Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Mười năm học hỏi

 Mười năm học hỏi

Hai năm dạy học ở Lữ đoàn 368 pháo binh và một năm về dạy học ở Đoàn kịch Tổng cục Chính trị quân đội, đối với tôi là những năm chuẩn bị cần thiết. Như tôi đã nói, nhà thơ Vũ Cao khi tiếp nhận tôi còn nhiều lo lắng, ông nói với mọi người, nếu thằng Nhàn nó không làm được biên tập thì cho về làm kế toán. Nhưng may thay, tôi đã đóng vai phụ việc biên tập cho các anh Mai Ngữ, Nhị Ca rồi tiến lên chủ động quản lý công việc của tổ lý luận, tới mức mọi người thường trêu anh Nhị Ca, có được thằng Nhàn rồi thì ông Ca nằm dài mà nghỉ ngơi chẳng phải lo việc gì nữa ngoài việc gật đầu. Hàng năm, cứ vào cuối năm thì Tạp chí chúng tôi lại có một buổi họp cộng tác viên bao gồm cả những cây viết trong và ngoài quân đội. Vào những buổi đó, tôi thường đóng vai một người chủ nhà biết điều, đi chào hỏi và rót bia mời mọc từ các nhà văn nổi tiếng đến các bạn viết văn trẻ. Khoảng cuối năm 1976, phần lý luận của tạp chí ra số chuyên đề về truyện ngắn. Không chỉ nhận những bài viết sẵn có, mà tôi còn sẵn sàng làm chân chấp bút cho các cộng tác viên. Như đối với nhà thơ Chế Lan Viên. Mặc dầu chuyên về thơ nhưng ông cũng rất thạo các vấn đề chung của văn học. Bởi vậy, khi lên kế hoạch, tôi xin phép tòa soạn đặt bài Chế Lan Viên, rồi tôi lại đến tận nhà ông, bàn bạc với ông. Chế Lan Viên bảo tôi bận không viết được, hay là bây giờ tôi nói để cậu ghi. Tôi làm theo ý ông và mấy hôm sau mang tới trình ông bản tôi vừa ghi, mang tên “Dài hay ngắn. Chất lượng và số lượng”. Ông thì bằng lòng (sau này ông thường coi như một bài do chính ông viết ra và đưa vào các tuyển tập) còn tôi thì sung sướng là đã bắt được cái giọng riêng của ông, như một diễn viên nhập vai, hỏi không sung sướng sao được. Ở đây có một kỷ niệm vui vui. Trong buổi họp tất niên mà tôi vừa kể, một nhà văn trẻ bạn tôi là anh Bùi Bình Thi lại đứng lên đặt một câu hỏi làm cả buổi họp sửng sốt. Anh Thi bảo ông Chế Lan Viên có phải là lý trưởng đâu, anh Nhàn có phải là mõ đâu mà tại sao lại có bài viết như vậy. Lúc ấy tôi đang đứng ở giữa buổi họp tay còn đang cầm chai bia chuốc rượu một cộng tác viên khác. Tôi liền giơ chai bia lên và nói to, trong năm tới tôi xin tiếp tục làm mõ và nếu có cộng tác viên nào ngồi ở đây muốn tôi phục vụ thì tôi xin sẵn sàng. Thế là cả buổi họp ồ lên vui vẻ. Sau này anh Nhị Ca bảo lúc ấy tớ cũng lo chỉ sợ cậu sửng cồ lên thì hỏng hết buổi họp, không ngờ cậu tháo quả bóng đang căng theo kiểu hợp lý quá. Còn nhà thơ Ý Nhi thì sau này bảo tôi, công nhận là sau buổi ấy tôi mới thấy ông Nhàn là chơi được và chúng tôi có thể kết bạn thật. 

Phải nói là trong mấy năm đầu chống Mỹ, tạp chí Văn nghệ Quân đội thành một tập thể sống rất hòa hợp và viết thì đều tay đến mức các anh phụ trách và những nhân vật chủ chốt như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu tuy không nói ra nhưng rất ngại tiếp nhận thêm các nhân vật mới. Trong một tập thể như thế, tôi là thành viên về sau cùng, nhưng vẫn tạm gọi là hòa đồng được với mọi người. Đến cuối cuộc chiến tranh, lực lượng sáng tác trong quân đội phát triển, gồm nhiều bạn viết cùng tuổi tôi. Lúc đầu lực lượng ấy do Phòng văn nghệ thuộc Cục tuyên huấn quản lý. Nhưng rồi họ đều được chuyển sang tạp chí. Đó là trường hợp các nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Duy Khán… Nhưng phải nói thật là do sự chênh lệch về tuổi tác và khác nhau về thế hệ, hai lớp nhà văn cũ và nhà văn mới ấy vẫn tồn tại ít nhiều khác biệt. Mỗi nhóm thường nói chuyện với nhau nhiều hơn là người của nhóm bên kia. Trong hoàn cảnh ấy, một lần nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ngỏ ý khen tôi, ở đây chỉ có ông Nhàn là nghe được tiếng nói của cả hai thế hệ. Tôi cho đó là một lời khen, xuất phát từ trường hợp vào nghề của tôi như đã kể trên.

Trong khoảng mười năm ấy - bắt đầu từ mùa xuân 1968, và kết thúc mười một năm sau, mùa xuân 1979, khi tôi chuyển sang Hội nhà văn và về công tác ở Nhà xuất bản của Hội cho đến khi về hưu - đối với tôi vẫn là một thời gian học việc nếu không muốn nói rằng khá lêu têu. Việc biên tập thì không cần nói nhiều, vì thành thực mà nói, nhiều phần dễ dàng. Nhưng tôi còn thích nhiều thứ, kể cả cái việc sáng tác là tôi biết chắc rằng mình không có tài, nhưng vẫn âm thầm theo đuổi. Thành thử, tôi đã tận dụng vai trò của một phóng viên tạp chí, để xin phép tòa soạn đi đến nhiều đơn vị khác nhau, nhất là các mặt trận hồi ấy. Tạm kể như sau, giữa năm 1968, thì tôi theo anh Phạm Tiến Duật đến các binh trạm ở chung quanh thành phố Vinh và các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Một năm sau, hè 1969, tôi lại theo Duật vào binh trạm 20, thuộc đoàn 500 (tương đương với đoàn 559 và sau này sẽ nhập vào 559). Tới 1970, tôi vào một trung đoàn của sư đoàn 304, rồi theo một trung đoàn của sư ấy vượt qua Bến Hải vào mặt trận B4. Sang năm 1972, tôi lại cùng với các nhà thơ Thu Bồn, Liên Nam, Văn Thảo Nguyên vào công tác chiến trường Quảng Trị, đợt này tính từ lúc đi tới lúc được gọi về, kéo dài 4 tháng trời. Trong chuyến đi 1972, tôi có ít nhiều biết được xã hội miền Nam qua những ngày tháng lang thang ở trong thị xã Quảng Trị, khi đồng bào ở đó bỏ lại khu đô thị chạy vào phía trong. Trước đó, tôi có một dịp tạm gọi là càn lướt vùng Gio Linh Cam Lộ, hai bên đường 9... Khi hiệp định Paris được ký, một vùng giải phóng được mở ra không những là trên núi mà còn là dưới biển, tôi vừa được chứng kiến cảnh tượng lính tráng hai miền đối mặt nhau sau hàng rào dây thép gai, vừa lướt qua một phần đồng bằng, tức là vùng ven biển Quảng Trị. Những chuyến đi ấy đã được tôi ghi chép khá cẩn thận mặc dù cho đến 2025, tức là năm tôi 82 tuổi thì vẫn chỉ là những bản ghi chép được đánh máy lại, chưa hề gạn lọc sắp xếp, dù là sơ bộ. 

Nhưng phần việc học tập quan trọng nhất của tôi trong hơn mười năm ấy chính là học tập về nghề, qua sinh hoạt của tôi trong cơ quan. Đầu năm 1968, khi đang cùng đoàn kịch ở thôn Phú Nghĩa, tôi vác ba lô đi bộ qua khoảng 3 km, thì sang Canh Nậu là nơi sơ tán của Tạp chí văn nghệ Quân đội. Đây là một vùng đất rất trù phú, nhà ở san sát cạnh nhau, chứ không vắng vẻ nhưng thôn Công Giáo Phú Nghĩa. Các nhà văn thuộc cơ quan mới của tôi thì ở tản mát trong dân, cứ hai người ghép lại một nhà. Có những buổi chiều, tôi theo các nhà văn Mai Ngữ, Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu ra chợ vừa đi đường các anh vừa kể chuyện cho tôi về cuộc sống văn nghệ. Nhớ nhất là những buổi tối, đến nhà ông giáo Bô là nơi anh Nguyễn Khải sơ tán, anh Khải có lối nói chuyện thế nào mà một phần tuổi trẻ ở cái xóm Ổi Thụy Khuê của tôi, như được thức tỉnh, và tôi không ngại mới quen mang ra kể hết với anh. Nhưng phải nói là từ cuối 1968, khi chúng tôi tạm rời nơi sơ tán trở về ngôi nhà 4 phố Lý Nam Đế, thì tôi mới được thực sự học nghề qua những buổi nghe các bậc đàn anh quây quần rồi trò chuyện. 

Như tôi vừa kể ở trên, nếu ở Hà Nội thì phần lớn các nhà văn cơ quan tôi sống ở gia đình là chủ yếu, có thể mặc thường phục mà đi ra phố hoặc đi họp ở bên Hội nhà văn. Nhưng hàng ngày hoặc hai ba ngày anh nào anh nấy cũng có nhu cầu ghé qua cơ quan, đó là những khi đã làm xong công việc viết bài ở nhà, đến cơ quan giải lao và nhất là ngóng thêm tin tức từ các đồng nghiệp. Các đề tài mà chúng tôi trao đổi với nhau thì vô kể, bao gồm từ chuyện thời sự chính trị xã hội đến chuyện văn học, chuyện của cuộc đời, chuyện của sách vở mà các anh đọc được. Ở đây, phải nói có một sự thực. Như nguyên tắc mà xã hội chính thức yêu cầu ở các nhà văn, chúng tôi không có quyền viết tất cả những điều linh tinh hàng ngày chúng tôi vẫn nghĩ, mà chỉ có quyền viết những điều có lợi cho xã hội. Chẳng hạn như khi viết về chiến tranh, thì chỉ có quyền viết về những gì giúp cho người lính lạc quan tin tưởng sẵn sàng theo lệnh trên trong cuộc chiến đấu, chứ không có quyền viết về những gì làm cho người lính buồn, người lính muốn buôn súng trở về với vợ con. Thoạt đầu có nhiều trục trặc nhưng dần dần các nhà văn cũng thấy làm thế là phải, cũng thấy quen, nói cho to tát ra tức là họ cũng muốn từ bỏ tự do để nhận lấy phần tự kiểm soát mình và kiểm soát các đồng nghiệp. Nhưng sự đời là thế, luôn luôn trong tâm trí các nhà văn có cái phần muốn viết thích viết mà lại không dám viết và cảm thấy không nên viết. Họ xả ra những điều bức xúc đó qua câu chuyện với các bạn bè đồng nghiệp hàng ngày. Trong hoàn cảnh một xã hội chìm sâu vào chiến tranh, dĩ nhiên người ta không thể nói bô bô những chuyện chính trị ở ngoài đường, ở quán nước, ở bến xe. Chỉ trong cơ quan khi mọi người đã sống với nhau từ lâu, đã tạm hiểu nhau thì mới sổ ra cho hết những gì chất chứa trong lòng. Ngoài những tin tức thời sự mà mỗi người mang về từ tiếp xúc riêng của mình hàng ngày, ở tạp chí chúng tôi lúc ấy, trong phạm vi các bậc mà tôi gọi là đàn anh, tức là những người đã bắt đầu viết từ kháng chiến chống Pháp, trước đó là những cán bộ tuyên huấn thành thạo ở các trung đoàn sư đoàn, tôi cảm thấy mỗi anh có một bề dày kinh nghiệm và một đề tài riêng. Anh Hữu Mai thạo nhiều tin tức về mặt trận, lại thêm nhờ ở chỗ sống trong một khu tập thể quân đội, anh có rất nhiều tin tức với tất cả cái nghĩa rộng rãi của từ tin tức. Anh Hồ Phương dân Hà Nội cũ bên cạnh chuyện nhà binh, lại khá thạo chuyện đường phố Hà Nội. Anh Xuân Sách đọc đủ thứ văn chương kiểu như “Tam quốc”, “Thủy Hử”, “Đông Chu liệt quốc” từ đó nhìn thế sự với con mắt thành thạo pha chút diễu đời. Có hai người để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. 

Mãi sau này tôi mới biết rằng, mặc dù gia đình ở Quỳnh Lưu Nghệ An, nhưng Nguyễn Minh Châu đã sớm được đưa vào Huế học, nên trong cách sống và sự học hỏi làm việc của Nguyễn Minh Châu thực sự là có dáng dấp của một học sinh gia đình khá giả, bước vào kháng chiến còn vướng vất nhiều phần tiểu tư sản. Nhưng cái tiểu tư sản của anh Châu là một cái gì rất mềm mại đáng yêu, khả năng thâm nhập của anh vào giới đồng đội nông dân phải nói là tự nhiên, thuần thục, có vẻ như là anh biết nói lên cái tâm tình của họ. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét