Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

FACEBOOK 2020

FACEBOOK

2020


MỤC LỤC

LỊCH SỬ LÊN TIẾNG QUA NHỮNG KẺ ĐIÊN 6

THƯỞNG HOA NHỚ HOA và VỨT HOA 9

TỪNG TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỀU CÓ THỂ ĐƯỢC GIẢI THÍCH LẠI 13

NHÌN VÀO NHỮNG CÁI XE BUS 17

THỬ TÌM CÁCH ĐÁNH GIÁ LỚP TRẺ HIỆN THỜI 19

CHUYỆN HOA NĂM NAY 24

LỄ BÁI NHƯ LÀ MỘT CÁCH CHẠY TỘI 29

BẠO LỰC CÓ NGUỒN GỐC SÂU XA 31

LỐ NHỐ MỘT ĐÁM ĐÔNG LỘN XỘN 36

CÁI ĐỨNG ĐẰNG SAU LUẬT PHÁP LÀ VĂN HÓA 42

QUAN LIÊU VỚI QUÁ KHỨ 48

NẾU NHƯ KHÔNG BIẾT LÀM GÌ 51

SỐNG TRÊN ĐƯỜNG 69

SỰ ĐỐI NGHỊCH TRỚ TRÊU 75

BA ĐOẠN VĂN NGẮN TRÊN CÁC FB 78

CHUNG QUY LÀ Ở TRÌNH ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT CÒN THẤP 87

NÀO TA CÙNG TỰ SÁT 96

SỬ HỌC VÀ DỊCH BỆNH 98

HIỂU SAO VỀ HY VỌNG & TUYỆT VỌNG ? 105

RÁO HOẢNH 108

BIẾT RẰNG HY VỌNG MỊT MÙ 111

HÃY VIẾT VỀ XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM 116

TRỞ VỀ QUÁ KHỨ Ư? ĐÂU PHẢI CHUYỆN DỄ! 121

PHỔ CẬP GIÁO DỤC NHƯ HIỆN NAY 129

SỰ THA HÓA CỦA LỜI NÓI 133

SỰ THA HÓA CỦA NGÔN TỪ 138

NHÌN THIÊN NHIÊN MÀ SỐNG 142

BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP 146

LỊCH SỬ LẶP LẠI hay là 152

THỬ TÌM HIỂU CÁCH KIẾM SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT 156

LÀM GÌ VIẾT GÌ CŨNG PHẢI NGHĨ ĐẾN MIỀN NAM 161

BUỒN VUI ĐẮP ĐỔI 171

CHUNG QUANH  VIỆC ĐÀO TAO TRÀN LAN CÁC TIẾN SĨ RỞM 174

ĐẸP ĐẤY MÀ CŨNG XẤU ĐẤY 180

TẦM VÓC SỰ GIẢ DỐI TRONG CHIẾN TRANH 184

TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VN 186

MỘT SỐ TÁC HẠI  CÓ THỂ CÓ 188

BÀN TIẾP VỀ ĐIÊN LOẠN 193

RÁC VỚI CHÚNG TA 197

CUỘC SỐNG VÔ NGHĨA CHÍNH LÀ NGUỒN GỐC CỦA MỌI TỘI LỖI 202

TRONG CHUYỆN NÀY THÌ AI CŨNG CÓ NHỮNG KỶ NIỆM CỦA MÌNH 210

MỘT VÀI KHÍA CẠNH GIỐNG NHAU 220

SAO SỬ KHÔNG VIẾT 223

NÓI THÊM VỀ "TỰ DO TRƯỚC CÁC NHU CẦU VẬT CHẤT" 225

THIÊN NHIÊN ĐIÊU ĐỨNG 227

MỐI QUAN HỆ 233

TRÍ THỨC NHƯ THẾ NÀY 240

RẤT NÊN QUAN TÂM TỚI ...HIỆN TƯỢNG LƯU MANH, 248

NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM 254

KÉM VĂN HÓA TỔ CHỨC XÃ HỘI -- 258

QUẢNG CÁO TRÊN TV 266

NHỮNG Ý TƯỞNG  SÁNG SUỐT LẠI BỊ COI RẺ 268

HY SINH TƯƠNG LAI CHO HIỆN TẠI 273

NHỮNG TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI 275

TÊN PHỐ VÀ SỰ CỐ ĐỊNH HÓA LỊCH SỬ 279

GIÁO ĐIỀU CUỒNG TÍN LÀ MỘT TỘI ÁC 282

CHUYỆN LAN MAN TỪ NHỮNG CHIẾC XE GẮN MÁY 285

DẠY CON Ở TUỔI ĐANG HỌC TIỂU HỌC 292

TIỀN BẠC THỜI NAY 296

MỘT CÁCH NHÌN MỚI VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM THÔNG QUA VIỆC SO SÁNH VỚI VĂN HOÁ NHẬT BẢN 301

VIỆC DẠY CHỮ HÁN CÓ NHỮNG LIÊN HỆ RỘNG LỚN HƠN CHỨ KHÔNG PHẢI RIÊNG TRONG LĨNH VỰC NGÔN NGỮ 320

NGHÈO ĐÓI BIẾNG LƯỜI XẤU XÍ 324

MẤY ĐOẠN GHI CŨ VỀ RÁC (1) 331

HAI Ý TƯỞNG 334

BÉ ƠI BÉ RA MÀ ĂN KẸO 338

THẾ GIỚI ĐẢO NGƯỢC? 339

HƯNG YÊN & CÂU CHUYỆN GIÃ TỪ CÁI CŨ 342

NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH 345

NHỮNG DẤU HIỆU CỦA MỘT TƯ DUY TRUNG CỔ 347

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bốn) 352

NHỮNG LỐI ĐOẠN TRƯỜNG 355

TỪ CHỐI HỌC HỎI 361

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ sáu) 368

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy) 371

NHỮNG NGƯỜI NGA KỲ CỤC 375

MỘT XÃ HỘI NHIỀU NGƯỜI ỐM DỞ 381

RỪNG BIỂN & LÒNG YÊU NƯỚC 384

CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín ) 387

TỐT ĐẤY MÀ CŨNG XẤU NGAY ĐẤY 391

SẼ TÌM HY VỌNG Ở ĐÂU? 396

NHÂN HIỆN TƯỢNG TRUYỆN NGÔN TÌNH TRUNG QUỐC 399

DÂN MÌNH NAY ĐÃ QUÁ GIÀ! 401

CHẤP NHẬN TẠM BỎ MÔN SỬ Ở NHÀ TRƯỜNG MIỄN LÀ SAU ĐÓ PHẢI TÌM TỚI MỘT CÁCH VIẾT SỬ KHÁC 408

CẦN MỘT THỨ SỬ HỌC KHÁC 412

TẠI SAO TẬT NÓI NGỌNG 417

TẠI TA HAY TẠI NGƯỜI ? 422

MỘT VÍ DỤ KHÁC VỀ DI CƯ NỘI ĐỊA 424

LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG 428

VĂN HÓA RƯỢU 436

NHỮNG BIẾN DẠNG CỦA NGHỀ HẦU RƯỢU 440

PHẢI CHĂNG THÍCH ĐI HẦU RƯỢU 445

SỰ ƯƠNG BƯỚNG RẤT DỊU DÀNG 449

CÙNG ĐỌC LẠI CÁC BÀI VIẾT VỀ NGUYỄN HUY THIỆP 454

TOILET XƯA VÀ NAY 469

HỖN LOẠN TRONG GIAO THÔNG 482

MẤY ĐOẠN GHI VỀ NGƯỜI VIỆT 486

ĐI TÌM KHÁI NIỆM LƯU MANH QUA SÁCH VỞ 489

CẠN NGHĨ NGẮN HƠI DỄ THỎA MÃN 499

NHỮNG CUỘC “TRỞ THÀNH MÌNH” RẤT NGOẠN MỤC 503

 

 


LỊCH SỬ LÊN TIẾNG QUA NHỮNG KẺ ĐIÊN

Ngày 3 tháng 1 năm 2020

Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở VN mình sao hiệu thuốc lắm thế.

      Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội.

      Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.

      Tra các từ điển Hán Việt  thấy chữ điên thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh ( khi viết bằng chữ vuông, thì chữ điên có bộ nạch chỉ bệnh tật.)

      Bệnh điên thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.

       Giá có ai để công tìm hiểu thêm tình trạng điên dại của nhân loại thời nay và trước tiên những lời bàn về chuyện điên? Chắc là nhiều ý tưởng hay ho lắm! Một câu ngạn ngữ Hy Lạp vừa được một bạn nào đó dẫn ra trên mạng “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.

    Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại cao cấp có liên quan nhiều tới giới trí thức,  những người có đời sống tinh thần khá phức tạp.

   Trong bài  viết "Vừa khóc vừa cười"Nguyễn Mạnh Tường in trong  Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4-2011 có đoạn:

     Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.

       Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà NMT nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng. Số lớn chuyển sang dạng bệnh mãn tính, không chết người nhưng làm hỏng người dần dần.

      Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước: Sau khi Liên xô sụp đổ, có một tiến sĩ ( ở ta gọi là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhẩy lầu tự tử. Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.

     Về quan hệ giữa những người điên với thời đại, một nhà văn Senegan là  Semben Ousman đã có lần  trả lời phỏng vấn về châu Phi hậu thực dân trên một số tạp chí "Người đưa tin Unesco" :

       " Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.

        Cách duy nhất để sung sướng là người ta phải điên lên một chút."

       Có những tình thế quá bi đát mà người tỉnh táo biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại. Bấy giờ người điên—hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người – mới đóng vai trò của mình.

         Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:

        -- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những kẻ điên.

       Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác nói lại hay tự ông nghĩ ra.


THƯỞNG HOA NHỚ HOA và VỨT HOA

Ngày 4 tháng 1 năm 2020

1/

Những ngày cuối năm cũ, sang năm mới, mở VTV chương trình thời sự nào cũng thấy toàn những cuộc họp. Mà cuộc họp nào cũng thấy bao nhiêu là hoa và hình như cuộc họp càng quan trọng thì hoa càng to càng nhiều. Gần đây lại có lối trang trí đặt hoa nằm ngang, giá vầng hoa được quay để dựng lên thì còn cao hơn cả người đứng trước hoa.

  Nhớ thỉnh thoảng gặp cảnh người nước ngoài làm các cuộc tang lễ. Mỗi người thường chỉ cầm một bông hoa. Còn ở ta, hoa trong các đám tang, cũng như trong các cuộc họp đang nói, là hoa đi theo lối tập đoàn, nói nôm na  là hàng nắm hàng mớ. Người ta không thưởng thức hoa, người ta chỉ dùng hoa để khoe giàu, khoe của, khoe mình quan trọng. Có biết đâu càng vậy càng cho thấy cái nghèo nàn trong cuộc sống tinh thần của xứ mình. Vì trông vào nhiều vầng hoa, thấy hình như người ta chỉ kết hợp chúng lại để phô ra cái  vẻ rực rỡ nhân tạo còn chẳng tuân theo nguyên tắc thẩm mỹ nào cả hoặc là chỉ bị chi phối những nguyên tắc rất thô thiển.

 Đã lâu trên mặt báo, và trên các trang văn, tôi không thấy cái từ ‘thưởng hoa” xuất hiện. Bây giờ đi lục lại sách vở tìm hiểu cái thói thưởng hoa của người xưa, xem ra rất khó, mà có khi viết lên cũng chẳng mấy người để ý. Chỉ biết đây là mối giao đãi giữa hoa với những tâm hồn cao quý.

2/

  Đồng thời với việc làm  các bài thơ chính trị dài dòng, Chế Lan Viên  thường có những bài tứ tuyệt và chùm tứ tuyệt hay nhất, tập trung nhất là chùm đặt ở đầu cuốn  “Ánh sáng và phù sa” 1960.  “Hết nhớ hoa thôi lại nhớ người”. Bao giờ đọc câu thơ này trong bài “Nhớ Việt Bắc”, tôi cũng  điểm lại cái trật tự trong nỗi nhớ của tác giả. Nhớ hoa trước. Nhớ người sau. Không biết tác giả có dụng ý gì không nhưng tôi cứ dự đoán rằng ông nói hộ cảm giác của lớp người đi sau chúng ta. Nhớ người nhiều khi thì phiền phức lắm  Còn nỗi nhớ hoa yêu hoa bao giờ cũng cho chúng ta một cảm giác thanh khiết  

3/

Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết, báo chí thường kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác, trong đó có rác từ hoa.  Nhìn vào nhiều góc phố thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu đất, bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy bên đường, chờ xe rác đến hót.

Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi (mới qua đời đầu năm 2001) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông là hoa và rác. Theo nghĩa này, tết nhất chính là một trong những thời điểm  hoa trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa nó nói với chúng ta một vài điều mà lâu nay ta không để ý.

Ai đó từng nói đùa về rác ở một lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi “.

Câu nói pha chút thậm xưng nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở hội lẫn người thích đi các loại hội hè.

Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp và sung sướng đặt nó vào lọ thì cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà!”.

Nghe thì có vẻ khinh bạc, nhưng phải nghĩ thế dần đi thì vừa. Tôi tin không nên vứt hoa như vứt bao nhiêu loại rác khác. Một người bạn tôi có thói quen khá cầu kỳ. Với các loại hoa thường cắm ở phòng khách, -- và cả cành đào ngày tết, anh không bao giờ lấy hoa từ miệng lọ rồi quẳng thẳng vào sọt rác mà   chỉ làm việc đó sau khi thong thả gỡ ra từng bộ phận xếp lại cho đến khi không nhận ra những cành hoa bông hoa hôm qua nữa.  Cách xử lý của anh với hoa làm tôi nhớ tới  trường hợp cô Lâm Đại Ngọc trong “Hồng lâu mộng”, cô tiểu thư đó hay vẽ ra cảnh chôn hoa rồi vừa khóc vừa tự nhủ “ Chôn hoa người khóc ngẩn ngơ – Đến khi ta chết ai là người chôn”. Chuyện đã quá xa  con người ngày nay không ai làm thế, nhưng cái tình của người với hoa thì hoàn toàn có thể hiểu được.


TỪNG TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỀU CÓ THỂ ĐƯỢC GIẢI THÍCH LẠI

Ngày 13 tháng 1 năm 2020

Tôi tìm thấy  bài viết dưới đây trên trang FB  của  nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hậu, ngày 7-1 2016, xin phép được đưa lại với bạn đọc.

Cái nhìn của tác giả trong bài viết có phần gần gũi  với cách nhìn của tôi trong bài viết "Con người và xã hội VN qua truyện Tấm Cám " đã đưa trên mạng tháng 10-15.

Cuộc sống hôm nay cho phép chúng ta nghĩ lại về rất nhiều điều.

Các văn bản cổ  hàm chứa rất nhiều ý nghĩa mà có khi chính người xưa cũng không ngờ tới và cách tốt nhất để chúng ta tỏ lòng kính trọng người xưa là tìm cho ra những ý tưởng mà chính họ cũng không biết." CON HƠN CHA LÀ NHÀ CÓ PHÚC"

Theo hướng này việc đọc lại các truyện cổ chắc không bao giờ nhàm chán.

*KHẮC NHẬP KHẮC XUẤT

Câu “thần chú” này xuất phát từ truyện/ chuyện cổ Cây tre trăm đốt.

Đại khái phú ông kia hứa gả con gái cho một anh nông dân hiền lành chăm chỉ làm anh ta ra sức cày cấy làm giàu cho bố vợ tương lai. Nhưng phú ông lại lật lọng đem con gái gả cho người khác. Vào ngày cưới còn bảo anh nông dân đi vào rừng tìm được cây tre có đủ trăm đốt về làm đũa dùng trong đám cưới thì sẽ gả con gái cho.

Thế mà anh chàng cũng tin như thế, vào rừng tìm mãi không thấy cây tre nào đủ trăm đốt, ngồi khóc huhu. Bụt hiện lên hỏi cớ sự làm sao, rồi bảo anh ta chặt mấy cây tre và hóa phép cho các đốt tre liền nhau thành cây tre đủ trăm đốt. Nhưng cây tre dài quá không vác về được, chàng ta lại khóc, Bụt bèn dạy câu thần chú “khắc nhập khắc xuất”.

Anh nông dân về đến nhà phú ông thì đám cưới đã tàn lại còn bị mọi người xúm lại chê cười. Chàng bèn đọc câu “khắc nhập” thế là cả vợ chồng phú ông lẫn khách khứa dính chặt vào cây tre. Cả bọn van xin mãi, cuối cùng phải cho anh ta cưới con gái phú ông thì anh ta mới đọc tiếp “khắc xuất” giải thoát cho mọi người. Sau khi cưới được vợ rồi anh chàng có “nhập xuất” gì nữa hay không thì truyện/ chuyện không nói đến.

Tích chuyện này thật ra không hề cổ xưa chút nào, bởi cái kiểu (tư duy và ứng xử) nhập / xuất / xuất / nhập đến giờ vẫn rất phổ biến.

Bắt đầu từ những lý do có vẻ hợp lý như “nhiều người nên phải có một cây tre trăm đốt thì mới đủ làm đũa ăn” đã làm cho anh nông dân phải đi vào rừng tìm. Tre là loại cây rất quen thuộc, phổ biến ở làng quê, người nông dân nào mà không biết, vậy sao anh nông dân dễ bị lừa thế nhỉ? Cây tre trăm đốt đã là hoang đường, thế mà vẫn đi tìm, không biết anh chàng này ngây thơ quá hóa khờ chăng? Hay vì anh còn mải mơ đến cô con gái phú ông nên cố đấm để được ăn xôi?

Và cũng như chuyện (cổ) khác, khi thất bại anh ta lại khóc (hệt như cô Tấm – mà sao các nhân vật chính trong truyện cổ của ta cứ hay khóc lóc vậy không biết?!) để cho Bụt thương tình mà hiện lên giúp cho. Cứ tưởng sau khi Bụt hô “biến” sẽ mọc ra được cây tre trăm đốt có đủ gốc ngọn, hóa ra Bụt cũng chỉ có tài lắp ghép, vá víu nhiều cái nhỏ thành ra một cái lớn cho hoành tráng, một kiểu khôn vặt, cải tiến chứ Bụt cũng không thông minh đến độ có thể sáng tạo ra cái mới.

Anh nông dân có cây tre (được ghép từ) trăm đốt rồi cũng chẳng biết sử dụng thế nào. Nhập xuất gì cũng trông chờ vào Bụt. Thậm chí nhập rồi không xuất được cũng lại ngồi khóc huhu. Thế nhưng may mắn nhờ cái bí quyết “nhập xuất” ấy mà anh ta đạt được mục đích, và cái kết có hậu đã mang lại cho mọi người khi đọc/ xem truyện/ chuyện này sự thỏa mãn (dễ dãi) dù cách “trả thù” kể ra cũng hơi nhỏ mọn và... buồn cười.

Nhưng ít người nhận ra rằng, trong truyện này nhập xuất gì thì cuối cùng thì vẫn phải “xuất” thậm chí phải “khắc xuất”. Chắc chắn sau khi vợ chồng phú ông được “giải phóng” khỏi cây tre thì các đốt tre cũng phải rời ra... Tiền đề vô lý nên kết quả cuối cùng vẫn phải trở về sự hợp lý của cuộc sống

Chỉ có một điều tôi không biết, là đến bao giờ thì sẽ không còn những phú ông chuyên dùng những cái lẽ rất vô lý để lừa gạt người hiền lành, bao giờ những người ngây thơ, có phần ỷ lại trông chờ vào sự giúp đỡ từ tình thương, dễ bị lừa gạt vì tưởng mình có lợi... sẽ tỉnh táo hơn và biết mạnh mẽ chống lại sự vô lý chứ không chỉ biết đối phó với nó bằng cái khôn lanh vặt vãnh...?

Và đến bao giờ chúng ta mới biết đừng thỏa mãn (một cách) dễ dãi với những kết quả nhỏ mọn, nửa vời, thậm chí là dối trá?!


NHÌN VÀO NHỮNG CÁI XE BUS

Ngày 22 tháng 1 năm 2020

Tại sao người dân đô thị khó chịu với cái xe bus? Vì đô thị ở ta là đô thi trung cổ. Mà bus chỉ xuất hiện ở xã hội hiện đại. Ở các nước phát triển  xe bus phải có đường riêng, các xe hoạt động theo kỷ cương.

Ở Việt Nam, bus chỉ có từng xe hoạt động riêng lẻ, tương tự cái ô tô con cái xe đạp, vận hành theo kiểu các phương tiện ấy. Tức là  cũng giành đường  cũng luồn lách. Mà lại nhân danh cái xác to xù để bắt nạt thiên hạ.

       Trên xe lại cũng là một xã hội thu nhỏ với nghĩa một đám đông lộn xộn, mọi người không ai biết ai cả nên có làm gì cũng không sợ xấu hổ.

      Các bài trên Tuổi trẻ gần đây hay nói tới việc xây dựng chính quyền đô thị. Tức là lâu nay chúng ta quản lý đô thị mà chả hiểu  gì cả, cả hai khái niệm trong cụm từ đó, chính quyền và đô thị, chính người trong cuộc cũng đang còn quá lờ mờ, nếu không nói là ẩn giấu một quan niẹm quá cổ lỗ.

Theo Hermann Broch,  con người hiện đại  tương tự con người mộng du. Những con người ấy cảm thấy mình trống rống, không thoả mãn với mình, không thoả mãn với đời sống.

 Đời sống hiện nay  không làm cho người ta tin người ta có thực


THỬ TÌM CÁCH ĐÁNH GIÁ LỚP TRẺ HIỆN THỜI

Ngày 1 tháng 2 năm 2020

Dưới đây là phần đầu  bài trả lời phỏng vấn của tôi với VNN, từ 2007

Trong bản gốc nó có cái tên là "Lanh, khôn, nhưng thiếu chắc chắn "

- HỎI

 Có nhiều ý kiến khác nhau về lớp trẻ bây giờ: cả lạc quan lẫn bi quan. Còn ông, ấn tượng chung về họ ở ông ra sao?

- TRẢ LỜI

Ở bạn trẻ bây giờ, cảm giác tự do rất mạnh. Hơn hẳn cái đó ở bọn tôi. Thời trước, chúng tôi rón rén, khép nép, cái gì cũng sợ. Có những điều rất giản dị rất tự nhiên chúng tôi cũng phải chờ đợi cho phép mới được làm... mà chờ đợi mấy cũng vui vẻ cam chịu.

Các bạn giờ sống với cả thế giới rộng lớn, nhiều bạn có cảm giác mình là công dân thế giới.

 Chúng tôi xưa quanh quẩn trên mảnh đất quen thuộc. Nhớ lần đầu đi qua biên giới thì tim đập thình thịch.

Nay chả gì làm cho họ sợ.

Song đằng sau vẻ rất lanh, rất khôn, tiếp cận và hiểu biết nhiều, lớp trẻ bây giờ lại gợi trong tôi một cảm giác thiếu chắc chắn, mới trông thì lắm hình lắm vẻ song nhìn kỹ lại lờ mờ, nhợt nhạt thiếu ước mơ lớn.

Hình như đằng sau những lời huyênh hoang, trong thâm tâm họ quá hiểu mình, nên có cảm giác bi quan, cho rằng mình không bao giờ đạt được cái mức lý tưởng như các thế hệ trước.

Họ có thể phóng đi rất nhanh để rồi chả biết làm gì ở cái nơi vừa đến. Đằng sau cái vẻ vội vã của họ hình như ẩn giấu một nỗi thèm thuồng, chỉ sợ không được hưởng hết mọi lạc thú ở đời. Trong sự vội vã ấy, họ lại không có khả năng dò vào chiều sâu của cuộc sống.

Tôi hay nghĩ người Việt mình là một khối tự phát còn lớp trẻ thì  chính là lớp người nhạy cảm nhất, dễ gây bất ngờ nhất , nhưng cũng dễ nản lòng đầu hàng nhất. Lớp trẻ hiện nay mang trong nó cả một tiềm năng ghê gớm lẫn cả mọi dạng tai hoạ bất ngờ. Họ không đủ khả năng theo đuổi những định hướng lớn. Có lúc tôi thấy  với họ  thật khó đoán không  biết  điều gì sẽ xảy ra. Có lúc tôi lại buồn rầu mà nghĩ rằng họ cứ quanh quẩn thế thôi, chả đi tới đâu hết

- HỎI

Ông có thể cắt nghĩa hiện tượng này?

-TRẢ LỜI

Tuổi trẻ bao giờ cũng bị ảnh hưởng theo chiều ngang, ảnh hưởng bởi tinh thần thời đại nhiều hơn là ảnh hưởng dọc, ảnh hưởng  từ thế hệ cha ông.

Mà thời đại ta nói chung là thời đại của cái gì đó vỡ ra dang dở và chưa được sắp xếp lại.

Nước ta vẫn đang trên đường phát triển, nói theo thuật ngữ xã hội học là trong quá trình chuyển đổi. Con người bước từ chỗ tối ra chỗ sáng, nên đôi khi cảm giác vẫn còn bị ngợp và chập choạng, lúc thì tự tin quá, lúc lại tự ti quá. Cái này thấy rõ ở giới trẻ.

 Tôi nhớ một nhân viên tuyển dụng nước ngoài thường tiếp xúc với SV mới ra trường, có nhận xét, SV ta nhiều khi nói nhiều điều mà mình không biết, đến lúc hỏi kỹ thì lại trở nên lúng túng.

So với lớp trước, lớp trẻ hiện nay có cảm giác về tự do tốt hơn, nhưng nhiều lúc điều đó đồng nghĩa với bơ vơ, mất phương hướng, không xác định được mình.

Trong nhiều trường hợp, họ hiểu rất sai về tự do.

 Tự do không phải là bột phát, muốn làm gì thì làm.

Mà tự do là sự hiểu biết chung về bản thân, về hoàn cảnh và tìm ra cách  thích ứng  với hoàn cảnh, đồng thời vẫn khẳng định con đường riêng của bản thân mình.

Tự do cao nhất là tự do về mặt tinh thần, liên quan đến nội lực con người, sự phong phú trong tinh thần của họ, chứ tự do không phải là lăn ra đường để khẳng định cái tôi.

Đa số giới trẻ hiện nay, tự do bề ngoài thì có nhưng tự do sâu sắc bên trong thì không. Điều này dẫn đến việc họ không tìm được cách  bình tĩnh sống và học tập, mà trút cả cái gọi là khao khát tự do vốn có vào những hành động ngông cuồng bề ngoài.

- HỎI

Nói một chút về sự mất phương hướng của lớp trẻ. Ở Mỹ từng có một "thế hệ vứt đi" sau Thế chiến I, và một thế hệ hippy trong chiến tranh Việt Nam, mất niềm tin vào cuộc sống. Ở Nhật cũng có một thế hệ khủng hoảng niềm tin... VN trải qua một cuộc chiến lâu dài, đang trên đường phát triển và sẽ phải đối mặt với cả những hiện tượng xã hội đi kèm. Ông có nghĩ một điều tương tự ở đây?

- TRẢ LỜI

Bất cứ một xã hội nào, sau thời gian chiến tranh, con người cũng đều cảm thấy đời là trống rỗng... Đây là bệnh chung của xã hội thời hậu chiến.

Còn  phát triển quá của xã hội hiện đại khiến giới trẻ ở một nước vốn khép kín như thanh niên ta chịu không nổi , kết quả là xuất hiện những  những hiệu ứng tâm lý khá kỳ quặc.

Ngay cái ham hưởng thụ, sống gấp...một cách bệnh hoạn cũng là một biểu hiện khó tránh.

So với các nước cũng trải qua chiến tranh, tôi cho là ở VN, các bệnh trạng hậu chiến còn trầm trọng hơn nhiều.

 Thiếu một sự quan tâm thường xuyên, thiếu một cái nhìn thấu đáo, thiếu một sự nhận chân, như thế này sẽ luôn luôn có scandal chờ sẵn.

Tuy nhiên, ở VN, lối phản ứng của con người không bao giờ quyết liệt cả, mà thường loanh quanh tản mát, mỗi người  tự bó hẹp, tự làm nghèo mình đi, do đó những chuyển đổi cơ bản rất khó xảy tới. Chúng ta sẽ cứ nhùng nhằng như thế này mãi.


CHUYỆN HOA NĂM NAY

Ngày 10 tháng 2 năm 2020

Một người bạn bên phố cũ kể rằng đào và quất năm nay ế. Rồi anh kể thêm cái chuyện giải quyết hàng ế ẩm ở mình buồn cười lắm. Nhiều nhà chung quanh chợ đã đoán năm nay hoa khó bán, nên họ chờ sẵn, chiều tất niên ra nài nẫm hỏi xin mà nhiều khi lại chỉ biết dùng những lời lẽ khó nghe. Dân bán hoa tức lắm. Không thể mang về vì vận chuyển khó mà trồng lại cũng vất vả, họ đành chặt hạ những cây quất cây đào mà lúc trước giá hàng triệu, rồi mang vứt  đống rác cho hả.

Giá ở địa vị người trồng hoa, tôi nghĩ mình cũng đành làm thế. Vì mấy người đi xin kia thực ra có yêu gì hoa. Họ chỉ lợi dụng  đau khổ của kẻ khác. Nghèo không có tiền mua hoa ư? Sao không chọn lấy những cành vừa túi tiền và cũng vừa khung cảnh gia đình mình. Một cành đào nhỏ đặt trên bàn thờ hôm 23-24 tết giá cũng chỉ 40- 50 ngàn, đâu có  là quá đắt.

Ca dao cũ có câu “Ra đường thấy cánh hoa rơi – Hai tay nâng lấy cũ người mới ta”.

Nay cũng có người làm thế. Một số người tạm gọi là nghèo hiện nay có lối chơi đào như sau. Họ mua những cây đào dại chở theo xe tải về,  rồi gỡ ra thành nhiều cành nhỏ, và cắm lại theo kiểu người ta cắm la-dơn. Óc thẩm mỹ của con người có dịp bộc lộ.

Nhưng người biết làm thế ít lắm. Phần lớn cứ nhặt đại ở chợ rồi về và đào càng kềnh càng dị dạng họ càng tự hào  ra cái điều thách thức với đời.

Nhân đây tôi nhớ một lần đi qua Nam Kinh Trung quốc. Người ta kể rằng ở đó mai đào rất nhiều, nhưng là mọc thành rừng ở ngoại ô. Ngày xuân, bạn bè và gia đình kéo nhau đi thưởng hoa. Tôi đoán trên thế giới không có trò a dua chơi đào riêng từng nhà như mình, rồi lấy chuyện cành to cành nhỏ, cành nhiều lộc cành ít lộc ra để khoe. Với người Việt, chỉ những cái thuộc về của mình người ta mới cho là đẹp.

Xin tạm dừng câu chuyện về đào quất năm nay. bạn nào có rỗi, xin mời đọc lại một đoạn tôi viết trên FB   tết năm ngoái , tính theo lịch tây là ngày 22-2 -2015

HOA HÀ NỘI

Cái vườn hoa duy nhất mà hồi nhỏ tôi biết là Vườn hoa Hàng Đậu

Từ trước 1954, tôi sống với gia đình bố mẹ ở Thụy Khuê, thường ngồi xe điện Bưởi -- Bạch Mai xuống chợ Đồng Xuân. Tàu lên tàu xuống tránh nhau ở "quai - di - măng" đầu phố Quan Thánh, ngay cạnh vườn hoa nhỏ. Hồi trước nó được gọi là vườn Vạn Xuân, nay cứ quen mồm gọi là vườn hoa Hàng Đậu.

Năm 1968 tôi về công tác ở Văn Nghệ quân đội. Cơ quan lúc đầu còn sơ tán ở Hương Ngải Thạch Thất. Từ cuối 1968, thì về lại 4 Lý Nam Đế. Lại thường qua khu vườn hoa quen biết, coi như vườn nhà.

So sánh hoa trồng hai thời ở vườn hoa này, tôi nhận ra thế nào là dấu vết chiến tranh.

Trước đây hoa trồng bao giờ cũng đều tăm tắp, các luống hoa toát ra một vẻ đẹp thuần hậu và cao quý. Mới mấy năm chiến tranh mà cái vườn hoa đã cây thấp cây cao, nhiều giống hoa lạ xuất hiện khiến cả luống không bảo đảm thuần chủng như ngày xưa.

Trải qua nhiều năm, đến cuối chiến tranh tôi lại nhận thêm ra một điều. Là vẻ đẹp toát lên từ nhiều hoa mới trồng hiện nay là một vẻ đẹp hoang dã. Thời Pháp thuộc có Sở trồng hoa và ươm cây, ngay cạnh Vườn Bách Thảo. Tôi đoán hồi trước loại hoa nào được trồng cũng cân nhắc kỹ. Còn ngày nay người ta cho phép lưu hành mọi loại hoa khác nhau, tính chất quý phái của hoa mất đi, và cuộc đời các giống mới thì thay đổi rất nhanh, trồng vài năm chán, người ta vứt đi lại trồng thứ khác.

(Tôi thường liên hệ số phận của hoa với số phận người trí thức chân chính.

Người có tài thường đòi hỏi nhiều sự chăm sóc riêng biệt. Chiến tranh cào bằng tất cả, chiến tranh chỉ cần những người dám xông lên và biết nghe lời. Cũng như hoa, trí thức thứ thiệt cũng là loại sớm bị hy sinh trong chiến tranh và tới nay sang thời hậu chiến thì đã gần như mất giống không sao khôi phục nổi nữa. Nhưng thôi đây là cả một câu chuyện dài, sẽ nói khi khác.)

Chung quanh thái độ con người với hoa tôi muốn nêu hai việc:

-- Để bảo vệ các loài hoa mới trồng ở những nơi có nhiều người qua lại như quanh Hồ Gươm chẳng hạn, tôi thấy người ta chỉ dùng mấy sợi dây lem nhem hoặc mấy đoạn dây thép cứng quèo, còn đoạn tre nứa cong queo cắm làm cột giữ thì đổ xiêu đổ vẹo.

-- muốn chứng tỏ là mình yêu hoa, gần đây lại có mốt trồng hoa ở ngay dưới gốc cây dọc các vỉa hè, nghĩa là sát mặt đất, nơi vô ý người ta có thể giẫm lên bất cứ lúc nào. Hoa là thứ cao quý nay thành một thứ thấp lè tè và chỉ có tác dụng phụ trợ cho các cây lớn ngồng nghềnh. Giữa cây và hoa, mỗi bên có vẻ đẹp riêng. Lúc này vẻ rực rỡ của hoa bị tầm thường hẳn đi bên cái đẹp thô tháp cứng cỏi của cây. Đặt thế sao tiện? Như là làm nhục hoa vậy.

Trở lên mới nói về hoa ở các nơi công cộng. Còn chuyện chơi hoa trong các gia đình thời nay? Tôi nghĩ cái giống tượng trưng cho thiên nhiên và đồng nghĩa với vẻ đẹp này chắc cũng đang có một số phận bạc bẽo. Người lợi dụng nó thì nhiều, người yêu nó thì ít. Mà có yêu chăng nữa cũng không biết cách yêu, nên chỉ lửa rơm một thời gian ngắn rồi tình yêu đó cũng tàn phai.


LỄ BÁI NHƯ LÀ MỘT CÁCH CHẠY TỘI

Ngày 15 tháng 2 năm 2020

Nhân chuyện lễ bái ngày tết, tôi nhớ một câu tục ngữ:

Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành tiên

 Đi chùa đi chiền bán thân bất toại.

Trong nghĩa ban đầu, câu nói chỉ muốn cảnh cáo rằng moị chuyện không phải bao giờ cũng công bằng, động cơ không phải bao giờ cũng tương ứng với hậu quả, rõ thật sự đời là đỏng đảnh, là đa đoan rắc rối.

Thế nhưng đôi khi ngồi nghĩ quẩn, tôi lại thấy có  thể giải thích như sau

+ hình như ngày xưa có sự phân chia rành mạch.

 Đã ăn cắp thì không dám tính chuyện đi đền đi chùa.

Ngược lại lễ bái là cả một việc thiêng liêng mà chỉ những người còn hy vọng ở sự tốt đẹp  của đời sống mới thành tâm theo đuổi.

Hai loại người hai cách sống, rành mạch đâu ra đấy.

 + Còn ngày nay, càng những người “ có chuyện “, bao gồm từ buôn bán bất chính giả dối lừa lọc cho tới các loại quan chức lấy của công làm của tư, nhận hối lộ, tham ô ăn cắp (nói nôm na thì tham nhũng cũng chỉ là một loại ăn cắp ) lại càng kỹ càng trong việc cúng bái.

Bởi một đặc điểm của thời nay là con người thừa hiểu mình đang làm việc xấu song vẫn cứ làm.

 Mà cũng bởi người ta tin rằng thần thánh cũng như người, giá năng đến năng xin, và quà bánh lót tay cho thật hậu hĩnh, thì tội lớn thế nào cũng tha bằng hết.

Thành thử mới sinh ra tình trạng đen trắng lẫn lộn, bắt cá hai tay. Càng giỏi kiếm chác càng hăng hái đi đền đi chùa. Và cầu cúng xong rồi thì về thêm yên tâm tiếp tục làm bậy.

Tôi không dám tin rằng cách giải thích này đúng với tất cả mọi trường hợp nhưng đang đúng với một tỷ lệ nào đó ngày càng lớn, năm sau lớn hơn năm trước.

Với các trọc phú  thời nay, lễ bái đang là một thứ chạy tội.


BẠO LỰC CÓ NGUỒN GỐC SÂU XA

Ngày 18 tháng 2 năm 2020

TRONG TÂM LÝ VÀ CÁCH SỐNG CỘNG ĐỒNG  

Một bài  trả lời phỏng vấn cũ  với trang mạng VnMedia

Tên cũ "Người Việt sống bằng hành động nhiều hơn suy nghĩ"

PV MINH PHƯƠNG Chia sẻ với ông, trong các vấn đề xã hội gây bức xúc, dư luận cũng quan tâm và lên tiếng mạnh mẽ đấy, nhưng rồi hầu như “chẳng làm thêm được gì”. Có người cho rằng, xã hội đã nhờn thuốc với những lời cảnh báo, hô hào…

 VTN  Vấn đề không phải nhờn thuốc, mà là chưa tìm được thuốc hiệu nghiệm.

Còn làm sao để tìm ra thuốc hiệu nghiệm? Tôi cho rằng trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia… ta phải nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng của nó, từ đó nhận thức cho được thực chất của hiện tượng. Phải xác định không thể nóng vội và xử lý được ngay mà cần thời gian, cần đặt vấn đề chữa trị lâu dài.

Một đặc tính của dân mình là sống hời hợt, thường phản ứng vội, theo phong trào, ra quyết tâm nhưng ít đi tới cùng. Quan niệm ăn sâu “nói thì dễ, làm mới khó”, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn đề cao hành động hơn suy nghĩ, không có sự nghiền ngẫm sống…

Thiếu sự tư duy, vì không chịu phân tích và suy xét kỹ nên trong các vấn đề, chúng ta không hiểu biết một cách thấu suốt, thực chất… khi ấy, hành động chưa thể hiệu quả.

PV Ý ông là, trong những vấn đề xã hội như thế, chưa nên vội dùng các loại thuốc kháng sinh như các biện pháp xứ lý, trừng phạt… mà là tìm thuốc bổ cho cơ thể?

VTN Phải dùng cả thuốc bổ lẫn thuốc kháng sinh. Điều đầu tiên là phải tự tìm hiểu chính mình, vấn đề quan trọng nhất là tự nhận thức. Chỗ này liên quan đến quan niệm sâu xa của mỗi người về kiếp nhân sinh.

Tôi hay đọc lại Khổng Tử, và may mắn là tìm ra được một ông Khổng Tử có liên quan đến chuyện chúng ta đang bàn. Khổng Tử của tôi trước tiên là một nhà nhân học vĩ đại, với nghĩa ông rất hiểu về tiềm năng hư hỏng của con người.

Trong khi Mạnh Tử đề ra thuyết tính thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện) thì với Khổng Tử con người có cả thiện lẫn ác. Ông luôn đặt vấn đề con người phải vượt lên trên bản năng của mình, để tốt hơn, sống cho ra người hơn. Theo nghĩa này, Khổng Tử là một triết gia rất hiện đại.

Còn chúng ta hôm nay lại quan niệm về con người quá đơn giản. Trong cách giáo dục, chúng ta luôn tự hào là nhân dân ta sống rất nhân hậu. Tôi không cho là dối trá, nhưng chúng ta ảo tưởng rằng mình nhân hậu. Có nhiều cái chúng ta làm mà không nghĩ rằng đó là bạo lực.

PHẢI CÓ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC

-PV Bây giờ, với trường hợp bạo lực xã hội, đặt vấn đề chữa trị lâu dài, theo ông, phải bắt đầu từ đâu?

VTN Phải đưa các hiện tượng mà ta gọi là tiêu cực hiện nay thành một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc.

Nhiều người nước ngoài nhận xét, thanh niên ta hiện nay khá về khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Các kiến thức có tính nhân văn ở các em rất đơn giản. Vì chính người lớn chúng ta cũng có chịu tìm hiểu chính mình đâu, lại càng không chịu tìm hiểu về xã hội mình đang sống.

Ví dụ ở các nước, trong hoàn cảnh như ta, chắc chắn người ta phải có những công trình nghiên cứu tầm cỡ về tâm lý thời hậu chiến trong đó có Xã hội học bạo lực… Với thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề đi sâu vào bạo lực học đường.

Ở ta chẳng ai chịu chi tiền cho cán bộ khoa học làm. Bất đắc dĩ phải làm thì chỉ nhăm nhăm minh họa cho những ảo tưởng có sẵn. Những công trình nghiên cứu gọi đúng thực chất xã hội thì mang đút ngăn kéo, không cho phổ biến đến đông đảo công chúng. Thế sao gọi là nghiêm túc, là thực sự cầu thị?

PV Đi cụ thể vào bạo lực học đường, nhiều ý kiến tranh luận giữa vai trò và trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội… Giáo dục có trách nhiệm như thế nào trong chặng thời gian “chữa trị lâu dài” ấy, thưa ông?

VTN Trước đây, có sách Quốc văn giáo khoa thư (do nhóm nhà giáo đứng đầu là ông Trần Trọng Kim biên soạn), là sách được dạy chính thức trong các trường học trước năm 1945. Trong loạt bài nói về tính xấu của con người có hai bài đáng lưu ý..

Một bài tả cảnh một bé gái, chơi với mèo song lại giở thói ác, kéo đuôi mèo thật mạnh khiến nó quay lại cào cho một cái thật đau. Bài kia tả một em bé trai chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta. Cậu ta từng lấy bút của bạn ngồi cạnh đâm cho quằn đi, lấy đó làm sung sướng.

Lối soạn sách như thế này chắc đã bị nhiều nhà giáo dục của ta phản đối. Nhưng tôi cho rằng cách làm của người xưa đúng hơn. Bên cạnh việc giáo dục lòng nhân từ, chúng ta phải đưa vào chương trình phổ thông những bài học như thế này, để ngăn đe, để chống cái tàn bạo bản năng của lớp trẻ..

Khi soạn sách, phải đưa những bài văn có tính chất nuông chiều, buông thả bạo lực ra khỏi nội dung. Nếu cần phải giảng dạy những ca dao tục ngữ truyện cười, truyện cổ tích… có cài chen yếu tố bạo lực như đã nói, không nên lảng tránh mà cần chỉ rõ đây là những di lụy của thời xưa, ngày nay ta biết để tránh.

Sở dĩ tôi có đề nghị như vậy vì thấy gần đây, sau những cảnh bạo lực trong học sinh, người ta chỉ nói tới vai trò của thầy giáo cô giáo. Phải luôn luôn quan tâm tới các em, phải biết ngăn chặn các em… Tất cả những cái đó là đúng nhưng chưa đủ.

Toàn ngành giáo dục phải vào cuộc với nghĩa cả những người định ra nội dung chương trình giảng dạy, cả những người soạn sách giáo khoa cũng phải có mặt.

TRUYỀN THÔNG CŨNG PHẢI TRỞ THÀNH TRƯỜNG HỌC

PVTruyền thông và các hoạt động nghệ thuật có vị thế là có khả năng ảnh hưởng tương đối. Theo ông, thì vai trò của họ trong vấn đề này, như thế nào?

VTN Truyền thông hiện nay cũng phải trở thành một thứ trường học. Cần lôi cuốn các nhà nghiên cứu cơ bản tham gia phát biểu về các vấn đề thời sự. Rộng hơn từng hiện tượng lẻ, cần khai thác các ngành xã hội học trong việc tìm hiểu con người Việt xã hội Việt. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, mà là nói thực chất. Nói đúng thực chất thì tự nhiên có người nghe.

Với tư cách một người phê bình văn học, điều cuối cùng tôi muốn nói là trước tình trạng đạo đức xã hội như hiện nay, những người làm công việc văn chương tinh thần cũng nên tự vấn lương tâm của mình, nên nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm. Vì làm giáo dục một cách mòn sáo thất bại, nghệ thuật đang nghiêng về phía giải trí “mua vui” cho thiên hạ, tuy như ta thấy, chiều nịnh công chúng rút cục là làm hại công chúng.

Theo Minh Phương/VnMedia

LỐ NHỐ MỘT ĐÁM ĐÔNG LỘN XỘN

Ngày 24 tháng 2 năm 2020

Vào những ngày này, báo chí  nhắc nhiều tới không khí hội hè nhốn nháo và xu thế bạo lực hóa ở các lễ hội vùng quê.

Người ta cắt nghĩa tình trạng đó bằng những nguyên nhân trước mắt như đô thị hóa hoặc hội nhập quốc tế.

NHƯNG HÃY NHÌN LẠI QUÁ KHỨ.

TÌNH TRẠNG HÔN LOẠN HÔM NAY ĐÃ  CÓ MẦM MỐNG TỪ NÔNG THÔN  TRÌ TRỆ VÀ ĐẦY UNG NHỌT HÔM QUA.

Nông thôn, làng quê, người nông dân… nghĩ tới xã hội Việt Nam là phải nói ngay tới cái bộ phận thiết yếu đó. Có lẽ bởi vậy mà trong truyện dài “Thiếu quê hương” ( in lần đầu năm 1940, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản năm 2006), mặc dù lấy đô thị hiện đại là địa bàn chủ yếu của các nhân vật, song cuối truyện nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải một lần đưa họ về làng quê.

Ấy là khi Bạch – nhân vật chính – tính chuyện nhập vào một đoàn múa dân gian để đưa sang đấu xảo (như Hội chợ ngày nay) tận bên San Francisco nước Mỹ.

Nhưng nông thôn xuất hiện thì cũng là lúc cái đình xuất hiện. “Bạch ướm chuyện mới gọi đến việc tuồng hát Xuân Phả có mấy câu thì ông lý đã nhanh nhảu mời chàng ra đình xem”.

Trong làng xóm xưa, hàng ngày dân chúng sống chủ yếu với cái gia đình của mình. Những thiết chế công cộng như sân chơi chung câu lạc bộ nhà văn hóa thường thấy ở các nước phương Tây, ở đây gần như không có.

Trừ các phiên chợ, ngoài ra ở hầu như tất cả các làng xóm rất ít có những địa điểm để người ta gặp gỡ.

Chỉ còn có đình.

Chức năng chủ yếu của đình là phục vụ cho các loại việc làng. Chúng ta hẳn còn nhớ cái đình từng được nhắc tới nhiều trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố.

Đó là nơi diễn ra những cuộc tranh cãi của một bộ máy lý dịch kém cỏi.

Là nơi đám cường hào mưu đồ chống phá nhau.

Trong những buổi họp chung có tính chất chính thức ở đình, dân chúng chỉ làm nền cho đám lý dịch.

Đây là khía cạnh đầu tiên của các sinh hoạt đình làng. Trước mặt chúng ta là một đám đông thụ động. Họ không hiểu gì lắm về các trật tự ngôi thứ do bọn cường hào lập nên.

 Trong đám đông, con người gần như lẫn vào nhau, tâm trí mỗi người bị thu hút cả vào chuyện quan hệ với người bên cạnh, khiến cho người ta càng thấy rõ là thực ra các nhân cách chưa thành hình, chỉ có cái phần bản năng trong mỗi cá nhân cựa quậy rồi lẫn đi ngay.

Tuy nhiên, ở làng nào cũng vậy, đình còn là địa điểm diễn ra các loại sinh hoạt tinh thần khác – gọi chung là việc đám.

Ở đồng bằng bắc bộ, những ngày đám này, các làng thường gọi các gánh chèo về biểu diễn ngay trên sân đình.

Nam Cao có một truyện ngắn mang tên “Mua danh”.

 Nội dung truyện là anh cu Bịch nhân được giàn trầu tốt, bỏ ra cả trăm đồng chân hương trưởng trong làng, dẫn tới cái cảnh cốt truyện, khi làng có đám, anh ta được ra đình làm chân “dẹp đám”( nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là giữ trật tự).

 Và sự đời là như thế này: trong khi Bịch có vẻ hào hứng thì dân chung quanh buông ra đủ lời châm chọc khích bác. Họ lợi dụng ngay sự lúng túng của anh ta để chen lấn xô đẩy làm loạn xì ngầu ngay ngoài sân đình.

Nam Cao có thể là không cố ý, nhưng trong lúc nhân tiện nói về việc mua quan bán chức ở nông thôn cũ, đã vẽ ra một khía cạnh khác của sinh hoạt tập thể: từ chỗ nép mình trong một trật tự giả tạo, lúc này dân chúng đã trở thành một đám đông lộn xộn.

Nguyễn Tuân cũng có cảm nhận tương tự.

Trong lần duy nhất viết về nông thôn mà chúng ta đang nói,  hình ảnh các đám đông ở nơi công cộng để lại trong ông nhiều ấn tượng không lấy gì làm đẹp.

“Theo cái lối họp làng bàn chuyện lúc đã nói thì tất cả đều nhao nhao lên và lúc đã im thì tất cả đều nín thít…cả ba bàn rượu đều lừng khừng kẻ hút thuốc người véo xôi, xoa kẽ chân hoặc nhìn lên rui kèo”.

Ta nhớ là lúc này những người dân được tập họp để bàn chuyện đi đấu xảo.

Ngay lập tức thấy nổi lên những thắc mắc về quyền lợi.

Ra cái vẻ thạo đời, một người đặt những câu hỏi nghi vấn chung quanh cái miếng lợi từ đâu mang tới.

 Và cả đám đông lại như bị kích động.

Cái người thắc mắc lúc trước giờ tiếp tục tuyên ngôn tuyên bố hùng hồn:

“Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này là chúng ông đi Hoa Kỳ về mà đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp chúng ông, tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem”.

Có cảm tưởng đây là lúc những oán thù cũ được khơi dậy.

Sau những ngày dài sống nhẫn nhục chịu đựng, người ta có dịp thức tỉnh.

Họ thấy lâu nay họ quá thiệt thòi và lại nép vế nữa. Họ tính chuyện trả thù.

Ấy vậy mà đấy chẳng qua chỉ là giây phút bốc đồng. Ngay khi con người hùng hổ nói trên đẩy hành động lên tới cao trào “quẳng một cái bát đèn ra ngoài sân, vỡ tan”, bị các cụ bàn giữa mắng, anh ta lại ôm mặt khóc hu hu “lạy các cụ con khổ lắm”.

Lâu nay sinh hoạt đình làng nói riêng và sinh hoạt cộng đồng nói chung, thường được miêu tả với màu sắc thơ mộng.

 Đến với thơ Nguyễn Bính chẳng hạn thì mái đình chỉ còn là tượng trưng của tinh hoa quê hương làng xã.

Nhưng nhiều tài liệu nghiên cứu xã hội học khởi đi từ Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” qua Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, Nguyễn Văn Huyên trong “Văn minh Việt Nam” cho tới cả những điều tra của Vũ Văn Hiền trên tạp chí “Thanh Nghị” (1945) … đều cho thấy những bức tranh đại khái như Nam Cao và Nguyễn Tuân vẽ ra ở trên là xác thực.

Trước 1945, nhiều miền quê Việt Nam là những vùng nông thôn trì truệ. Sau cái bề ngoài lặng lẽ ẩn mình dưới lũy tre xanh là cả một thực thể ruỗng nát; những gì cựa quậy bên trong thực ra chỉ lồng bồng lửa rơm chóng cháy chóng tàn, cố nhiên là không đi tới đâu, chẳng dẫn tới cái gì.

Lần đầu in báo "Nông thôn ngày nay" Tết 2009

Bổ sung đoạn dẫn ở trên ngày 24-2- 2016

CÁI ĐỨNG ĐẰNG SAU LUẬT PHÁP LÀ VĂN HÓA

Ngày 4 tháng 3 năm 2020

Luật pháp thường được hiểu một cách nôm na như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.

Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã đi ngược với những tiêu chuẩn làm người và bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề.

Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều.

Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức trên nét lớn là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Đến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hoá, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành  nền nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.

... Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, ăn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hoá thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Một cơn đại dịch đang hoàn hành là những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy!

Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ.  Còn lâu chúng ta mới có một thứ luật pháp theo kịp với sự chuyển đổi văn hóa của xã hội hôm nay.

Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mối của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội?

Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hoá để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó một cách căn bản.

Chắc chắn là không có gì khiên cưỡng khi gắn một số hiện tượng tiêu cực nói trên và các hành động tương tự với lối làm ăn (kèm theo là lối sống nếp nghĩ) có tự ngày xưa, khi người ta sống theo kiểu khôn vặt (ăn cỗ đi trước lội nước đi sau) và vô trách nhiệm (sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi) chỉ biết đến quyền lợi của gia đình mình (đèn nhà ai nhà nấy rạng), chỉ biết đến cái làng của mình là cùng (trống làng nào thì làng ấy đánh, thánh làng nào thì làng ấy thờ), ngoài ra, bỏ qua mọi chuyện, bởi “có chết thì cả làng cùng chết  -- Chết một đống còn hơn sống một người”.

Đến lượt nó, mỗi tội lỗi, và phản ứng trước tội lỗi - kể cả những tội nho nhỏ, hoặc quá tinh tế, pháp luật không kết luận nổi - lại cũng nói lên một điều gì đó về tình trạng tâm lý xã hội nói chung. Nếu như ở đây có sự dửng dưng, tức thờ ơ, mặc kệ kẻ có tội và không sao hình thành nổi dư luận cũng như không cắt nghĩa được nguyên nhân sâu xa dẫn đến tội lỗi, thì đó chính là một bằng chứng cho thấy sức khoẻ tinh thần nói chung của xã hội đang có vấn đề, và sự chữa chạy cho mỗi cá nhân không thể kết quả, nếu không có sự chữa chạy cho cả cộng đồng.

CẶN BÃ VĂN HÓA

Đang nghĩ như vậy thì qua báo Nông thôn ngày nay, số ra 12.6.99, tôi lại được biết thêm về một hiện tượng phải nói là kỳ cục giữa công ty X và công ty Y có sự tranh chấp. Để trả thù, bên Y liên tiếp gửi tới bên X những chiếc quan tài và các vòng hoa tang, trong đó đề rõ tên tuổi kẻ thù của mình.

Như một phóng viên Nông thôn ngày nay nhận xét, đây quả là kiểu khủng bố chưa từng có ở Việt Nam. Sự việc “độc đáo” đến mức các nhà chức trách đang phải theo dõi để tìm cách luận tội cho chính xác.

Tuy nhiên, nhiều bạn đọc của chúng ta, khi nghe chuyện, hẳn không khỏi nhớ tới những cách trả thù vốn có từ xưa, và còn lưu truyền lại qua lời đồn đại của dân gian; căm giận ai thì đi dò hỏi mồ mả ông cha người ta rồi đào lên để hạ nhục. Hoặc làm hình nhân thế mạng, viết tên tuổi kẻ thù của mình lên đó, rồi lấy kim châm chỗ hiểm và thuê thày địa lý về yểm vào đất độc. Hoặc như trong truyện Tấm Cám, cái đầu của Cám sau khi chết được Tấm mang ra làm mắm để gửi về cho người mà Tấm vẫn gọi là mẹ ghẻ (cũng tức là mẹ đẻ của Cám).

 Cái hành động kia không hẳn đã đơn độc như chúng ta tưởng tượng. Trong khi lên án nó và đồng tình với mọi sự trừng trị đích đáng, đồng thời phải thấy nó thuộc về một cái gì di truyền trong tâm lý xã hội, do đó, có khi hoạt động ngoài ý muốn từng con người cụ thể.

 Trong cái hành động kỳ cục kia thấy có cả những căn nguyên văn hoá sâu xa (văn hoá ở đây không chỉ bao gồm tinh hoa mà như các nhà nghiên cứu khoa học xác định, còn bao gồm cả những cặn bã cần vứt bỏ).

Và như vậy là trên đường suy nghĩ về hiện tượng tiêu cực, chúng ta có thể phần nào yên tâm vì đã lần đến đầu mối cuối cùng, còn như việc lo chữa chạy thì sao, đấy lại là chuyện khác.

Chắc chắn, mỗi khi đứng trước một hiện tượng tiêu cực, lại còn lo lần ra căn nguyên đạo lý văn hoá của nó, công việc phải làm sẽ trở nên vô cùng bề bộn.

Chẳng phải là lâu nay nhiều người chúng ta có thói quen suy nghĩ một cách đơn giản “truyền thống căn bản là tốt”, “đạo lý dân mình nhìn chung là lành mạnh”, để xuê xoa mọi chuyện.

Nhưng chính bởi thế, nay lại chính là lúc xã hội phải lo tự nhận thức cho thấu đáo hơn. Bề bộn mấy thì bề bộn, để giải quyết đến cùng mọi chuyện tiêu cực, không thể có cách nào khác.

  Viện sĩ người Nga, ông D. Likhachev từng nói đại ý  không có văn hoá, xã hội không thể trở thành xã hội có đạo lý.

Và nếu không có cả văn hoá lẫn đạo lý, thì mọi cải cách trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, đều trở nên vô nghĩa, càng cải cách càng làm hỏng con người.

Đã in “Nhân nào quả ấy”, 2004

đang được Nhã Nam tái bản


QUAN LIÊU VỚI QUÁ KHỨ

Ngày 6 tháng 3 năm 2020

Suốt mấy chục năm chiến tranh, nhiều di sản cũ cũng trở thành nạn nhân như con người. Kế đến là những năm hậu chiến gian khổ, người đang sống lo ăn còn không đủ, lấy đâu tâm huyết và tiền của lo cho người xưa. Bởi vậy nhiều di sản như các thành quách, chùa chiền của chúng ta trong tình trạng đổ nát và cần tôn tạo lại. Nghe tin nơi này nơi kia dựng lại chùa, tô lại tượng ai mà chẳng mừng.

Nhưng không phải hôm nay mà có đến cả chục năm nay, đi đâu tôi cũng gặp tình trạng tôn tạo tùy tiện nhìn vào chỉ còn biết dở khóc dở cười. Tinh thần của công trình cũ không được tôn trọng. Gọi là hiện đại hóa nó, nhưng sự thật là ta làm cho nó trở nên tầm thường lố lăng. Cái phần hồn vía vốn có bay đâu mất cả. Rồi nó vẫn còn đấy mà thân tàn ma dại như đã chết. Không phải ngẫu nhiên có người đã dùng đến chữ bức tử, một sự hiếp đáp quá khứ ngay giữa thanh thiên bạch nhật.

Tại sao lại có tình trạng nói trên? Tôi sẽ chưa nói có khi đó là sự vụ lợi, sở dĩ sự càn rỡ đó vẫn đang tồn tại dài dài, ở đây có những vấn đề chung của văn hóa cộng đồng. Phũ ra mà nói thì là không hiểu biết và kém cỏi. Cụ thể hơn phải nói tới cách hiểu của chúng ta về di sản, ý niệm của chúng ta về thời gian cùng là trình độ tư duy của chúng ta nữa.

Có lần trên đường ghé thăm một ngôi đền, tôi hỏi mấy cụ già sống gần đấy là đền thờ ai, làm từ bao giờ, chẳng cụ nào biết. Thậm chí có cụ chẳng buồn ngẩng mặt lên để trả lời tôi nữa vì cho câu hỏi của tôi là ngớ ngẩn. Thế nhưng khi tôi mới đi được vài bước, chính ông cụ ấy giật giọng gọi lại bằng được: “Này, nhưng mà đền thiêng lắm đấy, trong làng khối người đến cầu rồi làm ăn phát tài phát lộc đủ cả”.

Cách nghĩ như trên không dừng lại ở một hai người, một hai địa phương. Phải nói rằng nó đang chi phối nhiều người. Quá bận bịu với việc hằng ngày, chúng ta sẵn sàng quan liêu với quá khứ, bằng lòng với thói chàng màng trong hiểu biết về nó. Cái sự hời hợt là trên mọi phương diện.

Hời hợt trong sự tìm hiểu thì cũng dễ dãi qua quýt trong sự tái tạo quá khứ.

Người xưa kỹ lưỡng tinh tế trong mọi công việc hằng ngày. Người xưa biết làm văn hóa bằng cái cảm giác thiêng liêng trước sự trường tồn bất tử. Còn chúng ta, trong sự ồn ào của thời hiện đại, chúng ta bằng lòng làm tù nhân của thói vụ lợi và sự dung tục. Khi sự cẩu thả đắp điếm giả tạo chi phối trong việc xây một cây cầu, dựng một cao ốc thì với các di tích, thái độ làm bừa, làm lấy được là không thể tránh khỏi.

Tóm lại, một công việc văn hóa lại được làm một cách rất thiếu văn hóa. Ngày nào mà các vấn đề đối xử cẩu thả với quá khứ còn chưa được mổ xẻ đến cùng thì thảm cảnh phá hoại sẽ diễn ra trên cả hệ thống chứ không riêng một di tích nào cả.


NẾU NHƯ KHÔNG BIẾT LÀM GÌ

THÌ TA HÃY ĐỌC ...

Ngày 13 tháng 3 năm 2020

Trong những ngày có DỊCH CÚM này tôi  nhớ ngay tới tiểu thuyết  Dịch  hạch liền gõ Gogle  và tạm bằng lòng với hai tài liệu 2/ và 3/ đưa dưới đây muốn mời các bạn cùng đọc.

Nhưng  trước hết  mời các bạn dừng lại ở tài liệu 1/ nó là cái cớ khiến tôi thêm tự tin khi viết stt này trong đó có lời khuyên của một nhà giáo loại hơi cổ như bọn tôi

"Các con hãy tận dụng những ngày này để đọc một cuốn sách hay và không có lý do gì để nhốt mình trong nhà nếu bản thân khỏe mạnh."

Tiếp lời ông tôi muốn nói thêm

Ngay trong hoàn cảnh của một người bình thường, cách tốt nhất để TIÊU HÓA tình cảnh này là ta hãy NGHĨ VỀ NÓ TRONG MỘT KHUNG CẢNH RỘNG LỚN CỦA KIẾP NHÂN SINH. Và trong khi nghĩ, một trong những điểm tựa lớn của chúng ta là kinh nghiệm của các thế hệ trước, những trải nghiệm của họ còn được ghi nhận trong những nền văn học lớn mà hậu thế mãi mãi tìm đọc.

Xin cám ơn các bạn đã chuẩn bị những tài liệu dưới đây chúng giúp tôi thêm chút hào hứng trở lại với FB

I/

Bức thư nhân văn thầy hiệu trưởng Ý viết cho học sinh trong mùa dịch

" Các con thân mến!

Không có gì mới mẻ, nhưng việc trường học phải đóng cửa khiến thầy muốn gửi thông điệp này đến các con. Trường của chúng ta là ngôi trường có truyền thống với nhiều năm lịch sử. Việc phải đóng cửa trường trong thời điểm này không phải ngẫu nhiên mà do chính quyền đang phải đối mặt với một vấn đề hiếm xảy ra.

Thầy không thể đánh giá chính xác tính đúng đắn của biện pháp này bởi thầy không phải chuyên gia. Thầy cũng không giả vờ làm như vậy bởi thầy tôn trọng, tin tưởng các nhà chức trách và sẽ tuân thủ các chỉ dẫn của họ.

Tuy nhiên, điều thầy muốn nói với các con là dù thế nào đi chăng nữa, các con phải luôn giữ cho mình một cái đầu lạnh để không bị lôi kéo vào những ảo tưởng, với sự đề phòng và thận trọng để sống một cuộc sống bình thường.

Các con hãy tận dụng những ngày này để đọc một cuốn sách hay và không có lý do gì để nhốt mình trong nhà nếu bản thân khỏe mạnh.

Cũng không có lý do gì để chúng ta phải vơ vét khẩu trang ở các siêu thị, hiệu thuốc. Hãy để khẩu trang lại cho những người bệnh. Chính họ mới thực sự là những người cần.

Tốc độ lây truyền của con virus này đến từ mọi ngóc ngách trên thế giới và chỉ là vấn đề thời gian. Chẳng có bức tường nào có thể ngăn chặn chúng.

Một trong những rủi ro lớn nhất ở những sự kiện như vậy, theo Manzoni và Boccaccio (những tác giả từng kể về bệnh dịch hạch ở Milano năm 1630), chính là mối quan hệ giữa người với người và đời sống của chúng ta bị nhiễm độc.

Bản năng của con người khi cảm thấy bị đe dọa bởi một kẻ thù vô hình là sẽ nhìn thấy chúng ở khắp nơi. Điều nguy hiểm nhất là chúng ta xem đồng loại của mình như một mối đe dọa hay một kẻ thù tiềm năng.

So với các dịch bệnh của thế kỷ XIV và XVII, hiện chúng ta có một nền y học hiện đại. Hãy tin vào những tiến bộ và sự chắc chắn của nó.

Thầy mong các con hãy suy nghĩ tỉnh táo để giữ gìn thứ tài sản quý giá nhất mà chúng ta sở hữu, đó chính là tình nhân loại. Nếu chúng ta không làm được điều đó, bệnh dịch sẽ chiến thắng.

Thầy sẽ đợi các con dưới mái trường.

Thầy Domenico Squillace”.

Trường Giang (Theo Medium)

2/

Dịch hạch (tiểu thuyết)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

.

Dịch hạch

La peste

Tác giả Albert Camus

Quốc gia Pháp (Algérie)

Ngôn ngữ tiếng Pháp

Thể loại Phi lý

Nhà xuất bản Librairie Gallimard

Ngày phát hành 1947

Số trang 338 trang

ISBN

ISBN 0-679-72021-9

Bản tiếng Việt

Người dịch Nguyễn Trọng Định

Dịch hạch (tiếng Pháp: La peste) là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Albert Camus xuất bản năm 1947. Một vài nhân vật của Dịch hạch đã xuất hiện trong cuốn sổ tay của Camus viết ở Alger năm 1938. Nhưng hơn cả là ở Oran, từ cuối năm 1940 đến mùa xuân năm 1942, rồi ở Pháp, Camus đã soạn thảo lại cuốn tiểu thuyết của mình.

---

Nhân vật chính

• Bác sĩ Bernard Rieux: nhân vật trung tâm của Dịch hạch. Ông cùng với bạn bè và đồng nghiệp lao vào cuộc chiến đấu với bệnh dịch để cứu thành phố Oran. Rieux có suy nghĩ đơn giản, rõ ràng nhưng quyết liệt: "nếu không điên thì cũng mù, không mù thì cũng hèn nhát mới cam chịu buông tay trước dịch hạch", "sức lực tôi đến đâu thì tôi bảo vệ họ đến đó...". Những lời nói và hành động của Rieux đã thuyết phục được nhiều người, như nhà báo Rambert hay linh mục Paneloux. Bản thân Rieux, chính trong thời gian dịch hạch vợ ông ốm đau phải đi điều dưỡng và khi bà chết Rieux cũng không được gặp.

• Jean Tarrou: anh là một trí thức xuất thân danh giá, nhưng chán ghét cuộc sống của chính mình. Tarrou giã từ cuộc đời nhung lụa sau một lần chứng kiến cha mình - một chưởng lý - buộc tội hành hình một bị cáo. Anh lưu lạc qua nhiều nước, tham gia vào nhiều cuộc chiến đấu. Tarrou xuất hiện ở Oran một cách bí ẩn, luôn ghi chép những sự kiện của thành phố vào cuốn sổ tay của mình. Là người đáng lẽ đứng ngoài cuộc, nhưng anh đã tình nguyện cùng Rieux chống lại bệnh dịch.

• Raymond Rambert: phóng viên của một tờ báo ở Paris đến Oran điều tra về cuộc sống ở đây. Dịch hạch làm anh kẹt lại thành phố, không thể trở về với người yêu. Ban đầu Rambert luôn cho mình là kẻ ngoài cuộc, anh tìm mọi cách để thoát khỏi Oran. Nhưng chính khi có cơ hội thì anh quyết định ở lại. Những hành động của Rieux và Tarrou đã thuyết phục Rambert.

• Cha Paneloux: ban đầu ông coi bệnh dịch là sự trừng phạt của Chúa, và những con chiên phải yên lòng đón nhận. Nhưng cuối cùng ông đã bị thuyết phục bởi Rieux, và nhất là sau khi chứng kiến cái chết của con trai ngài dự thẩm Othon. Trong buổi cầu kinh thứ hai, cha Paneloux đã kêu gọi: "Hỡi những người anh em, chúng ta phải là những người ở lại." Bản thân ông cũng tự nguyện tham gia vào đội cứu chữa.

• Joseph Grand: một nhân viên ở tòa thị chính. Anh ta có mơ ước trở thành nhà văn, thường sửa đi sửa lại một câu văn của mình. Grand cũng tham gia vào đội tình nguyện.

• Cottard: Một kẻ cơ hội, tìm cách kiếm lợi nhờ dịch hạch.

------

Cốt truyện

Oran là thành phố biển xấu xí của Pháp nằm ở phía Bắc Algérie. Sáng ngày 16 tháng 4 của một năm trong thập niên 1940, bác sĩ Rieux từ trong phòng ra ngoài cầu thang thì đá phải một xác con chuột chết; ngay chiều hôm đó đi về thì gặp một con chuột khác cũng đang giãy chết. Lúc đầu người ta tưởng đó là trò nghịch ngợm của bọn trẻ, nhưng số lượng chuột chết mỗi ngày cứ tăng dần, dân cư thành phố lo sợ. Các bệnh nhân đầu tiên được đưa vào bệnh viện rồi xuất hiện những người chết đầu tiên. Bệnh dịch hạch bắt đầu lan tràn Qua nhiều cuộc tranh cãi, cuối cùng chính quyền công nhận thành phố bị dịch hạch và quyết định đóng cửa thành phố để bệnh khỏi lây lan, gây nên nhiều xáo trộn cuộc sống với nhiều gia đình ly tán. Song dân chúng Oran cũng dần quen với thảm họa sau những hốt hoảng đầu tiên. Nhịp sống dần trở lại bình thường mặc những cảnh chết chóc, đốt xác chết, chôn người chết diễn ra hết sức phổ biến và ghê rợn.

Nổi lên trong tác phẩm là một số nhân vật không nề hà nguy hiểm giúp đỡ bệnh nhân hoặc nghiên cứu điều chế vacsin trị bệnh. Đó là Grand, một viên chức bình thường ở tòa thị chính; là nhà báo Rambert có người yêu ở Pari nhưng không nỡ rời thành phố chết chóc này để tìm hạnh phúc riêng tư; là cha Panelou, vị linh mục vừa tin bệnh dịch hạch là sự trừng phạt của chúa, vừa mong muốn làm giảm nỗi đau cho con người; là nhà trí thức Tarrou; đặc biệt là bác sĩ Rieux, người làm việc ngày đêm không mệt mỏi để cố tìm cách đẩy lùi bệnh dịch.

Sau nhiều ngày tháng Oran lâm vào cảnh chết chóc tang thương, bệnh dịch hạch dần chững lại và đến 25 tháng giêng bệnh coi như chấm dứt sau khi đã giết chết không biết bao nhiêu sinh mạng.

--------------------

Đặc điểm

Tác phẩm được kể ở ngôi thứ ba tuy thi thoảng lóe lên những nội dung cho biết người kể chuyện hoàn toàn không phải đứng ngoài cuộc vì chắc chắn cũng là dân của thành phố Oran. Gần cuối tác phẩm xuất hiện câu: "chuyện đến đây là kết thúc, đã đến lúc Bernard Rieux thú nhận chính ông là tác giả. Nhưng trước khi thuật lại những sự kiện cuối cùng, ít ra ông cũng muốn biện bạch cho sự can thiệp của mình và để cho mọi người hiểu rằng ông cố ý lấy giọng của một người chứng kiến khách quan. Tác phẩm bỗng như mang một dáng vẻ mới: cùng với nhân vật người kể chuyện đóng hai vai, nghe rõ hai giọng phân biệt hòa vào nhau là giọng của người kể chuyện không tên ít nhiều đồng nhất với nhà văn và giọng của bác sĩ Rieux.

Dịch hạch là cuốn tiểu thuyết nhưng mang dáng dấp ký sự. Bản thân ý nghĩa của khái niệm "dịch hạch" cũng cho thấy tính chất biểu tượng của nó. Tác phẩm ra đời ngay sau đại chiến thế giới thứ 2, nên tham họa miêu tả trong đó có thể khiến người ta liên tưởng đến chủ nghĩa phát xít, nhưng cũng có thể nó ám chỉ bất cứ hình thức bạo lực nào đang đe dọa cuộc sống loài người và có thể còn đè nặng lên nhân loại trong tương lai. Dù có những con người cố gắng nhập cuộc với tất cả sức lực, con tim và trí óc nhưng cũng không đi đến đâu vì bệnh tự đến và tự lui chưa biết bao giờ lại xuất hiện, điều đó phần nào toát lên tư tưởng bi quan của tác giả.

3/

Bài đưa trên trang mạng VĂN  NGHỆ QUÂN ĐỘI

Thứ Tư, 19/02/2020

http://vannghequandoi.com.vn/.../dich-hach-cua-albert...

----

Dịch hạch của Albert Camus: Câu chuyện dành cho chúng ta và mọi thời đại

----

Chủ nhân sáng tạo của tiểu thuyết Dịch hạch có thể đã ra đi mãi mãi, nhưng 60 năm sau cái chết của ông, với sự phát sinh của vô vàn những dịch bệnh thuộc kiểu này hay kiểu khác, hiện diện của cuốn sách này vẫn nghiễm nhiên hợp thời và bức thiết.

(Bài viết này được đăng trên Tạp chí The Guardian vào đầu năm 2015, khi đại dịch Ebola bùng phát nghiêm trọng ở Tây Phi. 5 năm sau, năm 2020, vừa đúng 60 năm sau tai nạn của Albert Camus, giữa khung cảnh cả thế giới đang phải đối mặt với đại dịch Corona, chúng ta cùng đọc lại bài viết này để suy nghĩ về những gì Camus đã mô tả về con người trong những bối cảnh dịch bệnh).

Không nhiều nhà văn đặt để những tác phẩm của họ gần với cái chết như Albert Camus, một trong những nhà tiểu thuyết và tiểu luận vĩ đại nhất của thế kỉ 20, người đã phải chứng kiến sự kết thúc cuộc đời mình trong một tai nạn giao thông cách đây 50 năm trên tuyến đường Lyon-Paris Quốc lộ 6. Trong tất cả những tiểu thuyết mà Camus để lại cho hậu thế, không một cuốn nào miêu tả cuộc chiến đấu và cả cuộc chung sống giữa con người với cái chết một cách cặn kẽ và sinh động cùng một quy mô hoành tráng như trong La Peste, bản dịch tiếng Việt là Dịch hạch. Chúng ta hầu như đọc Dịch hạch khi còn là những thanh thiếu niên, và giờ có lẽ, tất cả ta đều nên đọc lại. Bởi một lần nữa: cuốn sách không chỉ bày biện ra tất cả những động thái ứng xử của loài người trước cái chết, mà ngay lúc này – cùng với những diễn biến của nạn dịch Ebola – tiểu thuyết của Camus đang thực sự trình hiện và đúng trên cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Dịch hạch của Camus là câu chuyện kể về một nhóm những người đàn ông tập trung lại để cùng nhau chống lại dịch bệnh. Trong kịch bản đó, chúng ta bắt gặp lòng can đảm, nỗi sợ hãi và cả những tính toán, đắn đo mà ta có thể đã đọc hoặc nghe trong tất cả những tin tức hàng ngày về nỗ lực của Tây Phi đang cố gắng ngăn chặn và chiến đấu với Ebola; thông qua những tự sự của Camus, chúng ta hoàn toàn có thể liên tưởng hình tượng bác sĩ Rieux với hàng trăm những bác sĩ người Cuba ngay lập tức đã lên đường tới vùng “Ground Zero” của dịch bệnh và những người như nữ y tá Schotland đang ngày đêm đấu tranh cho sự sống của chính mình tại bệnh viện Tự do Hoàng gia ở thủ đô London.

Tôi nghĩ Camus hoàn toàn có chủ đích trong việc gợi ra ở tác phẩm của mình những cách hiểu trên cả bề mặt câu chữ và những ngụ ngôn sau đó. Người ta vẫn thường đồng ý rằng, thứ dịch bệnh mà ông miêu tả là một ẩn dụ rõ ràng cho Đệ Tam Quốc xã. Dịch hạch được viết vào năm 1947, khi cả thế giới vẫn đang đắm chìm trong niềm sung sướng sau khi chiến tranh kết thúc và reo vang khẩu hiểu “Never again”, nhưng Camus vẫn không quên nâng cao cảnh giác với người đọc rằng: nạn dịch hạch tiếp theo “sẽ đánh thức đàn chuột của nó một lần nữa” để đổi lấy “sự đổ vỡ và tỉnh ngộ của con người”. Mặt khác, Camus cũng ý thức rất rõ những diễn biến nghiêm trọng của dịch tả châu Phi diễn ra ở vùng Oran, Algeria năm 1849 - bối cảnh khởi sự cuốn tiểu thuyết - và những nạn dịch khác trên chính ngôi làng Mondovi quê hương ông thuộc vùng nội địa Algeria.

Nhưng có những lí do khác khiến tất cả chúng ta nên đọc lại Dịch hạch, tốt nhất là trên bản gốc tiếng Pháp hoặc bản dịch tiếng Anh của Stuart Gilbert, bởi tự nó cũng xứng đáng được công nhận là một tác phẩm văn học. Như mọi tác phẩm có tính chất ngụ ngôn hay biểu tượng, Dịch hạch có thể phát biểu rất nhiều ý tưởng vượt ra ngoài những chủ ý ban đầu của chính nó, bao gồm cả những thứ dịch bệnh thuộc về khía cạnh đạo đức hay những ẩn dụ nằm phía sau cuộc đời của chính Camus. Nhà phê bình John Cruikshank còn cho rằng Dịch hạch phản ánh một cách siêu hình về tình trạng con người bị bỏ rơi ngay trên trái đất này. Những diễn giải sau Dịch hạch có thể dài vô tận tùy thuộc vào mỗi người đọc. Và nhân ngày kỉ niệm sự ra đi của Camus, chúng ta có thể đặt lại một vấn đề rằng: dịch hạch còn nói được với chúng ta điều gì nữa trong thời đại này.

Ngày nay, Dịch hạch có thể kể cho chúng ta nghe câu chuyện về bất cứ kiểu dịch bệnh nào, từ sự “quá liều”, thậm chí phá hoại của những kẻ theo chủ nghĩa vật chất cho đến tốc độ bành trướng chóng mặt của chủ nghĩa tư bản; và nó có thể trở thành hợp lý trong bất cứ một bài luận đương thời nào muốn phân tích lại nó. Tất cả bởi một lẽ: sự phi lý. Xã hội chúng ta đang sống đầy phi lý, và tiểu thuyết của Camus đã dẫn dắt mối quan hệ của chúng ta tới sự phi lý trong sự tồn tại này. Tác phẩm của ông có thể mô tả rất thuyết phục cách mà dịch bệnh sinh nở trong một xã hội mà ở đó, người ta có thể phát trên loa phóng thanh và vẽ ra một khung cảnh cực kì thảm thương về những khu vực nghèo nàn, cằn cỗi, và rồi, hàng nghìn người tình nguyện sẽ lũ lượt tới đó, trên những chiếc thuyền chết chóc và vượt qua những sa mạc địa ngục, chỉ để đi theo tiếng hô hào và những lời hứa vô nghĩa; và cái xã hội đó thậm chí cũng đã phá hủy thứ hằng tố mà nhờ nó, Camus có thể đo được sự bất tử của con người: đó là tự nhiên.

Điểm cốt lõi chi phối tới những ý tưởng hiện sinh của Camus nằm ở những khác biệt giữa quyền lực, vẻ đẹp của tự nhiên và sự hoang phế của tình trạng con người. Ngay từ rất sớm, ông đã thể hiện tình yêu của mình tới biển cả và sa mạc, đồng thời ông nhận ra sự bất tử của con người nằm trong cái ánh sáng đến từ những thứ rộng lớn, kì vĩ và lãnh đạm như vậy.

Một ông trùm khác của chủ nghĩa phi lý thế kỉ 20, đó là Samuel Beckett, người sinh trước Camus 7 năm nhưng cùng tham gia cuộc kháng chiến của Pháp khi quân đội Đức chiếm đóng đất nước này. Trong vở kịch Happy Days (Những ngày tươi đẹp) của Beckett, nhân vật Winne đã chiêm nghiệm được một điều rằng: “Đôi khi, tất cả đã xong xuôi để hết một ngày, tất cả đều đã được hoàn thành, tất cả đều đã được nói, tất cả đều đã sẵn sàng để tới đêm, và ngày lại không kết thúc, còn lâu nữa mới kết thúc, và đêm lại chưa sẵn sàng, còn lâu nữa mới sẵn sàng.” Ở đây, cũng như trong vở Chờ đợi Godot, tồn tại của con người thực ra chẳng có mục đích gì cả.

Tuy nhiên, trong Dịch hạch, phi lý là cội nguồn của giá trị, những giá trị và thậm chí là hành động. Nhóm những người đàn ông xoay quanh tự sự của Camus, có cảm giác như, chính họ đại diện cho tất cả những phản ứng có thể của con người trước tai ương. Mỗi người trong số họ kể câu chuyện của chính mình, kể cả là bác sĩ Rieux – người kể chuyện giấu mặt – đang chiến đấu với dịch bệnh ngay trong chính công việc và những liều thuốc của mình, giống như cách mà Camus bằng chính sự lao động ngôn từ của mình đang cố gắng chống lại, trước hết là sự bất công, sau đó là chủ nghĩa phát xít.

Điểm khác biệt của Beckett nằm ở đây: như cái cách mà tay thám tử, kẻ săn đuổi Molloy của Beckets đã tường thuật: “Rồi tôi trở về nhà và viết. Bây giờ là nửa đêm. Mưa xối xả ngoài ô cửa sổ. Lúc đó không phải nửa đêm. Lúc đó không mưa.”, bản thân những lời tường thuật tự phủ định chính nó. Nhưng những nhân vật của Camus trong Dịch hạch thì làm công việc minh họa cho điều này, cho dù họ hiểu rõ sự bất lực của mình trước dịch bệnh, họ vẫn đương đầu trực diện với nó, và chính điều này tự nó đã là một giá trị. Khi Camus nhận giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1957, ông đã có một bài diễn thuyết tuyệt vời đầy khích lệ để khẳng định rằng: đây vừa là danh dự vừa là trọng trách của nhà văn, rằng họ cần “làm được nhiều thêm nữa, hơn chỉ là viết.”

Camus không hề tách bạch sự trống rỗng nắm mạch nguồn trong Người xa lạ và những nỗ lực nhiệt thành trong Dịch hạch. Ông từng một lần viết về “rượu vang của phi lý cùng bánh mì của sự lãnh đạm sẽ luôn nuôi dưỡng cái vĩ đại (của con người)”. Những bất lực trước sự phi lý không phải lí do để ta không hành động; Camus, với tất cả những cảm thức sâu nhất về phi lý, luôn kêu gọi chúng ta phải hành động.

Nhưng trong tự nhiên, không tồn tại một lãnh địa luân lý cho con người. Khoảng cách giữa quyền lực và vẻ đẹp của tự nhiên hiện diện như mội nỗi giày vò khổ sở: trong tiểu thuyết quy mô lớn đầu tiên của Camus, La Mort Heureuse (tạm dịch: Cái chết hạnh phúc), nhân vật Mersault đã từng đắm chìm vào những suy tư về “vẻ đẹp phi nhân của một buổi sáng tháng Tư”. Còn đối với nhân vật phản anh hùng Meursault trong Người xa lạ, với cái tên chỉ nhiều hơn Mersault một kí tự và bước ra từ một kiệt tác phức tạp và nhiều tham vọng hơn sau đó: y là một kẻ với hàng tá những câu hỏi mà không có câu trả lời. Y suy ngẫm về việc mình đã giết một người Ả Rập trên bãi biển, rằng: “Tôi hiểu là mình vừa vĩnh viễn phá hủy đi sự hài hòa của ngày hôm nay.”

Nhưng tại sao Dịch hạch vẫn là tiếng nói bức thiết với chúng ta ở thời điểm này? Từ rất sớm, Camus đã viết trong một tiểu luận mang tên Sa mạc của mình về một thứ chủ nghĩa duy vật khó ưa. Đó như là sự tiên tri và cảnh báo cho chúng ta của hiện tại, giữa một thế giới gánh một thứ chủ nghĩa vật chất nặng nề và nguy hiểm như một dịch bệnh. Mọi thứ chúng ta đang làm trong guồng quay chóng mặt của một thời đại tư bản, cùng với sự tàn phá thiên nhiên, đang “phá hủy đi sự hài hòa của ngày hôm nay”.

Trong tác phẩm giả tưởng của Camus, tất cả những gì chúng ta nghe được dội về từ phía các nhà chức trách và bộ máy chính quyền trong suốt thời kì bệnh dịch tại Oran là: “Không có con chuột nào trong khu nhà này cả”, ông lão gác cổng cũng một mực khăng khăng điều đó trong khi những con chuột chết ngay quanh chân ông. Truyền thông, báo chí thì cố gắng trấn an dân chúng bằng những tin tức rằng dịch bệnh đã hoàn toàn được kiểm soát trong khi thực tế thì không hề như vậy.

Camus cung cấp cho chúng ta một cách để từ bỏ những chất vấn vô nghĩa lý trong tất cả chúng ta về chính bản thân mình, nhưng mặt khác, ông trao cho người đọc một con đường để dẫu có từ bỏ đặt câu hỏi, ta vẫn tiếp tục chiến đấu: vì vài thứ công lý, luân lý nhập nhằng, mù mờ, không rõ ràng mà ta chẳng thể nêu định nghĩa. Trong đoạn kết của Dịch hạch, bác sĩ Rieux, sau khi đón nhận tin vợ mình đã chết vì bệnh nặng tại một khu vực khác không hề liên can đến dịch bệnh, anh đứng ngắm nhìn khung cảnh những người trong gia đình và những người yêu của nhau sum họp tại nơi mà cánh cổng của Oran cuối cùng cũng đã được mở. Anh tự hỏi, sau quá nhiều những chịu đựng và đấu tranh vô nghĩa, ai còn có thể tìm thấy trong tâm trí mình sự yên bình hay cảm giác trọn vẹn khi mà những hi vọng đã không còn, rồi anh nhận ra rằng, có, điều đó có lẽ vẫn có thể, cho “những ai hiểu được rằng, nếu có một điều người ta luôn luôn mong ước và đôi khi đạt tới được, thì đó chính là tình yêu của con người.”

Đó là những người bằng lòng với những giới hạn của số phận và tình yêu nhỏ bé, khiêm nhường nhưng dữ dội của chính họ, đó là những người mà “nên dấn thân vào, nếu chỉ còn lúc này và một lần nữa, để đón lấy phần thưởng của mình”. Rieux chỉ vừa kịp nhận ra những điều này cách đó một vài dòng, ngay trước khi anh viết chúng xuống. Anh viết: “Nhưng đối với tất cả những ai muốn vượt lên trên con người để tìm kiếm một cái gì đó mà chính bản thân họ cũng không hình dung nổi, thì họ sẽ không thể có được câu trả lời”.

Không một câu trả lời. Thậm chí không một dòng mô tả nào gợi dẫn xem nó có thể là thứ gì. Nhưng những câu hỏi ủ ê và dằn vặt đòi hỏi chúng ta phải đi tìm và đưa ra một câu trả lời xem đó là gì, cho dù chúng ta đã sớm từ chối một định nghĩa cụ thể. Sự vô nghĩa, nhưng lại là thứ chắc chắn phải có mặt; có ý thức chính trị với một tấm bằng, nhưng lại hoàn toàn không thể có kiên nhẫn với cả hệ thống chính trị; luân lý, đạo đức tồn tại như là nghiễm nhiên, nhưng chẳng hề dễ dàng – và đối với mối nối kết quan trọng với cái kì vĩ, lớn lao của tự nhiên, thứ mà nhờ đó sự bất tử của con người có thể đong đếm được, thì chúng ta đang giết nó đi, từng ngày.

Đó là một vài thứ để chúng ta cùng suy nghĩ sâu hơn, khởi phát khi tôi lái xe vào ngày Chủ nhật cùng một chút lo âu trong cái ngày giỗ đặc biệt này của Camus, trên tuyến đường giờ là Quốc lộ 6 nối giữa Lyon và Paris, qua Villeblevin, nơi chiếc xe thể thao Facel Vega do người bạn của ông, Michel Gallimard điều khiển và khiến cả hai người đàn ông trên xe cùng tử nạn.

KIỀU CHINH theo Ed Vulliamy, tạp chí The Guardian


SỐNG TRÊN ĐƯỜNG

Ngày 16 tháng 3 năm 2020

1. Mỗi buổi sáng thức dậy nỗi lo đầu tiên của nhiều người dân thành phố hiện thời là lo con đường từ nhà đến nơi làm việc liệu có ách tắc gì không. Thuở mọi người còn nghèo, người ta chỉ đạp xe đi làm và mọi vui buồn lúc ấy dồn cả vào chiếc xe đạp cà khổ. Nay số người có xe máy ngày mỗi đông, mà lạy giời, xe cũng ít hỏng, tưởng đã đỡ lo. Thì lại nảy sinh cái khổ về đường sá! Đường xấu đường tốt đường bụi đường sạch, đường còn nguyên lành và đường bị đào xới, cái đó cũng phải tính toán một phần, nhưng con người nơi đây gian khổ đã quen, thế nào rồi cũng chịu được. Nhưng từ lúc nào không biết, tự nhiên đường trở nên quá đông đúc, và sự ùn tắc trở nên thường xuyên, cái ấy mới rầy rà. ùn tắc nghĩa là gì? Là xe máy mà tốc độ chỉ bằng xe đạp, hoặc đi bộ. Là mất thì giờ chờ đợi. Là đến sở muộn. Là lỡ hẹn. Là hỏng việc... Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý: Trong việc đi lại hiện thời, con người như bị kéo sống gần nhau hơn. Bao nhiêu cái xấu vốn có được bày ra và buộc nhau phải chịu đựng. Và một cách tự nhiên cứ phải nghĩ ngợi về văn hoá chung sống của cả xã hội.

 2. Tạm kể ra đây một ít nặng nề về mặt tâm lý, mà trong cảnh giao thông căng thẳng chen vai thích cánh trên đường, hàng ngày mỗi chúng ta phải chịu: - ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, còi xe đã là một phương tiện bị cấm, và chỉ được phép dùng trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng ở ta thì còi xe vẫn tha hồ lưu hành, và nhiều lúc không gì thay thế nổi. Có điều đáng lẽ chỉ xem việc dùng còi là bất đắc dĩ, thì một số người lại thích thú nhấn còi cho thật inh ỏi. Hình như những người này coi đây là phương tiện hành hạ người khác, anh mà không nhường đường để cho tôi đi trước thì còn là khổ vì tiếng còi của tôi! Ngoài ra còn có tiếng còi vênh vang, tiếng còi khoe của, tiếng còi chơi trội... đủ kiểu! - Đường đã đông, song nhiều người cứ cố luồn lách vượt lên, ra cái điều mình khôn ranh sáng ý, thạo đời hơn người. Tự bản thân nó, việc đi vào những con đường ngược chiều và vượt đèn đỏ ở các ngã tư đã là phạm luật và gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Song với người nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ, nó cứ như một sự trêu ngươi: Các anh hiền lành thực thà thì các anh khổ, xem này, tôi có sao đâu(!) - Có một khái niệm hơi cũ là sự làm phiền. Đứng về mặt luật pháp thì chả ai cấm tôi chở bó củi hay bao tải hàng sau xe, nhưng trên đường đi, như vậy là tôi đã choán chỗ công cộng và gây khó chịu cho chung quanh. Vậy, mong các anh thứ lỗi - Đại khái, cảm giác thấy mình làm phiền bắt đầu từ một nhận thức như vậy. Thế nhưng loại người biết lo nghĩ cho chung quanh đang “hơi bị hiếm”. Đường là của chung và ai giỏi chiếm dụng, kẻ đó được lợi lộc nhiều, họ nghĩ thế. Còn như khách quan mà xét, cái sự khuếch trương của họ giống như một sự ăn cướp không gian của người khác, họ không cần biết. Nhiều khi sự trâng tráo ở đây đã vượt qua mọi giới hạn.

3. Một trong những đặc điểm của cuộc sống đô thị, là khả năng làm cho con người trở nên vô danh. Chẳng hạn khi đi ra đường, ấy là lúc không ai biết ai làm nghề gì, nhà ở đâu, học vấn ra sao, đang có cương vị như thế nào. Ta chỉ còn là một người đi đường bình thường như mọi người. Sự vô danh lúc này mang lại cho mỗi cá nhân một ít tự do, anh ta không phải đóng cái vai mà anh ta vẫn đóng, và do đó có thể dễ dàng đi thẳng tới cái đích của mình. Thế nhưng ở ta nhiều người không nghĩ như thế. Sự vô danh được khai thác vào những mục đích khác. Hoặc có khi ăn mặc lôi thôi lếch thếch ra cái điều bất cần đời. Hoặc diện xe máy hẳn hoi, song thản nhiên dóng xe song đôi mà tâm sự... Trai gái đèo nhau vuốt ve nhau như ở chỗ không người. Qua cầu buồn tình dừng xe đái bậy... Tự do được xem đồng nghĩa với vô lối, bất cần, không để ý đến bất cứ ai khác. ở trên, chúng ta vừa nói cái đáng sợ nhất đối với người đi đường hiện nay là lối phóng xe ào ào lao tới, gây kinh hoàng sợ hãi. Nhưng đến khi gặp phải cái cảnh mấy cô gái ăn mặc thật diện, lững thững sang đường, sẵn sàng dừng lại nhởn nhơ kéo áo, vuốt tóc ngay giữa dòng xe cộ tấp nập, thì người ta cũng chỉ còn có cảm tưởng về một sự cám cảnh vô duyên. Một khi những cái rề rà chậm chạp vẫn còn tìm được chỗ đứng của mình, trong không khí sôi động nói chung, tức là mọi sự chuyển pha còn dang dở, và cái nếp sống gọi là hiện đại, mới chỉ là bề ngoài, ở trong còn bao điều trơ lỳ, tĩnh tại.

 4. Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (bản dịch của NXB Đà Nẵng 1997) là một cuốn sách mang tính cách tổng hợp, ở đó, những người biên soạn tìm cách đọc ra trong mọi hình thức của đời sống cái nội dung mà nhiều thế hệ đã gửi gắm vào nó. Theo từ điển này thì chính nhà tâm lý học C. Jung cho rằng “cần coi các xe cộ, trong ý nghĩa tượng trưng của chúng, như những hình tượng của cái tôi. Chúng phản ánh các mặt khác nhau của cuộc sống nội tâm, có quan hệ với các vấn đề phát triển của nhân cách”. Vậy thì đâu là những cái tôi mà người ta có thể đọc ra, khi nhìn vào dòng xe cộ tấp nập trên đường hôm nay? Dĩ nhiên nay là lúc có thể nhận ra rất nhiều cái tôi năng nổ, cái tôi bứt phá trên đường nhằm đạt tới mục đích xa rộng. Qua rồi cái thời già trẻ bảo nhau nhẫn nại chịu khổ, thủng thẳng đạp xe đến đâu hay đến đấy. Mà mỗi phút bây giờ đều được quy ra tiền của, mỗi người trên xe là một cá nhân khao khát tự khẳng định! Song cũng phải nói, chưa bao giờ như bây giờ, những cái mầm tai hoạ nho nhỏ vùi sâu trong mỗi cá nhân lại công khai bộc lộ trên đường như vậy. Một mặt chưa phải là hết cái tôi bản năng tự phát, đã ngồi trên xe có động cơ phi trên đại lộ rồi mà vẫn mang nặng tâm lý anh chàng đi xe đạp nghênh ngang ở giữa đường làng. Mặt khác, điều đáng lo ngại hơn, là rất nhiều cái tôi hiếu thắng, vênh váo vì có được cái xe lạ, hoặc hỉ hả ra mặt khi vượt trước kẻ đồng hành. Thường thì những cái tôi hiếu thắng này đồng thời cũng là cái tôi thiển cận: Người ta sát khí đằng đằng lao tới trước vì tưởng rằng có thể mưu cầu hạnh phúc riêng cho mình, có biết đâu mỗi cá nhân vẫn chỉ là một phần tử nhỏ bé của cái dòng chảy chung là cả xã hội, thoát làm sao được! 5. Số phận con người thời nay là phải dành nhiều sự sống trên đường. Song có cái lạ là ở những nước biết tổ chức giao thông hợp lý và đưa nó lên trình độ hiện đại, thường sau khi đi một quãng đường dài, xem đồng hồ, người ta mới ngạc nhiên là mình đã ngồi trên xe đến hàng giờ và vượt qua cả trăm cây số. Ngược lại ở ta nếu tính tới những bực bội mà bản thân phải chịu trên đường từ nhà đến sở, đôi lúc ta tưởng đã đi được rất xa trong một thời gian rất lâu. Song tính kỹ, hoá ra chỉ đi độ 5-6 km trong 10-15 phút gì đấy! Hệ thống đường sá kém cỏi cố nhiên là yếu tố đầu tiên khiến mỗi chúng ta có cái cuộc sống trên đường kỳ cục như hiện nay. Song đấy là chuyện vượt lên trên tầm lo liệu của mỗi người. Rút lại, câu chuyện tôi muốn nói hôm nay chỉ là mong sao mỗi chúng ta khi ngồi trên xe có thêm ý thức về hoạt động của mình, nghĩ thêm hoạt động của mình, nghĩ thêm về mọi mặt phiền toái ta gây cho người khác để rồi biết điều một chút, nhường nhịn một chút trong đi lại - chỉ một chút thôi, thì cuộc sống trên đường của những người đồng hành với mình cũng đỡ nặng nề đi rất nhiều. Và đó chính là văn hoá.


SỰ ĐỐI NGHỊCH TRỚ TRÊU

Ngày 17 tháng 3 năm 2020

Hồi 2010, chưa có FB, tôi từng viết các ý ngẫu nhiên của mình  thành những  mẩu GHI CHÉP  và đưa trên blog. Đây là một mẩu trong số đó

5-10

Lũ lụt. Có tin hàng vạn học sinh các tỉnh miền Trung nghỉ học vì lũ lụt.

Người dân méo mặt nhận quà của cấp trên gửi tặng. Chú thích ảnh” lá lành … hành lá rách”.

Lũ lụt trong dịp đại lễ chỉ làm tăng thêm cái tình thế trớ trêu đã sẵn có trong tình hình hiện nay.

Một bên là cuộc sống xa hoa trụy lạc hoang phí ngày một gắt lên chói lên ở các đô thị.

Một bên là cảnh lạc hậu nghèo nàn, một sự xác xơ tàn lụi của các vùng nông thôn nghèo và các vùng sâu vùng xa.

Sực nhớ tới một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí "Tiên Phong" của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên "Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc."

Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:

Ta về gác, gió cài then, cửa rú

Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc.

Nhìn vào tình hình hôm nay, tôi thấy thời gian qua đi tình cảnh xứ mình chỉ càng trớ trêu hơn. Hôm qua là lũ lụt, hôm nay là khô hạn, ngập mặn, cầu đổ nhà sập.

Còn sự hưởng lạc đang tăng lên hôm nay, tôi không thạo lắm, chắc nhiều bạn biết hơn tôi.

Cái tình cảnh của xứ mình hiện nay bi đát ở chỗ, cái kém cói  xấu xa hư hỏng ngày càng tăng mà cái tử tế tốt đẹp ngày càng héo hon, lép vế, biến dạng.

 Chỉ còn nỗi an ủi duy nhất, hình như trên thế giới cũng nhiều nơi thế mà trở lại thời xưa, dân mình cũng nhiều lúc tưởng như đã rơi vào điểm chết, rồi cũng qua khỏi cả.(?)

 Ngay khi viết những dòng này, tôi đã biết rằng có lẽ không phải vậy, nhưng bi quan quá thì rồi sống sao nổi, thôi thì ta vẽ ra ít ảo tưởng sống sao cho qua ngày là được.

Một chỗ trú ẩn của tôi là thơ văn cổ.

Như là trước cảnh trớ trêu kia, cùng với mấy câu của Văn Cao, tôi còn hay đọc lại bài thơ Đường "Bạc Tần hoài" (Đỗ bến Tần Hoài ) của Đỗ Mục (803 - 853)

Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng "Hậu đình hoa".

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Nước lồng khói toả, cát trăng pha,

Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia.

Con hát biết chi hờn mất nước,

Cách sông còn hát "Hậu đình hoa".


BA ĐOẠN VĂN NGẮN TRÊN CÁC FB 

VIẾT VỀ HẠN MẶN

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Ngày 18 tháng 3 năm 2020

Mặc dầu biết các stt sau đây thuộc dạng dễ được phổ biến

và thực tế là

Bài 1/ 1,7K người thích

199 bình luận 494 lượt chia sẻ

Bài 2/  2,1K người thích

84 bình luận1,7K lượt chia sẻ

song tôi vẫn muốn chúng có thêm bạn đọc

nên ghi lại ở đây

----------

 Bài 1/ để lại ấn tượng về một sự bi phẫn cực độ là câu kết "Chó thật ! Khốn nạn thật !"

 Bài 2/ tôi  thú vị nhất  với chi tiết "Trước đây ở đồng bằng hầu như trẻ em nào cũng biết bơi, bây giờ đến nhảy xuống sông tắm còn không dám vì sợ ô nhiễm. ". Và ngạc nhiên vì không ngờ ở ngòi bút một nhà khoa học lại có cái chi tiết đời thường vậy

Bài 3/ làm rõ hơn nhiều ý của bài 2/ dù không có vẻ khảo sát khoa học nhưng đọc tôi thấy tin ngay.

----------

1/

Võ Đắc Danh

8 tháng 3 ·

Thời bao cấp, khi hạt gạo còn là thước đo của mọi giá trị kinh tế thì người ta xem đồng bằng Sông Cửu Long là vựa lúa của cả nước, xúm nhau ca tụng, xúm nhau vơ vét. Khi hạt lúa rớt giá thì người nông dân bị bỏ rơi, đồng bằng Sông Cửu Long bị bỏ rơi, hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa... bị bỏ rơi. Rồi bây giờ, mấy tháng nay đồng bằng Sông Cửu Long kêu cứu vì hạn mặn, chẳng thấy con ma nào đáp lời. Chó thật ! Khốn nạn thật !

----------

2/

Vu Thanh Tu Anh

11 tháng 3

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐANG CHẾT DẦN CHẾT MÒN

Trong khi cả nước đang bối rối trước tai họa rình rập của coronavirus thì có một tai họa còn khủng khiếp hơn nhiều, một cái chết được báo trước đang xảy ra, tuy âm thầm nhưng lừng lững tiến tới ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nếu được hỏi nguy cơ lớn nhất cho sự tồn vong của ĐBSCL là gì, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: nước, nước, nước, và nước.

Vấn đề nước đầu tiên ở ĐBSCL là ô nhiễm nguồn nước mặt – cái giá phải trả cho việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu quá mức để duy trì lúa vụ 3 và tăng sản lượng nông nghiệp. Thêm vào đó, ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản làm tình trạng ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng. Trước đây ở đồng bằng hầu như trẻ em nào cũng biết bơi, bây giờ đến nhảy xuống sông tắm còn không dám vì sợ ô nhiễm.

Vấn đề nước thứ hai ở ĐBSCL là việc khai thác nước ngầm quá mức, một mặt là do nước mặt quá ô nhiễm nên không sử dụng được, mặt khác vì tình trạng quản lý yếu kém nguồn tài nguyên “cha chung không ai khóc” này. Khai thác nước ngầm quá mức, cùng với áp lực của các công trình xây dựng và hạ tầng, khiến nền đất bị sụt lún nghiêm trọng, có nơi lên tới 2-3 cm mỗi năm. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chỉ trong 20-30 năm nữa, những nơi này sẽ tụt xuống dưới mực nước biển (xem ảnh dự báo ở dưới).

Vấn đề nước thứ ba là sự suy giảm về cả khối lượng và chất lượng nước do mạng lưới chằng chịt hàng trăm đập thủy điện ở thượng nguồn gây ra. Thiếu nước ở ĐBSCL – điều chúng ta đang chứng kiến mấy tuần qua – đã ngày càng trở nên nghiêm trọng trong mùa khô. Mặc dù trong mùa mưa, các đập của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 7% lượng nước trong toàn bộ hệ thống nhưng vào mùa khô, tỷ lệ này có thể lên tới 40-50%, khiến cho lượng nước ở hạ nguồn bị phụ thuộc rất lớn vào việc vận hành các đập của Trung Quốc. Bên cạnh đó, một lượng lớn phù sa và cát bị kìm giữ bởi các đập thượng nguồn – ước lượng hiện nay đã lên tới 50% – cũng làm ĐBSCL mất đi nguyên liệu để bồi đắp cho đồng bằng. Điều này cùng với nạn khai thác cát bừa bãi và vô độ trong nhiều năm khiến tình trạng mất đất và sạt lở ven biển trở nên hết sức trầm trọng.

Vấn đề nước thứ tư là mực nước biển dâng và nhập mặn do biến đổi khí hậu. Hiện nay, mỗi năm nước biển dâng trung bình khoảng 3 – 4 mm. Như vậy, mặc dù không phủ nhận tầm quan trọng của hiện tượng này, song cần nhớ là mức sụt lún do khai thác nước ngầm quá mức và do các công trình xây dựng và hạ tầng gây ra có thể còn cao hơn tới 10 lần. Hơn nữa, việc nhập mặn tuy bất lợi cho lúa nhưng lại có lợi cho tôm, cá và các hoạt động nuôi trồng thủy sản khác vốn đem lại lợi ích kinh tế cao hơn nhiều lần so với canh tác lúa 3 vụ, trong khi không gây biến đổi và tác hại môi trường.

ĐBSCL – nơi cư ngụ của hơn 20 triệu người Việt Nam – đang chết dần chết mòn. Nguyên nhân chính không phải vì biến đổi khí hậu hay do các con đập thượng nguồn, mà vì sự hội tụ và tích tụ của nhiều bất cập chính sách và tập quán nông nghiệp trong suốt qua ba thập kỷ gần đây. Nếu không đảo ngược tình trạng này, viễn cảnh tan rã của ĐBSCL chỉ còn là vấn đề thời gian.

Bạn đã bao giờ thử hình dung khi ấy đất nước Việt Nam sẽ như thế nào và con cháu chúng ta sẽ sống còn thế nào không?

-------

3/

Hoang Nguyen

17 THANG 3  

Kể từ năm 1977, bộ mặt vùng châu thổ bắt đầu thay đổi.

Không phải vì biến đổi khí hậu, không phải vì băng tan ở các vùng cực,... mà vì con người. Dần dà từng năm, từng kế hoạch, từng chủ trương... đã làm vùng đất màu mỡ nhất thế giới này thay đổi nhanh chóng.

Đầu tiên là khoanh vùng tứ giác Long Xuyên, nông trường sông Hậu. Những con kênh nội đồng, những bờ bao để làm lúa ba vụ. Chặt bỏ biền sông, khai khẩn các lung, lấp đìa... để lấy đất trồng lúa.

Mô hình đó lan ra khắp vùng châu thổ. Nơi đâu cũng lấp đìa, phá biền, khẩn hoang lung... để có đất. Nơi nơi đều có bờ bao chống lũ.

Vùng giáp biển phá bỏ rừng ngập mặn, cây đước, cây mắm... được hầm thành than. Dọc triền sông khai thác gỗ biền làm củi, một số loại cây may mắn hơn thì vào các xưởng mộc, trở thành guốc hoa xuất khẩu.

Đến năm 2007, công việc cải tạo vùng châu thổ cơ bản hoàn thành. Cuối cùng, ngay cả rừng U Minh cũng được xẻ kinh chống cháy, phân lô làm vuông tôm.

-----

Nông vụ xưa kia chỉ khai thác chừng 40% thời gian trong năm. Phần còn lại để cho tự nhiên điều chỉnh, hồi phục.

Từ ngày có bờ bao, mỗi năm đến mùa mưa, nước và phù sa chỉ một đường trôi ra biển.

Làm lúa 3 vụ, đất bạc màu nhanh chóng. Từ chỗ không biết phân bón là gì, thì đến nay, các đại lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật mọc lên như nấm.

----

Điều phải đến đã đến, mùa mưa không còn nước ngập, địa tầng châu thổ không ngấm đủ nước, mạch nước ngầm vơi dần.

Những mảnh rừng, những cái lung, đìa ... vốn là những cái rốn dự trữ nước ngọt. Vào mùa mưa, lung, đìa là cổng thu nước cho các mạch ngầm.

Đến mùa khô, một phần nước bề mặt bốc hơi, phần còn lại ngấm sâu vào đất, bổ sung cho tầng nước ngầm

Phá bỏ gần hết lung, đìa... mạch ngầm cũng cạn kiệt theo. Đồng đất nhanh khô, cây trồng thiếu nước.

Vậy rồi phải khoan giếng để tưới cây, mạch nước đang thiếu hụt không được bù vào, mà lại bị hút đi.

Canh tác lúa ngắn ngày, sau khi thu hoạch, mặt đất không có những đám rạ dài cả mét che chở như hồi làm lúa một vụ, đành trơ ra dưới ánh mặt trời, gió đồng quét ngang, nhanh chóng nứt nẻ.

Các dự án nạo vét lòng sông không vét bùn ở kênh rạch, chỉ lấy đi cát ở ngoài sông lớn, các cồn sông biến mất, lớp cát dưới tầng bùn cũng bị hút sạch.

Đến mùa khô, lưu lượng nước giảm, lòng sông lại sâu, các kênh rạch đành phải trơ đáy.

Mạch nước ngầm thiếu hụt, địa tầng biến đổi, bờ sông sạt lở. Nền đất co lại, hạ thấp. Đến mùa khô, nước biển xâm nhập sâu hơn.

Rừng U Minh bị xẻ, địa tầng thay đổi, mạch nước ngầm bị đứt. Những cái trấp một thời cung cấp nước ngọt cho người đi ăn ong, đến nay đã sẳng lè.

Nhưng điều nguy hại nhất đó là vùng châu thổ hiện nay đang nhiễm mặn kép. Nơi nước biển xâm nhập bị mặn, nhưng ở vùng nước biển không tới được cũng chẳng khá gì hơn.

Bờ bao ngăn lũ đã chặn hết phù sa, đành phải đem phân bón để bù. Đủ loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tích tụ trong đất, hoà vào trong nước. Tôm cá không thể sống được trong ruộng đồng. Trốn ra sông, đến mùa khô lại gặp nước mặn, làm sao có thể sinh sản?

Để dễ hình dung, hãy làm một thực nghiệm nhỏ. Nuôi một bể cá trong nhà, khoảng một tuần không thay nước, nó đổi màu và bốc mùi hôi.

Để tạo ra được môi trường tương tự như chiếc hồ cá. Các chuyên gia, các tiến sĩ đã tư vấn, và người ta xây các cống, đập ngăn mặn ở cửa Ba Lai và sông Ông Đốc.

Ba Lai giờ đây đã cạn rồi, Cửu Long chín cửa, nay còn lại bảy hay tám? Người trong vùng nào ai biết được.

Đồng đất Cửu Long, ô nhiễm tích tụ nhiều năm, không có mưa lũ rửa trôi, độc chất trong nước ngày càng nồng nặc. Nếu có dịp đi miền Tây, từ Sài Gòn qua cầu Bình Điền, vừa vào địa phận Long An, mùi chua nồng kéo dài vài mươi km.

Để tăng thêm hiệu quả, Lee Man- nhà máy giấy lớn nhất Đông Nam Á được xây dựng bên bờ sông Hậu. Bao nhiêu hoá chất lại tiếp tục hoà cùng nước sông.

Vậy nhưng người ta cố tình không nhắc đến điều những điều này, chỉ đổ thừa cho khí hậu, đổ thừa bên xứ lạ ngăn đập.

Nhìn lại lưu vực sông Mekong, kể từ Hà Tĩnh đến Daklak, Việt Nam là nơi bắt nguồn của 4 phụ lưu cấp 2 của Mekong, có trữ lượng nước tổng cộng khoảng 15 tỷ m3/năm. Nhưng rừng đầu nguồn bị phá trắng, mỗi sông có từ hai đến ba đập thủy điện. Sông Serepok ở Daklak còn phải chịu cảnh chết mòn, thì nước đâu mà cung cấp cho hạ lưu Mekong.

Tới nguồn nước của chính mình mà còn ngăn, còn chặn. Vậy thì nên trách ai cho phải đạo bây giờ?


CHUNG QUY LÀ Ở TRÌNH ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT CÒN THẤP

Ngày 28 tháng 3 năm 2020

Chia sẻ  với ông quan điểm, rồi sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện bạo lực mới với cấp độ ngày một cao. Đã có rất nhiều vụ bạo lực trong gia đình, học đường, xã hội… ghê gớm hơn, chỉ có điều không “lộ sáng” dưới hình thức dễ tác động tới công chúng.  Tức là, sự  xuất hiện của những clip mà cả xã hội đang xôn xao kia chỉ là sự bộc lộ một tình trạng mà chúng ta chưa ý thức đầy đủ?

      Đúng như vậy. Các clip bạo lực học đường này so với nhiều câu chuyện được đề cập trên báo chí hàng ngày đã ăn thua gì. Tôi được biết, trong những vụ tai nạn xe ô tô, nhiều khi tài xế cố cán cho người bị nạn chết luôn, chấp nhận bị đi tù vài năm -- so với việc chẳng may phải bồi thường và nuôi nạn nhân cả đời nếu họ bị tàn tật hình như vẫn “nhẹ nhàng” hơn.

    Bạo lực  chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn rất nhiều phấn đấu để vượt lên một trình độ sống khác.  

    Báo chí  hàng ngày cho thấy các hình thức bạo lực  cũng đang bùng phát ở nhiều xã hội  khác, được cho là văn minh hơn. Vậy,  nói bạo lực phản ánh trình độ sống thấp của dân Việt là một khái quát vội vã?

    Cố nhiên, dân mình không độc quyền  trong chuyện này. Bạo lực đang hoành hành ở nhiều xã hội. Có điều, theo tôi hiểu,  ta thuộc về khu vực của những nước bạo lực không chỉ phổ biến  mà còn bị đẩy lên quá đáng, nhiều khi phải nói là dã man.

    Bất cứ ở đâu phát triển bạo lực tức là nơi đó trình độ sống còn thấp. Ta cũng là một minh chứng rõ rệt cho quy luật đó. Tại sao tôi nói vậy ?

  --  Trở lai thái độ bạo lực đối với thiên nhiên đã nói lần trước. Sở dĩ loại bạo lực này còn đến ngày nay, xét  sâu xa ra vì ta chưa hiểu sâu săc mối quan hệ con người với thiên nhiên.  Trong công cuộc  kiếm sống,  tư duy hái lượm còn đang chi phối. Tư duy hái lượm nghĩa là  chỉ biết ăn sẵn, lo tước đoạt thiên nhiên chứ không biết làm giầu cho thiên nhiên. Tước doạt  không kịp thỏa mãn nhu cầu thì làm bậy, phá hại. Ở các xã hội phát triển hơn, lối kiếm sống này --lối tư duy này --, bị vượt qua từ lâu.

 --   Bạo lực giữa người với người  nảy sinh và tồn tại dai dẳng khi ngôn ngữ giao tiếp bất lực người ta không thể dùng lời nói để thuyết phục nhau, chia sẻ ý kiến với nhau, và quan trọng nhất là phân chia quyền lợi với nhau, đành dùng lối “ thượng cẳng chân hạ cẳng tay’ vậy.  Chẳng nhẽ sự thiếu vắng  một ngôn ngữ chung hiệu qủa ( ngôn ngữ theo nghĩa một công cụ giao tiếp)  chẳng phải là dấu hiệu của trình độ sống còn thấp hay sao?

Nằm sâu trong văn hóa Việt

Ông đặt vấn đề suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống. Vậy thì, nhìn xa hơn những  biểu hiện mà ta đã nói đến, thì mầm mống của bạo lực trong đời sống Việt còn thấy ở đâu?

      Ở ngay trong di sản văn hoá  của cộng đồng.  Ngay trong ca dao, tục ngữ… có qnhững câu báo động về cách cư xử của người xưa. Nhiều câu tôi nghe từ lâu  Cả vú lấp miệng em, Lấy thịt đè người, Già đòn non nhẽ… Gần đây trong những dịp đọc linh tinh, tôi lại nhặt thêm được một câu Cả bè to hơn văn tự. Câu này đại khái có nghĩa thế mạnh vật chất là nhất, vượt lên trên mọi cam kết, mọi lẽ phải, mọi luật pháp.

    Cổ tích của chúng ta cũng có không ít chuyện cho thấy ẩn ức bạo lực của con người. Trong  Tấm Cám, cô Tấm trả thù mẹ con nhà Cám rất tàn bạo. Trong ngụ ngôn  Trí khôn của ta đây, con người lừa trói con hổ, châm lửa đốt… chỉ để khẳng định bản thân.  

         Đó là những biểu hiện tâm lý của thời kỳ xa xưa, có thể hiểu là thời kỳ chưa văn minh. Trên hành trình phát triển của dân tộc, những yếu tố gì khác nuôi dưỡng mầm mống bạo lực này, thưa ông?

     Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Hoàn cảnh chiến tranh khiến người ta coi nhẹ cái chết, coi nhẹ bạo lực. Đã đổ máu nhiều tự nhiên người ta  sinh ra  coi thường sự đổ máu.  

      Đi qua chiến tranh, chúng ta tưởng rằng mình sẽ khác, nhưng thực tế lại bước vào cuộc cạnh tranh khác. Những tiền đề bạo lực ấy hàng ngày đang được dung dưỡng, tha thứ.

      Ngoài ra, tôi cho một trong những yếu tố quan trọng là người Việt chúng ta không có một thứ tôn giáo đủ mạnh, đủ để làm cho họ sợ mà tránh phạm điều ác. Cảm giác hướng thượng, cảm giác về một cuộc sống khác trong mỗi người thường rất mong manh.  Dân ta đâu có tin nhiều  thần thánh! Người ta  nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác  là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh. Còn lòng nhân từ mà tôn giáo nào cũng khuyến khích  lại không bắt rễ sâu sắc trong ta.

Làm sao để có  hiệu quả

    Lần trước  chúng ta đã ghi nhận  tình trạng : Sau mỗi vụ bạo lực, bạo hành những cơn xúc động của dư luận bùng lên để rồi lại xẹp xuống cho đến khi lại có những vụ việc tiếp theo.. Ông có thể nói thêm về tình trạng đó.

  Trong cách phản  ứng hiện nay  thấy  thể hiện một  khía cạnh tính cách người Việt.  Chúng ta thường nông nổi đồng bóng mà ít chịu nghĩ sâu một điều gì đó. Không riêng gì với bạo lực, cách ứng xử ấy đã bộc lộ trong nhiều trường hợp khác. Chúng ta cũng đã từng kêu ầm lên khi có hiện tượng các cô gái đi lấy chồng Hàn Quốc… Rồi có làm gì thêm  đâu.

  Hơn thế nữa tôi cảm thấy một xu hướng cư xử hiện nay là chúng ta thích dễ dãi với nhau  bỏ qua cho nhau nhiều điều lẽ ra không thể bỏ qua. Ta không biết ngăn chặn cái ác từ lúc nó  mới manh nha. Cái gốc là ta không đặt ra những yêu cầu cao với những người chung quanh, với người thân của ta, với con em ta nữa.

Có người nói xã hội  đã nhờn thuốc với những lời cảnh báo, hô hào? Làm sao để xã hội có thể phản ứng một cách hiệu quả?  

      Vấn đề không phải nhờn thuốc, mà là chưa tìm được thuốc hiệu nghiệm.

      Còn như làm sao để tìm ra thuốc hiệu nghiệm ? Trước tiên phải gọi đúng bệnh. Tôi cho rằng trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia…, ta phải nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng của nó, từ đó nhận thức cho được thực chất của hiện tượng. Chỗ này liên quan đến quan niệm sâu xa của mỗi người về kiếp nhân sinh   

         Tôi hay đọc lại Khổng Tử, và may mắn là tìm ra được một ông Khổng tử có liên quan đến chuyện chúng ta đang bàn.  Khổng tử của tôi hôm nay trước tiên là một nhà nhân học vĩ đại, với nghĩa ông rất hiểu về tiềm năng hư hỏng của con người. Luôn luôn ông đặt vấn đề  con người phải vượt lên trên bản năng của mình, để tốt hơn, sống cho ra người hơn.

       Trong khi Mạnh tử đề ra thuyết tính thiện ( Nhân chi sơ tính bản thiện ) thì với Khổng tử  con người có cả  thiện lẫn ác. Theo nghĩa này,  Khổng tử là một triết gia rất hiện đại.

    Trong văn học VN thế kỷ XX cũng có một người thấm nhuần tinh thần trên của Khổng Tử.      Nam Cao có một thiên truyện mang tên Cái chết của con Mực. Nhân vật trong truyện là một thanh niên đi học trên tỉnh trở về, nhân đó, gia đình định làm thịt  con chó để mừng. Chẳng may  làm sổng mất con chó còm đó, anh ta sinh ra vừa thẹn thùng vừa bực bội. Đây là nguyên văn mấy câu  Nam Cao đã viết   “ Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người … Đã có lúc  chàng tưởng đến cái  thú dí con dao  vào súc thịt  giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay “

     Tôi nghĩ đây là một ít trường hợp hiếm hoi trong đó một nhà văn VN  miêu tả cái thích thú của con người khi tự tay thi hành chém giết.  Nhân vật của Nam Cao về sau hối hận lắm, thấy cảnh mấy đứa em túm được con chó, chàng nghẹn ngào nén khóc. Bằng cách đó  bài học nhân ái mà Nam Cao muốn  nói đến với chúng ta một cách cảm động hơn.

    Còn chúng ta hôm nay thì  quan niệm về con người quá đơn giản. Trong cách giáo dục, chúng ta luôn tự hào là nhân dân ta sống rất nhân hậu.Tôi không cho là dối trá, nhưng chúng ta ảo tưởng rằng mình nhân hậu. Có nhiều cái chúng ta làm mà không nghĩ rằng đó là bạo lực.  

       Bây giờ  đặt vấn đề chữa trị lâu dài, theo ông, phải bắt đầu từ đâu?

Phải đưa  các hiện tượng mà ta gọi là tiêu cực hiện nay thành một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc.

      Như nhiều người nước ngoài đã nhận xét, thanh niên ta hiện nay khá về khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Các kiến thức có tính nhân văn ở các em rất đơn giản. Vì sao? Vì chính người lớn chúng ta cũng có chịu tìm hiểu chính mình đâu, lại càng không  chịu tìm hiểu về xã hội mình đang sống.  Ví dụ ở các nước, gặp cảnh như ta,  chăc chắn người ta phải  có những công trình nghiên cứu tầm cỡ về tâm lý  thời hậu  chiến trong đó có hội học bạo lực.. Với  thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề đi sâu vào bạo lực học đường. Ở ta chẳng ai chịu chi tiền  cho cán bộ khoa học làm; bất đắc dĩ phải  làm thì chỉ nhăm nhăm minh họa cho những ảo tưởng có sẵn; với những công trình nghiên cứu gọi đúng thực chất xã hội thì mang đút ngăn kéo, không cho phổ biến đến đông đảo công chúng. Thế sao gọi là nghiêm túc, là thực sự cầu thị?

 Trở lại với vấn đề bạo lực trong nhà trường.

      Quốc văn giáo khoa thư   ( do nhóm nhà giáo đứng đầu là các ông Trần Trọng Kim biên soạn), là sách được dạy chính thức trong các trường học trước năm 1945. Trong  loạt bài  nói về tính xấu của con người  có hai bài đáng lưu ý.. Một bài tả cảnh một em bé – mà lại là bé gái--  chơi với mèo song lại giở thói ác, kéo đuôi mèo thật mạnh khiến  nó quay lại cào  cho một cái thật đau. Bài kia  tả một em bé độc ác chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta. Cậu ta  từng lấy bút của bạn ngồi cạnh đâm cho quằn đi, lấy đó làm sung sướng.

     Lối soạn sách như thế này chắc đã bị nhiều nhà giáo dục của ta phản đối. Nhưng tôi cho rằng cách làm của người xưa đúng hơn. Bên cạnh việc giáo dục lòng nhân từ,  chúng ta phải đưa vào chương trình phổ thông những bài học như thế này, để ngăn đe..

      Nếu cần phải  giảng dạy những ca dao tục ngữ truyện cười truyện  cổ tích…có cài chen yếu tố bạo lực như trên vừa nói, không nên lảng tránh mà cần chỉ rõ đây là những di lụy của thời xưa, ngày nay ta biết để tránh..

      Sở dĩ tôi có đề nghị như trên vì thấy gần đây, sau những cảnh bạo lực trong học sinh, người ta chỉ nói tới vai trò của thầy giáo cô giáo. Phải luôn luôn quan tâm tới các em … Phải biết ngăn chặn  các em… Tất cả những cái đó là đúng nhưng chưa đủ, Toàn ngành giáo dục phải vào cuộc với nghĩa cả những người định ra nội dung chương trình giảng dạy, cả những người sọan sách giáo khoa cũng phải có mặt .

   Trong công việc này, vai trò của truyền thông và các hoạt động nghệ thuật như thế nào, theo ông?

       Truyền thông  hiện nay cũng phải trở thành một thứ trường học.Cần lôi cuốn các nhà nghiên cứu cơ bản tham gia phát biểu về các vấn đề thời sự. Rộng hơn từng hiện tượng lẻ, cần khai thác các ngành xã hội học trong việc tìm hiểu con người Việt xã hội Việt. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, Mà  là nói thực chất. Nói đúng thực chất thì tự nhiên có người nghe.

        Trong việc chữa trị thói hư tật xấu, chúng ta phải  tìm tới một cách làm tổng hợp huy động  các phương tiện khác nhau. Cần có nhiều liều thuốc khác nhau. Không chỉ  là thuốc bổ, mà cả kháng sinh.

       Với tư cách một người viết văn,  điều cuối cùng tôi muốn nói là  trước tình trạng đạo đức xã hội băng hoại như hiện nay, những người làm công việc  văn chương tinh thần cũng nên tự vấn  lương tâm của mình, nên nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm. Vì làm giáo dục một cách mòn sáo thất bại, nghệ thuật đang nghiêng về phía giải trí “mua vui” cho thiên hạ, tuy như ta thấy, chiều nịnh công chúng rút cục là làm hại công chúng./.

 

NÀO TA CÙNG TỰ SÁT

Ngày 30 tháng 3 năm 2020

Khi trả lời phỏng vấn một tờ báo Việt Nam, một chuyên gia giao thông người Nhật Bản nêu nhận xét rằng ông thấy người dân ở Hà Nội đi xe máy đúng theo kiểu tự sát.

     Có thể bảo “đâm đầu vào cõi chết” là tinh thần chi phối xã hội ta trên nhiều phương diện sống khác. Ít ra là trong mấy việc:

    1/ cách ta xả rác và hủy hoại môi trường

    2/ cách ta khai thác hầm mỏ, đất đai … và các di sản văn hóa để thu lợi

    3/ Cách ta dùng người và đào tạo lớp trẻ.

    Xin nói rõ ý thứ ba bằng chuyện bên ngành giáo dục. Sinh viên các trường sư phạm giờ đây khi ra trường dù là giỏi đến đâu cũng không được nhận vào biên chế ngay mà phải qua nhiều lần hợp đồng.

    Nói là để thử thách. Nhưng thực chất là để các nhà tổ chức hét tiền cống nạp đâu từ vài chục đến cả trăm triệu mỗi lần.

     Một phó giáo sư giáo dục học đã về hưu kể với tôi từ đây xảy ra hai tình thế, một là có nhiều cử nhân sư phạm mới ra trường không kiếm được tiền đành bỏ nghề; hai là những em có khả năng mang tiền nhà đi vay đi mượn để nộp thì sau này mặc sức cướp bóc học trò để hoàn vốn.

    Chuyện cướp bóc xảy ra ở nhiều ngành khác, nhưng đến giáo dục càng thấy đau lòng vì trong tay những thầy giáo như thế thì con em chúng ta còn làm sao mà nên người được.


SỬ HỌC VÀ DỊCH BỆNH

Ngày 1 tháng 4 năm 2020

Thạc sĩ  Vũ Đức Liêm -- giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, nghiên cứu Lịch sử tại ĐH Hamburg. – đang là tác giả nhiều nghiên cứu đột phá về lịch sử cận đại VN và khu vực.

Các bài viết của ông thường triển khai theo lối nhìn và cách viết của sử học hiện đại phương Tây nên rất hấp dẫn và theo tôi hiểu là có đóng góp cho sử học với ý nghĩa là làm cho người ta thêm yêu môn khoa học đang bị coi là nhàm chán này.

Ông vừa tham gia vào  hoạt động chống dịch bệnh hôm nay bằng chính cái phần chuyên môn sâu sắc của mình.

Bài viết trên tạp chí Tia sáng “Bệnh dịch và số phận của con người xã hội” công bố vào ngày 22/02/2020, có ở đường link

https://tiasang.com.vn/-dien-dan/Benh-dich-va-so-phan-cua-con-nguoi-xa-hoi-22994?fbclid=IwAR2YJJ9g0an7Kkk49f2fWpuaBc_95tHzPFHWCOjT4-5XvrVCAyEp2A51msU

Mở đầu ông nói tới một chi tiết mà theo tôi nhớ thì … chưa một nhà nghiên cứu văn học nào biết.

"Mùa thu năm 1820, tham tri Lễ bộ Nguyễn Du đang chuẩn bị cuộc hành trình sang Bắc Kinh. Vị quan chức được nhà vua mới lên ngôi Minh Mệnh cử đi sứ trong một nhiệm vụ đặc biệt: báo tang vua cha Gia Long và xin cầu phong. Không may là một trận dịch tả đã tràn qua Việt Nam vào thời điểm đó, và nhà thi hào cùng với hàng trăm nghìn người Việt khác đã bỏ mạng."

Rồi đúng với tư cách nhà sử học ông tóm tắt tình hình bằng cách đưa ra những con số

 "Trận dịch này bắt đầu từ năm 1816, quét qua Ấn Độ từ 1820 và bắt đầu vào Việt Nam trong cùng năm, lan từ Hà Tiên lên Bắc thành. Sử nhà Nguyễn thống kê: số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Nhà nước bỏ ra 730.000 quan tiền để cứu chẩn, mai táng.

Với quy mô dân số Việt Nam dưới 10 triệu người vào đầu thế kỷ XIX, hơn 4% dân số đã bị thiệt mạng. Nếu một trận dịch với tỉ lệ tương tự vào năm 2020, 4 triệu người Việt Nam sẽ bị đe dọa tính mạng."

Trong phần kết luận, Vũ Đức Liêm nói rõ: chuyện dịch bệnh ở xã hội nào cũng vậy, đều có liên quan tới “mô hình thể chế hay khả năng thích ứng của các hệ thống chính trị.” .

Nghiã là giông như mọi hiện tượng xảy ratrong quá khứ, nó luôn luôn có ý nghĩa thời sự.

…Dịch bệnh không chỉ làm thay đổi thể chất mà còn tinh thần của xã hội.

…nếu có bài học gì từ quá khứ các trận dịch và số phận đau thương của con người thì đó chính là khả năng kiểm soát dịch bệnh và ổn định tình hình của người quản trị xã hội.

*********

Ngày 29/02/2020, người ta đọc được trên tờ Tuổi trẻ bài viết của Phạm Hoàng Quân - một nhà sử học xuất sắc khác – một bài viết về dịch bệnh  - bài  “Gần 70 trận dịch bệnh ở Việt Nam thế kỷ 19, thi hào Nguyễn Du qua đời vì dịch”

https://tuoitre.vn/gan-70-tran-dich-benh-o-viet-nam-the...

Nhưng Phạm Hồng Quân không dừng lại  ở những bài báo phổ cập .

 Rồi phát triển trên cơ sở bài “ Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19 ” đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 1-3-2020, ít ngày sau  ông lại hoàn thành công trình nghiên cứu“ Lược khảo về dịch bệnh ở Việt Nam hồi thế kỷ 19 qua ghi chép trong Đại Nam thực lục”,  tổng cộng tới hơn 15 ngàn chữ có kèm thêm cả những bảng minh họa và trang chữ Hán lấy từ các tài liệu gốc.

https://www.diendan.org/.../luoc-khao-ve-dich-benh-o-viet...

----

Đại Nam thực lục  là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn.

Đây là một trong hai bộ sử quan trọng nhất được thực hiện trong thời nhà Nguyễn, bộ kia là Việt Sử Thông Giám Cương Mục.

Nếu bộ sử thứ hai bao quát về lịch sử Việt Nam thì bộ thứ nhất tức Đại Nam thực lục viết riêng về triều nhà Nguyễn.

Ta có thể thấy ở đây lối viết sử tiêu biểu của người Việt trong các thể kỷ trước tức là thiên về biên niên và ghi chép rất tỉ mỉ.

Lắm lúc tôi tần mẩn tự hỏi nếu bây giờ có ai hỏi về tình hình dịch bệnh ở xã hội ta suốt 75 năm qua - tức là từ 1945 đến nay như thế nào --thì chỉ có cách bó tay vì chả có sách vở nào ghi chép cả.

Mà chả cứ dịch bệnh , cái  gì liên quan đến đời thường đều bị chúng ta coi nhẹ,

Chúng ta chỉ thích nói về những chiến công những thành tích với những lời lẽ hoa mỹ kiểu nước đường.

Có thể nói về mặt quan niệm sử học, lối viết sử này thua xa các thế hệ trước.

Tới thế kỷ 19, trong hoàn cảnh một đất nước trưởng thành và thống nhất, người xưa đã có ý thức ghi chép tương đối chính xác về các hiện tượng trong triều chính cũng như ngoài dân chúng nó chứng tỏ cái tự ý thức của xã hội hồi ấy tốt hơn chúng ta ngày nay rất nhiều.

Vào khoảng những năm 60 của thế kỷ 20, nhà văn Nguyễn Tuân có lần ngồi khảo lại cuốn Tắt Đèn đã giở lại những trang Đại Nam thực lục có ghi chép về tình hình thuế được thực thi trong xã hội Việt mãi tới khi người Pháp đã cai trị đặc biệt là thuế thân và các loại thuế nông nghiệp, và từ đó đã có sự khẳng định độc đáo và tốt đẹp dành cho những trang tiểu thuyết của Ngô Tất Tố. ( Tôi hiện còn giữ được những  trang viết về thuế trong một cuốn  trong bộ sách  Đại nam thực lục hơn 30 tập  khổ 13.19 ở đó Nguyễn Tuân sành đọc SỬ đã khuyên đỏ bên lề những  trang sử cũ có ghi những con số mà ông cho rằng thuyết phục hơn mọi lời bình tán khác).

 Nhờ dựa vào  Đại Nam thực lục  nên về mặt tư liệu bài khảo lần đâu in trên Diễn Đàn Phạm Hồng Quân nhắc ở trên là một văn bản hết sức hàm xúc như rất hiếm thấy trong các công trình viết bằng tiêng Việt .

Sau phần Phân loại sơ bộ và lược tả là các phần Việc mô tả bệnh chứng, xác định tên dịch bệnh rồi đến  Sự ứng phó dịch bệnh của triều đình bao gồm từ các Liệu pháp tinh thần Việc chữa trị Việc trợ cấp cùng những Thất xuất trong việc cai quản. Chẳng hạn đây là một đoạn ghi lại tâm lý và ứng xử vùa  thực  tế vừa chu đáo của người đương thời

Đến năm 1874, có thể là do qua thời gian được tiếp cận kiến thức khoa học Tây dương, trong một trận dịch bệnh thấy Tự Đức nói : “ Phàm cầu đảo không có công hiệu, nhưng cứ yên lặng ngồi nhìn thì không yên tâm, mà không có phép gì cho khỏi được. Chỉ dốc sức các phủ huyện đi xuống làng ấp gia tâm thăm hỏi, người bệnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm, xét khuyên những nhà giàu thương nhau chu cấp cho nhau, không đủ thì cấp gạo kho công cho chóng được yên ”

---

Tôi cho rằng cách tồn tại của các nhà khoa học, các nhà trí thức trong hoàn cảnh khó khăn của xã hội phải là như thế, tức nên  như trường hợp của Vũ Đức Liêm  và Phạm Hồng Quân nói trên . Không nên lao đầu vào những cuộc bàn luận dông dài về những vấn đề thời sự mà mình không thành thạo  mà vẫn tiếp tục làm công việc chuyên môn của mình. Và nếu như trong chuyên môn, thấy có phần nào gắn bó với tình hình thời sự thì nhanh chóng hoàn thành. Nó cũng là một phần góp thêm vào cho hoạt động của các nhà trí thức chuyên môn khác đang trực diện cứu giúp người dân trong tai họa.

Ngoài nội dung cụ thể các bài viết của Vũ Đức Liêm  và Phạm Hồng Quân có ý nghĩa gợi mở một phương hướng làm việc cơ bản và lâu dài cho các nhà khoa học xã hội. Ý tôi  muốn nói chỉ đơn giản là các khía cạnh của đời sống chúng ta đang sống rất cần được ghi chép một cách tỉ mỉ theo các phương pháp hiện đại. Sử học không chỉ để phục vụ cho các ý đồ của nhà cầm quyền đương thời, mà còn phải đóng góp vào việc vẽ lại bộ mặt của xã hội  cả cái thời chúng ta đang sống để các thế hệ tương lai suy nghĩ và tiếp tục phán xét.


HIỂU SAO VỀ HY VỌNG & TUYỆT VỌNG ?

Ngày 3 tháng 4 năm 2020

Nhân dân đã bị làm hỏng?.

Một lớp trí thức chân chính có khả năng hướng dẫn xã hội đi tới không biết bao giờ mới hình thành và đứng ra đảm đương hiệu quả vai trò của mình?

Nhưng chẳng nhẽ  xã hội ta hết đường thay đổi?

Một kết luận cực đoan như thế lâu nay trong đầu óc tôi cứ hình thành dần dần và mặc dầu tôi đã tìm cách gạt đi nó vẫn trở lại.

Tôi lúng  túng không dám đối mặt với nó, tự nghĩ rằng có lẽ phải tìm được nhiều ví dụ nữa để chứng minh ngược lại; và quan trọng hơn, phải nghiên cứu để tìm ra cách đổi thay vận mệnh.

Một công trình như thế một hai người làm sao nổi?

Nhưng xin cứ ghi nó ra đây, âu cũng là một cách để sống lại cái ý mà các nhà tư tưởng nhiều thế kỷ trước đã nói

"Con người không bao giờ được phép đầu hàng."

Gần với ta hơn, tôi nhớ có câu của Trịnh Công Sơn "Tôi ơi đừng tuyệt vọng!".

Tuy nhiên, chắc một số bạn cũng như tôi, nhiều lúc nghĩ rằng cái lối tự nhủ như thế, có vẻ như là một cách tự lừa mình, tự an ủi mình để sống cho qua ngày.

----

Trên đường học hỏi, tôi tìm được một vài ý tưởng hiện đại hơn. Trong đó có nhiều câu giúp ta giải tỏa những vướng mắc

siêu hình

+ Lớp người như tôi ghi tâm khắc cốt "Bài ca hy vọng" của Văn Ký do nghệ sĩ Khánh Vân hát.

Từ hồi có mạng, tôi có nghe thêm mấy người khác như Mỹ Bình, Trung Kiên và chỉ thẩy Rơ Chem Phiang là đạt một cái mốc như Khánh Vân.

Nhưng một nam ca sĩ là Lão Nông thì có câu bình luận rất hay: Bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng.

+ Một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam. Bà bảo người diễn viên phải diễn sao cho "trong cái được có cái mất, trong cái vui có cái buồn, trong cái vô vọng có cái hy vọng", thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.

+ Và cái câu tuyệt vời nhất, gần với hoàn cảnh chúng ta hôm nay nhất là mệnh đề kép của của nhà văn Pháp A. Camus, lúc này đây tôi chỉ nhớ đại ý :

"Phải từ giã hết mọi hy vọng trần thế thì mới đạt được cái hy vọng chân chính"

Tức là trước mắt chưa phải là hành động mà phải suy nghĩ nhiều nữa suy nghĩ đến cùng thì mới tìm ra được cách hành động hợp lý và hiệu quả.


RÁO HOẢNH

Ngày 5 tháng 4 năm 2020

Bạn có biết những lúc ráo hoảnh như thế người  ta trở nên thế nào không?

       Tôi thường mang tiếng là ác khẩu, chỉ thạo moi móc cái xấu của mọi người.

        Để chứng tỏ là mình đã tu tỉnh lại, trong trường hợp đang nói, tôi cố vắt óc để tìm ra một liên tưởng tạm gọi là đèm đẹp một tí.

        Và tôi nhớ đến những đứa trẻ.

      Nói một cách văn hoa và mỹ miều như các nhà thơ, thì khi trơ tráo và ráo hoảnh trong các vụ làm ăn, nhiều người chúng ta đang trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.

      Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo.

       Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.

        Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của bố mẹ vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang,  chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên

      -- Ơ ! Con cứ tưởng …  

      -- …

      --Thế à, thế mà con không biết.

       Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi  

     --Ơ ! Tôi cứ tưởng…

      -Tôi đâu có biết .

       Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con xưa  thường chỉ “con không biết “ trước một vài đồng lẻ, còn người lớn bây giờ thì “ tôi đâu có biết “ khi bỏ túi cả ngàn tỉ.

       Tới đây chắc có bạn cũng như tôi, nhớ lại lời than vãn thiên tài của Tản Đà “Dân hăm nhăm triệu ai người lớn – Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con “.

        Thật đã rõ, bọn người ráo hoảnh hôm nay, cũng là một lũ trẻ mất nết, mãi không chịu lớn, và càng càn rỡ hư hỏng, càng còi cọc không bao giờ lớn nổi.

        Lũ trẻ ấy, sau cái vỏ bề ngoài non bẽo đã già cỗi tự lúc nào không biết, song lại chuyên phô cái vẻ trẻ con ngây ngô ra để chối tội.

       Tối tăm mày mặt trước những món lợi lớn,  cái gọi là lũ trẻ ấy sẵn sàng trở nên độc ác như những bạo chúa.

 


BIẾT RẰNG HY VỌNG MỊT MÙ 

NHƯNG CŨNG KHÔNG THỂ TUYỆT VỌNG !

Ngày 8 tháng 4 năm 2020

1/

 Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, việc giới thiệu văn học nước ngoài ở Hà Nội những năm 1959-60 bị chệch hẳn đường, nhiều tác giả lớn bị cấm cửa.

Chekhov là một, Lỗ Tấn là hai, đấy chỉ là ví dụ rõ nhất.

Hãy nói riêng về trường hợp thứ hai.

May mà tới 1963, nhà văn Trương Chính còn kịp làm được một bộ “Tạp văn Lỗ Tấn” tuyển tập.

Cái quý của bộ này là đưa vào hầu hết các bài chính trong khoảng gần hai chục tập tạp văn của tác giả, kể cả những bài không có tính chiến đấu mà lại có tính nhân bản ( trong những lần tái bản gần đây các bản dịch này thường bị loại bỏ).

Trong cuốn II của bộ sách này, in ra ở nxb Văn học 1963, tôi thấy có bài bàn về hy vọng rồi đưa lại mấy câu thơ của nhà thơ Hungari Sandor Petofi có cái mùi vị khác hẳn những lời bàn về hy vọng mà hồi trẻ chúng tôi được dạy dỗ

***

“Hy vọng là cái gì?

là GÁI ĐĨ

Nó mê hoặc mọi người và hiến dâng cho tất cả

Đến khi anh đã dâng hiến cho nó

cái vật quý giá nhất của anh

Là tuổi thanh xuân

THÌ NÓ BỎ RƠI ANH”

Nhà văn Trung quốc số một của thời hiện đại dẫn bài này để minh họa cho cái tâm tình tuổi già nơi ông, khi một mình vật lộn với cái đêm tối trong hư không và không lấy hy vọng làm hậu thuẫn cho những phấn đấu trong mỏi mệt nữa.

2/

Chưa bao giờ tôi thấy chia sẻ với các ý tưởng của Petofi và Lỗ Tấn như thời gian này.

 Hãy lấy một ngày bất kỳ, ngày 5-9-2017 chẳng hạn .

Một tờ báo viết “nhân ngày khai trường, ai cũng kỳ vọng...” và chắc nhiều báo khác cũng viết thế, nhiều người khác cũng nghĩ thế.

Mấy ông già chúng tôi xét hoạt động của ngành giáo dục mấy năm nay, thường chẳng hy vọng gì cả, chỉ dự đoán xem nó sẽ dở đi đến đâu thôi.

Bảo  chúng tôi không muốn hy vọng ở tương lai mấy năm tới ư.

Muốn lắm chứ.

Nhưng đâu có dễ !

 Dạo này có mốt một số cơ quan nhà nước đưa ra các dự án. Toàn dự án cho mươi năm tới,

sẽ mở đường giao thông ra sao,

 sẽ hạn chế tai nạn đến đâu

sẽ có hệ thống y tế đảm bảo những gì,

sẽ phổ cập những hoạt động gì.

Những người có trí nhớ một chút nghe chỉ biết cười.

Có bao giờ các vị ấy nhắc lại rằng mươi năm trước cũng về từng vấn đề tương tự các vị ấy đã đề ra cái trình độ đạt tới của 2015- 17, tình hình ra sao và nay thì nó đến đâu.

 Giáo dục lại càng như vậy, bảo dân được cho ăn bánh vẽ khí quá lời, nhưng những cái gọi là cải cách chẳng qua chỉ là gãi ghẻ.

Nhân ngày khai trường các báo còn đăng một đoàn cán bộ giáo dục ta vừa sang Phần Lan, với mục đich học theo mô hình giáo dục Bắc Âu.

Tự cho phép ngoa ngoắt một chút, tôi nhớ đến cách nói “con lạc đà chui qua lỗ chôn kim còn dễ hơn việc này việc nọ".

Trước dự định học theo giáo dục Phần Lan, tôi kinh sợ mà thú nhận rằng đây dám là cái ví dụ thêm vào cho sự đúng đắn của câu thành ngữ trên lắm lắm.

3/

Nhưng rồi tuổi già hay lạc quan giả tạo, tuổi già hay thỏa hiệp, tuổi già chỉ muốn hòa hõan với tình hình, không bao giờ nên sợ không có người chia sẻ.

 Lỗ Tấn nhân bản ở chỗ sau khi nói một đằng, ông cũng biết luôn là người ta thường có thể nói ngược lại.

Thứ nhất anh bảo không nên hy vọng ư, liệu anh có thể sống cả đời mà không hy vọng chăng?

Thứ nữa, không hy vọng chắc là tuyệt vọng chứ gì.

 Nhưng người ta khi đã tuyệt vọng rồi thì cũng mất hết khả năng sống, trong đó có khả năng xét đoán mọi chuyện .

Bởi vậy, lần này, tiếp đến đoạn hy vong là một thứ gái đĩ,

thì Lỗ Tấn lại dẫn tiếp một nhận xét khác của Pétofi:

“Tuyệt vọng cũng giống như hy vọng đều hư ảo huyền hoặc”.

 Ý ngầm ở đây là lời khuyên: giữa hai cái cùng là vớ vẩn ấy, chọn hy vọng vẫn là hơn.

4/

Tôi tìm thấy ở câu này một sự cứu tinh.

 Và tôi tìm ra cách hy vọng ( = nhất định không tuyệt vọng) của mình.

Trong khi những người khác đưa ra những biện pháp để cứu vãn tình hình, tôi biểu thị sự hy vọng của mình bằng cách không chơi trò mách nước đó.

Mà trong chừng mực có thể, với sức lực có hạn, đi ngược về những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự suy sụp của giáo dục cũng như của kinh tế văn hóa hiện nay.

Ồ, theo hướng này thì nhiều việc cần làm lắm, đến chết cũng không hết việc, nếu tuyệt vọng thì lấy sức đâu mà làm, đành phải hy vọng vậy.


HÃY VIẾT VỀ XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM

TRONG CƠN ĐAU ỐM

Ngày 11 tháng 4 năm 2020

Tiếp tục câu chuyện về "Sử học và dịch bệnh"

Sau bài viết, “Bệnh dịch và số phận của con người xã hội” nhà sử học Vũ Đức Liêm còn công bố trên trang mạng phunuonline.com.vn một bài khác

KHI VIỆT NAM BỊ "ỐM": SỐ PHẬN MỘT DÂN TỘC GIỮA NHỮNG TRẬN DỊCH

Sau đây là nguyên văn mấy câu nòng cốt làm nên ý chính trong bài viết này

1/ Chúng ta nói nhiều về một Việt Nam cường tráng. Đó là Việt Nam anh dũng, tài hoa, nhân văn, với địa linh nhân kiệt… Nhưng thực tế, bên cạnh những ngày khỏe mạnh, Việt Nam cũng có lúc ốm đau.

Trí nhớ xã hội (cũng như của tất cả chúng ta) cố quên đi lúc đau ốm, yếu ớt, mà chỉ nhớ về những ngày khỏe mạnh vui tươi. Nhưng dù có muốn nhớ về nó hay không, thì bệnh tật luôn là một phần của quá khứ. Việc chúng ta học được gì từ những ngày ốm là cực kỳ hữu ích, vì nó giúp nhận thức sự mẫn cảm sinh học của Việt Nam để có cách thức phòng tránh trong tương lai.

2/Dịch bệnh, thiên tai và loạn lạc thường đi cùng nhau. Chúng là những bạn đồng hành thân thiết, tác nhân thường trực gây ra hỗn loạn, dân ly tán, bạo lực xã hội, và sau cùng là hưng vong, thịnh suy của các triều đại.

Có lẽ nỗi ám ảnh dịch bệnh vùng nhiệt đới đã nhiều phen “giúp” người Việt giảm được xung đột bạo lực với phương Bắc

3/ Bệnh dịch, thiên tai vì thế là một phần quan trọng của câu chuyện tính chính danh, chính thống, và thiên mệnh của người cầm quyền.

Dịch bệnh cũng đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển chính trị, lãnh thổ, hưng vong triều đại và thịnh suy dòng họ.

Bệnh dịch làm thay đổi chính sách, làm gián đoạn nền chính trị vào giữa thế kỷ XIX.

4/ Điều đáng chú ý là tuy thi thoảng Việt Nam bị nhiễm bệnh, cấu trúc làng xã trong quá khứ, hạn chế của giao thương, cũng như chính sách kịp thời của nhà nước đã góp phần ngăn chặn các đợt bùng phát.

Xã hội hiện đại chính là các đô thị, dân cư chuyển động liên tục và nền kinh tế gắn chặt với toàn cầu.

Đây sẽ là một thách thức cho những người cầm quyền mới, điều mà Lê Thánh Tông, Minh Mệnh hay Tự Đức chưa phải đối mặt.

***

Xen kẽ trong bài, tác giả đưa ra ba bảng thống kê trong đó một về các trận dịch lớn ở trong nước từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 18 lấy nguồn từ Đại Việt sử ký toàn thư một về Thiên tai, dịch bệnh và nạn đói ở châu thổ sông Hồng năm 1820 – 1841, theo các tài liệu của Đại Nam thực lục

Ngoài ra còn có một chi tiết lý thú khác, chẳng hạn : trong những sự kiện ít được biết tới chính là cuộc viễn chinh lớn nhất của người Việt sang đất Thái Lan cuối thế kỷ XVIII. Nhằm chống lại sự bành trướng của người Thái, Mạc Thiên Tứ cử con rể là Trần Đại Định cùng 5 vạn quân thủy bộ tiến công sang phía tây. Đạo binh thuyền nối đuôi nhau kéo dài 12 dặm đã tới đóng tại Chanthaburi (đông Thái Lan ngày nay). Không may là trong vòng hai tháng sau đó, đạo quân này bị dịch tả tấn công. “Có ngày chết cả trăm người”. Vì thế năm vạn quân ra đi, chỉ còn một vạn trở về.

***

Có ý nghĩa thời sự ở đây là đoạn về vai trò của các nhà cầm quyền trong các trận đại dịch

Nếu trong bài trước, tác giả Vũ Đình Liêm (cũng như Phạm Hoàng Quân) đã ghi nhận sự ân cần chu đáo của các vua nhà Nguyễn đối với dân chúng khi dịch bệnh hoành hành và nói chung là dân trong nước gặp nhiều tai họa, thì trong bài này, ông còn chỉ rõ ở họ một phản ứng khác sâu sắc hơn.

Năm 1825, Minh Mệnh đã tự hỏi: “Hai ba năm nay đại hạn luôn, trẫm nghĩ chưa rõ vì cớ gì. Hay vì con gái bị giam hãm trong cung nhiều, nên khí âm uất tắc mà đến thế chăng? Nay đàn bà con gái trong cung cũng không nhiều lắm, song tạm lựa cho ra 100 người, may ra tai biến bớt chăng?” (Thực lục).

Trong khi bất lực trước thiên tai, các vua triều Nguyễn cùng cảm thấy là chính họ có lỗi, và tìm cách để thay đổi những gì thuộc về bản thân. Trước sau họ vẫn nghĩ mình được trời trao cho sứ mệnh cai trị, nay trong nước có dịch bệnh, tức là họ đã không làm tròn trách nhiệm mà trời đất giao phó. Đó là truyền thống suy nghĩ của vua chúa phong kiến phương Đông mà theo tôi, các nhà cầm quyền nước nào thời nào cũng nên theo.

Tác động tới các nhà cầm quyền như thế, phải chăng cũng có thể xem như là một nét tác tích cực của thiên tai dịch bệnh?

Sau hết, có một ý mà riêng tôi hết sức tâm đắc, nó là chính câu đầu tiên của bài, ý nói chúng ta không chỉ cần nghiên cứu về nước Việt Nam cường tráng mà phải nghiên cứu về những lúc Việt Nam ốm yếu bệnh tật, đại khái điều này cũng giống như lâu nay tôi dành nhiều thì giờ đi vào chuyên mục thói hư tật xấu của người Việt. Đã có lúc trước sự phê phán của một số bạn tôi sinh hoang mang.Nhưng cuối cùng tôi vẫn

nghĩ khi đi vào chỗ yếu của đối tượng người Việt chính là tôi góp phần chuẩn bị cho những công trình của những người khác nghiên cứu người Việt và xã hội Việt một cách sâu sắc và toàn diện.

Một trong những đường link để tìm tới bài báo nói ở trên của VĐL

http://c3hungyen.hungyen.edu.vn/thong-bao/thong-bao-cua-truong/a3.html?fbclid=IwAR2_FQCax91Dx9WzDHY3im_oUhddC0_2aVIim0bjitDsO2tZbH56lFR0Xt0

 


TRỞ VỀ QUÁ KHỨ Ư? ĐÂU PHẢI CHUYỆN DỄ!

Ngày 13 tháng 4 năm 2020

"Lo gì mà lo, lo bò trắng răng

Lo ông trời đổ lo thằng trên cao."

Người xưa từng đã chế giễu những kẻ hay lo bằng mấy câu đùa như vậy.

Không rõ trường hợp anh M. bạn tôi sẽ nói sau đây có thuộc về cái dạng quá lo xa đáng buồn cười ấy, chỉ biết trong những dịp trò chuyện với nhau về việc trở lại với một vài phong tục tốt đẹp cũ, hoặc chia nhau nghiên cứu nét đẹp văn hóa ở chùa nọ đền kia, trong khi chúng tôi hồ hởi tự tin (tin rằng chả khó gì cả!) anh thường trình ra một bộ mặt đăm chiêu.

Khi thì anh nói to lên với chúng tôi, khi thì anh lầm rầm tự nói với mình, song bao giờ cũng một câu ấy:

-- Ờ, ý định hay lắm, nhưng mà xem xem, có làm được không đã..

 Rồi anh đưa ra một loạt lý lẽ.

Tôi thấy những lý lẽ này không hoàn toàn vô lý. Và cái chính là chúng tôi chưa đủ sức bác bỏ được nó,  chẳng những thế thấy trong thực tế, nó lại được chứng minh là đúng, vậy xin chép lại ở đây, để các bạn cùng gỡ giúp.

MẤY VÍ DỤ NHỎ

- Hẳn ông còn nhớ một hai năm nay, báo chí nói nhiều đến tình trạng khu di tích Yên Tử bị đe doạ bởi một công trường khai thác than ngay bên cạnh.

Đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về cái mà chúng ta gọi là khả năng biến dạng của di sản trong kinh tế thị trường.

Nói đến tàn phá ai cũng bực bội lên án, nhưng trong thực tế những sự tàn phá ấy cứ tiếp tục xảy ra mà xã hội không biết làm thế nào để ngăn chặn.

 Giữa chúng ta với quá khứ đang có cả một cái hố ngăn cách, đó là nếp sống tuỳ tiện và vụ lợi.

- Hồi tôi còn nhỏ, tức là ở Hà Nội trước 1954, và sau đó, những năm sáu mươi, trong danh mục các chùa nổi tiếng quanh Hà Nội, không bao giờ nghe nói đến chùa Hà. Người buôn bán thời ấy cũng không có chuyện đổ đi lễ đền Bà chúa Kho như các giám đốc công ty bây giờ.

...Lại nhớ có lần đi hội chùa Hương, tôi được giới thiệu vào một cái hang gọi là hang mới khai thác.

Màu đất còn đỏ.

Gạch đá thiếu hẳn vẻ rêu phong.

Nhưng đến khi người quản lý đứng ra giới thiệu thì ông ta cứ hồn nhiên mà kể rằng quân của Vua Quang Trung trên đường ra đánh giặc Thanh đã ghé lại nơi đây.

Và để chứng minh, ông ta chỉ vào những viên đất nung trên đó có vạch sơ sài mấy chữ Hán viết rất vụng và thiếu nét (đúng hơn, phải gọi là vẽ chữ không phải viết).

Thú thực tôi phải cố để khỏi nhịn cười!

Nghĩ tới những chuyện trên và nhiều chuyện tương tự, cứ ấm ức, như vừa bị lừa.

Tôi nghĩ mình không có gì sai, khi đòi hỏi tính chân thực tuyệt đối ở các di sản. Nếu chúng ta còn coi mảnh đất ấy, ngôi chùa ấy là thiêng liêng, phải giữ cho bằng được tính chất thuần khiết của nó. Mọi sự tô son trát phấn ở đây đều gây phản cảm.

- À quên, lại còn câu chuyện dân ca quan họ nữa chứ. Đầu 2000, có một chương trình TV, trong đó, nhờ sự môi giới của những chuyên gia hàng đầu, người ta ghi được quang cảnh các cụ xưa gặp gỡ nhau và hát với nhau ngay trên làng quê của mình. Cũng những giai điệu quen thuộc, mà tinh thần thì khác, lời lẽ khác, và không khí làm nền cho sinh hoạt âm nhạc cũng khác.

Ai đó đã nói đùa. Lâu nay ta toàn được nghe dân ca của đài, chứ đâu phải dân ca thứ thiệt!

Nghe mà nẫu cả ruột!

- Nói thế, không phải là tôi sổ toẹt công lao của nhiều người trong công cuộc khôi phục và gìn giữ di sản. Tôi chỉ lưu ý một điều: lòng hăng hái của chúng ta phải biến thành hành động cụ thể, mà trước tiên là việc nghiên cứu cho chân thực và thấu đáo.

Lấy một ví dụ: xem phim Trung Quốc làm về đề tài lịch sử dù là phim truyền hình loại hàng chợ, tư tưởng không có gì sâu sắc, trang phục của các nhân vật cũng rất rành mạch, đời Hán ra đời Hán, đời Thanh ra đời Thanh.

Đằng này ở ta, quần áo thời Hai Bà Trưng hay thời khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp cũng là một.

Nghe đâu có người còn bảo rằng cái áo mà các nhạc công trong các dàn nhạc dân tộc ở ta hay mặc (trông na ná như cái gi-lê, nhưng không bó vào người và không cài khuy) là cái áo thường dùng của các diễn viên xiếc Liên xô (cũ) hay Đông Âu gì đó, có người thấy tiện mang ra dùng, lâu mãi thành quen.

Nếu đúng như thế, thì thật không ra thể thống gì nữa!

KHÔNG TÔN TRỌNG QUÁ KHỨ ĐÃ LÀ CẢ MỘT TRUYỀN THỐNG

 Có lần, xem một bộ phim du lịch, tôi được biết ở Nhật có phong tục rất lạ, là họ thích di chuyển các di sản vật chất (một ngôi chùa chẳng hạn) từ địa điểm này sang địa điểm khác, chỉ có điều, từng chi tiết của ngôi chùa được giữ nguyên. Ví dụ cột cao bao nhiêu và làm bằng thứ gỗ gì, gỗ bao nhiêu tuổi, nhất nhất cứ như cũ mà làm, người sau lấy việc được giống y như người trước, làm niềm vui và xem như kỷ luật bắt buộc.

Còn ở ta, hình như có truyền thống ngược lại, là người đời Nguyễn có phải sửa lại ngôi đền có từ đời Lê, thì trong khi để lại nó nguyên ở chỗ cũ, lại tha hồ thay đổi vật liệu, thay đổi kích thước cùng các loại chi tiết lặt vặt, và không bao giờ coi đó là chuyện xúc phạm tới di sản. Đến thời hiện đại, người ta càng sẵn sàng mang xi-măng, cốt sắt vào đền chùa một cách thoải mái.

- Để cho công bằng chúng ta cũng phải chia sẻ một chút khó khăn với các nhà nghiên cứu: Tiếp cận với người xưa khó lắm. Tài liệu tam sao thất bản, lại mất mát lung tung. Nhưng trước tiên, là tài liệu quá ít. Một bộ quần áo của người bình thường thôi, nó cũng có lai lịch riêng, nó thay đổi qua từng thời kỳ và nhìn vào những cải biến ấy người ta biết được sự tiến triển trong quan niệm sống hoặc những sự giao lưu văn hoá giữa xứ này với xứ khác.

Tiếc thay ở ta những chi tiết vặt vãnh này gần như không được khảo sát và ghi chép, thành ra bây giờ có muốn phục hồi chính xác cũng rất khó.

 Một ngôi đình được dựng lên, được người đương thời nhắc nhở, có khi được truyền tụng cả trong ca dao, thế nhưng mọi người chỉ biết đại khái làm theo hình chữ “đinh” hay chữ “công”, và chạm trổ kỳ khu lắm, và dành để thờ những vị thần hoặc những bậc anh hùng linh thiêng lắm, còn bên trong tổng diện tích là bao nhiêu, có bao nhiêu hàng cột, trên các hàng cột, các vì kèo có những phù điêu như thế nào, do ai chạm trổ... thì không có tài liệu nào ghi chép cả.

Nói người xưa cố tình giấu kín không muốn cho hậu thế biết về mình một cách chi tiết, có lẽ... hơi oan, song quả thực quá khứ nhiều khi hiển hiện đấy, mà lại vẫn có cái vẻ ẩn khuất, lờ mờ, người các thời sau khó lòng đến với cái nguyên bản chắc chắn của nó. Sứ mạng rút cục đặt lên vai con người thế kỷ XX.

Đáng lẽ, chúng ta phải biết tận dụng các phương tiện khoa học thời nay, đi vào đo đạc khảo tả các công trình còn lại một cách hết sức chi tiết để khi có điều kiện, phục hồi chúng hoàn toàn... thì, vì bận bịu quá, mệt mỏi quá, mà đôi khi đơn giản  vì ít tiền quá, chúng ta không đủ sức làm.

TỈNH TÁO ĐỂ BIẾT RẰNG MÌNH BẤT LỰC

Tóm lại, tôi muốn nói một điều: trở lại với quá khứ nhọc nhằn lắm, không phải cứ luôn mồm kêu gọi nhau, rủ rê nhau là làm ngay được.

Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao thường được dẫn ra để chỉ những anh chàng lì lợm ăn vạ hoặc trâng tráo bất cần đời, và nhiều người thường chỉ nhớ tới Chí Phèo những khi đùa bỡn. Nhưng trong câu chuyện nghiêm chỉnh của chúng ta hôm nay, tôi cứ thấy nhớ bác Chí ở một khía cạnh khác: ý tôi muốn các anh cùng lưu ý đến đoạn cuối cùng, khi Chí Phèo dõng dạc nói với Bá Kiến: “Tao muốn làm người lương thiện”, rồi khi Bá Kiến cười ha hả “Ô tưởng gì.... tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ” thì Chí Phèo lắc đầu nói như đanh đóng cột: “Không được! Ai cho tao lương thiện(...). Tao không thể là người lương thiện nữa”.

Khi bắt đầu tả Chí Phèo đến với Bá Kiến, nhà văn Nam Cao ghi rõ rằng lúc ấy Chí Phèo say rượu và hắn làm thế vì “những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi, chúng định làm”. Thế nhưng đọc đoạn này, tôi lại thấy Chí Phèo rất tỉnh, vì chỉ tỉnh táo lắm, người ta mới tính được rằng hành động của mình cần những điều gì bảo đảm và nó sẽ được người chung quanh tiếp nhận ra sao, liệu mình có thể làm được cái điều mình đã dự định hay không. Còn chúng ta, trong sự sôi nổi của các hành động hàng ngày -- ở đây là cái ao ước thiết tha muốn được trở về quá khứ --- hình như nhiều người chưa bao giờ có được sự tính toán cần thiết và sáng suốt ấy.

Vốn là bài " Con đường nhọc nhằn"

đã in trong "Nhân nào quả ấy" 2002, Nhã nam đang tái bản


PHỔ CẬP GIÁO DỤC NHƯ HIỆN NAY 

THÌ KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC

NỀN GIÁO DỤC ĐÍCH THỰC

Ngày 18 tháng 4 năm 2020

Lời khuyên “đừng cho con học lên trên” tôi đưa ra hôm trước, nếu có được  một số bạn đồng tình, thì sau đó hẳn có những bạn đã nghĩ lại.

Tôi tưởng như đang nghe thấy những câu hỏi ngược, đại loại:

-- không học thì biết  cho con  cái làm gì bây giờ?

-- bộ anh tưởng ở mình bây giờ học được một nghề cho rành dễ lắm hả?

...

Loại vấn đề này, tôi không thạo lắm xin để các bạn khác giải đáp giùm.

 Gần với thắc mắc trên, có thể có cả những câu trách móc:

-- Sao anh lại tàn nhẫn tước đi ở con người những hy vọng tối thiểu?

--  Chẳng phải dân gian ta vẫn có câu “có nụ mừng nụ có hoa mừng hoa”?

 Để đáp lại, tôi muốn nhắc lại một câu triết lý của nhà văn

 Pháp A. Camus (1912-1948) mà tôi không kiếm được nguyên

văn chỉ nhớ đại ý: phải dứt bỏ hết những hy vọng trần thế tầm

thường thì mới tới được cái hy vọng cao cả chân chính

Riêng có hai câu hỏi sau đây, tôi tự đặt cho mình:

-- đâu là cơ sở thực tế từ đó anh nẩy sinh đề nghị trên?

-- trước tình hình hiện nay, hướng giải quyết của anh là gì?

Để trả lời một cách khoa học, tôi sẽ phải tìm tòi thêm rất nhiều.

Lúc này đây, tôi chỉ mới thoáng nẩy ra mấy cái ý chính:

-- đóng vai trò chi phối bộ mặt của nền giáo dục hiện nay là cái

quan niệm giáo dục phổ thông giáo dục đại trà.

-- đó không chỉ là ý chí của nhà nước mà còn là nguyện vọng

của đông đảo người dân

-- Nhưng trình độ phát triển của xã hội ta nền kinh tế của chúng ta chưa cho phép ta làm được điều đó. Nếu muốn nói bệnh thành tích thì đây là thứ bệnh thành tích lớn nhất. Do cố làm được cái điều không thể làm, chúng ta trở thành ảo tưởng và tự mình dối mình, cố ý tạo ra những mặt hàng giả rồi tự bằng lòng với nó. Một nền giáo dục phi chuẩn  có đẻ ra những học sinh chuẩn mực “đạt trình độ quốc tế “, thì cũng chỉ là ngẫu nhiên.

Do biết vậy, nên ở các nước trình độ tương tự như ta  không nước nào người ta làm giáo dục đại trà cả.

Từ mấy năm trước tôi đọc một bản tin về Myanmar thấy có nói bà Suu Kyi chủ trương là sau chế độ độc tài quân sự , khi chuyển sang dân sự  sẽ không mở nhiều trường đại học mà chỉ cần nước ngoài giúp mở các trường dạy nghề. Tôi đoán dù tình hình chính trị ra sao thì về giáo dục bên ấy  người ta vẫn làm như vậy.

--Kết luận, trong hoàn cảnh làm ào làm lấy được ta đã chót đẻ ra một nền giáo dục dài rạc như thế này, thì giờ đây tử tế nhất là  phải dỡ ra  làm lại từ gốc đến ngọn.

Trong cuốn "Việt Nam thời Pháp đô hộ", tác giả là nhà sử học Nguyễn Thế Anh, từng là Giám đốc nghiên cứu trường cao đẳng thực hành Sorbone Paris ( in lần đầu ở nhà Lửa thiêng Sài gòn 1970, lần thứ hai ở trung tâm học liệu 1974; tôi không tìm được cả hai bản đó mà  chỉ có trong tay bản in lần thứ ba của nxb Văn học 2008), có một đoạn như sau

” Để tổ chức nền giáo dục, năm 1906, toàn quyền Paul Beaau thiết lập hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ.

Nguyên tắc giáo dục căn bản là ”giáo huấn khối quần chúng và trích ra [tách ra] một thiểu số ưu tú;  chủ trương chính là dân bản xứ phải bắt buộc học chữ quốc ngữ tại các trường và chỉ những phần tử thông minh nhất mới học lên những lớp cao đẳng tiểu học để sau này  có thể theo học những trường trung học  mà chương trình giảng huấn hoàn toàn là chương trình Pháp ( sđd, tr213-216)

 Các bạn tôi mới quen từng học ở nhà trường Sài Gòn trước 1975, thường cũng kể với tôi rằng ngày trước nền giáo dục ở đây mô phỏng hình tháp, có khi mười học sinh tiểu học mới có một hai học sinh học lên trung học.

Nhờ thế họ mới chuẩn hóa  được nền giáo dục. Còn  cứ làm giáo dục theo kiểu cháo pha loãng như ở ta hiện nay, thì không bao giờ được cái gì cả , ngoại trừ cái gọi là " bình đẳng trong giáo dục". Mà cũng bình đẳng gì đâu, cái bình đẳng này hoàn toàn hình thức, mị dân


SỰ THA HÓA CỦA LỜI NÓI

Ngày 20 tháng 4 năm 2020

   Theo các nhà nghiên cứu hội họa, trong các bức tranh của người Việt thời trung đại, mỗi yếu tố chỉ có quan hệ với yếu tố liền kề bên cạnh, chứ không có quan hệ với toàn bộ bức tranh.

    Con người ở đây trong các mối quan hệ xã hội cũng vậy. Hành động và lời nói thường được tổ chức để đối phó với các đối tác có quan hệ gần gũi mà không chú ý tới toàn bộ cộng đồng.

   Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau –

 Câu ca dao đó thuộc loại những câu “vỡ lòng “ mà mỗi gia đình thường dạy con cái mình. Thành ngữ còn ghi: nói ngọt như mía lùi, nói kiến trong lỗ bò ra ...ý khuyên khi giao thiệp cần chon những lời lẽ tốt đẹp

  Nhưng trong các cuốn từ điển , người ta thường gặp nhiều hơn bội phần những thành ngữ có liên quan những lối nói   không có gì là tốt đẹp.

 Hoặc là:

  nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khoé, nói chọc, nói chơi, nói chua,  nói cứng, nói dựa, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt,  nói gần nói xa, nói gở, nói hành nói tỏi,

  Cũng như:

 nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo, nói phách, nói leo, nói lửng, nói mát, nói mép,  nói móc, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt,  

  Rồi còn:

 nói phét, nói quanh, nói quấy nói quá,  nói ra nói vào, nói suông, nói thách, nói thánh nói tướng,  nói trạng, nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi, nói xỏ …

 Thái độ vô trách nhiệm của con người với tiếng nói của mình làm nên bộ mặt tinh thần chủ yếu của các  nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan  từ "Tôi xin hết lòng" tới "Thằng điên", từ "Một tin buồn"  tới "Hé! Hé! Hé !"

    "Thế là mợ nó đi Tây"  cũng như "Tôi yêu quý nương", hai truyện ngắn này đều gồm nhiều bức thư, loạt đầu giọng tử tế  thậm chí văn hoa, đến  thư cuối thay bằng  mấy lời  bạc bẽo, càn rỡ.

Mà đó chỉ  là của một con người viết cho một người khác trong thời gian ngắn.

    Trong nhật ký của mình, Pièrre Poivre – một  người Pháp từng đến buôn bán ở Đàng Ngoài thế kỷ XVIII - than thở:

    -- Điều làm tôi bối rối khi phải thương lượng với người ở đây là chẳng bao giờ họ nói một lời chân thật. Hôm nay đồng ý, mai đã chối từ. Họ hứa rồi lại rũ bỏ lời hứa, chẳng chút e ngại.

   Sau đây là một mẩu chuyện trong Ba Giai Tú Xuất  :

      Ngày xuân, cụ Lý Sộp rủ cụ Tổng Muỗm ra Hà Nội, vào một cửa hàng, nhờ kiếm mấy điếu thuốc phiện. Chủ quán nhận giúp, sai người đi liền. Tiếp đó khi cái người được sai đi ấy mãi chưa về, chủ quán lại đích thân đi tìm, trước khi đi không quên  mượn của các cụ cái khăn nhiễu.

Ăn tàn miếng trầu không thấy họ về.

 Các cụ cáu kỉnh trách móc,  bọn này không tính làm ăn buôn bán hay sao ? Thì một người từ nãy đến giờ ngồi yên trong góc quán thủng thẳng cho biết mình mới là chủ quán,  hai người trước đó chỉ là bọn đi lừa.

 Khi các cụ thắc  mắc, ông chủ thật ấy cười khẩy giải thích :

     -- Các  cụ nói thật "cổ nhập" quá. Phàm cách bạn hàng  gẫu chuyện với nhau thì  muốn nói nhăng nói quậy gì chẳng được. Dù hắn nói là chủ hàng chủ quán  hay là chủ cả một tỉnh một xứ này cũng được nữa là. Một câu nói phiếm, phỏng  có tổn hại gì, ai hơi đâu lại đi can thiệp.

 Đoạn dẫn trên đây, khá điển hình trong việc phác lại một tình trạng thông thường của lời nói trong xã hội ta.

 Một mặt chúng ta bảo nhau lời nói đọi máu.

Mặt khác chúng ta thường quá dễ dãi khi xử lý nó. Ta không dùng nó để suy nghĩ. Mà trong công việc giao tiếp, ta dùng nó để  đùa chơi, bỡn cợt, ràng buộc, thách thức, tóm lại là một thứ tài nguyên rẻ, tha hồ phung phí.

Bảo rằng lời nói bị tha hóa là với nghĩa đó. Nó không còn là chất kết dính  của xã hội.

  Nói lời thì giữ lấy lời  -- Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Kho tàng tục ngữ ca dao còn ghi lại bao lời than phiền vì những sự con người làm khổ đồng loại bằng lời nói. Người ta ghê sợ nhau chán chường nhau mà vẫn phải sống với nhau.

 Nguyễn Trường Tộ sớm ghi nhận tình trạng “ không luận đàn bà trẻ con, đến người có học biết chữ mà cũng mở miệng là nói lời thô bỉ”.

Nguyễn Văn Vĩnh lưu ý  cái sự ham  thích những câu chuyện tầm thường, và từ chối những chuyện nghiêm chỉnh.

Phạm Quỳnh dị ứng nhất với những đám đông hỗn hào lộn xộn.

 Xuân Diệu bảo ta hay nói hão.

 Tình trạng tha hóa kéo dài trong ngôn ngữ con người đương đại cũng được Nguyễn Huy Thiệp ghi lại khá tự nhiên.

 Trong " Tướng về hưu", các nhân vật thường nói với nhau một cách trắng trợn, pha phách cả ảo tưởng lẫn tinh thần hoài nghi, tới mức một nhân vật phải  kêu lên:

 -- Nhà mình nói năng như người điên khùng cả .

Tôi nghĩ nhận xét đó khái quát khá đúng tình trạng sử dụng ngôn ngữ trong một xã hội đã bị chiến tranh xé nát và hầu như mọi con người không ai còn sống bình thường như thuở trước 1945.


SỰ THA HÓA CỦA NGÔN TỪ

Ngày 21 tháng 4 năm 2020

Tục ngữ Việt Nam có câu "Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo". Hóa ra sự tha hóa tiếng nói ở ta đã bắt đầu từ lâu lắm. Điều cần nói thêm là đến nay trong xã hội hiện đại, khuynh hướng này ngày càng phổ biến.

Tôi xin hết lòng (truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan) kể về một người đàn bà, thức nhiều đêm ròng để trông một cô gái ốm và lúc nào cũng xoen xoét cái miệng: tôi xin hết lòng vì cô. Có gì đâu, chỉ vì bà ta quá mê bộ tóc của cô bé. Sự việc lộ ra khi, lấy cớ giúp cho cái đầu cô bé khỏi vướng víu, trong lúc trông nom cô, bà ta đã đang tay cắt trộm mái tóc ấy.

Một ý ngầm toát lên qua thiên truyện: hóa ra ở đời này chẳng có ai tốt với ai cả!

Nhưng đọc Tôi xin hết lòng, tôi muốn lưu ý một khía cạnh khác: trong trường hợp này, lời nói đã trở thành công cụ cho người ta thực hiện ý đồ xấu xa. Nó trở nên hàm hồ, tùy tiện, lăng nhăng, giả dối, một thứ sản phẩm của tình trạng lưỡi không xương nhiều đường lắt léo như các cụ xưa vẫn nói.

Ý nghĩ này thường trở đi trở lại trong đầu tôi khi hàng ngày chứng kiến cảnh người ta lừa nhau ở các bến xe, bến tàu. Thử đứng ở đầu cầu Chương Dương (Hà Nội) chẳng hạn.

Những chiếc xe khách chở người từ các vùng quê về chưa kịp đỗ đã có hàng loạt xe ôm chờ sẵn. Mỗi hành khách xuống xe lập tức trở thành con mồi để đám xe ôm xô đến tỏ thiện ý muốn giúp đỡ. Lời nói bao giờ cũng ngọt xớt. Người ngoài nghe thấy mà rùng mình, sự thực là họ đang lừa người ta để bên này bùi tai thì bên kia “chém”.

Đại khái cũng giống như các chương trình khuyến mãi của một số công ty làm ăn kiểu bất chính quảng cáo trên truyền hình. Họ lấy ngay tiền của người mua hàng để làm phần thưởng. Mỡ nó rán nó. Của người phúc ta. Nói ra rả hàng ngày mà không ai thấy chướng.

Có cái ác là nhiều khi biết người ta nói dối đấy mà không sao vạch mặt ra được. Chẳng hạn nhiều khi có việc cần đến một cơ quan thì thấy đập vào mắt tấm bảng viết nguệch ngoạc “Cơ quan chúng tôi xin được phép nghỉ sáng nay để họp”. Cùng là cán bộ nhà nước cả, nên tôi cũng chẳng giận làm gì, mặc dầu biết tỏng là nhiều khi người ta chẳng họp hành gì cả, mà chỉ yết bảng thế, để kéo nhau đi chơi (mùa này là đi du xuân).

Nhưng đau là đau ở khía cạnh khác: cái sự nói dối trắng trợn. Người ta coi thường và làm hỏng hết công việc của những người đến liên hệ công tác, nhưng lại làm bộ nhũn nhặn xin phép, ra điều tôn trọng chúng tôi, sợ chúng tôi lắm, phải được phép chúng tôi thì mới đuổi chúng tôi về hôm khác đến như vậy.

Từ góc độ xã hội học, đây là một biểu hiện của sự tha hóa ngôn từ, khi con người không còn làm chủ được công cụ giao tiếp này nữa và bản thân công cụ có một sự phát triển tự thân vô tổ chức (tương tự như tình trạng tế bào ung thư).

Bắt đầu là sự phát triển vô tội vạ của số lượng. Tiếp đó là những biến dạng kỳ dị. Sự không phù hợp giữa nội dung và phương thức biểu hiện ngày càng trở thành một thiên hướng không thể cứu vãn.

Tương tự như tình trạng giao thông làm chậm tốc độ đi lại, sự hỗn loạn trong ngôn ngữ cũng ngăn trở sự tiếp xúc giữa người ta với nhau và làm giảm mức độ phát triển của xã hội - nghĩ xa một chút phải thấy như vậy. Nhưng ở đây ta hãy nói với nhau ít chuyện cụ thể.

Một lần lẩn mẩn tra từ điển tiếng Việt, tôi bắt gặp vài chục từ ghép đi liền với chữ nói, tạm ghi ra như sau: nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khóe, nói chọc, nói chơi, nói chua, nói cứng, nói dựa, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt, nói gần nói xa, nói gở, nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo, nói leo, nói lửng, nói mát, nói mép, nói móc, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt, nói phách, nói phét, nói quanh, nói quấy nói quá, nói ra nói vào, nói suông, nói thách, nói thánh nói tướng, nói trạng, nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi, nói xỏ... Trong số này, trên chín chục phần trăm là những từ mô tả sự nói với nghĩa xấu.

Hóa ra sự tha hóa tiếng nói ở ta đã bắt đầu từ lâu lắm. Điều cần nói thêm là đến nay trong xã hội hiện đại, khuynh hướng này ngày càng phổ biến. Cảm giác xấu về lời nói đè nặng lên tâm lý con người, bởi sự làm hàng giả len vào tất cả mọi lĩnh vực và sự giả dối hứa hão thì tìm đâu cũng ra ví dụ.

Trên một tờ báo chuyên về văn hóa, một lần thấy có thư của một bạn đọc than phiền vì những sự hứa hươu hứa vượn. Một bộ phim quảng cáo là phim kinh dị “made in Vietnam” và có tới 69 bài viết trên các báo lăng xê, sẽ không bao giờ bấm máy. Một bộ phim khác được giới thiệu là có đến hai diễn viên Hàn Quốc tham gia nhưng hóa ra... treo đầu dê, bán thịt chó, bởi chẳng có công ty nào của Hàn Quốc phối hợp cả. Đại khái như vậy. Người ta cứ làm hàng giả hàng ngày. Sợ gì đâu, chưa có thứ thuế nào dành riêng cho kẻ hứa hão. Còn muốn tiếp tục gieo rắc ảo tưởng ấy ư, hãy chi đậm thêm một chút cho “những cái lưỡi”, thế là xong tuốt


NHÌN THIÊN NHIÊN MÀ SỐNG

(một đoạn ghi chép mười năm về trước)

Ngày 22 tháng 4 năm 2020

Hình dung lại những mùa đông xưa, khi bản thân còn nhỏ, sao trong đầu óc tôi thường hiện lên rất nhiều ngày mưa.

“Mưa lâm râm ướt đầm lá hẹ “ trong  ca dao,

“Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm “ của Huy Cận.

Và đây thơ Bằng Việt “Mưa trên áo khiến động lòng tuổi trẻ ‘’,

thơ Lưu Quang Vũ “Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa “ …

Nhớ đủ thứ mưa trong thơ, bởi ngoài đời mưa nhiều thật.

    Mùa đông 2006 lại cho thấy một sự bất ngờ của thiên nhiên. Ba bốn tháng liền, Hà Nội gần như không mưa. Trời đẹp, nhiều hôm nghe cô Đan Lê cô Thu Trang nói trong bản tin thời tiết “Chúc các bạn có những ngày nghỉ cuối tuần tuyệt vời”  không hẳn vui mà cứ thấy nao nao.

     Vẫn biết nắng vàng trời hanh thì thú vị thật, nhưng tận trong đáy lòng, tôi vẫn nhớ những ngày mưa, hình như mình quen với mưa hơn.

    Cầu được ước thấy, cả tuần vừa qua, trước tết Nguyên tiêu, không có lấy một ngày nắng trọn vẹn. Lúc nào bầu trời trên đầu cũng lảng vảng những đám mây. Lúc nào trời cũng ủ mưa dù không phải mưa. Cái nẳng thoang thoáng. Có thể sắp nắng bừng lên nữa. Mà cũng không chừng lại sắp mưa.

     Những ngày khô hạn đã dạy cho tôi biết thế nào là sự quyết liệt của đời sống. Cả trái đất nóng lên. Nhiều thành phố nằm sát mép nước biển bên Italia có khả năng bị nước tấn công. Năm ngoái năm kia bên Paris khối cụ già chết vì nắng cơ mà. Bây giờ cái gì cũng thái quá. Chuyện mưa thuận gió hòa chắc chỉ còn trong sách vở. Giá kể bây giờ ai đó đùa đùa mà dự báo rằng phải chuẩn bị phương án nhỡ có lúc sông Hồng cạn phơi cả đáy thì cũng không thể mắng là người ta điên được.

      Những ngày dở dang mưa nắng lại càng dạy tôi tập quen với mọi khả năng sắp tới.

Giá cả leo thang ư?

Trong phở có hooc môn ư?

Tai nạn giao thông ngày một dày đặc hơn ư?

Thị trường chứng khoán lúc nào cũng như trái bong bóng bơm căng ư?

 Điện lại sắp sửa cắt trên diện rộng ư?

 Dịch cúm gia cầm vừa chấm dứt lại bùng phát ư?

 Điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những điều xấu nhất lẫn những điều tốt nhất.

Về mặt lý tính, tôi tin như vậy.

Và tôi tự bảo tôi không có quyền buồn, buồn chẳng có ích gì. Mà hãy gắng tìm ra niềm vui, tối thiểu là cái niềm vui của sự hiểu biết và thích ứng, chỉ riêng cái đó cũng đáng sống lắm.

Một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Đức B. Brecht (1898 -1956)  kể lại một cuộc đối thoại giữa một ông bố và cậu con trai trong thời gian mà chế độ phát xít đang thắng thế.

Mỗi lần người con đưa ra một câu hỏi có học môn này môn kia không, thì ông đều trả lời không. Không Toán. Không tiếng Pháp. Không sử.  Học để làm gì ? Không biết ư ? Vậy thì cái gì cũng không, nhiều lần ông bảo con vậy. Để rồi cuối cùng ông lại gói gọn trong một câu  “Ừ con, môn gì cũng phải học cả “.  

BỔ SUNG 23-4-2016

Đọc lại đoạn ghi từ mười năm trước, tôi thấy với con người hiện nay tình thế ngày càng bi đát hơn, sự bất lực ngày càng rõ rệt hơn.

Còn như niềm vui của sự hiểu biết và thích ứng --  niềm vui đó lại là thứ hàng cao cấp quá, làm sao có nổi.

Duy chỉ có sự hiểu biết về tình trạng bất lực, cái đó thì có thêm được một ít. Lại nhớ một câu nói có cánh của ai đó, đại ý nói rằng con người là sinh vật duy nhất biết rằng nó sẽ chết. Lúc này tôi muốn bổ sung bởi biết thế, nên con người phải chống trọi đến cùng. Câu danh ngôn sau thì hay hơn:

CUỘC SỐNG BAO GIỜ CŨNG CAO HƠN CÁI CHẾT ÍT RA LÀ MỘT CUỘC ĐỜI. NẾU KHÔNG CÓ CÁI ĐỂ MÀ SỐNG THÌ LÀM GÌ CÓ CÁI ĐỂ MÀ CHẾT


BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP 

TƯ DUY TRUNG CỔ

Ngày 24 tháng 4 năm 2020

   Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.

     Câu chuyện được kể chỉ cốt để phô ra một tình trạng gian dối phổ biến trong sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sống thực giả tùy tiện . Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết thực thụ về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.

    Từ đây, không khó khăn gì để nhận ra mầm mống của nhiều sự lạc hậu khác như cách nghĩ chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, bịa sai bị tố không chịu nhận, xem thường lẽ phải và pháp luật.

     Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đưa ra hàng ngày trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án "có dấu hiệu bị làm lệch". Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.  Trên các trang mạng thường xuyên có các tin bài dành để tố cáo tiến sĩ rởm, giáo sư rởm.

    Đấy là nói trên những sự việc trong đời sống hàng ngày. Nói chi đến những chuyện tầy đình -- như ba mươi năm chiến tranh, đã bao người Việt bị chết, trong nạn suy thoái kinh tế hiện nay có bao nhiêu công nhân thất nghiệp, -- các con số đưa ra khi thấp khi cao và chỉ phụ thuộc vào ý muốn của người có quyền.

    Sự  cố ý làm sai nhiều khi đã biến thành gian manh càn rỡ, bất chấp quỷ thần cũng như dư luận xã hội.

    Sự thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới, là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử cho vừa mắt vừa tai, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.

    Ta hãy trở lại với cội nguồn của thói quen này.

     Trước khi đề ra các chính sách xã hội ở Đông Dương, người Pháp thường huy động nhiều nhà khoa học đi điều tra nghiên cứu điền dã và tìm hiểu ngược mãi lên tận nếp sống trì trệ đã hình thành nhiều đời trong xã hội Việt.

     Trong số này phải kể  tới Pierre Gourou (1900—1999).

     Tình trạng tư duy không có cái gì chính xác của người Việt đồng bằng sông Hồng từng được ông miêu tả tường tận trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003)

    Theo cách miêu tả của Gourou, ở các làng xã, “chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích, trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“.

     Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống chi phối xã hội suốt từ trên xuống dưới.

   Nên biết rằng đến thời cận đại, ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc đầu thì người ta không thể làm, sau thì không muốn làm. Thói quen sống trong bóng tối đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.

     Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá.

   Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước.

    Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước.

     Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người  thăng  quan tiến chức  thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình. Mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy nhiều chi tiết cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả.

     Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian của cả cộng đồng  như tạo ra một lớp sương mù huyền hoặc. Càng về sau những người chép sử càng  sử dụng độ lùi của năm tháng để vùi lấp tất cả trong sự mù mờ và không cho phép ai đi tìm sự thật.

      Cũng về vấn đề thời gian hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) lưu ý xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ, và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo“.

      Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên.

      Theo Pierre Huard và Maurice Durand, đây là dấu hiệu của sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông.

      Trong lúc chờ tìm hiểu thêm về tiền Descartes , tôi tạm lấy một câu chuyện trong Trạng Quỳnh để minh họa cho khái niệm này.

      Theo bản Trạng Quỳnh bán ở sạp báo trước cửa chợ Đồng Xuân thời gian trước 1954 thì có lần Trạng cho kéo đến trước mặt sứ Tầu một cây gỗ, rổi đề vào đó ba chữ Hồ bất thực và bảo hãy giải nghĩa cây đó là cây gì.

 -- Xin chịu,  kính nhờ Trạng giảng hộ.

 -- Hồ bất thực là cáo chẳng ăn. Cáo chẳng ăn thì cáo đói. Cáo đói thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo.

    Ngày nay sự lẫn lộn giữa huyền thoại và lịch sử còn được tiếp tục, chẳng hạn với trường hợp ngọn đuốc sống Lê Văn Tám.

    Tư duy trung cổ chi phối người Việt suốt những năm chiến tranh.  Sang thời hậu chiến,  trong khi tuyên bố mình đi vào hiện đại hóa thì trên nhiều phương diện – trước tiên là trong tư duy -- có sự trở lại của các yếu tố tiền hiện đại.

    Tức tinh thần chính của đời sống thì lại y như trước khi người Pháp tổ chức xã hội VN theo mẫu hình của họ thế kỷ XIX.


LỊCH SỬ LẶP LẠI hay là

XÃ HỘI CHẲNG TIẾN BỘ BAO NHIÊU !

Ngày 25 tháng 4 năm 2020

Trên FB của bạn Nguyễn Hưng Quốc ngày 18 tháng 4 có bài sau·

ĐÀN ÔNG VIỆT NAM

Nhìn mấy bức ảnh người Việt Nam xếp hàng hay chen lấn nhau tại các ATM gạo ở cả ba miền Nam, Trung và Bắc, bà xã tôi có một nhận xét thú vị: Tuyệt đại đa số là phụ nữ.

Vậy, đàn ông Việt Nam ở đâu?

Chắc chắn không phải không có những người đàn ông nghèo khó và cần sự giúp đỡ của xã hội. Có thể nói sau lưng những người phụ nữ kia là những người đàn ông đang gặp bế tắc trong việc mưu sinh cho gia đình. Nhưng tại sao họ lại không xuất hiện tại các tụ điểm ấy?

Tôi đoán là do tự ái. Họ có thể nghèo. Họ có thể gặp khó khăn. Nhưng họ không muốn làm một người nhận bố thí. Nhất là dưới mắt bá tánh.

Mà không phải chỉ trong việc nhận quà cứu trợ. Ngay cả một số công việc nặng nhọc ngoài công cộng cũng vắng mặt đàn ông. Những năm còn về Việt Nam được, tôi hay ngồi lê la với bạn bè trong các quán cóc, tôi để ý thấy một điều: Hầu hết những người quét rác trên đường phố đều là phụ nữ. Năm 1996, về Hà Nội, tôi được nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chở đi thăm viếng các chùa chiền ở ngoại thành, trên đường đi, tôi gặp thấy rất nhiều người gánh lúa (hoặc một thứ gì đó). Hai bên đòn gánh rất nặng nề. Đường đi lại khấp khểnh, lởm chởm sỏi đá. Tất cả những người ấy đều là phụ nữ.

Chúng ta hay nói đến truyền thống đề cao phụ nữ trong văn hoá Việt Nam, tuy nhiên, thành thực mà nói, còn lâu chúng ta mới đạt đến cái gọi là bình đẳng giới.

---

Tôi đã còm mèn bằng một stt cũ, xin đưa lại dưới đây để các bạn cùng đọc

****

Người đàn ông trong xã hội Việt Nam

Ngày đăng 20/7/2016

Trong “Chuyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi” (1876) của Trương Vĩnh Ký, đoạn phong tục có câu tả Hà Nội.

"Chốn thiềng thị thì công thương tụ, có lộn Ngô Khách. Đàn ông con trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm.”

Liên hệ tới ba truyện ngắn Thạch Lam.

Trong “Cô hàng xén” mọi việc trong nhà cô Tâm lúc chưa lấy chồng đều do mẹ cô lo liệu, bố cô chỉ đi chơi các nhà xa gần có khi vài ngày liền mới về .

Trong “Người bạn trẻ”, có đoạn tả cảnh nhà anh Bào “bà mẹ tráng bánh và thổi xôi để bán”. Còn “thầy anh ta, ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì”.

Trong "Hai lần chết": “Cha Dung chẳng làm gì cả. Từ xưa đến nay vẫn thế. Hình như ông ta sinh ra đời là chỉ để ngồi ở nhà cho lúc nào cũng có người và để những ngày giỗ tết trong họ, khăn áo chỉnh tề đi ăn cỗ mà thôi. Không ai thấy ông ta làm việc gì, mà cũng không ai nghĩ đến sự ông ta phải làm một việc gì đó”.

Xưa là thế còn thời nay?

Đây là một đoạn tả Hà Nôi ngày nay của một người nước ngoài là Drew Taylor, được giới thiệu trên nhiều mạng giữa 2010.

Bài viết có cái tên là "Ngộ quá ta!"

“Đi dọc các con đường và ngõ ngách của quán nhậu ở Hà Nội, bạn sẽ thấy cánh đàn ông chuyện trò rôm rả không thua gì các phiên chợ buổi sáng của các bà. Họ nói chuyện đùa, chuyện tếu, chuyện phiếm, chuyện mặn chuyện lạt một cách say sưa và tự nhiên như thể chỉ có đàn ông là công dân danh dự trên quả đất này. Sau vài tuần bia và rượu, cánh đàn ông không hề trở nên đáng yêu hơn với gương mặt đỏ kè, giọng nói lè nhè hoặc the thé. Rồi họ chuyển sang chuyện chính trị, chuyện đấu đá ở cơ quan, hoặc bắt đầu lên giọng triết lý về các vụ scandal nóng nhất.”

Tôi chưa biết giải thích hiện tượng này ra sao, chỉ nhớ tới một sự thực trong lịch sử. Suốt thời phong kiến xứ ta liên miên trong chiến tranh, mà chủ yếu là nội chiến, chứ không phải chỉ chống ngoại xâm như các nhà sử học hiện nay vẫn viết.

Nhất là trong các thế kỷ XVII, XVIII, Nam Bắc phân tranh. Đại khái là các lãnh chúa địa phương bắt người đi lính, thường theo tỷ lệ cứ ba xuất đinh lấy một. Mà lại toàn là những trai tráng khỏe mạnh thông minh chứ loại đui què mẻ sứt vốn rất đông đảo không ai gọi lính làm gì. Bộ phận ưu tú này dù là không đánh nhau chăng nữa, song sống trong cảnh bị kiềm chế, mất hết lý tưởng làm người. Khi hết hạn lính quay trở về nông thôn, họ không chịu học lấy nghề nghiệp gì mà tự cho mình là có quyền dông dài chơi bời. Kể cả việc dạy con trong gia đình cũng do phụ nữ đảm nhiệm.

Tình trạng đó kéo dài cả trong thời Pháp thuộc và tuy có biến dạng đi chút ít song còn đến ngày nay.


THỬ TÌM HIỂU CÁCH KIẾM SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Ngày 26 tháng 4 năm 2020

Từ trường hợp của những ông già ném cá trong bài trước, tôi xin thử nêu lên một vài đặc điểm  làm nên cách kiếm sống dân ta xưa và nay:

1-- Trong cuộc mưu sinh, dân  ta còn đang dừng lại ở tư duy hái lượm tức là sẵn có cái gì của thiên nhiên thì nhặt lấy mang về. Năng lực của cộng đồng trong việc chủ động tổ chức ra một xã hội  sản xuất, năng lực đó còn hạn chế... Con người trong xã hội ta đa số là vô nghề nghiệp và không đạt tới đỉnh cao trong việc làm nghề. Các ngành nghề không được chăm lo cải tiến nên chỉ có giậm chân tại chỗ.

 Khi tiếp xúc với các nền kinh tế khác chúng ta lại không chịu học hỏi đàng hoàng kỹ lưỡng nên cứ kém mãi.

2-- Chiến tranh là nhân tố chủ yếu chi phối khuôn mặt của xã hội VN trong suốt trường kỳ lịch sử. Trong các thế kỷ trước, nhất là hai thế kỷ XVII – XVIII sa vào nội chiến, ở ta, việc sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển trong mức độ bảo đảm cho các cuộc chiến tranh giữa các phe phái được duy trì . Vậy mà nạn đói vẫn luôn luôn xảy ra. Còn sự phát triển các ngành công thương nghiệp là hết sức kém cỏi thì cũng là lẽ tự nhiên.

 Điều này càng rõ nếu xét  tình hình từ 1945 tới nay.Trong chiến tranh bao nhiêu con người giỏi giang đổ hết cả ra mặt trận. Đến cả lương thực cho người dân miền bắc cũng phải nhập của nước ngoài. Súng ống đạn dược xe pháo dùng trong chiến tranh là của ngoại nhập. Ở hậu phương mọi công việc như xây dựng nhà cửa hoàn toàn ngưng trệ.

Sau chiến tranh hầu hết chúng ta là những kẻ vô nghề nghiệp.

Các quan chức cũng hoàn toàn vô nghệ nghiệp. Từ những người chỉ quen “đánh đồn diệt viện”, nay phải lo quản lý đủ mọi ngành nghề hiện đại, làm sao không dẫn tới tình trạng làm đâu hỏng đấy.

Sau khi đọc bài của tôi có bạn nói rằng giá ông già kia có đồng lương hàng tháng bốn năm triệu thì ông không phải làm thế.

Tôi xin trả lời rằng đó là chỉ nhìn bề ngoài.

Còn nhớ có lần trên mạng thấy loan tin các cơ quan khoa học người ta đánh giá rằng  nước mình là một xứ mà việc quản lý các tài nguyên khoáng sản là loại đội sổ, kém nhất thế giới.

 Không cần có mặt ở các loại mỏ, chỉ từ tình hình chung cũng đoán ra hết.

Những người  chủ trì công việc làm ăn ở các vùng tài nguyên đó, theo sự nhìn nhận của tôi thật cũng chẳng khác gì ông già ném cá hàng xóm của tôi bao nhiêu.

Nghĩa là thấy của một đống trước măt mình đấy thì bất chấp quy trình ký thuật cần thiết, cha con chỉ lo đào cho được rồi bán tống bán táng ra nước ngoài lấy tiền. Tiền này đi đâu thì ai cũng biết rồi -- nộp cho ngân quỹ nhà nước thì ít, đút vào túi mình thì nhiều.

Ta chỉ trách những quan chức này là họ tham nhũng.

 Ta quên rằng họ cũng đang là những người kiếm sống không có nghề ngỗng gì hết, và kiếm sống với bất cứ giá nào.

Trong khi khai thác tài nguyên theo kiểu thổ phỉ vậy, tự họ đã tước đi khả năng tồn tại và phát triển của cái nguồn lực đáng lẽ nuôi sống cộng đồng và chính họ trong một thời gian lâu dài.

Họ cũng từ bỏ luôn cái cơ hội tốt để họ và con cháu họ tử tế nên người.

3-- Nói tới một đặc điểm khác trong việc kiếm sống của người mình, nhất là con người hiện đại.

Là ta có lối suy nghĩ rất thiển cận, trong khi phấn đấu để vượt lên số phận nghèo khó đã không chịu học không chịu chuyên môn hóa …mà lại chỉ nhăm nhăm tính toán sao cho có thể đạt đến mọi mục đích tầm thường của mình bằng con đường nhanh nhất.

Nhân danh nghèo khó, cho là mình có quyền làm mọi điều xấu xa và sẽ chẳng có  thần phật nào trừng trị chúng ta cả.

Tiếp đó là bày ra đủ thứ lý luận để cãi trắng cho sự hư hỏng của mình. Cả một đội quân tuyên truyền góp phần vào việc tự biện hộ này. Chúng ta đã đi tới sự tự lừa dối tự lúc nào không biết.

Đến lúc này thì người ta nói rằng con người đã vô phương cứu chữa.

Nhưng đây là một khía cạnh khác nó làm nên một xu hướng phát triển của con người thời nay là sự tha hóa.

 Lâu nay ta chỉ nghĩ người giàu mới tha hóa.

 Nhưng 40 năm sau chiến tranh, người nghèo cũng đang tha hóa.

Cố nhiên, vì chạm đến đồng tiền và quyền lực nên quan chức thì tha hóa nhanh nhất.

Xưa ta hay có thói quen nói rằng giai cấp thống trị xấu xa là vua quan thời phong kiến có lẽ là người nước nào đó chứ không phải người Việt.

Nay thì chắc các quan chức -- cả bộ phận tha hóa lẫn bộ phận còn đang chống chọi lại xu thế chung đó -- cùng có lý do để nhận họ là những người Việt thứ thiệt.


LÀM GÌ VIẾT GÌ CŨNG PHẢI NGHĨ ĐẾN MIỀN NAM

Ngày 27 tháng 4 năm 2020

1/

Trên đường tìm hiểu và nghiên cứu văn học, tôi có chú ý tìm hiểu thêm tới các ngành khác như văn hóa giáo dục, nhất là tìm cách bao quát được những vấn đề lớn  của nền giáo dục ở ta sau 45, vì nó liên quan tới cả hiện tại lẫn tương lai.

 Lúc đầu tôi chỉ lấy kinh nghiệm bản thân và những quan sát trước mắt ra để viết.

Sau khôn hơn một chút, đi tìm tài liệu của những người khác đã viết.

Nhưng các loại tài liệu này ở Hà Nội thường quá hiếm.

Giáo dục ở ta từ sau 45 thường mải làm hơn là lo nghĩ làm như thế nào. Chẳng tự mình ngồi tổng kết mà cũng chẳng cần dịch sách vở nước ngoài.

Trong thế bí, tôi tìm vào kho sách viết về giáo dục đã được xuất bản in ở miền Nam.

Tôi mải mê đọc và đã tìm thấy ở đó cái phần tự ý thức của một nền giáo dục, nó là một điểm đối chiếu rất cần thiết để tôi suy nghĩ lại về giáo dục miền Bắc.

Không hiểu nghe tôi nói thế nào mà anh bạn Nguyễn Bá Dũng liền mách tập san “Nghiên cứu và phát triển” ở Huế đặt tôi một bài viết so sánh nền giáo dục của hai miền.

 Tôi suy nghĩ một hồi rồi đặt cho mình một hướng cụ thể là viết về giáo dục miền Bắc là chính – vì tôi có kinh nghiệm gì về giáo dục miền Nam đâu - , nhưng  cái phần miền Bắc ấy sẽ được soi sáng bởi những tài liệu lý luận về giáo dục ở miền Nam, trong đó những lý luận và kinh nghiệm về giáo dục của phương Tây đã được tiêu hóa nhuần nhị.

Bài viết mang tên "Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc" ( 2014) của tôi được các đồng nghiệp ở cả ngành giáo dục và nói chung là nhiều bạn trí thức  miền Nam trước đây nay sống ở hải ngoại  ghi nhận.

Với bản thân mình, tôi cũng thấy đây là một trong những bài viết khá nhất trong hơn 50 năm làm nghề của tôi.

Tôi tự nhủ coi như một thứ rất đáng rút kinh nghiệm.

Hóa ra ở Việt Nam hiện nay, với lớp người chỉ được đào tạo và làm việc gói gọn lại ở sách vở trong nước, ngoại ngữ có biết lõm bõm thì cũng chỉ biết tới tiếng Nga, - ở đó việc nghiên cứu về văn hóa giáo dục cũng hết sức lạc hậu,-  rồi đến hậu chiến học tiếng Anh và đọc các tài liệu phương Tây không kịp, thì tốt nhất là nên dựa vào cái phần lý luận và những tinh hoa trong thực hành của văn hóa giáo dục miền Nam.

2/

Thực ra thì công việc tham khảo các tài liệu miền Nam xuất bản trước 1975 ở Sài Gòn đã được tôi theo đuổi ngay từ hồi trước năm 75, khi tôi ở Tạp chí Văn nghệ quân đội và còn tiếp tục một phần từ sau 1975 khi làm xuất bản ở Hội nhà văn.

 Nhưng hồi ấy, tôi chỉ mới chỉ bó gọn trong phạm vi báo chí và xuất bản văn học.

Và cũng chỉ biết học ở một số luận điểm cụ thể, kiến thức cụ thể chứ về căn bản chưa biết đánh giá sự khác biệt giữa văn hóa miền Nam và văn hóa miền Bắc theo nghĩa rộng.

Tôi cũng chưa hề biết tới cái phương hướng chính của văn hóa miền Nam khi tiếp cận với văn hóa và giáo dục thế giới:

Trong khi ở miền Bắc, chúng ta hiểu văn hóa giáo dục chỉ là co gọn lại trong phạm vi lãnh thổ và những tài liệu hết sức ít ỏi và cổ lỗ viết bằng tiếng Việt thì ở miền Nam, các đồng nghiệp của chúng tôi đã luôn luôn hướng về thế giới để tiếp nhận một cách nhìn một sự soi sáng, rồi từ đó tự mình mầy mò nghiên cứu và áp dụng vào hoàn cảnh Việt.

Mà làm như thế chính là phương cách tố nhất để phát triển văn hóa giáo dục dân tộc.

Công việc đã được bắt đầu từ lớp trí thức trước 45 – thời của các ông Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền… - nay được tiếp tục trên một quy mô lớn và nhất là rất cập nhật với tình hình phát triển của phương Tây (ví dụ như trong giáo dục đại học, người ta đã chuyển rất nhanh từ mô hình Pháp có nhiều nét cổ điển sang mô hình Anh Mỹ có nhiều nét thực dụng theo nghĩa tốt đẹp nhất của từ này).

Tôi không được biết ở các nước Đông Nam Á gần ta ví dụ như Indonesia, Myanma, Thái Lan… sau giai đoạn thuộc địa người ta đã làm văn hóa ra làm sao, nhưng tôi dự đoán rằng con đường mà sự phát triển văn hóa giáo dục ở miền Nam trước 75 đại khái cũng phù hợp với xu thế chung của các nước sau khi thoát khỏi ách cai trị của thực dân phương Tây.

Và đó là con đường tương đối hợp lý, chứ không phải là cái lối đành hanh tự mình biết mình, học lỏm được cái gì thì kêu ầm lên là độc lập sáng tạo và trong thực tế là lặp lại cái hướng đi của văn hóa giáo dục thời tiền hiện đại.

3/

Bên cạnh những nghiên cứu về văn hóa giáo dục ở miền Nam trước đây đi theo những bước rất cơ bản  như thế, giới nghiên cứu khoa học xã hội ở miền Nam  cũng dành một sự ưu tiên xứng đáng cho việc nghiên cứu tình hình đất nước sau chiến tranh nói chung và đó là một đóng góp lớn đối với công cuộc tái thiết thời hậu chiến.

Phần đóng góp này  thời gian vừa rồi chúng ta không nhận ra và chỉ áp dụng lặt vặt thì nay đã đến lúc phải công nhận cả phương hướng và quy mô của nó một cách đầy đủ.

Không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người viết văn viết báo mà ngay từ trước 75, rồi tiếp tục là sau 75, tôi cũng đã có dịp làm quen sơ sơ với  một số các trí thức thời ấy, như các anh Phong Hiền, Nguyễn Hồng Phong, Hà Văn Tấn…, để rồi thấy rằng cũng như văn nghệ, khoa học xã hội ở Hà Nội trong thời gian 1965 – 1986 thì căn bản là để minh họa cho các chủ thuyết về chính trị.

Về căn bản lúc ấy với sức lực còn khá non yếu, chúng ta cứ phải gồng mình lên cho chiến tranh, một sự gồng lên quá sức đến mức làm xiêu vẹo cả con người.

Chúng ta thường tự lừa mình là sau chiến tranh sẽ tự nhiên là có tất cả chứ không phải bắt tay lại từ đầu.

Chúng ta không hiểu rằng  con người trong xã hội này đã bị chiến tranh bòn rút hết sức lực, gần như đã bị biến dạng, nên rất khó trở lại bình thường.

Như thế thì làm sao chuẩn bị cho hậu chiến được.

Trong khi ấy thì ở miền Nam các nhà trí thức làm việc chủ yếu không phải phục vụ cho chiến tranh trước mắt mà là phục vụ cho một nước Việt Nam tái thiết thời hậu chiến.

 Họ đã đặt chân lên con đường đúng và những bước đi của họ đã khá rộng dài khá chắc chắn cho đến hiện nay chúng ta cũng chưa theo kịp.

Ngoài văn chương và giáo dục, rồi phần nào đó là sử học, có một ngành tri thức cơ bản ở miền Nam cũ đã khá phát triển đó là ngành luật.

 Ngay từ hồi kháng chiến chống Pháp, ngành luật của miền Bắc đã bị xếp xó, chúng ta sống theo quy luật của một trại lính chứ không phải một xã hội dân sự, lẽ tự nhiên là  từ sau 75, khi quản lý cả đất nước, lúc phải lo làm ăn kinh tế để phát triển và cần phải tiếp xúc với thế giới hiện đại, chúng ta lúng ta lúng túng.

Sự trợ giúp của ngành luật ở miền Nam trước 75 không chỉ có ý nghĩa cụ thể trong các công việc làm ăn buôn bán và giao dịch dân sự- và đặc biệt là việc đào tạo thế hệ kế cận - mà còn có ý nghĩa cơ bản là giúp chúng ta dần dần làm quen với một thế giới có luật pháp tức là hội nhập với thế giới theo ý nghĩa văn minh nhất của nó.

(Ở lĩnh vực này kiến thức của tôi  quá kém nên chỉ cảm thấy như thế mà không dám nói gì thêm.)

4/

Giờ đây, mỗi khi nhìn lại đời sống ở hậu chiến từ sau 75, người ta thường chỉ chú ý tới những bước gọi là Đổi mới từ sau 1986 mà quên đi một giai đoạn hết sức đen tối mười năm trước đó, khi một xã hội quân sự, xã hội chiến tranh gần như rã ra trong cái tình thế  đói kém không biết lấy gì để tồn tại  trước mắt, mà cũng không biết làm sao để quan hệ với thế giới để phát triển lâu dài.

 Trong tình thế đó, các nhà lãnh đạo kiệt xuất như Võ Văn Kiệt đã làm một công việc cứu nguy ngoạn mục là sử dụng lại lớp trí thức được đào tạo trước 75 ở Sài Gòn, cũng như nói chung là sử dụng cái nội lực mà miền Nam đã tích lũy được trong chiến tranh để mở ra một con đường thoát, trước tiên là tạo điều kiện cho một sự tồn tại để rồi sẽ chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

Đóng góp của lớp trí thức miền Nam trước 75 thời kỳ này từng được một số nhà văn nhà báo chúng ta ghi nhận, trước tiên là trong các tài liệu của các nhà báo như Huy Đức, tiếc rằng chúng chưa được khai thác rộng rãi và đưa lên thành những bài học cơ bản.

Trong thời gian gần đây, ở vào tâm thế của một lớp người miền Bắc đào tạo trong chiến tranh và nay đã hết thời, tôi đặc biệt thú vị khi quan sát thấy có một số bạn trẻ bao gồm cả những người sinh sau 1975, được hoàn toàn giáo dục ở “nhà trường xã hội chủ nghĩa” nhưng lại có sự tìm tòi phương hướng làm việc, phương hướng trưởng thành rất có hiệu quả và đã có những đóng góp cơ bản cho nền văn hóa mới. Đó đại khái là những Nguyễn Ngọc Tư trong sáng tác văn học Trần Đức Anh Sơn trong lịch sử, Lê Nguyễn trong dịch thuật sử học .. và nhiều những tên tuổi khác ở nhiều khu vực khác mà tôi không biết.

5/

Lấy một ví dụ dăm ba năm gần đây, qua mạng xã hội tôi có được làm quen với một bạn viết sử là Lê Tư.

Anh thiên về nghiên cứu sử Việt thời kỳ từ nhà Trân tới đầu nhà Lê là một mảng sử chúng ta tưởng ổn rồi nhưng thật ra ở đó chứa nhiều vấn đề rất cơ bản.

 Nhờ có một quan niệm về lịch sử rất mới mẻ lại thông thạo cả tiếng Anh lẫn tiếng Hán cổ và đã đọc trực tiếp các tài liệu viết về lịch sử Việt Nam trong kho lịch sử của Trung Hoa cũ, anh đưa ra những bằng chứng mà tôi thấy hết sức thuyết phục về xã hội Việt Nam thời bắt đầu hình thành như một quốc gia.

 Anh nói đến Trần Nguyên Đán trong vai trò phê phán cách quản lý xã hội theo con đường bạo lực  mà cho rằng phải tìm tới phương thức văn trị thì mới  xây dựng được một quốc gia bền vững lâu dài, một vấn đề mà đến thế kỷ XXI này chúng ta vẫn cứ lầm lẫn.

Anh nói tới con đường đi đến cứu nước rất hiện đại của Nguyễn Trãi, khi ông cùng với cha lo học hỏi kẻ thù văn minh hơn thậm chí có những năm tháng phải cộng tác với kẻ thù nữa để mong  có ngày giúp cho các thế lực bản địa dành lại đất nước yêu dấu.

Về tình hình dân chúng đương thời có lúc anh đã dẫn ra cái câu thơ “Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản” (Người kinh lộ đa số làm phản để theo giặc) để phác họa sự chông chênh của một khái niệm rất phức tạp như khái niệm nhân dân trong lịch sử nhất là những giai đoạn giao thời.

( Mấy điểm tôi nói về Lê Tư ở đây  là theo nhận thức của riêng tôi và tôi đã trình bày trong các bài viết ấy trên blog cá nhân, có điều vẫn mong các bạn trực tiếp đọc LêTư để hiểu vấn đề đầy đủ hơn chẳng hạn đây là đường link  một bài của Lê Tư https://nghiencuulichsu.com/.../tran-nguyen-dan-1325.../ )

Thoạt đầu tôi cứ tưởng Lê Tư là một nhà Hán học cổ nay sống ở Pháp hay Mỹ, gần đây mới biết là anh thuộc lớp trẻ, sau khi tham gia chiến tranh ở mặt trận Tây Nam, đã trở về như một thương binh, và chỉ làm công tác nghiên cứu lịch sử như một việc làm thêm.

Khi giải thích với tôi về công việc của mình, anh cho biết là sở dĩ làm được nhiều việc vậy là do nhận được sự giáo dục của gia đình và nói chung là của tài liệu sách báo và cả không khí học thuật miền Nam trước đây.

6/

Bây giờ đây khi nói rằng trong 20 năm ấy giới trí thức miền Nam trước 75 đã có những bước chuẩn bị cơ bản cho sự phát triển tương lai, bao giờ tôi cũng nghĩ tới các bạn trẻ như mấy người mà tôi tạm kể trên.

Và nhìn chung tôi cho rằng không chỉ những người làm nghề chúng tôi từ nay về sau khi làm gì viết gì cũng bắt buộc mình phải tìm những tài liệu tương ứng các đồng nghiệp miền Nam đã viết.

Mà mở rộng ra, trên đường dài dằng dặc gọi là hậu chiến rồi đây, xã hội ta có làm gì phát triển gì thì cũng phải tính tới miên Nam.

7/

Trong bài này tôi không dám đề cập tới các nhà  nghiên cứu khoa học xã hội ở hải ngoại trẻ cũng như già. Tôi biết chính họ cũng là những sản phẩm được giới văn hóa giáo dục ở miền Nam trước 1975 đào tạo. Nhưng đây là khu vực tôi không thông thạo nên không dám bàn.


BUỒN VUI ĐẮP ĐỔI

Ngày 1 tháng 5 năm 2020

Hôm nay nhiều bạn thích nhớ lại câu nói có tầm khái quát lịch sử của Võ Văn Kiệt đại ý vào những ngày kết thúc chiến tranh một triệu người vui thì cũng có có một triệu người buồn

Tôi muốn tát nước theo mưa vân vi thêm vài ý nhỏ

-- tình cảm là một vấn đề phức tạp nhất là giữa vui buồn thường có sự chuyển hóa (xem Ghi chú ở dưới)

-- Về những người buồn lúc ấy thì tôi không thực sự  biết lắm và đến nay vẫn đang tìm hiểu nhưng trước sau vẫn thông cảm và kính trọng.

 -- Còn về phía những người vui  thì sao?

Theo ghi nhớ của riêng tôi ngày ấy ngay trong hàng ngũ bên thắng cuộc bên cạnh  đa số  những người vui tự nhiên và dễ dàng (và có cả dễ dãi nữa ) cũng đã có những người buồn vui lẫn lộn, vui ít buồn nhiều.

Số này ít thôi nhưng theo tôi các anh đều hiểu biết lịch sử và thời cuộc, vui buồn của các anh gắn với một tầm nhìn rộng rãi do đó là một nỗi buồn mà theo tôi là cao quý, bao gồm cả những lo sợ chính đáng -- mặc dù trong hoàn cảnh lúc ấy thông thường người ta phải giấu nỗi buồn ấy đi không dám bộc lộ rõ.

Ban đầu tôi thấy có cảm tình nhưng vẫn không hiểu các anh ấy lắm,  về sau mới thấy các anh ấy đúng.

--  về sự chuyển hóa các loại người này trong thời gian  tôi dự đoán  tuy những người  vừa biết buồn vừa biết vui như vậy  trong hàng ngũ người thắng cuộc lúc đầu chỉ là   thiểu số nhưng ngày càng càng đông lên và được bổ sung bởi những người trẻ ra đời sau chiến tranh.

Và họ sẽ gặp gỡ những người mà "hôm qua chỉ có  buồn và hôm nay vẫn còn  buồn" nhưng đã biết tìm nhiều niềm vui trong  suy nghĩ và hành động . Lớp kế cận của nhóm người thứ hai này thì lại càng đông đảo.

 Hai loại người này sẽ có một sự chia sẻ và  phối hợp lâu dài vì tương lai của một Việt Nam thống nhất thực sự -- dù ngày ấy  không phải là gần lắm nhưng chắc phải tới.

***

 Ghi chú dành cho các bạn thích "nhiễu sự văn chương"

1/về những những tình thế nước đôi, tôi thường nhớ lại câu thơ của Hoàng Trung Thông viết ở Vĩnh Linh

 Trời hôm nay vừa mưa vừa nắng

 Mây hôm nay vừa trắng vừa đen

Biển hôm nay người trong vườn đục

 Nước hôm nay vừa lặng vừa yên

2/Về sự đắp đổi biện chứng của tình cảm thì không gì bằng câu thơ của Tế Hanh viết trong "Bài thơ tình ở Hàng Châu"

Những ngày buồn nghĩ lại thấy vui vui

 Những ngày vui thấy nghĩ lại thấy ngùi ngùi

 Còn một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam  thì bảo

 "trong cái được có cái mất,

trong cái vui có cái buồn,

trong cái vô vọng có cái hy vọng",

Nói về nghệ thuật diễn viên, bà  cho rằng các bạn trẻ phải lo diễn thế thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.

Nhưng theo tôi câu này cũng đúng trong nhiều trường hợp khác


CHUNG QUANH  VIỆC ĐÀO TAO TRÀN LAN CÁC TIẾN SĨ RỞM

Ngày 8 tháng 5 năm 2020

 Ngoài trách nhiệm của  bộ máy quản lý,  tôi muốn nhìn thêm phần trách nhiệm của những người thày, các giáo  sư hàng đầu ở các ngành và cũng giới hạn sự xem xét ở khía cạnh đạo đức. Sau đây, là một bài viết từ đầu những năm 2000

CÓ PHẢI LÀ THẤT ĐỨC?

     Xã hội hiện đại là cả một guồng máy khổng lồ nó cuốn người ta đi và sự thực là nhiều khi chưa biết rõ việc làm của mình có ý nghĩa gì, nhiều người đã phải lao vào hành động để đáp lại sự đòi hỏi của hoàn cảnh cũng như để tạo nên những bước đi thích ứng với các đồng loại.

     Đến khi có dịp nhìn lại những lần "nhắm mắt đưa chân" kiểu ấy, người ta không khỏi bỡ ngỡ, như là ai khác chứ không phải mình đã làm việc này việc nọ.

     Song thì giờ dành cho phản tỉnh đâu có nhiều?

     Thế là các kịch bản cũ lại được tiếp diễn, kể cả các bi kịch.

     Và tôi ngờ rằng dù đã tỉnh táo đến đâu, nhiều khi chúng ta vẫn không hình dung hết quy mô của tấn bi kịch mà chúng ta đã thể nghiệm.

      Từ đây, lại dễ sinh ra thói xuê xoa, lấp liếm, thái độ lảng tránh sự thực, tức là cái bi kịch về sau thường đá thêm một chút sắc thái hài kịch.

      Dưới đây, tôi thử nêu lên một bi kịch nhỏ, mà một số người quen của tôi đã và đang trải qua.Tôi thành thật tin rằng các nhân vật của bi kịch không phải không nhìn thấy tình thế của mình.

    Có điều, nói như A.Camus, khi đã xuống thuyền rồi người ta không thể quay trở lại được nữa.

      Ấy là câu chuyện về một công việc đáng lẽ rất sang trọng. Việc một số giáo sư tham gia đào tạo lớp người kế tục, các phó tiến sĩ (nay đã đổi là tiến sĩ).

     Từ nhiều năm nay, anh Ng. tôi quen thường xuyên phải làm việc đó, bởi trong chuyên ngành nghiên cứu văn học, anh thuộc loại đầu đàn. Thời gian đầu, mỗi khi gặp nhau anh rất hay đả động tới chuyện này. Luôn luôn anh nhăn nhó và kể với tôi là các ông bà phó tiến sĩ tương lai ấy buồn cười lắm. Việc học ở ta, từ lớp dưới, vốn đã rất yếu nên sau mười mấy năm mài đũng quần trên ghế nhà trường, mang tiếng là đã xong đại học mà nhiều khi các học giả  tương lai đó "chẳng hiểu nếp tẻ gì cả" (trong ngôn ngữ hàng ngày, Ng. thường thích lối nói thậm xưng một chút như vậy).

     Nhưng có lẽ do sự nhạy cảm đặc biệt trước nhu cầu thời đại, phần lớn họ lại rất sính bằng cấp, có thể nói là muốn đạt tới bằng cấp bằng mọi giá.

     Thế là hình thành nên một nhu cầu mà những người như Ng. phải lấp đầy.

     Song làm mà vẫn ngại, vừa làm vừa chán chường.

      "Nhiều khi phải tự nhủ là mình đang làm những việc chả dây dưa gì đến văn chương thì mới dám tiếp tục" - anh Ng. có lần tâm sự.

     Nhiều năm đã trôi qua, mọi chuyện hầu như không có gì thay đổi nếu không muốn nói cứ đuối dần đi nữa. Tôi hiểu như vậy, khi thấy dạo này Ng. ít nói tới chuyện đào tạo.

     Trong hoàn cảnh của một người đã đến tuổi về hưu sắp lo làm sổ, anh chỉ còn mải miết tính nốt những việc đang dở dang và đáng lẽ nên để cho anh yên thì phải hơn.

     Thế nhưng trong cuộc đời này, ai dám bảo đảm là đã vắt kiệt cái máu Đông Ki-sốt trong người?

     Không hiểu ma đưa lối, quỷ đưa đường thế nào, chính tôi lại có lần máy mồm trở lại hỏi han về cái chuyện đào tạo của Ng:

- Thế sao anh vẫn tiếp tục nhận hướng dẫn?

- Đây là việc nhà trường giao cho, từ chối sao tiện? Hàng năm từ trên bộ đã có chỉ tiêu là phải đào tạo từng này từng kia người.

- ...

- Với lại không mình hướng dẫn thì người khác hướng dẫn. Guồng máy chung nó chạy theo hướng  của nó, mình có đi ngược lại cũng vô ích.

    Đến chỗ này thì tôi hiểu. Và tôi chợt nhớ ra những lời đồn đại của mọi người chung quanh về khía cạnh chính của vấn đề.

    Là không vất vả như luyện thi, nhưng công tác đào tạo trên đại học bây giờ cũng vớ bẫm lắm, càng học trò ở các tỉnh xa hoặc loại kém cỏi không biết gì càng nộp những phong bì nặng cho thầy.

    Không ai công bố con số cụ thể bao nhiêu, song người ta vẫn nói giăng giăng với nhau cả chỗ riêng tư lẫn chỗ đông người như vậy.

    Chẳng cần tinh ý gì lắm cũng có thể nhận ra sự thay đổi rõ rệt của Ng.

    Từ chỗ chê ỉ chê eo, anh đã hồn nhiên nhập cuộc.

     Bao nhiêu tài năng và nghị lực vốn có được anh đem dồn tất cả cho cái mục đích cụ thể mà người ta đã cột anh vào.

    Anh mang lại cho nó những ý nghĩa bất ngờ. Anh say sưa. Anh mê mải.

    Giờ đây có ai đó trong đám bạn bè tâm huyết lảng vảng định nói tới những bất cập trong công tác hướng dẫn luận án, anh không bắt lời nữa. Khi nói xa khi nói gần, anh gợi cho người ta cảm tưởng đây là chuyện mâm cơm nhà anh, và thiên hạ sẽ bất lịch sự, nếu cứ nhìn vào đó một cách soi mói.

    Không phải chỉ riêng anh Ng. của tôi rơi vào tình thế nói trên. Mà ở ngành nào, người ta cũng nghe những lời than thở và cách xử lý tương tự. Bởi vậy, tôi muốn được phép bàn rộng ra một chút.

     Các cụ xưa có hai tiếng "thất đức" để chỉ những việc làm để lại di hại cho nhiều đời sau.

     Giá bây giờ tôi bảo với những người như anh Ng. rằng công việc các anh làm có thể phải gọi là thất đức, lập tức sẽ có nhiều lý lẽ phản đối.

     Các anh là những giáo sư giỏi. Các anh chỉ đi dạy học, lo truyền thụ kiến thức cho người khác. Xưa nay, ở xứ ta, nghề dạy học cũng như nghề làm thuốc bao giờ cũng được trọng vì người làm nghề chỉ lo trồng cây đức cho thêm tốt tươi, chứ sao gọi là thất đức được?

     Nhưng thử nghĩ, dưới tay anh Ng. - "mang nhãn hiệu của anh Ng." - bên cạnh những cán bộ khoa học tạm được, cũng đã có bao nhiêu tiến sĩ rởm. Mà càng những người kém chuyên môn càng giỏi xoay xỏa, leo trèo. Sau khi có bằng cấp, một số trong họ sẽ đóng những vai trò trọng yếu trong nghiên cứu khoa học và đào tạo các lớp người sau. Nói cách khác, lớp người có bằng cấp rởm sẽ đông lên theo cấp số nhân.

     Mà truy tìm cú hích đầu tiên, vẫn phải gọi tên của Ng. và những đồng sự của anh. Tôi chưa hẳn yên tâm khi dùng chữ thất đức, nhưng chưa tìm ra chữ khác đích đáng hơn.

Đã in trong  "Nhân nào quả ấy", 2004

  Nhã Nam đang tái bản 


 ĐẸP ĐẤY MÀ CŨNG XẤU ĐẤY

Ngày 9 tháng 5 năm 2020

   Bàn tiếp về sự ăn ở  của dân mình      

   Từ thuở có cầu Chương Dương rồi thành phố mở rộng, cuộc sống  của nhiều làng quê ngoại thành Hà Nội có nhiều thay đổi. Đất  đai có giá. Nhà cửa mọc lên như nấm sau mưa.  Mà thời bây giờ mọi chuyện tiến bộ nhanh lắm, nhà nào mới xây cũng ra dáng hiện đại.

     Gu Pháp đang thịnh hành, người ta mô phỏng rất nhanh những kiểu nhà mà ngày trước tôi chỉ thấy ở mấy đại lộ Lê Hồng Phong  Trần Phú trên quận  Ba Đình.

    Với mấy vị lão thành và có đi nhiều, bọn tôi nói đùa, nhà trong làng mà  toàn như dinh công sứ  với nhà quan tỉnh trưởng cả.

      Nhưng cái bệnh cũ của dân mình vẫn bộc lộ: đèn nhà ai nhà ấy rạng. Tức là chỉ biết ý thích của mình, không tính toán gì đến quy hoạch chung, càng không cần đếm xỉa đến kiểu dáng nhà hàng xóm, xem nhà mình với nhà họ  hai bên có ăn ý với nhau không. Người ta nói thêm:

-- Bao nhiêu làng khác cũng xây dựng theo lối tuỳ nghi như vậy, có riêng gì làng tôi ?

-- Nhìn rộng ra thành phố, có khi cả khu phố  mới xây, mà vẫn cứ vênh váo, chẳng ra một thứ đường nét nào  cho mạch lạc. Sao anh không đi mà bảo người ta?

     Về chuyện cảnh quan chung thì còn nhiều dẫn chứng khác để nói.

    Sinh thời một người bạn vong niên của tôi là Nguyễn Đình Nghi làm nghề đạo diễn sân khấu.

     Mà đạo diễn là gì ư, đơn giản lắm là người đứng ra phối hợp hoạt động của nhiều bộ phận khác nhau, để hình thành ý định chung.

    Bởi vậy anh Nghi rất nhạy trong việc đánh giá những hoạt động cần tới  sự phối hợp của nhiều người. Chẳng hạn anh thường nửa đùa nửa thật giễu ngành múa: "Đặc điểm của múa Việt Nam  là múa không đều, và khi cần có một hình tròn thì người ta thường có một hình bầu dục".

    Học theo Nguyễn Đình Nghi, tôi cũng muốn bảo đặc điểm của các công trình kiến trúc dân lập hiện nay là tính tự phát, chẳng ai đứng ra phối hợp kiểu dáng, thành thử chỉ có những ngôi nhà đẹp chứ không có những quần thể kiến trúc đẹp,  những khu phố đẹp.  

       Trong một tài liệu nghiên cứu về nông thôn, tôi đọc được nhận xét của một nhà khoa học: cái mà chúng ta mới làm được một phần là lo nước sạch.  Nhưng về lâu về dài, một đời sống gọi là có văn hoá còn phụ thuộc vào câu chuyện xử lý chất thải các loại rác và cống rãnh nói chung (Chính nó cũng quyết định cả chất lượng nước sạch nữa ).

      Nghe cũng thấy phải. Làng xóm  bây giờ nhà gạch san sát, việc  xây cho mình khu phụ riêng để giặt rũ tắm rửa  đã quá phổ cập. Có nhà khu phụ này còn được xây ngay trong nhà, chữ của thời bây giờ gọi là công trình khép kín, có cả vòi hoa sen với xí bệt cẩn thận. Chỉ hiềm không mấy khi thấy ai nói đến  hệ thống cống rãnh nước thải chung cho cả làng.

        Đến một vài nơi gọi là du xuân sau những  ngày hội, cái ấn tượng sau cùng về một vùng đất thường là những đống rác lù lù ở ven bụi tre, hoặc một chỗ khuất nào đó bên đường. Các đống rác thời nay dẽ nhận lắm. Trông xa đã thấy các loại  túi ny lông màu trắng lốm đốm nổi lên trên nền mùn rác đen kịt.

        Lại nói tiếp về chuyện cái  làng quê ngoại thành nơi tôi đang ở. Xưa, nghe kể đường đất trơn như mỡ có anh bộ đội mượn được cái xe đạp  về thăm quê đến đầu làng phải vác xe lên vai cõng nó về đến cửa buồng. Nay thì đường xi măng phẳng lỳ. Có điều  từ hồi bán được đất nhà nào cũng xây dựng. Đường lúc nào cũng lầm lầm mặt cát. Ngày mưa cát  vón lại thành bờ, ngày nắng cát bay mù mịt. Ai cũng có lúc xây, nên không ai bảo được ai. Những đống cát thay nhau đứng lù lù ven đường.

        Ở cửa khẩu Hữu nghị quan, vẫn thường thấy có một vài chiếc xe ô  tô chở hàng mang biển chữ vuông  qua lại phía bên đất Việt Nam. Nhưng, nhiều lần tôi thấy những người lái xe bên kia cẩn thận phun nước rửa sạch lốp trước khi trở về Trung quốc. Hình như đường đất bên mình đất đá bẩn quá, mà luật nước họ không cho phép, cứ để bẩn vậy chắc bị phạt. Bao giờ thì mình làm được như vậy ?

Đã in trong "Nhân nào quả ấy", 2002 


 TẦM VÓC SỰ GIẢ DỐI TRONG CHIẾN TRANH

Ngày 11 tháng 5 năm 2020

 Một đoạn nhớ lại  của Hoàng Hưng đưa trên  Talablog  24-3-09

tôi ghi trong sổ đã lâu nay xin phép tác giả đưa ra mọi người cùng đọc.

****

Nhìn thẳng vào sự thật để ít nhất cũng thôi đi/ giảm thiểu những lời nói dối. Vâng, những lời nói dối có thể có lợi nhất định trong một giai đoạn. Nhưng ngay cả khi đó, nó cũng đã tiêm độc tố vào trái tim khối óc cả người nói lẫn người nghe rồi. Tôi không bao giờ quên một sự cố trong đời mình, sự cố đã khiến tôi dứt khoát rút lui khỏi văn đàn chính thống và bắt đầu con đường “làm thơ chui”, đúng vào lúc đang được o bế như một nhà thơ trẻ nổi lên của “thế hệ chống Mỹ”. Đó là buổi họp các cộng tác viên về Thơ của báo Văn nghệ vào năm 1973. Trước đông đủ thi hữu già trẻ, nhà thơ đầy uy lực Chế Lan Viên một mình lên lớp, “xạc” lớp trẻ về những vụ lộn xộn mới xảy ra như “Vòng trắng vòng đen” (thơ Phạm Tiến Duật), “Cây táo ông Lành” (truyện Hoàng Cát), “Ký sự đêm đợi tàu” (tác giả hình như tên Đỗ Phú?). Tôi không thể quên tư thế trịch thượng (ông đứng nói, một chân gác lên thanh ngang của chiếc ghế tựa) cũng như những lời mà tôi không dám tin ở tai mình. Ông bảo: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!” (nếu các anh cứ lộn xộn như thế). Ông còn khẳng định: “Nếu như trên trời máy bay ta với máy bay địch quần nhau mà máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô lên: ‘máy bay địch rơi’ chứ!” Tất cả im phăng phắc, không ai dám ho he. Và tôi là người duy nhất đứng lên tranh luận với ông. Tôi nói đại ý: Vấn đề là anh có đủ lòng tin để hô lên như thế không đã chứ. Vì nếu chính anh không tin, thì làm sao anh thuyết phục được người đọc tin anh? Sau buổi họp ấy, tôi hoàn toàn tỉnh thức: người ta chỉ coi văn nghệ là những lời tuyên truyên để lôi kéo quần chúng, bất chấp sự thật. Đến một thần tượng của chúng tôi lúc ấy, một nhà thơ có tri thức vào hàng cao nhất mà đã huỵch toẹt ra thế thì… Hỡi ôi! Nhưng tôi phải công nhận, chính những lời nói dối có ý thức mà bộ máy truyên truyền miền Bắc đưa ra đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng trong cuộc chiến 1954-1975. Chính nó đã che giấu thực chất ý thức hệ và phe phái, làm nổi bật yếu tố dân tộc của cuộc chiến mà Thiện Ý coi là nguyên nhân chủ yếu đưa miền Bắc đến chiến thắng. (Sau này chính Chế Lan Viên đã ‘sám hối’ về những câu thơ thúc người lính ra trận trong một số bài “Di cảo” của ông).


TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VN 

ĐÃ TỪNG CÓ NHỮNG Ý KIẾN SÁNG SUỐT

MÀ BỊ LÃNG QUÊN

Ngày 17 tháng 5 năm 2020

     Ghi từ sách  "Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa VN" ( H, 1993) của Đỗ Huy và Trường Lưu

--   Một khuyết tật của truyền thống văn hóa người Việt là các yếu tố trội bị san bằng  và hệ thống văn hóa xã hội không năng động đón đỡ để làm nẩy sinh các yếu tố  mạnh.

 --  Các yếu tố ngoại nhập thường xuyên bị giản lược hóa. Hệ tư tưởng Nho giáo  hay Phật giáo phát triển trong văn hóa VN không phải là những hệ tư tưởng  đầy đủ  như ở nơi nó xuất phát

***

  Trước đó, 1990,  cũng các tác giả này có cuốn "Bản sắc dân tộc của văn hóa"  do Viện văn hóa xuất bản, trong đó  có đoạn viết

-- Trong những năm qua  chủ nghĩa Mác Lê – nin phát triển trong văn hoá VN một cách không bình thường. Một khuynh hướng giáo điều rập khuôn ảnh hưởng rất lớn đến diện mạo của văn hóa VN.

 Chủ nghĩa giáo điều  ở VN đã  mang lại  một tai họa lớn cho văn hóa

 Đời sống văn hóa  … “ ì ạch như chiếc  xe lu khổng lồ  quanh quẩn trên các  cánh đồng  sình lầy”

-    Những người xây dựng nền văn hóa  mới  tuyệt đại bộ phận xuất thân  từ nông dân nghèo  nói chung là văn hóa của họ không thể đại diện cho  tiến bộ văn hóa  của chủ nghĩa xã hội, khi hệ thống chính trị  đưa họ  vào vai trò tổ chức nền văn hóa mới  họ tỏ ra không những không đủ trình độ đưa đất nước tiến lên  mà nhiệt tình của họ lại càng tạo nên động lực cho các nhân tố phản văn hóa xuất hiện 


MỘT SỐ TÁC HẠI  CÓ THỂ CÓ 

CỦA MẠNG INTERNET

Ngày 17 tháng 5 năm 2020

 I/

“Kết quả bầu cử Đài Loan gây sốc cho ĐCSTQ” là tên một bài báo

vốn xuất phát từ “Taiwan People News”

được một số trang mạng tiếng Việt đăng lại ví dụ

 https://visiontimesvn.com/blog/ket-qua-bau-cu-dai-loan-gay-soc-cho-dcstq.html?fbclid=IwAR1LCNhnYHUNysALahKwsqOJCsM_6IDVDkb26bT4GYTOSklxrj2NPd9B63A 

  Thật bất ngờ trong đó

lại có một đoạn giàu chất triết lý như tôi trích và nhấn mạnh dưới đây.

THIẾU HIỂU BIẾT DỄ BIẾN THÀNH TÀ ÁC

Trong tác phẩm “Cái chết của chuyên môn” (The Death of Expertise), chuyên gia chiến lược người Mỹ Tom Nichols đã chỉ ra rằng

mạng internet giúp mọi người dễ dàng CÓ ĐƯỢC THÔNG TIN HƠN, nhưng đáng tiếc KHÔNG GIÚP ĐA SỐ CHÚNG TA SỐNG TRÍ TUỆ HƠN,

trái lại còn khiến người ta càng KIÊU NGẠO, MÙ MỊT VÀ ĐẦN ĐỘN HƠN,

thậm chí còn COI THƯỜNG TÍNH CHUYÊN NGHIỆP VÀ THÙ ĐỊCH CÁC CHUYÊN GIA,

đây là một cuộc khủng hoảng lớn trong xã hội.

Nhà khoa học người Mỹ Isaac Asimov khi nhắc về thực trạng nghiêm trọng này cũng đã có nhận định đại ý rằng,

chứng VÔ TRI NHƯ MỘT DẠNG THỨC TÀ GIÁO đang ngày càng phổ biến tại Mỹ,

PHẢN TRI THỨC đang như một tuyến đường chạy suốt mặt phẳng văn hóa và chính trị,

thậm chí có tư tưởng cổ súy thực trạng này nhân danh tự do dân chủ với QUAN ĐIỂM LỆCH LẠC VỀ TỰ DO DÂN CHỦ cho rằng cái gọi là dân chủ có nghĩa là NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BIẾT GÌ CŨNG CÓ THỂ NGỒI ĐỐI THOẠI NGANG HÀNG VỚI NHỮNG NGƯỜI HỌC VẤN UYÊN BÁC…

Xu hướng này nếu tiếp tục phát triển thì thực trạng kết nối giao tiếp có lý trí giữa người với người trong xã hội sẽ ngày càng khó khăn hơn, LÝ TÍNH sẽ bị thay thế bằng CẢM XÚC,TÌNH CẢM YÊU-GHÉT THIỂN CẬN CÁ NHÂN!

II/

 Một điều bất ngờ nữa là tinh thần của đoạn văn nói trên cũng rất phù hợp với  quan niệm của nhà văn Phạm Thị Hoài - bà đã nói điều này trong đoạn cuối bài trả lời phỏng vấn nhân ngày 30 tháng 4 vừa qua trên tờ Diễn đàn thế kỷ

***

Diễn đàn Thế kỷ: Theo chị, gia tài văn hóa nghệ thuật 20 năm đó của miền Nam có đóng vai trò gì trong lịch sử tinh thần của dân tộc Việt Nam?

Phạm Thị Hoài: 451 độ F là câu chuyện nổi tiếng nhất về đốt sách, xóa sạch dấu vết của tư tưởng và nghệ thuật, những thứ nguy hiểm hoặc vô dụng đối với một xã hội không cần động não vì tất cả đã có chính quyền lo hết, dân chúng chỉ việc sinh sống và xem TV.

Trớ trêu là tác phẩm này chính thức được xuất bản bằng tiếng Việt từ mấy năm trước, không hề bị truy bức như trường hợp Chuyện ở nông trại (Animal Farm), song rơi tõm vào sự thờ ơ của độc giả Việt Nam, tức cũng ít nhiều chung số phận của những cuốn sách bị đốt mà nó miêu tả.

Tác giả Ray Bradbury lập ngôn bằng viễn kiến, nhưng chắc chắn không tính đến viễn cảnh về ngày mình bị ra rìa trong một xã hội như Việt Nam hiện tại, không phải vì bị ngăn cấm mà đơn giản bị đào thải.

 Bây giờ chính quyền có thể vững tin rằng dân chúng chẳng buồn quan tâm đến những thứ rách việc và vô bổ như văn chương nghệ thuật, kiểm duyệt làm gì cho mệt mà có thể còn gây hiệu ứng ngược.

Tôi e rằng, ngay cả hiệu ứng ngược cũng đã tắt ngóm.

 Những năm gần đây, một số tác phẩm của các tác giả miền Nam trước 1975 đã được xuất bản trở lại, song trong môi trường văn hóa hiện tại, với cuốn sách vĩ đại duy nhất là Facebook của 60 triệu tác giả đồng độc giả tiếng Việt, mọi thành tựu văn học bất kể miền Bắc, miền Nam hay thế giới đều vô nghĩa.

 Dĩ nhiên đó là trên bề mặt rộng.

Ở sâu bên dưới, các chuyển động tinh thần như nước ngầm, thấm vào những tầng và tụ về những phương mà mắt thường không xuyên tới.

Trong văn giới, trước hết ở các tác giả ngoài luồng, hai mươi năm văn học miền Nam ít nhất đã để lại cảm hứng tự do và những phong cách đa dạng. Đời sau sẽ khai quật những báu vật ấy để bảo tàng hay chỉ bận đi tìm những mỏ vàng; lịch sử tinh thần của dân tộc này sẽ thăng trầm hay sẽ phẳng lì; và chúng ta sẽ làm gì với gia tài văn hóa của mình, tôi hoàn toàn không biết.

Nhưng tôi dự cảm, rằng với công cuộc phây hóa ngày càng thắng lợi như hiện nay, người Việt sẽ quẳng mọi gánh nặng văn học nghệ thuật đi để vui sống.


  

  BÀN TIẾP VỀ ĐIÊN LOẠN

Ngày 21 tháng 5 năm 2020

Tình trạng điên dại thường đến với con người trong những thời kỳ xã hội có những biến chuyển quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của họ.

"Về nhà" là  bộ phim được Trung quốc giới thiệu  tại liên hoan Cannes 2014 gây  được xúc động mạnh không phải vì sự góp mặt của bộ đôi Trương Nghệ Mưu Củng Lợi mà còn vì cách đặt vấn đề của phim về tác động của lịch sử đối với con người.

 Nội dung phim lấy bối cảnh của thời mười năm động loạn 1966-1976 ...

Nhà trí thức Lục Yên Thức  là một tù chính trị được thả ra sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa, nhưng khi trở về nhà, người vợ không nhận ra chồng nữa vì bà bị mất trí nhớ.

Nguyên do như sau:  một ngày nọ, Yên Thức trốn trại và nhắn với vợ hẹn gặp nhau ngày 5 (nhưng lại không nói rõ là tháng nào !) ở ga xe lửa.

Hai người chưa kịp gặp nhau thì Yên Thức bị bắt lại, do bị chính con gái -- vì ham lập công với tổ chức  -- tố giác.

Từ ngày đó, ký ức của người vợ như bị khựng lại ở thời điểm của cuộc gặp không thành.

Từ khi được thả về, Yên Thức cùng với con gái đã tìm đủ mọi cách để giúp cho bà nhận ra chồng trở lại, lúc thì giả vờ đi xe lửa về để bà ra đón, khi thì giả làm « đồng chí » hàng xóm đọc cho bà nghe những bức thư mà ông viết trong tù nhưng chưa kịp gởi, thậm chí đọc những thư mà ông mới bịa ra thêm.

Có lúc tưởng chừng bà đã nhận ra chồng khi ông lẻn vào nhà ngồi đàn những giai điệu quen thuộc trên chiếc piano cũ kỹ.

Nhưng mọi công sức của hai cha con đều vô ích. Bà mẹ vẫn xem người chồng yêu dấu như kẻ xa lạ.

Cho đến nhiều năm sau, khi đã tuổi già sức yếu, cứ đến ngày 5 mỗi tháng, bà đều ra ga xe lửa để đón chồng, và người đưa bà ra ga chính là chồng và đứa con gái. Bộ phim kết thúc với cảnh ba người đứng trong tuyết lạnh bất động chờ đợi, với tấm bảng trước ngực ghi tên Lục Yên Thức.

Tôi đã thử thuật lại câu chuyện theo báo chí nước ngoài.

Một ý  toát lên từ phim: bên cạnh tình trạng điên "tích cực", kèm với phá phách, cần lưu ý tới tình trạng điên ở dạng âm tính, nó làm cho người ta dở sống dở chết, không còn là người bình thường nữa.

Những người tốt thường điên theo kiểu này.

 Ở thời điểm của những đảo lộn xã hội bất ngờ, cùng với sự phát triển của tình trạng điên thì những tiêu chuẩn để người ta gọi nhau là điên ngày càng được giảm thiểu.

Người ta dễ chấp nhận nhau, bỏ qua cho nhau.

Ở đâu cũng vậy mà ở nước VN sau chiến tranh càng vậy.

 Bấy giờ những người còn dám gọi  căn bệnh mọi người đang  mắc " theo đúng cái tên của nó" không chừng lại bị gán cho cái nhãn điên thực thụ.

GIẢ ĐIÊN

Không phải "Bên kia bờ ảo vọng" hay "Những thiên đường mù" mà theo tôi chính "Tiểu thuyêt vô đề" mới là thiên truyện đáng nhắc nhở nhất của Dương Thu Hương.

Tác phẩm kể về muôn vàn tình cảnh khác nhau đã đến với người lính miền Bắc trong những năm sống ở trong rừng.

Mà đầu mối câu chuyện thì là chuyến đi  của một cán bộ quân đội, anh ta phải đi ngược từ tiền tuyến ra hậu phương.

 Cấp trên giao anh ta nhiệm vụ áp tải một người đồng hương của mình về quê.

 Để có cái hạnh phúc hiếm hoi đó, người này đã giả điên.

Một vài câu hỏi có thể đặt ra:

--Hàng thật phải xuất hiện như thế nào thì mới xui người ta làm hàng giả?

--Hẳn số người thành công khi làm hàng giả như nhân vật trong truyện không bao nhiêu so với số đã thất bại?

--Có bao giờ có người ban đầu giả điên, về sau lại điên thực?

...

Tôi tin rằng còn phải tiếp tục tìm hiểu nhiều về bệnh điên cả trong thời chiến lẫn thời hậu chiến ở ta 40 năm qua. Chừng nào bệnh điên được đặt đúng tầm vóc của nó mới có cơ may để hy vọng rằng dần dần ta sẽ hết điên. 


 RÁC VỚI CHÚNG TA

Ngày 25 tháng 5 năm 2020

Tôi đang  chuẩn bị một bài viết mới có liên quan đến rác. Bài viết  mang tên  PHÁC THẢO MỘT "LUẬN ÁN" VỀ RÁC sẽ đưa vào ngày mai. Nhưng trước hết mời các bạn đọc lại một bài cũ của tôi đã đưa trên FB này ngày 31-5-2015, tức một năm trước.

CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN LÀ GỒM CẢ HOA LẪN RÁC

Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết, báo chí đã kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác. Chẳng hạn năm nào cũng vậy, khoảng từ rằm tháng giêng trở đi, một trong những dấu hiệu cho thấy những ngày tết nguyên đán chỉ vừa mới qua, là nhìn vào nhiều góc phố thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu đất bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy bên đường,chờ xe rác đến hót.

Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi ( mới qua đời đầu năm 2001 ) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông là hoa và rác.

Theo nghĩa này, tết nhất chính là một trong những thời điểm chính hoa trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa nó nói với chúng ta một vài điều mà lâu nay ta không để ý.

Rác -- chất thải nói chung ---vốn là một cái gì rất phiền phức với nghiã nó là một bộ phận của cuộc sống, tách nó ra khỏi cái hữu ích đôi khi rất khó.

Có một thời gian nó đã trợ giúp anh trong đời sống, nó bạn bàu với anh, nó là niềm vui của anh.

Cho nên chia tay với nó lôi thôi lắm. Lưu luyến. Ái ngại.

Song việc đời là thế, cái gì cũng có niên có hạn của nó, cái gì rồi cũng có thể trở thành rác cả.

Thuốc quá đát dùng còn có hại, một số loại hoa đến kỳ héo còn bốc mùi khó chịu và gợi bực mình, ai giữ trong nhà mãi được?

Nay là thời các thứ bao bì được làm rất đẹp, một hộp bánh mua về ăn hết rồi, dân Hà Nội nhiều người già cỡ tuổi tôi trở lên thường vẫn nhìn cái hộp với sự nuối tiếc, cố nghĩ ra lý do để giữ nó lại.

Nhưng cái gì cũng giữ -- lọ đựng mấy viên thuốc cũng giữ, vỏ chai ruợu cũng giữ, hộp xốp đựng cái nồi cơm điện cái quạt cũng giữ --, thì nhà thành cái kho rồi còn gì, mà kho nào đựng hết ?

Phải tự lên dây cót một lúc như thế rồi mới cả quyết quăng mấy thứ chai hộp ấy ra rác. Hoặc các loại báo tết, tờ nào giấy cũng trắng bìa cũng đẹp nhiều bài vở công phu nhiều nơi anh em biên tập mai phục cả năm chuẩn bị bài, nay đem bán cân cứ thấy dùng dằng. Hoặc những quyển từ điển nó là vật tuỳ thân của mình, mua được những cuốn mới biên soạn tốt hơn mà đứng trước quyển cũ cũng phải nhấc lên bỏ xuống dăm bảy lần mới dám thay thế.

RỒI CẢ NHỮNG CON NGƯỜI NỮA, NGƯỜI HÔM QUA RẤT ĐƯỢC VIỆC NHƯNG HÔM NAY QUÁ LỨA NHỠ THÌ, LÀ RÁC CHỨ GÌ ?

THƯƠNG NHAU DÙNG TIẾP TAI VẠ NHƯ CHƠI. KHÁC CHI GIỮ RÁC TRONG NHÀ CHỈ TỔ LƯU CỮU Ổ BỆNH!

Nói thế nghe tàn nhẫn quá.

Nhưng đứng lùi ra mà nhìn, vì quyền lợi tương lai mà nhìn, làm sao khác được.

HÀNG TỒN KHO đã lắm, người ta lại còn hay viện cớ đóng góp hôm qua để đòi xử lý cho được cả tình lẫn lý.

Cứ vẩn vơ mãi với khúc Người ơi người ở đừng về.

Thay thì thấy áy náy, mà để nguyên thì hỏng việc.

Ác một nỗi, người lại không ghi thời gian sử dụng như thuốc và không phải bao giờ cũng héo hon trông thấy như hoa, sự tình nghĩa khiến cả họ cả làng sống chung với loại di luỵ này hàng ngày mà không biết làm thế nào cho phải.

Trở lại chuyện rác theo nghĩa đen của nó.

Người ta hình như không hay nghĩ nhiều về rác. Có cái gì thừa vứt ra đường cho xong. Khi riêng mình phải chịu đựng thì nó là rác, vứt ra đường thiên hạ chịu chung thì nó không là gì cả.

Vậy đó, trong thái độ của một con người đối với rác bộc lộ đủ thứ:

+ quan niệm của anh về sự vận động, sự đào thải của cuộc sống ;

+ mức độ trưởng thành của anh về mặt ý thức (anh đã biết sống chung với xã hội chưa hay là mới chỉ biết lo cho bản thân mình và gia đình mình ?) ;

+ thái độ của anh với cuộc sống ( anh vốn thực sự chi chút nâng niu nó và đòi hỏi cao về nó, hay thế nào cũng xong kiểu gì cũng được?).

Nói tóm lại thái độ một con người đối với rác biểu lộ một phần trình độ sống của người đó.

Lúc rỗi ngồi nghĩ viển vông-- giá như có dịp được đi nước ngoài một cách nhẩn nha, sẽ để công nghiên cứu cái cách của mỗi nước đối với rác thải.

Nghe tin là ở Nhật có loại máy gọn nhỏ chuyên chế biến rác cho từng gia đình. Giá kể không đắt quá, có lẽ nên khuyến khích để mỗi gia đình mua một cái.

.... Thôi lan man kiểu này thì không biết đến đâu là cùng. Ai đó từng nói đùa về rác ở một lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi “. Câu nói pha chút thậm xưng nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở hội lẫn người thích đi các loại hội hè.

Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp và sung sướng đặt nó vào lọ thì cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà ! “.

Cuộc sống đòi hỏi chúng ta ghi nhớ cái điều có vẻ khinh bạc đó, nhất là cuộc sống hiện đại.

Đã in trong "Nhân nào quả ấy", 2004

 Nhã Nam đang tái bản


CUỘC SỐNG VÔ NGHĨA CHÍNH LÀ NGUỒN GỐC CỦA MỌI TỘI LỖI

Ngày 27 tháng 5 năm 2020

Theo một con số thống kê sơ bộ thì 70% dân nghiện ma tuý ở độ tuổi mới 25. Dưới đây chúng tôi thử đưa ra một cách giải thích cái hiện tượng nguy hại đó dưới góc độ văn hoá - đạo đức.

Khi một thanh niên vào con đường nghiện ngập tức anh ta đang tự huỷ hoại thân xác. Trước mắt mọi người anh ta là hiện thân của một kẻ bạc nhược mất hết ý chí. Một sự suy đồi về tính cách chính thức bắt đầu. Đúng ra phải gọi là một cái chết đến sớm.

Tại sao ai cũng biết vậy, mà trong xã hội, tệ nạn ấy ngày một phát triển và không biết bao giờ mới có thể triệt bỏ?

Khi nêu câu hỏi này với một số người, tôi thường được nghe những câu trả lời đại khái:

-Tại nhà trường xã hội buông lỏng giáo dục

- Tại các cửa khẩu bị lũng đoạn để hàng lậu nhập vào.

- Ôi giời, vốn một mà lãi trăm lãi ngàn! Ông bà nào muốn hốt bạc của thiên hạ thật nhanh thì chỉ có cách đi vào con đường buôn bán cái thứ hàng đó.

Nhưng tôi cho rằng bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, ở đây còn có nguyên nhân chủ quan, tức bản thân “cơ địa”, cái đời sống tâm lý của một số thanh niên hiện nay, nó đang là mảnh đất lý tưởng để sự hư hỏng hoành hành.

Và đây có lẽ là một ví dụ rõ nhất chứng minh cho cái điều  đơn giản  -- các hiện tượng tiêu cực bao giờ cũng có căn nguyên văn hoá - đạo đức sâu xa của chúng.

NUÔNG CHIỀU QUÁ MỨC

Tội lỗi nhiều khi chỉ bắt đầu từ một phút yếu lòng, một sự buông thả. Tệ hút xách cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhiều nạn nhân đã đến với tử thần do chỗ a dua với bạn bè, nhẹ dạ ham chơi ham của lạ, và khi biết mình “tay đã nhúng chàm” thì không rút ra nổi.

Có vẻ như trong trường hợp này, các đương sự đáng được giảm nhẹ tội lỗi: Cái lối sống bầy đàn theo đuôi nhau, cái bệnh học đòi đua đả nhau, thanh niên thời nào chẳng có?

Nhưng khi để cho một bộ phận thanh thiếu niên trở nên ẽo uột và dễ bị lôi kéo như vậy, thì trách nhiệm của những người lớn tuổi lại nặng nề hơn bao giờ hết.

Ở đây có những thói quen, thoạt nhìn vô can, song lại tai hại vô kể. Nhiều người chúng ta, lớn lên trong những hoàn cảnh cơ cực, khi đã khá giả hơn một chút, thương thân mình rồi thương lây sang con, thường muốn cho con ăn tiêu thật thoải mái.

Không ai cho là có lỗi khi trót nuông chiều trẻ quá mức.

Trong nhiều gia đình, lớp trẻ chỉ biết có quyền lợi mà không biết đến trách nhiệm.

Các trường học bây giờ lại có lối cho điểm học trò thật cao để lấy thành tích. Trong sự dễ dãi với nhau, ta càng dễ hơn với trẻ. Và trẻ cứ thế nghênh ngang vào đời với sự tự tin chúng là những ông tướng.

Trong khi kêu trời với nhau rằng thanh thiếu niên giờ đây nhiều em ích kỷ, ham hưởng thụ, dửng dưng với việc đời, với cái hay cái dở... nhiều người quên rằng chính mình đã góp phần nhào nặn nên những tính cách đó. Giá kể như chúng ta sớm biết đề ra những yêu cầu cao với trẻ, biết dạy dỗ chúng trở nên những con người nhạy cảm, có lòng vị tha, có nghị lực theo đuổi mục đích cao đẹp... thì đâu đến nỗi!

 LÀM MẤT SỨC ĐỀ KHÁNG

Theo như cách nói của y học, cơ thể nào cũng có sức tự đề kháng. Trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, cơ thể huy động mọi bản năng để tự vệ, tức để duy trì sự sống.

Thành thử đòn đánh mạnh nhất đối với một cơ thể là đánh vào khả năng tự đề kháng này.

Bấy giờ cơ thể trở nên vô cùng yếu ớt, mọi sự thuốc thang chạy chữa chỉ còn rất ít ý nghĩa.

Đối với sức khoẻ tinh thần, tình hình cũng có nhiều phần tương tự. Khả năng tự đề kháng nói ở đây là sự phân biệt hay dở xấu tốt và lòng tin rằng người ta cần phải tốt và có thể tốt.

Thiếu đi lòng tin ấy, con người ta sẽ mất hết khả năng tự kiềm chế và tự phấn đấu, sẽ sống buông thả, tuỳ tiện, rồi rơi vào tội lỗi lúc nào không biết.

Tiếc thay, cách cư xử của người lớn trong một số gia đình hiện nay khiến con cái họ cứ ngấm dần căn bệnh quái ác kia. Tức là một số thanh niên đang mất dần sức đề kháng trước sự cám dỗ của thói xấu, không còn khả năng chống đỡ.

THƯỜNG TRỰC BÀY RA NHỮNG TẤM GƯƠNG XẤU

Như các nhà nghiên cứu giáo dục vẫn nhận xét, thanh thiếu niên thường rất ngại phải nghe những lời giáo huấn từ phía người lớn, nhưng lại thường xuyên quan sát xem người lớn sống ra sao để rồi tìm ra kết luận cần thiết cho việc xử thế.

Vậy thì làm sao chúng có thể ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành khi biết rằng bố mẹ chúng chỉ phất lên nhờ khéo léo luồn lọt và giờ đây đang tìm cách tô điểm cho bản thân bằng mấy tấm bằng rởm?

    Việc nhà nước giao chỉ làm cầm chừng, cái gì có lợi riêng mới sốt sắng thúc đẩy.

    Giữa các đồng nghiệp nếu không móc ngoặc được với nhau thì đấu đá kèn cựa.

Dửng dưng trước mọi lời chê trách.

    Vào cửa nào cũng tính chuyện lót tay, chạy chọt, và quả thật “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng tiền đã thành một thứ dầu mỡ bôi trơn mọi mối quan hệ...

...

Đó là những thói xấu hiện thời đang khá phổ biến trong xã hội, và khó lòng nói rằng chúng không ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của lớp trẻ. Cộng với những kém cỏi của nhà trường (cổ lỗ trong kiến thức và phương pháp giảng dạy; nghèo nàn trong quan niệm về đào tạo; và rồi cũng làm ăn, mua bài, xin điểm, bán bằng cấp...), có thể nói bao nhiêu yếu tố tiêu cực mà hàng ngày mọi người quan sát thấy ở mình và mọi người, và một phần được nói lên trên báo chí, đã làm cho tâm hồn một số thanh thiếu niên trở nên cằn cỗi.

Chúng dễ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Những khái niệm mà xã hội cho là đúng đắn đối với chúng trở thành giả dối.

 Thậm chí có những em không thiết sống. Tôi nhớ có lần được nghe kể: một thanh niên vừa đến tuổi trưởng thành thì phạm tội, bị án tử hình. Có mấy cô mấy bác có mặt ở phiên toà, thương tình, bảo cháu xin giảm án. Có dịp giáp mặt với cái chết, người thanh niên gạt nước mắt nói ra cái điều có lẽ là nghiêm chỉnh nhất trong đời mình:

- Cháu xin giảm án để làm gì ? Ở nhà bố mẹ không thương xót cháu; đi học nhà trường bất công; học không có chỗ, học xong không có việc làm - cháu sống để cùng kéo dài cái kiếp dài rạc như các cô các bác hay sao?

Những kẻ đã chết một phần tâm hồn thường dành cho mình quyền làm bất cứ việc gì chúng thích, không biết đến lương tâm, càng không biết đến pháp luật. Và trước mắt, đám trẻ này chỉ thèm hưởng thụ. Còn có môi trường lý tưởng nào với chúng, hơn cảnh nghiện hút?

KHÔNG PHẢI HÔM NAY TRẺ MỚI HƯ HỎNG.

NHƯNG CHƯA CÓ THỜI NÀO TRẺ HƯ NHƯ THỜI NAY

Trong nếp sinh hoạt cũ của ông cha ta, ngoài nhiều đức tính tốt cũng đầy rẫy nếp sống tiêu cực.

Cả "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính lẫn "Việt Nam văn hoá sử cương" của Đào Duy Anh đều có một chương riêng nói về cuộc tiêu khiển, trong đó có mục phiện phò hút xách, và nói rõ cái hại của tục này.

Trần Trọng Kim trong "Việt Nam sử lược" cũng nói người mình phải cái thích chơi bời, mê cờ bạc. Ca dao ghi lại trình tự làm ăn sinh hoạt các tháng trong năm, mở đầu bằng hai câu:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

Xưa ta hay bảo đó là nếp sống suy đồi của bọn thống trị. Nhưng giai cấp thống trị cũng là một bộ phận của dân tộc. Vả chăng, thói xấu chẳng chừa một ai, càng những con người cùng cực khi đã trở nên lưu manh càng trở nên bất cần, liều lĩnh.

  Vậy là xét về bề nào cũng thấy nạn nghiện hút - VÀ NÓI CHUNG LÀ MỌI THÓI XẤU -- trong lớp trẻ hiện nay có những căn nguyên sâu xa trong cách sống của chúng ta, thậm chí cả trong đạo lý cũng như truyền thống văn hoá. Chừng nào mà những căn nguyên đó chưa được làm rõ và thay đổi, thì những mầm mống bệnh tật còn có cơ nảy nở. Trị đám buôn bán thứ hàng độc hại ấy là rất cần. Song duy trì được đời sống tinh thần lành mạnh để những tệ nạn ấy không có đất mà phát triển - cái đó mới thật là việc cơ bản phải lo. Bởi đây là công việc có ý nghĩa văn hoá, nên giới văn hoá phải có mặt.   

Đã in trong tập "Nhân nào quả ấy" 2002

dưới nhan đề "Lòng tin và khả năng tự đề kháng" 


TRONG CHUYỆN NÀY THÌ AI CŨNG CÓ NHỮNG KỶ NIỆM CỦA MÌNH

Ngày 31 tháng 5 năm 2020

Ngày 22-5-2020, tôi đọc bài viết sau đây trên FB của tác giả Bùi Văn Phú tự nhiên trong lòng nẩy ra ý muốn là cũng viết về lứa tuổi của mình trong chiến tranh, những bạn bè cùng lớp cùng trường những người đã chết và người còn sống.

Một ham muốn nữa còn mãnh liệt hơn, cùng lúc đã đến với tôi, là muốn viết một cái gì về miền Nam giống như anh Phú viết về miền Bắc. Ham muốn đó nảy sinh khi đọc  phần sau bài viết của anh Phú ở đó tác giả kể về những chuyến trở lại thăm Hà Nội Nam Định, thật giản dị mà cũng hàm chứa bao ý tưởng…Sau 30 tháng 04 1975 nghĩa là kéo dài hơn bốn chục năm nay tôi cũng như nhiều bạn miền Bắc có những chuyến vào Nam và tiếp xúc với người miền Nam  và chúng tôi cũng có những chuyện chưa nói với ai cả , bây giờ đọc anh Phú tự nhiên muốn nói.

 Chính là nhờ vào miền Nam và sự tiếp xúc đa dạng với  đồng bào miền Nam chúng tôi hiểu thêm về chính mình, hiểu thêm về quá khứ cộng đồng, chủ đề này đến nay cũng mới được rất ít người đả động tới và số người biết nói chân thành và cảm động như anh Phú càng ít.

Xin phép tác giả Bùi Văn Phú cho tôi  giới thiệu lại bài viết  dưới đây để các bạn bè khác có quan tâm tới những vấn đề này cùng đọc

30/4 QUÊ HƯƠNG THỐNG NHẤT HOÀ BÌNH RỒI SAO

Bùi Văn Phú

*****

Tôi sinh ra trong miền Nam, sau ngày thày u tôi di cư vào Nam năm 1954.

Ngày còn bé chưa biết chiến tranh là gì. Đến năm 10 tuổi thấy đám tang ông chú họ với quan tài phủ cờ, nến lung linh, nghe nhiều tiếng khóc lóc thảm thương sao buồn quá.

Chú Viêm là sĩ quan Dù, chết trận ở Đồng Xoài. Thày tôi và bố chú đi nhận xác ở Tổng Y viện Cộng hoà. Nghe thày kể khi đi phải mang theo tỏi để lúc vào nhà xác đưa lên mũi khử mùi hôi. Nhiều xác chết, không biết chú nằm ở đâu, bố chú khấn nguyện “Con ơi! Nếu con chết thiêng thì ra dấu cho bố biết để nhận con”. Một xác người động đậy và đó là chú.

Đám tang của chú là cái chết đầu tiên từ chiến trường tôi biết, là đám tang lính tôi theo thày u đi lễ tang.

Chiến tranh kéo dài. Nhiều người thân quen tử trận, theo phong tục tập quán là thân bằng quyến thuộc tụ họp cùng tang gia đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người mới qua đời.

Chú Thuận, chú An cỡ tuổi thày tôi tử trận. U tôi lo lắm vì sợ thày bị thuyên chuyển ra đơn vị tác chiến.

Mậu Thân 1968 kinh hoàng rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 chiến trường sôi động, xóm ngõ có đêm văng vẳng tiếng khóc than từ người mẹ, từ các em của các anh đã bỏ mình vì nước: anh Trịnh Xuân Tác, anh Đinh Văn Vũ. Chú Nguyễn Văn Tuynh mất tích.

Đến lớp tuổi của mình. Tử trận sớm nhất là Nguyễn Đức Tuyển bạn học cùng trường Thánh Tâm khi chưa được đôi mươi. Rồi Trần Văn Doanh học chung ở trường cụ giáo Đồng.

Phạm Văn Thông là bạn học cũng từ trường Thánh Tâm. Thông thích làm thơ, viết văn và đã có nhiều bài đăng trên trang Mai Bê Bi của báo Chính Luận, với bút hiệu Mai Thông. Thông vào quân đội, phục vụ gần thành phố nên cũng hay có dịp gặp nhau trò chuyện văn chương học trò. Một cuối tuần Thông ghé chơi. Sáng hôm sau nghe tin bạn chết vì rớt trực thăng.

Duy Nam học chung lớp 12 ở Nguyễn Bá Tòng Gia Định. Nam có giọng hát truyền cảm vì là học trò của Duy Khánh. Hết lớp 12, Nam nhập ngũ rồi cũng không bao giờ trở về sau một lần đụng trận với bộ đội miền Bắc.

Lê Minh Châu học chung với nhau ở Nguyễn Bá Tòng. Xong lớp 11, đậu Tú tài I, nhưng Châu không được tiếp tục hoãn dịch vì sinh năm 1954, quá tuổi theo lệnh đôn quân.

Ra trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, Châu mang lon chuẩn úy. Là con trai duy nhất trong gia đình, Châu được phục vụ đơn vị gần nhà, ở Cai Lậy, cách Sài Gòn chưa đến 100 cây số.

Gần thủ đô nên Châu hay được về thăm nhà, cùng bạn đi uống cà phê, ăn bò bía, ăn phở.

Một hôm, gia đình và bạn bè nhận tin đơn vị của Châu bị Việt Cộng tấn công. Châu mất tích. Gia đình xuống tìm. Có người chỉ chỗ và kéo ra một cái xác không đầu. Nhưng không phải Châu.

Hơn mười năm chiến tranh khốc liệt, bao nhiêu đám tang lính mà thày u tôi đã dự. Nhìn đàn con lớn lên, đến độ tuổi nhập ngũ thày u cũng lo cho tương lai của các con. Lo đêm không bị pháo kích. Lo cộng sản vào thành phố dân sẽ khổ.

Tôi thấy thày u buồn, nhất là u, mỗi khi kể chuyện quê Bắc cho các con nghe. Chuyện đấu tố người thân, để cho chết đói ngoài chuồng trâu. Có người bị đứa con ở sỉ nhục trước mặt đám đông. U kể về ruộng vườn gia đình ngày xưa có nhiều, nhưng ông ngoại mê cờ bạc mà khuynh gia bại sản.

Nhớ lại ngày di cư vào Nam, u thường nhắc đến cái thau đồng có trong nhà, nó rò và đã được trít lỗ mấy lần. Đó là di sản duy nhất u đem được vào Nam. Ngoài ra chẳng có gì khác.

Thày u nói lúc đó cũng chỉ nghĩ đi hai năm, sau tổng tuyển cử rồi sẽ về lại. Đâu ngờ hai năm đã thành hai mươi năm.

Trong hai mươi năm đó, lúc đầu có bưu thiếp qua lại giữa hai miền để thân nhân biết tin nhau. Hình ảnh của tôi thời thơ ấu, chụp ở thảo cầm viên, chụp ở nhà thờ được dán lên bưu thiếp, gửi về cho anh em ngoài Bắc biết mặt.

Chỉ vài năm rồi đường bưu thiếp bị cắt. Sau đó thông tin có được ít nhiều đều qua người quen bên Pháp, rồi mới tới Sài Gòn.

Sau hai mươi năm chiến tranh thày u chỉ mong hoà bình, đất nước thống nhất.

Tôi và những bạn học cũng mong thế. Bao nhiêu người thân và bạn bè đã nằm xuống cho quê hương, chúng tôi chỉ mong hoà bình, góp tay xây dựng đất nước, mong hai miền thống nhất để một lần được ra thăm Huế, thăm Hà Nội.

Ngày đó tôi sẽ cùng thày u về thăm quê cha đất tổ ở làng quê Nam Định.

Ngày 30/4 đến tôi lại đang lênh đênh trên biển, trên một con tàu không máy được kéo đi từ bến Kho 5. Một mình, với mấy anh chị con bác, bỏ lại thày u và 6 người em.

Nước mắt cứ tuôn rơi khi nghe tin Sài Gòn đầu hàng, còn trong đầu lại vang vang lời ca quen thuộc mới cùng hát với bạn bè hôm nào.

Anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát

Quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm

Nối tròn một vòng Việt Nam

Khi đó tôi chỉ nhỏ hơn vài tuổi, so với tuổi của thày u ngày bỏ Bắc vào Nam. Nhớ lại lời u kể, lúc đó nghĩ hai năm sau có tổng tuyển cử rồi sẽ về Bắc lại. Còn tôi giờ đang ra đi mà sẽ không có ngày về, không bao giờ được gặp lại gia đình nữa.

Nghĩ về gia đình, quê hương thống nhất rồi thì sớm muộn thày u sẽ về thăm lại quê Bắc xưa ở làng Long Cù và làng Chiền, xã Trực Chính, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Những ngày mới đến Mỹ định cư, nhiều đêm tôi có ác mộng. Khi thì lơ lửng rơi. Khi kẹt lại quê nhà. Khi thi rớt. Khi bị vây hãm không đường chạy trốn.

Có một điều lạ là trong nhiều giấc mơ tôi lại được về Bắc, gặp những người anh em mà tôi chỉ nghe thày u nhắc đến chứ chưa biết mặt.

Hè năm 1995 tôi về Sài Gòn thăm gia đình sau 20 năm xa cách. Chuyến đi đó tôi cũng sẽ ra Hà Nội và nếu có thể sẽ về Nam Định thăm quê của thày u.

Nghe thế cả nhà đều ngạc nhiên, vì đất nước thống nhất đã 20 năm nhưng thày u cũng chưa một lần về thăm như mong ước trước đây, dù lúc đó đã xa rời quê Bắc hơn 40 năm.

Hỏi ra mới biết không chỉ thày u, mà các cô chú bác, nhiều người thân khác, từ ngày di cư vào Nam cũng chưa về.

Tại sao. U chỉ kể chuyện sau 1975 có những người ngoài Bắc, là cán bộ cộng sản, vào Nam nhận họ nhận hàng có cách cư xử không thật thà mà còn rất đáng sợ.

Rồi những năm buôn gánh kiếm sống, có được một sạp ngoài chợ bán hành tỏi gia vị để nuôi các con, nhiều lần bị nhà nước chèn ép, nhưng nhất định u cãi vì những điều vô lí cán bộ đưa ra.

U chỉ biết đọc viết. Trải qua nhiều kinh nghiệm sống từ sau năm 1975, u thường nhắn nhủ các con “tin lời mấy ông cán bộ cộng sản thì bán thóc giống đi mà ăn.”

Không thích cộng sản nên thày u đã không về thăm quê Bắc cho đến ngày qua Mỹ định cư. Sau này thày có về, được các cháu đưa đi khắp nơi thăm xóm làng. Còn u thì nhất định không.

Chuyến đi Hà Nội năm 1995 cho tôi thoả nỗi ước mơ có từ hai mươi năm trước, thời sinh viên thường ngân nga hát:

Huế Sài Gòn Hà Nội

Quê hương ơi sao vẫn còn xa

Huế Sài Gòn Hà Nội

Trong ta đau trái tim Việt Nam

Việt Nam ơi còn bao lâu

Những con người ngồi nhớ thương nhau…

Hà Nội trong tôi là lịch sử, là Thăng Long có từ gần nghìn năm.

Chúng tôi đi dạo 36 phố phường, loanh quanh Hồ Gươm, ngắm cầu Thê Húc, chùa Một Cột, thả bộ theo đường Thanh Niên, vào thăm Văn Miếu.

Ăn bún chả Hàng Mành, vịt lộn Hàng Mã, phở Lý Thái Tổ. Ghé phố Hàng Đào mua vải, đồ kỉ niệm.

Nhìn những cây xà cừ toả bóng mát, ngửi hương hoa sữa lần đầu tiên trong đời.

Lần đó vợ chồng tôi còn bồng đứa con gái đầu lòng mới 6 tháng tuổi về Nam Định, trong một chuyến đi đột xuất, mạo hiểm, không hề biết đường đi nước bước, không địa chỉ. Chỉ biết nhờ một anh làm bên bộ ngoại giao hướng dẫn.

Đến nơi. Vào căn nhà ông cố đã xây dựng lên, trên bàn thờ có ảnh ông nội như trong Nam tôi đã thấy. Khung hình trên tường có ảnh của tôi, ảnh ngày cưới của chúng tôi ở Mỹ được người nhà từ trong Nam đã gửi ra.

Các cháu đưa chúng tôi đi thăm nhà thờ nơi thày u, ông bà nội ngoại ngày xưa thường đi lễ, đọc kinh. Đưa chúng tôi ra thăm mồ mả tổ tiên hai họ Bùi và Trần.

Chuyến về Việt Nam đầu tiên chỉ có đủ thời gian cho tôi thăm lại Sài Gòn, ra Nha Trang, Hà Nội và về quê Nam Định.

Những lần sau, chúng tôi đi nhiều nơi từ Nam ra Bắc. Xuôi về Cần Thơ, rồi ra Huế, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hạ Long. Mỗi nơi đã để lại nhiều hình ảnh và kỷ niệm buồn vui trong lòng.

Lúc mới đến Mỹ, mỗi ngày cuối tháng Tư tôi và bạn học cùng trường thường rủ nhau ra biển nhìn về hướng quê nhà, khi hoàng hôn chậm xuống mà lòng buồn vời vợi vì nhớ nhà.

Quê hương thống nhất đến nay đã 45 năm. Tháng Tư về tôi không còn ra biển nhìn về quê nhà và cũng không còn buồn nữa.

Nhưng tháng Tư luôn gợi nhớ cho tôi những năm tháng ở miền Nam học hành, sinh hoạt, vui chơi với bạn. Nhớ đến người thân, bạn bè đã hy sinh cho đất nước được hoà bình, tự do ấm no.

Hôm nay, một ngày cuối tháng Tư, xem chồng ảnh cũ chụp trong những chuyến về thăm quê hương. Gặp cảnh Huế, Sài Gòn, Hà Nội, nhìn lại những ước mơ trong đời, tôi có ý thơ:

Sài Gòn, Hà Nội, Huế ơi

Tự do, Độc lập rong chơi chốn nào

Hạnh phúc trong giấc chiêm bao

© 2020 Buivanphu


MỘT VÀI KHÍA CẠNH GIỐNG NHAU 

GIỮA THỜI TA VỚI THỜI GIA LONG

NHỮNG NĂM SAU NỘI CHIẾN

Ngày 1 tháng 6 năm 2020

Tình hình hậu chiến đời Trần sau khi đánh thắng quân Nguyên, cũng như đời Lê sau khi đánh thắng quân Minh đã được nhiều người viết sử thời nay nói tới vì các thời ấy được cho là giống ta  sau 4/1975.

Thế còn  triều Nguyễn sau nội chiến với Tây Sơn thì sao?

Bằng cách coi nhà Nguyễn là ngụy triều, các sử gia XHCN  không mấy thiện chí khi nói tới thực tế đất nước đầu thế kỷ XIX thì còn bụng dạ đâu tính chuỵện so sánh.

Nhưng đọc một ít ghi chép của các sử gia phương Tây tôi lại thấy đây mới là thời hậu chiến  giống với thời ta  trên thực chất .

Đại thể, tình hình của một xã hội bước ra từ chiến tranh đã được nhà sử học Pháp chuyên về sử VN là Ch.Maybon phác ra khá chi tiết:

“Bánh xe hành chính bị làm méo, tôn ty trật tự bị phá hủy, thuế không thu, danh sách sở hữu cộng đồng bị mất, giấy sở hữu quyền lợi cá nhân bị mất. Đồng ruộng bị bỏ trống, đường xá cầu cống và các kho thóc công cộng không được bảo quản. Công việc ở các mỏ hoàn toàn đình đốn. Việc xử kiện bị gián đoạn, tất cả các tỉnh bị bọn cướp hoành hành. Việc vi phạm pháp luật không bị trừng trị thậm chí phải nói luật pháp cũng trong tình thế bất định…”

Có phải là có nhiều nét giông với miền Bắc?

Còn sách Lịch sử Đông Nam Á của tác giả người Anh  D.G.E.Haal (đã dịch ra tiếng Việt) thì đưa ra một cái nhìn  về sự "tiếp tục lối làm chiến tranh ngay trong hoà bình" và cung cách quản lý xã hội của người đứng đầu quốc gia như sau:

“Thiết lập lại một bộ máy hành chính ổn định sau nhiều năm nội chiến là một nhiệm vụ to lớn, nhưng giống như Henry VII của Anh, Gia Long không phải là một người sáng tạo.

Ông ta sử dụng cơ cấu hành chính cũ quen thuộc và những phương pháp chỉ thiêng liêng do nơi đã trở thành truyền thống lâu đời.

Xã hội đang trong tình thế sự hỗn loạn tập thể được dập tắt, song xu thế tự phát tự điều chỉnh của các địa phương các bộ phận chính quyền lại bộc lộ rõ hơn bao giờ hết.

Trong hoàn cảnh ấy lẽ ra phải có người thật giỏi về hành chính để đưa đất nước vào quỹ đạo của một xã hội dân sự.

Nhưng Gia Long làm sao hiểu được như thế.

Ông có vẻ giỏi về chinh chiến hơn quản lý đất nước.”


SAO SỬ KHÔNG VIẾT 

VỀ NHỮNG THỜI

CON NGƯỜI TRỞ NÊN TỬ TẾ?

Ngày 2 tháng 6 năm 2020

Tôi tìm đọc Lịch sử triều Mạc của Đinh Khắc Thuần ( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001) vì hai lý do, một nó là luận văn tiến sĩ ở Pháp, chứ không phải được công nhận trong nước; và hai, nghe nói nó rất ca ngợi nhà Mạc chứ không phải lên án như phần lớn sách giáo khoa về lịch sử từ thời tôi học trung học dăm chục năm trước và chỉ gần đây mới có sửa chút ít(?).

Đọc xong thì thấy cuốn sách đáng gọi là một công trình khoa học. Nó có luận điểm mới, cách khai thác tài liệu mới.

Cuốn sách cũng soi rọi cho tôi thấy thêm một khía cạnh về sự phát triển xã hội  Việt trong quá khứ.

Đây là mấy dòng Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả nhà Mạc mà cuốn Lịch sử triều Mạc trích lại “ trong nhiều năm đường xá không nhặt của rơi, cửa ngoài không đóng, thường được mùa to, trong nước tạm yên. ( Sách Lịch sử triều Mạc tr229).

Lẽ ra phải có nhiều người đi vào nghiên cứu một thời thanh bình như vậy.

Nhân đây nghĩ chung về cách làm sử ở ta hôm nay.

Chỉ nghiên cứu ông cha đánh giặc và khởi nghĩa chống phong kiến mà không nghiên cứu ông cha cày ruộng, khai phá đất đai, mở đường, xây dựng đô thị -- nói như ngày nay là làm kinh tế và ổn định xã hội.

Chỉ nghiên cứu những cuộc kháng chiến mà không nghiên cứu tình hình các xã hội hậu chiến.

Chỉ nghiên cứu phong trào chống ngoại xâm, mà không hề nghiên cứu dân ta, đồng thời với việc chống đối đến cùng các kẻ thù xâm lược đó, đã học hỏi những người từ xa đến đất  Việt làm ăn và khai hóa giúp cho con người bản xứ ngày một trưởng thành.

Chỉ thích dạy trẻ về những thời đại hào hùng mà không dạy về những thời con người ta trở nên tử tế .


NÓI THÊM VỀ "TỰ DO TRƯỚC CÁC NHU CẦU VẬT CHẤT"

Ngày 9 tháng 6 năm 2020

Trong bài  hôm qua, tôi đã nói dân mình hiện nay quá ham hưởng thụ, đang lấy hưởng thụ làm lẽ sống  nên các ý tưởng của Roosevelt thật có giá trị gợi ý.

 Ngồi nghĩ thêm một chút thấy trong đờì sống hậu chiến, cái sự ham muốn quá đáng ấy cứ được thổi mãi lên, chẳng qua là vì mấy lý do:

 Từ trước đến nay ta sống khổ quá. Trong các lý thuyết hướng dẫn cách sống của con người, sự hưởng thụ  nhiều khi bị coi là cái tội.

 Trải qua một thời gian dài bảo nhau làm ăn phấn đấu, vậy mà cứ mãi không sướng được.

 Đến mức trong ta mất hết tự tin.

 Khi tự nhủ thầm “sẽ chẳng bao giờ ta  được sướng đâu” cũng là lúc con người tự thả phanh cho mình truy tìm sự hưởng thụ trước mắt và càng làm càng say, càng  hưởng thụ càng thấy hóa ra đời sướng thế này mà không biết, chỉ cần CHỊU HƯ  một chút là ta sẽ có.

   Những ý nghĩ loại này thoạt tiên chỉ phảng phất nhen nhúm, sau cứ mỗi ngày mỗi bắt rễ trong đầu. Đến khi nhận ra rằng nhiều  bậc đạo cao đức trọng trong xã hội hóa ra cả đời phấn đấu cũng chỉ cốt để hưởng thụ  như các bậc vua chúa ngày xưa, người ta chỉ còn có cách tự oán trách rằng mình khôn muộn thế.

    Tức nay là lúc đời sống tinh thần chúng ta khá trống rỗng, ta chỉ lo  tìm lối thoát khỏi bế tắc, mọi chuyện lý tưởng hay nói xưa kia nay tạm kính nhi viễn chi cái đã.

   Một quá trình mình tự dối mình lan tỏa dần dần, và tồn tại như một phương thức tự vệ. "Này hãy tỉnh lại chớ có mê muội như ngày hôm qua mà chỉ có chết" -- nhiều lúc con người khôn ngoan của ta ân cần nhắc ta như vậy.

     Câu chuyện của  Roosevelt, mà Obama dẫn lại trong bài nói ở Rangoon 2012 còn một ý nữa đáng lưu ý. Sau khi nói rằng có bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do thờ phụng, (tự do) thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, và (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi R Roosevelt nói thêm  "Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng."

     Đối với người Việt mình hôm nay, đây quả là một điều mới lạ mà phải nghĩ thêm ta mới hiểu, còn hiện nay xin cứ tạm công nhận  cái đã.


THIÊN NHIÊN ĐIÊU ĐỨNG

Ngày 18 tháng 6 năm 2020

So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

       Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.

     Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi.

   Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội.

    Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.

   Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.

   Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.

   Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng.

    Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.

     Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.

    Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử.

     Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán.

    Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần 2010: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá.

     Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc.

     Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.

     Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.

     Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn.

      Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở.

     Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.

      Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.

Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.

     Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 "Thị Vải là dòng sông đã chết") thì chúng  lê lết trong cảnh thân tàn ma dại?!

      Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật.

      Sông bốc mùi dơ.

     Sắc nước ngả màu.

      Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại.

      Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!

     Với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18, vụ Vinashin…  

      tôi muốn bổ sung thời có những con sông chết như sông Thị Vải!

      Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một ngoại lệ và với con sông là một đặc ân.

     Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả.

    Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động lúc nó lâm chung.

     Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.

      Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp.

     “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman.

       “Đầu xuân gió mát tựa hè –

       Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân –

      Sông là người đẹp khỏa thân –

      Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”.

      Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.

      Tôi rất ngại phải đọc lại các bài thơ lý sự của Chế Lan Viên, nhưng vẫn thường nhẩm lại những bài ông viết về cây cỏ tình người trong đó có mấy câu ông đặt ở cuối Ánh sáng và phù sa viết từ 1960

     Có tiếng lớn của sông Hồng bát ngát

     Bờ thêu khoai thêu lúa thêu nhà

    Sông thấy đồng bằng sông bỗng hát

     Như người thi sĩ lúc hùng ca

     Có tiếng nhỏ của sông Thương nước mắt

     Sông nhớ thương ơi nước chảy đôi giòng

     Lòng ta là một cánh đồng lẩn khuất

      Đau bên đoài nên gió thổi bên đông

     Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ.

      Liệu có ai đáp lại không?

 Lần đầu in trên  thesaigontimes 4/3/2010


MỐI QUAN HỆ 

GIỮA KIẾN THỨC VÀ NHÂN CÁCH

Ở NGƯỜI TRÍ THỨC VIỆT

Ngày 20 tháng 6 năm 2020

Tạp chí Tia sáng số ra 01/2000, có đăng bài viết của Bửu Ý nhan đề “Trí thức anh là ai?”  Đây là một câu hỏi lớn, cần được nhiều người tham gia bàn bạc.

Dưới đây, chúng tôi chỉ xin lưu ý một khía cạnh đã nêu trong bài Sự thăng trầm của hai chữ trí thức

Ở Hà Nội từ sau 1954 có những người vốn dòng dõi quý tộc hẳn hoi, song lại thường xấu hổ với dòng dõi của mình hễ ai vô ý nói xa nói gần rằng thời xưa ông tổ họ hoặc gần hơn, cha anh họ đã từng giữ chức nọ, chức kia, họ thường sầm ngay mặt lại, khó chịu như bị xúc phạm.

Chỉ khoảng sau 1975, người ta mới bắt đầu làm ngược lại. Tức là công khai chấp nhận giá trị dòng dõi, thậm chí sẵn sàng khoe khoang là họ nhà mình đã từng có người làm đến thượng thư, tổng đốc...

Đối với hai chữ trí thức cũng có tình trạng tương tự.

 Vẫn chuyện hồi trước ở miền Bắc --- không ít người , dù hàng ngày lao động trí óc hẳn hoi, song rất ngại khi thấy mình được liệt vào phần tử trí thức.

Người ta cứ muốn lẫn đi giữa mọi người bình thường, và sẽ rất vui lòng nếu được gọi chung bằng mấy chữ: cán bộ.

Sự hãnh diện được là trí thức chỉ vừa đến trong khoảng dăm chục năm qua (ở đây, tôi chỉ nói trong phạm vi tâm thức dân gian, chứ trong các tài liệu chính thức, hai chữ trí thức được xác định ra sao, lại là chuyện khác!).

TRÍ THỨC LÀ ĐẢO NGƯỢC CỦA LƯU MANH

Lúc coi thường, lúc xem trọng là vậy, nhưng không phải ngay lập tức người ta đã có cách hiểu đúng với các danh từ được sử dụng.

Từ điển Hoàng Phê ghi: Trí thức là những người "chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”.

Đây cũng là cách giải thích bắt gặp ở nhiều từ điển khác và phù hợp với cách hiểu thông thường của nhiều người.

Riêng tôi muốn nhấn mạnh: trí thức là đảo ngược của lưu manh.

Thường nhiều người chỉ hiểu hai chữ lưu manh và vô nghề nghiệp, là ăn cắp, ăn trộm...

Song có lẽ nên nói đầy đủ hơn: lưu manh là cả một lẽ sống tùy tiện, bất chấp chuẩn mực quy tắc đạo lý.

Với tâm lý lưu manh, người ta có thể làm bất cứ việc gì miễn là có lợi cho bản thân.

Quay trở lại với khái niệm trí thức thì phải nói trí thức nói ở đây không phải là trình độ kiến thức cao (ví dụ: từ đại học trở lên) mà là phẩm cách con người.

Từ nghĩa gốc trong trí thức đã bao gồm nhân cách

 Một trí thức chân chính luôn luôn bị ràng buộc bởi những điều mà họ tin tưởng.

Với họ, cái chân, cái thiện và cả cái mỹ nữa - quan trọng hơn cái lợi.

 Lẽ tự nhiên dù vẫn là những con người cụ thể có cá tính riêng, song người trí thức không bao giờ là kẻ tham bạo, lừa gạt, lười biếng , hiếu danh, tàn nhẫn... Sự khiêm nhường của họ bắt nguồn từ những hiểu biết sâu xa về mối quan hệ cá nhân và xã hội, họ nhìn những người ít học một cách độ lượng và bằng lòng với phần đóng góp thiết thực của mình trong việc thúc đẩy xã hội tiến tới.

 Hồi cuối thế kỷ XIX, nhà văn Nga Tsékhov đã nói: trí thức, đó chính là lương tâm của nhân dân.

QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA TỪ KIẾN THỨC ĐẾN NHÂN CÁCH ĐÓ ĐÃ DIỄN RA THẾ NÀO?

Đằng sau một kiến thức cụ thể, thường khi ẩn chứa một nội dung nhân văn nhất định.

Một phát minh trong kỹ thuật, một định lý mới tìm ra trong toán lý, hay một quy luật ngày càng được kiểm tra là chính xác trong khoa học xã hội... mang sẵn trong lòng nó một quan niệm về tính hợp lý của đời sống hoặc là tiền đề tốt để cho người ta có thêm ý niệm đầy đủ về cái đẹp, cái thiện.

Ở những người lao động trí óc có đời sống tinh thần lành mạnh, quá trình đi sâu vào lĩnh vực chuyên môn mà họ theo đuổi đồng thời cũng là quá trình để bức tranh thế giới trong họ thêm hoàn chỉnh và mỗi ngày một ít, cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử với đồng loại ở họ cũng theo đó mà hình thành nên những nền nếp tốt đẹp.

Tưởng như kiến thức, bên cạnh vai trò cụ thể trong công việc đã được thăng hoa để tinh lọc lại làm nên nhân cách, và đây mới là chỗ phân biệt giữa "người đọc nhiều biết nhiều” với các trí thức thực thụ.

 Nay là thời mà  ngoại lệ trở nên phổ biến Đặc điểm của tình hình trí thức VN hôm nay là  đang tồn tại nhiều  ngoại lệ. Trong thời buổi xã hội có nhiều biến động, đang tồn tại loại người tuy có tiếng là trình độ kiến thức bậc cao, song vẫn không phải là trí thức, tệ hơn nữa một số trong họ sống như lưu manh, hay nói đúng hơn vẫn để cho tinh thần lưu manh chi phối cách sống (nịnh trên lừa dưới, bon chen, cầu lợi, ham hưởng thụ, độc ác tàn tệ với đồng nghiệp...).

Tại sao xảy ra tình trạng như vậy? Ở đây có thể có hai giả thiết:

Trường hợp thứ nhất, khá đơn giản: có người nghe rất oai nhưng sự thực kiến thức là kiến thức giả, chắp vá nhặt nhạnh, đương sự đã đạt tới bằng cấp qua con đường tà đạo, một số trong họ chẳng qua chỉ là những kẻ lợi khẩu, dễ lòe người chứ thực ra bên trong trống rỗng.

Lại có trường hợp thứ hai, hơi khó lý giải hơn một chút. Ở một số người, kiến thức là thứ thiệt hẳn hoi, họ giỏi giang, họ sâu sắc song nhìn vào cách sống, vẫn không phải trí thức.

Tại sao?

Trên nguyên tắc, có học hành là có xảy ra sự thẩm thấu của kiến thức vào con người để biến thành nhân cách.

Nhưng trong thực tế đấy không phải là quá trình xảy ra đồng đều nhất loạt ai cũng như ai.

Chẳng hạn, có những người vì nhiều nguyên nhân khác nhau (do di truyền, do giáo dục, hoặc do những bất hạnh gặp phải lúc nhỏ) mà thói gian manh vụ lợi, sự lừa bịp, lối sống hiện đại chung quanh… đã ăn vào máu, dù có đọc nhiều hiểu biết rộng đến đâu, vẫn cứ đường cũ mà đi, niềm tin cũ mà sống.

Cái phần tinh hoa của kiến thức khi gặp một tâm hồn trơ lỳ thoái hóa... thì dừng lại, không đủ sức lay chuyển hạt nhân tính cách đã ổn định bên trong.

 Loại người này đặc biệt lợi hại.

Họ năng động, họ hấp dẫn, họ có khả năng lôi kéo thuyết phục chung quanh. Nói chung là họ làm được nhiều việc.

Chỉ hiềm một nỗi, họ chỉ lo đắp điếm cho gia đình, hoặc tạo ra cái tiếng tăm cái uy thế ghê gớm cho bản thân cũng như phục vụ cho những mục đích tầm thường. Còn như bảo rằng họ có ích cho nhân quần xã hội thì vẫn không phải.

VẤN ĐỀ ĐẶC THÙ SỐ MỘT  CỦA GIỚI TRÍ THỨC VIỆT NAM

Các vấn đề đặt ra chung quanh khái niệm người trí thúc vốn khá da dạng.

Ở một số nước, người ta nhấn mạnh lương tâm trách nhiệm con người trí thức trước xã hội.

Ở một số nước khác, người ta thích bàn đến mối quan hệ giữa tự do và phục vụ, dấn thân và "xây tháp ngà" để làm khoa học.

Riêng ở Việt Nam, theo ý chúng tôi, trong nhiều trường hợp, câu chuyện nhân cách vẫn nổi lên rõ rệt hơn cả.

Một khi người ta còn chưa trở thành chính cái mẫu người ta muốn theo, thì bàn thêm những việc khác làm gì cho mệt?!

Nguyên là bài  Từ kiến thức đến nhân cách,

in lần đầu trên tạp chí Tia sáng, 2000

đã in trong tập phiếm luận Nhân nào quả ấy, 2002 và 2016


TRÍ THỨC NHƯ THẾ NÀY 

THÌ LÀM SAO MÀ XÃ HỘI KHÔNG TRÍ TRỆ (BÀI I)

Ngày 24 tháng 6 năm 2020

(bài I)

Tồn tại chứ không phát triển không chỉ là đặc điểm của xã hội Việt Nam hiện đại mà cũng là đặc điểm của xã hội Việt Nam thời trung cổ.  Khi tìm những nguyên nhân của hiện tượng đó chúng ta thấy trước hết do tình trạng lạc hậu mà cũng do chiến tranh đóng vai trò quá lớn chi phối đời sống cộng đồng hàng thế kỷ  mà  bộ phận trí thức ưu tú cần thiết, đáp ứng được nhu cầu vận động của xã hội không hình thành. Cả  những rắc rối  chồng chất do lịch sử ba phần tư thế kỷ vừa qua nay để lại  lẫn những khó khăn kỳ cục  do hoàn cảnh thế giới phức tạp  hôm nay  mang tới đều chỉ có hướng giải quyết thông qua con đường  tự nhiên  tức là con đường đưa trí thức vào vai trò những người đạo diễn xã hội. Chuyện quá dài…Nhưng dù thế nào việc tìm hiểu bộ mặt của trí thức Việt Nam trong lịch sử vẫn rất bổ ích.

KẺ SĨ THỜI TRUNG ĐẠI --

 SẢN PHẨM CỦA MỘT NỀN GIÁO DỤC ĐƠN SƠ  

     Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại.

     Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục (1) tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó.

      Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không  làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi.   

     Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn VN cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy “năm ba chữ thánh hiền”.

     Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu  không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt ( nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) -- thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ?  Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được?!

     Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng .

     Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và … biết làm tính (2).

     Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật (3) thì một nét đặc thù của trí thức VN trong lịch sử là tính cách lưỡng phân. Ông Nguyễn An Ninh, tác giả bài này giải thích:

-- Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân.

-- Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu. Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn, họ dễ bị hư hỏng.

     Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái:

      Các con nối nghiệp cha nên biết

      Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà

     Thế sao những người nông dân một nửa này vẫn miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử thì sao?

     Việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức.

    Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn miếu.

    Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn.

   Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác.

   Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học VN bằng con mắt thống kê,  người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui(6): Đó là nhiều nhà văn nhà thơ VN thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm (đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển).

    Từ điển văn học Việt Nam  do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường có 276 mục dành cho tác giả trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người.

      Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng—chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian.

     Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng về các ông trạng VN (5) thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng.

      Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta.

       Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao.

      Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là  Lịch triều hiến chương loại chí, chỉ đỗ đến tú tài.

       Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo.

       Còn như muốn hiểu tại sao họ thi đỗ thì chúng ta có thể tìm đọc ngay những giai thoại về họ.

      Ví như trường hợp Nguyễn Giản Thanh mà trong dân gian thường gọi là Trạng Me. Vũ Ngọc Khánh, trong sách đã dẫn, chép rằng lẽ ra ông này chỉ đỗ loại nhì (bảng nhãn), chẳng qua hôm vào yết kiến vua có cả mẹ nuôi vua ở đấy, bà này thấy Nguyễn Giản Thanh mặt mũi khôi ngô liền ngẫu nhiên hỏi:  “Người này chắc là trạng nguyên ?“ do đó  nhà vua, vì muốn chiều lòng mẹ nuôi, lấy Nguyễn Giản Thanh làm Trạng.

     Đằng sau câu chuyện vui vui, có một sự thật, ấy là xưa kia, việc phong trạng dù được đề cao trên trời dưới biển ghê gớm như vậy, vẫn mang nhiều tính cách ngẫu nhiên tuỳ tiện; các vua chúa rất hay can thiệp vào công việc định giá, phong tặng; các danh hiệu đôi khi chỉ là sản phẩm của những cơn nóng lạnh bất thường của họ.

     Là những cường hào phất lên nắm được quyền lực, họ chỉ dùng đám kẻ sĩ nửa mùa chung quanh như một thứ thư lại để sai vặt, và ban phát các chức danh để làm sang cho vương quốc mà họ là chủ.

     Họ chỉ cần người trung thành chứ không cần người giỏi. Kẻ bề tôi càng tầm thường hèn hạ thì càng dễ sai bảo.

     Chính cái loại trạng xin trạng nhặt được như thế này lại sẽ là người thích khoe khoang trước bàn dân thiên hạ về danh vị của mình.

     Thói háo danh chỉ là một biểu hiện nhỏ của sự tha hoá con người -- một sự tha hoá không mạnh mẽ nhưng lại đều đều gặm nhấm cả bản lĩnh lẫn nhân cách.

(còn tiếp)

---

 Chú thích

 (1)  Roger Gal Lịch sử giáo dục, bản dịch Lê Thanh Hoàng Dân-- Trần Hữu Đức. NXB Trẻ-- Sài  gòn, 1971

(2) Dẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư bản của nhà Khoa học xã hội 1983,tập II  tr 296

(3) Nguyễn An Ninh Tính chất lưỡng phân, một nét đặc thù của trí thức Việt nam trong lịch sử  Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 1998, số 1

    Chú ý xin đừng lầm với Nguyễn An Ninh (1900-1943), nhà hoạt động xã hội ở đầu thế kỷ XX Có điều thú vị là nhà trí thức lớn Nguyễn An Ninh trước đây cũng  từng nhận xét xứ ta là nơi mà “ chỉ với một chút xíu khoa học” người ta đã có thể tự coi mình là nhà thông thái, tương tự như “với hai xu trong túi, người ta đã trở thành những nhà giàu.”  Khi lưu ý tình trạng nhiều người “cảm thấy thỏa mãn vừa lòng khi chui rúc trong một túp lều”, hình như ông muốn nói rằng tình trạng thiếu khát vọng và ý chí đã kìm giữ mãi chúng ta trong khung cảnh lạc hậu.

(4) Con số của Nguyễn Văn Tuấn trong bài viết in  trên tạp chí Văn hoá nghệ thuật, 2003 số 3 .

(5) Nxb Văn hóa thông tin, H. 2002


RẤT NÊN QUAN TÂM TỚI ...HIỆN TƯỢNG LƯU MANH,

TÂM LÝ LƯU MANH CÁCH SỐNG LƯU MANH

Ngày 18 tháng 7 năm 2020

Trong bài "Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa" in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :

“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.

Chữ manh ở đây không phải người mù.

Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.

Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân. Trong Bình Ngô đại cáo có câu:

"Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập"

Đào Duy Anh dịch là

"Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp"

Là dùng chữ manh ấy.

Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung ( Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “ cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.

Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu.

Nghĩa xấu đó là gì? Từ điển Khai trí tiến đức 1931 ghi đểu cáng là hạng người hèn mạt vô hạnh. Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất. Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.

Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán -- Hán hiện đại thường ghi lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi’, tức là kẻ không biết chính nghiã là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.

Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan, sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.

Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.

Khi nghiên cứu về giao thông VN trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.

Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân—địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.

Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.

Phần góp chuyện của tôi:

Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân. Nhưng ở trang 87 của "Từ điển từ nguyên tiếng Trung" ( Nxb Hồng Đức H. 2008 ), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:

"Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt văn và Kim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân."

Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghệ nghiệp.

 Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ.

Họ chẳng coi cái gì là quan trọng.

 Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc Việt Nam họ là nguồn gốc của những hỗn lọan mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.

Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.

Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.

Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

(Tuy Mao Trạch Đông cũng là một trí tuệ siêu đẳng, song yếu tố chủ đạo trong ông vẫn là lưu manh).

Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và  phát triển  mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác.

 Trong xã hội Việt Nam sau 1945, do mải lo chiến tranh, nên chúng ta dung túng cho mọi cách sống khác nhau.

 Trong khi không chú ý tới những tiêu chuẩn đạo đức nhân bản, xã hội để mặc cho xu thế lưu manh phát triển, nó mặc sức chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm, nhất là khinh thường mọi sự thiêng liêng, cho phép mình sống như quỷ dữ.

Tức là lưu manh hóa họ.

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính.

Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Ở tầng lớp lưu manh khóac áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.

 Đã in trên blog của tôi 1-1-2012

có sửa chữa, lược bỏ và bổ sung


NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

Ngày 20 tháng 7 năm 2020

Trong " Chuyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi "(1876) của Trương Vĩnh Ký, đoạn phong tục có câu tả Hà Nội.

"Chốn thiềng thị thì công thương tụ, có lộn Ngô Khách. Đàn ông con trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm. “

Liên hệ tới ba truyện ngắn Thạch Lam.

Trong "Cô hàng xén" mọi việc trong nhà cô Tâm lúc chưa lấy chồng đều do mẹ cô lo liệu, bố cô chỉ đi chơi các nhà xa gần có khi vài ngày liền mới về .

Trong "Người bạn trẻ", có đoạn tả cảnh nhà anh Bào “bà mẹ tráng bánh và thổi xôi để bán’ . Còn “ thầy anh ta, ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì”.

Trong "Hai lần chết"

 “Cha Dung chẳng làm gì cả. Từ xưa đến nay vẫn thế. Hình như ông ta sinh ra đời là chỉ để ngồi ở nhà cho lúc nào cũng có người và để những ngày giỗ tết trong họ, khăn áo chỉnh tề đi ăn cỗ mà thôi. Không ai thấy ông ta làm việc gì, mà cũng không ai nghĩ đến sự ông ta phải làm một việc gì đó”.

Xưa là thế còn thời nay?

Đây là một đoạn tả Hà Nôi ngày nay của một người nước ngoài là Drew Taylor, được giới thiệu trên nhiều mạng giữa 2010.

Bài viết có cái tên là "Ngộ quá ta!"

” Đi dọc các con đường và ngõ ngách của quán nhậu ở Hà Nội, bạn sẽ thấy cánh đàn ông chuyện trò rôm rả không thua gì các phiên chợ buổi sáng của các bà. Họ nói chuyện đùa, chuyện tếu, chuyện phiếm, chuyện mặn chuyện lạt một cách say sưa và tự nhiên như thể chỉ có đàn ông là công dân danh dự trên quả đất này. Sau vài tuần bia và rượu, cánh đàn ông không hề trở nên đáng yêu hơn với gương mặt đỏ kè, giọng nói lè nhè hoặc the thé. Rồi họ chuyển sang chuyện chính trị, chuyện đấu đá ở cơ quan, hoặc bắt đầu lên giọng triết lý về các vụ scandal nóng nhất. “

Tôi chưa biết giải thich hiện tượng này ra sao, chỉ nhớ tới một sự thực trong lịch sử. Suốt thời phong kiến xứ ta liên miên trong chiến tranh, mà chủ yếu là nội chiến, chứ không phải chỉ chống ngoại xâm như các nhà sử học hiện nay vẫn viết.

Nhất là trong các thế kỷ XVII, XVIII, Nam Bắc phân tranh. Đại khái là các lãnh chúa địa phương bắt người đi lính, thường theo tỷ lệ cứ ba xuất đinh lấy một. Mà lại toàn là những trai tráng khỏe mạnh thông minh chứ loại đui què mẻ sứt vốn rất đông đảo không ai gọi lính làm gì. Bộ phận ưu tú này  dù là không đánh nhau chăng nữa, song sống trong cảnh bị kiềm chế, mất hết lý tưởng làm người. Khi hết hạn lính quay trở về nông thôn, họ không chịu  học lấy nghề nghiệp gì mà tự cho mình là có quyền dông dài chơi bời. Kể cả việc dạy con trong gia đình cũng do phụ nữ đảm nhiệm.

Tình trạng đó kéo dài cả trong thời Pháp thuộc và tuy có biến dạng đi chút ít song còn đến ngày nay.



KÉM VĂN HÓA TỔ CHỨC XÃ HỘI -- 

ĐẤY CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN

MỌI SỰ LẠC HẬU CỦA NGƯỜI VIỆT?

Ngày 28 tháng 7 năm 2020

Có lần trên FB Nhân Thế Hoàng,  tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:

“Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng, chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi.

Cái này là điệp khúc mà mấy bạn trẻ cuồng đảng hay phát ngôn để bảo vệ khi có ý kiến trái chiều chê trách về các vấn đề xã hội hay tình trạng bê bết của nền kinh tế hiện nay.

Thế bạn có biết, cũng là người Việt nhưng năng suất lao động của 3 triệu người Việt ở Mỹ tương đương với năng suất lao động của 90 triệu người Việt trong nước hay không? Con số 100 tỷ USD tạo ra hằng năm của 3 triệu người Việt ở Mỹ đã nói lên điều đó, điều này chứng minh người Việt không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới về độ thông minh, cần cù, chịu khó, chỉ là do bị kèm cặp quá nên 90 triệu người trong nước mới làm việc kém năng suất và hiệu quả như vậy. Người xưa có câu: "Cây quýt trồng ở đất này thì ngọt mà mang sang đất khác thì chua", và lạ thay cây quýt Việt thường chua ở xứ mình nhưng lại ngọt ở xứ người!”

---

Xin ghi nhanh ở đây mấy suy nghĩ của bản thân tôi về chuyện này:

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: Nhiều thói hư tật xấu liên quan đến sự làm ăn kém cỏi ở người Việt mà chúng ta mới phát hiện, theo tôi, đã có từ thời trung đại, từ thế kỷ XIX về trước.

Khi làm chuyên mục những lời cảnh tỉnh của người xưa, đăng trên TTVH hồi 2005-2007 và sau có đưa vào blog cá nhân, tôi chủ yếu lấy ý kiến của các nhà trí thức VN đầu thế kỷ XX.

Đối tượng phê phán của họ là cách sống cách suy nghĩ làm ăn của người Việt trước khi bước sang thời hiện đại, tức là trước khi chuyển qua thời Pháp thuộc.

Bản thân các trí thức này sở dĩ có cái nhìn sáng suốt đó cũng là sau khi theo học ở các nhà trường người Pháp mới mở, có được cách nhìn cách nghĩ của phương Tây.

Từ sau 1945, yếu tố tự phê phán trong tư duy người Việt ngày càng thui chột, các trí thức Hà Nội được đào tạo sau cách mạng khi suy nghĩ về người Việt chủ yếu làm nổi bật các mặt tích cực trong tính cách người Việt.

Để làm gì? Để động viên người ta đi đánh giặc.

Vì cái mục đích cao cả nhưng lại thiển cận ấy, dân ta tự cho phép mình khen lu bù, "khen cho nó chết", không cần biết hậu quả sẽ tới.

Trong và sau chiến tranh, nhiều thói xấu cũ của người Việt càng cô kết đậm đà sâu sắc hơn, người ta lại hay giở lý ra để tự biện hộ.

Chỉ đến khi bắt tay vào việc làm ăn sinh sống theo nhịp sống bình thường, gặp nhiều cú sứt đầu mẻ trán, thì cái nhu cầu tự phê phán kia mới trở lại.

Nhưng dùng lại một câu trong Truyện Kiều -- rằng quen mất nết đi rồi, -- chúng ta thiếu hẳn những nhà nghiên cứu nhìn sâu vào các quá trình tâm lý xã hội và xem xét sự phát triển của cộng đồng trong chiểu dài lịch sử, đối chiếu với những chuẩn mực phổ quát của con người hiện đại, từ đó làm cuộc phân tích toàn diện để giúp cho cả cộng đồng có được một cuộc tự nhận thức chính xác.

Các lời bàn cãi hiện nay còn loanh quanh và thiếu sức thuyết phục, nhiều khi lại đi lạc hướng.

Tại sao lại có hiện tượng ở trong nước thì dở, ra nước ngoài mới tử tế?

Dẫn chứng mà bạn Nhân Thế Hoàng nêu lên là không thể cãi được.

Theo tôi nó chỉ chứng tỏ, cái hay cái tốt ở người mình không bền chắc.

Tự chúng ta không định hướng nổi cuộc sống chúng ta.

Chỉ khi bị buộc phải làm theo sự chỉ đạo của người khác, chúng ta mới dứt bỏ được thói quen cố hữu từ ngàn đời ông cha để lại để có thể sống và làm việc như mọi con người tử tế khác trên thế giới.

Chính trường hợp 3 triệu người VN ở Mỹ mà bạn Hoàng nêu là nằm trong hoàn cảnh đó.

Trở lại với đầu thế kỷ XX. Tôi nói điều sau đây với tâm lý hơi ngần ngại – nó đi ngược với những điều tôi cùng với lọai người như tôi quen cho là như vậy nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy không tự bác bỏ được nên buộc phải nói -- đó là, chính do sự bảo trợ của người Pháp, sống trong một nhà nước do người Pháp quản lý, mà người Việt có được sự thay đổi trong tính cách và có những bộ phận đạt được cách sống cách suy nghĩ trình độ làm việc của con người hiện đại.

KẾT LUẬN TẠM THỜI : chúng ta là một cộng đồng kém về năng lực tự quản lý. Trong những điều mà chúng ta học được từ văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta học được ít nhất là văn hóa tổ chức xã hội, văn hóa quyền lực.

Cai trị học – bên Trung quốc người ta gọi là TRỊ QUỐC CHI ĐẠO -- là cả một vấn đề lớn, muốn có kết luận thuyết phục cần trở lại với các tài liệu lịch sử, phải nhiều người nghiên cứu và suy nghĩ công phu mới làm được, tôi chỉ nêu sơ sơ như vậy.

Dưới đây để chứng minh cho ý kiến trên, tôi lấy thêm một số ví dụ không phải trong khu vực chính trị mà chỉ là trong phạm vi đời sống thông thường.

Trong thế kỷ XX, chúng ta bắt đầu có những nhà khoa học tự nhiên đạt chuẩn quốc tế. Nhưng nhìn vào tiểu sử của họ ta thấy ngay không người nào trong họ là không trải qua việc một thời gian dài học ở nước ngoài.

Thực tế VN, nền giáo dục VN, không thể đào tạo ra họ.

 Ngô Bảo Châu – cũng như Tôn Thất Tùng, Trần Đức Thảo trước kia -- không chỉ là hiện tượng của văn hóa VN mà còn là hiện tượng của văn hóa Tây phương, trước tiên là văn hóa Pháp.

Sao ta lại cứ cố quên như vậy?

Trong phạm vi hướng nghiệp cho con em trong các gia đình bình thường hiện nay, chị Phương Quỳnh bạn tôi có lần kể cho tôi chuyện sau.

-- Con mình học khá giỏi, nhưng đi làm cho các ông chủ trong nước một hồi, thấy đằng nào cũng chết.

Làm cho nhà nước thì gặp toàn những ông dốt, lại còn cái lối phong kiến cổ lỗ, coi bọn mới ra trường như kẻ ăn người ở, chuyên sai vặt.

Làm cho tư nhân - nhất là tư nhân xuất thân Hà Nội - cũng phần lớn là bọn trương ra cái biển thật to để dọa thiên hạ, chưa làm đã lo buôn lậu với lại đi hối lộ cấp trên cùng là sẵn sàng cạnh tranh với các đồng nghiệp bằng mọi thủ đoạn man rợ.

Và Phương Quỳnh khuyên:

-- Các cậu có con bây giờ thì phải tính trước đi, cố hướng con cái kiếm được việc cho các hãng nước ngoài, ở đó cắn răng mà học lấy nghề thì mới nên người được.

----

Vài điều tôi tạm rút ra cho mình:

+ Xã hội VN từ nhiều thế kỷ nay chỉ được tổ chức theo những nguyên tắc quá đơn giản. Việc quản lý con người theo nghĩa đầy đủ nhất của chữ này chưa bao giờ được coi như một nghiệp vụ mà người ta phải học hỏi mới làm được. Cái khó nhất với nhiều người Việt có năng lực là tìm ra ông chủ xứng đáng với mình.

+ Chính vì chúng ta không có những nhà quản lý giỏi, những ông chủ giỏi mà mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cứ mãi mãi lạc hậu, và trước mắt chỉ đi làm ăn dưới quyền chỉ đạo của người nước ngoài, ta mới khá lên được.

+Chỉ khi có được những người biết tổ chức cho những người khác làm việc - trên phương diện chính trị là những người biết quản lý quốc gia -- , ta mới có quyền nói rằng đã đi đúng đường hứa hẹn một sự phát triển bền vững.

Chỉ lúc đó, dân ta mới sửa được những tính xấu cố hữu như lười biếng dối trá ăn cắp …và – cho tôi bổ sung thêm một thói xấu nữa -- là chỉ giỏi cãi bừa cãi sằng, rồi hễ ai động vào tử huyệt của mình liền chửi người ta thiếu thiện chí.

GHI CHÚ NGÀY 17 THÁNG 7 2020

 Bài viết này tôi viết từ ngày 30 tháng 10 năm 2014 và lần đầu tiên được đưa  trên blog cá nhân vào thời điểm đó.

Hôm nay xem lại tôi thấy tôi đã không chỉ rõ có một thực tế nhiều phần ngược lại là con người trong xã hội miền Nam 1954 /75 khi đó chúng ta phát triển không kém gì các nước Đông Nam Á , nhìn chung có thể nói người Việt hồi đó là những người rất biết làm ăn sinh sống trình độ nghề nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế  năng suất xã hội cũng vậy, và trước tiên là đã biết làm giáo dục để tạo ra những thay đổi căn bản trong nòi giống .

 Nhưng đây là chỗ tôi hiểu rất ít nên không có điều kiện để triển khai các ý chính của bài cho được chặt chẽ hơn.

Phần lớn những tìm hiểu nghiên cứu của tôi lâu nay về thói hư tật xấu người Việt và rộng ra  về người Việt nói chung   -- ví dụ  người Việt sau chiến tranh có cái triết lý “chỉ có những việc không làm được  chứ không có những việc không được làm” -- là chủ yếu  liên quan đến tình hình kinh tế xã hội và con người ở "bên thắng cuộc".


QUẢNG CÁO TRÊN TV

Ngày 31 tháng 7 năm 2020

Mấy năm trước, tôi nhớ vào trước bản tin thời tiết, thường có cảnh quảng cáo sữa, một em bé đi đâu về chạy sầm sầm vào nhà, mở tung tủ lạnh lấy ra que kem, rồi thè lưỡi ra trước mặt ống kính.

Giờ thì việc quảng cáo các loại đồ ăn càng ngày càng chiếm một thời lượng lớn. Người ta đua nhau phô ra trước màn hình hình ảnh mình và gia đình mình sung sướng như thế nào khi được nhấm nháp một món ăn ngon. Như thể lên tiên cả một lượt!

Còn đây là quảng cáo điện thoại di động: một nhóm công chức trẻ mặt mũi cực kỳ sáng sủa nhưng trong giờ làm việc chỉ chơi bời nhẩy nhót, đến lúc sếp gọi mới cuống cuồng chạy đi lấy dữ liệu và sung sướng thấy là may quá cái máy đã giúp mình mọi việc.

Xin nhắc lại người thanh niên ở đây mặt mũi rất thông minh, cái nhìn thẳng đầy tự tin rõ ra người có học hành. Nhưng cảm tình của tôi với anh ta bay biến hẳn khi anh ta vênh mặt sung sướng gặp ai cũng khoe vì có được chiếc điện thoại di động hiện đại.

Trở lại câu chuyện đứa trẻ thè lưỡi trên màn hình.

Tôi hay nói với người trong gia đình ngày xưa trẻ mà như thế thì chết đòn với các cụ. Có thèm ăn thèm uống đến mấy cũng không thô bỉ như thế được. Mà lại nhơn nhơn ra nữa chứ. Đưa lên TV để trẻ em nhà nào cũng xem trong bữa cơm chiều liệu có nên không?

Nhìn chung tôi muốn chấm dứt hẳn việc sử dụng trẻ vào các chương trình quảng cáo -- như ở các nước, người ta cấm sử dụng lao động ở trẻ em vị thành niên.

Thời HN còn xe điện, tôi nhớ có những người bán kem trên tàu và những người quảng cáo lơ tẩy hồng hoặc kim băng, đá lửa…Họ có lối nói thế nào đó mà làm cho người ta dù biết là mình bị lừa, vẫn cứ cuống cuồng đi tìm hàng lạ.

Cách nói của những người quảng cáo trên TV hôm nay thường cũng vậy. Cả nước lúc nào cũng như đang ngồi trên toa xe điện ngày cũ. Và đó chính là một trong những dấu hiệu chỉ rõ trình độ sống của chúng ta.


NHỮNG Ý TƯỞNG  SÁNG SUỐT LẠI BỊ COI RẺ

Ngày 1 tháng 8 năm 2020

Sau khi dẫn lại  mấy ý tưởng của Nguyễn Vân Nam, tôi giở sổ và còn tìm thấy nhiều ý tưởng sáng suốt khác từng được phát biểu trên sách báo mấy chục năm nay, nhưng bị xếp xó. Tạm dẫn hai ví dụ

 I/MỘT CUỐN SÁCH VỀ LUẬT

      Trong một lần lang thang trong phòng sách Thư viện Khoa học xã hội, 26 Lý Thường Kiệt Hà Nội, tôi tìm thấy cuốn "Chế ước quyền lực nhà nước" của Nguyễn Đăng Dung do Nhà xuất bản Đà Nẵng cho in 2008.

 Cả phần đầu cuốn sách được viết  với hai ý :

   - Một là sự cần thiết của nhà nước. Nói như Thomas Hobbes trong cuốn Leviathan, cuộc sống mà không có nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự  thì sẽ rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi.

   - Hai là khi đã có quyền lực rồi thì sự lạm dụng quyền lực lại rất dễ dàng xảy ra. Bởi vậy phải có sự chế ước.

     Ở trang 55 cuốn sách, tôi đọc được một đoạn dẫn lại ý của Thomas Madison, người thường được mệnh danh là cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ, như sau:

      Bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người.

     Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền.

     Nếu các thiên thần đóng vái trò cai quản thì sẽ không cần phải có sự kiểm soát với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong.

     Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có khả năng tự kiểm soát mình “.    

        Nguyễn Đăng Dung là một giáo sư khoa luật  Đại học Hà Nội.

    Trong lúc những  công trình gọi là  khoa học của các giáo sư giả cầy chỉ mang nội dung tuyên truyền xoàng xĩnh cũng được báo chí lăng xê thì những công trình có giá trị thực thụ có thể trực tiếp tham gia vào các vấn đề đời sống như thế này chỉ được in ở một nhà xuất bản địa phương và gần như không hề được giới viết lách cả lề trái lẫn lề phải quan tâm.

     Ngày hôm nay 31-7 -2016, tra mạng Google tiêu đề “Nguyễn Đăng Dung Chế ước quyền lực nhà nước" chỉ được 55 kết quả.

     Nếu đi điều tra ở các Thư viện lớn, xem có ai mượn cuốn sách đó không, tôi đoán con số thu được cũng chỉ là "dưới mức khiêm tốn."

     Lưu ý thêm là trong nhiều năm qua, nhiều cuốn sách về các vấn đề khoa học xã hội của các tác giả nước ngoài đã được in ra. Có những cuốn đưa ra  gợi ý để tự ta sẽ tìm lấy câu  trả lời cho nhiều câu hỏi của xã hội hôm nay, nhưng không hiểu sao (?) lại chỉ được in với số lượng rất ít, không bầy bán rộng rãi, đúng ra  gần như bị giấu biệt đi; bọn tôi có khi chỉ do những cớ ngẫu nhiên mà tìm thấy. Rồi từ đây đến chỗ tiêu hóa được những sách đó, còn là một chặng đường dài, mấy ai theo đuổi mãi được. Xu hướng chung là vội phát biểu cho kịp thời mà quên cả nghiên cứu cơ bản.

II/NHỮNG BIẾN THÁI TỪ HAI CÂU THƠ TẢN ĐÀ  

Đạt tới tầm khái quát về dân mình, câu thơ sau đây của Tản Đà thường được nhiều người nhắc lại:

Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đó là một trong những câu thơ loại “sấm truyền” từng được bọn tôi ở Hà Nội kháo nhau từ hồi đầu chống Mỹ, đúng hơn là trước sau 1970.

Bọn tôi nói ở đây là một vài anh em tôi quen, vừa tốt nghiệp đại học trong ngoài nước loại khá, mới được tuyển dụng về làm bên Ủy ban khoa học xã hội. Như, anh Tạ Ngọc Liễn bên Viện Sử, anh Dương Tất Từ bên Viện Văn, anh Bằng Việt bên Viện Luật và nhiều anh khác.

Một trong những băn khoăn của bọn tôi những năm đó là tính xem lúc này đất nước mình đang ở vào một tình thế như thế nào và khoa học xã hội có thể giúp gì cho cuộc sống. Điều đơn giản là  chúng tôi hay đọc lại người xưa, tìm thấy nhận thức của mình trong suy nghĩ của người xưa.

Câu thơ của Tản Đà nói trên còn được đám bạn tôi -- tạm gọi là lớp trí thức trẻ lúc ấy -- đọc trệch đi theo nhiều kiểu.

Dân luật thì

 "Nước bốn ngàn năm không có luật

Dân hai lăm triệu đã thừa người ".

Dân sử thì

"Nước bốn ngàn năm không có sử

Dân hai lăm triệu đã thừa người ".

Nhưng thường nói cho vui vậy thôi rồi trong công việc, chúng tôi lại viết khác hẳn và cái khác hẳn đó sẽ làm nên sự nghiệp của những người năm nay đã ngoại bảy mươi cả một lượt.


HY SINH TƯƠNG LAI CHO HIỆN TẠI

Ngày 8 tháng 8 năm 2020

Bạn MaiLanTruong mới viết trên trang của mình

“Điểm chuẩn vào trường Công an gần như cao nhất, điểm chuẩn vào trường Sư Phạm gần như thấp nhất.

Cứ nghĩ đến là mất ngủ. Sao lại đa đoan hoài vậy...!?”

Tôi nghĩ, chẳng qua nay là lúc người Việt  chỉ loay hoay với những chuyện trước mắt, mà không hề hay đúng hơn là thấy mình không đủ sức lo chuyện  tương lai.

Và do chỗ mất hết niềm tin vào tương lai, nên người mình kẻ có điều kiện thì lo cho con cái đi học nước ngoài, kẻ không có khả năng trốn khỏi hiện tại  thì xoay ra bia rượu cờ bạc để hành lạc qua ngày.

Tuyệt vọng đang là thứ khí hậu chi phối cái thời đại hậu chiến mà người Việt tưởng là có quyền hy vọng hơn bao giờ hết.

Có lẽ là tôi cổ hủ quá, nhưng từ những năm 60  cho tới ngày nay, không hiểu sao tôi vẫn thích mở ra nghe lại  “Bài ca hy vọng” của Văn Ký. Từ thời của  người ca sĩ miền Nam tập kết Khánh Vân tới nay đã hơn nửa thế kỷ. Đã bao nhiêu cách giải thích về hy vọng đã đến. Rồi lại ra đi. Một trong những người hát bài này là Lão Nông, gần đây  nảy ra cái ý xuất thần  “bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng”. Đấy là cái công thức tôi đang muốn tìm.

Thói quen suy nghĩ cũ thường thầm thì vào tai loại người như tôi “cái thời khó khăn này rồi sẽ qua đi rất nhanh...” . Không, nhà văn Thu Bồn có lần nói với tôi, hóa ra thời nay cái  đang tan nát lại rất bền vững.


NHỮNG TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI

Ngày 14 tháng 8 năm 2020

Tiếp tục câu chuyện

về bộ "Quốc văn giáo khoa thư"

Theo quan niệm về giáo dục ta hiện nay, trẻ em như tờ giấy trắng, chỉ cần nói ra những việc tốt phải làm là trẻ noi theo.

 Còn những người soạn sách ngày trước nghĩ khác, theo họ trước khi đến trường, các em đã nhiễm sẵn rất nhiều thói xấu từ gia dình và xã hội.

Và lẽ tự nhiên là người ta phải dành một số lớn bài giảng để giúp các em vượt qua những thói xấu vốn đã tiêm nhiễm một cách tự nhiên vào tâm trí.

Tôi cho rằng đây là một quan niệm hiện đại về con người, còn các nhà soạn sách tiểu học của  chúng ta ngày nay hiểu về tuổi thơ quá đơn giản và cổ lỗ nên mới làm ngược lại.

Những ví dụ nêu ở phần đầu bài này tưởng đã đầy đủ

Những tư tưởng quá ấu trĩ mà bây giờ ta hay mắc còn được các nhà biên soạn cuốn "Quốc văn giáo khoa thư" vượt lên qua nhiều trường hợp khác .

Ví dụ ngày nay trong gia đình và nhà trường ta hay dạy trẻ "Ở hiền gặp lành."

Nhưng đó là quan niệm dân gian  liên quan đến tư duy nguyên thủy.

Còn  một tư duy hiện đại sẽ đề ra công thức "Ở hiền có thể gặp lành mà cũng có thể không gặp lành", và người ta không nên đòi hỏi chỉ gặp điều lành thì mới làm điều thiện.

Mở trang 44 quyển sách tôi nói,  có bài "Người đi đường và con chó."

Bài này kể chuyện có một người cưỡi một con ngựa đến đầu làng kia, chú chó nhà gần đấy sủa cắn mãi làm con ngựa sợ, chạy lồng lên.

Người cưỡi ngựa tức giận vô cùng, muồn giết ngay con chó, mới bảo rằng: “Tao mà có súng, thì cho mày một phát là hết cắn. Nhưng mà được, tao đã có có cách làm cho mày chết."

Nói xong, người kia chạy đến giữa làng, kêu to lên rằng; “Chó dại! Chó dại”.

Những người xung quanh đấy, nghe tiếng kêu chó dại, liền vác gậy, vác xẻng ra đuổi đánh chết con chó.

Gớm thay cho lời nói của người ta, có khi giết hại được hơn là đồ binh khí."

Chắc các bạn cũng thấy cái tư tưởng được nêu ra ở đây hết sức là hiện đại, chỉ những con người  sống qua những tao loạn thời nay  mới hiểu được.

Nó nói về một hành động chính trị , tức việc tổ chức dư luận xã hội như thế nào.

Khi ngay từ 1926 đã đưa nó thành bài học cho học trò tiểu học, những người soạn sách thật đã có sự tôn trọng đối với lớp trè.

Họ đã chuẩn bị cho các em nhìn nhận sự sống với tất cả các vẻ phức tạp của nó.

 Trong bộ "Quốc văn giáo khoa thư" đang nói còn nhiều bài có những ý tưởng rất phức tạp mà cần thiết như vậy.

Bài "Cần phải giữ tín hạnh của mình" đề cập tới  chuyện một người đi đôi giày mới vào con đường đất sau mưa, ban đầu còn rón rén giữ gìn,  sau một lần vô ý làm bẩn giày, thế là cứ đi ào ào giày có bẩn thật thậm tệ cũng mặc.

Đây là một ví dụ cổ điển về thái độ hư vô trong cuộc sống của con người.

Bài trang 86 mang tên "Chuyện một người thợ đá có lương tâm", " kể rằng khi phải khắc lên bia đá những điều trái với ý mình, một người thợ đá đã bảo với viên quan đặt hàng ông ta làm: “Bắt làm thì tôi xin làm, nhưng xin tha cho đừng bắt khắc tên người thợ đá dưới bia.”

Cái sự trọng danh dự nghề nghiệp ấy thời nay chẳng thấy ai nhắc lại nữa.

Tôi liên hệ tới nghề viết văn viết báo mà mình theo đuổi cả đời và thấy rằng những người cầm bút thời nay nên tiếc là ngay từ thời trẻ không được học những bài tương tự.


TÊN PHỐ VÀ SỰ CỐ ĐỊNH HÓA LỊCH SỬ

Ngày 24 tháng 8 năm 2020

Bài viết đã đưa trên FB này từ 12/2018

---

Qua nhiều chuyến du lịch bụi ở Trung Quốc tôi thấy ở các thành phố từ trung ương đến địa phương người ta đều có lối đặt tên phố theo những địa danh cổ, hoặc tên các khái niệm văn hóa xã hội, thậm chí là tên các loài hoa.

Mấy cái tên to đùng như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai không được đặt đã đành, mà những loại như Tập Trọng Huân cha đẻ của ông Tập đặt - mình - ngang - cỡ Mao hiện nay cũng không có nốt.

 Chỉ duy nhất có một trường hợp đại lộ đặt theo tên người mà ở thành phố nào cũng gặp là (Tôn) Trung Sơn, nhưng là được đặt từ thời Quốc dân đảng.

Làm thế theo tôi có cái lợi là không cố định hóa lịch sử.

Tôi ngờ ở họ các thế hệ cầm quyền có một ám ảnh là làm khác những người đi trước và xem đó  là cách biểu lộ lòng trung thành với quá khứ một cách tích cục nhất.

Trung thành với quyền lợi của nước Trung Hoa chứ không trung thành với riêng ai cả.

Xứ sở của giáo điều – theo khoa chính trị học những năm sáu mươi thế kỷ trước – hóa ra chính là xứ sở của xét lại.

Tên phố ở ta hiện nay được hình thành từ khi người Pháp cai trị và lấy Hà Nội làm thủ phủ của cả Đông Dương. Bấy giờ các tên phố phần lớn được đặt theo tên danh nhân nước Pháp.

Theo nhà văn Tô Hoài kể lại thì mãi tới đầu 45, tên phố Hà Nội mới được đặt theo tên các danh nhân người Việt. Việc này là do bác sĩ Trần Văn Lai phụ trách.

Rồi đến 1954 khi bộ đội về tiếp quản Hà Nội, thì các tên phố được đặt lại theo các quan niệm mới về lịch sử Việt Nam. Ví dụ như đường Bà Triệu rất lớn hiện nay trước năm 54 được gọi là đường Gia Long. Còn đường Lê Hồng Phong, đường Trần Phú, thì trước 1954 gọi là đường Anh Quốc, Mỹ Quốc.

Trong những năm chiến tranh Hà Nội không xây dựng gì thêm, mãi tới cơn bão xây dựng gần đây thì nhiều đại lộ mới xuất hiện.

Và tôi thấy nổi lên một xu thế quá rõ rệt, là lấy tên nhiều người đương đại mà theo tiêu chuẩn bình thường thì khó gọi là có ý nghĩa với lịch sử nếu không quan  niệm lịch sử một cách lặt nhặt  lụn vụn .

Một việc làm như của nước Pháp, theo tôi có lý do của nó: Lịch sử Pháp đã rất ổn định từ thời có Hàn Lâm Viện, vả chăng họ cũng hết sức hạn chế khi dùng tới tên của các nhân vật hiện đại.

Còn ở ta, việc đặt tên phố theo tên các nhà hoạt động xã hội đương đại đang ngày càng phổ biến. Nó nằm trong xu thế của người thời nay là quá hợm hĩnh trước thành tựu của mình và xem đó là kỳ tích hơn hẳn ông cha.

Theo tôi ngay từ quan niệm lối đặt tên phố như hiện nay nhiều chỗ dở. Qúa nặng lịch sử chiến tranh. Qúa nhẹ lịch sử  tri thức và phát triển.

Nhất là nó buộc người ta chỉ được nghĩ về lịch sử  và nhân vật lịch sử theo một cách duy nhất do nhà cầm quyền đương thời áp đặt.

Một xã hội cứ nghĩ rằng trước sau bao giờ mình cũng đúng, không bao giờ xét lại quá khứ của mình, một xã hội như thế không tiến lên được.

Nhìn vào khu vực văn học nghệ thuật  mà tôi làm việc  hoặc là khu vực các trí thức nói chung, tôi thấy có hiện tượng là người ta đang tranh nhau để hòng có được một vị trí trong bảng danh sách các khu phố mới mở, từ đó sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực đáng tiếc.

Nhà giáo Nguyễn Lân vốn chưa từng được phong giáo sư, ấy thế mà trong các tài liệu chính thức người ta vẫn gọi ông là giáo sư. Rồi đến các cuốn từ điển mà ông đã biên soạn, khi chúng được những nhà nghiên cứu chỉ ra những chỗ sai lầm, thì các báo không đăng, chỉ sợ làm hại đến uy tín của nhà trí thức. Một vài anh em có hiểu biết về nội tình gia đình có bảo với tôi, hình như chính các con cháu trong nhà cụ là những người đã lo bảo vệ cụ Lân tích cực nhất. Họ làm thế với mục đích thiết tha là mong khi cụ qua đời, được đặt tên cho một khu phố mới mở.

Trường hợp Nguyễn Lân còn cho thấy cách sử dụng tri thức ở ta, tức là người nào ngoan ngoãn dễ bảo thì được trọng dụng, còn người nào có ý kiến khác với trên thì bị coi thường và có giỏi mấy cũng không cần, khi chết họ ít được nhắc nhở kể cả việc được đặt tên phố để “trở thành bất tử”.

GIÁO ĐIỀU CUỒNG TÍN LÀ MỘT TỘI ÁC

Ngày 25 tháng 8 năm 2020

Có những tội ác thuộc hệ thống, gần giống như là cố ý.

Thời nào cũng có những kẻ cuồng tín, và có lẽ họ lấy thế làm vinh dự.

Tôi thường cũng có sự quí chuộng, và đôi khi cả sự cảm phục thầm kín nữa, đối với những ai liều cả mạng sống mình, mà chẳng mong chút lợi lộc gì.

Phía chúng ta, thật sự chúng ta chẳng hãnh diện gì khi xét thấy chúng ta làm rất ít, hy sinh rất ít cho những điều mà chúng ta tin tưởng là đúng và thực.

Đã hẳn tôi có thể tìm thấy ở kẻ cuồng tín những đức tính hiềm có, đáng tôn trọng, và ít nhất cũng có một phần ý chí .

Nhưng hãy xét về mặt tư tưởng.

Thứ tư tưởng cứng nhắc, hạn hẹp, chỉ nhìn một khía cạnh, không chấp nhận tư tưởng của người khác, -- như thế không phải là tư tưởng.

 Đó là thứ sáo ngữ lặp đi lặp lại; trong sáo ngữ đó cũng có điều thật, và đôi khi cả sáo ngữ đó là điều thật, nhưng không phải là tất cả sự thật.

Có cái gì máy móc trong một tư tưởng cuồng tín, vì bao giờ tư tưởng ấy cũng trở lại đường cũ. Nó không tìm tòi nữa, không phát minh nữa.

Chủ nghĩa giáo điều giống như một cơn mê sảng nói ba hoa. Nó thiếu cái mũi nhọn kim cương, là sự hoài nghi, để đào sâu bới kỹ.

Những tư tưởng cuồng tín ấy chế ngự một cách tài tình những lo sợ và những sở thích, nhưng chúng không tự chế ngự được chúng.

Chúng không giúp ta tìm cách nhìn từ nhiều khía cạnh, không phóng tầm mắt xa rộng trước địch thủ; chúng cũng không giúp ta có sự suy tư tự do để mở đường thuyết phục và đồng thời từ bỏ bạo động.

Tóm lại, có cái thói hiếu thắng trong tranh cãi, và có cái thói lười biếng suy tưởng giống như các thứ lười biếng khác.

Hóa cho nên những tội ác ngoạn mục kia lại có tính chất máy móc, và không chủ ý.

Nhưng không vì thế mà nó không phải tội ác.  

trích  HỌC KHÔN của Alain, Phạm Đình Khiêm dịch

Đầu đề đặt ở đầu bài là của VTN

Alain (1868 - 1951),là tác giả triết học, nhà giáo  có nhiều học trò nổi tiếng như A. Maurois. Ở ta gần đây đã được giới thiệu trong cuốn "Alain bàn về hạnh phúc"


CHUYỆN LAN MAN TỪ NHỮNG CHIẾC XE GẮN MÁY

Ngày 28 tháng 8 năm 2020

Có những lúc trong đầu óc người ta nảy sinh ra một vài ý nghĩ chính mình cũng không ngờ, lại thấy như là kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi.

Thuộc loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó - chữ của Nguyễn Công Hoan - xuất hiện nơi đầu óc tôi ngay trong những năm chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe đạp.

Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe đạp, và cái món “tự hành xa” này lúc đó cũng còn ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc.

Với những thanh niên mới vào đời như một số bạn bè tôi lúc đó, việc mua được một chiếc xe là một sự kiện lớn. Tôi như biết bay trên con ngựa sắt của mình.

Vậy mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà lạ vậy...

Cho đến lần tôi được đọc truyện ngắn "Người trong bao" của nhà văn Nga A.Tchekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp phóng qua một ngọn đồi vùng quê, lại còn trò chuyện với nhau ầm ĩ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov, cái cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi. Hắn bảo với một người khác: “Cái gì lạ thế? Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện?”.

À ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã thấy buồn cười khi nhìn vào một xã hội mỗi người nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng qua không còn có cách nào nên đành chịu vậy!

Thì bây giờ lại đến xe gắn máy!

Vài chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con người xứ mình. Sự có mặt của nó gây nên một khí hậu sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy quốc”.

Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay đầu giường. Mở mắt ra là thấy có tiếng xe gắn máy rú ga trong ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu Chương Dương, tôi phát ngán vì lớp lớp xe gắn máy ken đặc và khói xả khét lẹt.

Và đáng sợ nhất là những nét mặt người ngồi trên xe, người nào mặt mũi cũng hằm hằm khó chịu, con mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.

Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe gắn máy tán chuyện giữa đường, tôi cảm thấy như các chiến binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra roi phi thẳng vào vùng chiến địa.

Ngồi lên xe là tự nhiên cái ngông nghênh trong con người mình nổi dậy, muốn vượt lên thật nhanh, muốn cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ!

Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm sự của cả mấy thế hệ từ chỗ chỉ có cái xe đạp kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản xuất từ các nước phát triển. Ta có ảo tưởng là ta đã trở thành con người hiện đại.

Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ máy bóp còi chen lấn chỉ tố cáo một tình trạng xã hội cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường hiện đại.

Những ngày Hà Nội mưa dầm rả rích, trời đất tôi tối mờ mờ, từ sở trở về, nhìn hàng xe ken chặt các con phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay mủi lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.

Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi sự khó chịu nói trên. Mấy chuyến du lịch bụi cho tôi tận mắt thấy bên Trung Quốc, sự lưu thông xe gắn máy ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu. Họ bảo lắm xe gắn máy chỉ làm loạn thành phố. Làm ăn kinh tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương tiện cơ giới, xin mời đi xe buýt. Ai thích riêng tư, trước khi sắm cái ô tô của mình, hãy cứ bằng lòng với cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình thản tự tin.

Làm sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy bây giờ? Một câu hỏi như thế đến với tôi từ mấy năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải đáp. Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Để sự giao lưu thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình trong tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh tranh với người đi bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ nhịp nhàng vận động về phía trước.

Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát đó! Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp đi lặp lại hóa nhàm, sự sùng bái hiện tại đang là phương thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về cái chuyện vặt là chiếc xe gắn máy?

Trong lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang Trung Hoa, tâm trí tôi lại còn nảy ra một câu hỏi khác:

Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như ta, sao họ lại sớm có cái quyết định thông minh như vậy?

May quá lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm sẵn trong cuốn "100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc" (Nguyễn Văn Dương dịch, 2002) phần viết về Triệu Ung.

Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương nhiều cải cách, trong đó có lối ăn mặc.

Nguyên trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa Hạ nói chung sống theo một nhịp thong thả chậm chạp. Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và đề lên thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa bắn cung thật hết sức bất tiện.

Trong khi đó quân Hồ - một dân tộc thiểu số phía Bắc - quần chẽn, áo ngắn, ôm chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên thiện chiến cũng không phải lạ.

Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính ngoài chiến trường tới văn võ bá quan trong triều, phải thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.

Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu áp lực lớn từ chung quanh. Có người nói: “Mặc y phục phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay đổi đạo lý”. Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay không có quyền thay đổi.

Triệu Ung đáp lại: “Vì lợi ích của đất nước, bất tất phải theo phép xưa”.

Và trong bàn tay nhào nặn của ông, nước Triệu trở nên một xứ sở khác.

Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự đồng bộ của đời sống. Một thời đại thường được đánh dấu bằng những tư tưởng mà người ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng chính những chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc, đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra cái tối ưu trong những phương thức sinh hoạt... cũng là một thứ chỉ số cho thấy người ta đang ở chặng đường nào của lịch sử.

Danh nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động chính trị, quân sự, các nhà triết học, nhà tư tưởng, văn gia, thi gia… Nhưng trong cuốn "100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc" nói ở đây, bên cạnh những cái tên như Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như Công Thâu Ban, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng, hoặc Hoàng Đạo Bà, là người có công cách tân hệ thống công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.

Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung.

Các nhà sử học sau này ghi tên ông vào lịch sử như một người mang lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng gọi là vĩ nhân.

Tôi không ghi được xuất xứ, nhưng nhớ có một bài báo đã viết rằng một trong những phát minh lớn nhất của nhân loại hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự hoại.

Người Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự.

Còn ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường chỉ tập trung vào đánh giặc và làm thơ. Từ xưa đến nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ công Việt Nam, người ta thường bày ngay đồ nghề trên nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát mặt đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa thấy ai nghĩ chuyện thay đổi.


DẠY CON Ở TUỔI ĐANG HỌC TIỂU HỌC

Ngày 1 tháng 9 năm 2020

Bạn trẻ H. đang nuôi con  học tiểu học vừa viết trên FB của mình rằng bạn ấy có quan niệm khác về dạy con khác hẳn nhiều người đương thời .

 Nhiều người đặt nặng câu chuyện con học giỏi. H. chỉ  chỉ chú ý  dạy con sống tốt  với mọi người, sống can đảm và tử tế.  Nói cho rõ ràng hơn. Ví dụ con H khoe  được điểm mười, H vẫn thản nhiên. Nhưng khi cháu khoe giúp một bạn nhỏ khác việc gì đó thì H chạy lại ôm chầm lấy con và nói mãi với con về chuyện đó, rồi tự thân đi khoe và bảo con đi khoe với mọi người.

H lý luận “tôi chỉ có 24h, và năng lượng chỉ có hạn, tôi chỉ tập trung vào những gì nhà trường không dạy. Tôi đã nhìn thấy cái nhà trường không dạy là tính cách và giá trị sống! Các lớp kỹ năng sống cũng chưa đủ. Kỹ năng mới chỉ là "HOW", còn phải dạy con "WHAT" và "WHY" nữa.

Chỉ có bằng cấp là ko đủ. Tất cả các giám đốc nhân sự tôi đã gặp đều khẳng định tính cách của ứng cử viên mới là điều quyết định.”

Kinh nghiệm của tôi, một người đã 75 tuổi hơi khác một chút.

Tôi học tiểu học ở Hà Nội trước 1954, nhưng học phổ thông cơ sở (hồi đó gọi là cấp 2) ở trường "của ta", trường học theo chương trình giáo dục ở Việt Bắc mới được mang về.

 Một trong những chỗ khác nhau giữa hai loại trường đó như sau.

Trường vùng tạm chiếm  chú ý tới học sinh một cách tự nhiên, cần cả ngoan và giỏi.

Dạy đạo đức theo cách thày giáo làm gương.

Và dạy chuyên môn thật chặt chẽ. Học sinh giỏi thì khuyến khích, học kém thì  chê trách và nếu ai không học được sẵn sàng cho lưu ban  và nếu không được thì  đuổi  học.

 Thú vị nhất là với đám chăm học và thông minh

Học càng giỏi càng tốt với nghĩa khuyến khích học sinh học thêm ở nhà học, thậm chí học theo những sách vở không phải chỉ dạy ở lớp cũng được, nhà trường không tự cho mình là  chân trời của đám trẻ mới lớn.

Còn đây là trường “của ta”. Cái  quan niệm làm hỏng bao thế hệ học sinh hiện nay đã có mầm từ đó, tuy có đôi chỗ khác đi, nhưng vẫn tinh thần cũ. Tức là:

+ đặc biệt chú ý tới  tình trạng đồng đều, cái chính là trình độ cả lớp chứ không phải trình độ của một vài cá nhân.

+ không khuyến khích đám chuyên sâu học giỏi, ngăn cả các bạn đó học rộng ra ngoài; buộc các học sinh học giỏi phải bớt thời gian kèm thêm các bạn học kém, coi đó là quan trọng hơn. Vào thời điểm cuối năm cần tổng kết phong trào chung, các bạn học kém này còn được dễ dàng nâng điểm, cốt sao cả lớp đạt mức khá là cả lớp có thành tích.

Phải thú thực là hồi đó cánh học giỏi chúng tôi bực lắm. Bực vì không được học thêm theo ý mình, mà  lại phải  chịu trách nhiệm  về mấy bạn khác, dù hàng ngày bạn ấy rất lười, lúc đầu chỉ dốt sau sinh lười.

 Khi hiểu không cần tự lo cũng được mà đã có người khác lo cho mình, họ càng lười thêm, toàn lo chơi bời tán dóc, mặc kệ mọi chuyện.

  Xu hướng này còn kéo dài ở nhiều lớp trên và khi ra làm việc kéo dài ở nhiều cơ quan công sở.

Tôi  chỉ được an ủi khi một lần, lâu rồi,  cùng với các bạn tạm gọi là học giỏi lúc nhỏ đó nhận ra rằng:

*  muốn học giỏi, người ta không chỉ dựa vào năng khiếu, mà phải chăm chỉ, trong lớp lắng nghe thầy giảng không làm việc riêng không nói chuyện.

* một cách khái quát người học giỏi là người  có đạo đức và sẽ suy nghĩ để tìm ra cách sống tốt hợp lý

Nói cách khác con người  trở thành người nhất  khi  đi sâu vào kiến thức chuyên môn của họ.

Trong quá trình nghiên cứu về  người Việt tôi nhận  thấy con người nghề nghiệp  ở  dân mình  rất kém, đó cũng là lý do  nảy sinh ra nhiều thói hư tật xấu.

 Cần bàn kỹ hơn nhưng đại khái là thế. Tôi mong bạn H. và các bạn  có lối dạy con  tương tự nên thử nghĩ lại xem .

Về chuyện dạy con, nhất là bắt đầu dạy như thế nào với đám mẫu giáo và tiểu học, tôi còn có một số kinh nghiệm riêng, sẽ xin trình bày vào dịp khác.


TIỀN BẠC THỜI NAY

Ngày 2 tháng 9 năm 2020

Trong truyện ngắn "Không có vua" của Nguyễn Huy Thiệp (viết khoảng năm 1988), có nhiều cảnh liên quan đến TIỀN.

Ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”.

Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền.

Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc.

Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách!

Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được.

Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại.

Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.

 Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền.

Các giá trị ổn định.

Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng.

Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, mối quan hệ  con người Việt Nam hôm nay với đồng tiền thật nhiều vẻ khuất khúc.

Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi.

Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất.

Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề.

Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm.

Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có.

Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên.

Anh Hanh, ông bạn quý của tôi ngoài sông Hồng có lần  về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan.

Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.

Có thể nghĩ lan man về việc này.

Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.

Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có.

 Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó. Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện.

Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài.

Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó.

So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai.

 Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc.

 Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình.

Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Đồng tiền đang có muôn ngàn bộ mặt, mà thường là những bộ mặt kỳ dị.

Tôi biết sẽ là ngớ ngẩn nếu lại đi ao ước rằng được sống như người xưa, nhưng quả thật có lúc không cưỡng nổi mình, tôi vẫn thoáng có ý nghĩ như thế.

Điều chắc chắn hơn, con người hiện đại, trong rất nhiều cái mới mẻ của mình, lại có nỗi bất hạnh mới.


MỘT CÁCH NHÌN MỚI VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM THÔNG QUA VIỆC SO SÁNH VỚI VĂN HOÁ NHẬT BẢN

Ngày 5 tháng 9 năm 2020

(Nhân đọc Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá của Vĩnh Sính)

Qua người hiểu mình là một trong những con đường nhận thức được nhiều người công nhận là cần thiết và “có triển vọng”, tức có khả năng tạo nên hiệu ứng có giá trị đích thực đối với những chủ thể đang muốn tự hiểu về mình.

Nhưng lâu nay ở Việt Nam, việc làm này có nhiều chỗ khó. Do những lý do thuộc về địa lý và lịch sử, dân ta thường ít đi rộng ra ngoài mảnh đất sinh sống, từ đó những hiểu biết của mỗi chúng ta về những xứ sở khác, những con người khác, thường thiếu hệ thống thiếu toàn diện, không đủ giúp ta có dịp tốt để đối chiếu so sánh. Mặt khác ta chưa sẵn sàng muốn tái khám phá bản thân. Ta quá tự tin, và tưởng sự mình biết về mình đã quá đủ, không mấy ai ngồi tính xem cần đi đâu thêm, hỏi thiên hạ thêm điều gì nữa.

May thay, vào những ngày này, những hạn chế ấy có điều kiện để khắc phục. Người Việt có mặt trong khắp thế giới hòa nhập vào đời sống khoa học quốc tế, từ đó có dịp nhìn về quê hương mình sáng rõ hơn.

Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá[1] là một tập sách có nội dung khá phong phú. Có bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô, những người mở đầu nền mậu dịch Nhật Việt như Suminokura Ryooi và Yoichi. Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha. Có bài giới thiệu tác phẩm cổ điến văn học Nhật như bản dịch Lối lên miền Oku của Matsuo Bashô.

Đằng sau những câu chuyện cụ thể ấy, theo ý tôi, phần nội dung có tính chất nền tảng của tập sách lại là những nhận thức của tác giả về một số khía cạnh cấp bách của văn hoá Việt Nam, quá trình nhận thức này được tiến hành thông qua việc so sánh với quan niệm về những vấn đề đó ở Nhật Bản.

Dưới đây tôi xin phép trình bày một ít thu hoạch rút ra từ Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá. Nếu cách đọc của tôi không trùng với cách đọc của nhiều người, thậm chí không trùng với cách đọc mà chính tác giả đề nghị, thì xin cũng được coi là điều bình thường.

Mối quan hệ giữa lòng yêu nước và nhu cầu chung sống với thế giới

Một trong những bài viết quan trọng nhất của tập sách này là dành để đề cập tới “Quan niệm về độc lập quốc gia của Việt Nam và Nhật Bản thông qua trường hợp Phan Bội Châu và Fukuzawa”.

Xuất phát từ nhu cầu mở cửa đất nước trong thời đại toàn cầu hoá, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam gần đây đã trở lại với tình hình đầu thế kỷ XX, trong đó có trường hợp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du do Phan khởi xướng. Nhưng cách chúng ta giới thiệu còn chung chung và cũ. Hoặc nói nhiều tới các hoạt động hơn là tìm hiểu tư tưởng Phan Bội Châu. Hoặc cũng đề cập tới những quan niệm có tính cách mạng, chẳng hạn tư tưởng dân chủ mà Phan tiếp nhận được, song không đi vào phân tích cụ thể, trong mối liên hệ với các quan niệm thiết yếu khác. Còn trongViệt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá, Vĩnh Sính có điều kiện lần tới những vấn đề cơ bản đặt ra với cả xã hội ta đầu thế kỷ XX. Ông bắt đầu từ quan niệm về quốc gia của nhà cách mạng Việt Nam, và lấy nhà tư tưởng hàng đầu của nước Nhật là Fukuzawa để so sánh.

Theo cách trình bày của Vĩnh Sính, đặc điểm của lòng yêu nước ở Fukuzawa (1834-1901) là tính chất lý trí của nó. Lòng yêu nước ấy được thận trọng chuyển hoá vào trong công việc suy nghĩ và nghiên cứu. Fukuzawa quan niệm : Khi người nước ngoài tới, trước tiên ta phải tìm hiểu họ, xem họ như thế nào, có gì khác mình giống mình, tại sao họ lại đến được nước mình. Phải thấy về lâu dài, một nước thả nào cũng tìm được tiếng nói chung với các nước khác trên thế giới. Cái gì mình chưa biết thì phải học, học để trở nên văn minh. Công thức tóm tắt “ Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu đó” (tr. 152).

Từ trường hợp của Fukuzawa,Vĩnh Sính đưa ta quay trở lại soi tỏ trường hợp Phan Bội Châu. Trong khi chăm chú vào công việc cấp bách, Phan ít có cái nhìn rộng ra ngoài. “Phan không bao giờ có ý định tìm hiểu về người Pháp và nước Pháp”, “Nhận thức về quan hệ quốc tế của Phan vừa lỗi thời vừa chủ quan.” ( tr. 299 ). Ông không nhận chân được tình hình chính trị phức tạp và đa dạng của thế giới cận đại cùng những nguyên nhân đã đưa Nhật Bản và các nước phương Tây lên địa vị phú cường. Ngay đối với nước Nhật mà ông muốn cậy nhờ, sự hiểu biết của ông cũng “sơ sài, chủ quan và nông cạn” (tr. 148). Ông sẽ chẳng lặn lội đi đâu, nếu ở trong nước mà cứu được nước. Với ông kẻ thù đến là đánh, dùng biện pháp gì để đánh cũng được, bất cứ giá nào cũng chấp nhận miễn là thành công. Trong bức tranh toàn cảnh về một đất nước Việt Nam như Phan mong muốn, điều quan trọng là nhất thiết không có cường quốc bảo hộ, ngoài ra các vấn đề quan hệ đối ngoại không được đặt ra.[2]

Trong khi Fukuzawa chủ trương chấp nhận trật tự thế giới lúc bấy giờ và từng bước canh tân Nhật Bản theo mô hình các nước phương Tây, thì Phan Bội Châu có xu hướng thiên về ảo tưởng, và cả sự manh động, với hy vọng “đảo ngược thời cuộc” (tr. 143 -144). Lòng yêu nước ở ông có phần đơn giản. Nó dựa trên tình cảm hơn nhận thức. Đúng hơn có thể mượn lời Phan Châu Trinh[3] mà nói thẳng Phan Bội Châu là một nhà đại hào kiệt “có lòng thương nước” nhưng đã “không biết cái đạo thương nước” (tr. 302 ). Nguồn gốc của những thất bại của Phan một phần bắt nguồn từ đấy chăng ? Nhưng chẳng phải là nhờ thế, nó lại có ích cho chúng ta hôm nay như một vết xe đổ phải tránh?

Không khó khăn gì lắm, có thể tìm ngay ra được rất nhiều nhân tố để bảo rằng nhà khai sáng Nhật Fukuzawa có gì đó may mắn hơn Phan Bội Châu: Đất nước Phù Tang không bị rơi vào ta kẻ xâm lược, mà chỉ có vài hiệp ước bất bình đẳng buộc phải ký. Và người dân của đất nước ấy đã trải qua nhiều cuộc tiếp xúc khôn ngoan, nhiều bước giác ngộ sâu sắc để có sự trưởng thành trên nhận thức, cũng như bản thân Fukuzawa sớm có dịp tìm hiểu văn hoá nước ngoài và các mối quan hệ quốc tế một cách khoa học. Còn với Phan Bội Châu, dân trí thấp kém là một tình trạng có thật, nếu cứ chờ dân trưởng thành thì không bao giờ giải quyết được công việc. Những hạn chế của Phan chính là hạn chế của dân tộc khi chưa chuyển sang thời hiện đại.

Những liên hệ với tình hình trước mắt

Cần nhớ là bên cạnh lòng yêu nước theo kiểu kịch liệt và thiên về bạo động của Phan Bội Châu, đương thời còn có lòng yêu nước trước tiên đặt vấn đề phải nâng cao dân trí học hỏi phương Tây rồi hãy làm tiếp, một cách yêu nước mới mẻ và khó khăn mà Phan Châu Trinh là đại diện.

Nghĩa là cách nghĩ như của Phan Bội Châu không phải là định mệnh.

Trong khi đó thì cho tới hôm nay, nhiều người chúng ta lại gần như chỉ chấp nhận một cách nghĩ như thế và xem nó là duy nhất đúng. Lòng yêu nước bị chúng ta tuyệt đối hoá.Ta chỉ cho nó có một cách hiểu. Ta xem nó thiêng liêng nên không cho phép ai được bàn thêm, mọi sự bàn bạc đều bị xem là báng bổ có lỗi. “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm”: Một cách nói rất dứt khoát như thế – Fukuzawa đã viết trong cuốn Khuyến học – đối với chúng ta dễ gây sốc. Yêu nước thì bao giờ cũng tốt đẹp chứ làm sao lại có thứ yêu nước hàm hồ nông cạn và vô trách nhiệm? – ta nghĩ đơn giản vậy. Tóm lại, ta để cho lòng yêu mến và kính trọng với Phan Bội Châu bao trùm tất cả dẫn đến suy tôn một chiều, mà không tìm cách nhận thức và đánh giá lại, và tìm ra cái cách yêu nước mà thời đại đang đòi hỏi.[4] Mỗi khi cần đặt Phan Bội Châu bên cạnh Phan Châu Trinh thì bao giờ cảm tình của chúng ta cũng nghiêng về Sào Nam, và nhiều người lại còn có cái nhìn gọi là “mang nhiều thông cảm” với sự ngây thơ của Tây Hồ (!).

Ở đây có một lý do sâu xa. Nửa thế kỷ qua, tư tưởng của Phan Bội Châu là một trong số không nhiều những tư tưởng chi phối sự vận động của xã hội Việt Nam. Nay là lúc những mơ ước cháy bỏng của Sào Nam đã được thực hiện. Nghĩ lại về ông, người ta cho rằng ông chỉ thất bại vì không biết tổ chức quần chúng. Chứ đúng ra Việt Nam giành được độc lập một phần là nhờ kiên trì tư tưởng của ông. Từ đó khái quát lên, cách hiểu về lòng yêu nước của Phan trở thành một di sản chỉ cho phép nói tới với niềm tự hào và lời hứa nhất nhất tuân theo. Bảo rằng nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử có thể rất yêu nước nhưng vẫn “không biết cái đạo thương nước” thì nhiều người sẽ giãy nẩy lên,và sẵn sàng hạ một câu xanh rờn “về yêu nước thì không ai phải dạy cho người Việt”. Vâng, về căn bản, đó là những ý nghĩ thường trực trong ta! Có thể có một lúc nào đó, một số chúng ta cũng bắt đầu mang máng cảm thấy rằng yêu nước theo kiểu ấy ngày nay là không đủ nữa. Nhưng chết nỗi nó là cả một kỷ niệm đẹp, là tuổi trẻ oai hùng của cộng đồng và người ta không muốn tự làm phiền mình, không muốn nghĩ lại mọi sự. Ngay cái chỗ mà Phan Bội Châu về sau phản tỉnh, tự cho là mình sai, và người sau nên rút kinh nghiệm để tránh (Vĩnh Sính đã dẫn ở tr. 302), thì chúng ta vẫn cứ ngần ngại, không dám vạch rõ sự thật. Bởi Phan thời đang hoạt động giống chúng ta quá! Sự dừng lại của Phan lúc ấy góp phần củng cố sự trì trệ của chúng ta hôm nay.[5]

Như thế đấy, tuy không nói ra một cách rành mạch, nhưng đằng sau các dòng chữ, có cảm tưởng là cái thực trạng của nhận thức và tâm lý sau chiến tranh được Vĩnh Sính hiểu khá kỹ càng. Ở chỗ nhiều nhà nghiên cứu chỉ biết ca ngợi một chiều và lảng tránh đi vào thực chất, thì ông đi tiếp. Bằng cách đó, Vĩnh Sính cho thấy sự có mặt của ông là cần cho mọi người. Từ thực tế Nhật Bản, ông giới thiệu với chúng ta một tinh thần yêu nước theo nghĩa hiện đại, nó là thứ tình cảm được soi rọi dưới ánh sáng của lý tính, tức là được đặt trong mối quan hệ với một quan niệm mới mẻ về độc lập quốc gia. Thứ nữa, đây không phải là thứ lý tính với nghĩa tư biện hoặc ra vẻ uyên bác mà là thứ lý tính thâu tóm được bản chất để trở thành tinh hoa của đời sống. Cần chú ý rằng khi nói về Fukuzawa, Vĩnh Sính ghi nhận đây là con người “vừa yêu nước nồng nhiệt vừa có những nhận thức thực dụng sắc bén” (tr. 149 ), thực dụng với nghĩa “ không câu nệ bởi những lý tưởng chính trị hay ý thức hệ xa vời để lỡ mất thời cơ” (tr. 151). Lời đề nghị của tác giả Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá đã quá rõ, vấn đề chỉ còn ở chỗ chúng ta có nghe ra hay không thôi.

Về một khía cạnh tâm lý dân tộc đang là rào cản cho quá trình hòa nhập của Việt Nam với thế giới

Ngoài trường hợp Fukuzawa nói trên, một người Nhật khác được giới thiệu trong tập sách tương đối kỹ là Shiba Ryôtarô (1923-1996). Theo cách nói của Vĩnh Sính, ông là một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật. Ông có viết riêng một cuốn sách ở đó quá trình lịch sử Việt Nam được phân tích khá sắc bén. Trong một nhận xét ngắn gọn rằng ở Việt Nam, “làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước (tr. 280), người ta nhận ra một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội chúng ta, nó là nguyên nhân cắt nghĩa nhiều thành công cũng như thất bại của chúng ta hôm nay. Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật không quên ghi nhận người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung; đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác” (tr. 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

Vậy là không chỉ quan niệm yêu nước mà nhiều vấn đề khác của văn hoá Việt Nam cũng được Vĩnh Sính mang ra so sánh với Nhật (hoặc với Hàn quốc). Việc giao thiệp với các nước ngoài, đúng hơn cái khả năng của một quốc gia trong việc tiếp nhận và làm giàu thêm cho mình bằng việc nhận thức tình thế và sẵn lòng chung sống với thế giới chung quanh – cái khả năng mà ông từng nói trong bài về Phan Bội Châu – được Vĩnh Sính trở lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, cả bao quát lẫn cụ thể. Bao quát thì như trong bài viết về Minh Trị duy tân, ông khái quát là phải tri kỷ tri bỉ để đưa đất nước tiến lên đài văn minh. Cụ thể thì như ở trang 159, ông đưa ra một bảng thống kê về lượng sách Anh, Pháp, Hà Lan được dịch ở Nhật tính đến thập kỷ cuối cùng thế kỷ XIX, qua đó không chỉ cho thấy tình trạng tiếp thu văn hoá nước ngoài của Nhật, mà cả cái cách họ tiếp nhận nữa. Họ không chỉ dịch sách văn học, cụ thể là mấy cuốn tiểu thuyết thời danh, để ra vẻ mình cũng cập nhật tình hình, theo sát thế giới (!). Cái mà họ ưu tiên hơn là sách học thuật, tức các lĩnh vực của khoa học xã hội. Đối chiếu với tình hình Việt Nam vào thời Tự Đức, chúng ta đủ nhận ra sự chậm trễ là đến mức nào. Hơn nữa,đó không phải chỉ là kém cỏi trong số lượng mà là sự tụt hậu trong trong thang bậc của nhận thức, một điều đến nay vẫn còn tiếp tục diễn biến, và chưa biết bao giờ mới thay đổi được.

Khác với các tiểu luận nói trên, Thiên kỷ III đang mỉm cười có dáng dấp mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998. Song sự định hướng của Vĩnh Sính trước sau là nhất quán. Công thức mà ông đề nghị bao giờ cũng bao gồm hai vế (1) mở cửa ra với thế giới, và (2) biết mình biết người, chỉ có đủ hai vế đó thì mới bảo đảm cho tiến bộ. Chẳng hạn, khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung Quốc Hà Phương Xuyên là vươn lên tầm thời đại, chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá. Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá” cần phê phán. Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae. Ông này thẳng thắn bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “bệnh độc lập” của người đồng bào mình. Theo Park Seong Rae “nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng (Nhật Bản và Trung Quốc) – chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc – thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn” (tr. 336). Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người” ( tr. 337).

Từ văn hoá thế kỷ XVII nói riêng tới văn hoá Việt Nam nói chung

Chu Thuấn Thủy (1600-1682) là một trí thức Trung Quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm. Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam. Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh. Trước tác của Chu Thuấn Thuỷ có nhiều, và chắc là phần chủ yếu là về nước Nhật. Tuy nhiên Chu cũng đã kịp ghi chép những ngày làm việc với người Việt, qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự về việc phục dịch ở An Nam 1657).

Tại sao Vĩnh Sính, với tư cách người dịch và giới thiệu An Nam cung dịch kỷ sự, đưa nó vào tập chuyên khảo của mình?[6] Hẳn là nhà nghiên cứu suốt đời sống xa quê của chúng ta tìm thấy ở đây nhiều điều mà bản thân ông cũng thường suy nghĩ? Cung cấp bức tranh xã hội Việt Nam thế kỷ XVII dưới con mắt Chu Thuấn Thủy, Vĩnh Sính dường như muốn tìm cho những nhận xét của mình về văn hoá Việt (mà ở trên chúng tôi đã ghi nhận) một cơ sở lịch sử chắc chắn, do đó vấn đề đặt ra có thêm sức ám ảnh.

Thực vậy, dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu và rất khó sửa chữa. Đó là một xã hội ít tiếp xúc với các xã hội bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì chúng ta cũng không hiểu gì. Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu bảo rằng không có bằng cấp thì lập tức coi thường. Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ! Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường. Sự non kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ. Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. (Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử.) Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ” (tr. 393). Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (Tức CTT. Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương – VS chú) và chín học phái (tức cửu lưu: Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… – VS chú ), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản” (tr. 392).

Dù đã kín đáo và lo phòng thân, cuối cùng người khách lạ cũng phải ghi trên mặt giấy cái nhận xét chung mà chúng ta ngày nay đọc lại có thể rất khó chịu, song phải nhận là không thể nói khác: “Tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng” (tr. 401). Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “nước Dạ Lang” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ”. Dạ Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.

Đoạn kết : một đề nghị

Trong quan niệm của Phan Bội Châu, yếu tố đầu tiên của một nước Việt Nam mới là không có bóng cường quyền của nước ngoài. Trong khi đó, như nhiều tài liệu đã có nhắc và Vĩnh Sính cũng có ghi lại (tr. 300), trong một cuộc bút đàm, Lương Khải Siêu đã khuyên Phan “Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mả chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí dân khí và nhân tài”.

Những nhận xét này không chỉ mới mẻ mà còn thiết thực và chắc chắn là rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay. Nó cũng là một trong những ý tưởng chính toát ra từ công trình nghiên cứu của Vĩnh Sính khi giới thiệu một số nhân tố trong giao lưu văn hoá Nhật Việt. Vốn đã có cách đánh giá riêng về tình hình trong nước, nên khi đi vào các hiện tượng văn hoá xứ người để làm việc so sánh, nhà nghiên cứu này luôn luôn tìm được những đồng minh sắc sảo và đáng tin cậy.

Nhân đây nhắc lại một xu thế chi phối cách nghiên cứu văn hoá ở ta. Nhìn chung các tác giả ít đi vào tìm hiểu mối quan hệ văn hoá Việt Nam với văn hoá nước ngoài. Ta không coi đây là một con đường để tự nhận thức. Cực chẳng đã, khi cần nói về những ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài tới văn hoá Việt Nam, chúng ta thường chỉ nói cho phải phép, để rồi sau đó không quên nhấn mạnh là người Việt rất thông minh, rất cởi mở, và nhất là rất bản lĩnh trong quan hệ với thiên hạ. Xét về mặt này, cuốn sách của Vĩnh Sính rẽ hẳn sang một lối riêng. Tác giả đã làm được cái việc mà nhiều người chỉ mang máng cảm thấy là cần thiết, nhưng không đủ sức đi đến cùng. (Ở tr. 342, khi nhắc tới việc Quán Chi Đào Trinh Nhất đã có bài giới thiệu Chu Thuấn Thủy trên báo Trung Bắc chủ nhật 21-9-1941, Vĩnh Sính lưu ý rằng đó là một tiếng chuông thức tỉnh độc giả về thái độ thủ cựu và bài ngoại của sĩ phu nước ta. Vĩnh Sính chỉ dừng lại ở thái độ sĩ phu nói riêng, nhưng tôi tưởng cần xem đây là một đặc điểm của xã hội Việt Nam nói chung.)

Một đặc điểm nữa thường thấy trong các công trình nghiên cứu giao lưu văn hoá là chúng ta chỉ thích nói tới những nền văn hoá lớn và có quan hệ với ta quá sâu sắc như văn hoá Trung Hoa và văn hoá Pháp. Còn với các nền văn hoá khác kể cả văn hoá các nước Đông Nam Á mà ta gần gũi về mặt địa lý, hoặc văn hoá Hàn quốc, văn hoá Nhật mà ta có nhiều điểm chung, thì mọi việc càng chểnh mảng, tài liệu quá ư nghèo nàn, làm cho lấy lệ, xưa đã vậy mà nay cũng vậy.Về phần Vĩnh Sính, ông có cái may mắn là giữa hai nền văn hoá Việt Nhật có nhiều mối giao lưu thật, và chỉ viết riêng về những sự kiện đó cũng đã rất hấp dẫn. Song ông không dừng lại ở các sự kiện bên ngoài mà để công tìm trong hoàn cảnh lịch sử của hai bên những hoàn cảnh tương tự, rồi phân tích cách giải quyết của mỗi bên, từ đó lý giải các đặc điểm dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Trước mắt người đọc, hiệu ứng qua người hiểu mình được chứng nghiệm.

Hướng đi mà Vĩnh Sính đã mở ra, theo tôi cần được tiếp tục. Chẳng hạn, tôi ước ao lúc này có ai đó hiểu biết về lịch sử và văn hoá Thái Lan, thử tìm những mối tương đồng và dị biệt giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Thái Lan. Tôi tin là khi làm việc này, một nhà nghiên cứu nghiêm túc có lòng lo lắng cho tình trạng văn hoá đương thời và muốn góp phần vào qúa trình tự nhận thức của dân tộc – một tác giả như thế có thể có nhiều phát hiện bổ ích, tương tự như trường hợp Vĩnh Sính. Nghiên cứu theo lối so sánh là lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu khoa học xã hội người Việt đang sống ở nước ngoài có thể có nhiều đóng góp. Mỗi người thêm một phần công sức thì rồi quá trình tự nhận thức của xã hội Việt Nam mới được đẩy tới và tạo ra một bước ngoặt cần thiết.

------------------------------------------------

[1] Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá của Vĩnh Sính giáo sư đại học Alberta, Canada, Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu quốc học xuất bản, 2001 Những số trang ghi dưới đây đều dựa theo bản in trên.

[2] Xem thêm bài viết Phan Trọng Báu Tân Việt Nam hình ảnh một nước Việt Nam mới của phong trào Đông Du, in trong Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu, NXB Nghệ An và TT Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005

[3] Đây là chữ Phan Châu Trinh đã dùng khi nói về Phan Bội Châu. Nguyên văn viết bằng chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt là “ hữu ái quốc chi tâm nhi bất tri sở dĩ ái quốc chi đạo ”. Dẫn theo bài viết của Vĩnh Sính Thử tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm Pháp Việt liên hợp của Phan Chu Trinh, in trong Từ đông sang tây, NXB Đà Nẵng, 2005, tr. 142.

[4]Lấy một ví dụ sách Khuyến học của Fukuzawa đã hai lần được dịch ra tiếng Việt và in ra ở hai NXB khác nhau, một dưới cái tên Nhật Bản cách tân giáo dục thời Minh Trị ở nhà Chính trị quốc gia 1995, và một giữ nguyên tên Khuyến học ở nhà Trẻ, 2004. Lưu ý là chính câu nói trên “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do, thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm” được đưa ra bìa 1 của bản in ở nhà Trẻ. Những tư tưởng của Fukuzawa đã bắt đầu được người Việt hôm nay hiểu đúng chăng, và chúng ta bắt đầu nghĩ khác đi về lòng yêu nước ? Song không hẳn vậy, theo sự ghi nhận được của chúng tôi thì cuốn sách gần như không được một tờ báo lớn nào nhắc nhở tới.

[5] Một ví dụ nữa. Theo Vĩnh Sính, “Phan không đánh giá những khó khăn trong việc tiếp thu văn hoá và kỹ thuật nước ngoài đúng mức nên đâm ra quá lạc quan ” khi nói về tương lai (tr142). Đọc lại một nhận định Phan viết trong Tân Việt Nam, và được Vĩnh Sính dẫn lại “Việc học tập tinh thông nghề nghiệp ở các nước Anh Nhật Đức Mỹ nhanh cũng đến hai năm, noi theo đó chớ nên lấy khó; việc học tập thành thạo các ngành binh công nông thương có nhanh cũng đến năm năm, ta chớ lấy làm lâu !” (cũng trang trên), chúng ta như bắt gặp chính sự ngây thơ và ảo tưởng ngự trị trong đầu óc nhiều người đương thời, ngay sau những ngày thống nhất đất nước 1975.

[6] Trước đó ông đã cho in thành một bản riêng, Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Tạp chi Xưa và nay xuất bản, 1999


VIỆC DẠY CHỮ HÁN CÓ NHỮNG LIÊN HỆ RỘNG LỚN HƠN CHỨ KHÔNG PHẢI RIÊNG TRONG LĨNH VỰC NGÔN NGỮ

Ngày 9 tháng 9 năm 2020

Trong các phát biểu tại Hội thảo Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại diễn ra hôm 27/8, nhiều người chủ yếu nhấn mạnh về mặt chuyên môn, đại ý là "Cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt"

Nhà giáo Đoàn Lê Giang có mấy ý mới:

1/ trong số các quốc gia thuộc khu vực đồng văn (các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc - PV) chỉ có Việt Nam là từ bỏ chữ Hán hoàn toàn nên thế hệ sau ít hiểu biết về quá khứ dân tộc.

2/ Từ bỏ chữ Hán cũng là lý do khiến thanh niên Việt Nam [trở nên những con người –VTN thêm] đơn giản nhất, học hành hời hợt nhất, các nhà khoa học xã hội của Việt Nam cũng kém nhất so với học giả các nước và nước ta nghèo nhất, lạc hậu nhất so với Nhật, Hàn hay Trung Quốc.

 3/  Ông Giang cũng cho biết, nghiên cứu của một trung tâm nơi ông được mời dạy chữ Hán Nôm cho học sinh tiểu học cho thấy, những học sinh được học chữ Hán Nôm hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn những học sinh khác không được học( xem nguyên văn trên bản tin VietNamNet 29-8-16)

Tôi chỉ dẫn ra Đoàn Lê Giang vì không phải người trong giới, không dự hội thảo mà chỉ đọc VNN, nên không biết ngoài ông Giang còn có những ai trùng với ý trên chỉ theo kinh nghiệm mà dự đoán  các ý tương tự như của ông Giang thuộc loại thiểu số.

 Nhưng, học theo cách sống và cách nói của Phan Khôi, hôm nay "tôi đang muốn đứng về cái đám thiểu số này". Tôi buồn vì họ đang là thiểu số. Dù các ý kiến như của ông Giang có chiếm đa số nữa cũng còn không biết bao giờ mới thực hiện được. Nữa đây lại là thiểu số. Ở VN, tôi biết rồi, người thiểu số bị quên đi là may, có khi họ lại còn không được làm việc nữa. Nhưng tôi vẫn thấy, theo ông Giang là đúng. Sau đây là một bằng chứng lịch sử, tôi đã dẫn nó ra trên  trang Fb VUONGTRINHAN 17-10-2014, nay xin chép lại.

Trong cuốn sách "Việt Nam và Pháp, bạn hay thù" tác giả Philippe Devillers, nxb Tổng hợp TPHCM , 2006 các trang 288-290 - có một đoạn kể lại những tính toán của người Pháp sau khi chiếm được các tỉnh miền Tây, cuối thế kỷ XIX , muốn xác định nền giáo dục ở các xứ bảo hộ để phục vụ cho nền cai trị của họ ra sao.

Lúc bấy giờ đô đốc Bonard còn phân vân không biết nên dạy cho người bản xứ là chữ Hán hay chữ Quốc ngữ. Nhưng các cha cố thì kiên quyết là dạy ngay chữ Quốc ngữ vì nó rất cần cho việc giảng đạo của họ mà lại học được nhanh.

Ở chỗ này, tôi thấy Bonard là một người rất sâu sắc. Ông ta bảo rằng đúng là học chữ Quốc ngữ thì nhanh biết chữ thật nhưng chỉ tạo ra những con vẹt; có điều do nhu cầu của việc bình định, ông ta vẫn đồng ý với việc dạy chữ Quốc ngữ.

Sau này, tôi có đọc được trong một cuốn sách của Nguyễn Văn Trung về chữ quốc ngữ, cuốn này vì in ra từ cuối 1974 đầu 1975 nên ít người biết, và tôi cũng không có nó trong tay nên không chụp lại được. Nhưng cam đoan rằng ở đó Nguyễn Văn Trung có dẫn lại ý của một người Pháp nói là từ sau khi việc dạy chữ Quốc ngữ được phổ biến thì mặt bằng đạo đức xã hội của các tỉnh miền Tây thời đó thấp hẳn xuống.

Cái lạ ở đây là sự xuất hiện của nhóm từ "mặt bằng đạo đức".

Như vậy, ngôn ngữ không phải là một công cụ vô can? Ngôn ngữ có liên quan tới sự định hình đời sống tinh thần và trình độ làm người của các dân tôc?

Hôm nay giở lại cuốn sách của Philippe Devillers, thấy ở tr 289 có chép lại những lời giảng giải của một người Pháp là Luro về sự khác nhau giữa việc học chữ Hán và việc học chữ quốc ngữ:

"Biết đọc và biết viết , trong tiếng Trung Hoa, có nghĩa là đã để vài năm ở tuổi thanh niên của mình dừng lại trên những cuốn sách đạo lý, lịch sử, đã nghiên cứu và thấu hiểu các cuốn sách đó. Như vậy là đã nhận được cả sự học vấn và sự giáo dục(…). Còn với hệ thống của chúng ta [với tiếng quốc ngữ mà chúng ta dạy] đứa trẻ ra khỏi trường mà chẳng có chút kiến thức về đạo lý tức là chẳng được giáo dục gì cả."

Tôi rất thích cái ý tưởng này bởi lẽ, ngược với ý kiến nhiều người quá tự hào về chữ quốc ngữ và việc dạy chữ quốc ngữ từ 1945 tới nay, tôi thấy việc bỏ qua không dạy tiếng Hán Việt – dạy một cách khoa học, cẩn trọng nghiêm túc – đã là cản trở cho sự phát triển của xã hội VN, nhất là khi ta bước sang thời hậu chiến


NGHÈO ĐÓI BIẾNG LƯỜI XẤU XÍ

Ngày 11 tháng 9 năm 2020

Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Trong thực tế thì không hẳn vậy. Nghề làm ruộng ở Đông Hồ đã mất từ lâu, làng có ruộng nhưng toàn nhờ người các làng khác cấy gặt .

Thế tại sao giới nghiên cứu nghệ thuật cứ viết khơi khơi như vậy? Mục đích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở VN “gắn liền với đời sống“.

Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật: trong xã hội VN, người ta sống và làm việc thiếu chuyên nghiệp.

Kỹ thuật cổ lỗ. Sự phân công lao động được chăng hay chớ. Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng, nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng…

Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Năng suất thấp. Con người uể oải. Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình.

“Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc“.

Trong lời thuyết minh viết cho phim Cây tre Việt Nam (1955), Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học chúng tôi như vậy.

Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường.

Nhưng sang đến thế kỷ XXI này, đọc lại, thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối.

ẢO TƯỞNG MỘT ĐẰNG CUỘC SỐNG  MỘT NẺO

Không phải dân Việt xưa nay không hiểu đói nghèo dễ dẫn đến hư hỏng. Người ta tự nhủ "Đói cho sạch rách cho thơm".

Ảo tưởng thật. Mà nhắc lại mãi nghe như có lý.

Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế.

Mạnh tử từng nói, có hằng sản mới hằng tâm.

Người châu Âu cũng hiểu thế.

Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688, (bản của NXB Thế giới, 2006), một nhà thám hiểm người Anh là W.Dampier ghi lại một số nhận xét có liên quan đến các hạng người ở đô thị Việt thế kỷ XVII.

Đây là tầng lớp trên và bộ sậu của họ: “Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng thì hỗn xược.”

Đây là những kẻ dưới đáy: “Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho nhà buôn và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm“.

Theo W. Dampier, sự hư hỏng của con người bắt đầu bằng sự kém cỏi trong điều kiện sống mà người ta không cách gì thay đổi.

Nhà cửa người Việt ngay ở Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà nhỏ và thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí.

Theo lái buôn người Anh, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.

SỰ CHĂM CHỈ BẤT ĐẮC DĨ

Trải qua trường kỳ lịch sử sự thấp kém về trình độ sản xuất đã để lại một dấu ấn kỳ lạ trong tính cách người Việt.

Đã xảy ra một tình trạng nước đôi. Người ta vừa yếu đuối vừa cứng cỏi, vừa chăm vừa lười, tốt đấy mà cũng xấu ngay đấy.

Rất phổ biến là cái công thức một chiều: người Việt khá chăm chỉ năng động.

Do có cái nhìn của con người biết rộng ra cả thế giới, Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi ấy: người Việt vừa cần cù, vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải chân lấm tay bùn vậy.

“Nói tổng lại, trong nước Nam ta, cần mẫn nhất chỉ có người làm ruộng, nhưng mà sự cần mẫn ấy, nhà làm ruộng không biết lấy làm vinh hạnh. Tay cầm cây mạ, mà mắt vẫn trong bọn dài lưng tốn vải, lúc nào quăng được cái cày có ích mà cầm lấy cái bút lông thỏ vẽ hươu vẽ vượn tả cảnh trên trờ dưới biển, thì cũng quăng đi ngay.”

Trong mục Xét tật mình, người chủ trì Đông dương tạp chí đã làm cái việc mà sau ông chưa ai dám làm là bóc mẽ cái gọi là tính siêng năng của bộ phận chủ yếu trong cộng đồng như vậy.

DÙ THÓI LƯỜI ĐƯỢC SOI XÉT KỸ LƯỠNG ...

Cái nghèo kéo theo nhiều cái xấu khác.

Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một chân dung, rất sẵn trong nông thôn thời trung đại:

Con cò đậu cọc cầu ao

Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng

Chú tôi tốt tóc đen răng

Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa

Ngày thì ngóng những ngày mưa

Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh.

Xưa các tài liệu tuyên truyền và cả sách giáo khoa trong các nhà trường Hà Nội sau 1954 thường bảo những câu ca dao trên là để nói về bọn người giầu có. Có biết đâu đó cũng là để nói về lớp cùng đinh trong xã hội. "Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn."

Mở rộng ra là để nói về người Việt nói chung.

Nhìn vào sách vở, người ta cũng bắt gặp các ý tương tự

Trong cuốn Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài in ở Paris 1778 ( Trích từ Tư liệu văn hiến Thăng Long Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây,  NXB Hà Nội 2010, nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì) giáo sĩ Jerome Richard cho biết:

 “(…) Nghèo khổ quá khiến người ta chỉ nghĩ đến sinh tồn tức là phó mặc mình cho sự biếng nhác bẩm sinh. Bộ máy hành chính sẵn sàng “vét cạn” các mầm mống tài năng. Bộ máy này ngu dốt và kiêu căng, nhưng có quyền lực. Họ đối xử với những người khéo tay hơn họ và giàu hơn như nô lệ."

...SONG SỰ HƯ HỎNG VẪN LÀ HẬU QUẢ TẤT YẾU

Nghèo đói quá lâu, lại do thiếu sự mở đường của trí tuệ, nên nhiều Việt cảm thấy đó là cả một định mệnh.

Thấy của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực. Cay đắng. Chán chường. Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái kỳ quặc.

Lo học nhưng chỉ học mót học lỏm.

Sợ người ta coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng, và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người.

Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.

Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi. Của chìm chủa nổi đầy rẫy chung quanh mà không biết khai thác.

Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả thầy lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung quốc và Việt  Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tầu: người Việt sống trên cả đống nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc.

W.Dampier, trong cuốn sách nói trên, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa  từ Phan Kế Bính Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên, Lương Đức Thiệp … đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc quá nặng của người Việt. Khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống.

Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa cảnh đời tuyệt vọng.


MẤY ĐOẠN GHI CŨ VỀ RÁC (1)

Ngày 12 tháng 9 năm 2020

"Chùa Hương nguy cơ suy tàn vì rác" là tên một bài viết trên Tiền Phong 11-7. Cảm giác toát ra là một sự bất lực .

Chúng ta cũng bắt đầu biết là chúng ta ăn ở có tội với cha ông , với thiên nhiên.

Nhưng guồng máy đã quay rồi, không những không ai bỏ được việc trục lợi, mà cũng không ai bỏ được việc đi cầu cúng theo một cách dân gian như hiện nay.

Sở dĩ tôi nói vậy vì có một đề xuất, tất cả người đi hội sẽ phải chịu trách nhiệm về thứ rác mình xả ra trên đường, ai mang vào cái gì thì phải mang ra bằng hết.

Nghe hợp lý quá. Nhưng ở xứ sở này làm sao buộc nhau thế được. Hình như tất cả chúng ta đều đang sống với lời nguyền, được đến với danh lam thắng cảnh là quyền của tôi, còn tương lai nó ra sao là chuyện của người khác, đừng nói với tôi thêm rác tai. Có chết thì cả làng cả nước cùng chết.

Chủ đề bất lực thường bị lảng tránh trong mọi câu chuyện vì nó đã là số phận của chúng ta rồi, nói ra thêm cho đau lòng.

Đọc một vài tài liệu sinh học, tôi thấy người ta mô tả giữa những sinh vật có cấu trúc thấp và sinh vật có cấu trúc cao khác nhau nhiều trong việc bài tiết. Loại thứ nhất do ăn uống dễ dãi nên có tỷ lệ thải ra so với thực phẩm ăn vào khá cao. Và ở loại này thường có đặc điểm là bài tiết ngay cạnh nơi sinh sống của mình.

    LẠI CHUYỆN RÁC

         Tin  VNexpress.  Chuyện về hai người nước ngoài. Một là Edward năm nay 65 tuổi, một người Mỹ da màu thường gọi là chàng "Đông ki sốt", ông hay dọn rác khu phố mình ở. Hai là Oshima Mitutere, vốn người Nhật quản lý Viện mẫu tóc Mano Mano. Ông này cũng thường cùng các nhân viên lo chung các hoạt động xã hội trong đó có dọn rác.

     Không những không chia sẻ với người ta, mà dân Việt mình quanh vùng cả hai người ở còn coi là sự kỳ cục, có người vứt rác thêm cho người ta lượm, rồi cha con vợ chồng cùng đứng xem và cười với nhau.  

     Đọc những tin loại này chỉ cảm thấy hình như người Việt, xã hội Việt hôm nay  ngày càng xa lạ và không hiểu được những gì bình thường. Cái tốt nhiều khi đâm ra lạc lõng.

     Lưu ý càng ngày rác càng  thành ra một ám ảnh trong xã hội. Báo Nông thôn ngày nay 9-9-10 đưa lên trang nhất dòng tít chữ to Cảng Hải Phòng thành bãi rác quốc tế.

     Một điều cũng chắc chắn là nếu nghe được,  chắc thấy trong câu chuyện của những người nước ngoài về VN, chữ rác chắc cũng xuất hiện với mức độ dày đặc. Rác vô cơ, rác hữu cơ. Rác là chất lỏng, rác là chất rắn. Rác ở dạng hình thể, rác ở dạng âm thanh ( tiếng ồn). Rác vật chất, rác tinh thần. Rác trong các văn bản nghiêm túc lẫn rác trong các bài làm của học sinh. Rác nội rác ngoại. Đủ kiểu!


HAI Ý TƯỞNG 

CẢNH BÁO SÂU SẮC

CỦA TRẦN ĐẠI NGHĨA

Ngày 16 tháng 9 năm 2020

Khi bài viết Người trí thức đưa trên fb của tôi 8-9-18, anh bạn Trần Tâm có một đoạn "còm- mèn' dài.

Tôi nghĩ nhiều bạn đọc không chắc đã đọc đoạn  này nên đưa lại dưới đây và có thêm bình luận.

Anh Tâm viết:

 Xin phép anh điểm lại 2 câu chuyện về GS Trần Đại Nghĩa.

Thứ nhất, lần đầu tiên tôi được nghe ông nói chuyện ở UBKHNN 39 Trần Hưng Đạo 1973 về công nghiệp hóa và cải cách quản lý kinh tế.

 Khi nói về ý nghĩa của công nghiệp hóa, ông bắt đầu bằng câu “thu nhập quốc dân của Việt Nam trên đầu người, từ thời Hai Bà Trưng đến nay chưa có gì thay đổi cơ bản”.

Về cơ giới hóa nông nghiệp “vấn đề chính của cơ giới hóa nông nghiệp là giải quyết nhân lực dư thừa của quá trình cơ giới hóa”.

 Về quản lý kinh tế “với qui mô như nền kinh tế Việt Nam hiện tại, ở Mỹ người ta chỉ cần 15-20 nhà quản lý”.

Thứ hai, năm 1980 trong một cuộc nói chuyện của ĐT Võ Nguyên Giáp (Phó TT phụ trách Khoa học kỹ thuật) tại Nghĩa Đô, ông Giáp nêu rất nhiều yêu cầu về đột phá công nghệ cho khoa học kỹ thuật Việt Nam.

 GS Trần Đại Nghĩa (Viện trưởng VKHVN lúc đó) đã nhẹ nhàng phản biện từng mục và khẳng định, rằng cơ sở kỹ thuật (kể cả quốc phòng) của Việt Nam về mặt kỹ thuật quá yếu để thực hiện những yêu cầu như vậy, còn nền kinh tế thì càng yếu hơn để đầu tư và tiếp nhận kết quả nghiên cứu.

Ngay cả việc tiếp nhận công nghệ Liên Xô cũng không có ý nghĩa về 2 phương diện.

 Một, rất tốn phí nguyên liệu và nhiên liệu.

Hai, không tương thích với công nghệ Phương Tây và cụ thể là những nền tảng còn lại ở miền Nam sau 1975.

Tóm lại, không có triển vọng vì trước sau cũng phải làm lại.

Ông Giáp rất giận và nạt trước bàn dân thiên hạ “Anh Nghĩa, tại sao anh toàn bàn lùi, nếu nói như anh chúng ta làm sao thắng được Mỹ”.

Ông Nghĩa chỉ nhẹ nhàng trả lời “Công nghệ là bài toán kinh tế. Làm kinh tế khác với tiến hành chiến tranh” và sau đó hoàn toàn im lặng.

***

Nếu tôi không nhầm thì đọc đoạn này, nhiều bạn chỉ chú ý nhân cách con người nhà khoa học.

 Tôi lại muốn chúng ta  chú ý hơn tới tầm vóc suy nghĩ của nhà trí thức ở ông kỹ sư.

Thứ nhất là câu về cơ giới hóa nông nghiệp “vấn đề chính của cơ giới hóa nông nghiệp là giải quyết nhân lực dư thừa của quá trình cơ giới hóa”.

Ýnày rất  đúng  với những bàn bạc về cách mạng 4.0 hiện nay.

Thứ hai là ý “Công nghệ là bài toán kinh tế. Làm kinh tế khác với tiến hành chiến tranh”

Trong toàn xã hội chúng ta hiện nay tư duy chiến tranh vẫn đang bao trùm và chỉ đạo mọi hoạt động của chúng ta.

 Tư duy chiến tranh này  nằm  ở hàng loạt   cái mà ta quen gọi là “nhận định tình hình, đánh giá hoàn cảnh đất nước khả năng của con người sau chiến tranh khả năng đáp ứng tình hình của những người quản lý".

Nói cách khác nó làm cho chúng ta không hiểu mình là gì  mình đang ở chỗ nào thế giới và mình sẽ đi tới đâu.

Cả đến tướng Gíáp cũng vậy.

Nói Trần Đại Nghiã hiểu thực tế chưa đủ. Phải nói là ông hiểu cách suy nghĩ của chúng ta sau chiến tranh và cũng hiểu cách suy nghĩ đó là cái lực ngăn cản chúng ta đi tới.

Sau những thất bại chúng ta hay bảo nhau phải đổi mới và trong một số trường hợp đã nói tới cả đổi mới tư duy.

Nhưng tôi tưởng phải nói rõ hơn cần thực sự chuyển từ tư duy chiến tranh sang tư duy làm kinh tế, phải làm khác hẳn cái cách mà 43 năm nay ta bảo nhau làm.

Lúc này tôi chỉ ước ao có một công trình nghiên cứu về quá trình tư tưởng của Trần Đại Nghĩa.


BÉ ƠI BÉ RA MÀ ĂN KẸO

Ngày 17 tháng 9 năm 2020

Dường như đang có sự phân công, các báo ở ta thì in những truyện cười mới sáng tác và mới dịch, trong khi truyện cười dân gian thì được in ra dưới các hình thức sách phổ thông,   về  số lượng cũng như hiệu quả chắc chẳng bên nào kém bên nào.Tự nhiên có một câu hỏi đặt ra, là tại sao cả hai cùng tồn tại, liệu giữa hai loại truyện này có mối liên hệ nào không. Tôi đem thắc mắc hỏi một anh bạn.     

     -- Ông có nhớ truyện cười dân gian "Bé ơi bé ra mà ăn kẹo", bạn tôi hỏi lại.

     -- Ai mà chẳng biết… Truyện kể một anh bí quá làm liều dám nhận vai “ông đỡ” cho một người đàn bà khó đẻ chứ gì?  Rồi khi đối mặt với sản phụ, không biết làm gì hơn, anh ta liền giở  trò trẻ con, buộc cái kẹo vào đầu giây dử dử, miệng lắp bắp “Bé ơi bé ra mà ăn kẹo”. Không ngờ sản phụ bật cười  mà đẻ luôn. Coi như anh ta hoàn thành sứ mệnh và được trả công đàng hoàng.

    --  Đúng truyện ấy đấy, bạn tôi nói tiếp. Theo tôi, nhân vật trong truyện chính là một mẫu người phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày xưa và cả ngày nay. Nhiều người chúng ta chẳng có việc gì thành thạo cả và thường làm không đủ ăn. Thời xưa các cụ còn cam chịu sống nơi xó nhà. Đến thời chúng ta thì theo các cao trào xã hội lê lết khắp nơi, không việc gì là không dám làm không việc gì là không  dúng mồm nói leo. Sự thành công do vậy thường khi hiện ra hơi buồn cười, nhưng thôi dẫu sao còn hơn là thất bại. Cuộc sinh nhai coi như tàm tạm, ta tiếp tục tìm những cơ may khác.

    Ví dụ của anh bạn nêu ra quá đặc biệt. Nhưng tôi tin ở CÁI LÝ LỚN  của nó. Cái đáng cười sống rất dai dẳng. Mà cái gốc của nó là mặc dù mang tiếng là xã hội hiện đại, nhưng xã hội VN đang có nhiều nét rất trung cổ, con người ngày nay trên tất cả các phương diện tâm lý cách nghĩ cách sống chẳng khác xưa là bao. Chứng minh rõ nhất là ở hai phương diện mà ông bạn tôi đã nói.

     Một là vô nghệ nghiệp

     Hai là sống bằng cầu may, được việc gì hay việc ấy, được ngày nào hay ngày ấy.

     Xin hiểu cho tôi ở cái lý lớn mà đừng vặn vẹo cụ thể. Và xin sử dụng các thước đo của thế giới hiện đại chứ đừng sử dụng những công cụ riêng mình có, rồi "nổ' rồi " tự sướng" với nhau.

THẾ GIỚI ĐẢO NGƯỢC?

KHÔNG

CHỈ LÀ CHÚNG TA TIẾN BỘ TRONG QUAN NIỆM

NHƯNG LẠI SUY THOÁI TRONG Ý CHÍ

Ngày 18 tháng 9 năm 2020

Nhớ lại hồi đi học phổ thông ở Hà Nội sau 1954, các thầy dạy sử giảng là trong xã hội ta, chủ các xí nghiệp sản xuất còn khả thủ, họ được gọi là tư sản dân tộc. Chứ tư sản mại bản đáng ghét vì chỉ nhập hàng nước ngoài về cho dân tiêu xài hư hỏng, họ phải trở thành đối tượng cách mạng, như bọn thực dân vậy.

      Nay thì bao nhiêu người thông minh tài giỏi trong xã hôi rủ nhau đi làm cái nghề nhập hàng này.

     Họ nhạy bén với những của lạ. Họ biết rằng đám có tiền trong nước sẵn sàng chi đậm để hưởng thụ. Và họ được ca ngợi.

     Tôi cũng không đến nỗi bảo thủ để đòi tất cả quay về cái cũ. Nay là thời sáng người ta nói gì chiều người ta quên cả, nên cũng chẳng buồn đòi phải được biết hôm qua là đúng hay hôm nay là đúng.

     Chỉ nghĩ thế là mấy chục năm nay, với lớp trên dưới 70 như chúng tôi, thế giới đã bị đảo ngược.

   Ôi chao, nói thì đơn giản, nhưng có ai dám tính tới chuyện mang cái cây trồng ngược, có ai đi bằng tay được không? Đã đến nước này, làm sao mà còn ra hồn người !

******

Trên đây là một đoạn trích trong Ghi chép hàng ngày 2011 của tôi.

Nay -  7 năm sau -  đọc lại thấy nói như thế là hàm hồ quá.

Như bạn Trần Nguyên Phong đã góp ý, đây là quan niệm của chúng ta thay đổi chứ không phải thế giới đảo ngược.

Và dứt khoát quan niệm hôm qua là sai, hôm nay là đúng.

Ta giờ đây không còn kiêu ngạo tự nghĩ mình sẽ làm ra tất cả, mà đã hiểu rằng muôn phát triển phải học hỏi người khác, trao đổi cả quan niệm lẫn sản phẩm với các nước khác.

Chỉ có điều nay ta lo nhiều tới việc nhập thức ăn và tiện nghi để hưởng thụ,

xu hướng này phát triển là do chiến tranh  khủng khiếp đã làm cho chúng ta quá lạc hậu và lạc lõng,

nhiều lúc như là  không còn tự tin ở ngày mai của mình

nên muốn sống gấp.

Xu hướng này sẽ chỉ thay đổi khi đất nước phát triển nhưng trước mắt chính nó lại làm cho chúng ta khó ngóc đầu lên được.


HƯNG YÊN & CÂU CHUYỆN GIÃ TỪ CÁI CŨ

Ngày 20 tháng 9 năm 2020

Trong việc quy hoạch đô thị VN sau chiến tranh, ngoài Vinh còn một trường hợp nữa gây cho tôi nhiều ấn tượng là Hưng Yên.

Về cái thị xã ven sông Hồng này lần đầu năm 2010, tôi ngạc nhiên ngay về độ “chín” của một tỉnh lẻ. Không hiểu sáu bảy năm đã qua,  bây giờ  nó có còn như cũ không, nhưng hồi ấy đó đúng là một miền đất thanh bình. Mà không phải cái thanh bình của làng xóm nông nghiệp cây đa bến nước, đây là cái thanh bình của thành thị hẳn hoi. Đường vắng, người thưa, vỉa hè rộng. Xe qua ngã tư vì đường vắng cũng không cần bóp còi. Nhà cửa nhà nào nhà nấy rộng rãi, con người từ tốn sống trong môi trường lâu đời của mình. Ấn tượng nhất với tôi là một người bán xổ số bên đường. Người bán hàng ấy ngồi góc đường nhưng rất nghiêm túc, bàn ghế đàng hoàng, lại còn mang cả sách ra đọc. Nhớ những dân bán dạo xổ số hoặc là các hàng nước ở đầu đường Hà Nội mà thấy thế nào là sự khác nhau giữa  ổn định và hỗn loạn.

 ***

 Một trong những ám ảnh của Hà Nội sau chiến tranh là hiện tượng cơi nới. Nay là lúc thành phố khá nhiều những ngôi nhà bê tông cốt thép, kiểu cách tùy ý thích người có tiền, các ông chủ  không chỉ học theo  thời Pháp thuộc mà học cả tận bên Mỹ, và có khi cả bên Ả Rập. Những ngôi nhà  siêu hiện đại ấy mọc lên những mảnh đất xiên xẹo hoặc siêu mỏng siêu méo mó vốn giành để cất tạm những căn nhà tranh nhà gạch mộc tường xây kiểu con kiến. Nên nhìn từng nhà thì đẹp nhưng nhìn cả khu phố, người ta vẫn nhớ lại cái tình trạng bát nháo cũ.

Khi tôi hỏi cái thị xã Hưng Yên không cần mở rộng và phát triển hay sao thì một người dân trả lời :

  -- Không, có chứ. Nhưng ở đây chúng tôi cấm hẳn chuyện cơi nới, nghĩa là phá vỡ sự ổn định của cái cũ. Ai có nhu cầu xây dựng to đẹp hơn thì hãy sang khu đô thị mới. Có điều ở đấy cũng không phải cứ quẳng ra một đống tiền mua đất rồi muốn làm gì thì làm. Mà phải đủ tiền để mua một khoản diện tích tối thiểu nào đó, rồi phải xây nhà theo kiểu mới, đúng quy cách, đúng số tầng quy định, nhà nọ ăn ý với nhà kia thì mới  làm nên khu phố đẹp.

Biết tôi từ Hà Nội xuống người dân Hưng Yên rất thạo đời này bổ sung:

--Tôi biết rồi, ở Hà Nội gọi là phố cổ nhưng nay là lúc toàn “đất mượn”, dân tứ chiếng đổ về át cả người cũ. Người ta cũng hiểu là dân kẻ chợ tất phải làm thế , vì mỗi tấc đất là một địa điểm kinh doanh ngày ra tiền triệu. Cái may của chúng tôi là những cái quá hiện đại  quá mới mẻ không tràn về bóp chết cái cũ. Chúng tôi bảo nhau chỉ sống nhì nhằng thế này thôi, đừng có chết thèm chết khát vì những thứ mà mình không có.

***

Qua Hưng Yên ngày ấy, bài học về việc quy hoạch cái mới thì đã rõ ràng rồi.  Tôi còn tự nhủ thêm, muốn từ giã cái cũ cũng phải rất thông minh. Tốt hơn hết là  đừng động đến nó. Muốn thay đổi hãy làm hẳn cái mới. Trong nghề viết văn với tôi nhà văn Nguyễn Kiên nay đã quá cố là một bậc đàn anh. Ông từng kể lại với tôi một kinh nghiệm, khi viết ra một bản thảo nào đó mà đọc thấy chán thì tốt hơn hết là xé đi, vứt hẳn đi,  chứ cứ ngồi đấy kỳ cạch chữa đi chữa lại đoạn này câu kia thì không bao giờ ra tác phẩm hoàn chỉnh.

NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH 

HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN!

Ngày 21 tháng 9 năm 2020

Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học,  người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp.

       Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.

      Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời,  bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam.

 Người ta bảo rằng ông đã khỏa lấp nhiều khoảng trống lịch sử.

 Nhưng oái oăm thay, đó lại là những khoảng trống do chính ông tạo ra.

 Trong gần suốt cuộc đời ông -- theo chỗ đọc được của tôi -- ông đã để hết tâm huyết khởi động và cầm chịch cho thứ lịch sử cổ lỗ, trì trệ mà người ta đang sử dụng để định hướng quyền lực và dạy cho học sinh .

   Sự khác nhau giữa Phan Đình Diệu và Phan Huy Lê về căn bản chính là sự khác nhau giữa một người trí thức thực thụ và một trí thức cung đình hiện đại, nhưng được hình thành theo kiểu sử quan thời phong kiến.

 Những chuyển biến cuối đời của Phan Huy Lê rất đáng quý nhưng hơi muộn. Bản di chúc cuối đời của ông, nếu có thì theo tôi đoán nó sẽ là một câu ngắn gọn:

--Hỡi những người làm sử hãy chuyển biến sớm hơn!


NHỮNG DẤU HIỆU CỦA MỘT TƯ DUY TRUNG CỔ

Ngày 23 tháng 9 năm 2020

Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.    

     Câu chuyện được kể ra chỉ cốt để khoe một tình trạng gian dối phổ biến sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sống thực giả tùy tiện. Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của  các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết chính xác về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.

    Từ đây,  không khó khăn gì để nhận ra mầm mống của nhiều thói xấu khác như cách nghĩ chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, bịa sai bị tố không chịu nhận, xem thường lẽ phải và pháp luật.

     Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đưa ra hàng ngày trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án có dấu hiệu bị làm lệch. Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.  Trên các trang mạng thường xuyên có các tin bài dành để tố cáo tiến sĩ rởm, giáo sư rởm.

    Đấy là nói trên những sự việc trong đời sống hàng ngày. Nói chi đến những chuyện tầy đình -- như ba mươi năm chiến tranh, đã bao người Việt bị chết, trong nạn suy thoái kinh tế hiện nay có bao nhiêu công nhân thất nghiệp, -- các con số đưa ra khi thấp khi cao và chỉ phụ thuộc vào ý muốn của người có quyền.

    Sự  cố ý làm sai nhiều khi đã biến thành gian manh càn rỡ, bất chấp dư luận xã hội.

    Thói quen thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử cho vừa mắt vừa tai, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.

    Ta hãy trở lại với cội nguồn lịch sử của nó.

     Trước khi đề ra các chính sách xã hội ở Đông Dương, người Pháp thường huy động nhiều nhà khoa học đi điều tra nghiên cứu điền dã và tìm hiểu ngược mãi lên tận nếp sống trì trệ đã hình thành nhiều đời trong xã hội Việt.

     Trong số này phải kể  tới Pierre Gourou (1900—1999).  

     Tình trạng tư duy không có cái gì chính xác của người Việt đồng bằng sông Hồng từng được ông miêu tả tường tận trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội lần đầu 2003)

    Theo cách miêu tả của Gourou, ở các làng xã, “chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích, trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin“.

     Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống.

   Nên biết rằng ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy. Lúc này thói quen đùa bỡn đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.

     Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá.

   Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước.

    Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước.

     Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người  thăng  quan tiến chức  thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình, mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy nhiều chi tiết cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả.

     Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian không ngăn cản người ta sử dụng độ lùi của thời gian để khoe mẽ.

      Cũng về vấn đề thời gian hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong Hiểu biết về Việt Nam (1954) lưu ý xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo“.

      Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên.

      Theo Pierre Huard và Maurice Durand đây là dấu hiệu của sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông.

      Trong lúc chờ tìm hiểu thêm về TIỀN DESCARTES , tôi tạm lấy một câu chuyện trong Trạng Quỳnh để minh họa cho khái niệm này.

      Theo bản Trạng Quỳnh bán ở sạp báo trước cửa chợ Đồng Xuân thời gian trước 1954 thì có lần Trạng  cho kéo đến trước mặt sứ Tầu một cây gỗ , rổi đề vào đó ba chữ Hồ bất thực và bảo hãy giải nghĩa cây đó là cây gì.

 -- Xin chịu  kính nhờ Trạng giảng hộ .

 -- Hồ bất thực là cáo chẳng ăn. Cáo chẳng ăn thì cáo đói. Cáo đói thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo.

    Ngày nay sự lẫn lộn giữa huyền thoại và lịch sử còn được tiếp tục, chẳng hạn với trường hợp ngọn đuốc sống Lê Văn Tám.

    Tư duy trung cổ chi phối  người Việt suốt những năm chiến tranh.  Sang thời hậu chiến, trong khi tuyên bố đi vào hiện đại hóa, nhiều phương diện trong đời sống – trước tiên là trong tư duy--  có sự trở lại của thời tiền hiện đại, tức là trước khi người Pháp tổ chức xã hội VN theo mẫu hình của họ thế kỷ XIX.


CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bốn)

Ngày 27 tháng 9 năm 2020

Đoạn văn sau đây là của Trần Huy Liệu (1901- 1969), ông viết trong cuốn "Một bầu tâm sự", 1927.

Thời gian này ông  chỉ làm báo mà chưa tham gia một đảng phái nào.

Có lúc ông đã là chủ bút  tờ "Đông Pháp thời báo"  ở Sài Gòn.  Nói về cái động cơ đã khiến mình đi vào con đường "Hiến thân vì nước" -- tên một tác phẩm khác  Trần Huy Liệu  viết trước khi đi tù Côn Đảo - ông đặt nặng vấn đề nhận thức.

Qua học hỏi những yếu tố tốt đẹp của văn minh phương Tây, ông cũng như nhiều trí thức tiến bộ đương thời thấy rõ điểm yếu nhất của  cộng đồng  Việt Nam một thời gian dài  là rất kém về yếu tố tổ chức,  không biết tổ chức xã hội.

Cụ thể là ở hai khía cạnh:

a/ sự thiếu chuyên nghiệp của bộ máy quản lý. Chính sự dốt nát của giới quan lại sẽ đẩy họ tới tham nhũng

b/ sự thiếu vắng một quan niệm dân chủ tối thiểu. Cái này thì sinh ra chuyên chế.

 Chúng tôi có cảm tưởng những quan sát của Trân Huy Liệu tới nay vẫn đúng. Các bạn có nghĩ khác ?

SÂN KHẤU CỦA MỘT LŨ HỀ

     Tiếng gọi rằng trào đình của một nước, song chính là sân khấu nhảy múa của một lũ hề.

    Binh bộ thượng thư mà hỏi đến việc binh không biết một chút gì.

    Học bộ thượng thư mà không biết đến việc học của dân.

    Công bộ thượng thư mà quanh năm chỉ biết tu tạo mấy cái lâu đài và lăng miếu của nhà vua.

     Lễ bộ thượng thư ba năm mới có một lần tế giao (1), cắm cúi vào những cái nghi tiết hão huyền, hủ lễ vô ích.

     Lại bộ thượng thư, Hình bộ thượng thư cũng vậy, mấy ông cụ lớn ấy chỉ biết ngày hai buổi chầu quỳ lạy ở sân rồng, tan chầu trở về, quanh năm ngày tháng như một con lợn ỉ lẩn khuất ở trong chuồng không biết một chút gì cả.

     Vua đè ép các quan lớn. Các quan lớn đè ép các quan nhỏ. Các quan nhỏ đè ép dân. Cái không khí áp chế chỗ nào cũng nồng nặc khó chịu, xuống đến bậc dân thì không còn dân đạo (2) dân quyền gì nữa.

     Có miệng không được nói có tai không được nghe, phần nào sưu thuế nặng nề, phần nào quan lại sách nhiễu, biết chết mà không dám tránh, bị ép mà không dám than. Chốn thôn dã thì đường xá khuất lấp, trộm cướp nổi lung tung. Ngoài thành thị một bầy quỷ sống, đua nhau ăn thịt dân uống máu dân. Mỗi năm bão lụt, dân bị chết đói, mỗi năm tật dịch, dân bị đau chết, không biết chừng nào.

(1)lễ tế trời của nhà vua

(2) đạo, nghĩa gốc là giáo lý, chủ thuyết; dân đạo có thể hiểu là một quan niệm về người dân trong xã hội. Chữ này ít gặp trong các từ điển.


NHỮNG LỐI ĐOẠN TRƯỜNG

Ngày 29 tháng 9 năm 2020

Thư viện quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm.

 Một ngày hè năm 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện như vậy mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa.

Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.

Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể, ở Tokyo các kỹ sư đứng ở ngã tư để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền.

Quay về mình, ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên, mà phải dành nhiều quan tâm cho chuyện quản lý, không quản lý tốt thì nền kinh tế không khác gì thùng không đáy.

Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả.

Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển, ông gợi ý đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn.

Chuyện nhỏ (đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ”)  --  đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở Việt Nam đào tạo một trăm người chỉ đậu được bốn người.

Chuyện lớn (cái này thì lớn thật) --  phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ.

Một điều lạ nữa với chúng tôi là ở chỗ, tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội.

Ông báo động là cả nước có 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội, tâm lý nhân dân không tốt thì quản lý kinh tế cũng không tốt.

Tổng quát hơn, ông nói đến việc mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình.

Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh, nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được.

Song, Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật” ấy gây ra.

Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội, phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình hiểu rõ được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.

Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy, tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ!

 Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi, chưa bứt phá lên được.

Lúc này báo chí đang đăng tải nhiều ý kiến liên quan tới tình hình lạm phát. Nhân đó thử nêu ra những “cách đọc” khác nhau với nền kinh tế.

 Không kể nhiều chuyên gia nước ngoài, ngay các nhà chuyên môn trong nước cũng nêu được nhiều sự lý giải rất xác đáng.

Có người nói nhiều ngành kinh tế của ta đang trong tình trạng học việc, lại học không đến nơi đến chốn, ngân hàng thì có cái như tiệm cầm đồ cho vay.

Vừa rồi có chuyện nông dân nuôi cá ba sa lao đao vì không bán được hàng, còn doanh nghiệp xuất khẩu thì không vay được tiền để mua cá.

Tôi lại nhớ cái buổi nói chuyện hơn ba chục năm trước của Trần Đại Nghĩa.

Hàng ngày có nhiều việc khiến tôi hối hận.

 Ai mà chẳng thế, có làm là có sai.

Nhưng tôi nhớ một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại.

 Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần.

Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần. Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi.

Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị:

-- Hòn vàng thì mất hòn đất thì còn,

-- Hoa thường hay héo cỏ thường tươi,

-- Răng cắn phải lưỡi.

Nghe hơi tục thì có câu “Miệng khôn trôn dại”.

Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều: “Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi”.

 Đoạn trường có nghĩa là đứt ruột.

Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò chi phối của ma quỷ.

Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi.

 Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu  không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao?

đã in TBKTSG 2008

 và in lại trong "Những chấn thương tâm lý hiện đại" 2009

 Viết thêm 29-11-2013 :  CÔ KIỀU NAY ĐÃ ĐỔ ĐỐN

Bài này tôi viết từ 2008. Nhìn lại thấy chỉ mới mấy năm mà tình hình đã khác hẳn.

Trước vì dốt nát nóng vội nên làm liều làm ẩu.

Nay đã biết trước là làm bậy rồi vẫn cứ làm, nghiến răng mà làm, ép nhau cùng làm.

Học sinh xưa bí quá mới cóp bài nhau. Nay học sinh đi thi chuẩn bị sẵn các loại phao. Và nhà trường và giám thị coi thi hùa thêm vào giúp học sinh làm chuyện man trá cho trót lọt, coi đó là thành tích của mình.

Trời cao đất dày nào bỏ qua cho những tội lỗi kiểu ấy!

Trong giáo dục sao thì trong các chuyện sản xuất làm ăn phát triển kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô cũng thế.

Nàng Kiều xưa  -- mà chúng ta hay vận  vào số mệnh của dân Việt  -- tự trách "ma đưa lối quỷ đưa đường".

Nàng Kiều ngày nay tự biến thành ma quỷ, lấy đủ các thứ lý lẽ ra để thuyết phục bản thân đi  theo những lối đoạn trường.

Chỉ có những kẻ mất hết niềm tin và trách nhiệm trước tương lai của chính mình mới hành động như chúng ta đang hành động.


TỪ CHỐI HỌC HỎI

CHẾ GIỄU BÀI BÁC TRÍ TUỆ

Ngày 6 tháng 10 năm 2020

      Một người bạn tôi bảo  phần lớn truyện cười dân gian VN  là  những câu  đùa cợt qua lại của mấy anh đói, nghe cũng có lý.

    Ở đây, đề tài ăn uống chiếm tỷ lệ khá lớn.

    Chỉ có một bộ phận nhỏ truyện tiếu lâm đi vào ghi nhận tư duy của người Việt. Ở đó chúng ta hiện ra như những người thông minh nhưng nặng về khôn vặt, nông nổi mà lại kiêu căng về sự nông nổi của mình.

     Dùng lại một từ dân gian có thể bảo ta  hay lý sự cùn.

    Một  số truyện còn cho thấy người nông dân xưa – tác giả các truyện tiếu lâm – cố ý  đi vào chế giễu sự suy nghĩ  của con người và ngầm đề ra những triết lý bi quan cho rằng mọi cố gắng tư duy tư tưởng đều vô nghĩa.

      "Trời sinh ra thế"  là câu chuyện ông bố vợ với hai chàng rể,  một làm ruộng và  một học trò. Cuộc đối đáp của họ cho thấy người xưa đã muốn đi vào giải thích tại sao  những sự vật quanh mình lại có đặc tính thế này thế kia.  Tại sao con ngỗng cũng như con ễnh ương lại kêu to? Tại sao sao con vịt nổi  mà cái thuyền cũng nổi?

      Diễn biến của cộc đối đáp khá bất ngờ.

      Cứ mỗi lần anh con rể học trò  đưa ra một sự cắt nghĩa thì anh làm ruộng bẻ lại ngay.

     Vì sự hiểu biết của người học trò là hạn chế nên sự bác lại là có lý.

     Nhưng điều quan trọng hơn là sau đó, người ta – đây là các tác giả ẩn danh của truyện dân gian nói chung--đi tới kết luận “dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng“.

     Tức là thôi không bàn nữa, cũng như không nên học. Học mà làm gì, chúng ta sẽ chẳng bao giờ học đến nơi đến chốn, âu là nghỉ cho khỏe.

  Đã đành mọi sự biết đều nham nhở dở dang thì chẳng hay ho gì.

   Nhưng lẽ nào vin vào cớ học hỏi hiểu biết rất khó, người ta từ chối luôn cả sự học ?

    Nhưng đấy là một xu hướng không hề che giấu toát ra qua mẩu truyện cười mà người nghe đa số đều đồng tình tán thưởng.

   Nhiều truyện tiếu lâm khác  cũng có thiên hướng hư vô tương tự.

   Cả sự cẩn thận lẫn sự lễ phép đều bị truyện "Ba anh đầy tớ" mang ra giễu.

   Anh đầy tớ nọ đang khiêng cáng cho ông chủ, được khen liền đặt cáng xuống để cám ơn. Sự lễ phép quá vô duyên và con người sao quá ngớ ngẩn.     

     Truyện "Nói có đầu có đuôi"  thì bịa ra cảnh một ông chủ bắt đầy tớ phải ăn nói cho mạch lạc, kết quả là cháy mất cái áo.

   Cái gọi là suy nghĩ nghiêm túc ở đây bị mang ra bài bác coi là không thiết thực, là học đòi không phải lối, là có hại.  

    Nhiều người nước ngoài đến VN trước kia đã kín đáo nhận xét là người mình thích bài bác chế giễu những gì khác mình.

     Những nông nổi hồ đồ đó là một biểu hiện trẻ con, như chữ Tản Đà  đã dùng.

    Trong sự bài bác nói chung thường có cái lối “tự kỷ trung tâm luận”,  coi mình là cái rốn của vũ trụ,  cái gì mà mình không biết tức là không cần  và cũng chẳng ai biết hơn mình mà phải quản ngại.

    Cũng tương tự như cái lối tinh ranh tinh tướng, cái gì  không làm được thì không cho người khác làm, không ăn được thì đạp đổ.

    Riêng việc chế giễu bài bác trí tuệ nó có liên quan đến những khó khăn trong việc đặt trí óc vào công việc,  từ đó tạo nên  bản năng tự phát trong suy nghĩ  và hành động  người Việt.

    Đời sống khó khăn khiến cho người ta luôn luôn sống trong chen chúc cạnh tranh.  Song không sao tìm ra cách cạnh tranh lành mạnh.

     Một cách tự nhiên, nẩy sinh ý hướng không muốn tuân thủ lối sống chuẩn mực, kiếm sống bằng đủ loại thủ đoạn,  cũng như sinh ra thói cạnh khóe chê bai nhau.

    Đây là đặc tính của lớp người mà xã hội học gọi là những kẻ chầu rìa.  

     Theo các nhà xã hội học, lớp người này không có khả năng làm giàu  về vật chất. Trong sự bất mãn, họ liền tự khẳng định bằng cách tỏ  thái độ khinh miệt đối với nhân tố trí tuệ  đạo đức và tinh thần con người. Đối với những chuẩn  mực đã định hình về sinh hoạt và ứng xử, -- và đối với kiến thức và sự uyên bác nói chung -- họ thù ghét ra mặt.

    Chúng tôi đã có lần nói rằng văn hóa Trung Hoa có truyền thông tôn trọng những người có văn hóa. Nhưng ở đây cũng có một dòng nước ngược.    

     "Người Trung quốc tự trào" (sách đã dịch ra tiếng Việt ở Nxb Văn học 2000  chứ không phải "Người Trung quốc xấu xí" của Bá Dương --)  cho  biết người Trung quốc không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh,  cam chịu  trước cuộc đời bất công... mà còn  “coi nhẹ trí thức văn hoá,  thù hằn tri thức văn hoá “.

      Theo những người viết  sách,  “giảo hoạt là sự kết tinh thông minh tài trí của người Trung quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại...”

      Nhìn lại dân  ta thì sao? Do hoàn cảnh riêng của người Việt, những thói xấu này càng ăn sâu vào tâm lý, trở nên một căn bệnh dai dẳng khó chữa và nhiều khi bộc lộ ra một cách trơ tráo.

     Nghĩa là còn nặng hơn người Tầu nhiều!

    Sang thời hiện đại,  đặc tính “ cái gì cũng xem thường “  “khinh thế ngạo vật”  “ ghét  sự suy nghĩ dùng đến sách vở ”…  còn được công khai tiếp nối. Một người  như nhà văn Nguyễn Công Hoan trong hồi ký của mình đã hồn nhiên cho thấy mình thực quả là một thứ "tập đại thành" của lối suy nghĩ đó.

     Ông đã diễn tả cho thấy tình trạng này đã ăn sâu vào nhiều người Việt để trở thành một cách cư xử tự nhiên như thế nào.

      Trong hồi ký "Đời viết văn của tôi", nhà văn kể, từ nhỏ ông ham chơi và ngại học.  Vừa thi tốt nghiệp xong là ông bẻ bút và cho hết sách vở để khỏi ngó ngàng gì đến chúng nữa.

      Hồi còn đi học, có lần làm bài bàn về hy vọng, ông viết ở đời tôi không có hy vọng gì,  rồi đem nộp thày.

     "Cái lò gạch  bí mật"  của ông  kể một anh theo dõi một người có học,  ra cái vẻ đang  điều tra khoa học lắm, rút cục chỉ bắt gặp một anh ỉa bậy.

      Một số truyện Nguyễn Công Hoan thường bị kêu là tục tằn, tán nhảm.

      Nhưng phải nói cái chính là tác giả cho thấy ông muốn chế giễu mọi lối sống nghiêm túc có tìm tòi suy xét điều tra nghiên cứu trước mọi sự kiện xảy ra chung quanh.

     Sự thống trị gần như tuyệt đối  của tinh thần bài bác trí tuệ để lại nhiều hậu quả nặng nề.

      Suốt thời trung đại chúng ta không hình thành nổi một tầng lớp trí thức đủ mạnh đóng vai trò dẫn dắt đám đông đại chúng trong cộng đồng.

     Trên nhiều phương diện, văn hóa VN kể cả văn hóa quyền lực văn hóa chính trị  như còn đang ở vào một tình trạng "tiền văn hóa" chứ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.

     (Theo tôi đọc được, ở  nhiều nước trên thế giới, kể cả Trung quốc, văn hóa dân gian bao gồm  văn học truyền miệng, hoặc các loại nghệ thuật không có tác giả --  chỉ mới có yếu tố văn hóa chứ chưa thể là văn hóa theo nghĩa đầy đủ của chữ này.

    Và một nền văn hóa mà hàm lượng folklore quá cao là một nền văn hóa chưa trưởng thành).


CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ sáu)

Ngày 7 tháng 10 năm 2020

   CÁC TRIỀU VUA CUỐI CÙNG CỦA NHÀ NGUYỄN

   QUAN NIỆM VỀ SỰ KẾ VỊ NHƯ THẾ NÀO      

     Trong "Đồng Khánh Khải Định chính yếu"  do Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch tiếng Việt, (NXB Thời Đại 2010) tr 269, thấy có ghi: Năm Khải Định thứ bẩy(1922), mùa hạ tháng tư, Mệnh cho Hoàng Thái tử sang Tây du học.

 Dụ rằng:

“ Sở dĩ cha mệnh cho con đi du học chính là muốn con mở rộng kiến thức, tăng cường trí tuệ, đồng thời có được hiểu biết về công việc giao thiệp, để sau khi thành tài có được một tư chất hoàn hảo.

     Vả lại làm  địa vị một người  đứng trên những người khác thì trách nhiệm không phải dễ dàng.

      Với trách nhiệm nặng nề to lớn thì phải có tư chất hơn người mới có thể đảm đương được.

       Nếu may mà con đi du học thành tài trở về  đến khi cha già trăm tuổi qua đời rồi, triều đình lập con nên kế ngôi thì tư chất của con đã đủ để gánh vác trách nhiệm ấy.

       Còn nếu vạn nhất chẳng may vì duyên cớ ngoài ý muốn mà con không học được thành tài khi đó triều đình có đón con về lập lên ngôi thì con phải từ chối nhất thiết không được nhận.

       Nhận ngôi để rồi không đảm đương được trách nhiệm thì  không chỉ hại đến bản thân mà thôi đâu. Cái hại đối với bản thân mình còn là nhỏ, để hại cho tôn miếu xã tắc thì cái hại ấy mới thật là lớn. Con hãy nghe theo lời của cha."

     Nội  dung cụ thể như thế kể cũng đã rõ.  

      Tôi chỉ lưu ý thêm: từ sau 1945 tớí nay,  sử ta chỉ toàn nói về triều Nguyễn với những tội lỗi; tới các đời vua cuối của vương triều này thì sự khinh rẻ coi thường lại càng rõ rệt.

      Tôi không đọc được hết, nhưng chỉ cần giở sử loáng thoáng một chút thấy  họ Nguyễn không đáng bị đối xử như thế.

     Trong hoàn cảnh thời thế thay đổi, dòng họ này có sự thích nghi để tồn tại đàng hoàng chứ không phải cố đấm ăn xôi.

      Khi quyền lực bị o ép, sự cai trị bị thu hẹp, các vua cuối cùng của nhà Nguyễn  vẫn  có khả năng tiếp nhận những bài học của phương Tây để tự đổi mới.

      Quan niệm về sự kế vị như trên là một ví dụ

      Chắc chắn còn tử tế hơn quan chức thời nay  cố nhét con cái vào kế vị mình khiến từ góc độ sinh học  ta thấy như nhiều người trong các dòng họ tham quyền cố vị ấy đang có một sự thoái hóa.


CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ (kỳ bảy)

QUAN LẠI TRONG THỜI HẬU CHIẾN

Ngày 11 tháng 10 năm 2020

Thời nay ta quen nghĩ ai làm chiến tranh được thì ra làm kinh tế cũng được. Mà chiến tranh ta đã chiến thắng như thế thì quản lý mấy cái mỏ, mấy cánh rừng hay vận động nông dân sản xuất để nuôi sống xã hội và làm hàng xuất khẩu, với bộ máy của ta  có gì quá khó mà không làm nổi. Lớp quan chức cũ có già đi thì con cái họ, nối tiếp truyền thống của cha anh sẽ tiếp tục một cách xứng đáng.

Nhưng đó liệu đã  phải quan niệm duy nhất đúng chưa? Đọc lại lịch sử chúng ta thấy có những bài học khác .

Nghiên cứu về triều  Lê thế kỷ XV,  sau khi khái quát vấn đề chính của sự phát triển xã hội hậu chiến là bộ máy quan lại, nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Kế ( trong bài mở đầu cho sách "Quốc triều hình luật—Lịch sử hình thành nội dung và giá trị " NXB Khoa học xã hội 2004 ) cho biết:

 Tài năng, đạo đức, chất lượng làm việc của đám người quản lý đất nước này rất tệ hại.

 Lê Thái Tổ từng khái quát là nhiều công thần chung quanh ông ”không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi”.

Lê Thái Tổ làm vua từ 1423 đến 1433.

Tiếp đó là Lê Thái Tông 1433-1442, rồi Lê Nhân Tông 1442 -1459.

Cả hai vị nối tiếp Lê Lợi đều lên ngôi lúc còn trẻ, người mới 11 tuổi, người mới 2 tuổi, nên quyền hành đều ở trong tay nhóm cận thần.

Chính Lê Thánh Tông, người làm vua từ 1460, và nổi tiếng là anh minh,  đã nhận xét đại ý trong khoảng thời gian hai vua nói trên trị vì, ”trên thì tể tướng dưới thì trăm quan bừa bãi hối lộ ( Sách QTHL...đã dẫn, tr.14 . Mà ở đây cũng như ở trên, nhà sử học đương thời chỉ dẫn lại từ bộ "Đại Việt sử ký toàn thư")

Vẫn theo cuốn sách QTHL..., tiếng là các quan đầu triều, nhưng các loại đại thần thời đó may lắm chỉ thạo việc binh đao, còn quản lý đất nước thì không rành việc.

Yếu kém sinh ra hư đốn mọi bề. Tội lỗi sớm muộn cũng sẽ đến với những kẻ dốt nát..

Nguyễn Hải Kế có dẫn lại từ bài "Trung Hưng ký":

”Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như Lê Duyên Lê Luyện thì mù tịt”

” Phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh được nghe theo”

Nói thêm về Lê Sát.

 Sách "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim ghi ông từng theo vua lập được công to, làm quan đến Đại tư đồ.

"Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam"  của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế thì ghi ông này đứng hàng thứ hai trong 53 công thần được khắc tên trong "bảng vàng danh dự" --  nói như ngày nay là bảng tuyên dương công trạng sau chiến tranh. Thời Thái Tông, ông từng giữ chân thừa tướng.

Nhưng vẫn theo Trần Trọng Kim ” Lê Sát là người ít học... lúc làm Phụ chính thường hay cậy quyền trái phép, làm nhiều điều kiêu hãnh, hễ triều thần ai là người không tòng phục thì tìm cách làm hại ” ( VNSL bản Tân Việt 1951, tr 238)

***

Tôi đọc được đâu đó rằng ở nhiều nước, khi có chiến tranh, các trí thức -- tức các chuyên gia cao cấp -- thường ra nước ngoài học hỏi, rồi đến khi chiến tranh kết thúc, họ sẽ quay về tiếp nhận công việc quản lý nhà nước và xây dựng lại xã hội theo những bài bản mà mọi nước phải theo.

 Ở Nhật, thắng xong shogun, vua Minh trị cũng đã áp dụng chính sách trả cho các tướng lĩnh một số tiền lớn để các vị ấy về nghỉ hay đi buôn thì tùy, chứ việc nước thì giao cho người khác.

Ta có lý riêng khi làm theo cách của ta: sau chiến tranh phải trao các chức tước cho những người có công trong chiến tranh và con cháu họ, lý do là cần làm thế để đền đáp phần đóng góp quá lớn của họ trong thời chiến.

Nhưng kết quả sự phát triển chung của xã hội như thế nào thì chúng ta đều biết.

Lịch sử không biết đến chữ NẾU. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng nếu đặt sự phát triển kinh tế sau chiến tranh vào tay các nhà chuyên môn -- bất kể có tham gia chiến tranh hay không, nhưng bắt buộc phải là người có kiến thức và thạo việc quản lý -- để đất nước trở nên thịnh vượng,  chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn để làm công việc ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA  rất chính đáng nói trên.


NHỮNG NGƯỜI NGA KỲ CỤC

Ngày 12 tháng 10 năm 2020

  Đầu thiên niên kỷ này, một nhà xuất bản ở Anh vừa cho in một xê-ri  sách có nội dung chính là đi vào tìm hiểu đặc tính các dân tộc, mà trước tiên là miêu tả những khuôn mẫu đã định hình trong lịch sử về dân tộc đó.

 Tủ sách mang cái tên khá khiêu khích "Xenophobe`s  Guide  to..".  có nghĩa bóng  là Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người nước ngoài .

Để  các trang sách có thể được viết bằng giọng  khách quan, pha chút hài hước  mang cái nhìn tự chỉ trích từ bên trong, NXB đặt ra yêu cầu người nước nào tự viết về người nước ấy.

 Mùa hè 2001, cuốn Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người Nga đã được in ra ở London và một NXB ở Moskva đã lập tức cho dịch cuốn sách này ra tiếng Nga. Dưới đây là mấy đoạn trích dịch ngắn từ báo Nga Vremya

SẦU MUỘN BI QUAN VÀ NỒNG NHIỆT BẨM SINH

   Tính cách dân tộc thường khi là một cái gì mâu thuẫn và người Nga cũng vậy, người Nga trung bình mang hình ảnh một kẻ sầu muộn, trong  khi chờ đợi những gì tốt đẹp thì đồng thời biết là tai vạ có thể đổ xuống đầu mình bất cứ lúc nào.

 Thật là chó cắn áo rách, anh ta lầu bầu khi gặp hoàn cảnh rủi ro, lặng lẽ thu dọn những gì còn  còn sót từ đống đổ nát và lại tính cho mình ván bài mới.

Đấy cũng là dịp để người ta than thở rằng người Nga là  một dân tộc bất hạnh nhất trên đời, rằng ngày xưa họ sống không đến nỗi nào  và chẳng hiểu làm sao cứ ngày càng khốn khó hơn.

Trong khi đó, vào những lúc mọi chuỵện vui vẻ, họ sẽ nói với bạn rằng họ biết mình là một trong những dân tộc tốt bụng mến khách nhất trên thế giới và điều này chính ra là rất  gần với sự thực.

   Tuy nhiên nếu  “đập vỡ “ một người Nga ra, luôn luôn ta sẽ bắt gặp một người mơ mộng. Chủ nghĩa lãng mạn Nga là một cái gì bền chắc lạ thường, để lâu không hỏng, thả xuống nước không chìm, chôn xuống đất không chết. Và cuộc sống càng nặng nề  thì trái tim lãng mạn ấy ở người ta càng đập mạnh.

Họ rất thích tin ở những ai nói rằng có thể  có được thiên đường ngay trên mặt đất.

CHEN VAI THÍCH CÁNH

   Khía cạnh tiêu biểu trong tính cách Nga là cảm giác có người có ta.

 Họ thích tụ  lại thành những đám đông: một chiếc xe buýt  ken chặt những người đối với họ luôn  có sức hấp dẫn, nhất định là họ phải chen lên bằng được, cốt có người đã đi là ta cứ thế mà đi theo, đông mấy cũng không ngại.

Trong  hoạt động hàng ngày việc gì  họ chỉ cần có người khác cùng làm, còn  kết quả làm đến đâu không cần biết.

Thật khó tưởng tượng một người Thuỵ Điển bệ vệ kiểu cách lại có thể nhập ngay vào một một dàn đồng ca gồm toàn những người anh ta không quen trên một toa xe hoả chật  ních người, còn người Nga nào cũng sẵn lòng làm vậy, chẳng cần có vôt-ca họ cũng tìm thấy hào hứng trong việc tạo ra một bầu không khí gắn bó, lời bài hát chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí hát sai nhịp cũng được, điều quan trọng là cái dàn dồng ca ca này vang lên càng to càng sôi nổi càng tốt, ca rằng chúng ta đang ở bên nhau  và chẳng còn gì là đáng sợ nữa.

  BA KHÁI NIỆM CƠ BẢN  

   Để hiểu cái nhìn người Nga đối với đời sống, cần lưu ý tới ba  khái niệm cơ bản là tâm hồn, nỗi buồn, số phận.

Tâm hồn ở đây gắn với chính giáo.

 Nỗi buồn thì là sự hoà trộn của lãnh đạm, dày vò, sầu thảm và chán chường. Nó cũng có chút ý vị “ nỗi đau thế giới” của người Đức, song mang màu sắc cá nhân rõ hơn. Người Nga chấp nhận nỗi buồn này một cách tự nhiên,trong thâm tâm họ luôn luôn kêu lên như nhân vật Oneguin  trong vở opéra của Tchaikovski “Thật là nhục nhã ! Ôi nỗi buồn ! Ôi số phận thảm thương của ta !”.

Còn chữ số phận ở đây có đủ các nghĩa của thiên mệnh, điềm dữ điềm lành, tiền kiếp tiền định, chạy trời không khỏi nắng, trời đã phạt mi bằng cách suốt đời buộc mi khóc than cho số phận của mình…

 Thành thử không ai ngạc nhiên khi thấy nhiều người Nga chuyển vai nhanh chóng, từ nhân vật trung tâm của một  lễ tiệc đèn sáng rực rỡ với những câu bông đùa hóm hỉnh, sang anh chàng chán đời ngồi nức nở trước cốc ruợu cạn và tự làm khổ mình bằng cách đập tay lên trán tự hỏi  ý nghĩa cuộc sống là gì mà không bao giờ trả lời được.

DỄ DÃI VÀ THỤ ĐỘNG - CHỈ THÍCH ĂN SẴN   

   Người Nga thích ngồi ước ao tự nhiên trở nên giàu có.

 Một trong những truyện cổ tích  phổ biến nhất ở Nga là câu chuyện  "Êmélia và con cá măng thần kỳ ", đại khái kể về một  anh chàng không thích động tay vào bất cứ việc gì mà lại có được tất cả mọi thứ. Rút lại  số phận  của ngừơi ta đi đằng nào, sự tốt xấu … tất cả chẳng có nghĩa lý gì hết, đạo lý cuối cùng là vậy.

   Tiếng Nga có một từ là  "khaliav" có nghĩa là của trời cho, người ta dùng nó để gọi  một cái vé xem một vở hát mang tính chất chiêu đãi, một tập quảng cáo mỏng chả ai buồn xem, cho tới giấy mời tới dự bữa ăn tối với một thương gia có thể là cần cho bạn trong một việc gì đấy.

   Người Nga cho rằng cứ được mời là thích rồi,  ngoài ra mời cái gì mà chẳng được.

   Một biểu hiện khác của thụ động là sự chịu đựng, nghiến răng chấp nhận đau khổ, ngóng đợi một cuộc sống khá hơn dù không biết bao giờ nó tới. Khả năng chịu đựng của người Nga thật mênh mông không có giới hạn, người có quyền  muốn quát mắng họ, chửi bới họ thế nào cũng được. Cuối cùng nhà cầm quyền đành ra lệnh treo đầu cả bọn ngoài chợ :

 -- Ngày mai cho tất cả  lên đoạn đầu đài hết. Tám giờ có mặt ở đây. Có hỏi thêm gì không ?

-- Dạ có. Xin hỏi dây thừng đã có sẵn hay chúng tôi phải mang theo ?

     Họ dám chờ đợi và hy vọng ngay trong những điều kiện mà không một dân tộc nào chịu đựng nổi.

GIỚI TRÍ THỨC BẠC NHƯỢC

    Đây  không phải là khái niệm chỉ lớp người có học mà dân tộc nào cũng có : ở Nga, là một trí thức có nghĩa là  phải hiểu được những người đang sống quanh, cùng đau khổ với họ, cùng  mơ mộng và khi cần lên tiếng chống lại bất công cùng với họ.

 Cố nhiên trước đó anh phải là người đọc nhiều biết rộng được dạy dỗ dến nơi đến chốn, song chưa phải  là đủ.

 Một nhà văn, một  nhạc sĩ, một giáo sư hay một viện sĩ không thể tự nhiên liệt mình vào hạng trí thức, làm thế chẳng khác gì tự anh  phong thánh cho mình mà ông ta thừa biết rằng danh hiệu này phải do nhân dân phong tặng. Các nhà trí thức thực thụ thường không  giấu nổi sung sướng khoe với hàng xóm về vai trò của mình  nhưng không quên nói thêm “mình là thứ đã bị sâu ăn”, tức chưa phải đã xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy.


MỘT XÃ HỘI NHIỀU NGƯỜI ỐM DỞ

Ngày 17 tháng 10 năm 2020

Dăm bảy năm nay, nhiều tờ báo chính trị kinh tế cũng có thêm mục bác sĩ trò chuyện với bệnh nhân.Và thường tôi tìm đọc những loại bài của Nguyễn Chấn Hùng,  Lương Lễ Hoàng ... một cách hào hứng vì các bác sĩ đó có cách đặt vấn đề cách viết rất hiện đại, vượt lên trên trình độ chung của báo chí chính trị xã hội hiện nay.

Từ chuyện nhỏ này tôi muốn nói một khía cạnh khác.

Các bệnh viện luôn luôn xúm xít những người là người. Đến với bệnh viện đôi khi là cả một cái tội. Một anh bạn tôi nói đùa  giờ phải khỏe lắm người ta mới đi khám bệnh được.

Cùng với việc chữa bệnh là vấn đề bán thuốc. Có dịp đi du lịch bụi ở vài nước tôi không thấy đâu lắm hiệu thuốc như nước mình. Thời nay có vốn mà làm nghề xuất nhập khẩu thuốc chắc rất trúng. Không bao giờ sợ ế cả.

Ở phố BỒ Đề bên quận Long Biên của tôi, chỉ trong phạm vi khoảng hai trăm mét, đã thấy cả chục hiệu thuốc.

Vậy là các vấn đề sức khỏe con người nổi lên như một vấn đề  xã hội  có ý nghĩa hàng đầu.

 Nói nôm na là ta đang có một cộng đồng rất nhiều người sống trong tình trạng bệnh tật. Các cơ sở y tế chỉ chữa  những người ốm nặng thành ốm vừa vừa, và sự khỏe mạnh luôn luôn là phồn vinh giả tạo.

 Sự suy thoái mọi mặt trong trong chiến tranh, nay mới thật bộc lộ với chiều sâu của nó. Tiếp đó mấy chục năm hậu chiến người người lao đầu vào cuộc làm ăn kiếm sống, sức khỏe lại bị phá hoại theo kiểu khác.

***

  Sức khỏe thể chất của con người  trong xã hội ra sao thì sức khỏe tinh thần là vậy!

 Ở chỗ riêng tư, một anh bạn tôi đọc nhiều về sử còn mạnh mồm mà bảo rằng có lẽ chưa con người ham sống một cách hèn hạ (!) như thời nay.

Tôi cảm thấy nói thế hơi quá lời. Nhưng trong bụng vẫn lảng vảng cái ý nghĩ  nay là thời tỷ lệ những người lười biếng nịnh nọt giả dối nói chung là thiếu tư cách trong cả dân thường lẫn quan chức vượt cao hơn hẳn so với thời cũ.

Trong một bài phiếm luận đã viết tôi đã nói thật ra những Chí Phèo hay Xuân tóc đỏ ... còn có tư cách hơn nhiều người đang sống sờ sờ,  kể cả những người được xã hội trọng vọng. Vậy mà chưa thấy ai nói khác. Thấy mình có vẻ được đồng tình, tôi lại thêm buồn.

 Lúc rỗi rãi, tôi chỉ ước ao có ai đó đứng ra tổng kết về con người đương thời, nhất là xét con người ở tầm cao của ý chí, dục vọng, lòng tự trọng và thể hiện ra ở chiều rộng và chiều cao của trí tuệ. Ta chỉ hay so sánh người mình với người nước ngoài về trình độ hưởng thụ, chứ chưa ai đi vào căt nghĩa tại sao họ lại đạt được mức sống như  vậy.

Ngay cả việc đi vào khảo cứu so sánh con người đương thời với người Việt trong các thời cũ về mặt tinh thần cũng chưa thấy ai bắt tay  vào cả. Trong khi đó thì tôi luôn luôn thấy người Việt đương thời có phần hợm hĩnh khi nghĩ về các thế hệ tiền bối song đó chỉ là bề ngoài, bề trong chúng ta ngày nay đuối hơn rất nhiều so với các cụ.


RỪNG BIỂN & LÒNG YÊU NƯỚC

Ngày 20 tháng 10 năm 2020

1/

Trong một bản tin thời sự VTV1  có một mẩu tin chạy bằng chữ viết nói rằng Việt Nam hiện nay chiếm 6% thị trường đồ gỗ của cả thế giới.

Chỉ có một lần thoáng qua nhưng tin ấy đủ làm tôi thấy xấu hổ vì nó tố cáo chúng ta đã phá gần hết cả rừng già của tổ tiên để lại để thỏa mãn những nhu cầu trước mắt trong đó một phần lớn là xa xỉ.

Người Nhật thì khác hẳn. Trong các chương trình dạy ở tiểu học, học sinh bên Nhật sớm được dạy là chúng ta nghèo về các loại tài nguyên và người Nhật làm công nghiệp bằng cách đi mua nguyên liệu ỏ nước ngoài nên rừng Nhật vẫn được nguyên vẹn y như thời cổ.

2/

Gìờ đây cái câu “biển đã chết và rừng đã hết” quá phổ biến tới mức người ta nhắc lại với một vẻ thản nhiên.

Người Việt mình vốn xa rừng nhạt biển, nghe nói biển chết không mấy xúc động ít ra là không xúc động như khi chứng kiến những khu rừng đại ngàn bị phá tan hoang, các sườn đồi trơ trụi lơ thơ vài thứ cây làm củi.

 Mà cảnh ấy muốn chứng kiến thì lúc nào cũng sẵn.

3/

Một người cùng lứa với tôi anh Lê Văn Viện có thời gian dài làm phiên dịch cho các đoàn chuyên gia Tây Âu đi khắp miền Bắc.

Lâu ngày gặp lại, khi tôi hỏi anh một câu ngớ ngẩn, có phải người nước ngoài tốt hơn người mình không thì anh không trả lời mà chỉ kể lại một mẩu chuyện.

Lần ấy ở Quảng Ninh anh vừa ra phố về thì bắt gặp mấy chuyên gia Thụy Điển khóc tức tưởi.

Khi hỏi tại sao khóc thì họ bảo Viện, mày không thấy rừng thông bên cạnh đang cháy hay sao?

Anh Viện lúc ấy mới nhớ ra đúng là đang có đám cháy nhỏ mà mình không để ý.

4/

Giới quan chức -- những người tự coi là phần tử ưu tú ở xã hội ta -- lúc nào cũng leo lẻo về lòng yêu nước thương dân. Mà trong cái phần yêu nước thương dân mà họ muôn giáo dục cho lớp trẻ đó không mấy khi có nói đến lòng yêu mến và giũ gìn bảo vệ thiên nhiên.

Hoặc chỉ nói một cách sơ sài nhạt nhẽo và mấy chữ rừng biển ở đây thường chỉ có ý nghĩa tượng trưng.

Một bài báo viết về lụt bão vừa qua có cái tên "Gỗ về nhà quan, lũ về nhà dân".


CHUYỆN CŨ LỊCH SỬ ( kỳ chín )

GIAI CẤP THỐNG TRỊ NGƯỜI VIỆT DƯỚI CON MẮT

VUA CHÚA TRUNG HOA THẾ KỶ XVI

Ngày 25 tháng 10 năm 2020

Bây giờ thì  không úp mở nữa, nhiều người nước ngoài đến VN bắt đầu nói thẳng, đúng hơn là báo chí ta bắt đầu đăng những ý kiến họ chê mình chẳng ra sao.

Một nhà nghiên cứu về vịnh biển kêu lên sao các bãi biển VN bẩn thế, đến một lần đã phát khiếp thì ai dám trở lại.

Đại diện một cơ quan văn hóa nước ngoài nói rằng các anh hãy làm cho Hà Nội đỡ bẩn đi thì vẻ đẹp lịch sử của nó mới đến được với người nước ngoài.

Kể ra, đấy mới là chuyện vặt, những chuyện sinh hoạt và là chuyện hôm nay.

Chuyện tương tự thế kể không hết.

Tôi từng ước có một trang mạng nào đó, đưa lên tất cả tài liệu người nước ngoài viết về mọi phương diện của con người và xã hội VN, hôm qua và hôm nay.

Nhất là trong tình hình hiện tại, rất cần có những bài trong đó người nước ngoài nói về cách tổ chức xã hội của người mình, cách người mình quản lý đất nước từ đơn vị cơ sở đến bộ máy bên trên -- "từ làng xã đến triều đình" - , tóm lại là cái phần xấu xa kém cỏi trong cách làm chính trị của người Việt trong quá khứ.

 Mong rằng có bạn nào đó có dịp đọc lại các sử liệu nước ngoài, cả Pháp lẫn Trung Hoa, nói về những nội dung trên đây, ghi nhận mọi  biến chuyển của nó trong thời gian .

 Việc khó nhưng tôi tin là khá thú vị.

***

Trên FB này, ngày 26-9 tôi đã kể một số đoạn có ý nghĩ thời sự được dẫn trong ‘Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia” của Đinh Khắc Thuân,( Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001)

 Hôm nay xin dẫn lại một đoạn khác trong sách đó,  ghi lời tâu của quan chức lo quan hệ với nhà Mạc là Mao Bá Ôn tâu lên vua Minh .

Đoạn ấy như sau:

"Hạ thần xét về nước Nam, từ thời Hán thời Tấn đến nay, tuy xưng là nội phụ, nhưng vì thói tục di liêu khí độc lam chướng không thích nghi với Trung quốc. Vả lại nước ấy cứ vài năm một lần loạn lạc, mà đã loạn lạc thì kéo bè kết đảng, đánh giết lẫn nhau, phải qua mấy năm mới yên. Ngày trước Trương Phụ dùng hơn mười vạn quân đánh dẹp mà cũng chỉ đặt được quận huyện trong mấy năm. Sau đó chúng liên tiếp làm phản và rút cuộc lại trở về man di. Đó là một chứng nghiệm rất rõ ràng. Nay cân nhắc sự lợi hại thiệt hơn thời trước, thấy không gì bằng cứ để nước ấy là ngoại bang mà không nhập vào Trung quốc và chỉ nên dùng người di trị người di. Thế mới ổn thỏa và tiện lợi (sđd, tr 58 ).

Ý đoạn này có thể hiểu là cả một chiến lược thâm độc dựa trên nhận thức:

-- không cần chiếm VN làm gì, không lợi, tốn kém

-- người Việt không thể cải tạo

-- vì giới cầm quyền VN chuyên đấu đá lẫn nhau, nên dùng ai làm tay sai cũng được, chỉ cần nắm bọn thắng, rồi sau đó bọn này có bị làm phản thì ta lại ủng hộ bọn thắng mới. Càng đánh nhau chúng càng yếu đi, nên càng phụ thuộc ta, bảo gì chúng cũng phải nghe.

  ***

Sáu bảy mươi năm trước thời ta đánh nhau với Pháp, Mỹ, trong các bài sử bọn học sinh chúng tôi được học, cũng thấy nói họ rất thích dùng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.

Nhưng thời ấy chúng tôi được giảng  đấy là nói về chuyện bắt lính.

Đằng này giới chóp bu Trung quốc thế kỷ XVI, khi tính về nước Việt, có cái nhìn vĩ mô,  tìm cách thao túng ngay từ bên trên, đấy mới  thật là khôn ngoan.

Nhưng giới cầm quyền ở ta thời ấy phải có một TRUYỀN THỐNG thế nào thì họ mới đi đến cái quyết định rất hiện đại đó chứ.


TỐT ĐẤY MÀ CŨNG XẤU NGAY ĐẤY

Ngày 29 tháng 10 năm 2020

   Không ở đâu, chất sang trọng cao quý của người Việt được trình ra  như trong  "Vang bóng một thời" ( viết năm1940)  của Nguyễn Tuân.

    Bằng một giọng điệu từ tốn chậm rải, tác giả như muốn vẽ ra một hình ảnh mỗi cá nhân  trong thế ổn định và  chất lượng sống thì đã ngưng kết lại trong thời gian.

   Người ta có một đời sống tinh thần cao cả thâm nghiêm.

   Người ta biết vượt lên trên cái tầm thường hàng ngày để theo đuổi những giá trị trường tồn.

   Và  người ta có một mỹ cảm tinh tế thanh cao.

    Một thiên truyện như "Ngôi mả cũ" cho thấy  cái chất quý phái kia đồng nghĩa với sự nhẫn nại hy sinh. Trong sự vô cảm của cuộc đời, con người  thừa hiểu rằng chỉ mình biết cho giá trị của mình, và vẫn kiên trì cái lý tưởng sống hằng ấp ủ.

     Nhưng trong tập sách đậm chất văn hóa này của Nguyễn Tuân, cũng có những truyện như lạc hẳn đi, đúng hơn là  ngẫu nhiên chạm phải  một cái gì ẩn sâu bên trong đời sống  mà văn chương chưa động tới.

    Trong "Những chiếc ấm đất", nhân vật chính cũng có máu quý tộc. Nhưng  cái phẩm chất cao quý đó  phập phù và tạm bợ.

   Trong  hoàn cảnh bình thường thì không sao.

   Đến khi gặp cảnh ly loạn, tất cả đổ vỡ.

   Ông lão lịch lãm chơi những cái ấm Tàu  hôm qua, trong khi thất cơ lơ vận, rút cuộc hiện ra  như một tay lưu manh, láu cá, nói dối không biết ngượng, sẵn sàng  bắt chẹt người khác,kiếm mấy hào vặt.

    Ít ra qua đây cũng có thể kết luận những nét tính cách tưởng như đã cố kết ở người Việt hóa ra thiếu bền vững.

    Nó hờì hợt và được sử dụng để trình diễn nhiều hơn là một trạng thái thực.

     Người ta không tỏ ra chắc chắn trong lòng tốt và ý định hướng thiện của mình.

    Những cái tốt đẹp mong manh và dễ bị đánh mất tuy không bao giờ mất hẳn.

SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁI KHÔNG ỔN ĐỊNH

    Theo nhà sử học  Nguyễn Văn Kiệm ( trong cuốn "Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại VN"  H. 2003), khi nhận xét về tính cách người Việt, các giáo sĩ nước ngoài thường nhiều lần lặp lại một khái quát, đó là tính không kiên định (inconstant) và hời hợt( léger).

    Có thể hiểu điều này rõ hơn nếu liên hệ với một nhận xét khác :

   “Bản chất người dân xứ Đàng Ngoài khá thật thà mặc dù đôi khi họ cũng phải nói dối một cách khéo léo khi cần phải cảnh giác.. Họ cũng hào hiệp  song sự hào hiệp đó thường được hướng về lợi ích cho mình  và khi cảm thấy  không có gì để hy vọng, họ cũng chẳng sẵn sàng ban phát; trong những trường hợp như vậy, họ thường rất kín đáo về của cải của mình để khỏi bị quấy rầy. Nói chung họ rất dũng cảm siêng năng khéo léo  rất hào phóng trong những vụ chi tiêu vì danh vọng như trong các đám cưới đám ma, các ngày lễ các đám ăn hỏi “.

Tạm tóm tắt thành ba điểm :

1/ con người nơi đây có cả cái tốt lẫn cái xấu, vừa cởi mở lịch thiệp vừa khép kín, vừa ki bo bủn xỉ, vừa thật thà vừa dối trá.

2/ những nét tính cách này không chắc chắn mà tùy điều kiện mà bộc lộ,và có thể chắc chắn là người ta chỉ tốt khi thấy có lợi.  

3/ xét tổng thể, nói chung cái xấu có xu hướng lấn lướt, trở thành ấn tượng cuối cùng từ nhiều người.

   Dưới ánh sáng của nhận xét tổng quát này, thì trường hợp như con người trong "Những chiếc ấm đất" của Nguyễn Tuân trở thành dễ hiểu.

LỰC BẤT TÒNG TÂM

     Lâu nay trong các tài liệu nói về người Việt, các nhà quan sát thường khi rơi vào tình thế mâu thuẫn. Người này bảo người Việt chăm chỉ, người khác bảo họ lười biếng; người này khen họ thật thà, người khác ngán ngẩm vì thấy họ tinh ma quỷ quái; người này ghi nhận  cái sự hồ hởi dễ tin ngời lên trên nét mặt đám đông; người khác thấy cái nhìn hoài nghi dường như ăn vào máu bất cứ ai mình đã  gặp.

   Hóa ra những đặc tính đó đều tồn tại, tất cả chung sống với nhau thành một mớ hỗn độn, tùy từng lúc tùy từng hoàn cảnh mặt này hay mặt kia nổi lên, và bởi lẽ trong trường kỳ lịch sử, hoàn cảnh sống quá khó khăn mà ước ao của con người thì quá lớn, nên cái tốt thường trở thành của xa xỉ dễ bị xếp xó,còn cái xấu như một thứ có dại mọc lan ra và không dễ gì diệt nổi.

   Không phải người ta không biết mình xấu đi, song  bởi lẽ quá bất lực trong việc chống lại định mệnh, đành chịu đầu hàng.

     Trong nỗi khao khát tự khẳng định, con người lương tri vẫn tìm mọi cách để biện hộ.

     Biện hộ  cách nào?

    Bằng cách nhớ lại rằng mình đã có lúc mơ mộng lắm, tốt đẹp lắm.

      Người độc ác nhớ lại rằng lúc nhỏ mình cũng đã nghĩ thương người như thể thương thân;

      người dối trá nghĩ rằng mình vốn được cha mẹ  dạy bảo khôn ngoan chẳng lọ thật thà ;

       người đâm đầu vào cuộc kiếm chác mưu cầu danh lợi đinh ninh rằng xưa nay mình vẫn  hay bảo là không gì bằng cái tâm.

    Cứ thế, những cái tốt giương lên như khẩu hiệu, được biến thành nơi nương náu cho sự hư hỏng.

     Và rút cục là cái cách sống thường trực nói một đằng nghĩ một nẻo, “nói zậy mà không phải zậy “ ngày một lây lan.

    Nói theo tâm lý học hiện đại,  trong con người thường xuyên có sự phân thân, một người mà có rất nhiều khuôn mặt cùng lúc tồn tại, mỗi người là một thực thể lung linh mời gọi khám phá.


SẼ TÌM HY VỌNG Ở ĐÂU?

Ngày 31 tháng 10 năm 2020

Khi danh họa Leonardo da Vinci quyết định sẽ vẽ một bức bích họa có chủ đề  "Bữa tối cuối cùng của Chúa", ông đã tiến hành tuyển người làm mẫu để vẽ Jesus.

Trong hai tháng ròng rã, da Vinci tuyển chọn hàng ngàn thanh niên ở địa phương, cuối cùng ông tìm ra một chàng trai 17 tuổi với gương mặt “mà không một ý nghĩ xấu xa nào có thể nảy mầm”.

 Sáu tháng sau đó, danh họa vùi đầu làm việc để vẽ lại khuôn mặt của chàng trai vào chính giữa của bức tranh.

Bảy năm kế tiếp, ông lần lượt vẽ 12 học trò của chúa, nhưng tới khi vẽ Judas, Da Vinci lại thấy quá đỗi khó khăn.

 “Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp” – họa sĩ tự nhủ.

Da Vinci cần có một gương mặt mẫu xấu xa bỉ ổi và đáng ghê tởm nhất trần đời.

 Tìm đâu ra một con người như thế?

Ấy vậy mà trong một nhà ngục của Rome, một tên tử tội đã khiến Da Vinci phải lăn lội hàng ngàn cây số.

Gương mặt của hắn ta độc ác, bất tín và khiến người ta tưởng tượng ra đủ thứ tội lỗi trên đời.

Vậy là cuối cùng, Judas cũng đã xuất hiện.

Sáu tháng sau đó, Da Vinci hoàn thiện người thứ 13 trong bức “Bữa ăn cuối cùng của Chúa”. Người ta kể với nhau rằng ông gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia.

 Khi xong việc, danh họa chỉ muốn người ta tống ngay hắn trở lại với nhà ngục ở Rome.

Thấy vậy tên tử tù bỗng rơi nước mắt:

 “Ngài Da Vinci, ngài không nhận ra tôi sao? Khi tôi 17 tuổi, tôi đã từng một lần làm mẫu cho ngài!”

MẤY LIÊN TƯỞNG BƠ VƠ

 Đoạn  văn này  được viết trên mạng Bongda plus 2-12 -2014, phần để nói về  CLB bóng đá Arsenal, sự suy đồi của Arsenal dưới sự dắt dẫn của A. Wenger.

 Nhưng chắc tất cả chúng ta đều hiểu rằng nó nói về khả năng vô tận của thế giới này trong việc biến cải con người.

Luôn luôn cuộc đời có thể tác động vào con người ta theo dạng lật ngược, đặt chân lên đầu, mang người ta  từ thái cực nọ sang thái cực kia.

Riêng  tôi lại thấy  nó còn là bài học về  lao động của người nghệ sĩ. Những nghệ sĩ  có yêu cầu cao về nghề nghiệp nhất định sẽ được đền đáp. Miễn là ở ông ta  sự sáng suốt đi kèm với sự kiên trì.

 Gần gũi nhất với tôi là cái câu Da Vinci "gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia".

 Còn đau nhất với tôi là cái câu cảnh cáo “Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp”

 Tôi tự hỏi thế còn trường hợp ngược lại?

 Đám nghệ sĩ tầm thường chúng ta thời nay, từ thuở sinh ra tới khi nhắm mắt,  luôn bị bao quanh bởi trùng trùng điệp điệp những cái xấu,  sẽ tuyệt đường sinh lộ khi mong mình có thể diễn tả cái đẹp tối thượng hay sao?


NHÂN HIỆN TƯỢNG TRUYỆN NGÔN TÌNH TRUNG QUỐC

Ngày 5 tháng 11 năm 2020

Sự bung ra của loạt sách này làm cho một số người sốt ruột. Một vài nhà nghiên cứu có chút hàn lâm lấy làm khó hiểu nêu ra những câu hỏi. Đại loại hỏi tại sao có tình trạng đó? Tại sao lớp trẻ lại có sự lựa chọn như thế? Về khách quan tại sao các nhà văn không lên tiếng về thứ một thứ văn chương gần với rác rưởi, tại sao những người phụ trách ngành văn hóa văn nghệ lại thờ ơ với tai họa và hình như lại đã có chủ trương cho phép rộng rãi.

Tôi mạn phép giải đáp;

-- Với bạn đọc trẻ VN lúc này nói chuyện lựa chọn nghiêm túc là quá xa xỉ. Chán chường trước những cái người trong nước viết thì họ tìm sách dịch. Và chán những cái dịch nghiêm túc—xa lạ và khó hiểu - thì họ tìm cái tầm thường. Thị hiếu họ lang thang theo hướng thấp dần. Trong trường hợp này người đọc trẻ mua sách cũng đang như người Hà Nội ra chợ mua hàng Trung quốc. Biết nó chả ra gì, nhưng được cái giá rẻ. Cũng từng ấy tiền, người mình còn không làm nên cái mặt hàng coi được nữa là.

-- Về phía các nhà văn. Tại sao họ không lên tiếng ư. Họ cũng đang bí. Đã có những “nhà văn” mình xoay ra làm hàng kiểu này, nhưng có ai viết được đều đều và trở thành tác giả hẳn hoi như mấy đồng nghiệp lôm côm bên Tầu?

- Về các nhà quản lý. Họ chả có chủ trương gì rõ ràng cả. Họ chỉ lo các nhà xuất bản và các nhà sách tư nhân ra được nhiều sách và nộp thuế , thế là họ mừng rồi. Cuối năm, trong các báo cáo lên trên họ vẫn viết lại đủ thứ thành tích như các năm trước. Có ai đọc những báo cáo đó của họ mà sợ.


DÂN MÌNH NAY ĐÃ QUÁ GIÀ!

Ngày 12 tháng 11 năm 2020

Trên trang fb của bạn tôi nhà văn TÔ HOÀNG ngày 4 Tháng 7 2018 ·có đoạn văn sau đây trích từ ghi chép của Nguyên Thị Thu Huệ.

Tôi cảm thấy nó giống như một bức biếm họa về lứa tuổi chúng tôi những người già ham sống một cách lố bịch.

Rồi tôi lại còn mang máng cảm thấy nhân vật đươc mô tả mang những nét chung của người VN  mình hiện nay. Cũ kỹ. Đầy bệnh tật trong người. Lạc lõng với thế giới hiện đại. Nhưng lại ham sống và quả thật sự khao khát ấy là rất chinh đáng. Biết làm thế nào? Và trước tiên là nên nghĩ về mình thế nào? Chưa biết!

---

Trên trang viet- studies vừa giới thiệu một bài báo tiếng Anh

Việt Nam: Già trước khi giàu: Vietnam is getting old before it gets rich (Economist 8-11-18), theo tôi đoán cũng là nói cái ý "dân hai mươi triệu ai người lớn nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con" của mình nay đã quá già, không phải già dặn cứng cáp mà với cái nghĩa không tốt đẹp của sự già.

----

Bài viết của Nguyên Thị Thu Huệ.theo lối ghi chép tự nhiên có phần dềnh dàng, nhưng tôi vẫn muốn các bạn cùng đọc

***

Sân bay Nội bài luôn đông, người nhiều

giống sân ga thời bao cấp. Từng hàng người với lỉnh kỉnh đồ chất lên xe chở xếp hàng trước những quầy làm thủ tục. Đứng rải rác các góc và quan sát xung quanh là nhân viên phục vụ hành khách của VNA. Một nhân viên nam rướn người nhìn về cuối hàng rồi đi thẳng xuống. Ở đấy có một bà cụ run lẩy bẩy đứng một mình. Thanh niên nói gì đó, và bà cụ vịn vào tay cậu. Cậu đi chậm, đỡ bà vượt qua hàng người đang xếp hàng đợi đến lượt cân gửi đồ. “Cháu xin phép các cô các bác ưu tiên cho bà chân yếu được làm thủ tục trước ạ” Mọi người cười hưởng ứng. Nhân viên nam vẫn đứng cạnh bà cụ, đợi nhân viên nữ kiểm tra giấy tờ và in vé. Cậu hỏi “Bà đi Phú quốc du lịch hay thăm người nhà?Chân bà yếu vậy mà đi một mình không an toàn. Có ai đón bà ở Phú quốc không?” Bà cụ mặt kiên nghị, không vui vẻ, nhát gừng trả lời” Bà đi du lịch. Một mình.”

Thủ tục làm rất nhanh, cô phục vụ đặt vé vào tay bà “Bà lên tàu bay, cất chứng minh thư không rơi ạ”. Bà cụ nhìn, không nói gì, quay đi. Chợt nam phục vụ VNA túm lấy chiếc túi vải của bà, nói “Túi của bà rách rồi. Đợi cháu lấy bao bà đựng không rơi hết giấy tờ”. Rất nhanh nhẹn, cậu chạy vào trong quầy, lấy ra cái túi bóng dày, đến bên bà cụ, gỡ túi vải cho vào trong. Bàn tay nổi gân của bà nắm chặt miệng túi. Bà chắc hơn bảy mươi. Tóc bạc rối tung. Quần vải đen, áo hoa. Không hành lý xách tay hay gửi. Cậu phục vụ sau khi giao việc giám sát khu vực mình quản lý, quay sang nói” Để cháu đưa bà đến cửa an ninh” Bà cụ im lặng nắm vào cánh tay cậu và thập thõm bước đi. Bà không lê chân hay bước bình thường. Từng bước, mỗi bên chân như khuỵu xuống, giống như sắp quỳ và đầu gối gập lại. Khi được vịn vào thanh niên phục vụ, trông bà đỡ nhấp nhô hơn.

Chúng tôi vô tình chung chuyến bay. Chung điểm đến và chung khách sạn. Tôi vẫn luôn nói về sự vô tình sắp đặt, nếu làm phim hay viết truyện, nhiều người sẽ nói mình bịa, làm gì lắm vô tình thế. Có những chuyện, chẳng ai nghĩ ra mà bịa. Như chuyện về bà cụ này.

Trên máy bay. Khoảng mười lăm phút một lần, bà đi vào phòng vệ sinh. Mặt căng thẳng, quyết tâm, hai tay chống hai hàng ghế, cảm giác bà cứ đi vệ sinh xong về ghế ngồi xuống vài phút sau lại đứng lên đi tiếp. Lần đi sau, người bà bốc mùi khai hơn lần trước. Càng sau, càng khai khiến mọi người lặng lẽ quay mặt vào trong và che tay lên mũi. Nhiều lần máy bay rung lắc, tiếp viên nhắc trên loa quý khách nếu không có việc rời khỏi chỗ ngồi đề nghị ngồi nguyên tại chỗ thắt dây an toàn, bà vẫn đi vệ sinh.

Hai cô tiếp viên thấy thế, thay nhau đỡ, đợi ở cửa phòng vệ sinh, đưa về ghế.

Rồi máy bay cũng hạ cánh. Bà lùi lũi đi giật từng bước xuống cầu thang. Tôi giơ tay cho bà túm, nói” Chân cô yếu quá, đi một mình thế này không an toàn” Bà cụ im lặng, mặt hầm hầm, vịn tay tôi cố bước. Đứng trước bậc lên xe bus, bà càng run rẩy. Một người đàn ông cao lớn phía sau liền nhấc bà lên, đưa vào ghế và bà ngồi xuống.

Tuyệt nhiên, tôi không thấy bà vui hơn hay cảm ơn bất cứ ai, từ mấy nhân viên phục vụ mặt đất VNA, tiếp viên trên máy bay, và người đã nhấc bà lên xe.

Xuống xe. Bà vịn vào tay tôi, người nặng trịch. Đi đến bức tường, bà giật mạnh tay, lao người tựa tường, nghỉ tạm vài phút, xong vin tay bước tiếp. Chợt quay sang tôi, mắt bà loé những tia sáng giận dữ” Tôi đi với con cháu. Cả chồng nữa. Chúng chê tôi già xấu bệnh tật, không đi cùng vì xấu hổ”

Nói xong, bà quay ngoắt đi, môi mím chặt. Nhấp nhô di chuyển giữa biển ngừoi tiến vào sảnh. Có vẻ bà không muốn nhờ vả ai từ lúc này. Bà vừa đi vừa khuỵu cũng ngồi phịch xuống ghế, cạnh một tốp người. Một người đàn ông tầm thước, đẹp lão da đỏ hồng dáng săn chắc rõ ra dân chơi thể thao, hai cặp vợ chồng và bốn đứa trẻ tầm trên mười tuổi. Tất cả đều đẹp, lịch sự. Bà cụ lúc này lấy hai tay đập điên cuồng vào bắp đùi, bắp chân, mặt đầy căm phẫn nhìn ra đường nắng gió miền biển. Tiếng ông đẹp lão “ Xe đến rồi, ra thôi. Bà đi trước đi”. Bà cụ mặt như đi đánh nhau, run rẩy đứng lên rồi đi ra trước. Một mình.

Lái xe là một thanh niên xăm đầy cánh tay, vừa đỡ vừa nhấc bà lên xe. Phía xa, gia đình của bà bắt đầu đi tới. Như không liên quan.

Biển mùa này lúc mưa lúc nắng. Người tắm biển hay hồ bơi thường đông vào sáng sớm và chiều muộn.

Ba buổi trưa. Nắng gay gắt. Sân vườn, bãi biển, chỉ có cậu trực cứu hộ ngồi canh khi bà dập dờn ngâm nước ngang ngực, đập tay đi lại trong hồ bơi với quần dài đen, áo hoa.

Thế này thì hơi quá rồi bà ạ.

Vốn xót bà từ lúc làm thủ tục, một mình lên xe về khách sạn, thấy rõ bà bị người nhà từ chối đi cùng dù chân bà như gẫy đến nơi. Nhưng cách bà mặc quần áo ngâm mình mấy tiếng dưới hồ bơi, và chắc mười lăm phút một lần khoái cảm tiện lợi tè vào nước như bà đã liên tục đi vệ sinh trên máy bay, phần nào tôi hiểu tại sao gia đình bà không muốn bà đi nghỉ cùng. Rồi thấy bực bà. Lát nữa thôi, khi nắng bớt gắt, chắc vài chục trẻ em, người lớn sẽ ngâm người trong hồ bơi. Những đứa trẻ vui đùa kiểu gì cũng làm vài ngụm nước. Và trong nước hồ bơi, có pha nước tiểu của bà. Chắc chắn là thế.

Nhìn bà hăm hở khoát tay đi bộ dưới nước, trong bộ quần áo dài rộng lềnh phềnh, tự nhiên tôi hết giận chồng con và những đứa cháu bà. Họ có lý của họ, người ngoài không thể hiểu. Họ biết rõ về việc bà không thể đi chơi xa. Nhưng bất chấp, bà vẫn đi. Vì bà biết, xã hội còn nhiều người xa lạ nhưng tốt.

Người tốt. Đâu đấy, từ nhân viên phục vụ mặt đất của VNA, đến tiếp viên, người đã bế bà lên xe rồi nhấc bà xuống. Lái xe, cậu bé trực cứu hộ...

Mấy lần định xuống hồ bơi nói chuyện và khuyên bà, không nên cố đi theo con cháu để thành gánh nặng cho chúng. Họ sống với bà cả đời. Hè đến, mấy đứa cháu được nghỉ vài ngày trước khi vào học, cho nó thoải mái đi. Sao bà phải bám theo để thành cục nợ và chuyến đi sẽ mất vui. Và nội quy hồ bơi không được mặc quần áo ngủ xuống bơi, đặc biệt là cấm đái. Nhưng rồi, nhớ lại ánh mắt sắc lẻm tàn nhẫn và cách bà lạnh lùng vô cảm với những người giúp mình, nhìn bà khua hai cánh tay chém loạn xạ trong nước như những cú đánh với kẻ thù vô hình, thấy khó mà nói gì.

Lẳng lặng nhắc con, có bơi thì ra biển, đừng xuống hồ bơi nhé. Rồi tìm quản lý đề nghị ngày nào cũng nên thay nước hồ bơi, đảm bảo vệ sinh chung.

Đấy là việc duy nhất mình có thể làm


CHẤP NHẬN TẠM BỎ MÔN SỬ Ở NHÀ TRƯỜNG MIỄN LÀ SAU ĐÓ PHẢI TÌM TỚI MỘT CÁCH VIẾT SỬ KHÁC

Ngày 22 tháng 1 năm 2020

Có nhiều việc trong xã hội hiện nay mọi người bàn một đằng cuối cùng những người có trách nhiệm lại quyết theo một cách khác.

Việc bỏ môn sử cũng vậy, ai cũng thấy là trái lè lè.

Song với một chút tâm lý A. Q. hoặc nói theo dân gian, “ đánh chẳng được thì tha làm phúc”, tôi  nhìn thấy cái lợi của việc này như sau.

 Khi nhìn vào việc học sinh ngày nay chán sử, người ta chỉ quy trách nhiệm cho cách dạy sử trong nhà trường.

Nhưng tôi cho rằng cái lỗi chính ở đây là thuộc về nội dung môn sử mà người ta đang dạy suốt từ  tiểu học đến đại học cùng là các loại sách tham khảo có tính phụ họa.

Nói nôm na thì với nội dung các bài sử mà người soạn sách được phép viết và người giáo viên được phép dạy, có đến thánh cũng không làm cho học sinh yêu môn sử được.

Trong các bộ sử đã viết mấy chục năm nay cũng có những phần rất tốt, học sinh rất cần biết , mọi công dân Việt cũng cần biết.

Nhưng lúc mang ra dạy chúng bị lẫn đi, bị lọt thỏm đi, giữa các kiến thức giả mạo khác.

 Hàng giả hiện nay rất đa dạng.

Có khi không đầy đủ không toàn diện không nhấn mạnh cái đáng nhấn mạnh... cũng đã là giả rồi.

Rút cục, cái hy vọng qua môn sử như thế này góp phần vào việc đào tạo những con người có học vấn có nhân cách những công dân yêu nước theo nghĩa hiện đại và khoa học nhất của khái niệm yêu nước thời nay… chỉ là ảo tưởng.

Mà trước mắt nhu cầu viết lại sử đến bây giờ vẫn chưa được đặt ra trong xã hội, chứ đừng nói là được chuẩn bị.

Bởi vậy, theo tôi  dù rất đau lòng  cũng có thể bảo nhau chấp nhận tạm bỏ môn sử.

Mục đích của việc này là  tránh cho lớp trẻ phải học những kiến thức sai lạc.

Nhiều kiến thức sử ở nhà trường hiện nay chỉ có cái vỏ sử. Thực tế  nó là những điều mà người ta muốn nhồi vào đầu các em qua các môn công dân giáo dục với cách hiểu cổ lỗ và thực dụng về mấy chữ “công dân” cũng như mấy chữ “giáo dục” đặc trưng cho thời nay.

Vậy thà cứ để các em học các môn mà chính các em cũng đã hiểu thực chất ấy, rồi đối phó thế nào qua quýt cho xong, còn hơn là buộc các em lầm tưởng đó là những kiến thức thực sự.

 Chấp nhận bỏ sử ! Trong việc giáo dục con em, đã bao chuyện khác chúng ta bất lực, chứ có phải riêng chuyện sử này đâu.

CÓ NHỮNG VIỆC LÀM THÌ RẤT KHỔ,

KHÔNG LÀM THÌ SẼ KHỔ HƠN

Cách đây ít lâu tôi từng khuyên các gia đình nghèo là trong tình hình hiện nay nên lo cho con học xong trung học cơ sở rồi chuyển đi học nghề, còn hơn là học lên cao.

 Đề nghị của tôi lần này cũng ở dạng tương tự.

  Câu hỏi còn lại: sau đó ta phải làm gì, chứ chẳng nhẽ lại buông xuôi ?  

Suy đi tính lại, tôi thấy hiện nay chỉ còn một cách là cả xã hội  lo học lại sử. Học ở đâu? Học ở các bộ sử mà ông cha xưa đã viết từ "Đại Việt sử ký toàn thư", " Việt sử thông giám cương mục", "Việt sử tiêu án" …của các sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ ..  tới các bộ sử viết trong thời Pháp thuộc như "Việt sử yếu" của Hoàng Cao Khải,  "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim.

Còn nhớ  những năm chống Mỹ ở Hà Nội ông sếp cao cấp trong ngành tuyên truyền là Hoàng Tùng thường cũng vẫn nói với cánh nhà văn nhà báo chúng tôi, có việc gì cần vẫn phải dùng bộ "Việt Nam sử lược" chứ các sách mới viết có dùng được đâu.

Bản thân tôi làm nghề nghiên cứu văn học,  trong hai chục năm gần đây, trong khi  tìm đọc các bộ sử VN do các tác giả nước ngoài viết, mới ngã ngửa người vì ngạc nhiên  hóa ra họ cày xới các bộ sử cũ của ta rất kỹ.

Nói ra thì có vẻ nghịch lý: tôi học người ta cách đọc lại ông cha mình. Thế đấy!

Dần dà tôi hoàn toàn tin rằng để hiểu người Việt, cuốn sách cổ điển mà thế hệ trẻ cần đọc số một, không phải là “Truyện Kiều” mà là “Đại Việt sử ký toàn thư".

 Chắc có bạn đọc thắc mắc: dù là sách đã dịch từ chữ Hán cổ sang  chữ  quốc ngữ  song làm sao mà đọc được cuốn toàn thư ông vừa nói tới đó.

Tôi sẽ bàn về chuyện này, trong một dịp khác.


CẦN MỘT THỨ SỬ HỌC KHÁC

Ngày 23 tháng 11 năm 2020

Từ đầu thế kỷ 20, một trí thức nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt sử yếu (viết năm 1914) đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông đảo dân chúng.

Có thể giải thích hiện tượng này bằng chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...

Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài bộ như Toàn thư, Cương mục, Việt sử tiêu án, Lịch triều tạp kỷ... mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.

Đến thời chúng ta, tình hình lại đi theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.

Những bộ sử thời nay do Nhà nước chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng là lâu nay chúng ta chẳng chú ý gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về nhận diện chính mình.

Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu hơn sử ta?

Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn hơn.

Không, không phải vậy, hoặc lý do chủ yếu không phải vậy.

Cái lỗi trước hết là ở chính những cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử dụng.

Ở những trang sử Trung Quốc, không chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn... Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những trang sử ấy. Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.

Quay trở lại với những gì được viết trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.

Ở những trang sử ta viết cho ta, trên cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng quá nghèo nàn, đơn sơ. Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào. Lại càng không thể từ đó rút ra những gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay. Bởi những bài học mà người viết sử gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người ta theo lối áp đặt gượng gạo.

Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.

Cái lỗi không phải chỉ là do mấy người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử. Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.

Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người Việt.

Chúng ta là một cộng đồng mải chinh chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình... Đó không chỉ là tình hình có thật trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.

Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối hôm nay chỉ dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.

Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn tại mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát triển. Tóm lại là vậy.

Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn và nhất là đáp ứng nhu cầu của tương lai mạnh mẽ hơn. Nghịch lý cuối cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.


TẠI SAO TẬT NÓI NGỌNG 

NGÀY MỘT PHỔ BIẾN?

Ngày 24 tháng 11 năm 2020

     Nhân chuẩn bị cho một cháu nhỏ trong gia đình thi vào trung học phổ thông, tôi có đi hỏi thăm vài người về chất lượng các trường trong phạm vi thủ đô. Tới XX, một trường được thành lập từ ngay sau 10-1954 và ở ngay trung tâm thì được kể:

-- Ồ cũng như mọi nơi, xập xệ lắm. Một cô giáo đang dạy lớp 11 ở đó còn nói ngọng l/n.

      Nghe mà buồn! Nhưng cũng nhân đấy, có dịp hiểu thêm về tình trạng nói ngọng hiện nay.

    Là nó đã quá phổ biến.

     Trong khi vẫn coi việc nói đúng là một tiêu chuẩn để đánh giá một con người hay một đơn vị văn hóa, đồng thời người ta cũng đã bắt đầu quen với sự bất lực.

     Nói ngọng đang bành trướng. Nó xâm nhập tới những nơi xưa nay không được phép bén mảng tới. Đã không ngăn chặn nổi nó thì thôi chung sống với nó vậy, người ta tự nhủ.

     Ví như bảo anh chị em bên TV là không được đưa người nói ngọng xuất hiện trước màn hình  thì có lẽ … nhiều chương trình sẽ bị cắt bỏ.

      Trong khi chê trách sự nói ngọng, nhiều người đã nói tới việc giảng dạy ở các nhà trường. Nhưng có lẽ cũng nên nghĩ tới  những nguyên nhân sâu xa hơn. Đang có một sự dễ dãi chi phối thái độ con người hôm nay đối với ngôn ngữ và sự giao tiếp nói chung, đầu mối là ở đấy chăng.

     Bình là một đồng nghiệp trẻ mà tôi quen gần hai chục năm nay. Từ nông thôn lên, đẹp trai, thông minh, hội nhập rất nhanh với đời sống đô thị. Chỉ tội một nỗi không sao sửa được bệnh nói ngọng. Nhiều lần đang nghe Bình nói rất hay  chợt nghe anh hồn nhiên lầm lẫn l/n,  tôi cứ cảm thấy câu chuyện không còn ra làm sao.

    Chúng ta sẽ rủ nhau mà đi xuống mồ với cái sự ngọng vĩnh viễn như thế này chăng?

       Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Tôi thử tìm về  nguồn gốc xuất thân, tức là chất trai quê của anh bạn.

      Nhưng rồi tôi nghĩ lại. Bình  lên Hà Nội theo con đường đàng hoàng là học đại học, vào làm cơ quan nhà nước, hàng ngày tiếp xúc với bộ phận tinh hoa của xã hội.

    Vậy không thể đổ cho nói ngọng là tại “trình độ thấp” được.

     Vả chăng nay là lúc không chỉ người các tỉnh lên Hà Nội nói ngọng mà chính ở nhiều lớp người thủ đô cũ cũng có hiện tượng lại gạo, lại mắc thêm nhiều lỗi ngọng mới, tức là đánh mất sự trong sáng chuẩn mực trong ngôn ngữ của mình.

      Mạnh mồm khái quát lên một chút, liệu có thể nói tới một căn bệnh thời đại? Tôi muốn đi theo hướng ấy.

      Lần lại trong trí nhớ và nhất là soát lại các trang sách đã đọc, thấy thời trước con người trầm tĩnh kỹ lưỡng bao nhiêu, thì ngày nay cả ở nam lẫn bắc, cả nông thôn lẫn đô thị , người ta sống xô bồ, dễ dãi  bấy nhiêu.

     Sự chuẩn mực bị coi  thường.

     Mà sự tinh tế kỹ lưỡng thì nhiều khi bị mang ra chế giễu.

    Phải quê quê một chút, phải cục mịch một chút mới ra vẻ thức thời.

     Cái lối nghĩ ấy theo sát chúng tôi suốt từ những năm thủ đô giải phóng (1954) và kéo dài mấy chục năm ròng. Đến nay đã có căn bệnh mới, là bệnh khoe giầu khoe giỏi khoe trí thức giả, song dấu vết của căn bệnh cũ vẫn còn dai dẳng.

      Nhìn vào một ngành có liên quan nhiều tới chữ nghĩa và tiếng nói là ngành văn chương mà tôi làm việc mấy chục năm nay.

       Bước sang thời buổi thị trường không ai ngồi trau chuốt một câu một chữ nữa. Viết bừa viết ẩu. Sai câu. Sai chính tả. Chỉ cùng một ý mà mấy lần lặp đi lặp lại … Bấy nhiêu căn bệnh không gì khác chính là những biến dạng của SỰ PHI CHUẨN trong văn hóa giao tiếp.

     Mang danh  chuyên nghiệp đã thế, còn nói chi tới những người dân thường.

      Dạo này chúng ta hay nói tới sự phá hoại môi trường sống của cộng đồng.

     Ngôn ngữ cũng là một yếu tố thuộc về  cái môi trường mà chúng ta đã chểnh mảng bừa bãi trong đối xử.

      Văn hóa giao tiếp của chúng ta đang xuống cấp.

      Công cụ giao tiếp  vốn đã cổ lỗ  lại đang mòn sờn hư hỏng.

      Nó kéo xã hội phát triển chậm lại và làm cho cuộc sống thêm bề mệt mỏi khó chịu.

      Tôi muốn đặt căn bệnh nói ngọng của chúng ta trong tình trạng suy thoái của văn hóa giao tiếp như vậy.

      Một lần tôi nghe Bình bảo :

-- Giá kể biết thế nào là ngọng thì em sẽ sửa được ngay. Đằng này, chẳng ai bảo em thế nào là đúng thế nào là sai cả, sai đúng sao cũng được. Lại có mấy ông ngôn ngữ học “nửa mùa” bảo ngọng là phương ngữ, từ đó làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ cộng đồng. Thế thì còn biết đằng nào mà lần!

      Tôi cảm nghe trong câu nói trên của người bạn không chỉ một  cách cắt nghĩa mà còn một lời than phiền  chân thành. Xã hội đã không tạo ra cơ chế tốt để giúp các công dân của mình duy trì các chuẩn mực trong giao tiếp, cũng tức là giúp mọi người nói năng viết lách ngày một hay hơn chính xác hơn, còn người có sai lầm cũng sớm  biết cách mà từ bỏ cái sai mà lại còn bênh che cho họ xô họ xuống  chỗ lầm lạc.

Tôi nhớ tới một cách giải quyết ở nước ngoài.

 Từ 1635, nước Pháp đã lập ra một viện hàn lâm  với nhiều ông hàn chuyện lo soạn từ điển và cầm cân nẩy mực về mặt ngôn ngữ. Bao giờ thì chúng ta mới có những Viện hàn lâm với đúng nghĩa đích thực như vậy ? Hay là, trong sự biến động hỗn loạn của tiếng Việt, rồi  những  ai có ý định làm ông hàn cũng chắp tay lạy để xin chuyển ngay sang ngành khác.


TẠI TA HAY TẠI NGƯỜI ?

Ngày 2 tháng 12 năm 2020

     Nhìn rộng hơn về mối quan hệ với nước ngoài. Một khách du lịch khác kể một giáo viên tiếng Anh tại Nha Trang cho anh ta biết người Việt được giảng dậy rằng tất cả các vấn đề mà người Việt gặp phải đều được đổ lỗi cho phương Tây, đặc biệt là người Pháp và người Mỹ. Nay người Việt hi vọng người phương Tây đến để tiêu tiền ở Việt Nam… do đó họ (người Việt) không chào đón tây ba lô (những người ít tiền).

    Nửa sau câu nói chỉ là chuyện nhỏ.

    Nhưng nửa đầu thì là chuyện lớn.

   Việc coi người phương Tây là nguyên nhân của mọi vấn đề mà người Việt  gặp phải là cách nghĩ của cả cộng đồng chứ không phải của riêng ai.

   Chẳng phải đó là lý do khiến chúng ta đồng tâm làm cuộc đổi dời lớn lao là đập vỡ xã hội cũ để dẫn tới tình trạng ngổn ngang hôm nay?

      Đỗ Mục (803-853) là một nhà thơ lớn đời Vãn Đường, nổi danh không kém gì Đỗ Phủ thời Thịnh Đường. Trong bài phú Cung A Phòng nói về sự hưng vong đời Tần Thủy Hoàng và  sáu nước thời Chiến quốc (Yên Triệu Hàn Ngụy Tề Sở) ông từng viết “Than ôi! kẻ diệt lục quốc không phải Tần mà là lục quốc. Kẻ diệt Tần chính là Tần không phải thiên hạ “. ( Theo bản dịch Cổ văn Trung quốc của Nguyễn Hiến Lê S. 1966 ).

      Có lẽ còn phải một thời gian nữa rồi dân ta mới đạt tới cách nghĩ  “tiên trách kỷ hậu trách nhân” như vậy. Nhiều người Trung quốc khi nhìn sự phát triển xã hội hiện đại cũng mắc bệnh này. Nhưng bệnh dân ta nặng hơn bệnh dân Tầu.


MỘT VÍ DỤ KHÁC VỀ DI CƯ NỘI ĐỊA

Ngày 3 tháng 12 năm 2020

FB Nguyễn Kc Hậu ngày 8/1/2017 có bài mang tên “Sài Gòn dễ sống”, vốn viết từ 12/2015 nay mới đưa lại. Bài viết ca ngợi khả năng mà thành phố từng là hòn ngọc Viễn Đông bao dung những người nhập cư vào thành phố mấy chục năm nay, nên dễ hiểu là được hoan nghênh.

Trong hoàn cảnh hậu chiến, rồi tới công cuộc phát triển kinh tế tự phát hỗn loạn và những biến đổi khí hậu dồn vào mấy chục năm nay, khả năng bao dung của Sài Gòn thật đáng phục, cư dân mới tới phải biết ơn Sài Gòn lắm lắm.

Nhưng tôi muốn bổ sung thêm

-- Chính vì chấp nhận dân nhập cư một cách bị động, một cách xô bồ dễ dãi mà mấy chục năm nay, Sài Gòn có phần bị pha loãng ra, có phần lùi lại, có phần như đánh mất mình; về mặt kinh tế xã hội Sài Gòn không thể trở thành một đô thị được chuẩn hóa, nó là nỗi niềm mà chúng ta thường kỳ vọng nhất ở thành phố.

**

Tôi sống ở Hà Nội từ trước 1954. Sau 10/1954, việc nhập cư vào Hà Nội rất khó khăn, trai gái lấy vợ lấy chồng mà “đối tượng” là người ở các địa phương chung quanh thì không được nhập hộ khẩu.

Mới đầu tôi cũng thấy Hà Nội có cách tự vệ khá tốt trước cái hoàn cảnh tư tưởng tiểu nông bao trùm cả xã hội.

Sau tôi mới hiểu hồi ấy đang thời bao cấp, đưa người nhập cư về là phải lập thêm cho họ sổ gạo cùng các loại tem phiếu, một thành phố trung tâm của một đất nước đã bị phá hoại trong tám năm chiến tranh chịu sao nổi.

Đấy, cái lý của Hà Nội khi hạn chế người nhập cư là vậy.

Chứ xét chung thì sau 10-1954, do sự nhập cư thiếu sàng lọc liên tục xảy ra, Hà Nội trở nên quê mùa dần, mà cũng nhốn nháo lộn xộn hẳn đi - ai mà không thấy. Người Hà Nội cũ nhiều khi lại có cảm giác lạc lõng không theo kịp xu thế chủ đạo mới.

Cách quản lý Hà Nội bấy giờ không chỉ là phản khoa học -- khoa học quản lý và phát triển đô thị -- mà còn là ngược với kinh nghiệm của ông cha.

Tìm hiểu các lớp người Hà Nội trước 1945, người ta được biết là đô thị này phát triển trong quá trình sàng lọc với nghĩa dù làm nghề gì ở thang bậc nào chỉ những tinh hoa từ nơi xa tới mới trụ được ở thành phố, những người kém cỏi có nhoi ra đây cũng phải bán xới từ sớm.

Những người nhập cư tài ba và thông minh này đến với Hà Nội với sự hiểu biết tối thiểu thế nào là đô thị, nó khác với sự hồn nhiên tự nhiên vốn có ở nông thôn.

Nhờ thế họ hòa nhập nhanh, còn Hà Nội vẫn phát triển được mà lại là phát triển đúng hướng trở nên một thành phố đầu tầu của cả nước.

Động thái này cũng phù hợp với quy luật hình thành và tồn tại của các đô thị nói chung trên thế giới: Đô thị phải là sản phẩm của trí tuệ.

**

Chuyện cũ của Hà Nội nay lại là chuyện của Sài Gòn

Đọc mấy ví dụ Nguyễn kc Hậu đưa ra về thành công trong hòa nhập của dân nhập cư vào Sài Gòn mấy chục năm qua, tôi cứ ước ao giá có cơ quan nào đó có thể nghiên cứu về những phiền toái mà người dân Sài Gòn phải chịu mấy chục năm qua do nhập cư tùy tiện vô tổ chức thì hay quá.

Trong điều kiện của khoa học xã hội hiện đại, điều này hoàn toàn có thể xác định được.

Vả chăng không tính đâu xa, ngay mỗi người dân thành phố chỉ mới nhập vào thành phố ba bốn chục năm trước cũng đã cảm thấy gánh nặng của dân nhập cư dăm ba năm nay như thế nào.

Đi lại đông đúc hơn bởi đường xá chật chội hơn.

Công việc bị cạnh tranh không lành mạnh.

Các nơi giải trí quá tải.

Trường học trở thành nơi tranh chấp, điều kiện học hành của con cái ta bị phân tán, chất lượng đào tạo bị hạ thấp.

Tóm lại trong khi đón tiếp dòng người từ các vùng xa trở về một cách tùy tiện, Sài Gòn cũng được nhiều cái lợi thật, nhưng đó là cái lợi trước mắt. Còn về lâu dài nếu không xử lý tốt – mà chúng ta có làm tốt cái gì bao giờ đâu -- một thành phố luôn luôn có những lớp “đất mượn’ như thế này sẽ rất khó vượt qua giai đoạn dông dài và bị động theo kiểu những năm chiến tranh để phát triển theo hướng hiện đại, mà vẫn giữ được trình độ tiên tiến và cốt cách sang trọng vốn có.

***

Cảm tưởng sau rốt của tôi: cả với Hà Nội trước đây  lẫn Sài Gòn 45 năm nay, chúng ta đều tổ chức thành phố một cách tự phát theo lối làm trung cổ, xét đến cùng là một cách nghĩ nông dân trong văn hóa cư trú. Trước 1945, người Pháp đã tổ chức đô thị theo những nguyên tắc hoàn toàn khác.


LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG

Ngày 4 tháng 12 năm 2020

Theo một con số thống kê sơ bộ thì khoảng 70% dân nghiện ma tuý ở các mức độ khác nhau có độ tuổi mới 25. Dưới đây chúng tôi thử đưa ra một cách giải thích cái hiện tượng nguy hại đó dưới góc độ văn hoá - đạo đức.

Khi một thanh niên vào con đường nghiện ngập tức anh ta đang tự huỷ hoại thân xác. Trước mắt mọi người anh ta là hiện thân của một kẻ bạc nhược mất hết ý chí. Một sự suy đồi về tính cách chính thức bắt đầu.

 Đúng ra phải gọi là một cái chết đến sớm.

Tại sao ai cũng biết vậy, mà trong xã hội, tệ nạn ấy ngày một phát triển và không biết bao giờ mới có thể triệt bỏ?

Khi nêu câu hỏi này với một số người, tôi thường được nghe những câu trả lời đại khái:

-Tại nhà trường xã hội buông lỏng giáo dục

- Tại các cửa khẩu bị lũng đoạn để hàng lậu nhập vào.

- Ôi giời, vốn một mà lãi trăm lãi ngàn! Ông bà nào muốn hốt bạc của thiên hạ thật nhanh thì chỉ có cách đi vào con đường buôn bán cái thứ hàng đó.

Nhưng tôi cho rằng bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, ở đây còn có nguyên nhân chủ quan, tức bản thân “cơ địa”, cái đời sống tâm lý của một số thanh niên hiện nay, nó đang là mảnh đất lý tưởng để sự hư hỏng hoành hành.

Và đây có lẽ là một ví dụ rõ nhất chứng minh cho cái điều đơn giản -- các hiện tượng tiêu cực bao giờ cũng có căn nguyên văn hoá - đạo đức sâu xa của chúng.

NUÔNG CHIỀU QUÁ MỨC

Tội lỗi nhiều khi chỉ bắt đầu từ một phút yếu lòng, một sự buông thả. Tệ hút xách cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhiều nạn nhân đã đến với tử thần do chỗ a dua với bạn bè, nhẹ dạ ham chơi ham của lạ, và khi biết mình “tay đã nhúng chàm” thì không rút ra nổi.

Có vẻ như trong trường hợp này, các đương sự đáng được giảm nhẹ tội lỗi: Cái lối sống bầy đàn theo đuôi nhau, cái bệnh học đòi đua đả nhau, thanh niên thời nào chẳng có?

Nhưng khi để cho một bộ phận thanh thiếu niên trở nên ẽo uột và dễ bị lôi kéo như vậy, thì trách nhiệm của những người lớn tuổi lại nặng nề hơn bao giờ hết.

Ở đây có những thói quen, thoạt nhìn vô can, song lại tai hại vô kể. Nhiều người chúng ta, lớn lên trong những hoàn cảnh cơ cực, khi đã khá giả hơn một chút, thương thân mình rồi thương lây sang con, thường muốn cho con ăn tiêu thật thoải mái.

Không ai cho là có lỗi khi trót nuông chiều trẻ quá mức.

Trong nhiều gia đình, lớp trẻ chỉ biết có quyền lợi mà không biết đến trách nhiệm.

Các trường học bây giờ lại có lối cho điểm học trò thật cao để lấy thành tích. Trong sự dễ dãi với nhau, ta càng dễ hơn với trẻ. Và trẻ cứ thế nghênh ngang vào đời với sự tự tin chúng là những ông tướng.

Trong khi kêu trời với nhau rằng thanh thiếu niên giờ đây nhiều em ích kỷ, ham hưởng thụ, dửng dưng với việc đời, với cái hay cái dở... nhiều người quên rằng chính mình đã góp phần nhào nặn nên những tính cách đó. Giá kể như chúng ta sớm biết đề ra những yêu cầu cao với trẻ, biết dạy dỗ chúng trở nên những con người nhạy cảm, có lòng vị tha, có nghị lực theo đuổi mục đích cao đẹp... thì đâu đến nỗi!

TƯỚC BỎ MẤT SỨC ĐỀ KHÁNG

Theo như cách nói của y học, cơ thể nào cũng có sức tự đề kháng. Trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, cơ thể huy động mọi bản năng để tự vệ, tức để duy trì sự sống.

Thành thử đòn đánh mạnh nhất đối với một cơ thể là đánh vào khả năng tự đề kháng này.

Bấy giờ cơ thể trở nên vô cùng yếu ớt, mọi sự thuốc thang chạy chữa chỉ còn rất ít ý nghĩa.

Đối với sức khoẻ tinh thần, tình hình cũng có nhiều phần tương tự. Khả năng tự đề kháng nói ở đây là sự phân biệt hay dở xấu tốt và lòng tin rằng người ta cần phải tốt và có thể tốt.

Thiếu đi lòng tin ấy, con người ta sẽ mất hết khả năng tự kiềm chế và tự phấn đấu, sẽ sống buông thả, tuỳ tiện, rồi rơi vào tội lỗi lúc nào không biết.

Tiếc thay, cách cư xử của người lớn trong một số gia đình hiện nay khiến con cái họ cứ ngấm dần căn bệnh quái ác kia. Tức là một số thanh niên đang mất dần sức đề kháng trước sự cám dỗ của thói xấu, không còn khả năng chống đỡ.

THƯỜNG TRỰC BÀY RA NHỮNG TẤM GƯƠNG XẤU

Như các nhà nghiên cứu giáo dục vẫn nhận xét, thanh thiếu niên thường rất ngại phải nghe những lời giáo huấn từ phía người lớn, nhưng lại thường xuyên quan sát xem người lớn sống ra sao để rồi tìm ra kết luận cần thiết cho việc xử thế.

Vậy thì làm sao chúng có thể ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành khi biết rằng bố mẹ chúng chỉ phất lên nhờ khéo léo luồn lọt và giờ đây đang tìm cách tô điểm cho bản thân bằng mấy tấm bằng rởm?

Việc nhà nước giao chỉ làm cầm chừng, cái gì có lợi riêng mới sốt sắng thúc đẩy.

Giữa các đồng nghiệp nếu không móc ngoặc được với nhau thì đấu đá kèn cựa.

Dửng dưng trước mọi lời chê trách.

Vào cửa nào cũng tính chuyện lót tay, chạy chọt, và quả thật “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng tiền đã thành một thứ dầu mỡ bôi trơn mọi mối quan hệ...

...

Đó là những thói xấu hiện thời đang khá phổ biến trong xã hội, và khó lòng nói rằng chúng không ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của lớp trẻ. Cộng với những kém cỏi của nhà trường (cổ lỗ trong kiến thức và phương pháp giảng dạy; nghèo nàn trong quan niệm về đào tạo; và rồi cũng làm ăn, mua bài, xin điểm, bán bằng cấp...), có thể nói bao nhiêu yếu tố tiêu cực mà hàng ngày mọi người quan sát thấy ở mình và mọi người, và một phần được nói lên trên báo chí, đã làm cho tâm hồn một số thanh thiếu niên trở nên cằn cỗi.

Chúng dễ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Những khái niệm mà xã hội cho là đúng đắn đối với chúng trở thành giả dối.

Thậm chí có những em không thiết sống. Tôi nhớ có lần được nghe kể: một thanh niên vừa đến tuổi trưởng thành thì phạm tội, bị án tử hình. Có mấy cô mấy bác có mặt ở phiên toà, thương tình, bảo cháu xin giảm án. Có dịp giáp mặt với cái chết, người thanh niên gạt nước mắt nói ra cái điều có lẽ là nghiêm chỉnh nhất trong đời mình:

- Cháu xin giảm án để làm gì ? Ở nhà bố mẹ không thương xót cháu; đi học nhà trường bất công; học không có chỗ, học xong không có việc làm - cháu sống để cùng kéo dài cái kiếp dài rạc như các cô các bác hay sao?

Những kẻ đã chết một phần tâm hồn thường dành cho mình quyền làm bất cứ việc gì chúng thích, không biết đến lương tâm, càng không biết đến pháp luật. Và trước mắt, đám trẻ này chỉ thèm hưởng thụ. Còn có môi trường lý tưởng nào với chúng, hơn cảnh nghiện hút?

KHÔNG PHẢI HÔM NAY TRẺ MỚI HƯ HỎNG NHƯNG CHƯA  CÓ THỜI NÀO TRẺ HƯ HỎNG NHƯ THỜI NAY

 Trong nếp sinh hoạt cũ của ông cha ta, ngoài nhiều đức tính tốt cũng đầy rẫy nếp sống tiêu cực.

Cả "Việt Nam phong tục" của Phan Kế Bính lẫn "Việt Nam văn hoá sử cương" của Đào Duy Anh đều có một chương riêng nói về cuộc tiêu khiển, trong đó có mục phiện phò hút xách, và nói rõ cái hại của tục này.

Trần Trọng Kim trong "Việt Nam sử lược" cũng nói người mình phải cái thích chơi bời, mê cờ bạc. Ca dao ghi lại trình tự làm ăn sinh hoạt các tháng trong năm, mở đầu bằng hai câu:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

Xưa ta hay bảo đó là nếp sống suy đồi của bọn thống trị. Nhưng giai cấp thống trị cũng là một bộ phận của dân tộc.

Vả chăng, thói xấu chẳng chừa một ai, càng những con người cùng cực khi đã trở nên lưu manh càng trở nên bất cần, liều lĩnh.

Vậy là xét về bề nào cũng thấy nạn nghiện hút – và nói chung là mọi thói xấu -- trong lớp trẻ hiện nay có những căn nguyên sâu xa trong cách sống của chúng ta, thậm chí cả trong đạo lý cũng như truyền thống văn hoá. Chừng nào mà những căn nguyên đó chưa được làm rõ và thay đổi, thì những mầm mống bệnh tật còn có cơ nảy nở. Trị đám buôn bán thứ hàng độc hại ấy là rất cần. Song duy trì được đời sống tinh thần lành mạnh để những tệ nạn ấy không có đất mà phát triển - cái đó mới thật là việc cơ bản phải lo. Bởi đây là công việc có ý nghĩa văn hoá, nên giới văn hoá phải có mặt.

Đã in trong Nhân nào quả ấy 2004

tập phiếm luận đang được Nhã Nam tái bản


VĂN HÓA RƯỢU

Ngày 5 tháng 12 năm 2020

Trí thức thời trước được coi là người hướng dẫn cách sống cho nhân dân.Thời nay trái lại cấp trên bảo họ phải lo  học tập nhân dân và nếu nhân dân có hư hỏng đi nữa cũng vẫn phải bảo vệ nhân dân.

Như ngày nay trong thời giá trị hỗn loạn nhân dân đang tha hóa thì trí thức -- nhất là nhũng trí thức đã theo ngạch quan chức - cũng tha hóa theo. Nhân dân cờ bạc họ cũng cờ bạc, nhân dân rượu chè lu bù họ cũng thả mình trong các cuộc tiêc tùng, lại còn mang lý luận ra để  bảo vệ. Rằng rượu chè là nét đẹp trong phong tục, rằng chúng ta có một nền văn hóa ẩm thực ở đỉnh cao của nhân loại.

Chẳng qua những người ấy chỉ lợi dụng chút kiến thức nông nổi để che giấu sự yếu duối của bản thân và thả mình trong trụy lạc.

Văn hóa rượu thâm sâu hơn nhiều và người vận dụng thứ văn hóa đó "võ công làm người" phải thâm hậu hơn nhiều.

Còn sự dung tục trong cách thưởng rượu thì tất nhiên người  xưa làm sao bén gót người nay được.

***

Nhân đây tôi nhớ lại một mẩu chuyện trong sách cổ.

Một hôm Tề Uy Vương dọn tiệc mời Thuần Vu Khôn.

Nhà vua hỏi:

- Tửu lượng của tiên sinh thế nào? Khôn đáp:

- Cái đó còn tùy! Một đấu cũng vừa say, 10 đấu cũng vừa say! Uy Vương ngạc nhiên hỏi:

- Sao lạ vậy?

Khôn nói:

- Nếu ngồi uống với bậc vua chúa, quan giám tửu đứng bên cạnh, quan ngự sử rình sau lưng. Khôn sợ hãi, uống chừng một đấu đủ say chán.

Nếu ở nhà, cha mẹ có khách, Khôn phải đứng hầu, thỉnh thoảng nhấm nháp mấy giọt rượu thừa, dồn lại cũng được vài đấu, chừng ấy cũng đủ để say.

Còn bạn bè thân nhau lâu ngày mới gặp, thì cũng uống được 5, 6 đấu.

Những buổi hội hè ở nhà quê, gái trai ngồi chung, mời rượu đánh bạc, lỡ nắm tay nhau không ai trách phạt, phía trước có bông tai đánh rơi, phía sau có cái trâm bỏ sát có thể uống được 8 đấu cũng ngà ngà.

Khi trời chiều rảnh việc, dồn chén ngồi kề, trai gái ngồi chung chiếu, trèn thềm đuốc tắt, chủ nhân tiễn khách ra về mà không lưu Khôn lại, áo là cởi bó hương thơm phưng phức, lòng Khôn lâng lâng, có thể Khôn chơi hết 10 đấu!...

Vì vậy mà nói: Rượu quá hóa loạn, vui quá hóa buồn, thái quá bất cập...

***

Nhà văn Tô Hoài là người đã lấy câu chuyện trên đưa vào hồi ký "Cát bụi chân ai". Và ông dẫn từ nguồn SỬ KÝ của Tư Mã Thiên.

Tôi trong lúc bệnh không lục sách vở được nên chỉ lấy tạm bản trên mạng của chương 39 sách Thuật xử thế.

Lời bàn của sách Thuật xử thế

Đoạn văn này rất linh động và khúc chiết. Những kẻ đã từng uống rượu thì mới biết đoạn văn trên đây là chính xác. 24 thế kỷ trôi qua cái không khí tửu hứng không hề thay đổi. Cuộc sống găn với rượu của Lưu Linh (đời Tấn) của Trương Húc (đời Đường) tuy là tuyệt vời nhưng phong thái uống rượu linh động theo từng nhịp độ của cảm xúc thì Thuần vu tiên sinh chắc là chiếm giải quán quân! Quả là một đấu cũng say mà mười đấu cũng say!

Hai câu: "Rượu quá hóa loạn (đa tửu bại tâm), vui quá hóa buồn (cực lạc sinh bi)" là lời khuyên đúng đắn. Tề Uy Vương uống rượu thâu đêm suốt ngày, nghe lời khuyên này của Thuần Vu Khôn, bèn chừa rượu! Thật là một chuyện bất ngờ.

***

Ghi chú thêm

Theo tin các báo: thống kê cho biết ngay từ năm 2013, có 43,8% học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 đã uống cốc rượu/bia đầu tiên trước 14 tuổi và 22,5% đã uống đến mức say ít nhất 1 lần.


NHỮNG BIẾN DẠNG CỦA NGHỀ HẦU RƯỢU

Ngày 6 tháng 12 năm 2020

Không biết có phải là khiên cưỡng không, song việc các cô giáo ở thị trấn Hồng Lĩnh được điều động đi hầu rượu khiến tôi nhớ tới một tình trạng của giới văn chương  nước ta thời nay. Đó là  tình trạng các cây bút muốn tiến thân  – bao gồm cả các nhà nghiên cứu  lẫn  các nhà sáng tác – tranh nhau viết bài hoặc kéo nhau đi dự các cuộc hội thảo về các cuốn truyện tập thơ hoặc các huấn thị của các nhân vật có chức có quyền. Tất nhiên là chỉ có ca ngợi tâng bốc.

  Sự điều động trong trường hợp này được làm kín đáo hơn, người ta không trả công ngay, nhưng sẽ gọi những cuộc hầu rượu sang trọng đó là hoạt động khoa học, và sau nhiều kỳ tích lũy, người ta sẽ ban phát cho họ các loại học hàm học vị. Ôi hấp dẫn lắm chứ, mấy ai cưỡng nổi!

Từ đầu những năm chín mươi tôi đã viết phiếm luận dưới đây, bài đã được  đưa vào tập “Những kiếp hoa dại’ 1993 và “Buồn vui đời viết” 1999.

 Ban đầu tôi đặt tên bài là “Chất điếm trong mỗi chúng ta”

 Khi duyệt bài anh Ngô Văn Phú tổng biên tập nhà xuất bản Hội nhà văn năm ấy đã chữa chữ điếm thành chữ lang chạ.

 Tôi thấy chữa như  thế càng làm nổi bật cách nghĩ  cách sống của người mình là làm việc gì cũng nửa vời, biết là xấu song chỉ che che đậy đậy chứ  thói nào tật ấy vẫn giữ đến cùng.

 Nên đã cảm ơn anh Phú từ hồi ấy và nay nghĩ lại vẫn  muốn nói lời cảm ơn

CHẤT LANG CHẠ TRONG MỖI CHÚNG TA  

Giao thiệp rộng vốn là một yêu cầu thiết yếu đặt ra với nghề cầm bút. Có giao thiệp rộng, một người viết văn mới có cơ may hiểu đời hiểu người và có vốn để viết.

     Trong hoàn cảnh mà việc viết lách còn luôn luôn đòi hỏi cả mọi sự thường xuyên dỏng tai nghe ngóng để nắm bắt được sư luận cho chính xác, thì có thể nói là không giao thiệp rộng không viết nổi.

     Ấy vậy mà có những người trong chúng tôi, vụng về cố chấp, cả đời chỉ loanh quanh trong một đám bạn bè hẹp.

     Trong khi ấy lại có những người gần như đi với ai cũng được, đi với ai cũng toe toét cười đùa nói năng bả lả. Cả già lẫn trẻ, cả các ma cũ lẫn đám ma mới, cả đám chuyên môn chúi đầu vào sách lẫn đám sống không ngại bụi đời và quan trọng nhất là cả những người lúc nghiêm chỉnh anh tìm đến để dãi bày tâm sự lẫn đám Chí Phèo thực bụng là anh e ngại, --  tất cả, tất cả, anh đều khoác tay thân mật như bồ bịch.

    Trông sự đóng kịch của anh mà thèm.

     Vâng, chúng tôi cũng hiểu anh X. nói ở đây là người giỏi đóng kịch, giỏi đổi màu, đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy, là sống theo kiểu làm xiếc.

      Rồi có một lần ai đó buột miệng bảo anh là điếm. Không đánh đu với lão X. ấy được, người ta bảo vậy. Lão ấy điếm lắm, đi với ai cũng thế, chỉ cốt moi tài liệu thôi mà.

     Người chung quanh ngớ ra một lúc rồi cũng thấy phải.

     Riêng có anh X. vẫn cười nhăn nhở, vẻ như muốn bảo ai người trong bọn mình chả có chút điếm hoặc nói nhẹ đi một chút, ai chả lang chạ. Lang chạ trong giao thiệp như tôi còn là chuyện tha thứ được, anh nói thêm. Đến như các bố lang chạ trong viết lách mới thực đáng sợ.

     Lần này thì lời cảnh cáo của cái con người thập thành ấy có làm cho chúng tôi sững người ra một lúc thật!

    Trong tiểu thuyết Anh em Karamazov, nhà văn Nga Dostoievski từng nói tới một tình huống kỳ lạ. Smerdiakov thực thi việc giết bố. Nhưng chính kẻ sớm có ý định làm việc ấy và ngấm ngầm khuyến khích hung thủ, tóm lại tội nhân chính phải kể là Ivan.

     Chuyện lang chạ nói ở đây cũng có nét gì đó tương tự. Có những người suốt đời không biết đến người đàn bà nào khác ngoài vợ, nói đến chuyện chơi bời thì ngớ mặt ra, muốn bảo vệ nhân phẩm của chị em một cách nhiệt huyết, một cách chân thành… song ở các lĩnh vực đời sống khác nhiều người trong họ lại cư xử theo đúng tinh thần của cái nghề mà họ khinh bỉ.

      Trong sự giao thiệp hàng ngày nhiều khi vì lịch sự mà chúng ta phải tạm xếp cái cá nhân chính đáng của mình lại, để chiều chuộng tất cả những người mà ta có quan hệ.

      Bảo thế là điếm e còn oan.

       Nhưng cứ đà ấy mà kéo, nhân danh sự kiếm sống ta tự cho phép làm tất cả những việc ta vốn không thích, miễn làm vừa lòng khách hàng của mình; việc vốn thiêng liêng đáng ra phải mang tất cả tình cảm và hứng thú ra để làm, lại được tiến hành một cách bừa bãi, theo nguyên tắc của chiếc tắc xi, khách nào cũng chở, có tiền là chở, tiền trao cháo múc… thì đúng là lang chạ vô nguyên tắc rồi còn gì.

      Càng những nghề có quan hệ tới công chúng rộng rãi, cái nguy cơ ấy càng lớn. Như trong việc sáng tác văn chương mà chúng ta đang nói.

      Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút nào nhận viết về mọi đề tài không phân biệt quen hay lạ, sở trường hay sở đoản, cứ có người đặt tiền vào tay là viết, viết xong lại khinh bỉ ngay cái vừa viết rời tay, song rằng quen mất nết đi rồi, ngày mai lại làm tiếp cái việc hôm qua đã làm.

      Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút phê bình không cần biết hay dở, hợp gu hay không hợp gu, viết bạt mạng, viết lấy được, suồng sã xô bồ trong thẩm định và đánh giá.

     Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường so sánh việc cầm bút với tình yêu, coi đó là những hành động nguyên bản, mỗi lần diễn ra là một trường hợp độc đáo. Bởi trong xã hội hiện đại, sự nhốn nháo có chiều tăng lên, người ta lại càng quý mến những ai giữ được tiết sạch giá trong của ngòi bút (còn việc mang lại cho cái tình yêu đó một sắc thái hiện đại, ấy lại là chuyện khác và chúng ta sẽ nói tới vào một dịp khác!)


PHẢI CHĂNG THÍCH ĐI HẦU RƯỢU

LÀ CẢ MỘT NÉT TÂM LÝ THỜI ĐẠI ?

Ngày 7 tháng 12 năm 2020

Mấy năm 1954-58 trường Chu Văn An  Hà Nội còn là trường cấp II nay gọi là trung học cơ sở. Bọn học sinh chúng tôi rất hay được gọi   đi làm những việc linh tinh núp dưới cái tên chung phục vụ công tác chính trị. Ví dụ đang học thì mấy lớp liền  được gọi ra đứng hai bên đường Phan Đình Phùng vẫy cờ chào đón các ông cốp  nước ngoài đến thăm Việt Nam.  

Có lúc chúng tôi còn được huy động kéo nhau sang tận sân bay Gia Lâm để “thay mặt nhân dân Việt Nam chào đón những người bạn quý”.

 Hồi đó phương tiện giao thông còn hiếm lắm, đến xe bus cũng chẳng có, chúng tôi anh nào mượn được xe bố mẹ  sang thì còn đỡ, một số phải đi bộ qua cầu Long Biên mấy tiếng đồng hồ.

Được cái nhà trường cho nghỉ học

Và chúng tôi thì thấy thích lắm, chả phải học mà có khi cuối năm toàn trường vẫn  được thu xếp thế nào để gọi là hoàn thành chương trình  còn bất cứ anh học trò nào cũng được xét học lực từ trung bình trở lên để rồi lên lớp cả một lượt.

Lớn lên trải qua một vài môi trường công tác thì biết thời nay cơ quan nào cũng có những anh chuyên môn chả chịu làm nhưng  chỉ loanh quanh những việc cờ đèn kèn trống như vậy.

Việc chuyên môn của anh ta thì các anh em khác phải gánh

Mà có khi đi nhiều quen biết nhiều, anh ta lại được tín nhiệm để trở thành sếp không biết chừng.

 Không phải chỉ cấp trên thích anh ta mà giá được phát huy dân chủ tổ chức bầu người phụ trách, mọi người cơ quan cũng sẽ bầu cho anh ta ngay.  Chúng tôi thường bảo nhau bầu người giỏi phụ trách cơ quan chỉ tổ khổ thân. Cái mà chúng tôi cần là những ông phụ trách giỏi chạy đề tài giỏi chạy dự án, giỏi đi liên hệ với các cơ quan cấp trên để xin tiền. Chỉ những người giỏi lo cho quyền lợi riêng (=tham nhũng) mới biết tha thứ cho những người cấp dưới hư hỏng.

Quay trở lại chuyện mấy cô giáo được gọi đi hầu rượu. Nay thì chắc chắn chẳng ai được điều tra hỏi han để xem phản ứng thực của các cô như thế nào.Nhưng suy bụng ta ra bụng người tôi đoán thả nào cũng có những cô thích làm cái công việc được gọi đi hầu rượu đó và nếu ban đầu có phản ứng chút chút, thì về sau lại cũng  chỉ chăm chăm chờ đón xem có đám nào sắp tổ chức là chuẩn bị khăn gói đồ nghề, sớm tối cấp bách thế nào cũng có mặt theo đúng yêu cầu. Lý do thì cũng như đám học sinh chúng tôi thuở trước, thời ta được cái con người trẻ lâu, chúng ta quen lấy việc làm theo mệnh lệnh làm vui chứ đâu có thời giờ nghĩ đến chuyện tự trọng.

 Hẳn có bạn nghĩ khi nêu những ý tưởng trên tôi đã cường điệu vấn đề và chắc chắn là tôi có vẻ bi quan quá. Tôi công nhận trường hợp các cô giáo Hà Tĩnh không phổ biến, nhiều người chúng ta  thường gặp những ca nhẹ nhàng hơn nhiều. Nhưng phương hướng hành động tôi dự đoán như nhau cả. Mỗi chúng ta sẵn sàng lên án nhiều hành động lúc còn ngoài cuộc và sẽ tìm mọi ly do tự biện hộ lúc sa ngã.

Vậy là cường điệu thì đúng nhưng bi quan thì không.

Vả chăng, sao cũng được, thiển ý của tôi trong trường hợp này chỉ là mong chúng ta cùng suy nghĩ thêm về sự tha hóa của con người trong xã hội hiện nay.  

Có phải nay đang là thời đạo đức xuống dốc; vô cảm buông xuôi bất lực, thả lỏng cho bản năng thả lỏng cho cái ác-- mỗi ngày một ít, cái tốt cứ bớt dần mà cái xấu cứ lấn dần?

Có phải là sức đề kháng của chúng ta ngày một yếu ? Mà cái chính là xã hội không giúp chúng ta phấn đấu cho tử tế hơn mà lại lôi cuốn chúng ta vào những việc xa lạ với lương tri phẩm giá ? Bằng cách khoác cho cả những hành động xấu xa  những danh hiệu mỹ miều, xã hội đã khiến chúng ta xa lạ hơn hết với cái phần nhân bản mà người xưa đã dày công vun đắp?

 


SỰ ƯƠNG BƯỚNG RẤT DỊU DÀNG

Ngày 11 tháng 12 năm 2020

Tôi thích thú với bài thơ sau đây của nhà thơ Ba Lan Wisława Szymborska (1923 - 2012) trước tiên  là bởi  nó nói tớí sự hạn chế của con người. Tuổi trẻ thường nghĩ mình có thể làm mọi thứ. Chỉ khi trưởng thành, người ta mới hiểu rằng mỗi con người  luôn luôn bất lực trong việc tổ chức cuộc sống của bản thân; luôn luôn có những việc cần làm mà bị bỏ lỡ; trong khi mải sống theo một cách này, người ta buộc phải từ bỏ những cách sống khác.

--

Nhưng ĐẤY LÀ SUY NGHĨ  CỦA MẤY NĂM TRƯỚC.

LÚC NÀY TRONG CẢNH TUỔI GIÀ  VÀ BỆNH TẬT

TÔI LẠI NGHĨ NGƯỢC LẠI.

BÀI THƠ ĐÁNG YÊU VÌ NÓ NÓI TỚI MỘT SỰ BIẾT ĐIỀU RẤT KHÔN NGOAN.

Mặc dù bị hoàn cảnh hạn chế và có nhiều bất mãn, chúng ta  không nên vì thế mà đi đến chỗ quá trớn là từ bỏ những phần tốt đẹp của chính mình.

Nếu cứ ngồi tính hết những điều gọi là lỗi lầm, thì ta sẽ hối hận mà chết.

 Nếu cứ sống theo lời khuyên của người khác thì người ta không còn là mình.

Đây là mấy câu gần cuối

.....

"Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.

Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.

Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,

vì chính em là trở ngại của mình."

....

Lời xin lỗi  được lặp đi lặp lại.

 Nhưng trong những lời xin lỗi rất thành thực ta vẫn cảm nghe  một điều tự nhủ giống như một bằng chứng của sự kiên cường. Con người ở đây sẽ tiếp tục đi  theo cái lối đúng đắn mà con người cũ của mình trước đó đã mở  ra.

Một sự ương bướng rất dịu dàng được xây dựng trên cơ sở của sự từng trải, của nhận thức sáng suốt, kể cả tự nhận thức.

 Nhờ sự ương bướng ấy, những lời lẽ của con người tưởng như đã già,  đã đi hết mọi phía sáng tối của cuộc đời, ở đây càng có sức thuyết phục với người đọc.

Cả bài thơ là tiếng reo vui trước hạnh phúc mà chúng ta đang có.

 DƯỚI MỘT VÌ SAO

 thơ Wisława Szymborska (Ba Lan)Thái Linh dịch

Xin lỗi sự ngẫu nhiên

 vì em gọi nó là điều tất yếu.

Xin lỗi điều tất yếu

nếu dù sao em cũng đã nhầm.

Hạnh phúc xin đừng giận dữ réo gầm,

vì em chiếm như của riêng mình vậy.

Người đã khuất hãy quên đi điều ấy,

 rằng trong ký ức mơ hồ họ leo lét lắt lay.

Xin lỗi thời gian vì em đã không hay,

 bao lần lỡ những trần gian khoảnh khắc.

Xin lỗi mối tình xưa,

vì tình mới em xem như tình yêu thứ nhất.

Những cuộc chiến xa xôi xin hãy thứ tha,

 khi em đem hoa thắm về nhà.

Những vết thương hoác miệng hãy bỏ qua,

khi em bị kim đâm vào ngón.

Xin lỗi những người từ vực sâu đang gọi khóc,

 vì đĩa nhạc kia với vũ khúc nhịp nhàng.

Xin lỗi những người sân ga lang thang,

vì giấc ngủ lúc năm giờ sáng.

Hi vọng hãy bỏ qua đừng chấp,

vì đôi khi em cũng mỉm cười.

Đừng chấp em, sa mạc kia ơi,

 vì em chẳng chạy nhanh cầm thìa nước.

Cả mi nữa cú ơi,

vẫn trong chiếc lồng này bao năm không gì khác trước,

bất động đăm đăm nhìn một điểm không rời,

hãy buông tha cho ta, ngay cả khi mi là một chim nhồi.

Vì bốn chân bàn xin thứ lỗi cho em,

cây bị đốn kia ơi.

Xin lỗi những câu hỏi lớn lao

 vì những câu trả lời nhỏ bé.

Sự thật ơi, đừng để ý tới em sít sao đến thế.

Hỡi trang nghiêm, hãy rộng lượng hải hà.

Nhẫn nại đi sự sống bí ẩn à,

 từ gấu áo người em rút từng sợi chỉ.

Tâm hồn đừng lên án em như thế,

khi lâu lâu em mới gặp người.

Xin lỗi mọi điều vì em không có mặt khắp nơi.

Xin lỗi tất cả mọi người vì em không thể là ai cũng được.

Em biết mình chẳng có gì biện minh chừng nào em còn sống,

vì chính em là trở ngại của mình.

Xin đừng chỉ trích em lời nói hỡi, em xin,

 khi em mượn những ngôn từ thống thiết,

rồi sau đó thêm vào bao khó nhọc,

để chúng dường như thanh thoát nhẹ nhàng.

Theo mạng Lilia


CÙNG ĐỌC LẠI CÁC BÀI VIẾT VỀ NGUYỄN HUY THIỆP

Ngày 12 tháng 12 năm 2020

Trong những ngày Nguyễn Huy Thiệp đang bị trọng bệnh này, ngoài các tin về sức khỏe nhà văn do bạn bè tới thăm cung cấp, tôi tìm thấy một công việc thú vị là đọc lại các truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và những lời bàn về Nguyễn Huy Thiệp mấy chục năm nay.

Tôi tự nhủ, cách tốt nhất để chuẩn bị cho các bài viết mới - nếu có - về cây bút này là đọc lại những bài thiên hạ đã viết về anh.

Đã có những hiện tượng văn học được viết rất nhiều mà toàn những lời nhàm chán sáo rỗng để phục vụ cho sự tiến thân của người viết phê bình.

Văn và người Nguyễn Huy Thiệp thuộc loại khác hẳn.

Đọc các bài tốt  nhất viết về anh, người ta thấy cả một thời văn nghệ mấy chục năm qua.

-----

Đặng Thân

"  HÌNH NHƯ LÀ CỞI QUẦN"

(2006)

Nguồn

https://www.tienve.org/.../viewLiterature.do;jsessionid...

*****

Ồ đã 20 năm rồi đấy nhỉ. “Doi Moi” đã in sâu vào tâm trí rất nhiều người trong và ngoài nước như một dấu ấn đặc sắc của một thời đại khó lặp lại.

Xuân đã về, hoa nở khắp nơi. “Này hoa ban, một nghìn năm trước thì mày có trắng như thế không?” Đã có nhiều người đi tìm “hoa ban” bao quản gian nan sau khi Nguyễn Huy Thiệp tung ra cái câu hỏa mù nghe như có giọng bùa chú ấy. Có kẻ đi rất xa mà chẳng thấy, có người (như “núi vàng” Nguyễn Hoàng Sơn) ở Hà Nội bảo đã gặp ở Gia Lâm – ngay bên kia cầu Chương Dương – việc gì phải đi đâu xa mà tìm cho mệt. Ô, người ta đã làm gì mà phải đi tìm? Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên còn chủ sự cả tập Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp nữa, trong đó ta gặp rất nhiều tiếng nói và những tên tuổi uy thế như Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Anh Đào, T. L. Filimonova, Greg Lockhart, Lại Nguyên Ân, Đỗ Văn Khang, Văn Tâm, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Vy Khanh, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Đức Hiểu,... Viết về anh còn có sự góp mặt đầy tinh thần và trách nhiệm của những người xa tổ quốc như Trương Hồng Quang, Thụy Khuê hay Đoàn Cầm Thi; và cũng không thể bỏ qua tiếng nói của Dương Thu Hương. Sơ sơ như thế đã thấy đây là nhân vật gây ra nhiều hứng thú và mệt mỏi cho văn học.

Tuy mới 20 năm nhưng những năm tháng ấy khác bây giờ xa lắm. Mọi người đều đói, có nhiều nguồn tin là đã có nhiều người chết đói, chính tôi cũng đã có lúc nhịn đói một tuần (nhưng báo Văn nghệ thì bán chạy hơn bây giờ nhiều). Chiến tranh lớn đã qua đi cả thập kỷ nhưng mọi người vẫn phải nghe hàng ngày những từ ngữ đầy khí thế như từ “nắp hầm” trong mỗi bữa ăn, những đôi mắt người “mang hình viên đạn”, “kẻ thù giai cấp”, “âm mưu xâm lược”, “đời người là một khúc quân hành”, cùng những lời hứa hẹn và khích động phát hàng ngày trên loa phóng thanh rải khắp các phường xóm. 10 năm hậu chiến làm được nhiều chuyện mà trước đó hàng mấy chục năm trường không ai tưởng tượng nổi. Con người tha hóa khủng khiếp. Trộm cắp và “trấn lột” (từ này chính được phổ biến trong thời kỳ này) như rươi, người ngay sợ kẻ gian. Tất cả hầu như chỉ nghĩ đến tiền và đau khổ vì tiền, sẵn sàng vì tiền mà bất chấp mọi thứ gì liên quan đến tình người. Hàng triệu người lên thuyền di tản đi tìm cuộc sống khác. Cuộc tổng khủng hoảng về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội và con người hậu chiến đã lên đến cực điểm. Vì thế “Doi Moi” đã là chuyện không thể khác đi, có thể nói “đổi mới hay là chết”. Nghe hai tiếng “đổi mới” có vẻ hoành tráng thật thế nhưng hành động cụ thể lại thường là những việc quá cũ. “Khoán sản phẩm” trong nông nghiệp chẳng hạn. Trước đó mấy chục năm ông Kim Ngọc – một Bí thư Tỉnh ủy – đã bị ông Trường Chinh (các nhà sử học đã xác minh ông thuộc dòng dõi Trần Hưng Đạo!) kỉ luật cách chức vì thực hiện nó trước đấy. Sau khi thực hiện trở lại, nghe nói các cán bộ miền Nam đã không ngần ngại hỏi ông Trường Chinh về chuyện này thì được trả lời ngay: khi đó anh Kim Ngọc đúng, tôi sai. Và chỉ có vậy. Câu chuyện làm ta nhớ Trần Khánh Dư: “chúng ta là chim ưng, dân chúng là vịt trời; con chim ưng ăn thịt con vịt trời là lẽ thường tình.”

Ai cũng thấy rằng cái đất nước này không thể được quản lý theo kiểu cũ, kiểu “trại lính” được nữa. Nhưng ai dám nói? Lãnh tụ Nguyễn Văn Linh đã hô “đổi mới” và “cởi trói”, nữ sỹ Dư Thị Hoàn đã “cởi áo” (xin xem thêm "Hình như có người “cởi áo” trước hư không" trên Tiền Vệ), dĩ nhiên tôi muốn nói người “cởi quần” (“Giữa đám người mặc áo quần súng sính thì thằng cởi truồng có văn”) là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, với "Tướng về hưu". Hơn nữa, anh đã “cởi quần”, đã lột truồng cả một thời cuộc.

Nguyễn Huy Thiệp quan trọng đến cỡ nào? Một nhân vật hóa thân của nhà văn có nói: “Một số báo chí phương Tây như Le Monde hay Libération gọi tôi là nhà văn hiện đại lớn nhất Việt Nam. Tôi cũng không thích được gọi như thế vì gọi như thế cũng chẳng khác gì ví tôi như con ễnh ương lớn nhất giữa bầy ễnh ương!” Vậy"Tướng về hưu" đã “cởi quần” ai, đã lột truồng những gì?

Ông tướng trong truyện đã về hưu sau khi tự tay “chôn ba nghìn thằng” sau những chiến thắng oanh liệt. Ông xuất thân nông dân, cả đời sống với chiến trận, gia đình là những người lính, “ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, tình đồng đội son sắt, “súng là vợ, đạn là con”, cho đến khi nghỉ hưu về với gia đình ông đã biết chút gì đâu về những con người hậu chiến đã hình như hóa dã thú lúc nào không hay. Ông phát cho mọi thành viên “bình quân” như nhau mỗi người mấy mét vải bộ đội như một ý muốn âm thầm lập lại “trật tự kỷ cương” như thời chiến. Tất nhiên ý tưởng đó sụp đổ. Sau khi vị tướng cởi bỏ quân phục ông thấy mình hết mọi quyền uy và lạc lõng ngay tại nhà và quê hương mình giữa những cá nhân dị hợm. Thằng con đẻ yếm thế, nhu nhược trong cái khổ lụy có tên “bám váy vợ”. Quyền lực của cô vợ nằm ở đàn chó béc-giê và những nồi cám nấu bằng thai người. Những đứa cháu thờ ơ, vô cảm trước mọi chuyện đời đang diễn ra. Thằng em vợ lưu manh “mọi người đều gọi em là chó… chỉ mình chị gọi em là người”. Những nhà thơ đăng bài trên báo Văn nghệ làm việc ở nhà máy chế biên nước mắm. Những người hiền lành, tốt bụng nhất thì không dốt nát cũng dở hơi… Cái cảnh “lột truồng” xã hội sinh động nhất có thể chính là khi thằng em “chó má” khóc chị, là vợ ông tướng: “Ối chị ơi, sao chị lừa em mà đi?” Rồi con trai ông tướng tự vấn: “đến chết mà người ta cũng phải lừa nhau mới đi được. Hóa ra ngoài đồng kia rặt quân lừa đảo!” Không chốn nương thân giữa những người thân ông quay lại đơn vị cũ và chết cùng đồng đội như không thoát khỏi lời nguyền “sinh ư nghiệp, tử ư nghiệp”.

Ông tướng đã không biết tới lời Tố Hữu: Trong chiến tranh tất cả cho chiến thắng nên mọi ngón tay đều phải dồn sức mạnh cho cả bàn tay thành nắm đấm. Khi hòa bình rồi lại phải quan tâm đến từng ngón tay. Ông cũng không biết Lê Đức Thọ đã bảo Hoàng Ngọc Hiến: “Trong kháng chiến, tôi cắt tóc thế nào cũng được, nhưng bây giờ hòa bình rồi, cắt cũng phải có kiểu của nó”. Ông chắc càng đâu để ý đến ngụ ngôn của Trang Tử: kìa hãy xem đàn cá mắc cạn kia, chúng hà hơi bú mớm cho nhau từng chút nước bọt để cứu nhau mong đến khi trở về với nước, nhưng khi cá đã gặp nước bơi lội nhởn nhơ thì chúng nhìn nhau như những kẻ xa lạ. Càng là cái lẽ thường hằng “Thiên địa bất nhân sử vạn vật vi sô cẩu” mà Lão Tử đã vạch ra từ rất xưa. Loài chó rơm, sau lễ cúng tế được nâng niu trân trọng, lại trở về với cống rãnh mà thôi.

Sau một màn “cởi” ngoạn mục đưa anh lên tầm thời đại, Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành hiện tượng quan trọng vào bậc nhất của văn học “Đổi Mới”. Sau "Tướng về hưu" là sự xuất bản một loạt những "Tâm hồn mẹ", "Huyền thoại phố phường", "Giọt máu", "Muối của rừng", "Không có vua", "Những người thợ xẻ", "Những bài học nông thôn", "Thương nhớ đồng quê", "Sang sông", "Chút thoáng Xuân Hương", "Mưa", "Nguyễn Thị Lộ", "Trương Chi",… mà truyện nào cũng đặc sắc, hình như là đủ đưa anh lên tầm quốc tế. Thế nhưng những truyện được ghi nhận sâu sắc và gây bàn cãi nhất chính là chùm truyện Con gái thủy thần, ba truyện có đề tài lịch sử "Kiếm sắc", "Vàng lửa", "Phẩm tiết" và tập truyện núi rừng Những ngọn gió Hua Tát. Nhà văn Hồ Anh Thái thích nhất Con gái thủy thần vì nó dân dã, nó ma quái, nó ám ảnh, nhưng đến phần ba thì anh lại thấy chán ngắt vì Thiệp đã cất cái giọng “nhà quê” lên mà dạy đời. Chùm truyện đề tài lịch sử gây tranh luận ầm ĩ nhất vì nhiều người không hiểu anh định nói gì, chỉ biết là đọc thấy rất lạ rất hút; rất nhiều ông bảo Thiệp bôi nhọ lịch sử, thóa mạ anh hùng hay so sánh quyền lực chính trị với nghệ thuật. Có một nhà văn hóa amateur nghe nhiều những câu như thế đã nóng tiết: “Các ông câm mẹ nó hết đi! Thực ra Thiệp muốn nói lên cái câu của các cụ: Anh hùng khí đoản, nhi nữ tình trường.” Những câu chuyện về cái đề tài này cho đến nay vẫn chưa chấm dứt. Còn rất đông người đã thích mê mẩn Những ngọn gió Hua Tát có lẽ vì cái không gian huyền thoại lãng mạn classique hơn cả classicisme của chúng. Đánh giá cả một sự nghiệp có chừng ấy không khỏi có phần sơ suất, hy vọng sẽ có những luận văn tiến sĩ văn chương bàn sâu hơn, chi tiết hơn cho thỏa lòng yêu Thiệp (và ghét Thiệp) của mọi người.

Truyện anh viết được in khắp nơi trong và ngoài nước. Anh đi nói chuyện. Anh đi nước ngoài. Anh cho đắp tượng Phật ngay giữa vườn nhà như thể một điểm níu kéo cho đức tin của mình. Không biết anh có hay rằng chính Phật cũng không ưa các loại tượng thần, cho đó là nơi cư ngụ của quỷ dữ. Ở Hà Nội cũng có một người khác đắp tượng Phật giữa một khuôn viên rộng hàng vạn mét vuông đất nội thành, đó là Nguyễn Bảo Sinh (có biệt danh Sinh “chó” – ghi danh một cái nghề khét tiếng của anh). Tượng của Nguyễn Bảo Sinh là tượng Phật Bà Quan Âm đứng ôm bình bồ liễu nhưng lại theo tỷ lệ 1/6 của Hy Lạp. Anh còn tạc cả thầy trò Đường Tăng để nêu cái ngũ đức Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín. Sau anh khiêm tốn tạc tượng mình nhỏ nhoi com-lê ca-vát sau tượng Phật Bà nhưng đứng trên quả địa cầu. Vì thế mà trong dân gian có câu vui vui:

Bảo Sinh đứng trên quả địa cầu

Sủa gâu gâu

Bảo Sinh có nhiều tài, lại hay thơ. Anh tự gọi thơ mình là “huyền thi” với “những câu thơ đi tắt đón đầu thẳng vào ý thơ mà bỏ qua mọi nhạc tính hay tu từ”. Thiệp thích thơ Sinh nên cũng hay trích “huyền thi” vào truyện của mình, lại còn mang sang đọc bên Mỹ. Nghe nói hai người rất thân nhau, và Nguyễn Huy Thiệp đã có bài giới thiệu Sinh trên báo, gọi anh là “nhà thơ dân gian”.

Nguyễn Huy Thiệp còn có công giới thiệu nhiều người viết khác đến với công chúng.

Đáng nể nhất là anh có nhiều bài viết về thi sỹ đồng quê Đồng Đức Bốn, bạn chí thiết của anh. Anh lăng-xê Bốn bằng một luận đề về thơ và nhà thơ:

Trong thơ ranh giới chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp rất khó xác định. Thơ dân chủ và... bao la đến nỗi có lần nhà văn Phạm Thị Hoài (vốn hóm hỉnh) từng mơ đến việc ra đời nước cộng hòa của các nhà thơ(!). Trong lịch sử Phật giáo đã xảy ra việc chia ra hai môn phái Bắc tông (Thần Tú) và Nam tông (Huệ Năng). Môn phái Bắc tông gọi là tiệm ngộ (giác ngộ dần dần) có phần coi trọng sự học hành kinh điển và tổ chức. Môn phái Nam tông gọi là đốn ngộ (giác ngộ tức khắc) có phần coi trọng trực giác nhiều hơn. Thực ra, hai môn phái ấy đều chung một thầy, đều thờ Phật, đều cùng mục đích hoằng dương Phật pháp. Xét về mặt nào đấy, trong thơ cũng có thể chia ra hai môn phái tiệm ngộ (trí năng) và đốn ngộ (trực năng). Chế Lan Viên, Bằng Việt, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Anh Ngọc, Hoàng Trần Cương v.v... là trí năng chăng? Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Đồng Đức Bốn v.v… là trực năng chăng?

Anh có cái lý của anh, hình như là một nhà tư tưởng theo hướng Duy tâm chủ quan. Tuy nhiên, tôi lại thấy thích cái quan niệm mà anh mới phát biểu vào ngày cuối cùng của năm ngoái (xin hãy bỏ qua cái lỗi nhỏ về toán học của người viết văn):

Thú thực, tôi rất mong thơ ca tĩnh lặng. Tôi đã có lần nói về ba loại nhà thơ: loại 1 là của những người trẻ (những trai tân, gái tân), những thiên thần, số này chiếm tỷ lệ 0,1%. Loại 2 là “thi ngôn chí”: thơ nói ra cái chí của con người (chí tình, chí nghĩa, chí anh hùng...), số này chiếm tỷ lệ 0,1%. Còn lại 98% chỉ toàn là thơ nhảm nhí, thơ tuyên truyền, thơ về hưu, thơ thù tạc, thơ tán tỉnh, không ra gì, tĩnh lặng là phải, im miệng là phải.

Đầu Xuân Tân Tị 2001, anh viết về Bốn:

Đồng Đức Bốn xuất hiện trong làng thơ Việt Nam khoảng 10 năm nay, viết chừng 80 bài thơ, trong đó có tới trên dưới 15 bài thơ được khách sành văn chương xếp vào loại cực hay, tài tử vô địch! Còn lại, thực ra nhiều bài cũng chẳng ra gì.

Lại còn kết luận một câu chết người:

Tiếc cho Đồng Đức Bốn đọc không nhiều sách, không chịu học hành, đôi khi bừa bãi ngông cuồng, lại không biết viết (anh thường làm thơ trong đầu rồi đọc cho người khác chép), vốn từ vựng có lẽ chỉ ngót nghét có... 600 từ! Nếu không, chúng ta đã có một nhà thơ chân quê hạng nhất!

Xuân Quý Mùi 2003 anh lại có bài viết về Bốn, nghe đồn lần này là viết theo đơn đặt hàng nên bài viết rất có “khí”. Nhưng những bài hay nhất của anh về Bốn là vào hồi năm ngoái khi Bốn mắc bạo bệnh với những cái title thế này: "Một nhân vật hoang đường", "Một người bạn hiếm có"… với một câu hết sức ấn tượng:

Tôi có lần nói đùa rằng Đồng Đức Bốn chỉ biết có 600 từ tiếng Việt. Giải pháp tốt nhất khiến Đồng Đức Bốn thoát khỏi lưới rập ngôn từ là thả phanh nói tục, nói toạc ra thẳng thừng. Nói tục là một cách tiếp cận chân lý trắng trợn và hiệu quả nhất. Tôi chưa thấy ai nói tiếng Việt tục hay như Đồng Đức Bốn! “Mở miệng thời văng tục rầm lên”. Đồng Đức Bốn không suy nghĩ nhiều nhưng khi tia chớp bản năng vừa mới bừng lên loé sáng là anh “múc liền, bụp luôn”!

Thiệp còn viết truyện "Đưa sáo sang sông" đến hai lần để đưa Bốn vào làm nhân vật. Yêu nhau đến thế được sao? Tình bạn duo ấy cũng đã để lại cho mọi người những ý tượng lạ lẫm, đáng yêu, đáng trọng về thơ.

Nguyễn Huy Thiệp còn viết bài về một Phan Huyền Thư “khá tinh tế, đức hạnh và lịch sự” với thể thơ “tự do thật”, với “nỗi buồn day dứt khôn tả” đến mức có lúc nhà thơ “muốn cáo phó mình”.

Đó còn là Vi Thùy Linh viết bằng “tâm hồn và cơ thể”, “là một đại diện đáng kể nhất, thậm chí nguy hiểm nhất” với “kẻ tình nhân trong thơ [cô] là một tên Sở Khanh rất đáng kể, siêu phàm”, đến mức “không thể nhận ra Vi Thùy Linh là một nhà thơ tình [hay] một nhà thơ tội nghiệp luôn bị phụ tình”. Với tập thơ mới nhất của Linh, anh nhận xét: “Năm vừa qua có sự trở lại của Vi Thùy Linh với tập Đồng tử nhưng Linh giờ đây đã qua giai đoạn thiên thần rồi, không còn “thơ” nữa.”

Ngoài ra anh còn viết về nhiều nhân vật lạ lẫm khác trong thơ ca. Tất cả những bài giới thiệu ấy như những cố gắng gồng mình lên để cởi bỏ những gì cũ kỹ, nặng nề, những gông cùm của tư tưởng để mang lại những sinh khí mới của tinh thần “doi moi” do chính anh góp phần lớn tạo dựng nên. Hãy nghe chính anh tổng kết văn học Việt Nam 20 năm qua:

Từ 1986 bắt đầu công cuộc đổi mới trong xã hội ta. Trước giai đoạn này văn học chỉ có một giọng, một luồng chính thống. Nguyễn Minh Châu gọi đó là nền văn học minh họa, có lẽ cũng không chính xác... nhưng rõ ràng trước 1986 chỉ có một dòng chảy, một “tư tưởng”, chỉ có một thứ “văn học mậu dịch”.

1987-1990: văn học cựa quậy, bắt đầu có những thí nghiệm cách tân, xã hội chấp nhận sự đa thanh trong văn học. Các cây bút mới xuất hiện. Các “ông tướng cũ” (trong văn học) “về hưu” hoặc “ngỏm”, một thế hệ nhà văn mới hình thành.

Giai đoạn 1990-2000: Thế hệ nhà văn mới hình thành, khẳng định mình, trụ lại được và có thêm nhiều “đệ tử” tạo ra một dòng chảy nữa, mới (gọi là gì thì không biết nhưng tự do hơn, “trăn trở” hơn, ngày càng có ảnh hưởng lớn trong xã hội). Dòng chảy này (chưa thành trường phái) vẫn tồn tại song song với dòng văn học chính thống, dòng văn học nặng về bao cấp.

2000-2005: Hai dòng văn học cùng tồn tại, kích thích nhau, “cùng lý tưởng nhưng khác môn phái”. Nên phát triển cả hai dòng này trong tình thế văn học hiện nay. Xu hướng văn học “tự do” đã được thí nghiệm nhưng chưa có chỗ đứng chân vững chắc, vì quán tính của dòng văn học mậu dịch, bao cấp (dưới danh nghĩa chính thống) vẫn còn rất lớn, vẫn chiếm chỗ đứng thượng phong, chủ đạo trên văn đàn. Một mặt khác, cơ chế thị trường vẫn chưa bảo đảm đủ sự nâng đỡ vật chất để nó phát triển.

Những luận điểm của Thiệp luôn gây hấn. Lúc nào anh cũng muốn “lột truồng” mọi bộ mặt, mọi ngụy tạo, mọi trò hề để đi thẳng vào bản chất mọi vấn đề. Kịch điểm là vụ “Hoa thủy tiên” đầu năm 2004 (Xin xem thêm bài "Mơ" trên talawas 30.6.2004). Nhưng xin hãy xem kỹ, những gì anh viết đều có sự tiếp cận chân lý đến hết mình.

Phật của Bảo Sinh thì đứng nhưng Phật của Thiệp lại ngồi, trông rõ là nhàn du tiên cảnh nơi Tây phương cực lạc. Mỗi lần ngồi viết Thiệp đều thắp trầm, cho nên người ta bảo văn anh sáng và linh là nhờ đó. Phải chăng vì thế mà anh viết nhiều câu như thánh phán, nghe như có giọng phù thủy. Xin đơn cử:

“Tin tôi đi, tình yêu là một hung thần.”

“Vợ người thì đẹp. Vợ mình lại tử tế.”

“Đàn bà rất thích những ngôi nhà có cửa sổ rộng.”

“Đàn bà là giống phản trắc, đàn ông là giống đểu cáng.”

“Làm thằng đàn ông đừng nên xấu hổ vì có con buồi.”

Nguyễn Huy Thiệp có bài viết bảo nhà văn Nguyễn Việt Hà có mỗi cái giọng “túy quyền”. Thế thì Thiệp còn phải nói là có cái giọng bùa ngải và thuốc phiện. Ta hãy đọc lại những "Mưa", "Món hạc quay", nhất là "Không khóc ở California" sẽ thấy cái luận điệu quay quắt, phiêu linh, nhạt mờ không thời gian, chỉ còn những hiệu ứng văn chương quay cuồng trong trí não người đọc.

Để kết thúc bài viết nhỏ nhẹ về một Nguyễn Huy Thiệp “cởi quần” để “đổi mới” xin được nhắc tới một thành quả văn học có tính độc sáng của người “cởi quần” mà không ai có thể quên được: anh là người đầu tiên văng cứt vào văn học Việt Nam một cách trắng trợn, hiệu quả và day dứt nhất. Từ "Trương Chi", "Phẩm tiết" cho đến "Còn mãi một tình yêu" hay "Chuyện ông Móng"…, cứt hiện lên với mọi hình thái cao quý, hiên ngang, phũ phàng, bộc trực, chân thực, phản kháng, khủng bố và đầy nhân tính của nó. Chính nhờ thế mà anh có một hỗn danh vinh dự có nhẽ còn hơn cả Huân chương Sao vàng mà hình như phải là người thấu hiểu Phật tính mới dám nhận – nhiều người gọi anh là Thiệp “cứt”.[1] Phải chăng đó chính là nền tảng cho tuyên ngôn bất hủ của anh về sáng tạo văn chương:

Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh.

21.2.2006


TOILET XƯA VÀ NAY

Ngày 13 tháng 12 năm 2020

LĐCT - Số 50 12-12-2015  có in bài

ÔNG LÊ VĂN HIỆP - TRƯỞNG ĐẠI DIỆN TỔ CHỨC NHÀ VỆ SINH THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM: “Đừng ngần ngại khi nói về nhà vệ sinh”

Đọc cái đầu đề tôi nhớ là đã có lần trả lời một tờ báo về vấn đề này. Xin chép lại câu chuyện của tôi với phóng viên tờ báo mà nay tôi đã quên tên, nhưng vẫn luôn luôn cảm ơn vì đã gợi ý để tôi nói về một đề tài mà hóa ra tôi nghĩ đã lâu, nhưng chưa được ai "kích hoạt"

*** Được biết  trong những vấn đề được ông quan tâm, khi  nghiên cứu văn hoá, có cả câu chuyện  toilet. Xin ông cho biết lý do gì mà ông lại có sự chú ý tới nó  như vậy?

TÔI THẤY Ở VIỆT NAM  CỨ NÓI ĐẾN VĂN HÓA thì nghĩ đến những  chuyện cao xa trừu tượng, hoặc hoa lá cành cờ đèn kèn trống. Trong khi đó phong cách sống của mỗi cộng đồng, bao gồm suy nghĩ, ăn ở, đi lại… tất cả những cái đó đều là văn hóa.

Một nhà nghiên cứu Trung quốc là ông Kim Văn Học (Kim Wen Xue)  đang dạy đại học ở Nhật,  viết sách  so sánh văn hóa Trung Hoa Hàn Quốc và Nhật Bản, từng nói tới cả cách sử dụng toilet và cách trang trí  phòng tắm của  mỗi nước.

Bản thân tôi, khi đọc sách và đi du lịch ở  nước ngoài thường quan sát  xem  các hiện tượng như nước thải rác đã được người ta giải quyết ra sao. Sự chú ý tới toilet là nằm trong cái mạch đó.

Trong cuốn sách nói trên ( đã được dịch ra tiếng Việt ), Kim Wen Xue cho biết  toilet của Hàn Quốc là phòng hóa trang, vào đó đọc sách và suy nghĩ; còn ở Nhật, chỉ riêng hương liệu và nước thơm cao cấp dùng trong toilet cũng đã có mấy chục loại.

Theo Kim Wen Xue, một nhà văn hóa Trung Quốc đã nói: “Tư thế và cái mông là thước đo quan trọng có thể đánh giá được mức độ thành thực của một loại văn hóa sánh với lễ tiết của dân tộc”.

Một nhà văn khác đã miêu tả dáng vẻ con người trong nhà xí là: “Chân đạp hai hòn gạch, du nhàn ngắm Nam Sơn”.

***Thế còn ở VN, đại khái tình hình ra sao ?

HÃY BẮT ĐẦU BẰNG NGÔN TỪ. Ai đã đi Trung quốc đều  biết, ngoài chữ W. C., bên ấy họ thường gọi nhà vệ sinh là cè suo  tức xí sở, hoặc xỉ shou jian  tức tẩy thủ gian - nơi rửa tay.

Còn ở ta, người mình thậm chí không có cái tên nào để gọi cái nơi ấy cả. Cái chữ “xí” là do ta mượn  của họ.

Có vẻ như người Việt rất coi thường chuyện này, ai cũng phải làm, nhưng không ai muốn nói tới. Nó nằm trong một căn bệnh lớn hơn là bệnh cẩu thả, sống thế nào cũng xong. Bạn có nhớ cái câu “Thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng”? Người  mình thích xả chất thải ra tự nhiên chung quanh một cách  vô tội vạ như vậy, coi đó mới là khôn là biết sống. Bừa bãi là một cách để chứng tỏ mình hơn người và mình bất cần đời.

Nên nhớ thời xưa, trong ngôi nhà của người Việt mình, các phòng không có sự ngăn cách, mỗi cá nhân không có khoảng không riêng. Điều này đánh dấu trình độ sống đơn giản, con người chưa tách khỏi nhau, mà còn sống lẫn với nhau. Theo tôi quan sát, xu thế  sống bày đàn  thế này còn tiếp tục trong đời sống  hiện đại.

***Trong khi  đặt văn hóa toilet trong văn hóa sinh hoạt chung của mỗi cộng đồng,  ông đã có những thu hoạch gì ?

THƯỜNG TÔI RẤT QUAN TÂM  TÌM HIỂU xem người Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài như thế nào. Nhiều khi chúng ta viết về chúng ta thì còn hơi e ngại. Nhưng đọc nhiều tài liệu của nước ngoài viết về ta thì  thấy không có gì giấu được thiên hạ.

Trong cuốn Tây hành nhật ký, ông Phạm Phú Thứ kể chuyện  một chuyến ngồi tầu thủy sang Tây. Người châu Âu hồi đó họ hay chê Việt Nam nhiều người ghẻ lở, bẩn. Khi tàu cập bến một thành phố  bên Trung Đông, họ bảo ông Thứ  nên bắt mọi người tắm rửa sạch sẽ, bôi thuốc, rồi mới cho lên bờ.

Nhìn ra dân các xứ khác. Người Nhật sạch không chê vào đâu được, còn người Tàu thì luôn luôn cực đoan: bẩn nhất trần gian, sạch cũng không kém ai. Dân ta còn mức sống thấp, cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên, gặp đâu hay đấy. Cũng giống như  chuyện làm ăn thôi. Tôi đọc một tài liệu Trung Quốc nói về Việt Nam từ thế kỷ XVII : họ chê ta nhà cửa qúa sơ sài, ăn ngủ tạm bợ. Người thợ thủ công của các nước thường làm việc trên bàn,  có ghế ngồi đàng hoàng, còn ta thì cứ ngồi bệt ngay xuống đất, không có quy củ. Đại tiểu tiện cũng là nằm trong cái tình hình chung đó.

***Xin ông nói rõ hơn về tâm lý con người trong chuyện này?

THỜI XƯA NGƯỜI TA COI VIỆC ĐẠI TIỆN thuộc một trong bốn “tứ khoái” nói nôm na bao gồm ăn ngủ đụ ỉa. Trong việc làm người, đó là những phút sung sướng, và ta phải tận hưởng sự sung sướng ấy, phải đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của cuộc sống.

Cái gì cũng phải học. Thời trước, những ông già thạo đời như Nguyễn Tuân dạy chúng tôi cách ăn, ông bảo là các cậu không biết ăn, ăn lung tung là mất ngon, ăn no là hỏng…

Còn chuyện vệ sinh: trong cái việc coi thường khâu này, chính là chúng ta đã không biết tận hưởng  cuộc sống. Đại tiểu tiện là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và yêu cuộc sống hơn.

***Toilet xưa trong ký ức của ông là gì? Nó có quá… kinh khủng, hay mang chút vui buồn gì không?

TÔI SINH RA VÀ LỚN LÊN Ở HÀ NỘI, nhưng Hà Nội trước năm 1954 là Hà  Nội của chiến tranh, chỉ toàn dân ngụ cư chạy loạn. Hồi ấy dân ở rộng lắm, nhà tôi ở Thụy Khuê, một vùng ngoại ô,  ba gian nhà lá trên một khoảnh đất đi thuê rộng tới gần  200 m2. Nhưng tôi nhớ rằng lúc đầu nhà tôi cũng không có nhà vệ sinh. Mỗi khi có nhu cầu, là chạy vội lên một bãi hoang phía đường Hoàng Hoa Thám tìm một chỗ nào còn sạch là tương ra. Vài năm sau, người ta xây lên ở đó một dãy nhà vệ sinh công cộng để lấy phân, nhưng  chỉ là mấy tấm phên che tạm bợ và chúng tôi vẫn phải chạy ba quãng đồng để làm cái việc thường nhật đó.

Hà Nội hồi trước 1954 có ông Năm Diệm chuyên làm thầu nhà xí, quản lý đội đổ thùng. Phần lớn các nhà  khu phố cổ có người đến đổ thùng. Còn phần các xóm ngoại ô như Thụy Khuê thì có  dân Cổ Nhuế  quản.

Dụng cụ nghề nghiệp của họ là  đôi quang gánh và một cái gáo nhỏ làm bằng thiếc, trông như cái nón lật ngược. Lúc này nhiều gia đình đã có hố xí riêng làm ngay cạnh nhà, nhưng rất sơ sài, không phải tự hoại. Cứ độ vài hôm là có các bà Cổ Nhuế xuống lấy, mà lúc nào xuống lấy thì bẩn lắm , mùi hôi thối từ xa đã xộc vào mũi. Nghĩ lại thấy rùng mình…

Tôi nhớ trong một truyện ngắn mà tôi làm biên tập, cuốn "Đi giữa đường mưa" nhà văn Phạm Hải Anh  có kể lại cảnh đi “ giải quyết nỗi buồn “ ở nông thôn. Giữa cánh đồng  trống trải, cứ đang đi thì có người đi qua, là phải vẫy tay để ám hiệu là đừng ra. Lâu ngày quen dần chỉ cần nói đi vẫy tay, là người ta đã biết đi đâu rồi. Nó thành một nếp sống tự nhiên, mỗi khi nhớ lại thấy vừa vui vừa buồn.

***Nước nào nông thôn lạc hậu chẳng vậy?

KHÔNG PHẢI NÔNG THÔN MÀ  CHÍNH THÀNH THỊ  CHÚNG TA  cũng lạc hậu nhếch nhác vô tổ chức và cái chính là không muốn sống cho văn minh hơn, thế mới bi đát.

Gần đây tôi có biên tập một cuốn tiểu thuyết Trung quốc, cuốn Bố! bố! bố!  của Hàn Thiếu Công.

Cuốn sách này thuộc thể loại “văn học tầm căn“ ( văn học đi tìm gốc rễ) ở đó nhà văn giải thích hiện tại bằng cách quay về quá khứ. Cuộc sống của một bản làng lạc hậu kinh khủng, con người ăn ở dầm dề lung tung, sau một trận làng nọ đánh nhau với làng kia, người chết nhiều quá, chó  ăn thịt người chứ không thèm ăn… phân.

Khi nhận viết lời bạt cho cuốn sách đó, tôi muốn chứng minh rằng có thể tin chuyện này là có thực, bằng cách kể lại kỷ niệm về một chuyến đi Trung quốc năm 2006 -- chuyến đi cùng với anh Hàm Châu, do báo Nông thôn ngày nay  của chị Mai Nhung bao.

Bắc Kinh quá lớn và quá cổ, ngay khu cạnh ga có những căn nhà lụp xụp, cả xóm có vài nhà xí công cộng. Loại nhà xí này không có vách ngăn, người nọ ngồi cạnh người kia, chỉ có nam nữ tách biệt, đi qua phòng của nam thì đến phòng của nữ.

Trong bài bạt, có một đoạn tôi kể cảnh đi vào một ngõ gần ga, thấy  phảng phất cái mùi khó chịu,  đến lúc nhận ra mấy người tay cầm mảnh giấy vo viên  thì hiểu là họ đi tìm sự sung sướng …

Nhưng điều buồn cười là khi tôi viết điều đó ra, người biên tập muốn cắt đi. Tôi đề nghị giữ lại. Trong chuyện nhà xí như thế, rút ra được điều này: Trung Quốc bẩn rất bẩn, sạch rất sạch, và khi đã định làm là họ làm bằng được.  Còn ta thì nửa vời chỉ cốt chưng diện. Tính tổ chức vốn là một điểm kém nhất của văn hóa Việt Nam.

Xin kể  thêm một chi tiết về cuộc sống của Hà Nội trước năm 1954, ở phố Hàng Buồm. Thời ấy Hoa Kiều nhiều lắm và họ sống trong những ngôi nhà cũ chật chội đến mức không có cả nhà vệ sinh. Nhiều khi tiếp khách, họ ngồi ngay trên cái bô  vừa chuyện trò vừa đi giải, đi đại tiện, - một cách tự nhiên. Xong việc họ  đẩy cái bô  vào gầm giường. Tôi biết những chuyện này là do anh Nhị Ca, nhà phê bình đàn anh của tôi ở Văn Nghệ quân đội kể lại.

*** Còn chuyện toilet ở HN hồi trước 1975?

LÀ MÓN HỐ XÍ HAI NGĂN. Để hiểu nó là thế nào, xin mời bạn đọc đọc lại hồi ký "Chiều chiều"  của Tô Hoài. Đọc để chia sẻ mọi nỗi kinh khủng mà người dân thủ đô chịu đựng những năm chiến tranh. Lần ấy ông Dế mèn đóng vai cán bộ dân phố đi thị sát một dãy hố xí hai ngăn thuộc một ngõ nhỏ đâu quãng gần chợ hàng Da.

Chuyện toilet ở Hà Nội những năm chiến tranh lại càng  cám cảnh hơn khi nhớ lại rằng hồi ấy, báo chí và quan chức thủ đô đề cập tới nó với sự gian dối bẩm sinh. Không có tiền không làm được hố xí tự hoại thì im đi cho xong. Đằng này còn mang chuyện hố xí hai ngăn ra mà khoe. Rằng chúng ta đã có cách giải quyết rất khoa học rất vệ sinh, và đấy là điều chứng tỏ ta tài ta giỏi, ta làm gì cũng hơn địch. Coi dân như trẻ con, bạ chỗ nào cũng tuyên truyền mà lại.

*** Vâng, trong quá khứ câu chuyện đi toilet thật là vừa bi vừa hài, nhưng xin hỏi ông, tình hình hiện nay ra sao?

VÀO NHIỀU NHÀ HÀ NỘI MỚI XÂY  có nhà, diện tích ở thì rộng, mà khu vệ sinh thì chật. Có vẻ như nó hoàn toàn không được chú trọng, chỉ cốt là có, và chi phí càng ít càng tốt. Nhưng mọi chuyện sẽ biến đổi dần dần. Có lần tôi nghe một đứa cháu nói “Cậu ơi, công trình phụ bây giờ là công trình chính đấy ạ” thì tôi à lên rằng, giờ đây, người ta đã biết sống rồi !

Chừng nào ở nông thôn cũng như các đô thị  có những nhà vệ sinh hiện đại, tốt, và người HN biết tận hưởng niềm vui trong khi đi giải quyết chất thải, thì khi đó là người HN đã trưởng thành.

 *** Nhìn rộng ra cả xã hội, nhất là nơi công cộng?   

CHUYỆN NÀY THÌ KHÓ KHĂN THAẠT. Tôi đã thường cố gạt đi mà đôi lúc vẫn không tránh khỏi cảm tưởng Hà Nội chưa bao giờ nhếch nhác như bây giờ. Thực tế, từ cái nghèo mà người ta bẩn, có điều sau đó, khi đã giàu lên, người ta vẫn không để ý đúng mức tới sự vệ sinh.

Không kể chuyện rác chuyện cống rãnh, ngay chuyên  đại tiểu tiện,  so với những năm chiến tranh, chẳng những  không khá lên được bao nhiêu, mà có nhiều mặt còn tệ hại đi.

Cô em tôi ở Nguyễn Trung Trực, ra chợ Đồng Xuân bán hàng, có lần bảo tôi: “Anh ơi, buổi sáng đi chợ, phải tránh mà đi, chứ không là giẫm phải phân ngay !”.

  Có bao giờ chúng ta thử đếm xem tỷ lệ nhà xí công cộng  so với mật độ dân ở HN ra sao? Có lẽ trên thế giới này không có thành phố nào lại ít  nhà vệ sinh công cộng như HN. Mọi người toàn giải quyết ở gốc cây, góc tối.

Đói kém lâu ngày, ta đâm ra coi thường vệ sinh. Rồi khi biết ra thì bài bây, thậm chí lại lại lý tưởng hóa nó, coi nó là đặc trưng là bản sắc, không ngồi ăn bên cống rãnh không phải là người Hà Nội (!).

Cách sống cũng như cách nghĩ ấy chỉ chứng tỏ HN còn là một thành phố kiểu trung cổ mà lại trung cổ ở dạng thoái hóa. Và nếu biết rằng, mỗi ngày có khoảng 500 ngàn người các tỉnh lân cận --từ bà bán rau đến anh xe ôm, anh thợ nề, máy cô quang gánh ngồi đầu phố làm phiên chợ người – tất cả  đổ về HN, quần thảo HN, hành hạ HN, lại biết rằng phần lớn  HN được xây dựng bằng  thợ từ  nông thôn lên, các cửa hàng hàng ăn HN được phục vụ bằng những ô-sin tỉnh lẻ, thì chúng ta hiểu rằng mọi chuyện không thể khác được.

*** Quay trở lại từng gia đình: phải chăng nhìn vào toilet, có thể liên tưởng  phần nào đến mức sống của gia đình đó  ?

TẤT NHIÊN RỒI NHƯNG CHỈ LÀ MỨC SỐNG THÔI, chứ không phải văn hóa sống đâu nhé !

Thành ngữ Trung Hoa có câu, y phục xứng kỳ đức . Nếu tiện nghi hiện đại mà con người cứ toát ra vẻ cổ lỗ , cứ đầy chất lưu manh vô văn hóa, thì cái tiện nghi kia không thể cứu vãn lại.

Đã là văn hóa sống thì không phải bất cứ ai có tiền  ngày một ngày hai là đạt được ngay !

***Đâu là dấu hiệu của  trình độ mà  ông nghĩ là chúng ta phải tiến tới ?

NẾU CON NGƯỜI CHỈ BIẾT SỐNG  trong đám đông ồn ào, và lẫn mình đi thì chưa phải là con người văn hóa. Kể cả khi họ quần tụ với nhau xem ti vi rồi cười hô hố với nhau thì cũng vậy.

Tôi muốn nhấn mạnh tới con người có cuộc sống riêng, con người đơn độc.

Sở dĩ thời nay người ta đọc sách ít vì người ta không có nhu cầu đó. Và nhu cầu đơn độc này cũng liên quan đến văn hóa toilet.

Chỉ có thể bảo niềm vui sướng đã đến với con người trong phòng toilet khi mỗi cá nhân, đồng thời với việc  giải quyết một trong tứ khoái đó,  có dịp nghĩ về mình --, mình là gì, mình đang ở chỗ nào, mình sống như thế nào. Những lúc đơn độc đó mang lại cho chúng ta một niềm sung sướng cao cả thanh khiết.

*** Còn ông, ông thích một không gian toilet thế nào?

TÔI BIẾT HIỆN NAY CÓ NHIỀU NGƯỜI SÙNG BÁI TIỆN NGHI, sau khi săn tìm được của lạ, của độc, nhiều tiền, thấy mình đã ghê gớm lắm. Đó phần nhiều cũng chỉ là hạng giàu sổi, tôi chả ghen tị với họ làm gì.

Tôi đang sở hữu một không gian toilet đơn giản, hợp với mức sống của tôi. Tôi sống với nó một cách tự nhiên, vào ra không thấy bị cách bức, ngần ngại; ở đó, tôi không làm phiền ai mà cũng không tự làm phiền mình.

Đang làm việc dở có khi tôi cầm cả cuốn sách theo vào đó mà tiếp tục đọc.

Người ta thường bảo về già con người như trở lại thuở trẻ con, nghĩa là có thể ăn nói lung tung một chút mà không sợ bị chê cười. Về chuyện toilet hôm nay,  bọn người như tôi có quyền nghĩ lẩm cẩm rằng bây giờ mình mới được sống!


HỖN LOẠN TRONG GIAO THÔNG 

HỖN LOẠN TRONG TÂM LÝ

Ngày 16 tháng 12 năm 2020

  -- Liệu có thể nói rằng hàng ngày phóng xe đi lại trên đường Hà Nội anh chưa một lần vượt đèn đỏ trái phép? Anh đừng chối, đúng là không chứ gì ? Mượn cái chữ của các cơ quan quản lý, vậy là có những lúc anh đã thiếu ý thức. Có bao giờ anh thử giải thích với chính mình tại sao cái  gọi là  ý thức giao thông khó bồi dưỡng đến vậy?

      Một anh bạn đã độp vào mặt tôi mà tương ra những câu hỏi hắc búa trên, đúng vào những ngày giao thông đang trở thành câu chuyện đầu miệng giữa mọi người.

      Bởi anh đã cài trước rằng đừng có chối, nên tôi cũng phải thành thực mà nhận. Nhận rằng có đôi lúc không tự chủ được. Nhìn trước nhìn sau không có công an đứng đón là  tranh thủ làm một cú ào qua đường. Chẳng qua không phải là làm thường xuyên thôi. Và phải nói ngay là nhiều lần khác, cái định ào qua đường ấy đã đến, rồi thấy có lẽ cũng hơi nguy hiểm, nên bấm bụng chờ đợi.

       Tôi nghĩ rằng trước hết ở đây, nói cho to tát ra, có cái tạm gọi là “căn bệnh thời đại “: bệnh sốt ruột. Hình như nay là lúc ai cũng vội. Hàng ngày mở mắt ra đã thấy bao nhiêu việc chờ mình. Ý nghĩ chúng ta đi quá nhanh. Mà tốc độ đi lại thì quá chậm. Đó là một lẽ. Nhưng không chỉ có vậy.

      Hồi còn sống, nhà văn Phan Tứ (tức Lê Khâm) nổi tiếng  máy móc,  đi đâu ông cũng túi dết khẩu trang đàng hoàng. Nhà thơ Xuân Quỳnh dự đoán “ Ông này 12 giờ đêm qua ngã tư vẫn giơ tay xin đường...”.Theo tôi cái thói quen ấy của Phan Tứ có liên quan  đến cuộc sống nền nếp mà bây giờ không sao khôi phục nổi. Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, giao thông Hà Nội còn khá quy củ.

         Chắc Phan Tứ cũng có lúc khổ vì thói quen của mình, muốn sửa mà không sửa được.

       Còn chúng tôi bây giờ thì khác. Cái đời sống nhộn nhạo chung quanh lúc nào cũng thầm thì vào tai tôi “Luật lệ là một chuyện, nhưng kìa, nhìn xem trên đường phố và ở bao nhiêu những góc tối của cái thành phố này, bao nhiêu người đang phạm luật. Mình chỉ là một thành viên bé nhỏ của cái guồng máy khổng lồ. Giữ gìn chỉ thiệt ! ”

        Ở trên tôi vừa nói là có những lúc tôi đã định ào qua đèn đỏ, rồi kịp kiềm chế, và lâu dần thành một thói quen sống bình tĩnh, từ tốn, sống biết chờ đợi.

       Nhưng có những lúc lạ lắm. Rõ ràng đã tự nhủ rằng “ không đi đâu mà vội” rồi, mà vẫn cứ đâm đầu phạm lỗi. Nghĩ lại thì hóa ra lúc ấy có mấy người khác cũng làm cái chuyện bậy bạ đó và mình bị cái tâm lý bày đàn chi phối.

       Phương Tây từng có câu chuyện ngụ ngôn kể về một anh nọ hại một nhà buôn cừu bằng một cách lừa đơn giản. Trên chuyến tàu vượt bể, anh ta gạ mua của nhà buôn chỉ  một con với giá rất đắt. Để làm gì ? Để  quẳng nó xuống biển. Kết quả đau lòng, cả đàn cừu của gã nhà buôn cùng nhảy xuống theo.

     Tôi biết rằng người ta sẽ cãi lại: “Ý thức của anh đâu ? ”.

     Chắc các bạn đã đoán ra, trong con người tôi lúc ấy có một con cừu nó thức dậy.

       Người ta thích bắt chước nhau lắm. Bắt chước cái tốt thì khó chứ chạy theo cái xấu thì dễ ợt, có ai cần phải cố gắng.

        Hồi Hà Nội còn xe đạp nhiều hơn xe máy, đến Thư viện quốc gia, giới bạn đọc bọn tôi (kể cả những người già như tôi, chứ không phải chỉ các cô các cậu sinh viên) có thói quen phóng cả xe qua cái cửa hẹp.

      Mới đầu mấy sinh viên nước ngoài nhìn thấy thế lắc đầu, bảo người Việt các anh lạ thật đấy, vội vội vàng vàng, trăm người như một.

      Vài năm sau, chính họ cũng làm thế, cũng phóng xe qua cửa rồi mới xuống xe một cách “ tự nhiên như người Hà Nội ”, hoặc theo cái nghĩa nhiều người mới nghĩ bụng chưa nói ra  thì phải gọi là "hư hỏng như người Hà Nội".

      Do ở đây lâu, họ đã ăn phải đũa người Việt lúc nào không biết.   

      Kết luận cuối cùng của tôi: trong điều kiện giao thông vừa manh mún vừa quá tải, nói chung là trong điều kiện đời sống còn rất lạc hậu như hiện nay, những sự hư hỏng là khó tránh khỏi. Nhắc nhở nhau về ý thức là cần nhưng cũng nên biết ở đây không phải chỉ có ý thức mà còn phải tính tới sự khống chế một mớ bòng bong rắc rối gọi chung là tâm lý cá nhân nữa. Trong tâm lý của mỗi người đều in dấu của xã hội. Rồi ra xã hội có tiến lên thì tâm lý con người mới khá lên theo được.


MẤY ĐOẠN GHI VỀ NGƯỜI VIỆT

Ngày 18 tháng 12 năm 2020

Câu đối trong nhà Nguyễn Khuyến :

Người nước nam, hỏi tiếng tây chẳng biết tiếng tây, hỏi tiếng tầu chẳng biết tiếng tầu, cho nên phải “ minh tiên vương chi đạo nhi đạo “

Nhà hướng bắc, người chửa rét thì mình đã rét, người chửa bức thì mình đã bức mới gọi là "tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu"

***

Một nhận xét tổng quát :

Gọi là nước thì phải liên lạc các tỉnh với nhau thành đoàn thể, kết hợp bằng những mối hồi tưởng vẻ vang hay buồn rầu. Đối với người An nam thì không thế: chỉ là luật lệ, chế độ và phong tục mà thôi. Có lẽ người An nam ghét người ngoại quốc hơn là yêu nước, không phải ghét vì cớ người ngoại quốc dày xéo đất nước, hay là truyền bảo theo lệnh chủ khác; chính là ghét vì cớ người ngoại quốc bắt theo luật mới, đổi tục cũ, không cho tập quán vào đâu cả.

A. Launay Lịch sử An nam cổ và hiện đại

dẫn theo Nguyễn Văn Tố : Đại nam dật sử, tr 12

 LŨ TRẺ GIAN GIẢO

--  CHÂN DUNG CHÚNG TA HÔM NAY

          Carl Robinson một phóng viên kỳ cựu của hãng thông tấn Hoa Kỳ Associate Press, người đưa tin từ Việt Nam trong thời gian chiến tranh, nay sống ở Australia.

          Trong bài "Why Vietnam Won't Fall", đăng trên trang World Policy Blog, cựu phóng viên chiến tranh Việt Nam viết:

 “Xã hội Việt Nam ngày nay cực kỳ cá nhân chủ nghĩa".

"Thay vì có sự đoàn kết và một mục tiêu chung, mỗi người đều vì chính bản thân, đều có tâm lý mạnh ai người ấy lo.”

"Ví dụ so sánh tốt nhất là [ VN giống như  -- VTNh  thêm ] một trường đạo nội trú mà trong đó quy định đặt ra để người ta vi phạm hay là để cho người khác tuân theo mà không phải mình.”

"Ai cũng bị coi như trẻ con và thường xuyên được dạy giáo lý qua các khẩu hiệu, các nghi lễ và các giấc mộng cao xa."

"... và con cái họ chỉ biết hưởng thụ vật chất và chơi bời.”

"...Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều đồng lõa [với tham nhũng]. Ai cũng gian giảo theo một cách nào đấy."

THÓI HAY GIỞ MẶT

Lâu rồi có chuyện một tài xế tắc xi lái xe cho một người nước ngoài từ Nội Bài về trung tâm Hà Nội. Hai bên đã mặc cả với nhau là hai trăm ngàn, nhưng đến HN, lái xe bảo là ông khách nghe nhầm thôi, nhất định đòi là bốn trăm, nếu không thì không cho khách ra khỏi xe. Lời qua tiếng lại một hồi, người khách -- trong thân phận người ở nơi xa tới – đành chịu trả vậy và thề là không bao giờ quay lại VN nữa.

Cuốn sách mỏng "Người Pháp ở Đông Dương", ghi lại lời kể của F. Garnier trong chuyến thám hiểm qua ba vùng Nam kỳ, Trung và Bắc kỳ, ( Nxb Công An nhân dân, H 2010 ). Đọc vào, tôi thấy người ta ghi một nhận xét có liên quan tới chuyện trên. Ghi rằng người Bắc bộ có nhiều ưu điểm, nhưng đáng sợ nhất là thói tráo trở, nó “ giết chết những mặt đáng ca ngợi của họ” .


ĐI TÌM KHÁI NIỆM LƯU MANH QUA SÁCH VỞ

Ngày 21 tháng 12 năm 2020

Mời các bạn đọc lại

một bài báo cũ đã in trên blog của tôi 1-1-2012.

Tên cũ của  bài là "Rất nên quan tâm tới lưu manh"

1 /Trong bài "Đường đi và người đi -- Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa" in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết :

“ Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.

Chữ manh ở đây không phải người mù.

Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.

Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân.

 Trong Bình Ngô đại cáo có câu:

"Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập"

Đào Duy Anh dịch là

"Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp"

Là dùng chữ manh ấy.

Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung ( Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “ cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.

Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu. Nghĩa xấu đó là gì? Từ điển Khai trí tiến đức 1931 ghi "đểu cáng" là hạng người hèn mạt vô hạnh.

Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất.

Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.

Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán -- Hán hiện đại thường ghi lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi’, tức là kẻ không biết chính nghiã là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.

Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan,scoundrel ...sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.

2/ Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.

Khi nghiên cứu về giao thông VN trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.

Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh Thượng theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân—địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.

Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.

Phần góp chuyện của tôi:

Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân.

Nhưng ở trang 87 của "Từ điển từ nguyên tiếng Trung" ( Nxb Hồng Đức H. 2008 ), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:

"Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt văn và Kim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân."

Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghệ nghiệp. Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ. Họ chẳng coi cái gì là quan trọng. Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc Việt Nam họ là nguồn gốc của những hỗn lọan mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.

Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.

Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết "trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua."

Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và  phát triển  mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác. Trong xã hội hiện đại, xu thế này chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm …tức là lưu manh hóa họ.

 Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính.

Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Ở tầng lớp lưu manh khóac áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.

BỔ SUNG 20-12-2014

Người ta thường đi từ kinh nghiệm thực tế để nói về lưu manh.

Tôi muốn làm ngược lại, đi từ sách vở, các cuốn từ điển, các bộ sử..

Tôi tin cách làm này là hợp lý bởi sách vở không phải là từ trên trời rơi xuống, sách vở là tổng kết từ thực tế.

Để tìm hiểu một vấn đề nào đó, đi theo con đường sách vở chắc chắn là con đường ngắn nhất.

Cố nhiên đó là loại sách vở xứng đáng với tên gọi của nó chứ không phải là phần lớn những gì chúng ta đang viết bừa viết bãi hôm nay.

PHỤ LỤC

Sau đây là một bài viết ngắn có liên quan đến lưu manh của nhà học giả An Chi. Để giúp cho các bạn có thêm tài liệu cùng suy nghĩ  về chủ đề này, xin phép nhà nghiên cứu An Chi cho tôi ghép lại làm phần phụ lục sau đây.

LƯU MANH LÀ GÌ?

 (Petrotimes  25/03/2013 )

- Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa gốc của hai tiếng lưu manh. Chữ manh ở đây có phải cũng là manh trong thông manh và manh mối không, thưa ông? (Trần Văn Bá)

Học giả An Chi: Trước nhất xin nói về nghĩa của từng thành tố. Chữ manh có hai nghĩa mà “Hán ngữ đại tự điển” (Thành Đô, 1993) đã cho như sau:

“1 - Dân; cổ đại xưng bách tính (Người dân; xưa chỉ trăm họ)”. Mao Trạch Đông họa thơ Quách Mạt Nhược (“Họa Quách Mạt Nhược đồng chí”) có câu:

Tăng thị ngu manh do khả huấn

Yêu vi quỷ hoặc (quắc) tất thành tai.

Dịch ý:

Sư cũng dân lành còn sửa được

Yêu tinh là quỷ dấy tai ương

Trong bài “Manh” thuộc phần “Vệ phong” của Kinh Thi, mà câu đầu tiên là “Manh chi si si”, chữ manh cũng có nghĩa này. Đây là một bài thơ trữ tình hay nhất và sớm nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc.

“2 - Dã dân. Chu triều chỉ cư trú tại bỉ dã địa khu tùng sự nông nghiệp sinh sản đích nô lệ”. (Dân quê. Thời Chu, chỉ những người nô lệ cư trú tại những vùng quê để sản xuất nông nghiệp).

Âm xa xưa của chữ manh trong tiếng Việt là mống, còn được giữ lại trong những lối nói mang tính quán ngữ như: không mống nào chạy thoát, chết không còn một mống. Nó chẳng có liên quan gì đến chữ manh trong thong manh cả. Thong manh là biến thể ngữ âm của thanh manh 青盲, một chứng bệnh về nhãn khoa. Vậy, một đằng là manh bộ thị , một đằng là manh bộ mục ¿, chẳng liên quan gì đến nhau. Mà nó cũng chẳng liên quan gì đến chữ manh trong manh mối vì ở đây, chữ manh là một hình vị Hán Việt chính tông mà chữ Hán là , có nghĩa là “khai mào”, “khởi đầu”, “dấy lên” như có thể thấy trong một cấu trúc khá quen thuộc là manh nha. Một đằng thuộc bộ thị , một đằng thuộc bộ thảo (), nên cũng chẳng liên quan gì đến nhau.

Lưu ÷ có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phái sinh là du thủ du thực, rày đây mai đó.

Hai tiếng trên ghép lại thành danh ngữ lưu manh 流氓, được “Hán ngữ đại tự điển” giảng là: “Nguyên chỉ vô nghiệp du dân, hậu lai chỉ phẩm chất ác liệt, bất vụ chính nghiệp, vi phi tác đãi đích nhân”. (Vốn chỉ lưu dân không nghề nghiệp; về sau chỉ những kẻ phẩm chất dữ dằn, không làm việc chính đáng, làm bậy làm càn).

Thế là lưu manh vốn có nghĩa trung hòa, nhưng nay thì hai tiếng này có nghĩa là kẻ du thủ, du thực, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi nghĩa bóng là đứa du côn, bất lương. Tùy theo ngữ cảnh mà nó có thể được dùng như danh từ hoặc tính từ. Với tư cách tính từ, nó hoàn toàn tương ứng với tiếng Anh rogue trong ngữ đoạn rogue state quốc gia lưu manh) mà Chính quyền Reagan của Hoa Kỳ từng dùng hồi thập niên 80 của thế kỷ trước để chỉ chế độ và chính sách của ông Muammar Kaddafi ở Lybia. [  Xin lược bỏ mấy câu không hại gì tới nội dung -- VTN]

Hiện nay, hai tiếng lưu manh cũng được dùng làm định ngữ để chỉ một khuynh hướng văn học: văn học lưu manh, mà dưới đây, chúng tôi xin dẫn một đoạn của Báo Tuổi Trẻ để giới thiệu với bạn đọc:

“Như thế, khái niệm “lưu manh" từ chỗ tụt quần áo trần truồng và xả ra ngôn từ rác rưởi, dễ bị nhận diện, đã trở thành lưu manh trong lý tưởng, lối sống và kinh khủng hơn là lưu manh trong các giá trị, ví dụ như: thưởng thức nghệ thuật xong sẽ đưa ra các lời bình luận thấp kém, phản bác, công kích nghệ sĩ; ngắm tượng Vệ Nữ xong chỉ phát hiện nàng này không mặc quần lót; gặp một cô giáo quên mình cứu học sinh thì chỉ nghĩ giá như cô giáo này làm điếm sẽ kiếm được nhiều tiền hơn; nhìn xã hội phong kiến chỉ thấy niềm vui sướng được ngủ với hàng đàn mỹ nữ mà không bị pháp luật sờ gáy; sống ích kỷ với thú vui bản thân bất chấp đạo đức xã hội lại được coi như đi tìm kiếm cái tôi đích thực, cái tôi cô đơn, khác biệt...”.

“Từ điển văn học online của Trung Quốc đưa ra một định nghĩa, theo đó, văn học lưu manh gần như buộc phải có hai thành tố cốt lõi là sex và báng bổ”.

“Văn học lưu manh được đông đảo độc giả và nhà phê bình quan tâm là bởi mỗi tác phẩm đều kéo theo sau nó rất nhiều lời phê phán lẫn tung hô của nhiều hạng người khác nhau trong xã hội”.

Nói chung thì lưu manh đại khái là như thế.


CẠN NGHĨ NGẮN HƠI DỄ THỎA MÃN

Ngày 27 tháng 12 năm 2020

   Không chỉ tinh tế khi tả thức ăn mà trong Hà Nội băm sáu phố phường (in trên Ngày nay từ 1940), Thạch Lam còn khéo ghi nhận cái thói quen dễ dãi cẩu thả của người mình trong cách làm thức ăn.

Như trong câu chuyện về mấy bát mằn thắn. Trong khi bát mì của mấy chú khách (tức đám Hoa kiều) đầy đặn thì người mình chỉ giỏi giả lễ bà chúa mường. Bát mằn thắn của các ông chủ người Việt có đủ cả rau thơm, xá xíu, đôi khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt, song mằn thắn bột thì thô, nhân là một tí thịt bạc nhạc, nước rất nhiều nhưng nhạt.

      Cho đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI này nhiều người đi nước ngoài còn chứng kiến kiểu làm ăn tương tự. Anh Hữu Vinh từng là phóng viên thường trực của TTXVN ở Paris kể với tôi là chả có cửa hàng ăn nào của người Việt đậu được lâu. Lúc mới khai trương cũng rôm rả. Nhưng chỉ một hai năm là chất lượng kém hẳn đi và người ăn bỏ hết sang các hiệu khác.   

      Người ta bắt gặp ở đây một quan niệm sống tầm thường dễ dãi, không bao giờ duy trì được sự liên tục có trước có sau tức không đạt tới một trình độ chuyên nghiệp ổn định.

      Một thói xấu khác của các nhà hàng buôn bán người mình được Thạch Lam ghi nhận là thói dễ thỏa mãn. Ông lấy ví dụ như mấy hiệu kẹo lạc kẹo vừng Cự Hương, Ngọc Anh. Lúc đầu còn chịu khó làm thật ngon để chiều khách, sau ngủ yên trên danh vọng. "Hình như dân mình động giàu là ra mặt vênh váo và bắt đầu làm ăn chểnh mảng" - tác giả Gió đầu mùa khái quát. Và ông hồn nhiên tự hỏi “Ồ, sao sự cố gắng ở nước này không được lâu bền nhỉ ! “.

     Người xưa có câu “Nhân bần trí đoản”, với nghĩa người nghèo hèn, kẻ hiểu biết nông cạn, thì không còn đáng để ai đếm xỉa tới nữa.

      Không đâu thấy rõ sự ngắn hơi và dễ thỏa mãn như trong hoạt động của người làm nghệ thuật ở Việt Nam. Làng tranh Đông Hồ quê gốc tôi có nhiều nghệ nhân có tác phẩm để đời. Nhưng tên tuổi tác giả những bức tranh đó thì không ai biết. Đại khái đó là những ông thợ tài hoa nhưng cẩu thả, lúc vợ ốm con đau hoặc thua bạc cần tiền thì vẽ vội mấy bức mang bán cho các nhà giàu trong làng, và không có ý niệm gì về bản quyền trên tranh. Cũng giống như các cửa hàng kẹo bánh của Thach Lam “không biết rằng hàng của mình ngon hơn hàng khác “, các nghệ nhân đó cũng không thể nghĩ rằng lẽ ra tên tuổi mình có thể còn mãi với lịch sử mỹ thuật. Chính họ tước đi khả năng đó ở họ.

    Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, thời cổ văn xuôi Trung quốc chỉ có biền văn, chưa có tự sự. Tự sự Trung quốc là học được từ Ấn Độ qua du nhập sách Phật. Nhưng khi đã nắm được rồi thì người Trung Hoa đưa nghệ thuật này lên đến đỉnh điểm. Những bộ tiểu thuyết như Hồng lâu mộng Kim bình mai có độ dài và trình độ kết cấu không thua kém gì những thiên tự sự đồ sộ nhất của phương Tây.

   Trong khi đó các tác phẩm tự sự của người Việt chỉ theo dõi con người trong những khoảng thời gian ngắn. Không tìm đâu ra loại tác phẩm có khả năng bao quát cuộc sống nhân vật trong thời gian dài, dựng lại lịch sử cả mấy thế hệ như truyện Tàu. Các cuốn tiểu thuyết hiện đại thường kém về kết cấu toàn cục. Cố lắm chỉ được vài chương đầu. Càng về cuối càng hỏng.

   Manh mún nhỏ lẻ không chỉ là cách làm ruộng đi buôn mà cũng là cách người Việt làm nghệ thuật. Chúng ta chỉ có những tác phẩm nhỏ nhỏ xinh xinh, chùa Một Cột chẳng hạn chỉ tồn tại như một ý niệm hơn là một công trình thực tế.

  Nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng có lần bảo với tôi: Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay của chùa Bút Tháp đẹp thật, nhưng lưng tượng thì chỉ được làm dối dá cốt cho xong chuyện.  

   Trong truyện ngắn "Đất xóm chùa" ( in trên Văn Nghệ số 42 năm 1993), nhà văn Đoàn Lê để cho một nhân vật phát biểu tạt ngang : “Khốn nạn, cái vạt đất tí hin bị bỏ quên sau mấy lũy tre, mơ ước hào hoa nhất chỉ là nồi cơm Thạch Sanh cả làng ăn không hết, chuyện tinh tướng bốc giời nhất cũng chỉ chuyện củ khoai to bằng cái đình …..Cứ ra cái điều !”


NHỮNG CUỘC “TRỞ THÀNH MÌNH” RẤT NGOẠN MỤC

Ngày 28 tháng 12 năm 2020

Mới học cấp II (phổ thông cơ sở), bọn học sinh Chu Văn An những năm 1960 trở về trước chúng tôi đã được huy động đi dạy Bình dân học vụ. Nhà ở Thụy Khuê nên tôi được giao dạy  ở khu vực làng Hồ (Yên Thái), chuyên làm giấy. Tuần hai buổi, thứ hai thứ năm, tôi theo xe điện lên Bưởi rồi cuốc bộ vào mãi cuối xóm,  dưới ánh đèn dầu dạy cho một bác thợ seo.

 Trí thức hóa công nông – đã từng có một khẩu hiệu như thế. Nói nôm na là thời ấy, như tôi nói trong bài viết ngày 25-12, người ta không được dốt.  

Ngày nay tôi vẫn bị cách nghĩ đó ám ảnh, và thấy nó có vẻ đúng nhưng lại thấy rõ là nó đã lạc hậu. Nhìn những anh em làm lao động chân tay, chẳng hạn mấy bạn trẻ công tác bảo vệ ở chung cư mình đang sống – các anh em này khi rỗi rãi chỉ chơi game --, tôi đã mấy lần định  bảo họ sao không  theo học một chương trình nào đó, nhưng lại thôi ngay.  Đấy cũng là lúc  tôi buồn rầu nhận ra cái điều  đơn giản rằng nay đã sang một thời khác. “Thời nay tử tế  mới khó chứ  lười biếng dốt nát tha hồ không ai chê trách, tương tự như cờ bạc rượu chè nhậu nhẹt đang được khuyến khích!” - ai đó đã nói với tôi như thế và tôi không cãi lại được.

Điều này đúng với cả các em đang cắp sách đến trường.  Quyền  được dốt  của học trò ngày nay  được thực thi nghiêm túc hơn nhiều so với các thế hệ trước. Em có kém cỏi đến mấy, các thầy các cô cũng chẳng quan ngại. Thang điểm ngày càng hạ, vả chăng đã có các lớp học thêm, và đường dây chạy bằng cấp  ...-  cả một cơ chế hình thành  bảo đảm cho những bạn trẻ  -- trong đó đặc biệt nổi lên một số  lười học nhưng lại khôn ngoan  giỏi giang trong việc xoay sở kiếm chác --  yên chí vào đời lập nghiệp. Họ được khuyến  khích và dần dần đóng vai trò rường cột xã hội. Nhớ lại thời đi học chắc có lúc họ nghĩ giá kể mình gắng sức học giỏi theo nghĩa trường ốc thì chắc chẳng được như thế này.

Thế còn những học sinh học giỏi thời nay thì sao? Câu chuyện năm chục năm trước tôi với anh Hoàng Hưng bàn nhau nay đã trở thành lạc hậu.  Xã hội đang khuyến khích  những người trí thức giỏi giang theo cái nghĩa riêng mà chỉ thời nay mới có:

1/ trở thành gà chọi để mang khoe,  biến thành cây cảnh để chứng tỏ tiềm năng trí tuệ của địa phương  cũng như cả cộng đồng.

2/  được trao  vài vai quan trọng trong bộ máy quan liêu, việc này  khiến nhiều nhà chuyên môn giỏi ngày nay chỉ còn cái mã và nếu trong quá trình quan liêu hóa này họ có tha hóa biến chất thì cũng không ai tước bỏ cái vai chuyên môn hôm qua của họ. Họ đã trở thành một thứ bản thể mới, xa lạ  với những lý tưởng trong sáng mà họ noi theo khi mới bước vào đời. Nhưng nhìn lại từ lúc còn hàn vi thì phải nói cái  quyền  được giỏi  của họ vẫn được bảo đảm đấy chứ?

Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng? Suy trước tính sau, tôi vẫn chỉ thấy có một câu trả lời là gần như thế. Không phải ai thời nay cũng đi theo con đường tha hóa, nhưng theo thiển ý của tôi sức đề kháng ở mỗi người ngày càng yếu ớt. Thỉnh thoảng trên các trang mạng tôi cũng đọc được vài tin về  các trí thức trẻ Trung quốc . Nhiều người trong họ khi du học Anh Mỹ trở về lúc đầu  trong lòng cũng còn đầy lý tưởng, nhưng rồi, trên đường tiến thân và lo hạnh phúc gia đình, họ cũng nhanh chóng gia nhập vào bộ máy chuyên chế và tham nhũng. Trở thành chính mình lúc này đồng nghĩa với đầu hàng.

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét