm riêng của mình trong công việc.
Đặng Phong đã đi từng bước từ vai trò của người nghiên cứu cơ sở đến người hiểu biết toàn bộ về mọi công việc của người làm sử kinh tế, và ông yên tâm ở vào địa vị khiêm tốn của mình khai thác nó đến cùng.
Ông không nóng vội rao bán những kích thước tích lũy được, hòng kiếm lấy một địa vị cao sang hơn.
Đặc biệt ông không bị sự khác biệt giữa quan niệm của mình và quan niệm của xã hội làm nản lòng, mà lại tiếp tục tìm kiếm thêm tài liệu mài sắc thêm luận điểm và chỉ mong công bố được những điều mình viết ra dưới hình thức đầy đủ nhất của nó chứ trước mắt không hề tính là bản thân được trọng dụng.
3/
Do sự non yếu của mình trong đào tạo chuyên môn, người trí thức Việt Nam thường thiên về khuynh hướng mà người ta gọi là “phò chính thống”, cụ thể là chấp nhận vai trò minh họa cho những luận điểm mà cấp trên khởi xướng, đi đến cùng trên con đường này sẽ là cơ hội về chính trị và tham nhũng kiếm chác trong cuộc sống.
Trường hợp suốt đời làm chuyên môn như Đặng Phong theo tôi thấy là rất hiếm chưa bao giờ vì thấy xã hội chưa hiểu mình mà ông nản lòng nhất là ông không bao giờ thỏa mãn với những tìm tòi sẵn có mà luôn luôn khai phá con đường riêng của mình, và đi tiếp đi đến cùng trên con đường đã lựa chọn.
4/
Trong đoạn nói về tiểu sử Đặng Phong trên Wikipedia, tôi chú ý đến cái câu nhận xét về ông của một người bạn ở hải ngoại
“Đặng Phong không có nhiều bạn, ông chỉ có một ít những người bạn thân...
Về một số trí thức tên tuổi trong nước, Đặng Phong nghĩ là họ không thực sự muốn đấu tranh để thay đổi, họ chỉ nói ra những điều có vẻ phản kháng vì đó là những điều đúng và có nói ra cũng không hại gì; họ bon chen và ông thì ông không thích bon chen.
Còn với những người đối lập thực sự và trực diện?
Đặng Phong cũng không có nhu cầu gặp họ, ông không phải là người móc nối và tổ chức, ông thích đóng góp trong cương vị của một nhà nghiên cứu...”
Ở đây ta thấy Đặng Phong không chỉ khác với những người bon chen cơ hội mượn chuyện phản biện để thỉnh thoảng chọc ngoáy vài điều rồi nhân đó mà mặc cả với cấp trên và tiếp tục công việc kiếm chác –
mà ông cũng khác với những người từ bỏ vai trò nghiên cứu của mình hoặc không để hết lòng cho việc nghiên cứu mà lấy việc phản biện làm mục đích.
Tuy ông không nói ra rõ ràng nhưng theo hiểu biết của mình, tôi dự đoán là ông cho rằng những người đối lập trực diện kia đã từ bỏ vai trò của người trí thức đứng ngoài mà đã trở thành nhà hoạt động xã hội và đó là con đường mà ông không muốn đi theo.
Cách đây vài năm, có nhiều cuộc thảo luận về trí thức và số đông đi đến công thức là nếu không phản biện thì không thành trí thức trong khi đó thì giáo sư Ngô Bảo Châu lại quan niệm người trí thức chỉ cần làm tốt công việc của mình, còn phản biện hay không là tùy điều kiện chứ không bắt buộc.
Tôi cảm thấy quan niệm của Đặng Phong về người trí thức là gần với Ngô Bảo Châu và theo tôi đó là quan niệm nên áp dụng ở VN.
5/
Tuy không bao giờ được gặp mặt Đặng Phong nhưng qua ít trang người khác viết về, tôi cảm thấy đó là một con người đơn độc, đúng như người bạn ở hải ngoại đã viết, ông không có bạn và chỉ có một ít bạn thân, tóm lại là một con người đơn độc sống theo lối khép mình lại giữa đám đông xã hội.
Theo tiêu chuẩn của con người xã hội chủ nghĩa kể cả các trí thức xã hội chủ nghĩa thì như thế là không lành mạnh và sẽ không phát huy được tốt nhất phần đóng góp cho xã hội.
Nhưng tôi lại thấy quan niệm của Đặng Phong gần với quan niệm của nhiều nhà trí thức ở các nước khác.
Thêm một nhận xét nữa là trong hoàn cảnh đất nước bị hai mươi năm chia cắt, Đặng Phong gần gũi và tìm thấy nhiều thông cảm ở các đồng nghiệp là các tri thức miền Nam hơn là những bạn hàng ngày làm việc sinh hoạt cùng ông.
HÀ NỘI NHỮNG NGÀY HẬU CHIẾN ĐẦU TIÊN - NGÀY 1-5-1973
Ngày 15 tháng 4 năm 2024
Trích từ
NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
HÀ NỘI - QUẢNG TRỊ - HÀ NỘI 1972 – 1975
*
Đối với đồng bào cả nước, thì thời hậu chiến chỉ bắt đầu từ 30-4-75, nhưng riêng đối với miền Bắc thì hai năm 1973-1974 đã tạm coi là hòa bình.
Hai năm hậu chiến ấy cho phép xã hội như tự sốc lại chính mình, nhìn lại chính mình trên mọi phương diện kinh tế, xã hội, giáo dục.
Một cái gì mất đi là điều ai cũng cảm thấy rất rõ, mỗi khi va chạm với mọi chi tiết của đời sống.
Xu thế càng rõ khi có dịp soi vào một cuộc mít tinh.
Từ lâu với người Hà Nội những cuộc mít tinh là nơi người ta bộc lộ toàn bộ tính tổ chức và sự nghiêm túc của những vấn đề tư tưởng. Nhưng cuộc mít tinh diễn ra trong ngày 1-5-1973 thì lại mang một màu sắc nhiều phần khác.
Dưới đây là những ghi chép của tôi trong ngày mùng một tháng năm đó.
-------------------
1/5
CON NGƯỜI SỐNG SÓT THÀNH PHỐ SỐNG SÓT
Hội hè là gì? Là những ngày vui, sau công việc. Là những ngày xả hơi buông thả sau những “chiến dịch” mệt nhoài.
Thử tìm ý nghĩ của đám tham gia duyệt binh. Họ quen tuỳ tiện buông thả. Mà duyệt binh trước tiên cần trật tự, ý chí, nghị lực. Từ thực tế đánh nhau trở về, người ta dễ xem đây là một việc tội nợ phải làm.
Nhưng rồi máu anh hùng nổi lên, lại nhớ rằng việc đó rất có ý nghĩa. Và người ta cắn răng lại để làm.
Rút cuộc thì cảm giác về một cái gì lớn lắm quay lại chi phối!
Nhờ đi theo phóng viên nhiếp ảnh Đoàn Công Tính, tôi được vào sâu quảng trường, ngay dưới chân khán đài. Tôi nhìn kỹ những nét mặt đi qua quảng trường. Rất ít những nét mặt đẹp. Người chúng ta, không phải là những người để đi duyệt binh. Khuôn mặt thô, nước da xám, mắt tròn, mắt dẹp, cờ ra côm… đủ chuyện. Không có ai đẹp!
Cuối xuân, đầu hè, lá đã bắt đầu xanh sau mưa. Khẩu hiệu đỏ rực các đường phố. Thú thực, tôi hơi ngầ ngại khi nhìn đâu cũng bắt gặp cái màu đỏ này. Nó gợi cảm giác hỗn loạn. Nó tượng trưng một sự phá phách.
Sau khi dự lễ để tìm lại một chút bình thản, tôi đi về phía sông, phía cát, phía màu xanh.
Nhưng mà vẫn không dứt khỏi ám ảnh về buổi mít tinh vừa có mặt.
Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cuộc mít tinh lộn ẩu thế. Người đi dự mít tinh thì ít (mỗi khối phố định lấy 20 người, mà lấy được có 10).
Sau này nhìn TV thấy trên quảng trường nhiều chỗ trống.
Người đi xem, thì đông, họ nằm la liệt mọi ngả đường. Đây là cái cảnh không có trong những đám mít tinh hồi trước 1964.
Độ 8h, những người phải đứng thì bỏ về, trong khi người đi xem tràn lên.
Như một thứ lũ lụt: Người ta chui vào giữa các khối Công an – bộ đội. Người ta len vào giữa khách nước ngoài. Người vỡ ra từng mảng xô đẩy.
Công An, Công An Nhân dân vũ trang, đám trật tự viên, tất cả bất lực.
Ở quãng đường Hùng Vương, phía bên phải lễ đài, nơi thoát ra của đoàn người diễu hành, người ta xô lên, đường chỉ còn lại một nửa. Tan nát, lộn ẩu ở phía người diễu hành đi qua, trong khi đó, ở phía sau, không gian rỗng ra.
Đến nỗi người như Tính cũng phải nhận:
– Người ta đã quen với cách sống thời chiến. Lúc này mới hiểu chiến tranh…
Vẫn theo Tính, chắc người đi qua lễ đài cũng chán ngán mệt mỏi. Không có Cụ Hồ để hy vọng chào đón, người ta ngoảnh đi lung tung. Lòng người phân tán quá chừng. Các lãnh tụ cười, vẫy tay chỉ vì nhớ rằng ống kính các nhà quay phim đang chĩa vào mình.
Lúc gần kết thúc, tôi nghe tiếng lao xao: “Thế này thì người nước ngoài cười chết. Khu vực quần chúng trống quá.”
Một giọng hét rất to: “Quân nhạc cử Giải phóng miền Nam.”
Khi điệu nhạc Giải phóng miền Nam vừa dứt, lại tiếng lao xao từ khu vực chỉ huy “Đáng nhẽ ông Đồng phải ra nói trước mọi người.”
Chờ đợi. Rồi ông ấy cũng ra:
– Chúng ta đã cử hành ngày lễ một cách rất thắng lợi (!).
Và ông không quên cái điều thực chất nó khiến ta phải làm mít tinh:
– Chúng ta yêu cầu các nước anh em tiếp tục đồng tình ủng hộ chúng ta về mọi mặt.
Tôi nghĩ bây giờ thì dân họ cũng biết mọi chuyện rồi. Nhưng họ mệt mỏi không thiết gì nữa.
Đêm trên thành phố là khi con người trở về với cái hoang dại. Người ta chú ý đến tất cả những gì chung quanh, một tiếng lá rơi, một ngả đường rộng. Có thể có ai đó đang lo chạy cấp cứu vì vợ đẻ, con đau. Nhưng nói chung những khốn khổ hàng ngày lùi đi rất xa. Cái lối phớt lờ mọi chuyện vủa những cặp tình nhân được coi là có lý nhất. Trong đêm, tiếng người nói to hơn, tiếng móng xe bò gõ trên đường nhựa, nghe nhộn nhạo hơn. Ở đấy là tất cả những gì đang sống.
Nhớ một ý Xuân Quỳnh nói buổi chiều:
– Giá những người đi duyệt binh kia về cày cuốc, thì được bao nhiêu việc.
Lúc ấy tôi chỉ hùa theo: “Ai mà quay về được nữa. Ở mình bây giờ, những thứ quân sự đã hóa dễ quen hơn dân sự!”.
Lúc này tôi nghĩ lan man thêm. Vậy thì ở mình chỉ những sự phá phách là toàn thắng. Nó ào ào như nước lũ vỡ bờ vô tận, như các dân tộc khác – tự tin, hào hứng, – làm ra của cải vô tận và thẳng đường tiến tới văn minh.
-----------------
2/5
HÀ NỘI THAY ĐỔI
Nhớ lại cái phía đời thường của ngày lễ. Công việc được bàn nhiều ở các khu phố là lấp nốt những hố cá nhân. Một mặt thì ở đó chứa chất tất cả những gì cần phải đổ đi, than xỉ, bùn cống.
Mặt khác, cái miệng cống vẫn quẩn lên một lớp váng như một thứ ký ức không chịu tan biến đi cho. Dĩ vãng có mặt trên mỗi đoạn đường chúng ta đi tới.
Là người công dân Hà Nội lúc này nghĩa là gì? Là người thợ may vá chữa quần áo. Là người thợ thiếc nhặt từng ống bơ cũ về làm lại cái đèn, cái ấm đun nước. Là mấy chị phe phẩy lo chạy hàng phục vụ đám dân Hà thành từ nơi sơ tán trở về. Là… cô giáo cũ đi thu nhặt lại đám học sinh… Họ đang là những nhân vật chủ yếu của thành phố!
Người ta mang về các vườn hoa một ít dụng cụ đồ chơi. Và đây quả thật là những “quả nhỏ” của chiến tranh: những cái khung đồ chơi bằng sắt trông nặng, chắc. Những lớp sơn tạm bợ. Tiếng khung sắt động vào mặt đất xi măng nghe rào rạo một thứ âm thanh xa lạ.
Người ta thích nói tới Hà Nội tài hoa vì đó là cái bề ngoài dễ thấy mà cái phần sâu lắng tìm khó hơn nhiều. Hà Nội dũng cảm vì Hà Nội nghèo khổ. Hà Nội từng trải, lì lợm, vì Hà Nội sống sát mặt đất.
Đã bao nhiêu lần, tôi nghe được những người khác nhau nói về Hà Nội. Có những chuyện vui nhất lẫn những chuyện buồn nhất. Và tôi hiểu cộng những cái đó lại, mới là Hà Nội.
Sấu rụng. Lá sấu rơi như mưa, phủ trên mặt đất một lớp dày, người đi lá sấu rụng trên vai, đứa trẻ ngửng mặt hứng lấy chiếc lá không cho nó kịp rơi xuống đất.
Cành sấu không bao giờ trơ lá. Lá sấu già mới rụng đi, lá sấu non đã nẩy, và trong một sớm một chiều, sấu trên đường vẫn xanh um.
Với chúng ta, những sắc phượng đỏ thường gắn liền với thời khắc buổi trưa. Những trưa hè, màu đỏ như lửa loá lên trong nắng, – tưởng như nắng quá, ngọn cây là một chất dễ cháy, đã bốc lên thành ngọn lửa. Nhưng lúc này phượng hiện ra kinh sợ đối với tôi bởi hình như đó đã là một thứ phượng khác. Buổi chiều phố vắng. Bóng tối mùa hè ngập ngừng dâng lên, dâng lên. Không khí trong suốt tối dần. Bóng tối ập cả vào mặt. Trong cái giờ khắc ấy, tôi ngước lên nhìn hàng phượng, thấy màu đỏ đã thẫm lại, tím lại, mà nó vẫn cứ không chịu lẫn đi với màu xanh đã trở thành nhợt nhạt của lá, màu nâu đã hết bản sắc của cành. Tôi nghĩ đến tình yêu của tôi. Tôi lại nghĩ đến những vết thương rơm máu của xã hội này. Tất cả đều là hiện thực.
3/5
Tiếng trẻ con hát lảnh lót bài Oan ta mê la. Âm thanh đi lại uốn lượn trên vòm trời, như một tiếng cầu kinh của những tín đồ trung thành (và cái mà nó gợi theo, đấy là chủ nghĩa tự do, một thứ tự do vô dụng nên lang thang vô mục đích).
Những thanh niên nhộn nhạo, ầm ĩ trên đường. Cái quần loe họ mặc, cái áo màu nghệ thối họ khoác trên người. Những chuyến đi suốt đêm, có thể là gần suốt đêm bên nhau. Những trận cười thâu đêm, những tình yêu nồng cháy. Hoà bình là thế, hoà bình phải có những cái ấy, dù đây là một nền hoà bình có thể đổ sập bất cứ lúc nào.
4/5
Thế nào là dấu hiệu của một xã hội suy vi? Người ta, những người dân thường, không ai muốn làm ăn cẩn thận. Còn lại, chỉ những người tốt là khổ.
Đã rõ là xã hội không thể, không làm được cái việc tối thiểu là động viên mọi người làm việc. Mọi người cứ nhớn nhác chờ một cái gì đó. Chờ một may mắn từ trên trời xuống, chờ một phép màu. Chỉ có làm việc (mà ta gọi là sản xuất) thì không ai nghĩ tới.
Một điểm nữa làm tôi kinh sợ. Tôi nhận ra xã hội đang như một dòng họ thoái hoá. Những lớp người sau ngày càng còi cọc đi, so với những lớp người trước. Khôn ranh hơn, năng động hơn mà hoá ra hư hỏng thực sự. Tôi nhớ tới hai chữ đồng huyết. Đây là một khái niệm sinh vật học: những người khác giới cùng dòng máu phối hợp với nhau, không tạo ra những biến dị tốt – mà chỉ làm sinh thể thoái hoá dần.
Có lẽ trong công tác tư tưởng, cũng có những vấn đề tương tự. Tư tưởng, khi không được tiếp xúc với những tư tưởng khác, sinh ra thoái hoá, luẩn quẩn! Và đấy là hiện tượng thấy ở xã hội hôm nay. Chúng tôi có biết được gì ngoài mình?
Xã hội nào cũng có những luật pháp ghi thành văn bản, và những tập tục, thói quen, thậm chí cả những thể chế, những luật pháp quy định những điều được phép và không được phép không ghi thành văn bản.
Xã hội của chúng ta hiện nay, luật pháp thì ngặt, ảo tưởng, hoá ra vớ vẩn, không thực hiện được. Thói quen thì tự do hoành hành, không bị một ràng buộc gì hết. Người ta cho phép mình làm mọi điều trong bóng tối.
… Sao tự nhiên, tôi khao khát mọi nền nếp của xã hội trước 1945, một thứ pháp điển mới tới với xã hội VN từ hồi Tây phương xâm nhập, mà sao quá quen thuộc như tự ngàn đời đã vậy. Những căn nhà yên tĩnh, những khu phố sạch sẽ, những người làm việc với niềm tin lâu dài. Những bài giảng về văn học cổ điển. Phút nhẩn nha khi đọc một áng thơ dịch. Bức tranh treo trên tường.
Lâu nay, xã hội tôi sống nặng về tàn phá mà không xây dựng, nặng về ồn ào ngày lễ, mà không có cái sâu xa của ngày thường. Trong nhà trường trẻ con biết đến cả những tên tuổi văn học rất là vớ vẩn, nhưng không biết những giá trị lớn.
Đất nước này, người ta chỉ nói tới lịch sử khi cần che giấu cái trống rỗng hiện tại.
Việt Anh (đang dạy toán ở trường Chu Văn An): Tôi cảm thấy thời gian sau này người ta đã bắt đầu chú ý tài năng.
Nhàn: Chưa bao giờ, chưa bao giờ. Ngay cái khái niệm tài năng cho chính xác chưa đặt ra, thì làm sao mà chú ý được.
Việt Anh: Tôi cảm thấy cái hướng nghịch của học sinh bây giờ là phá phách.
Nhàn: Nói phá phách còn nhẹ. Nó là cái mầm của mất lòng tin, mất phương hướng.
Bao giờ cho cuộc sống ổn định lại! Tôi vốn nghiêng về sự bùng phát, sự phá cách chứ không phải rập khuôn theo mẫu. Tôi vốn nghĩ những chuyện hôm nay là chưa từng có trong lịch sử, vậy phải khai mở lấy con đường của mình. Nhưng phải biết cái cũ, kể cả những sự phá cách cũ, thì người ta mới có điểm tựa để nghĩ về cái mới.
THÁCH THỨC LỚN NHẤT ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY LÀ CHÚNG TA CHƯA CÓ TƯ DUY HÒA BÌNH
Ngày 10 tháng 7 năm 2024
Trích bài GS Cao Huy Thuần (Pháp)
trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn tiếp thị 2013
******************
HỎI
Theo Giáo sư, vì sao một dân tộc từng ngẩng cao đầu trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những chặng hòa bình tìm kế bứt phá vươn lên?
TRẢ LỜI
Chiến tranh có quy luật của chiến tranh. Hòa bình có quy luật của hòa bình. Trở về lại với bài quốc ca, năm 1945 chúng tôi hát: "Thề phanh thây uống máu quân thù" mà chẳng thấy gì ghê rợn. Bây giờ chúng ta hát: "Đường vinh quang..." Thế là "văn hóa" của chiến tranh đã khác với văn hóa của hòa bình rồi!
"Mỗi ngày anh du kích giết được 3 thằng Tây, vậy 10 ngày anh giết được bao nhiêu thằng?", ấy là bài toán đố lớp tiểu học hồi 1950.
Bây giờ không ai ra toán kiểu đó nữa.
Tuy vậy, chiến tranh vẫn chưa ra khỏi cái đầu và thực tế chính trị. Như một quán tính, chiến tranh vẫn đè nặng trên tư duy. Ta và địch vẫn mãi đánh nhau trong đầu óc, với căm thù, thủ đoạn và bạo lực, ngăn cản mọi suy nghĩ về sự cần thiết tất nhiên của cạnh tranh chung sống trong hòa bình.
Có cần phải nhắc lại rằng chiến tranh không có văn hóa? Không ai nói "văn hóa chiến tranh". Chỉ có văn hóa hòa bình.
Đừng áp dụng quy luật của thời chiến vào giai đoạn của thời bình.
Một bên là nước mặn, một bên là nước ngọt.
Chiến tranh là chỉ huy, hòa bình là nghe ý kiến.
Chiến tranh là mệnh lệnh, hòa bình là biện luận.
Chiến tranh là đại bác, hòa bình là cây bút.
Chiến tranh là sắt thép, hòa bình là tơ lụa.
Chiến tranh là thù địch, hòa bình là đối thủ.
Chiến tranh là cưỡng bức, hòa bình là thuyết phục.
Chiến tranh là lý lịch, hòa bình là vua Trần xí xóa.
Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật.
Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường.
Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người.
Chiến tranh là nhất cực, hòa bình là đối trọng.
Chiến tranh là con ó quắp mũi tên nơi móng, hòa bình là con bồ câu lông trắng, chân son, và mắt ôi là bồ câu.
Hòa bình mà cứ dùng khí giới của chiến tranh để đối thoại thì "văn hóa" ấy không phải là động lực của phát triển. Đó là cản trở phát triển. Cản trở về mọi mặt, mọi lĩnh vực.
---
HỎI
Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay là gì, thưa Giáo sư?
TRẢ LỜI
Là chưa có tư duy hòa bình như tôi vừa nói.
---
HỎI
Theo Giáo sư, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn chế những thách thức đó để đưa dân tộc đi lên?
Chỉ có một phương thức duy nhất thôi là dân chủ. Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy, quyền lực lâu ngày của một chế độ sẽ hao mòn tính sắc bén với thời gian, người Pháp nói rõ hơn: le pouvoir s'use, ta có thể dịch là quyền lực bị lão hóa.
Ngày xưa, khi mới đánh đuổi ngoại xâm và lên ngôi, ông vua thường là minh quân. Một đời, hai đời, vài đời, tính sắc sảo ban sơ dùi mòn đi, cuối cùng là hôn quân hắc ám.
Giới tinh hoa quan chức không có động lực gì thúc đẩy để thay đổi, chỉ ham địa vị, cũng từ từ rữa nát theo ông. Tất cả chế độ chỉ dựa trên ông vua và hầu cận tả hữu mà vua thì hôn quân, quan thì nịnh thần, tất loạn, không Hồ Quý Ly thì Mạc Đăng Dung phải soán ngôi để thiết lập trật tự mới.
Chế độ quân chủ ngày xưa không tìm ra được một nguyên tắc để ngăn cản tính lão hóa tất yếu của quyền lực, để quyền lực chuyển mình thay đổi trong hòa bình.
Ngày nay, chính thể dân chủ có nguyên tắc, có kinh nghiệm để mài giũa lại quyền lực cho sắc bén, hữu hiệu, để quyền lực tự củng cố, tự sửa đổi.
Ông Khổng Tử ngày xưa bảo thủ như vậy mà cũng nói: Học cũng như chèo thuyền nước ngược, không tiến tất thoái. Cai trị cũng vậy.
Nhân ngày độc lập, tôi cũng xin nói thêm, hay nói cho đúng, cũng xin hát thêm - hát những bài hát mà chúng tôi đã hát hồi 1945. Bài Bao chiến sĩ anh hùng tận cùng như thế này: "Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam!/ Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam!/ Đài hạnh phúc đắp xây tự do!/ Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm".
Triệu người Việt Nam như một đều đang nói: chúng ta đang gặp ngoại xâm. Triệu người Việt Nam như một đều đang thề: thề phục quốc. Triệu người Việt Nam như một đều đang hô to: lập quyền dân. Triệu người Việt Nam như một đều đang ước mơ tự do, hạnh phúc. Chúng ta đang sống năm 2013 hay năm 1945?
---
HỎI
Triết lý phát triển nào cho Việt Nam phù hợp với bối cảnh hiện nay, thưa GS?
TRẢ LỜI
Tôi xin mượn một chuyện khoa học để trả lời câu hỏi của anh. Hồi thế kỷ 18, nhiều nhà hóa học, nhất là Stahl, nghĩ rằng nếu cái bàn, cái ghế, bất cứ cái gì cũng có thể cháy được thì như vậy hẳn phải có một tố chất gì đó chung cho tất cả những vật thể có thể cháy ấy. Tìm tòi mãi mà không chiết ra được cái tố chất chung ấy, họ gọi cái chất hãy còn vô hình đó là phlogistique. Như thế cho đến Lavoisier. Lavoisier đảo ngược cách suy nghĩ. Chắc gì cái tố chất chung ấy nằm ở trong bản thề cáí bàn, cái ghế, mọi vật có thể cháy? Biết đâu nó nằm ở bên ngoài? Đảo ngược cách suy nghĩ như vậy, Lavoisier khám phá ra cái mà bây giờ trẻ con cũng biết: cái ấy là ôxy. Có ôxy thì cháy. Ôxy ở bên ngoài.
May mắn cho Lavoisier là rốt cục các nhà hóa học không còn kết án ông là diễn biến... khoa học. Không làm một cuộc đổi mới tư duy thì xin anh đừng nói phát triển.
---
HỎI
Giáo sư có tin rằng mỗi dân tộc có một số mệnh riêng?
TRẢ LỜI
Tôi là Phật tử nên không tin ở số mệnh. Đạo Phật dạy tôi: tất cả đều do hành động của ta. Hành động tốt thì kết quả tốt, hành động xấu thì kết quả xấu. Các câu hỏi của anh là hành động. Trả lời của tôi là hành động. Nó nhỏ như hạt mưa. Nhưng triệu triệu hạt mưa thì chấm dứt hạn hán.
LÊ NGỌC SƠN (THỰC HIỆN)..
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT ĐÃ SUY THOÁI ĐẾN MỨC NÀO?
Ngày 1 tháng 8 năm 2024
bài của họa sĩ Lê Thiết Cương
Nguồn
http://redsvn.net/van-hoa-cua-nguoi-viet-da-suy-thoai.../
•
Sự chênh lệch của khoảng cách giàu nghèo thì ai cũng nhìn thấy nhưng sự chênh lệch giữa tiền bạc và văn hóa thì ít người biết đến.
------------
Giả sử vào một buổi tối của năm 1986, có một cô gái ở ngoại ô Hà Nội, sau khi đi chơi về, đi ngủ và giấc ngủ của cô ấy liền một mạch giờ mới tỉnh dậy…
Sáng nay, cô gái đi vào thành phố thì chắc chắn cô sẽ bị lạc. Đương nhiên, vì cảnh xưa người cũ đâu còn như trước.
Quá nhiều đường sá mới, phố phường mới, nhiều cầu to cầu bé, nhiều khu đô thị tên nước ngoài, nhiều chung cư lênh khênh. Đã vậy lại còn bị hoa mắt vì quá nhiều xe cộ, chả thiếu thương hiệu gì Âu, Mỹ, Nhật xe nào cũng đẹp, cũng bóng nhoáng.
Quá nhiều quần áo, váy xanh đỏ hàng hiệu nõn nà, thơm phức. Quá nhiều biển quảng cáo ngang dọc, quá nhiều đèn đóm lập lòe nhấp nháy, giăng mắc khắp phố phường. Quá nhiều đình chùa, mới toe, rối rắm cầu kỳ và những pho tượng tạc đẽo bôi chát bằng sơn công nghiệp kệch cỡm, dị hợm, lòe loẹt.
Thế thì làm gì cô gái ấy chả lạc. Tuy nhiên lạc đường thì chả sợ, cô ấy sẽ dừng lại hỏi đường, sẽ vẫn đi đến nơi về đến chốn nhưng lạc lõng thì chịu chết, chả ai giúp cô ấy được đâu. Con tàu tốc hành của đời sống hôm nay không còn chỗ cho những người vẫn giữ nếp sống cũ. Hành khách của chuyến tàu hôm nay phần đông là những người “nhanh nhẹn”, “năng động”, quyết liệt, thực tế, toan tính… họ có cùng chí hướng lao đến cái ga vật chất, bất chất một đời sống tinh thần ngày càng nghèo nàn.
Lật lại xấp ảnh cũ, chân dung người Việt cách đây mấy chục năm khác xa bây giờ, họ lành hiền, chất phác, họ cũng nhanh nhẹn cũng quyết liệt chứ, nếu không thì họ đi qua hai cuộc chiến để đến ngày thống nhất sao được. Những người Việt hôm nay cũng là người Việt, họ chính là con cháu của người Việt mấy chục năm trước nhưng tôi thấy họ hình như không còn là người Việt nữa.
Người Việt hôm nay dữ tợn quá, bạn có đi đường trường mới cảm nhận rõ: mạnh ai nấy đi, ai cũng mạnh, cũng khỏe, cũng hừng hực, lạng lách đánh võng, vượt ẩu, đua chen bằng mọi cách, bất chấp tính mạng của mình và người khác, coi thường luật lệ giao thông. Số lượng người chết vì tai nạn giao thông ngày càng tăng, hễ va chạm xe cộ thì sẵn sàng ẩu đả. Vô số vụ đánh nhau, chửi nhau, đâm chém chỉ vì những nguyên nhân rất bình thường, chỉ vì một câu nói, một ánh nhìn… Một bộ phận không nhỏ người Việt hôm nay coi đánh đấm là phương cách duy nhất để “nói chuyện phải trái” thì phải?
Nguyên nhân sâu xa của mọi câu chuyện trên là ở văn hóa. So với thời điểm cách đây vài thập kỷ thì văn hóa nền của người Việt hôm nay đã tụt xuống một bước.
Đổi mới và phát triển kinh tế là hoàn toàn đúng nhưng giá như nên chú trọng phát triển song song cả văn hóa và kinh tế. Thậm chí phát triển văn hóa trước đã rồi hãy phát triển kinh tế, văn hóa phải đi trước thì đó mới là phát triển đúng nghĩa, đó mới là phát triển bền vững. Chính vì không coi trọng văn hóa nên cái lối sống chạy đua theo vật chất, coi vật chất là giá trị sống, là giá trị duy nhất đang ngày càng phổ biến, lấn át và thắng thế.
Tinh thần trọc phú đang áp đảo và ngự trị ở mọi ngóc ngách đời sống từ trên xuống dưới, từ thành thị đến nông thôn. Sự nguy hiểm là nông thôn, làng xã nơi sinh ra, nơi lưu giữ, bảo tồn những giá trị căn cốt của tinh thần Việt, văn hóa truyền thống Việt (cái lũy tre văn hóa của làng) tưởng như không bao giờ bị vỡ bởi vì đã được thử thách qua bao thăng trầm của lịch sử nay bắt đầu vỡ nát. Tại sao hơn 2.500 năm không vỡ, không mất, nay phát triển có mấy chục năm đã vỡ?
Văn hóa vừa trừu tượng vừa cụ thể, nó ẩn hiện, nó có có không không mà bao trùm lên toàn bộ đời sống, chi phối mọi mặt của đời sống, đời sống mỗi cá nhân, mỗi gia đình cũng như toàn xã hội. Tất cả những nhếch nhác hôm nay đều có nguyên nhân từ sự xuống cấp văn hóa. Lạ là ở chỗ thời chiến tranh gian khổ, thời hậu chiến đói nghèo văn hóa nền của xã hội lại cao hơn bây giờ, khi mà cuộc sống đã no đủ hơn, bát cơm đầy hơn, miếng thịt to hơn, quần áo lành lặn hơn, nhà cửa xe cộ bóng nhoáng hơn. Tiếc là chỉ có mấy chục năm mà văn hóa lại xuống cấp nhanh như thế.
Nếu muốn đắp lại để cái nền (văn hóa) bằng với cái nền cũ thì không thể mấy chục năm là xong bởi vì phá thì dễ thì nhanh, xây thì khó và tốn thời gian hơn nhiều. Chưa kể chả nhẽ chỉ nỗ lực để bằng cái cũ. Thế mới thấy cái giá để có được thành tựu kinh tế hôm nay là quá đắt. Thậm chí không bõ, thêm được tí GDP, tí tiền mà mất văn hóa như vậy thì đúng là được không bõ với mất.
Vẫn biết rằng phát triển kinh tế thì nhanh và dễ hơn phát triển văn hóa nhưng chẳng nhẽ người ta cứ mải làm giàu mà không cần xây dựng cho mình những kiến thức tối thiểu về văn hoá nghệ thuật, hình như họ không có nhu cầu tự nâng mình lên.
Sự chênh lệch của khoảng cách giàu nghèo thì ai cũng nhìn thấy nhưng sự chênh lệch giữa tiền bạc và văn hóa thì ít người biết đến.
Giảm bớt điều này chắc chắn cũng là một yếu tố tạo ra sự ổn định xã hội. Chả lẽ người ta cứ làm giàu, cứ giàu, cứ sôi sục chạy theo vật chất, cứ sống mà không cần quan tâm đến chất lượng sống. Sống không chỉ là chuyện thọ yểu và có bao nhiều tiền mà là sống thế nào.
Con người luôn có 2 phần hồn và xác, thân và tâm, thân thể và tâm hồn. Thân thể cần được nuôi dưỡng ngày 3 bữa cơm, mệt mỏi ốm đau thì thuốc men, đói ăn khát uống. Tâm hồn cũng vậy, cũng cần nuôi dưỡng, tâm hồn cũng đói khát nhưng chỉ khác với thân thể ở chỗ tâm hồn cần thức ăn tinh thần chứ không thể mổ tim, cắt não ra rồi đổ bát phở tái nạm gầu gân 2 trứng hoặc cao lương mỹ vị vào để cho tâm hồn no nê được.
Để làm đẹp, làm giàu có tâm hồn thì phải đọc sách, xem tranh, nghe nhạc, kho tàng cổ nhạc của dân tộc cũng như thế giới. Phải có niềm vui khi đi thư viện, khi tới bảo tàng. Phấn đấu để có một đời sống tinh thần vương giả mới khó chứ còn chỉ lao theo vật chất, hùng hục kiếm tiền, coi tiền là lẽ sống, tôn thờ chủ nghĩa vật chất, luôn dán đồng tiền lên đỉnh đầu thì thật tội nghiệp. Hình như những người có tiền ở Việt Nam không hề có nhu cầu tự học hỏi để nâng tầm văn hóa của mình lên thì phải. Mà xin lỗi khi họ tự học hỏi để nâng văn hóa của họ lên, họ có một đời sống tinh thần đẹp hơn lên thì ấm vào thân họ trước.
Nhìn những người có tiền ở Việt Nam thật đáng thương, cũng uống rượu nhiều tuổi, cũng phì phèo xì gà, xe hơi đời mới, nhà cao to lênh khênh kiểu cách kiến trúc lẩu thập cẩm, 5 cha 3 mẹ tí Pháp tân cổ điển lai tí Ý, tí Ả Rập… thế mà chơi toàn gỗ lũa, sư tử đá theo mẫu Lion King, đồ gốm Tầu rởm, nghe nhạc sến, treo tranh chép tranh nhái hoặc tranh đá quý (thực ra là đá rải đường nhuộm phẩm màu).
Còn một số những người rất rất nhiều tiền, những chủ doanh nghiệp to thì sao? Thử hỏi những ông bà chủ buôn đất, chủ resort hotel, chủ gỗ, chủ gạch, chủ sữa, chủ nhà băng ấy mấy đời nữa mới biết chia sẻ cho xã hội thông qua sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật, tài trợ in sách kinh điển, tài trợ cho những tài năng âm nhạc, các chương trình âm nhạc, sân khấu thể nghiệm, xây dựng bảo tàng…
Bảo tàng là nơi tốt nhất để mọi người có thể đến để học hỏi, tự trang bị cho mình những kiến thức phổ thông nhưng giả sử bạn có mặt ở các bảo tàng, Bảo tàng Lịch Sử, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Dân tộc học trong một ngày thì thử hỏi có mấy lần bạn gặp các nghệ sỹ, các ngôi sao, các thương gia, các chính khách ở đó. Huống hồ là người lao động bình thường. Các bảo tàng ở Việt Nam vẫn chỉ là điểm cho khách du lịch nước ngoài.
Tại sao lại chỉ đặt ra chỉ số tăng trưởng về kinh tế mà không có chỉ số tương tự về văn hóa. Một số hội thảo quốc tế gần đây có đề cập đến chỉ số Hạnh phúc quốc gia– Gross National Happiness (GNH) trong đó giá trị văn hóa là một yếu tố.
Văn hóa không chỉ là phương tiện để phát triển kinh tế bền vững mà suy cho đến cùng thì nó là mục đích của phát triển kinh tế. Từ một cá nhân, một gia đình, một doanh nghiệp cho đến một quốc gia cũng vậy. Người ta lao động vất vả, kiếm tiền, giàu hơn và cuối cùng là để đạt được, phải đạt được một đời sống tinh thần giàu có hơn, vương giả hơn, một mặt bằng văn hoá cao hơn, một cuộc sống chất lượng hơn và đẹp hơn.
Sau đổi mới, kinh tế đất nước đã phát triển lên một bậc nhưng để văn hoá phát triển lên dù nửa bậc thì có lẽ gấp đôi, gấp ba khoảng thời gian đó cũng chưa chắc đã đủ nhưng dẫu sao thì cũng phải bắt đầu.
Ấy là chưa kể được là về kinh tế nhưng lại mất môi trường, mất di sản, mất văn hóa thì có bõ được không? có nhất thiết phải được theo kiểu đó không? có nên đánh đổi như vậy không? Mất vật chất thì còn hy vọng có lại nhưng mất tinh thần, mất văn hóa, mất truyền thống là mất hết.
Đã đến lúc phải coi biên giới là một khái niệm mở, văn hóa cũng là biên giới. Mất văn hóa là mất nước.
Ý KIẾN PHAN KHÔI: NGƯỜI VIỆT HẦU NHƯ THIẾU ÓC QUY HOẠCH ? CẢM TƯỜNG TRONG KHI TRẢI QUA MẤY THÀNH PHỐ CŨ
Ngày 4 tháng 8 năm 2024
Một bài viết lấy từ tr. Fb của Lại Nguyên Ân 4.8.2024
---
Dân tộc Việt Nam ta từ xưa là dân tộc sinh trưởng phát đạt trong nhà quê, chứ không như mấy dân tộc bên Tây phần nhiều sinh trưởng phát đạt trong các thành phố. Điều đó tưởng cũng vì cái hoàn cảnh của sự sinh hoạt mà ra: Họ sinh hoạt về nghề công thương thì ở thành phố tiện hơn; còn ta chuyên sinh hoạt về nghề nông thì ở nhà quê tiện hơn.
Bởi ta sinh trưởng phát đạt trong nhà quê, cho nên cách tổ chức làng tổng của ta rất khéo; nhưng ta không chú trọng về thành phố mấy, cho nên cách thiết lập thành phố của ta rất vụng.
Cái khái niệm vừa nói trên đó là nhân mới rồi tôi đi từ Quy Nhơn vào Nha Trang, trải qua mấy cái thành phố nhỏ như Tuy Hòa và Ninh Hòa mà tôi nghĩ ra. Cũng một lúc ấy, trong óc tôi sôi lên ít nhiều cái cảm tưởng nữa.
Ai chỉ ở Sài Gòn, Đà Lạt, Tourane, Hải Phòng, cùng mấy nơi giống như vậy, thì thật không nhìn biết được cái kiểu thành phố của người mình hồi xưa thế nào, bởi vì những thành phố ấy là của người Pháp mới sáng tạo ra hết; nhưng dầu cho ở Hà Nội, Nam Định, Hội An là những nơi thành phố cũ của ta cũng không thấy rõ rõ được cái chân diện mục của thành phố kiểu An Nam ra sao, bởi vì ở các nơi ấy, người Pháp cũng đã sửa sang lại nhiều lắm rồi. Cho nên, ai muốn đi khảo sát để cho biết cái tài kinh hoạch bố trí thành phố của đời ông đời bà chúng ta hồi trước ra sao, thì duy có tìm tới những nơi còn nguyên tích chưa sửa đổi ấy là như vạn Tam Kỳ ở Quảng Nam, vạn Thu Xà ở Quảng Nghĩa, phố Tuy Hòa ở Phú Yên, phố Ninh Hòa ở Khánh Hòa, hay là những nơi nào giống như vậy.
Lấy con mắt chúng ta ngày nay mà xem những sự kiến trúc như thế, phải lấy làm quái lạ xiết bao! Ai nhìn những đồ kiến trúc ấy mà dám nhận rằng kẻ kiến trúc ra nó là một dân tộc văn minh, là một dân tộc có trình độ văn hóa cao lắm, thì người ấy cũng đáng cho là cả gan lắm vậy!
Xem qua những thành phố đó, cái nào đại để cũng như cái nấy, có thể quy nạp lại trong một câu phán đoán rằng: Người kiến thiết ra nó không có kế hoanh (projet)(*) không có kiểu mẫu chi hết. Như vậy thì làm sao mà bảo được rằng một dân có học, một dân có văn hóa cao?
Ta xem qua cả một bận thì tưởng thấy lúc bấy giờ sự nhóm thành đô hội đó là sự tình cờ, như là không do ý chí và sự dự định của cư dân trong cái đô hội ấy. Coi những nhà cửa phố xá họ cất thì biết. Coi thử những đường xá ở đó, thì cái vết của sự tình cờ lại càng rõ rệt ra lắm.
Nhà cửa phố xá, cái thì lồi ra, cái thì lõm vào, chủ nó mỗi người cất theo ý riêng mình, không buộc phải đúng quy củ nào hết. Còn đường xá, bỏ sự chật hẹp dơ bẩn không nói, chỉ nói cái đường nào cũng cong co quanh quẹo đã làm cho chướng mắt những người có đôi chút quan niệm về mỹ thuật rồi. Quả nhiên là bởi sự tụ hội ngẫu nhiên, không có dự định trước, không có sắp đặt trước, đầu ít người, sau đông người mà ai theo ý nấy, rồi phó mặc cái kết quả ra thế nào đó thì ra!
Cho đến nơi đế đô ngàn năm nay là Hà Nội đó, mà di tích bây giờ còn lại, như Hàng Đào, Hàng Ngang đường sá phố xá bị chữa nhiều lần rồi cũng còn chưa hết vẻ ủm thủm. Lại như ở Hội An, dãy phố phía Bờ Sông quanh quẹo chật hẹp quá, đẽo gọt mấy lần rồi mà cũng không có thể làm cho rộng và ngay.
Cái gì chứ đến những con đường mà không biết vạch cho ngay thẳng, thì không còn giấu chỗ bất học đi đâu được! Trong các sách nho, sách nào chả dạy cho người ta lấy điều chính trực. Nếu trong óc đã tiêm nhiễm sâu cái đức chính trực đó, thì có thể nào để mà chịu được những con đường hàng phố cong queo trước mắt mình?
Tôi nói như thế, hẳn lại có người cho tôi là bội bạc tiền nhân, làm con cháu trở đi chê ông cha là bất học. Ai trách thế thì tôi xin chịu. Nhưng bản ý tôi trong khi khảo sát đây, trọng về khách quan, trọng về sự thực, mắt thấy thế nào, miệng phải nói ra thế ấy, cốt muốn nhân một chút này để nhìn rõ cái trình độ văn hóa của ta ngày trước, cho nên nói thẳng mà không dám nể mích lòng.
Cái học hay là cái văn hóa, nó vốn vô hình, người ta nhìn thấy nó được, là nhờ ở những sự hữu hình bởi nó mà ra. Những sự hữu hình ấy tức là như chánh trị, phong tục, mỹ thuật của dân tộc. Đừng nói tôi, có một người ngoại quốc nào đến xem những nơi thành phố cũ của ta như Tam Kỳ, Thu Xà, Tuy Hòa, Ninh Hòa đó, thấy cái hiện tượng của sự kinh hoạch vô ý thức như vậy, mà bảo họ phải ca tụng cái văn minh của tổ tiên ta hồi trước, thì chi cho khỏi họ lắc đầu?
Có một cái thông tệ của các nơi đô hội ta hồi trước, ấy là sự ô uế. Càng những nơi đô hội lớn chừng nào, thì lại càng ô uế chừng nấy. ở Huế, vào thuở Tự Đức, đã có câu thơ Kinh thành phong vị ruồi và cứt cũng đủ là một cái chứng cớ hiển nhiên rồi. Còn ở Hà Nội, cách 5-6 chục năm trước, ban đêm người ta ra phóng uế đầy đường, đến sáng nhờ có bọn đi gánh phân mới dọn sạch được hết. Những cái hiện trạng ấy cũng tỏ ra cái óc đời bấy giờ là đơn giản quá, sự lo nghĩ của họ không tới nơi.
Một nơi đô hội tụ lại hằng vạn con người ta, mà tuyệt nhiên không nghĩ đến sự tiêu hóa những cơm và thịt trong hằng vạn cái bụng ấy nó sẽ xổ ra chỗ nào, thì thật chúng ta phải chịu rằng sự sinh hoạt đời bấy giờ là quá ư cẩu thả, sự mưu cầu lợi ích cho xã hội đời bấy giờ là quá ư sơ lược.
Có lẽ người thuở ấy cho là việc ô uế, không thèm đặt miệng tới, cũng không thèm xử trí nữa, tha hồ cho nó ra sao đó nó ra. Nhưng than ôi! để cho đồ thối tha dơ bẩn nó ngổn ngang đầy đường thì còn chi là ngàn năm văn vật!
Đành rằng dân tộc ta là dân tộc quen ở nhà quê cho nên vụng cách sắp đặt nơi thành phố. Nhưng vụng gì thì vụng, chứ đường sá cong queo, đồ uế vật đầy rẫy thì sự đó phải đổ tội cho cái đức còn kém, cái học còn kém, trình độ văn hóa còn thấp, nào có phải vụng mà thôi đâu?
Người ta quý hồ phải biết mình cho rõ. Một dân tộc cũng vậy, ta phải biết trình độ của ta còn kém cỏi là thế, phải gắng sức mà tiến lên từ rày về sau. ấy là cái hy vọng đi sau cái cảm tưởng của tôi.
Phan Khôi
Đông tây, Hà Nội, s.114 (14.10.1931)
(*) Tác giả chú chữ Pháp projet nhưng lại dùng từ kế hoanh; phải chăng bản gốc có lỗi in ? có thể tác giả dùng từ kế hoạch hoặc kinh hoạch như ở đoạn sau ? (từ projet ngày nay được dịch là : dự kiến, dự án, đồ án, dự phóng, v.v.)
SÀI GÒN KHÔNG CÒN NƠI TRÚ MƯA
Ngày 5 tháng 8 năm 2024
Đỗ Duy Ngọc
=============== ·
*
Sài gòn đang vào mùa mưa. Mưa Sài Gòn bất chợt và đỏng đảnh như cô gái mới lớn. Chẳng có lịch trình, không một báo trước, muốn là làm cái ào, rồi tạnh, nắng lại lên.
Cho nên nhiều khi khách đi đường thường quên mang theo áo [mưa]. Mà nhiều khi có áo cũng chẳng muốn ngừng lại để mặc.
Chỉ cần trú đâu đó một lát, tạnh mưa lại tiếp tục đi.
Sài Gòn có những hàng hiên đụt mưa dễ thương.
Mưa rớt ào xuống, chạy tấp vào.
Nhìn mưa, nghe gió tạt, đốt điếu thuốc, nhìn người xe lướt thướt giữa giòng nước cũng là điều thú vị.
Đứng được chỗ mái hiên có gốc cây già, nghe mưa tí tách rơi trên lá, buổi chiều đẹp hơn một chút, đời lãng mạn hơn một tí cho quên buồn của thực tại.
Mưa hơi lâu một tí nữa, nhìn người bên cạnh, nói bâng quơ vài chuyện là thành một câu chuyện về đủ thứ trên đời.
Khi người ta còn trẻ, có thể người ta cùng lúc trú mưa với một cô gái lạ, cười làm quen, vài ba câu qua lại, có khi lại thành một chuyện tình.
Những cặp tình nhân đang yêu, vội vã chống xe vào chỗ trú, ríu rít nói cười, những bàn tay che mưa cho nhau, những chiếc khăn lau tóc cho nhau, tất cả sẽ thành kỷ niệm cho một cuộc tình, sau này lại kể cho con cháu nghe chiều mưa ông bà suýt hôn nhau dưới hàng hiên trong buổi chiều mưa Sài Gòn vì nước mưa đọng đẹp quá trên mái tóc của người yêu, vì giọt nước bám trên má người yêu làm em đẹp bội phần.
Có khi gió hơi lạnh, hai người trẻ nắm tay truyền hơi ấm qua bàn tay, hay cái quàng vai làm cho tình thêm đậm.
Tuổi chớm già, gặp người cùng thế hệ, nhắc chuyện cũ, tiếc nhớ một thời.
Những câu chuyện qua lại làm cơn mưa ngắn lại, đôi khi nối kết thành một tình thân.
Cũng có khi, chủ nhà mời vào trong, rót ly trà mời, bàn chuyện thế sự và cơn mưa níu chân người lại, hai kẻ xa lạ hàn huyên như những người bạn cũ.
Chỗ trú mưa thành một nối kết. Rồi tỏa đi khi cơn mưa tạnh, nhưng vẫn sót lại những tình cờ của một cái duyên.
Cái hàng hiên ấy còn là chỗ trú của các chị, các bà gánh hàng rong. Vài tấm nhựa che vội những món hàng linh tinh nhưng nuôi sống cả một gia đình, đôi khi vào trốn mưa, gặp lúc đông người lại bán được vài món ăn chơi chờ mưa tạnh.
Những lúc đấy họ lo vì sợ mưa ướt hàng hoá nhưng cũng vui vì bán được thêm mấy món hàng. Đời bán hàng rong sợ nhất là gặp những cơn mưa giữa đường, những chỗ trú mưa là cứu tinh của họ.
Nhưng rồi, những hàng hiên trú mưa của Sài Gòn bỗng một ngày bị đánh mất.
Những căn nhà trơ trụi phô mặt ra đường nhìn trống trải và vô duyên như chân dung không tóc.
Người Sài Gòn đi đường bắt chợt gặp mưa, loay hoay không chỗ trú, đành làm kẻ đi dưới mưa hay vội vã tấp vào lề mặc áo.
Những người bán hàng rong loạng quạng nhìn quanh, rồi ngước mắt buồn đau nhìn trời, còn chỗ nào để nấp những cơn mưa ào ạt, những tấm nilon sao bảo vệ được mấy món hàng.
Bỗng nhiên bị cướp mất chỗ trú dưới mưa, một chút hụt hẫng, một chút tiếc nuối.
Làm đẹp cho thành phố, phố vẫn chưa đẹp hơn mà phải ngậm ngùi vì Sài Gòn đã không còn chỗ trú mưa.
Saigon. Chiều 15.5.2017.
SÁCH “HƠI THỞ TRONG BÀN TAY”: NHỮNG KHOẢNG TRỜI TUỔI THƠ THĂM THẲM ĐẸP
Ngày 6 tháng 8 năm 2024
Có những bài đọc sách bình luận sách thú vị đến mức đọc xong bài bình luận ấy người ta phải tìm ngay cuốn sách được bình luận. Sau đây là một trường hợp như thế
-
02/08/2024
Huệ Hương Hoàng
2-8-2024
LGT: Cô Huệ Hương Hoàng là cựu Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao Nghệ An. Sau đây là bài bình luận của cô về cuốn sách dành cho tuổi thơ của tác giả Thái Hạo “Hơi thở trong bàn tay”.
***
Thái Hạo viết trên Facebook rằng, cuốn sách với mong mỏi góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cho các em nhỏ. Nhưng tôi thấy, những gì mà cuốn sách mang đến cho người đọc không chỉ là sự trong sáng của tiếng Việt. Cuộc sống qua những trang sách như một dòng chảy, lặng lẽ thâm trầm mà tràn đầy những phù sa cảm xúc, bồi đắp nên những bờ bãi mướt xanh, hay nuôi dưỡng những bông lục bình tím ngát rực rỡ trôi lững lờ như những lữ khách trên dòng đời.
Cả cuốn sách có 47 cái tản văn, cái nào – theo tôi, cũng đều là những áng văn tuyệt vời, đều xứng đáng để trích dẫn cho sách giáo khoa môn văn phổ thông hay dùng làm ngữ liệu cho đề thi văn phổ thông. Gặp thường xuyên là những câu văn, đoạn văn được viết tinh tế, tài tình đến mức (theo tôi) chúng trở thành chuẩn mực của văn chương: “Những ngày cuối xuân, nắng ghé vội qua cửa kính nhìn người châm trà, làm một thoáng mật ong, rồi ra đi, trả lại ngày cho mây phủ mênh mang. Giục lòng một chuyến đi” (Tháng Ba).
Những quan sát sắc bén nhưng là cái sắc bén của con mắt trẻ thơ: “Cứ mỗi ngày lúc trời nhá nhem là hắn nhảy ra đi kiếm ăn, bằng một cú nhảy rất gọn. Không phải cú nhảy dữ dội của con ếch, cũng không giống một mũi tên vút gió trong dáng lao của con chẫu chàng, cóc nhảy từng bước, chậm rãi, khoan thai, vững chãi. Trong cái bước nhảy ấy có phong độ của bậc đại nhân, khoan thai mà dũng mãnh tự tại” (Con cóc).
“Tôi chụp một bức hình buổi sáng khi mặt trời vừa nhô và cỏ dưới chân ướt đầm sương. Ướt, và lạnh. Màu xanh của núi và màu hồng của ánh ban mai dát vào vách đá trắng, dâng lên một niềm cổ tích. Buồn, lặng, trong vắt” (Cao Bằng).
Một triết lý có hơi già dặn với tuổi học trò, nhưng cũng là cần thiết để nhắc nhở chúng về cách sống. Những cây cỏ dại, biết cái đầm lầy chết chóc nếu chúng tách rời nhau, nên đã đan kết lại. Mà con người, loài tự cho mình là loài duy nhất có khả năng tư duy lại sống “trên xứ sở này, như những hạt cơm nguội khô dần dưới nắng, quắt lại, rời rã, lăn lóc. Càng sống càng không thể dính kết, càng sống càng khô đi và rời nhau ra…” (Cỏ dại).
Một thái độ sống nhu thuận với thiên nhiên: “Dường như bão đã trở nên thân quen, chúng tôi chẳng thấy ai hờn oán gì, cứ bão qua là dựng nhà sửa bếp, là dọn vườn gom cây. Rồi… lại xanh tràn trong những khu vườn…” Và “Năm tháng cứ đi qua và mặt đất cứ hoang vu dần, lòng người hoang vu dần…Bao giờ mắt trẻ mới lại trong veo… với rừng xanh phồn sinh ngàn ngạt, với trời lộng thênh thang, với những rãnh nước trong chảy mềm trên những con đường đầy cỏ hiền dưới chân đi?” là câu hỏi để lại cho thế hệ tương lai.
Những ký ức tuổi thơ thật rõ nét, như một cuộn phim được bảo quản kỹ trong đáy tâm hồn: “Mùi thơm đã bốc lên từ khi cơm sôi, rồi nồng nàn lúc cơm chín. Mẹ cẩn thận bới ra một bát đầy, đặt lên bàn thờ. Mùi cơm mới quện với mùi nhang và cái không khí ngày mùa của thóc vàng, rơm vàng làm thành cả một tiết trời đọng mãi trong trí nhớ tuổi thơ.”
Và Thái Hạo lý giải về Cái Thiêng một cách tinh tế: “Xưa có lẽ vì năng suất thấp, quanh năm đói kém nên hạt thóc thành hạt vàng. Mùa màng đến, người nông dân mang lúa về nhà như mang một báu vật vô giá mà trời đất vời vợi đã ban cho. Lòng biết ơn, sự trân quý vô ngần hòa vào cuộc mưu sinh cơ cực đã khiến lòng người thuần hậu, rưng rưng. Cái Thiêng cũng ra đời từ đó… Cái cuộc sống nhọc nhằn nhưng thẳm sâu ấy đang dần mất đi. Ngày mùa đã mất đi, chỉ còn lúc thu hoạch…” (Cơm mới).
Có khi, một mảng màu khác biệt của cuộc sống đập vào mắt người văn. Đó là một xóm đạo đơn sơ mà trong lành, với lũ trẻ con lễ độ hiếm có thời nay, với bà già bán nước trầm mặc như trong cổ tích, với đôi vợ chồng chị nông dân làm cói mà cái hạnh phúc bình dị thấp thoáng trong tiếng nói cười buổi chong đèn làm ruộng… (Xóm đạo).
Hay một làng đạo khác, sau mấy chục năm trở lại, những đời người thì đã trôi rất xa, mà cói thì vẫn ngút tầm mắt, như thể những đổi thay của xã hội hiện đại chưa từng chảy qua ngôi làng này. Và ông chú ngày xưa chài lưới trên sông, nay đã già, được phân công trông coi nhà thờ xứ đạo, triết lý cuộc đời theo cái nhìn của Kinh Thánh (Ngọc Lẫm).
Có cái tản văn lại là một bài thơ tình, nóng rực như một lõi than, cũng như một hồ nước đóng băng vì nỗi buồn. Sao lại không thể nói với các em về tình yêu? Vì trong đời sống này, có gì đẹp hơn là tình yêu? Những câu văn đầy sự ẩn dụ bóng bẩy đẹp đẽ của đam mê và đau khổ: “Trong lò sưởi mùa đông, khói trắng vỡ ra trong nghẹn ngào tức tưởi. Than đỏ vặn mình, lửa một mình vượt cạn. Một tiếng chim lạc bầy trong núi sâu thảng thốt, ngọn lửa giật mình bùng lên trong nghi ngút trắng. Vỡ ra hơi ấm, cay nồng hương thảo mộc. Ngọn lửa trở về sau đêm lạnh đi hoang, mê mải kể những giật mình du thủ” (Thức dậy). Hay một thoáng ưu tư: “Mùa đông xứ Bắc nghiệt ngã, nhưng gây thương nhớ như thương nhớ một người tình lạnh lùng và kiêu hãnh trong đời không với được” (Nắng Hanh).
Thái Hạo có xu hướng lý giải về văn hóa như là sự kết nối cộng đồng, tình yêu quê hương xứ sở. Và những lý giải trở thành những câu chuyện văn chương đầy gợi cảm, gieo trong lòng người đọc tình yêu nỗi nhớ những cái gì mơ hồ mà thật, xưa cũ mà vẫn nguyên vẹn, xưa cũ và nguyên vẹn như cha ông vẫn còn trong những tế bào máu thịt của chúng ta. Làng Cóc là một câu chuyện rất thú vị và rất cuốn hút như thế – dù nó chỉ dài có ba trang. Hay “Nước Am đã nâng đỡ rất nhiều người nông dân thất học quê tôi, những người suốt đời cúi mặt trên đồng dưới bãi, làm họ chạm vào cái “sang trọng” và thanh cao mà bình dị. Ở đây có cái gì đã vượt lên trên những toan tính vụ lợi thường nhật để thưởng thức cuộc sống như những trưởng giả, mà không màu mè làm dáng… Nó khiến những người nông dân tưởng giản đơn mà bỗng thành bí mật quanh mình…
Đúng. Phải có điều gì sâu lắm trong hồn của một giống nòi đã neo nó lại giữa những đói nghèo cúi mặt, giữa những tàn phá và đau thương, giữa những cường bạo và dối lừa, giữa những vật đổi sao dời, suốt mấy trăm năm qua…” (Nước Am).
“Nhìn cuộc đời của một ngôi làng, nhìn những biến thiên thay hình đổi dạng mất mát bời bời ở Tào Sơn mới thấy hết cái mong manh của văn hóa…” (Làng May).
Hay “Tết không phải chỉ là một ngày tình cờ bịa đặt. Đó hẳn là cái thời khắc kỳ diệu của trời đất và lòng người. Hoa đào bỗng nở tràn trước sân, những luống rau ngày thường còi cọc bỗng mã mướt xanh. Cả thiên nhiên và con người đều nhuần nhị trong những bộ cánh xúng xính xuân thì” (Nhớ Tết).
Đôi khi, ký ức làm cho ta nhớ da diết, chỉ vì nó là ký ức của tuổi thơ. Nó đẹp, nó lung linh vì nó sống trong tâm hồn tuổi thơ trong trẻo, như cái hương vị của tách cà phê loãng trong truyện Cà phê. Và vì nó gắn với người mà ta yêu quý: “Bà tôi đã đi xa, gian bếp xưa cũng không còn nữa, chỉ có sương mù trong ngày đông giá, gọi mãi một mùi hương xưa cũ”.
Văn hóa thờ ông bà tổ tiên được tác giả kể lại một cách tỉ mỉ trong truyện Đi họ, tưởng có thể thay thế được cuốn Tục thờ cúng ông bà, mà vẫn đầy cuốn hút với rất nhiều cảm xúc của nhân vật chính. Với câu chuyện này, có khi cả trăm năm sau, người trẻ đọc vẫn có thể hứng thú mà phục hồi, nếu tục lệ cúng rằm, cúng tháng bảy lúc đó không còn nữa.
***
Nói về văn chương của Thái Hạo, không thể không quan tâm đến những bài phản biện thẳng thắn, công minh, sắc sảo và khoa học. Trong bài Bánh chưng, anh phê phán bài viết của nhà văn Phạm Thị Hoài: “Tôi thích cái nhìn sắc sảo và lối văn độc đáo của chị Hoài. Nhưng bài này thì không. Vì nó đầy thiên kiến và ác cảm… Bánh chưng không ghê tởm như chị Hoài mô tả. Nó được làm từ loại nếp ngon nhất, đãi từng hạt, ngâm trong loại nước tinh khiết và trong và sạch nhất. Nó được những người già vốn đầy lòng cung kính và nghiêm cẩn ngồi xếp bằng thong dong gói bằng thứ lá đẹp nhất sau khi đã cẩn thận lau chùi sạch sẽ, gấp xếp gọn gàng. Những công đoạn trước khi luộc bánh có thể gọi là một thứ nghi lễ, không hề tùy tiện, tuềnh toàng… Bánh chưng, ra đời từ đặc điểm của nền nông nghiệp lúa nước với sinh hoạt đặc thù của cư dân, và ngày nay… nó đã đã gắn với đời sống của dân tộc như một biểu tượng của tết, biểu tượng của sum họp, đầm ấm. Tôi không phải là “tín đồ” của bánh chưng, nhưng tôi yêu cái khí quyển quanh nó” Và “Ai cũng có quyền thích hay không thích, nhưng mô tả nó như một cái gì hủ lậu, ghê tởm nhân danh tiến bộ, là thiên kiến và áp đặt… anh không thể nhân danh để biến nó thành một thứ kinh tởm. Tự bản thân nó, nó trong sạch và thơm tho. Anh không thể ăn được bánh chưng, cũng như tôi không thể ăn được món bò bít tết đang chảy máu rười rười ra đĩa. Tôi có nên ghê tởm không khi anh bỏ miếng thịt đỏ lừ ấy vào miệng?”.
Tôi thích quá câu kết của bài này: “Văn minh không mâu thuẫn gì với tình người, với hơi ấm, với lúa gạo và mùi hương của quê nhà cả. Một dân tộc hùng cường không nhất thiết phải từ chối quá khứ của mình, cũng không phải nhất thiết biến mình thành một người khác. Cũng như Tết, vấn đề của Việt Nam không nằm ở chiếc bánh chưng…”
Câu chuyện môi trường là chủ đề mà Thái Hạo đau đáu quan tâm. “… ngoài cảnh thiên tạo mê đắm, Trúc Khóa còn có sự sống đã thành hồn cốt của con người với những nếp nhà thanh bình gửi mình giữa non nước biếc xanh. Nhưng. Phóng tầm mắt ra bốn bề núi đồi, giật mình, những lưng núi đang bị vạc phơi xương, xe cuốc, xe ben rầm rộ… Đau xót và phẫn nộ, chỉ biết úp mặt vào núi mà thét lên không thành tiếng…” (Trúc Khóa).
Con sông quê trong lành ôm ấp tuổi thơ của anh và những bạn bè giờ hôi thối, lờ đờ chảy trong rác, trong xác động vật thối rữa. Và tác giả đặt câu hỏi: “có bao nhiêu ngôi làng như thế, có bao nhiêu dòng sông tuổi thơ đang chết đi như thế trên khắp nước mình?” (Thương sông).
Có lẽ trong câu chuyện môi trường, Tiếng cuốc là truyện đặc sắc nhất, ám ảnh nhất. Bởi nó không chỉ nói về môi trường, nó không chỉ nói về tiếng kêu, quyền được kêu, được sống của một loài chim. Nó làm ta phải nhìn lại cuộc sống của chính mình: “Chim cuốc còn đó mà tiếng cuốc đã chôn vào u tịch mang mang. Không có cái chết nào đáng sợ hơn thế, khi một giống loài đã phải từ bỏ tiếng gọi đồng loại và tiếng gọi tình tìm nhau trong lau lách mù tăm” (Tiếng cuốc).
Quá trình đô thị hóa với những bất cập cho đời sống và văn hóa, cho những vùng quê và con người cũng được đặt ra. “Giá đất bỗng bị thổi lên, người nông dân cắt đất bán đi, mua xe, sửa nhà, sắm đồ… như con thằn lằn tự ăn chiếc đuôi của mình trong mùa đông giá rét” (Đồng hoang).
Và trong mấy ngày đi suốt Đà Nẵng, Huế để tìm một ngôi làng cổ không thấy, tác giả về quê để gặp lại “làng tôi”. Nhưng làng đâu còn. Cả cái tên cũng đã mất. “Cuộc săn lùng tiện nghi và lối sống đô thị nửa mùa đã đẩy làng vào một vùng trí nhớ xa xăm mù khơi nào đó trong những người già… bọn con cháu không có gì làm vốn liếng để mà hình dung nữa. Chúng không biết làng, dù vẫn sống ở nông thôn – một nông thôn nghèo, nhà cấp 4 lỏng chỏng lẫn với tiếng karaoke xập xình” (Tìm làng).
Nói về văn hóa truyền thống, Địa danh là một bài luận sắc sảo, để chính quyền đọc được chính quyền phải giật mình lưu tâm, thế hệ trẻ đọc được, chúng sẽ biết được trong di sản văn hóa của dân tộc có địa danh. “Nếu cổ vật có giá trị đặc biệt trong khảo cổ học để tìm hiểu về một thời đại, thì địa danh mang giá trị lịch sử tịnh tiến trải dài suốt thời gian tồn tại của nó, nếu cổ vật chỉ có thể trưng bày trong tủ kính, thì địa danh đi vào và sống cùng đời sống hàng ngày của cư dân”. Và “nhân danh lịch sử, có thể bỏ ra cả triệu đô để mua về một món cổ vật có tuổi đời chỉ khoảng một trăm năm, nhưng lại nhân danh kinh tế để có thể thản nhiên phá hủy vô số “cổ vật” có niên đại nhiều trăm năm, thậm chí cả ngàn năm, là những địa danh. Hành xử đó rất cần được nhìn lại, thận trọng, và điều chỉnh” (Địa danh).
Cũng trong mạch văn nghị luận này, có bài Lệ làng, kể câu chuyện thời phong kiến, có ông lý trưởng bị quan trên về đánh cho đến ngất đi vì không thu đủ thuế, rồi cách chức. Sau đó chính quyền huyện tổ chức bầu lý trưởng mới mà không ai dám nhận. Vì hương ước làng có ghi: “Ai làm gì mà làng không đồng ý, làng không nhận. Ai mà làng không bầu ra, làng không theo”.
Rồi chuyện giáo dục thời xưa, nhà nước không cần quan tâm ai dạy gì, ai học gì, nhưng việc thi cử là rất nghiêm minh. Cứ theo đó mà bổ nhiệm người làm quan. Các thầy đồ, các trường tư thục cũng theo đó mà xác lập uy tín của mình. Như vậy, ngày nay, xét về tính dân chủ, hay về tinh thần cởi mở khai phóng trong giáo dục, có khi còn có chỗ không bằng xưa.
Văn chương là để tái hiện cuộc sống qua cái nhìn riêng biệt của tác giả. Mà cuộc sống, thì không gì khác hơn là ta và những con người xung quanh ta. Thái Hạo viết về ông, bà của mình, về rất nhiều những nhân vật đã có mặt trong tuổi thơ của anh, những con người cổ xưa mà đầy minh triết, với đời sống giản đơn và tràn đầy sức mạnh của lòng yêu thương (Bà tôi; Ông tôi…).
Thái Hạo viết về mẹ bằng những câu chữ, những tình tiết vô cùng giản dị, như lời kể của chính mẹ, nhưng từ cuộc đời của một người mẹ bình thường ấy, cho chúng ta thấy tâm hồn đơn sơ mà sâu sắc và cuộc đời đầy hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ Việt Nam. Thủa thanh xuân bà đi bộ đội, làm anh nuôi, nấu cơm và đi hái từng ngọn rau rừng, hay xin bà con dân bản thêm ngô sắn để độn thêm cho bộ đội đỡ đói. Rồi chiến tranh biên giới với Trung Quốc, đơn vị hành quân ra Bắc, trên những chiếc xe tải. Ra đến Lạng Sơn, “đêm nào ngủ cũng nghe báo động và vác súng chạy. Cứ chạy theo mọi người như mộng du thế thôi chứ chẳng biết đi đâu”. (Đọc câu này, mới thấy cái vô định, vô phương hướng và vô nghĩa của chiến tranh). Rồi mẹ về nhà, lấy chồng sinh con. Rồi bắt đầu một cuộc sống tần tảo, cho những đứa con của bà một tuổi thơ nơi quê nghèo trong trẻo và đầy niềm vui. Một ngày mới đây, người ta gọi bà gia nhập hội cựu chiến binh, và tặng cho bà một cái thẻ bảo hiểm y tế – Một đền đáp của xã hội cho một thời tuổi trẻ đã để lại nơi chiến trường. Nhưng “mẹ luôn nhắc những năm tháng bộ đội, mẹ nhắc những đau khổ và chết chóc, nhắc Hoàng Liên Sơn, nhắc những dãy núi cao và rừng sâu hun hút, mẹ kể những kỷ niệm với các cô các chú, kể đường đi và đường về…mẹ nhớ từng tên làng, từng ngọn núi, nhớ từng câu chuyện li ti nhỏ nhặt…” và vì thế “tôi có cảm giác những năm tháng trong quân ngũ ấy là đẹp nhất trong cuộc đời con gái của mẹ” (Mẹ tôi).
***
Dù cuộc sống thăng trầm dữ dội như tính cách của anh, Thái Hạo lại có cái nhìn trong trẻo lạ thường trong văn chương. Đó là khi anh viết về nữ sĩ Giáng Vân trong Vẽ sáng. Thái Hạo nhìn thấy trong tranh của chị ánh sáng, thứ ánh sáng “trong nốt lặng thời gian của người đàn bà đã yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng sương muối mặn”.
Và “Giáng Vân không phải là một người trẻ trong tranh, vì tuổi trẻ thì lạc quan trong khổ đau rã nát những bồng bột đến đi. Cơn bão đã đi qua, những cơn bão khác đang sinh nở nơi một chân trời chưa biết. Không phải một ngày nắng vàng phơi trải, không phải cuồng phong xô ngã…”. Là khi anh viết về một anh xích lô, nguyên là một học sinh trường chuyên, lẽ ra tương lai sán lạn, nhưng không dung hòa được với những bụi bặm ô nhiễm cuộc đời, cuối cùng vào chùa và viết nên những bài thơ đầy chất thiền minh triết (Phan Đạo).
Thái Hạo không trải qua chiến tranh. Nhưng với anh và tất cả chúng ta, chiến tranh vẫn còn hiện hữu trong cuộc đời này. Câu chuyện của bạn anh, khiến người đọc không thể không trăn trở. Người bạn ấy có người chú đã hy sinh nơi chiến trường, mà hai mươi năm sau anh mới cùng cha anh vào thắp hương cho chú được một lần nơi nghĩa trang Trường Sơn – Quảng Trị.
Đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng ông thắp hương được nơi mộ của người em mà dịp giỗ năm nào ông cũng khóc vì thương nhớ. “Lần ấy, chú hành quân vào Quảng Trị, đơn vị đi qua làng, chú xin phép và chạy tạt về nhà thăm bà. Chú dúi vào tay bà tờ tiền màu đỏ rồi vội cầm mấy củ khoai sống bỏ vào trong áo, và chạy đuổi theo đơn vị. Vừa chạy vừa ăn. Chú đói. Đó là lần cuối cùng cha nhìn thấy chú. Từ lần ấy chú không về nữa”.
Còn cha anh cũng từng vào sinh ra tử nơi chiến trường Bình Trị Thiên. Khi không còn sức để chiến đấu thì được phục viên. Ông về nhà, lấy vợ, sinh sáu đứa con. Rồi một lần nhà bị hỏa hoạn, cháy hết tài sản, cháy cả giấy tờ. Để đến những năm 1998 – 2000, khi nhà nước có chính sách làm chế độ cho thương bệnh binh. Theo lời khuyên của mọi người, ông làm lại giấy tờ để được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước.
Nhưng rồi, làm đi làm lại, chạy đi chạy lại mấy năm vẫn không được. Những người đã làm được nói nhỏ với ông “cần phải theo cơ chế”, vợ ông cũng bảo: “Hay là ta chi cho họ ít tiền“. Ông nổi giận: “Tau đi chiến đấu thật, đồng đội tau còn đó, xóm giềng còn đó, thân thể ốm yếu do ăn sương nằm đất còn đây, giờ bảo tau chạy giấy tờ, thế hóa ra tau bịa, tau mua à”? Rồi “Cha xé nát mớ giấy, ném vào lửa. Hỏa hoạn lần nữa trong đời cha”. Từ đó “Cha sống cô đơn, ra đi cô đơn – giữa một xã hội mà cha cũng không hiểu, cái xã hội mà cha và chú đã để lại một phần xương thịt”.
Thái Hạo cũng viết về những con người của thời đại văn minh với đời sống khó khăn tăm tối: Những công nhân trong nông trường cao su, hay viết về những trí thức, tài năng đức độ mà không thể vượt lên được những cơn gió chướng trái chiều của xã hội (Cô giáo).
Một góc văn chương, Thái Hạo dành để nói về triết lý sống của chính mình. “…Tôi trồng thêm sen… Những búp sen đua nhau nở sát chân cầu, từ chiều hôm trước tôi mang trà ra bỏ vào lòng sen, dùng lá sen gói lại, để qua đêm. Sớm mai thức dậy thật sớm, với tay hái lên và đun nước ngay trên cầu ao, pha trà giữa sương mờ giăng mắc…” Và “…tôi đã từng trải qua một giai đoạn “trà đạo” và “trà thiền” nghiêm mật và rất “đúng bài”. Đó là một trải nghiệm đẹp, sâu lắng, sẽ còn đọng mãi trong nội tâm mình. Nhưng tôi đã chọn bước ra, để sống một đời sống khác…”. Như Thoreau “Sau khi đã im lặng để cho “chim làm tổ trên đầu”, Thoreau trở ra như một luồng ánh sáng dữ dội có thể xuyên qua mọi bóng đen, viết Bất tuân dân sự trứ danh bên cạnh Một mình sống trong rừng đã trở thành kinh điển. Có một Dionysus say mê, cuồng nộ, đắm đuối với đời sống, bên cạnh một Apollo lý tính mẫu mực và đầy ánh sáng” Và Thái Hạo đã chọn “Lấy niềm vui làm mục đích sống”, một chọn lựa đúng đắn. Vì đời người, niềm vui đích thực chính là ánh sáng. Ánh sáng chính là sự thăng hoa tinh thần, vì lẽ đó, niềm vui đem đến sự tiến hóa của mỗi kiếp người (Chuyện trà)
Rồi anh viết về đời mình, với những cuộc thi tuyển dụng vào ngành giáo dục… Những câu chuyện này không phải để kể lể, chúng là để thế hệ con cháu nhìn ra, biết sống và hành động trong tương lai.
Kết thúc cuốn sách, là hai tự sự ngắn của anh: Nghệ thuật và Lười biếng. Một nói lên quan niệm của anh về Nghệ thuật. Nghệ thuật đích thực, dù nó diễn tả điều gì, luôn là để cứu rỗi cuộc sống: “Một vụ tự tử không có gì giống với một tác phẩm diễn tả sự tự tử”. Nó sẽ “không dẫn đến cái chết”. Minh chứng bằng việc anh ngẫu nhiên đọc tác phẩm Tự thú của văn hào Tonstoy, trong thời điểm mà anh đang “rơi vào một trạng thái bi quan thống thiết nhất”. Và “Một cơn đau dữ dội cuối cùng đã cân bằng lại đời sống”. Trải nghiệm và cái nhìn của Thái Hạo rất logic và khoa học. Điều này đúng với cơ thể vật lý, đúng với cơ thể tinh thần của chúng ta, và đúng với vạn vật: “Vật cùng tắc biến”.
Lười biếng là quyết định của tác giả: “Phải mất nửa đời để tập được sự lười biếng… Lười những đúng sai, đẹp xấu, lười những áo quần giày dép, lười những giữ gìn giao đãi, lười những còn mất đa đoan, lười những hờn giận đến đi…” để “bận buông mình vào mớ lau lách. Chân đồi trắng xóa…”
Anh đã chọn lười tức là buông. Buông không phải để yếm thế. Buông để sống với những niềm vui, với cái đẹp của cuộc đời, và để hướng tới những “cao vọng cho cuộc sống không rơi vào tầm thường vô nghĩa” (Ngọc Lẫm) .
Đọc ‘Hơi thở trong bàn tay’ của Thái Hạo, viết dành cho trẻ em, mà tôi đã không bỏ một dòng nào. Xin lỗi bạn đọc nếu như bài này dài quá. Vì trùm lên tất cả là một tâm hồn thật thanh cao và một tài năng văn chương đích thực.
Như trong bài viết trước, tôi đã viết: Hơi thở trong bàn tay đáng có trong tủ sách của mỗi học trò.
BỨC THƯ CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG PHƯƠNG TÂY VIẾT VỀ HÀ NỘI GỬI CHO VỢ Ở PARIS
Ngày 25 tháng 8 năm 2024
Tôi chép lại bài văn này để nếu nay mai trời cho khoẻ mạnh sẽ làm một tập sách sưu tầm mang tên "Người nước ngoài viết về người Việt". Dĩ nhiên phải cho vào phần phụ lục vì thật ra đây là tác phẩm của một người Việt chính cống
---
Em thân yêu!
Anh tới Hà Nội đã được hai tuần rồi. Chắc em cũng biết, hai tuần trong đời một con người không đáng là bao, nhưng em cứ tin rằng hai tuần ở đây mang lại cho anh nhiều cảm xúc hơn hai mươi năm ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Thế giới của chúng ta rộng lớn và kỳ lạ, và Hà Nội có cả hai đặc tính đó, đã vậy còn kỳ lạ và rộng lớn một cách vẻ vang.
Đấy là một thành phố không lớn lắm em ạ, nhưng rõ ràng ai sống ở đấy cũng tự hào. Sự tự hào này có nhiều cách diễn đạt, ví dụ như có rất nhiều món ăn kiêu hãnh mang tên Phở Hà Nội, ô mai Hà Nội, bánh Trung Thu Hà Nội… Nhưng chủ yếu người đi đường thích nói mình là người Hà Nội. Có lẽ đấy là thành phố duy nhất có người trí thức, người nông dân, người nhập cư, người vãng lai và người Hà Nội.
Thành phố này có một khi hậu tuyệt vời, không nóng và không lạnh, không quá nắng và cũng không quá mưa. Và có sự âm thầm rất khó tả. Nếu nửa đêm, em có dịp đi bộ trên vỉa hè, nghe rõ từng tiếng bước chân mình và nghe lá cây trên đầu xào xạc, mùi hoa sữa (rất giống sữa tươi!) bay bay, cam đoan em sẽ có một cảm giác lâng lâng đến nghẹn ngào.
Kiến trúc ở đây có cổ kính, có hiện đại, có nửa cổ kính, nửa hiện đại, thậm chí có cả sự pha trộn cực kỳ phong phú ví dụ như cái cột thì cổ kính còn cái mái thì hiện đại. Điều ấy rõ nhất ở những vùng mới xây dựng ven đê. Đến nỗi anh vô cùng hối tiếc khi ngày xưa mình đã mất tiền đến Hy lạp và đến La mã để xem các công trình. Chỉ cần đến Quảng Bá là thấy tất cả.
Anh hay lang thang một cách hào hứng trên những con phố cổ ở trung tâm. Lang thang bằng đôi chân của mình vì đấy khéo là cách tốt nhất để nhẩy, để chạy, để nhón gót hoặc để luồn lách qua đủ các thứ xe cộ, quang gánh, hàng quán la liệt, phong phú, rực rỡ, lộn xộn, lơ lửng ở tứ phía.
Em sẽ không khi nào tưởng tượng nổi người ta có thể chất nhiều thứ đến thế và trưng bày nhiều thứ đến thế trên một vỉa hè nhỏ hẹp đến thế. Nếu anh là chủ một con tàu vượt đại dương, anh thề sẽ mời một người dân Hàng Ngang hay Hàng Đào làm thuyền trưởng vì ông ta có thể xếp một triệu khách lên một con tàu có sức chở một trăm người.
Tuy đi lại vất vả như thế, anh không khi nào thấy mệt em yêu ạ, vì chỉ cần di chuyển vài mét là anh có thể ngồi xuống, nghỉ ngơi ở một quán nước trà trên vỉa hè. Ai cũng tưởng trà đạo của Nhật là vô địch. Họ nhầm. Trà chén ở Hà Nội đúng mới là một tôn giáo thực sự.
Từ thanh niên đến ông già, từ ông xích lô đến ngài tiến sĩ đều có thể cầm cái chén bé xíu trong tay, ngồi cả ngày và uống kiên nhẫn từng giọt trà một (bởi nếu không uống từng giọt thì chả có cách nào ngồi lâu tới vậy!). Khi ngồi xuống đấy, qua các câu chuyện khách khứa trao đổi với nhau, anh cũng biết được toàn bộ tình hình Trung Đông, giá vàng, giá đô la, ai sắp làm tổng thống Mỹ và ai sắp trở thành hoa hậu. Rõ ràng đấy không phải là một quán nước thông thường, mà là những trạm phát thanh, do những người thành thạo, có tâm huyết đảm nhiệm một cách tình nguyện. Thậm chí, anh còn tin rằng, nếu em phản bội anh, đi với kẻ khác tại Paris, thì chỉ cần ngồi ở một quán nước vỉa hè anh cũng biết, vì chỗ này có đủ mọi tin tức trên đời, đã thế còn lan truyền cực nhanh.
Nếu không đi bộ thì anh đi xe. Thành phố này người ta dùng xe máy để đi và xe hơi để khoe, vì đi xe hơi có thể chậm hơn đi xe máy rất nhiều nhưng nhiều người vẫn mua với mục đích ra “oai”.
Anh không nhớ “oai” dịch ra tiếng Anh như thế nào nhưng ở tiếng Việt, từ ấy rất quan trọng. Tuy “oai” không phải thức ăn, không phải nước uống, càng không phải quần áo nhưng nhiều người thà không ăn, thà không uống, thà không mặc quần áo chứ cương quyết không “oai”. Họ có khả năng dành dụm, tích cóp, phung phí bất tận cho “oai” chứ không cho bất cứ gì khác.
Đi xe máy ở Hà Nội, theo anh, quan trọng nhất không phải cần biết luật giao thông, mà chỉ cần biết bấm còi và không giật mình khi nghe đứa khác bấm còi. Ngày đêm, tiếng còi xe vang vang trên từng góc phố, từng hàng cây, từng con đường, trở thành một bản nhạc hùng vĩ, bất tận. Anh có cảm giác bây giờ mà hạ cánh xuống Paris không nghe tiếng còi nữa, anh sẽ nghĩ đấy là một thành phố ma. Cũng như tất cả các thành phố hiện đại khác, ở Hà Nội có kẹt xe, và cũng như tất cả người dân khác, khi kẹt xe người ta phải nhăn nhó. Nhưng với tính sáng tạo bẩm sinh và khả năng nhanh nhẹn cao độ, dân Hà Nội lúc kẹt xe không ngồi im đọc sách hoặc cầu nguyện.
Họ phi lên vỉa hè, phi vào các ngỏ nhỏ và nếu có thể "phi" lên cả ngọn cây. Ai cũng phi và ai cũng tìm cách lách nhanh hơn người khác cho nên sự kẹt xe thường được tự giải quyết rất gọn gàng. Anh đặc biệt thích những lúc trời mưa, khi mà ngồi trên xe máy nước ngập ngang đùi, thỉnh thoảng có cảm giác một chú cá chạm vào chân, chưa khi nào ở trong thành phố mà anh gần thiên nhiên đến thế. Đã xuất hiện những tin đồn khi phố thành sông, có nhiều người đi làm về chỉ cần rũ ống quần là có nửa kg cá rơi ra, không cần mua ở chợ. Những người may mắn còn vớ được cả lươn. Còn ếch nhái thì nhiều vô kể. Nhưng ếch nhái thì tính làm gì?
Kỷ niệm sâu sắc nhất khi ở đây có thể xảy ra rất hồn nhiên, rất bất thình lình và rất đời thường lúc ta đến các tiệm ăn. Hà Nội có rất nhiều tiệm ăn, và có nhiều món ngon khủng khiếp, được chế biến cầu kỳ, truyền từ đời nọ sang đời kia.
Nếu như ở châu Âu, tới tiệm ăn phải đặt chỗ trước thì ở Hà Nội chỉ cần phải chuẩn bị tinh thần. Ở các tiệm ăn này, tiền bạc không là gì cả, chỗ ngồi không là gì cả, khách khứa cũng không là gì cả mà bà bán hàng là tất cả. Bà ấy có thể tươi cười (điều này khá hiếm) bà ấy có thể hầm hầm và mắng mỏ xa xả (điều này khá thường xuyên)... Khách ăn không hề tự ái, và cũng không được tự ái bởi không ăn thì “biến” để đứa khác ăn.
Nhân tiện nói thêm "biến" là một từ rất phổ biến ở đây. Ta có thể bị kẻ khác hô “biến” ở bất cứ chỗ nào, kể cả lúc chia tay với người yêu. Nhưng chắc em cũng hiểu, phần lớn anh không biến vì anh đâu phải là thần thánh, anh chỉ đứng sững sờ.
Tất cả những chi tiết ấy chỉ chứng tỏ ẩm thực Hà Nội cực kỳ tinh tế và ngon miệng. Nó tinh tế đến mức để thưởng thức nó, khách hàng sẵn sàng hy sinh tiền bạc, thời gian, sức lực và đôi lúc cả danh dự của mình. Những món ăn này đã vượt lên trên những giá trị thông thường, trở thành thiêng liêng đến mức mọi thứ khác đứng cạnh đều trở nên tầm thường.
Nếu ở Paris, sau khi dùng bữa, hai đứa mình gọi hai cốc cà phê thì ở Hà Nội, hai đứa có thể ra “trà chanh chém gió”. Điều phi thường là thứ nước ấy chả có trà cũng chả có chanh. Nó có gì thì quỷ sứ cũng không biết nhưng ai uống cũng vung tay chém vào không khí trên vỉa hè khiến muỗi bay tán loạn. Ở các quán trà chanh này nếu anh có bảo mình là Tổng thống Pháp chắc cũng có người tin và nếu không tin cũng chả ai cười, vì ở đây mọi người đều có chức vụ cao hoặc quen với ai đó chức vụ cao.
Nói tóm lại, sau một ngày đi bộ, đi xe, ăn uống và chém gió, anh đã cảm thấy nhịp sống trẻ trung, say sưa, đầy sôi động của Hà Nội. Và anh nghĩ mình rất khó xa nơi đây, mình yêu nó từ lúc nào như yêu một cô gái dễ thương, vừa đỏng đảnh, vừa ngây thơ vừa phá phách, vừa nhí nhảnh vừa cau có, quyến rũ vô cùng.
Anh hy vọng em bỏ hết mọi thứ, bay sang đây với anh, và hai đứa sẽ nắm tay nhau đi dưới hàng cây, để hoa sấu (tên một loại hoa sinh ra quả vừa ngọt vừa chua) rơi lên tóc.
Anh của em
Pie.
****
Đây là bài sưu tầm được trên internet nhưng không rõ tác giả và đã được đăng trên Fb Đức Bảo Phạm (đã bị khóa), nay đăng lại trên fb này.
Ý KIẾN NHỎ VỀ TRƯỜNG HỢP CHU NGỌC QUANG VINH
Ngày 5 tháng 9 năm 2024
Nguyên đây là bài của nhà thơ Mai Văn Hoan trên Fb cá nhân tác giả. Tôi nghĩ nhiều người cũng muốn viết vài dòng đơn giản mà cận nhân tình như vậy.
---
Mấy ngày qua câu chuyện về đôi dòng tâm sự của Chu Ngọc Quang Vinh viết trên trang Facebook cá nhân đã làm cho dân mạng dậy sóng. Kẻ chê, người khen, người bênh, kẻ phê phán…
Tôi lặng lẽ theo dõi, chưa vội đưa ra ý kiến của mình. Đây là vấn đề khá nhạy cảm nên cần phải hết sức thận trọng.
Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng Quang Vinh viết và nhận thấy có 3 ý chính.
Ý 1: ca ngợi cuộc sống ở các nước phương Tây.
Ý 2: không hài lòng với nền giáo dục nước nhà.
Ý 3: tìm mọi cách để được ra nước ngoài sinh sống.
Theo tôi, ý 1 và ý 3 không có gì để bàn. Phương Tây không phải cái gì cũng tốt đẹp nhưng họ làm được nhiều điều mà chúng ta cần học tập để đưa đất nước tiến lên.
Nguyện vọng ra làm ăn sinh sống nước ngoài đâu chỉ có mỗi Chu Ngọc Quang Vinh.
Một thực tế mà ai cũng biết: 10 em đi du học thì có đến 7 em định cư ở nước ngoài.
Ở quê tôi (Thanh Khê, Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình) hầu như nhà nào cũng có con em xuất ngoại làm ăn và không ít trường hợp tìm đủ mọi cách định cư ở các nước: Mỹ, Anh, Đức…
Hai điều này có thể nói công khai mà không sợ bị “ném đá”.
Dân mạng ùa vào “ném đá” theo tôi chủ yếu là ý thứ 2.
Vế một của ý 2 cũng có thể nói công khai.
Vì chuyện dạy và học trong nhà trường cho đến nay vẫn đang được bàn luận khá sôi nổi.
Tất cả lời khen tiếng chê nằm ở vế sau “... chỉ lừa gạt dân”.
Nói công khai điều này với một học sinh đang học THPT vừa thiếu cơ sở thực tế vừa dại dột. Nhưng Chu Ngọc Quang Vinh là một học sinh thông minh, tôi tin em không đến nỗi dại dột như vậy.
Tôi được biết mấy dòng ngắn ngủi đó em chỉ tâm sự riêng với 16 người bạn chí thân. Facebook có 2 chế độ: công khai (ai cũng có thể xem và đọc) và bạn bè (chỉ có một nhóm bạn thân xem và đọc).
Mấy dòng tâm sự rất riêng tư, rất kín đáo ấy bị xì ra ngoài phải chăng là do có một trong số 16 người bạn thân được Quang Vinh tâm sự chơi xấu? Lỗi của em là quá tin bạn.
Em mới 17 tuổi, chưa từng trải đời nên suy nghĩ của em có thể chưa thật đúng là chuyện bình thường.
Theo tôi, kẻ phản bạn mới đáng lên án.
Tôi cũng có những nỗi niềm chỉ tâm sự với một vài người bạn chí thân, khi tâm sự tôi luôn căn dặn “sống để dạ, chết mang theo”.
Bạn tôi cũng có những nỗi niềm riêng thường tâm sự với tôi và tôi không bao giờ tiết lộ những nỗi niềm riêng ấy cho ai biết.
Dù đúng dù sai nhưng những tâm sự riêng tư cần giữ kín và cần được tôn trọng. Cứ đem những tâm sự riêng tư ra mà xét xử thì nhà tù chứa bao nhiêu cho đủ.
Trên đời này tôi ghét nhất là kẻ phản bạn.
Bài học đích đáng cho Chu Ngọc Quang Vinh là phải biết chọn bạn mà chơi, chọn lời mà nói.
Với tôi, em ấy đáng được uốn nắn hơn là lên án gay gắt về sự “vô ơn” - điều mà số đông buộc tội cho em.
Hàng triệu người Việt Nam đang làm ăn và sinh sống nước ngoài vẫn luôn hướng về Tổ quốc.
Họ gửi những đồng tiền mồ hôi nước mắt về phụng dưỡng cha mẹ, giúp đỡ anh em, bà con ở quê nhà.
Họ đâu có vô ơn.
Huế, 5-9-2024
Mai Văn Hoan
THỂ HIỆN CẢM XÚC THẬT.
Ngày 5 tháng 9 năm 2024
Tiếp tục câu chuyện Chu Ngọc Quang Vinh -
Phan Dương Hiệu
notdSeorpsm4146tahth 1lgut4iii5ờg312109tmf051986gm9atfmc6461 ·
---
Tôi luôn quý những người nói thật cảm xúc, suy nghĩ của mình, đặc biệt là những suy nghĩ về những vấn đề cốt lõi của cuộc sống. Và vì thế, tôi quý anh Chu Ngọc Quang Vinh - một thanh niên ở tuổi 16 đã nói lên sự biến chuyển trong suy nghĩ thật của mình, về thể chế và về đất nước.
Bài anh viết chỉ gồm 5 đoạn ngắn đã cho ta hiểu được sự chuyển biến và vận động trong suy nghĩ của anh:
cuối cấp 2, khi thấy những gì được dạy trong sách vở "không hoàn toàn là sự thật", anh có cách nhìn khá gay gắt về Đảng.
Lên cấp 3, "được Đảng ban tặng nhiều thứ vì thành tích tốt của mình", anh "dần nhìn Đảng một cách thuần hơn". Đó quả đúng là một biến chuyển tâm lý chân thật, rất con người.
Cùng các cách nhìn liên tục biến đổi, là sự biến động về cảm xúc: lúc thất vọng muốn đi, lúc lại thấy có thể "kệ" muốn ở, rồi lại không thể chịu nổi sự thờ ơ...
Bốn đoạn đầu tuy rất ngắn đã cho ta hình dung về sự hình thành nhận thức và cảm xúc ở một con người - một con người muốn sống thật.
Dù cách nhìn về chế độ, về Đảng có lúc này lúc kia, nhưng kết lại trên hết là một tình yêu bất biến với đất nước, một tình yêu thắm thiết không gì, không chế độ nào có thể lay chuyển: "Chúc Việt Nam dù dưới chế độ nào cũng ngày càng phát triển về mọi mặt, vì quê hương của tôi mãi là Việt Nam".
Tôi thán phục sự dám nói lên những suy nghĩ thật của anh, dù tôi có nhiều suy nghĩ khác anh - điều càng chứng tỏ mỗi cá nhân chúng ta có những suy nghĩ độc lập và khác biệt.
Hệ thống giáo dục cần mở đường cho sự thể hiện thật của những suy nghĩ cá nhân.
________
Tôi đọc được mấy ý kiến ngắn của bạn PDH nói trên là nhờ sự giới thiệu của bạn Linh Hoang Vu. Mong các bạn tìm hiểu thêm và giới thiệu để mọi người cùng đọc
Bạn Linh Hoang Vu còn giới thiệu thêm như sau:
Người viết là GS Toán học ở một trường ĐH lớn ở Pháp. Tuy sống ở Pháp nhưng anh vẫn thường xuyên làm việc với Việt Nam, với nhiều hoạt động hỗ trợ khoa học hay nhân lực Việt Nam.
Không hiểu các bạn DLV liệu có sắp sửa lao vào chửi mắng anh ấy là “phản quốc”, bám đít Tây…không?
Thật sự là vào ngày khai giảng, mình không muốn có tâm lý tiêu cực về giáo dục của đất nước, nhưng không tránh khỏi cảm giác chán chường trước sự cuồng tín, cố chấp, thiển cận và độc ác trong cao trào đấu tố này, dường như là tiếng vọng của những cuộc đấu tố (đã xảy ra quá nhiều lần, gây ra bao nhiêu hậu quả) trên đất nước Việt Nam và không khỏi thấy buồn vì nền giáo dục đã tạo ra những cách ứng xử ít cảm thông và ít tình người như thế.
MẶT TRÁI CỦA SỰ TIẾN BỘ
Ngày 15 tháng 9 năm 2024
I/
Theo bản tin VTV1 ngày 3 tháng 9 2015, bắt đầu từ năm học 2018 – 2019, các trường trung học, tiểu học của Pháp không cho phép học sinh mang điện thoại di động vào trường.
Cách đây mấy tháng, ở Việt Nam cũng đã có lệnh tương tự nhưng là chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp, dành cho những người chuyên môn phụ trách gác các đường ngang chạy qua đường sắt.
Tôi đọc các lệnh này phải nói thấy hết sức hợp lí.
Cũng giống như xe máy, một cái tai nạn lớn của những người sống ở đô thị, là luôn luôn bị ám ảnh bởi điện thoại di động,
Giả sử bạn đang ngồi nói chuyện với ai đó say sưa thì có tín hiệu gọi máy di động của người đang nói với mình. Người lịch sự biết xin lỗi thì ít, đa số bỏ ngay cuộc trò chuyện trước mắt, mà lao vào cuộc đối thoại với người đang gọi tới máy.
Khi nhớ lại xã hội tiền chiến trước 45, tôi nhớ con người khi đó thường rất yên lặng và kiệm lời. Trong những lời khuyên bảo mà cha mẹ dạy cho con cái, thầy giáo dạy cho học trò, bao giờ cũng có lời khuyên là ăn có nhai nói có nghĩ, là nên hạn chế lời nói bằng cách là suy nghĩ thật kĩ trước khi nói.
Nay thì hoàn toàn ngược lại, con người dường như “thả phanh” cho phép mình nói bừa nói bãi, khi gặp nhau thì tranh nhau nói, và người nói nhiều nói dai nói đi nói lại lời lẽ của mình thường khi là người thắng thế.
Năm 2014, giải Nobel kinh tế được dành để trao cho một lý thuyết có tính chất nghịch lý. Nhà bác học tác giả của nghịch lý này khuyên là các nước giàu có không nên viện trợ cho những nước nghèo, vì bao nhiêu tiền của viện trợ đó cũng vào tay những nhà cầm quyền ở nước nghèo chứ không vào tay dân chúng.
Cảnh báo này không thừa.
Hiện nay ngành công nghiệp điện thoại di động đang có những bước tiến như vũ bão. Không những nó giúp cho sự trò chuyện giữa người với người ở những khoảng cách rất xa cũng trở nên tự nhiên, mà các loại cước điện thoại di động cũng được giảm đến mức bất ngờ.
Theo tôi ở đây có một sự bất lợi, là nó khuyến khích con người sử dụng lời nói một cách tràn lan, nói năng không cần suy nghĩ, không bao giờ đặt vấn đề diễn tả chính xác ý nghĩ của mình trong những lời nói ngắn gọn.
Điện thoại di động giá rẻ càng phát triển thì tôi ngờ là cái khả năng làm chủ lời nói của con người bình thường ngày càng thấp, người ta không lo nghĩ ngợi kĩ lưỡng về những điều mình định nói, tức là không lo tìm ra một công thức tối ưu cho sự diễn đạt tư tưởng của mình.
II/
Tôi vào nghề viết văn viết báo vào giữa những năm 60 của thế kỉ trước. Ở Hà Nội, giấy rất hiếm, kể cả giấy in báo in sách, lẫn giấy để học sinh ghi chép khi lên lớp, cán bộ nhà nước ghi chép công việc hàng ngày.
Một trong những thói quen của nhà văn Tô Hoài khi đã 80 tuổi, là ông luôn luôn dùng lại những phong bì cũ, những phong bì ấy lấy từ các tài liệu mà các cơ quan gửi cho ông.
Khi tôi chuyển về Văn Nghệ Quân Đội, một trong những điều thú vị nhất mà tôi cảm thấy ngay từ đầu là sẵn sàng có giấy để viết.
Lệ của tòa soạn các báo đã sẵn có từ thời tiền chiến là bản thảo gửi cho báo phải viết trên giấy một mặt.
Hàng tháng trong khi phụ việc biên tập cho các anh Nhị Ca, Mai Ngữ, tôi loại đi hàng cân bản thảo.
Bao giờ cũng vậy, trong đống bản thảo loại bỏ ấy tôi đi tìm những bài viết trên giấy trắng giấy đẹp rồi sắp xếp lại cẩn thận để dùng dần.
Việc tiết kiệm giấy trong những năm chiến tranh có một cái lợi là buộc bọn tôi phải suy nghĩ kĩ trước khi viết.
Vả chăng thời ấy, báo chí sách vở rất ít. Bọn mới viết chúng tôi có cộng tác với báo Văn Nghệ của Hội Nhà Văn, thì mỗi năm cũng chỉ được khoảng hai ba bài chiếm cả trang báo, lẫn các tin bài nhỏ. Có lo gửi sách đến các nhà xuất bản, thì chắc chắn câu đầu tiên được biên tập viên giảng giải, bao giờ cũng là cái câu phải cắt ngắn lại, phải luôn luôn tìm tới một hình thức ngắn gọn. Chính không khí thời ấy đã buộc chúng tôi phải lo viết kĩ, viết thật kiệm lời, viết đến mức tối giản.
Còn như ngày nay, các bạn trẻ của tôi làm báo, thường khi tha hồ viết theo ý mình, không mấy ai đặt vấn đề rút gọn bài vở làm cho nó chặt chẽ hơn.
Đến như chuyện viết trên mạng, chuyện viết blog, viết facebook, thì hình như người ta càng được phóng túng, chả ai bắt vạ người viết dài bao giờ.
Tôi cho đó là một hoàn cảnh không giúp cho người ta rèn giũa cách biểu hiện, mà có nhiều phần khuyến khích lối làm nhanh làm ẩu.
Khoảng mấy năm 1983 – 1984, các anh Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ là những người Việt Nam đầu tiên trong giới đại học có dịp qua Mỹ. Khi kể lại với chúng tôi kỷ niệm về chuyến đi, các anh nói ngay tới kinh nghiệm sử dụng điện thoại ở Mỹ khác với ở Nga như thế nào.
Thuở ấy, ở Nga chỉ cần đồng xu 5 cô-pêch, là người ta có thể nói chuyện hàng giờ. Trong khi đó, ở Mỹ tiền điện thoại tính theo thời gian. Nên khi nói chuyện phải hết sức ngắn gọn.
Trong một bài viết chế giễu hiện tượng nói nhiều, tôi đã có lần nói đùa, rằng nếu có thể được, chúng ta nên tăng tiền cước điện thoại, hoặc tính thời gian theo cái kiểu như ở nước Mỹ mà anh Phan Cự Đệ đã kể
.
Vừa nói xong, tôi lập tức thấy mình lố bịch vì đang đi ngược với xu hướng mong mỏi của mọi người. Cách suy nghĩ ấy là ngược dòng lịch sử.
Tuy vậy, trên nét lớn, tôi vẫn thấy có những tiến bộ kĩ thuật làm hại con người. Nhất là những trường hợp như ở nước ta hiện nay: Trong khi trình độ sống của chúng ta nói chung vẫn như đầu thế kỉ 20, thì nhiều phương tiện kĩ thuật lại được nhập thẳng từ các nước tiên tiến với công nghệ cao của thế kỉ 21.
Câu chuyện về điện thoại di động là một minh chứng cho điều này. Nó là quá sang trọng so với trình độ của chúng ta, do đó có phần lại làm hại chúng ta, theo cái nghĩa mà chúng ta không bao giờ ngờ tới.
Nếu muốn người ta còn có thể chứng minh nó làm hại tới nền kinh tế nghĩa là hạ thấp GDP như chúng ta hay nói nữa.
Đưa lần đầu trên Fb này 11 tháng 12 năm 2018
LỜI KỸ NỮ - BÀI THƠ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG SỐNG TRONG CẢ CUỘC ĐỜI XUÂN DIỆU
Ngày 17 tháng 9 năm 2024
Khi tôi gõ trên google mấy chữ “thơ ca viết về thân phận người kỹ nữ” lập tức tìm được khoảng 33.600.000 kết quả.
Phần lớn những người viết thơ về chủ đề này thường tỏ ý xót thương và cảm phục trước những phẩm hạnh của người kỹ nữ trong cuộc làm người đầy khó khăn.
Trong Tỳ bà hành, Bạch Cư Dị thấy thân phận mình gần gũi với kẻ bên trời lận đận đó. Hai chữ bên trời làm cho sự lận đận sang trọng hẳn lên.
Xuân Diệu còn đi xa hơn khi đồng hóa mình với đối tượng, ông coi đời mình cũng là một kiếp kỹ nữ và chỉ sợ kiếp làm người này của mình bị trôi mất.
Wikipedia tiếng Việt ghi rằng kỹ nữ “ám chỉ một phụ nữ cung cấp dịch vụ đồng hành và giải trí (có thể bao gồm sự hài lòng về tinh thần hoặc thể chất).
Theo truyền thống, nhiều kỹ nữ chỉ uống rượu và nói chuyện giải tỏa căng thẳng cho vị khách, họ biểu diễn chủ yếu là Âm nhạc, ca vũ có chất lượng nghệ thuật cao, đó là hình thức "bán nghệ" lành mạnh".
Kỹ nữ có phần giống với nghệ sĩ ở chỗ ấy.
Cả hai là loại người sống phụ thuộc người khác.
Với những trí thức quan niệm con người ta phải có cuộc sống tinh thần độc lập thì sự phụ thuộc đó là không thể chấp nhận được.
Nhưng vẫn có những nghệ sĩ cho rằng miễn là mình được tha hồ “ngứa cổ hát chơi”, còn phụ thuộc là chuyện thường tình.
Thi sĩ nhập thân vào đối tượng. Với ông sự phụ thuộc người khác là một cách sống tự nhiên. Trong cảnh ngộ mà nhiều người khác cho là bi thảm, kẻ sống kiếp phụ thuộc vẫn có thể có cả một thế giới đầy hoan lạc xứng với con người.
Tình thế nàng kỹ nữ được miêu tả ở đây là một phương thức để Xuân Diệu hình dung ra vị thế con người trong cuộc đời và từ đó xác định quan niệm sống của mình.
Trước 1945, ông len chân bằng được vào nhóm Tự lực văn đoàn.
Từ sau 1945, ông trở thành một kiện tướng cận vệ của văn học cách mạng.
Ngoài việc làm thơ, ông còn hăng hái làm cái việc gọi là truy kích tư tưởng - sếp Tố Lành cần gì ông có mặt ở đó.
Nhưng tận trong thâm tâm, ông cũng sớm biết rằng đó là làm thuê viết mướn.
Cái phần riêng tư của ông là ở thơ tình, và các thế hệ sau còn nhớ tới ông là ở thơ tình đó.
Nhà thơ có thành công trong sự phân thân này không? Cái sự kẻ yêu người ghét là chuyện thường tình.
Bây giờ chúng ta hãy cùng đọc lại một trong những bài thơ hay nhất của Xuân Diệu.
*****
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi.
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá.
Khách ngồi lại cùng em! đây gối lả,
Tay em đây, mời khách ngả đầu say;
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.
Chớ đạp hồn em!
Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn;
Gió theo trăng từ biển thổi qua non;
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.
Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn,
Chớ để riêng em phải gặp lòng em;
Tay ái ân du khách hãy làm rèm,
Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng.
Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng,
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay gành;
Vì mình em không được quấn chân anh,
Tóc không phải những dây tình vướng víu.
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo.
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt.
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt.
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.
Du khách đi.
- Du khách đã đi rồi.
Hà Nội, 1939
Bài thơ đăng lần đầu trên báo Ngày nay,
sau đó đưa vào tập Gửi hương cho gió.
ĐAU ĐỚN NHƯ ĐỈA PHẢI VÔI
Ngày 29 tháng 9 năm 2024
Theo dõi cuộc đời Xuân Diệu, người ta tự hỏi thế có bao giờ Xuân Diệu “hố” không, có bao giờ lộ vở là một người yếu đuối vụng về không? Có đấy. Có một
lần, sự cô đơn đã xui dại khiến ông gây sự, để rồi bị “đối thủ”giáng cho một cú nặng nề, không thể cãi lại. Mà vẫn chỉ là câu chuyện liên quan đến thơ.
************
Năm đó, đã là 1985, cái năm về sau sẽ được xem là năm cuối cùng trong cuộc đời Xuân Diệu, nhưng hình như cả ông, cả chúng tôi, đều không ai tính tới chuyện đó.
Xảy ra việc làm tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1985, loại sách giống như một thứ “chiếu giữa làng” nên đã biến thành chỗ xếp hạng, cũng là chỗ mặc cả rất quyết liệt: Ai sẽ được vào, câu hỏi đó đặt ra với đông đảo mọi người chưa giải quyết xong, thì ai sẽ được lấy sáu bài, ai bốn bài, ai hai bài lại được đặt ra và câu hỏi này mới thật khó phân xử vì toàn động chạm tới các “đầu lĩnh” cỡ lớn trong giới!
Mặc dù đã là người chủ trì làm nhiều tuyển tập văn thơ Việt Nam, từ hồi ở Việt Bắc (Tập văn Cách mạng và kháng chiến) cho tới sau hòa bình 1956 (Thơ Việt Nam 1945-1956) và vinh quang nhất là Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, song đến tập này (1945-1985), Xuân Diệu không đứng ra làm nữa, mà người được giao chủ trì là nhà thơ Tế Hanh.
Đứng về mặt số lượng bài đưa vào trong tập thì Xuân Diệu đã thuộc loại nhất, tức là được chọn sáu bài. Tuy nhiên, lúc xem cả tập thì Xuân Diệu vẫn không bằng lòng. Câu hỏi của ông nằm ở sự so sánh: tại sao Xuân Diệu sáu bài, mà loại như người này được những bốn bài, loại người kia được ba bài?!
Theo Xuân Diệu, hình như những người soạn tuyển tập đã quên mất rằng: chỉ sau Tố Hữu thôi, chứ ông đứng ở một thế cao vòi vọi, không một nhà thơ lớp sau nào dám so sánh.
Nói tới người nọ người kia, song lần ấy mũi nhọn công kích của Xuân Diệu tập trung dồn về Xuân Quỳnh, người phụ nữ được in bốn bài.
---
Từ hồi bắt đầu chống Mỹ, trong thơ Việt Nam, vấn đề thế hệ bắt đầu được đặt ra rõ rệt. Có lẽ là do một sự bén nhạy nào đó, nên Chế Lan Viên rất hiểu chuyện này. Đi đâu ông cũng đặt vấn đề là phải bồi dưỡng cho lực lượng trẻ, rồi họ sẽ thay thế chúng ta. Ngược lại, Xuân Diệu khá dè dặt. Mặc dù chính Xuân Diệu đã thanh minh rằng bởi yêu nên mới cho roi cho vọt, song ai cũng nghĩ ông cố chấp quá.
Thật ra giữa Xuân Diệu và Xuân Quỳnh không có gì xung đột.
Thậm chí, ở một phương diện nào đó mà xét, có thể bảo Xuân Quỳnh là người tiếp tục giọng thơ Xuân Diệu. Cũng tinh tế như thế, nhất là cũng ham sống, cũng nồng nhiệt như thế.
Nhưng những người giống nhau lại hay kỵ nhau. Trong nghề làm thơ, Xuân Quỳnh tìm tòi học nghề ở Chế Lan Viên chứ không ở Xuân Diệu. Ngược lại, Xuân Diệu thấy loại như Phạm Tiến Duật là lạ, chứ Xuân Quỳnh không lạ. Sự không bằng lòng nhau ngấm ngầm đã có từ lâu, đến lúc này mới có dịp bùng nổ.
Cậy tuổi già, Xuân Diệu đi khắp nơi rêu rao, cho là Xuân Quỳnh không đáng như thế, chẳng qua đây là một nhà thơ phụ nữ xinh đẹp, nên chài được mọi người (chữ chài là của Xuân Diệu) khiến cho tuyển thơ chẳng còn thể thống gì nữa.
Xuân Quỳnh cũng chẳng phải người vừa. Thấy Xuân Diệu công khai nói mình ngay cả trong các buổi họp mà bản thân mình không dự, Xuân Quỳnh cho là bị xúc phạm, và nghĩ chuyện trả thù bằng cách viết thư thẳng cho Xuân Diệu.
Lịch sử đã biết tới nhiều ca “điên” của phụ nữ, câu chuyện tôi kể ở đây, chẳng qua là con sóng vỗ trong cái cốc nhỏ, nhưng nó không phải là không ghê gớm.
Trong thư gửi Xuân Diệu, Xuân Quỳnh dùng tới những lời lẽ đáo để nhất, cốt có thể làm cho Xuân Diệu đau đến chết điếng đi, mà không sao chống cự lại nổi.
Xuân Quỳnh nhắc đến quá khứ của Xuân Diệu. Xuân Quỳnh đặt câu hỏi về những thay đổi trong mấy chục năm cuối đời của Xuân Diệu và tự trả lời: Chẳng qua Xuân Diệu muốn xây dựng uy tín riêng cho mình. Chứ đâu phải phục vụ xã hội phục vụ cách mạng như ông vẫn rêu rao. Thực ra Xuân Diệu không tài cán gì, thơ Xuân Diệu đã hỏng hẳn rồi, mất hết sự sinh động và tự nhiên rồi.
Đi đến cùng trên con đường triệt hạ nhà thơ lớp trước đã nói xấu mình, chê bai làm nhục mình, Xuân Quỳnh nói tới tình trạng đơn độc của Xuân Diệu và cho rằng chỉ những người thất đức mới bị trời đày như vậy.
Bức thư như một mũi tên tẩm thuốc độc, chắc chắn làm cho Xuân Diệu giãy giụa trong đau đớn.
Nhưng còn một việc nữa làm cho Xuân Diệu chết đi sống lại - tôi đoán thế - do một ác ý, mà nhiều bạn bè của Xuân Quỳnh, trong đó có người viết bài này, xúi bẩy Xuân Quỳnh làm: Đó là không chỉ gửi riêng lá thư cho Xuân Diệu, vì làm thế, có thể tạo cơ hội cho Xuân Diệu tránh đòn tức là giấu biệt thư đi không cho ai biết.
Mà, muốn để Xuân Diệu thảm bại, Xuân Diệu gục ngã ngay trước mặt mọi người, Xuân Quỳnh sao lá thư này làm vài ba bản, gửi đi vài ba nơi cần thiết.
Không cần phải nói, cũng có thể đoán Xuân Diệu đã đau đớn như thế nào!
Câu chuyện xảy ra hè 1985, thì đến cuối năm đó, Xuân Diệu qua đời. Trong khi mọi người cuống quýt lo lắng cho đám tang, thì Xuân Quỳnh cảm thấy như mình có lỗi, và không biết làm gì để cứu chuộc.
Khi có ai hỏi, Xuân Quỳnh chỉ phân bua là mình cũng rất biết ơn Xuân Diệu, mình, không có ý hại ông.
Mấy kẻ xúc xiểm chúng tôi, lúc này cũng cảm thấy hối hận vì vừa tham gia vào một trò chơi độc ác.
Tuy nhiên những khi thật tỉnh táo nhìn lại câu chuyện Xuân Quỳnh - Xuân Diệu nói trên, chúng tôi hiểu ra một điều: nhà thơ của chúng tôi có lỗi trước tiên, mà cái lỗi đó, một phần bắt nguồn không phải ở tuổi già, mà là sự đơn độc của ông.
Chúng tôi hàng ngày dù không giấu được sự tham lam và phải nhận là nhiều khi tham lam một cách vô lý, ngớ ngẩn. Song cuộc sống gia đình luôn giúp cho chúng tôi tỉnh táo trở lại, nó mách bảo chúng tôi về một cuộc sống như nó vốn thế, vậy phải biết nhìn ra chung quanh, biết dừng lại đúng lúc cũng tức là biết rằng sống phải thông cảm, phải cận nhân tình, đừng có bao giờ quá đáng.
Đời riêng Xuân Diệu buồn hơn nhiều. Xuân Diệu không có được một gia đình bình thường. Cho nên trong quan hệ với mọi người Xuân Diệu đã phạm những sai lầm không thể tha thứ được, kể cả sai lầm với phụ nữ là những người mà trong thâm tâm ông yêu quý.
Trích từ phần viết về Xuân Diệu
trong tập Cây bút đời người 2002
Trong bản in ở nhà xuất bản Kim Đồng 2021,
với sự đồng ý của VTN, đoạn này đã bị lược bỏ.
Nhưng trong các bản in khác thì vẫn được giữ đầy đủ.
MỘT QUAN NIỆM ĐƠN SƠ VỀ THẾ GIỚI
Ngày 3 tháng 10 năm 2024
Bài tôi viết từ 2007, và đã đưa trên FB này 9 năm trước.
Cám ơn tổng đài Fb đã sưu tầm giúp
--
Sự đơn điệu nghèo nàn là cảm giác chính còn lại trong Nhất Linh sau khi dự Hội chợ hàng VN 1934 mở ở Nhà Đấu xảo Hà Nội.
Trong bài tường thuật trên báo Phong Hóa số ra 30-11-1934, người đứng đầu văn đoàn Tự Lực viết :
”Mấy gian hàng Hải Dương Nam Định vẫn như mọi năm không có gì tiến bộ.Thăm gian hàng Trung Kỳ, người ta cảm thấy như sống lùi lại mười năm trước bởi chỉ có ít đồ gỗ nét chạm non nớt.Đồ đồng của ta có lẽ nghìn vạn năm nữa không thay đổi.
Từ cái thau cái mâm cho đến cái đỉnh thứ nào cũng nguyên như cũ, hình như đổi mới nó đi là một cái tội vậy. Đồ sứ Bát Tràng men trông cũng khéo, chỉ tiếc rằng kiểu không đẹp. Phần nhiều là bắt chước Tầu.“
Những nhận xét này có thể áp dụng cho toàn bộ thế giới đồ vật mà Việt sáng tạo ra để phục vụ đời sống của chính mình.
Một đôi dép để đi ư ? Ở Bắc bộ, nó chỉ là một chiếc mo cau hoặc miếng da, có thắt một nút trồi lên vừa để xỏ một ngón chân. Trong khi người dân nông thôn xưa chỉ đi chân đất thì một đôi dép như thế còn là xa xỉ, và chỉ những dịp hội hè người ta mới dám sử dụng.
Một cái diều ư? Chỉ là mấy tờ giấy phết vội trên mấy nan tre.
Một cây sáo ư, chỉ là một ống tre có khoét mấy lỗ sơ sài. Nếu chúng ta biết rằng trên thế giới này, không chỉ Trung Quốc Nhật Bản mà cả các nước phương Tây những cái diều bộ sáo có cấu tạo phức tạp tinh vi như thế nào thì người ta phải tự trách rằng sao dân mình dễ bằng lòng với những gì làm ra,tức dễ dừng lại trên đường sáng tạo đến thế.
Thời nay, khi làm hàng xuất khẩu, người mua các nước cũng thường chê hàng Việt mẫu mã đơn giản, có học lỏm được cái gì của người khác thì cũng chỉ loay hoay ở vài cái lặt vặt mà không biết khai thác hết những khả năng đa dạng có thể có.
Chẳng những chúng ta rất ít phát minh mà nhìn vào cái đã phát minh ra, thấy không vượt khỏi tình trạng bột phát ban đầu.
Các ý tưởng không được hoàn thiện và đẩy tới cùng. Nguyễn Văn Vĩnh sớm nói thẳng là trước khi học của nước ngoài, những cái nhà của chúng ta quá trống trải và chẳng có gì mà bầy, ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề, nếu cố trau chuốt thì lại phô ra một mỹ cảm cầu kỳ vụn vặt.
Ở đồng bằng Bắc bộ, ngoài nghề trồng lúa nước, gần như không có nghề làm vườn. Các giống vật nuôi trong nhà không đặc biệt, như con chó Vịệt, đặc tính chính của nó là sự tầm thường.
Không có con đường làng nào là thẳng, con đường nào cũng cong queo vẹo vọ.
Tự bằng lòng với cuộc sống tự nhiên của mình ở các làng quê, người Việt gần như từ bỏ khả năng tổ chức lại cuộc sống một cách có suy nghĩ ở các đô thị.
Cho đến cả trong cách tổ chức xã hội, trí tưởng tượng nghèo nàn cũng níu kéo chúng ta lại.
Thần thánh trong các truyện thần thoại cổ tích của ta quá gần người và cũng nghèo như người, cả về vật chất lẫn tinh thần.
Còn những ước mơ của chúng ta thì sao ? Ngày xưa, bao chàng trai bỏ làng ra đi chống ngoại xâm, rút cuộc “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa“ (thơ Nguyễn Đình Thi), mơ ước lớn nhất là quay về làng tiếp tục đi cầy và cưới được cô thôn nữ.
Còn hôm nay, có một câu chuyện dân gian đang được lưu truyền rộng rãi. Một thanh niên Nhật hỏi người Việt cùng tuổi với mình là mơ ước gì thì được trả lời là mơ ước có cái Honda để đi, nhà có cái tủ lạnh Hitachi, cái máy giặt Sanyo để dùng. Nói chung là ao ước dân Nhật xài đồ gì thì mình có đồ đó để xài.
Còn người thanh niên Nhật khi được hỏi lại chỉ nói gọn một câu là ước sao giỏi giang hiểu biết để thực hiện được tất cả những ước mơ của các bạn Việt cùng tuổi.
Câu thơ của Chế lan Viên “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp – Giấc mơ con đè nát cuộc đời con “ không chỉ đúng với con người thời tiền chiến mà đúng với người Việt gần như suốt thời quá khứ, không chỉ con người bình dân mà cả những tầng lớp tinh hoa. Và đang đúng với chúng ta ở đầu thế kỷ XXI.
TT&VH 19-6-07
YÊU NƯỚC
Ngày 8 tháng 10 năm 2024
Trích từ Fb Gia Nguyễn
ngày hôm nay 8.10. 2024
**
Người yêu đời, yêu cuộc sống, yêu sự tử tế và đạo đức - đó chính là người yêu nước.
Yêu nước không phải là đi tìm minh chứng để tố cáo người khác phản động.
Yêu nước cũng không phải là thấy ai đó khen ngợi những điều tốt đẹp mà một đất nước khác làm được thì vội cho rằng đó là phản bội tổ quốc.
Yêu nước lại càng không phải là yêu dân tộc mình mà đi kỳ thị, khinh bỉ, hay coi thường các dân tộc khác.
Những tư duy này chỉ là biểu hiện của một lòng yêu nước thiếu trí tuệ, thiếu sự hiểu biết, thiếu lòng tử tế và đạo đức, mà chỉ mang tính mù quáng và cực đoan.
Khi lòng yêu nước không dựa trên nền tảng của sự hiểu biết, văn minh, tử tế, và đạo đức, nó không chỉ trở nên nguy hiểm mà còn gây ra bất ổn cho một đất nước và xã hội.
Một người yêu nước thực sự là người luôn mong muốn tạo ra một không khí tích cực và vui vẻ trong xã hội.
Yêu nước là khuyến khích và vui mừng khi mỗi cá nhân được tự do theo đuổi ước mơ của mình, để trở thành một người thành công và hạnh phúc. Chỉ khi một người hạnh phúc, họ mới có đủ năng lượng để lan tỏa niềm vui và hạnh phúc đến người khác.
Một người yêu nước là người luôn tự khích lệ bản thân, cố gắng làm phiên bản tốt nhất của chính mình, để đóng góp cho cộng đồng bằng tài năng và khả năng của mình.
Yêu nước còn là luôn mong muốn mỗi người dân có được một cuộc sống hạnh phúc, có sức khỏe và tinh thần tốt, có công ăn việc làm ổn định để tự lo cho bản thân và gia đình.
Một xã hội văn minh, hòa bình, và thịnh vượng là khi mỗi công dân được sống trong một môi trường mà ở đó họ giúp đỡ nhau, tôn trọng nhau. Đây mới chính là bản chất của lòng yêu nước chân chính – yêu không chỉ dân tộc mình mà còn yêu cả nhân loại, yêu sự tiến bộ và sự phát triển bền vững.
Chúc các bạn ngày mới thật bình an, hạnh phúc bên gia đình và người thân! Hy vọng những khoảnh khắc này sẽ mang đến cho các bạn niềm vui, sự thư giãn, và tràn đầy năng lượng tích cực.
--
Thái Công Quách
Gia Nguyễn chia sẻ từ Thái Công Quách
@@@@@
Bài tập đọc bậc Tiểu học Miền Nam trước 1975
*************************
Trích từ các phản hồi trong ngày
Canh Tran Ngoc
Ông Thái Công Quách , cái tên có vẽ khác thường nhưng những điều ông nêu ra thì lại quá chí lý, quá hay đáng để chúng ta cần suy nghĩ , để khỏi bị kẻ khác lừa bịp ? Sùng bái một cá nhân thì không phải là yêu nước phải không các bạn ?
Quách Vệ Đào
Gia tìm lại giùm bài “ Cái cân tiểu ly “ hồi bọn mình học lớp Đệ Thất(6) nhé. Hình như chương trình GD VNCH cũng đưa vào khái niệm Tâm Linh trong cuộc sống thông qua dạy việc Giữ lấy cái Đức trung thực??
V Câu Nhí
Tình yêu bản chất là sự rung động tâm hồn làm chủ hành động con người, vì con người là một chủ thể cao quý nhất. Nên tình yêu đi từ cái riêng đến cái chung, từ bản ngã đến vô ngã, từ cá nhân đến tha nhân . Tình yêu có tính hướng thượng nên luôn hướng đến sự cao quý và hạnh phúc. Trái ngược với tất cả điều trên tình yêu chỉ mang đến sự ích kỷ, ghen ghét, lòng hận thù và sự tham lam trở thành bản chất của tình yêu đó . Tình yêu nước lại càng phải xác định bản chất của nó như bài viết . Cám ơn người viết!
Nguyễn Ngọc Hiền
Những bài đơn sơ vậy nhưng qua đó học sinh được học Chính tả, Ngữ vựng, Ngữ pháp, Văn phạm, đôi khi có Điển tích và nhất là Công dân-Đức dục.
Thật hay!
Trần Mộng Huyền
Bài viết Yêu Nước rất hay, những lời phân tích giảng giải đầy đủ chi tiết nhân văn để mỗi người hiểu sâu và đúng với Nghĩa yêu Nước. Cảm ơn anh Gia Nguyễn ạ
Chuong Ngo
Tôi nhớ mãi một bài học Lòng Yêu Nước trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư thời tôi học Tiểu Học.
Năm Trần
" Khi lòng yêu nước không dựa trên nền tảng của sự hiểu biết, văn mình, tử tế và đạo đức ; nó không chỉ nên nguy hiểm mà còn gây ra bất ổn cho một đất nước và xã hội "
Không thấy niềm tin và hi vọng.
Chac Nguyeen
Hay
Rất buồn là VN bị xáo trộn hai tư tưởng nên hai chử YÊU NƯỚC khó mà xác định đúng sai
Khích Lê
Nhớ hồi nhỏ tôi đã đọc!
MỘT LÁ THƯ CẢM ĐỘNG
Ngày 9 tháng 10 năm 2024
(28.6. 2024)
Bạn đã gửi
--
Chào chị Phượng, ngay từ thời chống Mỹ, tôi đã được nghe các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, hoặc anh bạn cầm máy ảnh Đoàn Công Tính... nhắc nhở đến chị. Tôi cũng không thể nói rằng mình đã già, vì chị còn là bậc bề trên của tôi nhưng quả thật từ sau khi đạt mốc tuổi 80 và mắc chứng đột quỵ, tôi đã yếu đi rất nhiều, việc kết bạn lúc này quả là một chuyện không cần thiết, tôi vẫn đọc chị đều đều thế là được rồi. Nhân đây tôi chỉ đề nghị chị một việc, tức là ngoài cuốn Gánh gánh gồng gồng, chị nên dành thời gian để viết hồi ký về các nhân vật văn hóa trong thời kỳ chống Mỹ, viết thật kỹ về từng người một để cho thế hệ đàn em chúng tôi cũng được hiểu biết thêm..Tôi châc là các bạn cùng tuổi với tôi cũng mong lắm chị Phượng ạ .
***********
Chị Xuân Phượng hồi đáp
--
Vô cùng cảm động nhận được tin của anh. Tuy về tuổi tác, tôi lão làng hơn anh trên 10 năm, nhưng điều đó không có ý nghĩa gì. Vì " giá trị thật của một con người không thể dựa vào độ dài của những năm tháng ". Tôi đã rất tâm đắc khi anh viết : " Đi vào Văn học theo lối nhân tiện cầm bút một phen...Không biết sợ là gì... ". Cứ như là anh viết về trưởng hợp nhà văn trẻ 95 tuổi này! Tôi vừa viết xong quyển thứ hai " Khắc đi...khắc đến" nói về 30 năm đem tranh các hoạ sĩ ít được biết đến ra triển lãm ở nước ngoài. Một lời tạ ơn với các hoạ sĩ đã chia sẻ khó khăn thiếu thốn với Phòng Tranh Lotus trong những năm qua. Còn 1 hồi ký về những năm tháng đi làm phim chiến trường ở Khu 4 cũ, ở Lào, ở Campuchia " " Ai bảo đi làm phim là khổ" dự định xuất bản năm 2025 là xong nợ nần chồng chất với bạn bè đồng hành. Nếu Nam Tào chưa gạch sổ, tôi sẽ thực hiện được lời anh dặn tôi. Viết về những bạn mình, về những người tôi kính trọng và những người làm tôi khốn khổ với thành phần không công nông của mình. Viết đã giúp tôi không thấy mình cô đơn, anh Nhàn ạ. Một lần sang Pháp, một buổi chiều ngồi trong công viên Luxembourg, mộtnhững người đàn bà trạc tuổi tôi, quần áo một màu xám, tóc bạc trắng tay đang rắc xung quanh mình một túi vụn bánh mì. Hàng mấy chục con chim bồ câu màu xám bạc bay đến vây quanh. Cả một màu xám giữa người và bồ câu làm tôi nhói lòng về nỗi cô đơn. Và chỉ muốn bay thật nhanh về Việt Nam. Trằn trọc, thao thức, vất vả đánh vật với từng con chữ, nhưng cô đơn phải lùi xa. Tôi cảm động về sự chú ý của anh và nghĩ rằng mình sẽ cố gắng để có ngày được gửi đến Nhàn những hồi ức về những bạn và những người cùng thời. Vào tuổi 97 nếu còn tồn tại.
CÁI NHÌN TRỰC DIỆN VỀ THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN ĐẠI
Ngày 25 tháng 10 năm 2024
Trong cuốn “Cái vội của người mình” tác giả Vương Trí Nhàn đã chỉ ra những thói hư tật xấu của người Việt hiện đại, đồng thời đưa ra một số thảo luận để dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả.
Minh Châu Chủ nhật, 22/9/2024
&&&
Tiếp nối tập sách Người xưa cảnh tỉnh - thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỷ XX (viết chung cùng Trần Văn Chánh, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM 2018, tái bản 2024), tác giả Vương Trí Nhàn tiếp tục cho ra mắt tập phiếm luận Cái vội của người mình để nói về thói hư tật xấu của người Việt.
+++
Căn tính của người Việt hiện đại
Đây là kết quả của nhiều năm quan sát đời sống hàng ngày của tác giả, được ông khái quát lên thành những nội dung bằng kinh nghiệm của một người có hơn bốn mươi năm viết văn, viết báo và làm công tác nghiên cứu, xuất bản.
Đây cũng là kết quả của quá trình khai thác ba nguồn tư liệu chính của tác giả.
Một là việc tìm hiểu và giải thích thói hư tật xấu lan tỏa trên báo chí và mạng xã hội mà tác giả tìm ở đó nhiều gợi ý.
Hai là những công trình nghiên cứu khoa học xã hội soi rọi những vấn đề về người Việt, xã hội Việt mà tác giả dành thời gian để học hỏi.
Ba là những cuốn sách nghiên cứu triết học, xã hội học… như Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Các giá trị đạo đức trong phát triển kinh tế… đã mang lại cho tác giả những gợi ý sâu sắc.
+++
Cái vội của người mình gồm 80 bài phiếm luận về thói hư, tật xấu của người Việt hiện đại, được nhóm thành 5 chủ đề lớn, tương ứng với 5 phần của cuốn sách.
Ở mỗi chủ đề lớn, tác giả không chỉ chỉ ra hàng loạt thói hư tật xấu người Việt, mà còn phân tích, thảo luận, làm rõ hơn từng thói hư tật xấu này. Cách làm này của tác giả (đi từ cái chung đến cái riêng), không chỉ giúp người đọc nắm bắt được những nội dung / vấn đề mang tính hệ thống, mà còn giúp họ có được cái nhìn cụ thể, chi tiết về từng thói hư tật xấu.
Ví dụ như trong chủ đề “Những thói hư tật xấu bộc lộ trong làm ăn kiếm sống, đi lại, các hoạt động nghề nghiệp”, tác giả liệt kê một loạt thói hư tật xấu như: suy thoái đạo đức trong kinh doanh (khôn ranh, lọc lừa, thấy làm gì kiếm tiền được là làm, kiếm sống bằng bất cứ giá nào, làm bậy bất chấp pháp luật), thầy không ra thầy, thợ không ra thợ, giỏi kiếm ăn chứ không giỏi nghề, mạnh ai nấy sống, hỗn loạn trong giao thông, hỗn loạn trong tâm lý…
Từ đó, tác giả phân tích (giải phẫu), thảo luận (phiếm đàm), làm rõ những thói hư tật xấu này như một căn tính / đặc tính / căn bệnh trầm kha khó chữa của người Việt (nói cách khác là chỉ ra những lý do thâm căn cố đế khiến chúng ta khó thay đổi) .
Chẳng hạn khi nói về tật xấu kiếm sống bằng bất cứ giá nào, tác giả cho biết, thời chiến tranh, ở ta có người coi kho còn phá cả một cỗ máy chỉ để lấy mấy cái vít. Còn ngày nay, để kiếm sống, người ta làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể có hại cho người xung quanh, hoặc tàn phá môi trường đến mức độ như thế nào.
Người ta rải đinh trên đường cao tốc, bán đủ loại rau củ quả vừa phun thuốc trừ sâu, đá bóng vào lưới nhà để thực hiện hợp đồng bán độ. Rồi người ta chặt phá rừng vô tội vạ, mua bán bằng cấp và chức sắc, kê đơn cho bệnh nhân toàn những thứ thuốc đắt tiền để ăn hoa hồng…
Hay nói về thói hư tật xấu (tình trạng / thực trạng) thầy không ra thầy, thợ không ra thợ, tác giả cho rằng con người thời nay suy thoái so với thời ngày xưa ở sự lỏng lẻo trong mối quan hệ với công việc, nói cách khác là sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành, điều này dẫn đến người ở ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.
Tác giả viết “Có lẽ không nước nào nhiều cơ sở sản xuất như nước ta, hàng hóa chỉ được mẻ đầu, càng về sau càng hỏng. Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét. Đình chùa tu bổ ngày một lai căng xa lạ…”.
Theo tác giả, căn nguyên của tình trạng có phần “lộn xộn” trên không chỉ là do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch, mà còn do sự tha hóa của người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày, vốn là lẽ sống của mình”.
***
NHẬN DIỆN THÓI HƯ TẬT XẤU
ĐẺ TIẾN TỚI CÁCH KHẮC PHỤC CÓ HIỆU QUẢ
Tương tự, ở các chủ đề: “Những bất cập trong thói quen sinh hoạt, trong đời sống tinh thần mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ người với người hàng ngày”; “Những di lụy quá khứ đồng thời trong mỗi thói hư tật xấu đều mang dấu vết thời đại”; “Những hạn chế kéo dài trong tổ chức và quản lý xã hội”, tác giả cũng liệt kê hàng loạt thói hư tật xấu.
Có thể kể đến như: Lối sống buông thả vô độ, thói vung vít, lãng phí, sự cạnh tranh đến mức tàn bạo, lối ứng xử thô bạo trong đời sống, tâm lý cầu may, cầu lợi, tính ráo hoảnh, vô cảm, cái vội (lối sống nhanh, sống gấp) của người Việt hiện đại…
Nói về thói hư tật xấu ứng xử thô bạo trong đời sống, tác giả sách lấy một ví dụ một người nước ngoài đã nhận xét cách đi xe máy của dân mình mang nhiều tính cách bạo lực, nghĩa là luôn luôn trong tư thế muốn chèn ép nhau, đối đầu nhau, ai liều lĩnh chịu chơi hơn thì chiến thắng.
*
Không chỉ chỉ ra thói hư tật xấu của dân mình, trong cuốn sách tác giả còn sơ bộ đưa ra cái nhìn khái quát về quá trình hình thành những thói hư tật xấu ấy để dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả.
Chẳng hạn nói về cái vội của người mình, tác giả không chỉ chỉ ra những tác động có phần tiêu cực của “một nhịp sống gấp gáp, gấp gáp đến liều lĩnh, vội vàng đến bất cần, công việc cứ rối tung cả lên mà vẫn chẳng việc gì ra việc gì”, mà còn tìm cách giải thích vì sao chúng ta lại sống vội như vậy.
Đồng thời, tác giả cũng vận dụng 3 thủ pháp kinh điển là lấy xưa nói nay, lấy ngoài nói trong, lấy người nói ta (những thủ pháp này cũng được ông sử dụng xuyên suốt trong cuốn sách) để chỉ những giá trị, lợi ích sống chậm, sống hài hòa đem lại.
Hay trong cuốn sách, từ kinh nghiệm của bản thân và quan sát những gì gần gũi xung quanh, tác giả còn chỉ ra quá trình tha hóa, quá trình đánh mất những gì tốt đẹp ở mỗi con người.
Theo tác giả đây là một phần di sản của lớp người đang sống để lại cho các lớp kế tiếp, mà những người đi sau có thể sáng suốt hơn, không còn đánh mất mình, trở nên hữu ích hơn.
************
Bình luận về cuốn sách và phong cách phiếm luận của tác giả Vương Trí Nhàn, họa sĩ Nguyễn Quân viết: “Thảo luận trí tuệ thú vị cũng có thể chỉ là một thú tiêu khiển cho đỡ buồn tay. Cái lạ là dọn vườn quét rác tâm lý tùm lum như vậy mà đọc xong chẳng thấy bi quan, bị chấn thương gì... Bởi rác ấy, chấn thương ấy xưa đã có, đâu cũng có, người ta cũng có... nó chỉ là chuyện nhân văn. Thế gọi là thể phiếm đàm có ích”.
MỘT BÀI HỌC VỀ CÁCH ĐỐI XỬ VỚI THIÊN NHIÊN & THƯỞNG NGOẠN THIÊN NHIÊN
Ngày 31 tháng 10 năm 2024
Đến Vườn quốc gia Côn Đảo, tôi gặp một bản hướng dẫn, mà ngay từ câu đầu “Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/ Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường” đã khiến người ta không thể bỏ qua.
Thông thường đọc các bản nội quy hướng dẫn loại này, sau các câu khoe khoang về tầm quan trọng nơi mình, chỉ thấy những lệnh cấm thế nọ thế kia.
Đằng này bản hướng dẫn như đang nói chuyện với tôi khuyên tôi là đã đến đây làm sao có được những thu hoạch đáng giá. Mà ở đoạn dưới, người ta đưa ra những lời khuyên thú vị thật. Đoạn viết về dây leo cũng như đoạn về những chú kiến chẳng hạn. Tôi cảm thấy được một bài học về tinh thần nhân bản. Hãy chú ý cả tới những thân phận cỏ nội hoa hèn.
Nhưng không phải là từ cao nhìn xuống thương hại họ.
Mà hãy nói đóng góp của những thân phận bèo bọt ấy cho cuộc đời.
Đoạn viết về tiếng chim trong rừng như là những vần thơ. Cũng như thế là câu cuối cùng, “không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân”
là một đúc kết tuyệt vời. Tôi “dán” lại ra đây cả bản hướng dẫn mà tôi coi là một bài học cho nghề văn. Chúng tôi phải viết sao để bạn đọc không thể xì một tiếng rồi bỏ đi. Viết sao để bạn đọc cảm thấy được tôn trọng đồng thời lại có thể mang tới những điều cần yếu cho họ.
***
1/ Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy. Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường.
2/ Tổ mối
Nếu không có những con mối này thì rừng sẽ ra sao? Mối chính là nhà máy phân hủy rác trong rừng. Những nhà máy này không để lại bất cứ thứ rác gì của rừng.
Nếu một cây rừng đổ xuống, những con mối này sẽ tiến hành phân hủy cây làm thức ăn. Bằng cách đó chúng giúp vệ sinh rừng và hoàn trả lại đất chất dinh dưỡng từ cây chết. Nhờ đó mà đất rừng luôn mầu mỡ cho các thế hệ cây non mới mọc.
3/ Tiếng chim
Hãy dành một chút thời gian để lắng nghe tiếng chim rừng quanh bạn. Có bao nhiêu tiếng chim đang gọi nhau?
Tùy từng thời điểm trong ngày mà bạn có thể nghe được tiếng hót của những loài chim khác nhau.
Thời gian tốt nhất để nghe những âm thanh này là ngay sau khi bình minh hoặc chiều muộn. Tiếng hót của các loài chim là để thông báo về lãnh thổ của chúng hoặc gọi bạn kết đôi. Hãy thử bắt chước tiếng của một loài chim và lắng nghe chúng đáp lại!
4/ Dây leo
Đây là những loài thực vật thông minh trong rừng. Để có được ánh sáng mặt trời tổng hợp chất hữu cơ, chúng sử dụng những cây khác làm bàn đạp vươn lên cao mà không tốn một chút công sức nào. Chúng cuốn quanh các thân cây khác và dễ dàng tìm lên tận đỉnh cao của khu rừng bằng con đường nhanh nhất.
5/Những con kiến
Hãy nhìn xung quanh dưới chân bạn có thể bắt gặp những con kiến. Chúng đang làm gì thế? Đây là những công nhân chăm chỉ nhất trong rừng, chúng luôn bận rộn tìm thức ăn, bảo vệ, chăm sóc đàn con và phục vụ kiến chúa. Kiến giúp vận chuyển chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, diệt côn trùng. Ngoài ra chúng còn tham gia vào việc phát tán hạt, thụ phấn hoa và là thức ăn của nhiều loài động vật khác
***
Tổng quan
Cây là bạn của chúng ta, không nên bẻ cành, hái hoa, vặt lá, khắc lên cây hoặc có những hành động làm tổn thương đến cây. Các loài động vật hoang dã rất muốn làm quen, gần gũi với bạn, vì vậy không gây tiếng động làm chúng hoảng sợ.
Không săn bắn động vật rừng, không gây cháy rừng làm mất nơi sống của các loài động vật hoang dã.
Rác thải không nên bỏ bừa bãi trong rừng.
Không nên mạo hiểm đi vào rừng hoặc tắm biển một mình vì bạn có thể gặp nguy hiểm.
Không nên lấy vật gì từ thiên nhiên vì có thể làm ảnh hưởng tới môi trường. Không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân.
***
Tôi đoán văn bản trên đây không phải do cơ quan quản lý Vườn quốc gia, mà là do tổ chức quốc tế nào đó - chắc là người Pháp - soạn thảo, họ tài trợ và họ viết luôn, ta dịch ra, thế thôi. Phía Việt Nam chỉ có điều đáng ghi nhận là đã để cho họ viết, chứ không nhân danh quyền làm chủ trên phương diện tinh thần để đòi viết theo cách của mình.
Trích ở cuốn Sống sao trong những ngày vui
đang biên soạn
SÁCH VỪA RA MẮT BẠN ĐỌC
Ngày 9 tháng 11 năm 2024
Ban đầu những ý tưởng được trình bày trong cuốn sách này chỉ tồn
tại một cách lộn xộn trong các bài nhỏ ở các tờ báo khác nhau.
Sau khi ném đi những bài non yêu và xa với chủ đề chinh, tôi tạm bằng lòng.
Công việc tiếp theo là lìm cách mang lại cho các bài đó một trật tự và trình ra với bạn đọc .
Trên nguyên tắc, cuốn sách không bao giờ hoàn thiện, Một tác giả với đúng nghĩa của nó phải luôn luôn trở lại với những chủ đề chính của đời minh. Việc đó chỉ có thể làm được nếu anh ta luôn luôn được sự giúp đỡ của bè bạn.
Dưới đây là bài viết của họa sĩ Nguyễn Quân, được in trong bìa 4 cuốn sách "Cái vội của người mình".
--------------------------
PHONG CÁCH PHIẾM LUẬN VƯƠNG TRÍ NHÀN
Một thứ nhàn đàm "mua vui", "cho vui" của những người thích sự thâm thúy.
Mắt kính nhà tâm lý học đám đông là hai tròng:
a/Luôn nhìn sự vật cụ thể, tản mạn, khi tỏ khi mờ bằng con mắt người cao tuổi nhiều kinh nghiệm và thói quen thị giác mà người trẻ chưa có.
b/Và đồng thời nhìn nó đã được khúc xạ qua lăng kính của các nhà văn mà tác giả tâm giao.
Trong cuộc phiếm đàm gọn nhẹ không bông lơn mà nghiêm trang về văn hóa, ông dùng ba "thủ pháp kinh điển" của trò chuyện
là lấy xưa nói nay,
lấy ngoài nói trong,
lấy người nói ta.
Thảo luận trí tuệ thú vị cũng có thể chỉ là một thú tiêu khiển cho đỡ buồn tay.
Cái lạ là dọn vườn quét rác tâm lý tùm lum như vậy mà đọc xong chẳng thấy bi quan, bị chấn thương gì, không thấy cuộc đời hiện tại của mình là nhầy nhụa đen tối hơn xưa, hơn nơi khác, hơn người ta... mà cũng bình thường thôi.
Bởi rác ấy, chấn thương ấy xưa đã có, đâu cũng có, người ta cũng có... nó chỉ là câu chuyện nhân văn.
Thế gọi là thể phiếm đàm có ích.
Bạn đọc có thể tìm mua ở các hiệu sách hoặc đặt hàng qua tiki.vn
ĐỐT TỰ NHÌN MÌNH - ĐỐT TRONG CON MẮT CỦA CÁC NHÀ VĂN NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Ngày 18 tháng 11 năm 2024
CON NGƯỜI LÀ MỘT BÍ MẬT
Điều quan trọng nhất người ta muốn tìm ở một nhà văn, mà cũng là chỗ bắt đầu mọi tác động của một ngòi bút đến bạn đọc, đó là quan niệm của nhà văn ấy về con người: đọc anh, người ta hiểu thêm về con người ra sao?
Về điểm này, Đốt có một ý thức khá rạch ròi. Ông viết như một tuyên ngôn: “Con người là một bí mật. Cần phải tìm cách đoán nhận nó, và nếu có bỏ ra cả đời để đoán nhận nó, thì cũng đừng nên nói là mất thời giờ. Tôi muốn biết cái bí mật đó, vì tôi muốn là người”.
--
Khi nói về Đốt, các nhà văn thường cũng bảo “Ông đã biết tìm ra con người trong con người”.
“Ông kích thích chúng ta đi tới những hiểu biết sâu sắc hơn về đồng loại”.
Theo nhà bác học Einstein, cái đích mà Đốt đặt ra ở nhiều tác phẩm là “hướng mọi sự chú ý của chúng ta vào những câu đố của đời sống tinh thần”. Mà còn gì tiêu biểu cho con người hơn đời sống tinh thần ở họ?
--
Đốt đặt vấn đề trong con người tiềm tàng những lực lượng to lớn như thế nào.
Qua miệng nhân vật Mitia trong Anh em Karamazov, ông bảo: “Con người rộng quá. Tôi muốn thu hẹp nó lại”.
Đây có lẽ là điểm xuất phát khiến cho hiện thực được Đốt miêu tả thường khi vượt qua cái khuôn khổ thông thường, mà trở nên kì dị, ma quái, chỉ trong tưởng tượng mới có.
Một nhà văn phương Tây thú nhận: “Đối với tôi, Đốt là một đỉnh núi phủ đầy tuyết và dẫn lên trời. Tôi sợ hãi nhìn ngọn núi đó từ xa, nhưng không bao giờ có ý nghĩ dám lại gần”.
---
CON NGƯỜI CỦA TƯ TƯỞNG
TƯ TƯỞNG TRONG CON NGƯỜI
Khía cạnh thấy rõ nhất của con người được miêu tả trong Đốt: Con người ở đây tranh cãi xung đột với nhau không phải vì những chuyện lặt vặt, rời rẽ, mà vì những vấn đề cơ bản của đời sống.
Chính Đốt từng nói về loại nhân vật chủ yếu của mình: “Đó là con người của tư tưởng. Tư tưởng ôm trùm hắn, thống trị hắn và có một đặc điểm là nó không chỉ ở trong đầu óc hắn, mà ăn vào trong tâm tính, thái độ, cử chỉ, nó khiến cho con người lúc nào cũng đau khổ và dằn vặt, và chỉ mong muốn được biến tư tưởng có trong mình thành ra hành động”.
Nói như nhà văn Pháp H.Troya, cái quyền lực lạ lùng của tư tưởng trên thể chất, sự vượt qua thể chất bằng tư tưởng, những điều ấy đã ám ảnh Đốt.
--
Tuy nhiên, ở đây, có sự phân biệt
- một bên là tư tưởng tồn tại dưới dạng những nguyên lí khúc chiết rành mạch;
- và bên kia là tư tưởng đã đi vào con người, nó trở nên rối rắm, hỗn loạn, không rõ ràng và thường khi mang sắc thái chủ quan, nhưng lại cụ thể sinh động, hôi hổi sức sống.
Tư tưởng mà Đốt nói tới trong tác phẩm của mình là cái thứ hai chứ không phải cái thứ nhất.
--
“Nhân vật của Đốt hiện ra không phải như một hiện tượng thực tế có những dấu hiệu xã hội điển hình hoặc một cá thể có cá tính vững chắc, cũng không phải như một khuôn mặt nhất định phối hợp những nét có ý nghĩa phổ biến và khách quan để rồi tổng hợp lại, sẽ trả lời cho câu hỏi: Anh là ai?
Không, phải nói nhân vật của Đốt là một góc độ nhìn đặc biệt vào thế giới và vào chính mình” (M.Bakhtin).
--
Khi đã sống hết mình với một tư tưởng, các nhân vật của Đốt luôn phải suy nghĩ để tìm cách xây dựng lại cái bên trong của chính mình.
Đốt miêu tả một cách hết sức tường tận bộ máy hoạt động tinh thần của các cá nhân đó trong những bước ngoặt. Ông nói rõ: sự cải tạo hoàn cảnh đòi hỏi phải tự gạn lọc, nói chung cá nhân phải biết nói sự thật về chính mình, biết cả quyết nhìn mình một cách tỉnh táo.
--
Tư tưởng của Raskolnikov là kinh khủng song có thể thấy nhân vật ấy rất tận tuỵ với tư tưởng đã hình thành trong đầu.
Còn ở Ivan Karamazov, người ta nhận ra sự không phù hợp đáng sợ giữa cái quy mô thế giới, mà tư tưởng Ivan muốn bao quát, với cái khuôn khổ chật hẹp của mục đích cá nhân mà tư tưởng đó bị lôi cuốn và lợi dụng (theo nhà nghiên cứu Dneprov).
------
CUỘC SỐNG HIỆN THỜI,
CUỘC SỐNG Ở DẠNG ĐANG HÌNH THÀNH
“Đối tượng tìm tòi của Đốt: Mối quan hệ con người và thực tế, con người và thế giới, hay con người và Chúa.
Nhân vật của Đốt đối diện với toàn thế giới, hành động của nó làm xao động cả thế giới. Luôn luôn nó muốn để lại trong thế giới một dấu vết gì đó. Và trước tiên, nó muốn thử xem thế giới là gì, cái thế giới ấy có sẵn sàng thay đổi không và sẽ thay đổi như thế nào” (Kirpotin).
-
Theo Đốt, Chiến tranh và hoà bình của Tolstoi là bức tranh lịch sử của một cái gì đã qua.
Về phần mình Đốt muốn không ngừng thấm sâu vào cuộc sống hiện thời, ở dạng chưa thành của nó.
Ông không quan tâm tới cái cuộc sống đã ổn định. Ông muốn biểu hiện một cuộc sống không ai đoán được. Ông chỉ lo tìm câu trả lời cho những câu hỏi đang hành hạ mình, và luôn luôn bị dày vò bởi sự đợi chờ ánh sáng sẽ tới.
--------------
NHU CẦU TỰ DO
Ý TƯỞNG NỔI LOẠN
TINH THẦN KHOAN DUNG, CHẤP NHẬN
Theo Đốt, chủ nghĩa hiện thực mà nhà văn không biết nắm vững, biểu hiện và giải nghĩa một phần cái mới, cái chưa có thì đó là chủ nghĩa hiện thực đáng nghi ngờ.
Ngược lại, khi thế giới đang bao trùm trong khủng hoảng, khi trong đó đóng vai trò thống trị là sự hỗn loạn vô trật tự, sự dối trá và phi nghĩa, khi bóng tối chưa bị đẩy lùi... nhà văn hiện thực có nhiệm vụ thức tỉnh, tức giúp cho người ta thấy những điều chưa tốt, và làm cho người ta không thể sống yên ổn.
“Chủ nghĩa hiện thực của Đốt không an ủi, không vỗ về một cách cải lương bởi ông không làm cho người ta tin vào bề mặt giả dối của cuộc sống hàng ngày, những tín điều khô cứng, những dạng thức quan liêu và trì trệ của nó.
Qua lớp vỏ hình như bình thường và tầm thường, cần lật ra những bùng nổ đang được chuẩn bị mà không ai biết, những đổi thay không nhìn thấy trong đời sống chung và ở từng cá nhân” (Kirpotin).
-
Theo V Dneprov, Đốt luôn luôn nói đi nói lại rằng, bản tính con người không thay đổi. Nhưng ông biết mang lại cho cái bản chất tự nhiên này một định hướng lớn lao.
Ở các nhân vật của ông thường thấy nổi lên cái yêu cầu bức bách là muốn giải quyết các mâu thuẫn: hoặc là khả năng vận động; hoặc là tiềm năng thay đổi, tiềm năng xác lập sự thống trị của cái tôi lý tưởng trên cái tôi thực tế.
Thành thử với nhiều người, ông lại hiện ra như một kẻ tích cực tuyên truyền cho quan niệm rằng con người phải hành động, phải tự vượt lên, và phẩm chất này làm cho con người không còn là vật ngăn cản cho bản thân họ nữa.
-
“Một mặt, Đốt có thiên hướng săn tìm và kích thích ở con người nhu cầu tự do, ý tưởng đi đến tận cùng của mọi ranh giới mà cuối cùng là ý tưởng nổi loạn, mặt khác, ông lại đề cao tinh thần khoan dung, chấp nhận.
Ở ông, đôi khi con người thích sự nghỉ ngơi, thích được chết nữa, hơn là thích được tự do phân biệt điều thiện và điều ác.
Ngược với quan điểm cho rằng con người hoặc dữ, hoặc hiền, Đốt chỉ rõ con người về bản chất vừa dữ vừa hiền, kẻ thù gần nhất của nó là chính nó” (Dneprov).
-
“Theo Đốt, tâm lí cá nhân là cuộc đấu tranh giữa Chúa trời và ác quỷ.
Trong thái độ với thế giới, con người ở Đốt là sự phối hợp giữa phục tùng và chống đối, giàu thiện cảm và lạnh lùng khắc nghiệt, tin cậy và không tin đến cùng.
Đốt chỉ rõ sự phân đôi của cái thế giới dường như thống nhất, là thế giới của các cá nhân” (B.Meilakh)
TỰ NHẬN THỨC
VỪA CHÔNG ĐỐI VỪA THÍCH ỨNG
Nghệ thuật của Đốt cuối cùng tìm cách tác động tới con người thông qua việc đánh thức nhu cầu tự nhận thức ở họ.
Theo Kariakin, sự tự nhận thức ấy là đồng nghĩa với sự chiến thắng mọi thói quen tự lừa dối, đồng thời đồng nghĩa với sự thích ứng đến mức cao nhất.
“Sống trong bất cứ điều kiện nào, đó là truyền thống của họ Karamazov nhà ta”.
Sau tất cả những vật vã tìm tòi, những truy đuổi cuồng loạn, có kèm theo cả máu và nước mắt, câu nói đó của một nhân vật trong Anh em Karamazov vang lên như một tiếng nói cuối cùng, và còn để lại dư âm mãi trong lòng những ai muốn chống lại mà vẫn phải thường xuyên đầu hàng cuộc sống.
--
Tính kịch độc đáo trong các nhân vật của Đốt là ở chỗ bên trong mình, con người va chạm với những ngăn trở rất bi thảm.
Bạn đọc tiếp xúc với tác phẩm của Đốt, do đó, có thể có khả năng tránh được những ngây thơ trong thái độ đối với chính bản thân họ. Mỗi người phải biết đào xới vào mình không phải một cách tuỳ tiện gặp đâu hay đấy, mà là rọi sâu kĩ lưỡng vào mọi góc tâm tư, xem đó như một khâu trong sự hình thành cá nhân mà thiếu đi sẽ gây ra những tai hoạ xã hội rất lớn.
Đào xới đến tận cùng, dĩ nhiên là tới khu vực của vô thức, tiềm thức.
“Ở Raskolnikov, cái ý thức của anh ta là lạnh lùng, là đen tối; nhưng trong tiềm thức lại thấy có sự hoà hợp với cái tốt. Trên phương diện này mà xét, cái vô thức của Đốt rất hiện đại. Nó không phải là một thứ bản năng phi cá tính mà ngược lại, nó cũng được cá tính hoá” (Dneprov).
SỰ BI THẢM ĐẦY BÍ MẬT
Đốt nói về nghề văn và về sứ mệnh nghệ thuật:
- Tôi là một nhà hiện thực theo ý nghĩa cao nhất của từ này, tức là tôi miêu tả tất cả những gì sâu thẳm của tâm hồn con người.
- Tôi hãnh diện vì lần đầu tiên đưa ra con người chân chính, lần đầu tiên lột trần mặt kì dị và bi thảm của nó, cái bi thảm nằm ngay trong sự nhận thức của cái kì dị.
--
Một dịp khác, ông giảng giải kĩ lưỡng hơn:
-... Chỉ có tôi lật ra sự bi thảm bí mật của con người ở trong sự đau khổ, tự hành hạ; ở trong ý thức về cái đẹp và nỗi bất lực, không thể đạt tới nó; ở ý thức một cách rõ rệt về những điều bất hạnh này, và tất cả đều vậy, và tình thế bi đát đến nỗi không thể sửa chữa gì cả.
Cái gì có thể thúc đẩy sự sửa chữa bây giờ? Phần thưởng? Lòng tin? Nhưng biết nhận phần thưởng của ai? biết tin vào ai? Người ta chỉ bước một bước khỏi tình thế hiện thời thôi là sẽ tạo ra một bước ngoặt ghê gớm, sẽ dẫn đến tội ác. Thật là bí mật.
--
Đốt hiểu rất rõ đâu là những đóng góp của mình cho đời sống tinh thần con người đương thời và cả cho hậu thế:
--Bí mật và nhà văn của những điều bí mật - các nhà bình luận văn học trên các báo thường thích lặp đi lặp lại như vậy mỗi khi cần nói về tôi, và họ cho đấy là một sự hạ thấp đối với tôi. Khốn khổ! Họ đâu có ngờ, cái đó lại làm nên vinh quang của tôi, vì cái đó là sự thật. Nguyên nhân nảy sinh tâm lí muốn vạch trần ra mọi bí mật này: ở tôi đã chết lòng tin vào những nguyên tắc chung. Với tôi, giờ đây không gì còn thiêng liêng nữa.
-
Có lẽ chính căn cứ vào điểm này mà A.Camus đã nói về tính chất hiện đại của Đốt, cũng là sự gần gũi giữa con người được miêu tả trong Đốt với người đương thời: “Bây giờ chúng ta biết rằng nhân vật của Đốt không phải là những người kì lạ và phi lí. Cũng giống như chúng ta, họ có một trái tim và nếu bảo Lũ người quỷ ám là một cuốn sách tiên tri, thì đó, không phải vì nó mang lại cho ta chủ nghĩa hư vô, mà là vì nó trình bày những tâm hồn tan vỡ, không có khả năng yêu, và đau khổ vì không có khả năng yêu, khao khát lòng tin và không sao tin nổi. Giờ đây chính loại nhân vật này đang lấp đầy xã hội, lấp đầy thế giới tinh thần của chúng ta”. (còn tiếp)
*
Phần cuối bài viết “Một hồ sơ nhỏ về Đốt”
In trong cuốn sách của VTN “Ngoài trời lại có trời” - 2002
NÓI TIÊP VỀ ĐỐT
Ngày 24 tháng 11 năm 2024
Đốt nói ở đây và trong bài trước là nhà văn Nga F.M.Dostoievki. 1821 - 1861. Ông là một trong những nhà văn nước ngoài nổi tiếng nhất cả ở Hà Nội lẫn Sài Gòn.
Tác phẩm chính Tội ác và trừng phạt, Anh em Karamazov, Gã khờ, Con bạc…
--
Ngoài Đốt, nhiều nhà văn nước ngoài nói dưới đây cũng không được chú giải ở mức cần thiết, mong các bạn tha lỗi
---
.
A.GIDE: NHÂN VẬT CỦA ĐỐT
LUÔN LUÔN LÀ MỘT BÍ MẬT
Về cách tân nghệ thuật, mà cũng là về cách nhìn thế giới của Đốt:
--Trong tiểu thuyết của Stendhal hay Tolstoi, người ta thấy một thứ ánh sáng đều đều tản mạn, bao giờ cũng vậy, tất cả các sự vật được soi rọi giống nhau, và các khía cạnh của chúng nổi lên đều đặn. Nhân vật dường như không có bóng. Còn trong tác phẩm của Đốt cũng như trong tranh của Rembrant, cái quan trọng nhất chính là cái bóng.
Đây là nhận xét của A.Gide về “kĩ thuật” nhìn con người ở Đốt.
Theo Gide, tác phẩm của Đốt là sự bác bỏ thẳng thừng công thức nổi tiếng của Stendhal “tiểu thuyết là một tấm gương di chuyển trên đường”.
Với Đốt, cuộc đời là đầy bóng tối, và viết nghĩa là sự đột nhập vào thế giới của những bí ẩn đó. Cũng bởi vậy, mà theo Gide, tác phẩm của Đốt mới có một sự hấp dẫn đặc biệt.
Ở chỗ này Gide cũng đối lập Tolstoi với Đốt. Có lần Gide đã nói với Roger Martin du Gard: “Điều mà anh nên tự trách mình, cũng là điều mà tôi hay trách Tolstoi: các nhân vật của ông không mang lại chút bí mật nào hết”.
Vượt lên sự gây hấp dẫn thông thường, Gide nói về một quan niệm về con người bao trùm trong Đốt: “Trong ông (chỉ Đốt) luôn luôn có cái gì đó để nói, một cái gì đó mới mẻ quan trọng. Theo tôi hiểu, điều có ý nghĩa chủ yếu không phải tự thân bức tranh cũng như hành động bên ngoài của nhân vật, mà là một nỗi lo âu bí mật nào đó, ông chia sẻ trong mỗi nhân vật và cũng là điều ông muốn lây truyền nơi độc giả”.
Faulkner cũng bảo rằng, ông yêu nhà văn này ở “cái sức mạnh ghê gớm, thấm sâu vào con người và có khả năng cùng đau khổ với con người”.
QUYỀN LỰC CỦA CÁI ĐẸP
Một trong những ý tưởng độc đáo táo bạo song lại là tín điều sâu sắc nhất ở Đốt và có lẽ chỉ Đốt mới dám nghĩ tới, mới dám phát biểu: “Có một thứ quyền năng có thể ngang hàng và đôi khi vượt quá quyền lực về tư tưởng - đó là quyền lực của cái đẹp”.
Chính ở chỗ này, Đốt hiện ra khác hẳn, thậm chí đối lập với nhiều nhà văn đương thời, trong đó có Lev Tolstoi:
“Cái gốc trong lập trường xem xét đời sống của Tolstoi là đạo đức. Ông không thể chịu được khi thấy người ta bảo cơ sở của nghệ thuật là cái đẹp.
Còn tư tưởng chủ đạo của Đốt lại là cái đẹp cứu vãn thế giới.
Một bên là một nền đạo đức có sắc thái thẩm mĩ.
Một bên là một nền thẩm mĩ có sắc thái đạo đức.
Thành phần giống nhau nhưng thực chất khác nhau - thú vị là ở chỗ đó.” (Seleznev).
ĐỐT VÀ TOLSTOI
- HAI SỐ PHẬN KHÁC NHAU
Trở lại với một câu chuyện đây đó đã có đả động qua ở các phần trên: mối quan hệ giữa Đốt và Tolstoi.
Như là một sự bố trí công phu của tạo hoá, hai nhà văn ấy là hai số phận khác hẳn nhau.
Tolstoi sớm nổi tiếng như một Nga hoàng trong đời sống tinh thần của nước Nga lúc ấy, bản thân ông lại giàu có, sang trọng, tha hồ sống theo ý muốn.
Còn Đốt lúc nào cũng bị ám ảnh bởi việc kiếm tiền. Các nhà xuất bản trả cho tác phẩm của Đốt 250 rúp một trang tác giả mà còn kì kèo, bớt lên bớt xuống, trong khi đó sẵn sàng trả cho Anna Karénina 500 rúp một trang. Hai người, do đó, càng không bao giờ muốn nhìn mặt nhau.
--
Mặc dù vậy cả hai ông lại luôn luôn phải nghĩ về nhau.
Tolstoi nói với người quen: “Nếu gặp Đốt, hãy nói hộ là tôi yêu ông ta. Gogol, Đốt, và kì lạ bao nhiêu, Puskin, đó là những nhà văn tôi đặc biệt yêu mến. Riêng Đốt, ông rất gần gũi với tôi về mặt con người và có lẽ ông là nhân vật duy nhất mà tôi có thể hỏi rất nhiều và chắc là có thể trả lời tôi rất nhiều”.
Khi Tolstoi đào tẩu khỏi gia đình ở Yasnaja Poliana, ông chỉ mang theo có bộ Anh em Karamazov. Tolstoi thường bảo ở tác phẩm của Đốt, từng chỗ thì rất hay, nhưng toàn bộ thì khủng khiếp quá.
Về phần mình, Đốt cũng rất thích Anna Karénina của Tolstoi.
Nói chung, Đốt coi thế giới trong Tolstoi, cũng như trong Homére, là thế giới của sự hoà hợp và đã được miêu tả rất thiên tài, chỉ có điều nó không phải là cái thế giới chúng ta đang sống.
--
Thái độ của họ với những vấn đề quan trọng của đời sống hết sức khác nhau.
Kirpotin so sánh hai tác phẩm được viết gần như đồng thời để thấy giữa chúng là một vực thẳm:
“Trong Chiến tranh và hoà bình (được viết từ 1863, in ra khoảng 1867-1869) thế giới hiện ra đầy trí tuệ, thế giới ấy đi tới mục đích đã định trước. Trong quá trình phát triển của lịch sử, mọi cảnh tượng phá hoại được khôi phục, mọi điều ác bị đẩy lùi, mỗi con người nhận được đúng những gì mà chính họ đã gieo trồng.
Còn trong Tội ác và trừng phạt (in 1866), thế giới sục sôi cao độ, sự phi nghĩa và giả dối của nó trở nên không thể chịu nổi. Và Raskolnikov cự tuyệt nó với tất cả những ảo tưởng giáo điều và những huyền thoại đẹp đẽ được nghĩ ra để tô điểm cho nó.
Trước kia, thế giới dành cho mình quyền lên án các cá nhân có ý định phê phán những giá trị thủ cựu. Giờ đây, Raskolnikov tố cáo thế giới đang tan rã, đang tự huỷ diệt, và nổi loạn chống lại nó”.
--
Một nhà nghiên cứu phương Tây là Georges Steiner còn nêu ra một sự đối lập đầy đặn hơn, cụ thể hơn:
“Tolstoi là kẻ kế thừa vĩ đại nhất truyền thống của anh hùng ca, còn Đốt là một trong những thiên tài bi kịch vĩ đại nhất sau Shakespeare.
Tolstoi: tinh thần bị ám ảnh bởi lí trí và sự kiện.
Đốt - kẻ miệt thị chủ nghĩa duy lí và chỉ tha thiết săn đuổi nghịch lí.
Tolstoi là thi sĩ của đồng ruộng, của đời sống thôn quê dân dã. Còn Đốt là típ người thành thị, con đẻ của văn minh đô thị với tất cả những tự do và đau khổ mà thứ văn minh này mang lại cho con người.
Với khát vọng to lớn, Tolstoi sẵn sàng tự huỷ và phá huỷ những gì bao quanh trong cơn điên cuồng cốt đạt tới chân lí.
Đốt đặt vấn đề một cách khác: “Thà chống lại chân lí còn hơn chống lại Chúa. Đáng coi thường là những gì dễ hiểu. Phải chủ trương huyền bí”.
--
Tolstoi luôn luôn đi theo đại lộ của đời thường. Đốt thì dấn mình vào mê lộ của cái khác thường, trong những hầm hố và đầm lầy của tâm hồn.
Tolstoi, ấy là một con người khổng lồ, bước dài trên mặt đất vững chãi, đi tìm cái thực, cái chân xác bằng toàn thể kinh nghiệm và cảm giác.
Đốt thì luôn luôn ở bên bờ ảo giác ma quái, luôn luôn mở lòng ra đón nhận sự xâm nhập của cái siêu nhiên.
Tolstoi là sự nhập thế của sức khoẻ và nói chung của một sinh lực thần thánh.
Còn Đốt, Đốt là tổng số năng lực con người run rẩy dưới sức nặng của bệnh tật và ám ảnh.
Tolstoi nhìn định mệnh con người với con mắt sử gia, trong sự trôi chảy của thời gian.
Đốt chỉ muốn nhìn con người trong hiện tại, và trong sự im lìm mà lại phập phồng hào hển của những khoảnh khắc bi tráng”.
DẤU ẤN CỦA ĐỐT TRONG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
Thêm một hai nhận xét nhỏ có liên quan đến đóng góp của tác giả Tội ác và trừng phạt trên phương diện hình thức thể loại:
- Tiểu thuyết của Đốt, đó là tiểu thuyết tự thú, đồng thời là tiểu thuyết bi kịch; tiểu thuyết độc thoại, tiểu thuyết triết lí - chính luận. Đó cũng là một dạng đặc biệt của tiểu thuyết phiêu lưu và thường khi có những hơi hướng xa gần của tiểu thuyết trinh thám.
Một số khuynh hướng chung của nghệ thuật hiện đại, không gì khác, là sự tiếp tục mặt này hay mặt kia trong kinh nghiệm nghệ thuật của Đốt
(Dneprov).
- Đốt xa lạ với loại nhà văn cái gì cũng biết. Trong khi kể chuyện, ông luôn luôn chỉ ra những yếu tố có thể gây khúc xạ cho suy nghĩ của người kể chuyện. Ông không quên chỉ ra những mâu thuẫn nảy sinh do có sự khác nhau trong nguồn tài liệu cung cấp, trong bằng chứng, lại không quên đưa thêm cả vào tiếng đồn mà ông thừa biết chúng là nhiễu sự thực. Sau khi nói rõ rằng trong một số việc, chính người kể chuyện cũng chưa biết đầu đuôi ra sao, ông sẵn sàng công khai cả quá trình thu thập tin tức. Với Đốt, điểm nhìn càng khác nhau, người ta càng đi gần hơn tới thực tế (Likhachev).
--
Trong tiểu thuyết Những miền trái chín Evtuchenko nửa đùa nửa thật bảo rằng có thể chia nhân loại làm hai nửa, một bên là những ai có đọc Anh em Karamazov, và một bên là những ai không đọc.
Suy rộng ra, cũng có thể bảo nhân loại gồm hai nửa, những người thích Đốt và những người không thể đọc nổi, không chịu nổi, và còn căm ghét Đốt nữa.
1996
SỰ PHỔ BIẾN CỦA CÁI TẦM THƯỜNG
Ngày 11 tháng 12 năm 2024
Đang tính tìm thêm tài liệu về cụ Đốt tôi lại đối diện với bức ảnh này. Trong khi ở ông nhà văn Nga con người là những thiên thần hay ác quỷ thì ở đây mỗi cá nhân hình như chẳng có nét gì làm nên con người riêng tư nữa. Chỉ có một người quay mặt đi còn tất cả bảy tám người đều quay mặt lại, mà vẫn nhòe nhạt tầm thường. Họ chẳng có gì để làm, chẳng có tư tưởng nào để theo đuổi. Được có mặt trong một bức ảnh như thế này cũng đã là điều họ sung sướng lắm rồi.
KIM LÂN - NHÀ VĂN CỦA LỚP NGƯỜI “ĐẦU THỪA ĐUÔI THẸO
Ngày 13 tháng 12 năm 2024
Thật lòng khó nói rằng Kim Lân hồi trẻ có một vẻ ngoài sang trọng. Hình như ông sẵn sàng tỏ ra nhếch nhác luộm thuộm một chút trước mặt mọi người để càng không ai để mắt tới ông càng tốt. Tôi nhớ khoảng 1968-1970 nghe một đồng nghiệp là nhà văn Lê Minh nói về Kim Lân. Trong một buổi họp của giới văn nghệ, đáp lại lời yêu cầu của tôi là nhờ chỉ cho biết mặt Kim Lân, Lê Minh đảo mắt nhìn quanh rồi nói đùa:
- Khéo khi gặp lại ngạc nhiên vì cái vẻ quá cỏ rả của ông ấy chứ lại!
Dĩ nhiên có dịp nói chuyện với Kim Lân rồi thì chúng tôi đều hiểu rằng đằng sau cái bề ngoài xuềnh xoàng của một con người cứ muốn tự xoá mình đi ấy là một ngòi bút có cá tính, một kiểu đóng vai lâu ngày đã hoá tự nhiên.
Song, ấn tượng ban đầu vẫn không hoàn toàn phai mờ; nghĩ cho cùng thì vẫn thấy giữa cái vẻ nhuế nhoá, xọ dụi kia với văn chương Kim Lân có gì rất gần gũi.
Nhà văn này, viết những thứ này, thì phải có dáng dấp như vậy.
Vợ nhặt, Con chó xấu xí, người ta không thể nghĩ được những cái tên xứng đáng hơn để chỉ nội dung các tác phẩm ấy!
Ở đoạn kết Người chú dượng, nhân vật xưng tôi nói về hai vợ chồng bà dì mình “những con người như là đầu thừa đuôi thẹo ở khắp các xó xỉnh của cuộc sống được các anh cán bộ đội ghép lại, xây dựng cho thành vợ thành chồng”.
Lùi về xa hơn nữa, ở chỗ bắt đầu sáng tác của Kim Lân là trường hợp Đứa con người vợ lẽ, thiên truyện kể lại nỗi nghèo đói - đói theo nghĩa đen - của một thanh niên tự cảm thấy kiếp sống mình là sống thừa.
Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện. Trước mắt chúng ta là một thế giới bé nhỏ, chật hẹp, nhưng con người, khung cảnh không lẫn vào đâu được.
Toàn bộ cuộc đời văn học của Kim Lân nói với chúng ta rằng ở đây, cái người ta cần là một tiếng nói riêng, một thứ “mặt hàng” riêng. Những nét độc đáo của một nhà Văn vừa được chắt ra từ cuộc đời của nhà văn đó, vừa là điểm hội tụ của những yếu tố mà quê hương, cộng đồng và thời đại đã mang lại.
Quê Kim Lân, như nhiều người đã biết, ở Phù Lưu, Bắc Ninh. Làng chợ Dầu nói riêng cũng như phủ Từ Sơn cũ bao gồm cả những Đình Bảng, Sặt, Đồng Kỵ… chung quanh vốn là một vùng văn vật có tiếng của đất Kinh Bắc.
Con người nơi đây có thể nghèo túng nhưng vẫn cố giữ lấy vẻ tài hoa nền nếp cổ hủ, không đi đâu xa nhưng vẫn tỏ vẻ khéo léo, bặt thiệp, lại thường hay trọng sĩ diện trọng vẻ bề ngoài, đến mức đưa sự khách sáo lên thành một tiêu chuẩn sống.
Cái bản sắc được củng cố và lưu truyền từ đời nọ sang đời kia ấy ở người dân chợ Dầu, sẽ vào trong văn xuôi Kim Lân, tạo nên một thứ chất đồng bằng Bắc Bộ, kín đáo, chín chắn và làm cho tác phẩm của ông có thể có ích cho một nhà xã hội học nào đó, muốn hiểu một ít về mảnh đất giàu truyền thống văn hoá này.
Nếu để ý một chút, ta sẽ thấy các nhân vật chính trong truyện ngắn của Kim Lân đều có một nét tính cách nào đó, đậm đà, đáng nhớ.
Ông cả Luốn gốc me trong thiên truyện cùng tên, làm gì cũng lo giữ gia phong, và rất ngại ngần trước những thay đổi đang diễn ra chung quanh.
Ông Hai trong Làng dù phải đi tản cư xa, vẫn muốn ra người có căn có cốt, đàng hoàng, có một quê hương đích đáng để tự hào.
Cho đến cả anh chàng Tràng đi kéo xe bò thuê, thật ra cũng là một người đàn ông tài hoa, tự trọng, biết khoe mẽ, biết dền dứ làm trò trước người đời.
Thật vậy, đầu đuôi câu chuyện Vợ nhặt của Tràng, chẳng phải là câu hò bâng quơ: “Muốn ăn cơm trắng với giò - Lại đây mà đẩy xe bò với anh” là gì?
Rồi cái sự hoang toàng của Tràng giữa cảnh đói kém vẫn dám để ra hai hào mua dầu nhân ngày vợ chồng về với nhau, cũng là một nét thêm vào cái phần duyên dáng ở Tràng chứ sao!
Những Tràng, ông Hai, ông cả Luốn này gợi chúng ta nhớ tới người dân ở một vùng đất khắc khổ, con người phải trầy trật mới có miếng ăn, nhưng vẫn biết tô điểm cho mảnh đất đã nuôi sống mình có được những nét đặc sắc không lẫn với mọi nơi khác.
Nên biết thêm là trước đây đồng bằng Bắc Bộ nói chung, vùng Kinh Bắc nói riêng có những người thợ rất giỏi. Làm đình làm chùa, tô tượng, đúc chuông hay tỉ mỉ nặn ít con giống, phất ít đồ chơi, họ đều có sự kỹ lưỡng thành thạo và giữ được tình cảm thiêng liêng đối với nghề nghiệp.
Kim Lân chính là một người thuộc vô số nghệ nhân “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” đó.
Nếu nói như Nguyễn Tuân nghề văn là nghề của chữ thì người viết văn này thật đã có một tay nghề vững chãi. Trong tay những ông thợ mộc tài hoa các loại gỗ có dịp phô ra hết vẻ đẹp để trở nên đắc dụng trong từng công việc thế nào thì chữ nghĩa trong tay Kim Lân cũng như vậy.
Dưới sự điều khiển của ông, những con chữ hiện ra trên mặt giấy dễ dàng, thanh thoát, đâu ra đấy mà không lộ rõ sự dụng công phiền phức, hình như từng chữ biết tìm đúng vị trí của nó để tồn tại, những chữ người khác dùng đã bao lần rồi, đến tay ông vẫn tươi mới, như vừa được dùng lần đầu.
Một chút tủi thân mà Kim Lân từng cảm thấy rất rõ về thân phận mình (Đứa con người vợ lẽ) càng làm cho ông hiểu rằng, chỉ bằng sự tinh thông nghề nghiệp, một người viết văn mới có được một chỗ đứng vững chắc.
Đó cũng là con đường duy nhất để đạt tới sự tự hào chân chính “Ta cũng chẳng kém gì các người!” mà trước đây, ông hằng mong ước (xem một số đoạn tự sự trong Chặng đầu đi tới Tạp chí Văn nghệ số một).
Thế rồi, cũng như nhân vật Tràng trong Vợ nhặt, Kim Lân gặp Cách mạng, được giác ngộ, tham gia Văn hoá Cứu quốc, tiếp đó là đứng trong hàng ngũ kháng chiến bên cạnh nhiều ngòi bút tài năng khác.
Từ nay, là một bước đổi mới. Kim Lân từng diễn tả rất hay những biến đổi trong tâm lý một người nông dân như ông Hai.
Trước ông Hai hay có lối khoe hão về làng mình rằng làng xưa quan cách thế này, chơi bời thế này.
Nay, thay vào đó, là niềm tự hào vì tấm lòng son sắt của quê hương với kháng chiến. Những tình cảm ấy chính Kim Lân đã trải qua, và ông muốn ghi lại chúng thật sắc nét.
Nhưng, dù viết về những ngày tản cư kháng chiến (Làng, Con chó xấu xí) hay cải cách ruộng đất (Người chú dượng) xây dựng hợp tác xã (Ông cả Luốn gốc me) thì nhà văn này vẫn trở về với vị trí xuất phát - những con người “đầu thừa đuôi thẹo”, ở “mọi xó xỉnh đời sống” như ông từng nói.
Hãy thử nhớ lại truyện ngắn Con chó xấu xí. Giá kể vào tay Nam Cao, thì câu chuyện đơn sơ ấy sẽ gợi lên nhiều suy nghĩ về nỗi đời cay đắng và đơn bạc cùng những thoáng hối hận: hoá ra trong cách nhìn người, chúng ta thường chỉ căn cứ vào bề ngoài, nên rất dễ nhầm lẫn.
Hoặc như vào tay Nguyên Hồng, tác giả Bỉ vỏ sẽ nồng nhiệt đứng ra chứng minh rằng trong những con người khốn khổ này, còn bao nhiêu điều tốt đẹp, và dưới ánh sáng nhân bản thì những tấm lòng vàng này không thể gọi là xấu xí được.
Kim Lân không thế và không thể làm thế. Ông lặng lẽ thừa nhận rằng những gì mà mình nói tới và có thể, chính mình nữa, những thứ người, thứ vật bị hắt hủi bị ghét bỏ ấy, nhiều khi kiếp sống nhạt nhẽo và buồn thảm thật, không việc gì phải tô điểm cho đẹp và cũng không ai tô điểm nổi.
Mọi sự lớn tiếng ở đây đều không phải tạng của Kim Lân. Ông chỉ ngấm ngầm truyền sang chúng ta một niềm an ủi: Những đầu thừa đuôi thẹo khốn khổ, dúm dó kia vẫn có chỗ đáng để người ta trân trọng, đối xử cho có tình nghĩa, và có lúc, nó đáng để người ta nghĩ hơn mọi thứ cao sang giả dối khác.
--
Kim Lân thường hay kể mặc dù mãi tới 1962 mới được viết ra, nhưng Con chó xấu xí đã được ấp ủ từ những ngày kháng chiến, khi Kim Lân cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đi đi về về giữa những làng Thệ, Gia Điền, Sơn Cốt, ấp Cầu Cháy v.v.. vừa chạy Tây càn vừa lo làm tạp chí Văn Nghệ - cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam lúc ấy.
Trong cuộc đời cầm bút của nhiều tác giả, đây là những ngày sôi nổi. Nào viết, viết trong đêm lạnh, khoác chăn, quấn cả quần nâu to xù xù lên cổ ngồi viết. Nào lo đi nhà in, in báo.
Trong hồi ký Những ngày Gia Điền, Nguyên Hồng từng kể cái lần Nguyên Hồng và Kim Lân khoác ba lô bản thảo lên vai “xuôi bờ sông Lô, qua sông Lô lên bến Thản rồi sang Thản Sơn huyện Lập Thạch” để đến nhà in.
Trước khi đi, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi còn dặn thêm:
- Ông Hồng vốn có tiếng cẩn thận giữ bản thảo thì ông chịu trách nhiệm về bản thảo. Còn ông Lân người ý tứ, tinh việc thì chịu trách nhiệm giao thiệp với nhà in. Thôi hai ông về trước mà chuẩn bị Tết và đón anh em nhé! (trích Tuyển tập Nguyên Hồng, tập II).
Hoá ra, bên cạnh thói quen hậm hụi ngồi viết, viết thật kỹ lưỡng, Kim Lân còn thuộc loại tháo vát nữa. Không bao giờ tin rằng mình tài cán gì ghê gớm lắm, nhưng bao giờ trong đầu ông cũng “nhấp nhỉnh những ý nghĩ” (chữ trong Vợ nhặt), tưởng là không để ý gì hết vì biết rằng nhiều việc không phải của mình - nhưng lại vẫn để ý tất cả, muốn xem xét tất cả để lo liệu và lẳng lặng tìm lấy một chỗ đứng của mình trong cuộc đời.
Tới những ngày tuổi già, khi đã chính thức về hưu, thói quen ấy, cách sống ấy càng được Kim Lân trau chuốt kỹ lưỡng.
Đi họp, không mấy khi ngồi ở hàng đầu, nhưng họp gì vẫn nhớ không sót.
Khi cần mới phát biểu, nhưng nói bao giờ cũng cố giữ lấy cái giọng riêng nhằm tạo được ấn tượng riêng.
Những lúc rỗi ông hay kể với anh chị em ít tuổi chúng tôi về những nhà văn lớp trước, để cùng suy ngẫm về đời văn của mỗi người:
- Cụ Tố mới ghê chứ. Trong các nhà văn Việt Nam đã mấy ai hiểu kỹ nông thôn bằng Ngô Tất Tố. Đến cả Nam Cao cũng không bằng được. Khi tôi viết xong cái Làng, được Ngô Tất Tố khen, tôi sướng lắm.
- Nguyên Hồng ngồi giữa đám Hà Nội vẫn có nét sang trọng riêng. Do sự tự tin của ông, nên cái vẻ ngoài lam lũ nó tan biến đi.
- Chết! Chết! Hồi ấy Nam Cao lạ lắm. Muốn thay đổi tất cả. Có lần, ông còn định viết cả truyện bắt gián điệp cơ mà.
--
Tính lại cả đời văn, thì Kim Lân viết ít, từ sau 1945 đến nay, chỉ lưa thưa có vài truyện ngắn. Dẫu vì lý do gì, thì sự ít ỏi này cũng là điều đáng tiếc! Kim Lân hay ngấm ngầm tự trách mình về việc đó.
Một lần, nhân nói về một đồng nghiệp viết rất đều tay, viết như người thợ đóng bàn ghế, hết việc này sang việc khác mà không cần có cảm xúc gì hết, Kim Lân cũng biết là hỏng, nhưng không quên nói thêm:
- Bố ấy hỏng một đằng mà tôi, tôi lại hỏng về một đằng khác.
- Nhưng nghe nói bác vẫn “bí mật” viết cơ mà?
- Ấy, những chuyến đi công tác như đi đóng phim, hay đi giúp một trại viết nào đó, tôi đã ráp trong đầu rất kỹ. Nhưng rồi lại không viết được.
- Phải cái cuối cùng bác cho in hồi còn tạp chí Tác phẩm mới, là Bà mẹ Cầm?
- Đang viết để trên bàn, ông Nguyên Hồng đến chơi, ông ấy cầm về đấy thôi, - vẻ mặt nhà văn thoáng chút băn khoăn - chứ cái ấy mình viết đâu đã kỹ!
Cùng một lúc với sự thôi viết, ở một số nhà văn, sự đọc cũng hết cả tinh tường; khi thì quá cao đạo, gì cũng chê, chưa đọc đã chê; khi quá dễ dãi, ra điều bề trên, xoa đầu thiên hạ cho vui.
Kim Lân xa lạ với cả hai thái độ cực đoan đó. Ông không quên đặt ra những yêu cầu cao với những văn chương, nhưng lại cũng thông cảm với những khó khăn của việc cầm bút, kể cả lớp người sau mình.
Nhất là ông bao giờ cũng có ý vì nể người đang viết khoẻ, ngụ ý rằng nếu tất cả đều kỹ tính như mình thì còn gì là đời sống văn chương nữa.
Các trại viết của Hội Nhà văn cũng như của các ngành, các địa phương thường vẫn thích mời Kim Lân đến kèm cặp hộ, và nhiều anh em mới viết rất tin nhận xét của thầy Lân. Trong sự gần gũi với lớp người mới cầm bút, nhà văn tìm lại những hy vọng của chính mình.
Ấy là không kể thỉnh thoảng Kim Lân được mời đi đóng phim.
Kể duyên nợ giữa nhà văn với nghề diễn viên cũng dai dẳng đã gớm!
Xưa, hồi mới mười tám hai mươi, ông đã lên sân khấu sắm một số vai trong các vở kịch của Mô-li-e, Vũ Trọng Can. Nay, ông lại được coi là rất thích hợp với những vai nông dân già, nghèo, sống hơi tủi phận một chút (kiểu lão Hạc trong phim Làng Vũ đại ngày ấy).
Ở chỗ này, có một câu chuyện vui vui nó thể hiện cái tỉnh táo của Kim Lân. Trong một buổi họp ở Hội khoảng giữa những năm 80, nhà văn Nguyễn Minh Châu xưa nay vốn mến mộ tác giả Vợ nhặt, nhân lúc ngà ngà chén rượu, mới thổ lộ một ý nghĩ thật của mình:
- Ông Kim Lân ạ, có lẽ là ông cũng nên thôi đi đừng đóng phim nữa. Dính vào cái công việc nặc nô ấy nó làm nhảm cái nghề văn của mình đi.
Có lẽ xưa nay vẫn quý Nguyễn Minh Châu là người viết được và cũng hiểu tác giả Cửa sông, Dấu chân người lính thật bụng với mình, nên Kim Lân không nói lại, chỉ đăm đăm nghĩ một điều gì đó, vẫn cái vẻ tui tủi như mọi khi.
Nhưng lát sau, khi nhà văn tên tuổi đang nổi như cồn ấy đã đi chỗ khác, ông mới quay sang mấy anh em ngồi cạnh, nói một cách đàng hoàng:
- Nói khí vô phép chứ, người thế mà cổ bỏ mẹ! Tôi không viết được là tại tôi chứ có phải tại đi đóng phim đâu. Mà nghề văn của mình đã lấy gì để bảo đảm là đứng đắn hơn các nghề khác? Còn làm được việc gì có ích, tôi còn làm. Đang lúc tàu xe khó khăn thế này, chỉ thỉnh thoảng được đi khỏi Hà Nội ít ngày đã thú lắm rồi.
Sở dĩ tôi nhớ rất kỹ mẩu đối đáp này vì nó là một trường hợp bộc lộ rõ con người Kim Lân, nó lại cũng giúp tôi hiểu được cái tình thế tế nhị ở ông hiện nay - một người ít viết và có lẽ mấy năm nay đã ngại viết nhưng về cách tồn tại của một nhà văn thì lại cực kỳ thành thạo.
Đầu 1986 cầm trên tay cuốn Anh chàng hiệp sĩ gỗ in ra từ đầu năm 1958, ông để một lúc ngồi kể với tôi về những toan tính muốn chữa lại thiên truyện vài ngàn chữ ấy. Đâu nhà xuất bản Kim Đồng muốn tái bản và nếu vậy, ông phải sửa chữa lại.
Kim Lân là thế. Ông xa lạ với loại người buông thả, muốn đến đâu thì đến.
Theo ông, bên cạnh sự lười biếng trông rõ rành rành ấy, còn có một lối viết như đồng thuộc, viết lấy được, thậm chí loanh quanh luẩn quẩn mang những ý cũ của mình ra xào xáo lại. Lối lười biếng ấy, trước sau nảy sinh ra sự thoái hoá, người tài năng mấy mà quá ỷ tài cũng sinh ra viết bừa, viết nhảm, tự mình phá đổ đi cái uy tín mình đã dày công xây dựng.
Trước những ngòi bút viết đông viết tây, viết xuôi viết ngược đủ kiểu, sự khó tính kỹ tính của Kim Lân hoá ra có lý, ấy thế mới chết cho những ai thiếu bản lĩnh!
Liệu viết bao nhiêu tác phẩm thì một ngòi bút trở thành một nhà văn? Tôi lẩn mẩn tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy, nhân nghĩ về trường hợp Kim Lân. Vâng, viết nhiều viết khoẻ thì hay biết mấy rồi, nhưng trong văn học vẫn có những trường hợp như Phan Huy Vịnh sống với một bài dịch, Thôi Hữu chỉ còn lại với một bài thơ, và ngay trong văn xuôi, đầu thế kỷ này, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn mỗi người chỉ có dăm bảy truyện ngắn.
Cho nên, mặc dù rất tiếc là Kim Lân không viết được nhiều, tôi cũng như một số đồng nghiệp khác vẫn phải công nhận chỉ với mấy truyện ngắn đã in nhà văn này vẫn có chỗ đứng của mình trên văn đàn; Kim Lân chính là một kiểu tồn tại trong cái giới nhà văn kỳ lạ thời nay./.
1986
NGUYỄN HIẾN LÊ, NGƯỜI CẢI CHÍNH NHIỀU SỰ HIỂU NHẦM VỀ TRUNG QUỐC.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024
Dưới đây là một bài viết tôi đưa trên mạng từ 26.12. 2018, tức là 6 năm trước. Nhờ mục KỶ NIỆM mà tìm lại được xin chân thành cám ơn. Do thấy bài viết vẫn phù hợp với tinh thần hiện nay, nên xin đưa lại.
----
Đóng góp của Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) trong khoa Trung quốc học là ở chỗ tận dụng ưu thế thời đại mang lại cho nó một cái nhìn khác các bậc tiền bối. Xuất thân từ Tây học, song ông lại có thời gian về học với người bác là một bậc thâm nho, nhờ đó bồi đắp cho mình cái vốn Hán học chắc chắn. Trong suốt cuộc đời ông luôn luôn có cái nhìn phối hợp Đông Tây khi cần xem xét các vấn đề cơ bản mà người trí thức phải đối mặt.
Hai cuốn sách quan trọng của Nguyễn Hiến Lê làm theo hướng này là bộ Sử Trung Quốc, và bộ đôi Khổng Tử - Luận Ngữ.
Cái nhìn của ông là từ bên ngoài và không phụ thuộc vào cách giải thích của chính người Trung Quốc.
Nhưng ông vẫn biết tìm ra những khía cạnh tốt đẹp mà cả Đông và Tây, cổ điển và hiện đại đều phải công nhận.
Ông cải chính nhiều sự hiểu nhầm về Trung quốc.
Chúng tôi sẽ lược lại một số ý trong cuốn Sử Trung Quốc bàn về chính trị mà chúng tôi thấy tâm đắc nhất, và những lời bàn chung quanh khái niệm dân ở Nho học, là những điều hiện mang tính thời sự.
TRỊ QUỐC CHI ĐẠO (I)
Một lần ở một hiệu sách thuộc ga Bắc kinh, tôi thấy một cuốn sách dày cộp mang tên như trên. Chợt nhận ra việc quản lý quốc gia ở nước Trung Hoa cổ được ghi chép rất đầy đủ và nâng lên tới trình độ một bộ phận quan trọng trong văn hóa.
Đọc cuốn sách Sử Trung quốc Nguyễn Hiến Lê viết cuối đời, càng thấy rõ điều đó.
-- Tần Thủy Hoàng độc tài chuyên chế. Ông giết trí thức. Nhưng đó không phải là cách cai trị lưu manh vô học. Đã tin dùng trí thức nào ( thừa tướng Lý Tư) là dùng đến triệt để. Đốt sách, kể cả Tứ thư Ngũ Kinh nhưng là đốt những bộ tạp nham, trong khi vẫn tàng trữ một bộ trong triều đình ( tr103, bản Sử TQ của Nxb Tổng hợp TP HCM,2006). Với những điều luật bắt buộc thư đồng văn xa đồng quỹ, ông ta có công đưa mọi sinh hoạt của quốc gia vào nền nếp. Các trường học dưới thời ông dạy rất kỹ môn pháp luật quốc gia.
-- Thời Tiên Tần, TQ đã có những nhân vật quản lý xã hội đầy tài năng và có tư duy hiện đại như Quản Trọng, Thương Ưởng. Trung Quốc cuối thế kỷ XX cũng đang lặp lại nhiều biện pháp của Thương Ưởng.
-- Triệu Khuông Dẫn vua nhà Tống được quân lính đặt lên ngai vàng nhưng công việc đầu tiên khi lên ngôi là đặt văn quan trên võ quan và hạn chế quyền lực của các chỉ huy quân đội.
(Nói như sách Các nền văn minh thế giới—Lịch sử & văn hóa thì ngay từ đời Đường, người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với một quốc gia có chuẩn tắc và văn minh.)
-- Trong các biện pháp cải cách của Vương An Thạch đời Tống cũng có nhiều việc rất hiện đại, chẳng hạn khi tuyển dụng quan lại chỉ huy các việc nông điền thủy lợi không dùng người văn hay chữ tốt vừa đỗ đạt mà thiên về dùng người có chuyên môn tức có kinh nghiệm.
-- Sau các chiến thắng quân sự lẫy lừng, chế độ cai trị mà Hốt Tất Liệt áp đặt lên xã hội Trung Hoa hết sức tùy tiện “triều đình là một mớ hỗn độn vô tổ chức, hiệu lệnh ban ra địa phương không nghe; mỗi gia đình đại thần tự làm chính trị, mỗi người tự coi là quốc gia “ ( tr396-397)
-- Trong số lý do khiến Mãn Thanh về sau thành công, có lý do này -- “ triều đình ít can thiệp vào đời sống của dân “ ( tr 481), “ đất đai mênh mông mà số quan lại rất ít” (tr482). Ở trang 497 còn ghi rõ hơn 450 triệu dân chỉ có 100.000 quan lại.
TRỊ QUỐC CHI ĐẠO (II)
Các xã hội chiến tranh là những xã hội tham nhũng nặng nề. Lần đầu tiên tôi biết điều đó là từ phần viết về nhà Nguyên trong cuốn Những bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung quốc, của nhóm Cát Kiếm Hùng, bản tiếng Việt của nhà sách Văn Lang 2004.
Nhưng mới đây đọc lại hóa ra các sử gia chuyên về sử Trung quốc đã viết về tình trạng thiếu pháp luật và tham nhũng của các chính quyền quân sự từ lâu.
Như Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi đã viết trong cuốn Hàn Phi Tử -- Bản của Nxb Văn hóa 1997—tr 29:
Bắt đầu ngay từ thời Chiến quốc, thời các chư hầu đánh lộn lẫn nhau,
“quan lại đa số tham nhũng: Tư Mã Thiên trong bộ Sử ký thiên 119 chỉ chép truyện của năm vị quan tốt, mà thiên 122 chép truyện của mười tên quan xấu (chữ Hán gọi là khốc lại).
Kẻ sĩ tranh nhau ăn tới mức Phạm Tuy tể tướng Tần, tư cách chẳng cao đẹp gì mà cũng phải ví họ với bầy chó của vua Tần: “( khi bình thường) nằm thì cùng nằm, đi thì cùng đi, ngừng thì cùng ngừng, không cắn nhau; nhưng hễ ném cho chúng một khúc xương thì chúng vùng dậy, nhe nanh ra cắn nhau. Chỉ tại tranh ăn.
..Xã hội từ trên xuống dưới đầy trộm cướp “.
QUAN LẠI XUẤT THÂN TỪ DÂN NGHÈO
CÀNG DỄ THAM NHŨNG
Trong việc làm bộ sử Trung quốc, Nguyễn Hiến Lê dựa nhiều vào các nhà sử học phương Tây, nhưng bao giờ cũng dẫn họ ra rất đầy đủ sau đó có ý kiến riêng của mình.
Ví như quanh chuyện quan lại và tham nhũng ở Trung quốc. Lối tuyển người làm quan ở đây là qua khoa cử, nó có cái mạnh là tránh đi vào cha truyền con nối của quý tộc châu Âu, và đấy là điều khiến cho Voltaire cũng từng khâm phục.
Nhưng một nhà nghiên cứu là Eberhard lưu ý ta một điểm khác.
Ông này khi nghiên cứu về các đời Đường Tống đã nói rằng nguồn gốc của tệ tham nhũng là do quan lại được trả lương quá thấp.
Khi nghiên cứu sang thời Minh, Eberhard lại lưu ý càng đám quan lại xuất thân từ các tầng lớp dân nghèo, do đỗ đạt mà thành quan càng dễ tham nhũng. Tại sao? Muốn đỗ thì phải hối lộ quan trường, đỗ rồi muốn được bổ dụng thì phải đút lót nhà quyền quý... Đến lúc ra làm quan thì phải tham nhũng để thu hồi vốn và trả nợ.
Chép lại nhận xét này của Eberhard ( tr. 441), Nguyễn Hiến Lê tỏ ý không tin.
Nhưng tôi thì lại thấy rất tin vì nó giúp tôi giải thích tình hình quan chức thời nay.
CHUNG QUANH KHÁI NIỆM DÂN TRONG NHO HỌC
Đây là một điểm mà theo tôi Nguyến Hiến Lê có cách hiểu khác hẳn với đa số chúng ta hiện nay và ông đã giữ quan niệm này cho tới cùng.
Nguyễn Hiến Lê - Cuộc đời và tác phẩm là tên một cuốn sách của Châu Hải Kỳ. Có lẽ ở Việt Nam ít ai được hạnh phúc như Nguyễn Hiến Lê. Từ trước 1975, ông được người bạn ở xa là Châu Hải Ký theo dõi từng bước đi.
Những năm cuối cùng trong cuộc đời Nguyễn Hiến Lê lại được ông Châu tiếp tục quan tâm và nhất là đoạn miêu tả về cái chết của Nguyễn Hiến Lê rất cảm động.
Riêng tôi, đặc biệt chú ý tới trang 431, của cuốn sách tiểu sử này, ở đó Châu Hải Kỳ viết "kết thúc chương chót này, tôi xin cầu xin ông cho phép tôi trưng ra một đoạn thư trích" có liên quan tới việc dạy học của Khổng tử. Chữ họ sau đây là chỉ các học giả Hà Nội
“...Họ không đọc gì hết mà phê bình thì mình bắt bẻ làm quái gì, phí công. Chẳng hạn trong Nhà giáo họ Khổng, tôi nói rõ rằng trước Khổng chỉ có những trường của triều đình cho con quý tộc học, Khổng là người đầu tiên mở trường tư dạy bất kỳ hạng người nào, từ kẻ nghèo, chỉ mang lại một gói nem; và ông dạy như vậy chú ý để đào tạo hạng bình dân có học thay bọn quý tộc vô học trong việc trị nước. Công ông lớn lao như vậy mà họ chê là phong kiến, thì nhắc tới họ làm gì cho phí giấy. Thôi đi anh ơi (…)”
Sở dĩ Châu Hải Kỳ phải đưa đoạn này ở cuối sách và Nguyễn Hiến Lê tự nhiên có giọng bi phẫn, là vì ở đây chạm tới một đề tài hình như quan trọng nhất của Nguyễn Hiến Lê là Khổng giáo.
Theo cách trình bày của các học giả Hà Nội, thì Khổng tử đáng muôn lần căm giận, vì đã khinh bỉ nhân dân, đề cao sự thống trị của bọn ngụy quân tử. Nói chung là người ta không chú ý tới khái niệm dân mà Khổng tử đã đề cập. Khi nói tới Nho giáo thì người ta chỉ nói đến chữ Lễ, Trung, đầy tính ràng buộc, và bằng cách đó thì bảo đảm uy quyền của giai cấp thống trị.
Nhưng trong các tài liệu viết về đạo Khổng mà Nguyễn Hiến Lê gặp lại ở phương tây thì ông lại thấy một điều ngược lại, và ông đã trình bày trong nhiều tập sách, cuối cùng là tập trung ở cuốn Khổng tử mà ông soạn trong thời gian từ sau 1975.
Như đoạn trên đã viết, chính ra Khổng tử là người đã rất gần gũi với người dân bình thường.
Ông biết rằng việc cai trị cần đến kiến thức nên đã dân chủ hóa kiến thức, và sẵn sàng mang lại những kiến thức quyền lực truyền đạt đến người dân thường.
Với Nguyễn Hiến Lê, đó là mặt tích cực, mặt trội nhất của Khổng tử và không thể chịu được cách hiểu cách hiểu sai của nhiều học giả Hà Nội. Ông giận họ cũng là phải.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét