Mục Lục
THƯỞNG HOA NHỚ HOA và VỨT HOA 6
NÓI THÊM VỀ CHỦ NGHĨA BÌNH QUÂN 10
NGUYỄN VĂN VĨNH: PHỐ CỔ HÀ NỘI 13
TRONG CÁI ĐƯỢC CŨNG ĐÃ CÓ NHỮNG CÁI MẮT 19
XUÂN DIỆU VÀ NHẬN XÉT "TẾT Ở TA LÀ TẾT TRUNG CỔ" 28
CHỦ NGHĨA KHOÁI LẠC Ở DẠNG DUNG TỤC NHẤT CỦA NÓ 34
NƯỚC NGA ĐÃ ĐẾN HỒI CÁO CHUNG? 37
TẾT TRONG VĂN HỌC TIỀN CHIẾN 47
CHÚNG TA LÀM CHỦ NHƯ THẾ NÀY ĐÂY! 50
NHỮNG CUỐN SÁCH VƯỢT TRÊN THỜI GIAN 54
NÓI VỀ Ý NGHĨA CÁC LOÀI HOA 59
LÀM SAO ĐỂ THÊM CHẤT TRÍ TUỆ CHO LỄ HỘI? 62
GIỚI THIỆU MỘT BÀI VIẾT MỚI TRÊN BLOG, NÓI VỀ TRÍ THỨC 67
NHỮNG DỄ DÃI TRONG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ ĐANG CẢN BƯỚC CHÚNG TA GIA NHẬP VÀO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI 68
DI LỤY CHIẾN TRANH: CON NGƯỜI ĐÁNH MẤT Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP 71
MÙA XUÂN LÀ MÙA CỦA NHỮNG KHẢ NĂNG 75
TRONG NGHÈO KHỔ ĐÓI KÉM CON NGƯỜI ĐÃ BIẾN DẠNG 76
KHI ĐÃ BIẾN DẠNG, TÂM LÝ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI KHÓ LÒNG TRỞ LẠI BÌNH THƯỜNG 79
BẠO LỰC PHỔ BIẾN TỨC LÀ TƯ DUY KHÔNG PHÁT TRIỂN 83
HƯỚNG VỀ CÁCH NGHĨ HIỆN ĐẠI 86
NHỮNG BÀI HỌC TỪ MỘT CÂY BÚT HẢI NGOẠI 91
MUỐN HIỂU CHIẾN TRANH CẦN CÓ THÊM THẾ ĐỨNG NGOÀI 97
TẠI SAO HÔM NAY CHÚNG TA CHẬM CHẠP TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU PHAN CHÂU TRINH 102
TÔN VINH HAY CÒN CÓ MỤC ĐÍCH NÀO KHÁC? 107
ĐÁM TRẺ Ở TA ĐANG ĐƯỢC DẠY DỖ NHƯ NHỮNG NGƯỜI LỚN 113
VÀ MỘT QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT 120
TAI HỌA VÀ CÁCH NHÌN NHẬN TAI HỌA 122
ĐI TÌM CON NGƯỜI GIỮA SỰ HỖN ĐỘN CỦA LỊCH SỬ 126
CAMPUCHIA, MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC 139
TẾ HANH NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI MÌNH KHI TUỔI GIÀ 154
PHỔ CẬP GIÁO DỤC NHƯ HIỆN NAY THÌ KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC NỀN GIÁO DỤC ĐÍCH THỰC 159
CUỘC TỰ SÁT “ CHẬM NHƯNG CHẮC “ 163
BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP TƯ DUY TRUNG CỔ 166
NHỮNG NỖI ĐAU CHỈ CÓ Ở THỜI NAY 182
KHÔNG SAO TÌM RA CÁCH LÝ GIẢI THỰC TẠI 186
CÂU CHUYỆN NHÂN TÀI TRONG LỊCH SỬ 213
ĐÔ THỊ & NHÂN CÁCH NGƯỜI ĐÔ THỊ 219
PHẢI GIÚP HỌC SINH HỌC ĐỂ BIẾT NGHĨ 224
TỪ THỜI PLATON DÂN CHỦ ĐÃ ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA ... RẤT HIỆN ĐẠI 231
CHÍNH MÌNH LÀM HẠI VIỆC MÌNH 235
CHỈ CÓ NHỮNG TRÍ THỨC ĐẦU THẾ KỶ XX MỚI GỌI RA ĐẦY ĐỦ CÁCH LÀM ĂN BUÔN BÁN CỦA NGƯỜI VIỆT! 240
GIẦU CÓ NHƯNG KHÔNG THÀNH NGƯỜI 246
LÀM GIÀU NGAY TRONG CHIẾN TRANH, TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HOA Ở ĐÀ NẴNG 1858 251
NGƯỜI HOA Ở KINH THÀNH HUẾ CUỐI THẾ KỶ XIX QUA CON MẮT CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP 257
VẬN MAY CÓ TỚI CŨNG CHẮC ĐÂU ĐÃ BIẾT TẬN DỤNG 262
NHÀ TRÍ THỨC TRẦN ĐẠI NGHĨA & CÁI NHÌN KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN THỜI HẬU CHIẾN 268
NGƯỜI HOA & GIỚI QUAN CHỨC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII –XIX 273
SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM NHÂN BẢN TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA 285
LỊCH SỬ LÊN TIẾNG QUA NHỮNG KẺ ĐIÊN 290
NHỮNG DẠNG THỨC THÔNG THƯỜNG CỦA ĐIÊN DẠI 294
THÌ CŨNG SAI LẦM TRONG GIÁO DỤC 299
NHỮNG NÉT SÁNG TRONG BỨC CHÂN DUNG XUÂN TÓC ĐỎ 304
CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI TRƯỚC TIÊN LÀ MỘT CON NGƯỜI ĐA DẠNG 309
HY SINH TƯƠNG LAI CHO HIỆN TẠI 312
TRƯỚC NHỮNG VẺ ĐẸP ĐANG BỊ ĐÁNH MẤT 314
LẤY ĐÂU RA KỸ NĂNG SỐNG Ở QUÊ MÀ HỌC? 317
VIỆC GIÁO DỤC CON NGƯỜI HỌC SINH TRONG BỘ SÁCH "QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ" TRƯỚC 1945 320
TRÍ THỨC VIỆT - MỘT GIỚI THÔNG THÁI CHÂN ĐẤT 328
MUỐN HIỂU VỀ TRÍ THỨC VIỆT HÃY NHÌN SANG PHÍA NƯỚC NGA 334
ĐỌC LẠI MỘT BÀI VIẾT VỀ TRÍ THỨC CỦA NGUYỄN MẠNH TƯỜNG 339
GIÁO ĐIỀU CUỒNG TÍN LÀ MỘT TỘI ÁC 347
TRÍ THỨC TRƯỚC 1945 TRONG SỰ SO SÁNH VỚI GIỚI QUAN CHỨC 350
MỘT ĐOẠN GHI TRONG CHIẾN TRANH 353
TRONG CHIẾN TRANH HIỂU THÊM VỀ CÁCH MẠNG 357
DẠY CON Ở TUỔI ĐANG HỌC TIỂU HỌC 362
BIẾT RẰNG HY VỌNG MỊT MÙ NHƯNG CŨNG KHÔNG THỂ TUYỆT VỌNG ! 368
MỜI ĐẾN DỰ BUỔI TRAO ĐỔI VỀ XUẤT BẢN 372
CA TỤNG XUẤT BẢN -- MẤY PHÚT “ĐÔNG KÍSỐT” 375
THỬ ĐỊNH NGHĨA VỀ NGƯỜI VIẾT VĂN 378
KHAO KHÁT SỰ ỔN ĐỊNH hay là NHỮNG SUY NGHĨ BÊN GA DU LỊCH ĐÀ LẠT 381
MỘT KHÍA CẠNH LÀM NÊN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ TƯ TƯỞNG GIỮA PHAN CHÂU TRINH VÀ NGUYỄN VĂN VĨNH 387
ĐÂU LÀ PHẨM CHẤT CỦA NHỮNG KẺ ĐIÊN 393
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ MỘT DẠNG TRÍ THỨC ĐẶC BIỆT Ở TA 396
"GIAO HOAN" TRONG CÁC TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 404
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ: (kỳ một ) 409
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( Kỳ hai ) 413
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bốn) 419
CÓ MỘT GORKY MÀ CÓ LẼ BẠN CHƯA BIẾT 422
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ(kỳ năm): ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH TRÍ THỨC 432
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy): QUAN LẠI TRONG THỜI HẬU CHIẾN 439
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ tám): SỰ KHÁC NHAU GIỮA VIÊN QUAN VÀ NGƯỜI ANH HÙNG 443
CHUYỆN NGHỀ BIÊN TẬP GHI SAU BUỔI GẶP MẶT Ở nxb PHỤ NỮ 25-10- 2017 453
BA MẨU CHUYỆN VỀ SÁCH THỜI NAY 457
MỘT THOÁNG THƠ (kỳ 2): ĐỜI LOẠN ĐI VỀ NHƯ HẠC ĐỘC 467
BIẾT MÌNH ĐANG SỐNG THẾ NÀO, VẪN LO HỌC ĐỂ SỐNG TỐT HƠN. 470
PHẢN TỈNH KHÁC VỚI CƠ HỘI Ở CHỖ NÀO? 472
MỘT TRUYỆN TIẾU LÂM CHO THẤY CÁCH TỒN TẠI CỦA CÁC NHÀ VĂN XÔ VIẾT 475
MỘT THOÁNG THƠ (kỳ 3): NHỮNG CẢNH ĐỐI NGHỊCH và TÌNH TRẠNG HƯ ĐỐN CỦA CHÚNG TA 478
MỜI DỰ BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH 492
THƯỞNG HOA NHỚ HOA và VỨT HOA
Ngày đăng 4 tháng 1 năm 2017
1/
Những ngày cuối năm cũ, sang năm mới, mở VTV chương trình thời sự nào cũng thấy toàn những cuộc họp. Mà cuộc họp nào cũng thấy bao nhiêu là hoa và hình như cuộc họp càng quan trọng thì hoa càng to càng nhiều. Gần đây lại có lối trang trí đặt hoa nằm ngang, giá vầng hoa được quay để dựng lên thì còn cao hơn cả người đứng trước hoa.
Nhớ thỉnh thoảng gặp cảnh người nước ngoài làm các cuộc tang lễ. Mỗi người thường chỉ cầm một bông hoa. Còn ở ta, hoa trong các đám tang, cũng như trong các cuộc họp đang nói, là hoa đi theo lối tập đoàn, nói nôm na là hàng nắm hàng mớ. Người ta không thưởng thức hoa, người ta chỉ dùng hoa để khoe giàu, khoe của, khoe mình quan trọng. Có biết đâu càng vậy càng cho thấy cái nghèo nàn trong cuộc sống tinh thần của xứ mình. Vì trông vào nhiều vầng hoa, thấy hình như người ta chỉ kết hợp chúng lại để phô ra cái vẻ rực rỡ nhân tạo còn chẳng tuân theo nguyên tắc thẩm mỹ nào cả hoặc là chỉ bị chi phối những nguyên tắc rất thô thiển.
Đã lâu trên mặt báo, và trên các trang văn, tôi không thấy cái từ ‘thưởng hoa” xuất hiện. Bây giờ đi lục lại sách vở tìm hiểu cái thói thưởng hoa của người xưa, xem ra rất khó, mà có khi viết lên cũng chẳng mấy người để ý. Chỉ biết đây là mối giao đãi giữa hoa với những tâm hồn cao quý.
2/
Đồng thời với việc làm các bài thơ chính trị dài dòng, Chế Lan Viên thường có những bài tứ tuyệt và chùm tứ tuyệt hay nhất, tập trung nhất là chùm đặt ở đầu cuốn “Ánh sáng và phù sa” 1960. “Hết nhớ hoa thôi lại nhớ người”. Bao giờ đọc câu thơ này trong bài “Nhớ Việt Bắc”, tôi cũng điểm lại cái trật tự trong nỗi nhớ của tác giả. Nhớ hoa trước. Nhớ người sau. Không biết tác giả có dụng ý gì không nhưng tôi cứ dự đoán rằng ông nói hộ cảm giác của lớp người đi sau chúng ta. Nhớ người nhiều khi thì phiền phức lắm Còn nỗi nhớ hoa yêu hoa bao giờ cũng cho chúng ta một cảm giác thanh khiết
3/
Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết, báo chí thường kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác, trong đó có rác từ hoa. Nhìn vào nhiều góc phố thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu đất, bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy bên đường, chờ xe rác đến hót.
Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi (mới qua đời đầu năm 2001) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông là hoa và rác. Theo nghĩa này, tết nhất chính là một trong những thời điểm hoa trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa nó nói với chúng ta một vài điều mà lâu nay ta không để ý.
Ai đó từng nói đùa về rác ở một lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi “.
Câu nói pha chút thậm xưng nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở hội lẫn người thích đi các loại hội hè.
Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp và sung sướng đặt nó vào lọ thì cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà!”.
Nghe thì có vẻ khinh bạc, nhưng phải nghĩ thế dần đi thì vừa. Tôi tin không nên vứt hoa như vứt bao nhiêu loại rác khác. Một người bạn tôi có thói quen khá cầu kỳ. Với các loại hoa thường cắm ở phòng khách, -- và cả cành đào ngày tết, anh không bao giờ lấy hoa từ miệng lọ rồi quẳng thẳng vào sọt rác mà chỉ làm việc đó sau khi thong thả gỡ ra từng bộ phận xếp lại cho đến khi không nhận ra những cành hoa bông hoa hôm qua nữa. Cách xử lý của anh với hoa làm tôi nhớ tới trường hợp cô Lâm Đại Ngọc trong “Hồng lâu mộng”, cô tiểu thư đó hay vẽ ra cảnh chôn hoa rồi vừa khóc vừa tự nhủ “ Chôn hoa người khóc ngẩn ngơ – Đến khi ta chết ai là người chôn”. Chuyện đã quá xa con người ngày nay không ai làm thế, nhưng cái tình của người với hoa thì hoàn toàn có thể hiểu được.
NÓI THÊM VỀ CHỦ NGHĨA BÌNH QUÂN
Ngày đăng 5 tháng 1 năm 2017
Bài viết "Ai cũng như ai, chen cạnh mà sống" đưa trên FB của tôi ngày 2-1 chủ yếu đề cập tới một cách hiểu về sự bình đẳng đã tồn tại ở miền Bắc sau 1954, ngày nay đang mở ra trong cả nước và có những diễn biến tinh vi.
Sự bình đẳng vốn được coi như một quan niệm hiển nhiên về con người. Nhưng cách hiểu về nó thì thường mỗi người mỗi khác và dựa vào đấy, người ta có cách xử lý việc đời khác hẳn.
Như đến thời ta, theo tôi, nó đã được giải thích sai làm biến thành chỗ dựa để con người sống hành động tùy tiện vụ lợi dẫn tới tình trạng hỗn loạn. Cách hiểu về bình quân thô thiển này đang là lực cản kéo chúng ta lại.
Có hai hoàn cảnh khiến những suy nghĩ trên nảy sinh trong tôi. Một là khi đi học, nhiều cán bộ công nông và con em họ lười và dốt lại được cộng điểm và sau khi ra trường được ưu tiên lựa chọn vào những cơ quan đầu não .
Hai là trong mọi công việc, nhất là những công việc đòi hỏi lao động chất lượng cao, có cả một xu hướng cào bằng tốt xâu hay dở chi phối.
Ví dụ như trong văn chương.
Để viết nên một tác phẩm tạm gọi là xuất sắc, người ta phải bỏ ra một công sức gấp trăm lần việc ngoáy vội làm ra những trang văn những dòng thơ xoàng xĩnh.
Vậy mà trong khi tính toán tiền nong trả cho công việc, giữa cái hay và cái dở chỉ có sự phân biệt nhỏ, cách đánh giá như thế dẫn những người láu lỉnh chạy theo số lượng hơn là để công chăm lo chất lượng.
Còn trong thời kinh tế thị trường như hiện nay, lại đang có tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, với muôn ngàn biểu hiện khác nhau, mà khi cần biện hộ, người ta lấy quyền sống, sự bình đẳng trong tồn tại làm cái mộc cái lý do cuối cùng che chở.
Trong giao thông chúng ta đang chứng kiến tình trạng hỗn loạn, phần do đường xá đã quá tải, phần do mọi người luồn lách cản trở nhau. Riêng tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý thấy rõ nhất ở các trung tâm còn nhiều chất đô thị trung cổ như Hà Nội. Đó là tình trạng người sử dụng xe thô sơ (và nay là xe máy) lấy cớ bình đẳng xâm phạm vào phần đường của xe ô tô, rồi lấy chuyện ngăn trở được những phương tiện hiện đại hơn làm niềm vui.
Nhìn rộng có thể thấy do đám đông được chiều chuộng, các phần tử ưu tú bị đánh phá không còn chức năng lôi cuốn cả xã hội đi tới.
Chủ nghĩa bình quân chưa bao giờ có nhiều bộ mặt như hiện nay, nhưng về bản chất nó là một phương diện của tư tưởng tiểu nông theo mãi chúng ta trên con đường hiện đại hóa tự phát.
NGUYỄN VĂN VĨNH: PHỐ CỔ HÀ NỘI
Ngày đăng 8 tháng 1 năm 2017
Ủy ban của những người bạn của Hà Nội cổ của Hội Địa lý, tổ chức ở trong hội, với mục đích để tiến hành những nghiên cứu quá khứ của Thủ đô ở Bắc kỳ của chúng ta, chúng tôi mong muốn các bạn đọc tham gia đóng góp những trí nhớ của mình, của những người có tuổi đời trên năm mươi tuổi là chủ yếu, bởi vì những người trẻ như chúng ta không biết được là Hà Nội của chúng ta đã biến đổi, và trong đó có những khu phố cổ chỉ còn để lại rất ít dấu vết.
Đúng là có một bài hát được bắt đầu như sau:
"Hà Nội ba mươi sáu phố phường
Hàng mứt, hàng đường, hàng muối trắng tinh
Từ ngày ta phải lòng mình…"
Chúng tôi không phục hồi lại được nguyên văn đầy đủ cả bài hát đó, đã được dịch ra chữ quốc ngữ và in trong một quyển sách nào đó, hình như quyển của Chéon hay của Dumoutier, nhưng chúng tôi không tìm lại được.
Bài hát này theo chúng tôi không có tính chất diễn tả lại một cách đúng đắn. Ba mươi sáu được ghi ở đây, rất đơn giản chỉ để nói lên có rất nhiều phố và phường ở Hà Nội. Và bảng kê tên các phố phường chỉ để mua vui, vì trong thực tế có phố Hàng Đường, Hàng Muối, những phố này bây giờ cũng vẫn còn, nhưng chưa bao giờ có phố Hàng Mứt. Đây chỉ là một cách ghép cho vần điệu "trống quân", là những bài hát ngẫu hứng của những người hát chơi và hát chuyên nghiệp trong những ngày tháng tám. Vào ngày Tết trăng tròn, trăng rất sáng trong ngày Trung Thu ở Viễn Đông, người ta đánh lên trên một giây căng ở trên một tấm ván hoặc một thùng dầu hỏa lật ngược để dùng làm thùng tăng âm. Bài hát tất nhiên gồm có nhiều bài khác nhau vô tận, ngày nay không thể nào sưu tầm lại tất cả.
Bài hát Trống quân được những người lính của Nguyễn Huệ sáng tạo ra để mua vui trong những lúc nhàn rỗi, cùng hát với những phụ nữ dễ tính, bao giờ cũng có cả một bầy ở chung quanh những trại lính.
Trống quân có nghĩa là: Trống của quân đội, hay là của những người lính, do những người lính sáng tạo ra bằng một cái giây căng tạo ra âm thanh, căng lên trên một mặt trống rỗng dùng làm thùng tăng âm.
Người đàn ông ứng khẩu một vài lời ve vãn, có nhiều hay ít vần rất phóng khoáng theo cách làm văn vần lục bát, câu thơ sáu tiếng rồi tám tiếng cứ xen kẽ nhau kéo dài vô tận, tiếng cuối cùng của câu tám tiếng phải vần với tiếng thứ sáu của câu sáu tiếng tiếp theo sau và cứ thế tiếp tục mãi đòi hỏi như vậy ba vần nối tiếp nhau, hết ba vần này lại tiếp ba vần khác. Lời văn rất nhẹ nhàng cho phép nhiều sáng tạo và kể chuyện dông dài, vừa tầm với những tâm hồn thô thiển, cũng vì vậy nó cho phép nâng cao lên tất cả các trình độ, kể cả tới văn truyện Kiều.
Người hát thứ nhất thách thức một người khác vào cuộc đấu thơ và một cô gái trả lời anh, nhiều khi láy lại vần cuối cùng của anh, để làm vần cả câu thơ đầu tiên của mình, sáu tiếng. Mỗi một người đối đáp cố hát luyến kép dài một cách đặc biệt tiếng hát bắt đầu của câu thơ cuối cùng để tạo ra cho người hát tiếp theo có đủ thời gian để chuẩn bị câu trả lời.
Nội dung là ái tình, nhưng ái tình ở nước ta, ngay cả trong tầng lớp thấp của xã hội, cũng là đi tìm kiếm những công lao trí thức, những người tình xông vào cuộc đấu, tự đặt ra cho nhau những câu hỏi, thật hóc búa làm cho những người tham dự hò reo phán khởi khi câu hỏi được giải đáp một cách xuất sắc.
Tất cả những điều đó có mục đích để nói lên với các bạn là chúng ta chỉ có thể dùng những tài liệu lấy ra từ những nguồn này để làm tài liệu tham khảo có một giá trị tương đối.
Một người hát có thể đặt ra cho cô bạn câu hỏi: Người tình ơi, cho tôi biết có bao nhiêu phố phường ở Hà Nội? Hãy kể ra những tên phố phường đó bằng những câu thơ hay? Và cô gái trả lời ngay không phải nghĩ ngợi gì cả, chỉ có ghép cho có vần:
Có ba mươi sáu phố phường và là những…
Những tên phố tên phường cứ thế nối tiếp nhau theo trật tự chỉ cốt để cho vần, được tìm ra trên đầu lưỡi.
Theo ý kiến tôi có một cách khác để lập danh mục những phố phường ở Hà Nội, nó chắc chắn hơn là những chỉ dẫn của bài hát này và những bài hát tương tự nhất định còn có rất nhiều.
Theo cách này trước tiên hãy thống kê những phố phường hiện nay vẫn còn tồn tại, cùng với các đình làng, những hội đồng kỳ mục, hoặc những người kế tục họ, vẫn còn tiếp tục giữ những tục lệ và lễ nghi ví dụ như: Đồng Xuân, Hà Khẩu, Phương Trung, Nghĩa Lập và v.v…
Và xuống tận nơi hỏi han những tập thể Phường Xã không còn nữa do có sự biến động mở rộng thành phố, làm đường xá, đền bù đất đai, nên đã bỏ những tập quán cũ và v.v…chỉ có ở trong tay những kỷ niệm mập mờ, không còn cái gì khác nữa. Chúng tôi kêu gọi các bạn độc giả hãy đánh giá đúng mục đích rất đáng trân trọng của Hội Địa lý chủ trương và giúp đỡ Ủy ban những người bạn của Hà Nội cổ để cố gắng phục hồi lại thực trạng của Thủ đô cổ của chúng ta.
Và dưới đây là bảng chỉ dẫn những tên phố phường mà chúng tôi đã sưu tầm được. Chúng tôi sẽ tiếp tục đăng tất cả những chi tiếp rất hay về từng phố từng phường cổ, những ngôi đình hãy còn lại, những chùa thờ Phật, những nhà cổ hoặc công trình công cộng, tổ chức chính quyền, ngày lễ hội và mốc giới hạn v.v….
Bảng thống kê sơ bộ chưa thật đầy đủ đã được trên 36 phố phường:
Đồng Xuân, Yên Tĩnh, Yên Thành, Yên Phụ, Yên Ninh, Tiền Trung, Vinh Hạnh, Phương Trung, Vĩnh Trú, Hà Khẩu, Thanh Hà, Văn Lâm, Thanh Ngộ, Thanh Miếu, Thái Cam, Thụy Khê, Thịnh Yên, Thiền Chung, Hàm Long, Tiên Tích (đường cái quan), Khán Xuân (Bách thú), Phủ Từ (Hàng Cót), Vĩnh Thuận, Cầu Đông, Yên Thái, Bảo Thiên, Kim Ngư, Gia Ngư, Nam Ngư, Cự Phú, Hà Trung (Ngõ Trạm), Đông Thổ.
Theo bản đưa trên Talawas, 2003
Nguồn: Báo "L' Annam Nouveau", số 140 ngày 2/6/1932
TRONG CÁI ĐƯỢC CŨNG ĐÃ CÓ NHỮNG CÁI MẮT
Ngày đăng 11 tháng 1 năm 2017
FB Nguyễn Thị Hậu ngày 8-1-2017 có bài mang tên “Sài gòn dễ sống”, vốn viết từ 12-2015 nay mới đưa lại. Bài viết ca ngợi khả năng mà thành phố từng là hòn ngọc Viễn Đông bao dung những người nhập cư vào thành phố mấy chục năm nay, nên dễ hiểu là được hoan nghênh.
Dân ta vốn có thói quen nhân hậu “thương người như thể thương thân”.
Trong hoàn cảnh hậu chiến, rồi tới công cuộc phát triển kinh tế tự phát hỗn loạn và những biến đổi khí hậu dồn vào mấy chục năm nay, khả năng bao dung của Sài Gòn thật đáng phục, cư dân mới tới phải biết ơn Sài Gòn lắm lắm.
Mặc dầu trái tim của tôi, phần cảm tính trong tôi đồng tình với một suy nghĩ mà tác giả đã ấp ủ nhiều năm như vậy – tôi cũng có nhiều người thân trong gia đình lập nghiệp ở đây -- nhưng lý trí của tôi lại xui tôi lo bàn thêm với nhà nghiên cứu về đề tài này.
Ý tưởng chính của tôi, bên cạnh sự chia sẻ lại có phần bổ sung, hơn nữa có khía cạnh ngược lại với Nguyễn Thị Hậu, nên chắc sẽ làm cho nhiều bạn không đồng tình.
Nhưng tôi thấy cứ nói ra đây, mong bạn đừng tuyệt đối hóa nó, đừng đối lập tôi với một ý tưởng mà chính tôi cũng chia sẻ.
Cái điều mà tôi ngập ngừng mãi không tiện nói, nhưng cuối cùng vẫn buộc phải nói ra, gói gọn lại là:
-- Chính vì chấp nhận dân nhập cư một cách bị động, một cách xô bồ dễ dãi mà mấy chục năm nay, Sài Gòn có phần bị pha loãng ra, có phần lùi lại, có phần như đánh mất mình; về mặt kinh tế xã hội Sài Gòn không thể trở thành một đô thị được chuẩn hóa, nó là nỗi niềm mà chúng ta thường kỳ vọng nhất ở thành phố.
2/
Tôi sống ở Hà nội từ trước 1954 và sống liên tục tới nay. Sau 10-1954, việc nhập cư vào Hà Nội rất khó khăn, trai gái lấy vợ lấy chồng mà “đối tượng” là người ở các địa phương chung quanh thì không được nhập hộ khẩu.
Mới đầu tôi cũng thấy Hà Nội có cách tự vệ khá tốt trước cái hoàn cảnh tư tưởng tiểu nông bao trùm cả xã hội.
Sau tôi mới hiểu hồi ấy đang thời bao cấp, đưa người nhập cư về là phải lập thêm cho họ sổ gạo cùng các loại tem phiếu, một thành phố trung tâm của một đất nước đã bị phá hoại trong tám năm chiến tranh chịu sao nổi.
Đấy, cái lý của Hà Nội khi hạn chế người nhập cư là vậy.
Chứ xét chung thì sau 10-1954,do sự nhập cư rỉ rả mà thiếu sàng lọc, Hà Nội quê mùa dần, lại cũng nhốn nháo lộn xộn hẳn đi - ai mà không thấy. Người Hà Nội cũ nhiều khi lại có cảm giác lạc lõng không theo kịp xu thế chủ đạo mới.
Cách quản lý Hà Nội bấy giờ không chỉ là phản khoa học -- khoa học quản lý và phát triển đô thị -- mà còn là ngược với kinh nghiệm của ông cha.
Tìm hiểu các lớp người Hà Nội cũ,, người ta được biết là mặc dù hình thành tự phát, song trong quá khứ, đô thị này phát triển trong quá trình sàng lọc với nghĩa dù làm nghề gì ở thang bậc nào chỉ những tinh hoa từ nơi xa tới mới trụ được ở thành phố, những người kém cỏi có nhoi ra đây cũng phải bán xới từ sớm.
Những người nhập cư tài ba và thông minh này đến với Hà Nội với sự hiểu biết tối thiểu thế nào là đô thị, nó khác với sự hồn nhiên tự nhiên vốn có ở nông thôn.
Nhờ thế họ hòa nhập nhanh, còn Hà Nội vẫn phát triển được mà lại là phát triển đúng hướng trở nên một thành phố đầu tầu của cả nước.
Động thái này cũng phù hợp với quy luật hình thành và tồn tại của các đô thị nói chung trên thế giới: Đô thị phải là sản phẩm của trí tuệ.
Đọc mấy ví dụ Nguyễn Thị Hậu đưa ra về thành công trong hòa nhập của dân nhập cư vào Sài Gòn mấy chục năm qua, tôi cứ ước ao giá có cơ quan nào đó có thể nghiên cứu về những phiền toái mà người dân thành phố phải chịu mấy chục năm qua do nhập cư tùy tiện vô tổ chức.
Trong điều kiện của khoa học xã hội hiện đại, điều này hoàn toàn có thể tính được.
Vả chăng không tính đâu xa, ngay mỗi người dân thành phố đã nhập vào thành phố ba bốn chục năm trước cũng đã cảm thấy gánh nặng của dân nhập cư dăm ba năm nay như thế nào.
Đi lại đông đúc hơn bởi đường xá chật chội hơn.
Công việc bị cạnh tranh không lành mạnh.
Các nơi giải trí quá tải.
Trường học trở thành nơi tranh chấp, điều kiện học hành của con cái ta bị phân tán, chất lượng đào tạo bị hạ thấp.
Tóm lại trong khi đón tiếp dòng người từ các vùng xa trở về, một cách bừa bãi tùy tiện, Sài Gòn cũng được nhiều cái lợi thật, nhưng đó là cái lợi trước mắt. Còn về lâu dài nếu không xử lý tốt – mà chúng ta có làm tốt cái gì bao giờ đâu -- một thành phố luôn luôn có những lớp “đất mượn’ như thế này sẽ rất khó vượt qua giai đoạn dông dài và bị động trong những năm chiến tranh để thay đổi theo hướng hiện đại, mà vẫn giữ được cốt cách sang trọng vốn có.
Việc xử lý đúng đắn dân nhập cư không chỉ có lợi cho Sài Gòn mà còn có lợi cho cả nước. Cố nhiên, đây là nhìn từ góc độ phát triển. Còn nhìn từ gó độ khác, chúng ta sẽ có kết luận khác.
RA NGOÀI HỚT PHẦN VÁNG
Ngày đăng 12 tháng 1 năm 2017
Cách thức giao lưu hội nhập quốc tế của người Việt
-------
HỎI
- Chúng ta cũng đã và đang mở cửa và ra với thế giới. Những nhân tố mới sẽ vào, kích thích sự thay đổi, sáng tạo bên trong VN?
TRẢ LỜI
Trong trường kỳ lịch sử , yếu tố bên ngoài luôn luôn đóng vai trò những cú hích thúc đẩy sự chuyển đổi của xã hội. Có điều, các yếu tố đó thường tác động ngoài sự kiểm soát người trong cuộc. Ta không tự nguyện đón nhận. Nghèo là như vậy, kém phát triển, thiếu kinh nghiệm như vậy, nhưng VN lại không biết học hỏi một cách khôn ngoan để chủ động phát triển.
HỎI
- Ông có quá lời? Bản thân người VN vẫn thường tự hào rằng chúng ta là dân tộc thông minh, cần cù, sáng tạo và ham học hỏi?
TRẢ LỜI
Giao lưu là xu thế chung của thế giới. Một nền văn hoá lớn như văn hoá Trung Hoa luôn luôn tự hào là có thái độ chủ động tiếp xúc với bên ngoài, lấy văn hoá ngoại lai làm giàu cho văn hoá mình, và rất nghiêm túc trong học hỏi.
Từ đời Đường đạo Phật của Ấn Độ đã được tiếp thu trên quy mô lớn. Triều đình cử hẳn Đường Tam Tạng qua Ấn Độ lấy kinh và về cho dịch thật kỹ càng thật đầy đủ.
Đến Trung Hoa, đạo Phật ngoại lai có thêm một bước phát triển mới. Người ta nói rằng nhờ học theo lối kể chuỵện trong kinh Phật mà nghệ thuật tự sự nẩy nở dẫn đến sự ra đời của các tiểu thuyết lớn. Từ đời Đường những điệu múa có nguồn gốc Trung Á,... đã xâm nhập vào tận cung đình.
Nhật Bản cũng coi việc tiếp thu nước ngoài như một cái nguồn lớn làm nên sức sống của văn hoá mình.
Riêng về sách thôi, Nhật Bản thiết lập một mối giao lưu thường xuyên với Trung quốc. Một con đường sách trên mặt biển đã hình thành, được coi là tương đương với con đường tơ lụa nổi tiếng. 50-60% sách in ở Trung Quốc có bản lưu ở Nhật Bản.
Còn Việt Nam mình thì sao? Trong các bài báo có đả động qua loa tới lịch sử văn hoá Việt Nam, phần viết về sự tiếp nhận văn hoá nước ngoài thường rất đơn sơ, nhiều ngành nghề nhiều bộ môn nghệ thuật rõ ràng học từ bên ngoài, nhưng lờ đi, coi là ta nghĩ ra. Chỉ một vài việc buộc phải ghi nhận nhưng chỉ nói qua loa và lúc nào cũng không quên nói thêm là chúng ta tiếp thu có sáng tạo.
Trong thực tế sự học hỏi diễn ra khá “tế nhị”.
Từ xưa ta đã học của Trung Hoa rất nhiều, nhưng chỉ học lỏm, bắt chước mà không nghiêm túc tuân theo bài bản, ăn bớt bài gốc của người ta rất nhiều. Đến thời tiếp xúc với văn hoá Tây phương, lúc đầu từ chối, sau buộc phải tiếp nhận thì bên cạnh phần tiếp thụ sáng tạo cũng nhiều phần chỉ qua loa láng cháng, mà tình trạng học đòi những cái lặt vặt lại diễn ra dài dài .
Quan sát bề ngoài, người VN hôm nay thích nghi nhanh, học nhanh.
Nhìn quần áo, đầu tóc, cách nghe nhạc cách chơi xe của người Việt, nhiều người nước ngoài phải kêu lên: sao mà Tây thế!
Thế nhưng đó lại là cái học, cái thích nghi hời hợt, dễ dãi chứ không phải tiếp nhận ở bề sâu văn hóa.
Thành ra nhiều khi chỉ hớt váng, hớt lấy cái phần hời hợt của người và hệ quả tất yếu là những rác rưởi của thế giới đã vào quá dễ dàng, cả rác công nghiệp và rác văn hoá.
Những khó khăn trong việc làm ăn quan hệ với nước ngoài bắt nguồn từ chính chúng ta. Hay dở tốt xấu cái cần cho mình cái phải xa lánh... không có sự phân biệt.
Từ chiến tranh bước ra ta chưa nhận thức đầy đủ rằng mình là một thành phần của thế giới và trước sau sẽ phát triển theo quy luật của thế giới. Cho đến tương lai của ta ra sao, cũng chưa ai hình dung nổi.
Trích bài phỏng vấn "Nâng trình độ sống để thích nghi - phát triển"
XUÂN DIỆU VÀ NHẬN XÉT "TẾT Ở TA LÀ TẾT TRUNG CỔ"
Ngày đăng 12 tháng 1 năm 2017
Im lìm, lặng lẽ vốn là đặc điểm của cuộc sống trầm lặng thời phong kiến. Nhân dịp xuân về, người ta muốn kêu to lên về sự có mặt của mình trong cuộc đời. Những quả pháo được mượn để nói hộ.
Nền sản xuất nông nghiệp thời ấy mang nặng tính cách thời vụ. Khi bận thì bận tối mắt, nhưng ngoài ra chơi dài. Quanh năm đói kém nên chờ đến ngày tết là có dịp xả láng. Chỉ riêng câu ca tháng giêng là tháng ăn chơi đã cho thấy nhịp điệu uể oải chậm chạp của một xã hội u tối.
Đặc điểm của các xã hội hiện đại là sự thu nhập thường xuyên dồi dào dựa trên một nền sản xuất năng động và kỷ luật chặt chẽ. Nghỉ ngơi và làm việc đã luân phiên cả năm. Tự nhiên tết nhất không được phép kéo dài và mỗi người cũng không cần những phong tục ngày Tết rườm rà làm khổ nhau như ở mình.
Phải gọi cách ăn tết dềnh dang là phong cách trung cổ.
Cách gọi đó tôi học từ Xuân Diệu.
Trên tạp chí Tiên Phong số ra ngày 16-2 1946, Xuân Diệu có bài Tết độc lập thứ nhất và tết trung cổ cuối cùng.
Ông bảo cách đón Tết cho thấy dân ta lười quá. Các cửa hàng không chịu mở. Chẳng ai muốn làm gì, ngoài chuyện vui chơi. Đã thế, nó lại kéo dài quá.
Sau khi kêu lên:
"Chúng ta chưa phải là những người lớn hay sao? Chúng ta còn muốn là trẻ con hay sao?",
tác giả đề nghị :
"Chúng ta [hãy] bỏ cái tâm hồn trung cổ, và quả quyết cải cách cái Tết thân yêu của chúng ta, rút nó lại đúc nó thành hai ngày vui vẻ tin tưởng đầy đủ".
Bài viết kết thúc bằng một câu được nhấn mạnh trong nguyên bản:
“Đúc Tết lại, tức là làm cho Tết mạnh thêm, mà kéo Tết dài, tức là giết Tết”.
Lời lẽ hơi bốc, rõ ra khẩu khí của một thời hào hứng, chưa biết đến chỗ khó trong lịch sử và lòng người. Nhưng tinh thần trong cái bài trên đây của Xuân Diệu là tinh thần cách mạng. Hai chữ cách mạng nói ở đây không phải là hè nhau đi đánh ai giết ai. Mà chỉ có nghĩa muốn sống khác đi so với cách sống cũ.
Trích ở bài viết
Xuân Diệu và lời đề nghị "hãy giã từ những cái tết trung cổ"
MẠNH AI NẤY SỐNG
Ngày đăng 14 tháng 1 năm 2017
Nếu từng chiếc xe là biểu hiện của cái tôi, thì đường sá là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống mà ta vẫn sống tuy không bao giờ hình dung ra đầy đủ.
Đó là một trong những ý nghĩ chủ đạo của tôi khi tham gia giao thông hàng ngày từ nhà đến sở. Chúng tôi sắp đến sở. Những công việc đang chờ chúng tôi giải quyết cũng ngổn ngang như tình trạng quá tải mà mỗi con đường phải chịu. Đường sá thời đi xe đạp nay tràn ngập xe cơ giới. Mà cũng chỉ cơ giới nửa vời tức là xe máy. Chúng tôi thì cũng có chuẩn mực gì cho cam. Nếu xe chúng tôi cũng cái cũ cái mới, cái nhập bên tây cái nhập bên tàu thì con người chúng tôi cũng mỗi cá nhân là một thế giới riêng, chẳng ai vừa lòng ai, không ai cộng tác được với ai. Ai cũng mắm môi mắm lợi để cố mà đi cho nhanh trong khi thực tế tốc độ xe cơ giới trung bình chỉ độ hai mươi km một giờ. Và chen chúc. Và lộn xộn nữa. Và nhiều khi chỉ cần một chiếc xe ăn vạ ra đường là gây ùn tắc làm khổ không biết bao nhiêu người mà kể.
BIẾT LÀ KHÔNG NÊN MÀ VẪN NHẮM MẮT LÀM THEO
Trước khi ra đường, thường tôi không quên tự nhủ mình không có việc gì quan trọng, hãy cứ từ từ mà đi, kẻo tai nạn xảy ra thì khốn.
Ây vậy mà nhiều lần nhìn đồng hồ xe máy, thấy đã phóng với tốc độ bốn năm chục ki lô mét từ lúc nào. Hoặc ở những quãng đông, xe mình cũng bóp còi inh ỏi chẳng kém một ai; rồi cũng ra cái điều khoái trá hỉ hả y như bắt được của, khi vượt được người bên cạnh, mặc dầu sau khi phóng như điên đến cái nơi cần đến, cũng chẳng có việc gì quan trọng, mà chỉ làm chén nước và tán gẫu.
Thấy lối đi ấy ở mình đã thành thói quen tự nhiên, và hỏi chuyện những người khác, rồi tôi mới vỡ ra: cái cách đi lại như hiện nay nó làm nảy sinh trong mỗi chúng ta cái tâm lý đua chen. Tức là thường xuyên nảy sinh sự so sánh. Ông này đi ngớ ngẩn quá, bị người ta chèn; còn mấy cậu choai choai kia đi liều đi ẩu song hoá ra lại được việc. Ta hay trông trước trông sau. Và chỉ sợ thiệt. Ta học rất nhanh những thói xấu, xoay sở luồn lách. Hình thành một loại tâm lý đặc biệt: lấy việc hơn người được nửa vành bánh xe làm điều vênh váo.
Nhưng con người có phải cái máy đâu mà thoát được cái tâm lý tầm thường ấy!
NHỮNG LÝ DO THÂM CĂN CỐ ĐẾ
KHIẾN CHÚNG TA KHÔNG THỂ THAY ĐỔI
Sau những lần suy nghĩ về phản ứng của con người trong tình trạng giao thông hiện thời, bản thân tôi thường tự chấm dứt bằng một cuộc đối đáp nhỏ:
-- Thế tại sao lại nẩy ra cách sống cách đi lại như vậy?
-- Tâm lý tiểu nông ăn mãi trong ta. Ta quen đi lại trong những làng quê hoặc những đô thị trung cổ. Sau chiến tranh ta đưa người về thành phố và bảo nhau rằng xây dựng xã hội hiện đại trong khi không hiểu hiện đại là gì nhà cửa phố phường đường xá phải như thế nào
-- Thế nghĩa là tình trạng chen chúc hỗn loạn là bất khả kháng
-- Bất khả kháng. Vì mỗi chúng ta không thể sống khác.
CHỦ NGHĨA KHOÁI LẠC Ở DẠNG DUNG TỤC NHẤT CỦA NÓ
Ngày đăng 18 tháng 1 năm 2017
Sau 1991, đờì sống tinh thần của những người Nga hay sau 1976, người Trung Hoa đã thay đổi ra sao? Tôi thường quan tâm tới vấn đề này để hiểu người Việt thời nay, bởi lẽ tuy cái xác cũ vẫn nguyên, nhưng trong lòng mỗi chúng ta mấy chục năm nay đã biết bao đổ vỡ, chẳng khác chi dân mấy nước mà ta từng coi là mẫu. Về người Trung Hoa, có lẽ chỉ cần đọc cuốn "Huynh đệ" của nhà văn Dư Hoa là chúng ta biết hết . Còn về Nga, chưa tìm được cuốn nào tập trung, tôi chỉ mới đọc được những bài báo nhỏ. Sau đây là những ý tưởng của một nhà văn hóa Nga là Sergei Averintsev mà cũng chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ:
Những sai lầm của quá khứ, kết quả của những nhà tư tưởng đáng giá hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã bị truất ngôi cùng với những hệ tư tưởng cực quyền. Việc truy tìm gốc rễ của cái xấu ở thời xa xưa trong lịch sử tư tưởng đang được theo đuổi ráo riết.
Tuy nhiên vẫn còn những lý do để lo âu. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhận ra những dấu hiệu của một chủ nghĩa khoái lạc rất phàm tục.
Ở một nước còn rất thiếu hàng hóa như nước Nga, cái chủ nghĩa khoái lạc này càng trở nên dữ dội vì người ta đã bị bỏ khát quá dài và giờ đây đuổi theo khoái lạc bao nhiêu cũng luôn luôn cảm thấy chưa thỏa.
Thứ đến là là sự biến mất tăm của nền văn hóa với đặc trưng là ý thức liêm sỉ hoặc thói quen biết xấu hổ.
Và cuối cùng là sự xuất hiện một chủ nghĩa phi lý hẩu lốn trộn nháo nhào các giá trị tư bản chủ nghĩa và mác xít.
Rồi một thứ nữa không phải là dung hợp càng không phải tổng hòa mà chẳng qua là một sự nhập cục cơ học cả Ford, Freud, lẫn Marx trong cùng một cấp độ trong một thế giới không thượng đế.
Dục năng (libido) đang xâm chiếm đời sống, không phải chỉ là một thứ dục năng nhục thể mà - lạ thay - cứ như là máy móc đang trở nên đầy thèm khát hoặc bản chất con người đang biến dạng để trở nên máy móc vậy.
Ngày nay ở nước Nga thật khó nói đến một ý thức biết xấu hổ.
Kể cũng cần thiết là việc người ta sổ toẹt cả một loạt quy phạm phẩm hạnh giả dối mà trước đây người ta áp đặt cho họ. Nhưng rồi người ta đi tới đâu ?
Cũng có thể nói là người ta trở lại với một tình trạng trống trơ của trẻ con, nhưng đó chỉ là bề ngoài, những đứa trẻ con này đã bị làm hỏng để trở nên thối rữa tự bên trong.
Đã đành những quy phạm ứng xử thời Xô viết chỉ là biếm họa của một thứ văn hóa liêm sỉ đích thực. Nhưng từ bỏ nó, không phải là người ta tới được sự cao thượng về tâm hồn. Thay thế vào đó, chỉ là những lệch lạc mới, chẳng hạn thói đạo đức giả và nhất là xu thế chạy theo khoái lạc tầm thường mà người ta tưởng là biểu trưng của tự do.
Trong trường hợp này phải nói bản chất tự nhiên của con người cũng bị đe dọa.
NƯỚC NGA ĐÃ ĐẾN HỒI CÁO CHUNG?
Ngày đăng 19 tháng 1 năm 2017
So với bài đưa hôm qua của Averintsev bài dưới đây của Ju. Afanasiev có cái nhìn bao quát hơn về xã hội Nga sau 1991. Cả hai đều được đưa vào bài viết trên blog của tôi ,
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/04/nuoc-nga-hom-qua-nuoc-nga-hom-nay.html
nay xin trích ra đưa lại với bạn đọc FB. Mong mỏi của tôi chỉ là tìm ở đây những gợi ý để ta suy nghĩ về xã hội ta hôm nay
Mở đầu là câu hỏi "Chúng ta không phải là nô lệ sao?"
Tác giả cho biết nay là lúc những người cầm quyền chỉ coi Nhà nước Nga là phương tiện để trộm cắp. Những người cầm quyền ấy giống như những kẻ chiếm đóng, một lũ mọi rợ.
Hư vô về luật pháp. Vô luân. Nomenkluctura --bộ máy quan liêu -- thao túng tất cả.
Nhìn đất nước thấy trống rỗng. Hướng về chính phủ thấy trống rỗng. Hướng về nhân dân trống rỗng hơn. Cảm tưởng mình như kẻ mất trí.
Người ta vẫn nói Nhà nước và nhân dân là một. Nhưng dưới góc nhìn duy lý, nay nhà nước không phải nhà nước, nhân dân không phải nhân dân.
Nhân dân đang khổ đau, một thứ nỗi khổ mà, nói như N.M.Karamzin, “chỉ những kẻ đê mạt mới chịu đựng nổi”. Họ hiện nguyên hình là một đám đông vô ý thức, sẵn sàng bạo loạn. Một thứ điên rồ đáng sợ, đáng buồn, đáng tởm nữa. Thỉnh thoảng vùng lên rồi họ lại nhanh chóng trở về cuộc sống tối tăm.
Sức lực quần chúng bị bóp nặn bằng bạo lực. Tình trạng ngột ngạt bao trùm. Sự trì trệ là đặc thù tính cách Nga.
Nước Nga từ xưa vốn thay đổi như theo đường vòng. Xây dựng chủ nghĩa xã hội = xoá bỏ nhân tố con người. Nay vẫn tiếp tục làm biến dạng con người.
Trước thế kỷ XX, nhân dân có tự tổ chức thành một cộng đồng. Từ cách mạng, phá bỏ. Quá trình tự tổ chức xã hội chỉ còn là quá trình phớt lờ cấm đoán, tội phạm, tham nhũng.
Cách mạng 1917 làm sống dậy những điều tồi tệ nhất: bản năng thú vật, tính ích kỷ. Sau 10-91 chẳng có điều gì xảy ra. Chính quyền, toà án, giáo dục … tất cả vẫn như cũ. Mọi thành viên trong xã hội chỉ bị chi phối bởi quyền lợi vật chất và cố gắng tồn tại.
Sau 1991 người ta đi bầu cho Yeltsin. Họ không thể có những hành động có ý thức của những con người được tổ chức về mặt xã hội.
Họ vẫn là những đám đông nhu cầu như nhau, suy nghĩ giống nhau, gào lên những điều giống nhau, tạo nên những tấm phông, mà nhảy múa trên sân khấu là những con chuột của lịch sử.
Sự khốn nạn đang đi từ cực kỳ tệ hại sang tệ hại hơn.
Yeltsin – Putin không làm gì để cải tạo “truyền thống”. Người ta buộc phải dùng đến cái từ hoang dã nếu muốn miêu tả sự quay trở lại của một quá khứ chuyên chế lạc hậu. Lịch sử nhiều thế kỷ của Nga, lịch sử thời xô viết cùng lúc hiện diện.
Nhà nước phường hội, nhà nước thân hữu hôm nay chẳng qua là một thứ quái thai hậu xô viết. Nó đang quay về quá khứ, tức trở về nơi mà mọi thứ đều bị nhà nước đè bẹp, không có chỗ cho xã hội công dân, không có chỗ cho luật pháp.
Sự chấp nhận các định chế kinh tế thị trường một cách hời hợt có tạo ra vẻ ngoài hiện đại trùm lên bộ máy quản lý chính trị. Sau đó tất cả lại tự phát. Đây là xã hội lý tưởng của bọn mediocre ( bọn tầm thường ).
Trí thức vốn có nghĩa tổng số những nhân vật có sự tìm tòi mở đường trong lĩnh vực của mình. Sự tìm tòi đó thành mẫu cho kẻ khác noi theo mà sống. Khái niệm giới elite – tức giới tinh hoa-- liên quan đến khái niệm hiện đại hoá - phát triển.
Ở nước Nga hiện nay trí thức chân chính thực sự đứng bên lề, vì đất nước từ trên xuống không có cái nhu cầu hiện đại hoá đó. Tri thức (thực thụ) ngày nay sống khép kín.
Nga luôn luôn hướng về quá khứ. Nước Nga không có chỗ cho người thích sống tích cực và độc lập. Sự tự khám phá bản thân -- sự tự nhận thức -- là bất khả thi.
Chế độ quyền uy thao túng tất cả. Đàn áp đã làm tê liệt mọi ý tưởng đổi mới.
Trong lịch sử những người có học ở Nga --kể cả người tự do -- nếu muốn tồn tại, cũng chỉ có việc là góp phần củng cố quyền lực nhà nước. Chính quyền họ tôn phò đó là chính quyền chuyên chế.
Từ thế kỷ XV, nước Nga đã chỉ lo mở rộng đế chế hơn là tự do cho xã hội.
Thời xô viết tiếp tục mà nay cũng vậy. Thậm chí có nhiều khía cạnh nay còn tệ hại hơn các thế kỷ trước.
MỘT VÀI BIẾN DẠNG CỦA TẾT
Ngày đăng 21 tháng 1 năm 2017
Các sách viết về phong tục người Việt thường đã miêu tả mọi ý nghĩa tốt đẹp của tết cổ truyền.
Nhưng ngay từ các thế kỷ trước, tết đã có những biến dạng và càng những tết gần đây, thì sự biến dạng của cái phong tục cổ truyền này càng mang nhiều nét kỳ dị, vậy mà chưa thấy ai mô tả.
Tôi thử tìm cách ghi lại một vài biểu hiện.
TẾT XẢ LÁNG
Tết là gì? Tết có nghĩa là dịp để xả láng, để người ta tự cho phép mình làm tất cả, miễn sao chứng tỏ được sự tồn tại của mình trên đời.
Trong cuốn "Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng ngoài" của thầy dòng Richard in ở Paris 1778 mà tôi đã lược thuật
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2011/05/xa-hoi-ang-ngoai-hai-ky-truoc.html có một đoạn miêu tả về Tết như sau :
“Những lễ hội này kéo dài ba mươi ngày và diễn ra với những trò vui, những cuộc thăm viếng và tiêc tùng liên tục. Người ta trao cho nhau những món quà. Thời gian này rất có lợi đối với tất cả những người có vị thế, nhất là với những viên quan lại được nhận nhiều quà từ khắp nơi, đối với những thầy giáo, những nhà sư và ngay cả những nhà truyền giáo—những người này nhận được quà của các tín đồ. Tất cả những trò tiêu khiển nổi tiếng, tất cả những trò vui tập trung lại ở nơi công cộng, ở trong nhà. Người ta chỉ nghe khắp nơi âm thanh của những nhạc cụ. Người ta dựng những khán đài ở góc phố, nơi trình diễn những chèo hài mua vui cho giới bình dân. Sự phàm ăn và phóng túng diễn ra nơi nơi. Không hề thấy có những người Đàng Ngoài nào dù nghèo khổ đến đâu đi chăng nữa mà lại không thiết đãi bạn bè, dù sau đó họ phải đi ăn mày cả năm.”
TẾT KHOE CỦA
Một năm khoảng hăm tám Tết, vào nhà một người quen, thấy một cấy quất quá đẹp, chỉ phiền là nó lùm lòa che lấp mất cả cái bàn ngồi uống nước. Có cảm tưởng ngồi bên một cây quất như thế người ta sẽ không nói được chuyện gì nữa, mà chỉ nghĩ về quất, thương cho vẻ đẹp của nó bị ép chặt trong những căn nhà trọc phú.
Trong "Thảo nguyên", Tchekhov khi viết về một cây bạch dương đơn độc đã cho một nhân vật tự hỏi “ Đẹp như thế cây có buồn không?”. Hôm nay, tôi cũng muốn hỏi như thế.
Một người Việt từ hải ngoại về viết trên trang blog của mình “Việt Nam vẫn tự hào mình là nước xã hội chủ nghĩa mà về lý thuyết các dịch vụ cho người dân phải ưu việt và mang tính nhân bản. Nhưng những câu chuyện mà tôi nghe được cho thấy một xã hội phát triển với nhiều nét hoang dã. Một cựu quan chức nhà nước nói vị đại sứ Nhật khi hết nhiệm kỳ ở Việt Nam mới đây đã đưa ra mấy lời khuyên đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông bảo để phát triển người Việt phải bỏ thói háo danh, ăn cắp vặt và hủy hoại môi trường. “
Trong thói ham cây quất to, đã thấy có vấn đề háo danh ( có phần đồng nghĩa với bệnh hiếu đại).
TẾT HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG
Trong bài "Thế nào là một cành đào đẹp?" tôi từng nói về vẻ đẹp của những cành đào trồng trong vườn thời nay, nó xa lạ với
vẻ đẹp cổ điển trong những cành đào mà người xưa ưa chuộng ra sao --
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/02/nao-la-mot-canh-ao-ep.html
Để phá thế bế tắc đó, một số người Hà Nội thời nay chuyển sang chơi đào dại.
Khoan hãy nói về mặt mỹ cảm, ở đây tôi chỉ nói mặt sinh thái. Báo Đại Đoàn kết sau tết 2012, có bài cho biết, để phục vụ thói ham chơi kiểu này, rừng đào dại ở các tỉnh miền núi phía bắc đã gần như bị xóa sổ. Có những ông già miền núi nhớ đào quá phải lấy cành khô về, dán hoa giấy lên cành bày trước nhà cho đỡ nhớ.
Với người Việt, yêu hoa có nghĩa là mang hoa về ngay trong nhà mình cho thiên hạ...nhìn mà thèm.
Còn ở nhiều nơi khác trong đó có Trung quốc, theo tôi biết ngưởi ta quan niệm cách tốt nhất để yêu đào yêu mai là cả cộng đồng trồng cả những cánh rừng lớn đào mai rồi giêng hai rủ nhau làm cuộc du xuân.
Một lần theo tua du lịch đến vùng ngoại ô thành phố Nam Kinh, tôi đã được nghe nói cạnh lăng Tôn Trung Sơn có bạt ngàn những đồi mai từ đời Minh còn lại đến ngày nay.
TỪ GIA ĐÌNH RA XÃ HỘI
SỰ HỖN LOẠN LÀ KHÓ TRÁNH
Ta hay bảo nhau tết ở VN là tết của gia đình.
Nhưng như thế tức là chúng ta không biết cách tổ chức tết cho cả cộng đồng. Xưa đã thế mà nay cũng thế.
Ai đó sẽ bảo thế các hội làng tồn tại từ bao đời nay thì sao.
Tôi muốn cãi lại rằng phải chú ý tới tư duy con người, ở ta nó biến chuyển có khi nhanh nhưng nói chung chậm lắm. Tôi không tin kinh nghiệm rút ra từ những đám hội của những làng xóm rời rạc --- nay lại có thể vận dụng để đứng ra tổ chức những lễ hội hiện đại.
Sự thực thế nào, tất cả chúng ta đã biết.
TẾT TRONG VĂN HỌC TIỀN CHIẾN
Ngày đăng 24 tháng 1 năm 2017
Mươi mười lăm năm trước tôi cũng thường viết báo tết. Ngoài
những thể nghiệm cá nhân , tôi đọc lại các nhà văn tiền chiến xem các ông viết về Tết ra sao. Nhờ đó tôi có tìm thấy một vài nét chung về tết của người Việt.
Xin tạm giới thiệu mấy bài sau
16 /1/ 2012 "Xuân & tết với con người tiền chiến"
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/01/tro-lai-voi-cac-bai-bao-tet-viet-nhung.html
22 /1/ 2012 Thạch Lam & những cái tết thanh đạm
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/01/thach-lam-nhung-cai-tet-thanh-am.html
23/1/2009 Cái tết của những nhà đại văn hào
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2009/01/tu-ao-tuong-hao-huyen-en-co-thay-trang.html
THƠ ĐỌC CUỐI NĂM
THƠ ĐỌC CUỐI ĐỜI
Ngày đăng 25 tháng 1 năm 2017
Những ngày trời đất giao mùa thời tiết bất thường mà lại buồn bã, không làm được gì, tôi thường tìm chỗ bấu víu ở những cái mà lâu nay mình đã đọc.
Nhưng cái phần gia tài tôi tích cóp bấy lâu dù mỏng mảnh mà vẫn lộn xộn ngổn ngang, thứ giàu khả năng bao quát đời sống như SỬ thì tiếp cận khá muộn, thứ có nhiều hơn và thuộc nhiều hơn là văn chương thì không hiểu sao nay thấy phần lớn là phù phiếm.
May quá, có những bài thơ, ví như bài dưới đây, tác giả là nhà thơ Pháp Josephine Soulary (1815 - 1891), tôi đã chép được từ sổ tay Xuân Quỳnh khoảng 1968 - 1970, mà Xuân Quỳnh chép được từ một bạn văn khác, chính thức thực tôi cũng không biết ai là dịch giả.
Tôi cho là loại thơ như thế này có thể đọc lại mỗi khi người ta muốn nhẩn nha men theo chiều dài cả cuộc đời mình.
HAI ĐÁM RƯỚC
Hai đám rước gặp nhau ở nhà thờ
Một đám thì buồn – nó mang theo quan tài một đứa bé
Một người đàn bà đi theo quan tài, bà gần như điên, cố nén một tiếng nấc trong cái ngực đang bốc cháy, nó như bẻ gẫy bà ta.
Đám rước kia là một lễ rửa tội
Một đứa bé mới sinh miệng ọ ẹ, đang ngọe nguậy trên cánh tay người đàn bà nâng niu nó
Mẹ nó đặt vào miệng nó cái vú với dòng sữa dịu ngọt
Mẹ nó ôm nó choàng lấy tất cả nó trong một cái nhìn kiêu hãnh của conngười vừa tạo được một kỳ công
Người ta ta làm lễ rửa tội, và nhà thờ dần vắng người
Hai người đàn bà lúc ấy gặp nhau dưới chỗ niệm kinh
Họ trao cho nhau cái nhìn kín đáo, và cả hai đều giống nhau ở chỗ vừa nhìn
đã quay đi hướng khác.
Và (có lẽ là) bởi sự biến cải kỳ diệu mà lời cầu nguyện đã tạo nên
Người mẹ trẻ khóc lúc nhìn quan tài
Còn người mẹ (có con chết) lúc trước vừa khóc, thì lại cười lúc nhìn đứa bé mới đẻ.
CHÚNG TA LÀM CHỦ NHƯ THẾ NÀY ĐÂY!
Ngày đăng 26 tháng 1 năm 2017
1/ Sớm nay 28 tết, trên đường ra bãi giữa sông Hồng, nhìn vào một ngôi nhà mặt đường mới mở, tôi thấy cả một cây đào dại cao chất ngất ở bên ngoài. Liên quan đến tết, tôi hiểu rằng cuộc sống của những trọc phú thời nay thường bao gồm cả sự khoe của, bao gồm cả khoe khả năng liều lĩnh dám làm bất cứ việc gì có tiền và nghiễm nhiên coi đó là độc đáo, là hơn người.
Dăm bảy năm trước, việc chơi đào dại của dân Hà Nội còn khá từ tốn. Người ta chỉ bẻ về bán những cảnh có dáng lạ và hoa nở đều. Nay thì thượng vàng hạ cám, cứ đào dại là mang về, đào dại bày bán ở mọi ngõ xóm, đào dại là thứ thỏa mãn tâm lý bất cần đời của người nghèo. Một cuộc đại tàn sát đã xảy ra. Trong khi leo lẻo bắt chước thế giới là quan tâm tới môi trường, chúng ta có hiểu gì về lời chúng ta nói đâu. Nhớ hồi tháng sáu, báo chí đưa tin ông thủ tướng đương nhiệm có lệnh đóng rừng. Mở google, đặt bốn chữ lệnh đóng cửa rừng trong ngoặc kép, tôi chỉ tìm được con số 4701 và toàn những bài cũ rích Có nghĩ rồi cũng không làm được. Nữa là nay chúng ta còn không buồn đặt chuyện bảo vệ môi trường vào đầu óc của mình. Bao giờ thì việc chặn đứng sự phá hoại môi trường mới được thực thi? Bao giờ ?
2/ Bàn về việc đưa người các vùng văn hóa khác lên Tây Nguyên mấy chục năm nay, trong bài viết trên FB ngày 19-12 tôi mới đả động qua loa tới môi quan hệ giữa những cộng đồng nhỏ với thiên nhiên, nhất là giữa những con người vừa di cư với môi trường mà họ mới tới sinh sống.
Lúc này đây, tôi nhớ tới cảnh một cảnh tết trong truyện "Quê người "của Tô Hoài. Ngày tết túng đói quá, gia đình anh Thoại phải đi săn lùng những con chó sợ pháo, rồi bị người ta đánh bị thương, cả gia đình ngay đêm ấy phải bỏ làng ra đi.
Đi đâu? Lên rừng, ngày xưa gọi là miền ngược ma thiêng nước độc.
Trong truyện ngắn "Mua nhà", Nam Cao cũng để cho nhân vật thất cơ lơ vận bỏ vợ con ở nhà lên rừng hòng kiếm chút vốn liếng.
Và xa hơn nữa là câu thơ Tú Xương;
“Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non”
Theo nhà nghiên cứu Pháp P. Gouru, tác giả cuốn “Người nông dân châu thổ Bắc bộ” - đồng bằng sông Hồng thuộc loại những vùng đồng bằng có mật độ dân cao nhất thế giới.
Đến nay tôi đoán vẫn thế.
Hôm qua con người nghèo túng nơi đây đã coi rừng rú là nơi tha hồ phá phách.
Thứ “văn hóa rừng” của chúng ta -- văn hóa với nghĩa hiểu biết về rừng biết cách chung sống với nó lâu dài bảo vệ rừng lâu dài -- cái đó hoàn toàn không thể so được với đồng bào Tây Nguyên đã ở đây từ bao đời nay.
Xưa chưa có phương tiện đành chịu.
Nay trong cơn đói kém, lại sẵn phương tiện hiện đại, người ta làm thịt rừng dễ dàng hơn nhiều, phần phá phách rừng này rỉ rả mỗi ngày một ít nhưng so với phần phá của các nhà tư bản lên rừng thuê lâm tặc xẻ gỗ về xuôi, không chắc bên nào chịu kém bên nào.
3/ Trong một chương trình thời sự 19h VTV1 những ngày đầu năm 2017, chỗ phần tin không có hình, tôi đọc được một câu ngắn nói rằng 4,5 nghìn hộ dân Tây nguyên được chia đất mới và họ sẽ dựa vào rừng để mưu sinh.
Vậy là ta tự phá ngôi nhà của mình, ta hy sinh tương lai cho hiện tại . Khi tự đặt cho mình câu hỏi tại sao cái việc tàn phá hoàn cảnh như thế này xảy ra, tôi tạm tìm thấy câu trả lời:
-- vì trình độ sống của chúng ta còn thấp. Nói rõ hơn là hiểu biết của cộng đồng về quá khứ lẫn hiện tại đã mù mờ, đến như tương lai thì càng không hình dung ra nổi.
-- vì chúng ta có một thứ chủ nghĩa tập thể rất thú vị. Cứ việc gì cả làng cả xóm cùng làm thì bậy mấy sai mấy cũng không bao giờ có tội. Thời còn hợp tác xã ở miền bắc một người ăn cắp không được, chứ cả tổ cả đội đồng lòng thì tha hồ.
-- vì chúng ta không biết phát triển là gì và đang sùng bái sự ổn định. Cứ việc gì góp phần vào sự ổn định trước mắt là được phép làm tất.
Cuộc chiến 1945 -75 có một lý do chính đáng là chống ngoại xâm giành quyền làm chủ đất nước. Cả triệu người hy sinh xương máu. Hàng chục triệu người tàn phế cả về thân xác lẫn tâm hồn. Xã hội lùi lại cả một giai đoạn văn minh tới mức đến nay sau hơn bốn chục năm hậu chiến dù có phồn vinh bên ngoài vẫn hoang dại bên trong ...
Nay chúng ta đang làm chủ như thế này đây.
NHỮNG CUỐN SÁCH VƯỢT TRÊN THỜI GIAN
Ngày đăng 30 tháng 1 năm 2017
“1984” của G. Orwell và
“Hội hè miên man” của Hemingway
Trên RFI Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017 có bài viết của Thụy My mà tôi sao chép nguyên văn dưới đây:
Số bán tiểu thuyết « 1984 » tăng gấp 100 lần nhờ Donald Trump
https://thuymyrfi.blogspot.com/2017/01/so-ban-tieu-thuyet-1984-tang-gap-100.html
(AFP, Les Echos 23/01/2017) Khái niệm « Sự thật tương đối » mà một cố vấn của Donald Trump nêu ra, đã khiến số bán cuốn tiểu thuyết « 1984 » của nhà văn George Orwell – là cuốn sách đầu tiên đưa ra khái niệm này – đã tăng vọt. Nhà xuất bản hôm 25/01/2017 phải đặt in thêm 100.000 bản cho cuốn sách đã ra đời từ 68 năm trước.
Phát ngôn viên Nhà Trắng Sean Spicer khẳng định số người đến chứng kiến buổi lễ nhậm chức của tân tổng thống là đông đảo chưa từng thấy, bất chấp các bằng chứng ngược lại. Để bênh vực Spicer, cố vấn Kellyanne Conway hôm Chủ nhật 22/1 nói rằng đây là những « alternative facts » (tạm dịch : « sự thật tương đối »).
Đám đông hiện diện hôm nhậm chức của Donald Trump ít hơn rất nhiều so với số người đã đến mừng Barack Obama bước vào Nhà Trắng năm 2009.
Nhiều phương tiện truyền thông nhanh chóng nhận ra cụm từ « sự thật tương đối » của bà Kellyanne Conway đã được sử dụng lần đầu tiên trong tiểu thuyết « 1984 », mô tả một xã hội mà chính quyền kiểm soát chặt chẽ mọi thông tin. Tác giả người Anh George Orwell đã đưa vào khái niệm « tư tưởng song đôi », trong đó chính phủ sản xuất ra phiên bản của mình và áp đặt đó là sự thật, bên cạnh thực tế ngoài đời. Đó là một Luân Đôn tưởng tượng vào năm 1984, tự do ngôn luận không còn hiện diện, mỗi ý nghĩ đều bị chế độ toàn trị giám sát. « Bộ Sự thật », trên thực tế là bộ Tuyên truyền, viết lại lịch sử khi cần thiết.
Sau khi cuộc tranh luận nổ ra vài tiếng đồng hồ, số bán cuốn sách «1984 » - xuất bản lần đầu năm 1949 – đã tăng vọt. Tác phẩm này hôm thứ Tư 25/1 dẫn đầu bảng những cuốn sách bán chạy nhất trên trang web bán hàng Amazon.
Theo một phát ngôn viên của Signet, chi nhánh nhà xuất bản Penuguin Random House, giữ bản quyền cuốn sách này tại Hoa Kỳ, thì số bán cuốn « 1984 » của George Orwell (cũng là tác giả cuốn sách nổi tiếng « Trại súc vật ») đã tăng gấp 100 lần từ khi Donald Trump nhậm chức, tức khoảng 9.500%.
***
Từ bài viết trên, tôi nhớ tới một trường hợp khác, bài của Tuấn Thảo viết sau cuộc khủng bố ở Pháp cuối 2015, cũng đưa trên RFI 24-11 2015
"Paris là một ngày hội": Tinh thần kháng cự của dân Pháp
http://vi.rfi.fr/phap/20151124-paris-la-mot-ngay-hoi-tinh-than-khang-cu-cua-dan-phap
Đây là đoạn trích:
Quyển tiểu thuyết ‘’Paris est une Fête’’ (tạm dịch "Paris là một ngày hội"; một bản dịch tiếng Việt gọi là "Hội hè miên man") của nhà văn Ernest Hemingway trở thành tựa sách bán chạy nhất tại Pháp, chỉ vài ngày sau đợt khủng bố tại thủ đô Paris Vì sao ?
Trả lời câu hỏi này, tờ báo Công giáo La Croix cho biết đó là vì tác phẩm này đã bất ngờ trở thành biểu tượng của tinh thần kháng cự, sức bền bỉ chịu đựng của người dân Paris.
Theo lời ông David M. Ducreux, làm việc cho tủ sách bỏ túi Folio, thuộc nhà xuất bản Gallimard, mỗi ngày có khoảng 10 quyển sách ‘’Paris là một ngày hội’’ được bán trên thị trường Pháp.
Sau đợt khủng bố, số lượng sách bán chạy được nhân lên gấp 50 lần, tức khoảng 500 quyển mỗi ngày. Tác phẩm của Hemingway hiện đứng đầu danh sách best-seller tại các nhà sách cũng như trên các mạng amazon và fnac.com. Nhà xuất bản Gallimard buộc phải in thêm 15.000 quyển để đáp ứng nhu cầu của người mua.
VINH QUANG CỦA VĂN CHƯƠNG
Tôi rút ra cho mình một bài học:
Giá trị của một tác phẩm mà mọi nhà văn chân chính trên thế giới đều biết, đó là khả năng vượt qua thời gian, vượt qua các sự kiện cụ thể mà nó mô tả để gia nhập vào cái vĩnh viễn.
Thực ra cái mà văn chương cần ghi nhận nhất là tâm trạng, là sự suy nghĩ của con người, cái đó mới trường tồn trong lịch sử.
Riêng trường hợp của George Orwell, thì việc ông sáng tạo ra cụm từ “ sự thật tương đối " còn có ý nghĩa tiên tri. Nó có thể áp dụng với cả chúng ta hôm nay.
Còn có vinh dự nào hơn?
Trong bài Thụy Mi, hai chữ «alternative facts» được tạm dịch : « sự thật tương đối ».
Theo tôi, để rõ ý hơn nên, nên ghi chú thêm « alternative facts»
là sự thật tùy nghi, sự thật hiểu thế nào cũng được, sự thật hiểu ngay ở cái nghĩa đối lập của nó.
NHÂN NGÀY XUÂN
NÓI VỀ Ý NGHĨA CÁC LOÀI HOA
Ngày đăng 31 tháng 1 năm 2017
Mỗi năm xuân về đây
Hoa nói gì với người
Lòng đời chắc lạnh lắm
Hoa nói hoài không thôi
- Huy Cận -
Hẳn nhiều người chúng ta cùng có cái câu hỏi ấy của Huy Cận. Cả ở Đông lẫn Tây, người ta nghĩ ra, người ta gán cho mỗi loài hoa một tiếng nói. Tập hợp lại gần như có cả một hệ thống ý tưởng. Trên báo Lao động tết Kỷ Tỵ 1989, có một đoạn văn sưu tầm mà tôi muốn giới thiệu lại sau đây.
1/ Mỗi loài hoa là một biểu tượng
- Hoa mai ở phương Tây chỉ sự vô tình, phương Đông chỉ người có tâm hồn thanh cao.
- Thuỷ tiên ở phương Tây chỉ kiêu căng, ích kỷ, ở phương Đông chỉ sự thuỷ chung.
- Hoa đào: người con gái đẹp.
- Hoa cam: trinh bạch, cô gái đội vầng hoa cam về nhà chồng.
- Hoa mào gà: sự say mê hăng hái.
- Hoa lay-ơn: sự hẹn hò
- Hoa mẫu đơn: mối tình trọn vẹn cả đời
2/ Không phải chỉ riêng hoa mà hệ thống màu sắc nói chung cũng được quy định thành ra có ý tượng trưng:
- Màu trắng chỉ trong sạch
- Màu xanh nhạt chỉ xoa dịu, đam mê
- Màu hoàng yến chỉ đàng hoàng, kiêu hãnh
- Phấn hồng chỉ êm ái , ôn nhu
- Tím cà chỉ lâng lâng thoát tục
- Tím than chỉ an ủi đau thương
3/ Những phẩm cách mà người ta gán cho hoa:
- Bông hồng: đắm say trìu mến
- Hồng nhung: say đắm
- Nhài: ngây ngất
- Lưu ly: chia tay, phản bội
- Cúc: bao giờ cho hết khổ đau
Ở phương Đông
- Hoa sen: tượng trưng cho người quân tử
- Cúc: tượng trưng cho người ẩn dật
- Cúc bách nhật: tượng trưng lòng chung thuỷ phụ nữ
- Huệ: tượng trưng thanh khiết
4/ Giống như một thứ trung gian của tình cảm, hoa lại còn có thể thay cho tiếng nói:
- Mã tiền: nỗi lòng kín đáo chẳng ai hay
- Dạ hương: ấp úng không nói nên lời
- Đồng thảo: khiêm tốn
- Hoa trà: biết đâu mà tìm
- Thuỷ cúc: yêu ai hơn hết
- Uất kim hương (tulip): chiến thắng tức là tái sinh
- Cẩm chướng: thầm tạ ơn lòng
LÀM SAO ĐỂ THÊM CHẤT TRÍ TUỆ CHO LỄ HỘI?
Ngày đăng 3 tháng 2 năm 2017
Nguyên là bài “Đi lễ hội để cầu may và cầu lợi?”
Bài đưa lần đầu trên Pháp luật TPHCM online, 2010,
*
Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm, muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo, bắt Tấm chọn xong mới được đi.
Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng. Có một ma lực nào đó cứ lôi cuốn tôi mặc dù lý trí đã bảo tôi rằng không nên đi tìm ảo ảnh. Mỗi năm mỗi có thêm những lễ hội tổ chức kém, luộm thuộm, cẩu thả, nó là tình trạng chung của các hoạt động công cộng hiện nay. Vào cái “Tháng Giêng là tháng ăn chơi này”, đây là câu chuyện đầu miệng giữa mọi người và đã được báo chí khai thác dưới nhiều góc độ… cười ra nước mắt.
Vấn đề tôi muốn đề nghị mọi người cùng suy nghĩ hôm nay là tại sao lễ hội lại diễn biến theo kiểu đó. Tại sao dần dà chúng ta đã làm hỏng lễ hội đi trong khi vẫn bị cuốn theo nó và có vẻ như không thể thoát khỏi nó.
NHU CẦU TÂM LINH TRONG NHỮNG CON NGƯỜI CỔ LỖ
Trong một công trình nghiên cứu được sự bảo trợ của Viện Harvard Yenching mang tên Sự biến đổi của tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay (in 2006), ngay trong phần dẫn luận người ta đã đọc được một nhận xét đại ý nói trong xã hội hiện đại, sự hồi sinh của tôn giáo, kể cả hình thức sơ khai như các lễ hội, các cuộc hành hương cầu cúng… chính là một cách phản ứng của con người trước những thay đổi lớn lao mà nền kinh tế thị trường mang lại.
“Có cung nên mới có cầu”. Như một phóng viên báo Pháp Luật TP.HCM đã nêu trong bài phỏng vấn, chính những người đang đảm nhiệm thứ dịch vụ niềm tin, tức là các ban tổ chức đã biện bạch cho công việc của mình như vậy.
Nhu cầu nói ở đây trước tiên là trên phương diện tinh thần. Vào những ngày xuân, trong mỗi con người chúng ta thức dậy cả một định hướng tâm linh. Muốn tìm tới phần sâu kín trong chính mình và chung quanh. Muốn hiểu, muốn tự cắt nghĩa.
Trở về cội nguồn… Cố kết với cộng đồng thông qua các biểu hiện thờ cúng… Cân bằng đời sống tâm linh… Vừa sáng tạo vừa hưởng thụ văn hóa… Những luận điểm ca tụng lễ hội đã được các nhà nghiên cứu văn hóa ở ta nêu khá đầy đủ và nhiều người chia sẻ nhưng đó mới chỉ là một phần sự thực.
Nguyễn Văn Huyên từng viết trong Văn minh Việt Nam (1944) người Việt chỉ có những niềm tin mơ hồ. Đời sống tôn giáo của con người ở đây không lấy gì làm sâu sắc cho lắm. Ở người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy. Ngày nay chúng ta vẫn chưa tiến được xa bao nhiêu so với con người mà Nguyễn Văn Huyên miêu tả.
TÂM LÝ CẦU LỢI ĐANG CHI PHỐI
Gần như trong lòng mọi người đi hội, một mục đích kép đã được đặt ra, đồng thời với việc hành hương Văn hóa, ta đặt vào đấy khá nặng những nguyện vọng cá nhân như là cầu may và cầu lợi.
Tâm lý cầu may vốn là bạn đường của những con người bối rối. Thế giới luôn luôn hàm chứa những bất trắc. Cuộc sống còn nhiều bóng tối, người ta đánh mất cả niềm tự tin, thường xuyên họ cảm thấy họ chỉ là vật hy sinh của số phận. Cuộc truy đuổi vận may không biết có hứa hẹn kết quả gì không nhưng có làm vẫn hơn. Những lực lượng siêu nhiên và cả những ngẫu nhiên bất chợt thành chỗ bấu víu cho những ảo tưởng.
Bởi sự bất trắc cũng đang bao trùm trong việc làm ăn nên khía cạnh cầu may cũng đã có mặt trong việc cầu tài cầu lợi.
Thực tế là "bao người tử tế vì không biết trơ tráo, liều lĩnh làm càn" vẫn thất bát,
ngược lại làm bậy vẫn " thắng lớn", giỏi mưu mô, xảo quyệt tự khắc giàu lên đùng đùng.
Trong những lúc lắng lại đối diện với mình, những kẻ thành đạt bằng con đường gian dối không khỏi hoảng sợ. Cùng một lúc nảy sinh hai tâm trạng.
Một mặt lo bị trừng phạt, phải đi tìm thần thánh để hối lộ.
Mặt khác tiếp tục phiêu lưu vào con đường tội lỗi, mong rằng cái vận may hôm qua nay lại gặp lại. Cầu cúng chính là một dịp nuôi dưỡng những tham vọng ngầu đục muốn tìm vào chỗ tăm tối của lễ hội để được nuôi dưỡng và an tâm sống tiếp.
Tâm lý cầu lợi đang chi phối cả những người làm lễ hội đón khách cầu cúng. Bởi họ cũng chỉ như chúng ta. Ban đầu họ cũng làm vì những mục đích cao cả. Nhưng rồi cuộc sống hằng ngày chi phối, họ cũng sa đà vào cảnh buôn thần bán thánh, nhân danh sự thiêng liêng của lễ hội để làm chuyện lừa lọc.
TÌM CÁCH TỔ CHỨC MỚI CHO LỄ HỘI
Phan Kế Bính viết trong Việt Nam phong tục: “Xét cái tục hội hè của ta rước xách rất phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình”. Ông cũng nói thêm hội hè là dịp người ta chơi bời, cờ bạc, thanh niên bỏ cả công việc ở nhà đi hội, vậy thì “chẳng những vô ích mà lại hại cho làng xóm”.
Để thoát ra khỏi tình trạng mà Phan Kế Bính cảnh báo cần có sự nỗ lực của cả xã hội. Cần nghiên cứu những biến động mới trong tâm lý xã hội. Cần tìm ra những cách tổ chức mới cho nhu cầu vừa là giải trí, vừa là hướng thượng cho con người. Mọi thứ mệnh lệnh không đủ, đến cả luật pháp nếu có chắc cũng bó tay. Cái mà chúng ta đang thiếu là văn hóa theo đúng nghĩa của nó, văn hóa của trí tuệ chứ không phải thứ văn hóa nặng về bản năng như hiện nay .
Và trước tiên là hãy biết nhìn lễ hội bằng con mắt phê phán chứ
không phải hùa nhau ca ngợi bừa bãi.
GIỚI THIỆU MỘT BÀI VIẾT MỚI TRÊN BLOG, NÓI VỀ TRÍ THỨC
Ngày đăng 8 tháng 2 năm 2017
Trang mạng Văn hóa Nghệ An ngày 26-1 -2017 đã đưa bản dịch cuộc phỏng vấn "một nhà trí thức có nhân cách hoàn mỹ " của Trung Quốc là ông Châu Hữu Quang .
Bài viết đề cập tới nhiều vấn đề trong đó rõ nhất là tình thế người trí thức Trung Hoa lục địa thế kỷ XX.
Tôi đã trích lược các đoạn quan trọng và có thêm bình luận, rồi đưa trên blog của tôi ngày hôm nay 8-1-2017.
Mời các bạn có nhu cầu tìm hiểu vấn đề này cùng đọc.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/02/tri-thuc-trung-quoc-ky-xx.html
NHỮNG DỄ DÃI TRONG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ ĐANG CẢN BƯỚC CHÚNG TA GIA NHẬP VÀO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
Ngày đăng 11 tháng 2 năm 2017
Sau đây là một đoạn
ghi chép của tôi từ đầu xuân Tân Mão 2011
CÂU CHUYỆN TIẾNG VIỆT
Từ đầu tết dương lịch đến nay, mỗi tối xem bản tin thời sự VTV1, ngày nào tôi cũng để ý nghe xem nhà đài nói ngày tháng thế nào, và ngày nào cũng ngán ngẩm thất vọng: luôn luôn người ta nói ngày... tháng một năm hai ngàn mười một ; chữ tháng giêng hoàn toàn bị biến mất.
Điều này thật ra không có gì lạ. Ví dụ, nghe ở đâu đó có tai nạn thì bao giờ cũng nghe nói là có bao nhiêu người tử vong. Chữ chết bị cấm cửa.
Tuy nhiên vẫn cứ thoáng buồn. Nhà văn Trung Quốc Phùng Ký Tái có nói đến khả năng phá hoại văn hóa của người đương thời. Nghe đã lâu giờ mới hiểu.
Trong cuốn "Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX", Đặng Thai Mai có dẫn lại lời của người Pháp về khả năng của người Việt sử dụng tiếng mẹ đẻ:
“Có độ vài trăm người an-nam biết nói tiếng Pháp, vài ngàn người khác nói tiếng Pháp một cách bạt mạng, đó là bọn bồi bếp, thầy tớ cu-ly xe... ngoài ra con người nơi đây không biết tiếng an-nam cũng không biết tiếng Pháp. Cần phải nói rõ người an-nam vẫn nói tiếng họ, nhưng họ không biết viết và cũng không biết đọc. Cho nên tôi nói rằng chúng ta đang đào tạo những người mù chữ (sđd, bản của NXB Văn học, 1964, tr 93)
Cái tình trạng thuộc về cuối thế kỷ XIX đó, đã bị vượt qua trong nửa đầu thế kỷ XX, song đến nay có những khía cạnh đang “lại gạo”. Chết nỗi, ai cũng nghĩ là người Việt thì mặc nhiên là mình thạo tiếng Việt. Và cái niềm tự tin ấy sở dĩ phát triển vì nó cho phép người ta không cần mất công tìm hiểu tiếng Việt mà đua nhau dùng bừa dùng ẩu.
BỔ SUNG 11-2-2017
Trong câu chuyện với Nam Cao 1948, Vũ Bằng từng nói về cách sử dụng của người Việt hồi đầu kháng chiến chống Pháp :"Các ông thanh niên các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố nhăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân phát xít phản động xã hội chủ nghĩa, dân chủ với lại cả tân dân chủ nữa mới khổ thiên hạ chứ".( Xem "Đôi mắt")
Từ đó đến nay, ở miền bắc và bây giờ lan ra cả nước
người ta càng hay mắc cái tội nói trên. Trong khi chính trị thâm nhập vào mọi lĩnh vực, những thuật ngữ chính trị và nói chung các danh từ có liên quan tới khái niệm trừu tượng ồ ạt thâm nhập và được dùng vô tội vạ.
Sang thời làm ăn kinh tế và phát triển kỹ thuật thì có hai giai đoạn. Hồi đầu thì dùng từ ngữ Trung quốc, cái thứ nghe âm thì quen mà hóa ra chả ai hiểu gì. Nay lại bệ nguyên tiếng Anh vào nữa , Trong lĩnh vực văn chương người biết ngoại ngữ ở mức thâm hậu gần như tuyệt chủng, các bản dịch chắc chắn không lột tả được nội dung và kiểu tư duy của các tác phẩm hiện đại.
Bây giờ mà nói "Quá trình hiện đại hóa đang bị cản trở bởi ngôn ngữ" không ai tin, nhưng tôi, không dứt được cảm giác về một sự phát triển ngôn ngữ khá hoang dại nó làm hại chúng ta, ngăn cản chúng ta hiểu thế giới cũng như ngược lại.
DI LỤY CHIẾN TRANH: CON NGƯỜI ĐÁNH MẤT Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP
Ngày đăng 15 tháng 2 năm 2017
Quanh chuyện người nước ngoài và người Việt, tôi mới nghe được mấy mẩu nhỏ.
Một cậu em đưa con sang Mỹ học kể bây giờ ở bên ấy, người ta ghét nhất là con gái châu Phi và con trai châu Á, bao gồm cả Việt Nam. Thanh niên trai tráng gì mà khôn vặt, chỉ chăm chăm tìm việc gì dễ thì làm, chính sách nào có kẽ hở thì trục lợi. Một số con nhà giàu mới nẩy nòi đã lười biếng lại đua đòi ra vành ra vẻ “ra cái điều ta đây kẻ giờ” tứ là hiện đại, rồi hậu hiện đại siêu hiện đại, không kém gì đời .
Đi xa đã vậy, đi gần ngay sang Lào hay Thái Lan thôi, người mình cũng gây phản cảm mà cái phản cảm lớn nhất là nghề nghiệp không có, không lo làm ăn chân chỉ hạt bột, ngược lại lao đầu vào dối trá lừa lọc cốt kiếm lời thật nhanh. Nhà cầm quyền Băng Cốc đâu đã có lệnh cấm người Việt mới sang không được làm ăn buôn bán, chỉ đi làm thuê, song có những người vẫn luồn lách bán hàng giải khát rồi pha trộn hàng giả với hàng thật, khiến họ đuổi thẳng.
***
Một trong những nghề phổ biến khiến người Philippin bỏ quê đi xa kiếm sống là nghề giúp việc gia đình. Và họ đắt khách lắm. Mấy năm nay nghe nói ở Sài Gòn đã có ít người Philippin đến làm, lương đâu ba bốn chục triệu tiền Việt, cố nhiên chỉ những gia đình cực mạnh và có hiểu biết về cái mới mới dám thuê.
Nhưng đắt sắt ra miếng, những người đi giúp việc ấy chẳng những quản lý gia đình chủ nhà hết sức thông minh mà còn dạy con mình nữa, nghĩa là giúp chúng trở nên những đứa trẻ có ý chí và tư lập. Ngoài ra là khoản dạy thêm cho trẻ tiếng Anh chuẩn.
Dân mình hay nghĩ giúp việc là việc dễ, ai cũng có thể làm được, có biết đâu trong thực tế đây là một nghề đòi hỏi cao về trình độ làm người, và có ý thức mới về phân công lao động tức là sự thay đổi trong các mối quan hệ xã hội. Một người Việt muốn làm được việc đó phải có kỹ năng sống trong xã hội hiện đại và trước tiên phải hiểu mấy chục năm nay trong khi người ta thay đổi thì dân mình đã xa lạ với cái mới cái hiện đại như thế nào. Toàn những cái ta không biết lại không chịu học.
***
Tôi ngồi một xó lại dám mang những chuyện này ra kể, bởi tôi tin rằng về chi tiết có thể tôi sai, nhưng đại thể là đúng.
Tìm hiểu người Việt trong lịch sử tôi nhận thấy quá trình phân hóa lao động ở ta rất chậm chạp lý do là vì ba lý do
1/ người mình sống manh mún, không có chữ viết không tổng kết được kinh nghiệm
2/ người mình nhìn người ngoài như kẻ thù, chỉ lo chống họ mà không chịu học họ. Và
3/ chiến tranh liên miên, lúc nào cũng trong tâm trạng ăn xổi ở thì tạm bợ.
Sang nửa sau thế kỷ XX, chiến tranh đã buộc con người ở các tỉnh phía Bắc trở nên vô nghệ nghiệp lại làm chúng ta hỏng thêm vì niềm tin rằng đã đánh Mỹ được thì làm gì cũng được.
***
Vào những ngày cuối 2016, đọc các mạng nói về kinh tế Nga, thấy nói nước này đã giành được vị trí xuất khẩu lúa mì thứ hai thế giới và không mất nhiều thời gian để trở thành nhà xuất khẩu lớn nhất hành tinh, vượt EU. Sau 1991, dân Nga (trước tiên giới nhà giàu mới nổi cùng các quan chức) cũng có thói quen như mình là thích dùng các hàng nông sản ngoại.
Nay do cấm vận họ không còn cái quyền ấy nữa. Họ quay về tự sản xuất và họ đã thành công như ta thấy.
Giá như dân ta , thì với tâm lý hậu chiến, nếu bị cấm vận ta sẽ quay sang buôn lậu, buôn hàng xách tay, và các cán bộ nhà nước cũng sẽ tiếp tay cho nạn buôn lậu đó. Có việc gì chúng ta từ đâu?
Nhà nghiên cứu kinh tế Lê Đăng Doanh đã có lần nhận xét dân ta với thế giới không chỉ lạc hậu mà còn lạc lõng nữa.
Những ý tưởng trên đây đã đến với tôi từ mươi mười lăm năm trước và tôi đã viết thành một số bài trong tập "Nhân nào quả ấy". Bài “Chuyện con người và nghề nghiệp” dưới đây đã được đưa trên blog ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/01/chuyen-con-nguoi-va-nghe-nghiep.html
MÙA XUÂN LÀ MÙA CỦA NHỮNG KHẢ NĂNG
Ngày đăng 15 tháng 2 năm 2017
Trừ khi cần biết để tính chuyện đi chơi xa, còn thời nay ít ai để ý tới thời tiết mưa nắng theo nghĩa đối diện với thiên nhiên, thưởng thức thiên nhiên rồi từ việc trời đất sinh ra việc đời. Nhưng lúc ngồi ngẫm nghĩ sau một mùa sau một năm, ta vẫn phải công nhận nay là lúc cuộc đời hầu như chẳng có quy luật nào cả. Hoặc chắc chắn hơn, là mọi khái niệm đã thay đổi. Mà thiên nhiên thì là ví dụ rõ nhất. Tôi nhớ hồi nhỏ, mùa thu là mùa mưa dầm dề, từ đó mới nẩy sinh tích truyện Ngưu lang Chúc nữ, rồi chuyện mưa ngâu mà ngay với các bạn trẻ ở Bắc bộ, cũng là chuyện xa lạ. Còn mùa xuân, đã có lần tôi đã thử định nghĩa bảo nó là mùa của những khả năng, luôn luôn có thể thế này và có thể thế khác. Và tôi đã có bài viết SỰ ĐỎNG ĐẢNH CỦA MÙA XUÂN , đưa trên blog của tôi, mời các bạn có rỗi đọc lại .
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/03/su-ong-anh-cua-mua-xuan-tren-ong-bang.html
TRONG NGHÈO KHỔ ĐÓI KÉM CON NGƯỜI ĐÃ BIẾN DẠNG
Ngày đăng 16 tháng 2 năm 2017
Đoạn văn dưới đây vốn trích ở bài
"Con người và tư tưởng thời bao cấp"
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2011/07/con-nguoi-va-tu-tuong-thoi-bao-cap.html
Chính sách kinh tế bao cấp hình thành là do yêu cầu của thời đói kém những năm trong và sau chiến tranh -- trong đó có yêu cầu là tạo nên sự ổn định.
Nói như ngôn ngữ thời nay,cái giá để duy trì sự nhất trí như vậy "không rẻ “.
Về mặt sản xuất,đã thấy chế độ bao cấp mang lại nhiều tai hại. Nó tước đi của xã hội sự năng động và khả năng điều chỉnh tự nhiên. Nó kìm hãm sức làm việc khiến cho toàn bộ sản xuất ngưng trệ thậm chí thụt lùi. Nhưng không chỉ có thế. Tác động sâu xa mà nó để lại trong đời sống tâm lý và toàn bộ cách sống của con người cũng là điều đáng để day dứt.
Những ngày thiếu thốn cũng đã để lại trong tâm lý con người Việt Nam nhiều loại di lụy . Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta. Hèn theo nhiều nghĩa. Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Và chỉ có những niềm vui tầm thường. Mua được cân gạo không bị mốc, vui. Cưới cho con trai cô vợ làm ở cửa hàng lương thực nên cả họ mua bán dễ dàng, quá vui. Đi bộ mấy cây để đến nghe nhờ đài ở một nhà bạn, cũng đã vui lắm. Vui đấy rồi thấy mình sự khốn khổ của mình ngay đấy, và ngày mai, lại vẫn tiếp tục cái tầm thường dễ thương đó.
Cũng theo những cách thức rất từ tốn, sự xót xa đã đến, mà chỉ những lúc thật tĩnh trí người ta mới nhận ra, nhưng nó cứ bám vào đầu óc ta mãi. Được giải thích kỹ lưỡng, ai cũng hiểu hy sinh là cần. Nhưng vì sự hy sinh này đã kéo quá dài nên người dân không khỏi sinh ra mệt mỏi. Nhiều sự uể oải diễn ra ngoài ý muốn. Và nguy hiểm nhất, sự ngại ngùng khi nhìn về phía trước. Con người cảm thấy không bao giờ mình có thể vươn tới những cái cao đẹp. Mình đã bị đánh mất. Nhắm mắt buông xuôi, tự cho phép làm bất cứ điều gì khi thấy cần, miễn là tồn tại. Lòng tự trọng kiểu nhân vật lão Hạc của Nam Cao không còn. Mà đến một chút phẫn uất của Chí Phèo cũng không còn nốt.
Bảo rằng mục tiêu của cả một thế hệ Việt Nam trong đêm trước đổi mới là “ sống và sống đẹp “ như gần đây một vài tờ báo đã viết thì không ai cãi lại được. Riêng những năm đầu chiến tranh thì quả là một thời kỳ Nghiêu Thuấn. Ở Hà Nội, các nhà đi sơ tán chỉ khóa cửa bằng một cái khóa sơ sài. Ra đường, cánh bộ đội chúng tôi vẫy xe dễ dàng. Người nọ nghĩ về người kia với một niềm tin tự nhiên. Đẹp là đẹp theo nghĩa ấy!
Song có một sự thực là đến đầu những năm bảy mươi, mọi chuyện đã khác và từ sau 1975 thì càng khác. Dễ thấy nhất là chuyện những chiếc xe đạp; ngoài khóa chính lại còn phải khóa thêm cái yên.Tô Hoài kể trong Cát bụi chân ai: Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn. Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp. "Chính sách em học đã thông -- Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều": Quả thật, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi không có cách nào khác để sống. Và bởi nhiều ăn cắp quá nên không bị coi là việc xấu nữa.
Tương tự như thế là sự dối trá. Hồi ấy báo chí ít lắm, mà từng tờ cũng it trang ít chữ, vậy mà có lần trên báo Nhân dân (tôi nhớ đâu như 1974) có cuộc thảo luận về làm ăn thật thà, điều đó chứng tỏ là lúc đó sự dối trá trong làm ăn đã lan ra rất rộng. Không thật thà trong việc làm ra của cải. Nhất là không thật thà trong chuyện phân phối.
KHI ĐÃ BIẾN DẠNG, TÂM LÝ TÍNH CÁCH CON NGƯỜI KHÓ LÒNG TRỞ LẠI BÌNH THƯỜNG
Ngày đăng 16 tháng 2 năm 2017
( viết sau đoạn trích một tiếng trước)
Nghĩ về tác động của nghèo đói tới tính cách con người, ta hay cho rằng khi con người đã khá giả lên cụ thể là không còn đói kém nữa thì họ sẽ trở lại con người bình thường và mọi thói xấu nảy sinh do đói kém sẽ tiêu biến.
Nhưng không phải vậy.
Nhà nghiên cứu Diệp Đình Hoa khi nghiên cứu về nạn đói kém ở Bắc Bộ trước 1945 từng nhận xét rằng đói kém không phải chỉ là
chuyện đứt bữa, do đó qua nhanh mà -- do chỗ nó kéo dài trong thời gian dài qua nhiều thế hệ -- nên về sau, khi đã đủ miếng ăn rồi, con người và cộng đồng vẫn bị tâm lý đói kém chi phối.
Kết luận đó cũng có thể áp dụng cho con người thời nay.
Nhiều người nghèo khó hôm qua, nay do luồn lọt do xoay sở giỏi đã giàu lên và tỏ ra rất hoang phí.
Nhưng đó chỉ là một phần mặt trái của tâm lý hôm qua.
Còn đại thể nhiều người trong họ vẫn tầm thường hèn hạ, dửng dưng trước nỗi đau khổ của người khác và không bao giờ đặt quyền lợi của xã hội lên trên quyền lợi của mình.
Tóm lại biến dạng một lần là biến dạng mãi mãi.
HAI DẪN CHỨNG TỪ TCHEKHOV VÀ THIẾT NGƯNG
Sau đây là hai trích đoạn dẫn ra từ văn học nước ngoài nói về tâm lý con người sau một thời gian dài bị hoàn cảnh đau khổ hành hạ.
Tuy các hiện tượng này hiền lành hơn nhưng cũng đáng để chúng ta hiểu thêm về hiện tượng tương tự ở ta (cả hai đã được đưa vào bài "Con người và tư tưởng thời bao cấp")
Tchekhov là một nhà văn Nga vốn rất nhạy cảm với chủ đề nỗi khổ làm hại tới phẩm chất con người. Qua miệng một nhân vật, ông từng khái quát “những kẻ đang chịu đau khổ thường ích kỷ, ác độc, thiếu tỉnh táo nghiệt ngã, và ít khả năng hiểu người khác hơn cả những người đần độn”.
Ông từng dựng lại một nhân vật suốt đời lo kiếm sống và khi về già lấy việc được ngồi ngắm những trái cây thu hoạch trong vườn mình làm điều mãn nguyện ( Truyện "Quả phúc bồn tử").
Bởi đã có lúc quá thiếu thốn, nên khi no đủ con người vẫn hiện ra bệ rạc đáng thương.
Còn đây là một trường hợp gần với chúng ta hơn, một cách ứng xử bề ngoài có vẻ như không có gì quá đáng mà chỉ thoáng một chút kỳ dị, nhưng không vì thế mà bớt đi vẻ bi thảm.
Trong "Chơi vơi trời chiều" , nhà văn Trung quốc Thiết Ngưng từng đưa ra một nhân vật rất lạ: do có thời gian bị đày xuống nông thôn và chịu cảnh rét buốt thấu xương, bà dạy mẫu giáo ở một huyện nọ nảy sinh một thói quen là lúc nào cũng lo rét sợ rét, và không đủ phương tiện chống rét ; thế là đi đâu, tới cửa hàng bách hóa nào, bà cũng lùng sục để mua chăn bông, rồi về “ xếp cao từ nền nhà lên tận trần”.
Bà đã tự làm khổ mình và làm khổ những người thân. Lỗi không ở bà , lỗi ở xã hội.
BẠO LỰC PHỔ BIẾN TỨC LÀ TƯ DUY KHÔNG PHÁT TRIỂN
Ngày đăng 19 tháng 2 năm 2017
Trong tin về một vụ án mạng quốc tế ở Malaysia thấy có kèm thêm một đoạn “Người Việt ở bên đây cũng lộn xộn. Cũng có nhiều vụ việc liên quan tới người Việt mình. Cướp giật cũng có. Người Việt giết người Việt luôn cũng nhiều. Bạn bè giết nhau. Mâu thuẫn rồi giết nhau là có. Tình cảm cũng có”.
Phim truyền hình đang là một thứ cơm ăn nước uống hàng ngày của nhiều người. Bà xã tôi kể phim trên TV không có bạo lực là người ta không xem.
Tết có đến hơn 2000 vụ đánh nhau. Tập trung nhất ở các lễ hội Hóa ra đánh nhau là một thành phần vốn có của nhiều lễ hội ở các làng nhỏ. Lý do giải thích con người đánh nhau: Trai làng nào thắng thì trong năm đó làng ấy làm ăn phát đạt.
Từ đây dẫn tới một sự lý giải không hẳn là vu vơ. Người ta không hiểu được tại sao người ta sống được. Chỉ biết là mình sống khi nhận ra người khác chết. Thiếu một khả năng cùng thắng tức cùng tồn tại.Thiếu một khả năng phối hợp.
Trước hết là thiếu một ngôn ngữ để trao đổi với nhau cùng nhau phát huy trí tuệ.
Nói cho văn hoa thì bạo lực cũng là ngôn ngữ. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ rất nghèo nàn và rất thô thiển của những đám đông hoang dại. Bạo lực phổ biến tức là tư duy không phát triển. Mà căn bệnh kém về tư duy thì còn theo mãi các cộng đồng kể cả khi họ bước vào thế giới hiện đại
BẠO LỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI XƯA
Tấm Cám và Thach Sanh thuộc loại những truyện cố tích tiêu biểu nhất của người Việt. Cả hai truyện đều có những cuộc tranh chấp, và đều dẫn tới mưu mô bức tử nhau: Mẹ Cám chặt cau và Lý Thông chặn hang mong Thạch Sanh chết luôn dưới hang.
Đấy là trong phạm vi dân gian, còn trong chính sử, có hai chuyện được sử sách ghi nhận.
Một là thời chống quân Nguyên, năm 1288, sau khi Ô Mã Nhi bị bắt, lúc đầu vua tôi nhà Trần đã định tha và thả cho về theo đường bộ, nhưng sau lại cho đi đường sông và cho người đục thuyền nói là cốt để trừ hậu họa.
Hai là , năm 1470, Lê Tư Thành tức vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm vào tận thành Chà Bàn, vua Chiêm là Trà Toàn đã xin hàng, song vua mình vẫn cho hạ thành bắt sống 3 vạn quân, chém chết 4 vạn thủ cấp.. Sử ngày nay phần nhiều lảng tránh không ghi chi tiết này. "Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX" của Đào Duy Anh cũng chỉ ghi " bắt sống được hơn ba vạn quân Chiêm và chém chết vô số".
Con số quân lính mà vua mang bình Chiêm trận này là 26 vạn, số đánh vào Chà Bàn hẳn ít hơn. Tâm trạng, cách sống cách suy nghĩ...của những người lính từ Chà Bàn trở về ra sao, đây là câu hỏi chưa bao giờ được đặt ra.
Ảnh :
Tr 661 sách Đại Việt sử ký toàn thư , bản của nxb Văn hóa thông tin 2011
. Mời xem thêm một bài viết của tôi
“Bạo lực có mầm mống trong xã hội Việt”
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/03/bao-luc-co-mam-mong-trong-xa-hoi-viet.html
HƯỚNG VỀ CÁCH NGHĨ HIỆN ĐẠI
Ngày đăng 21 tháng 2 năm 2017
Trên trang “Tuổi trẻ hôm nay 21-2-2017, có bài viết mang tên "Thầy ơi, em phải theo ai? "
Tuy xuất phát từ câu hỏi của một học sinh hỏi thầy khi cha mẹ em ly dị, nhưng bài viết của người giáo viên này tập trung vào cái ý ca ngợi những gia đình có lối sống tạm gọi là cổ điển , tức là mọi thành viên luôn luôn sum họp trong bữa cơm hàng ngày.
Xin trích
Vẫn biết “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhưng hằng năm phải đối diện với những tình huống trớ trêu như thế này, thật sự tôi quá xót xa cho các em. Và mang tâm trạng trăn trở đó, tôi như gửi gắm vào các em học sinh lớp 9 bài giảng “Quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân gia đình”.
Sau này, các em lớn lên, dù bận rộn đến mấy cũng phải cố gắng lo bữa cơm gia đình với những người thương yêu nhất của mình. Nếu thiếu vắng thường xuyên bữa cơm gắn kết ấy, chính là dấu hiệu rạn nứt mái ấm.
Bữa cơm gia đình có thể đạm bạc, nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng với mọi thành viên. Khi đi chợ, người mẹ sẽ suy nghĩ hôm nay nhà sẽ dùng món gì, mẹ sẽ lựa thịt cá tươi ngon, rau quả sạch sẽ, rồi nấu vừa khẩu vị cả nhà, mẹ đặt trọn tấm lòng của mình khi chế biến...
Ca dao nước ta có câu rất thấm thía: “Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Chỉ là những món ăn đơn sơ, giản dị thôi, nhưng chất chứa trong đó là tình thương của cha, tấm lòng của mẹ ... Tình thương gia đình sẽ được nuôi dưỡng hòa chung với dòng chảy của tình quê hương đất nước khi con lớn khôn là như vậy..."
CÁC GIA ĐÌNH THỜI NAY ĐÃ SỐNG KHÁC
Nghe qua, cảm thấy người giáo viên ở đây rất có trách nhiệm với công việc của mình. Và hệ thống giáo dục công dân của ta đi những bước đi rất hợp lý, dùng tình yêu gia đình để giáo dục lòng yêu nước.
Song tôi lại nhìn thấy ở đây một ví dụ về sự cổ lỗ của nền giáo dục nước ta và những quan niệm về cá nhân và gia đình đang chi phối toàn xã hội vốn lưu cữu từ lâu mà chúng ta phải vượt qua nếu như muốn sống thích hợp với xu thế phát triển.
Giống như nhiều người chúng ta nhận thức của người giáo viên ở đây là dừng lại ở một quan niệm về gia đình cũ. Trong các gia đình VN thời kinh tế tiểu nông, sự hòa hợp hiểu theo nghĩa rất đơn giản “Trên đồng cạn dưới đồng sâu – Chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa”.
Vì thế mới có cảnh tượng mà người giáo viên ở trên đã nêu “Cảm giác hạnh phúc, sự ấm áp, tình yêu thương... những điều này chúng ta chỉ có thể cảm nhận được khi quây quần bên mâm cơm gia đình, rồi vợ chồng con cái chia sẻ thức ăn cho nhau, trò chuyện vui vẻ cùng tiếng cười sảng khoái...”
Ngược lại, không nói ở đâu xa, ở TP HCM hiện nay rất nhiều gia đình trong khi thích ứng với đời sống hiện đại, đã sống khác hẳn cái mẫu cổ điển.
Giống như con người ở các xã hội hiện đại, họ phải gồng lên mà sống. Sáng sáng vợ chồng con cái mỗi người mỗi ngả. Trưa, gặp đâu ăn đấy. Chỉ có buổi tối, cả gia đình mới sum họp, và không phải bao giờ cũng là những món ăn do gia đình nấu lấy mà là mua của các cửa hàng bán sẵn.
Ý của người giáo viên muốn khuyên các em sẽ hiểu hết “tất cả tấm lòng của cha mẹ qua những món ăn mà cha mẹ chuẩn bị” sẽ chỉ làm các em thất vọng và sự thực là qua ngây thơ và đơn giản với nghĩa ngày nay rất khó thực hiện.
Cảm thấy hết nếp sống lạc hậu của xứ mình, các gia đình trẻ hiện nay sống theo mẫu các nước phương Tây ngày càng nhiều mà hạt nhân của lối sống này là nâng cao năng suất lao động, và đạt tới trình độ nghề nghiệp ngày một cao của mỗi cá nhân, xem đó là một trong những yếu tố chính gắn kết gia đình.
Đồng ý là các gia dình loại này cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong khâu giáo dục lớp trẻ, mà xã hội ta đang không biết làm gì để giúp họ. Nhưng xu thế thời đại là loại gia đình này sẽ phát triển.
Thu nhập thích đáng của các thành viên sẽ là nguồn bảo đảm cho đời sống gia đình mà cũng là nguồn kích thích để họ nêu gương cho con cái chăm chỉ lao vào chuyên môn như họ . Cái tình trạng trong một gia đình những người phụ nữ tần tảo lo việc nấu nướng, rồi “người cha, những đứa con sẽ cố gắng thu xếp công việc, chuyện học hành, để về nhà sớm, thưởng thức bữa cơm nóng hổi bên nhau ‘ – như trong bài trên đã nêu -- đang ngày càng hiếm hoi và không hợp với nhu cầu thời đại. Nó không giúp chúng ta nhanh chóng vượt qua tình trạng tụt hậu hiện thời
TẠI SAO LẠI CÓ LỐI GIÁO DỤC NÀY?
Chúng ta đang nói với nhau quanh chủ đề lớp trẻ đang tuổi đến trường và các gia đình hiện đại.
Nên quan niệm sao về loại gia đình này?
Sự gắn kết trong các gia đình đó hôm qua là gì và hôm nay là gì? Vai trò người phụ nữ trong gia đình đó như thế nào?
Vậy chúng ta phải giáo dục lớp trẻ ra sao để chúng thích ứng với loại gia đình đó?
Đây là câu hỏi cả xã hội quan tâm chứ không phải chỉ ngành giáo dục, song ngành giáo dục lại có trách nhiệm trả lời trước hết.
Trong một bài viết trên FB đầu 2016, tôi đã có lần nói về nội dung cổ lỗ của các bài văn trong sách giáo khoa tiểu học.
Qua bài viết của nhà giáo đầy tâm huyết hôm nay, tôi lại cảm thấy cái tình trạng ấy thấm vào nhiều người chúng ta và trong cách triển khai các bài giảng, tự chúng ta đang tạo nên sự xa cách với lớp trẻ, nếu không muốn nói rằng ta chỉ làm cho trẻ sống khó khăn hơn với cuộc sống hiện đại.
Sở dĩ có tình trạng ấy vì chúng ta trước hết là những người làm sách và những người quyết định nội dung giáo dục thiếu cảm giác về sự thay đổi trên đất nước ta mấy chục năm nay, kể cả sự thay đổi của các gia đình, nhất là các gia đình ở đô thị.
Ta vẫn viết sách, vẫn giảng bài, vẫn để hết tâm huyết để thuyết minh cho những điều vốn hình thành ở xã hội và chuyển vào nền giáo dục miền Bắc trước 1975 và đến nay đã trở thành lạc hậu.
Ta thường đánh giá giáo dục báo chí hay khoa học xã hội nói chung bằng tiêu chuẩn sai đúng, nhưng chính "hiện đại hay cổ lỗ" mới là tiêu chuẩn chính xác nhất. Bởi cái có tương lai mới là cái đúng lâu dài. Tôi đã nói kỹ về điều này trong bài viết “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc"
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/12/may-cam-nhan-ve-su-khac-biet-giua-giao.html
NHỮNG BÀI HỌC TỪ MỘT CÂY BÚT HẢI NGOẠI
Ngày đăng 23 tháng 2 năm 2017
Khi được biết Nguyễn Thanh Việt (NTV) nổi lên do viết về chiến tranh dưới góc độ người tị nạn, tôi vẫn còn dửng dưng, đúng hơn là không dám nghĩ tới chuyện tìm hiểu. Phần vì không biết tiếng Anh và không có sách. Và phải nói là giữa biển sách báo ra đời hiện nay, những quyển sách tốt không có ai làm người dẫn truyền, mà sách của NTV cũng vậy. May quá hôm nay đọc trên BBC bài “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt” của Nguyễn Phan Quế Mai (NPQM)
Bài báo cho biết một số chủ đề ở NTV được triển khai như sau:
1/ CHIẾN TRANH. Tại sao chiến tranh lại xảy ra? Tại sao con người lại tiếp tục chia rẽ con người? Sự chia rẽ đó không chỉ tồn tại trong hoặc ngay sau cuộc chiến, mà hậu quả của nó còn kéo dài trong rất nhiều thập kỷ.
Trong truyện ngắn “I'd Love You to Want Me” (tạm dịch Em muốn anh khao khát em) , quá khứ - với những đường viền ảo mờ là chiến tranh và loạn lạc - có nguy cơ chia rẽ vợ và chồng. Bà Khanh - người phụ nữ phải hy sinh công việc mà bà yêu thích để có thể chăm sóc chồng - dần nhận ra rằng chồng bà đang nhầm lẫn bà với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ đó là ai và có vai trò thế nào trong thời gian chồng bà còn sống ở Việt Nam? Liệu việc bà và chồng đã cùng sống sót chuyến hành trình vượt đại dương, đã cùng vượt qua những ngày đầu ở California - nơi họ đã phải ăn đồ ăn mua bằng phiếu thực phẩm, mặc quần áo cũ do người khác bố thí - có đủ níu họ lại với nhau? [nghĩa là kinh nghiệm tị nạn liệu có lấn át kinh nghiệm chiến tranh - VTN]
2/ TỊ NẠN Di sản mà những người tị nạn chiến tranh thừa hưởng từ cha mẹ mình thường bao gồm sự nghèo đói, hoặc sự bơ vơ lạc lõng trên đất khách quê người. Theo NPQM, khi mô tả những di sản thường gặp đó, ngòi bút của NTV bám rễ vào thế giới nội tâm của những người tị nạn để cất lên tiếng nói về di chứng tâm lý hậu chiến tranh. Có một câu tuyệt vời được NPQM dẫn lại
'khi nằm trên giường và lắng nghe những đứa trẻ chơi nhắm mắt chạy trốn ở lối đi giữa những chiếc lều, anh cố gắng quên đi những người đã bám vào không khí khi rơi xuống sông, một số người bị đánh ngã trong sự hỗn loạn, một số bị những người lính đang tuyệt vọng tìm đường tháo chạy bắn vào lưng '.
3/ Các nhà văn VN hiện nay có phần lảng tránh chiến tranh. Số muốn tiếp tục khai thác các kinh nghiệm thời chiến thì lại bế tắc , không rõ nên viết cach nào. NPQM dẫn lại một câu của NTV : ‘'…Các tác phẩm của tôi, mặc dù chủ yếu nói về người Việt và cuộc chiến tranh Việt Nam, nói cho cùng là để hướng tới những chủ đề to lớn hơn - chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý. Lịch sử của bản thân tôi - với tư cách là người tị nạn mà cả hai đất nước đều không muốn đón nhận - đã khiến tôi trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.'
Thú thực chính vì đoạn văn có tính tuyên ngôn này mà tôi quyết định phải viết bài báo nhỏ này. Tôi muốn nhiều người chia sẻ ý tưởng đó của NTV.
Các nhà văn VN hiện nay cầm bút thường chỉ nghĩ chỉ lo cho cộng đồng mình. NTV đã mở ra một hướng mới , bảo đảm cho sức khái quát của tác phẩm. Tôi cũng tìm thấy ở đây cái lý do chính khiến cho NPQM đặt tên bài viết của mình là “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt”
Nhà báo Cam Ly là người đầu tiên viết phỏng vấn NTV trên báo Người đô thị số tết vừa rồi. Nhà nghiên cứu NPQM giới thiệu lại một lần. Tôi lại đồ lại lần nữa, xoàng quá. Nhưng tôi thấy vui vì biết đâu sau stt này, có thêm nhiều người đọc NTV, nhất là có thêm những nhà văn tìm cách viết lại về Việt Nam, chiến tranh và hậu chiến.
THẾ GIỚI ĐẢO NGƯỢC
Ngày đăng 24 tháng 2 năm 2017
Những năm 60 của thế kỷ trước, khi học cấp ba, phần lịch sử Việt Nam đương đại chúng tôi thường được giảng là trong cách mạng, nếu giai cấp công nhân là lực lương chủ lực thì giai cấp tư sản là đối tượng đấu tranh.
Tuy nhiên trong giai đoạn đầu, chúng ta vẫn phải liên minh với tư sản dân tộc, là loại tư sản đầu tư vào sản xuất, họ có tác dụng nhất định trong việc phục vụ xã hội.
Đáng ghét nhất là tư bản mại bản, những người chỉ lo nhập hàng hoá ngoại bang để kìm hãm và do đó phá hoại nền sản xuất trong nước.
Ngược lại ngày nay, nhà nước mình khuyến khích ngoại thương vô điều kiện, ai có khả năng tìm tòi những thứ hàng mới – từ máy móc công trình tới thuốc thang, đồ tiện nghi các phương tiện chơi bời hưởng lạc của nước ngoài về cho dân dùng và trước tiên là phục vụ đời sống xa hoa của giới quan chức tham nhũng và đám trọc phú mới nổi -- thì lại được khen ngợi.
Tôi cho rằng trong trường hợp này cả sự thù ghét hôm qua cũng sai, mà sự buông thả hôm nay cũng sai, hôm qua nó là kết quả của những sự hăng hái bốc đồng, tưởng mình chẳng cần chi thế giới còn hôm nay nó là kết quả của tình trạng anh hùng thấm mệt sau một chặng đường phấn đấu thì chẳng còn ý chí gì hết, quay ra hưởng thụ: trước mắt người nước ngoài chúng ta chỉ còn là những kẻ mất hết tự trọng.
Thuộc loại đảo ngược ảnh hưởng nhiều đến dân thường nhất là còn hai nét sinh hoạt sau đây:
một là sáu bảy chục năm trước ai rượu chè bia bọt thì bị lên án, nay được cả xã hội khuyến khích.
hai là cũng trong khoảng thời gian tương tự việc lễ bái cầu cúng bị xem như mê tín dị đoan, đầu hàng trước thần thánh còn trong xã hội hiện thời việc cầu cúng lan tràn từ trên xuống dưới.
Nói theo ngôn ngữ kinh tế, hiện có cả một thị trường xoay quanh đời sống tâm linh, ước tính mỗi năm mỗi mùa vài trăm ngàn tỉ (?)
Từ gần hai chục năm trước, tôi đã thử viết về sự diễn biến trong tâm lý con người nhân hiện tượng đảo ngược nói về sau này, bài viết từng đưa lên blog ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/01/hien-tuong-lai-gao-trong-niem-tin-trong.html
mời các bạn có nhu cầu tìm hiểu vấn đề này thử đọc lại.
MUỐN HIỂU CHIẾN TRANH CẦN CÓ THÊM THẾ ĐỨNG NGOÀI
Ngày đăng 27 tháng 2 năm 2017
Tiếp tục bài viết
về Nguyễn Thanh Việt
Tôi không ngại mang tiếng vụ lợi: sở dĩ chúng ta muốn hiểu thêm về NTV, là để thúc đẩy tình hình văn học viết về chiến tranh trong nước.
Một cách tổng quát, bộ phận văn học này ở ta – trừ trường hợp Bảo Ninh Dương Thu Hương -- vẫn tiếp tục cái mạch từ phát sinh ở Hà Nội trước sau 1975, tức là ca ngợi chiến tranh.
Bởi cách nhìn thiển cận trên đã ăn vào máu chúng ta, nên tôi sẵn sàng nhắc đi nhắc lại cái gợi ý của NTV ,[hãy thay đổi bản thân theo hướng] trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.”
Ý của tác giả trong trường hợp này là cần có cách nghĩ đa dạng hơn nhiều chiều hơn về vai trò chiến tranh trong lịch sử dân tộc cùng những vấn đề liên quan.
Đằng sau hai chữ ngờ vực ắt hẳn còn những nội dung cụ thể khác.
Nhưng nó là chuyện quá lớn, chúng ta hãy tạm ghi nhận và để dành cho những suy nghĩ tiếp.
Lúc này đây, tôi muốn dừng lại ở khía cạnh cái thế đứng ngoài của tác giả.
Về không gian, nay tác giả đang sống ở một nước khác.
Về thời gian, tác giả sinh ra và lớn lên ở thời hậu chiến.
Theo cái lý luận rất đơn giản song đầy sức khống chế mà các nhà văn Hà Nội được giáo dục và lấy làm nguồn lực hành động thì như vậy sẽ rất khó viết, nếu không nói rằng không bao giờ nên viết.
Anh sẽ không có được những chi tiết sinh động.
Nhất là anh sẽ không có được cảm giác của người trong cuộc.
Không kể các nhà văn thế hệ chống Mỹ nay đã ở tuổi cổ lai hy, ngay các nhà văn trẻ sinh sau chiến tranh cũng thường dựa vào cớ này -- sự xa cách về thời gian -- để giải thích những thất bại của họ khi viết và tiếp đó là thực sự lảng tránh.
Cách nghĩ của Nguyễn Thanh Việt là một gợi ý đúng lúc. Tôi còn muốn mạnh dạn nói rằng cả thế giới người ta nghĩ theo kiểu ấy, riêng ở ta là khác.
Suốt trong những năm chiến tranh dân Hà Nội sống bằng ý nghĩ là chỉ có người Việt Nam mới hiểu được người Việt Nam và về chiến tranh cũng vậy.
Chỉ có vài năm gần đây mới có thay đổi chút ít. Thì lẽ dĩ nhiên là chúng ta tự cho là mình độc quyền trong việc giải thích chiến tranh và theo tôi hiểu sự hạn chế trong việc nhận thức chiến tranh đã khiến cho nếp sống nếp nghĩ thời chiến kéo dài đến hôm nay, trong khi hướng tới tương lai thì sự thực là chúng ta vẫn sống trong sự thống trị của quá khứ.
Hẳn có người sẽ văn lại: Anh bảo tôi từ bỏ trải nghiệm hôm qua chỗ đứng hôm qua à. Vô trách nhiệm quá. Và hoang đường nữa!
Không tôi không ngớ ngẩn đến thế.
Tôi chỉ đề nghị chúng ta phối hợp cái thế đứng trong vốn có, với một khả năng khách quan hóa quá khứ.
Tức đi tìm mình không chỉ bằng kinh nghiệm của mình mà còn phối hợp kinh nghiệm kẻ khác.
Nó sẽ làm ta thấu đáo hơn sáng suốt hơn.
Công nhận vai trò của một cái nhìn từ thế đứng ngoài bổ sung cho thế đứng trong không chỉ liên quan đến nhận thức về chiến tranh mà còn tới nhận thức đời sống nói chung.
Nó cũng đã được khái quát trong nhiều công trình thuần túy lý luận, chắc các bạn đọc đọc nhiều về nhận thức luận đều biết.
Lý luận về sân khấu gián cách của nhà thơ nhà viết kịch Đức B Brecht là một bước ngoặt trong tư duy nghệ thuật thế giới, ở Hà Nội trước 1975 còn được nhắc tới ít nhiều, nay thì không ai đoái hoài tới nữa(?)
Phần tôi, có ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà nghiên cứu người Nga M.M. Bakhtin. Trong một bài viết ngắn viết cuối đời, ông đã dành đoạn cuối nói về thế đứng ngoài trong văn học. Bài này tôi đã dịch và giới thiệu ở Tạp chí Văn học 1980, mới đây năm 2014 đã đưa lại trên blog của tôi ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/05/m-bakhtin-mot-so-van-e-can-luu-y-khi.html
Đây là một đoạn trích:
Có một quan niệm đã sống dai dẳng trong chúng ta nhưng là quan niệm một chiều và do đó không đúng: đó là quan niệm cho rằng để hiểu một cách thật đúng một nền văn hóa khác, cần đặt mình vào đó, quên mình đi, chỉ nhìn thế giới bằng con mắt của nền văn hóa xa lạ với mình này.
Cố nhiên, việc thâm nhập vào một nền văn hóa khác, khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của nó là nhân tố cần thiết để tìm hiểu nó. Nhưng nếu chỉ nhờ yếu tố đó đã hiểu mọi chuyện, thì cách hiểu đó chẳng qua chỉ là một bản sao đơn giản, không có gì mới và cũng chưa giàu có thêm về bất cứ phương diện nào...
Để hiểu hiện tượng, nhà nghiên cứu có một việc quan trọng là tạo ra thế đứng ngoài – đứng ngoài về cả không gian, thời gian và văn hóa – trong tương quan với sự vật mà nhà nghiên cứu đó muốn hiểu một cách sáng tạo. Bản thân bề ngoài của mỗi con người cũng không bao giờ được người đó nhìn nhận một cách thấu đáo và suy nghĩ được toàn diện; không một tấm gương hoặc một bức ảnh nào giúp được người đó trong việc này hết. Chỉ có những người ngoài nhìn thấy cái vẻ ngoài thực sự của anh ta, hiểu vẻ ngoài đó, nhờ cái thế đứng ngoài xét về mặt không gian, cũng như nhờ vào chỗ họ là những người khác.
Trong lĩnh vực văn hóa, thế đứng ngoài là một thứ đòn xeo mạnh mẽ giúp cho sự hiểu biết ...Chỉ trong mắt những nền văn hóa khác, một nền văn hóa lạ mới tự phát hiện ra mình một cách đầy đủ hơn và sâu sắc hơn. Trong khi gặp gỡ và tiếp xúc với nhau, từng nền văn hóa này phát hiện ra bề sâu của mình; giữa đôi bên dường như bắt đầu một cuộc đối thoại, khiến cho tính cách chật hẹp và đơn điệu của từng nền văn hóa này được khắc phục.
TẠI SAO HÔM NAY CHÚNG TA CHẬM CHẠP TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU PHAN CHÂU TRINH
Ngày đăng 7 tháng 3 năm 2017
Dù đã nhất trí với nhau trong nhận định rằng Phan Châu Trinh xứng đáng là nhân vật “ đinh và đỉnh” của lịch sử hiện đại, nhưng hầu như chúng ta vẫn chưa tìm được câu trả lời tại sao như vậy và nếu thế thì tư tưởng chủ đạo ở Phan là gì, tại sao lại nói rằng có tìm ra câu trả lời này, may ra chúng ta mới tìm ra lối thoát cho dân tộc.
Nhưng trước hết tôi thử tìm hiểu lý do khiến chúng ta khó chấp nhận cụ Phan đến vậy.
MỘT TRONG NHỮNG NHẬN ĐỊNH KHÓ CHỊU NHẤT
Trong tất cả tư tưởng mà Phan đã phát biểu, có thể không phải quan trọng nhất, nhưng gây ấn tượng bậc nhất , theo tôi là cái câu viết trong “Đầu Pháp chính phủ thư” 1906
“(...) Nước Nam dã lâu nay học thuyết sai lầm, phong tục hư hỏng, không có liêm sỉ, không có kiến thức... Trong một làng một ấp cũng cấu xé lẫn nhau, cùng nòi cùng giống vẫn coi nhau như thù hằn, có dẫu ai có muốn lo toan việc lớn, chưa kể rằng không có chỗ mà nương thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của mà tiêu, giá phỏng Chính phủ cho mượn trăm nghìn khẩu súng, cấp đất vài tỉnh cho ở, không thèm hỏi đến, tha hồ muốn làm gì thì làm, chẳng qua vài năm nếu không báo thù lẫn nhau thì cũng tranh giành địa vị với nhau, nếu không cướp đoạt tiền tài thì cũng giành giật tước vị, tự chém giết nhau đến chết hết mới thôi, quyết không thể sống nổi trong thế giới này, lại còn chống cự ai được nữa”.
Tôi muốn mạnh dạn mà nghĩ rằng cái đoạn văn rất chua này giống như một sự dằn mặt thô bạo.
Theo nghĩa nghiêm túc nhất, phải nói chúng ta không có gì cả , nói đúng hơn cũng có một vài thứ đấy, nhưng nhiều cái không dùng đươc.
Chẳng những ta không có tư tưởng, mà dân ta còn đang sống theo những phong tục hôm qua tuy có tốt đẹp nhưng nay lại là một sự ràng buộc con người vào với quá khứ hoang dại.
Liêm sỉ là cái tôi thiểu làm nên tư cách một cá nhân ta đã không có thì làm sao để nên người.
Mà kiến thức với tư cách nền tảng của trí tuệ không thì làm sao đi tới tương lai cho được.
Người mình trước thời hiện đại vốn không thích nghĩ nhất là nghĩ ngược. Cái ý nói trên có đến trong đầu thì họ lại gạt đi cho nhanh
HAI CÁCH PHẢN ỨNG
Vào thời Phan viết những dòng trên, những đầu óc ưu tú nhất của đất nước còn đang chăm chăm hy vọng rằng nếu như có đươc ít súng ống cần thiết thì sẽ lấy ngay lại nước và người dân sẽ biết sống với nhau thuận hòa vui vẻ.
Trong những lời kêu gọi của nhóm các nhà nho yêu nước kiểu cũ, bao gồm cả những người chân thành tưởng mình là theo mới lắm rồi, bao giờ người ta cũng nghe một niềm lạc quan kỳ lạ.
Những nhận định loại như dẫn trên của cụ Phan hẳn làm cho ai dó cười khẩy.
Giá như thời nay, cái tiếng nói thẳng thắn chân thành ấy sẽ bị coi không những là lạc lõng mà còn là đáng lên án.
Nhưng đầu thế kỷ XX, người Việt còn sáng suốt lắm. Cả những người chủ trương ngược với cụ Tây Hồ như cụ Sào Nam cũng lắng nghe, và trong cả nước nhiều người cảm thấy cùng với thời gian, Tây Hồ không chừng có lý hơn Sào Nam.
Đám tang cụ Phan năm 1926 là một minh chứng mà tất cả các bộ sử viết về VN thời hiện đại viết ở trong nước cũng như nước ngoài đề ghi nhận là một sự kiện lớn, trừ các bộ sử được dạy trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Sự lạnh lẽo khó chấp nhận Phan của người Việt hôm nay cũng rất dễ hiểu.
Nửa cuối thế kỷ XX chúng ta sống bằng những lý lẽ ngược hẳn với Phan.
Ta nói với nhau ta có tư tưởng yêu nước nồng nàn và nền văn hóa rực rỡ. Để đánh Pháp, ta đã có vũ khí của người khác.
Và không cần suy nghĩ gì về quá khứ tương lai, mỗi người hãy lo tiến lên là đủ.
40 năm nay lòng chúng ta đầy tin tưởng, tin rằng sau khi độc lập, chúng ta sẽ sống một đời sống mà cách miêu tả tốt nhất là mang câu “nếu không báo thù lẫn nhau thì cũng tranh giành địa vị với nhau, nếu không cướp đoạt tiền tài thì cũng giành giật tước vị, tự chém giết nhau đến chết hết mới thôi, quyết không thể sống nổi trong thế giới này” đảo ngược.
Thế cho nên, chúng ta lảng tránh cụ Phan là phải.
Kịp đến khi đời sống hậu chiến người Việt bày ra đầy đủ cái tình trạng thoái hóa của nó, đoạn văn của Phan Châu Trinh vang lên như một lời tiên tri, ĐÚNG ĐẾN TỪNG CHỮ thì vốn sợ sự thật ta lại càng lảng tránh.
Ta thích tìm hiểu những lời Phan khuyến khích ta tự học duy tân “ đổi mới” hơn là những câu những đoạn gợi ý tự nhận thức nghiêm túc như câu dẫn ở trên.
Kể thêm một chuyện nhỏ. Tôi biết được câu trên là nhờ đọc cuốn sách của Ðặng Thai Mai – Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX - bản in lần thứ ba, H. 1974, trong bụng chỉ nghĩ, thời ấy phi cụ Mai ra không ai dám dẫn câu đó ra trên mặt giấy. Cái cách nghiên cứu quá khứ của các nhà nghiên cứu sử học cũng như văn học ở Hà Nội là thế, thấy cái gì ngờ ngợ thì không bao giờ cho mọi người biết, coi như là không có. Gần đây câu nói có được trích dẫn nhiều hơn, nhưng phần nhiều không phải là các tài liệu chính thống như các luận án chẳng hạn.
TÔN VINH HAY CÒN CÓ MỤC ĐÍCH NÀO KHÁC?
Ngày đăng 9 tháng 3 năm 2017
Hôm nay đã là 9-3.
Tôi tự nhủ như vậy vì từ hôm qua hôm kia, đúng ra là từ nhiều năm trước, trong đầu tôi đã nảy ra cái ý nghĩ ngược chiều sau đây, mà chẳng dám nói với ai, kể cả vợ con.
Tôi nghĩ rằng trong cái việc xã hội lấy ngày 8-3 hàng năm để tỏ lòng biết ơn và tôn vinh phụ nữ, có nhiều khía cạnh.
Cái lợi cho các bà các cô cũng chỉ in ít thôi mà cái chính là để người ta càng hợp pháp hóa cái nhu cầu bức thiết là khai thác tận dụng phụ nữ vào các việc công cũng như tư.
Trước mắt nó có làm cho bộ phận này của xã hội tự vượt lên một chút, hãnh diện hơn một chút.
Nhưng suy cho cùng nó không phải là vì quyền lợi lâu dài của phụ nữ.
Nó chỉ tạo ra sự bình đẳng tạm thời.
Chỉ một ít phụ nữ biết sử dụng cái quyền vốn rất khó xác định này.
Còn với số đông có mấy khả năng sau đây:
-- bùi tai tưởng thật, sinh ra vênh vang đòi hỏi
-- không biết bao giờ mới xác định được giá trị của giới mình trong hoàn cảnh hiện nay, mỗi người cũng không chắc đã tìm được cho mình một cách sống cách nghĩ hợp lý.
Tôi chỉ nói trên đại thể, chắc là trong đó phải có những trừ bì.
2/
Mấy ngày hôm nay đang trong không khí bàn bạc về Phan Châu Trinh. Mới đọc sơ sơ một số trang cụ Phan viết, nhưng tôi đặc biệt thích tìm hiểu cá tính con người hành trạng của cụ nhất là trong sự so sánh với con người Sào Nam Phan Bội Châu.
Rồi sự lan man đưa tôi tới một đoạn văn trong Pháp Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam ( tạm dịch Nước Việt Nam mới sẽ như thế nào sau khi Pháp -- Việt liên hiệp), ở đó cụ Phan Nghệ An được cụ Phan Quảng Nam miêu tả những nét đặc trưng cho con người nhà chí sĩ yêu nước
Theo cụ Tây Hồ, một biệt tài của Sào Nam là tài sách động, nó là vũ khí của các nhà cách mạng khi đi vào thực tế để vận động quần chúng .
Sào Nam thường dùng tình cảm để lôi cuốn người khác hoạt động theo ý chí của mình. Khi họ chết, ông sẵn sàng viết ra những bài ca tụng công lao của họ và lấy đó làm đủ, bằng chứng là vừa xong người này, lại lao vào những cuộc vận động lôi cuốn người khác theo cái cách vốn có. Ý này tôi đã trình bày ở phần cuối bài viết trên blog ngày 7-3- 2017 Phan Tây Hồ tự bộc lộ qua những đoạn miêu tả về Sào Nam Phan Bội Châu
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/03/phan-tay-ho-tu-boc-lo-qua-nhung-oan.html
3/
Cái hành động đẩy người phụ nữ lên phía trước đề cao họ lôi cuốn họ mà chúng ta nói ở trên gần giống với cách làm thấy ở một số nước với các anh hùng của họ trong chiến tranh.
Mấy năm 1967-68, trên báo Văn nghệ Xuân Diệu đã dịch và cho in bài thơ sau đây. Có lẽ vì nội dung của nó chắc chỉ đúng với các nơi khác mà nhiều phần lạc lõng so với tinh thần cuộc chiến ở ta nên Xuân Diệu về sau không sưu tầm đưa vào sách nào cả. Nhưng tôi thấy nên chép lại dưới đây
NGƯỜI ANH HÙNG NÓI
Felik Pollak nhà thơ Mỹ (1909-1987)
Tôi đã không chịu đi
Chúng bắt tôi vào quân dịch
Tôi đã không muốn chết
Chúng gọi tôi là nhát hèn
Tôi đã tìm cách trốn
Chúng mang tôi ra tòa án binh
Tôi đã không nổ súng
Chúng bảo tôi là không có thớ
Chúng mở cuộc xuất kích
Một viên đạn ngấu nát ruột tôi
Tôi đau quá khóc lên
Chúng đưa tôi vào hầm trú ẩn
Trong hầm tôi đã chết
Chúng lặng lẽ chào tôi
Chúng đã gạch tên tôi
Và chôn tôi dưới một cây thánh giá
Chúng đọc điếu văn trong thành phố tôi sinh
Tôi không thể kêu lên là chúng nói dối
Chúng nói tôi đã cống hiến đời mình
Tôi thì cố mà giữ lại
Chúng nói chúng tự hào về tôi
Tôi thì đã xấu xa đi vì chúng
Tôi đã muốn sống còn
Chúng gọi tôi hèn nhát
Tôi đã chết hèn nhát
Chúng gọi tôi anh hùng
4/
Thế kỷ hai mươi, ở Trung quốc có nhiều trí thức mà tên tuổi nổi lên, song ở ta, bọn tôi chỉ biết tới Lỗ Tấn.
Sau 1975, đọc thêm sách báo miền Nam mới biết còn những tên tuổi lớn như Lương Thấu Minh, Hồ Thích, Lâm Ngữ Đường.
Cuốn “Trung quốc triết học sử” của Hồ Thích được dịch in ở Sài gòn đâu từ 1972-73 gì đó,. tôi không tìm được bản cũ, chỉ có trong tay bản của nhà “Văn hóa thông tin” 2004.
Đọc trong lời giới thiệu của Nguyễn Đăng Thục, thấy đoạn kết có dẫn ra một câu Hồ Thích tóm tắt tư tưởng của mình như sau
"Trong thiên ngôn vạn ngữ của tôi, tôi cũng chỉ dạy người ta phương pháp làm một người không chịu để cho người khác [bất kỳ là ai -- VTN thêm] mê hoặc”
ĐÁM TRẺ Ở TA ĐANG ĐƯỢC DẠY DỖ NHƯ NHỮNG NGƯỜI LỚN
Ngày đăng 20 tháng 3 năm 2017
1/
Tại một số trường tiểu học, có đội cờ đỏ do các em lập ra, uy quyền bao trùm khiến cả các giáo viên đôi khi cũng phải sợ, nói chi là các bạn – đấy là tin tôi đọc được từ một hai năm trước.
Cũng qua tờ Tuổi trẻ năm ấy, tôi thấy một vị phụ huynh kể chuyện con bà ta muốn bớt tiền ăn quà để làm việc riêng? Việc gì? Cháu cần nộp tiền cho bạn lớp trưởng, để bạn ấy khỏi báo cáo cô giáo, một lỗi nhỏ mà cháu vô ý phạm phải.
Còn chuyện trẻ con xin tiền để nhờ bạn làm hộ bài thì đâu tôi đã đọc được ở vài nơi chứ không phải riêng ở báo nào, và nhiều nhất là trong câu chuyện hàng ngày.
Cùng với tuổi già, trong tôi bắt đầu xuất hiện và ngày càng thấy sống dai dẳng một con người phản bác lại chính mình.
Trước các hiện tượng không quen, trong tôi như là có hai con người N và N’ dông dài bàn thêm, nhất là tranh cãi với nhau.
Lần này cũng vậy.
Khi N tôi phàn nàn về mấy việc nhỏ nói trên, N’ nói ngay, chúng ta có một xã hội thế nào thì trước sau nó phải phản ánh vào trong nhà trường chứ còn sao nữa.
N’. còn nói thêm:
-- Có cái chết là người ta không thấy đấy là điều đáng lo ngại và tìm cách trừ bỏ, mà lại còn tự hào là đã đưa được các tư tưởng chi phối xã hội vào trong nhà trường, để con trẻ sớm được tiếp xúc với các vấn đề mà sau này chúng phải đối mặt. Nó là cả một nguyên tắc chi phối nền giáo dục mất rồi, hãy đi mà cãi nguyên tắc đi, trước khi phê phán các hiện tượng thực tế.
Đã đến nước này thì N tôi đành chịu.
2/
Tôi ít xem TV, nhất là các chương trình văn nghệ, nhưng cũng đủ có được cái nhận xét là dạo này dân nhà đài rất hay đưa trẻ em ra biểu diễn.
Chuyện quảng cáo, trẻ dài mồm ra mà khen bát mì ngon, hoặc từ xa chạy sầm sầm vào nhà mở tủ lạnh lấy kem ăn rồi thè lưỡi ra trước mặt người xem truyền hình.
Chuyện ca nhạc, tấu hài ...như tối qua 19-3 -2017, thấy ở một chương trình có một em nhỏ môi son má phấn con mắt ra vẻ lẳng lơ đưa tình khi đóng vai Thị Màu lên chùa.
Do chỗ chuyện văn nghệ này cũng dính tới chuyện nhà trường nói trên, nên câu chuyện giữa hai anh bạn N và N’ trong tôi lại tiếp tục:
-- Làm thế trẻ nó hư đi ! Vả chăng ta thường nghe nói ở nhiều nước người ta cấm khai thác lao động trẻ em. Đây chẳng phải là một hình thức bóc lột lao động với các em hay sao?
-- Cũng đã có người nói thế đấy. Người ta bảo các ông ở truyền hình bí các tiết mục quá mới nghĩ ra cái chiêu trò này để câu khách, và các nghệ sĩ sống quanh đài thì cứ có ai đặt tiền là làm. Khi có người phê phán như anh vừa nói thì các ông ấy bảo đây là gia đình người ta thích thế cơ mà.
-- Tôi phản đối. Người dân người ta dại dột không biết, mình là người hướng dẫn dư luận mình phải bảo người ta chứ.
-- Anh chẳng biết gì về con người thời nay cả. Không có thời nào như thời nay, cả nước rủ nhau rượu chè, cờ bạc. Hẳn anh nhớ là trong các gia đình thời xưa, các bà nội trợ ăn theo nhưng rất sáng suốt, ai rủ rê chồng bà ta đi rượu chè đấu hót thì các bà ấy đến tận nơi các bà ấy chửi cho ủng mả. Nay thì các hãng bia tha hồ lên TV quảng cáo bia và trong các đám nhậu người ta thi nhau đổ rượu cho nhau, chẳng biết khi nào là hồn nhiên và khi nào quyết chí làm hại bạn để bạn cũng hư như mình. Lại còn cái chuyện chơi sổ số điện tử hàng tỉ đồng nữa chứ. Anh thử lên tiếng than phiền đi xem có ai người ta nghe không hay chỉ chuốc lấy tiếng chê cười mình là người lạc hậu.
-- !!!
3/
A. Ja. Gurevitch là một nhà nghiên cứu văn hóa người Nga chuyên về trung thế kỷ. Tôi rất thích tác giả này vì đọc ông chẳng những tìm thấy những hướng dẫn để đi vào con người Việt Nam từ XIX về trước mà còn giúp tôi hiểu thêm về dân mình hôm nay. Trước vấn đề tuổi thơ trên đây vừa nói -- khi tự đặt cho mình câu hỏi “Thế đây có phải là cả một quan niệm về giáo dục của thời trung cổ đang sống lại mạnh mẽ hay không?" – tôi tìm vào Gurevitch và được ông cho biết :
“Thời trung cổ người ta xem đứa bé như là một người lớn còn bé và người ta không đặt ra vấn đề nào cả về sự phát triển và sự hình thành tính cách con người .
Cho tới thế kỷ XII, XIII, nghệ thuật tạo hình mô tả trẻ em như là những người lớn kích thước thu nhỏ lại, ăn mặc như người lớn và kết cấu thân hình như giống như người lớn. Trong giáo dục, người ta không tính đến lứa tuổi và đám trẻ thì được dạy dỗ như là những người lớn. Trò chơi, trước khi trở thành trò chơi của trẻ em, đã là trò chơi của các kỵ sĩ. Trẻ được xem như những người bạn tự nhiên của người lớn.
Và Gurevitch dẫn lại một câu trong cuốn “Trẻ và đời sống gia đình trong các thể chế cũ” của học giả Pháp F. Aries, in ở Paris 1960 ông này cho rằng thời trung cổ, người ta không biết đến phạm trù trẻ em như là một trạng thái đặc biệt xác định về chất của con người. Văn minh trung cổ theo F. Aries, là văn minh của những người lớn.
Đoạn vừa dẫn được Gurevitch viết trong cuốn “Những phạm trù văn hóa trung thế kỷ”, ở chương cuối “Đi tìm nhân cách con người”, đây tôi dẫn theo trang 333 trong bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến do nxb Giáo dục cho in 1996, -- trong bản tiếng Việt anh Hiến gọi là trung cổ nhưng tôi thấy gọi là trung thế kỷ thì thích hợp hơn.
Những tư tưởng nói trên cũng được Gurevitch nhắc lại trong mục từ “tuổi thơ” (detstvo) ở cuốn “Từ điển văn hóa trung thế kỷ” bản tiếng Nga in ra ở “Moskva Rosspen” 2003, do chính ông làm chủ biên.
BỔ SUNG CHO BÀI ĐÃ ĐƯA LÚC 14H
Do sự vụng về lúng túng của tôi nên bài viết đưa lúc 14h đã tự động nhân làm hai bản , và tôi không biết làm thế nào để xóa đi được. Xin chân thành cáo lỗi với các bạn.
Tối nay, để đưa bài lên blog của mình tôi đã viết thêm đoạn cuối sau đây. và đổi lại tên bài thành " Một khía cạnh của tính chất trung cổ trong nền giáo dục hiện thời'
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/03/mot-khia-canh-cua-tinh-chat-trung-co.html
ĐOẠN BỔ SUNG NHƯ SAU
4/
Tôi đã phần nào phác họa được một hai khía cạnh trung cổ trong nền giáo dục VN hiện thời.
Có hai khía cạnh cần lưu ý thêm.
Một là xưa nay nói đến trung cổ người ta thường nói đến sự trì trệ. Trong cái đêm trường trung cổ ấy, nhân cách con người bộc lộ ra thế nào. Đây là câu trả lời của Gurevitch;
- con người thời ấy được tạo ra theo hình ảnh của chúa và giống với chúa (tr 322 bản Hoàng Ngọc Hiến nói ở trên)
- mặt khác, con người là nô lệ của thượng đế (tr323)
- con người không ý thức được bản thân mình như một cá tính tự trị , nó thuộc về chỉnh thể và phải thực hiện cái vai trò được trao cho nó trong khuôn khổ của chỉnh thể (tr 326)
- trong linh hồn con người có cuộc đấu tranh của những nhân tố khác nhau mà ngọn nguồn của chúng lại ở ngoài nhân cách.(tr 331).
Hai là, nhìn chung trên phạm vi thế giới, hiện nay nhân loại đã bước sang thời đại khác. Với sự có mặt của văn minh phương Tây, toàn bộ sinh hoạt người Việt từ thế kỷ XX đã bước sang thời hiện đại. Sự có mặt của các yếu tố trung cổ hôm nay là lạc lõng, nó phá hoại sự nhất trí của con người và xã hội . Nó làm cho bước đường hiện đại hóa mà chúng ta đinh ninh là mình đang tiến tới ngày càng trớ trêu khó thực hiện hơn.
QUỲNH DAO
VÀ MỘT QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT
Ngày đăng 24 tháng 3 năm 2017
Cho dù có bệnh tật nghiêm trọng thế nào cũng không được làm phẫu thuật, không đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt, không sử dụng ống thở hỗ trợ, không miễn cưỡng áp dụng các biện pháp cấp cứu, chỉ cần ra đi một cách không đau đớn là được.
Tang lễ phải thật đơn giản, không tổ chức theo nghi thức, không đăng cáo phó, không tổ chức lễ truy điệu, tưởng nhớ, không đốt vàng mã, không lập linh vị, không cần cúng bái vào ngày giỗ, tiết Thanh Minh…
Quỳnh Dao quan niệm : “Cái chết là việc riêng của gia đình, nên tốt nhất là không làm phiền đến những người xung quanh, nhất là giới hâm mộ”.
Quỳnh Dao cũng căn dặn gia đình sau khi lo hậu sự cho bà hoàn tất mới công khai cái chết của bà, như thế tránh dư luận báo chí lấy làm đề tài, gây phiền lòng đến người thân trong gia đình.
Trên đây là một đoạn trong bài viết của nữ sĩ Quỳnh Dao được đưa trên mạng Phong Điệp, nó cho thấy sự thanh thản của con người trong các xã hội thịnh trị, khác hẳn với quan niệm về sự sống và cái chết của hầu hết người Việt hiện nay, kể cả những người tạm gọi là trí thức
Việc giải thích tại sao người già ở xứ người lại có thể thanh thản và sáng suốt vậy, còn ở ta lại "cố đấm ăn xôi' và thích bày vẽ cho cái chết của mình vậy -- xin mời các bạn cùng suy nghĩ
TAI HỌA VÀ CÁCH NHÌN NHẬN TAI HỌA
Ngày đăng 24 tháng 3 năm 2017
Tai họa như trẻ con trên mặt đất
Người ta rồi ai cũng có thôi
Anh nói điều ấy thật thản nhiên
Mắt đăm đắm nhìn chiều xuống,
Tất cả đang thời đổ nát vẹo xiêu
Hẳn điều anh lo to lớn bao nhiêu
Mà tôi vẫn không thấy gì nơi anh dằn vặt
Mà sao giọng anh yên tĩnh hầu như độc ác
Và mưa rơi giữa chúng ta,
mưa rơi giữa chúng ta
như rơi vào lỗ hổng
Bài thơ này của P Eluard do Bằng Việt dịch,tôi đã lẳng lặng mang theo trong ký ức mấy chục năm nay.
Khoảng 1991, trong một bài viết về Nguyễn Thành Long, một người viết văn ở Hà Nội trước 1975, tôi đã dẫn ra câu đầu “tai họa như trẻ con trên mặt đất ‘’ để nói về “những người căn bản là lành là tốt, nhưng thỉnh thoảng cứ gặp tai họa”.
Vào những ngày -- khi mà giở bất cứ tờ nhật báo nào ra, chúng ta cũng gặp những tin cầu đổ, nhà sập, người giết người và trẻ em bỏ học..-- tôi bỗng nhận ra cái điểm nhấn là ở câu “tất cả đang thời đổ nát vẹo xiêu”.
Không thể khắc họa thời đại chúng ta đang sống một cách ngắn gọn hơn câu này được!
Riêng phần cuối bài thơ làm tôi thắc mắc một chút .
Nó trình ra cái tâm lý nước đôi của con người sau khi đã nhận thức ra tầm vóc tai họa.
Vừa phải suy nghĩ rất lung về nó, vừa phải bình tĩnh chấp nhận nó.
Bởi suy nghĩ kỹ, nên mới hiểu rằng nó rất phổ biến rất khó khắc phục, và muốn tìm ra biện pháp chế ngự nó đích thực, còn phải suy nghĩ tiếp.
Chấp nhận ở đây không có nghĩa là đầu hàng. Chấp nhận ở đây là tìm cho mình một con đường khó hơn nhưng hữu hiệu hơn để sống chung với nó, trước khi vượt qua nó.
Nhưng phải có một lý trí thật mạnh, người ta mới yên tâm như thế. Một số chúng ta vẫn thích làm người hùng, tìm mọi cách hành động để vượt lên tai vạ và sẵn sàng chê trách những kẻ chấp nhận trước đã.
Hiểu như thế để thông cảm với cái phản ứng quá tức thì của Eluard.
Ông xoáy vào câu hỏi: sao người bạn kia của ông – một thứ nhân vật lý tưởng mà ông tưởng tượng ra -- lại quá dửng dưng, không thường xuyên dằn vặt, không thấy đây là “những việc phải làm ngay“, kiểu như câu thơ của ai đó “thù giặc Mỹ phải tìm ngay để giết”.
Rồi tôi tự nhủ: thời của chúng ta còn khó hơn thời của những người nửa đầu thế kỷ XX – khi Eluard viết bài thơ này. Trước những sự kiện vượt lên mọi khuôn khổ thồng thường, tâm trạng mọi người càng bức bối hơn, có khi lại còn dễ manh động hơn. Nhưng tôi tin cuối cùng cũng vẫn là phải suy nghĩ tiếp. Đến những con người ưu tú ở những nền văn hóa lớn như Nga như Trung Quốc, người ta cũng còn phải bảo nhau suy nghĩ tiếp, huống chi là chúng ta.
Cũng ý này tôi đã trình bày trong một bài viết cách đây hai năm mang tên "Một cách tìm lại tự do trong mất tự do "
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/07/mot-cach-tim-lai-tu-do-trong-mat-tu-do.html
ĐI TÌM CON NGƯỜI GIỮA SỰ HỖN ĐỘN CỦA LỊCH SỬ
Ngày đăng 28 tháng 3 năm 2017
Từ 1992, triết gia người Nhật Francis Fukuyama, đã viết cuốn "The End of History and the Last Man"
Tới nay, nhân hiện tượng Trumpism, tác giả Paul Sagar lại có bài điểm lại cuốn sách . Bài viết gợi nhiều hào hứng cho nhà phân tích chính trị Nguyễn Quang Dy và anh đã làm ra một bản tóm tắt kèm theo bình luận mang tên “Fukuyama và tiếng cười nhạt cuối cùng” đưa trên mạng viet-studies 23-3-2017.
Để tiện học hỏi – khi không biết tiếng Anh và không đủ trình độ đọc nguyên bản -- tôi dựa hẳn vào bài trên của anh Dy, lọc ra cho mình các ý cốt tủy và trong trường hợp cần thiết thì diễn tả lại, cuối cùng thu hoạch được mấy trăm chữ như sau.
VỀ LỊCH SỬ
Phần đầu, Fukuyama đưa ra những suy nghĩ mới về lịch sử. Vượt qua quan điểm siêu hình của Hegel cũng như quan điểm “duy vật biện chứng” của Marx, ông cho rằng Lịch Sử (viết hoa) thực ra là quá trình phát triển của xã hội loài người theo hướng hợp lý hóa (giải quyết các mâu thuẫn một cách biện chứng), để tiến lên từng nấc một: từ thời Mông muội (Dark Ages), đến thời Phục hưng (Renaissance), qua thời Khai sáng (Enlightenment), với những phát kiến mở đường cho chủ nghĩa tư bản dựa trên dân chủ tự do.
Theo ông, mặc dù không hoàn thiện, nhưng đó là mô hình tốt nhất mà chúng ta có. Ở chỗ này, Fukuyama đã đưa ra cái công thức gây choáng váng -- “Lịch Sử đã chấm dứt”, và chúng ta đang sống trong giai đoạn “Hậu Lịch Sử”.
Phải thú thực là tất cả những điều này, tôi không đủ trình độ để hiểu. Gây ấn tượng với tôi mạnh nhất là một chuyện gần với ta hơn.
MỘT MÔ HÌNH CON NGƯỜI
Tương ứng với sự phát triển xã hôi đó, con người ra sao?
Trong phần thứ hai của tên cuốn sách mà Fukuyama gọi là The Last Man, ông ấy đã tham chiếu và vận dụng quan điểm của nhà triết học Đức Friedrich Nietzsche, khi lập luận rằng xã hội hiện đại tuy nhấn mạnh sự thật và minh bạch, nhưng đã “giết chết Thượng đế” (killed God) mà không có gì khác để thay thế.
Hầu hết con người hiện đại đều là những kẻ tiểu nhân, trì trệ, và nhàm chán, bị ám ảnh bởi thế giới vật chất tầm thường.
Đặc biệt là trong sự phát triển của lớp người ưu tú, lại có một bước ngoặt.
Từ 1992 Fukuyama đã đưa ra từ megalothymia để lý giải sự trỗi dậy của những người như Donald Trump , tức những kẻ độc đoán và tham vọng.
Trong phân tích của mình, Fukuyama luôn nhấn mạnh đến yếu tố thymos (tiếng Hy Lap có nghĩa là “tinh thần”).
Đó là sự công nhận một khía cạnh phổ biến của tâm lý con người, mà Thomas Hobbes gọi là “tự hào” (pride) và Jean-Jacques Rousseau gọi là “tự trọng” (amour proper).
Trước khi nói tiếp tôi muốn ghi chú:
Chữ pride trong tiếng Anh thường được dịch là kiêu hãnh, nghe hợp hơn chữ tự hào của anh Dy.
Còn amour- proper trong tiếng Pháp, tôi không tra được, nhưng đoán nó gần với nghĩa tự tôn, có pha chút tự cao tự đại, chứ không chỉ là tự trọng với nghĩa tốt đẹp.
Nguyễn Quang Dy viết tiếp:
Người ta luôn có nhu cầu được yêu thích và tôn trọng bởi người khác. Theo Fukuyama, một số người luôn còn cố ganh đua và có tham vọng cốt được công nhận là đứng đầu. Nghĩa là họ thích trở thành kẻ thống trị và áp bức người khác.
Loại người này nếu cảm thấy không được như ý, thì họ sẽ phá phách, gây rối.
Vậy là, từ năm 1992 Fukuyama đã dự đoán được những gì xảy ra ở Mỹ năm 2016.
Và ông xem đó như điều “tất yếu” với nghĩa nó xảy ra đột xuất ở Mỹ nhưng thường xuyên hơn và cũng nhiều màu sắc hơn ở các xứ sở khác, kể cả những xứ sở to mồm tuyên bố là sống ngược hẳn với nước Mỹ .
Các phần tử cực hữu mị dân này là mối đe dọa lớn hơn đối với sự ổn định của các xã hội dân chủ tự do hơn nữa có thể khái quát là nhân tố phá hoại mọi xã hội nói chung. Trên đường đi tìm những lợi ích vị kỷ, họ lợi dụng sự phản ứng của dân chúng, và đầu cơ những ham muốn của con người để giành quyền cai trị.
TỪ MALRAUX TỚI FUKUYAMA
Đi vào tìm hiểu lịch sử Việt, tôi nhận ra những cuốn sử mà thời tôi học đã phải học và ngày nay các em học sinh sinh viên đang phải học bị chi phối qua nhiều bởi các nhãn hiệu mà người ta gọi là hệ tư tưởng mà thiếu vắng hẳn bóng dáng con người.
Khi đi vào đánh giá những con người có tầm vóc lịch sử, ta chỉ chăm chăm tìm hiểu những tuyên ngôn và các hành động của họ mà quên rằng nhiều khi kiểu người và cá tính của họ mới là yếu tố quyết định.
Cả sử cổ từ thế kỷ XIX về trước lẫn sử thế kỷ XX, cái lịch sử chúng ta đang sống cũng vậy.
Tôi muốn mò mẫm vào cái khu vực không ai hướng dẫn đó. Để an toàn, tôi chọn cho mình cách quay về cái cũ, trong khi tin tưởng chắc chắn rằng tính cách con người trong lịch sử là thống nhất, viết về xưa cũng là viết về nay.
Người ta cứ tưởng rằng để làm được miêu tả con người, trước tiên cần phải có trí tưởng tượng. Về phần mình vốn nghèo nàn về cái khoản thăng hoa đó, nên chọn cho mình cách đọc kỹ các bộ sử viết rất khó đọc của các cụ xưa. Trên trang mạng của mình tôi từng trình bày bài viết “Tính cách người cai trị trong lịch sử Việt: trường hợp bạo chúa Lê Long Đĩnh” , lần đầu đưa vào 4-2013,
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/04/tinh-cach-nguoi-cai-tri-trong-lich-su.html
tới 12-2016 còn được đưa lại.
Khi viết bài này có một ý tưởng mới mẻ cổ vũ tôi. Trong một cuốn lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX, tôi đọc được một nhận xét của nhà văn Pháp A.Malraux có liên quan tới về trình độ mới trong việc hiểu biết con người của các nhà văn hiện đại :
“Ngày nay hiểu biết về một con người là hiểu biết điều phi lý trong con người đó, điều gì hắn không thể kiểm soát được, điều gì hắn sẽ xóa đi trong cái hình ảnh của chính hắn mà hắn đã tự phác họa“.
Tôi tự hỏi mình và tự trả lời:
-- Thế có phải là anh cho rằng thật ra trong những con người sống cách đây hàng mươi mười hai thế kỷ cũng có những phẩm chất của con người hiện đại?
-- Đúng vậy. Có thể tôi viết chưa thuyết phục nhưng tin lịch sử vừa thay đổi vừa lặp lại.
Những ý tưởng trên đây của nhà văn Pháp đã quá cố hình như đang được tiếp tục và đẩy đi xa hơn bởi nhà triết học Nhật sống cùng thời với chúng ta. Tôi nhận ra cho mình rằng một trong những con đường đi vào các giai đoạn sử cũ là hãy tìm hiểu sự nảy sinh của cái cũ đó trong hoàn cảnh mới. Và để hiểu sử Việt phải hiểu sử thế giới.
TẠI SAO CÓ NẠN CHÙA GIẢ ?
Ngày đăng 29 tháng 3 năm 2017
Tôi viết bài này từ khoảng hai mươi năm trước. Ngày nay, nó đã trở nên lạc hậu.
Hai chục năm trước, cái sự thật giả còn khiến dân tình quan tâm, người ta còn có nhu cầu tìm ra thứ thiệt và hy vọng tìm được.
Ngày nay, mọi người sống ào ào, thứ thiệt chất lượng chẳng hơn lên mà các thứ giả lại ngày càng hào nhoáng bóng bẩy thêm, mọi người càng có lý do để sống ào ào, cốt sao được việc chứ lấy đâu thời gian đi tìm cái nguyên bản cái cốt cách.
May mà hồi ấy tôi đã dự đoán xu thế làm hàng giả ngày càng thắng thế, nên hôm nay xin mạnh dạn giới thiệu lại với các bạn.
Bài viết lần đầu đưa trên TT&VH, tới 2004, đã được đưa vào tập
"Nhân nào quả ấy ".
Tập này năm 2006 được nxb Phụ nữ tái bản một lần và tới 2016 vừa qua lại được Nhã Nam tái bản lần thứ hai, ba lần tổng cộng là 5.000 bản.
Bản Nhã Nam hiện đang có bán tại các hiệu sách.
****
Khoảng từ những năm tám mươi lăm, tám mươi sáu trở đi, những người có dịp lên Đà Lạt đều biết một trong những địa điểm dạo chơi thú vị là Trúc Lâm thiền viện.
Đó là một ngôi chùa mới dựng, song được đặt giữa một không gian thoáng đãng, có đồi cao, có khe nước rộng, bản thân kiến trúc ngôi chùa cũng được tính toán công phu, có cốt cách riêng. Hiện đại mà vẫn cổ kính, đáng được liệt vào danh mục các địa điểm phải ghé thăm khi đến Đà Lạt.
Mỗi lần nhớ tới ngôi chùa này, tôi thường nghĩ: Thời đại chúng ta rồi cũng phải làm thêm ra nhiều công trình văn hoá mới, góp phần riêng của mình vào kho tàng danh lam thắng cảnh của đất nước. Chùa là một dạng công trình nên được nghĩ tới đầu tiên.
Điều trớ trêu là trong khi những ngôi chùa có giá trị văn hoá như thế chưa thấy đâu, thì nạn làm bừa làm ẩu đã hoành hành, nhiều “công trình” vừa xuất hiện, đã được gọi đích danh là hàng giả, mà một số chùa giả, động giả ở khu vực Chùa Hương chỉ là ví dụ.
Ngay khi nghe nói đến nạn di tích giả, nhiều người đã lập tức lên án kẻ bất lương lợi dụng lòng hướng thiện chính đáng của mọi người để kiếm lời.
Sự phản ứng đó là cần thiết và tự nhiên.
Ở đây, tôi chỉ muốn đặt thêm ra vài câu hỏi.
+ Bên cạnh cái lỗi của những người làm chùa giả, động giả đó, đâu là cái lỗi của mỗi chúng ta?
+ Đằng sau công việc thô thiển của người dân sở tại, đâu là cái quan niệm chung mà nhiều người chúng ta đã ngấm ngầm tán đồng và khuyến khích nó phát triển?
+Và tại sao việc đấu tranh để xoá bỏ các loại di tích rởm đó sẽ còn là vất vả trầy trật nếu như không nói là không bao giờ làm được?
TRƯỚC SAU RỒI SẼ XẢY RA
Không chỉ những người chuyên lo theo dõi việc bảo tồn và phục hồi di tích mà gần như mọi người đều biết rằng hiện đang có phong trào dân các địa phương thi nhau xin công nhận di tích, đưa chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ... nơi mình ở vào danh sách được Nhà nước xếp hạng.
Ngoài miệng, hoặc trên giấy tờ, ai cũng lưu ý tới ý nghĩa văn hoá: khi các di tích mang lại cho địa phương một vầng hào quang vinh dự, nó chứng tỏ đây là đất địa linh nhân kiệt và người dân biết giữ gìn nếp cũ.
Nhưng trong bụng thì từ các cấp có thẩm quyền đến người dân thường đều ngầm hiểu với nhau rằng khi một khu di tích đi vào hoạt động, tức là một địa điểm du lịch được khai trương, khách thập phương sẽ đổ về thăm thú, và một cơ may làm ăn sẽ đến với nhiều người.
Không có báo chí nào điều tra, song ai cũng biết một bộ phận dân các vùng có di tích ít năm nay giàu hẳn lên, thu nhập từ việc chạy chợ bên cạnh di tích chắc chắn là cao hơn nhiều so với làm ruộng.
Một khi “hơi đồng” đã bén, mấy ai còn nghĩ đến di tích như một địa điểm văn hoá nữa, mà chỉ còn biết xem nó như một mỏ tiền khai thác không bao giờ cạn kiệt (!).
Nhưng như thế tức là ở đây, ngay từ đầu, trong việc đưa di tích đến với xã hội, yếu tố lập lờ nước đôi "nói một đằng hiểu ngầm với nhau một nẻo" đã xuất hiện, và cái sự đi đêm ấy mở đường cho nhiều hoạt động giả dối tiếp tục nảy nở.
Một quy luật của thị trường (nhất là thị trường ở Việt Nam, tồn tại theo kiểu Việt Nam) là dễ nảy sinh hàng giả. Những người có đi chùa Hương đều biết rằng có một món quà lưu niệm dân ở đây hay mang bán là phong lan. Như bản thân tôi, mấy lần mua phong lan ở đây về thì từng ấy lần bị lừa, cành nọ buộc tạm vào cành kia, đi một quãng là các mối buộc rời ra hết. Quà lưu niệm đã giả còn nói chi đến nước giải khát giả, kẹo bánh giả, rồi lá số giả, tờ sớ giả vẫn bán với giá cắt cổ.
Cho qua mọi thứ của giả “lặt vặt” như thế, người ta có biết đâu mình đã góp phần nuôi dưỡng ý đồ làm chùa giả, động giả nó chín dần trong đầu óc những kẻ muốn “làm ăn lớn”.
CÓ SỰ GÓP SỨC TỪ CẢ HAI PHÍA
Sự thiêng liêng bị pha tạp - có thể không sợ hàm hồ mà nói về phong trào đi hội hiện đang rầm rộ như vậy.
Bên cạnh những người đến với lễ hội với tình cảm tôn nghiêm và có suy nghĩ, thì còn không ít người đi theo kiểu đua đả, hoặc ngấm ngầm tính chuyện cầu lợi, đặt việc cúng bái cao hơn mục đích tham quan và hiểu biết.
Đã gọi đua đả tức ăn theo, học đòi, không có hiểu biết gì chắc chắn về mảnh đất mà mình bỏ công thăm viếng.
Còn đi để xin lộc thì chỉ cần có chỗ thắp hương, và trình ra món lễ vật hậu hĩnh, còn chùa chiền hang động thế nào cũng được!
Cả hai loại người này gặp nhau ở sự dễ dãi vô nguyên tắc.
Bằng cách đó, họ trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ kinh doanh đồ giả.
Với tính nhạy cảm của kẻ sống bám vào di tích, đám người chuyên đứng ra làm công việc gọi là phục vụ người đi hội này hiểu rằng đối tác của mình chẳng có gì đáng trọng, đứng trước di tích, họ chỉ thuộc loại gà mờ, dễ bị bịp. Nói ra thì hơi quá, song suy cho cùng, phải thấy sự dễ dãi và kém hiểu biết của dân đi hội đã là một sự mở đường, sự tiếp tay để một số người ở địa phương đi xa mãi trong hành động giả dối trục lợi.
TÌM ĐÂU KHẢ NĂNG TỪ CHỐI
Thế nhưng, trước việc một niềm tin thiêng liêng bị xúc phạm, một số người lại có thái độ hờ hững đến khó hiểu.
Đại khái, chúng ta chỉ hiện ra như một kẻ nhẹ dạ và vô trách nhiệm: lơ đãng nghe bằng nửa tai.
Mỉm cười, chẳng ra vẻ tán thành mà cũng chẳng phản đối.
Coi như chuyện “bình thường”, chuyện không có gì phải làm ồn lên
Tiếp tục tò mò vào xem thứ hàng giả ấy ra sao rồi cười thầm và khuyên người khác cũng nên vào xem cho vui.
Đến như cái chuyện cúng bái thì cách giải quyết mới lại thật giản dị: nghĩa là nghĩ bụng đã mang đồ lễ đến đây thì chẳng nhẽ mang về, âu là gặp chỗ thanh vắng, ít người chen chúc, hãy hoá giải như đã định, biết đâu gặp giờ thiêng, trời phật lại phù hộ!
Thế là khôn ngoan ở những đâu, đến đây người ta chỉ còn là những kẻ lành hiền, nhẫn nhịn. Khỏi phải nói, sự thờ ơ cũng như việc thiếu khả năng từ chối như thế của khách thập phương chỉ làm cho việc triệt phá hàng giả và lập lại trật tự khốn khó bội phần, thậm chí, đã có người dự đoán “để lâu... hoá bùn”, không biết chừng rồi ra có lúc hàng giả lại thành hàng thật!
Điều đáng nói thêm ở đây là cái cách phản ứng nhẹ nhàng như trên chẳng qua chỉ là dấu hiệu của một căn bệnh nặng nề hơn: tình yêu của chúng ta với di tích chùa chiền hang động... chưa phải là thứ tình yêu bền chặt dựa trên một sự hiểu biết sâu sắc.
Nhất là ta chưa có yêu cầu cao về tính thuần khiết, tính nguyên bản của chúng.
Ta dễ dãi với người bởi ta dễ dãi với mình.
Sự thờ ơ với cái giả chỉ là một biến tướng của sự thờ ơ với cái thực mà hàng ngày chúng ta giấu kín và che phủ bên ngoài bằng những lời lẽ hoa mỹ.
CAMPUCHIA, MỘT CON ĐƯỜNG KHÁC
MỘT NHẬN THỨC KHÁC
Ngày đăng 30 tháng 3 năm 2017
Ngoài chuyện tiền bạc, về tâm lý thôi mà nói, tôi thường đã rất ngại, không dám tính đi du lịch các nước giàu có bên trời Tây. Lý do là vì đi về chỉ thấy buồn, sao ở đó người ta sướng thế tử tế thế mà nước mình con người hư hỏng và xã hội trì trệ đến thế.
Nhớ có lần đọc một câu của B. Russel, do Hà Văn Tấn dẫn lại, bàn về sự hấp dẫn của sử, đại ý nói là đọc sử để hiểu những ngu ngốc của thời xưa do đó dễ dàng chịu đựng hơn những ngu ngốc của thời nay.
Tôi cũng muốn làm theo lời khuyên đó, và chuyển nó từ trục thời gian xoay qua trục không gian. Tức là, nếu điều kiện cho phép, tôi thích đi lang thang ở những nước nghèo nước khổ, để khi quay về thấy yên tâm với nước mình. Ví dụ như đi châu Phi, hay mấy nước kem kem ở Trung Đông và Đông Nam Á.
Nói thế thôi, chứ bây giờ chả ai nghèo khổ nữa, không bằng Tây nhưng họ biết học Tây để phát triển.
Chỉ có riêng ta, chả học làm ăn gì cả -- sau chục năm hô hào nay cái nghĩa của hai chữ hội nhập tóm lại ở một nội dung là mua hàng ngoại về mà xài - nên đằng sau vẻ sặc sỡ giả tạo là sự nghèo nàn thực sự, tìm nước chán hơn nước mình rất khó.
Tuy nhiên ở đâu thì qua sự so sánh cũng rút ra được ít suy nghĩ có ích .
Tôi đến Campuchia tháng 11-2010 với tâm thế đó và đã ghi lại những cảm tưởng sau chuyên đi ba ngày này trong sổ, nay xem lại thấy có vẻ như vẫn tàm tạm, nên muốn trình ra với các bạn.
MỘT THỜI THANH BÌNH
Trên những con đường quốc lộ, tôi đã chứng kiến một sự bình thản. Làng xóm nơi đây yên lành, trên nền không gian rộng rãi. Người ta không đổ ra đường để buôn bán.
Đến Pnompenh, sự bình thản ấy vẫn còn. Đô thị không có nghĩa là chen chúc. Xe máy đã nhiều hơn xe đạp, nhưng không thành những dòng sông cuộn nước như ở ta. Ngay ở các ngã tư chưa có đèn đỏ, vẫn thấy có hiện tượng ô tô nhường nhau chứ không thúc vào đít nhau mà còi loạn lên như ở Hà Nội.
Tôi đến Pnompenh vào một buổi chiều người đi đông nghìn nghịt ngoài đường, -- sau đó tôi mới biết là ngày hội té nước, cầu bắc qua sông bị gãy, tiếp đó là sự kiện bi thảm hơn ba trăm người chết và vài trăm khác bị thương.
Tuy nhiên, nếu như ở VN, việc đó sẽ làm cho cả thành phố rung động thì ở đây, mọi chuyện không gây hoảng hốt quá đáng. Nhà nước không làm ầm lên cái chuyện kịp thời lo cứu trợ cho dân. Sáng hôm sau, trước bãi cỏ hoàng cung, những người công nhân vệ sinh bình tĩnh dọn rác. Hàng đàn bồ câu bay lên. Trước cửa bệnh viện, người đến thăm nom không khóc lóc động trời mà xếp hàng vào thăm người thân khá trật tự. Họ tin rằng xã hội sẽ biết cứu giúp người thân của mình một cách tốt nhất.
NHỮNG CÁI KHÔNG Ở SIEMRIEP
Ở đây tôi càng như trở lại một thời thanh bình cổ điển. Nơi đây khách du lịch không thấy những đám thiếu niên làm ồn trên đường và chen chúc nhau trong các cửa hàng chơi game. Không thấy các thiếu nữ váy dài váy ngắn, mắt xanh mỏ đỏ. Không thấy các đám công chức túm tụm bia rượu.
Tôi tự giải thích cho tôi về sự thanh bình này: Chiến tranh đã đi qua đất nước này, nhưng nó không xới lật lên tất cả, nó không biến con người trở thành những cái bã của chính mình thời tiền chiến.
Nếu sau chiến tranh người Việt mình không ai bảo ai gần như phát cuồng lên lao đi kiếm sống thì ở đây, người Miên yên tâm với tình cảnh của mình
Con người không quá nhiều ham muốn. Không muốn trả thù cho những năm tháng vất vả vì chiến tranh. Không tự biến mình thành một xã hội tiêu thụ.
Đặc biệt vì Siemriep là nơi nhiều du khách nước ngoài tới để thăm Ăngkor Wát Ăng co Thom, nên tôi lại chứng kiến một nét khác làm nên lòng tự tin của văn hóa Campuchia. Họ không coi người nước ngoài là cái nguồn kiếm sống. Lại càng không coi những cái ngoại lai ấy là cái mẫu để học đòi bắt chước từng ly từng tí. Họ tự tin ở cách sống riêng của người Campuchia và biết học hỏi người nước ngoài một cách khôn ngoan và thận trọng.
BÌNH THẢN TRƯỚC LỊCH SỬ
Cả ở Pnompenh lẫn Siemriep, phố xá được đặt tên bằng các con số là chủ yếu Rất ít phố ở đây lấy tên người để đặt như ở bên ta.
Người Campuchia hình như không quá quan trọng đối với quá khứ của mình. Lại càng không coi việc đặt tên một người cho đường phố là cách thưởng công cho người đó, vô hình trung tạo nên một cuộc chạy đua lố bịch.
Sống sát ngay Angko Wat Angkor Thom, nhưng người dân Siemriep không coi đó là nguồn kiếm sống, không chen chúc vào trung tâm để mở cửa hàng.
Mà người các địa phương khác cũng không rồng rắn kéo về cố đô để lây niềm tự hào .
Họ thản nhiên sống cạnh lịch sử, đến mức tôi cảm thấy hình như họ nghĩ rằng mình chưa đủ trình độ để giải thích quá khứ của mình.
Cảm tưởng này lại đến với tôi khi thăm Bảo tàng quốc gia Campuchia ở Pnomgpenh.
Giá vé vào cửa đắt, những 12 USD nên người bản xứ vào không nhiều.
Thế sao chính phủ không tìm cách giảm giá vé để cho dân vào? Sau tôi mới biết thật ra bảo tàng này do người Pháp chủ trì xây dựng đâu từ 1925 và đến nay vẫn giữ nguyên theo cách trình bày ban đầu. Tức Bảo tàng này trình bày lịch sử Campuchia bằng con mắt người Pháp, chứ không phải bị cải tạo đi như ở ta.
Nhưng cái du khách bắt gặp ở bảo tàng lại là một xứ Campuchia đích thực, và tôi ngờ khi tới thăm nó cả người bản địa lẫn người nước ngoài đều hiểu và yêu Campuchia hơn.
Còn dân Việt từ quan đến dân do nghĩ rằng “không ai hiểu mình bằng mình”, chỉ biết làm ra những thứ bảo tàng quá nhiều đồ giả quá nhiều khẩu hiệu, phần xem được không bao nhiêu.
Thử hỏi giữa ta với người hàng xóm ai biết tôn trọng quá khứ hơn ai?
MYANMAR, 2013
Ngày đăng 4 tháng 4 năm 2017
Được sự ưu ái của các bạn sau bài viết về Camphuchia, tôi xin giới thiệu tiếp bài viết của tôi về Myanmar, sau chuyến du lịch bụi 2013. Từ chuyến đi ấy đến nay, Myanmar đã có nhiều cái khác, các chi tiết tôi đưa ra đã lạc hậu, nhưng tôi tin cái tinh thần phát triển ở đó thì đến nay vẫn thế.
Khi đưa cả hai stt này lên blog, tôi đã đặt cho bài một cái tên chung
"Campu chia, Myanmar, những xứ gần ta mà khác xa ta."
rồi tôi tự hỏi, nói thế có quá đang không, sao lại khác xa đươc, hàm hồ rồi chăng?
Nhưng nghĩ lại, tôi vẫn thấy phải nói như thế, nên nói như thế.
Sau stt về Campuchia, nhiều bạn đã chia sẻ với tôi những cảm giác của các bạn sau những chuyến đi về đất nước chùa Tháp gần đây, và tôi thêm tự tin hơn. Chúng ta tự hứa với nhau hãy bớt hoắng lên về chuyện bên Mỹ bên Nhật , mà cũng đừng lo tìm ra các bài học từ Hàn quốc, Singapore, hãy trở về với Lào, Philippine, Nepal, Afganisatan, Mông Cổ... hãy chú ý cả những thành công của họ lẫn những thất bại của họ. Con đường để ta hiểu về dân tộc mình, đi qua khả năng chúng ta nhận thức về các dân tộc khác.
***
VẺ TỰ TIN KÍN ĐÁO
Một chút tò mò thúc đẩy tôi muốn sớm đến Yangon: người ta bảo thành phố đó tuyệt đối không có xe gắn máy.
Đến đây lại thấy cái chuyện tưởng là kỳ lạ ấy thật ra không có gì phải ngạc nhiên.
Cuộc sống các nước nghèo Đông Nam Á lẽ ra nó phải như thế.
Xe máy nhộn nhạo cuồng loạn như chúng ta là hiện đại gắng gượng, hiện đại nửa vời, hiện đại giả tạo.
Thảm ô tô khá dày nhưng mọi xe đi lại từ tốn, nhìn nhau mà đi chứ không bao giờ phải còi réo với đèn bấm ngậu xị như bên mình.
Sau đây là một vài "cái không" khác của Yangon.
Nhà cửa không cao, không có các loại cao ốc vài chục tầng, chỉ có những chung cư nhỏ.
Tường nhà nhiều nơi cũ kỹ.
Đường phố không dày đặc những biển quảng cáo hàng ngoại.
Trên vỉa hè những bóng người thưa thớt đi lại chậm rải. Cộng với sự từ tốn của phương tiện giao thông, vẻ thanh thản của con người trên đường khiến khách phương xa mới tới có ngay cảm giác về sự ngự trị của trật tự. Không thấy một bóng cảnh sát gọi là có.
Người đi đường không mỗi người một điện thoại cầm tay bấm nhoay nhoáy rồi nói -- cố gào thật to để át đi tiếng ồn phố xá.
Nhìn vào các gia đình, cũng như trong các công trình công cộng, không thấy chỗ nào cũng một cái Tivi, hết quảng cáo mời chào mua hàng, lại lôi kéo giục giã người ta dán mắt vào các bộ phim nước ngoài sặc mùi bạo lực hoặc cải lương mùi mẫn.
MỘT CHÚT SO SÁNH KHI NHÌN VÀO ĐỜI SỐNG TINH THẦN
Liên hệ tới xứ mình.
Đáng lẽ quay trở về với xã hội tiểu nông trước chiến tranh để bình tĩnh băng bó những vết thương cũ dần dần khôi phục đất nước thì xã hội VN sau 1975 lại làm ngược lại.
Người ở nông thôn dồn lên đô thị. Các chiến binh -- vốn không được chuẩn bị để có hiểu biết cần thiết về việc làm ăn xây dựng -- chia nhau lấp đầy bộ máy quản lý, điều hành mọi mặt kinh tế xã hội văn hóa giáo dục.
Hỗn loạn chồng lên hỗn loạn. Nhưng mặc, tất cả hoan hỉ coi như xã hội mình đã bước vào cuộc sống hiện đại, bất chấp thực tế đó là một thứ quả chín ép dễ dàng biến dạng.
Chúng ta luôn luôn thèm muốn một cuộc sống khác với cuộc sống mình vốn có.
Cuống cuồng ăn nói đi lại.
Cuống cuồng lừa đảo nhau hành hạ nhau.
Cuống cuồng hưởng thụ, cố bắt cho được cái gì gọi là giàu có hiện đại mà người phương Tây đang có.
Sở dĩ cuống cuồng là vì ta biết mình xa lạ biết bao với cái hiện đại thực sự. Càng bước gần hiện đại càng thiếu tự tin. Bằng con đường chính thường không bao giờ đạt được ước muốn nên làm liều làm lấy được.
Đối lập lại là cách làm của Myanmar. Nội dung của sự thanh thản, yên bình lương thiện ở Yangon, là cái tinh thần tự nhận thức âm thầm của xã hội Miến.
Người ta biết là người ta đang ở chỗ nào của thế giới này. Tự bằng lòng với mình. Yên tâm là có một xã hội phù hợp với trình độ sống vốn có.
Năm 2010, đến Siemriep Campuchia, tôi ngạc nhiên vì trong khi khách nước ngoài nườm nượp thì thỉnh thoảng mới thấy một người bản địa.
Giá VN có một di tích như thế xem. Dân mình sẽ đổ xô đến, ngoài chuyện làm dịch vụ kiếm sống trên lưng nhau, còn để thêm niềm “tự sướng” là ông cha mình đã tài ba giỏi giang đến thế đấy, nước mình vĩ đại ghê lắm.
Chùa Vàng mà bọn tôi đến hôm nay cũng là một cái gì ngoại cỡ. Chiều thứ bẩy, người ta đổ đến lấp kín khu chùa mênh mông. Không thấy có cảnh chen vai thích cánh xô đẩy nhau chen bật nhau. Đến chùa ở đây là để tưởng niệm. Để được sống dưới bóng từ bi, cả gia đình con cái cầu cúng xong ăn bữa cơm đạm bạc bên chân tháp. Thế thôi.
Trong khi chúng ta làm khổ nhau bằng những ám ảnh đâu đâu, thì người ta lẳng lặng sống theo cái nếp làm người vốn có.
Ngoài đường, thỉnh thoảng lại gặp những đàn bồ câu lớn, tụ tập tự nhiên, không biết sợ người là gì; cạnh đấy thường có một người ngồi bán các loại thức ăn dành cho chim.
Tản mát khắp các phố xá là những nhà sư khất thực, kể cả các em nhỏ mới vào chùa, tự nguyện sống cái cuộc sống đơn sơ của bao thế hệ đi trước.
LẶNG LẼ ĐỂ THAY ĐỔI
Sự ồn ào trên đường phố VN chẳng qua cũng là một biểu hiện của sự quá ồn quá lố trong đời sống nói chung.
Mà rõ nhất là cái ồn bắt nguồn từ mạng lưới truyền thanh truyền hình tuyên truyền quảng cáo làm khổ con người hàng ngày.
Tôi đã nói trên đường phố Yangon tịnh không nghe thấy những tiếng nói đầy áp đặt đó.
Trong căn phòng ở khách sạn, khi mở ti-vi, tôi cũng chỉ thấy chỉ có một kênh riêng của nhà nước Miến, ngoài ra là một số kênh nước ngoài, nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở con số 12 .
Thế có phải là đất nước này cứ dứng lì một chỗ?
Không phải, giở lại lịch sử từ 1947 đến nay đã thấy họ bao thay đổi.
Khi tôi từ Myanmar trở về, mấy người quen hỏi ngay là sao liều thế, thấy nói là ở bên đó quân ly khai các vùng đang nổ súng cơ mà. Không, tôi có cảm tưởng là ở cái xứ thanh bình này ai làm việc đó, chính trị là việc của một số người hiểu biết chứ không phải việc của bất cứ ai.
Ở họ là những rắc rối nhỏ của một tình thế bình thường. Mình thì là cả một tổng thể rắc rối. So làm sao được.
Trong cơn bế tắc, dân mình đang bàn tán nhiều tới những thay đổi bên nước Myanmar mà tổng thống Thein Sein mang lại mấy năm nay. Và nhiều người cấp tiến lại còn tính chuyện giá ta cũng làm như họ.
Tôi thử giải đáp cho mình những câu hỏi loại này bằng cách nhớ lại một vài tin tức cũ.
Ví dụ, trong số các tin tức mà tôi đọc được về Myanmar hồi trước có mẩu tin công chức Myanmar rất chuyên nghiệp, người nào cũng thành thạo tiếng Anh và không được đồng thời lo làm kinh tế riêng.
Bộ máy nhà nước và những con người của bộ máy đó khác chúng ta lắm, làm gì có chuyện ta sẽ có ngày như họ.
Mấy điều nhỏ sau đây hé ra cho thấy cung cách vận động của đời sống chính trị của Myanmar.
-- Xứ sở này không hề lệ thuộc vào những danh hiệu sẵn có. Lúc họ gọi họ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Miến Điện, lúc thì lại Liên bang Myanmar.
-- Thủ đô Rangoon đang rộng rãi hợp lý như thế, nhưng thấy cần thì lại thiết lập thủ đô mới ở Naypydaw.
Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không phải trung thành với quá khứ.
Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão.
ĐÂU MỚI LÀ XỨ SỞ CỦA VẺ ĐẸP TIỀM ẨN
Khi viết bài này, tôi có lên mạng và đọc được một bài của một bạn trẻ tên Phùng Kim Yến viết sau 6 ngày ở Myanmar, trong đó có câu nói về cái đẹp tổng quát của xứ sở mà bọn tôi vừa tới: đất nước có vẻ đẹp và cái duyên dáng tiềm ẩn (the hidden charm).
Sau khi bảo đây vốn là slogan của du lịch VN, bạn Yến nhấn mạnh:
Trong suy nghĩ của tôi, không phải Việt Nam mà chính Myanmar, mới là đất nước có vẻ đẹp và cái duyên dáng tiềm ẩn .
Tôi cũng thấy thế. Tôi muốn bổ sung, còn rất nhiều thứ khác xứ ta không có, song dân ta lại thích đưa lên thật oách, và cố buộc mọi người tin rằng ta có.
Tức đua đòi và khoe khoang một cách lố bịch không phải là bệnh riêng của ngành du lịch VN.
Bài đã đưa trên blog của tôi , từ 4-2013
đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/04/ba-ngay-o-myanmar_5.html
TẾ HANH NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI MÌNH KHI TUỔI GIÀ
Ngày đăng 11 tháng 4 năm 2017
Tổng kết đời mình là chuyện nhiều người khi bước vào tuổi già, thường ao ước. Nhưng cái đáng yêu ở Tế Hanh là ông không giấu diếm những lúng túng, những bất lực khi phải làm việc tổng kết phiền phức ấy.
Đời tôi thực hay mộng?
Đời tôi buồn hay vui?
Và thế là ông buột ra cái kết luận ngang ngang, giống như một thách thức
Đời tôi là cuộc sống
Đời tôi là đời tôi
Vâng, dù sướng vui đau khổ thế nào, thì mỗi chúng ta có một số phận, số phận ấy đơn nhất độc đáo, nó là vậy như cuộc đời này đã là vậy, và mỗi khi hồi tưởng quá khứ, lòng người ta thường ngổn ngang trăm mối.
Những ngày buồn nghĩ lại thấy vui vui
Những ngày vui sao bỗng thấy bùi ngùi
Tế Hanh sống được trong lòng một số độc giả là ở những câu thơ diễn tả tình cảm nước đôi tế nhị ấy.
Trên đây là một đoạn trong bài viết của tôi về Tế Hanh in trong tập "Cánh bướm và đóa hướng dương" một tập chân dung mi ni, in hai lần, 1999 ở nxb Hải Phòng và 2006 ở nxb Phụ nữ.
Riêng về Tế Hanh những năm tám mươi trở đi, -- nhất là những suy nghĩ của ông về toàn bộ cuộc đời mình -- tôi có viết kỹ hơn ở phần cuối bài "Tế Hanh , lời con đường quê ", in trong "Cây bút đời người " riêng bài này vừa đưa lại trên blog
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/02/te-hanh-loi-con-uong-que.html
NHỮNG CHUYỆN NGƯỢC ĐỜI
Ngày đăng 16 tháng 4 năm 2017
1/ HỌC ÍT CÒN HƠN HỌC NHIỀU
Đi lại trên đường phố Sài gòn tôi thường trông vào các ông xe ôm. Vì bao giờ tôi cũng nhân dịp này, hỏi thêm họ vài chuyện có liên quan tới tình cảnh dân nghèo trong thành phố, nhất là chuyện đi học của con cái.
Sau khi nghe họ kể lể về gia cảnh, tôi thường bảo:
-- Thời buổi này bác ạ, trừ phi gặp đứa thật giỏi giang không kể, còn đừng có cho chúng nó đi học nhiều làm gì. Xong độ trung học cơ sở là thôi, cho đi học nghề. Các nghề linh tinh nhận tiền của dân ấy. Lam lũ nhưng chắc chắn. Bị coi khinh có khi lại sống.
-- Học lên đến đại học chỉ phí tiền mà ra vẫn thất nghiệp?
-- Đúng vậy. Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay cấp nào cũng xoay. Mình không phải dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được. Cứ kệ họ đua với nhau.
…
Gặp ông biết nghe và hiểu tình hình, tôi còn nói thêm vài chuyện nữa.
Bây giờ cho trẻ đi học là chuốc lấy các loại kiến thức cũ mèm và nhiều thói xấu, mà xấu nhất là gian dối.
Cả đi làm nhà nước cũng vậy.
Âu là cứ trở về với dân gian. Chính dân gian lại dạy bảo nhau những điều tử tế (nhất là ở Sài Gòn, dân chưa bị làm hỏng nhiều như ở Hà Nội)
Những lần đầu, sau khi không ngại vô duyên buông ra một lời khuyên như vậy, tôi cũng hối hận. Sao mình ăn nói như một kẻ vô lại vậy?
Nhưng rồi tự nghĩ vẫn thấy mình đã tự bác bỏ mình mà không bác nổi.
Chính với những họ hàng xa gần tôi cũng hay nói vậy và không ít trường hợp nhận được sự đồng tình.
Còn truy nguyên ư, nó xuất phát từ cái cảm giác tuyệt vọng của tôi về nền giáo dục đương thời. Làm sao mà có thể cải tạo cái bộ máy giáo dục hiện nay để chúng ta có thể yên tâm gửi con gửi cái cho họ được. Tương lai là mù mịt.
2/ CHẾT CÒN HƠN SỐNG
Từ khoảng những năm 1980, hồi còn ở khu Thành Công Hà Nội … tôi đã được nghe nhà văn Ma Văn Kháng kể lại mẩu chuyện sau đây:
Có một bà mẹ có hai người con tham gia chiến tranh. Một hy sinh. Và một trở về. Người trở về nhân danh có công và sức khỏe suy tàn, mang theo bao nhiêu thói xấu, bắt cụ nuôi báo cô. Trong khi đó, người đã hy sinh mang lại cho cụ cái thẻ liệt sĩ, cụ được hưởng một ít quyền lợi, mà lại đỡ phải hứng chịu những chuyện đau lòng.
Và anh Kháng bảo, đấy cậu xem, cái sống cái chết bây giờ khác nhau là thế, chết lại hơn sống.
Từ sau 4-1975, tình cảnh những gia đình trên đây có những diễn biến mới.
Sau một thời gian bế tắc, một số người trở về lấy ngay cái thành tích chiến đấu của mình ra mà ăn vạ, không việc gì mà không dám làm, ban đầu còn chỉ tính truy lĩnh cái phần mình thiệt thòi, sau tha hồ làm những chuyện bất nhân bất nghĩa.
Trong cơn khốn quẫn, có những bà mẹ thấy con làm vậy cũng chấp nhận xui con làm tiếp.
Nhưng tôi biết có những bà mẹ càng thấy con vô cớ mà nhà cửa cứ giàu lên đùng đùng thì càng phiền lòng. Một bà đã kể lại với Ma Văn Kháng cái cảm giác kỳ cục của mình, rồi nhà văn của chúng ta mới gia cố nó thành "chết lại hơn sống".
Khi nói với các bác xe ôm Sài Gòn những lời có vẻ vô trách nhiệm về sự học thời nay, tôi thường nhớ tới câu chuyện trên của Ma Văn Kháng.
Chúng ta đang phải sống trong cái thời cay đắng quá.
PHỔ CẬP GIÁO DỤC NHƯ HIỆN NAY THÌ KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC NỀN GIÁO DỤC ĐÍCH THỰC
Ngày đăng 18 tháng 4 năm 2017
Lời khuyên “đừng cho con học lên trên” tôi đưa ra hôm trước, nếu có được một số bạn đồng tình, thì sau đó hẳn có những bạn đã nghĩ lại.
Tôi tưởng như đang nghe thấy những câu hỏi ngược, đại loại:
-- không học thì biết cho con cái làm gì bây giờ?
-- bộ anh tưởng ở mình bây giờ học được một nghề cho rành dễ lắm hả?
...
Loại vấn đề này, tôi không thạo lắm xin để các bạn khác giải đáp giùm.
Gần với thắc mắc trên, có thể có cả những câu trách móc:
-- Sao anh lại tàn nhẫn tước đi ở con người những hy vọng tối thiểu?
-- Chẳng phải dân gian ta vẫn có câu “có nụ mừng nụ có hoa mừng hoa”?
Để đáp lại, tôi muốn nhắc lại một câu triết lý của nhà văn
Pháp A. Camus (1912-1948) mà tôi không kiếm được nguyên
văn chỉ nhớ đại ý: phải dứt bỏ hết những hy vọng trần thế tầm
thường thì mới tới được cái hy vọng cao cả chân chính
Riêng có hai câu hỏi sau đây, tôi tự đặt cho mình:
-- đâu là cơ sở thực tế từ đó anh nẩy sinh đề nghị trên?
-- trước tình hình hiện nay, hướng giải quyết của anh là gì?
Để trả lời một cách khoa học, tôi sẽ phải tìm tòi thêm rất nhiều.
Lúc này đây, tôi chỉ mới thoáng nẩy ra mấy cái ý chính:
-- đóng vai trò chi phối bộ mặt của nền giáo dục hiện nay là cái
quan niệm giáo dục phổ thông giáo dục đại trà.
-- đó không chỉ là ý chí của nhà nước mà còn là nguyện vọng
của đông đảo người dân
-- Nhưng trình độ phát triển của xã hội ta nền kinh tế của chúng ta chưa cho phép ta làm được điều đó. Nếu muốn nói bệnh thành tích thì đây là thứ bệnh thành tích lớn nhất. Do cố làm được cái điều không thể làm, chúng ta trở thành ảo tưởng và tự mình dối mình, cố ý tạo ra những mặt hàng giả rồi tự bằng lòng với nó. Một nền giáo dục phi chuẩn có đẻ ra những học sinh chuẩn mực “đạt trình độ quốc tế “, thì cũng chỉ là ngẫu nhiên.
Do biết vậy, nên ở các nước trình độ tương tự như ta không nước nào người ta làm giáo dục đại trà cả.
Từ mấy năm trước tôi đọc một bản tin về Myanmar thấy có nói bà Suu Kyi chủ trương là sau chế độ độc tài quân sự , khi chuyển sang dân sự sẽ không mở nhiều trường đại học mà chỉ cần nước ngoài giúp mở các trường dạy nghề. Tôi đoán dù tình hình chính trị ra sao thì về giáo dục bên ấy người ta vẫn làm như vậy.
--Kết luận, trong hoàn cảnh làm ào làm lấy được ta đã chót đẻ ra một nền giáo dục dài rạc như thế này, thì giờ đây tử tế nhất là phải dỡ ra làm lại từ gốc đến ngọn.
Trong cuốn "Việt Nam thời Pháp đô hộ", tác giả là nhà sử học Nguyễn Thế Anh, từng là Giám đốc nghiên cứu trường cao đẳng thực hành Sorbone Paris ( in lần đầu ở nhà Lửa thiêng Sài gòn 1970, lần thứ hai ở trung tâm học liệu 1974; tôi không tìm được cả hai bản đó mà chỉ có trong tay bản in lần thứ ba của nxb Văn học 2008), có một đoạn như sau
” Để tổ chức nền giáo dục, năm 1906, toàn quyền Paul Beaau thiết lập hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ.
Nguyên tắc giáo dục căn bản là ”giáo huấn khối quần chúng và trích ra [tách ra] một thiểu số ưu tú; chủ trương chính là dân bản xứ phải bắt buộc học chữ quốc ngữ tại các trường và chỉ những phần tử thông minh nhất mới học lên những lớp cao đẳng tiểu học để sau này có thể theo học những trường trung học mà chương trình giảng huấn hoàn toàn là chương trình Pháp ( sđd, tr213-216)
Các bạn tôi mới quen từng học ở nhà trường Sài Gòn trước 1975, thường cũng kể với tôi rằng ngày trước nền giáo dục ở đây mô phỏng hình tháp, có khi mười học sinh tiểu học mới có một hai học sinh học lên trung học.
Nhờ thế họ mới chuẩn hóa được nền giáo dục. Còn cứ làm giáo dục theo kiểu cháo pha loãng như ở ta hiện nay, thì không bao giờ được cái gì cả , ngoại trừ cái gọi là " bình đẳng trong giáo dục". Mà cũng bình đẳng gì đâu, cái bình đẳng này hoàn toàn hình thức, mị dân
CUỘC TỰ SÁT “ CHẬM NHƯNG CHẮC “
Ngày đăng 22 tháng 4 năm 2017
Khi trả lời phỏng vấn một tờ báo Việt Nam, một chuyên gia giao thông người Nhật Bản nêu nhận xét rằng ông thấy người dân ở Hà Nội đi xe máy đúng theo kiểu tự sát.
Có thể bảo “đâm đầu vào cõi chết” là tinh thần chi phối xã hội ta trên nhiều phương diện sống khác. Ít ra là trong mấy việc:
1/ cách ta xả rác và hủy hoại môi trường
2/ cách ta khai thác hầm mỏ, đất đai … và các di sản văn hóa để thu lợi.
3/ Cách ta dùng người và đào tạo lớp trẻ.
Đấy cũng là cái ý mà Nhị Linh viết trong bài đưa trên blog của tác giả ngày 25-2-2012. Bài viết “ Nào ta cùng tự sát” dành để nói về các mặt đi lại, phóng xe, đổ rác ... của dân ta hiện nay. Tôi mượn để nói về giáo dục nên cải lại như trên.
Sinh viên các trường sư phạm giờ đây khi ra trường dù là giỏi đến đâu cũng không được nhận vào biên chế ngay mà phải qua nhiều lần hợp đồng.
Nói là để thử thách.
Nhưng thực chất là để các nhà tổ chức hét tiền cống nạp, giá hiện thời đâu từ vài chục đến cả trăm triệu mỗi lần.
Một phó giáo sư giáo dục học đã về hưu kể với tôi từ đây xảy ra hai tình thế, một là có nhiều cử nhân sư phạm mới ra trường không kiếm được tiền đành bỏ nghề; hai là những em có khả năng mang tiền nhà đi vay đi mượn để nộp thì sau này mặc sức cướp bóc học trò để hoàn vốn.
Chuyện cướp bóc xảy ra ở nhiều ngành khác, nhưng đến giáo dục càng thấy đau lòng vì trong tay những thầy giáo như thế thì con em chúng ta còn làm sao mà nên người được.
Tuổi già tôi hay có những ý nghĩ lẩn mẩn.
Ví dụ như nhân vụ “sự cố môi trường“ ở Kỳ Anh, tôi ước giá kể trong gia đình những người phụ trách chính quyền ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị có em có cháu nào đó “tố“ lên cho bọn tôi biết bữa cơm trong nhà họ có dùng đến những thứ hải sản mới đánh lên từ biển hay không.
Tương tự như vậy, với chuyện giáo dục thời nay, tôi tự đặt cho mình câu hỏi, 1/ chẳng lẽ những người phụ trách ngành giáo dục không có con cái cháu chắt đi học ở các trường phổ thông 2/chẳng lẽ những đứa trẻ ấy không nói với cha chú chúng rằng chúng đang học trong một nhà trường thế nào?
Nhiều người chúng ta đều biết rằng thời nay, sinh viên VN đi học Âu Mỹ không mang về nổi cái bằng. Mà về khoa học tự nhiên còn đỡ. Chứ lâu nay có mấy trường hợp thanh niên ta lọt vào các ngành khoa học xã hội của nước ngoài để lo học hỏi rồi về tác động tới cách sống của con người trên mảnh đất này. Tương lai chúng ta sẽ quản lý người theo kiểu chiến tranh mãi mãi hay sao? và chúng ta sẽ không bao giờ hội nhập thực sự với thế giới hay sao? Cuộc tự sát này diễn ra chậm chạp, cố nhiên và cái chính là không ai có thể thoát ra theo cách riêng của mình nên có thể gọi là chắc chắn nữa. Chết một đống hơn sống một người, câu cửa miệng của người xưa vẫn còn trong đầu óc người thời nay, nó giúp cho cuộc sống hồn nhiên tự phát của người ta có thêm động lực.
BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP TƯ DUY TRUNG CỔ
Ngày đăng 24 tháng 4 năm 2017
Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.
Câu chuyện được kể chỉ cốt để phô ra một tình trạng gian dối phổ biến trong sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sống thực giả tùy tiện . Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết thực thụ về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.
Từ đây, không khó khăn gì để nhận ra mầm mống của nhiều sự lạc hậu khác như cách nghĩ chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, bịa sai bị tố không chịu nhận, xem thường lẽ phải và pháp luật.
Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đưa ra hàng ngày trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án "có dấu hiệu bị làm lệch". Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị. Trên các trang mạng thường xuyên có các tin bài dành để tố cáo tiến sĩ rởm, giáo sư rởm.
Đấy là nói trên những sự việc trong đời sống hàng ngày. Nói chi đến những chuyện tầy đình -- như ba mươi năm chiến tranh, đã bao người Việt bị chết, trong nạn suy thoái kinh tế hiện nay có bao nhiêu công nhân thất nghiệp, -- các con số đưa ra khi thấp khi cao và chỉ phụ thuộc vào ý muốn của người có quyền.
Sự cố ý làm sai nhiều khi đã biến thành gian manh càn rỡ, bất chấp quỷ thần cũng như dư luận xã hội.
Sự thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới, là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử cho vừa mắt vừa tai, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.
Ta hãy trở lại với cội nguồn của thói quen này.
Trước khi đề ra các chính sách xã hội ở Đông Dương, người Pháp thường huy động nhiều nhà khoa học đi điều tra nghiên cứu điền dã và tìm hiểu ngược mãi lên tận nếp sống trì trệ đã hình thành nhiều đời trong xã hội Việt.
Trong số này phải kể tới Pierre Gourou (1900—1999).
Tình trạng tư duy không có cái gì chính xác của người Việt đồng bằng sông Hồng từng được ông miêu tả tường tận trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003)
Theo cách miêu tả của Gourou, ở các làng xã, “chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích, trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“.
Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống chi phối xã hội suốt từ trên xuống dưới.
Nên biết rằng đến thời cận đại, ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc đầu thì người ta không thể làm, sau thì không muốn làm. Thói quen sống trong bóng tối đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.
Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá.
Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước.
Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước.
Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người thăng quan tiến chức thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình. Mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy nhiều chi tiết cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả.
Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian của cả cộng đồng như tạo ra một lớp sương mù huyền hoặc. Càng về sau những người chép sử càng sử dụng độ lùi của năm tháng để vùi lấp tất cả trong sự mù mờ và không cho phép ai đi tìm sự thật.
Cũng về vấn đề thời gian hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) lưu ý xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ, và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo“.
Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên.
Theo Pierre Huard và Maurice Durand, đây là dấu hiệu của sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông.
Trong lúc chờ tìm hiểu thêm về tiền Descartes , tôi tạm lấy một câu chuyện trong Trạng Quỳnh để minh họa cho khái niệm này.
Theo bản Trạng Quỳnh bán ở sạp báo trước cửa chợ Đồng Xuân thời gian trước 1954 thì có lần Trạng cho kéo đến trước mặt sứ Tầu một cây gỗ, rổi đề vào đó ba chữ Hồ bất thực và bảo hãy giải nghĩa cây đó là cây gì.
-- Xin chịu, kính nhờ Trạng giảng hộ.
-- Hồ bất thực là cáo chẳng ăn. Cáo chẳng ăn thì cáo đói. Cáo đói thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo.
Ngày nay sự lẫn lộn giữa huyền thoại và lịch sử còn được tiếp tục, chẳng hạn với trường hợp ngọn đuốc sống Lê Văn Tám.
Tư duy trung cổ chi phối người Việt suốt những năm chiến tranh. Sang thời hậu chiến, trong khi tuyên bố mình đi vào hiện đại hóa thì trên nhiều phương diện – trước tiên là trong tư duy -- có sự trở lại của các yếu tố tiền hiện đại.
Tức tinh thần chính của đời sống thì lại y như trước khi người Pháp tổ chức xã hội VN theo mẫu hình của họ thế kỷ XIX.
MỘT BÀI THƠ EVTOUSHENKO
Ngày đăng 28 tháng 4 năm 2017
Một sự kiện văn học được chú ý đầu tháng tư này là cái chết của nhà thơ Xô viết Evgeni Evtoushenko (1932 - 2017).
Ông thuộc loại những tên tuổi Nga được biết nhiều nhất ở VN nhờ ở chỗ đại diện cho một xu thế trong văn học xô viết sau 1956 có nhiều tiếng vang ở Hà Nội, một thời gian dài, nhất là trước 1975.
Tôi đã viết một bài ghi lại ở đây những lý do khiến năm ấy chúng tôi ngưỡng mộ E. E. và những bài học mà chúng tôi rút được từ trường hợp của ông.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/04/evtoushenko-va-van-hoc-phi-chinh-thong.html
Sau đây là một bài thơ của E.E. được dịch in trên bán nguyệt san VĂN, ra ở Sài Gòn số ra 1 -1-1968, bản dịch hình như của Thạch Chương hay Nguyễn Kim Phượng , tôi xin lỗi đã quên không ghi khi đánh máy lại.
NHỮNG NỖI SỢ HÃI
Bao nỗi sợ hãi ở nước Nga đang mất dần đi
Tựa bóng ma những năm tháng xa rồi.
Và chỉ còn, như những mụ già đây đó
Ngồi xin của bố thí nơi thềm một giáo đường
Nhưng tôi còn nhớ chúng giữa mãnh lực và quyền uy
Trước pháp đình hư nguỵ đang chiến thắng
Như bóng tối, niềm sợ hãi len lỏi khắp mọi chỗ
Và xâm nhập mọi sân nhà
Dần dần, chúng bắt mọi người làm tôi mọi
Và che giấu đi hết mọi điều
Chúng dạy ta la hét lúc đáng lẽ ta phải yên lặng
Và ngậm miệng lúc đáng lẽ ta cần phải la hét
Ngày nay thì tất cả đã xa rồi
Giờ cũng lạ lùng khi nhớ lại
Niềm sợ hãi âm thầm rằng mình bị tố giác
Niềm sợ hãi âm thầm khi có người gõ cửa
Còn nhớ chăng niềm sợ hãi khi nói với một người lạ
Người lạ là một chuyện -- nhưng còn khi nói với vợ ta
Và còn nhớ chăng niềm sợ hãi vô biên khi còn lại
Một mình -- với niềm im lặng sau lúc dàn kèn đồng đã ngưng tiếng
Chúng tôi không sợ xây cất trong bão tuyết
hoặc ra trận giữa những tiếng trái phá nổ
nhưng nhiều khi ta sợ đến chết
ngay cả khi nói chuyện một mình
Chúng tôi không hư hỏng hay lạc đường
Và nước Nga ngày nay đã chinh phục được những nỗi sợ của mình
làm cho kẻ thù càng thêm sợ hãi
- không hẳn là không có lý
Tôi ước rằng con người bị ám ảnh bởi
nỗi sợ lên án một người mà chẳng cần xét xử
nỗi sợ làm nhục tư tưởng bằng hư nguỵ
nỗi sợ tự tuyên dương mình bằng hư nguỵ
nỗi sợ lạnh nhạt với tha nhân khi có kẻ gặp khó khăn hay thất vọng
nỗi sợ tuyệt vọng không được an tâm
khi vẽ trên giá vẽ hay vạch màu đen trắng
và khi tôi viết những dòng này
Và đôi khi tôi còn vô cùng vội vã
Tôi chỉ còn một nỗi sợ
Nỗi sợ không còn được viết, với tất cả quyền uy của tôi.
MỘT ĐOẠN NHẬT KÝ 1975
Ngày đăng 29 tháng 4 năm 2017
Trích ở bài
Hà Nội đầu 1975 (nhât ký chiến tranh),
đưa trên blog của tôi 29-4-2016
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2016/04/ha-noi-au-1975-nhat-ky-chien-tranh.html
4/4
Chiến thắng bất ngờ như ở chỗ cái gốc gạo khô cằn hôm qua, một đoá hoa nở toé lên, cả một cành hoa một cây hoa.
Tôi đã quen hoài nghi, nên tôi chẳng còn nghĩ được gì nhiều. Nhưng phải chăng cuộc đời còn quá nhiều chuyện kỳ ảo? Tôi nhớ lại kết luận đó của Nguyễn Khải, khi nghe chuyện ông Chưởng Cần, một năm trước. Cuộc đời không phải là một cấu trúc lạnh toát, nghiệt ngã. Cuộc đời còn là một cái gì đó rất sinh động, như một cơ thể mềm mại, chứa đựng nhiều khả năng phát triển không sao có thể lường trước.
...Tôi nghĩ về trường hợp của mình: Dẫu sao thì tôi cũng ít gắn bó với cuộc chiến tranh này. Tôi không hiểu lắm. Chỉ hiểu một ít khía cạnh nào đó.
Vậy thì hãy nghĩ về tương lai, lúc này đã phải nghĩ tới đất nước sau chiến tranh. Đó mới là một câu hỏi lớn.
18/4
- Cái chiến thắng mà chính những người trong cuộc cũng cảm thấy ngạc nhiên: sao mà lại có thể dễ dàng như vậy?
Không, chắc chắn rằng chúng ta không biết nên mới ngạc nhiên. Chúng ta biết tất cả thì mới phải.
- Bởi chúng ta đều là những người chiến trường. Có sự gặp nhau ở trong kia, thì cũng là có sự gặp nhau ở ngoài này. Những người vợ, những gia đình của những người lính làm nên cái hậu phương dày đặc này. Ở đâu lại có thể có cuộc chiến tranh ghê gớm như trên nước Việt.
- Nhưng cái tâm trạng chủ yếu của ngày hôm nay là gì? Tôi nghe bên cạnh những niềm vui, có những nỗi buồn. Một chút thở phào. Kèm theo một ít đau xót. Có một giáo sư Đại học y khoa trong kia viết rên báo, ông không muốn các đồng nghiệp của mình rơi vào cái cảnh ở miền Bắc. Là cái cảnh, trình độ bác sĩ chỉ bằng trình độ y sĩ.
2/5
Người ta vẫn bảo phản ứng của người Hà Nội lâu nay là dè dặt, đến vui cũng lặng lẽ. Chúng ta sống trong một xã hội khép kín... Có thể là như thế nhưng hôm nay thì khác. Chưa bao giờ, có cảm tưởng vui như thế này.
Sáng 30/4, đã nghe có tin đồn Dương Văn Minh đầu hàng.
9 giờ sáng, Cục tuyên huấn -- cấp trên của chúng tôi nói: chính thức đầu hàng rồi.
Mở đài Sài Gòn. Chưa bao giờ được nghe đài Sài Gòn công khai như vậy. Giọng Dương Văn Minh chậm rãi, cố giữ vẻ bình thản. Người giới thiệu của đài cũng nói bằng một giọng trang trọng, nghiêm túc.
Lập tức có nhiều tiếng cười đùa réo lên. Nghe xa xa đã có tiếng pháo nổ, đâu ngoài đường phía vườn hoa Hàng Đậu.
Bia, ngồi tán phét. Nguyễn Minh Châu bảo lúc này lại nhớ khi anh nọ đùn anh kia đi B, mà sao cứ lần chà lần chân, nói chẳng nên lời.
Nhiều người khác tán chuyện trong cơn say thực sự, và cái say của tình cảm.
Tôi phóng xe ra đường, khi nghĩ tới bạn bè. Ngỡ đường phố chưa ai biết gì, lại nhớ cái cảm giác những ngày hoà bình 1973, muốn kêu lên mọi chuyện. Nhưng tôi đã nhầm, chỉ cần ghé vào một hàng nước thôi, đã nghe đủ chuyện.
Người ta bảo hôm qua một hợp tác xã thủ công phải thức suốt đêm để may một lá cờ đỏ sao vàng 25m2. Hôm nay, cờ được mang đi rồi.
Ngồi uống nước, một ông già còn kể chuyện Nam Bộ, một ông khác nói về Thái Lan, Cămpuchia: phen này, mình cứ đứng đây, cho nó bò quanh mình.
... 5 giờ chiều, rất may mắn đi ra đường, tôi được chứng kiến cảnh báo tin đầu tiên: “Mời đồng bào và chiến sĩ cả nước nghe tin chiến thắng..”
Người ứ lại trên ngã tư Tràng Tiền. Các phóng viên nước ngoài, đã chực sẵn từ bao giờ, quay phim chụp hình rất nhanh. Tôi nhớ nhất cái cảnh một người Việt Nam đang gân cổ nói trước một máy thu thanh của một người nước ngoài. Một gã giáo viên giáo điều nào đó, nói sặc mùi chính trị, trông xa đã ngượng hộ hắn. Hắn nói rai nhanh nhách đến nỗi người phóng viên nước ngoài phải lợi dụng một nhịp hắn tạm nghỉ, để cắt lời hắn.
Nhưng thôi, hôm nay ngày vui, hãy để đấy đã.
Người đã đông thêm chung quanh Bờ Hồ. Tôi chợt nhận ra một nét thuộc về cách sống của người Hà Nội hôm nay: Người ta thích đổ ra đường, chia sẻ niềm vui với nhau. Dù trong bóng tối chiến tranh, người ta đã quen nhìn nhau mà sống.
Công tác tổ chức tồi quá. Giá kể có bắt người ta đi mít tinh, thì như tôi thấy đây, trông rất lèo tèo, chưa ai nói gì ra hồn. Nhưng cái cảnh người lũ lượt đi trên đường, đã chẳng phải là một thứ mít tinh rồi sao?
Tôi còn thấy một Hà Nội tấp nập như vậy, suốt đêm 30/4 lẫn sáng 1/5.
Một ngày hai ý nghĩa, hai niềm vui.
Những đám người xếp hàng mua báo, một chuyện ít thấy của Hà Nội.
Mấy lần, tôi bắt gặp một cụ già đứng chờ bên này đường, cho một đứa cháu nội cháu ngoại gì đấy sang bên kia đường xếp hàng mua báo. Có thể cụ không biết chữ nhưng cụ mua về cho con cái đọc.
Những đứa trẻ xem báo thì đứng ngay ở bên những cái hố phòng không cũ -- mà tôi vốn rất quen thuộc và còn nhớ tỉ mỉ ngày lấp đi, để đón hoà bình, tết năm 1973. Bây giờ, thì chắc chắn, có thể yên lòng với những cái hố ấy rồi.
Chung quanh Bờ Hồ, ngày 1-5, còn có nhiều đám mít tinh lẻ tẻ khác. Tôi đồ rằng phản ứng của giới lãnh đạo Hà Nội chưa kịp, cho nên hãy để cho quần chúng tự nguyện làm theo kiểu tự phát cái đã.
Một người đàn ông đứng tuổi, ra dáng dân Hà Nội gốc, đi trong đoàn người, mà lại cứ ngước nhìn đi đâu. Tôi đoán ông ta đang nghĩ tới một người cùng phố vào Sài Gòn từ cuối 1954.
NHỮNG NỖI ĐAU CHỈ CÓ Ở THỜI NAY
Ngày đăng 1 tháng 5 năm 2017
Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ. Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao. Song, nếu được so sánh, tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội.
Đau đớn không phải do “trời xanh” hay “con tạo” gây ra, mà đơn giản do cái xu thế chi phối cả xã hội lôi cuốn người ta, đau khổ do người nọ gây ra cho người kia, hoặc suy đến cùng là do chính mỗi người tự chuốc lấy. Cuộc sống trần trần trong ánh ngày đấy mà như trong cơn mê, và thỉnh thoảng người ta tỉnh ra thì cũng lập tức biết rằng tất cả đã muộn, tình thế vô phương cứu chữa.
Trong một bài phiếm luận, tôi đã kể về một cô giáo trẻ chạy trốn khỏi nghề dạy học sau khi chứng kiến mấy học trò trong lớp xé ngay cái bài cô thức đêm để chấm và vừa trả lại cho chúng. Cô không đương nổi nỗi đau mà nhiều thầy giáo có lương tâm bây giờ phải gánh chịu: không có được lớp học trò tử tế để có thể yêu thương tin tưởng, cống hiến hết mình cho nghề.
Những nỗi đau tương tự như thế diễn ra hàng ngày đến mức người ta đâm ra dạn dày không muốn nghĩ tới sự tử tế nữa.
Lớp già chúng tôi thỉnh thoảng lại có những buổi họp lớp. Một kết luận khiến nhiều người sững sờ: kẻ thành công trong đường đời (giàu hơn và có địa vị xã hội cao hơn) nhiều khi không phải là người giỏi giang mà đơn giản chỉ là những kẻ liều lĩnh hơn, dám làm... láo hơn. Trở thành công chức nhà nước, chúng tôi thèm được làm việc trong những cơ quan mà người đứng đầu thạo việc hơn mình, để rồi khốn khổ thay, đó là ao ước không mấy người đạt được.
Trong nghề viết văn, tôi thường chứng kiến những tác giả non nớt cổ lỗ kém cỏi, nhờ đánh vào thị hiếu công chúng, lại ăn khách rầm rầm, và không it giải thưởng chỉ là sự ăn chia - theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp - giữa người trao và người được giải
Nỗi đau ở đây là người ta sống mà mất đi niềm tin về sự công bằng hơn nữa sự sáng suốt và niềm tin của con người vào sự tồn tại của những điều tốt đẹp.
Nhưng thôi, những nỗi đau đó xem ra còn có vẻ “sang trọng” quá. Có nhiều nỗi đau cụ thể hơn, đời thường hơn. Chẳng hạn bạn hãy tìm đến một gia đình nào đó có đứa con nghiện hút. Bây giờ cuộc mưu sinh quá lôi cuốn, đến mức nhiều người nhắm mắt bỏ qua, con hư mặc kệ, hàng ngày nhẫn nại mở tủ cung cấp cho con tiền bạc tiêu xài. Bản thân thì lấy sự chi tiêu tốn kém cho con làm cái cớ để bước sâu thêm vào vòng tham nhũng hoặc buôn gian bán lận, cốt bòn rút được của cải của thiên hạ và lấy đó làm điều hãnh diện. Song, bên cạnh những người mê muội vẫn còn những người tỉnh táo hơn và tấn bi kịch tinh thần của họ bắt đầu từ sự tỉnh táo đó.
Sau những cố gắng để cứu vớt đứa con hư và tìm cách đưa nó về con đường chính đáng, nhiều gia đình rơi vào bất lực.
Đến nước tuyệt vọng, người ta chỉ có cách từ con, rồi lo chạy chọt để tống con vào trại cai nghiện và thầm mong mỏi một điều ngược đời: mong cho đứa con rứt ruột của mình chết đi càng sớm càng tốt.
Hãy hình dung cái cảnh những bậc cha mẹ mặt lạnh như tiền đến đón đứa con mang đi mai táng, xem như thoát được một gánh nặng và một nỗi nhục nhã! Chẳng phải đó là tình cảnh phi nhân văn nhân đạo, tức trái với tính bản thiện của con người, những tình thế xưa nay chưa từng có mà chỉ ngày nay mới có?
Hàng ngày báo chí loan tin bao nhiêu kiểu giết người mà tôi không muốn kể ra ở đây vì thấy quá kinh dị.
Chỉ nói một ca nhẹ hơn, một cháu bé trong cơn điên thèm chơi game, bóp cổ bà già hàng xóm lấy tiền.
Tôi ngờ là trong số những người thân của cháu nhỏ này, một lúc nào đó, trong đầu óc sẽ quẩn lên câu hỏi, con mình hay cháu mình có còn là người nữa không. Nỗi đau của những người đó - khi mơ hồ dự đoán tương lai của đứa trẻ - chắc chắn là một nỗi đau vô bờ.
Hạnh phúc cuối cùng của con người xưa nay là tình yêu cuộc sống, thấy rằng cuộc sống có ý nghĩa và ngày càng tốt đẹp hơn. Chỉ nhờ có được điều hy vọng tự nhiên đó mà con người vượt lên được bao nhiêu thách thức gặp phải trên đường đời.
Nay cái ý nghĩa lớn lao đó nhiều người không tìm thấy. Tương lai trở nên mù mịt. Cuộc sống chỉ còn chuồi đi theo thói quen.
Tự mình chứng kiến sự đổ đốn của mình và những người thân quanh mình - hỏi có nỗi đau khổ nào hơn, và về mặt này, những lớp người tiền bối làm sao có thể so sánh với nhiều người chúng tôi hôm nay được!
BẾ TẮC & VÔ VỌNG
KHÔNG SAO TÌM RA CÁCH LÝ GIẢI THỰC TẠI
Ngày đăng 3 tháng 5 năm 2017
Mời các bạn cùng đọc lại hai đoạn văn trích trong các ký sự nhà văn Dương Nghiễm Mậu viết ở Sài Gòn trước 1975.
TRONG HỒI TƯỞNG LẠNH (in trên Văn số196 )
[Một đám sĩ quan được gửi đến một tiền đồn tăng cường, trong đó có Trực, một sĩ quan có đầu óc của một trí thức]
Trực nghĩ:
--Thời loạn, những đòi hỏi và thực tế con người. Mình cũng đã chọn một đời sống đã chết. Sao mình không làm khác? Làm gì? Trực nhớ tới người con của ông chú, thi xong tú tài nó học cầm chừng và chơi bời, la nó, nó nói nhẹ nhàng, đằng nào rồi cũng vào lính, chỉ có chờ, chỉ có trước hay sau… Trực nghĩ tới vô số người khác cùng lứa tuổi với mình, chỉ có một nơi chờ họ tới, trại lính… Tương lai sáng lên những u tối của một thời đại liên tiếp những biến đổi, liên tiếp kéo tới những số kiếp đồng dạng bi thảm nhoa nhuếch những máu và nước mắt.
… Thực nhiều khi tôi không còn muốn viết gì nữa, mỗi điều ở ngoài nơi đây tôi không cần biết tới.
… Trong những thứ buộc phải lựa chọn thì mình lựa chọn cái nào khá hơn.
Tôi chỉ có những nàng tiên trong ổ đĩ, chỉ có những thoáng nhìn tội nghiệp, chỉ có một đời sống mồ côi và thực tế cơm áo. Tôi không có gì khác ngoài một thực tế tầm thường.
Trực tự hỏi: tại sao không có một lịch sử nào cho mình, tại sao mình lại thấy phải bước vào con đường này: Một mơ ước phiêu lưu? Một lựa chọn vô lý? Một thực tế cùng quẫn? Một hy vọng lười biếng? Một chuyện tình cho mình có thể bỏ đi như một hành lý cần thiết là một hạnh phúc mà mình cũng không có.
CHO DÙ LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐIÊN
HỠI KẺ NỔI LOẠN TRONG THÀNH PHỐ ( Khởi hành 1971)
Hắn chỉ là một kẻ điên trong xã hội chúng ta hay là hắn ở trong một xã hội điên ? Tôi vẫn cho rằng không phải tại xã hội hoàn toàn. Tại chúng ta, tại mỗi cá nhân chúng ta. Chúng ta không minh bạch trắng đen.
Chính là chúng ta đang sống trong một sự phá sản cùng cực, sự phá sản phẩm cách nơi mỗi cá nhân. Muốn tìm kiếm một đời sống mới, một xã hội mới phải khôi phục lại cá nhân.
Hắn đã chết trong một xã hội mà kẻ phản bội nói trung thành, kẻ dơ bẩn nói trong sạch, kẻ vô hạnh nói phẩm giá. Cuộc nổi loạn nói lên một tiếng nói sự khát khao, sự kêu đòi một lý tưởng.
Chúng tôi muốn được sống xứng đáng. Chúng tôi muốn được sống trong sạch. Tôi đã đi thực nhiều nơi, gặp thật nhiều người, nơi nào, chỗ nào, người nào cũng nói với tôi, lên án một cách khắc nghiệt những tệ trạng trong xã hội, nghe xong tôi nhìn quanh nhìn quất: ai cũng lên án, ai cũng chống lại điều đó, mà sao những tệ trạng vẫn nguyên.
BÌNH LUẬN CỦA TÔI
Tâm lý con người trong hai đoạn văn trên là thuộc về hơn bốn chục năm trước . Có thể nhận ra ở đó mấy điểm;
-- một hoàn cảnh phi nhân văn bao trùm
-- xã hội làm biến dạng con người theo nghĩa làm hỏng họ, khiến họ không được sống như họ mong muốn.
-- Ở mọi không gian của cuộc làm người, chiến thắng của sự giả trá là tuyệt đối Dù rất muốn song mọi sự kêu đòi chống trả của các cá nhân đều vô vọng
-- Ở những mức độ khác nhau, cá nhân bị đẩy tới chỗ điên loạn
Theo cách phân chia chính trị, cách nhìn cuộc sống của người viết được cho là hoàn toàn ngược với cách nhìn của chúng ta hôm nay.
Hôm qua là chiến tranh, nay là hậu chiến.
Vậy mà chỉ qua vài trăm chữ, ta như bắt gặp con người chúng ta. Mỗi phát ngôn gần như trùng khít với điều ta muốn nói hôm nay.
Những bế tắc. Và tâm lý bất lực khi chống lại sự bế tắc đang bao trùm. Không thể còn tin ở sự tiến bộ, một niềm tin cổ điển làm nên lẽ sống của các lớp người xưa.
Lâu nay tôi thường bị chê cười là quá bi quan. Nhưng khi bắt gặp những tư tưởng của Dương Nghiễm Mậu như trên, tôi ngờ rằng còn lâu chúng ta mới chạm tới đáy của vấn đề. Phải cùng tìm tới những đột phá hơn nữa trong suy nghĩ.
Một số ý tưởng của tác giả tương tự các ý trên đã được tôi đã trích dẫn trong bài viết
“Miền Nam trước tháng 4-1975
qua các ký sự của Dương Nghiễm Mậu”
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/04/mien-nam-truoc-4-1975-qua-cac-ky-su-cua.html
Mời các bạn có nhu cầu tìm đọc
TÔI NGHIỆP DƯ
ANH NGHIỆP DƯ
NÓ CŨNG NGHIỆP DƯ
Ngày đăng 5 tháng 5 năm 2017
Tai nạn giao thông thường chỉ được nhắc tới trên báo chí khi xảy ra ở các trục đường lớn, người đi lại đông đúc, vụ việc ở mức độ nghiêm trọng, chắc chắn là có người chết.
Còn theo lời Liên, một cháu ô - sin làm với gia đình tôi thì ở quê nó, tai nạn như cơm bữa, gãy chân sảy tay là chuyện thường ngày, đi đâu chẳng nghe người kể.
Lại như nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Nông thôn đường có đông mấy vẫn là vắng so với thành thị. Mà nói tại người không có ý thức nghe cũng là chuyện xa xôi quá, ý thức gì thời sống như ăn cướp hiện nay? Khốn khổ, Liên bảo, cái chính là nhiều người có biết đi đâu, chỉ bảo nhau mấy câu là nhảy lên xe nổ máy, vừa gặp đám mấy con bò nghênh ngang đã lúng túng không biết phanh với lại về số thế nào. Liều thế mà chỉ sứt đầu mẻ trán cũng còn phúc chán – cái Liên chép miệng kết luận.
Liên nói về chuyện đi lại của những người quê nó. Nhưng tôi muốn nghĩ rộng ra những trường hợp khác, cả tới cách làm ăn của dân mình hiện nay. Như chính những người như cháu Liên đây, từ nông thôn lên, có biết gì đâu về cách sống đô thị. Máy nước mở tràn. Nước rửa nước giặt có gì thừa đổ xuống toa lét. Ra đường thì dắt dây hàng hai hàng ba. Như giữa đường làng, chạy đuổi nhau hét inh ỏi trên phố xá.
Thiếu gì người như Liên chưa hiểu gì về cuộc sống thành thị đã phải sống kiểu thành thị, tránh sao khỏi lố bịch. Mà đâu chỉ chuyện sống, còn tham gia vào việc buôn bán phục vụ bàn dân thiên hạ nữa chứ. Dạy nhau theo lối truyền khẩu mấy câu, không qua huấn luyện, đã phải ra bán hàng. Bao nhiêu lầm lỡ hư hỏng thất thoát. Bao nhiêu dối trá làm liều. Và cả bao nhiêu chấn thương trong lòng người – tôi muốn nói tới chấn thương tinh thần – cái phơi bày ra, cái chỉ tự biết với mình, chỉ quên đi là không nổi.
Nói rộng ra, bước vào một cuộc chuyển đổi mà không được chuẩn bị, cả cộng đồng đang sống kiểu nghiệp dư như vậy.
MẤY ĐIỂM "LÝ SỰ"
Trong đầu óc đám người từ lớn lên chỉ biết mỗi một thứ triết học là triết học Mác Lê như tôi, tên tuổi những Platon Aristote chỉ tượng trưng cho những điều rắc rối trừu tượng. Nhưng đọc Platon qua mấy cuốn lịch sử triết học mới in, thấy bao chuyện cụ thể.
Trong lĩnh vực sinh đẻ, Platon bảo ở đây cũng phải có kế hoạch và kiểm soát. Cho đứa bé một nền giáo dục chưa đủ, cần phải bảo đảm nó thuộc về một giống tốt. Không một người nào được phép gây giống và sinh đẻ nếu nếu họ không hoàn toàn khỏe mạnh.
Đối với công bằng xã hội, ông bảo trước tiên không phải là phân phối bình quân mà là mỗi người nhận được đúng cái gì mình đã làm ra và làm công việc thích hợp với mình nhất. Một người thợ mộc đi làm việc thợ xây, một công nhân hoặc nhà buôn lại đi đăng lính hoặc thành một người có quyền thì sẽ trở thành tai họa cho cả xã hội.
Một chỗ khác Platon có cái ý rằng đối với việc nhỏ như việc đóng giày, người ta còn cần tìm những người thợ chuyên môn, tại sao trong lĩnh vực quản lý rộng lớn hơn, người ta tưởng ai cũng làm được.
Nghe đúng quá mà lại toàn là chuyện chúng ta không biết, hơn thế nữa còn làm ngược.
TAI VẠ DI TRUYÊN CẢ MẤY THẾ HỆ
Chúng tôi là lớp người được đào tạo từ chiến tranh. Mà chiến tranh là gì ? Là đi bất cứ đâu thực tế đang cần. Là cấp trên bảo sao làm vậy. Là không cần chuyên môn cá tính gì cả.
Phải nói thực là hồi ấy chúng tôi đã biết sẽ khó tìm được chỗ đứng trong xã hội tương lai. Thứ dao gì mà vừa chẻ củi được vừa chẻ rau được, thì chẻ rau cũng dở mà chẻ củi cũng gãy luôn – lúc tỉnh táo, có người trong bọn, nhờ biết nhìn xa đã tự nghĩ như vậy. Nhưng học ở đâu bây giờ, có thầy đâu mà học,và nhìn quanh chả ai chịu học cả.
Sau 30-4-75 tôi vào Sài Gòn, một bà cô tôi bảo:
--Kỹ sư bác sĩ ngoài Bắc người nào cũng biết nấu cơm với lại trông con, việc nhà đến khéo, không như cái bọn tốt nghiệp đại học trong này.
Biết mới tiếp xúc nên bà chưa hiểu đây thôi --, để cô đỡ thất vọng, tôi phải thú nhận ngay:
-- Rồi cô xem, nay mai chúng con kỹ sư không thạo việc, bác sĩ không sạch nghề và mang về rất ít lương, thì cô đừng có mắng đấy nhé.
Thoắt cái đã mấy chục năm, chúng tôi tỏa đi bao công việc, nắm đủ mọi ngành nghề, không biết lạ cái gì, thì lẽ tự nhiên cũng không việc gì gây cho chúng tôi nỗi sợ.
Vốn dân đánh đồn diệt viện, học phổ thông qua loa, học đại học tại chức, học sau đại học theo kiểu nộp tiền cho thày xin bằng, ấy vậy mà có người đang nắm những công ti lớn, mua bán tiêu pha bạc tỉ. Cờ đến tay ai người ấy phất, gặp việc gì cũng phải làm dấn tới. Tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư nốt, chẳng phải thế sao ?Thì so với cánh dân nông thôn ra đô thị như cháu Liên nói ở trên có khác là mấy ?
Từ góc độ của những người từ chiến tranh bước ra, cái tội không thạo việc thạo chuyên môn chỉ là chuyện nhỏ, đánh nhau khó bằng mấy còn làm được, nữa là quản lý kinh tế, cứ quyết tâm và có kỷ luật là hoàn thành tất.
Nhưng có phải sự đời đơn giản thế?
Nhớ có hồi có cả chủ trương phá rừng trồng sắn, nhắc lại mà vẫn nghe nhói trong lòng.
Nhưng biết đâu lúc này cũng đang có những việc tương tự, để rồi sang năm sang năm nữa nhìn lại, cùng thấy nhói lòng tương tự ?!
Đã in trong "Những chấn thương tâm lý hiện đại,"
bản in ở Nhã nam 2016
BẾ TẮC NÊN SINH CỜ BẠC
Ngày đăng 9 tháng 5 năm 2017
Người dân mình có tiền thì làm gì ? Thời tiền chiến, Nam Cao từng trả lời câu hỏi đó trong truyện ngắn "Thôi, đi về".
Câu chuyện xoay quanh việc một anh đi vác cửi thuê được đồng bạc. Đầu tiên là lo cái gì đổ vào mồm, và cái công thức được chấp nhận ngay là …bún thịt chó.
Tiếp đó là, là … đánh bạc, đánh để thua mất toi luôn đồng bạc vừa kiếm ( vì thế mà thiên truyện mới có cái tên rất “yếu” là "Thôi, đi về", nó như một tiếng thở dài bất lực).
Cách tiêu tiền của con người đầu thế kỷ XX vậy là chẳng khác gì một số con người hôm nay: cũng chỉ xoay quanh vào việc lo ăn và cờ bạc (có những người vào những ngày tết mua những chậu mai vài trăm triệu hoặc trước đó cá cược bóng đá 1,8 triệu đôla ).
Cái thói vung tiền ấy – thoạt nhìn là vô thưởng vô phạt hoặc một phút bốc đồng cần được thông cảm, song đã tố cáo một sự thực: nhiều người chúng ta không làm chủ nổi đời mình.
Cái nghèo đeo đuổi lâu quá đến mức trong tiềm thức ta tin không bao giờ ta thoát khỏi nó.
Còn sự giàu có thực sự xa lạ với ta đến mức khi có tiền cũng chẳng làm được việc gì, đành tiêu bậy tiêu bạ cho xong.
Đằng sau thói vung tay quá trán ấy là một sự bi quan tuyệt đối trước đời sống.
ĐỦ DẠNG MÊ MUỘI
Nếu ở "Thôi, đi về", nhân vật chỉ dám đùa bỡn với một đồng bạc thì trong "Mua nhà", cũng như "Từ ngày mẹ chết" ( hai truyện này có chung đầu mối ), một nhân vật của Nam Cao còn dám gọi bán ngôi nhà gia đình y đang ở lấy vài trăm bạc ném vào canh xóc đĩa để rồi sau đó thì con cái ra đường.
Trước mắt chúng ta là mộtnhân cách tha hóa, ở đó không chỉ có con người cay cú, con người liều lĩnh, mà còn có con người sống như mơ ngủ, tự mình lừa mình (cho rằng chỉ vì không trường vốn nên không gỡ được bạc), con người vô trách nhiệm với gia đình vợ con, và bao trùm hơn hết là con người lao đầu vào chỗ chết, con người mê muội.
Các nhân vật trong tiểu thuyết "Sống mòn" cũng thường được miêu tả trong quan hệ với cờ bạc.
Từ Hà Nội mỗi lần nhớ về quê,Thứ canh cánh lo vợ mình ở nhà đánh bạc.
Có lần Thứ choáng váng khi nghe tin đồn Liên ( tên người vợ) đi lại với một người khác “chúng thường đánh bạc với nhau,đùa bỡn với nhau “.
Tuy rằng sau này không hẳn vậy, nhưng Thứ vẫn bán tin bán nghi, bởi một lẽ đơn giản là ở cái làng quê ấy, vượt lên trên sự phân chia tốt xấu theo nghĩa đạo đức thông thường, cờ bạc trở thành một phần đời sống của con người và cả cộng đồng.
” Người ta đánh bạc như ma xui “.
Không chỉ đàn ông mà cả đàn bà cũng đánh bạc, không đánh thì cho đàn ông tiền để đánh, không chỉ vợ Thứ bị nghi ngờ mà tiếng đồn vợ San đánh bạc cũng không sao dập tắt nổi.
Mức độ phổ biến của bài bạc buộc người ta phải nghĩ rằng cả cộng đồng làng xóm ấy là một đám đông lêu lổng mà từng thành viên thì chưa trưởng thành về nhân cách.
"KHÔNG RA GIỐNG NGƯỜI"
Trong văn học thế giới không thiếu gì các nhân vật đam mê cờ bạc. Riêng một Dostoievski chẳng hạn đã có hẳn một cuốn sách nổi tiếng mang tên "Con bạc".
Có điều một số nhân vật cờ bạc của các nhà văn lớn thường khi là những nhân cách mạnh mẽ, họ lao đầu vào cuộc đỏ đen như một cuộc phiêu lưu tinh thần hoặc qua đó thử thách ý chí của mình.
Ngược lại cờ bạc với các nhân vật trong văn học ta phần lớn được miêu tả như là một thói xấu không thể bỏ, nó là một dấu hiệu cho thấy sự tầm thường trong quan niệm về đời sống.
Ở Nam Cao cũng vậy.
Trong đoạn cuối câu chuyện của kẻ bán nhà để gỡ bạc, Nam Cao để cho bà mẹ vợ của người đàn ông làm cái hành động ngu muội ấy than thở với các cháu “ Bố chúng mày không ra giống người …”.
Đằng sau cái câu khái quát đơn giản đến rợn người, dường như nhà văn muốn nói rằng ở một cá nhân cũng vậy mà ở một cộng đồng cũng vậy, những thói hư tật xấu nho nhỏ có thể tồn tại vì thật ra nó biểu hiện cả một trình độ làm người và triết lý sống đã bền vững.
XÃ HỘI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM
VÌ LÀM CHO NGƯỜI TA TUYỆT VỌNG
Trong lịch sử Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Công Trứ (1778—1859) là một nhân vật nổi tiếng không những vì chí nam nhi cao cả và tài kinh bang tế thế hơn người mà còn như một đệ tử của chủ nghĩa hưởng lạc.
Điều thú vị là ông luôn luôn tìm ra lý lẽ để biện hộ.
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ từng dựng lại mô hình của quá trình suy nghĩ ở ông
“Thuở hàn vi, ông hưởng nhàn, lý trí ông khuyến khích vì cho rằng chỉ là một sự tạm thời.
Thời ra làm quan, hoạt động vất vả, ông tìm cơ hội hành lạc để giải lao: lý trí ông tha thứ.
Sau càng hoạt động càng gặp những nỗi trắc trở đau lòng, ông hành lạc để quên đời: lý trí ông đồng lõa.
Đến lúc về hưu, ra khỏi một trường ác mộng ông bám lấy hành lạc như một lẽ sống duy nhất của tuổi già: lý trí ông đầu hàng “.
Trong cái vẻ tầm thường hơn nhiều, các nhân vật đam mê bài bạc của Nam Cao cũng có những lý lẽ tương tự.
Đây là tâm sự của anh nông dân trong truyện "Thôi đi về" nói ở trên khi rủ nhân vật xưng tôi lao đầu vào cuộc đỏ đen:
-- Con người ta giàu tự số, nếu làm mà giàu được thì tôi đã giàu ức triệu. Mấy năm về trước tôi cố khiếp lắm, ban ngày đi làm thuê cho người ta, tối có trăng lại cuốc vườn nhà, ấy thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo .
Một khi cờ bạc được người ta chống chế bằng những lý do có vẻ hư vô yếm thế, nó càng có lý do để tồn tại.
Và cái tình trạng làm người thảm hại cứ thế trở thành số phận không thể thoát của những con người lêu lổng.
TÂM LÝ Ô SIN
Ngày đăng 10 tháng 5 năm 2017
1/
Tại nhiều địa phương, chính người dân xé rào để làm những việc không được pháp luật cho phép. Phá rừng. Đào than thổ phỉ. Lấn chiếm đất công. Thấy chỗ nào nhà nước cần là xoay ra ăn vạ để kiếm khoản đền bù. Lần đầu tiên ở Hà Nội xây hầm cho người đi bộ qua đường; nhưng trong lúc chưa khánh thành thì hầm bộ hành biến thành nơi tạm trú của mấy gia đình xóm liều. Thả nào các cụ xưa có câu Chưa họp chợ đã họp kẻ cắp.
Lại có câu Bạc như dân, bất nhân như lính.
Hồi còn ảo tưởng, ta hay bảo nhau rằng đấy là cái nhìn của bọn địa chủ phong kiến đối với quần chúng lao động. Nay thì có thể giải thích với nhau theo cách khác: Dân từ xưa đã hư thật. Chính dân gian cũng đã có lúc tự ý thức được những thói xấu của mình. Chỉ có điều làm sao vượt lên trên thói xấu đó thì họ chưa biết! Nhưng ít ra họ cũng không tự nịnh mình như dân thời nay
2/
Có một câu chuyện của năm ngoái năm kia mà tôi cứ nhớ mãi. Đó là chương trình đánh bắt xa bờ ở hàng hàng loạt vùng biển bị phá sản (nghe đâu số vốn thất thoát lên tới vài trăm tỉ ?!).
Chúng ta muốn làm chủ biển. Chúng ta muốn vươn ra xa. Những tưởng quẩn quanh ven bờ chỉ vì không có tiền
Hoá ra còn thiếu cả kinh nghiệm và ý chí nữa.
Nhưng không chỉ liên quan tới chủ đề bất lực, mà vụ đầu tư này lại còn đáng chú ý ở một khía cạnh khác: Nhiều ngư dân thừa biết là làm ăn sẽ thất bát nhưng cứ vay
Họ đã tính sẵn là đến lúc cần hoàn lại đồng vốn cho nhà nước thì đánh bài ì.
Không cách gì thu hồi vốn thì kệ nhà nước, họ không cần biết. Không ít người nhận tiền xong chỉ đầu tư một phần, còn chủ yếu mang tiền mua sắm tiện nghi tiêu xài qua ngày.
Đây là một câu tục ngữ mới: người làm sao tao làm vậy; người làm bậy tao cũng làm theo.
Trong cái việc vay tiền để làm dự án vừa nói ở trên hình như có chuyện hùa theo nhau thực.
Đại khái mọi người nghĩ nhà nước là cái thùng không đáy, ai không biết cách vơ vét người đó thiệt. Không còn lòng tự trọng tối thiểu, người ta tự thả lỏng bản thân Giá kể có ai bảo rằng như thế tức là cá nhân đang biến thành một thứ ký sinh, ăn bám xã hội, cũng chẳng ai động lòng
3/
Xin tạm gọi cách sống nói trên là cách sống ô – sin.
Mọi chuyện bắt đầu từ hiện trạng các gia đình ở thành phố cần có thêm vài người giúp việc ở các tỉnh lên. Để tránh nhiều từ ngữ có tính chất xúc phạm, hoặc dài dòng, người ta nghĩ ra cái từ ô - sin. Nhiều gia đình công nhận những ô sin ấy thật là thiết yếu.
Nhưng do hợp đồng công việc chỉ được làm qua quýt, đặc biệt là việc xác định công xá không hợp lý, nhiều ô – sin dần dà cảm thấy mình bị bóc lột.
Chẳng qua họ buộc phải làm chứ không vui vẻ gì. Vừa làm vừa phá. Học đòi lười biếng, ăn cắp lãng phí -- nhiều thói xấu của người nông dân không những không được sửa chữa mà còn được khuếch đại thêm.
Trong lúc nói chuyện riêng tư, nhiều người thành phố bắt đầu kêu khổ vì cái nạn này.
4/
Điều đáng nói là trong khi làm hại nhà chủ thì chính các ô - sin cũng làm hại bản thân mình luôn thể.
Tức là tất cả những thói xấu nói trên bắt rễ đóng kén cô đúc lại, làm thành một cách sống ổn định, mà hạt nhân là cái triết lý hư vô “có phải của mình đâu mà phải tử tế với lại giữ gìn ?!”. Dù sau này có ra độc lập làm ăn, nhiều người trong họ cũng vẫn giữ thói xấu của người đi giúp việc bất đắc dĩ và không bao giờ bỏ nổi.
Cách sống ô - sin tâm lý ô - sin vốn bắt nguồn từ một tình trạng xã hội hỗn loạn, giữa ngườì với người không tìm ra được cách quan hệ hợp lý. Bề ngoài chiều nịnh nhau nhưng đúng ra là người ta đang thả lỏng nhau, mặc kệ cho nhau hư hỏng thế nào cũng được. Trong sự tự phát chung của xã hội, cứ thế nó ngày một trở nên phổ biến.
5/
Nhà văn Lê Minh Khuê bạn tôi khi phải biên tập một tập sách gồm nhiều bài báo về chủ đề này (mang tên "Bến ô-sin" ) đã vụt ra cái ý xuất thần: tâm lý ô - sin đang trở thành một thứ tâm lý thời đại.
Có lần, nhân trả lời phỏng vấn, Lê Minh Khuê bảo thứ tâm lý của kẻ làm thuê vô trách nhiệm này đang chi phối cả lối sống liều lĩnh của người dân, lẫn thói mặt dày kiếm chác của các quan chức tham nhũng.
Phần tôi tôi muốn bổ sung một chi tiết nhỏ: Tâm lý ô - sin đồng thời cũng là lý do sâu xa khiến khả năng quản lý của chúng ta cũng bị hạn chế.
Trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm từ 1957 về trước, cùng với việc lấy lại đồng điền đất đai, có việc lấy ngay nhà cửa địa chủ chia cho dân nghèo, hồi ấy gọi là chia quả thực. Trong số này, có những cơ ngơi được bồi đắp xây dựng từ nhiều đời.
Cố nhiên khi mang nó ra làm quả thực thì không chia riêng cho một ai cả.
Nhiều gia đình cùng đến ở.
Thế là xảy ra cái cảnh ai thích kiểu gì phá kiểu đó, cuối cùng những dinh cơ đẹp đẽ biến thành những khu nhà hỗn độn xấu xí. Một việc hết sức chính đáng, và có dụng ý tốt, mang lại một kết quả xấu.
Mà nguyên nhân chỉ vì các gia đình nông dân kia, không có nhà cửa bao giờ, không biết cách làm chủ nó. Thật là vừa đáng thông cảm, mà cũng vừa đáng trách, ngày càng thấy đáng trách nhiều hơn!
Tình cảnh các gia đình này phóng đại ra , thì thấy tình cảnh cả nước mình mấy chục năm nay.
Đã in "Những chấn thương tâm lý hiện đại " (2016)
CÁCH NGHĨ HIỆN ĐẠI
Ngày đăng 10 tháng 5 năm 2017
1/
"Từ điển danh ngôn thế giới" do Lưu Văn Hy biên soạn bản của nhà Tổng Hợp TP HCM 2006 có một ưu điểm, so với một số cuốn khác tôi đã đọc. Ở đây, tác giả chọn được ra nhiều câu nói thú vị có liên quan đến đời sống chính trị hiện đại. So với tư tưởng cổ điển, nó mang nhiều chất nghịch lý, không xuôi chiều, nhưng lại có vẻ đúng với tình hình đương thời. Chẳng hạn, sách có dẫn lời nhà văn Mỹ Henry Brooks Adams (1838 – 1918) từng chỉ ra một khía cạnh của nghề chính trị: “Làm chính trị, trên thực tế, bất luận trong lĩnh vực nào, luôn luôn là việc tổ chức một cách có hệ thống lòng căm thù.”(tr 12)
Một tư tưởng đang có sức mạnh lôi cuốn con người hiện đại là lòng yêu nước. Trong cuốn sách trên, thấy dẫn lại câu của tiểu thuyết gia Anh Elizabeth Gaskell (1810 -1865) nói về lòng yêu nước phổ biến thời nay: “Nội dung cơ bản của loại chủ nghĩa ái quốc ấy là ghét bỏ mọi quốc gia khác” (Tr 129)
Danh ngôn cổ chỉ khuyên người ta hết lòng yêu nước chứ đâu có chuyện khuyên một viên tướng rút lui, thậm chí phải nói là đầu hàng. Vậy mà trong cuốn trên lại có câu:
“Trong một cuộc nội chiến, một viên tướng cầm quân phải biết – bằng vào bản năng hơn là thực hành – phải biết chính xác khi nào ngả sang phe bên kia.”(Tr 283)
Truy về hoàn cảnh ra đời mới hiểu ở đây người ta muốn nói cách xử thế của các công dân liên quan tới các cuộc nội chiến. Nội chiến là người trong một nước đánh nhau, bởi vậy cái mà con người hiểu biết hướng tới, không phải phe này hay phe kia chiến thắng, mà cả dân tộc chiến thắng. Bằng bất cứ giá nào tránh được chiến tranh, vãn hồi hòa bình, ở đó người trong một nước bàn bạc với nhau về vận mệnh Tổ quốc. -- cái đó mới quan trọng.
Lòng trung thành với quốc gia phải đặt cao hơn lòng trung thành với phe phái mà mỗi người là một thành viên.
Câu trên đây là của một viên tướng Mỹ thời kỳ nội chiến Nam Bắc. Nó được Henry Reed nhà thơ Anh (1914 - 1986) chép lại. Chỉ có con người thế kỷ XX, mới thấm thía những điều đó một cách sâu sắc và đưa lại cho chúng ta một ý nghĩ có vẻ như ngoại lệ, do đó là khó hiểu với những con người các thế kỷ cũ.
2/
Sở dĩ tôi dừng lại ở một cách hiểu mới của con người thế kỷ XX về lòng yêu nước vì liên hệ với lịch sử Việt Nam , tôi thấy nó có thể có ích với chúng ta khi đánh giá lại các nhân vật lịch sử ở những giai đoạn éo le, chẳng hạn như Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh....
Ta hay nói phẩm chất hàng đầu của trí thức là lòng yêu nước. Có người phũ ra còn nói không có lòng yêu nước thì người trí thức không đáng một xu. Dựa vào cái đó người ta sổ toẹt Trương vì ông đã cộng sự với người Pháp.
Nhưng có thể có một cách nghĩ khác, gồm mấy vế:
-- theo quan niệm thông thường, một quốc gia độc lập có nghĩa là quốc gia đó do người trong nước cai trị và yêu nước trong trường hợp này là giúp cho cái quyền tự cai trị đó được thực hiện.
-- nhưng trên thế giới hiện nay có khá nhiều quốc gia chỉ có một nền độc lập mong manh, tuy do người trong nước cai trị, nhưng thực tế họ chịu sự thao túng của các thế lực nước ngoài. Bảo là độc lập giả tạo không phải là chê bai họ mà là đã bóc trần cái thực tế của họ.
-- đi vào cắt nghĩa tình trạng có các quốc gia độc lập giả tạo, người ta thấy rằng vì trong hoàn cảnh toàn cầu hóa hiện nay, không nước nào có thể đứng một mình không quan hệ với các nước khác. Đứng một mình, quốc gia chỉ tồn tại mà không phát triển. Mà đã không phát triển thì trước sau phụ thuộc vào nước khác, tức là bị các nước khác chi phối.Được sự giả dối bao che, sự tàn nhẫn lúc này lại lên đến mức khủng khiếp
-- chỉ người trí thức mới có cái nhìn vượt lên phạm vi của nước mình như vậy. Do hiểu rằng muốn tồn tại phải phát triển, họ cho rằng không cần phải phục vụ cho cái tình trạng trước mắt của quốc gia mà phải phục vụ cho tương lai của quốc gia. Khi phát triển theo đúng nghĩa của nó, quốc gia sẽ có được độc lập chân chính. Việc đó có thể tới muộn nhưng chắc chắn sẽ tới. Còn hơn cái độc lập trước mắt dở dang giả tạo bỏ thì thương vương thì tội.
3/
Một ví dụ tương tự.
Đối với cách hiểu phổ thông hiện nay -- được giảng dạy kiên trì ở các cấp học -- mất nước, đầu hàng là nhục, mất nước thì mỗi cá nhân không còn lý do gì để sống. Nhưng lịch sử châu Âu hồi thế giới thứ hai còn ghi, nếu khi Đức chiếm Na Uy, gặp phải sự phản kháng thì người Đan Mạch thấy sức mình không chống nổi Đức liền mở cửa đầu hàng. Sách vở về sau khi nhắc lại chuyện này không vì thế mà chê Đan Mạch và khen Na Uy.. Họ lại còn cho rằng nhờ đầu hàng mà nước Đan Mạch khôn ngoan cứu được bao nhiêu mạng sống Do Thái. Người Tiệp thường cũng tự hào nhờ đầu hàng mà giữ được bao công trình tuyệt mỹ ở Praha.
Không chỉ thời nay mà trong các truyện dã sử Trung Hoa thời cổ, rất phổ biến cái chuyện khi cảm thấy quân mình không đánh nổi quân địch, các viên tướng liền xin hàng để bảo toàn sinh mệnh binh sĩ cấp dưới. Việc đó theo họ là quan trọng hơn cái danh tiếng "trung quân ái quốc".
Nhìn rộng ra thấy trong lịch sử nước Trung Hoa, chính quyền TW đã hai lần đầu hàng những nước nhỏ hơn. Lần thứ nhất đầu hàng người Mông Cổ, chấp nhận cả việc thủ đô Bắc Kinh được Hốt Tất Liệt đưa lên một tầm vóc mới tồn tại mãi với thời gian. Lần sau mới ghê. Thua Mãn Thanh, cả nước Trung Hoa mấy trăm năm liền sống theo cách sống người Mãn, nhiều phong tục tập quán thay đổi. Nhưng tôi đọc sách lịch sử vẫn thấy ghi nhận Trung Hoa triều Mãn, tuy có mặt trì trệ nhưng vẫn là một bước phát triển rực rỡ, không có Mãn Thanh thì không có sự tiếp nhận tư tưởng phương Tây thành công cuối XIX đầu XX . Dân Mãn ít, triều nhà Thanh phải dùng nhiều quan chức người Hán cả cấp thấp lẫn cấp cao. Nhưng đương thời cũng vậy mà về sau cũng vậy không thấy sử sách Trung quốc lên án những người trí thức triều cũ cộng tác với kẻ chiếm đóng. Tại sao cả một giai tầng trí thức hùng hậu xử thế theo kiểu đó? Tôi đoán họ nghĩ rằng mình vì một nước Trung Hoa lâu dài, chứ việc trước mắt không quan trọng.Và đó là cách nghĩ hiện đại.Chúng ta có thể đồng tình hay không nhưng phải nhận có một cách nghĩ như thế.
CÂU CHUYỆN NHÂN TÀI TRONG LỊCH SỬ
Ngày đăng 13 tháng 5 năm 2017
Quan niệm về tài năng
cũng là một dạng di sản
mà chúng ta thừa hưởng từ quá khứ.
1/ Không ít nhà văn nhà thơ Việt Nam thời trung đại nhắc đến tên thì thiên hạ bảo rằng có nghe có biết, mà hỏi viết gì thì chịu, không ai nhớ. Tức họ không có tác phẩm cụ thể (đây là nói những tác phẩm dày dặn,có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả của các nhà văn học sử ). Bởi vậy mới có tình trạng trong một cuốn từ điển chuyên về văn học Việt Nam, người ta đếm thấy có 276 mục dành cho tác giả, trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người
Cuốn sách nói tới ở đây là "Từ điển văn học Việt Nam" do Lại Nguyên Ân biên soạn với sự cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường. Con số thống kê là do Nguyễn Văn Tuấn nêu ra trong một bài viết in trên Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số ra tháng 3-2003..
Nhân cuộc trao đổi về đào tạo nhân tài đang triển khai trên các báo hiện nay, tôi nhớ lại con số thống kê trên đây. Đại khái tinh thần của nó cũng giống như câu chuyện về những tấm bia ghi tên những ông tiến sĩ: không ai biết các ông đã làm nên trò trống gì, chỉ thấy có nói đến chức tước và sự đỗ đạt của mỗi ông, để rồi có bia ở Văn Miếu.
Xét gộp cả lại có thể rút ra ít nhất hai kết luận:
một là nhiều nhân vật từng đã được coi là nhân tài ở Việt Nam giống như những cây không có quả, hoặc có thể là sinh thời cũng có quả đấy nhưng toàn quả lép quả hỏng, không thể tồn tại cùng thời gian ;
hai là sự công nhận tài năng ở ta có khi đúng, nhưng có khi hàm hồ, tuỳ tiện, tức là xã hội tạo nên nhiều huyền thoại, và có một số người tồn tại trong lịch sử là nhờ vào những huyền thoại mà họ góp phần tạo ra chứ không dựa trên hiệu quả cụ thể.
2/ Đây có phải là một tình trạng phổ biến của việc đào tạo nhân tài trong quá khứ?
Dù câu trả lời là khẳng định hay phủ định, thì nó vẫn là điều mà chúng ta rất nên biết, trước khi có những cuộc ra quân rầm rộ để bàn bạc, cũng như chuẩn bị chi ra những món tiền lớn hàng ngàn tỉ đồng cho một trong những đầu việc được xem là trọng đại trong thời gian tới.
Theo tôi, có một vài vấn đề mà trong chiến lược đào tạo tài năng, chúng ta phải trả lời cho dứt khoát.
Về phân loaị các tài năng:
Có phải trước đây, lịch sử ở ta thường chỉ biết tới các nhân tài trên các lĩnh vực quân sự chính trị hoặc văn hoá ( nói cụ thể là những người viết văn làm thơ ), còn nhân tài trên các lĩnh vực kinh tế khoa học, tức những người có sáng tạo, nhằm đổi mới tình trạng làm ăn sinh sống của dân thường và giúp cho xã hội ngày một phát triển, thì chỉ có ít, và dừng lại ở một trình độ rất đơn sơ ? Có phải vì thế mà các tài năng đó chỉ có tác động tới tình hình trong nước chứ chưa bao giờ có thể gọi là những đóng góp của Việt Nam vào kho tàng tri thức của nhân loại ?
Về quy mô của tài năng:
Có phải nhìn chung các tài năng ở ta trước đây thường có một sinh mệnh non yểu, chỉ chói lên được trong một vài sáng tạo vào lúc trẻ, còn sau đó lại rơi ngay vào tình trạng trì trệ ? Và việc chăm sóc tài năng ở ta như vậy phải nói không có kinh nghiệm, chỉ đẻ giỏi, mà nuôi dạy thì không biết cách ?
Những câu hỏi tương tự nên được đặt ra, chỉ cần nghiêm túc và không lẩn tránh sự thực là có câu trả lời, từ đó đi tới quyết sách đúng đắn. Cái cần nhất của các quyết sách về nhân tài lúc này là không bốc đồng vội vã, không chạy theo thành tích hão huyền, để rồi, nói như các cụ ngày xưa, đưa hàng đống tiền mang đổ xuống sông xuống bể.
3/ Nhân đây thử trở lại với vài tư liệu lịch sử, liên quan tới chất lượng tài năng ở ta cũng như cách sử dụng nhân tài
Đây là nhận xét của Trần Trọng Kim trong "Việt nam sử lược" (1925 ):
“Về đàng trí tuệ và tính tình thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức.
...Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế.Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỷ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác (...) “
Đào Duy Anh trong "Việt nam văn hoá sử cương" (1938) thì viết:
“Về tính chất tinh thần, thì ngư¬ời Việt Nam đại khái thông minh, như¬ng xư¬a nay thấy ít ng¬ười có trí tuệ lỗi lạc phi thư¬ờng. Sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý. Phần nhiều ngư¬ời có tính ham học, song thích văn chư¬ơng phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư¬ tư¬ởng hoạt động. “
Còn đây là chuyện sử dụng nhân tài. Bộ sử đồ sộ nhất của chúng ta trong thời trung đại là "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn có ghi lại câu chuyện một vị vua trước khi giết một công thần, nói với người công thần đó như sau: “Không cần nói nhiều. MI có tài trội hơn ta thì không phải là người mà ta dùng được.“ (KĐVSTGCM bản của NXB Giáo dục, 1999 ; hai tập, tập II, tr.834 )
Trong sử sách cũ không thiếu những mẩu chuyện cắt nghĩa tại sao các tài năng không nẩy nòi lên được. Lịch sử có thể dạy khôn chúng ta rất nhiều. Ấy là không kể, trước khi tính các việc lớn, nếu có dịp nhìn ra nước ngoài, để rồi so sánh đối chiếu, thì những bài học lịch sử lại càng sáng rõ. Tôi cho rằng cả việc này nữa cũng cần làm, mỗi khi bàn về việc đào tạo nhân tài.
Đã in NHÂN NÀO QUẢ ẤY, 2016
ĐÔ THỊ & NHÂN CÁCH NGƯỜI ĐÔ THỊ
Ngày đăng 14 tháng 5 năm 2017
Trích ở bài trả lời phỏng vấn của báo Pháp luật TP HCM, ngày 14-12-2009
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2009/12/buc-tranh-o-thi-chua-inh-hinh.html
+ Là bộ phận đầu tàu đóng vai trò năng động lôi cuốn cả nước, song đô thị Việt Nam lại phát triển trong thế hỗn loạn. Nói một cách hình ảnh, đô thị của ta vẫn còn là một bức tranh chưa được định hình, nếu không muốn nói rằng một bức tranh nham nhở người ngợm cảnh vật nhiều khi lộn nhèo mà không ai thấy lạ.
+ Một người bạn nước ngoài nói với tôi: qua cách đi đường đã thấy lối sống của các ông có tính chất bạo lực sao ấy. Người nọ đe nẹt người kia, bấm còi thật to như để áp chế, tranh giành, thúc giục kiểu “ông không đi tôi đâm ông bây giờ”. Vậy là việc tổ chức đô thị đã làm hỏng thêm những con người vốn đã có phần hỏng sẵn. Chưa kể, đường sá ở đô thị rất chật chội, đi đường nghĩa là phải lo chen lấn và tranh giành nhau. Người ta nghĩ mình không cần tử tế nữa, mà cũng không thể tử tế được. Đến công sở phải ngồi nghỉ, văng tục mấy câu cho hả giận rồi mới làm việc. Điều đó làm hại đến nhân cách của chúng ta, ngay cả những cái thương mến bình thường nhất cũng mất đi.
+ Các đô thị đang bị quá tải và nó ảnh hưởng đến lối sống của người thành thị, đấy là điều không ai không thấy. Tôi nhớ có lần trời mưa, tôi dắt xe vào trú ở một cửa hàng đầu ngã tư. Bà chủ bên trong liền quát thật to, đi ngay đi lấy chỗ người ta còn bán hàng. Cả cái vỉa hè chung, họ cũng cho là của họ. Tôi nghĩ TP đâu phải của mình. Rồi về cái nhà của mình và làm chủ nó cũng đã yên thân đâu. Bao nhiêu là tiếng ồn từ ngoài đường, từ nhà hàng xóm cứ vọng vào ầm ĩ. Tôi cho rằng chúng ta đang sống trong những TP bị đánh mất. Trước 1945 không thể tưởng tượng nổi ở Hà Nội ngày nào cũng gặp chuột chết vứt ra đường, vào một quán ăn ngon cũng chẳng được ngồi yên mà thưởng thức, bao nhiêu người chực sẵn, chỉ chờ mình đứng dậy là giành chỗ ...
+Chúng ta ai cũng biết sự tự do tùy tiện đang là một đặc tính của những con người thành thị phi chuẩn hôm nay. Ở nông thôn, một người luôn được biết đến là cháu ông nọ, con bà kia... Còn ở thành phố thì không ai biết ai. Khi rơi vào tình trạng “vô danh”, lập tức cái tự do, tùy tiện được bộc lộ. Hơn nữa, nhiều người hiểu rất sai về tự do, nghĩ rằng tự do là muốn làm gì thì làm, càng làm những điều bị cấm thì coi như càng tự do.
+Có người hỏi tôi “phải chăng vì tình trạng “chín người mười làng” mà việc hình thành những chuẩn mực chung trong lối sống người thành thị là không dễ?
Để trả lời tôi đã nói trường hợp cụ thể ở Hà Nội. Trước chiến tranh (năm 1945), nhập tịch vầ thủ đô rất khó khăn. Người tứ xứ phải cạnh tranh rất nhiều, phải giỏi giang mới có thể có một chỗ đứng ở đó. Người từ nông thôn lên cũng rất nể trọng dân đô thị ở đây từ cũ và muốn sống theo nếp sống mà họ thấy văn minh hơn. Nhưng từ sau chiến tranh, vội vội vàng vàng thế nào, nhiều người lên đô thị mà vẫn giữ nguyên những nếp sống tùy tiện và cho rằng như thế mới là “chân quê”. Như vậy, họ vừa góp phần vào việc níu kéo đô thị, vừa bỏ qua luôn khả năng tự nâng mình lên thành con người hiện đại.
Tôi vẫn cho rằng thành thị là nơi có sức thu hút và sàng lọc cao, cái tinh hoa sẽ thắng cái kém cỏi. Tôi không phản đối việc người các nơi đổ về các thành phố lớn. Tôi chỉ phản đối việc mang cái xô bồ nhếch nhác về đây và lại tự hào như thế mới là chân quê.
+ Trước mắt đô thị và người đô thị bị chi phối bởi hai nguy cơ
Với bộ phận người già, những thói quen của người nông dân không có khả năng biến cải. Hơn nữa, trong hoàn cảnh một đất nước dù đã chuyển sang hậu chiến bốn chục năm nay nhưng vẫn thích sông theo những quy luật của thời chiến, thì cái tiểu nông trì trệ mãi mãi còn đất sống
Còn với bộ phận người trẻ thì lại có nguy cơ nhập cảng các nền văn hóa xa lạ, không cần biết là nó có phù hợp với người Việt hôm nay hay không. Thức ăn của họ nhập từ nước ngoài, cái nhà thiết kế theo kiểu nước ngoài, vui buồn theo những chương trình phim ảnh và chương trình thể thao của nước ngoài. Đây tôi không nói có phải là kệch cỡm hay không. Ở đây có những người có thiện chí. Bộ phận thiểu số đó tưởng rằng họ sẽ mở ra một lối thoát. Nhưng không, theo tôi hiểu lối sống khác biệt đó rất khó tác động tới cả cái xã hội trì trệ của người Việt hôm nay.
+ Nói đến đô thị là phải nói tốc độ chuyển biến. Nông thôn không thể chuyển nhanh như thế được. Thế còn các đô thị giàu chất nông thôn ở ta. Đây là nơi cả cái trì trệ lẫn cái biến chuyển đều trong thế hỗn loạn, không theo một tư tưởng nhất quán nào mà cũng chẳng có trình tự chuẩn mực nào, nên cả người và cảnh ở đô thị ta có chín thì cũng cứ như quả chín ép cả một lượt.
PHẢI GIÚP HỌC SINH HỌC ĐỂ BIẾT NGHĨ
Ngày đăng 19 tháng 5 năm 2017
“Ông Trung cũng đề xuất cần phải đánh giá lại chất lượng học sinh sau trung học phổ thông. Vì có một thực tế là khả năng tự luận của học sinh hiện nay rất kém. Khả năng học thuộc là chính. Nên khi viết bài luận không thành được vấn đề.”
Ý kiến về trình độ học sinh trên đây là của một nhà toán học ông Ngô Việt Trung.
Nó đúng với một phương diện tổng quát của lớp trẻ đến mức bọn tôi, dân làm khoa học xã hội phải cảm ơn nhà toán học vì ông đã gọi đúng bệnh ở khu vực mà chúng tôi phải chịu trách nhiệm là chính.
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Minh Châu, từng bảo tôi "ở nước mình, người lớn thì làm văn miêu tả mà trẻ con thì làm văn nghị luận"
Anh Châu vốn là một ngòi bút rất có năng khiếu, lại hơi cũ cũ nữa. Nhà văn gốc Nghệ Tĩnh này lại có lối văn rất điêu luyện gợi ta nhớ tới vẻ nhuần nhị riêng của văn hóa đồng bằng sông Hồng.
Nhưng trong sự đào luyện của thời hiện đại, Nguyễn Minh Châu thường băn khoăn nhiều về chất tư tưởng trong văn học.
Anh không muốn dừng lại ở vai trò một ngòi bút minh họa , kể cả minh họa bằng hình ảnh và những trang văn véo von. Nhìn lại các thế hệ trước thấy những băn khoăn của họ dẫu sao cũng được nói ra. Với bọn tôi thì không, chỉ có lạc quan chỉ có hành động, buồn bã thế chứ
Sự ngăn cấm đã ngấm vào máu thịt đám lạc thời chúng tôi đến mức mỗi người luôn luôn phải cảnh giác với mình, không chừng mình cũng đã quên nghĩ lúc nào không biết.
Lúc vắng vẻ ngồi than thở với nhau, thì lại phải nhớ ngay rằng phải chọn người mà than thở, thời nay loại người thích làm văn miêu tả tự tin ở sứ mạng cuả mình - nghe chuyện sẽ cho anh là vô tích sự. Thôi, hàng, cứ thế mà sống qua ngày.
Chỉ khi nhìn rộng ra, những hạn chế mà cả xã hội phải chịu cả các công dân tương lai của đất nước phải chịu, bọn tôi mới yên tâm
2/
Những nhận xét của vị giáo sư toán học xui tôi nhớ lại cả những băn khoăn vốn có từ thời đi học.
“Chắc là cấp trên chỉ muốn mình càng biết ít càng tốt, và trong khi học càng ít suy nghĩ càng tốt".
Tôi đã đến những kinh nghiệm như vậy và cũng có lúc nghĩ không phải thế đâu, để phản bác . Nhưng chết nỗi càng nghĩ càng thấy đúng.
Thuở cấp ba, nay là THPT, -- khi bước vào tuổi thanh niên -- , tôi thấy bao giờ bọn tôi cũng chỉ được dạy dỗ để “lao vào hành động”.
Việc học có thể là cần đấy, nhưng vào thực tế đã sau tự học cũng được.
Mà trong khi học, quan trọng nhất là có lòng tin.
Sự hoài nghi bị cấm tuyệt đối, kèm theo đó là sự cảnh cáo rằng đa nguyên đa dạng là một thứ bùa mê.
Do hoàn cảnh chiến tranh chuyện thiếu sách vở thôi cũng bấm bụng mà chịu.
Nhưng giá kể có sách cũng không được khuyến khích đọc.
Chẳng những sách vở nước ngoài mà ngay sách vở nước mình chúng tôi cũng chỉ được đọc một cách hạn chế và bị giải thích theo hướng làm nghèo nàn đi, đơn giản đi.
Những bạn cùng lứa tuổi với tôi, học THPT khoảng 1960 hẳn nhớ về những gò bó chật cội trong cái khung tư tưởng được vạch ra cho mình.
Khi học về văn học tiền chiến, chúng tôi bị cấm không được tiếp xúc với Tự lực văn đoàn và Thơ mới.
Vả chăng đó chưa phải tất cả. Mãi đến gần đây tôi mới biết thêm là trong văn học tiền chiến đó có một bộ phận bị xếp xó, đó là dòng văn nghị luận, những tìm tòi trên phương diện tư tưởng mà nhờ sự nở rộ của báo chí , đã tạo nên một bước phát triển mới trong đời sống tinh thần của xã hội VN đầu thế kỷ XX.
Tôi đã lờ mờ hiểu điều này từ lâu, nhưng ấn tượng nhất là từ khi tiếp xúc với những cuốn sách giáo khoa về quốc văn in ra ở Sài Gòn trước 1975.
Ngay từ đầu cấp III, trong chương trình văn học ở đó đã có một bộ phận giảng kỹ về văn nghị luận, bao gồm không chỉ các tác giả mà ta đã quen biết, từ Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi qua Nguyxn An Ninh, Đinh Gia Trinh, Vũ Đình Hòe, Phan Anh (ký Phan Quân), Vũ Văn Hiền.
Tới lớp 12, học sinh còn được học hẳn một chuyên đề về lịch sử báo chí và lịch sử tư tưởng. Báo chí đây là báo chí nói chung cứ không phải báo chí cách mạng. Tư tưởng nói ở đây là tư tưởng mọi thời đại mọi màu sắc chứ không phải cái phần được gọi là tinh hoa. Các phần này, đến sinh viên các trường Đại học Sư phạm và Tổng hợp ở Hà Nội khi học về văn học tiền chiến cũng không được biết và giá có muốn cũng không có tài liệu mà đọc. Các thư viện lớn trước đây thường liệt các loại sách baaso đó vào loại cấm kỵ và sinh viên đại học cũng không được mượn, muốn mượn phải có giấy giới thiệu đặc biệt.
3/
-- Ở trên anh vừa nói Nhà văn làm văn miêu tả, học trò làm văn nghị luận cơ mà? Thế thì làm sao lại nói là không được hướng dẫn sự suy nghĩ?
-- Đấy, nghịch lý là ở chỗ ấy. Trong khi bị hạn chế về khuynh hướng thì chúng tôi lại bị khuôn vào chỉ có một lối suy nghĩ, tạm gọi là cách nghĩ của các nhà tuyên huấn.
Trò đời cái gì đơn độc thì sẽ thoái hóa. Lối nghĩ một chiều và “nhất nguyên” như nền giáo dục của ta kiên trì hướng tới đã đẻ ra hàng loạt học trò non yếu như bọn tôi. Nhưng thuở trước, do sức đề kháng tự nhiên của đời sống, người đi học còn cục cựa ít nhiều. Lớp trẻ về sau chỉ học các môn khoa học xã hội cho phải phép, học theo lối thuộc lòng những gì bị áp đặt mãi, sinh ra mất cả khả năng hướng về sự đa dạng “ tự làm khác đi “ trong suy nghĩ và cũng mất luôn niềm vui, sự khao khát muốn suy nghĩ. Sự nghèo nàn đã đẻ ra sự thoái hóa. Trình độ kém cỏi của học sinh khi phải TỰ LUẬN -- như nhận xét tạt ngang của GS Ngô Việt Trung tóm lại là như thế.
4/
Nói thêm về bài báo nó là cái nguồn kích thích tôi viết đoạn văn ngắn này. Đây là các ý kiến nói nhanh trong một cuộc phỏng vấn. Người được phỏng vấn, theo sự giới thiệu của báo Giáo dục Việt nam là - Phó chủ tịch Hội Toán học Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện toán. Nhờ sự giới thiệu của trang Viet-studies , tôi tìm thấy bài viết trên mạng Giáo dục ở đường link
http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Giao-su-Ngo-Viet-Trung-Toi-
Nay nó đã bị rút xuống, nhưng tôi còn kịp ghi mấy ý.
Khi bàn về cải cách giáo dục nói chung nhà toán học này bảo “Tôi có cảm giác dự thảo của Bộ mang khẩu hiệu là chính.”
Và một điểm nữa , theo giáo sư Trung,” việc định hướng chương trình đặt môn giáo dục quốc phòng, an ninh lên hàng đầu, trước các nội dung giáo dục khác là không hợp lý.”
Ý này chỉ được lướt qua không không được nhấn mạnh, nhưng theo tôi nó mới là cái gốc để ta xem xét mọi phần ngọn khác trong cải cách giáo dục cũng như toàn bộ chính sách giáo dục thời nay nói chung.
TỪ THỜI PLATON DÂN CHỦ ĐÃ ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA ... RẤT HIỆN ĐẠI
Ngày đăng 21 tháng 5 năm 2017
Trong cuốn "Câu chuyện triết học" của Will Durant, bản dịch của Trí Hải và Bửu Đích, in ra, tức tái bản, ở NXB Văn hóa Thông tin 2008, ở các trang 29-30, người ta có thể đọc được những lời dẫn giải sau:
1/
Về sự tham gia của đám đông vào việc quản lý xã hội
Khi chính thể dân chủ đến, kẻ nghèo chiến thắng đối thủ của họ, tàn sát một số, trục xuất một số, và cho tất cả mọi người tự do bình đẳng.
Nhưng chính thể dân chủ tự phá hủy vì [bề ngoài] quá dân chủ.
Họ – đây muốn chỉ những người đề xuất chính thể dân chủ – muốn rằng tất cả mọi người đều có quyền tham gia chính phủ và ấn định đường lối quốc gia.
Sau khi bảo rằng mới xem qua thì việc bầu cử phổ thông – tức là cho tất cả mọi người tham gia vào việc lựa chọn các thành viên của bộ máy quyền lực – là một lý tưởng quá ư tốt đẹp, W. Durant cài ngay vào đấy cái ý của Platon cảnh báo rằng thực ra việc đó vô cùng nguy hiểm. Vì dân chúng không được giáo dục để có thể lựa chọn người tài giỏi ra cầm quyền và tìm ra đường lối thích hợp nhất.
Dân chúng không có kiến thức, họ chỉ lặp lại những điều nhà cầm quyền nói với họ.
Phát triển ý của Platon, Durant cũng đi guốc vào bụng các nhà chính trị khi chỉ rõ cái chiến thuật xoàng xĩnh: muốn ủng hộ hoặc đả phá một học thuyết, chỉ cần soạn những vở kịch [hiểu theo nghĩa rộng những tác phẩm văn nghệ] trong đó những học thuyết kia được đem ra chỉ trích hoặc cổ võ, rồi trình bày trước công chúng.
Thế là tha hồ dắt mũi họ.
….
2/
Tổng kết về chuyện bầu bán, W. Durant viết:
Dân chúng rất ưa những lời nịnh hót; những kẻ khôn ngoan và vô liêm sỉ, tự gán cho mình cái nhãn hiệu bảo vệ dân chúng [nói lên tiếng nói dân chúng] thường được mở ra cả cơ hội lớn để nắm quyền lực tối cao.
Chính Platon đã tỏ ra kinh ngạc về sự điên rồ khi giao cho quần chúng [đang còn là đám đông những kẻ chưa trưởng thành] trọng trách chọn người cầm giềng mối quốc gia.
Về sự có mặt của một vài đại biểu đám đông trong bộ máy quyền lực
Theo W. Durant, Platon phàn nàn rằng đối với một việc nhỏ như việc đóng giày, may quần áo, người ta còn phải lựa chọn những người thợ chuyên môn, tại sao trong lĩnh vực chính trị là một lĩnh vực có tầm ảnh hưởng rộng lớn, người ta có thể tin rằng bất cứ kẻ nào chiếm được nhiều phiếu [hậu quả của việc được bảo kê hoặc giỏi tiếp thị trước công chúng] đều biết cách trị nước an dân.
Khi chúng ta bị bệnh, chúng ta không kiếm những thày thuốc đẹp trai hoặc những thày thuốc dẻo mồm khoe khoang mà mời bằng được những y sĩ lành nghề đã trải qua nhiều năm đèn sách và học tập.
Thế thì tại sao khi quốc gia lâm nguy chúng ta không tìm tới những người khôn ngoan nhất đức hạnh nhất?
3/
Rút lại, theo W.Durant, ý của Platon là:
Để cho dân chúng cầm quyền không khác gì để cho con thuyền quốc gia lướt trong vùng bão tố, miệng lưỡi bọn chính trị gia càng làm mặt nước nổi sóng và có thể lật ngược cả hướng đi của con thuyền.
Không chóng thì chầy, một chính thể như vậy sẽ rơi vào con đường độc tài.
Tìm ra mọi phương pháp để loại bỏ bọn bất tài và bịp bợm ra khỏi bộ máy quyền lực.
Chọn lựa cho được những kẻ tài cao đức trọng.
Đó là vấn đề chính của triết lý chính trị.
Trích trong bài "Quản lý Hà Nội sau 10/1954 – một cách hiểu về dân chủ quá dung tục" đưa trên blog của tôi ngày 12/10/14
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/10/quan-ly-ha-noi-sau-10-1954-mot-cach.html
CHÍNH MÌNH LÀM HẠI VIỆC MÌNH
Ngày đăng 22 tháng 5 năm 2017
1/
Sách "Việt sử cương mục tiết yếu" của Đặng Xuân Bảng có đoạn viết về một sự việc xảy ra thời Trịnh Doanh
“Doanh để tâm xem xét mọi việc, đặt ống đồng ở cửa phủ, cho ai có việc gì, hoặc bị oan khuất, được bỏ thư vào đó, cứ năm ngày một lần trình lên chúa. Nhưng sau đó điều tra lại những điều dân chúng mật cáo quan lại tham nhũng, thấy phần nhiều không đúng. Một viên quan là Lê Trọng Thứ, cha Lê Quý Đôn khải rằng: Lòng người ngày nay khác xưa, yêu ghét khen chê chưa chắc đã công bằng cả …
Nếu muốn phân biệt hay hèn, thì nên cho trình bày bằng lời nói, thử tài bằng việc làm, khảo sát thực tế bằng công trạng, chứ không nên làm lối cáo giác bí mật, vì chỉ tăng thêm cái tệ kèn cựa nhau “.
Theo ngôn ngữ hiện đại, trước mắt chúng ta là một quá trình dân chủ, nhà cầm quyền muốn được nghe ý dân để tiện quản lý xã hội.
Nhưng cách làm quá thô thiển mà người dân thì không đủ tư cách. Họ làm hỏng nó một cách hồn nhiên. Đằng sau thất vọng về một sáng kiến là nỗi thất vọng chung về những con người.
2/
Sự tình nói trên vốn không phải là câu chuyện riêng của thời Lê Trịnh.
Vài nhà viết sử hiện đại từng đưa ra khái niệm dân chủ ở nông thôn.
Nhưng các công trình nghiên cứu kỹ càng hơn cho biết làng xóm người Việt chủ yếu do các dòng họ thao túng, cái gọi là dân chủ ở đây chỉ làm phép. Bản thân người dân không đủ trình độ tham gia công việc của cộng đồng.Thường họ chỉ nhìn ra rất nhanh cái gì có lợi là trụ bám thật kiên trì để giành phần hơn ngoài ra sẵn sàng dửng dưng chây bửa.
Không ai bảo ai mà tự nhiên ai cũng tự nhủ trốn được việc gì hay việc ấy. Cha chung không ai khóc, ngại đóng góp vào việc chung đã thành một lẽ sống
Những cuộc bàn cãi ở làng xưa thường diễn ra vô nghĩa, nhiều khi những ý kiến lăng nhăng tùy tiện lại trở thành tiếng nói cuối cùng.
Đây cũng là tình trạng chi phối xã hội.
Khi sống và tiếp xúc với thiên hạ, bộ phận tinh hoa trong các thế hệ ông cha xưa không phải không biết cái kém cỏi của dân mình. Họ đặt ra cho cộng đồng ít nhiều những cách thức thay đổi.
Song sự nhân từ nhiều khi lại là một cách “diệu” nhất để khuyến khích lười biếng, sự tin cậy biến thành chỗ dựa cho dối lừa, và lòng tốt thì không bao giờ đủ sức đương đầu với thói vụ lợi.
Cứ thế biết bao sáng kiến bị chôn vùi, các phần tử tinh hoa cùn mòn dần và cảm giác bất lực đã sớm đến cả với những người còn rất trẻ.
3/
Học là gì? Nói cho gọn, học là cách con người muốn sống một cách có ý thức, muốn vượt lên những tầm thường dại dột để tự đào tạo, để bản thân trưởng thành mà xã hội ngày một thịnh trị.
“Người mình ai cũng ham học” , một nhận xét như thế đã thành câu cửa miệng.
Nhưng nhìn kỹ thấy ở ta quan niệm chung về học lại quá sơ sài, người ta chỉ cầu nhàn và bằng lòng dừng lại ở những kiến thức sơ đảng. Ham học nhất chỉ là những người muốn mang ngay cái học của mình đi bán -- trong nhiều trường hợp là đi lừa thiên hạ.
Dân tộc nào thì cũng vậy thôi, bi kịch chung của nhân loại là sự phân ly thường trực giữa nguyện vọng và khả năng thực tế. Nhưng ở người Việt, tấn bi kịch này có một sắc thái riêng mà câu tục ngữ MIỆNG KHÔN TRÔN DẠI đã nói được gần đủ.
Thế nào là đẹp thế nào là hay nhiều khi không phải ta không biết.
Nhưng còi cọc yếu ớt, con người lý trí ở ta nhanh chóng bị con người bản năng tầm thường kéo lùi trở lại.
Miệng thì khôn mà trôn thì dại, ta bị cuốn vào những hành động tầm thường hư hỏng.
Để tan vỡ mọi ước ao. Để trôi tuột khỏi tay mọi cơ hội.
Sau bao bất lực, con người có nản lòng cũng không lạ. Một sự bi quan bao trùm dai dẳng. Nó ngấm sâu vào tâm trí, nó âm thầm di truyền, và trong một ít trường hợp hiếm hoi làm nên sự biết điều, sự nhẫn nhục rất đáng vì nể.
Song phổ biến hơn, là sự xuất hiện thường trực của ẢO TƯỞNG.
Ta sẵn sàng khoác cho những công việc bé nhỏ những ý nghĩa đâu đâu. Những mỹ từ thật kêu được lạm phát để phong tặng cho những con người và đồ vật loàng xoàng.
Khái niệm sáng tạo bị hạ giá. Nhiều người trở nên thích làm bộ làm tịch phô trương khoe mẽ. Họ sống như diễn trò. Họ kỳ công tìm kiếm và khoác cho mình những danh hiệu hão hiền chỉ cốt lừa mị chung quanh.
Thói sĩ diện đang được tha bổng vì ngày một phổ biến. Khi đi vào nông thôn VN, cả các nhà xã hội học lẫn các nhà văn hiện đại từng ghi lại một hủ tục: người Việt ở các làng xóm thường hám danh. Họ sẵn sàng dốc tiền cả đời dành dụm và bán nhà bán cửa để mua nhiêu mua xã; sau một lần khao vọng đẩy vợ con đi làm thuê. Còn tệ làm hồ sơ giả để vinh danh cho quê hương thì kéo dài đến hiện nay, xưa là xin sắc chỉ vua ban và ngày nay là xin bằng di sản văn hóa. Lúc này cái gì người ta cũng sẵn sàng làm, sự dối trá bao phủ khiến cho thiện chí và ảo tưởng chỉ còn hiện ra với bộ mặt thảm hại.
Nguyên là bài "Cái còn lại sau bất lực là ảo tưởng"
đã đưa trên blog của tôi 10/2009
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2009/10/cai-con-lai-sau-bat-luc-la-ao-tuong.html?m=0
CHỈ CÓ NHỮNG TRÍ THỨC ĐẦU THẾ KỶ XX MỚI GỌI RA ĐẦY ĐỦ CÁCH LÀM ĂN BUÔN BÁN CỦA NGƯỜI VIỆT!
Ngày đăng 23 tháng 5 năm 2017
Trên blog của mình, hôm nay tôi vừa đưa lại bài
Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán vốn biên soạn từ 2012 , nay được săp xếp lại và bổ sung thêm.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/05/khi-nguoi-viet-lam-buon-ban.html
Sau đây là lời dẫn viết cho các trích đoạn đã sưu tầm
Thời bao cấp , dân cán bộ Hà Nội đều nghĩ, giá mình được buôn bán thì chết với mình. Nhưng thực tế ba bốn chục năm nay cho thấy chúng ta chỉ giỏi buôn bằng tiền nhà nước, còn suy cho cùng thì vẫn buôn đầu chợ bán cuối chợ. Buôn gian bán lận lừa lọc làm hàng giả là cả một thói quen lưu cữu từ thời làm ăn theo kiểu tiểu nông, nó sẽ không bao giờ đưa ta gia nhập vào nền thương nghiệp hiện đại. Song đây là cả một “truyền thống” của nghề buôn bán ở Việt Nam, dân ta thường lảng tránh, chỉ sang thời hiện đại, do tiếp nhận được văn hóa phương Tây mà nhiều trí thức thế kỷ XX mới chỉ ra được. Điều oái oăm là ở chỗ những ý kiến như thế này hầu như chưa bao giờ được các nhà quản lý kinh tế lẫn các nhà nghiên cứu văn hóa chú ý còn những bạn trẻ đang lo khởi nghiệp lại càng không cần biết tới, bởi vậy, mặc dầu công việc sưu tầm này đã được phổ biến đây đó, chúng tôi vẫn muốn nó có dịp đến với nhiều bạn đọc hơn.(23-5-17)
CÓ NHỮNG NIỀM ĐAU
Ngày đăng 24 tháng 5 năm 2017
Dù tên gọi có vẻ văn chương như vậy, nhưng đây là một bài viết thuần chất khoa học.
Tác giả bài viết trên mạng VOA này là một bác sĩ người Việt, ông Nguyễn Ý Đức.
Nội dung đề cập tới hàng loạt vấn đề liên quan tới lịch sử quan niệm về đau và cách chữa trị đau trên phương diện tâm lý
Tôi trích lại hai đoạn cuối và ghi lại đường link dưới đây
https://www.voatiengviet.com/a/dau-nguyen-y-duc-bac-si-tam-ly/3866220.html
để bạn nào thấy cần có thể tìm đọc
THẢN NHIÊN TRƯỚC SỰ ĐAU
Trong trận chiến Anzio Battle of Anzio vào thời khoảng gian từ tháng Giêng tới tháng Năm, năm 1944, Trung Tá Henry Beecher của Đơn vị Quân Y Hoa Kỳ đều hết sức ngạc nhiên khi thấy có nhiều binh sĩ Hoa Kỳ cảm thấy rất ít đau khi bị thương mà lại nhảy lên kêu la khi một nhân viên y tế chích một mũi thuốc vào mông. Vào năm 1946, khi ông này phổ biến nhận xét của mình về 215 binh sĩ thì ông thú nhận rằng kết quả đều hơi khó hiểu: 32.1% cho hay là không thấy đau; 25.6% thấy hơi đau; 23.7% đau rất nhiều. Trong lúc đó khi so sánh kết quả này với những thường dân bị thương trầm trọng ông thấy những người này đau nhiều hơn.
Henry kết luận rằng sự khác biệt chính là do người bị thương nghĩ thế nào về vết thương đó. Đối với các binh sĩ thì có thể là không còn phải làm công việc nặng và sự chết còn đối với thường dân thì chỉ bắt đầu một thảm họa. Nên để ý rằng những gì xảy ra trước tai nạn cũng rất quan trọng: Đối với binh sĩ, tương tự như với các lực sĩ trước khi tranh tài, đều hăng hái, chất kích thích adrenaline lên rất cao để sẵn sàng “đánh” hoặc “chạy”- fight or flight còn thường dân thì cảm thấy đau vô tả.
Theo Henry, sở dĩ như vậy là vì mỗi người cảm thấy sự đau khác nhau.
Vào năm 1950, Henry và mấy đồng nghiệp ở Boston tìm ra một khám phá mới. Rằng nếu một số bệnh nhân bị đau trầm trọng lại được cho một giả dược placebo nói là thuốc trị đau thì 35%
cảm thấy bớt đau rất nhiều. Tác dụng placebo này chẳng khác chi sự lạc quan khích lệ bệnh nhân như là những gợi ý của sự thôi miên.
CHỮA ĐAU
Nhiều loại thuốc thường dùng để chữa đau như aspirin và thuốc gây mê đều được tìm ra vào cuối thế kỷ thứ 19. Giải thích về sự dẫn truyền cơn đau do thuyết "gate control" cũng không nói nhiều về các phương pháp chống đau. Thuyết này quả quyết rằng việc đưa các cảm giác không - đau sẽ đóng cánh cửa đối với cảm giác đau và như vậy sẽ chặn cảm giác đau chạy lên hệ thần kinh trung ương. Và như vậy khi ta kích thích bằng các tác nhân độc hại [ tôi đoán ý tác giả là độc đáo, hoặc đúng hơn một chữ ngày nay ít dùng -- độc đặc VTN chú ] có thể làm giảm cơn đau.
Đóng toàn bộ hoặc một phần gate này ở cột tủy sống có thể là nguyên tắc trị đau của châm cứu: dùng kim để kích thích một vùng nhạy cảm nào đó có thể là để chặn đường đi của cơn đau. Đây cũng là nguyên lý của kích thích dây thần kinh qua da của hai kim điện TENS có thể làm giảm đau đáng kể. Đóng cửa gate qua não bộ là nguyên tắc của thôi miên, thiền định và các kỹ thuật liên can tới làm cho bối rối rồi khuyên nhủ.
Qua nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu đều cho là có nhiều cách để làm hết đau hoặc kinh niên hoặc cấp tính. Dù kinh niên hoặc cấp tính đều có thể đưa đến lo sợ, buồn phiền rồi thất vọng và sự đau sẽ tăng lên.
Vào năm 1946, một bác sĩ chuyên về gây mê Hoa Kỳ là John Bonica thành lập một bệnh viện để chữa đau đầu tiên ở thành phố Seatles, tiểu bang Washington.
Ông bèn mời các nhà chuyên môn khác nhau, từ bác sĩ giải phẫu tới các nhà chuyên về thần kinh tâm trí để cùng nhau tìm hiểu về nguyên nhân cũng như cách thức điều trị chứng đau kinh niên. Ngày nay bệnh nhân ở cả hàng ngàn bệnh viện ở Hoa Kỳ và trên thế giới đều được chữa đau với dược phẩm, châm cứu, kỹ thuật thư dãn, vận động cũng như tham gia vào các buổi tư vấn. Có thể giảm đau chỉ là phần rất nhỏ nhưng giúp họ kéo dài cuộc sống là quan trọng hơn cả.
GIẦU CÓ NHƯNG KHÔNG THÀNH NGƯỜI
Ngày đăng 28 tháng 5 năm 2017
1/
Trong số những cách hành xử của đám nhà giàu trọc phú khiến dân tình phải bàn tán, tôi nhớ mấy năm trước có chuyện họ mang việc đấu giá làm từ thiện ra đùa cợt. Đùa cợt trên sự cùng cực của người nghèo.
Nhìn lại thời xưa, tôi vẫn nghĩ, cùng với giới trí thức, đám người giàu có thuộc về bộ phận ưu tú của xã hội họ có khá hơn thì xã hội mới được nhờ.
Nhưng đến thời ta, cả hai đám người ấy bị thù ghét và thù ghét vô lối bất công đến mức ai người muốn trở thành ưu tú cũng nản lòng luôn .
Phải qua chiến tranh rồi những ngày hậu chiến đầy ảo tưởng đến nay sự tôn trọng đám người ưu tú đó mới được khôi phục.
Nhưng làm sao mà có ngay được những người ưu tú chân chính khi những chuẩn mực xã hội hoàn toàn lệch lạc.
Để chuyện trí thức vào một dịp khác, hôm nay ta hãy nói về người giàu thời nay.
Câu chuyện tôi nêu ở đầu bài không phải "cá biệt ,ngẫu nhiên' Trong những cuộc trao đổi với đám người cùng tuổi nhất là những người có kinh nghiệm về xã hội cũ, chúng tôi vẫn lắc đầu hoài,
Tôi muốn nói riêng trong phạm vi Hà Nội, nơi những cuộc cải tạo tư sản khét tiếng một thời, và chủ nghĩa nghèo khó bình quân được triệt để thực hiện, việc một số người giàu có, tự nhiên phất lên chiến tranh là hạng người nào, không ai còn phải lấy làm lạ !
2/
Cũng như mọi phán đoán khác, tôi biết ở đây tôi phải có lời xin lỗi nếu cố tình tuyệt đối hóa nhận xét của mình.
Một trong những thói quen của thời bao cấp là thói ghen tị không thích ai hơn mình, và tôi tin sang thời mới (?) rồi mà cái đó nay vẫn còn.
Nhưng trên đại thể, tôi vẫn tin tôi đúng.
Sự kém cỏi mọi đường của lớp người giàu thời nay là lý do khiến sự giàu có chung của xã hội không chắc chắn mà cũng không tự nó nhân lên nhiều lần như chúng ta cùng mong ước.
Dưới đây tôi muốn nói thêm về những ảnh hưởng của lớp giàu tới sự suy nghĩ của cả xã hội.
Một người Đức đã viết trên mạng về “người Việt xấu xí’.
Ông ta bảo hình như nhiều người Việt hiện nay cũng biết mình hư hỏng nhưng lại có lối đổ thừa cho hoàn cảnh.
Tức là bảo rằng tại chúng tôi nghèo quá nên chúng tôi mới hư hỏng thế này, còn nếu giàu có lên thì chúng tôi sẽ tử tế ngay.
Còn theo kinh nghiệm của người Đức, và nhiều cộng đồng khác, con người phải tử tế thì mới có được sự giàu có chắc chắn.
Có vẻ như các vụ việc gần đây cho thấy người Đức kia nói đúng.
Sự giàu có hiện nay của một số người ở VN chỉ là sự giàu có giả tạo. Họ vẫn chưa thành người.
3/
Tại sao đám dân có máu mặt -- đúng hơn là đám người ưu tú thời nay -- lại có bộ mặt như vậy?
Câu trả lời có thể là:
-- đi qua chiến tranh người ta sống cảm giác kẻ sống sót, không thấy cuộc đời có ý nghĩa gì ngoài sự hưởng thụ và muốn làm gì thì làm cốt nổi trội hơn người.
-- chiến tranh không đào tạo người ta thành người lao động bình thường, trước cuộc mưu sinh ngày nay, mỗi người hoàn toàn bất lực. Nhưng họ lại quá nhiều kinh nghiệm trong việc bất chấp pháp luật, hoặc lợi dụng khe hở của pháp luật để mưu cầu tham vọng riêng
Nên nhớ là dưới bom đạn, ảo tưởng lại được nuôi nấng, và đến nay khi ảo tưởng đó tiêu tan, thì con người ta như con trâu đứt mũi, thả mình phiêu lưu trong sự hư hỏng.
4/
Một nguyên nhân khác: Nguyên nhân căn cốt cộng đồng. Ngay từ hồi chiến tranh, tôi nhớ một người như nhà văn Đỗ Chu đã có lúc trầm ngâm nói với tôi rằng đọc lại sách vở xưa, bên cạnh rất, rất nhiều tự hào, nhiều khi chợt thấy dân mình có quá nhiều tính chất của một đám đông lêu lổng(?!).
Không biết bây giờ anh Chu có còn nghĩ như thế, nhưng mấy chục năm nay, nó cứ khiến tôi phân vân mãi
Có đúng thế không? Không đúng hẳn, cũng đúng một phần?
Hay đây chính là mặt chủ yếu trong cái bộn bề tính cách người mình?
5/
Đọc trên mạng thấy có người thắc mắc, tham nhũng, ở giới quan chức Trung quốc cũng khủng khiếp lắm, nhưng sao đất nước họ vẫn phát triển đến mức thế giới cũng phải hoảng.
Theo sự tìm hiểu của tôi, CON NGƯỜI NGHỀ NGHIÊP ở người Trung quốc -- cả người bình thường lẫn các bộ phận ưu tú -- nói chung rất phát triển.
Làm nghề gì họ cũng nghiên cứu cẩn thận cũng chép thành sách vở để phổ biến cho nhau.
Việc làm quan được đưa thành quy trình quy tắc và sang đến thời nay, những kinh nghiệm xưa vẫn được áp dụng.
Còn người mình thì ngược lại.
Tính cách vô nghệ nghiệp ở cả quan lẫn dân khiến cho người mình nhiều khi giống như cái cây không có một loại quả nào đặc sắc. Nó cũng làm cho chúng ta năng động mà vẫn nghèo đói , tức nó là cái ý lêu lổng mà nhà văn Đỗ Chu nói ở trên
LÀM GIÀU NGAY TRONG CHIẾN TRANH, TRƯỜNG HỢP MỘT NGƯỜI HOA Ở ĐÀ NẴNG 1858
Ngày đăng 2 tháng 6 năm 2017
Xứng với cái tên gọi tổng quát “Xứ Đông dương thuộc Pháp’, cuốn hồi ký của Paul Doumer quả thật bề bộn tài liệu. Tuy vậy tác giả vẫn dành tới bốn trang chữ nhỏ ( từ 98 tới hết 101) để nói về một chuyện liên quan tới khâu hậu cần trong những ngày đầu của cuộc chinh phục, tức là khi chiến thuyền của Pháp tới Đà Nẵng.
Chuyện này, do Bichot, về sau từng là Tổng tư lệnh quân đoàn Pháp ở Đông dương kể lại.
Theo Doumer nó không chỉ cho thấy sự có mặt của người Hoa ngay cả ở những nơi ngoài biên giới nước họ mà còn “sự tháo vát và tinh thần thương mại” của họ “cách thức giúp họ len lỏi vào mọi nơi” kể cả những nơi tưởng không có chỗ cho buôn bán.
Chuyện kể rằng khi đội quân trong đó có trung úy thủy quân lục chiến Bichot tới Đà Nẵng, khu vực này lúc đó còn là một làng chài hoang vắng. Chưa được hai ngày thì thấy một chiếc thuyền nhỏ xuất hiện, trên thuyền có một người Hoa mang theo một túi nhỏ.
Khi xin được phép mở cái đẫy ra để bán các thứ hàng mà đám quân viễn chinh cần, anh ta bầy ra đủ cả kim chỉ cúc áo, thuốc lá xà phòng, bút chì bút mực và quản bút, giấy, những lọ mực nho nhỏ, cuối cùng là hai chai rượu mùi.
Mặc dù rất thích tôi vẫn không thể chép ra đầy đủ đoạn văn hơn hai ngàn chữ này. Ta hay nghĩ các chính khách là những kẻ rất khô khan không bao giờ để ý những chi tiết một phần. Mà chắc chắn hơn – trừ những trường hợp mị dân - còn phần đông họ muốn giấu mình đi để cho thiên hạ càng thấy mình xa lạ càng hay.
Đằng này Doumer, người từng đứng đầu xứ Đông dương (1897-19020) và về sau từng ngồi ghế tổng thống Pháp 1931-32, ông tác giả hồi ký này lại có một bút pháp hết sức sinh động, nhất là trong những chi tiết miêu tả, nó là dấu hiệu của một óc quan sát sắc sảo.
A - Tác tên người Hoa nọ được Doumer xác định như một kẻ khôn ngoan lõi đời tháo vát giỏi tổ chức công việc
Ngay trong chuyến hàng đầu tiên, các chiến binh người Pháp nhận ra là đã gặp anh ta ở Quảng Châu, trong một quán hàng mà vị con dân của thiên tử nhà Thanh này mở gần các trại lính Pháp – lúc này Pháp cũng đang có mặt ở miền Nam Trung Hoa.
Công việc tiếp tế kéo dài tới khi Pháp tạm rút.
Doumer dẫn lại lời Bichot.
"Một vài tuần sau đó chúng tôi gặp lại A - Tac, nhưng lần này trong một cửa hàng đẹp đẽ đặt ngay tại nhà anh ta ở Nam Kỳ. Hai mươi năm sau, khi tôi trở lại Đông dương, với chức đại tá chỉ huy trưởng trung đoàn lính khố đỏ An nam, tôi thấy A-Tac đã thành một trong những thương nhân lớn nhất của Sài Gòn. Ít lâu sau A-Tac qua đời nhưng cửa hiệu của anh ta vẫn còn" ( cuối tr 101)
2/
Để hiểu về sự giàu có của người Việt mình, rất nên so sánh với sự giàu có của người Trung Hoa, đấy là một chủ đề tôi đã nêu ở bài trước và đã được một vài bạn đọc đồng tình.
Trong cái đề tài quá rộng này, nếu ta chỉ nói tới việc làm thương nghiệp của người Hoa, thì chắc chắn cũng là quá sức với bất cứ ai.
Ở đây, tôi chỉ muốn dừng lại ở một hai ý tưởng cụ thể:
+ người Trung Hoa giàu không chỉ vì bên cạnh việc sản xuất ở đó CON NGƯỜI NGHỀ NGHIỆP của họ phát triển mà còn vì họ biết tổ chức lưu thông và phân phối
+ mà chung quanh câu chuyện lưu thông phân phối, nếu chỉ nói rằng họ năng động linh hoạt còn quá đơn giản, cái chính là họ có một cách nghĩ tổng quát rộng rãi về cuộc sống về xã hội.
Nói cho to tát ra , quan niệm về sứ mệnh làm người và nhu cầu của con người ở họ đã phát triển
Câu chuyện về anh thương nhân người Hoa trong cuộc chiến tranh ở VN cuối XIX đã nói lên điều đó.
Đối với anh ta sự buôn bán là điều thiêng liêng nhất của cuộc sống. Nó quan trọng hơn tất cả mọi điều. Bởi nó là nhu cầu của tất cả mọi người cũng như sự phát triển là nhu cầu của mọi cộng đồng. Chiến tranh, dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là chốc lát, chỉ phát triển mới là vĩnh viễn. Kẻ thắng trong buôn bán sẽ là kẻ thắng trong mọi cuộc chiến tranh, họ thắng trong cuộc đời này nói chung.
3/
Nói tiếp câu chuyện mà Doumer vừa kể. Sau chuyến đi lần đầu, người Hoa nọ còn có mấy chuyến tiếp theo, mang đủ các thứ hàng và lần nào cũng được những người An Nam “trần như nhộng” tiếp sức.
Có lần A-Tac mang theo một buồng chuối, do một người An Nam cõng. Hãy so sánh hai vai chính.
Một bên A Tac linh hoạt chủ động luôn luôn nở nụ cười vui vẻ và cả những cái nháy mắt của kẻ “đi guốc vào bụng mọi người’.
Còn anh nông dân địa phương thì hiện ra ngờ nghệch có vẻ như hoàn toàn không hiểu điều gì đã xảy ra.
Theo Bichot, thoạt đầu anh nằm cuộn tròn trên bãi có, đôi mắt trợn tròn như gặp hổ. Nhưng mà kìa... hổ biết ăn chuối, việc đó có vẻ khiến anh an tâm, tiếp theo là nỗi tò mò muốn biết những người lính kia là thế nào.
Nhưng chỉ có thế. Không bao giờ anh ta trở thành một thứ A Tác
Câu chuyện trên xảy ra hơn một thế kỷ trước, mà sao vẫn là một gợi ý tốt để ta cùng nghĩ về ngày hôm nay, Tình thế bảo khác cũng đúng mà giống nguyên như cũ cũng đúng. Dù trên danh nghĩa, con cháu “người An Nam” kia đã trở thành chủ nhân ông đất nước này, nhưng thực tế điều gì đang xảy ra, chúng ta đều biết. Đã đến thời mà những nhiệt tình yêu nước là không đủ nữa, để phát triển đất nước cần có một cách nghĩ khác so với cách nghĩ những năm chiến tranh. Nhưng chúng ta chỉ biết tiếp tục cách làm cách nghĩ của ngày hôm qua, chả biết học ai và trước tiên không biết mình là thế nào, thế giới này là thế nào.
Rồi chúng ta khác được bao nhiêu so với ông cha ta 1858?
Rồi chúng ta sẽ đi tới đâu?
GHI CHÚ: Về tư duy buôn bán của người mình và người Hoa, tôi đã thử phác họa vài nét trong
Đặc điểm đô thị Việt và tư duy buôn bán cuả người Việt ,
đưa trên blog của tôi ngày 1-6-2017,
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/06/ac-iem-o-thi-viet-va-tu-duy-buon-ban.html
NGƯỜI HOA Ở KINH THÀNH HUẾ CUỐI THẾ KỶ XIX QUA CON MẮT CỦA MỘT NGƯỜI PHÁP
Ngày đăng 10 tháng 6 năm 2017
Dưới nhan đề “Huế những năm 1876 – 1877 “, số 5-2003 và các số tiếp theo của tạp chí “Nghiên cứu Huế” giới thiệu cuốn “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins.
Được viết từ 1879 song những trang nhật ký hành trình này gợi cho chúng ta những nét khái quát về nước Việt thời ấy từ đó giúp ta hiểu một vài phương diện tình hình hôm nay. Nào là một đám đông sống lười biếng uể oải nhưng lại luôn luôn náo động vì chuyện cướp bóc. Nào là người Hoa thì làm chủ mọi sinh hoạt kinh tế và do đó thao túng cả các mặt quan hệ khác.
Dưới đây là phần trích dịch hai đoạn ngắn .
***
Con đường mở ra trước mặt hai cây cầu hai bên là tiệm người Hoa. Chính phủ An Nam vốn nghi ngại người ngoại quốc lại mở cửa đối với người Hoa, nhưng chỉ cho phép họ ở mức độ thấp. Tại Bắc Kỳ, đông người Hoa hơn, có lẽ không đến mười ngàn người Hoa, và trong mỗi tỉnh ở Trung Kỳ, có không đến năm trăm. Và như thế, ở Huế có khoảng hai trăm người ở Thuận An, phần lớn rải rác trên thuyền bè người Hoa hoặc làm việc cho hoàng thượng, từ trăm rưỡi đến trăm tám ở Chợ Được và chưa tới hai chục người ở chung quanh. Đó là chưa kể ba chục người Hoa từ Sài Gòn ra xây nhà cho phái bộ mới của Pháp. Dù không đông, người Hoa đã chiếm lĩnh phần thương mại quan trọng; các tiệm ở Chợ Được của họ rất giống với những cửa hàng tạp hóa: ta bắt gặp ở đây nhiều hơn hết là vải Tàu và Anh, lụa và cô tông, đồ sành, gốm, đồ gỗ, trà, thuốc phiện, lương khô Tàu, thuốc hút, giấy, đồ chơi, các món thờ cúng, dụng cụ làm bếp… Các người Hoa đến từ nhiều tỉnh khác nhau: Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến… và có vẻ đoàn kết với nhau lắm, dù thuộc nhiều tín ngưỡng khác nhau. Nơi họ nhận thấy sự kiêu hãnh nòi giống và ý thức khả năng trên hẳn người An Nam. Các người Hoa chỉ rặt buôn bán này, vốn chẳng lãnh sự hay tập đoàn gì bảo vệ mình, vẫn đi đứng ngẩng cao đầu trước mặt người An Nam, quan lớn, quan nhỏ gì cũng thế, không nhường bước cho ai, biểu lộ một thứ thương hại trịch thượng đối với người bản xứ, và càng được nể nang hơn thêm.
***
Đoạn dưới đây dành để nói về đám cướp bể người Hoa và cách nhà Nguyễn dùng họ để trị dân và chống lại quân Pháp
MỘT LẦN ĐI CỨU THUYỀN
Nói chung lính canh An Nam canh phòng kém, luôn cả khi họ đông người và luôn cả khi trời tốt. Chẳng phải là ngủ hoài mà họ lại chồm hổm, gà gật gần như là ngủ vậy, chẳng cần biết chuyện gì xảy ra chung quanh, chỉ chăm chăm chờ đến giây phút những cây gậy của quan trên quất vào lưng mà thôi. Toàn một tuồng vờ vịt nơi đám người u mê này.
Khi tôi trở lên boong, sớm hôm sau, vị chỉ huy người Nam và Cocles vui vẻ đến bắt tay tôi và chúng tôi duyệt hàng ngũ bầy con rối. Cả bầy đều trang bị, kẻ dáo người gươm hoặc súng bắn đá. Tôi nảy ra ý nghĩ bắt tháo đạn ra: vì trời hồi đêm có phần ẩm ướt, chẳng nghe phát súng nào, và tôi chuồn gấp để khỏi phì cười vào mặt viên tướng phường tuồng kia.
Một lát sau, một chiếc tam bản chèo tới bên hông, và chủ thuyền cho chúng tôi hay rằng tàu Đằng Huy chắc hẳn nằm cách đây hai chục hải lý mạn Bắc, rằng chúng tôi vừa qua đêm gần kề hai chiếc thuyền buồm đánh cắp giấu ở trong đảo, và thêm một tin nữa là dân địa phương mấy hôm nay quá lo sợ bỏ bờ biển mà đi rồi.
Người An Nam không thể nào nom thấy thuyền buồm mà không khỏi ngờ là thuyền cướp biển, và tôi cũng có xu hướng nghĩ rằng mấy con thuyền ấy cũng hành sự như thế thật nếu gặp dịp, nhưng làm thế nào nhận diện? Và giả dụ thuyền người Hoa và người Nam có giấy tờ hoặc giấy chuyển hàng hợp lệ đi nữa, thử hỏi ai có thể đứng ra bảo đảm đây? Chính phủ, tức là đám quan lại, có vẻ không hề nao núng, cướp biển là chuyện thường tình như chuyện trộm cắp thôi. Hai phía cùng có lợi, theo cách của mình, mặc xác mọi người hoặc mặc xác Nhà nước. Cướp Hoa đáng sợ hơn cướp Nam và được hưởng ân xá hoàn toàn. Một chiếc tàu ngoại quốc có lần tóm được một chiếc thuyền cướp biển người Hoa đem giao nộp cho triều đình Huế, tại đây người ta thả chúng nó ngay, một là để khỏi gây rắc rối với Trung Hoa, hai là để dung dưỡng bọn cướp này thành đồng minh hữu dụng đối đầu với một kẻ thù trăm lần đáng sợ hơn: người Pháp. Người An Nam đủ trí óc để không chỉ nhắm phóng thích đám kia đâu; họ trưng dụng chúng nó, và cậu Thân nhất mực bảo rằng, trên đám thuyền Hoa phụng sự cho hoàng thượng ở Thuận An, già nửa số người là chính chúng nó, và chúng nó về sau chỉ cướp bóc khi tìm được phe cánh che chở mà thôi. (Bửu Ý dịch)
GHI CHÚ
Để hiểu về nguồn tư liệu dẫn trong bài này mời đọc thêm bài
Giới thiệu tạp chí Nghiên cứu Huế
đưa trong blog của tôi, ngày 1-9-2010
đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/09/nghien-cuu-hue-mon-qua-tang-bat-ngo.html
VẬN MAY CÓ TỚI CŨNG CHẮC ĐÂU ĐÃ BIẾT TẬN DỤNG
Ngày đăng 12 tháng 6 năm 2017
Sau đây là một truyện cười tạm đặt tên là "Ba điều ước" – tôi đọc được ở đâu đó không nhớ, song mỗi lần ôn lại trong đầu, cứ thấy nó vận vào tình cảnh những người như mình.
Hai vợ chồng nhà nọ nghèo quá, bảo nhau giá kể bây giờ Bụt hiện ra cho mình vài điều ước thì tuyệt biết mấy.
Lần ấy Bụt hiện ra thật. Bụt bảo cho hẳn các con ba điều ước.
Đang đói, lại thèm ăn ngon anh chồng buột miệng:
-- Ước gì có khúc dồi chó.
Vừa nói xong thì một khúc dồi chó vừa nướng ngon lành hiện ra trên một chiếc đĩa.
Chị vợ tức lộn ruột. Thằng cha này ngu quá.
Trong cơn bực bội, thị liền ra đòn trả thù chồng :
-- Xin Bụt cho khúc dồi đeo ngay bên môi mà không ăn được, cho lão thèm đến lúc chết.
Bụt cho thực hiện ngay điều ước của người vợ.
Trong lúc người chồng bực bội thì thị cười như nắc nẻ.
Nhưng lập tức thị sầm ngay mặt lại.
Mình sẽ cả đời sống với cái lão chồng khỉ gió này ư, như thế sao tiện?
Cũng như chồng, chị ta biết rằng trong ba điều ước họ đã hoang phí mất hai. Còn lại một.
Cuối cùng thị đành phải ước xin cho miếng dồi chó biến khỏi mặt chồng, để rồi cả hai ngơ ngác như vừa sống qua một giấc mơ.
Tôi thường nhớ tới câu chuyện này để nghĩ về tình trạng cùng cực của nhiều người dân mình hiện nay, cả trẻ lẫn già. Đăc điểm của những người đã khổ quá mà lại sống trong u mê tăm tối là họ chỉ còn những ước nguyện vu vơ, vớ vẩn. Họ sống như đùa.
Một đặc điểm khác. Trong quá trình đi tìm sự thay đổi, người nào cũng chỉ lo tới thân mình. Tâm lý bao trùm là ích kỷ. Người nọ tìm cách níu kéo người kia, không ai cho phép người bên cạnh mình hơn mình, nếu cần ngăn cản bước đi người khác cũng không ngại.
Cả cộng đồng tay trắng lại hoàn tay trắng.
Kể cả khi đã có Bụt cho ba điều ước.
GHI CHÚ:
Đoạn truyện này lấy cảm hứng từ câu ví -- một thứ câu hát vu vơ của người kẻ chợ:
Sống ở trên đời
Ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ
Gì có mà ăn
Tới lúc này thì tôi cũng đã nhớ ra, mẩu chuyện này tôi đọc được trong một số báo thuộc loại hàng chợ chép đủ chuyện linh tinh in ra ở Hà Nội, trước 1954. Chắc là tôi đã đọc nó trong một dịp theo bố tôi từ Thụy Khuê xuống chợ Đồng Xuân, bố tôi dặn tôi đứng chờ cạnh một quán báo nào đó , khi người vào chợ mua hàng
NHỚ CHƯỞNG
Ngày đăng 15 tháng 6 năm 2017
Tôi vốn nhút nhát nhưng lại ham cái lạ. Trong những lúc thế sự rối bời tôi thường nhớ tới chưởng.
Chưởng bảo với tôi rằng nay là lúc chính tà không phân biệt và chính phái thường tự lột mặt nạ của mình, kẻ tử tế chỉ còn có cách lựa chọn cái công thức khó khăn “thà làm chính tà còn hơn làm ngụy quân tử”.
Còn trong học hỏi, nhân vật chưởng chẳng coi một môn phái nào là duy nhất nên theo. Anh ta học theo đủ các loại võ công, chiêu thức, có khi bị tẩu hỏa nhập ma và sau những lần như thế nếu bình phục sống sót anh ta sẽ thành một kẻ không bị ràng buộc vào lý thuyết nào hết. Sức mạnh anh ta nói gọn lại là ở vô chiêu, thứ vô chiêu này không phải của kẻ ngây thơ vụng dại mà của kẻ đã đi qua tất cả. Nói vô chiêu thắng hữu chiêu là với nghĩa ấy.
Câu chuyện về chưởng lâu nay tưởng đã chìm đi ngẫu nhiên hôm nay trở lại trong tôi. Tôi lục lại bài viết từ năm 1997, và đưa nó lại trên blog. Lòng tham vô đáy, tôi lại muốn kéo thêm cả các bạn trên FB vào cuộc. Mời các bạn đọc thử một đoạn tôi viết, nếu thấy được xin đọc cả bài ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/06/ngoai-troi-lai-co-troi-mot-it-thu-hoach.html
Như Pearl Buck trong câu chuyện nói trước Viện hàn lâm Thuỵ Điển1938 đã ghi nhận, cái lạ của tiểu thuyết Trung Hoa là trong khi tồn tại trước tiên trên đường phố, như một thứ văn chương truyền miệng, nó lại thích phiêu lưu tới một khu vực đề tài mà đám đông dân thường không rành, song họ tò mò muốn biết, và sẽ truyền tụng nhau như một ít điều bí mật, đó là đề tàiLỊCH SỬ.
Người Trung Quốc vốn có ý thức sâu sắc về sự tồn vong của xứ sở như một quốc gia, và nền sử học của họ được hình thành thuộc vào loại sớm nhất trên thế giới. Nhưng bên cạnh loại lịch sử công khai, lịch sử chính thống, trong đời sống xã hội nơi đây thường vẫn lưu truyền những câu chuyện đồn đại, mà tiếng chuyên môn gọi là ngoại sử.
Trong khi chính sử quan tâm tới những việc lớn, ở trên mặt tiền của những biến thiên xã hội, thì ngoại sử đi vào hậu trường “bếp núc” của cung đình, việc lập các ngôi vua đã trải qua đấu đá như thế nào, những ai tranh chấp với ai, đằng sau mỗi sự hưng vong đâu là những đòn đánh nham hiểm và những việc làm ám muội. Khó lòng nói rằng ngoại sử bao giờ cũng chính xác, hẳn nó đã bị méo mó đi do sự xuyên tạc khi vô tình khi cố ý của những người kể, song nó lại khiến người nghe thích thú, và giúp họ, qua đó, hiểu thêm về sự đời rắc rối.
Cho đến khi chuyển sang thời hiện đại, các loại tiểu thuyết khác nhau như kiếm hiệp, như chưởng đều tiếp tục khai thác cái thế mạnh này.
...Trên nét lớn, người ta thể tạm dựng nên cái bộ khung chủ yếu làm nên cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết võ hiệp cổ điển: Thiên hạ đang thái bình thì có một bọn gian thần dối vua hại nước, làm chuyện thoán nghịch. Các bậc công thần bị hại. Con em họ phải lẩn trốn đây đó, rồi tụ tập lại, bàn chuyện khôi phục chính nghĩa. Các tập sách thường khép lại với việc phái chính thống trở lại cầm quyền. Và một giai đoạn thịnh trị mới bắt đầu. Nhìn chung, khái niệm triều đình chính thống đóng vai trò trung tâm trong các tiểu thuyết võ hiệp cổ điển. Bởi triều đình là một thứ vật chuẩn, quy tụ những nỗ lực của “chúng anh hùng”, cũng tức là tạo nên một khuôn khổ cho mọi hành động. Người anh hùng trong truyện võ hiệp xưa có một mục đích lớn lao để mà tin, và toàn bộ cuộc đời của họ được tổ chức để thực hiện cho được mục đích đã định đó.
Về phương diện này mà xét, chưởng của Kim Dung không hổ là một sản phẩm của thế kỷ XX, nghĩa là một thời đại đa đoan phức tạp, nó đòi hỏi ở con người một nhận thức và một cách ứng xử thời trước không ai nghĩ tới. Thay cho triều đình, cái mà người ta bắt gặp trong chưởng là cả võ lâm, một cái tên khác để chỉ xã hội. Bề ngoài thì võ lâm bình thường không có chuyện gì. Nhưng trong lòng nó, biết bao xao động đang xô đẩy, mà cuộc vận động lớn nhất, là các phe phái đua nhau đi tìm những bí kíp người xưa để lại, những mong trùm lấp lên mọi môn phái khác. Có điều mọi mong mỏi loại đó chỉ là ảo tưởng. Theo như cách nói của một người mê chưởng là Đỗ Long Vân (trong cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta, Sài gòn 1968), thì võ lâm giờ đây trở nên một thế giới vô cùng vô tận, và quan trọng hơn là đã mất trung tâm; cái thực thể xưa kia tưởng là thống nhất, nay thường xuyên chia năm xẻ bảy.
NHÀ TRÍ THỨC TRẦN ĐẠI NGHĨA & CÁI NHÌN KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN THỜI HẬU CHIẾN
Ngày đăng 16 tháng 6 năm 2017
I/
Thư viện quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm. Một ngày hè năm 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện như vậy mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa.
Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.
Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể, ở Tokyo các kỹ sư đứng ở ngã tư để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền. Quay về mình, ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên mà phải dành nhiều quan tâm cho chuyện quản lý, không quản lý tốt thì nền kinh tế không khác gì thùng không đáy.
Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả. Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển, ông gợi ý đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn.
Chuyện nhỏ (đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ”) đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở Việt Nam đào tạo 100 người chỉ đậu được bốn người. Chuyện lớn (cái này thì lớn thật), phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ.
Một điều lạ nữa với chúng tôi là ở chỗ, tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội. Ông báo động là cả nước có 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội, tâm lý nhân dân không tốt thì quản lý kinh tế cũng không tốt.
Tổng quát hơn, ông nói đến việc mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình. Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được. Song, Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật” ấy gây ra. Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội, phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình hiểu rõ được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.
Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy, tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ! Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi, chưa bứt phá lên được.
II/
Lúc này báo chí đang đăng tải nhiều ý kiến liên quan tới tình hình lạm phát. Nhân đó thử nêu ra những “cách đọc” khác nhau với nền kinh tế. Không kể nhiều chuyên gia nước ngoài, ngay các nhà chuyên môn trong nước cũng nêu được nhiều sự lý giải rất xác đáng. Có người nói nhiều ngành kinh tế của ta đang trong tình trạng học việc mà lại học không đến nơi đến chốn, ngân hàng thì có cái như tiệm cầm đồ cho vay. Vừa rồi có chuyện nông dân nuôi cá ba sa lao đao vì không bán được hàng, còn doanh nghiệp xuất khẩu thì không vay được tiền để mua cá.
Tôi lại nhớ cái buổi nói chuyện hơn ba chục năm trước của Trần Đại Nghĩa.
Hàng ngày có nhiều việc khiến tôi hối hận. Ai mà chẳng thế, có làm là có sai. Nhưng tôi nhớ nhất một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại. Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần. Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần. Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi.
Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị: “Hòn chì thì mất hòn đất thì còn, Hoa thường hay héo cỏ thường tươi, Răng cắn phải lưỡi”. Nghe hơi tục thì có câu “Miệng khôn trôn dại”. Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều: “Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi”. Đoạn trường ở đây có nghĩa là đứt ruột. Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò của ma quỷ.
Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi. Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao?
Nguyên là bài "Những lối đoạn trường"
đã đưa trên blog của tôi 12-2008
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2008/12/nhng-li-on-trng.html
Đã đưa vào tập phiếm luận "Những chấn thương tâm lý hiện đại" 2016
NGƯỜI HOA & GIỚI QUAN CHỨC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII –XIX
Ngày đăng 18 tháng 6 năm 2017
1/
Sự có mặt của người Hoa trên đất Việt là điều không phụ thuộc vào ý muốn của ai. Dân hai xứ sống cạnh nhau, nên quan hệ với nhau là chuyện tự nhiên. Cái cách mà người Hoa có mặt ở xã hội Việt từ nhiều đời nay là rất khó chịu. Nhưng tại sao nó lại kéo dài với nghĩa họ ngày càng lấn tới.
Để cắt nghĩa có lúc tôi đã nêu giả thiết sau đây để làm việc.
Theo tôi, trong trường hợp này, nhân tố Trung Hoa là sự cần thiết cho xã hội Việt Nam
Vừa nghĩ xong đã thấy ngần ngại, không muốn tiếp tục đi sâu thêm.
Nhưng thôi đã nghĩ xin cứ nói.
Cả ở các đô thị Đàng Trong cũng như Đàng ngoài, người Hoa đến đây và làm nhiều nghề từ mở cửa hàng tạp hóa, đồ tể, thợ may, cho đến mở đại lý thu mua hàng nông thôn và cho vay lấy lãi ... Nhờ họ mà phố xá có đủ các mặt hàng nhập từ Anh Hồng Kông chưa kể là hàng Tàu.
Cả cuốn sách “Vương quốc Annam và người Annam” của J.L. Dutrueil De Rhins mà tôi nói trong bài trước cũng như các ghi chép của nhiều người Âu đến Sài Gòn trong các thế kỷ từ XVII đến XIX đã in rải rác ở ta mấy chục năm nay đều mô tả như vậy.
Những người Hoa ít ỏi này kiếm được nhiều tiền hơn người Việt và tự coi như chủ nhân thành phố.
Đúng ra trong khi người Việt là cả một đám đông không có mặt, thì họ là cái xã hội công dân thực sự.
Quan lại phong kiến lương bổng không bao nhiêu, có người dân trong tay thật, có thể đánh họ giết họ làm nhục họ nhưng gần như không thể bóp nặn gì được họ.
Vua quan ngầm bảo nhau phải quay sang người Hoa để tìm đường sống. Trong cuốn nhật ký tôi đang nói có một chi tiết nho nhỏ đáng chú ý.
Nhiều người Pháp khi mới sang cần người giúp việc. Đến thế kỷ XX này, việc đào tạo người giúp việc đúng chuẩn quốc tế ở Việt Nam còn khó khăn, nữa là mấy thế kỷ trước. Ai thay vào chỗ đó, chính là người Hoa.
Tác giả J.L. Dutrueil De Rhins kể lương của người Hoa giúp việc cho ông ta bằng lương của triều đình phong kiến ở Huế trả cho quan chức đứng đầu lục bộ, thế thì làm gì giới chức địa phương không bám lấy người Hoa mà sống.
2/
Trong bài viết nhắc lạị việc người Hoa buôn bán ở Đà Nẵng trong cuốn sách của toàn quyền Doumier, tôi đã lưu ý thái độ đối với người nước ngoài là chỗ khác nhau một trời một vực giữa người Việt và người Tàu.
Với đám tây phương đến buôn bán hay dòm ngó gây chiến, trong khi người Việt là dân địa phương lảng tránh hay nghi kỵ thì người Tàu dù là dân ngoại nhập ăn đậu ở nhờ lại tỏ ra linh hoạt chủ động trong tiếp xúc.
Đọc một số hương ước, đã thấy có điều khoản đại ý nói khi có người lạ tới làng cấm người dân thường không được tiếp xúc, trái lệnh sẽ lĩnh đủ hình phạt.
Khi quản lý quốc gia, giới quan chức -- và mở rộng ra, cái mà ta hay gọi một cách đầy căm hờn là “bè lũ thống trị”, thực chất là những người quản lý xã hội ở ta trong quá khứ -- cũng giữ cái lệ như vậy.
Nhưng xét một phía khác phải thấy việc cấm đoán nói trên lại làm mất đi sự tiếp xúc tự nhiên giữa các cộng đồng và bằng cách đó, giới chóp bu xã hội đã tự chặt chân chặt tay mình, tự mình hại mình.
Họ mất những sợi dây ăng-ten cần thiết.
Bị cấm đoán, con người ở các tầng lớp dưới đáy thực chất là đông đảo nhân dân mất hết tự tin không đủ sức nói chuyện với người lạ đừng nói chi là theo cấp trên chống lại đám ngoại nhập cũ và mới.
Bấy giờ giờ giới quan chức lại phải – dù rất căm ghét -- dựa vào người Tàu.
Trong những cuộc tiếp xúc chính thức đầu tiên phía ta rất thiếu phiên dịch. Mà Hoa kiều thì bằng thiên tính dân tộc của họ, đã có đủ điều kiện để vừa làm việc này giúp đỡ hai bên vừa thao túng kiếm lời.
Khi bắt buộc phải lựa chọn Hoa kiều làm trung gian -- thực chất là làm cái tai để nghe cái mắt để nhìn, bộ óc để nghĩ cho mình --, giới quan chức có thể khó chịu một chút.
Nhưng trong đó thả nào chẳng có người tặc lưỡi nghĩ thà phụ thuộc người Hoa còn hơn để dân đen bên dưới có quyền tiếp xúc tự nhiên với Tây phương, nó mất đi cái đất kiếm ăn đời đời mà dòng họ hay phe phái phải chinh chiến mãi mới giành được.
Họ không còn nghĩ gì về chủ quyền quốc gia nữa.
Giả sử có ai đặt vấn đề, họ sẽ nói dối, và trước tiên, mỗi người nói dối chính mình, mọi người cùng nói dối nhau.
3/
Trước thời gian chuyến J.L. Dutrueil De Rhins đến VN làm việc, có một người Anh là Crawfurd – ông này có thời gian làm toàn quyền Singapore - cũng đã đến cả Vũng Tàu lẫn Đà Nẵng, Huế.
Crawfurd kể lúc tới Sài Gòn trong lúc ông đang thơ thẩn thì ba gia đình Trung Hoa thuộc loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng rất đầy đủ.
Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và đoàn tùy tùng và cả những sĩ quan Ấn và Việt theo hầu nữa.
Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd cảm phục, ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.
Câu chuyện của Crawfurd tôi dẫn ra ở trên là lấy từ các bài giảng của Patrick J. Honey “Việt Nam vào thế kỷ 19 qua hồi ký của Jhon White, John Crawfurd, George Gibson” in trong “Nghiên cứu Huế” tập I, 1999.
Đoạn cuối bài này được Honey còn dẫn ra một chi tiết về một phái đoàn VN qua Miến để bàn bạc với người Miến về việc cùng tấn công Xiêm La.
Tác giả cho biết “phái đoàn Việt Nam gồm ba vị đại thần, một viên bí thư và một đoàn tùy tùng chừng 70 người.
Người ta cũng lấy làm lạ rằng có sự lãnh đạo của một người mà dân Miến gọi là Ông Kinh vì ông ta là người Trung Hoa chứ không phải là gốc Việt.
Phụ thân ông là một tên giặc Tầu đã từ miền nam Trung Quốc đi xuống và đặt hành dinh ở Côn Lôn. Ở đó ông [bố] này đã gặp vua Gia long bấy giờ đang lẩn trốn quân Tây Sơn và ông đã hứa giúp đỡ vua. Tức thời vua Gia Long bổ nhiệm ông làm thủy sư đô đốc hạm đội từ đó.”
Mẩu chuyện này cho thấy người Tầu đã can thiệp vào các việc cơ mật của quốc gia, mối quan hệ họ với đám chóp bu đã bắt rễ từ trong chiến tranh, tức kéo dài qua nhiều thế hệ, và ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ.
Trong một dịp khác tôi sẽ nói thêm về việc người Trung Hoa giúp bộ máy quản lý quốc gia thực thi việc cai trị như thế nào.
Nhưng đến đây qua ba điểm nói trên đã có thể tạm kết luận rằng trong các thế kỷ XVII- XIX, Hoa kiều đã trở thành yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và duy trì quyền lực của giới quan chức Đàng trong.
Mà cần cho giới quan chức là cần cho xã hội Việt Nam chứ gì, vì bộ máy quan chức thời nào cũng chính là cái động cơ dắt dẫn xã hội.
GHI CHÚ
Để so sánh tình hình Đàng trong các thế kỷ XVII XIX với tình hình Đàng ngoài cùng thời gian trên, mời các bạn đọc bài viết của tôi “Xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII-XVIII “ ghi chép từ cuốn "Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài"
Jerome Richard -- Paris 1778
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/01/xa-hoi-ang-ngoai-ky-xvii-xviii-duoi-con.html
CON NGƯỜI và ĐỒNG TIỀN
Ngày đăng 22 tháng 6 năm 2017
Ngay từ đoạn đầu truyện ngắn "Không có vua" (viết khoảng năm 1988),
Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ra một chi tiết liên quan đến đồng tiền.
Tác giả viết:
“Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là MỘT ĐỐNG TIỀN --- , nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”.
Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền.
Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc.
Nhờ quan niệm của con người về đồng tiền ngày một thay đổi mà con đường kiếm tiền của họ mới dễ dàng hơn.
Nhưng do đó họ ngày một hư hỏng hơn.
Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách!
Lời nhắn nhủ của tác giả nói gọn lại là thế
SỰ THIÊNG LIÊNG BỊ ĐÁNH MẤT
Trong số những biến động ghê gớm mà thời cuộc in dấu nơi tâm lý mỗi người bình thường ở các vùng miền bắc trong những năm chiến tranh, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được.
Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại.
Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó.
Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.
Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng.
Vậy là từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người Việt Nam hôm nay quan hệ với đồng tiền thật khuất khúc.
Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn?
Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi.
Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính.
Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất.
Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt Nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay.
Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề.
Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm.
Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có.
Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên.
TRƯỜNG HỢP LÃO HẠC
Một ông bạn tôi vừa về quê một huyện Sơn Tây cũ nay ra tắm sông bãi giữa, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan.
Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.
Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.
Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao.
Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó.
Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện.
Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài.
Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó.
So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc. Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình.
Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ.
Ta và lão Hạc, ai xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà nghĩ đến câu trả lời thấy chua xót quá không muốn viết ra nữa!
Nguyên là bài CỦA THIÊNG, đưa trên blog của tôi
có sửa lại và bổ sung
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/03/cua-thieng.html
SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM NHÂN BẢN TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA
Ngày đăng 25 tháng 6 năm 2017
Mấy hôm nay, đọc trên mạng cuộc trao đổi về đề thi môn văn kết thúc trung học phổ thông 2017.
Theo chỗ tôi đọc được cuộc trao đổi dừng lại khá kỹ mấy chữ “THẤU CẢM” “TRẮC ẨN”. Và dù chưa chắc đã đi đến đâu, đó là việc cần thiết
Nhưng ở góc độ của mình, tôi chỉ nghĩ sở dĩ câu chuyện xảy ra như vậy, mọi thứ được mang ra trao đổi như vậy vì đối với chúng ta hôm nay nhất là đối với lớp trẻ nó, cái sự THẤU CẢM với lại TRẮC ẨN ấy là cái gì xa lạ quá.
Giá lúc này đây trước mặt tôi là một học sinh chuyên văn. Tôi sẽ hỏi em những bài văn nào trong nhà trường đã dạy cho em về lòng trắc ẩn khiến em sẽ nhớ trong suốt cuộc đời.
Không, hoặc khiêm tốn mà nói là rất lờ mờ rất ít, có phải không em?
Nói quá lên hẳn em sẽ bảo số lần em nghe nhắc tới chữ ấy chắc chưa đầy mười đầu ngón tay!
Trong các sinh hoạt trường lớp đội đoàn cũng vậy, chả bao giờ người ta muốn đưa mấy chữ ấy vào trong tâm trí em cả.
Thế đấy, vậy mà bây giờ người ta nêu ra cho các em đi thi.
Lỗi không ở người đã nêu vấn đề này trên mặt báo.
Dù những người ra đề này có lỗi nữa thì cũng không phải là một điều quá trầm trọng. Trong cơn bí và với mục đích thân thiện là muốn cho nhà trường gần với xã hội, họ đã cố gắng.
Cái lỗi to lớn hơn sâu xa nằm ở toàn bộ ngành giáo dục và suy cho cùng nữa là lỗi của cả xã hội, cái định hướng phát triển con người trong xã hội chúng ta.
Ta hay nghĩ – và giáo dục lớp trẻ -- theo lối nghĩ trong xã hội mình là ai cũng hiểu ai ai cũng thương ai, rồi từ đó cho phép cái “con người tuyên huấn” trong mình tự do đấu tranh với những ai không công nhận cái chân lý tối thiểu đó.
Ta ngại nói đến những gì lờ mờ non yếu trong tâm trí con người. Ta không hề quan niệm mỗi cá nhân là một cái gì phức tạp bởi -- như trong thời của bọn tôi càng rõ - sự phức tạp sẽ ngăn cản mỗi cá nhân trở thành người chiến sĩ “đi bất cứ nơi đâu làm bất cứ việc gì xã hội cần tới”
Trong một xã hội “đồng phục” kiểu “Lôi Phong hóa”, sự hiểu biết lẫn nhau sự đặt mình vào địa vị kẻ khác không cần được đặt ra.
Bởi thế, trong đời sống hàng ngày, ta chỉ hay nói đấu tranh phấn đấu vạch trần khuyết điểm tiêu diệt đến cùng sửa chữa phê phán quyết liệt. Mấy thế hệ liền coi những biện pháp mạnh đó là cách duy nhất và tốt nhất giúp cho tính người nẩy nở...Hỏi làm sao con người ngày nay không lúng túng khi bàn đến những chuyện tinh tế mà sâu sắc, dù nó là những phạm trù hết sức quen thuộc với con người Việt Nam trước 1945 - những ai từng đọc nhiều thơ văn cũ hẳn chứng giám cho cái ý này của tôi.
Nhân đây, xin phép nhắc lại một chi tiết từ một bài báo nước ngoài.
Báo Pháp Khoa học & đời sống từng viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI, một bạn trên Tia sáng số 9-98 đã dịch lại như sau :
1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…
Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.
Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội
7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và
8/Đô thị hỗn loạn.
Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những THỊ DÂN HUNG DỮ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.
Người ta kết luận “Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”.
Bài báo này gợi ra cho tôi một sự so sánh
-- trong khi theo đuổi một đường lối giáo dục nhân bản và nói chung là xây dựng cho được một xã hội thân thiện với con người, thì những nền giáo dục ở các nước phát triển cũng không quên thăm dò những mạch ngầm nằm trong cách cư xử của họ, lấy đó làm điều cần nhắc nhở để giúp họ ngày một hoàn thiện
-- trong cái sự kém cỏi chung của ngành nghiên cứu con người
-- tức bao gồm cả giáo dục --, thì ở ta các ngành nhân học này lại có xu hướng là xếp xó những vấn đề đang nảy sinh hàng ngày, hơn thế nữa lại còn cố tình chiều nịnh con người, ngăn cản họ tự nhận thức là cái yêu cầu bức thiết bậc nhất .
Điểm lưu ý cuối cùng: trong bài này tôi tập trung nói tới giáo dục. Quay trở lại với cái nghề của mình là nghề viết văn viết báo, tôi thấy chúng tôi cũng chẳng có gì khác. Không cần kiểm ra chắc các đồng nghiệp của tôi và các bạn từng yêu mến văn chương hẳn đều nhận ngay là cái chủ đề THẤU CẢM TRẮC ẨN với cách diễn giải như trên cũng xa lạ với chúng tôi bao nhiêu. chẳng cần suy diễn cũng có thể bảo rằng cái lỗi của giới cầm bút viết văn là một phần làm nên cái lỗi của các nhà giáo hiện nay.
LỊCH SỬ LÊN TIẾNG QUA NHỮNG KẺ ĐIÊN
Ngày đăng 28 tháng 6 năm 2017
Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở Việt Nam mình sao hiệu thuốc lắm thế.
Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội.
Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.
Tra các từ điển Hán Việt thấy chữ điên thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh (khi viết bằng chữ vuông, thì chữ điên có bộ nạch chỉ bệnh tật).
Trong bài này tôi muốn dùng chữ điên để chỉ những tìm tòi đột xuất về tư tưởng.
Bệnh điên loại này thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.
***
Giá có ai để công tìm hiểu thêm tình trạng điên dại của nhân loại thời nay và trước tiên những lời bàn về chuyện điên?
Chắc là nhiều ý tưởng hay ho lắm! Một câu ngạn ngữ Hy Lạp vừa được một bạn nào đó dẫn ra trên mạng “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.
Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại cao cấp có liên quan nhiều tới giới trí thức, những người có đời sống tinh thần khá phức tạp.
Trong bài viết "Vừa khóc vừa cười" Nguyễn Mạnh Tường in trong Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên Văn hóa Nghệ An 4/2011 có đoạn:
“Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.
Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà Nguyễn Mạnh Tường nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng. Số lớn chuyển sang dạng bệnh mãn tính, không chết người nhưng làm hỏng người dần dần.
***
Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước: Sau khi Liên xô sụp đổ, có một tiến sĩ ( tiến sĩ thực chứ không phải như ở ta; ở ta gọi loại này là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhảy lầu tự tử.
Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.
Sau khi được giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân, châu Phi trải qua một thời kỳ khủng hoảng về tư tưởng. Họ không biết họ sẽ đi theo hướng nào.
Nhiều người điên xuất hiện.
Một nhà văn Senegan là Semben Ousman đã coi đó là một hiện tượng tích cực. Ông trả lời phỏng vấn một số tạp chí Người Đưa Tin Unesco:
“Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.
Cách duy nhất để chung sống với thực tại là người ta phải điên lên một chút.”
Có những tình thế quá bi đát mà người tỉnh táo biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại.
Bấy giờ người điên - hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người - mới đóng vai trò của mình. Ông ta đưa ra những tư tưởng mới vốn được tích tụ từ kinh nghiệm chung của nhân loại..
***
Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:
- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những kẻ điên.
Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác nói lại hay tự ông nghĩ ra.
Chỉ nghĩ thêm rằng trước một tình thế bùng nhùng, phải có những người vượt hẳn lên mở đột phá khẩu. Người mở đường ấy có khi rất đơn độc và chịu nhiều tai vạ, kể cả sự chế giễu và ném đá của đám đông. Nhưng sau ông ta sẽ có những người ké tục. Đó là tình trạng thường thấy trong lịch sử nhiều công đồng.
NHỮNG DẠNG THỨC THÔNG THƯỜNG CỦA ĐIÊN DẠI
Ngày đăng 29 tháng 6 năm 2017
Những năm trước sau 1970, tôi mới học tiếng Nga và chưa tiếp xúc nhiều với văn học xô viết.
Trong khi đó thì anh Phan Hồng Giang đã học Lomonosov từ đại học và biết rất nhiều chuyện dân nghiên cứu văn học ở Liên xô bàn tán, nó là những chuyện người ta nói với nhau để xả hơi, khi trong quá trình sống có những điều quan sát thấy mà không bao giờ được viết trên mặt giấy.
Hồi đó trong giới nghiên cứu văn học Nga cũng như VN đang bị thống trị bởi quan niệm cho rằng văn học phải có nhiệm vụ xây dựng những nhân vật tích cực.
Một trong những mẩu chuyện anh PHGiang kể có liên quan tới vấn đề trên. Tóm tắt như sau.
Nhà nghiên cứu văn học nọ có một người bạn là một bác sĩ tâm lý.
Khi nhà ngien cứu này kể lại những phẩm chất của các nhân vật tích cực mà cấp trên yêu cầu anh ta phải lý giải để áp đặt cho các nhà văn, thì anh bạn bác sĩ kia liền nói: “Đây là phẩm chất của những thằng điên”.
Tôi chợt nhớ lại mẩu chuyện trên khi đọc trên mạng một tài liệu của giới y học nói về sự rối loạn nhân cách. Sau đây là mấy thói quen tâm lý mà người ta cho là người mắc loại bệnh này hay mắc phải:
1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)
2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…
3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất
4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ
5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng
6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.
7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.
8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình
9. Có thái độ, hành vi kiêu căng.
Tôi không phải dân chuyên về tâm lý học và y học nên không dám nói rằng các tiêu chuẩn trở thành kẻ rối loạn tính cách như trên đã đầy đủ chưa, thậm chí “về căn bản” đã chính xác chưa.
Chỉ thấy nó rất gần với những bỉu hiẹn tâm lý nhiều người quanh mình.
Nó nằm trong tâm trí nhiều người từ chiến tranh trở về và lao vào cuộc tìm kiếm một chỗ đứng vinh quang trong thời hậu chiến.
Tức có nghĩa nó là quy tắc sống của các anh hùng thời đại.
Nó bộc lộ qua các nhân vật của thứ văn hóa đại chúng tiêu biểu thời nay là các chương trình TV mà người mình hiện nay coi như một hiện thực còn thực hơn chính họ.
Và nó được người ta tin tưởng tới mức thường có mặt trong những lời khuyên mà các bậc cha mẹ ngầm nói với con cái hàng ngày.
Trên tôi vừa nói đó là những phẩm chất mà con người từ chiến tranh trở về thường có, vì theo chỗ tôi nhớ, nhiều điều trong đó là những điều trong chiến tranh chúng tôi ở Hà Nội đã được dạy dỗ.
Ví dụ với những bài thơ của Tố Hữu của Chế Lan Viên mà không chỉ học trò phải học, dễ thấy là chúng tôi luôn luôn được nhồi vào đầu những tư tưởng mà các điều 1, 3, 4 trên đây đã mô tả. Về tầm vóc vĩ đại của thời đại mình. Về sứ mệnh vinh quang nhân loại giao phó cho cộng đồng mình vv..
Còn các điều 2 và điều 6 ? Bạn hãy thử quan sát một vài nhân vật gọi là thành đạt trong thời hậu chiến. Đầy ảo tưởng. Tham lam dối trá điên loạn. Dám làm tất cả để phục vụ bản thân... Chắc bạn không phản đối nếu tôi bảo đó là những điều các anh hùng thời nay thường tự nhủ. Những cái đó làm cho họ trở nên mạnh mẽ, như rượu đã làm cho Chí Phèo trở nên mạnh mẽ.
“Có phải anh định nói rất nhiều người quanh ta đang trong tình trạng rối loạn nhân cách?”
“Thú thực đúng là tôi nghĩ thế. Tôi muốn dùng nó để giải thích tình trạng hỗn loạn hiện nay.
Tôi biết là ý kiếncủa tôi chưa hoàn thiện
Nhưng tôi muốn dẫn ra đây để mọi người cùng ngẫm nghĩ về cái tâm lý hậu chiến chi phối con người 40 năm nay. Tôi cảm thấy chiến tranh đã làm sai lạc cả bản chất con người VN như chúng ta vốn có trước 1945. Ra khỏi chiến tranh chúng ta chưa tỉnh. Tức là đang có tình trạng người trong cuộc không nhìn ra bệnh của mình, cứ tưởng mình vẫn đang bình thường như những người khác.”
Khi một căn bệnh đã trở nên bệnh thời đại thì việc gì ta còn phải ngạc nhiên khi thấy những biểu hiện của nó kể cả những biểu hiện phi nhân bản nhân tính nhất.
Cái ác hiện nay là tập đại thành của cái ác đã tích lũy trong lịch sử cộng đồng cả mấy trăm năm nay. Và nó trở nên phổ biến, được phát triển tới quy mô mà các tiền bối của nó trong lịch sử chưa bao giờ làm nổi.
Nguyen là bài Chứng rối loạn nhân cách
đ\a trên blog của tôi ngày 2-3-2015
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/03/chung-roi-loan-nhan-cach.html
SAI LẦM TRONG LÀM ĂN
THÌ CŨNG SAI LẦM TRONG GIÁO DỤC
Ngày đăng 1 tháng 7 năm 2017
Từ hồi bung ra làm ăn - chữ chính thức gọi là đổi mới --, mốt phổ biến ở Hà Nội là nhiều gia đình cả hai vợ chồng lao vào kiếm sống. Chồng làm thêm ở cơ quan lại đá thêm tí cò bất động sản. Vợ bỏ nhà nước ra chạy chợ. Con cái có khi cả ngày không thấy mặt bố mẹ. Tiền đây, ăn đi rồi học đi. Điểm khá ư, khó gì, muốn điểm giỏi cũng được, để lúc nào bọn này đến nói chuyện với các cô bằng phong bì là xong. Bọn trẻ con yên chí đã có tiền đút cho nhà trường rồi, không cần học, nên chỉ vạ vật vừa học vừa chơi, đến nỗi có đỗ đại học rồi cũng không thành người, xin việc không nơi nào nhận.
Gia đình anh M. bạn tôi thì khác. Anh chỉ để cho vợ chạy chợ. Còn anh vẫn chỉ làm việc bình thường, ngoài ra bao nhiêu công sức đổ vào dạy con. Con anh học hết đại học được học bổng đi nước ngoài học cao học, quay về lúc nào cũng sẵn những chỗ rất thơm mời mọc.
So với các gia đình khác, mức sống nhà anh M. dăm năm trước có đuối hơn một chút, nhưng nay xem ra cũng chẳng kém ai. Lại được đứa con giỏi giang, ai cũng nói đùa giá tiền tỷ.
Anh M. cắt nghĩa bằng giọng của người làm kinh tế: “Chẳng qua là tôi biết đầu tư thôi, kiểu đầu tư của tôi không ra lãi ngay, nhưng hiệu quả lâu dài. Ai cũng làm được, chỉ sợ không có gan”.
Sở dĩ cái lối nghĩ ăn xổi ở thì lan ra ở nhiều gia đình Hà Nội vì sau chiến tranh, nhiều người chúng ta ở thế cùng, không lao đi kiếm ăn không xong.
Mà nó cũng là cái tính chung của dân mình, tham bát bỏ mâm, tầm nhìn hạn hẹp.
Điều tôi muốn nói thêm hôm nay là không những nhiều gia đình làm vậy mà cả nước mình cũng vậy.
Bước vào thời kỳ mở cửa, có bao nhiêu tài trí đổ ra lo làm ăn hết. Lo có gạo xuất. Lo có dầu xuất. Gỗ được giá thì phá rừng cũng bán. Tôm được giá thì bỏ ruộng nuôi tôm không cần biết sau này đất hỏng ruộng thoái hóa ra sao. Cốt ngân quỹ thu về ít tiền. Người ta lấy đồng tiền nộp vào kho để đánh giá từng ngành.
Cứ ai làm ra tiền ngay thì được cả xã hội săn đón và tha hồ vênh vang. Còn ngành nào phải chi tiêu nhiều y như có tội, có khó khăn gì thì người làm những ngành không nóng lắm này cha con tự xoay xỏa lấy với nhau.
Đến ngay cả mạch máu đất nước là giao thông, có cảm tưởng người ta cũng chỉ lo cho nó vừa vừa thôi. Tôm xuất khẩu, gạo xuất khẩu mà hơi kém một tí là cả xã hội lao vào tìm cách thúc đẩy, ai làm hỏng là phạt ngay. Chứ giao thông ấy ư, nhân viên trong ngành có chia nhau tham nhũng và toàn làm đường xấu đường hỏng cũng được, đường có xấu một chút hãy đi tạm, không đáng lo bằng chuyện con tôm với thùng dầu.
Trên cái nền tâm lý như trên, chuyện giáo dục hiện nay có bê trễ cũng không có gì là khó hiểu.
Về lý thuyết mà xét, không ai coi nhẹ chuyện “trồng người” này. Ngay cả tiền bạc được chi cho giáo dục hàng năm, theo chỗ tôi được biết, cũng lớn lắm, chắc chắn là loại hàng đầu trong bảng chi ngân sách.
Nhưng ít ra có thể thấy mấy điểm:
1/ tâm lý chủ quan, không thấy hết chỗ lạc hậu của giáo dục Việt Nam, cho rằng xưa nay dân mình vốn thông minh hiếu học, cán bộ mình vốn giỏi giang vậy chịu khó động viên nhau một chút là xong.
2/ không đặt vấn đề đưa giáo dục của mình hội nhập thế giới, tưởng rằng cứ đào tạo một lớp người làng nhàng thế này rồi liệu dần, dân càng dốt càng dễ bảo.
3/ không thấy sốt ruột trước những tật bệnh của cái ngành máy cái này. Nghe nói một dây chuyền sản xuất ở ngành kinh tế nào đó lạc hậu là cuống lên lo nhập. Nhưng trước những đổi mới cần thiết của giáo dục thì ngần ngại, sợ tốn tiền, sợ gây ra những thay đổi bất ngờ.
Kết quả thế nào thì tất cả chúng ta đã biết, kết quả như kỳ thi phổ thông năm nay, cả nước cười dở khóc dở, đề ra dễ chưa từng có mà cứ chia ba thì có một học sinh trượt. Còn giáo dục đại học thì là một thực thể người chẳng ra người ngợm chẳng ra ngợm bất thành nhân dạng, bằng giả đầy, bằng thật thì chất lượng cũng giả, đụng đâu cũng gặp giáo sư, tiến sỹ mà chả ai có công trình nghiên cứu, chả ai có phát minh đóng góp gì cho sản xuất.
Ta hay nói, từ tầm nhìn của sự phát triển, cái tội lớn nhất của giáo dục là không đáp ứng nhu cầu về số lượng chuyên gia và các loại thợ lành nghề.
Chính xác hơn phải nói, lỗi lớn của nó là ở chỗ không bảo đảm đào tạo được những con người có cách sống cách nghĩ và năng lực phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại.
Bây giờ thì cái gì người ta cũng tính ra tiền được. Đại khái khoảng 2007, tôi đọc báo thấy nói trong đợt thi, để nói không với tiêu cực, số tiền chi ra sơ sơ đã là 45 tỷ.
Vậy tác hại của việc kém cỏi của giáo dục đến sự phát triển của đất nước ra sao, hình như chưa ai tính, nhưng chắc tính ra con số cũng khủng khiếp lắm.
Tình trạng giáo dục hiện nay đã bê trễ đến mức có đổ tiền vào bao nhiêu đi nữa cũng không vực dậy lại được. Như cái chân gẫy lúc đầu tự mình bó buộc qua loa cho xong, nay hỏng hẳn không dám dỡ ra bó lại nữa.
Mà một dân tộc đã không biết làm giáo dục thì làm gì có tương lai.
Đã in báo NĐBND 20/08/2007
đưa lại trên blog của tôi
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/05/uong-xa-vung-tinh.html
Khi đưa trên blog, còn bổ sung thêm một đoạn liên quan tới giáo dục dăm ba năm gần đây.
NHỮNG NÉT SÁNG TRONG BỨC CHÂN DUNG XUÂN TÓC ĐỎ
Ngày đăng 2 tháng 7 năm 2017
Trong tâm thức của số đông chúng ta, Xuân tóc đỏ là điển hình của con người lưu manh trong xã hội VN trước 1945 mà chúng ta hay nghĩ là cực kỳ hỗn loạn.
Một sự soi xét kỹ hơn sẽ cho chúng ta thấy đó là một thành kiến sai lầm. Trong bài viết "Bóng dáng con người hiện đại trong Xuân tóc đỏ", tôi đã thử chứng minh, ở Xuân có cái khao khát lớn lao là khao khát đổi đời và trong khi tìm cách thích ứng với xã hội hiện đại Xuân không chỉ có gian dối lừa lọc mà còn bộc lộ nhiều phẩm chất tích cực khác.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/11/dang-con-nguoi-hien-ai-trong-xuan-toc-o.html
Dưới đây là một đoạn trích
MỘT BƯỚC PHÁT TRIỂN
TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
Mời các bạn đọc thử xem có phải tôi ngụy biện?
Để có thể thành công trên đường lập nghiệp, một cá nhân phải có sự trưởng thành trong trình độ làm người. Trên nhiều phương diện, Xuân của Vũ Trọng Phụng đã đáp ứng nhu cầu đó. Nghe ra có vẻ hơi kỳ, nhưng vẫn có thể nói Xuân là một tính cách chắc chắn, ổn định, ít nhất là trên mấy khía cạnh sau đây :
1/ Xuân rất nhạy cảm, nên thường nhận thức rõ tình cảnh mà mình rơi vào và có sự đáp ứng khá hợp lý. Vừa sống, nó vừa nhìn vào những người chung quanh lo học hỏi và tìm cách đáp ứng cái vai trò mà mọi người trông chờ ở mình. Vả chăng, đó không phải là cách thích ứng hèn hạ, thích ứng với bất cứ giá nào đến nỗi tha hoá, tức đánh mất mình. Với cái vẻ “ thạo đời và tinh quái sẵn có “, dù phải làm gì thì Xuân vẫn là Xuân, đồng thời lại dần dà nâng được địa vị của mình lên một cách đàng hoàng. Đọc những câu như “ Xuân trầm tư mặc tưởng “, hoặc “ tự nhiên nó quá đứng đắn, rất có ý tứ “, mới đầu nhiều người có thể bỏ qua, tưởng chỉ là một câu đùa giỡn của Vũ Trọng Phụng, song những nét chấm phá đó hoàn toàn nhất trí với sự trưởng thành , cái điểm chín phải đến của tính cách Xuân nói chung. Thành thử có thể nói nếu có đùa thì đó là một trò đùa rất nghiêm chỉnh. Và cả cuốn Số đỏ được viết theo kiểu “ đùa rất nghiêm chỉnh “ ấy.
2/ Xuân sống tự trọng. Nhiều lần ta bắt gặp ở nó “cảm giác hổ thẹn “. Hứa với ai điều gì, là nó lo thực hiện. Ai làm ơn cho nó, nó đều nhớ. Có lỗi với ai ( kể cả cái lỗi lớn là chiều ý bà Phó Đoan khi về ở nhà bà), nó áy náy không yên và tìm đủ cách chuộc lỗi. Vậy là có một chút gì đó thuộc về lương tâm vẫn còn sống mãi trong lòng Xuân.
Chính tác giả cũng đã mấy lần viết những câu tạt ngang đại loại “Vốn là người cũng có lương tâm nó nhận thấy rằng …” hoặc “ Nó hiểu ngay ra nghĩa chữ tín ở đời “.
Với niềm tự tin sẵn có, Xuân sẵn sàng đối mặt với sự thật : Thấy có người nói xấu mình, nó đi hỏi bằng được. Tức là nó muốn tìm tới một sự sòng phẳng, một điều mà người ta hay nghĩ rằng những ai xuất thân hèn hạ và thiếu tự tin không bao giờ có.
3/ Ở Xuân sớm hình thành một thói quen, đúng hơn một định hướng sống khá chính xác: Nó không nhẫn nhục cam chịu sống với cái vị trí mà người ta đẩy nó vào hoặc khép mình theo những chuẩn mực mà xã hội áp đặt cho loại người lưu manh.
Một đặc tính của các nhân vật tiểu thuyết mà các nhà lý thuyết thường nêu: đó phải là những con người có tinh thần chống lại số mệnh. Xuân có cái tinh thần đó. Những nền nếp cũ không hề có mặt để trói buộc nó. Một cách chủ động, nó dám sống khác với thói thường, miễn thấy đó là phải. Nói cho to tát, tức nó muốn sống theo đúng tầm vóc của con người nói chung. Trong việc này, cái lý lịch “trên không chằng dưới không rễ “ của nhân vật trở nên một điều kiện thuận lợi. Nó dễ dàng tìm cho mình một sự tự do với đúng nghĩa của từ này. Trên đường lập nghiệp, nó không sớm cầu an và dừng lại giữa chừng, mà quyết đoạt được tới hiệu quả cao nhất có thể có. Việc Xuân vươn ra ở trình độ quốc gia ( dù là trên lĩnh vực thể thao ), cho thấy về căn bản, định hướng sống của nó là đúng.
4/ Một điều kiện nữa giúp Xuân thành công mà cũng là dấu hiệu cho thấy nó đã đạt đến trình độ khá cao trong sự phát triển lý tính, ấy là việc Xuân rất hiểu mình cũng như vị trí của mình trong con mắt mọi người.
Có lần tả Xuân cáu, tác giả bảo rằng “ lúc ấy Xuân quên hẳn mình. Nó đã bất tự tri.”. Một lời chê nhỏ như vậy thực ra là một lời khen lớn: Tức là hàng ngày Xuân vẫn tự tri. Cái sự tự tri ( tự biết chính mình ) ấy đã thành một bản tính tự nhiên, chỉ thỉnh thoảng nó mới quên. Hãy đọc lại đoạn Văn Minh báo với Xuân cái việc định gả em gái là Tuyết cho nó. Những tưởng đang trong cảnh long đong kiếm sống, vớ được vợ giàu chẳng khác chết đuối vớ được cọc, Xuân phải túm ngay lấy cơ hội. Đằng này không, Xuân lập tức trả lời là mình không dám nhận. Và trước mặt ông anh vợ tương lai, nó nói thẳng rằng mình “không cha không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt ban quần, bán phá sa, đã làm nhiều nghề hèn “.
Nói như các cụ ngày xưa, vậy là Xuân thuộc loại tri kỷ tri bỉ, biết mình biết người ; hoặc theo thuật ngữ của tâm lý học, ở nó có một sự tự ý thức khá đầy đủ. Nó không quên quá khứ, càng không mắc bệnh hoang tưởng. Trong cái năng lực tự ý thức ấy, có mặt cả sự tự tin, tỉnh táo, lẫn sự lương thiện, bấy nhiêu lý do cùng lúc khiến cho người đọc buộc phải nhận rằng mặc dầu thuộc loại ở mãi dưới đáy xã hội nhưng Xuân chưa bị làm hỏng. Chẳng những thế, còn có thể nói nó đã hấp thụ được một trong những cách nghĩ mới mẻ mà xã hội hiện đại vừa mang tới cho con người đương thời. Sự tỉnh táo của Xuân lúc này có thể sánh ngang với Chí Phèo khi Chí cãi lại Bá Kiến “ Không được ! Ai cho tao lương thiện …Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không ! “ mà nhiều người vẫn ca ngợi.
CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI TRƯỚC TIÊN LÀ MỘT CON NGƯỜI ĐA DẠNG
Ngày đăng 4 tháng 7 năm 2017
Đọc bài tôi viết về Xuân tóc đỏ, một bạn đã "đặt hàng tôi" hãy thử miêu tả thế nào là con người hiện đại.
Lâu nay, tuy chưa viết thành bài riêng, song tôi ít nhiều cũng đã lượn lờ quanh cái đề tài này .
Ví dụ, tôi đã đả động tới chuyện này trong bài viết về truyện chưởng Kim Dung.
Đáng lưu ý là có cả một lý thuyết về con người đóng vai, con người trò chơi mà các nhà lý luận phương Tây đề xuất và các nhà nghiên cứu xô viết khi nghiên cứu về những thiên tài của thế kỷ XX như họa sĩ Pháp P. Picasso, diễn viên Mỹ Charlie Chaplin, nhạc sĩ I. Stravinsky... từng vận dụng rất hiệu quả.
"Zorba , người chịu chơi", hình như đã có một cuốn sách mang cái tên đó.
Lúc này đây, chỉ tạm nghĩ con người hiện đại trước tiên hẳn là một con người đa dạng và đầy mâu thuẫn, con người luôn luôn tìm mình và nhiều khi vừa thấy mình là thế này xong thì lại nghĩ ngay rằng không phải, còn phải đi tìm nữa.
Danh sĩ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) có thể được xem là một định nghĩa về con người Việt Nam thế kỷ XIX, song có những tính cách của con người hiện đại.
Nhân dịp đọc một stt của bạn Trần Ngọc Hiếu, tôi mới sực nhớ ra có một đoạn văn một nhà nghiên cứu văn học ở Sài Gòn cũ nêu lên tính cách Nguyễn Công Trứ phần nào có liên quan tới ý của bạn Hiếu và cả câu chuyện chúng ta đang bàn.
Tôi đã đưa đoạn văn đó thành một đoạn còm men cho FB của thày Hiếu, nay xin chép lại như sau.
"Ông vừa hoạt động vừa hưởng nhàn hành lạc; vừa vững mạnh về lý tính vừa sôi nổi dồi dào tình cảm; vừa yêu chuộng công danh vừa khinh miệt công danh; vừa thiết tha với đời, vừa chán đời; vừa thương người vừa giận người; vừa hướng hạ vừa hướng thượng; thực là một tâm hồn tràn đầy mâu thuẫn".
Ở một đoạn dưới, tác giả trên còn dẫn lại lời nhà văn Pháp Blase Pascal (1623 -1662):
" Tôi không thích kẻ nào chỉ có một đức tính này mà thiếu một đức tính nọ; nếu họ hiền lành tôi muốn họ đồng thời phải cứng cỏi;
nếu họ bạo dạn thì đồng thời họ phải biết dè dặt khi cần;
đã hiếu động lại hiếu tĩnh;
khi cần phải nói không cũng như dịp cần khác, phải nói ừ"
Đoạn văn kết lại bằng một câu triết lý trong kinh Vệ đà:
" Người ta trở nên bất tử bằng phụng sự và hiểu biết".
Đây là phần viết về Nguyễn Công Trứ, trong cuốn "Việt văn toàn thư", tú tài I ban ABCD, nhà sách Á châu Sài Gòn xuất bản khoảng trước sau 1970.
Tác giả là Vũ Ký, giáo sư trường Trương Vĩnh Ký Sài gòn nguyên giáo sư trường Quốc học Huế.
Tôi cũng đã từng có một bài riêng về Nguyễn Công Trứ trên blog của mình, mời các bạn có nhu cầu thử tìm đọc
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/04/tinh-hien-ai-cua-nguyen-cong-tru.html
HY SINH TƯƠNG LAI CHO HIỆN TẠI
Ngày đăng 8 tháng 8 năm 2017
Bạn MaiLanTruong mới viết trên trang của mình
“Điểm chuẩn vào trường Công an gần như cao nhất, điểm chuẩn vào trường Sư Phạm gần như thấp nhất.
Cứ nghĩ đến là mất ngủ. Sao lại đa đoan hoài vậy...!?”
Tôi nghĩ, chẳng qua nay là lúc người Việt chỉ loay hoay với những chuyện trước mắt, mà không hề hay đúng hơn là thấy mình không đủ sức lo chuyện tương lai.
Và do chỗ mất hết niềm tin vào tương lai, nên người mình kẻ có điều kiện thì lo cho con cái đi học nước ngoài, kẻ không có khả năng trốn khỏi hiện tại thì xoay ra bia rượu cờ bạc để hành lạc qua ngày.
Tuyệt vọng đang là thứ khí hậu chi phối cái thời đại hậu chiến mà người Việt tưởng là có quyền hy vọng hơn bao giờ hết.
Có lẽ là tôi cổ hủ quá, nhưng từ những năm 60 cho tới ngày nay, không hiểu sao tôi vẫn thích mở ra nghe lại “Bài ca hy vọng” của Văn Ký. Từ thời của người ca sĩ miền Nam tập kết Khánh Vân tới nay đã hơn nửa thế kỷ. Đã bao nhiêu cách giải thích về hy vọng đã đến. Rồi lại ra đi. Một trong những người hát bài này là Lão Nông, gần đây nảy ra cái ý xuất thần “bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng”. Đấy là cái công thức tôi đang muốn tìm.
Thói quen suy nghĩ cũ thường thầm thì vào tai loại người như tôi “cái thời khó khăn này rồi sẽ qua đi rất nhanh...” . Không, nhà văn Thu Bồn có lần nói với tôi, hóa ra thời nay cái đang tan nát lại rất bền vững.
TRƯỚC NHỮNG VẺ ĐẸP ĐANG BỊ ĐÁNH MẤT
Ngày đăng 9 tháng 8 năm 2017
Có một thời gian ở tạp chí Văn Nghệ quân đội, tôi được phân công quản phần nghệ thuật, nghĩa là đi viết hoặc đặt bài người khác viết về các triển lãm, các bộ phim mới ra mắt và hoạt động của các đoàn văn công.
Trung thu 1971, sau khi đi biểu diễn ở các đơn vị vận tải biển cho chiến trường miền Nam, Đoàn văn công Hải quân được đưa về nghỉ tại khi biệt thự của tướng Giáp tại Bãi Cháy Quảng Ninh.
Tôi được phân công xuống đó viết về Đoàn.
Trước khi đi làm báo, tôi đã có một năm làm giáo viên ở Đoàn kịch nói Tổng cục chính trị.
Kinh nghiệm cho tôi biết là con người và tài năng của các diễn viên bộc lộ đáng yêu nhất, không phải những khi họ ra biểu diễn trước khán giả, mà là trong những buổi biểu diễn nội bộ. Ở đó, họ được trở về với chính mình. Mà ở đó, họ có những đối tượng hết sức khó tính cần phải chinh phục— là các đồng nghiệp cùng đoàn --, nên cái khao khát bộc lộ chính mình càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Lần này, đến với văn công hải quân tôi cũng được dự một buổi tương tự. Biển. Trăng. Và nghệ thuật ở cái phần hồn nhiên tốt đẹp nhất của nó. Buổi tối hôm đó kỳ diệu đến nỗi tôi tin rằng không bao giờ tôi có diễm phúc gặp lại nữa.
Để giữ cho nó khỏi phai nhạt, hôm sau, tôi phải lập tức từ giã Đoàn.
***
Tôi nhớ lại cảm giác trên, khi chợt nhớ ra dạo này mình rất ngại lên Đà Lạt, thậm chí ngại đọc cả những bài nói rằng Đà Lạt đang bị làm hỏng, cái mảnh đất châu Âu này đang trở nên tầm thường dung tục đi ra sao. Xã hội chúng ta đang ngày càng thích học đòi theo những cái tân tiến và có cái vẻ như là đa dạng hóa. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, cái gốc của nó là một xã hội đồng phục, cái quan niệm "mọi con người mọi miền đất phải có hồn cốt giống nhau", vẫn ngự trị như cũ, hỏi làm sao mà một vẻ đẹp quý tộc như Đà Lạt có quyền tồn tại .
Mấy năm nay xuất hiện nhiều những bài báo cuốn sách nhắc lại vẻ đẹp hôm qua của Đà Lạt trong đó cuốn "Đà Lạt một thời hương xa" của Nguyễn Vĩnh Nguyên về mặt nội dung cho đến cách trình bày đều đáng gọi là một tuyệt phẩm. Những trang miêu tả sinh hoạt của các nghệ sĩ dừng lại ở Đà Lạt trước khi về Sài Gòn, tôi đọc được một ít mà cứ thấy buồn buồn và không dám đọc tiếp. Ngược với những vẻ đẹp ngầu đục đang bao quanh tôi hiện nay, tôi cảm thấy đó là những vẻ đẹp thanh cao sang trọng, nó đã tan biến đi lâu lắm và ngày nay người ta không sao tái tạo lại được. Tôi có cảm tưởng cách làm việc như của Nguyễn Vĩnh Nguyên là ngược với phần lớn các cây bút hiện nay. Trong khi đa số người viết chúng tôi khá nhất cũng chỉ lo chinh phục những người đương thời thì tác giả cuốn sách này đang hướng cả về những thế hệ bạn đọc sắp tới.
LẤY ĐÂU RA KỸ NĂNG SỐNG Ở QUÊ MÀ HỌC?
Ngày đăng 10 tháng 8 năm 2017
Trong bản tin trưa của VTV một ngày đầu tháng 8 tôi thấy có mẩu tin mang tên “Về quê học kỹ năng sống.”
Trên màn hình là đám trẻ đô thị quần áo đủ lệ bộ, xô nhau vào một đám vườn cải vầy vò làm không ra làm nghịch không ra nghịch.
Cái buồn cười ở đây không phải chỉ ở tính cách bố trí giả tạo của sự việc mà còn là ở những quan niệm nằm sâu trong người làm tin.
Mấy chữ kỹ năng sống mới nhập khẩu chắc có nghĩa rộng hơn, chứ không phải chỉ gồm mấy việc ra một đám đất chạm tay vào mấy cây rau.
Mà sao lại về quê để học khi - theo quy luật chung của thế giới - cuộc sống nông thôn có tính tự phát đang được tổ chức lại thành các đô thị?
Tôi không có con số chứng minh chính xác nhưng có lẽ trên thế giới hiện nay chỉ có Việt Nam là nước duy nhất lấy cuộc sống nông thôn ra làm mẫu cho những người vươn ra thành thị.
Có lần tôi đã lưu ý trên trang FB này: sách giáo khoa tiểu học ở ta toàn những bài viết tả cảnh mẹ ra sân ngồi sàng sẩy gạo với lại đi trên đường làng lắng nghe tiếng chim thánh thót.
Ai mà nhịn cười cho được?!
Xã hội đang trong quá trình hiện đại hóa, con người đang sống với những phương tiện kỹ thuật tân tiến nhất.
Học sinh thành phố ngày nay đến trường không phải là đi qua con đường dài và hẹp như Thanh Tịnh tả trong “Quê mẹ” mà đi qua cả biển những phương tiện giao thông lúc nào cũng có thể gây tai nạn.
Nếu học cả ngày thì ăn uống nghỉ ngơi ra sao ra các tiệm vắng la cà thế nào, để vừa có thể xả láng chút đỉnh vừa không làm mồi cho những trò cám dỗ hư hỏng bám đầy các cổng trường.
Cuộc sống trong gia đình lại là vấn đề kỹ năng mà trẻ rất thiếu và nhà trường thì bỏ mặc.
Ở các nhà trường do bên tôn giáo quản lý tôi thấy người ta có cả chương trình giáo dục nhân bản, ở đó dạy trẻ từ cách cầm chiếc bát cho tới cách trò chuyện với mọi người trong gia đình trong bữa ăn, các quy định này rất gần với những kiến thức mà ở các nước phát triển người ta đang dạy trẻ.
Rồi các việc liên quan trong xã hội, như việc sử dụng các loại máy móc hiện đại, cách sử dụng điện thoại khi có nhiều người cùng sống trong một căn phòng, cách xả rác và vứt rác...
Có thể nói trong việc hướng dẫn kỹ năng sống cho trẻ ở ta mọi người lơ là bao nhiêu thì ở họ có những chuẩn mực rõ bấy nhiêu. Có cả một triết lý chi phối họ chứ không phải những việc làm tùy tiện bốc đồng.
Gói gọn việc dạy con trong một chữ ngoan và biết nghe lời người lớn tuổi , thực ra các ông bố bà mẹ trẻ ở ta hiện nay đang rất bí trong việc giáo dục con trẻ. Họ mong chúng có thể tử tế hơn cả mình. Và họ bất lực.
Mà cả xã hội cũng bí, một xã hội chỉ thích la hét huyên thuyên những chuyện to lớn đâu đâu nhưng lại bỏ qua những chuyện gọi là " nhỏ nhăt' và lúc nhận ra chỗ lạc hậu của mình thì làm quấy làm quá cho phải phép. .
Nhìn rộng ra phải thấy đây chính là một trong những chỗ yếu chết người của những xã hội chuyển từ nông thôn lên thành thị theo kiểu chín ép.
Cái việc nhà trường và đài báo chỉ bằng lòng với mấy chữ kỹ năng sống hời hợt để trốn việc chỉ là một ví dụ nhỏ báo trước là chúng ta còn khổ sở vì sự chuyển đổi phi chuẩn của mình.
VIỆC GIÁO DỤC CON NGƯỜI HỌC SINH TRONG BỘ SÁCH "QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ" TRƯỚC 1945
Ngày đăng 11 tháng 8 năm 2017
Các lần trước đọc bộ sách “Quốc văn giáo khoa thư” do Nha học chính Đông Pháp xuất bản, tôi chỉ chú ý phần kiến thức.
Lần này, tôi muốn để tâm kỹ hơn tới phần luân lý đạo đức. Ý định đó của tôi được thỏa mãn ngay qua bài sau
ĐI HỌC ĐỂ LÀM GÌ
Bác hỏi tôi đi học để làm gì. Tôi xin nói bác nghe.
Tôi đi học để biết đọc những thư từ người ta gửi cho tôi và viết những thư từ tôi gửi cho người ta. Tôi đi học để biết đọc sách, đọc nhật báo, thấy điều gì hay thì bắt chước.
Tôi đi học để tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh và giữ thân thể cho khỏe mạnh.
Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, cho hiểu cách ăn ở để thành được người con hiếu thảo và người dân lương thiện.
Đã gọi là dạy đạo đức cho trẻ, thì điều dễ hiểu là người xưa nêu những tấm gương tốt. Nhưng nhìn vào mục lục các bài trong sách tôi thấy có một tỷ lệ khá lớn nói về những thói xấu mà trẻ có thể mắc phải.
Ví dụ trong cuốn “Luân lý giáo khoa thư” thấy có các bài:
Bài 36: Đứa học trò xấu
37: Lười biếng, nhác nhớn
38: Không thứ tự
39: Không ý tứ
40: Tính ương ngạnh
41: Tính khoe khoang và hợm mình
42: Tính nhát sợ
44: Tính nói xấu
45: Tính mách lẻo
46: Tính hay chế nhạo
47: Tính ghen
48: Tính tức giận
49: Tính tàn bạo
50: Tính độc ác
Không chỉ có bài 43 nói về sự dối trá mà các bài số 7 và số 22 cũng có nội dung tương tự.
Bài 7 nói các em phải thật thà với cha mẹ, bài 22 nói các em phải thật thà với thầy.
Tôi thấy đó là một sự dịnh hướng cần thiết phù hợp với tình hình Việt Nam. Còn nịnh bợ học sinh chỉ làm hỏng các em thêm.
Cứ nhìn tình hình đạo đức lớp trẻ hiện nay thì rõ.
Trở lại với cái ý giáo dục con người tôi đã đưa ra trong đoạn đầu.
Trong một bài nói chuyện gần đây ở TP.HCM của bà hiệu trưởng Havard, tôi đọc thấy sự nhấn mạnh của các nhà giáo dục thế giới:
-- Cái chính là phải thông qua kiến thức để dạy dỗ con người,
-- nói cách khác là đào tạo con người mới là mục đích chính của giáo dục.
Có người hỏi nền giáo dục của ta hiện nay cũng có sự phối hợp đạo đức với kiến thức đó chứ.
Theo tôi, ở ta thứ đạo đức được rao giảng vừa không phải là cái tinh hoa cổ điển -- không kế thừa tinh thần nhân bản là cái chung của các cộng đồng trên thế giới -- mà lại rất lạc hậu so với thời đại.
Kiến thức chỉ tạm được phần khoa học tự nhiên.
Còn phần kiến thức khoa học xã hội -- lịch sử, địa lý, tâm lý học giáo dục học..thì đơn sơ kém cỏi, cách xa khoa học xã hội thế giới tới hàng thế kỷ.
Ngoài ra từ những kiến thức được đưa ra trong giảng dạy, đến những kết luận về đạo đức hướng dẫn con người trong xã hội, thường thông qua nhiều cách giải thích sai lệch.
Kết cục là học sinh hiện nay vừa không đủ kiến thức vừa rất khiếm khuyết về phương diện đạo đức.
NHỮNG TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI
Ngày đăng 14 tháng 8 năm 2017
Tiếp tục câu chuyện
về bộ "Quốc văn giáo khoa thư"
Theo quan niệm về giáo dục ta hiện nay, trẻ em như tờ giấy trắng, chỉ cần nói ra những việc tốt phải làm là trẻ noi theo.
Còn những người soạn sách ngày trước nghĩ khác, theo họ trước khi đến trường, các em đã nhiễm sẵn rất nhiều thói xấu từ gia dình và xã hội.
Và lẽ tự nhiên là người ta phải dành một số lớn bài giảng để giúp các em vượt qua những thói xấu vốn đã tiêm nhiễm một cách tự nhiên vào tâm trí.
Tôi cho rằng đây là một quan niệm hiện đại về con người, còn các nhà soạn sách tiểu học của chúng ta ngày nay hiểu về tuổi thơ quá đơn giản và cổ lỗ nên mới làm ngược lại.
Những ví dụ nêu ở phần đầu bài này tưởng đã đầy đủ
Những tư tưởng quá ấu trĩ mà bây giờ ta hay mắc còn được các nhà biên soạn cuốn "Quốc văn giáo khoa thư" vượt lên qua nhiều trường hợp khác .
Ví dụ ngày nay trong gia đình và nhà trường ta hay dạy trẻ "Ở hiền gặp lành."
Nhưng đó là quan niệm dân gian liên quan đến tư duy nguyên thủy.
Còn một tư duy hiện đại sẽ đề ra công thức "Ở hiền có thể gặp lành mà cũng có thể không gặp lành", và người ta không nên đòi hỏi chỉ gặp điều lành thì mới làm điều thiện.
Mở trang 44 quyển sách tôi nói, có bài "Người đi đường và con chó."
Bài này kể chuyện có một người cưỡi một con ngựa đến đầu làng kia, chú chó nhà gần đấy sủa cắn mãi làm con ngựa sợ, chạy lồng lên.
Người cưỡi ngựa tức giận vô cùng, muồn giết ngay con chó, mới bảo rằng: “Tao mà có súng, thì cho mày một phát là hết cắn. Nhưng mà được, tao đã có có cách làm cho mày chết."
Nói xong, người kia chạy đến giữa làng, kêu to lên rằng; “Chó dại! Chó dại”.
Những người xung quanh đấy, nghe tiếng kêu chó dại, liền vác gậy, vác xẻng ra đuổi đánh chết con chó.
Gớm thay cho lời nói của người ta, có khi giết hại được hơn là đồ binh khí."
Chắc các bạn cũng thấy cái tư tưởng được nêu ra ở đây hết sức là hiện đại, chỉ những con người sống qua những tao loạn thời nay mới hiểu được.
Nó nói về một hành động chính trị , tức việc tổ chức dư luận xã hội như thế nào.
Khi ngay từ 1926 đã đưa nó thành bài học cho học trò tiểu học, những người soạn sách thật đã có sự tôn trọng đối với lớp trè.
Họ đã chuẩn bị cho các em nhìn nhận sự sống với tất cả các vẻ phức tạp của nó.
Trong bộ "Quốc văn giáo khoa thư" đang nói còn nhiều bài có những ý tưởng rất phức tạp mà cần thiết như vậy.
Bài "Cần phải giữ tín hạnh của mình" đề cập tới chuyện một người đi đôi giày mới vào con đường đất sau mưa, ban đầu còn rón rén giữ gìn, sau một lần vô ý làm bẩn giày, thế là cứ đi ào ào giày có bẩn thật thậm tệ cũng mặc.
Đây là một ví dụ cổ điển về thái độ hư vô trong cuộc sống của con người.
Bài trang 86 mang tên "Chuyện một người thợ đá có lương tâm", " kể rằng khi phải khắc lên bia đá những điều trái với ý mình, một người thợ đá đã bảo với viên quan đặt hàng ông ta làm: “Bắt làm thì tôi xin làm, nhưng xin tha cho đừng bắt khắc tên người thợ đá dưới bia.”
Cái sự trọng danh dự nghề nghiệp ấy thời nay chẳng thấy ai nhắc lại nữa.
Tôi liên hệ tới nghề viết văn viết báo mà mình theo đuổi cả đời và thấy rằng những người cầm bút thời nay nên tiếc là ngay từ thời trẻ không được học những bài tương tự.
TRÍ THỨC VIỆT - MỘT GIỚI THÔNG THÁI CHÂN ĐẤT
Ngày đăng 16 tháng 8 năm 2017
Nếu tìm cách cắt nghĩa sự tha hóa của xã hội Việt nam trong những giai đoạn khác nhau -- kể cả giai đoạn hiện tại -- trước sau người ta sẽ cụng đầu vào vấn đề về giới trí thức. Điều này có lý do chính đáng của nó.
Đằng sau những sự xáo trộn liên miên, lịch sử ở ta là sự trì trệ kéo dài và đến nay ta vẫn lĩnh đủ.
Từ đây thấy nổi lên một nguyên nhân sâu xa: cộng đồng không hình thành nổi bộ phận tinh hoa (elite) của mình.
Một chủ nghĩa bình quân tối đa đã níu kéo tất cả lại
Mà khi đã không có người mở đường về mặt tư tưởng mà chỉ hò nhau hành động theo những giáo điều đâu đâu thì luôn luôn là mò mẫm sai lầm, xã hội nào tiến hóa lên được.
Có điều, không hẳn khi “ngửi” thấy tầm quan trọng của vấn đề là người ta đã nhận thức được nó đầy đủ.
Bằng chứng là nói tới trí thức, người ta thường nêu ra những yêu cầu lý tưởng đâu đâu với tầng lớp này, như đòi hỏi tính độc lập cao, khả năng phản biện để đóng góp mạnh mẽ cho xã hội, rồi từ đó đưa ra nhiều lời chê bai trong đó lời chê nặng nhất là “tư cách phò chính thống” của trí thức VN nói chung.
Tôi muốn thử đặt vấn đề theo một cách khác:
+ liệu trong thực tế lịch sử chúng ta đã có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa chưa?
+Nếu tạm thời chấp nhận là có một tầng lớp như vậy, thì quá trình hình thành của họ có đặc điểm gì?
+Tại sao họ dễ bị làm hỏng đến vậy?
Chúng ta thường chỉ xác định lịch sử cận đại - thời gian từ 1858 tới 1945 - như thời Pháp thuộc.
Nhưng thực tế đó là thời kỳ xã hội ta bước vào hiện đại hóa.
Lúc đó chúng ta có một lớp trí thức khác.
Còn khái niệm trí thức chúng tôi nói ở bài này chỉ đúng với lớp người có học trong xã hội trung cổ và thời nay.
Đối chiếu với những tiêu chuẩn hiện đại nhiều nhiều người đã lờ mờ cảm thấy rằng, kẻ sĩ Việt Nam chỉ là một loại trí thức chân đất, nghĩa là cái vốn liếng chuyên môn -- cũng là cái làm nên thực chất của họ -- quá xoàng xĩnh thấp kém không đạt tới cái tiêu chuẩn phổ biến mà mọi xã hội Đông cũng như Tây xác định.
Một số nhà nghiên cứu gần đây đôi khi còn đi tới những khái quát cực đoan hơn.
Trong một bài viết mang tên "Tâm lý dân tộc với cuộc Cải cách hành chính hiện nay" (in trong cuốn sách của Trung tâm nghiên cứu tâm lý dân tộc -- "Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ", Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.82-87) nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng cho rằng xã hội cổ truyền VN thiếu ba chỗ dựa cơ bản:
-- Không có giai cấp quý tộc, đông đảo đám quan lại quản lý xã hội chỉ là đám người võ biền tiến thân nhất thời.
-- Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Rất hiếm thấy cái cốt cách như Lý Bạch“Thiên tử hô lai bất thượng thuyền”. Học để làm quan, tuyệt đại đa số kẻ sĩ đều mộng làm quan hơn là giữ vai trò thầy đồ… áo rách.
-- Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước.
Trong ba đặc điểm tôi cho là được nêu ra chính xác này, cái thứ hai liên quan đến chủ đề trí thức chúng ta đang nói.
Nói VN thuở ấy không có trí thức cũng tương tự như nói VN trong thời trung đại không có thành thị, mà chỉ có những phố chợ còm nhom hiu hắt, lắt lay tồn tại giữa một bãi lầy nông thôn tăm tối.
Tới đây, lại thấy trong việc đánh giá giới trí thức VN nói chung có một xu thế, xu thế này đã có từ xưa và nay vẫn tiếp tục, nó được cả nhà nước lẫn dân gian chấp nhận:
-- Đồng ý, chúng ta chỉ có một lớp trí thức trình độ non kém. Nhưng có hoa mừng hoa có nụ mừng nụ. Nhiều người trong đó có phẩm cách cao có đạo đức cao. Đấy mới là điều cần phải nhớ!
-- Chân đất cũng được miễn là “có chữ tâm” và hết lòng vì dân vì nước.
Nên xem xét thế nào mối liên quan giữa trình độ và bản lĩnh, hoặc như cách nói thời nay – giữa tài và đức -- với từng người cũng vậy mà cả giới cũng vậy?
Khoảng 1974, ở Hà Nội có cuộc thảo luận trên báo Nhân dân về làm ăn thật thà. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nói với chúng tôi:
-- Trong nền kinh tế tiểu nông thì không thể làm ăn thật thà được.
Lấy cái ý này của Nguyễn Đình Thi để soi vào vấn đề đang bàn, có thể nói với lớp trí thức non yếu như trí thức phong kiến, câu chuyện đạo đức và bản lĩnh chỉ là một thứ hàng xa xỉ.
Khẩu hiệu của nhà trường ở ta Tiên học lễ hậu học văn. Ý muốn nói những người quản lý chỉ cần một đám láu lỉnh để tiện sai vặt và khi cần thì trưng ra làm dáng. Còn chuyên môn ấy ư, không là gì cả.
Đến nay có vẻ như sự chuyên môn được đề cao hơn, tới mức các nhà quản lý dốt nát cũng khoác lên mình cái áo chuyên môn, nhưng sự coi thường thì vẫn vậy. Bởi sử dụng trí thức -- kèm theo đó là lo đào tạo trí thức đúng nghĩa -- là phải trở về với chuẩn mực với những quy luật phổ biến trên thế giới, một xã hội "thích độc đáo" như ta, "theo con đường riêng của ta'' làm sao chịu được.
***
Trên đây là một phần nhỏ trong bài viết của tôi "Trí thức thời nay -- đằng sau thói háo danh là tình trạng tha hóa kéo dài" trong đó tôi còn bàn tới một số khía cạnh khác của cái vấn đề đã kéo dài trong lịch sử này. Mời các bạn tìm đọc ở đường link.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/08/tri-thuc-thoi-nay-ang-sau-thoi-hao-danh.html
MUỐN HIỂU VỀ TRÍ THỨC VIỆT HÃY NHÌN SANG PHÍA NƯỚC NGA
Ngày đăng 17 tháng 8 năm 2017
Tôi chỉ vừa mới tìm hiểu vấn đề trí thức ít năm gần đây, cách làm là theo dạng nghiệp dư và mới có khả năng ... đi đường vòng.
Thoạt tiên, tôi thiên về xác định tính cách lịch sử của trí thức Việt như đã trình bày trong bài trước.
Trong khi việc này còn phải tiếp tục, từ mấy năm nay tôi lại "mua việc" bằng cách đi vào tìm hiểu người trí thức ở Nga sau 1917 cũng như người trí thức Trung quốc sau 1949.
Một số thu hoạch nho nhỏ tôi đã và sẽ trình ra với các bạn dần dần.
Ví dụ năm 2014, tôi đã đưa trên blog của mình bài viết "Tìm hiểu chính sách đào tạo lớp trí thức mới của nhà nước Nga Xô Viết để hiểu trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954 "
Đây là bản tóm tắt một tài liệu tiếng Nga đã dịch ra và in ở nxb Tri thức Hà Nội 2009 .
Tập tiểu luận "Về trí thức Nga" (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch) này gồm có nhiều bài viết cơ bản của các nhà văn nhà triết học Nga xuất sắc
+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của tác giả N.A. Berdaev
+ Tầng lớp kỹ giả -- Aleksandr Solzhenítsyn (chữ kỹ giả là của người dịch bản tiếng Việt)
+Phẩm tính trí thức -- Dmitri Likhachev
Trong lúc chưa hiểu hết các bài đó, tôi thấy tiểu luận "Bàn về số phận của tầng lớp có học ở Nga" khá dễ hiểu nên đã làm cho mình một bản lược thuật.
Ở đây, nhà nghiên cứu trẻ Sergey Kirilov đi vào xem xét lớp trí thức Nga sau 1917 ở sự hình thành của nó. Tôi đọc ra mấy ý :
+ trước tiên một sự nhất quán của nhà nước xô viết trong xu thế “từ căm ghét đến tiêu diệt trí thức cũ và thay thế bằng trí thức mới”
+Để đào tạo lớp người mà mình tin cậy, nhà nước xô viết đã tạo nên hiện tượng ”Bùng nổ về số lượng đi đôi với sự hạ thấp chất lượng”
+ Được hình thành như vậy “những trí thức này là những kẻ xa lạ với văn hóa.”
+Đồng thời với việc phá vỡ "cấu trúc của giới trí thức", nhà nước Nga còn "hợp thức hóa tình trạng vô học của giới quan chức ", tức khoác cho giới quan chức này cái mã trí thưc do đó xảy ra tình trạng lập lờ đánh lận con đen lờ mờ hỗn loạn.
Tổng hợp lại, "sự tầm thường đã đến với lớp người vốn được coi là cao quý".
Bài viết của tác giả Sergey Kirilov kết lại mấy ý mà chúng tôi gói lại ở phần cuối mang tên "Kết cục khó tránh" dẫn ra dưới đây.
***
Chế độ Xô Viết, sau hàng chục năm phấn đấu đã gần đạt được thành công trong việc loại bỏ tầng lớp trí thức như một hiện tượng xã hội đặc thù, như một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh; hoàn toàn loại bỏ được đặc trưng mang tính thượng lưu của nó; và xóa bỏ được sự khác biệt về trình độ học vấn và vốn văn hóa giữa nó với đám quần chúng được gọi là nhân dân.
Có những khó khăn nhất định ngăn cản không cho tầng lớp có học hiện nay nhận thức được sự bất toàn về mặt xã hội của mình. Cơ sở tư tưởng của chế độ toàn trị cộng sản là sự sùng bái “con người bình thường”. Sau hàng chục năm bị thôi miên rằng chân tay quan trọng hơn đầu óc và đầu óc là để phục vụ cho chân tay, thì đầu óc – tức là lớp trí thức -- đã quen dần với định đề phản tự nhiên đó
Họ dần đánh mất phần lớn khả năng tư duy của mình và cho đến nay vẫn chưa có đủ dũng khí vươn lên để khẳng định vai trò của mình trong xã hội.
Những thành quả sáng chói của nền khoa học và văn hóa Nga thế kỉ XIX được tạo nên bởi những con người sinh ra trên những nguyên tắc có nguồn gốc từ sự phát triển xã hội ba thế kỉ trước.
Còn việc cố tình hạ thấp vai trò của trí thức và tiêu diệt trên thực tế tầng lớp này sau 1917 lại chỉ bắt nguồn từ sự trì trệ trong vận động lịch sử của những thập kỉ gần đây.
Kết quả là chúng ta có một tầng lớp có học nhưng không có khả năng thực hiện các thiên chức của nó.
Cuối cùng trong xã hội Xô Viết, chỉ có một chút ngoại lệ là các nhà trí thức hàn lâm và các nhà kĩ thuật quân sự, vốn được đào tạo như một khu vực tách rời khỏi xã hội. Sau năm 1991, chính bộ phận này khi ra nước ngoài đã hòa nhập được với giới khoa học của các nước phương Tây.
Muốn thay đổi được thực trạng nói trên thì chính nhà nước phải có một quan niệm khác đi về giới tri thức. Phải công nhận rằng trong xã hội Xô Viết đã hình thành một lớp KỸ GIẢ ngu dốt – vô năng. Đoạn tuyệt với họ rất khó. Người trí thức chân chính sau 1991 vẫn không thể lọt vào cả giới chính trị lẫn giới kinh doanh – môi trường kinh doanh vốn đầy tính chất mafia của Nga.
Tầng lớp tinh hoa trí thức như một giai tầng xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ những cố gắng mang tính chủ động của nhà nước. Phải bắt đầu bằng sự phủ nhận rằng chúng ta đã làm sai, đào tạo sai thì sau đó mới có thể bắt tay làm lại mọi việc. Không có sự cố gắng như thế, đất nước -- trong trường hợp tốt nhất -- chỉ biến thành người cung cấp chuyên gia cho các nước khác mà thôi.
Đường link sau đây sẽ dẫn bạn nào có nhu cầu tiếp xúc đầy đủ với bản lược thuật của tôi
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/10/tim-hieu-chinh-sach-ao-tao-lop-tri-thuc.html
ĐỌC LẠI MỘT BÀI VIẾT VỀ TRÍ THỨC CỦA NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Ngày đăng 21 tháng 8 năm 2017
Bài viết sau đây đã được viết ra 61 năm trước. Ngày nay đọc lại, trong tôi vẫn còn nguyên sự khâm phục, và nhất là thấy lớp trí thức được đào tạo thời Pháp thuộc tốt quá, lẽ ra họ có thể đóng góp nhiều cho nước Việt Nam độc lập tương tự như người trí thức ở miền Nam trước 1975 có thể đóng góp cho công cuộc phát triển hậu chiến mà chúng ta đã bỏ qua
Tuy nhiên , đọc "Vừa khóc vừa cười" đối chiếu với tình hình hiện nay thú thật trong tôi còn thoáng qua cái cảm giác rằng, nhà trí thức ở đây còn nhiều ấu trĩ. Ông có ảo tưởng về khả năng thay đổi của nhà cầm quyền. Những người như ông đã không thể bảo vệ được mình để có thể sau này còn tiếp tục lên tiếng về cả một giai đoan lịch sử mà các ông đã trải qua.
Do chỗ phần cuối bài viết này có nhắc tới một số chuyện về trí thức bên Trung quốc, tôi muốn nhớ tới một cái nhìn toàn cảnh gần một trăm năm về vấn đề này mà tôi đã dẫn ra trong bài “Trí thức Trung quốc thế kỷ XX”.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/02/tri-thuc-trung-quoc-ky-xx.html
VỪA KHÓC VỪA CƯỜI
Trong một thiên anh hùng ca sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ XI, thi sĩ tường thuật cuộc chiến đấu anh dũng của hai anh hùng Roland và Olivier, chống lại kẻ thù chung. Hai bạn chí thân giết được nhiều địch, nhưng hai người đều bị thương cả. Đặc biệt Olivier, máu chẩy nhiều, hoa cả mắt không nhận thấy gì nữa. Khi Roland lại gần để giúp bạn, Olivier tưởng nhầm là kẻ thù, bổ mấy nhát dao xuống, may không trúng đầu Roland. Anh này liền dịu dàng lên tiếng: “Tôi là Roland đấy mà. Sao anh đánh tôi?”. Olivier xin lỗi bạn: “Mắt tôi hoa, không nhận ra anh nữa”.
*
Khi châu Âu chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư sản, trong thế kỷ thứ XVI, Rabelais kể chuyện Badebec, vợ của Gargantua, vừa sinh con xong thì từ trần: “Cái thắc mắc làm cho Gargantua rối trí là hắn không biết nên khóc vì vợ vừa chết, hay nên cười vì con vừa sinh”.
*
Đến cuối thế kỷ thứ XVIII, khi Cách mạng 1789 sắp bùng nổ, Figaro, một nhân vật của Beaumarchais, sau khi kiểm điểm tình hình của một xã hội đã thủ tiêu hết mọi tự do, kêu lên: “Tôi vội vàng cười khì để tránh khỏi khóc oà”. Như thế không đúng. Phải khóc trên cái hiện thời để đón cái ngày mai. Dù sao, người trí thức là người vừa khóc, vừa cười. Khóc vì các sai lầm phải chứng kiến trong hiện tại, cười vì vui với cái mới đang đến. Khóc vì đau khổ. Cười vì hy vọng. Khóc hôm nay để cười ngày mai. Trên quá trình từ cái khóc đến cái cười diễn cuộc đấu tranh tư tưởng của người trí thức.
Người nào chỉ biết hoặc khóc thôi, hoặc cười thôi, không phải là người trí thức.
Ta ân cần với người trí thức ưa khóc. Ta phải chiếu cố, nâng đỡ người ta. Người ấy đau khổ vì các thắc mắc căn bản và sâu sắc. Người ấy thành khẩn. Người ấy không phải là thù, người ấy là bạn. Ta phải kiên trì, cố gắng đưa cái khóc của người ta biến thành cái cười.
Ta dè dặt, có khi ngần ngại, trước người trí thức ham cười. Ta hoan nghênh cái cười chân thật, xuất phát từ đáy lòng, nẩy nở trên các giọt lệ vừa khô. Nhưng ta khó chịu trước cái cười bình phong dùng để che đậy các thắc mắc bản thân mà mình không muốn thù với mình. Ta ghét cái cười dùng để mị trên, lừa dưới, câu các kẻ ngây thơ, biểu lộ một ý chí tôn sùng, hòng củng cố một địa vị, hay mưu cầu một bổng lộc. Quần chúng cần đề cao cảnh giác để khỏi mắc mưu cái cười ấy. Cấp lãnh đạo lại cần cảnh giác hơn nữa vì cái cười nịnh hót nuôi dưỡng bệnh chủ quan mà cấp lãnh đạo thường mắc.
Cái cười nguy hại này không nhất thiết biểu hiện bằng sự nhích môi. Nó có thể là linh hồn của một cử chỉ, nội dung của một thái độ. Có người cười bằng cái đầu nó gật, cái lưỡi nó tán thành, ủng hộ. Trong bao nhiêu “tả khuynh”, tôi nghe thấy vang tiếng cười ấy.
Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.
*
TIN vẫn hơn NGHI. Trong mười người ta tin, có thể có một kẻ thù lẻn vào. Nhưng ta vẫn còn chín người bạn. Và chín người bạn này sẽ giúp ta tìm ra kẻ thù ấy. Nếu ta nghi cả mười người, khi ta giơ tay, chẳng ai bắt tay ta. Ta không có một người bạn nào cả.
Đồng ý rằng phải phân chia rõ rệt địch, ta. Nhưng ta phải xác định thái độ của ta đối với địch. Địch mưu hại ta và thực sự gây cho ta nhiều tổn thiệt. Nhưng ta chớ nên buộc cho nó trách nhiệm về các tai hoạ căn nguyên ở sự dốt nát, sai lầm, chủ quan của ta. Theo danh từ khá phổ biến “như thế không lợi”. Không lợi vì ta đề cao địch, tỏ vẻ sợ địch. Không lợi nữa vì gán kết quả sai lầm của ta cho địch, ta không sửa chữa được gì, không rút được bài học kinh nghiệm. Từ trước tới nay, ta chỉ đặt vấn đề: ai là địch, ai là ta? Tôi đề nghị đặt thêm vấn đề: do địch làm, do ta phạm. Điểm trên đề cao cảnh giác và cho phép ta đề phòng, hoặc đối phó. Điểm dưới nêu cao tinh thần tự phê và giúp đỡ ta xây dựng.
Con thỏ sợ đến cả bóng của nó. Con sư tử bất chấp mọi thú vật. Ta không phải là sư tử và cũng không muốn là sư tử. Nhưng nhất định ta không phải là thỏ.
Kẻ thù số một của trí thức: bọn chụp mũ. Kẻ thù số một của cấp lãnh đạo: các cán bộ chuyên môn “cười”, và bọn vỗ ngực, và cả bọn chụp mũ nữa. Các cán bộ chuyên môn “cười”, dựa vào bọn vỗ ngực trong quần chúng, ru ngủ cấp lãnh đạo. Bọn chụp mũ nham hiểm hơn: họ gây thành kiến giữa lãnh đạo và quần chúng, họ vô tình hay hữu ý xuyên tạc các nguyện vọng chính đáng, các yêu cầu hợp tình, hợp lý, hợp pháp của quần chúng. Họ là Iago xúc xiểm Othello ghen vợ, ghét vợ, giết vợ. Bị bao vây chặt chẽ như vậy, tài nào cấp lãnh đạo hiểu biết được sự thật của quần chúng?
Có một số người thấy phong trào quần chúng đòi hỏi, ở Đảng lãnh đạo, một chính sách cho trí thức (với các tự do dân chủ và mối quan hệ tốt giữa chính trị và chuyên môn) đã tỏ thái độ “khó chịu” và phản ứng mạnh. Họ nhắm mắt, lắc đầu, chép miệng, thở dài. Không thực sự cầu thị, chưa điều tra nghiên cứu, chẳng tìm hiểu sự thật, họ chỉ biết mang đao to, búa lớn ra doạ nạt, họ là Don Quichotte cầm giáo tiến lên đâm cối xay, họ quên lý luận Cách mạng họ đã học tập. Họ là nàng công chúa quên thời kỳ gặp Thạch Sanh trong hang.
“Tích tịch tình tang…” Tiếng đàn của Thạch Sanh có nhắc lại được kỷ niệm cũ không? “Hỡi tuyệt thế giai nhân mà tôi yêu với mối tình vô hạn, nàng còn nhớ thuở đôi ta gặp nhau trong hang đá không? Đôi ta quyết sống chết có nhau, với nhau. Vì vậy ta thắng kẻ thù, ta sống. Bây giờ thời kỳ gian lao đã qua, nàng trở về dinh cơ huy hoàng, lên xe xuống ngựa. Nàng lỡ lòng nào quên tình duyên cũ?”.
Tôi muốn thân ái hỏi các bạn đang chép miệng thở dài: “Các bạn là những người Cách mạng. Thái độ của các bạn phản ứng, đối phó (tôi không nói đàn áp) trước một phong trào quần chúng đông đảo, đòi hỏi, trên lập trường Cách mạng, những quyền lợi chân chính, thái độ ấy, phân tích, truy nguyên nó, ta thấy gì? Tôi run sợ trước kết luận tôi phải tiến tới. Tôi ngừng bút. Tôi nhường lời cho tất cả người Cộng sản trên thế giới, trong đó có các đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có các bạn, để các người ấy nhận định về thái độ nói trên, định danh cho nó, gọi nó bằng tên Cách mạng của nó. Để tránh khỏi mang tiếng chụp mũ cho các bạn, tôi dành quyền phán định cho “giới có thẩm quyền”.
Tôi chỉ xin nhắc lại rằng trong lịch sử cách mạng Liên Xô và Trung Quốc, có khi giai đoạn kiến quốc tiến vào bước quyết liệt, chính thể cách mạng không thể nào lãnh nhãn được vấn đề trí thức. Cuộc đấu tranh của trí thức Việt Nam hiện thời xen vào khung khổ cách mạng, phối hợp với phong trào trí thức trên toàn thế giới. Coi nhẹ nó là một sai lầm. Giải quyết nó một cách hời hơt, nông cạn, với tinh thần của người nhớn cho kẹo trẻ con để nó khỏi khóc, là một sai lầm nghiêm trọng. Đối phó với nó, chống lại nó… tôi không tiếp tục vì tôi tin rằng không một chính thể cách mạng nào lại hành động như vậy. Bằng chứng là báo Nhân dân trong số 30-9-56 vừa đăng bài của đồng chí Lục Định Nhất đọc ngày 26-5-1956, với sự chậm trễ có 4 tháng thôi. Từ Bắc Kinh tới Hà Nội, đường dài hơn năm nghìn cây số, tốc độ của sự thật như thế là nhanh rồi. Còn báo cáo của đồng chí Chu Ân Lai in từ ngày 30-1-1956, tôi không nhớ đăng báo Nhân dân ngày nào. Dù sao, các bạn thấy rõ là, Đảng Lao động Việt Nam coi trọng vấn đề, như Trung Quốc từ đầu năm nay, như Liên Xô từ năm 1936. Đảng lại còn phát động tinh thần dân chủ trong quần chúng trong các giới, các cơ quan, và sở dĩ làm như vậy là để thắt chặt liên lạc với quần chúng, đi sát với sự thật của quần chúng, trưng cầu ý nguyện của quầnchúng để xây dựng chính sách, lãnh đạo có kết quả. Vậy tại sao các bạn lại chép miệng thở dài? lại xuyên tạc ý nghĩa trọng đại, lịch sử của một phong trào quần chúng, mà chính Đảng phát động? Thế các bạn đấu tranh cho ai, phục vụ cái gì? Chủ trương của Đảng phát huy dân chủ là một sáng kiến mà toàn dân hoan nghênh. Hạt đã gieo, bây giờ sắp đến lúc gặt hái. Cớ sao các bạn lại muốn truất quyền của Đảng gặt hái cái mùa màng mà Đảng đã gieo hạt?
Nhưng tôi hiểu các bạn. Các bạn là những người tốt. Chẳng qua các bạn chỉ nặng về một số thành kiến mà thôi. Tuy nhiên, các bạn thật sự cầu thị: các bạn cho phép tôi tin như vậy. Phải không, các bạn?
4-10-56
( In lần đầu trên Giai Phẩm mùa thu – tập III – Minh Đức xuất bản, tr 22-25. Ở đây tôi đưa lại theo bản của Văn hóa Nghệ An . 2011)
GIÁO ĐIỀU CUỒNG TÍN LÀ MỘT TỘI ÁC
Ngày đăng 25 tháng 8 năm 2017
Có những tội ác thuộc hệ thống, gần giống như là cố ý.
Thời nào cũng có những kẻ cuồng tín, và có lẽ họ lấy thế làm vinh dự.
Tôi thường cũng có sự quí chuộng, và đôi khi cả sự cảm phục thầm kín nữa, đối với những ai liều cả mạng sống mình, mà chẳng mong chút lợi lộc gì.
Phía chúng ta, thật sự chúng ta chẳng hãnh diện gì khi xét thấy chúng ta làm rất ít, hy sinh rất ít cho những điều mà chúng ta tin tưởng là đúng và thực.
Đã hẳn tôi có thể tìm thấy ở kẻ cuồng tín những đức tính hiềm có, đáng tôn trọng, và ít nhất cũng có một phần ý chí .
Nhưng hãy xét về mặt tư tưởng.
Thứ tư tưởng cứng nhắc, hạn hẹp, chỉ nhìn một khía cạnh, không chấp nhận tư tưởng của người khác, -- như thế không phải là tư tưởng.
Đó là thứ sáo ngữ lặp đi lặp lại; trong sáo ngữ đó cũng có điều thật, và đôi khi cả sáo ngữ đó là điều thật, nhưng không phải là tất cả sự thật.
Có cái gì máy móc trong một tư tưởng cuồng tín, vì bao giờ tư tưởng ấy cũng trở lại đường cũ. Nó không tìm tòi nữa, không phát minh nữa.
Chủ nghĩa giáo điều giống như một cơn mê sảng nói ba hoa. Nó thiếu cái mũi nhọn kim cương, là sự hoài nghi, để đào sâu bới kỹ.
Những tư tưởng cuồng tín ấy chế ngự một cách tài tình những lo sợ và những sở thích, nhưng chúng không tự chế ngự được chúng.
Chúng không giúp ta tìm cách nhìn từ nhiều khía cạnh, không phóng tầm mắt xa rộng trước địch thủ; chúng cũng không giúp ta có sự suy tư tự do để mở đường thuyết phục và đồng thời từ bỏ bạo động.
Tóm lại, có cái thói hiếu thắng trong tranh cãi, và có cái thói lười biếng suy tưởng giống như các thứ lười biếng khác.
Hóa cho nên những tội ác ngoạn mục kia lại có tính chất máy móc, và không chủ ý.
Nhưng không vì thế mà nó không phải tội ác.
trích HỌC KHÔN của Alain, Phạm Đình Khiêm dịch
Đầu đề đặt ở đầu bài là của VTN
Alain (1868 - 1951),là tác giả triết học, nhà giáo có nhiều học trò nổi tiếng như A. Maurois. Ở ta gần đây đã được giới thiệu trong cuốn "Alain bàn về hạnh phúc"
TRÍ THỨC TRƯỚC 1945 TRONG SỰ SO SÁNH VỚI GIỚI QUAN CHỨC
Ngày đăng 26 tháng 8 năm 2017
Hồi đầu cách mạng, có nhiều trí thức thực thụ tham gia bộ máy quyền lực, một số về sau bị vô hiệu hóa hoặc biến chất. Chỉ còn một số giữ được phẩm chất trí thức của mình. Tạ Quang Bửu (1910 – 1986) là một người như thế.
Năm 2010, tôi có đọc một bài báo tường thuật lễ kỷ niệm 100 năm sinh Tạ Quang Bửu. Khi ghi lại vào sổ tay, tôi đã quên cả tên báo và tên người phóng viên viết bài, song vẫn nhớ có những ý mà các đồng nghiệp của ông Bửu nói về ông. Toàn ý rất hay.
Theo nhà toán học Hoàng Xuân Sính, có năm đặc điểm chi phối quan chức thời nay:
- dục vọng kiếm chác
- căm ghét, thù hằn lẫn nhau
- dốt nát không hiểu biết
- thói kiêu ngạo
-- đố kị , không ai chịu ai.
Khi nhìn theo quan niệm của đạo Thiên Chúa, bà Sính còn bổ sung thêm hai tội lỗi nữa là sự tham lam và thói dâm ô.
Bà Sính nói, anh Bửu chưa bao giờ và không thể có những xúc cảm tiêu cực và tội lỗi như thế.
“Anh Bửu hay có cái cười hóm hỉnh, hay tự khôi hài về mình. Anh hay khoe về “nhan sắc” Tạ Quang Bửu. Kính thưa chị Hoàng Kim Oanh (vợ của cố GS TQ Bửu -PV tường thuật lễ kỷ niệm chú ), đối với em, anh Bửu là một người nam nhi rất đẹp, cái đẹp của một người trí thức và đẹp của một người quân tử.
Theo bà Sính, đóng góp lớn nhất của Tạ Quang Bửu cho nền giáo dục nước nhà là đưa khoa học Việt Nam từ chỗ rất sơ khai đến tiếp cận tinh thần hiện đại. “Ông luôn cập nhật khoa học hiện đại, không để thụt lùi.“
Đọc bài báo tường thuật buổi lễ nói trên, tôi nhớ ngay tới các nhà văn lứa đã nổi tiếng từ thờì tiền chiến, chẳng hạn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu...(Nguyễn Tuân cũng sinh 1910 như Tạ Quang Bửu và còn mất sau ông Bửu một năm.)
Vào dịp kỷ niệm 100 năm sinh của các đấng bậc này không có ai nói về họ hay như Hoàng Xuân Sính. Lý do theo tôi:
-- Hoặc là trong giới chúng tôi không có những nhân cách như thế.
-- Hoặc là những người đi sau không biết gọi ra những vẻ đẹp của bậc tiền bối như thế. Đúng hơn, họ không có quan niệm là một nhà văn lẽ ra phải là một nhà trí thức và nếu có tham gia quan trường – làm quan ngay trong nghề văn của mình – thì cũng phải tự bộc lộ như thế nào chỗ khác người của mình.
Cũng trong buổi lễ nhân ngày sinh Tạ Quang Bửu, nhà toán học Nguyễn Thúc Hào nói tới cái ý tôn trọng người khác của ông Bửu. Giao sư Hào dẫn lại một đoạn thơ của nhà viết kịch Anh Bernard Shaw:
Ý kiến của anh làm tôi nôn mửa
Nhưng nếu có ai giam cầm, tù đầy, xử tử anh
Thì tôi đấu tranh đến giọt máu cuối cùng của tôi để bảo vệ anh.
Ở VN thường người ta dễ dàng đồng lõa với nhau chiều nịnh nhau – dù chẳng đọc nhau “cho ra đọc” và hiểu nhau—nhưng nếu người đồng nghiệp của mình gặp nạn thì lập tức lảng tránh hoặc hùa theo trên trị người bị trên ghét. Tức nhiều phần ngược lại.
Cũng viết về phẩm chất của các trí thức lớp trước, trên blog của mình tôi còn mới đưa lại một bài viết của Nguyễn Mạnh Tường, trích trong cuốn hồi ký
"Kẻ bị mất phép thông công" của ông.
Nhà văn Phạm Thị Hoài đã đưa bài viết này trên trang Pro&contra bốn năm trước.
Tôi đã sao lại vì mong bài viết có thêm người đọc.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/08/nhung-cach-hieu-khac-nhau-ve-nhiem-vu.html
MỘT ĐOẠN GHI TRONG CHIẾN TRANH
Ngày đăng 29 tháng 8 năm 2017
Trong gần hai tháng từ nửa cuối tháng bảy tới nửa đầu tháng chín 1972, tôi cùng với nhà thơ Văn Thảo Nguyên , nhạc sĩ Doãn Nho có cuộc hành quân bộ từ Vĩnh Linh ra Hà Nội. Tôi đã đưa trên blog của mình những ghi chép trong những ngày này một lần từ 2012 và nay xin đưa lại ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/08/tu-vinh-linh-toi-ha-noi-3-tiep-tuc-nhat.html
Dưới đây là một đoạn ngắn
***
Khó chịu đến khổ sở, vì chờ đợi một chuyến xe cụ thể ở đây, nhưng hơn thế, vì chờ đợi một cuộc sống bình thản, khẩn trương vốn xa đã lâu. Căng thẳng quá - hậu phương của chúng ta có một sự im lặng căng thẳng quá. Mọi người bình tĩnh đến phát sợ lên được. Ăn uống, nghỉ ngơi, lại còn đi chơi đi bời, lại còn những người phụ nữ nhìn đàn ông hau háu nữa.
Ở cái đất Nghệ An này, quá nhiều người tỏ ra hiểu biết, quá nhiều người nói những việc quan trọng - trong khi đó làng nhỏ hẹp, nhà nhiều ruồi, mùi phân trâu xông lên nồng nặc. Và ngoài kia, trời mưa, nước sông Lam to như chưa bao giờ to như vậy, nước đã vào ngập các nhà ở ngoài đê. Cảnh chạy lụt của Hà Nội, tôi gặp lại đây, và chợt sợ hãi cái thứ trời nước mà tôi rất thích, bây giờ đang bao vây tôi.
Mưa nghe còn lâu. Tiếng loa đầu ngõ gọi chống lụt. Người ta kể năm 54, nước trôi cả nhà, nhiều dân công đi Lào về còn bị chết. Giờ đây cũng vậy, chung quanh điếm trên đê đông đến nghìn người nhưng làm sao có thể ngăn được nước.
Đêm qua, pháo địch bắn rền, tôi cứ tưởng là bom, sao bom nhiều vậy. Lại là lúc có thể bỏ hết mọi việc để lo sinh mạng con người. Những người của chúng ta, sống bùng nhùng với nhau, lừa lọc nhau, yêu thương nhau, và cùng chịu bom với nhau.
Làng chúng tôi đóng quân đang có đợt gọi đi nghĩa vụ. Nhiều đứa trẻ 14-15 đòi đi, trong khi những cậu 22-23 xin miễn. Trời đất gì, đi lính là một lối thoát?
Tôi đã chán ngán đến nỗi đọc lại những cái mình viết mà chán, và đọc bất cứ cái gì cũng chán. Đầy cả ruột, điên cả ruột. Những buổi sáng, đi uống cà phê và uống chè, về ngà ngà say, nôn nao, muốn nói càn, muốn hoài nghi, muốn gây sự, muốn nói thật nhiều, muốn rất yêu thương mọi người bằng cách chửi bới mọi người một hồi mà không được. Cựa quậy làm gì nhỉ, vô ích.
Dù ở vị trí nào chúng ta cũng bị cuộc chiến tranh này bòn rút hết sức lực hết tình yêu, hết cuộc sống. Bom đạn không chạm đến người, nhưng nó làm cho người ta sống thấp đi. Bao giờ cho chúng ta có thể bình tĩnh sống cho ra người? Quả thật, bây giờ mà bàn chuyện lấy vợ lấy chồng thì cũng quá lắm đấy. Chỉ có nhập nhằng với nhau, đú đởn với nhau một tí thì có.
Nguyên: Sau chiến tranh, sẽ chém giết nhau.
Nhàn: Thà thế đi, nhưng mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng. Bây giờ cứ lộn nhoèo một đống thế này, cay đắng không chịu được. Còn như phải tỉnh táo, đó là điều cần nhất.
TRONG CHIẾN TRANH HIỂU THÊM VỀ CÁCH MẠNG
Ngày đăng 30 tháng 8 năm 2017
Trích nhật ký 19/8/ 1972
Hẳn các bạn đọc thân mến
sẽ lượng thứ cho tôi khi nhớ rằng các ý tưởng và chữ nghĩa ở đây
được viết từ 45 năm trước
và tôi không thể sửa chữa như cách tôi nghĩ hôm nay
*****
Tôi luôn luôn nghĩ về những yếu tố chi phối cuộc chiến tranh này.
Có vấn đề dân tộc. Người ta sẽ không hiểu gì cả nếu như người ta không hiểu trình độ kinh tế, đặc điểm tâm lý của người Việt Nam. Cũng giống như cần phải hiểu cái gọi là đặc điểm của người lao động Nhật, cái lý do tại sao ở Nhật, lại có nhưng cái máy tuyệt vời như vậy.
Nhưng vẫn có những yếu tố thuộc về chế độ. Chắc chắn rằng những ngày vừa qua, không có cách nào khác để huy động người vào chiến tranh, nếu không phải chế độ chúng ta đang sống .
Nó là một thực thể cần thiết, hình như là chỉ nó mới hợp cho một giai đoạn nào đó, một lớp người nào đó, một mục đích nào đó.
Một lần tôi đã buột miệng nói với ai đó rằng không cần báo chí cũng được, không cần dân chủ cũng được -- nhưng vấn đề là không thể kéo dài mãi cái lối làm ăn năng suất thấp, và nhiều người chỉ sống cầm chừng sống ỷ lại như thế này. Nhất là những người lao động trí óc thì họ đang như anh sống bên lề, anh chầu rìa, không được lao động hết mình.
Nhưng có thể đặt vấn đề như thế không?
Có cần phải lựa chọn giữa dân chủ và độc lập tự do, giữa dân chủ và phồn thịnh kinh tế, giữa văn hoá, tự do cá nhân, và số mệnh chung của cộng đồng.
Giữa hai cái đó cần phải lựa chọn lấy một, chỉ một thôi?
Hay thực ra là hai cái đó liên quan đến nhau, yếu tố này thống nhất với yếu tố kia. Và người ta sẽ hoặc được cả hai, dựa vào cái nọ đồng thời đạt được cái kia, hoặc hỏng thì hỏng cả hai, chứ không phải là cần chọn lựa.
CÁCH MẠNG HÔM QUA
KHÔNG PHẢI LÀ CÁCH MẠNG HÔM NAY
19/8 – Cách mạng. Cái tiếng được nhắc nhiều nhất trong những ngày này, cái tiếng quả thật là tốt đẹp.
Nhưng không thiếu trường hợp cái gọi là vậy lại không phải vậy. Nghĩa đã thay mà chữ vẫn cũ.
Vĩ đại...Hình như cái từ này ngày càng thấy ít dùng trong báo chí phương Tây, trong khi nó còn dùng quá nhiều ở châu Á.
(... )
19/8 năm nay, người ta vẫn làm như thông lệ lấy lại trong lòng người cái tinh thần cách mạng 27 năm về trước, xem hôm nay là một sự kế tục của những ngày hôm quá, trong phần đơn giản nhất của nó.
Ông Thanh Tịnh ở nhà hay nói, cái chế độ Mỹ - Thiệu ở miền Nam hiện nay không sao bền vững được bằng chế độ phong kiến. Vậy mà Bảo Đại, vậy mà cả bọn phong kiến cũng bị lật đổ...
Tôi biết mình không có cái may mắn sống những giờ phút cách mạng ở những hình thái nguyên vẹn và trong sáng của nó.
Tôi hiểu bây giờ, và mãi mãi về sau, cuộc sống là một thứ cách mạng thường trực.
Nhưng sao người ta cứ ấn vào đầu chúng tôi rằng cách mạng hôm nay giống như cách mạng hôm qua, những bài học cũ cứ lặp lại nguyên xi là cái gì cũng làm được.
Chính cách mạng đã tự khác đi, từ 1968 đến 1972 bây giờ. Điều chắc chắn hơn là một số việc chưa làm được, chứng tỏ nhiều phương sách cũ là không còn thích ứng nữa. Lịch sử hay được viện dẫn, nhưng nên biết lịch sử không bao giờ lặp lại, người ta không học được gì ở lịch sử.
Còn như phải làm như thế nào, thì chính chúng ta phải tìm. Người làm ra lịch sử không chắc là người đã biết rõ “nó”.
Làm sao nhỉ, làm sao để trong những ngày tới, tìm lại được cái hăng hái sục sôi của cách mạng, cái không khí thực sự, cái cách mạng đúng như thế, chứ không phải bất cứ một sự đắp điếm đồng bóng nào.
Hay là thời đại hôm nay sẽ không bao giờ chấp nhận những sự sôi nổi như vậy. Cái thời đại của trí tuệ lạnh lùng này, người ta làm việc, làm nên lịch sử, tạo những bước ngoặt theo những kiểu khác, và sự sôi nổi hôm qua chỉ còn đồng nghĩa với những ấu trĩ.
... Cái cần nhất lúc này là nắm được xu thế của thời đại, khi đó, với người viết là người ta sẽ có những trang viết chân chính. Văn chương cách mạng 27 năm trước là phù hợp với trình độ trí thức lúc ấy. Những bài ca cách mạng là những sáng tác theo quan niệm cổ truyền.
Thời đại mới, đòi hỏi thứ văn nghệ mới. Nhưng nó là thế nào, không ai biết. Đã làm thử nhưng có lẽ chưa phải là nó.
... Và một hệ luận cuối cùng. Phải trước kia, chúng ta khỏe, cho nên chúng ta có thể đủ sức cho nói một cách thoải mái, tuyên truyền một cách thoải mái còn như bây giờ, trói nhau chặt chẽ, vì cái thế của ta yếu hơn. Xem như việc viết về cách mạng thì rõ. Được mùa cách mạng mất mùa văn chương và ngược lại.
Trích ở bài " Từ Vĩnh Linh ra Hà Nội (1)
đưa trên blog này ngày 24-8-2017
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/08/tu-vinh-linh-ra-ha-noi-thang-8-1972-1.html
DẠY CON Ở TUỔI ĐANG HỌC TIỂU HỌC
Ngày đăng 1 tháng 9 năm 2017
Bạn trẻ H. đang nuôi con học tiểu học vừa viết trên FB của mình rằng bạn ấy có quan niệm khác về dạy con khác hẳn nhiều người đương thời .
Nhiều người đặt nặng câu chuyện con học giỏi. H. chỉ chỉ chú ý dạy con sống tốt với mọi người, sống can đảm và tử tế. Nói cho rõ ràng hơn. Ví dụ con H khoe được điểm mười, H vẫn thản nhiên. Nhưng khi cháu khoe giúp một bạn nhỏ khác việc gì đó thì H chạy lại ôm chầm lấy con và nói mãi với con về chuyện đó, rồi tự thân đi khoe và bảo con đi khoe với mọi người.
H lý luận “tôi chỉ có 24h, và năng lượng chỉ có hạn, tôi chỉ tập trung vào những gì nhà trường không dạy. Tôi đã nhìn thấy cái nhà trường không dạy là tính cách và giá trị sống! Các lớp kỹ năng sống cũng chưa đủ. Kỹ năng mới chỉ là "HOW", còn phải dạy con "WHAT" và "WHY" nữa.
Chỉ có bằng cấp là ko đủ. Tất cả các giám đốc nhân sự tôi đã gặp đều khẳng định tính cách của ứng cử viên mới là điều quyết định.”
Kinh nghiệm của tôi, một người đã 75 tuổi hơi khác một chút.
Tôi học tiểu học ở Hà Nội trước 1954, nhưng học phổ thông cơ sở (hồi đó gọi là cấp 2) ở trường "của ta", trường học theo chương trình giáo dục ở Việt Bắc mới được mang về.
Một trong những chỗ khác nhau giữa hai loại trường đó như sau.
Trường vùng tạm chiếm chú ý tới học sinh một cách tự nhiên, cần cả ngoan và giỏi.
Dạy đạo đức theo cách thày giáo làm gương.
Và dạy chuyên môn thật chặt chẽ. Học sinh giỏi thì khuyến khích, học kém thì chê trách và nếu ai không học được sẵn sàng cho lưu ban và nếu không được thì đuổi học.
Thú vị nhất là với đám chăm học và thông minh
Học càng giỏi càng tốt với nghĩa khuyến khích học sinh học thêm ở nhà học, thậm chí học theo những sách vở không phải chỉ dạy ở lớp cũng được, nhà trường không tự cho mình là chân trời của đám trẻ mới lớn.
Còn đây là trường “của ta”. Cái quan niệm làm hỏng bao thế hệ học sinh hiện nay đã có mầm từ đó, tuy có đôi chỗ khác đi, nhưng vẫn tinh thần cũ. Tức là:
+ đặc biệt chú ý tới tình trạng đồng đều, cái chính là trình độ cả lớp chứ không phải trình độ của một vài cá nhân.
+ không khuyến khích đám chuyên sâu học giỏi, ngăn cả các bạn đó học rộng ra ngoài; buộc các học sinh học giỏi phải bớt thời gian kèm thêm các bạn học kém, coi đó là quan trọng hơn. Vào thời điểm cuối năm cần tổng kết phong trào chung, các bạn học kém này còn được dễ dàng nâng điểm, cốt sao cả lớp đạt mức khá là cả lớp có thành tích.
Phải thú thực là hồi đó cánh học giỏi chúng tôi bực lắm. Bực vì không được học thêm theo ý mình, mà lại phải chịu trách nhiệm về mấy bạn khác, dù hàng ngày bạn ấy rất lười, lúc đầu chỉ dốt sau sinh lười.
Khi hiểu không cần tự lo cũng được mà đã có người khác lo cho mình, họ càng lười thêm, toàn lo chơi bời tán dóc, mặc kệ mọi chuyện.
Xu hướng này còn kéo dài ở nhiều lớp trên và khi ra làm việc kéo dài ở nhiều cơ quan công sở.
Tôi chỉ được an ủi khi một lần, lâu rồi, cùng với các bạn tạm gọi là học giỏi lúc nhỏ đó nhận ra rằng:
* muốn học giỏi, người ta không chỉ dựa vào năng khiếu, mà phải chăm chỉ, trong lớp lắng nghe thầy giảng không làm việc riêng không nói chuyện.
* một cách khái quát người học giỏi là người có đạo đức và sẽ suy nghĩ để tìm ra cách sống tốt hợp lý
Nói cách khác con người trở thành người nhất khi đi sâu vào kiến thức chuyên môn của họ.
Trong quá trình nghiên cứu về người Việt tôi nhận thấy con người nghề nghiệp ở dân mình rất kém, đó cũng là lý do nảy sinh ra nhiều thói hư tật xấu.
Cần bàn kỹ hơn nhưng đại khái là thế. Tôi mong bạn H. và các bạn có lối dạy con tương tự nên thử nghĩ lại xem .
Về chuyện dạy con, nhất là bắt đầu dạy như thế nào với đám mẫu giáo và tiểu học, tôi còn có một số kinh nghiệm riêng, sẽ xin trình bày vào dịp khác.
NGOÀI TRỜI LẠI CÓ TRỜI
Ngày đăng 4 tháng 9 năm 2017
Năm ấy, đứa cháu nội tôi học ở một trường tiểu học nổi tiếng bên quận một Sài gòn. Kiểm tra sách vở cháu tôi thấy được nhiều điểm 10, nhưng vẫn có cái gì khiến tôi không thỏa mãn. Tôi nghĩ ra một cách.
--Bây giờ hai ông cháu mình hãy thử tìm xem trong bài còn lỗi nào mà cô để sót không nào
Không khó khăn gì, tự đứa cháu tôi cũng tìm ngay được mấy lỗi mà khi chấm bài vội vàng, cô bỏ qua. Tôi cười, sau khi không quên dặn cháu là đừng có đến lớp mà khoe đấy nhé, cô trù thì chỉ có chết.
Không hàm hồ một chút nào cả, có thể nói trong toàn bộ nền giáo dục của chúng ta hôm nay đang có hiện tượng mà có lần tôi dùng cụm từ "coi mình là chân trời của trẻ" và do đó hạn chế tầm mắt của trẻ. Chúng ta luôn luôn luôn vội vàng. Để có thành tích , chúng ta hạ thấp tiêu chuẩn. Và chúng ta tạo cho cả thày và trò, cả nhà trường lẫn gia đình một niềm tin giả tạo, tin rằng xã hội Việt Nam hôm nay đang có một nền giáo dục rất tuyệt , chỉ cốt gia đình nhà trường thúc đẩy học sinh chăm chỉ là được.
Tôi cho là phải tạo cho lớp trẻ một tâm lý không bằng lòng với những gì mà nhà trường truyền đạt cho các em, cũng không bằng lòng với những cách đánh giá mang nặng chất chiều nịnh hiện nay.
“Con vừa phải giỏi như nhà trường yêu cầu, vừa phải giỏi thực”. Tôi đã nói với con trai tôi khi cậu ta còn nhỏ và nay lại nói với các cháu nội như vậy.
Những người có đọc chưởng Kim Dung hẳn biết ở đó những người được coi là thành đạt đều trải qua nhiều trường học khác nhau, chứ không dừng lại ở vị thày nào, một môn phái nào hết để sung sướng với cái tiếng “trung thành” hão huyền. Cái gì cũng phải học. Luôn luôn quan niệm rằng ngoài trời lại có trời. Không phải ai cũng làm được, nhưng mỗi người phải biết cái “thiên ngoại thiên” đó để mà đau đớn dằn vặt và cố nhích được gần nó bao nhiêu hay bấy nhiêu.
BIẾT RẰNG HY VỌNG MỊT MÙ NHƯNG CŨNG KHÔNG THỂ TUYỆT VỌNG !
Ngày đăng 6 tháng 9 năm 2017
Vụ Nhân văn giai phẩm có gieo vạ một chút cho việc giới thiệu văn học nước ngoài ở Hà Nội những năm 1959-60. Chekhov là một, Lỗ Tấn là hai, đấy chỉ là ví dụ rõ nhất. Hãy nói riêng về trường hợp thứ hai. May mà tới 1963, nhà văn Trương Chính còn kịp làm được một bộ “Tạp văn Lỗ Tấn” tuyển tập. Cái quý của bộ này là đưa vào hầu hết các bài chính trong khoảng gần hai chục tập tập tạp văn của tác giả, kể cả những bài không có tính chiến đấu mà lại có tính nhân bản ( trong những lần tái bản gần đây các bản dịch này thường bị loại bỏ). Trong cuốn II của bộ sách này, in ra ở nxb Văn học 1963, tôi thấy có bài bàn về hy vọng rồi đưa lại mấy câu thơ của nhà thơ Hungari Sandor Petofi có cái mùi vị khác hẳn những lời bàn về hy vọng mà hồi trẻ chúng tôi được dạy dỗ
“Hy vọng là cái gì?
là GÁI ĐĨ
Nó mê hoặc mọi người và hiến dâng cho tất cả
Đến khi anh đã dâng hiến cho nó
cái vật quý giá nhất của anh
Là tuổi thanh xuân
THÌ NÓ BỎ RƠI ANH”
Nhà văn Trung quốc số một của thời hiện đại dẫn bài này để minh họa cho cái tâm tình tuổi già nơi ông, khi một mình vật lộn với cái đêm tối trong hư không và không lấy hy vọng làm hậu thuẫn cho những phấn đấu trong mỏi mệt nữa.
Chưa bao giờ tôi thấy chia sẻ với các ý tưởng của Petofi và Lỗ Tấn như thời gian này. Như là ngày hôm qua 5-9-2017 . Một tờ báo viết “nhân ngày khai trường, ai cũng kỳ vọng...” và chắc nhiều báo khác cũng viết thế, nhiều người khác cũng nghĩ thế. Mấy ông già chúng tôi không có các cháu nhỏ mới đến trường, nhưng xét hoạt động của ngành giáo dục mấy năm nay, thường chẳng hy vọng gì cả, chỉ dự đoán xem nó sẽ dở đi đến đâu thôi. Thế chúng ta không muốn hy vọng ở tương lai mấy năm tới ư. Muốn lắm. Nhưng đâu có dễ ! Dạo này có mốt một số cơ quan nhà nước đưa ra các dự án. Toàn dự án cho mươi năm tới, sẽ mở đường giao thông ra sao, sẽ hạn chế tai nạn đến đâu sẽ có hệ thống y tế đảm bảo những gì, sẽ phổ cập những hoạt động gì. Những người có trí nhớ một chút nghe chỉ biết cười. Có bao giờ các vị ấy nhắc lại rằng mươi năm trước cũng về từng vấn đề tương tự các vị ấy đã đề ra cái trình độ đạt tới của 2015- 17, tình hình ra sao và nay thì nó đến đâu. Giáo dục lại càng như vậy, bảo dân được cho ăn bánh vẽ khí quá lời, nhưng những cái gọi là cải cách chẳng qua chỉ là gãi ghẻ. Nhân ngày khai trường các báo còn đăng một đoàn cán bộ giáo dục ta vừa sang Phần Lan , với mục đich học theo mô hình giáo dục Bắc Âu. Tự cho phép ngoa ngoắt một chút, tôi nhớ đến cách nói “con lạc đà chui qua lỗ chôn kim còn dễ hơn việc này việc nọ". Trước dự định học theo giáo dục Phần Lan, tôi kinh sợ mà thú nhận rằng đây dám là cái ví dụ thêm vào cho sự đúng đắn của câu thành ngữ trteen lắm lắm.
Nhưng rồi tuổi già hay lạc quan giả tạo, tuổi già hay thỏa hiệp, tuổi già chỉ muốn hòa hõa với tình hình, không bao giờ nên sợ không có người chia sẻ. Lỗ Tấn nhân bản ở chỗ sau khi nói một đằng, ông cũng biết luôn là người ta thường có thể nói ngược lại. Thứ nhất anh bảo không nên hy vọng ư, liệu anh có thể sống cả đời mà không hy vọng chăng? Thứ nữa, không hy vọng chắc là tuyệt vọng chứ gì. Nhưng người ta khi đã tuyệt vọng rồi thì cũng mất hết khả năng sống, trong đó có khả năng xét đoán mọi chuyện . Bởi vậy, lần này, tiếp đến đoạn hy vong là một thứ gái đĩ, thơ Lỗ Tấn lại dẫn tiếp một nhận xét khác của Pétofi:“Tuyệt vọng cũng giống như hy vọng đều hư ảo huyền hoặc”. Ý ngầm ở đây là lời khuyên: giữa hai cái cùng là vớ vẩn ấy, chọn hy vọng vẫn là hơn. Tôi tìm thấy ở câu này một sự cứu tinh. Và tôi tìm ra cách hy vọng ( = nhất định không tuyệt vọng) của mình. Trong khi những người khác đưa ra những biện pháp để cứu vãn tình hình, tôi biểu thị sự hy vọng của mình bằng cách không chơi trò mách nước đó, mà trong chừng mực có thể, với sức lực có hạn, đi ngược về những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự suy sụp của giáo dục hiện nay. Ồ, theo hướng này thì nhiều việc cần làm lắm, đến chết cũng không hết việc, nếu tuyệt vọng thì lấy sức đâu mà làm, đành phải hy vọng vậy.
MỜI ĐẾN DỰ BUỔI TRAO ĐỔI VỀ XUẤT BẢN
Ngày đăng 7 tháng 9 năm 2017
Theo đề nghị của Quán sách mùa thu sang chủ nhật tới tôi sẽ có buổi trao đổi một số suy nghĩ về công tác xuất bản, thực chất là trình bày mấy kinh nghiệm nhỏ và ghi nhận một ít điều tôi đã học hỏi được sau gần ba mươi năm làm việc trong cái khâu nghề nghiệp có tính chất bếp núc này .
Mời các bạn có nhu cầu tới dự.
Sau đây là Thông báo của đơn vị tổ chức
Sáng 10.9.2017, tại sân khấu chính của Đường sách TP HCM sẽ diễn ra buổi tọa đàm “Ngành xuất bản Việt Nam hiện nay – Thực trạng và triển vọng”
diễn giả là nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn.
Từng là một biên tập viên kỳ cựu, gần ba chục năm sống với nghề xuất bản, ông Nhàn sẽ có rất nhiều điều muốn chia sẻ trong buổi tọa đàm này.
Trong chừng mực có thể, ông sẽ cung cấp một số thông tin về lịch sử xuất bản ở Việt Nam thời phong kiến và thời Pháp thuộc, có lưu ý một phần tới những ảnh hưởng của một số ngành xuất bản các nước có quan hệ đến đời sống xuất bản Việt Nam trong các thời kỳ đó.
Trong khi mô tả thực tế của ngành xuất bản Việt nam từ sau 1945 tới nay -- bao gồm cả xuất bản ở miền Nam 1954-75 - , diễn giả cũng sẽ sơ bộ liên hệ với sự phát triển xuất bản của một số quốc gia khác mà ông được biết.
Theo ông, những nỗ lực của các nhà làm sách trong việc mang trở lại những giá trị văn hóa tinh hoa từ thế hệ trước cho người đọc hôm nay hay chuyển ngữ nhiều sách ngoại văn ra tiếng Việt là đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định mà chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận sẽ tạo thêm động lực và cơ sở để các đơn vị xuất bản, giới chuyên môn có cách làm hay hơn, tốt hơn nữa.
Có nhiều việc mà chúng ta cần làm ngay, ví dụ như việc nghiên cứu lịch sử xuất bản và tìm hiểu khả năng đóng góp của xuất bản với đời sống văn hóa ở các nước đang phát triển.
Một việc cũng rất cần kíp là tạo nên một mạng thông tin hiệu quả về xuất bản, từ đó tạo nền tảng cho việc phát triển ngành một cách cơ bản, trước mắt góp phần mang lại nhiều lợi ích tốt đẹp cho bạn đọc thông qua các ấn phẩm có giá trị.
Mong các bạn có quan tâm đến xuất bản Việt Nam, muốn lắng nghe, muốn trao đổi và thảo luận về sự phát triển của ngành, vui lòng đến dự buổi tọa đàm này. Bạn cũng có thể gửi câu hỏi cho Ban Tổ Chức qua phần comment phía dưới, chúng tôi sẽ chuyển tới diễn giả và trả lời bạn trong buổi tọa đàm sắp tới.
CA TỤNG XUẤT BẢN -- MẤY PHÚT “ĐÔNG KÍSỐT”
Ngày đăng 11 tháng 9 năm 2017
Trong buổi nói chuyện ở đường sách Nguyễn Văn Bình sáng 10-9, khi ngồi chờ đợi bên cánh gà nhìn về cử tọa, tôi thấy cần tự đặt ra câu hỏi tại sao mình muốn thính giả cùng quan tâm tới các hoạt đông không mấy vui vẻ này, tức là lý do chính đáng cho buổi nói chuyện của mình. Và tôi nảy ra mấy ý ấm đầu sau:
-- ngành xuất bản chính là cái tủ kính trưng bày thành tựu tri thức của một cộng đồng, khả năng của cộng đồng đó trong việc sử dụng những tri thức thế giới để nhận thức chính mình hình dung ra tương lai của chính mình và từ đó tạo ra khả năng đích thực trong việc hòa nhập vào sự phát triển trên toàn thế giới.
-- Thời nay người ta không chỉ làm xong mới nghĩ mà có đủ tiền đề để nghĩ trước những việc sẽ làm. Nghĩ đúng vẫn có thể làm sai, nhưng sẽ điều chỉnh được. Chứ từ chối sự suy nghĩ, không chấp nhận sự đa dạng mở ra trong suy nghĩ – hoặc là chỉ nghĩ bằng những ý niệm chung chung, cổ lỗ, như xã hội ta hôm nay – thì cái khả năng tự tạo ra những thảm họa cho mình là đương nhiên không tránh khỏi
-- Tất nhiên việc viết ra những cuốn sách có giá trị là việc của bộ phận trí thức, các chuyên gia cao cấp trong giới khoa học xã hội. Nhưng thành tựu làm việc của họ không thể biểu hiện nơi nào khác ngoài việc cho nó có hình hài những cuốn sách. Và đó là vinh dự của những người làm việc trong ngành xuất bản. Trong những trường hợp khá nhất chúng tôi là những người đồng hành và trong một số trường hợp hiếm hoi nào đó, là những người kiến tạo -- chữ kiến tạo đang dùng phổ biến trong các bài viết về bóng đá.
-- Một ý nghĩ chưa chắc đã được các giáo sư tiến sĩ đồng tình, nhưng tôi lại bị ám và cứ phải nói ra ở đây: Không có một thứ học hàm học vị nào có ý nghĩa và có thực chất giá trị bằng những cuốn sách. Cố nhiên đây tôi nói những cuốn sách với chuẩn mực khoa học cao nhất được chấp nhận trên thế giới, chứ không phải sách nắm sách mớ, sách ở cái dạng thứ cấp mà các giáo sư ngày nay, người thì táo bón, người thì té re té tỏng.
Những năm trước, chúng tôi thường mới dừng lại ở tiêu chuẩn lịch sử. Một cuốn sách hay không chỉ được người đương thời đọc mà còn có khả năng gia nhập vào tương lai, tức được các thế hệ các thế hệ về sau tiếp tục đọc.
Lúc này đây tôi muốn nói tới cái chuẩn chung của thế giới. Trong thời đại giao lưu rộng rãi như hiện nay, các cộng đồng có khả năng hiểu nhau rất nhanh, không có sự sáng tạo tốt đẹp nào ở một quốc gia mà lại xa lạ với con người ở các cộng đồng khác.
Tôi đã gọi những ý nghĩ trên là một phút Đông Ki sốt . Tôi chưa dám tin trong mươi năm nữa có hàng loạt những cuốn sách tiếng Việt viết bởi các nhà văn nhà nghiên cứu trong nước lại được mang ra các hội chợ quốc tế bày bán. Nhưng chúng ta phải hướng tới cái ngày đó. Chúng ta phải làm việc theo hướng đó. Để chuẩn bị, giới xuất bản phải được chuẩn hóa theo những tiêu chuẩn quốc tế. Tôi không biết cần chuẩn bị thế nào, nhưng các bạn trẻ hơn tôi thì nên nghĩ tới và nên tự cho là phải biết.
Nếu những điều vừa nói còn là viển vông thì chốt lại tôi mong một điều, các bạn xa gần hãy quan tâm tới ngành xuất bản và cùng lo cho việc làm ra những cuốn sách có giá trị.
Nói cho to tát ra đó là khi nhìn vào cái tủ kính này bạn sẽ hiểu tương lai của đất nước, tương lai với nghĩa năm mười năm nữa chứ không phải cái tương lai xa vời nào.
Nói hẹp hơn, bạn đang chuẩn bị cho tương lai của con cái bạn..
THỬ ĐỊNH NGHĨA VỀ NGƯỜI VIẾT VĂN
Ngày đăng 14 tháng 9 năm 2017
Tadeusz Rozewicz là nhà thơ Ba Lan sinh 1921 qua đời 2014. Có một bài thơ của ông tìm cách cắt nghĩa về người viết văn gợi cho tôi nhiều liên tưởng.
Nhà thơ là ai
Nhà thơ là người làm thơ
và là kẻ chẳng làm thơ bao giờ
nhà thơ là người chẳng ưa ràng buộc
và là kẻ tự buộc dây vào mình
nhà thơ là người cả tin
và là kẻ chẳng chịu tin bao giờ
nhà thơ là người lừa dối
và là kẻ bị dối lừa
nhà thơ là người gục ngã
và là kẻ tự mình đứng dậy
nhà thơ là kẻ ra đi
và là kẻ một li chẳng rời.
Lê Bá Thự dịch
Ở cuối bài thơ có chua rõ thời điểm sáng tác 18-8-2011.
Nghĩa là nó được viết vào dịp tác giả chín mươi tuổi.
Tôi đọc và nghĩ đến trường hợp nhà văn Tô Hoài. Ông mất sau một cuộc đời 94 năm hết sức nhiều vẻ .
Để miêu tả ông, tôi muốn mượn ý tứ trong bài thơ trên của Tadeusz Rozewwicz để “làm" ra một bài thơ cảm đề hoặc đơn giản là một bản phỏng dịch tùy tiện:
Ông chẳng ưa ràng buộc,
nhưng lại là kẻ tự buộc dây vào mình
Ông vốn dễ dãi và có lúc cả tin
nhưng chẳng chịu tin cái gì đến cùng
Ông tham gia vào sự lừa dối
nhưng lại lặng lẽ bóc trần sự lừa dối
Bao phen ông gục ngã,
nhưng cuối cùng ông vẫn là người đứng thẳng
Mời các bạn đọc đầy đủ bài viết "Một nhà văn trong cách mạng" ở đường link
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/09/mot-nha-van-trong-cach-mang.html
KHAO KHÁT SỰ ỔN ĐỊNH hay là NHỮNG SUY NGHĨ BÊN GA DU LỊCH ĐÀ LẠT
Ngày đăng 14 tháng 9 năm 2017
Hè 1964, tôi học xong lớp văn ba đại học sư phạm, chuẩn bị vào nghề. Bố tôi chỉ dặn không ai người ta cho con về dạy ở Hà Nội đâu, con cố xin về một tỉnh ở trung du hay đồng bằng. Xa thủ đô mấy cũng được, nhưng cốt là có đường xe lửa, có đường xe lửa thì cũng như đầu ngõ nhà mình rồi.
Đốí với những người sinh đầu thế kỷ XX như bố tôi, đường sắt nghĩa là sự ổn định, hay nói như chữ nghĩa ngày nay là “bước vững chắc trên con đường hiện đại hóa “, chỉ có điều xã hội lúc đó do người Pháp dắt dẫn.
Cuối tháng sáu 1964, tôi cùng với những Phạm Tiến Duật, Tô Hoàng, Nguyễn Chi Phan, Đặng Trần Trọng...nhận được lệnh nhập ngũ do chính chủ tịch ủy ban hành chính TP Hà Nội Trần Duy Hưng ký.
Ngày 5-8- chúng tôi ngồi xe tải lên Tây bắc cũng là ngày bắt đầu chiến tranh sau gần mười năm tạm nghỉ.
Giấc mộng được sống trong một đời sống hòa bình thịnh trị mà tôi cảm thấy rõ trong đời sống văn học Hà Nôi 1960- 64 thế là chấm dứt.
Tới 1967, khi tôi chuyển về VNQĐ thì cũng là lúc tuyến đường sắt dài nhất lúc ấy, chuyến Hà Nội Vinh đã hoàn toàn tê liệt.
Các chuyến tàu khác như Hà Nội Lào Cai, Hà Nội Đồng Đăng cò cưa đi lại chẳng theo giờ giấc nào cả.
Trong một bài phiếm luận viết về những thói hư tật xấu do chiến tranh để lại, tôi đã kể có những chuyến tàu đương đi thì dừng lại, lái tầu thấy có bàn bán thịt theo phiếu liền tạm đỗ xuống xếp hàng mua nốt mấy phiếu cho gia đình.
Thật là “phản đường sắt”, vì lẽ ra đường săt phải là đi lại theo đúng lịch trình có sẵn theo thời gian quy định.
Dẫu sao, nói tới đường sắt những năm chiến tranh vẫn là thành tích , nhất là phần vận tải hàng hóa.
Giọng ca Bích Liên có bài “Về đây với đường tàu” đầy hào hứng đến nay tôi vẫn thích nghe lại.
Sau 1975, việc khôi phục đường sắt và nỗ lực đó đã đươc hoàn thành vào cuối 1976.
Việc con đường sắt cổ lỗ được hoàn thành một cách gấp rút như thế được coi như một niềm tự hào chỉ vì nó là dấu hiệu cần thiết để chứng tỏ tinh thần thống nhất đất nước.
Những nỗ lực gắng gượng đó không chỉ mang dấu ấn ý chí luận giả tạo, mà càng ngày tôi càng thấy nó là biểu hiện của một xu hướng phản tiến hóa là bất chấp chuẩn mực, phớt lờ kinh nghiệm của những người đi trước
Đường sắt chúng ta từ bấy đến nay vẫn là một thứ đường sắt lạc hậu nhất thế giới.
Chúng ta chẳng hiểu gì về cái xã hội phát triển mà ta gọi là chủ nghĩa xã hội, mà thực chất chỉ là giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản.
Chỉ cần có một chút lương tri tối thiểu, người ta có thể nhận ra ngay rằng thứ đường sắt ốm yếu được khôi phục lúc ấy chỉ mang lại cho nền kinh tế hậu chiến một sự thống nhất giả tạo.
Chẳng bao lâu nó bị xếp sang một bên để các địa phương cách xa nhau cả ngàn cây số gắn kết với nhau chỉ bằng ô-tô
Thật là kỳ cục khi thấy ngày đêm hàng đoàn xe tải chở hàng phá nát những con đường và tạo ra một sự phát triển mạnh ai nấy làm.
Nhưng cuộc phát triển kinh tế hậu chiến ở ta là vậy.
Vận tải bằng ô tô tô nghĩa là tùy tiện là tha hồ buôn lậu tha hồ móc ngoặc, và điều đầu tiên là nó làm cho hàng hóa tăng giá.
Một điều tôi muốn ghi nhận thêm: rồi sự nhôn nháo trong giao thông hiện nay chỉ khiến cho cách sống cách nghĩ của chúng ta lúc nào cũng có cái vẻ vội vã gấp gáp, mà hóa ra chẳng đâu vào đâu cả.
Trong khi đó, từ tốn nhưng chắc chắn, công cuộc hiện đại hóa đầu thế kỷ XX đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong tâm lý con người.
Tôi đã nghiệm ra điều ấy khi tìm hiểu chủ đề đường sắt trong văn học tiền chiến,
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/04/oi-song-ben-con-uong-sat-hay-la-mot-dau.html
(Với tư cách một người nghiên cứu văn học, đối với tôi văn học Việt Nam tiền chiến luôn luôn là một nền văn học chuẩn mực.)
Tôi viết những dòng này, khi vừa từ Đà Lạt trở về.
Mỗi lần lên cái mảnh đất rất quý tộc mà rất Tây phương ấy, tôi đều đến thăm ga du lịch Đà Lạt .
Nếu tra mạng về đường sắt ở VN, bạn sẽ gặp nhiều trang viết về khu ga du lịch này.
Đây là một đoạn
"Ấn tượng đầu tiên khi du ngoạn trên tuyến đường sắt Đà Lạt – Trại Mát là khung cảnh nơi đây mang đậm vẻ cổ kính, thơ mộng. Nhà ga Đà Lạt được thiết kế với phong cách kiến trúc giống các nhà ga đường sắt ở châu Âu, ga có 3 mái hình chóp, lợp ngói đỏ, vươn cao lên trời xanh tựa như đỉnh núi Langbiang, chiếc đồng hồ lớn đặt trên đỉnh tháp giữa đã mãi dừng lại ở mốc thời gian 17 giờ 50 phút. Trong nhà ga, mọi nội thất như gạch lót sàn, ghế chờ, phòng bán vé, trần ga, những ô kính màu và cả những dòng chữ Quốc ngữ “đời đầu” như “cáo thị giờ tàu”, “lý trình hỏa xa” đều được giữ nguyên như lúc ga mới khánh thành. Trong sân ga, chiếc đầu máy chạy bằng hơi nước cồng kềnh, phủ màu đen, đỗ trên đường ray như “chứng nhân” lặng lẽ của ga Đà Lạt; cạnh đó là những toa tàu thô sơ, dãy nhà kho, nhà nghỉ làm nơi cất giữ hàng hóa hoặc chốn nghỉ qua đêm cho hành khách cũng nhuốm màu rêu phong. Tất cả khiến cho du khách cảm giác như thời gian nơi đây đã dừng lại từ lâu lắm và trước mắt họ là một nhà ga với những chuyến tàu và những hành khách của một thời xưa cũ."
Tôi tin những ai hiếu cổ như tôi – đúng hơn là thích sự phát triển chậm rãi từ tốn hơn là mọi sự chen chúc nhốn nháo - khi đến Đà Lạt đều dành thời gian thăm cái ga cổ này, để rồi trở về luyến tiếc sự phát triển ổn định một thời.
Thời xưa khi sự giao thông vận tải còn khó khăn, người ta thường rất xúc động khi bắt đầu những cuộc ly biệt.
Trong cuốn " Quốc văn giáo khoa thư" do ông chánh thanh tra tiểu học Trần Trọng Kim và các đồng sự soạn cũng có một bài viết về thứ tình cảm cổ điển này mà kết lại là một câu cảm thán “ Ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”.
Thời nay con người đi như mây bay gió cuốn, ai hơi đâu mà xúc động kiểu ấy nữa. Chẳng mấy khi có sự đưa tiễn. Chuyện sụt sùi nhắc tới nghe mà buồn cười. Nhưng tôi cho rằng như thế cũng tức là chúng ta ít nhiều có bị nghèo đi một chút. Chỉ cần đọc các tập Tùy bút I, Tùy bút II, nhất là tiểu thuyết "Thiếu quê hương" , Nguyễn Tuân viết trước 1945, là bạn sẽ thấy thèm được làm người xưa như thế nào.
MỘT KHÍA CẠNH LÀM NÊN SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ TƯ TƯỞNG GIỮA PHAN CHÂU TRINH VÀ NGUYỄN VĂN VĨNH
Ngày đăng 20 tháng 9 năm 2017
Khi xuất bản các tài liệu mà bà Phan Thị Minh, cháu ngoại cụ Tây Hồ tìm thấy ở Paris, các soạn giả đã ghi nhận giữa cụ Tây Hồ và ông Tân Nam Tử có một sự tâm đầu ý hợp đặc biệt khi hai người cùng dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Những bài viết quan trọng thuở ban đầu của Phan Tây Hồ như "Thư gửi toàn quyền Đông Dương" , "Hiện trạng vấn đề" đều được viết trong thời gian có trao đổi thảo luận với Nguyễn Văn Vĩnh và điều chắc chắn là được Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Pháp và đưa in vào những tờ báo Pháp quan trọng thời đó.
Điều đó theo tôi còn được chứng minh bằng một chi tiết khác
Trong số những ý tưởng sâu sắc nhất của Phan Châu Trinh, nhất là những tư tưởng nó giống như cái hích ban đầu quyết định phương hướng suy nghĩ của nhà hoạt động xã hội này, tôi muốn nêu cái câu đặt vấn đề có ý nghĩa tự nhận thức về người mình ông viết năm 1906:
(…) Nước Nam đã lâu nay học thuyết sai lầm, phong tục hư hỏng, không có liêm sỉ, không có kiến thức, trong một làng một ấp cũng xâu xé lẫn nhau, cùng nòi cùng giống vẫn coi nhau như thù hằn; cho dẫu ai có muốn lo toan việc lớn, chưa kể rằng không có chỗ mà nương thân, không có khí giới mà dùng, không có tiền của mà tiêu, giả phỏng Chính phủ cho mượn dăm nghìn khẩu súng, cấp đất vài tỉnh cho ở, không thèm hỏi đến, muốn gì thì làm, chỉ độ dăm năm thật là báo thù lẫn nhau, đến chết hết mới thôi, quyết không thể sống nổi trong cái thế giới này, lại còn chống cự ai được nữa ?"
Phan Châu Trinh chỉ nói kiểu này có một lần, nhưng đó chính là điểm xuất phát mà cũng là điểm đối chiếu để ông hành động và xem xét hành động của mình.
Nhưng tư tưởng này cũng được Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi và triển khai trong suốt đời làm báo.
Ngày nay người ta chỉ biết rằng một trong những bài quan trọng nhất mà Nguyễn Văn Vĩnh đã cho in trên Đông dương tạp chí là bài "Gì cũng cười."
Nhưng chung quanh thói hư tật xấu của người mình, Nguyễn Văn Vĩnh còn cho in trên tờ báo mà mình lo liệu nhiều bài khác như những bài "Tật huyền hồ sáo hủ", hay "Tính ỷ lại của người Việt"…
Ở một mức khái quát hơn, ông cũng viết một bài có tính chất tuyên ngôn mà tôi giới thiệu sau đây, bài in ở "Đông Dương tạp chí", số 6, ra ngày 19/6/1913
TẠI SAO CẦN XÉT TẬT MÌNH?
Nguyễn Văn Vĩnh
***
Có một ông danh sĩ Lang-Sa nói rằng: “Đời nào nhân loại cũng vẫn có bấy nhiêu cái điên rồ, cũng có bấy nhiêu cái dại dột mà tiêu dùng. Điên rồ và dại dột của loài người tựa hồ như một cái vốn, đặt tiền nằm lãi chạy, hoặc dùng cách này, hay cách khác, cũng vẫn sinh tức ra bấy nhiêu chỗ mà tiêu, mà vốn vẫn không hao mòn đi chút nào.
Thì dẫu bên Âu-châu cũng vậy, bên Á-châu cũng vậy, cái dại dột của người ta cũng có kém gì nhau.
Cái văn minh Âu-châu cao hơn ta, là vì Âu-châu cũng có bấy nhiêu dại, nhưng mà nhiều người biết dạy mà cách xét học sự dại sâu sắc vô cùng.
Người ngu, giở sách tiểu thuyết Tây ra coi, thấy bày phơi các cựa gà kín của muôn việc con người ta hằng ngày làm ra thì mới cười. Còn người trí thì chịu ngay Âu-châu học cao về cái cách chiết vặt – vụn ra hết cả những xó góc nhân tâm ấy.
Có suy xét như thế thì cái căn thiện ác của người ta rành rành ra đó, người ta có xem thấy cái gốc rễ mọi việc của mình thì ăn ở trên đời này mới theo chính đạo.
Vì nếu cứ khuyên người đừng làm cái này, nên làm cái kia, mà không xét cho ra rằng làm cái này, điều kia là vì cớ gì, thì sách dạy luân lý vẫn cứ uổng mãi, vì điều thiện, điều ác, điều hay, điều dữ, ai cũng phân được, nhưng mà lúc cái cựa gà ngầm ở trong, nó xui làm dữ, thì dầu cái hay ngay bên cạnh tay, làm dở vẫn hoàn làm dở.
Cho nên chính luân lý là cách dạy người ta biết gốc rễ điều ác, để mà tránh những thế phải làm ác; biết mầm giống điều thiện, để mà gây nên điều thiện, chứ không phải là sách dạy nên từ ác theo thiện, mà dạy nhầm uổng công người dạy, lại trái ý kẻ nghe, vì lời thằng LỢI bao giờ cũng êm tai hơn lời ông NGHĨA.
Vậy thì đạo tu thân ngày nay cốt ở việc xét mình. Như người có bệnh muốn chữa khỏi phải biết mình có bệnh chi mà bệnh căn ở đâu, thì uống thuốc mới có công hiệu. Chứ có bệnh mà cứ chuyên học một câu: nên mạnh khỏe đừng nên ốm, thì học mà làm gì.
Bởi thế, tôi trộm nghĩ rằng: dân An-nam ta ngày nay muốn chóng theo được dấu văn minh, trước hết phải học kỹ xem mình có những thói xấu gì, căn nguyên bởi đâu mà ra, để mà đầu tiên hãy cố mà từ bỏ cái tệ đoan trước, nhiên hậu mới học cái khôn sau, chớ muốn học văn minh Âu-châu mà thói hư vẫn còn giữ, thì e rằng đã chẳng học được điều hay, vì điều hay mới, mấy thói hủ xưa không dung được nhau, mà lại còn chỉ chép được cái bề xấu văn minh mà thôi.
**
Chú thích:
Đặt tiền nằm lãi chạy: một số tiền vốn để đem cho vay vẫn còn nguyên, mà tiền lời thì cứ ngày một sinh lời thêm. Đây ý nói cái xấu của mình thì vẫn còn nguyên mà những thói xấu khác mình đã tiêm nhiễm thì ngày một nảy nở thêm ra.
Các cựa gà kín: ý chỉ cái nguyên động lực đã thúc đầy con người ta đi tới những hành động nào đó.
Tệ đoan: mối manh của những điều hư hỏng
Dung: chịu đựng
Mấy: trong đoạn "điều hay mới, mấy thói hủ xưa, không dung được nhau"
mấy có nghĩa là cùng với
GHI CHÚ
Khi cần dẫn nguồn bài này, sẽ chẳng ai cãi lại tôi, nếu tôi bảo rằng tôi đọc nó trên mặt báo. Nhưng sự thật là ở tuổi này tôi đâu đủ sức làm việc đó.
Ở Hà Nội, trước 1975, báo chí nửa đầu thế kỷ XX hầu như cánh sinh viên các khoa văn chúng tôi không được đọc. Mãi 1997, trong bộ "Tổng tập văn học" tập 20, tôi mới tìm thấy mấy bài của Đông dương tạp chí, Nam Phong..., nhưng bài trên cũng không có.
Mấy năm ở Sài Gòn tôi đi lục nhiều cửa hàng sách cũ, và chủ ý đi tìm các loại sách giáo khoa dạy tiếng Việt. Chính ở đây , tôi tìm lại bộ mặt của nền văn học tiền chiến. Một điều khiến tôi đặc biệt thú vị: trong khi ở Hà Nội , nói tới tiền chiến, người ta chỉ nói tới thơ văn thì ở Sài Gòn, phần báo chí và văn nghị luận được giới thiệu rất kỹ và từ đó, tôi thấy rõ sự vận động tư tưởng của xã hội Việt Nam trước 1945. Bài viết trên đây của Nguyễn Văn Vĩnh tôi tìm thấy trong một cuốn sách Quốc văn loại đó, cả đến các chú thích trên cũng vậy. Nay vì sách tôi đang để ở Sài Gòn nên không gọi tên chính xác ra được.
ĐÂU LÀ PHẨM CHẤT CỦA NHỮNG KẺ ĐIÊN
Ngày đăng 20 tháng 9 năm 2017
Những năm trước sau 1970, tôi mới học tiếng Nga và chưa tiếp xúc nhiều với văn học xô viết.
Trong khi đó thì anh Phan Hồng Giang đã học Lomonosov từ đại học và biết rất nhiều chuyện dân nghiên cứu văn học ở Liên xô bàn tán, nó là những chuyện người ta nói với nhau để xả hơi, khi trong quá trình sống có những điều quan sát thấy mà không bao giờ được viết trên mặt giấy.
Hồi đó trong giới nghiên cứu văn học Nga cũng như VN đang bị thống trị bởi quan niệm cho rằng văn học phải có nhiệm vụ xây dựng những nhân vật tích cực.
Một trong những mẩu chuyện anh PHGiang kể có liên quan tới vấn đề trên. Tóm tắt như sau.
Nhà nghiên cứu văn học nọ có một người bạn là một bác sĩ tâm lý.
Khi anh kể lại những phẩm chất của các nhân vật tích cực mà cấp trên yêu cầu anh ta phải lý giải để áp đặt cho các nhà văn, thì anh bạn bác sĩ kia liền nói: “Đây là phẩm chất của những thằng điên”.
Tôi chợt nhớ lại mẩu chuyện trên khi đọc trên mạng một tài liệu của giới y học nói về sự rối loạn nhân cách. Sau đây là mấy thói quen tâm lý mà người ta cho là người mắc loại bệnh này hay mắc phải:
1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)
2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…
3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất
4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ
5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng
6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.
7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.
8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình
9. Có thái độ, hành vi kiêu căng.
Trích ở bài "Chứng rối loạn nhân cách " đã đưa trên blog của tôi ngày 2-3-2015
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/03/chung-roi-loan-nhan-cach.html
Nội dung "thói quen tâm lý" nói trên, tôi lấy từ Wikipedia tiếng Việt, phần "Nhân cách yêu mình thái quá " . Các bạn có thể kiểm tra lại .
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ MỘT DẠNG TRÍ THỨC ĐẶC BIỆT Ở TA
Ngày đăng 21 tháng 9 năm 2017
Mạng BVN vừa đưa lại một bài vốn đưa trên Thanh niênonline 11-4 -17 nội dung là cuộc phỏng vấn GS Hoàng Xuân Phú về những vấn đề công bố quốc tế của các GS và PGS.
Qua GS Phú, ta được biết những con số thật cụ thể“Với nhóm ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật và công nghệ, bình quân số bài ISI/Scopus của 411 người được công nhận chức danh PGS và GS chỉ là 5,76. Còn với nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn thì bình quân số bài ISI/Scopus của 237 người được công nhận chức danh PGS và GS chỉ là 0,19. Đó là chưa kể 7 GS và 48 PGS của nhóm ngành khoa học an ninh và khoa học quân sự không có bài ISI/Scopus nào.”
Khi phóng viên báo Thanh niên biện hộ cho các GS và PGS của ngành khoa học xã hội ở ta là họ phải phục vụ chính trị, nhà toán học đã trả lời thẳng thắn
“Nếu chỉ là minh họa cho chính sách hay tuyên truyền cho chế độ, cho chính quyền thì chẳng cần đến các nhà khoa học mà chỉ cần huy động bộ máy tuyên truyền là đủ. Còn chức năng muôn thuở của các nhà khoa học là phát minh và phát hiện ra những cái mới. Vậy họ đã phát minh hay phát hiện ra những cái gì và thành tích ấy có đủ để lập luận rằng họ không cần công bố quốc tế hay không?
Những nhà khoa học thể hiện được mình đạt đẳng cấp quốc tế mới thực sự xứng đáng đứng ra đảm nhận sứ mệnh và nhiệm vụ chính trị, nhất là trong thời kì hội nhập quốc tế. Nếu không thì chỉ góp phần lái dân tộc vào con đường lầm lạc mà thôi.”
Nhân đây tôi muốn bổ sung một ý nhỏ: Người ta càng thấy rõ điều GS Phú nói khi nhìn vào các ngành như sử học hoặc nghiên cứu văn học. Không phải ngẫu nhiên mà giới khoa học xã hội ở vào tình trạng là một ốc đảo như hiện nay’. Các nhà khoa học ở đây hành nghề là để minh họa hay nói như trong bài này là làm nhiệm vụ chính trị. Cái áo khoa học mà họ đang khoác vốn lúc đầu cũng là khoa học , nhưng sở dĩ duy trì chẳng qua là để tiện cho việc đứng trên bục giảng. Còn phần nhiệm vụ được giao về sau lại được đưa lên thành lý do tồn tại chủ yếu. Và nếu bảo họ là trí thức thì đây là một loại trí thức riêng ở ta và những nước như ta mới có. Cũng có những trường hợp công trình của họ có giá trị khoa học – nghĩa là có khả năng gia nhập vào đời sống khoa học quốc tế, nhưng cái đó -- tôi xin lưu ý lại chúng ta đang nói về KHOA HỌC XÃ HỘI -- chỉ là ngẫu nhiên và thực tế là chỉ chiếm một tỉ lệ rất, rất thấp.
Tôi đã đến với những ý tưởng này khi được đọc những bài viết nói về tình trạng khoa học xã hội ở Liên xô trước 1991. Bài báo mà tôi làm tóm tắt sau đây sẽ nói rõ điều đó. Tôi đã đưa nó một lần trên blog của mình trong bài “Khoa học xã hội ở ta là thế , làm sao khác được“
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/10/khoa-hoc-xa-hoi-o-ta-la-lam-sao-khac-uoc.html
và nay xin đưa lại
CHÍNH HỆ TƯ TƯỞNG HÓA KHOA HỌC
ĐÃ LÀM NGHÈO VĂN HÓA
tác giả N. Kozlova,
bản đầy dủ in trên tạp chí tiếng Nga "Khoa học xã hội ngày nay" (ONS) số 2-1991.
Trong xã hội Xô viết, xuất hiện một tình thế quái đản: “Khoa học giữ chức năng hệ tư tưởng, còn hệ tư tưởng thì khoác cái trang phục của khoa học”.
Vấn đề này có cơ sở xã hội của nó.
Trong chủ nghĩa xã hội, tồn tại một kiểu trí thức. Nhờ đáp ứng được nhu cầu cấp bách của cách mạng, họ đóng một vai trò tham gia vào việc tổ chức cách mạng, lật đổ cái cũ cũng như xây dựng cái mới.
Trong tiếng Pháp có một danh từ les parvenus de le sciene – tức là những kẻ mới phất lên trong khoa học.
Đó là những kẻ không có học hành cơ bản nhưng ham hiểu biết và tin vào tương lai.
Ở họ, lòng ham hiểu biết và ý hướng muốn thay đổi thế giới nhập làm một.
Họ không chỉ quan tâm đến trí thức như là những chân lý vĩnh hằng, mà còn ý thức được sức mạnh trí thức khoa học ngay trong hoàn cảnh hiện tại.
Ham hiểu biết, nhưng do nhạy bén với nhu cầu trước mắt của cách mạng, đồng thời họ đi vào chống trí thức, phủ nhận giới trí thức.
Đây chính là cách mà họ tìm ra trên con đường lập nghiệp.
Với họ, trí thức là một thứ ông lớn nhút nhát, hèn yếu khi gặp nguy hiểm, xa lạ với quẩn chúng, không đáng gọi là người.
Nhận thức này được những người cách mạng nhiệt liệt chào đón.
Những người xuất thân từ nhân dân khi nắm quyến lực cảm thấy trí thức chân chính không đi với họ. Thế là giai cấp thống trị mới coi những tri thức chân chính kia là ích kỷ, xấu xa. Đám quý tộc về mặt tinh thần vốn hình thành từ xã hội cũ ấy bị thù ghét coi như rác rưởi.(1)
Một khoảng trống được mở ra và đám trí thức tự học (2) sẽ tìm cách lấp đầy nó.
Đám trí thức tự học này:
- Là đám tự đào tạo; là những nhà phát minh không thành đạt, những nhà thơ không ai thừa nhận.
- Họ là những người không được học đến nơi đến chốn, nhưng lại thừa khát vọng muốn đứng ở hàng đầu.
- Họ đối xử với kiến thức một cách thực dụng. Thay cho việc đối chiếu hiểu biết của mình với chân lý vĩnh cửu , họ lại thích đối chiếu kiến thức đó với thực tế và xem khả năng ứng dụng của kiến thức là tất cả.
- Học thích tiếp xúc với đám công chúng ít học – chữ mà ta gọi là quần chúng cơ bản.
- Họ thích làm lại khoa học – biến trường đại học thành chỗ ai vào cũng được, thành những cuộc mít tinh chính trị công cộng.
Từ đầu thế kỉ XX, nước Nga đã thường bàn về dân chủ hóa khoa học.
A. Bogdanov muốn gạt bỏ tôn giáo, xóa bỏ tính trừu tượng ban đầu của nhận thức, vả bằng cách đó làm lại khoa học. Lúc này khoa học trở nên dễ hiểu với quẩn chúng, và tính dễ hiểu được coi như là tiêu chuẩn chủ yếu của khoa học chân chính.
Thế là những nhiệm vụ cơ bản của khoa học bị từ bỏ, quyền tự trị của khoa học bị coi như nhu cầu không thể chấp nhận được, nếu không nói là phi lý và giả tạo.
Người ta hướng khoa học vào việc giáo dục quần chúng, mà trong việc này thì lớp trí thức cũ, nhất là những trí thức hàng đầu không được việc gì cả.
Từ đây trong xã hội mới, khoa học là vũ khí đấu tranh cách mạng, là phương tiện để tổ chức sản xuất và gắn kết xã hội.
Những ngành khoa học nào không làm được việc đó có thể và cần phải xóa bỏ.
“Chân lý cũng phải đỏ” đó là khẩu hiệu dành cho khoa học mới.
Tư tưởng về sự ưu thắng của hành động so với nhận thức cũng rất phổ biến và được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá đâu là thứ khoa học cần thiết và có giá trị.
Tri thức [ được hình thành trong xã hội sau cách mạng] là một thứ tín điều mới . Nhưng đó là một tri thức nửa vời, tri thức bị giản lược.
Quá trình giáo dục cũng bị giản lược.
Quá trình này được hình thành đồng thời với sự quảng canh văn hóa, đưa văn hóa về với đám đông. Và quá trình này sở dĩ được kiên trì theo đuổi đến cùng vì nó được xem như một phương thức đạt tới công bằng xã hội là điều mà cách mạng hứa hẹn và đám đông đòi hỏi – ngoài ra thì họ không cần biết rằng đó là văn hóa thế nào cả.
Việc thanh toán nạn mù chữ có một mục đích cụ thể là đưa mọi người tham gia vào khoa học.
Điều quan trọng nhất là sau quá trình này, người ta thấy ẩn chứa một nguyên tắc lớn là không có chân lý chung chung, chân lý cũng có tính giai cấp, nó cũng đươc ấn định một cách chủ quan.
Đảng độc quyền chân lý, và đảng không thể đồng ý với kẻ thù bất cứ điều gì, kể cả những chân lý sơ giản.
-----
(1) Riêng ở Việt Nam thì có hiện tượng lợi dụng trí thức cũ để thu hút quần chúng và chỉ khi đám trí thức đó không nghe lời mới vứt bỏ không thương tiếc. Nhưng đó là một việc khác (VTN)
(2) Điều duy nhất cần bổ sung – về sau, đám trí thức mới phất này đã tự phong cho mình đủ thứ danh hiệu kể cả , giáo sư, tiến sĩ và cả viện sĩ nữa, tuy các học hàm học vị này không được nước nào công nhận.(VTN)
"GIAO HOAN" TRONG CÁC TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT
Ngày đăng 22 tháng 9 năm 2017
Trên mạng thời gian qua có cuộc trao đổi về từ giao hoan.
Tôi có tò mò đọc rồi tra cứu thêm, sau đây xin kể lại quá trình tôi đi tìm nghĩa của từ này trong các từ điển đang có trong tay, nhân đó bàn thêm một số vấn đề ngôn ngữ học hiện nay.
I/
Thoạt tiên tôi giở mấy cuốn từ điển Hán Việt làm ở Sài Gòn trước 1975.
“Hán Việt từ điển” Nguyễn Văn Khôn in ở Sài Gòn 1969 cũng như “Hán Việt tân từ điển” của Nguyễn Quốc Hùng in xong ngày 12-4-75 (18 ngày trước sự kiện 30-4) đều ghi giao hoan là cùng vui với nhau, cùng nhau vui vẻ.
Quay trở về sách in ở Hà Nội 1954 -75, đáng lẽ phải tìm Từ điển Văn Tân, Từ điển Nguyễn Bá Đạm, nhưng hiện tôi để đâu không nhớ. Giở sang cuốn Từ điển tiếng Việt của nhóm New Era, nxb Văn hóa thông tin 2005, thấy cũng cắt nghĩa vậy, nhưng có dẫn thêm câu Kiều:
Thêm nến giá nối hương bình
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan
Một cái chìa khóa vừa được tìm thấy!
Tôi định giở “Từ điển truyện Kiều” của Đào Duy Anh để xác minh, nhưng sách này cũng đang thất lạc.
Giở sang cuốn “Tiếng Việt trong thư tịch cổ” của Nguyễn Thạch Giang, in ở Văn hóa thông tin tập I, 2011, cũng không có. Nhưng tới tâp 2, in 2012 -- hai tập tồn tại độc lập đều kéo từ A đến Y - từ này đã xuất hiện có kèm theo câu Kiều nói trên.
II/
Một trong những nghĩa của từ giao hoan vừa được phát hiện là cái nghĩa ngầm của nó mà các từ điển vừa dẫn ở trên không nhắc tới, thì cũng đã được ghi trong các tử điển xuất hiện từ hồi những năm 50, 60 của thế kỷ trước.
Ông Đào Văn Tập trong “Từ điển Việt Pháp” 1950 – nhà sách Vĩnh Bảo Sài Gòn - chỉ ghi giao hoan: Se resjouir ensemble thì tới “Từ điển Việt Nam phổ thông” cũng cơ sở xuất bản trên 1951 đã ghi rõ hơn:
Giao hoan – cùng vui với nhau: đêm giao hoan của vợ chồng mới cưới.
“ Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu không ghi các từ ghép, nhưng tới chữ hoan thì ghi hoan có hai nghĩa 1/ vui mừng 2/ trai gái yêu nhau, bên gái gọi bên trai là hoan, cũng như tiếng chàng của ta.
“Giúp đọc nôm và Hán Việt” của L.M. An-tôn Trần Văn Kiệm do Hội bảo trợ chữ nôm của Hoa Kỳ và Nxb Đà Nẵng đứng tên xuất bản, in 2004, bổ sung cho Thiều Chửu rất tự nhiên.
Sách này trong phần chữ giao ghi:
giao là trao tay là gặp nhau là tới lúc,
nhưng còn ghi:
giao = âm dương gặp nhau: giao hợp, giao hoan, giao cấu.
III/
Nhân việc đi tìm nghĩa của từ giao hoan, tôi rút ra cho mình mấy nhận xét
1/ Ngành ngôn ngữ học của ta không theo kịp nhu cầu của xã hội. Các từ điển xuất hiện không phải là ít, nhưng cỡ như các cuốn do Hoàng Phê chủ biên ở Hà Nội cuốn do Lê Ngọc Trụ hiệu đính ở Sài Gòn không có. Ở đây đang có nhiều nhà biên soạn nghiệp dư, mà cụ Nguyễn Lân là ví dụ.
Đang có hiện tượng cuốn nọ sao chép cuốn kia mà không ai bị xét xử.
Một nguyên tắc của việc biên soạn từ điển là phải ghi rõ đã tham khảo những từ điển nào trước mình, nhưng lại không được tuân thủ.
2/ Ta chưa có ngành từ nguyên học, giải thích sự xuất hiện của các từ. Lại chưa có một ngành nghiên cứu quan trọng là lịch sử tiếng Việt ở mức hàn lâm, trong đó có bộ phận mô tả kỹ lưỡng tiếng Việt lịch sử. Chừng nào có các ngành đó ở mức chuẩn mực của nó thì việc làm từ điển mới có chỗ dựa.
3/ Với mọi ngôn ngữ, tôi đều thấy người ta có bộ phận nghiên cứu các từ nước ngoài nhập vào tiếng bản địa. Riêng ở ta thì sự xâm nhập của tiếng Hán vào tiếng Việt lại là một hiện tượng kéo dài quy mô to lớn và diễn biến phức tạp, chắc chắn là phức tạp hơn so với ảnh hưởng của tiếng Hán với tiếng Hàn tiếng Nhật.
Kinh nghiệm bản thân của tôi khi tìm hiểu một từ Hán Việt được các thế hệ trước sử dụng là vừa tìm hiểu cái nghĩa trong văn cảnh Việt Nam lại vừa tìm lại nghĩa gốc của từ đó trong chữ Hán rồi gộp cả lại mới hiểu được đầy đủ cái nghĩa của nó -- mà cái nghĩa này vốn ẩn kín trong văn bản Việt thời nó được viết, có khi chính tác giả cũng không có ý thức được hết.
Không biết cách làm của tôi có được các nhà nghiên cứu văn học và các nhà làm từ điển cho là cần thiết?
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ: (kỳ một )
Ngày đăng 22 tháng 9 năm 2017
Trong quá trình đọc lại các sách lịch sử, cả cũ lẫn mới tôi có ghi lại một số mẩu chuyện, xin trích ra dần dần gọi là hầu chuyện bạn đọc. Nộij dung kỳ này
NHỮNG HỨA HẸN MÀ CHÚA TRỊNH Ở ĐÀNG NGOÀI ĐÃ TRAO CHO CÁC THẾ LỰC NGOẠI BANG ĐỂ NHỜ HỌ GIÚP GIẢI QUYẾT NỘI CHIẾN
“Mối quan hệ với phương Tây là phần chủ yếu trong lịch sử các nước ngoài phương Tây, kể cả Á Phi ”-- Ở một cuốn sử Nhật Bản, tôi đọc được cái ý đó.
Vận dụng vào hoàn cảnh VN, tôi ngờ rằng lúc nào đó phải có những người viết riêng những chuyên luận về lịch sử quan hệ VN với nước ngoài.
Cuốn sử chuyên đề đó sẽ có hai bộ phận, thứ nhất là quan hệ VN -- Trung Hoa, thứ hai là quan hệ Việt Nam—phương Tây.
Nhưng vừa nghĩ đã thấy ngại.
Đến cả cái mối thứ nhất còn chưa ai định lần lại, hỏi bao giờ cái mối thứ hai mới được đặt ra với đúng tầm vóc của nó.
Tuy nhiên với những ai muốn quan tâm tới lịch sử nước mình, nhất là sử cận hiện đại, các nguồn tài liệu phương Tây vẫn đang mời gọi và hứa hẹn nhiều bất ngờ.
Tôi lấy một ví dụ xảy ra hồi đầu thế kỷ XVII,. Đó là thời kỳ mà nhà cầm quyền Đàng Ngoài chủ trương tập trung vào việc đánh phá Đàng Trong. Việc cho nước ngoài vào buôn bán rất tùy tiện, cái chính chỉ là nhằm nhờ họ giúp cho về mặt quân sự. Không dừng lại chỗ đó, nhà cầm quyền Đàng Ngoài ( đại diện là Trịnh Tráng, ông này kế tiếp Trịnh Tùng cai quản Đàng Ngoài hơn ba chục năm từ 1623 tới 1657) còn mặc cả với các đại diện phương Tây một việc tày đình như sau.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan trong bài "Bối cảnh lịch sử VN giai đoạn 1558 đến 1802-- Phân tranh và thống nhất" (in trên Nghiên cứu Huế tập bảy, trang 97 ), có ghi lại một đoạn trong lá thư của chúa Trịnh gửi Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Batavia vào năm 1637:
“ Một số thú vật mang hình người [chỉ họ Nguyễn ở Đàng Trong] đã thiết lập một nước ly khai ở biên giới phía nam của chúng tôi và đang dựa vào vị trí phòng thủ vững chắc để chống lại triều đình của nhà Lê ở Thăng Long.
Chúng tôi chưa làm gì với họ vì chúng tôi ngại điều bất ngờ có thể xảy ra ở phía biển.
Vì các ông có ý định thân thiện với chúng tôi, các ông có thể cho chúng tôi 2 hoặc 3 chiếc tàu, hoặc 200 lính thiện xạ, xem như chứng cứ cho thiện ý của các ông.
Những người lính này có thể giúp chúng tôi sử dụng các khẩu đại bác. Thêm vào đó xin vui lòng gửi cho chúng tôi 50 chiến thuyền cùng với số lính tuyển chọn, và những khẩu súng mạnh, và chúng tôi sẽ cử một số lính tin cậy của chúng tôi tới hướng dẫn các chiến thuyền của các ông tới Quảng Nam, xem đó như là sự hỗ trợ từ phía chúng tôi.
Đồng thời đạo quân của chúng tôi sẽ tấn công Thuận Hóa.
(… ) Sau khi chiến thắng, chúng tôi sẽ ban tặng cho binh lính của các ông 20.000 tới 30.000 lạng bạc.
Còn về phần mà các ông được hưởng—chúng tôi sẽ trao xứ Quảng Nam cho các ông cai trị.
Các ông có thể chọn một số lính để xây dựng và canh gác thành và chúng tôi sẽ truyền lệnh để người dân ở đó làm lao dịch cho các ông. Các ông có thể thu hoạch các sản phẩm trong vùng và gửi một phần cho triều đình chúng tôi, như thế cả hai bên đều được hưởng lợi.
Trời sẽ phạt chúng tôi nếu những kiến nghị trên đây có gì gian dối.”
Đoạn thư vừa trích, hé ra cho chúng ta thấy một phương diện khác của các chúa Trịnh – cũng là của giai cấp thống trị ở VN trước đây -- mà tới nay không một sách nào nói tới.
Trích từ Nhật ký 2011 ( tuần XV-XVII) đưa trên blog của tôi 5-5-2011
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2011/05/nhat-ky-2011-tuan-xvxvii.html
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( Kỳ hai )
Ngày đăng 24 tháng 9 năm 2017
Thế kỷ XVII – XVIII, là hai thế kỷ mà người phương Tây vốn len lỏi trên nhiều miền khác nhau của đất nước ta, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, trong đó có một số đáng kể là các giáo sĩ. Họ có nhiều hình thức để ghi nhận những quan sát đã thể nghiệm. Nay còn lưu lại nhiều tài liệu mà phần lớn chưa được người Việt biết tới. Ở phương diện này cuốn "Thư của các giáo sĩ thừa sai" ( Trung tâm nghiên cứu Quốc học và nxb Văn học đứng tên xuất bản 2013) là một ngoại lệ.
Dưới đây là một lá thư trích trong sách trên
***
PHÁC THẢO BỨC TRANH VỀ XÃ HỘI ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVIII
Thư của giám mục chánh tòa Reydellet ,
cai quản giáo phận xứ Đoài ở Đông Kinh( tức Đàng ngoài),
viết ngày 7-5-1766,
gửi cho em hiệu phó trường Dela Marche ở Paris
----
Miền xuôi miền đồng bằng gồm cả xứ Đông Kinh, là một miền rất đông đúc, đời sống người dân nghèo nàn cơ cực vì đất không nuôi đủ được người. Ngoài ra có nhiều kẻ ăn hại chỉ có độc một nghề là đi cướp phá mùa màng, dùng vũ lực hay dùng mưu mẹo để trộm cắp ở các nhà, vu cáo để gây ra chuyện kiện tụng và làm cho người khác phải tán gia bại sản.
Ở xứ này, giàu có nhiều tiền lắm bạc là một tội to. Ai cũng sẵn sàng sinh sự và hãm hại người giàu mãi cho tới lúc họ bị rơi vào cảnh nghèo nàn quẫn bách thì mới chịu thôi. Ban đêm, những người giàu không ngủ được vì còn thức để canh giữ trong nhà.
Người Đông Kinh nào cũng ham thích quan tước và tiền của nên đều thích làm quan và làm giàu.
Những kẻ có ít chữ nghĩa và khôn khéo trong việc vu cáo người khác có thể trèo lên tới chức quan.
Do trong nước không thiếu gì hạng người như vậy, nên bọn quan lại và bọn tai to mặt lớn sinh sôi nẩy nở vô số ở khắp nơi.
Những kẻ nghèo khổ và trong phút chốc được trở thành quan lớn ấy, để giữ vững địa vị, đã làm tình làm tội đám dân đen, bắt họ phải bò rạp dưới chân mình, cướp bóc của cả đàn bà góa bụa và trẻ con mồ côi…
Nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất đúng đắn, rất hợp lý, và được quy định rõ ràng. Chỉ hiềm một nỗi là chẳng được kẻ nào tôn trọng cả.
Chính những người có phận sự thi hành luật pháp lại là những người phạm luật trước mọi người khác.
Tiền bạc và những tặng vật đút lót xóa sạch những tội ác.
Dù có là đại gian hùng, nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình thì vẫn là người lương thiện. Chỉ những kẻ vụng về, ngờ nghệch, nghèo hèn là bị trừng phạt thôi.( sách đã dẫn trên, tr. 71-72)
Thư này đã được tôi trích trong một bài viết mang tên TỘI LỖI DỒN CẢ LÊN ĐẦU NHỮNG KẺ ƯU TÚ nói về một nét tâm lý xã hội rất phổ biến trong xã hội VN trong quá khứ và còn kéo dài tới cả ngày hôm nay
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/01/toi-loi-thuoc-ve-nhung-ke-uu-tu.html
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ ba)
Ngày đăng 26 tháng 9 năm 2017
Thú thực tôi tìm đọc "Lịch sử triều Mạc" của Đinh Khắc Thuân ( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) một phần là vì luận văn tiến sĩ này được bảo vệ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước.
Thứ nữa nó là một thứ ngược chiều gió thổi, với nghĩa ngay từ trước năm 2000, đã ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học phổ thông bốn chục năm trước.
Cho tới hôm nay ( thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI ), nhà Mạc đã được "nói lại", nhưng việc sửa sai này đã đến với sách giáo khoa chưa thì chưa chắc.
NHỮNG MẢNG TRẮNG
Với tâm lý của con người trong một thời ly loạn, con người tha hóa hư hỏng,-- tôi đặc biệt chú ý mấy dòng "Đại Việt sử ký toàn thư" miêu tả nhà Mạc mà cuốn sách của Đinh Khắc Thuân trích lại: “ trong nhiều năm đường xá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa to, trong nước tạm yên. ( Sách đã dẫn tr. 229).
Lẽ ra phải có nhiều người đi vào nghiên cứu một thời hoặc những thời thanh bình như vậy.
Nhân đây nghĩ chung về cách làm sử của người mình hôm nay.
+ Quá chú trọng nghiên cứu ông cha đánh giặc và khởi nghĩa chống ách thống trị chuyên chế mà không nghiên cứu, hoặc rất ít nghiên cứu ông cha cày ruộng, khai phá đất đai, mở đường, xây dựng đô thị -- nói như ngày nay là làm kinh tế và ổn định xã hội.
+ Chỉ nghiên cứu những cuộc kháng chiến mà không nghiên cứu tình hình các xã hội hậu chiến.
+Chỉ nghiên cứu phong trào chống ngoại xâm, mà không hề nghiên cứu những cuộc nội chiến kéo dài.
+ Đối với nước ngoài chỉ thích nhấn mạnh tội ác mà họ để lại khi thống trị nước ta mà không nghiên cứu họ -- đồng thời với việc bóc lột như trên -- đã mang lại cho ta những điều tốt đẹp. Tức là không chịu nghiên cứu trong những năm sống dưới ách ngoại xâm dân ta, đồng thời với việc lo giành độc lập, đã học hỏi những người từ xa đến để trưởng thành lên như thế nào
Tôi có cảm tưởng trong lịch sử ta không mấy thời đại được mô tả bằng những câu Ngô Sĩ Liên và Lê Văn Hưu đã viết trong "Đại Việt sử ký toàn thư" mà "Lịch sử nhà Mạc" của Đinh Khắc Thuân đã nhắc lại:
TRONG NHIỀU NĂM ĐƯỜNG XÁ KHÔNG NHẶT CỦA RƠI, CỬA NGOÀI KHÔNG ĐÓNG, THƯỜNG ĐƯỢC MÙA TO, TRONG NƯỚC TẠM YÊN “
Tôi tin rằng có nhiều người như tôi , chỉ mong được sống trong những thời thanh bình như thế.
Nhẩm lại câu này, lại liên hệ với cách viết sử của thời ta, thấy khác nhau nhiều quá.
Các sách giáo khoa ở ta hiện nay -- CẢ VĂN CẢ SỬ - chỉ thích dạy trẻ về những thời đại hào hùng mà không gợi cho trẻ tìm hiểu về những thời con người ta trở nên tử tế.
Có nghiên cứu có dạy mà chưa chắc đã được việc, đằng này lại còn không nghiên cứu nghiêm túc, không chú tâm dạy dỗ cho thành thục, hỏi các thế hệ sau bao giờ mới nên người.
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bốn)
Ngày đăng 27 tháng 9 năm 2017
Đoạn văn sau đây là của Trần Huy Liệu (1901- 1969), ông viết trong cuốn "Một bầu tâm sự", 1927.
Thời gian này ông chỉ làm báo mà chưa tham gia một đảng phái nào.
Có lúc ông đã là chủ bút tờ "Đông Pháp thời báo" ở Sài Gòn. Nói về cái động cơ đã khiến mình đi vào con đường "Hiến thân vì nước" -- tên một tác phẩm khác Trần Huy Liệu viết trước khi đi tù Côn Đảo - ông đặt nặng vấn đề nhận thức.
Qua học hỏi những yếu tố tốt đẹp của văn minh phương Tây, ông cũng như nhiều trí thức tiến bộ đương thời thấy rõ điểm yếu nhất của cộng đồng Việt Nam một thời gian dài là rất kém về yếu tố tổ chức, không biết tổ chức xã hội.
Cụ thể là ở hai khía cạnh:
a/ sự thiếu chuyên nghiệp của bộ máy quản lý. Chính sự dốt nát của giới quan lại sẽ đẩy họ tới tham nhũng
b/ sự thiếu vắng một quan niệm dân chủ tối thiểu. Cái này thì sinh ra chuyên chế.
Chúng tôi có cảm tưởng những quan sát của Trân Huy Liệu tới nay vẫn đúng. Các bạn có nghĩ khác ?
SÂN KHẤU CỦA MỘT LŨ HỀ
Tiếng gọi rằng trào đình của một nước, song chính là sân khấu nhảy múa của một lũ hề.
Binh bộ thượng thư mà hỏi đến việc binh không biết một chút gì.
Học bộ thượng thư mà không biết đến việc học của dân.
Công bộ thượng thư mà quanh năm chỉ biết tu tạo mấy cái lâu đài và lăng miếu của nhà vua.
Lễ bộ thượng thư ba năm mới có một lần tế giao (1), cắm cúi vào những cái nghi tiết hão huyền, hủ lễ vô ích.
Lại bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư cũng vậy, mấy ông cụ lớn ấy chỉ biết ngày hai buổi chầu quỳ lạy ở sân rồng, tan chầu trở về, quanh năm ngày tháng như một con lợn ỉ lẩn khuất ở trong chuồng không biết một chút gì cả.
Vua đè ép các quan lớn. Các quan lớn đè ép các quan nhỏ. Các quan nhỏ đè ép dân. Cái không khí áp chế chỗ nào cũng nồng nặc khó chịu, xuống đến bậc dân thì không còn dân đạo (2) dân quyền gì nữa.
Có miệng không được nói có tai không được nghe, phần nào sưu thuế nặng nề, phần nào quan lại sách nhiễu, biết chết mà không dám tránh, bị ép mà không dám than. Chốn thôn dã thì đường xá khuất lấp, trộm cướp nổi lung tung. Ngoài thành thị một bầy quỷ sống, đua nhau ăn thịt dân uống máu dân. Mỗi năm bão lụt, dân bị chết đói, mỗi năm tật dịch, dân bị đau chết, không biết chừng nào.
(1)lễ tế trời của nhà vua
(2) đạo, nghĩa gốc là giáo lý, chủ thuyết; dân đạo có thể hiểu là một quan niệm về người dân trong xã hội. Chữ này ít gặp trong các từ điển.
CÓ MỘT GORKY MÀ CÓ LẼ BẠN CHƯA BIẾT
Ngày đăng 28 tháng 9 năm 2017
I/
"Cả Lenin, cả Trotsky đều lạnh lùng bôi nhọ cuộc cách mạng, làm nhục giai cấp công nhân, buộc họ phải tiến hành cuộc thảm sát đẫm máu, xúi giục giết chóc, bắt giữ những người hoàn toàn vô tội ...
Lenin chỉ nêu ra kinh nghiệm nào đó, cố gắng kích động tinh thần cách mạng vô sản đến cực độ và nhìn xem từ đó diễn ra cái gì?
Bản thân Lenin tất nhiên là con người có sức mạnh phi phàm, con người tài năng, ông sở hữu tất cả các thuộc tính của "vị lãnh tụ", cũng như những yếu tố cần thiết cho vai trò này như
-- SỰ THIẾU VẮNG ĐẠO ĐỨC VÀ PHONG CÁCH TÔN QUÝ TRONG SẠCH,
-- THÁI ĐỘ TÀN NHẪN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG QUẦN CHÚNG” (VT Nhàn nhấn mạnh ).
Cuộc sống với tất cả những phức tạp của nó không nằm trong tri thức của Lenin, ông không biết đến quần chúng, không cùng sống với họ, nhưng qua sách vở ông hiểu được cách làm thế nào để kích động đám đông này, dễ dàng hơn cả là chọc vào khơi lên cơn cuồng giận bản năng của họ".
Những dòng trên trích từ một cuốn sách nhỏ của Gorky gồm những ông viết từ 1918 trên tờ “Đời mới” do chính ông làm chủ bút.
Cuốn sách mang tên "Những ý tưởng không hợp thời” này vừa được trang mạng Sputnik bản tiếng Việt giới thiệu,
https://vn.sputniknews.com/russia/201709254058754-maksim-gorky-cach-mang/
tôi chỉ biết được điều này nhờ trang Văn hóa Giáo dục của Viet-studies, GS Trần Hữu Dũng đã đưa lại nó với ý nghĩa một tài liệu hiếm hoi mà chúng ta nên biết.
Bạn đọc nào có dịp tìm hiểu nước Nga thời cải tổ hẳn biết rằng cuốn sách này của Gorky từ lâu đã nằm im trong các kho lưu trữ, nhờ có một bản tiếng Đức mà các thế hệ sau mới tìm thấy nó và ở Nga, khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ trước nó mới bắt đầu được in lại.
Riêng bản tiếng Việt thì năm 2008, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Xanh (một chuyên gia về giáo dục Đại học, tác giả cuốn tiểu sử Einstein từng được tái bản nhiều lần) đã giới thiệu tác phẩm này trên trang mạng Diễn đàn ở Pháp.
Rồi gần đây ngày 6 Tháng Tám, 2017, Nguyễn Xuân Xanh lại cho in lại trên trang mạng của mình bài
“Maxim Gorki – Những ý tưởng không hợp thời về Văn hóa và Cách mạng”
https://rosetta.vn/nguyenxuanxanh/maxim-gorki-nhung-y-tuong-khong-hop-thoi-ve-van-hoa-va-cach-mang/
Các bạn muốn hiểu thêm bài trên Spunik, có thể tìm thêm bài Nguyễn Xuân Xanh để đọc.
II/
CÁCH MẠNG VÀ VĂN HÓA DƯỚI MẮT GORKY
Tôi thích đoạn văn Gorky miêu tả Lenin dẫn ở đoạn trên bởi nó thật đã miêu tả đầy đủ mấy tính cách phổ biến của các nhà hoạt động chính trị khởi động cách mạng.
Cái tài lớn nhất của họ là biết kích động một đám đông ít học mà họ gọi là quần chúng.
Họ hiểu rất ít về những phức tạp của đời sống.
Trong cái vẻ “thiếu vắng đạo đức [nhân bản] và phong cách tôn quý”, thật ra họ là những người rất tàn nhẫn.
Mặc dù đã có văn bản tiếng Nga cuốn sách nhỏ của Gorky, tôi chỉ mới đọc nó loáng thoáng và lại chưa ghi chép được các ý quan trọng.
Nhưng tôi vẫn nhớ là ở đó rất nhiều chỗ Gorky tố cáo sự phá hoại văn hóa mà cách mạng gây ra.
Ở chỗ này Gorky đã gặp gỡ với các nhà tư tưởng cuối thế kỷ XX.
Nay là lúc cách mạng Pháp 1879 cũng bị mang ra phê phán vì vai trò phát động các thế lực tự phát để đẩy lùi lịch sử của nó.
Nếu lại hiểu rằng ngày nay ở nhiều nước người ta đang nhân danh tinh thần dân tộc để tàn phá tất cả, và quan trọng nhất là phá hoại văn hóa, ta mới hiểu tầm vóc của những ý tưởng đã được Gorky đề ra từ cuốn sách viết năm 1918.
Đây là đoạn ông ghi 9.5.1917
“Tổ quốc sẽ ít bị đe dọa hơn, nếu có nhiều văn hóa hơn.
...
Đối với tôi, lời kêu gọi “Tổ quốc bị lâm nguy” là không đáng sợ hơn lời kêu gọi “Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”
Sự vận động của lịch sử ở VN thời gian trước mắt phụ thuộc nhiều vào nhận thức của chúng ta về mối quan hệ cách mạng và văn hóa mà Gorky nêu ra ở đây.
Trong công việc khó khăn ấy, các nhận xét của Gorky về cuộc Cách mạng Nga 1917 sẽ tiếp sức cho chúng ta.
Trong đêm trước của Cách mạng Tháng Mười, Gorky viết:
"Ngày càng phát tán rộng những tin đồn dai dẳng hơn, rằng sẽ có cuộc xuất kích của những người Bolshevik.
Nghĩa là một lần nữa xuất hiện những chiếc xe tải chở đầy những người mang súng trường và súng lục trong bàn tay run rẩy vì sợ hãi, và những nòng súng ấy sẽ xả đạn làm vỡ kính cửa hàng, sẽ bắn vào mọi người, tứ tung loạn xạ!
Họ sẽ bắn chỉ vì những người vũ trang cho họ muốn giết chết nỗi sợ hãi của chính mình".
Và đây về những chính sách được nhà nước cách mạng áp dụng sau đó nó khiến ông day dứt và không thể thỏa hiệp:
"Lenin, Trotsky và các cộng sự của họ đã đầu độc chính quyền thối rữa, bằng chứng là thái độ đáng xấu hổ của họ với tự do ngôn luận, nhân cách, và với toàn bộ những quyền mà nền dân chủ đấu tranh cho chiến thắng. Những nhân vật cuồng tín mù quáng và phiêu lưu vô lương tâm đã hối hả vội vàng lao tới theo con đường dường như là "Cách mạng Xã hội"…
DƯỚI MỘT VÌ SAO
Ngày đăng 30 tháng 9 năm 2017
Thơ Wisława Szymborska
Bản dịch Thái Linh trên mạng Lilia
***
Tôi thích thú với bài thơ sau đây của nhà thơ Ba Lan Wisława Szymborska (1923 - 2012) trước tiên là bởi nó nói tớí sự hạn chế của con người.
Nhưng con người vẫn muốn mình chỉ là mình
Một sự ương bướng rất dịu dàng
đã được xây dựng trên cơ sở của sự từng trải,
của nhận thức sáng suốt,
kể cả tự nhận thức.
( trích ở lời giới thiệu đưa trên blog)
***
Xin lỗi sự ngẫu nhiên
vì em gọi nó là điều tất yếu.
Xin lỗi điều tất yếu
nếu dù sao em cũng đã nhầm.
Hạnh phúc xin đừng giận dữ réo gầm,
vì em chiếm như của riêng mình vậy.
Người đã khuất hãy quên đi điều ấy,
rằng trong ký ức mơ hồ họ leo lét lắt lay.
Xin lỗi thời gian vì em đã không hay,
bao lần lỡ những trần gian khoảnh khắc.
Xin lỗi mối tình xưa,
vì tình mới em xem như tình yêu thứ nhất.
Những cuộc chiến xa xôi xin hãy thứ tha,
khi em đem hoa thắm về nhà.
Những vết thương hoác miệng hãy bỏ qua,
khi em bị kim đâm vào ngón.
Xin lỗi những người từ vực sâu đang gọi khóc,
vì đĩa nhạc kia với vũ khúc nhịp nhàng.
Xin lỗi những người sân ga lang thang,
vì giấc ngủ lúc năm giờ sáng.
Hi vọng hãy bỏ qua đừng chấp,
vì đôi khi em cũng mỉm cười.
Đừng chấp em, sa mạc kia ơi,
vì em chẳng chạy nhanh cầm thìa nước.
Cả mi nữa cú ơi,
vẫn trong chiếc lồng này bao năm không gì khác trước,
bất động đăm đăm nhìn một điểm không rời,
hãy buông tha cho ta, ngay cả khi mi là một chim nhồi.
Vì bốn chân bàn xin thứ lỗi cho em,
cây bị đốn kia ơi.
Xin lỗi những câu hỏi lớn lao
vì những câu trả lời nhỏ bé.
Sự thật ơi, đừng để ý tới em sít sao đến thế.
Hỡi trang nghiêm, hãy rộng lượng hải hà.
Nhẫn nại đi sự sống bí ẩn à,
từ gấu áo người em rút từng sợi chỉ.
Tâm hồn đừng lên án em như thế,
khi lâu lâu em mới gặp người.
Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.
Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.
Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,
vì chính em là trở ngại của mình.
Xin đừng chỉ trích em lời nói hỡi, em xin,
khi em mượn những ngôn từ thống thiết,
rồi sau đó thêm vào bao khó nhọc,
để chúng dường như thanh thoát nhẹ nhàng.
-----
Trích ở bài "Một cách định nghĩa về sự trưởng thành của con người"
đưa trên blog của tôi 18-1-2015
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/01/mot-cach-inh-nghia-ve-su-truong-thanh.html
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ(kỳ năm): ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH TRÍ THỨC
Ngày đăng 1 tháng 10 năm 2017
"Sĩ phong [khí thế, tinh thần của đám trí thức] nước ta, suy đồi đi là tự đời Lê trung hưng về sau.
Lúc bấy giờ các vua nhà Lê vẫn cầm quyền mà họ Trịnh dám dấy lên cướp quyền, quan lại và sĩ dân trong nước đều theo họ Trịnh. Hoá nên cái tâm lý sĩ phu thời ấy có hai đàng: thờ vua Lê để tránh tiếng phản quân; thờ họ Trịnh để kiếm đường thực lợi.
Ban đầu chắc cũng có người áy náy trong lòng, về sau tập thành quen, không còn biết thế nào là sỉ nhục.
Một người như thế trăm nghìn người hùa theo, người trên như thế người dưới bắt chước theo, thành ra cả một nước đều bỏ mất đại nghĩa, quên mất liêm sỉ, mà đổ xô nhau vào vòng danh lợi.
Từ đó về sau, người mình trở nên mềm như con bún, không biết vua là gì, không biết nước là gì, hễ ai mạnh thì theo. Lòng tự trọng của người mình như ngọn lửa đã tắt, không còn bừng lên, như hột giống bị ẩm, không còn nứt lên được.
Lại thêm cái kiểu chuyên chế từ xưa đến nay, cứ ở trên đè xuống ở dưới đợ lên, làm cho nhân dân ngày một đê hèn ngày một yếu ớt. Lòng tham lợi mạnh hơn lòng tư kỷ [tự ý thức về cá nhân mình] thì luồn cúi lạy lục mấy cũng chẳng từ; ưa cái sống đục hơn cái thác trong, thì mặt dạn mày dày đâu có quản.”
***
Đoạn văn trên là của Phan Khôi, ông viết trong bài “Luận về khí tiết” đưa trên tạp chí "Hữu Thanh"-- cơ quan ngôn luận của hội Bắc kỳ công thương đồng nghiệp 1923.
Từ hồi biết nghĩ, đọc sử đến đoạn thế kỷ XVII Đàng Trong Đàng Ngoài, tôi đã cảm thấy trớ trêu. Sau này đọc thêm về xã hội Việt mới thấy cách tổ chức chính quyền vốn là một điểm kém cỏi của xứ ta, đến lúc ấy càng bộc lộ rõ. Từ đó thấy hoàn toàn có thể đồng ý với cách nói của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh rằng kiểu tổ chức chính quyền thời vua Lể chúa Trịnh là một thứ báng bổ đối với đạo Nho.
Một trong những lý thuyết căn bản của Khổng giáo là thuyết chính danh: “Quân quân thầnthần phụ phụ tử tử.” Vua phải ra vua quan phải ra quan, tóm lại ai phải ra người ấy, mỗi vai phải có tiêu chí chuẩn mực do xã hội quy định.
Cái này thì bao giờ cũng đúng, đến thế kỷ XXI vẫn đúng. Con người thời ta có thể có những chuẩn mực khác với chuẩn mực ở các thời khác các xứ khác. Nhưng phải có chuẩn mực của mình và phải theo nó, không theo là vô đạo – đạo đây không phải là đạo nào cả mà là đạo làm người.
Bây giờ đọc thêm Phan Khôi, mới thấy trong cái thời loạn ấy, -- một thứ loạn do cách tổ chức xã hội sai lạc -- con người thế kỷ XVII không thể tử tế được. Theo những lời dạy của thánh hiền, họ phải chống lại những kẻ tiếm quyền là đám võ biền họ Trịnh. Nhưng chống lại thì sống bằng gì? Lòng người trí thức trở nên phân hóa.
Vừa phải theo bên này vừa phải theo bên kia.
Sống ngược niềm tin của mình.
Dần dà họ không còn lý tưởng gì nữa. Toàn bộ hành động hướng vào việc chạy theo danh lợi. Nói theo chữ nghĩa thời nay tức là chủ nghĩa cơ hội xuất hiện. Những con người “mềm như bún” ấy – như chữ của Phan Khôi – còn mang trong mình nhiều “phẩm chất” kỳ cục khác mà chỉ con người hiện đại trong những thời buổi chính sự nhiễu nhương mới có: bất chấp đạo lý và trơ trẽn không còn biết xấu hổ là gì, nịnh nọt và trở mặt.
Ai đọc “Hoàng Lê nhất thống chí” hẳn nhớ cái câu mà một nhân vật tri huyện giải thích sự phản trắc khi nói thẳng vào mặt Lý Trần Quán là ông thầy của mình "Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa không bằng yêu mình.". Một phát hiện như thế đang được con người ngày nay nâng lên một trình độ mới. Trên con đường lưu manh hóa, họ tìm thấy ở đấy một sự giải phóng.
***
Suy nghĩ cuối cùng của tôi: sống trong cái thời nhố nhăng, con người khó giữ được mình lắm.
Nhưng không phải vì thế mà cho phép mình buông thả hùa theo mọi người và đổ lỗi cho xã hội.
Lại còn có thể nói thêm với nhau: mọi vận động ngược dòng thường cũng mang lại những thách thức thú vị.
Không phải bao giờ tôi cũng làm được hết những điều mình nghĩ. Nhưng tôi sẽ thử, đang thử và còn tiếp tục thử.
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ sáu): CÁC TRIỀU VUA CUỐI CÙNG CỦA NHÀ NGUYỄN QUAN NIỆM VỀ SỰ KẾ VỊ NHƯ THẾ NÀO
Ngày đăng 7 tháng 10 năm 2017
Trong "Đồng Khánh Khải Định chính yếu" do Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch tiếng Việt, (NXB Thời Đại 2010) tr 269, thấy có ghi: Năm Khải Định thứ bẩy(1922), mùa hạ tháng tư, Mệnh cho Hoàng Thái tử sang Tây du học.
Dụ rằng:
“ Sở dĩ cha mệnh cho con đi du học chính là muốn con mở rộng kiến thức, tăng cường trí tuệ, đồng thời có được hiểu biết về công việc giao thiệp, để sau khi thành tài có được một tư chất hoàn hảo.
Vả lại làm địa vị một người đứng trên những người khác thì trách nhiệm không phải dễ dàng.
Với trách nhiệm nặng nề to lớn thì phải có tư chất hơn người mới có thể đảm đương được.
Nếu may mà con đi du học thành tài trở về đến khi cha già trăm tuổi qua đời rồi, triều đình lập con nên kế ngôi thì tư chất của con đã đủ để gánh vác trách nhiệm ấy.
Còn nếu vạn nhất chẳng may vì duyên cớ ngoài ý muốn mà con không học được thành tài khi đó triều đình có đón con về lập lên ngôi thì con phải từ chối nhất thiết không được nhận.
Nhận ngôi để rồi không đảm đương được trách nhiệm thì không chỉ hại đến bản thân mà thôi đâu. Cái hại đối với bản thân mình còn là nhỏ, để hại cho tôn miếu xã tắc thì cái hại ấy mới thật là lớn. Con hãy nghe theo lời của cha."
Nội dung cụ thể như thế kể cũng đã rõ.
Tôi chỉ lưu ý thêm: từ sau 1945 tớí nay, sử ta chỉ toàn nói về triều Nguyễn với những tội lỗi; tới các đời vua cuối của vương triều này thì sự khinh rẻ coi thường lại càng rõ rệt.
Tôi không đọc được hết, nhưng chỉ cần giở sử loáng thoáng một chút thấy họ Nguyễn không đáng bị đối xử như thế.
Trong hoàn cảnh thời thế thay đổi, dòng họ này có sự thích nghi để tồn tại đàng hoàng chứ không phải cố đấm ăn xôi.
Khi quyền lực bị o ép, sự cai trị bị thu hẹp, các vua cuối cùng của nhà Nguyễn vẫn có khả năng tiếp nhận những bài học của phương Tây để tự đổi mới.
Quan niệm về sự kế vị như trên là một ví dụ
Chắc chắn còn tử tế hơn quan chức thời nay cố nhét con cái vào kế vị mình khiến từ góc độ sinh học ta thấy như nhiều người trong các dòng họ tham quyền cố vị ấy đang có một sự thoái hóa.
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy): QUAN LẠI TRONG THỜI HẬU CHIẾN
Ngày đăng 10 tháng 10 năm 2017
Thời nay ta quen nghĩ ai làm chiến tranh được thì ra làm kinh tế cũng được. Mà chiến tranh ta đã chiến thắng như thế thì quản lý mấy cái mỏ, mấy cánh rừng hay vận động nông dân sản xuất để nuôi sống xã hội và làm hàng xuất khẩu, với bộ máy của ta có gì quá khó mà không làm nổi. Lớp quan chức cũ có già đi thì con cái họ, nối tiếp truyền thống của cha anh sẽ tiếp tục một cách xứng đáng.
Nhưng đó liệu đã phải quan niệm duy nhất đúng chưa? Đọc lại lịch sử chúng ta thấy có những bài học khác .
Nghiên cứu về triều Lê thế kỷ XV, sau khi khái quát vấn đề chính của sự phát triển xã hội hậu chiến là bộ máy quan lại, nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Kế ( trong bài mở đầu cho sách "Quốc triều hình luật—Lịch sử hình thành nội dung và giá trị " NXB Khoa học xã hội 2004 ) cho biết:
Tài năng, đạo đức, chất lượng làm việc của đám người quản lý đất nước này rất tệ hại.
Lê Thái Tổ từng khái quát là nhiều công thần chung quanh ông ”không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi”.
Lê Thái Tổ làm vua từ 1423 đến 1433.
Tiếp đó là Lê Thái Tông 1433-1442, rồi Lê Nhân Tông 1442 -1459.
Cả hai vị nối tiếp Lê Lợi đều lên ngôi lúc còn trẻ, người mới 11 tuổi, người mới 2 tuổi, nên quyền hành đều ở trong tay nhóm cận thần.
Chính Lê Thánh Tông, người làm vua từ 1460, và nổi tiếng là anh minh, đã nhận xét đại ý trong khoảng thời gian hai vua nói trên trị vì, ”trên thì tể tướng dưới thì trăm quan bừa bãi hối lộ ( Sách QTHL...đã dẫn, tr.14 . Mà ở đây cũng như ở trên, nhà sử học đương thời chỉ dẫn lại từ bộ "Đại Việt sử ký toàn thư")
Vẫn theo cuốn sách QTHL..., tiếng là các quan đầu triều, nhưng các loại đại thần thời đó may lắm chỉ thạo việc binh đao, còn quản lý đất nước thì không rành việc.
Yếu kém sinh ra hư đốn mọi bề. Tội lỗi sớm muộn cũng sẽ đến với những kẻ dốt nát..
Nguyễn Hải Kế có dẫn lại từ bài "Trung Hưng ký":
”Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như Lê Duyên Lê Luyện thì mù tịt”
” Phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh được nghe theo”
Nói thêm về Lê Sát.
Sách "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim ghi ông từng theo vua lập được công to, làm quan đến Đại tư đồ.
"Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế thì ghi ông này đứng hàng thứ hai trong 53 công thần được khắc tên trong "bảng vàng danh dự" -- nói như ngày nay là bảng tuyên dương công trạng sau chiến tranh. Thời Thái Tông, ông từng giữ chân thừa tướng.
Nhưng vẫn theo Trần Trọng Kim ” Lê Sát là người ít học... lúc làm Phụ chính thường hay cậy quyền trái phép, làm nhiều điều kiêu hãnh, hễ triều thần ai là người không tòng phục thì tìm cách làm hại ” ( VNSL bản Tân Việt 1951, tr 238)
***
Tôi đọc được đâu đó rằng ở nhiều nước, khi có chiến tranh, các trí thức -- tức các chuyên gia cao cấp -- thường ra nước ngoài học hỏi, rồi đến khi chiến tranh kết thúc, họ sẽ quay về tiếp nhận công việc quản lý nhà nước và xây dựng lại xã hội theo những bài bản mà mọi nước phải theo.
Ở Nhật, thắng xong shogun, vua Minh trị cũng đã áp dụng chính sách trả cho các tướng lĩnh một số tiền lớn để các vị ấy về nghỉ hay đi buôn thì tùy, chứ việc nước thì giao cho người khác.
Ta có lý riêng khi làm theo cách của ta: sau chiến tranh phải trao các chức tước cho những người có công trong chiến tranh và con cháu họ, lý do là cần làm thế để đền đáp phần đóng góp quá lớn của họ trong thời chiến.
Nhưng kết quả sự phát triển chung của xã hội như thế nào thì chúng ta đều biết.
Lịch sử không biết đến chữ NẾU. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng nếu đặt sự phát triển kinh tế sau chiến tranh vào tay các nhà chuyên môn -- bất kể có tham gia chiến tranh hay không, nhưng bắt buộc phải là người có kiến thức và thạo việc quản lý -- để đất nước trở nên thịnh vượng, chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn để làm công việc ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA rất chính đáng nói trên.
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ tám): SỰ KHÁC NHAU GIỮA VIÊN QUAN VÀ NGƯỜI ANH HÙNG
Ngày đăng 11 tháng 10 năm 2017
1/ Một cuộc đời nhiều thăng trầm
Trần Khánh Dư (không rõ năm sinh, mất năm 1339), thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông.
Sách Đại việt sử ký toàn thư ( bản của NXb Khoa học xã hội 1985, t. II tr.58), dưới đây gọi tắt là Toàn thư ghi, trong cuộc chống quân Nguyên lần hai, ông từng có trận đánh đoàn hậu cần của địch, bắt được hết lương thực khí giới của chúng.
Trong việc chống quân Nguyên xâm lược lần thứ nhất, Trần Khánh Dư còn có nhiều công trạng khác, nên từng được phong tước cao như phiêu kỵ tướng quân có lúc được phong tước tử phục thượng vị hầu, quyền chức phán thủ.
Trên phương diện quan chức, đời ông có nhiều thăng trầm.
Điểm thấp nhất trong bước đường công danh của ông xảy ra trước chiến tranh 1285. Do thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu Trần Quốc Tuấn, ông bị vua Thánh Tông sai người đánh thật nặng, đoạt hết quan tước và tịch thu toàn bộ tài sản.
Khánh Dư lui về Chí Linh, theo chữ của Toàn thư là “cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than”.
Nhờ chiến tranh mà ông được phục chức.
Trên đại thể Trần Khánh Dư là một con người ngang tàng có bản lĩnh, dám chấp nhận mọi hoàn cảnh. Ngoài tri thức quân sự ông đã sớm làm quen với cuộc đời thường kể cả việc kinh doanh.
***
2/Nhân danh chiến đấu chống ngoại xâm để làm giầu
Nhà Trần vốn là một dòng họ bên đất Mân truyền sang ( Toàn thư, sđd t. II, tr 5) cướp ngôi nhà Lý mà thành. Wikipedia tiếng Việt còn ghi rõ tổ tiên của nhà Trần có nguồn gốc ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Những người đầu tiên từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110.
Trong guồng máy chính quyền lúc ấy, quan niệm rằng các văn quan, các nhà trí thức có vai trò kinh bang tế thế là một cái gì xa lạ. Việc quản lý từ Trung ương đến địa phương trong tay người trong hoàng tộc cũng tức là các tướng lĩnh quân sự.
Trần Khánh Dư cũng sớm được xếp một vai phụ mẫu chi dân.
Trên cương vị này, người anh hùng của chúng ta hiện ra là người thế nào?
Toàn Thư ( sđd tr 59) viết :
Khi Khánh Dư làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy lấy buôn bán làm nghề nghiệp sinh nhai, ăn uống may mặc đều dựa vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc.
Khánh Dư duyệt quân các trang (tức các thôn xóm) ra lệnh
”Quân trấn giữ Vân Đồn là để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón của phương Bắc sợ khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi ( Ma Lôi là tên một hương ở Hồng Lộ, hương này khéo nghề đan cật tre làm nón, cho nên lấy tên hương làm tên nón ) ai trái tất phải phạt.
Nhưng Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước chở thuyền đến đậu trong cảng rồi.
Lệnh vừa ra, sai người ngầm báo dân trong trang: “Hôm qua thấy trước vụng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đậu”.
Do đó người trong trang nối gót tranh nhau mua nón, ban đầu mua không tới một tiền, sau giá đắt bán một chiếc nón giá một tấm vải.
Số vải thu được tới hàng ngàn tấm.
Đoạn sử nói trên cho thấy:
1/Tình trạng phụ thuộc của xứ ta vào "nước lạ" phương Bắc, càng những miền gần cận biên giới càng phụ thuộc nặng.
2/ Thực trạng công việc quản lý của các nhà quân sự thời Trần.
Toàn bộ hoạt động xã hội lúc ấy dồn vào việc tự vệ chống giặc. Trong khi chuẩn bị chiến đấu lâu dài, người chỉ huy phải có toàn quyền hành động, từ đó dẫn đến sự lợi dụng quyền lực.
Tại sao nên dùng nón Ma Lôi? Là để phân biệt ta với địch. Lệnh thời chiến ai mà dám trái! Nếu chú ý tới chi tiết Trần Khánh Dư cho người đi phao lên rằng thuyền chở nón đã đến để người ta đổ đi mua, thì nói như chúng ta ngày nay, tức là toàn bộ hệ thống chính trị được huy động để phục vụ cho việc kiếm lợi của viên tướng thạo đời này.
Trường hợp của Trần Khánh Dư cũng là trường hợp của nhiều vị anh hùng khác, chẳng qua sử xưa không nói thì chúng ta nay không biết .
Lâu nay ta chỉ nghĩ ông là người anh hùng có công. Nhưng phải nhận, trên cương vị người quản lý xã hội viên quan cai trị dân, người trấn nhậm vùng Vân Đồn lại hiện ra như một kẻ có tội.
Ông tự dành cho mình cái quyền lừa dối nhân dân để kiếm lợi riêng.
Hơn nữa nên biết đó là điều nằm trong quan niệm làm quan (= cai trị) của ông, chứ đây không phải một hành động ngẫu nhiên bị ai xui bẩy. Chính Toàn thư cũng đã ghi một câu thuộc loại “lời nói có cánh” của ông. Đời vua Anh Tông, tiếp theo Nhân Tông, người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ ? ” (S đ d, tr 72)
Trích ở bài viết đã đưa trên blog ngày 1-10-2013
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/10/vua-la-nguoi-anh-hung-co-cong-vua-la.html
CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín ): GIAI CẤP THỐNG TRỊ NGƯỜI VIỆT DƯỚI CON MẮT VUA CHÚA TRUNG HOA THẾ KỶ XVI
Ngày đăng 25 tháng 10 năm 2017
Bây giờ thì không úp mở nữa, nhiều người nước ngoài đến VN bắt đầu nói thẳng, đúng hơn là báo chí ta bắt đầu đăng những ý kiến họ chê mình chẳng ra sao.
Một nhà nghiên cứu về vịnh biển kêu lên sao các bãi biển VN bẩn thế, đến một lần đã phát khiếp thì ai dám trở lại.
Đại diện một cơ quan văn hóa nước ngoài nói rằng các anh hãy làm cho Hà Nội đỡ bẩn đi thì vẻ đẹp lịch sử của nó mới đến được với người nước ngoài.
Kể ra, đấy mới là chuyện vặt, những chuyện sinh hoạt và là chuyện hôm nay.
Chuyện tương tự thế kể không hết.
Tôi từng ước có một trang mạng nào đó, đưa lên tất cả tài liệu người nước ngoài viết về mọi phương diện của con người và xã hội VN, hôm qua và hôm nay.
Nhất là trong tình hình hiện tại, rất cần có những bài trong đó người nước ngoài nói về cách tổ chức xã hội của người mình, cách người mình quản lý đất nước từ đơn vị cơ sở đến bộ máy bên trên -- "từ làng xã đến triều đình" - , tóm lại là cái phần xấu xa kém cỏi trong cách làm chính trị của người Việt trong quá khứ.
Mong rằng có bạn nào đó có dịp đọc lại các sử liệu nước ngoài, cả Pháp lẫn Trung Hoa, nói về những nội dung trên đây, ghi nhận mọi biến chuyển của nó trong thời gian .
Việc khó nhưng tôi tin là khá thú vị.
***
Trên FB này, ngày 26-9 tôi đã kể một số đoạn có ý nghĩ thời sự được dẫn trong ‘Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia” của Đinh Khắc Thuân,( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001)
Hôm nay xin dẫn lại một đoạn khác trong sách đó, ghi lời tâu của quan chức lo quan hệ với nhà Mạc là Mao Bá Ôn tâu lên vua Minh .
Đoạn ấy như sau:
"Hạ thần xét về nước Nam, từ thời Hán thời Tấn đến nay, tuy xưng là nội phụ, nhưng vì thói tục di liêu khí độc lam chướng không thích nghi với Trung quốc. Vả lại nước ấy cứ vài năm một lần loạn lạc, mà đã loạn lạc thì kéo bè kết đảng, đánh giết lẫn nhau, phải qua mấy năm mới yên. Ngày trước Trương Phụ dùng hơn mười vạn quân đánh dẹp mà cũng chỉ đặt được quận huyện trong mấy năm. Sau đó chúng liên tiếp làm phản và rút cuộc lại trở về man di. Đó là một chứng nghiệm rất rõ ràng. Nay cân nhắc sự lợi hại thiệt hơn thời trước, thấy không gì bằng cứ để nước ấy là ngoại bang mà không nhập vào Trung quốc và chỉ nên dùng người di trị người di. Thế mới ổn thỏa và tiện lợi (sđd, tr 58 ).
Ý đoạn này có thể hiểu là cả một chiến lược thâm độc dựa trên nhận thức:
-- không cần chiếm VN làm gì, không lợi, tốn kém
-- người Việt không thể cải tạo
-- vì giới cầm quyền VN chuyên đấu đá lẫn nhau, nên dùng ai làm tay sai cũng được, chỉ cần nắm bọn thắng, rồi sau đó bọn này có bị làm phản thì ta lại ủng hộ bọn thắng mới. Càng đánh nhau chúng càng yếu đi, nên càng phụ thuộc ta, bảo gì chúng cũng phải nghe.
***
Sáu bảy mươi năm trước thời ta đánh nhau với Pháp, Mỹ, trong các bài sử bọn học sinh chúng tôi được học, cũng thấy nói họ rất thích dùng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.
Nhưng thời ấy chúng tôi được giảng đấy là nói về chuyện bắt lính.
Đằng này giới chóp bu Trung quốc thế kỷ XVI, khi tính về nước Việt, có cái nhìn vĩ mô, tìm cách thao túng ngay từ bên trên, đấy mới thật là khôn ngoan.
Nhưng giới cầm quyền ở ta thời ấy phải có một TRUYỀN THỐNG thế nào thì họ mới đi đến cái quyết định rất hiện đại đó chứ.
SỰ LƯU HÀNH CỦA SÁCH
Ngày đăng 26 tháng 10 năm 2017
Tháng 4-2011, tôi đến Văn Miếu xem một ngày gọi là hội sách. Người ta phải bán kèm sách bằng cách tổ chức các cuộc đố vui, thi lấy thưởng. Và phát sách tự do. Từ đấy mới xảy ra cái chuyện hi hữu là có người xông vào cướp sách.
Nhớ lại một chi tiết trong truyện Khổng Ất Kỷ của Lỗ Tấn. Nhà nho này có tật đi chép thuê cho nhà nào thì hay thó luôn sách của nhà đó, khi bị phát giác ông ta cãi lại một cách gọn lỏn “Ăn cắp sách không có lỗi.”
Trong giới những người ham đọc cũng có một câu ba vế như sau
-- Có sách hay mà không mang khoe là một sai lầm
--Trông thấy sách hay mà không hỏi mượn là một sai lầm lớn hơn
-- Mượn được sách hay mà không thó luôn làm của mình là một sai lầm không thể tha thứ được.
Thế tức là phải thấy “có yếu tố tích cực” trong việc sách được người ta xông vào cướp. Là hay là đáng mừng chứ gì?
Không, tôi biết mấy người xông vào cướp sách lần ấy không yêu sách quý sách đến thế. Họ chỉ hăng máu làm theo người khác. Thấy xông vào ăn cướp là vui thì cũng làm theo, mình giật được cái mà người khác không giật được chẳng vui là gì. Sau khi cướp được sách có người không buồn nhìn xem cuốn sách mình cướp được là gì, chỉ thầm nghĩ có thêm ít giấy về làm việc vặt. Có người vứt luôn ngoài cổng.
Vẫn có những người đứng đắn lo viết sách như sự nghiệp đời mình.
Nhưng nỗi đau khổ thường trực của họ là hiện nay là sách ra, như rơi vào khoảng không. Không được giới thiệu trên mặt báo. Không được thảo luận. Muốn gây được dư luận, nhất là phải có tiền, bạo chi. Mấy người hiện nay hội đủ những điều kiện đó?!
Cố nhiên đây là nói những cuốn sách tử tế. Loại đó đang hiếm lắm lắm.
Trích từ bài trên blog của tôi đưa ngày 26-10-2017
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/10/noi-tham-cua-sach-vo-thoi-nay.html
CHUYỆN NGHỀ BIÊN TẬP GHI SAU BUỔI GẶP MẶT Ở nxb PHỤ NỮ 25-10- 2017
Ngày đăng 27 tháng 10 năm 2017
Phần đầu đã đưa ở phần còm-men FB Nguyễn Thị Kim Hằng. Ảnh lấy từ NTKH. Từ trái sang Nguyễn Xuân Khánh, Minh Hà, Lại Nguyên Ân, VTN.
***
Lúc nói chuyện với nguyên giám đốc Mai Quỳnh Giao ở hành lang, tôi còn nhắc một ý:
Trong những buổi gặp mặt như thế này, nên nhắc tới các biên tập viên của nhà xuất bản, chính họ là người quan hệ với chúng tôi thường xuyên.
Họ kéo chúng tôi tới 39 Hàng Chuối, họ đến với chúng tôi trong các hội nghị và các quán nước, họ gợi ý cho chúng tôi viết cái nọ cái kia, họ mang về in lại ở nhà Phụ nữ những cuốn khá bọn tôi đã in ở các nhà xuất bản khác.
Minh Hà là một người như vậy.
Ba chục năm trước, biết tôi thích thể chân dung văn học, Minh Hà còn kiếm đâu ra cho tôi một bản tiếng Nga rất quý: cuốn chân dung các nhà văn Pháp của bậc thầy trong thể tài này là A. Maurois, đến nay tôi vẫn còn giữ.
Khi viết các bài chân dung, tôi thường lấy cuốn đó ra đọc.
Nếu tôi không lầm Minh Hà cũng có công trong việc kéo Trần Đĩnh dịch cho nhà xuất bản, dăm bảy năm trước, mỗi lần Trần Đĩnh từ Sài Gòn ra Hà Nội, Minh Hà đều gọi cho tôi đến gặp Trần Đĩnh, ngay ở 39HC.
Ngoài bản dịch Linh Sơn, Trần Đĩnh còn dịch cuốn "Những con chim hồng hộc" của Trang Nhung từ bản tiếng Anh "Wild Swans" của Jung Chang - một trong những cuốn sách viết về nước Trung Hoa sau 1949 phổ biến nhất ở phương Tây.
Còn một biên tập viên nữa cần nhắc là Nguyễn Sinh.
Trước khi tới buổi gặp này, tôi hy vọng gặp Nguyễn Sinh mà không được gặp. Trước và sau 1975, nói tới "Phụ nữ" chúng tôi chỉ biết Nguyễn Sinh.
Anh vốn ở báo Nhân Dân chuyển sang. Nhiều năm làm phóng viên, anh có cuốn "Ký sự miền đất lửa" viết về chiến tranh với cái giọng vừa phải.
Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu đều thân quen với Nguyễn Sinh.
Tiếc rằng -- không biết tôi có lơ đễnh không nhận ra không -- trong các phát biểu và các hình ảnh đưa trên màn hình, không thấy có nhắc đến Nguyễn Sinh một lần. Hy vọng là tôi do không chú ý nên có Nguyễn Sinh mà tôi không biết.
***
Tôi sở dĩ nói tới chuyện biên tập viên hôm nay vì tự nhiên nhớ một chi tiết: hồi còn làm ở nxb Hội nhà văn mỗi lần Hội có tổ chức "Hội nghị xuất bản", ông Hữu Thỉnh (người trong bụng hẳn thường nghĩ VĂN HỌC LÀ TA) cũng chỉ yêu cầu các vị giám đốc, và một số vị trưởng phòng lên báo cáo, còn biên tập viên không bao giờ được gọi lên phát biểu về nghề nghiệp.
Lúc ngồi cạnh Trần Đình Sử, tôi còn buột miệng kể thêm hai chuyện trong nghề:
-- trước khi làm xuất bản tôi có chục năm làm báo và có một nhận xét là -- trừ một ít trường hợp cá biệt -- các ông tổng biên tập báo thường khi không có một bài nào được người trong giới đánh giá cao về mặt nghề nghiệp. Nhiều người trong họ không hề biết một tờ báo nào thời tiền chiến, ở miền Nam trước 1975, chứ đừng nói báo ở Bắc Kinh, Moskva, Paris, NewYork
--Đến các ông giám đốc xuất bản, chắc có khá hơn hay kém hơn một chút, nhưng cũng chẳng bao nhiêu. Một đặc điểm nữa, là không bao giờ thấy mặt các ông ấy ở các hiệu sách phố sách đường sách trong những ngày thường, hoặc ở các hiệu sách cũ và các thư viện.
BA MẨU CHUYỆN VỀ SÁCH THỜI NAY
Ngày đăng 28 tháng 10 năm 2017
1/
Sách đã được viết như thế nào?
Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê người viết một cuốn tiểu thuyết đứng tên ông.
Tiền in đã có cơ quan lo.
Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng, để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép.
Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.
Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp.
Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng.
Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng, đi thuổng đi nhặt nhạnh, rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán.
Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy.
Thế thì có khác chi ông cán bộ văn nghệ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?
Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.
2/
Một loại tác giả “ăn khách”
Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW.
Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.
3/
Sách dùng để làm gì?
Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng.
Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?
Nhớ một mẩu chuyện vui vui.
Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:
-- Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.
-- Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?
-- Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.
Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/10/tu-vut-bo-sach-cu-co-gia-tri-en-o-at.html
MỘT THOÁNG THƠ ( kỳ I)
Ngày đăng 30 tháng 10 năm 2017
Ngay trong những lúc chán thơ nhất, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến thơ, và có viết một số đoạn giống như ngày xưa các cụ gọi là thi thoại. Nay về già, cái tâm tình cổ lỗ ấy lại tới, tôi mạn phép đưa lại trên FB. Sau đây là một đoạn tôi ghi từ 2011.
GIÓ TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
"Em ơi Hà Nội bụi." Tôi muốn kêu lên như thế trong mấy ngày đầu thu đầy cảm xúc này.
Bụi làm mất đi một quà tặng của thiên nhiên là gió.
Trong thế hệ những người cùng tuổi tôi nhớ Lưu Quang Vũ. Giá kể ngồi nhặt ra trong suốt mấy tập thơ của Vũ, hẳn sẽ thấy gió đã thuộc về một phần tâm hồn của nhà thơ này. Người biên soạn tập thơ có tính chất tổng kết đời Vũ đã có lý khi chọn cái tên "Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi."
Cứ giở một vài trang lại gặp một câu nhắc tới gió.
Bài "Tiếng Việt"
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
Bài "Người cùng tôi"
Người cùng tôi bên bờ biển bão
Người cùng tôi đầu ngọn gió mùa
Bài "Những đêm hoa vàng"
Mùa thu ướt đẫm cánh hoa vàng
Gió lục địa tràn về như bão
Bài "Trung Hoa"
Gió bấc thổi từ xa
Bên kia núi cao sừng sững
Trung Hoa
Rõ nhất là trong các bài thơ tình
Bài "Phút em đến"
Dù nơi đâu anh cũng là của em
Đợi nhau trong mưa, tìm nhau trong gió
Bài "Quả dưa vàng", viết trong xưởng họa Nguyễn Thị Hiền vào năm 1973
Mùa hạ đầu tiên chiến tranh chấm dứt
Bụi trắng đường, gió lộng mặt hồ xa
Đây là hai câu thơ viết khi Vũ còn đối với Xuân Quỳnh bằng một tình cảm ngập ngừng
Nơi đảo xa chỉ nước với trời
Nơi bãi cát em đi bao ngả gió
Còn đây là hai câu viết khi hai người sợ hãi mà vẫn sớm biết rằng sẽ phải thuộc về nhau
Mưa như bước chân những khát vọng vô hình
Trên một biển lá vàng đang nổi gió
GIÓ VỚI MỘT VÀI TÁC GIẢ KHÁC
Tại sao chúng ta nhớ gió? Gió cho người ta cảm giác rằng cuộc đời không phải tù túng như người ta đang sống đâu, còn có những phương trời khác, những không gian khác.
Nhớ những trang Nguyễn Tuân tả gió trong "Thiếu quê hương."
Nhớ cái câu ông dẫn lại trong một bài ký hồi kháng chiến chống Pháp
Âm - u - ai – khóc – than - trong - gió -Lào
Thơ Trần Huyền Trân
Chiều loạn mây rồi gió đã lên
Một sông đôi bến dở con thuyền
Nhớ thơ Huy Cận, bài "Chín"
Thu tới ngoài kia
Nghe nhân thơm trong trái nặng
Nghe nhựa đọng trong cành tơ
Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín
Xôn xao cuống lá rụng thay mùa
Bây giờ mà nói về sự viên mãn thì nghe lạc lõng quá. Mà ông Huy Cận ấy thì cả trong "Lửa thiêng" (1940) lẫn thơ viết ở Hà Nội 1960-75 không bao giờ là xa lạ với sự chín đầy viên mãn. Song theo chỗ tôi nhớ trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc và các đồng nghiệp cả những người khó chịu với ông quan văn nghệ Huy Cận vẫn thích nhà thơ trong ông. Bài "Chín" nói trên là một trong số làm nên tình yêu đó. Toàn văn đầy đủ như sau:
CHÍN
Thu tới ngoài kia
Nghe nhân thơm trong trái nặng
Nghe nhựa ấm trong cành tơ
Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín
Xôn xao cuống lá rụng thay mùa
Biển chiều xao động
Biển như ngực thở bồi hồi
Đời đã chín nhiều mơ mộng
Gió chờ thuyền đẩy ra khơi
Cây thời gian xanh
Chín tròn mặt nguyệt
Nắng vườn dâu đã chín ruột tằm
Và những đàn ong đã kết
Những chuyến hoa đầy nhụy tháng năm .
Đọc những bài này để hình dung ra những gì hôm nay trong cái thời hậu chiến hoang dã này, ta đã đánh mất.
Về Huy Cận mời xem thêm một bài của tôi đã đưa trên blog
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/06/tho-huy-can-va-nhung-ve-ep-cua-qua-khu.html
MỘT THOÁNG THƠ (kỳ 2): ĐỜI LOẠN ĐI VỀ NHƯ HẠC ĐỘC
Ngày đăng 1 tháng 11 năm 2017
10-2014, tôi đi với anh bạn Đoàn Công Tính về Nam Định. Đến khu tưởng niệm đơn sơ dành cho Tú Xương ngay trung tâm thành phố, thấy ở đó tỉnh Nam cho khắc hai câu thơ của nhà thơ non Côi sông Vị, đã mừng. Nhưng khi đọc lên sao cứ thấy không phải, nó không ra những câu đáng khắc trên mộ mà cũng không hẳn đã tiêu biểu cho Tú Xương . Hai câu đó là:
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò
Thứ tư 25-10, ngồi với Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Sinh, Nguyễn Văn Thành, ở Hàng Hành. Nghe tôi thuật lại chuyện đó, Thiệp nói ngay:
-- Cái câu tiêu biểu cho Tú Xương phải là “thương cả cho đời bạc”.
Câu này Thiệp đã dùng làm đầu đề một truyện ngắn.
Chủ nhật 29-10, lại ngồi với Thiệp ở salon Bảo Khánh, phố Đỗ Hành nhưng bọn tôi vẫn quen gọi là Đỗ Hạnh.
Thiệp tặng tôi một đĩa nhỏ có khắc hình con hạc, kèm thêm câu thơ “Đời loạn đi về như hạc độc”.
Tôi thích hai chữ đời loạn, -- nó có gì liên quan tới điều tôi thường nghĩ -- để rồi về sau lại càng ngạc nhiên khi biết đó là câu thơ của Nguyễn Khuyến, lứa tuổi của bọn tôi lùi về một trăm năm trước ( 1835 – 1909).
Nghĩ tới Tam Nguyên Yên Đổ là nghĩ tới “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” nghĩ tới một không gian và thời gian tĩnh lặng, tất cả như ngưng đọng, sao cái chữ loạn ấy lại ở đây được.
Sực nhớ ra có lẽ đó là thơ chữ Hán của Yên Đổ chăng, sau về tra lại thấy đúng vậy, càng phục Thiệp.
Bạn bè đồng nghiệp lứa mình mấy người chịu học cái cổ đâu.
Có quay lại văn học quá khứ thì chỉ biết tới văn học tiền chiến, muốn tỏ ra ngưỡng mộ các nhân vật lớn thường toàn hướng về các nhà văn nước ngoài hôm qua là Pháp với Nga, hôm nay là Anh Mỹ.
Hướng về nước ngoài thì cũng phải thôi, nhưng lẽ ra đồng thời phải học lại chữ Hán cổ, hay tối thiểu là đọc các bản dịch để học các cụ, chứ sao lại bằng lòng với mấy bài giảng học được ở nhà trường.
Mấy ai được như Thiệp, ngay ở cái phần học hỏi!
Xế trưa một ngày cuối thu đầu đông, trên xe ôm từ phố Đỗ Hạnh về ngang qua khu phố cổ Hàng Buồm Hàng Bạc lên cầu Chương Dương -- dọc theo một Hà Nội tạm gọi là vắng vẻ, trong đầu nẩy ra cái ý nghĩ thấy đúng là sau cái vẻ thanh bình, đời nào với người Việt chẳng là đời loạn ( loạn ngay cả khi không có tiếng súng).
Mà văn chương mình thì lại chẳng viết về cái tinh thần đời loạn này gì cả.
Hãy thử nhìn vào cái thứ “văn học ca ngợi người lính chiến trường để lôi con người ta ra trận” như lâu nay các nhà văn Hà Nội vẫn viết, hoặc thứ "văn chương làm hàng" dông dài trên báo trên mạng, cả hai đều là sản phẩm của đời loạn, với nghĩa không phải văn chương đúng nghĩa.
Còn như đích thực cái đời loạn ấy là như thế nào thì lại chẳng ai nói tới, thậm chí chính hai chữ ĐỜI LOẠN ấy theo nghĩa của Nguyễn Khuyến cũng chẳng mấy ai nghĩ tới nữa.
BIẾT MÌNH ĐANG SỐNG THẾ NÀO, VẪN LO HỌC ĐỂ SỐNG TỐT HƠN.
Ngày đăng 3 tháng 11 năm 2017
Bỗng nhiên nhớ lại hai câu nói của hai nhà văn miền Nam, một già một trẻ trước 1975 .
Cả hai tôi ghi lại đã lâu, nhưng nay cuốn sổ không để ở HN, nên không dẫn được nguyên văn chỉ ghi theo trí nhớ.
• Sau chiến tranh cả chúng ta lẫn những người cộng sản đều không nên sống nữa, vì chúng ta đã quá cực đoan.
•[Trong một cuộc tranh cãi nhỏ với báo chí Hà Nội]. Các anh đừng nên nghĩ chỉ các anh mới là người Việt Nam mà chúng tôi cũng là người Việt Nam.
Trong những năm qua, chúng tôi chỉ tự hào một điều: chúng tôi biết học.
Câu trên là của Võ Phiến mà chúng ta quen biết, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn.
Còn câu dưới là của Cao Huy Khanh . Khoảng 1971-73, với tư cách một cây bút trẻ, anh hay viết cho tờ "Khởi hành" của Viên Linh, hoặc "Vấn đề" của nhóm Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo.
Khoảng mười lăm năm trước, qua anh Tạ Nghi Lễ, tôi có liên lạc được với anh, và biết được rằng anh đang làm cho một tờ báo ở Sài Gòn.
Hồi 1976, vào Sài gòn đọc Khởi hành 1972-74 ở Thư Viện khoa học xã hội tôi chú ý tới anh là qua mấy bài anh tổng kết về tiểu thuyết đương thời. Còn nay, anh tặng tôi một cuốn sưu tầm về một số kỷ lục Guiness ở Việt Nam.
PHẢN TỈNH KHÁC VỚI CƠ HỘI Ở CHỖ NÀO?
Ngày đăng 3 tháng 11 năm 2017
Có nhiều nhà văn xô viết trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc đời sáng tác của mình.
Lúc đầu họ viết theo sự hướng dẫn của cấp trên và từng được giải này giải nọ, kể cả những giải cao nhất mang tầm cỡ quốc gia.
Nhưng với sự làm việc nghiêm túc, sự trở về với văn học Nga cổ điển thế kỷ XIX và sự khai thác tối đa kinh nghiệm của các nhà văn Âu Mỹ thế kỷ XX, họ cảm thấy phải viết khác đi, kể cả có cách xử lý ngược hẳn với những tác phẩm trước đó đã viết.
Do tài năng đã được công nhận, chỉ trừ những người quá cực đoan còn những tác giả đã thành danh này không bị hoàn toàn cấm đoán, nhưng lại bị giới cầm quyền và những kẻ mà ở ta gọi là “văn nô” buộc tội là cơ hội chủ nghĩa là xét lại.
Giới cầm quyền ở Nga lại có một lối giữ người rất tinh vi, là cùng lúc ca ngợi những tác phẩm ấu trĩ khi họ còn là một đứa con ngoan, lẫn những tác phẩm phản tỉnh về sau.
Lại còn một tình huống nữa phải tính tới.
Trong sự vân động của xã hội cũng có những kẻ cơ hội với nghĩa là họ biết rằng gió đã xoay chiều không thể viết như cũ. Nhưng những cái gọi là đổi mới của những cây bút khôn ngoan này căn bản vẫn phục vụ cho guồng máy chuyên chế.
Trong khi làm cái việc kiếm chác rất tinh vi đó, những kẻ cơ hội muốn lôi kéo công chúng liền nói to lên rằng mình cũng phản tỉnh, cũng đang gia nhập cái mới.
Lập lờ đánh lận con đen là cái động tác thời nào cũng có.
Bấy giờ, những nhà văn chân chính sẽ nói rằng muốn biết ai cơ hội ai phản tỉnh hãy xem thái độ của họ với những tác phẩm lúc họ còn ấu trĩ.
***
Nhà văn được coi là ví dụ rõ nhất trong cách cư xử liêm khiết này là tác giả người Nga J. Trifonov (1925-1981).
Vốn dòng gia đình thuộc loại "cách mạng nhà nòi con cháu các cụ", năm mới 26 tuổi (1951), ông được Giải thưởng Stalin với cuốn "Những sinh viên".
Sau này ông viết những truyện vừa hoặc tiểu thuyết như Đổi trao, Giã từ, Ông già, Ngôi nhà khu bờ sông… với cảm hứng hoàn toàn “phi chính thống”, nên được bạn đọc trong ngoài nước đặt nhiều kỳ vọng và nhiều nhà xuất bản lớn ở Anh, Pháp, Đức cho dịch.
Có người bảo rằng họ thích ông cả hai, tức cả thời Những sinh viên lẫn thời sau.
Trifonov bảo như thế là vô liêm sỉ.
Và trong các tuyển tập có sự đồng ý của ông, cuốn tiểu thuyết đầu tay không bao giờ được phép xuất hiện.
Thái độ này của Trifonov, trái ngược với số đông các nhà văn xô viết, bao gồm cả những nhân vật hàng đầu như K. Simonov
.***
Khoảng giữa những năm 80,t ruyện vừa “Nửa đời nhìn lại” của Trifonov đã được dịch ra tiếng Việt, nhưng đây chỉ là một phần rất nhỏ trong di sản của tác giả.
Tiếc rằng hoàn cảnh hiện nay, khi nói về nước Nga, người ta chỉ quan tâm tới những diễn biến bề ngoài mới xảy ra sau 1991, nên không ai trở lại với phần tích cực là sự trầm trầm nghĩ ngợi của những nhà văn xô viết chân chính trong những năm khó khăn nhất của họ -- cái việc mà theo tôi hiện nay ta rất cần nhưng lại quá thiếu.
Phần tôi khi đọc lại những lưu trữ cho đời sống văn nghệ ở VN những năm trước 1991, có tìm thấy một truyện ngắn của Trifonov do Đăng bảy dịch, truyện Mèo hay là thỏ.
Tôi đã đưa nó trên blog ngày 20-9-17
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/ngay-ca-khi-phat-hien-ra…
Ngoài ra gần đây, bạn trẻ Tuyết Thanh chủ trang FB Thanh Orange người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong hai năm gần đây – cháu cũng là người là đã đánh máy giúp bản thảo truyện " Mèo hay là thỏ" - cũng đã đưa lại truyện này trên trang của bạn, ngày 2-11-2017. Mời các bạn có nhu cầu tìm đọc.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/09/ngay-ca-khi-phat-hien-ra-su-gia-doi-bao.html
MỘT TRUYỆN TIẾU LÂM CHO THẤY CÁCH TỒN TẠI CỦA CÁC NHÀ VĂN XÔ VIẾT
Ngày đăng 4 tháng 11 năm 2017
Trên mấy báo mạng, trong đó có tờ Văn hóa Nghệ An, tháng 10 -11/2014, anh Lã Khắc Hòa vừa cho in một số giai thoại có tính cách tiếu lâm về Stalin và sự chỉ đạo của Stalin với văn học.
Tôi nhớ một chuyện cũng liên quan đến đề tài này.
Một lần Stalin tổ chức một cuộc gặp mặt với các nhà văn mới nổi, và đang được xem là có triển vọng nên cần giúp đỡ.
Người thứ nhất than phiền vì căn hộ chật hẹp.
Người thứ hai báo cáo ông ta cần một chiếc ô-tô đi lạị giữa tờ báo trong thành phố ông ta làm việc, và cơ sở nông trang ông ta đang bám trụ, để theo đuổi những biến đổi của nông thôn mới.
Người thứ ba ngần ngừ một lúc rồi đề đạt nguyện vọng là muốn có một chuyến tham quan học tập ở nước ngoài.
Người thứ tư lại càng ngần ngừ hơn. Hỏi tại sao, ông ta trả lời trong thổn thức:
-- Thưa đồng chí Stalin, tôi có một nguyện vọng quá lớn đến mức không đủ dũng cảm để trình bày với đồng chí.
-- Nguyện vọng gì vậy?
--- Cả đời tôi chỉ mong có một cuốn Những vấn đề chủ nghĩa Lénin có chữ ký của tác giả. Tôi sẽ đặt nó bên bàn viết. Tác phẩm sẽ soi sáng tư tưởng của tôi khi viết.
Bốn người ra về. Nguyện vọng của hai người đầu được đáp ứng lập tức. Người thứ ba—xin đi nước ngoài—sau một số kiểm tra, cũng được thỏa mãn.
Riêng người thứ tư thì -- đúng như nguyện vọng mà ông đã khó nói nên lời -- được tặng một bản "Những vấn đề chủ nghĩa Lénin", loại đặc biệt có kèm thêm chữ ký của tác giả, tức là đồng chí J.Stalin kính mến.
Ngoài ra, nhà văn thứ tư này còn được tặng thưởng kèm theo một chiếc ô-tô, một căn hộ và một chuyến đi nước ngoài, nghĩa là bằng ba người trước cộng lại.
Trích ở bài viết đã đưa trên blog hôm qua
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/11/kinh-nghiem-khai-thac-nhung-dong-chay.html
MỘT THOÁNG THƠ (kỳ 3): NHỮNG CẢNH ĐỐI NGHỊCH và TÌNH TRẠNG HƯ ĐỐN CỦA CHÚNG TA
Ngày đăng 5 tháng 11 năm 2017
Lũ lụt ở miền Trung. Cái trớ trêu của tình thế là trong khi sự tàn phá của thiên nhiên khủng khiếp hơn bao giờ hết thì những cảnh vui vầy hưởng lạc trên quy mô lớn vẫn diễn ra đều đều trên cả nước.
Dừng tất cả những trò vui ấy lại ư?
Không chắc là đã có lợi gì hết. Sự nhẫn tâm ở chúng ta đã trở thành có lý, nó giống như kẻ tự chọc mù đôi mắt vì biết rằng mọi cố gắng đều vô ích hoặc chỉ là " gãi ghẻ".
Lỗi lầm của chúng ta đã bắt đầu từ lâu lắm rồi,'
Thứ nhất, nó bắt đầu từ những khinh thường không hình dung nổi những biến động của môi trường trong thế giới hiện đại. Ở miền Bắc trước 1975 từng có khẩu hiệu " vắt đất ra nước thay trời làm mưa" "nghiêng đồng đổ nước ra sông". Đến bây giờ người ta vẫn tự hào vì những trạm thủy điện rải rác dọc miền trung và khi cần sẵn sàng xả lũ giết dân để cứu trạm.
Thứ hai, nó chỉ là hậu quả của cái sự không chịu phát triển bao trùm suốt thời hậu chiến.
Có phải riêng xứ ta chịu tác động thiên nhiên đâu.
Nhưng tôi dự đoán, không xứ sở nào lại đang quằn quại trong sự tàn phá của lụt bão như xứ ta hôm nay.
Vì họ đã chuẩn bị.
Vì họ có những phương tiện cứu hộ nhanh hơn và chắc chắn sẽ hồi phục nhanh hơn.
Cứ đảo ngược chuyện xứ người là sẽ ra ngay chuyện xứ ta chứ gì nữa.
Mỗi khi chứng kiến cảnh đối nghịch, trong đầu tôi thường nhớ lại bài tứ tuyệt sau của Đỗ Mục đời Đường (tôi chụp từ trang mạng THI VIỆN
泊秦淮
煙籠寒水月籠沙,
夜泊秦淮近酒家。
商女不知亡國恨,
隔江猶唱後庭花。
Bạc Tần Hoài
Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng "Hậu đình hoa".
Dịch nghĩa
Khói lan toả trên nước lạnh, ánh nguyệt lan trên cát
Buổi đêm đậu thuyền tại bến sông Tần Hoài cạnh quán rượu
Cô gái trẻ không biết đến nỗi hận mất nước
Ở bên kia sông còn hát khúc "Hậu đình hoa".
Rồi tôi lại nhớ một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí Tiên Phong của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên "Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc."
Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:
.....
Ta về gác, gió cài then, cửa rú
Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ
Kèn nhịp xa điệu múa vô luân
Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm
Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc
Kiếp người tang tóc
Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương
Một nửa kêu than ma đói sa trường
Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc
Nói vậy song tôi vẫn thầm nghĩ rằng so với mọi thời, con người thời nay ( trong đó có mình) thực đã hỏng quá rồi, con đường trở lại với sự tử tế xem chừng khó lắm.
Tôi có anh bạn Lê Văn Viện cùng học với nhau hồi Chu Văn An 1958-1961. Sau khi học tiếng Anh khóa bốn năm Đại học sư phạm anh chuyên đi làm phiên dịch cho các chuyên gia phương Tây. Hôm nọ anh kể có lần ở Quảng Ninh, đi đâu về anh chợt thấy các bạn chuyên gia nhốn nháo bàn bạc , có người khóc thút thít. Hỏi làm sao, họ bảo mày không thấy à rừng đang cháy mà chúng mình thì bất lực. Anh Viện nói thêm, nhiều lần chứng kiến sự xúc động đó ở những bạn nước ngoài chứ không phải chỉ một lần.
VĂN NGHỆ & BÃO LỤT
VĂN NGHỆ & XÃ HỘI DÂN SỰ
Ngày đăng 10 tháng 11 năm 2017
Trong bài viết ngày 5-11, tôi đã nói chúng ta hôm nay-- nhất là giới văn nghệ chúng tôi --quá giá lạnh trước nỗi đau khổ của đồng bào.
Tôi nhớ tới trường hợp Vũ Trọng Phụng.
Nhà văn được các giáo trình văn học tiền chiến chúng ta chê là tự nhiên chủ nghĩa đó, không chỉ là tác giả của những cuốn "Số đỏ", "Giông tố" mà còn là tác giả "Vỡ đê".
Ngô Tất Tố thì có tạp văn "Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập"
Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài , hồi còn đăng trên "Hà Nội tân văn" của Vũ Ngọc Phan, là "Đi hộ đê".
Ở làng quê của mình, sau một trận bão, Nam Cao có chùm truyện "Mua nhà" "Thôi đi về" "Từ ngày mẹ chết"
Báo chí văn nghệ hôm nay hình như (?) không có bài nào như thế, có sức bùng nổ như thế và có khả năng trở thành bằng chứng của lịch sử tương tự.
Tại sao giới văn chương -- và các nhà sử học, xã hội học ..-- nói chung là các cây bút trí thức -- không viết về các sự kiện dân sự loại này, lý do nhiều người cho rằng trang sách thời nay không thể phản ánh kịp thời như báo chí và nhất là không thể cạnh tranh nổi với phát thanh truyền hình
Cách hiểu như thế không chỉ là để che đậy thói lười biếng mà còn tố cáo một sự thực: nay là lúc nhiều người chúng ta chỉ biết tới các giá trị đương thời mà không còn tin tưởng gì ở sức sống của cái hay cái đẹp thực thụ trong tương lai. Thật đáng xấu hổ khi nghĩ về phản ứng trước các sự kiện tương tự của các bậc thầy tiền chiến.
***
Chắc cũng nhiều bạn, biết được tình thế bão lụt là do ảnh đưa trên mạng. May mà thói quen tò mò và thích hoạt động đã khiến cho nhiều nhà nhiếp ảnh nghiệp dư có được các bức ảnh và các đoạn phim giá trị.
Tôi đang định đặt ra câu hỏi TẠI SAO KHÔNG LÀM NHỮNG TRIỂN LÃM ẢNH VỀ SỰ KIỆN BÃO LỤT MIỀN TRUNG, nhưng rồi lại thấy nản ngay.
Giới quan chức văn nghệ thì chỉ lo làm theo những sự kiện cấp trên yêu cầu, họ còn đâu cái xúc cảm về các sự kiện thông thường loại này. Mà anh em mình thì cũng đã nản lòng hết, ai dám ho he tính chuyện xin phép để tổ chức những sự kiện như chúng ta đang nói.
***
Trong bài trước tôi đã nói trước các sự kiện dân sự chấn động xã hội cứ
xem nước ngoài họ làm thế nào lật ngược lại là biết các làm của ta.
Đây là một bằng chứng tôi đã ghi nhận từ hơn ba năm trước
"Bài học từ trận lụt phố cổ Passau" là tên một bài viết in trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số ra 03/06/2014, tác giả là Võ Văn Dũng (nghiên cứu sinh ngành Đông Nam Á - Trường đại học Tổng hợp Passau, CHLB Đức).
Bài báo kể:
Passau (bang Bayern, Cộng hòa liên bang Đức) thành phố hơn 2.700 năm tuổi. Tháng 6-13, thành phố bị một trận lụt. Gần bốn tháng sau, nhà nhiếp ảnh Christoph Brandl từ Berlin đến Passau để phối hợp tổ chức một cuộc triển lãm kéo dài sáu ngày về trận lụt với phong cách “mở” hoàn toàn: mọi người dân có thể tham gia triển lãm tranh ảnh, vật dụng... liên quan đến trận lụt và thoải mái sáng tạo cách sắp đặt theo ý tưởng của mình.
Triển lãm diễn ra trên các tuyến đường đi bộ của phố cổ, gồm nhiều bức ảnh, những đôi ủng dính đầy bùn đất, la liệt cuốc, xẻng, áo mưa... Cuộc triển lãm tự do ấy đã thật sự gợi nhớ những ký ức vừa đáng buồn bởi những mất mát do thiên tai, vừa ấm áp bởi sự xích lại gần nhau hơn của cả cộng đồng.
Những hình ảnh về trận lụt tiếp tục được tờ Tin Tức Passau (Passauer Neue Presse) kêu gọi công chúng gửi về, kết hợp với những hình ảnh ngập lụt của thành phố láng giềng Deggendorf để thực hiện cuốn sách ảnh 2013 Hochwasser In Passau und Deggendorf(2013 Ngập lụt ở Passau và Deggendorf).
Sách bán chạy như tôm tươi, nhanh chóng được tái bản, một phần lợi nhuận được góp vào quỹ sửa chữa phố cổ. Điều thú vị là nhiều du khách đã mua cuốn sách này để chứng kiến hình ảnh một Passau chìm sâu trong biển nước và xác xơ sau lụt, bên cạnh một Passau cổ kính, bình yên trong những tập sách ảnh thông thường.
Trên đây là đoạn mở đầu cho bài viết của tôi trên blog ngày 11-8-14.
Nhân chuyện NHỚ & QUÊN của người Đức, tôi có liện hệ tới nhớ và quên của ta trong một vấn đề lớn hơn là CHIẾN TRANH. Tôi đã đưa lại trên blog của tôi ngày hôm nay. Mời các bạn ghé qua, nếu có thời gian và có chung những mối quqan tâm như tôi.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2017/11/chien-tranh-nho-va-quen.html
THẾ NÀO LÀ NGƯỜI TÀI ?
Ngày đăng 13 tháng 11 năm 2017
Lớp 10C Chu Văn An bọn tôi xưa có bạn Phạm Đình Tuấn. Tuấn thông minh, nhưng thường điểm các môn không cao lắm, nên không được coi là học sinh giỏi. Tôi chỉ bái phục Tuấn khi được biết rằng hồi ấy anh đã đọc được “Thủy hử” trong nguyên văn bằng chữ Hán. Hết lớp mười (= lớp 12 hiện nay) Tuấn thi vào đại học hàng hải, những mong theo tàu viễn dương đi khắp thế giới. Cái lý lịch là dân Hà Nội cũ đã làm hại anh. Người ta sợ những người như anh đi đây đi đó rồi sẽ bỏ ra nước ngoài. Anh phải chuyển về nông lâm khoa nuôi cá nước ngọt và học xong được điều lên Sơn La. Bạn bè ai cũng nghĩ chắc anh bị quên giữa núi rừng mịt mùng tức đã lẫn vào đám công chức xã hội chủ nghĩa tỉnh lẻ ở miền Bắc. Cái điều lo lắng đó của chúng tôi được coi là sai khi biết sau 1975 được tin Tuấn bỏ Sơn La vào Sài Gòn tính chuyện làm ăn, rồi nhanh chóng vượt biên. Thật tôi không hiểu tại sao mà trong những ngày ở Sơn La anh làm còn được hai việc rất khó khăn là tiếp tục học thêm về nuôi trồng thủy sản và nhất là học được tiếng Anh đế mức khi đi di tản sang Mỹ nhập ngay được vào xã hội đó, như một người lao động giỏi giang. Làm sao lại không kinh ngạc khi biết về hưu của anh lên tới 4000USD. Tôi không có điều kiện gặp anh từ 1961, chỉ biết qua lời kể của các bạn Nguyễn Nghĩa Bùi Hồng, nên không biết có gì sai trong các chi tiết vừa kể. Nhưng tôi chắc rằng về căn bản Phạm Đình Tuấn của tôi là người Hà Nội sau 1954 không bị cách giáo dục của xã hội làm cho tầm thường đi và nhất là không bị cuộc chiến tranh 1965- 75 làm hỏng. Tôi muốn coi anh người bạn nay đã qua đời này là một công dân Hà Nội tiêu biểu. Tại sao? Chắc rằng không chắc các bạn xa gần đồng ý với tôi, nhưng ở đây tôi có cái chuẩn mực riêng của mình. Theo tôi, cái tinh thần chính mà người Hà Nội “trong thời Pháp thuộc” đã học hỏi được đúng hơn là cái thời mà các công dân đô thị đã được nền văn hóa phương Tây do người Pháp đưa vào hướng dẫn -- đó là tinh thần hướng ra thế giới và ở đâu cũng tự rèn cho mình cái khả năng gia nhập vào xã hội hiện đại. Những người như thế hiện nay đang là thiểu số. Còn đa số chúng ta thì khác. Lớp người thuộc lứa tuổi tôi đa số thích ứng với chiến tranh và nay đang sống rất khó khăn trong cái thời mà xã hội cần phát triển. Nhìn từng người thì có người nọ người kia và ta có thể tạm an lòng. Nhưng xét chung cả cộng đồng thì sao? Chúng ta loay hoay mang chút uy tín có được trong chiến tranh ra làm bảo đảm để đi vay mượn rồi cùng với chút tài nguyên ông cha để lại bán đi để tiêu xài. Đáng lẽ chúng ta phải để cho những người đã có sự chuẩn bị cho hội nhập và phát triển như Tuấn hướng dẫn xã hội này thì chúng ta lại để cho họ bỏ ra nước ngoài. Và đó là nguyên nhân lớn nhất khiến tôi tin rằng chúng ta sẽ còn tụt lùi nữa.
NHỮNG NGƯỜI TÀI ĐI HẾT TA SỐNG
RỒI TA SẼ SỐNG VỚI AI?
Tôi nhớ lại về Tuấn và có những ý nghĩ trên khi đọc bài trên mạng Dân trí ngày 11-11-2017 mang tên.
“Người đàn ông uống cà phê cùng Thủ tướng Canada bên vỉa hè Sài Gòn”.
Bài báo cho biết “ Ông Hiệp sinh năm 1946, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sài Gòn. Có lẽ, vừa là một nhân viên thâm niên hơn hai mươi năm của lãnh sự quán Canada tại TPHCM lại là người bản địa nên ông được lãnh đạo giao nhiệm vụ hướng dẫn Thủ tướng Trudeau dạo phố, ngắm cảnh, uống cà phê cóc Sài Gòn...”
...Cuộc trò chuyện giữa hai con người chỉ biết nhau qua “giấy tờ” vỏn vẹn chừng mươi phút nhưng ấn tượng hình ảnh một vị lãnh đạo trẻ trung, năng động, thân thiện để lại trong lòng ông Hiệp vô cùng sâu sắc. Hai người trò chuyện bằng tiếng Anh xong rồi tiếng Pháp. Thủ tướng Trudeau khá bất ngờ với khả năng nói tiếng Pháp của ông Hiệp.
Ông Hiệp cũng trải lòng cùng Thủ tướng: “Cũng làm đã lâu, hơn hai mươi năm rồi, tôi có ý định xin hưu để sang Canada sống với con cháu…”.
Nghe đến đó, Thủ tưởng Trudeau xin ngắt ngang: “Chính phủ Cananda rất trân trọng những người lớn tuổi, rất tôn trọng những người hăng say lao động và làm được việc, Canada không quan trọng tuổi tác”.
...
Chắc các bạn đã đoán ra, nhưng tôi vẫn muốn nói ra bằng được cái cảm giác của tôi về nhân vật ông Hiệp trong bài. Tôi không khỏi se lòng những người như thế nay đang hiếm dần.
Chúng ta sẽ sống với ai? Ai là người sẽ giúp chúng ta tiếp tục quan hệ với thế giới?
Có một chi tiết mà tôi nhớ mãi khi đọc lịch sử. Mỗi khi người Tầu xâm chiếm nước ta họ thường bắt các vương triều của ta giao nộp người tài. Chỗ khác giữa xưa và nay là những người tài thời nay thường tự nguyện ra đi, khổ mấy cũng quyết để đi.
MỜI DỰ BUỔI GIỚI THIỆU SÁCH
Ngày đăng 12 tháng 12 năm 2017
Đồng thời với bộ sách mười cuốn “Phan Khôi Tác phẩm đăng báo”, do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, trong hai năm nay, đã có ba cuốn sách nói về ông được in ra
-- “Nhớ cha tôi Phan Khôi” của Phan Thị Mỹ Khanh
-- “Nắng được thì cứ nắng” của Phan An Sa
-- “Tác phẩm Phan Khôi – đọc và suy ngẫm” của Ngô Quang Huy
Với tư cách một người nghiên cứu văn học, tôi chú ý nhiều tới cuốn sách hai tập khoảng 1200 trang khổ 16.24 của Ngô Quang Huy. Ngoài việc giới thiệu để bạn đọc cùng đọc, tôi muốn nhân dịp này chia sẻ với các bạn xa gần vài suy nghĩ về con người và tác phẩm của Phan Khôi.
Qua anh Ân, tôi đã trình bày với anh Dương Thụ ở Cà phê thứ bảy và được chấp thuận.
Buổi giới thiệu cuốn sách do chính anh Lại Nguyên Ân chủ trì sẽ diễn ra vào 14h ngày 14-12-2017 tại 3A Ngô Quyền Hà Nội.
Mong các bạn quan tâm tới đề tài này tới dự
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét