https://www.facebook.com/tacgiavuongtrinhan
NHỮNG KỶ NIỆM VỚI LUẬT SƯ NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Trần Trọng Vũ
Nguồn: FB Tran Minh Hop
Ngày 9 tháng 1 năm 2023
--
Tôi chép lại bài viết này từ một trang Fb mà tôi sơ ý không ghi rõ danh tính.
Theo tôi từ bài viết toát lên một ý tưởng rất cần cho chúng ta hôm nay: trong cảnh bế tắc, chỉ có giáo dục mới cứu vãn được con người.
Cố nhiên đó phải là một nền giáo dục chân chính vừa chuyên sâu về kiến thức vừa biết tìm tới cái nhân bản. Hơn nữa nền giáo dục đó lại phải là thành quả chung của nhân loại chứ không thể bó lại trong hạn chế từng dân tộc.
Bạn có thể trách tôi là suy diễn quá, tôi xin chịu.
Nhưng đây là bài viết nên đọc tuy hơi dài.
--
Dưới đây là mấy câu dẫn của trang Fb tôi tìm thấy bài của Trần Trọng Vũ.
Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) là luật sư nổi tiếng, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Năm 23 tuổi (1932) ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp. Năm 1954, ông về Hà Nội, được cử làm Giám đốc Đại học Luật, Phó Giám đốc Đại học Sư Phạm, và được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Luật sư Hà Nội.
Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, ông chỉ lo nghiên cứu văn học nước ngoài.
- Hoạ sĩ Trần Trọng Vũ (1964), tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam (1982–1987), École des Beaux-Arts, Paris (1989–1992). Trần Trọng Vũ là con trai út của nhà văn Trần Dần (1926-1997), được đánh giá là một trong những họa sỹ đương đại tài năng ở Châu Âu, được trao giải Pollock-Krasner 2011-2012, New York (Mỹ). Hiện đang sinh sống, làm việc tại Paris.
***
Hà Nội những năm 1980 thuộc về một thành phố đã không còn nữa. Hà Nội thuở ấy vắng người qua lại, xe đạp thưa thớt, xe máy chỉ đếm trên đầu một số ngón tay. Cảnh nghẽn đường còn hiếm hơn phim Mỹ ngoài rạp. Mọi ngã tư đều không được trang bị đèn xanh đèn đỏ, đèn vàng.
Hà Nội ấy trong tôi là một thành phố nhiều uẩn khúc, với những tên người còn ở lại trong ký ức và giai thoại. Mỗi khi trở về Việt Nam và đối diện với một Hà Nội ồn ào khói bụi tôi không khỏi chạnh lòng mà nghĩ về một thành phố xa vời, với những con người đã đi qua và đi theo cuộc đời tôi. Họ, với Hà Nội, có thể nào chỉ là một? Để làm nên những bản hòa tấu không dứt của huyền thoại.
LỚP TIẾNG PHÁP
Một ngày năm 1982, khi tôi chuẩn bị vào học đại học Mỹ Thuật, bố tôi bảo: “Làm họa sĩ, mày phải học tiếng Pháp”. Tôi không mừng rỡ, cũng không băn khoăn gì nhiều với quyết định này.
Tiếng Pháp và nước Pháp lúc bấy giờ là hai khái niệm vô cùng xa vời. Giống như có thể và không thể, như hiện thực và hư cấu. Như viễn cảnh và viễn tưởng. Nhiều năm trước, anh trai tôi, và hầu như tất cả con cái của những bạn bè nghệ sĩ của bố tôi, đều đã theo học tiếng Pháp ở nhà luật sư và giáo sư Nguyễn Mạnh Tường.
Tiếng Pháp với họ có lẽ chính là phần tiếp nối cho giấc mơ dang dở của các bậc cha mẹ. Giấc mơ ấy, đứt đoạn ngay từ trường phổ thông, bởi vì ở trường phổ thông tiếng Nga đã ồ ạt chiếm chỗ của mọi ngoại ngữ khác và đã trở thành môn học bắt buộc cho bất cứ ai.
Anh trai tôi tiếng Nga chưa thạo bao giờ, sau vài năm tiếng Pháp đã đủ sức dịch lại các bài hát Pháp, khiến tôi khâm phục không ít.
Vậy là vào một buổi sáng khi tôi 18 tuổi, một người bạn của bố tôi đã đưa tôi đến gặp giáo sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông tiếp chúng tôi trong phòng khách ở tầng trệt, cũng là nơi ông dạy học. Phòng khách rất ít ánh sáng trời và hầu như lúc nào cũng phải thắp đèn điện, khi không có điện thì thắp đèn dầu. Ông hỏi tôi: “Bố cháu sức khỏe thế nào?”. Tôi hiểu rằng bố tôi và ông đã không gặp nhau từ lâu: bố tôi mang bệnh nhiều năm rồi, đi lại rất khó khăn. Ông cũng nói: “Cháu học tiếng Pháp, bác không lấy tiền học của cháu”, như một điều kiện ngoại lệ.
Hôm ấy, tôi không thể không kinh ngạc trước một nhân vật đã 73 tuổi mà nhanh nhẹn, khỏe mạnh, giản dị và cực kỳ minh mẫn.
Những buổi học sau đó diễn ra vào các buổi chiều muộn. Mỗi tuần một lần, cứ sau giờ học ở trường Mỹ Thuật tôi lại lững thững đạp xe đến phố Tăng Bạt Hổ. Buổi học đầu tiên, chúng tôi trên dưới 10 học trò, ngồi vòng tròn quanh chiếc bàn lớn, cùng chép lại chiếc bảng đen đầy chữ viết li ti và cẩn thận, bằng phấn trắng. Chúng tôi không có giáo trình, không bao giờ theo giáo trình.
Buổi học đầu tiên chúng tôi không học nói “Chào anh, chào chị”, “Anh có khỏe không? Anh từ đâu đến? Tên anh là gì?”. Mà trực tiếp tấn công vào động từ LÀ, cùng nhiều ngữ cảnh của nó, để LÀ trở nên KHÔNG LÀ, và dĩ nhiên với không ít ngỡ ngàng.
Vậy là, sau buổi học đầu tiên, khám phá quan trọng với tôi lại chính là tiếng Việt. Bởi vì ở trường phổ thông chưa một lần các giáo viên ngữ pháp dạy tôi rằng LÀ và CÓ là những động từ, như biết bao những ăn, ngủ, nói năng, hoạt động đi lại khác.
Cũng trong buổi học đầu tiên ấy chúng tôi đã phải ghép lại những từ vựng tìm thấy trên bảng đen, để giải thích vì sao người Việt Nam lại xanh xao như thế, bé nhỏ như thế.
Những buổi học sau đó đều đều tiếp diễn, với số lượng học trò không ổn định, nhưng tôi cũng bắt đầu quen thân với một số ở trong lớp. Họ làm đủ ngành nghề, thuộc mọi lứa tuổi. Họ là những học trò trung thành và chăm chỉ nhất. Họ đến rồi đi, rồi quay lại. Các lớp học cũng vậy, khi thì chiều chủ nhật khi thì các thứ năm hoặc các thứ ba.
Năm tháng trôi đi, có lẽ Nguyễn Mạnh Tường là người đã thấy chúng tôi lớn lên, già đi, trưởng thành hơn. Nhưng điều kỳ lạ hơn cả, là ông không hề thay đổi. Cứ chiều đến ông lại ra sân vận động chơi tennis, trước khi trở lại công việc. Khi chúng tôi đến lớp bao giờ trên bảng đen ông cũng đã viết sẵn rất cẩn thận những từ vựng cùng mẫu câu mới. Bao giờ ông cũng vào lớp đúng giờ và thường xuyên con mèo lông xám, nhiều tuổi và ít lời, lại đến nằm gọn trong lòng ông, cũng rất đúng giờ.
Đám học trò của ông có thể chia thành hai nhóm. Một là dân tiếng Pháp chuyên nghiệp, đã hoặc đang theo học các trường ngoại ngữ, hoặc đang đi làm cho các báo tiếng Pháp, hoặc cho sứ quán Pháp ở Hà Nội. Còn một nữa, là lũ nghiệp dư chúng tôi. Trình độ như vậy rất chênh lệch, nhưng tất cả đều có thể thu về cho mình những gì cần thiết và phù hợp.
Chúng tôi học tiếng Pháp, nhưng không chỉ một mình tiếng Pháp.
Mỗi khi học thêm một từ vựng chúng tôi cũng làm quen với nguồn gốc của nó, với tiếng La-tinh, và các họ hàng của nó trong tiếng Hy-lạp, rồi tiếng Ý.
Mỗi buổi học chúng tôi cũng được nghe giảng xung quanh những chủ đề khác nhau, về lịch sử, về văn hóa, và nghệ thuật. Nhiều chủ đề được kéo dài hàng tuần lễ. Ông giảng cho chúng tôi về nền văn minh Địa Trung Hải, về những cuộc đại chiến, về quân đồng minh, về sự ra đời của L’ONU…
Ông cũng đưa chúng tôi trở lại thực trạng Việt Nam, để cùng chuyện trò về lịch sử, về xã hội, về con người đương thời và đạo đức của họ, về những sự kiện thời sự buồn tẻ chứ không nhiều hổ lốn như bây giờ.
Tất cả học trò của ông có lẽ sẽ không quên được những bài giảng về cuộc Cách mạng Pháp, về lời tuyên thệ quyền con người và quyền công dân đã có ở bên Pháp từ thế kỷ 18. Những từ vựng ấy người đương thời chỉ có thể thì thào với nhau nơi vắng người. Những kiến thức ấy không thể lấy được từ nền giáo dục chính thống lúc bấy giờ.
Sau những buổi học như vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là viết lại những gì đã thu nhận được trên lớp, để ở buổi học tiếp theo ông sẽ đọc và sửa lỗi chính tả, và dĩ nhiên không chỉ lỗi chính tả.
CON NGƯỜI VÀ HAI VÔ CỰC
Những năm cuối đại học Mỹ Thuật, tôi và nhiều bạn bè không ít lần loay hoay trong những câu hỏi tưởng vô nghĩa mà lại giàu ý nghĩa. Chúng tôi là cái gì? Làm nghệ thuật để làm gì? Cuộc sống khốn khó khiến những họa sĩ tương lai hoài nghi ngay cả bản thân cùng con đường mà họ sẽ bắt đầu.
Tôi tiếp tục đến lớp tiếng Pháp. Mỗi tuần lại một lần, khi buổi chiều chuẩn bị kết thúc, tôi lại đạp xe chầm chậm qua nhiều phố vắng. Rồi men theo hồ Ha-le, rồi lại vào nhiều phố vắng. Trong đầu vương vấn những câu tiếng Pháp chưa thuộc. Tôi học ngoại ngữ cả trong lúc đi.
Khi tan lớp học, thành phố đã lên đèn nếu như không bị cắt điện. Tôi lại đạp xe men theo bóng tối của Hà Nội. Tôi quay về những phố vắng. Trong đầu lại vương vấn một số từ vựng mới chưa quen. Tôi về nhà. Tuần lễ nào cũng một lần với một mớ tiếng Pháp. Nhưng nước Pháp vẫn xa vời, chưa bao giờ tôi nghĩ tới.
Thời gian ấy khi Nguyễn Mạnh Tường đã gần 80 tuổi, ông đề nghị lớp học làm việc về Blaise Pascal, một tác giả Pháp của thế kỷ 17. Ông này là nhà toán học, vật lý học, nhà phát minh, ông cũng là triết gia, còn rất xa lạ với người Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu bằng tiểu sử của ông, cùng một tai nạn kỳ lạ trên cầu Neuilly đã khiến ông cống hiến toàn bộ những công việc cuối cho triết học và tôn giáo.
Những giờ học đặc biết ấy thực sự cuốn hút, nhất là khi Nguyễn Mạnh Tường đọc và giải thích cho cả lớp nghe nhiều trích đoạn từ cuốn “Pensées”. Tôi rất muốn ghi lại một số đoạn ở đây, bởi vì những năm sau đó tôi còn sử dụng lại chúng để lý giải nhiều sự việc quanh mình.
Đấy là khi Pascal viết rằng con người, là một loài lau sậy yếu đuối nhất trong thiên nhiên, nhưng loài lau sậy ấy biết suy nghĩ. Và rồi, cái vĩ đại của con người thực sự vĩ đại ở chỗ anh ta tự biết mình khốn cùng. Trái lại, cây cỏ không tự biết nó thế nào nên sẽ phải vĩnh viễn khốn cùng.
Ở một chỗ khác, Pascal cũng viết rằng con người ấy, thực sự bé nhỏ, đến mức hoàn toàn có thể biến mất trong vương quốc nơi anh sống. Vương quốc cũng vô cùng bé nhỏ trên trái đất. Trái đất cũng vậy, một dấu chấm khiêm nhường trong vũ trụ.
Đấy là những gì có thể được nhìn thấy. Nhưng khi ở bên ngoài mọi khả năng thị giác, vũ trụ vẫn còn tiếp tục mở rộng, bởi trí tưởng tượng. Chỗ nào cũng có thể là tâm điểm, mà chẳng có nổi ở đâu một chu vi của vũ trụ. Con người vì vậy nhỏ bé lắm, đến mức chẳng là cái gì cả, trong vô tận.
Nhưng con người ấy cũng vô cùng khổng lồ, bởi vì trong mỗi thân thể có muôn vàn những bộ phận tí xíu, trong mỗi bộ phận có những mạch máu, trong mạch máu có máu, trong máu có những giọt máu, trong giọt máu có hơi nước, rồi tất cả còn tiếp tục được phân chia thành những phần nhỏ nữa, rồi vô cùng nhỏ, đến khi trí tưởng tượng mệt nhoài, đến vô tận.
Con người vì vậy cũng là tất cả, đối diện với cái không là gì cả.
Vị trí của con người do đó phải nằm giữa hai vô cực, giữa cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ, giữa Không và Có. Con người chỉ có thể là trung tâm của vũ trụ.
Tư tưởng của Pascal như vậy gặp lại nền văn minh Hy-lạp, và chủ nghĩa nhân văn của thời kỳ phục hưng ở châu Âu. Con người được đề cao, thông qua những vẻ đẹp hoàn toàn thị giác, của cơ thể, của khuôn mặt.
Quan niệm này hoàn toàn xa lạ với chúng tôi, những học trò đến từ một nền giáo dục không đầy đủ. Thời bấy giờ chúng tôi chỉ được trang bị bởi trường học những định nghĩa không về nhân văn, mà về con người mới của xã hội mà chúng tôi đang sống.
Con người trong xã hội Việt Nam thường xuyên đứng sau những ngôn từ như đạo đức, bổn phận, sự trung thành… Con người ở Việt Nam đã nhỏ bé sẽ phải mãi mãi nhỏ bé, đã vĩ đại sẽ muôn đời vĩ đại. Tôi chưa bao giờ được học trên ghế trường phổ thông, rằng con người vừa nhỏ bé đến mức sẵng sàng biến mất, vừa vĩ đại có thể so sánh với vũ trụ. Rằng cuộc sống cũng vừa ý nghĩa, vừa hư không.
Những bài tiếng Pháp ở lớp Nguyễn Mạnh Tường vô tình mà tiếp nối một cách hết sức tình cờ vào những băn khoăn của lũ nghệ sĩ nhiều lý sự của trường Mỹ Thuật. Vậy đấy, chúng tôi chẳng là cái gì cả, nhưng chúng tôi cũng là tất cả.
LỚP GIẢNG VĂN
Rất lâu sau này tôi hiểu thêm một điều, rằng Pascal là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy cho học sinh trường phổ thông Pháp. Những bài giảng này có thế đã đưa người thầy của chúng tôi về tuổi trẻ của ông. Những tư tưởng nhân văn mà ông đã truyền thụ cho chúng tôi có thể nhắc lại với ông phần nào cả một quá khứ nhân văn mà ông đã sống, mà vì nó ông đã mất đi tất cả: chức vụ, sự sùng ái của chính quyền, việc làm. Để về dạy tiếng Pháp tại gia.
Vào giờ cuối của chuyên đề Pascal, ông giữ chúng tôi lại và bảo: “Bác sẽ mở thêm một lớp giảng văn, chỉ dành cho văn học”. Từ lâu rồi ông không tổ chức thêm một lớp nào cả cho học sinh mới bắt đầu, có lẽ ông cảm thấy tuổi già và thời gian không cho phép nữa.
Vậy là tất cả chúng tôi chuyển sang lớp giảng văn. Lớp học vẫn trộn lẫn hai nhóm học trò: những dân tiếng Pháp chuyên nghiệp và lũ nghiệp dư viết giỏi hơn nói. Vẫn một tuần một buổi.
Toàn bộ năm học cuối của tôi được tập trung xung quanh văn học Pháp thời Trung cổ. Dĩ nhiên không chỉ có văn học, bởi vì không thể bỏ qua những bối cảnh lịch sử, không thể không tham khảo sự hình thành của tiếng Pháp, và nhất là phải được trang bị một phương pháp nào đấy khi bình giảng văn học.
Vậy là lớp tiếng Pháp trở thành lớp giảng văn. Tôi còn nhớ những bài học với “Chanson de Roland”, “Roman de la Rose”, “Roman de Renard”, cùng những “Tristan et Iseult” và những ngụ ngôn. Thời gian ấy tôi đã tốt nghiệp mỹ thuật và đã đi làm. Cũng có những lần tôi phải xa Hà Nội, hai tháng sau quay lại lớp giảng văn, mọi người thì thào với tôi: “Vẫn La housse partie” mà chúng tôi đã bắt đầu từ trước khi tôi vắng mặt. Đấy là một ngụ ngôn rất ngắn, chưa đầy một trang giấy, nhưng những gì được phát triển xung quanh nó lại kéo dài hàng tháng. Đấy cũng là một câu chuyện hài hước mà xúc động, và dĩ nhiên kết thúc bằng một thông điệp đạo đức, đúng như đặc điểm của văn học thời bấy giờ.
Những bình giảng văn học trong lớp tiếng Pháp cũng dĩ nhiên không thể chia sẻ gì với môn trích giảng văn học mà chúng tôi đã học ở trường phổ thông. Mà theo tôi, khoảng cách lớn nhất của chúng là hai phương pháp bình giảng. Một làm việc trên cách thức diễn đạt của ngôn ngữ và đối chiếu những tình huống đặt ra trong câu chuyện với hoàn cảnh xã hội cùng lịch sử. Một đưa văn học vào bên dưới những tiêu chuẩn và ý tưởng cao đẹp, thường xuyên không liên quan gì đến văn học.
Lớp giảng văn, vì vậy cũng là nơi để người thầy của chúng tôi đối thoại với tuổi trẻ và ký ức của ông. Nhưng trên hết, để ông kể với chúng tôi rằng đã có một cách đối xử hoàn toàn khác, của người đọc với văn học, của người đương thời với văn hóa và cả với lịch sử nữa.
NƯỚC PHÁP
Năm ấy là 1989. Tôi nhận học bổng du học ở Pháp. Nếu như tôi thường xuyên vương vấn với tiếng Pháp, trong 7 năm dài, thì đây là lần đầu tiên tôi nghĩ tới nước Pháp. Nhưng chỉ vậy thôi bởi vì tôi vẫn cho rằng tất cả chỉ là viễn tưởng. Ngay cả khi tôi đã cầm hộ chiếu và vé máy bay trong tay.
Ông Nguyễn Mạnh Tường cũng tạm thời nghỉ dạy, bởi vì ông chuẩn bị một chuyến đi mang tính chất gia đình, cho nước Pháp, sau hơn nửa thế kỷ xa cách.
Ông bảo tôi: “Cháu cho bác ngày bay, để bác đặt vé đi cùng cháu. Bác không có ai đón ở sân bay cả”. Những ngày cuối thật bận rộn. Tôi hẹn ông ở sân bay Nội Bài.
Đến ngày khởi hành, chuyến đi của tôi bị dừng lại, vài giờ trước khi ra sân bay, bởi một cú điện thoại từ đâu đấy về ban giám hiệu trường mỹ thuật nơi tôi làm việc. Đúng như linh cảm của tôi về một nước Pháp viễn tưởng. Giống hệt. Nhưng tác hại kinh khủng của nó còn kinh khủng gấp bội lần cuộc du học thất bại của tôi ở một nước Đông Âu, sáu năm trước, khi tôi cũng đã một lần nhận học bổng, sau khi đã học xong năm thứ nhất ở trường đại học mỹ thuật.
Rất nhiều phiền phức sau đó xảy đến với tôi, cùng những chạy vạy, những cuộc phỏng vấn nơi các cơ quan nhiều thẩm quyền, những hy vọng và thất vọng. Hai tháng sau, tôi nhận quyết định được phép du học lần thứ hai.
Nhưng để tới được nước Pháp tôi còn phải làm một vòng rộng lớn quanh Đông Âu bởi vì phòng vé hãng hàng không trả lời rằng trong vòng 12 tháng tới mọi chuyến bay đến vùng tư bản đều không còn chỗ. Vậy là sau 10 ngày lang thang không khách sạn trên những sân bay buồn ngủ và xa lạ, cuối cùng tôi cũng đến được nước Pháp.
Ông Nguyễn Mạnh Tường lúc ấy vẫn còn ở Paris. Ông kể với tôi rằng ông đã tìm tôi ở sân bay Nội Bài. Ông đã tìm tôi trong máy bay. Chỉ lúc máy bay cất cánh ông mới hiểu rằng một chuyện không hay đã xảy đến với tôi. Ông cũng kể rằng một người bạn tôi đã đến chờ tôi ở sân bay Roissy, đã không thấy tôi, nhưng đã nhận ra ông một mình với đống đồ đạc. Người bạn ấy của tôi đã đưa ông về Paris.
Năm năm sau, từ nước Pháp tôi quay trở lại Việt Nam. Tôi có đến thăm ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông đã thực sự nghỉ dạy. Ông tiếp tôi, vẫn như buổi sáng nào của 12 năm về trước, khi tôi đến gặp ông lần đầu tiên, trong căn phòng khách này nơi ít ánh sáng trời. Đấy là lần cuối cùng tôi gặp ông.
Paris tháng 1 năm 2014
LÀM SAO ĐỂ TẠO HIỆU QUẢ LÂU DÀI KHI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH?
Ngày 14 tháng 1 năm 2023
Nhân đọc lại bài "Xuân vọng" của Đỗ Phủ
--
Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hoả liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn câm (kim).
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thăng trâm.
--
Dịch nghĩa
Núi sông còn đó mà nước mất rồi,
Thành ngày xuân hoang tàn, cỏ cây rậm rạp.
Cảm thương thời thế, con người nhìn hoa mà mắt ướt lệ,
Buồn vì ly biệt, nghe tiếng chim hót cũng thấy ghê sợ
Khói lửa báo giặc giã cháy suốt ba tháng liền
Thư nhà lúc này ngàn vạn cũng không mua nổi.
Gãi mái đầu bạc thấy càng thêm thưa, ngắn,
Muốn cài trâm mà chẳng được.
Theo Thi viên
--
MẤY LỜI CHÚ GIẢI VÀ BÌNH LUẬN
Tôi đọc bài thơ này lần đầu qua cuốn Thơ Đường tập II (1963), chỉ láng máng cảm thấy thích vì nghe đâu nó được coi là một trong những bài hay nhất của Thơ Đường và đã đưa vào Đường thi tam bách thủ.
Nhưng hay nhất trong bài chính là hai câu đầu và đây là điều mà mãi sau chiến tranh tôi mới hiểu.
Quốc phá sơn hà tại
Chỉ có năm chữ mà phác họa ra cả khung cảnh chiến tranh và cái hậu quả tổng quát của nó.
Cái làm ta cám cảnh chính là tình trạng nước đôi, tất cả dường như còn, mà tất cả lại đã mất hết.
Cái còn chỉ làm tăng thêm vẻ bi thảm mà cái mất mang lại.
Theo cách hiểu này, bài thơ toát ra một tinh thần nhân bản rất hiện đại.
TẤT CẢ DƯỜNG NHƯ CÒN,
MÀ TẤT CẢ LẠI ĐÃ MẤT HẾT.
Có lẽ đây cũng là tâm trạng khiến cho một ai đó đã thốt lên rằng, trong chiến tranh không bao giờ có kẻ chiến thắng với nghĩa trọn vẹn của chữ ấy.
Đối phương càng dũng mãnh thì chiến thắng của ta càng thêm vẻ vinh quang, cố nhiên rồi.
Nhưng để thắng một đối phương dũng mãnh như thế, hẳn ta đã trầy da sứt vẩy và trở nên thân tàn ma dại.
Sau chiến tranh, bên thắng cuộc lại thường có lối nghĩ hiếu thắng, tưởng mình làm gì cũng được.
Nếu không thay đổi, họ sẽ thua trong công cuộc hồi phục đất nước là vì vậy.
Hai câu cuối bài thơ nói đến một thứ buồn bã mà con người không sao vượt lên nổi. Con người lúc này đã tiều tụy thân thể hao mòn tinh thần bại hoại, cảm giác cuối cùng còn lại chỉ là sự bất lực.
--
Thế hệ tôi vừa trên dưới hai mươi thì bắt đầu cuộc chiến tranh quyết liệt mà mãi tới 4-1975 mới kết thúc.
Một số chúng tôi lại có trong tay ngòi bút, chúng tôi làm thơ làm văn viết sách viết báo. Viết để làm gì? Hồi ấy cả bọn chúng tôi sống theo mệnh lệnh là chỉ được viết để động viên người lính ở chiến trường.
Chúng tôi không có thời gian và cũng được hướng dẫn là không cần biết là người xưa đã viết về chiến tranh như thế nào.
Thơ làm hồi chống Mỹ in ở Hà Nội thường kỵ nói về cảnh tàn phá và lại có một thứ luật lệ cấm tiệt các nhà thơ không được nói đến nỗi buồn.
Ngày nay đọc lại một bài như bài Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật không những thấy ngớ ngẩn vì câu lý sự cùn
"Không có kính không phải vì không có kính
– Bom giật bom rung kính rụng mất rồi" --,
mà còn thấy giả tạo thô thiển trong cái câu tả thái độ con người
– Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Trong hoàn cảnh ấy, tôi thường nhớ lại Xuân vọng trên đây của Đỗ Phủ như một mẫu mực về sự miêu tả khái quát về chiến tranh.
Dường như bắt đầu bài thơ, Đỗ Phủ đã có cảm giác buồn bã và ông đã để mặc cho dòng cảm xúc của mình trôi nổi, đến nỗi người ta thường cảm thấy hụt hẫng khi đọc đến những chữ cuối.
Hụt hẫng chốc lát mà bâng khuâng lâu dài.
Nhà thơ không lo xem mình viết thế này để làm gì mình đang thuộc về bên nào, bên thua hay bên thắng.
Ông chỉ diễn tả một cảm giác nhân bản mà con người xưa nay thường trải nghiệm.
Con người qua chiến tranh trong các thời đại về sau đều tìm thấy mình qua thơ ông, dù ông viết nên đã trên ngàn năm.
PHẠM TIẾN DUẬT NHƯ TÔI BIẾT VÀ NGHĨ
Ngày 15 tháng 1 năm 2023
Bài của Thanh Thảo
Nguồn https://thethaovanhoa.vn/pham-tien-duat-nhu-toi-biet-va...
--
Lời dẫn :
THEO THỜI GIAN CHÚNG TA ĐÃ VÀ SẼ
CÓ NHỮNG CÁCH HIỂU KHÁC ĐI
VỀ MỘT ĐỀ TÀI QUEN THUỘC -- CHIẾN TRANH
Sau bài viết hôm trước của tôi về thơ Đỗ Phủ, hôm nay tôi muốn giới thiệu thêm một bài viết khác của nhà thơ Thanh Thảo về thơ Phạm Tiến Duật, giữa chúng tôi theo tôi hiểu là có sự gần gũi ở cái ý là đã đến lúc chúng ta nên bàn thêm về đề tài "chiến tranh và thơ VN".
***
1.
Lúc nhà thơ Phạm Tiến Duật còn sống, tôi có một lần đi Tam Đảo cùng anh và vài lần cùng uống bia hơi. Tôi đọc thơ Phạm Tiến Duật từ năm 1970, khi tôi còn ở Hà Nội. Đó là thời thơ Phạm Tiến Duật chiếm lĩnh thi đàn thơ miền Bắc.
Nhưng ngày từ hồi ấy, khi mới tập tọng làm thơ, thì bài tôi thích trong những chùm thơ in trên báo Văn nghệ của Phạm Tiến Duật lại là bài Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành, rồi sau đó là bài thơ về những anh lính trinh sát trong rừng của anh mà tôi đã quên đầu đề.
Đó là hai bài thơ viết về chiến tranh từ một góc nhìn khác, một cảnh giới khác, cảnh giới của những nỗi khổ đau. Thậm chí, trong bài thơ về lính trinh sát trong rừng, là cảnh giới nỗi đau không thể phân biệt của người lính hai chiến tuyến.
Đoạn kết bài thơ viết về bức ảnh vợ của người phi công Mỹ khi bị bắn rơi máy bay. Nhà thơ viết, đại ý, “tôi đã cứu bức ảnh ấy” khi máy bay Mỹ bị bắn cháy, khi tấm ảnh gia đình của người phi công rơi ra. Tôi còn nhớ rõ, về sau, khi bài thơ này được in lại trong các tuyển tập thơ, thì đoạn cuối với hình ảnh nhà thơ “cứu bức ảnh” không còn thấy nữa.
Năm 1974, khi tôi ở trong rừng miền Đông Nam bộ, vừa được in trên tạp chí Văn nghệ giải phóng bài thơ đầu tiên, bài Một người lính nói về thế hệ mình, thì gặp rắc rối. Còn ở Hà Nội, Phạm Tiến Duật cùng Ngô Văn Phú cũng bị phê bình dữ dội khi cho in hai bài thơ Vòng trắng và Sẹo đất trên Tạp chí Thanh niên, mà sau hòa bình tôi được biết, người đưa in hai bài thơ “lạ” ấy là một người bạn học cùng lớp ở Đại học Tổng hợp Văn, anh Bá, bút danh Định Nguyễn, một nhà phê bình văn học tuy còn trẻ, nhưng được đánh giá là “đầy triển vọng”.
Vào những tháng cuối năm 1975, khi tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội và đi an dưỡng ở Hải Dương, rất hay đạp xe về Hà Nội chơi với bạn bè, hai anh em chúng tôi là “bạn rượu” thường xuyên của mấy quán rượu quen và bia hơi danh tiếng, thậm chí phải bán cả áo lẫn quần quân phục để… uống rượu. Nghe Định Nguyễn kể, tôi mới thấu cảnh Phạm Tiến Duật bị phiền toái như thế nào trong khi ở chiến trường Nam bộ, tôi cũng bị chung cảnh ngộ.
Tôi thích thơ Phạm Tiến Duật không phải ở những bài thơ thông minh và có chút láu lỉnh của anh, mà thích những bài thơ anh viết về nỗi đau khổ của nhân dân mình trong chiến tranh:
“Nhớ câu nói của mẹ, câu nói như chắt từ nước mắt
- Thà ăn muối suốt đời
Còn hơn là có giặc”
(Trích trong bài Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành)
Tôi cũng không hiểu vì sao, cho tới bây giờ, khi lên mạng tìm lại bài thơ Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành của Phạm Tiến Duật, một bài thơ ngắn, mà tôi cho là gần với thơ Đỗ Phủ, viết về chiến tranh và nỗi đau cùng cực của nhân dân, mà tìm mãi vẫn không ra, dù những bài thơ chiến đấu Trường Sơn của anh Duật thì rất dễ tìm.
Tôi yêu thích và quan tâm tới phía “ít được ngợi ca” trong sự nghiệp thơ Phạm Tiến Duật, vì tôi nghĩ, đó mới là phần thơ còn lại lâu dài trong sự nghiệp thi ca của nhà thơ tài năng và độc sáng này.
Mà lạ, những bài thơ thuộc “phần ít sáng” lại không thể hiện khả năng “độc, lạ” của thơ Phạm Tiến Duật, vậy mà nó sáng hết cỡ, sáng trong trẻo như những giọt nước mắt chân tình với nhân dân mình. Nó thể hiện toàn bộ tâm hồn anh, tấm lòng anh, giản dị, đầy yêu thương và chia sẻ, nhiều lúc xót xa, khi đến với nhân dân trong chiến tranh.
Không tô vẽ, không làm quá lên những nét anh hùng, đây là hình ảnh một nhân dân chịu đựng, nghiến răng chịu đựng chiến tranh, thậm chí như bà mẹ Nam Hoành đã thổ lộ với nhà thơ Tiểu đội xe không kính là:
“Thà ăn muối suốt đời/
Còn hơn là có giặc”.
Câu thơ chính là câu nói của bà mẹ nông dân, nhà thơ chỉ ghi lại nguyên văn, không hề sáng tác ra, vậy mà nó găm vào ta đau nhói.
Vì có giặc giã là đau khổ vô cùng, sống chết không biết lúc nào, là sống mà không ra sống. Đất nước và nhân dân ta đã vượt qua những tháng năm chiến tranh tưởng chừng không thể vượt qua ấy. Thơ phải đi tới tận cùng những đau khổ của nhân dân mình bằng những bài thơ như Nhớ bà mẹ Nam Hoành.
2.
Và không chỉ trong chiến tranh. Sau hòa bình tới 22 năm, Phạm Tiến Duật công bố trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa, năm 1997. Khi đi cùng nhà thơ Vũ Cao - tác giả của Núi Đôi- về Thái Bình, Phạm Tiến Duật đã gặp hàng trăm nữ TNXP ngày trước là đồng đội, bây giờ xuống tóc vào tu trong các ngôi chùa làng. Hỏi chuyện các nữ tu mà anh từng ca ngợi họ trong màu áo TNXP, Phạm Tiến Duật đã ngộ ra một điều: Những người phụ nữ Việt Nam từng tham gia chiến tranh, sau chiến tranh họ lại phải bước vào một cuộc chiến khác, cuộc chiến từ chính số phận của mình. Trong cuộc chiến này, họ đã thua, kể cả khi những nhà thơ chúng ta ngợi ca là họ đã thắng.
Phạm Tiến Duật đã nhìn ra cái thua này từ chính những người nữ đồng đội anh dũng ngày trước, họ từng thắng trong cuộc đối đầu kinh khủng với không quân Mỹ.
Trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa là lời chia sẻ đến nghẹn ngào của một nhà thơ từng khoác áo lính, từng đi tới và đi cùng nhiều đơn vị nữ TNXP ở chiến trường khu Bốn, trên Trường Sơn trong đoàn 559.
Tôi xin trích ra đây một chương của trường ca đó, dẫn từ bài viết rất cảm động của nhà giáo Huỳnh Văn Hoa, Đà Nẵng:
NỬA ĐÊM GÕ MÕ
Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm
Sao quá nửa đêm vẫn chưa đi ngủ
Sao sư thầy không gõ mõ
Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình
Có phải đây là Thị Kính hiện hình
Đi tu hẳn khó khăn vì tuổi chưa già được
Dù là nữ tu có thể nào thoái thác
Chính cơ thể mình - thân gái trời ban
Trong phòng riêng có giờ phút ngỡ ngàng
Thấy dấu hiệu của thời còn sinh nở
Tội nghiệp màu trắng, tội nghiệp màu đỏ
Tội nghiệp màu xanh, tội nghiệp chính thân mình
Nam - mô - A - Di - Đà - Phật
Cho con xin từ giã phận mình
Những ham muốn đời thường đừng bắt con đeo đẳng
Lộc của người xin trả cho người
Sự yên bình đừng phả màu cay đắng
Sư thầy tụng kinh từ đầu đêm
Sao quá nửa đêm vẫn chưa đi ngủ
Sao sư thầy không gõ mõ
Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình
Có thể nào những day dứt thời bình
Cũng có thể làm vết thương thuở nào tái phát
Trời đã về khuya tiếng mõ dường thưa thớt
Tiếng cầu kinh nhỏ dần trong gió đêm
(Bài thơ này thuộcchương 3 của trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa, trong Phạm Tiến Duật toàn tập, NXB Hội Nhà văn, 2000)
Đoạn trích này tuy ngắn, nhưng tôi tin bạn đọc sẽ khó cầm được lòng mình. Cái “cuộc chiến sau cuộc chiến” chính là ở số phận đau khổ của những nữ tu trong chọn lựa cuối cùng của mình, ngay khi mình còn khả năng sinh nở.
“Sao sư thầy không gõ mõ/
Lại vừa tụng kinh vừa gõ đầu mình”,
cái hành động tưởng như bất thường đó ở một nữ tu chưa dứt căn duyên với cuộc đời này khiến chúng ta không thể yên ổn trong tổ ấm của riêng mình. Thơ kêu gọi tới tình nhân loại là ở đó.
Tôi đã nhờ các bạn tôi tìm lại cho tôi tác phẩm Tiếng bom và tiếng chuông chùa này, cùng với bài thơ ngắn Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành. Và nếu được, thêm bài thơ về những người lính trinh sát trong rừng.
Thơ có thể rất hay khi viết về thân phận mình, nhưng tôi nghĩ, thơ còn hay hơn khi viết về thân phận của nhân dân mình, một nhân dân đóng góp tất cả cho kháng chiến, một nhân dân còn đau khổ sau khi kháng chiến đã thắng lợi.
3.
Phạm Tiến Duật đã giúp chúng ta không quên một bộ phận nhân dân ấy, như nữ thi sĩ Olga Berggoltz đã từng viết sau 900 ngày Leningrad bị phong tỏa bởi phát xít Đức:
“Không một ai bị lãng quên/
Không một cái gì bị quên lãng”.
Thực ra, bây giờ chúng ta đã quên nhiều người, quên nhiều việc lắm rồi.
Còn nhớ, sau khi đọc trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa, tôi không nhớ mình đọc ở một tạp chí nào đó, khi viết trường ca Metro in năm 2009, tôi đã có đoạn thơ này từ gợi ý ở trường ca Phạm Tiến Duật:
“Chúng ta đã qua ga nào nhỉ?
Em gái thanh niên xung phong bức thư viết vội
“mai em lên đường chúc anh nhiều may mắn”
Có thể là anh may mắn hơn em
Những cô gái sau này xuống tóc
Những cô gái gõ mõ gõ chuông lương vương khói hương trong trường ca phạm tiến duật
Họ đi từ cửa rừng tới cửa phật
Xin một chút an bình
Dứt căn duyên
Quên đi tình yêu, quên đi chồng con
Cây bằng lăng hay cây bồ đề
Cây nào chẳng là cây
Hạnh phúc
Hay là em may mắn hơn anh?
(Trích trong trường ca Metro của Thanh Thảo)
Bây giờ, người ta gọi những gợi ý từ các nhà thơ với nhau như thế là “liên văn bản”. Vậy là tôi có may mắn được liên văn bản trong một đoạn thơ với Phạm Tiến Duật, với câu chuyện khiến tôi không thể yên ổn, không thể trả lời được câu hỏi: “Vậy thì ai may mắn hơn ai?”.
Năm 2011, khi lên Cao Bằng với nhà thơ Trần Hùng, tôi được đưa đi thăm mộ anh Kim Đồng. Giữa giờ Ngọ. Nắng trưa rát bỏng. Tôi gặp những bà mẹ ngồi bán hương trước mộ anh. Bài thơ được tôi viết ngay sau đó, xin trình bạn đọc như một lời ngỏ sau cùng: Xin đừng quên những người khốn khổ.
NHỮNG NGƯỜI BẠN CỦA KIM ĐỒNG
những người bạn của Kim Đồng
ngồi bán hương trước mộ anh
sau bảy mươi năm
những bà cụ già như núi đá
tóc không mây trắng
da chẳng đồi mồi
mà loang lổ đất thung Hà Quảng
nửa đen nửa nâu
ngồi bán hương
bên mộ người bạn thời chăn trâu
Dền(*) ơi, bạn dừng năm mười bốn tuổi
còn bạn của bạn chậm chạp lê cho hết vòng đời
bán hương ngày được dăm ba nghìn tiền lời
tiền ấy bạn cho, bạn đã chết
người chết nuôi người sống được sao?
sao không được
mười hai giờ trưa
khói lên thẳng lưng còng xuống
nước mắt khô ngay trên mí mắt
có lẽ do trời nắng quá
Cao Bằng-Quảng Ngãi, 30/7/2011
(*) Liệt sĩ Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền
NGÀY XƯA YÊN ẤM QUÁ
Ngày 20 tháng 1 năm 2023
Đọc lại Lưu Quang Vũ: “Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn”
--
Bài thơ này, theo chỗ tôi nhớ, được viết khoảng mùa đông 1972, nhưng hồi đó tác giả đang phải sống lang thang bên lề xã hội, thơ làm ra chỉ để đọc với bạn bè, đến muốn in báo kiếm ăn cũng không được, nói chi tới việc đưa vào tập này tập nọ!
Từ những năm 1980 trở đi, để ghi nhận công lao phục vụ xã hội hậu chiến trên lĩnh vực sân khấu của tác giả, cái phần trước đó bị coi là bộc lộ con người bất trị trong thơ Vũ mới dần được công bố trở lại.
Năm 1993, khi gia đình lựa chọn thơ LQV viết trong những năm cuối của chiến tranh để làm nên tập “Bầy ong trong đêm sâu”, tôi có may mắn được đảm nhiệm vai trò biên tập viên.
Tôi nhớ là trong bản thảo ban đầu gia đình nộp nhà xuất bản đã có bài thơ này, nhưng Ban Giám Đốc không duyệt.
Mãi tới 2010 nó mới chính thức được công bố trong một tuyển tập của Lưu Quang Vũ tập “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”, NXB Hội nhà văn, 2010.
--
Bài thơ gợi nhớ tới thơ Đường ở một vài khía cạnh
- cách đặt đầu đề rất dài;
- lối thơ bảy chữ theo thể cổ phong;
- lối làm thơ nhân có bữa rượu chia tay bè bạn nói chuyện thời thế.
(Lâm ở đây là Nguyễn Lâm mà tôi đã nhắc tới trong bài “Lưu Quang Vũ và những vần thơ viển vông cay đắng u buồn viết trong những năm chiến tranh” , coi như lời giới thiệu đặt ở đầu tập “Bầy ong trong đêm sâu”, còn Khánh là Đào Trọng Khánh, một đạo diễn phim tài liệu mà cũng là một thi sĩ. Lúc này Khánh đang chuẩn bị đi B tức vào chiến trường.)
- và bao trùm toàn bộ là nỗi buồn day dứt trước thế sự đảo điên cuộc chiến kéo gây bao tang thương khiến người ta chỉ có cách gọi thời của mình là thời loạn. Kèm theo là nỗi khát khao vô hạn về “ngày xưa yên ấm quá”, một thuở thanh bình.
Thanh bình theo nghĩa cổ điển chứ không phải hòa bình theo nghĩa thông tục của từ này - có khi hòa bình mà vẫn loạn.
Toàn những chủ đề lúc ấy bị coi là húy kỵ!
Thời xưa ám ảnh về thanh bình bao trùm trong thi ca chứ rất ít gặp những bài thơ ca ngợi chiến tranh như ở ta thời nay.
--
Với khuôn mặt như thế, cả về tư tưởng lẫn giọng điệu, bài thơ đạt tới trình độ mà tôi tạm gọi là một cốt cách cổ điển.
Nó đáng được xem như một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh ở thời đại chúng ta, nó có thể được đọc lâu dài, như tôi vừa bàn thế nào là “thơ viết về chiến tranh mà hay” lần trước, nhân bài “Xuân vọng”.
--
ĐÊM ĐÔNG CHÍ
UỐNG RƯỢU VỚI BÁC LÂM VÀ BÁC KHÁNH
NÓI VỀ NHỮNG CUỘC CHIA TAY THỜI LOẠN
Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở
Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường
Cơ sự làm sao đến nỗi này
Mông lung không đoán được ngày mai
Máu chảy thành sông thây chất núi
Bè bạn tan hoang mình rã rời
Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không
Mọi chuyện thiêng liêng thành nhảm nhí
Khắp nơi trí trá lọc lừa nhau
Nước Pháp khôn ngoan nước Nhật giàu
Nước Mỹ lắm bom mà cực ác
Nước Nga hiềm khích với nước Tàu
Nước Việt đói nghèo thân cơ cực
Đất hẹp trụi trần vạn khổ đau
Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba thằng da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi
Đường xa bom phá tàu không về
Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
Bài ca thanh bình đêm cũ
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”
Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa
Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi.
TẾT HÒA BÌNH QUÝ SỬU 1973
Ngày 21 tháng 1 năm 2023
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị -Hà Nội 1972 – 1975”
----
3/2/73 (30 tháng chạp Nhâm Tí)
Phố xá Hà Nội chiều tất niên, tôi sống những giờ phút thảng thốt. Tết mà lại nắng, mọi thứ nhếch nhác cứ trơ ra trong nắng. Bụi bẩn. Xe đạp phóng ẩu. Những người đàn bà lo sinh kế. Mấy cô gái mới lớn thích diện nhưng nghèo. Những đứa trẻ hau háu đợi người đến bơm xe đạp. Trong khi đó thì người ta vẫn vui vẻ ra mặt. Thỉnh thoảng lại một tiếng pháo nổ rất bực mình.
... Chính vì muốn giải phóng khỏi tất cả những cái đó, tôi lánh đi, tôi quằn quại tìm cách đi. Lấy danh nghĩa phóng viên, tôi xin theo một chuyến xe lửa Hà Nội vào Vinh.
Đêm 30. Tôi đi để sống với những người khác, hay là để trốn chạy khỏi nỗi chán chường cá nhân-- hai cái đó thật khó phân biệt.
Người từ ga Hà Nội đi, lúc đầu tưởng độ 100, sau 700-800, 1000. Toàn là cán bộ nhà nước, với quá nhiều xe đạp.
Sau những đớn đau tê dại, tưởng như cuộc sống đã mất những thiêng liêng. Nhưng trong những ngày giờ như lúc này vẫn là những náo nức hy vọng.
Đêm nay, tôi sống giữa những người không quen biết, bởi chỉ có một chỗ giống họ là xa nhà. Nhưng cái chính là một không khí khác. Tôi được sống trên một cái gì đang đi. Giữa đêm đen, tôi sống biệt lập trong một vùng ánh sáng xa lạ.
Đến Nam Định thì giao thừa. Lòng tôi mơ theo lửa đỏ -- pháo hoa Hà Nội. Trong khi đó thì ở đây chỉ có những quả pháo nổ lẹt đẹt.
Ở một làng nào, lửa đỏ như vệt B52 trong đêm.
Hay ai đó vui quá cho bắn pháo? Người ta nói chuyện gì lúc giao thừa, lúc vui?
Trên cái toa xe phần lớn bộ đội này, người ta lại nói chuyện chiến thắng. Nói tới tình thế. Nó chịu ta rồi. Nó sẽ cho ta mấy tỉ mỹ kim... Nhưng khi tôi hỏi mỗi người sang năm anh định làm gì, sang năm anh có kế hoạch gì -- thì không ai trả lời cả.
Cũng như bom Mỹ đánh hôm trước, hôm sau trên báo có thơ ngay, còn khi tuyên bố hoà bình rồi, chả thấy ai hé răng gì cả.
- Hôm địch đánh 18, anh ở đâu?
Tôi hỏi câu đó với nhiều người. Ít ai có cái ấn tượng kinh khủng như tôi tưởng.
Trong khi đó, ngay chiều ba mươi trên tàu điện ở Hà Nội, một người đàn bà nói với tôi:
- Làng tôi may quá, chỉ chết có 4 người. Chẳng phải nói chứ chính là nhờ làng tôi làm hầm Cồn Cỏ. Thành ra cũng đỡ được nhiều lắm. Những làng khác, hầm đào nổi quây quây mấy hòn gạch, chết vô khối. Gớm hôm nó đánh xong, tưởng tất cả chết, chỉ mình mình còn sống. Sau thấy cũng còn nhiều người còn sống như mình.
Có một cái gì đấy, như là bất mãn, nảy sinh trong lòng tôi. Bất mãn trước một thực tế già cỗi, trì trệ của đất nước.
Thời đại vừa có gì rộng quá, đến nỗi chúng tôi không hiểu hết được. Lại vừa như là chật quá, vớ vẩn quá, có nhiều chuyện, tôi nghe mãi phát chán.
Tôi vốn không tin rằng mọi xã hội có thể xoay chuyển nhanh. Sống trong xã hội này, càng thấy trì trệ. Vậy mà vẫn thường xuyên bực bội. Gần như muốn phát khóc vì tốc độ chậm rề chậm rệt của chung quanh. Nhớ có lần ngồi trên gác Câu Lạc Bộ Ba Đình nghe nói chuyện, nhìn xuống phía quảng trường, thấy những bóng người đạp xe qua lại lơ thơ. Như từ thế kỷ nào xa lắm hồi vọng lại. Vậy mà chốc nữa, giá tôi đi xuống đó, thì cũng lại tự nhiên y như mọi người khác, cắm cổ đạp vội.
Một ý của Nguyễn Khải (nhân bàn về tình trạng sau chiến tranh mọi người ít nghe đài):
-- Người ta chóng quên ghê lắm. Càng chóng quên là những việc không dây dưa gì đến người ta. Như mình, mình cũng chỉ chú ý tới họ khi chiến tranh, còn bây giờ hoà bình, ai làm gì thì làm, mình biết đâu? Cho nên, mình mới phải nghĩ và nghĩ ngay về cái chuyện thế giới quan tâm đến Việt Nam. Mà quan tâm hơi lâu. Đúng là nó có dính gì đó đến họ, dính về mặt trí tuệ đấy.
Những năm chiến tranh, nhiều dân tộc chia sẻ với chúng ta chống Mỹ với ý nghĩa là dân tộc Việt Nam phải có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình.
Nghe thế chúng ta thấy lòng ấm áp.
Nhưng sau đó rồi thì chúng tôi cảm thấy bơ vơ. Điều mà họ nghĩ, với điều mà chúng tôi nghĩ, là có khác. Họ chờ đợi thấy một Việt Nam khác nhưng chúng tôi lại không có cái điều mà họ đang mong.
Thường thì đôi lúc, tôi cứ kinh sợ vì những đứa trẻ. Nó là biểu hiện sức sống của nhân dân này một cách rõ rệt hơn. Biểu hiện rằng dân tộc này không chết.
Nhưng có chắc rồi có một sự sống thật sự, một sự sống ở trình độ cao? Hay đó chỉ là biểu hiện sự sống của một cái gì đang chết sẽ chết. Như một cá nhân, bao người đã chết để xã hội chết theo?
Những bậc thầy về công việc vá víu - người ta nói về Việt Nam là vậy.
Giá anh bảo một người Việt Nam rằng anh phải sống nghèo hơn, khổ hơn, anh không được đi đâu làm gì cả, anh sẽ rên xiết trong điều lạc hậu... thì người Việt Nam kia sẵn sàng gật đầu. Tôi không chết. Tôi vẫn sống. Và tôi còn sinh đẻ nữa. Thế là đủ.
Nhưng bảo rằng anh phải làm ăn cho khá hơn, anh phải bớt sinh đẻ đi, anh phải nâng cao cuộc sống anh hiện nay -- thì người Việt Nam kia cảm thấy rất mực khó khăn.
4/2/73
Vẫn trên chuyến tàu mồng một tết Quý Sửu. Ga Nam Định, Thanh Hoá 1500 khách. Ga Vinh - 2000 khách. Hành khách trung bình chờ 30-38 giờ.
Hành khách lịch sự nhất là khách Hà Nội Hải Phòng.
Hành khách khó tính xấu tính nhất là khách mấy tỉnh phía nam, Thanh Hóa, Vinh, những vùng chiến sự. Lên tầu, tìm ăn ăn xong, rải ni lông ra sàn ngủ.
Ninh Bình - thành phố của núi đá và những công trình của con người, ngay trên một miền đất phẳng.
Núi rất nhọn, sông rất xanh, và cỏ rất cằn, đất rất rộng, đó là Ninh Bình. Những đoạn đường bụi đỏ hai bờ cây lá. Nông trường Đồng Giao nhà chỉ còn tường, nhiều đoạn đường mòn đi qua nền nhà.
Ngày tết thành phố chen chúc khác thường. Còn như ở đây, buổi sáng mùng một im lìm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe com măng ca hoặc một chiếc xe đạp.
Những người lớn đâu cả, chắc đang chè chén, bàn việc với nhau trong nhà. Chỉ có đám trẻ con chạy ra đường. Trẻ con từng đám, đứng chen chúc đầu ngã tư. Hàng chục đứa, cùng một màu áo xanh trứng sáo. Chúng nó không hết ngạc nhiên trước những đoàn tàu đi qua. Chúng nó băm bổ chạy dọc con đường sắt:
- Chúng mày được nghỉ học mấy ngày?
- Được nghỉ đến mùng 3 thôi. Giá kể đến mùng 4, mùng 5 thì thích.
...
- Lớn lên chúng mày đi bộ đội nhớ
- Vâng. Vâng... Thích lắm.
Hàm Rồng. Lại những khung cảnh chiến tranh. Một địa thế rộng. Lèn đá vệt bom đã cũ, con đường bò ra, đường đầy bụi. Những chiếc xe tải vập vạp, lúc lẫn vào đoạn đường bụi đỏ, lúc lẫn vào đoạn đường bụi trắng.
Mờ sáng, đoàn xe tải chở phà bật đèn đi.
Càng sáng, càng nhiều xe.
Chỉ có những đoàn xe là gợi cảm giác đông vui. Khung cảnh khu vực nhà máy điện cũ nát như sống lại. Hố bom, cái thì cỏ lên xanh, cái thì còn đỏ miệng. Dáng người đi, lẫn vào trong đường xá trời đất. Mấy người đàn bà đi cắt cỏ. Cỏ dại. Người bây giờ cũng như là một giống cây dại. Ở thành phố, người nhiều, người lúc nhúc.
Thành phố nghĩa là nơi đâu người ta cũng thấy dấu vết của con người, những vạt cỏ, những ánh đèn, bóng nhà cao. Vậy mà ở những quãng sông nước này, thiên nhiên khắc nghiệt và hoang vu quá. Hoang vu đến mức những mái nhà bị bỏ quên cũng trở nên ngất nghểu. Dấu vết con người sao quá nhạt nhòa.
Có lẽ vấn đề trung tâm mà tôi muốn để tâm nghĩ trong những ngày tới - bộ mặt của một đất nước sau chiến tranh. Những di luỵ của bom rơi máu đổ trong đời sống và trong tâm lý mỗi con người trong xã hội.
Hoà bình có một nghĩa chung với tất cả mọi miền. Nhưng với mỗi vùng miền, hoà bình lại có một nghĩa khác. Đối với Khu 4, hoà bình có nghĩa là một cuộc sống trở lại trên mặt đất.
Những cụm ga những đoạn cầu, nó như là nơi đối mặt của hai phía chiến tranh và hòa bình.
Ngổn ngang, không bao giờ mặt đất hết ngổn ngang. Những gì tàn phá chưa chịu lẩn đi mà còn chềnh ềnh đó. Nhưng một cái gì chủ yếu nhất -- sức hoạt động -- thì đang tự nó làm nên ấn tượng một sự thay đổi. Sự tình là cái sống phải lấn cái chết từng bước một. Phải gạt cái tàn phá sang một bên để mà gắng gượng đi lên.
CON NGƯỜI PHẢI SỐNG VỚI MỘT BÍ MẬT NÀO ĐẤY
Ngày 28 tháng 1 năm 2023
----------------------------------------------
Trích từ Fb Trần Hậu 28.1.2023
LEONID YARMOLNIK:
“NƯỚC MỸ KHÔNG PHONG TẶNG DANH HIỆU NGHỆ SĨ ”
Leonid Yarmolnik là diễn viên sân khấu và điện ảnh, nhà sản xuất phim, người dẫn chương trình radio, truyền hình Liên xô và Nga nổi tiếng. Ông từng đoạt giải thưởng Nhà nước Nga (năm 2000), hai lần đoạt giải “Nika” (2000. 2015).
Leonid Yarmolnik từ chối danh hiệu nghệ sĩ công huân Nga năm 1994, và 10 năm sau- danh hiệu nghệ sĩ nhân dân Nga- khi ông được phong tặng nhân dịp sinh nhật lần thứ 50.
Ngày 22/1/2019, nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 65 của nghệ sĩ, phóng viên TASS có cuộc trò chuyện với ông. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số ý kiến thú vị của ông.
***
1/
- Về một tình trạng tạm gọi là cởi mở quá mức
“Cuộc sống của những con người ít nhiều liên quan tới công chúng được mọi người biết nhiều đến mức nó không còn gì thú vị nữa.
Tôi nghĩ, dù sao phần lớn của tảng băng phải chìm dưới nước, con người phải có một bí mật nào đấy.
Còn hiện nay ai cũng tìm cách nói về mình, phô ra hết, nào là sống với ai, đi xe gì, yêu ai, ghét ai, đang mong muốn điều gì..."
2/
- Về mạng xã hội
“Tôi có sử dụng hộp thư điện tử, WhatsApp, điện thoại để trao đổi thông tin cho nhanh.
Trước đây, tất cả chúng ta tự mang kịch bản đến gặp nhau, trao đổi.
Hiện nay tôi không muốn mất thời gian, nên tất cả những gì có thể tôi đều làm với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại.
Riêng về Facbook thì tôi không có thời gian lẫn mong muốn dành cho nó.
Với những người tôi muốn giao tiếp, tôi tìm ra phương tiện khác, không cần các tiện ích. Tôi nghe nói nhiều khi mọi người đang ăn uống ngay lập tức đưa ảnh các món ăn lên mạng, mua sắm cái gì đó cũng đưa lên.
Xin lỗi, nhưng tôi nghĩ rằng điều đó thật điên rồ và ngu ngốc”.
3/
- Về danh hiệu nghệ sĩ
"Tôi tốt nghiệp Trường sân khấu mang tên Schukin.
Nhà hát đẩu tiên của tôi là “Taganka”, nơi tôi đến khi còn là sinh viên, xem đi xem lại các vở kịch từ 5-7 lần. Năm 1976, khi Yury Lyubimov nhận tôi vào đoàn của mình, tôi rất hạnh phúc.
Làm việc ở đây nhiều năm, tôi hiểu rằng danh hiệu nghệ sĩ ở nước Nga ít có ý nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ không có danh hiệu “nghệ sĩ nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”!
“Tôi cho rằng nếu nói về điện ảnh thì nghệ sĩ chỉ cần được biết mặt, biết tên.
Vladimir Vysotsky chỉ đơn giản là nghệ sĩ. Không công huân, không nhân dân. Còn giải thưởng quốc gia ông được truy tặng sau khi qua đời”.
"Còn hiện nay có vô số nghệ sĩ mang danh hiệu này.
Chỉ cần đơn cử Nhà hát Moskva: ở đấy cứ hai người thì một người là nghệ sĩ nhân dân.
Theo tôi, các loại danh hiệu không làm tăng thêm sự tôn trọng lẫn dấu chất lượng. Nó không cho phép bạn đóng phim hay diễn kịch nhiều hơn, bạn không được nhường ghế trên các phương tiện giao thông công cộng.
Thời Liên Xô, khi nhà hát đi biểu diễn, tên nghệ sĩ nhân dân được in đỏ trên tờ quảng cáo, họ ngồi ghế máy bay hạng thương gia, ở trong các phòng “delux”.
Dù sao danh hiệu lúc ấy vẫn mang lại lợi lộc.
“Hiện nay danh hiệu nghệ sĩ chẳng mang lại tiền bạc lẫn vinh quang gì, nó chỉ là một thủ tục hành chính, danh hiệu hiện nay không phải là chỉ số tài năng.
Tôi không thể so sánh các nghệ sĩ nhân dân hiện nay với Yury Yakovlev, với Evstingneev, Tabakov, Ulyanov, Gritsenko. Họ là những đỉnh núi. Họ là những nghệ sĩ nhân dân đích thực.
Tôi từ chối những danh hiệu này vì không kính trọng chúng. Hiện nay chúng quá vô vị.
Có thể điều đó có ý nghĩa năm 40 tuổi, khi danh hiệu còn ve vuốt lòng tự ái của tôi, khi tôi không thuộc nhà hát nào, không thuộc biên chế nào, không ai có thể tiến cử tôi.
Còn khi người ta sực nhớ ra thì đã muộn. Và không cần thiết, không quan trọng.
Qua rồi cái thời danh hiệu đem lại niềm vui cho tôi”.
HÀ NỘI 2-1973 - SỰ TRỞ LẠI NHỮNG NỀN NẾP CŨ
Ngày 15 tháng 2 năm 2023
Nhật ký ghi từ 50 năm trước
Trở lại những nền nếp cũ
-
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
***
11/2
Chủ nhật đầu tiên sau tết.
Đêm thứ bảy, tôi đến nhà những người công nhân đường sắt mới quen sau chuyến đi đêm giao thừa. Quyền, một người nông dân, đi làm cách mạng, chân thành và dại dột. Nhuận và cái khu nhà mênh mông trong Nhà hát nhân dân. Tôi chỉ có họ.
Ga Hà Nội lại đông. Những đám người tụ tập đầy đường. Quyền: Toa tầu bẩn như lòng đường nhựa. Năm nay, bao nhiêu người khu Bốn về thăm nhà!
Sáng chủ nhật, tôi và Tính ngồi bàn nhau định đến thăm một trận địa ở giữa sông. Tính giở ảnh vợ con ra xem (những đứa trẻ, người ta ghép cho nó đến lắm khả năng và ý nghĩa!)
Mấy người bạn của Tính đến chơi. Hiệu, trung đoàn phó, một D trưởng, một C trưởng. Trông ba người ra ba dáng khác nhau. Một cán bộ chỉ huy kiểu Tsapaev nông dân, thô tục, nhưng lại sắc sảo. Một anh chàng quê mùa, ngậm miệng như cóc. Một anh chàng học sinh duyên dáng mới ra Hà Nội đã sắm dép nhựa. Họ rủ nhau đi xem B52 (trong kia, thấy nó thả từng dây, bây giờ mới tận mắt nhìn thử xem nó thế nào) Họ còn nói chuyện về chiến trường, những ngày E27 vào tận Hải Lăng.... Trên người cậu D trưởng, là một chiếc áo của địch. Loại áo vi ny lông, nhưng may theo kiểu va rơi, và cũng đã hơi cổ. Cậu ta khoe một hôm, mưa rất to, cái áo cũng không ướt.
Hỏi đường đi xem B52 xong, họ hỏi đường ra Hàng Trống, may những bộ quần áo vi ny lông. Cái cảm tưởng chính: họ là những người quá tự do. Họ làm chủ cái đất nước này.
Tôi đi cắt tóc. Từ chuyện rẽ đầu ngôi, ra đủ mọi chuyện.
- Thôi cần gì đầu ngôi, để cho gọn là được.
- Không. Khối anh chải đầu chải óc cẩn thận, ăn mặc đẹp, mà nói năng không ra sao cả.
- Bây giờ chính phủ còn đang bận bao nhiêu chuyện, chưa dạy được. Hoà bình được ít ngày, mấy cái thằng trong kia lại còn phá thối. Nhưng mà thầy nó theo mình rồi, thế là được rồi.
Mai 12/2, ngày trả tù binh Mỹ (140 tay Mỹ về nước!) ở bên sân bay Gia Lâm.Từ ngày người phi công Mỹ đầu tiên bị bắt đến hôm nay đã gần 9 năm, một quãng đời người, dài lắm!
... Ngày mai, các trường Hà Nội khai giảng.
Hôm nọ, tôi đã thấy các em ở trường Hàng Than quét lá, thu dọn trường. Bọn con trai lấy chổi phi trên trời, như những chiếc máy bay.
Hôm nay, tôi thấy học trò Chu Văn An đến trường dọn dẹp, trở về, các em lại chui vào cái bể nước giữa vườn hoa Tây Hồ rửa ráy.
Những em bé đi đường bây giờ, sao không thấy vẻ thư thái, như lũ chúng tôi hồi nhỏ. Các em băm bổ vội vã. Mấy em con trai còn gạ chúng tôi đèo xe hộ. Cách sống của ngày hôm qua, thời đi sơ tán.
Thư, em tôi, kể trường nó chỉ lớp 10 là được ưu tiên bàn ghế. Lớp 9, lớp 8 thiếu. Một số lớp học sinh lại phải lấy loại bàn ghế nhỏ chỉ thấy ở các vùng quê.
Buổi tối, lâu lắm mới mò đi xem nhờ Vô tuyến truyền hình. Một chương trình ca ngợi đất nước. Và một người con gái, mà bây giờ mọi người đều nghĩ là tiêu biểu cho Hà Nội. Cô hát bài Đường chúng ta đi.
Bài này, có lúc, do một chị diễn viên già dặn trong nghề hát. Chị là một người không đẹp, nhưng tiếng lại đẹp. Chị hát nhiều trên đài. Trong tiếng hát của chị, người ta nhận ra một người từng trải. Và một đất nước từng trải.
Đằng này, hôm nay, người diễn viên non dại và qua giọng cô, người ta lại nghĩ về một đất nước trẻ trung.
Đất nước là tất cả những cái đó, là cả những người mẹ lẫn những em bé, cả tiếng phát thanh trên đài, tiếng xe bò kẽo kẹt triền miên; đất nước là mặt đường lép nhép, và có lúc bụi mù, là sắc vàng hoa cúc, là màu cờ đỏ trên những đống gạch đổ, là những cành xoan đầu xuân chỉ còn những cành, nhưng đã chớm những chồi non -- đất nước là có cả lụi tàn và hy vọng!
Chỉ nghe đài phát thanh cũng đủ hình dung những đổi mới đến với Hà Nội. Nhiều bài hát cũ được hát lại. Những người lớn tuổi nhớ đến ngừng bắn lần trước, cuối 1968. Lần trước, ai cũng nghĩ chiến tranh hết hẳn, thì chiến tranh quay lại. Lần này, mọi người cứ nơm nớp -- biết đâu hoà bình lại bền lâu!
Dạo này, tôi và bạn bè của tôi thường hay nói đến tính cách người Việt Nam. Có một cái gì ở trong đó, mà chúng tôi cảm thấy cần nhìn thẳng vào, cần giải thích.
Người Việt Nam là hời hợt hay sâu sắc? Người Việt Nam dũng cảm, nhưng dũng cảm như thế nào? Người Việt Nam nhẫn nhục. Người Việt Nam cần cù v.v.... Có một cái gì gọi là ý chí?
Người nước ngoài ca ngợi Việt Nam nhiều quá. Đất nước thật sự vinh quang. Hình như đối với một số ai đó, vinh quang chỉ là những hư danh. Mỗi người đang sống hết sức nhọc nhằn, có thể nói là thân tàn ma dại nữa.
Nhưng tận trong mỗi người, còn đầy hy vọng.
Khi tôi nói trông mong ở tương lai, một người như Nguyễn Minh Châu bảo: “Tất cả mọi người, đều là những người của ngày hôm qua, hy vọng sao được.” Nhưng khi tôi tỏ ý chán ngán, thì chính nhà văn ấy lại bảo: “Không, cũng không biết đâu mà ngờ.”
Một trong những sức mạnh của ngôn từ là nó thay đổi khá tương ứng theo thái độ của người ta. Nó thông tin khá chính xác. Ví như hôm trước, người ta gọi là giặc lái, hôm sau, người ta gọi là nhân viên quân sự. Người ta thân thiện với kẻ mà hôm qua được mệnh danh là kẻ thù. Và tất cả đều có lý của nó! Và điều duy nhất có thể rút ra là mỗi kiếp người quá ư bé nhỏ, hiện thực thì lớn lao, quá ư lớn lao. Đôi lúc, tôi oán trách, sao tôi lại ở vào cái ngành có khả năng quan hệ rộng như văn chương, để lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi cái ao ước này-- ao ước nắm bắt tất cả.
Chiến tranh có cái gì đó, đồng nhất với socialism. Sự san bằng tất cả. Nhưng mặt đất thì không còn bằng bặn. Và bây giờ hoà bình thì từ đấy, người ta lại phải xây dựng lên một cái gì khác. San lại mặt bằng rồi mới có thể làm mọi việc khác. Chính với việc san bằng, chúng ta nhận ra thêm nhiều tội ác kẻ thù. Với việc san bằng, lại thấy thêm những di luỵ thời chiến.
Đâu là granitxa voiny (ranh giới của chiến tranh)? Mà nó - cái ranh giới đó - có hay không? Chẳng lẽ lại không có! Chắc chắn chiến tranh không động vào được một thứ, đó là sự sinh sôi. Chiến tranh như những chiếc ô tô tải vô cảm. Đi trên đường phố, tôi sợ hãi vì lúc nào cũng thấy những chiếc ô tô, ô tô sau lưng, ô tô trước mặt, ô tô lao trên đường, ô tô bất cần công việc, chỉ trừ việc của nó. Tôi nhớ tới những đoàn xe hoả hiền hoà và đầy năng lực của thời bình. Tôi yêu những nền nếp. Tôi cũng yêu những tập thể. Những chiếc ô tô tải, nó chính là những con người trong chiến tranh, những con người của một đám đông hung dữ, mải miết vì những mục đích xa. Thật là kỳ lạ, đất nước như một con người rút ruột ra, làm việc gì đó, một con người mà da thịt xanh xao nhưng bộ ruột thật vĩ đại. Nhớ Vinh, thành phố đổ nát, đường phố bụi bậm, bẩn thỉu, những con người lầm lụi đi trong mưa gió. Nhưng những đoàn xe cứ lao đi mải miết, trên xe bao nhiêu là giá trị, bao nhiêu là của cải.
Ở đường Phan Đình Phùng, các gia đình ra nậy hố cá nhân lên, không biết để làm gì. Tôi chợt nhận ra các hố thường nêm rất chặt bằng những gạch củ đậu.
Có lẽ một chủ đề mà văn học đáng nhẽ có thể làm được là: chiến tranh đến với tất cả các gia đình, chiến tranh đến với tất cả các phần việc.
12/2
Ngày khai trường. Những cố gắng lấy lại nền nếp. Học sinh đeo khăn đỏ mang cờ, đứng xếp hàng.
Học sinh đi diễu chung quanh phố. Đón học sinh lớp 1, học sinh lớp 4 cầm cờ ra đứng hai bên đường từ cổng trường vào. Bánh pháo đốt, lại tắc, lại đốt. Đám cô giáo đứng vón vào nhau. Học sinh nghịch, chơi cảnh lấy chổi phi lên trời, giả làm máy bay.
Sân trường cũ trong thời gian chiến tranh biến thành nơi để gạo. Trấu rắc khắp nơi. Trước ngày khai giảng, nhà trường mới kiên quyết đuổi kho gạo đi, người ta phải dỡ tạm mọi thứ ra sân. Buổi sáng, xe bò vào chở các thứ. Có tiếng ai kỳ kèo: Bò nó ỉa... Ông lái xe bò cãi, người cũng phải ỉa, nữa là bò. Xe cứ đi nghênh ngang vào trường. Xe đi đến đâu, trẻ xô theo đến đấy. Nhiều đứa trẻ còn nhảy lên xe nghịch. Để chờ đến khi bò có quay lại, chúng nó lại rạt ra.
Lại còn ô tô, giữa lúc học sinh lớp 1 đi vào giữa những cờ sao rủ bóng của học sinh lớp 4, thì ô tô vào. Ô tô phải đợi đấy cái đã.
Không biết bao giờ những đứa trẻ này lại có thể nói: Ngày khai trường của năm lớp 1 của tôi là ngày còn đang dọn dẹp những dấu vết chiến tranh.
Trường dột. Cầu thang hỏng. Nền sàn đầy trấu. Các cô giáo chúng tôi gày guộc, vẫn cố ăn mặc một cách mô - đéc. Nhưng chúng tôi đã có hoà bình. Ngày hôm nay là ngày tên tù binh Mỹ đầu tiên về nước. Tiến sĩ H. Kissinger đang ở Hà Nội. Trong các thông cáo, văn kiện, mối quan hệ Việt Mỹ được dùng kèm theo những chữ: thẳng thắn, thân thiện.
Hà Nội, thành phố của trẻ con, thành phố của bụi. Thành phố của xe đạp. Thành phố của tiếng ồn.
Tôi cảm thấy phải có cách nào đó, để nói về Hà Nội. Những quy luật nào của cuộc sống thấy rõ nhất ở Hà Nội - Quy luật về tài năng? Quy luật về sự chọn lọc? Quy luật về sự đa đạng?
Tại sao người ta viết quá ít về Hà Nội? Phải chăng điều đó chỉ chứng tỏ tính chất tỉnh lẻ của nền văn học này.
LỜI XIN LỖI VÌ VIỆC GIỚI THIỆU BÀI VIẾT SƯU TẦM TRÊN MẠNG MÀ KHÔNG KIỂM TRA LẠI ĐƯỢC TÊN TÁC GIẢ
Ngày 27 tháng 2 năm 2023
Tôi có thói quen là thích sưu tầm bài viết của các tác giả khác đưa trên mạng nhưng lại không ghi rõ nguồn, nên khi cần muốn kiểm tra lại cũng không được.
Sau khi đưa lại bài viết SINH RA LÀ NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ LÀ MỘT GÁNH NẶNG với câu ghi rõ là "bài của Song Chi" dưới đây, tôi đã được chị Song Chi báo lại là có sự nhầm lẫn về tên tác giả ( xin xem ở phần còm - men) bên dưới.
Tôi đã có lời xin lỗi chị Song Chi và mong chị cũng như các bạn đọc hiểu cho rằng vì tôi già yếu nên không tìm được đúng tên tác giả bài viết rất nên đọc này, lỗi ấy tôi xin được tha thứ.
Nhân đây tôi cũng xin lỗi tác giả đích thực của bài viết này vì lý do nói trên.
SINH RA LÀ NGƯỜI VIỆT NAM
ĐÃ LÀ MỘT GÁNH NẶNG
Bài sưu tầm trên mạng
Nguồn: Edaily.vn
---
Cái gánh nặng mà tôi nói ở đây chính là việc, cứ tồn tại ở đất nước này là phải chịu đựng hàng tá các quy định bất thành văn rất cực đoan của xã hội. Đến mức, muốn làm gì đó khác đi, muốn thay đổi, muốn loại bỏ… đều phải nghĩ tới việc thay đổi cả một xã hội mấy chục thế hệ chứ chẳng phải một bộ phận “thiếu tiến bộ”.
ĐẦU TIÊN LÀ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CỰC ĐOAN
Cứ hễ ai nói gì không hay về Việt Nam, là ở đó có những quần thể cư dân mạng bước vào thể hiện hổ báo. Bất kể đúng sai, bất kể các khía cạnh của vấn đề, phải cãi nhau trước đã. Như mấy hình ảnh về biển báo trước các cửa hàng ở nước ngoài với những dòng chữ Việt rõ to về việc không vứt rác, không khạc nhổ… chưa gì mà các bạn trẻ đã ùn ùn kéo tới “ném đá”, chửi rủa.
Nhớ đợt rồi, FB của ông chủ Microsoft có đăng một cái ảnh điện đóm ở Việt Nam. Vậy là, người ta đổ xô nhau và nói cười, bình buận, chửi bới, “đặc trưng của Việt Nam nè”, “Ồ, BG thật quan tâm tới Việt Nam, tự hào quá!”. Cả “Việt Nam điểm danh” cũng có. Hài hước! Một đất nước từng thua Việt Nam, giờ quay lại cười vào mặt mình như vậy, mà cũng đủ can đảm nói cười. Nếu bạn đừng hùa vào đám đông, thử ngồi yên và đọc các lời bình, chắc cũng nhận ra căn nguyên vấn đề và cảm thấy xót xa như tôi.
Đợt rồi tôi có viết một bài về Sài Gòn, tôi nói nó tạp nham, những thứ nổi bật nhất ở đây không có tí mùi đặc trưng của người Việt. Thế là như đúng rồi, tôi bị các bạn ấy hù tát cho một cái vào mặt. Sợ thật. Tôi cam đoan là 80% người đọc muốn đánh, chửi, giết tôi, không đọc hết bài viết. Cứ thấy nó chê Sài Gòn của mình, là phải chửi nó ngu trước. Bởi, chẳng biết tới khi nào người ta mới can đảm nhìn nhận những hạn chế của đất mình mà làm cho nó tốt hơn. Chứ không phải xỉ vả những kẻ “thiếu yêu nước” rồi ru ngủ một thế hệ bằng lòng dân tộc cực đoan của mình.
MỘT GÁNH NẶNG NỮA, CHẮC LÀ PHẢI KỂ ĐẾN CÁI TÍNH NHƯỢC TIỂU CỦA NGƯỜI MÌNH
…Nó như vầy:
– Phó thủ tướng Đức là người gốc Việt đó!
– Quán quân MasterChef 3 là người gốc Việt đó!
– Thằng bé dễ thương trong Gangnam style là người gốc Việt đó!
Cứ cái gì hay ho trên thế giới, dính líu một tí tới máu Việt là người ta vui như họ hàng trong 3 đời nhà mình vừa làm được chuyện đại sự. Tôi chẳng biết tại sao chúng ta lại phải tự hào, trong khi đất nước nuôi lớn họ không phải là Việt Nam. Phó thủ tướng Đức còn từng có một lần bảo rằng không muốn quay về Việt Nam, vậy thì bà con gì mà vui? Cả những nhân vật khác, chúng ta tự hào, mời họ phỏng vấn báo chí các kiểu, mà đến tiếng Việt cũng chỉ biết nói ngọng nghịu “Xin chào”. Họ mất gốc rồi, việc tung hô những tấm gương đó chẳng khác nào việc chúng ta đang mất lòng tin vào người trẻ đang sống trên đất Việt. Vì không tin bản thân và bạn bè làm được những việc lớn nên người ta mới phải vin vào sự thành công những người Việt Nam mất gốc khác.
Dù rằng đất nước nuôi ông trong thời gian quan trọng nhất của đời người là Pháp, nhưng nếu nói GS Ngô Bảo Châu làm rạng danh nước nhà tôi còn đồng ý được. Ít ra ông nói rành rỏi tiếng Việt, biết nhà mình ở đâu trên dải đất hình chữ S.
Thành ra, sống trong một xã hội mà người ta tôn vinh “người ngoài”, thiếu niềm tin vào “người trong”, riết cũng mất tự tin khi làm bất cứ điều gì. Ra nước ngoài vài năm rồi quay về với cái mác Việt kiều chắc dễ thành công hơn.
CÁI THẾ LỰC GHÊ GỚM VÀ NẶNG NỀ NHẤT MÀ NGƯỜI SỐNG Ở VIỆT NAM PHẢI CHỊU, CHẮC LÀ TÍNH BẦY ĐÀN
Một cách vô thức, đứa trẻ sinh ra đã cảm thấy áp lực với việc phải giống “con nhà người ta”. Mặc kệ nó thích thể loại nghệ thuật gì, mở mắt ra là phải học ba lê, học vẽ, học ngoại ngữ, học bơi… cho bằng bạn bằng bè. Tâm lý đám đông lớn lên, người ta không cần phải biết bản thân mình thích gì, cứ mọi người chọn gì, mình cũng sẽ chọn đó. Chưa biết mình đam mê gì cũng thi đại học rồi lên thành phố với chúng bạn. Vì ai cũng như vậy cả, học hết cấp 3 phải lên đại học!
Riết như tôi hồi mấy năm trước, ra trường ngồi nhà chưa kịp biết có nên mở quán café hay không, đã bị mẹ gặng hỏi: “Sao bạn con đi làm văn phòng cả rồi mà con cứ ở nhà?” Vậy cái lý nào cho việc ra trường là phải đi làm ngày 8 tiếng? Gánh nặng bầy đàn nó phổ biến tới mức tôi sẽ bị chửi tơi tả là thiếu hiểu biết nếu sử dụng đến, nó đi sâu vào tiềm thức người Việt tới mức chẳng ai thấy nó bất thường mà đổi thay. Người ta xem đó là cuộc sống, là nghiễm nhiên nên như vậy.
Dễ thấy nhất thì cứ lên mấy diễn đàn đang ùa nhau ném đã một nhân vật. Cứ lặng lẽ ngồi xem rồi thử hỏi một vài người quen biết, xem chuyện gì đang xảy ra. Tôi cam đoan là người ta cũng chẳng tức giận gì nhiều. Thấy mọi người chửi thì ùa vào cho vui thôi. Kiểu nó vậy! Còn nếu mà bạn muốn nói ngược lại điều đám đông đang nói, thì bạn sẽ sớm có đủ gạch đá để xây nhà vì tỏ ra nguy hiểm đấy!
KẾT
Ngay cả khi tôi viết cái bài này, tôi cũng chẳng mong mình nhận được sự hưởng ứng tích cực. Dù rằng đó là một tham vọng. Vì tôi nói xấu người Việt, tôi moi móc khí chất yếu kém của xã hội trong khi bản thân chắc chưa làm được gì hay ho. Vậy đó, sinh ra là người Việt Nam, làm gì cũng lo sợ và cảm thấy nặng nề!
MỘT SỰ MẤT MÁT KHÔNG GÌ BÙ ĐẮP NỔI ANH TRẦN HỮU DŨNG ĐÃ RA ĐI
Ngày 4 tháng 3 năm 2023
Tôi vừa nhận được lá thư của anh Nguyễn Xuân Xanh
---
Xanh Nguyen
09:19 (1 giờ trước)
đến edu-sci, Tu, bcc: tôi
Anh Chị thân mến,
Sáng nay nhận được tin từ anh Nguyễn Minh Thọ: anh Trần Hữu Dũng, người sở hữu trang mạng nổi tiếng viet-studies, đã ra đi.
Vài chi tiết trên wikipedia:
Trần Hữu Dũng là giáo sư kinh tế học của Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ. Ông chuyên về nghiên cứu kinh tế vùng Đông Á, đặc biệt là Việt Nam. Ông cũng là một nhà nghiên cứu và có nhiều đóng góp về tư duy kinh tế cho Việt Nam.
Ông sinh ra ở tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Ông là con của Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp (với người vợ đầu), một nhà giáo trí thức Cách mạng lão thành của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi ông còn nhỏ thì cha của ông tập kết ra Bắc.
Ông sang Mỹ du học từ năm 1963, sau khi tốt nghiệp kỹ sư điện tử và cử nhân vật lý năm 1967, ông về nước làm chuyên viên tại Trung tâm Nghiên cứu Nguyên Tử Đà Lạt. Năm 1972, ông trở qua Mỹ lần nữa và tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Syracuse năm 1978. Từ năm 1982 đến nay, ông dạy môn kinh tế vĩ mô, kinh tế quản lý và kinh tế thế giới cho bằng thạc sĩ (MBA) tại Đại học Wright State.
Ông là biên tập viên quản lý của cổng web nổi tiếng Arts & Letters Daily, trang website được tờ New York Times khen tặng là "Điểm hẹn của trí thức toàn cầu" dành cho trang web www.aldaily.com sau khi trang web này được trao giải webbys trong lĩnh vực Internet.
Riêng về Việt Nam, ông từng là tác giả của trang mạng http://viet-studies.info/ (Viet-studies) cập nhật thường xuyên các bài báo, báo cáo nổi bật trong và ngoài nước về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam. Hiện nay trang này đã bị tin tặc cướp quyền điều khiển, hiện rời về trang http://viet-studies.net/
Cũng như nhiều trí thức Việt kiều khác trong nhiều năm gần đây ông có những đóng góp cho Việt Nam những tư duy kinh tế trong việc hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Dù rất bận rộn với công việc giảng dạy nhưng ông vẫn dành thời gian viết bài cho các tờ báo kinh tế ở trong nước. Ngoài ra, hàng năm ông cùng một số trí thức Việt kiều, trí thức ở trong nước thường xuyên tổ chức các hội thảo khoa học đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Sau anh Ngô Vĩnh Long, chúng ta mất đi một con người tận tụy với đất nước. Có lần khi trang mạnh anh bị cướp quyền điều khiển, anh hỏi tôi về một câu nói hay. Lúc đó tôi chỉ nghĩ ra câu của Nietzsche: Cái gì không giết chết được ta, sẽ làm cho ta mạnh thêm. Nhưng có lẽ anh thấy câu nói đó có tính khiêu khích, nên đã không đăng. Vâng, Anh chỉ mạnh thêm thôi.
Chắc hẳn anh Dũng còn rất lưu luyến với đất nước, và tiền đồ của dân tộc này, nhưng thôi, mong anh hãy ra đi nhẹ nhàng, và yên nghỉ, các thế hệ sau sẽ có người tiếp nối công việc của anh. Bè bạn và các đọc giả sẽ có nhiều điều để nói về anh.
Muôn vàn thương tiếc Anh.
Thân mến,
Xanh
--
Riêng với tôi đây là một sự mất mát không gì bù đắp nổi. Tôi nghĩ sẽ không bao giờ tìm được người có tấm lòng và sức làm việc như anh.
XUÂN QUỲNH VÀ NHỮNG BUỒN VUI CỦA KIẾP HOA DẠI
Ngày 4 tháng 3 năm 2023
Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu
XQ- Thơ tình cho bạn trẻ
---
Ghi chú ngày 4-3-2023
Tôi viết bài này từ hơn 30 năm trước, nó đã gợi ý cho tôi đặt tên cho tập phê bình tiểu luận mà tôi coi như cuốn sách vào nghề của mình là "Những kiếp hoa dại" in vào năm 1993 tức khi tôi đã 50 tuổi. Mặc dù ngày nay một số suy nghĩ của tôi về XQ như một nhà thơ đã thay đổi nhưng trên đại thể tôi thấy cái biểu tượng hoa dại vẫn là cách diễn tả gần đúng nhất cho cả một thế hệ - thế hệ những cây bút Hà Nội cùng tuổi với tôi.
***********
Khi nghe ca sĩ Thúy Mị hát bài “Đợi”, có lẽ bạn nghe làn sóng phát thanh cũng như bạn đọc nói chung nhiều người không để ý rằng trong việc phổ thơ Vũ Quần Phương, nhạc sĩ Huy Thục đã làm một việc đảo lộn nho nhỏ.
Nguyên văn câu thơ đầu tiên trong bài của Vũ Quần Phương “Anh đứng trên cầu đợi em”. Bài thơ nói cái cảnh người đàn ông đợi người đàn bà. Còn bản nhạc “Đợi” của Huy Thục thì diễn tả một tình thế ngược lại: Người phụ nữ tới trước và đợi người yêu của mình. Cả bài ca là tiếng lòng tha thiết của chị khi chủ động làm công việc chờ đợi đó.
Người viết bài này chưa có dịp gặp Huy Thục để hỏi nhạc sĩ tại sao đổi vậy. Nhưng khách quan mà xét, thì việc đảo lộn ấy lại rất hợp quy luật.
Không hẹn mà nên, trong ca dao dân ca, trong chèo, trong truyện cổ tích, khi cần diễn tả tình yêu, các tác giả vô danh và khuyết danh Việt Nam có thói quen để cho phụ nữ đóng vai chủ động.
Họ thường yêu sâu sắc hơn nam giới.
Họ không ngại ngùng mang tiếng là yêu trước và sau đó lại chung thủy đến cùng, kể cả vì thế mà bị lừa lọc phản bội, rồi thân tàn ma dại và suốt đời mang tiếng là khờ khạo, nhẹ dạ.
Xúy Vân trong vở chèo cùng tên đã đứng cao hơn Trần Phương, như Kiều có chút gì đó hết mình hơn, người hơn mà lại trong sạch hơn, bên cạnh Kim Trọng.
Sang thời hiện đại, một Tố Tâm “bít khăn tua đen”, “đầu ngôi rẽ giữa”, “tóc vuốt sáp”, cũng là nhiều lần cao đẹp hơn trong tình yêu, so với nhân vật xưng tôi trong thiên truyện của Hoàng Ngọc Phách: Tố Tâm vừa say đắm hơn, vừa rộng lượng hơn bên người học trò Đạm Thủy một mực tuân thủ lễ giáo, lúc nào cũng ra vẻ long trọng song thực ra lại nhút nhát.
Chẳng trách mà ngày nào Hồ Xuân Hương đã tai quái ném ra cái hình ảnh
“Bố cu lổm ngổm bò trên bụng”.
Đằng sau cái tư thế cụ thể tức cười, câu thơ phác ra một điều khái quát, nó là một sự thật càng sống càng thấy đúng: đó là vẻ cao quý một người phụ nữ Việt Nam, cao quý ngay trong sự chủ động ĐỢI mà Huy Thục hôm nay chạm tới.
Không biết có nên gọi là truyền thống không, nhưng đấy thật là nét lạ của người phụ nữ Việt Nam và hôm nay nó cũng đang được các thế hệ phụ nữ ta chứng minh. Một trong những trường hợp đó là nhà thơ Xuân Quỳnh.
NIỀM KHAO KHÁT KHÔN NGUÔI
Cũng như các diễn viên ca, múa và những chị em làm nghệ thuật khác, một phụ nữ làm thơ viết truyện ở nước ta dễ chuốc lấy nhiều thành kiến không đâu. Ngoài việc có hai đời chồng, ở Xuân Quỳnh lại còn kèm thêm những vụ tai tiếng trong tình yêu mà trong giới gần như không ai không biết.
Nên có thể nhiều người bỡ ngỡ không tin khi nghe nói Xuân Quỳnh là một con người hết sức tha thiết với hạnh phúc gia đình. Nhưng sự thật là vậy.
Lớn lên trong cảnh mồ côi mẹ (“Em đánh chắt chơi chuyền từ nhỏ - Hái rau dền rau rệu nấu canh – Tập vá may tết tóc một mình – Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ”), suốt đời người con gái này khao khát một nơi nương tựa, tức một gia đình hạnh phúc. Không bao giờ chỉ yêu một cách đùa cợt. Yêu ai là tính chuyện sống hẳn với người đó.
Với bàn tay thô vụng, bàn tay “mò tới đâu là đổ vỡ”, bàn tay khi nói chuyện với ai, “…thấy tay thừa không biết giấu vào đâu”, chị chăm chỉ lo việc nhà và không thể làm gì, kể cả đọc sách làm thơ, nếu chưa lo được cho chồng con bữa ăn ngon, bộ quần áo sạch.
Vốn có nhiều kinh nghiệm về quyền lực của nhan sắc, nhưng nhân nói về thơ, có lần nhà thơ vẫn cả quyết: “Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình. Cái để cho người ta làm quen với nhau là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh”.
Cùng với tuổi tác, mỗi ngày Xuân Quỳnh mỗi thấy cái đức hạnh ấy là lẽ sống của mình. Tiếp nối những bài thơ khao khát tình yêu lúc trẻ, những bài thơ chị làm mấy năm cuối đời thường đầm ấm một tình yêu gia đình, yêu chồng yêu con, nhiều bài thơ thiết tha như lời tự nhủ rằng có lẽ trong hoàn cảnh nước mình, được như thế này đã có thể gọi là hạnh phúc.
Tuy mỗi thời cái hạnh phúc ấy có một khuôn mặt riêng, song bao giờ chị cũng run rẩy khi được biết mình đang có nó đang được sống với nó. Và càng mong manh dễ vỡ, với chị, nó lại càng đáng quý.
LẦM LẪN NHƯNG KHÔNG MAN TRÁ
Có một mô-típ thơ thường hay trở đi trở lại trong thơ Xuân Quỳnh là cỏ dại, hoa dại, với tất cả những cay đắng thua thiệt mà loài hoa này phải chịu.
“Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi
Không phải hoa được ở cùng người
Được chăm sóc trong mảnh vườn sạch cỏ
Được khoe đến muôn màu sắc lạ
Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương
Không phải hoa được cắm trên bàn
Trong ngày hội của những niềm vui mới
Những hoa này lại nở trên triền núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung
Nên ít ai để ý sắp từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ”
Có thể chỉ là trong tiềm thức, nhưng hình như nhà thơ thầm cảm thấy hoa dại, cỏ dại là ứng với mình, thân phận mình.
Tại sao?
Không phải cứ khao khát là người ta đã có được hạnh phúc. Cũng như phần lớn chúng ta, trên đường truy tìm hạnh phúc, không biết bao lần trong cuộc đời, con người thông minh và cực kỳ nhạy cảm này đã lầm lẫn, đã là nạn nhân của ảo tưởng về mình và về người.
Cái khỏe của Xuân Quỳnh là đã vượt qua được những đau khổ để tiếp tục sống.
Nhưng dẫu sao, tận đáy lòng chị vẫn thấy có chút gì xót xa tội nghiệp cho mình: giá có ai bảo mình giá, mình biết sống hơn…
Trong hình ảnh hoa dại nhà thơ không chỉ tìm thấy niềm an ủi, ở đó còn bao hàm cả lời thú nhận về sự bất lực của bản thân, cả nỗi hờn tủi, oán trách với mình.
Có một điều cũng phải nói ngay là mặc dù qua nhiều lầm lẫn, nhưng Xuân Quỳnh thường có cách ứng xử khác hẳn những kẻ tầm thường: con người này không bao giờ man trá.
Khi nhận ra lầm lẫn, con người này sẵn sàng làm lại tất cả.
Chị ghê sợ những gì giả tạo.
Ở đây không chỉ có sự thành thực mà còn có một chút gì như sự sòng phẳng, mà trước khi cần cho mọi người, đã là cần cho chính chị.
Trong khi làm khổ Xuân Quỳnh không biết bao nhiêu mà kể, sự thành thực này tựu trung chỉ cứu chị, giúp ích cho chị một việc: làm thơ. Càng đau khổ càng muốn tìm đến thơ để tự giải thoát. Tự trong thâm tâm chị hiểu rằng nếu cuộc sống là cái gì quan trọng nhất với mình thì thơ lại là cách duy nhất để mang lại cho cuộc sống đó một hình thức bất tử.
BỊ TÌNH YÊU HÀNH HẠ
Sinh thời, khi trò chuyện với bạn bè, Xuân Quỳnh thích nhắc lại một câu nói của Tolstoy đại ý cho rằng người ta sẽ có sức mạnh vô cùng vô tận nếu có tình yêu; tình yêu làm nên tất cả.
Nếu có một thứ tôn giáo tình yêu thì nhà thơ này chính là một trong những tín đồ ngoan đạo nhất. Tình yêu quả thật đã giải phóng ở chị những sức lực không ngờ trong cuộc sống, làm việc và gây dựng gia đình. Và chị tưởng rằng với tình yêu, mình có thể làm được tất cả, biến kẻ xấu thành người tốt, gã đàn ông ích kỷ thành người chồng hết lòng với vợ con; thậm chí tình yêu luôn được cả những cách xa về thời gian tuổi tác để đưa bất kỳ lứa đôi nào trở thành những cặp vợ chồng mẫu mực.
Chỉ cần có một chút kinh nghiệm sống thôi người ta sẽ nhận ra ngay rằng niềm tin ấy của Xuân Quỳnh là ảo tưởng.
Là yếu tố thiết yếu để tạo nên hạnh phúc nhưng tự nó, tình yêu chưa phải là hạnh phúc. Vả chăng, nói gì thì nói, sức mạnh của tình yêu cũng chỉ có giới hạn, nhất là khi nó chưa phải là sự hòa hợp của hai tâm hồn mà mới là tình yêu một phía của người đàn bà với người đàn ông.
Giá có dịp đứng ngoài mà nhìn, Xuân Quỳnh sẽ công bằng mà nhận rằng trong khi chỉ mang lại một ít niềm vui thì ảo tưởng kia đã là nguồn gốc gây nên mọi bất hạnh nơi chị. Đồng thời với việc bòn rút tâm lực, nó còn làm biến dạng cả chính chị nữa.
Con người rất sợ những gì dối trá giả tạo có lúc đã phải đóng vai hạnh phúc. Trót kiêu căng quá tin vào sức mạnh của chính mình, chị không còn dám chia sẻ về nỗi đau khổ với bất cứ ai. Cái giá phải trả quả thật quá lớn!
Nhưng nếu được cãi lại, thì Xuân Quỳnh không ngần ngại mà nói rằng: “Với tôi, niềm tin ấy chính là số phận”.
Khi đã thành lời nguyền, dù nặng nề biết bao nhiêu, chị vẫn tự nguyện mang nó. Và như sau này ta thấy, chị đã mang nó cho tới lúc chết. Hình ảnh cả đời Xuân Quỳnh rút lại là hình ảnh một con người sống bằng tình yêu, làm thơ nhờ tình yêu, sung sướng vô cùng trong tình yêu và cũng bị tình yêu hành hạ đến cùng cực.
“… Tôi có một tình yêu rất sâu
Rất dữ dội nhưng không bao giờ yêu được hết
Ở các cô, các cô âm thầm chịu đựng
Cho đến ngày tình yêu ấy tắt đi
Còn ở tôi, tôi mang nó nặng nề
Muốn nguôi quên, nó lại ngày càng lớn
Luôn xáo động tôi không sao ngủ được
Không làm sao có thể ngồi nguyên
….
Ôi con trai thật là kỳ lạ
Tôi yêu tất cả mọi người mà chẳng yêu được riêng ai
Không sĩ diện đâu, nếu tôi yêu được một người
Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng”
Những câu thơ ấy là lời thú nhận của Xuân Quỳnh nhưng cũng là lời thú nhận của bao thế hệ phụ nữ từ Xúy Vân, Kiều, Tố Tâm đến cô gái trong bài hát
“Đợi”, cô gái trong bài hát “Sợi Nhớ Sợi Thương” (“Nghiêng sườn đông mà che cho anh… Mà em nghiêng hết về phương anh”).
Chỉ những người phụ nữ say đắm, tự tin, những người hồn nhiên nhận lấy sự ràng buộc của số phận mới có cách cư xử cao thượng như vậy.
Trong khi thông cảm với những đau đớn đến xé ruột xé lòng họ từng phải gánh chịu, đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng trước tiên họ đáng kính trọng.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM
Ngày 8 tháng 3 năm 2023
Trong “Chuyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi” (1876) của Trương Vĩnh Ký, đoạn phong tục có câu tả Hà Nội.
"Chốn thiềng thị thì công thương tụ, có lộn Ngô Khách. Đàn ông con trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm.”
Liên hệ tới ba truyện ngắn Thạch Lam.
Trong “Cô hàng xén” mọi việc trong nhà cô Tâm lúc chưa lấy chồng đều do mẹ cô lo liệu, bố cô chỉ đi chơi các nhà xa gần có khi vài ngày liền mới về .
Trong “Người bạn trẻ”, có đoạn tả cảnh nhà anh Bào “bà mẹ tráng bánh và thổi xôi để bán”. Còn “thầy anh ta, ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì”.
Trong "Hai lần chết": “Cha Dung chẳng làm gì cả. Từ xưa đến nay vẫn thế. Hình như ông ta sinh ra đời là chỉ để ngồi ở nhà cho lúc nào cũng có người và để những ngày giỗ tết trong họ, khăn áo chỉnh tề đi ăn cỗ mà thôi. Không ai thấy ông ta làm việc gì, mà cũng không ai nghĩ đến sự ông ta phải làm một việc gì đó”.
Tôi chưa biết giải thích hiện tượng này ra sao, chỉ nhớ tới một sự thực trong lịch sử. Suốt thời phong kiến xứ ta liên miên trong chiến tranh, mà chủ yếu là nội chiến, chứ không phải chỉ chống ngoại xâm như các nhà sử học hiện nay vẫn viết.
Nhất là trong các thế kỷ XVII, XVIII, Nam Bắc phân tranh.
Đại khái là các lãnh chúa địa phương bắt người đi lính, thường theo tỷ lệ cứ ba xuất đinh lấy một. Mà lại toàn là những trai tráng khỏe mạnh thông minh chứ loại đui què mẻ sứt vốn rất đông đảo không ai gọi lính làm gì. Bộ phận ưu tú này dù là không đánh nhau chăng nữa, song sống trong cảnh bị kiềm chế, mất hết lý tưởng làm người.
Khi hết hạn lính quay trở về nông thôn, họ không chịu học lấy nghề nghiệp gì mà tự cho mình là có quyền dông dài chơi bời. Kể cả việc dạy con trong gia đình cũng do phụ nữ đảm nhiệm.
Tình trạng đó kéo dài cả trong thời Pháp thuộc và ngày nay nó lại có biến dạng khác.
Đây là một đoạn tả Hà Nôi ngày nay của một người nước ngoài là Drew Taylor, được giới thiệu trên nhiều mạng giữa 2010.
Bài viết có cái tên là "Ngộ quá ta!"
“Đi dọc các con đường và ngõ ngách của quán nhậu ở Hà Nội, bạn sẽ thấy cánh đàn ông chuyện trò rôm rả không thua gì các phiên chợ buổi sáng của các bà. Họ nói chuyện đùa, chuyện tếu, chuyện phiếm, chuyện mặn chuyện lạt một cách say sưa và tự nhiên như thể chỉ có đàn ông là công dân danh dự trên quả đất này. Sau vài tuần bia và rượu, cánh đàn ông không hề trở nên đáng yêu hơn với gương mặt đỏ kè, giọng nói lè nhè hoặc the thé. Rồi họ chuyển sang chuyện chính trị, chuyện đấu đá ở cơ quan, hoặc bắt đầu lên giọng triết lý về các vụ scandal nóng nhất.”
Để chuyện đàn ông - đàn bà sang một bên thì có điều chắc là ngày nay hơn bốn chục năm sau chiến tranh, dân ta CẢ NAM LẪN NỮ vẫn đang "ăn giả bữa", sống lấy hưởng thụ làm chính, càng thấy tương lai mù mịt càng say mê hưởng thụ.
TRẦN ĐÌNH SỬ: VƯƠNG TRÍ NHÀN – GIỮA TẢN VĂN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Ngày 8 tháng 3 năm 2023
Nguồn: Trang Nghiên cứu Phê bình mạng Văn Việt 8 Tháng Ba, 2023
http://vanviet.info/.../vuong-tr-nhn-giua-tan-van-v-ph.../
---
Xin cảm ơn nhà phê bình Trần Đình Sử về bài viết này; trong bài có những phát hiện về tôi nó là cái phương hướng mà tôi theo đuổi dù ít khi đạt tới đích; lại có khi là những hạn chế tôi không khắc phục nổi.
Khi đưa lại bài trên Văn Việt về đây, tôi chỉ mạn phép tác giả sửa lại một hai chi tiết nhỏ về tiểu sử bản thân.
Và với mong mỏi giúp bạn đọc dễ đọc hơn, tôi cũng đã tìm cách tách bài viết thành những đoạn ngắn.
***
Vương Trí Nhàn là nhà phê bình văn học kiêm nhà biên tập viên lí luận phê bình của Nxb Hội nhà văn, rất nổi tiếng với những phê phán, chỉ trích thói hư tật xấu của người Việt.
Ông sinh 15 tháng 11 năm 1942 ở Hà Nội, quê gốc ở xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có truyền thống vẽ tranh dân gian. Sau khi tốt nghiệp khoa Văn hệ hai năm Đại học Sư phạm Vinh rồi học tiếp khóa Văn 3 một năm ở Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1964, ông tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ở đó ông lần lượt dạy học, làm báo, rồi từ năm 1968 ông về làm biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân đội. Đến năm 1979 ông chuyển sang làm biên tập viên cho Nxb Tác phẩm mới, sau này là Nxb Hội Nhà văn cho đến khi về hưu.
Vương Trí Nhàn là nhà phê bình văn học thuộc thế hệ sau năm 1975. Ông là sản phẩm của nhà trường mác xít, nhưng do sớm đọc M. Bakhtin, ông có xu hướng quan tâm văn hóa học. Hoạt động văn học của Vương Trí Nhàn gồm nhiều mặt. Ông sưu tập, biên soạn các loại sách tham khảo, dịch thuật, nghiên cứu các đề tài ông được mời tham gia, viết báo theo đặt hàng, và viết phê bình, sáng tác văn học theo thể loại tản văn. Ông tự học Nga văn và đọc tài liệu tham khảo tiếng Nga, thỉnh thoảng cũng dịch một ít tài liệu. Ông tham gia dịch cuốn Những vấn đề thi pháp của Dostoievski với chúng tôi. Với tư cách là Trưởng phòng Lí luận phê bình của Nxb Tác phẩm mới, ông đã đặt tôi viết cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu cho dịp kỉ niệm năm chẵn 40 năm văn học cách mạng 1985, tham gia viết cuốn Một thời đại văn học mới (1987) cùng với Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo, Nguyễn Đăng Mạnh và tôi.
Sớm sinh hoạt trong môi trường văn nghệ, lăn lộn với cuộc sống, bù khú với các thế hệ nhà văn, Vương Trí Nhàn đã học hỏi rất nhiều từ đồng nghiệp, nhất là khiếu quan sát con người và đời sống, đồng thời ông cũng hiểu biết nhiều điều từ đời sống và nghề nghiệp viết lách của các nhà văn, khiến cho ông sớm thích thú với việc viết các chân dung văn học và khai thác các mặt đời thường của họ. Nhưng ông là nhà văn có quan điểm tự do, không tự khép mình vào khuôn khổ nào hết.
Ông có bài đăng báo từ năm 1965, có sách Sổ tay truyện ngắn, 1980, sưu tập các ý kiến về thể loại, nhưng tập sách phê bình văn học đầu tiên của ông tới năm 1986 mới xuất bản với cái tên rất khiêm tốn: Bước đầu đến với văn học. Cuốn sách chưa đáp ứng được kì vọng của bao người chờ đợi ông, vì đó chỉ là một tập bài phê bình có tính báo chí, tuy có một số nhận xét tinh tế, song các bài viết đều tản mạn, rời rạc.
Vấn đề thể loại của phê bình văn học của ông cũng thành vấn đề. Các khái niệm như tiểu luận, phiếm luận, tản văn không phân biệt nhau rõ rệt. Thể loại phiếm luận thích hợp với cá tính tự do của ông. Hầu như ông không viết được tiểu luận, mà chỉ viết được các bài dạng tùy bút văn học. Thực tế ông vẫn viết tiểu luận, nhưng vẫn nghiêng về tản văn. Ông viết phê bình không bao giờ trích dẫn, tự cho là nguồn thứ nhất, nặng về chủ quan.
Các nhan đề sách như Những kiếp hoa dại, Cánh bướm và hoa hướng dương nghe không giống cách hình dung nhà văn chiến sĩ thời ấy. Tất cả những điều đó dự báo những điều khác biệt đầy cá tính ở nơi ông. Cùng năm 1986 ông có sách Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội, kể chuyện đời sống văn học với nhiều kí ức và chi tiết đời thường.
Đến Những kiếp hoa dại – chân dung và phiếm luận văn học (1993) Vương Trí Nhàn vừa viết các chân dung văn học qua tưởng tượng, hư cấu về các nhà văn đã mất, trừ Nguyễn Huy Thiệp, vừa viết tản văn về đời sống, để lộ cái khuynh hướng quan sát về đời sống văn hóa trong giới văn học. Có những bài rất sâu sắc như Văn hóa quà vặt, Phê bình trong cơ chế tự thỏa mãn, phê bình một số hiện tượng tầm thường trong đời sống.
Vương Trí Nhàn là người rất nhạy bén đối với vấn đề văn hóa. Ông đã nêu vấn đề hội nhập quốc tế rất sớm từ những năm 90 và bị một số người phản đổi để 10 năm sau Hội Nhà văn lại nêu lại vấn đề. Có những bài khái quát sơ lược. Đó không phải chỉ phê bình, mà là sáng tác văn học. Nhưng cái tên sách trên gợi nhiều đến các chân dung, các đời văn. “Kiếp hoa dại”, một cách nhìn lạ, bởi không còn là “những chiến sĩ”, mà là hoa dại với đủ thứ thói tật, như chất lang chạ, quyền được hách, thói suồng sã…
Ông quan tâm đến đặc điểm văn hóa nghề nghiệp của đời văn. Đến sách Cánh bướm và hoa hướng dương (1999) cái hướng viết về đời văn các tác giả và các quan sát về văn hóa không chỉ càng càng thêm đậm nét, mà đã thành một tiếng nói rất riêng của Vương Trí Nhàn.
Tập Buồn vui đời viết (2000) của ông đã nêu lên bao nhiều hiện tượng bất cập trong đời sống văn hóa với nỗi lòng băn khoăn sâu nặng.
Tiếng nói của ông không hòa điệu với tiếng nói chung. Sức hấp dẫn của ông là ở cá tính. Đặc sắc của Vương Trí Nhàn là những suy nghĩ từ đời sống, từ thực tế, không hề mang tính sách vở.
Tôi từng nhận xét Vương Trí Nhàn là người viết tản văn hay và ông cứ dùng dằng giữa văn học và phê bình văn học. Mối bận tâm về tình trạng văn hóa người Việt của ông thường trực và lấn lướt mối bận tâm về văn học! Nếu cứ tản văn mà đi thì biết đâu ông có thể là nhà tạp văn nổi tiếng, nhưng ông lại mê chuộng phê bình tưởng không rứt ra được, rồi cuối cùng cũng không theo phê bình mà chuyển sang nghiên cứu văn hóa.
Về chân dung văn học, tập đại thành của ông là tập Cây bút đời người, 2002, viết chân dung dày dặn của 12 nhà văn: Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thành Long, Nhị Ca, Thanh Tịnh, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Xuân Diệu.
Các chân dung này là sự viết lại, bổ sung các bài đã viết trong hai tập trước. Cũng là một kiểu tản văn. Cuốn sách được xếp vào loại sách hay. Khác với loại chân dung phác thảo mấy nét thường thấy, đây là những chân dung dài, thường 20 trang, có khi 40 trang, dài nhất gần 50 trang, viết khá kĩ về từng tác giả.
Ông kể về cách làm thơ của Xuân Quỳnh do chị kể lại, cuộc đời dang dở của Nghiêm Đa Văn, khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Khải muốn đứng ở đỉnh cao, cái phần bị lãng quên của Lưu Quang Vũ.
Ở tập này điều đáng chú ý trước tiên là quan niệm của tác giả về chân dung nhà văn. Vương Trí Nhàn hiểu “bên cạnh các bài thơ, cuốn truyện”, các nhà văn “thường xuyên sáng tạo ra” “con người của chính ông ta, tính cách của ông ta”. Nhà phê bình sẽ phát hiện ra con người ngoài văn học đó mà làm nên chân dung của họ.
Nếu ở các nhà phê bình khác chân dung nhà văn thường mang những nét đẹp lí tưởng hóa, thì Vương Trí Nhàn muốn chứng minh ngược lại: “ngoài đời có bao nhiêu kiểu người thì trong văn chương có bấy nhiêu kiểu người cầm bút, ở đây cũng có thánh thần và có ma quỷ, và trừ một số tài năng sáng chói, thì phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm thường lẫn chỗ cao quý.” (Lời dẫn). Và những đặc điểm ấy làm cho đời họ, số phận họ có điều thú vị. Đây cũng là một ý tưởng đáng chú ý để tránh lối lí tưởng hóa ngây thơ. Hóa ra, Vương Trí Nhàn muốn dựng chân dung những con người làm văn chương ngoài văn chương của họ.
Theo quan niệm lí thuyết hiện thời, khi đề cập đến tác giả, người ta chia ra làm ba bình diện. Một là tác giả tiểu sử, tức là con người thực ngoài đời, ngoài văn chương với đủ loại hành trạng tốt xấu của nhà văn.
Hai là chủ thể sáng tạo, tức con người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm, tồn tại hàm ẩn,
và ba là hình tượng tác giả, cái phần tác giả tô vẽ về mình hoặc người đọc cảm thấy mà hình dung về họ.
Nghiên cứu, phê bình văn học đề cập tới hai bình diện sau. Bình diện thứ nhất sẽ được các nhà văn học sử quan tâm ít nhiều.
Xét như thế thì tập sách của Vương Trí Nhàn không hoàn toàn thuộc lĩnh vực phê bình, bởi phê bình trước hết lấy tác phẩm văn học làm đối tượng.
Có thể nói Vương Trí Nhàn hình như có xu hướng trở về với trường phái phê bình tiểu sử học, tức là khám phá cái phần nằm bên ngoài văn bản cuả nhà văn mà trước đây Sainte Beuve đã khởi xướng. Xu hướng này đã bị các nhà văn đầu thế kỉ XX như Marcel Proust, hay nhà phê bình Nothrop Frye đã kịch liệt phản đối và hô hào phải vượt qua, bởi theo họ, đó chỉ là một thứ phê bình bên ngoài, không liên quan gì tới văn học cả.
Nhưng may, Vương Trí Nhàn vẫn để tâm ít nhiều vào con người sáng tác của nhà văn chân dung của ông. Có thể nói các tác giả chân dung ít người đi sâu vào mặt này như ông, có thể vì họ không có cái kinh nghiệm của ông.
Chân dung văn học của ông là một lối văn kể những mẩu chuyện mà ông đã trải nghiệm với nhà văn, hay nghe kể về nhà văn, khác với chuyện tưởng tượng.
Ông kể cách làm thơ của Xuân Quỳnh, việc học ngoại ngữ không thành của chị, sự quy định của hoàn cảnh, khát khao và lầm lỡ, và ảo tưởng trong thơ về những gì tốt đẹp nhất.
Về Lưu Quang Vũ vốn rất nổi về kịch, thì ông chỉ viết về một mảng thơ “chán đời” bị quên lãng của ông, mà thực ra ngày nay người ta đã phát hiện ở nhà thơ này nhiều điều đi trước thời đại.
Ông kể về cách viết của Nguyễn Khải, ông liên hệ cách ý thức về ngôn ngữ của các nhân vật trong truyện của nhà văn để hình dung quan niệm của nhà văn đối với ngôn ngữ, một ý hay, và về cuối đời nhà văn chỉ khai thác bản thân mình để viết.
Viết về Nguyễn Minh Châu, Vương Trí Nhàn chỉ ra nhà văn viết với một ý thức hiện đại. Nguyễn Thành Long, người đã viết truyện Lặng lẽ Sapa được đề cao và Một trò chơi nguy hiểm bị phê phán. Các chân dung về Nhị Ca, Thanh Tịnh, Tế Hanh đều hiền lành.
Viết về Nguyễn Tuân – người nhập vai, Vương Trí Nhàn bắt đầu với con người lãng tử, kế thừa từ những thế hệ lãng tử cao quý trong quá khứ, rồi đi kháng chiến ông trở thành người cán bộ, người làm nghề, người chơi, nhà văn như là người đi đường, ý nói ông nhập vai nhiều kiểu người. Ý tưởng thật hay, nhưng đi vào bài viết vẫn có những chỗ thiếu nội dung, phải độn.
Đến Tô Hoài, Vương Trí Nhàn mới kể sự hình thành nghề văn và bản lĩnh văn học của ông bằng những chi tiết rất vụn vặt, bình thường. Văn hóa của ông chưa qua hết tiểu học, cho nên ông tự học liên tục, viết văn tạp, đủ các thứ nhếch nhác xung quanh, nhưng nhà văn đứng cao hơn. Viết liên tục, ở đâu cũng viết được, không cầu kì. Nhờ thế lên Việt Bắc ông nhập cuộc rất nhanh. Trong viết lách ông rất chăm chút bản thảo. Trong quan hệ với mọi người, ông luôn luôn thỏa hiệp, để cho việc trở nên nhẹ nhàng. Nhưng cũng tùy tiện. Gặp việc khó xử thì tránh mặt. Ông được coi là lõi đời, sành sõi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt. Về già ông nín nhịn, lảng tránh. Khi cần ông viết cho qua. Đời viết văn phù du. Tô Hoài thực dụng, có chút hư vô, một chút khinh bạc.
Theo Vương Trí Nhàn, phương châm nhà văn Tô Hoài là viết nhiều, không coi mình là quan trọng, khen chê đối với ông vô nghĩa. Vương Trí Nhàn tập trung kể về một người làm nghề có ngọn ngành.
Về Xuân Diệu nhà phê bình nhấn mạnh mấy điểm, sự sống chẳng bao giờ chán nản, nhẫn nhịn như một cách sống và sáng tạo để đối diện với hư vô. Nhưng nhà viết chân dung cũng không quên cái nết tham lam, sự khó tính, khiến cho chân dung nhà thơ có nét nhòe, nét dung tục. Ví như chuyện ông giấu biệt việc ông là thành viên của nhóm Tự lực Văn đoàn, làm tuyển tập thì tham, muốn tuyển hết tác phẩm của mình. Nếu đủ tính khoan dung thì nên coi đó là “chuyện hàng ngày ở huyện”. Tuy nhiên, ở nước mình, thói quen lí tưởng hóa nhà văn, lãng mạn hóa họ, phê bình một chiều cũng là sản phẩm tư duy thịnh hành của một thời, nhất là các thầy cô dạy văn bên sư phạm, cho nên việc làm của Vương Trí Nhàn cũng có tác dụng chữa trị nào đó, khiến cho người đọc bớt chút hồn nhiên, ngây thơ.
Với lại việc phát hiện mặt đời thường, nhếch nhác của nhà văn cũng đã thể hiện qua Chân dung nhà văn của Xuân Sách (1992), được mọi người hâm mộ. Tập hồi kí Cát bụi chân ai của Tô Hoài (1992) dựng chân dung Nguyễn Tuân, có các chi tiết đời thường trái chiều, cũng được mọi người thích thú. Thực ra trong thích thú ấy có chút vạch áo cho người xem lưng, mà các tác giả lớn chẳng mấy ai lấy làm điều.
Trong chiều hướng ấy, cuốn Cây bút đời người cũng được nhiều người thích thú, tất nhiên không tránh khỏi có người phản ứng. Nhưng đến nay thì cuốn sách đã được coi là sách hay, được tái bản, một đóng góp của tác giả. Nếu không có mối quan hệ khăng khít với các nhà văn hẳn tác giả không thể viết được như vậy và viết cũng có mức độ, thiết nghĩ không có gì quá đáng.
Năm 2003 ông có tập Ngoài trời lại có trời, giới thiệu về tác phẩm, tác giả văn học nước ngoài, giúp mở rộng tầm mắt. Nhìn lại chân dung văn học của Vương Trí Nhàn thấy chủ yếu ông thiên về quan sát các chi tiết bề ngoài của con người nhà văn, cũng có lúc dính chút phong cách nghệ thuật, chút ít nghề nghiệp.
Là nhà phê bình có tài nhận xét tinh tế, Vương Trí Nhàn song ít khi thấy ông phê bình hẳn hoi một tác phẩm văn học, thường thì ông quan tâm các khía cạnh thi pháp hay suy xét về tính cách của tác giả. Tập Phê bình và tiểu luận của ông (2008) tập hợp nhiều bài phê bình và nghiên cứu có giá trị.
Ông quan sát sự diễn biến của thi pháp thể loại văn học. Bài Một thể tài thích hợp với thời chiến nghiên cứu thể kí và sự xâm nhập của nó vào truyện và tiểu thuyết.
Nghiên cứu Sự tiến hóa của truyện ngắn, ông xác nhận “Tính nội dung của hình thức là một điều có thật”. Từ quan niệm ấy, ông tiến hành loại hình hóa các thể tài truyện ngắn Việt Nam một thời kì. Truyện ngắn-tiểu luận thời 1945-1946 như Tiếng nói của Nguyên Hồng, Một lần tời thủ đô của Trần Đăng, Người tù bình da đen của Ngyễn Đình Thi. Cho đến Đôi mắt của Nam Cao vẫn rõ có chất tiểu luận. Truyện ngắn sau đó lại gắn với sự thay đổi, đổi đời của con người, có tính truyện. Truyện ngắn thời chống Mỹ có tính nửa truyện nửa kí, truyện ngắn từ năm 1967-70 lại có chất thơ. Nhà phê bình cho rằng phải thay đổi về nội dung thì mới có thể có hình thức mới. Đó là một nhận định rất đúng. Có lẽ nên gọi đó là những biến đổi của truyện ngắn thì đúng hơn là “sự tiến hóa”.
Bài Thử nhận diện tiểu thuyết sau 1945 chỉ ra sự đổi thay từ tiểu thuyết toàn cảnh, sang tiểu thuyết kí sự và nói chung các nhà văn chưa có quan niệm đúng về tiểu thuyết. Nhận xét về chủ đề của truyện ngắn Việt Nam sau 1945, Vương Trí Nhàn khái quá thành các chủ đề thức tỉnh, nhân thức, ân nghĩa, ân tình, đời thường trong bao quát của chủ đề giải phóng con người.
Các bài viết về Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Kim Lân, Nguyên Hồng, Tô Hoài thiên về chân dung tác giả.
Bài phê bình sách Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải được gọi là những “nhận xét”, thể hiện năng lực phản biện gần như “lột trần tác giả” của ngòi bút Vương Trí Nhàn.
Bài phê bình Nhận diện con người hậu chiến trong Thời xa vắng của Lê Lựu cũng thể hiện cách phân tích sắc sảo của nhà phê bình. Ông chỉ ra một cuốn sách yếu về tay nghề mà cuốn hút người đọc vì chất sống tươi ròng.
Phê bình thơ Đồng Đức Bốn, Vương Trí Nhàn chỉ ra cái chất cũ kĩ, cổ sơ, quê mùa, hoang dại.
Bài phê bình về tiểu thuyết của Bảo Ninh gợi ra rất nhiều khía cạnh, nó cho thấy một năng lực thẩm văn dồi dào.
Thế nhưng qua bài viết Với độc giả chúng ta là người có lỗi (Văn nghệ trẻ, số 16, 18-4-2004), hoặc bài Một nền phê bình thấp lè tè (2003) người ta lại thấy nhà phê bình chưa thực sự tự ý thức đầy đủ về nghề của mình, thậm chí ông vừa có vẻ cao đạo, lại vừa có chút tự ti.
Các tập sách Chuyện cũ văn chương (2001) gồm 64 mẩu chuyện văn ngắn kiểu tản văn, phiếm luận đăng báo, kể đủ chuyện văn chương thời trước, gặp gì viết nấy.
Tập Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho tới 1945 (2005) với 17 bài, chủ yếu là các tiểu luận đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, đề cập tới 10 nhà văn tiếp xúc và góp phần hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Nhìn chung lại, văn chương của Vương Trí Nhàn chỉ viết nghiêng về chuyện văn, chuyện đời, số phận tác phẩm của các nhà văn, mà ít đi sâu vào tác phẩm, nhà văn nào cả, mặc dù có thể ông biết rất kĩ về họ.
Nhìn chung ông không hát chung một bè với dàn đồng ca phê bình. Trái lại, ông thiên về phản tư, thường có những nhận xét sắc sảo về đời sống văn học, những thói tục tiêu cực, mà dần dần ông thấy nổi lên trong đó là vấn đề văn hóa, và ông chuyển sang văn hóa học.
Có thể nói, tản văn là phong cách phê bình của ông. Ông cũng đã có một cơ hội nghiên cứu văn hóa Việt Nam với nhà văn Tô Hoài, ấp ủ một công trình về văn hóa Việt Nam, nhưng mãi rồi vẫn chưa thấy sách ra. Tôi được biết ông đã từng tham vấn nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu, nhưng không may học giả này mất sớm.
Nói là văn hóa học, song ông quan tâm mặt trái của văn hóa nhiều hơn. Ông đã viết về Những chấn thương tâm lí hiện đại (phiếm luận, 2009), năm 2018 cùng Trần Văn Chánh ra sách Người xưa cảnh tỉnh – thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỉ XX, trích dẫn nhiều ý kiến về thói hư tật xấu người Việt. Đó là những vấn đề mà ông đã dành rất nhiều tâm huyết, thuộc phê bình văn hóa, nhưng đã nằm ngoài phê bình văn học.
MỘT GHI NHẬN CỦA PHAN KHÔI CÓ LIÊN QUAN TỚI LỊCH SỬ VIỆT NAM
Ngày 14 tháng 3 năm 2023
Rút từ Fb Lại Nguyên Ân
********************
Hôm ở Huế, tình cờ nghe ai đó nhận xét trên đất vùng này thấy rất nhiều mồ mả. Bèn nhớ một bài tạp văn của Phan Khôi:
NGƯỜI CHẾT NHIỀU HƠN KẺ SỐNG
Cái đầu đề đó hiện ra ở dưới ngòi bút tôi hôm nay nhưng nó đến trong trí tôi từ chiều chủ nhật trước, sau một cuộc du lãm trên núi Ngự Bình.
Tội nghiệp cho tôi! Người ta đi chơi trên núi Ngự Bình thì sao họ thấy những cảnh gió mát, thông reo, trăng lên, khói tỏa là những cảnh nên thơ; mà còn tôi, vô duyên lắm thay, tôi không thấy những cái ấy mà chỉ thấy cái … chết!
Úi chà! Làm sao mà ở trên núi Ngự Bình trông xuống tôi thấy những mả là mả! Những cái bãi tha ma khuất đi dưới những trái đồi nhỏ làm mình ở trên cao trông xuống không thấy chẳng nói làm chi. Chỉ kể những bãi tha ma trông thấy rõ lắm cũng đến mươi cái là ít, mà số mả thì ôi thôi, không biết bao nhiêu mà kể.
Tôi thâu lại một con số rất nhỏ, cho đi rằng mười vạn nấm mồ. Thế cũng còn nhiều hơn số người hiện sống ở Kinh thành đây đến gấp tư gấp năm.
Người chết nhiều hơn kẻ sống là một cái hiện trạng đáng buồn cho người thấy nó.
Thình lình tôi hỏi tôi một câu trong lúc bất ngờ: Bởi sao ở chỗ Kinh thành lại có nhiều người chết thế kia?
Phải chăng chỗ này là chỗ danh lợi để nhử khách bốn phương: họ đến đây tranh đoạt cùng nhau cho chán rồi rốt cuộc rủ nhau ra nằm ở nơi đất sỏi cây cằn, chung quanh núi Ngự Bình trông xuống?
Phải chăng từ hơn ba trăm năm nay, chỗ này làm chỗ giành nhau, trước hết là Nguyễn với Trịnh, giữa là Nguyễn với Tây Sơn, sau là người Nam với người Pháp, rồi rốt lại chỉ còn nhắm xương tàn vùi trong những cái bánh dầy bằng đất để làm cảnh bằng điếu cho khách du quan?
Phải chăng bên cạnh cái cao quý, cái trọng vọng, cái vinh hoa, thì luôn luôn có cái thối tha, cái thảm sầu, cái vô danh vô vị?
Phải chăng gần với cái hách dịch là cái điêu tàn, tiếp sau cái sống lẫy lừng là cái chết ủ dột?
Số người chết mà nhiều đến gấp tư gấp năm như thế, làm cho tôi biết quả rằng sự sống của người sống ở đây là không vững chút nào. Họ chạy đằng nào cho lọt ra ngoài cái số chết gấp tư gấp năm ấy được?
Đã thế thì làm quái gì với cái hách dịch? Mà sống cho thật lẫy lừng chăng nữa, trong mươi, mười lăm năm tới đây cũng chẳng còn lẫy lừng với ai?
Tôi thấy cái cơ nguy của bao nhiêu người sống ở đây!
Tôi còn thấy cái cơ nguy hơn nữa của bao nhiêu người sống ở đây mà sống một cách hách dịch lẫy lừng, vì những người ấy chiếm một số rất ít!
Tôi cũng thấy cái cơ nguy của tôi nữa, vì tôi cũng là một trong đám người sống ở đây và tranh danh đoạt lợi!
Biết đâu vài mươi năm nữa lại chẳng có người như tôi, lên trên núi Ngự Bình trông xuống mà bằng điếu những nhắm xương tàn vùi trong cái bánh dầy bằng đất lại còn nhiều hơn ngày nay, mà trong đó có những người sống tầm thường, có những người sống lừng lẫy, có cả tôi!…
SAO ĐUÔI
Nguồn:
Tràng An, Huế, s. 53 (30 Août 1935), tr. 2
***
MẤY GHI CHÚ NHỎ
1/
Tôi lấy bài viết này từ trang Fb của bạn Lại Nguyên Ân mà lại quên ghi ngày tháng. Xin lỗi anh Ân và các bạn.
2/
Có những chữ trong văn bản dưới đây vốn là từ Hán Việt phổ biến phải tra từ điển mới rõ được.
Ví dụ trong phân câu “rốt lại chỉ còn nhắm xương tàn vùi trong những cái bánh dầy bằng đất để làm cảnh bằng điếu cho khách du quan?”
Tôi mở Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh.
“Du quan” được cắt nghĩa là đi chơi để xem xét.
Nhưng tìm tới chữ “bằng điếu” thì không thấy từ này. Nếu tra thêm các từ điển cổ hơn, chắc có. Trong điều kiện sức khỏe của tôi hiện nay tôi không làm được.
3/
Chỉ riêng cái ý đặt làm đầu đề NGƯỜI CHẾT NHIỀU HƠN KẺ SỐNG, tuy không nên hiểu theo nghĩa đen, song đã có thể coi như một quan sát sâu sắc gợi ý cho những ai dự định nghiên cứu lịch sử Việt Nam khác hẳn lối viết sử chỉ một chiều ca ngợi chiến tranh hiện nay.
Xin phép nói thêm rằng đây cũng là ý mà tôi từng nêu trong bài NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM đưa trên Fb này 8-3-2023 “Suốt thời phong kiến xứ ta liên miên trong chiến tranh, mà chủ yếu là nội chiến, chứ không phải chỉ chống ngoại xâm như các nhà sử học hiện nay vẫn viết. Nhất là trong các thế kỷ XVII, XVIII, Nam Bắc phân tranh.”
4/
Lại còn những câu mang hàm ý triết lý sâu sắc, ví như “Phải chăng bên cạnh cái cao quý, cái trọng vọng, cái vinh hoa, thì luôn luôn có cái thối tha, cái thảm sầu, cái vô danh vô vị? Phải chăng gần với cái hách dịch là cái điêu tàn, tiếp sau cái sống lẫy lừng là cái chết ủ dột?”.
Nhiều người chúng ta có thể nói ra điều đó, nhưng cảm thấy sự thực này một cách sâu sắc diễn tả nó bằng những ngôn từ quyết liệt như Phan Khôi ở đây – việc đó khó lắm.
--
Vì những lý do như thế, chúng ta hãy cùng đọc lại bài sưu tầm này của Lại Nguyên Ân. Và nhân đây cũng mong anh Ân thỉnh thoảng lại trích ra những bài viết ngắn thế này để giúp chúng ta hiểu thêm tầm vóc ngòi bút chính luận Phan Khôi. Khi đọc những sưu tập dày dặn hàng năm của tác giả, bản thân tôi -và tôi đoán có nhiều bạn cũng như tôi - thường mải chạy theo những chủ đề lớn và bỏ qua những bài nho nhỏ như thế này, và điều đó quả là đáng tiếc. Nói như Xuân Diệu ngày nào cả đến rễ cúc cũng có hương vị riêng của cúc.
HÀ NỘI THÁNG 3 – 1973 (đoạn 1)
Ngày 15 tháng 3 năm 2023
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
***
2/3
Những lo ngại, mà tôi cảm thấy ngay từ lúc mới nghe tin hoà bình, hình như là có thực. Đây là những ngày quá độ (Nguyễn Minh Châu: “lúc này là cứ phải đi chậm lại”).
Dỏng tai nghe, về phía nào, cũng thấy có những tiếng động. Người ta mở ra ư? Có mở đấy. Nhưng mở thế nào, mở đến đâu không ai biết?
Hân kể ông Lê Duẩn nói chuyện ở Trung ương Đoàn bảo sẽ tăng cường cán bộ phụ trách dưới 30 tuổi. Sẽ xoá bỏ cái ách lâu nay của công tác cán bộ là vấn đề liên quan lý lịch. Sẽ đánh giá con người trên hai tiêu chuẩn tài năng và nhân cách.
Nhưng ngay đấy, cũng đã có những lời răn đe.
Những nạn nhân của sự mù mờ cứ tò tò mọc ra hàng ngày.
Có tin Nhà nước cho mỗi người vay 500đ. Để mua hàng. Phải mua bằng hàng. Báo Nhân Dân đăng tin cẩn thận. Nhưng về Hà Nội, lập tức có tin ngược lại. Đó là do một ông Thứ trưởng nào đó nói ra chứ cấp trên cùng đâu có chủ trương vậy. Ông Lê Duẩn trị ngay. Cái này để hỏi anh Đồng xem, anh lấy là Thủ tướng. Ông Đồng bảo không, không biết.
Nhị Ca: Thôi phen này, ông Thứ trưởng kia hết ngóc đầu dậy.
Còn biết bao nhiêu chuyện trong nội cung theo kiểu như vậy? Trước sau, có lẽ cũng sẽ có những thay đổi. Nhưng phải bắt đầu từ trên. Trứng khôn hơn vịt là không được. Cái mối quan hệ trên dưới, cá nhân, quần chúng - lãnh tụ, những cái đó không được quy định thành văn bản, nhưng anh phải hiểu.
Tình hình thời sự nhộn nhạo. Ngừng bắn, vi phạm, mình vi phạm, nó vi phạm, hữu khuynh, tả khuynh -- những chuyện mà quả thực không ai muốn phải nghe nữa, vẫn lặp lại hàng ngày.
Có tin sĩ quan của ta vào trong kia công tác, bị đánh, bị hành hạ. Báo chí làm um cả lên. Nhưng giá kể hỏi nguồn ở đâu ra, có chính xác không, thì không ai biết. Một ông Thiếu tướng ta làm dáng, ôm hôn viên thiếu uý địch, sau hình như thấy hối, quay về phải nói ngay với chung quanh là không, mình làm thế thôi, không có nghĩa gì cả.
Đợt trao trả tù binh Mỹ đầu tiên trót lọt. Mọi người đi xem về bảo mình cũng tuyệt lắm, không có lên giọng tuyên truyền dài dòng. Khi mà Việt Nam với Hoa Kỳ định không đánh nhau nữa, thì mọi chuyện sẽ xong cả thôi.
Rồi lại có tin mọi chuyện còn khó. Ngừng trả tù binh. Tiếp tục trả. Không một lời giải thích chính thức.
Tôi chỉ nghĩ, cứ như mình, chắc chả có chuyện gì. Như đã chả có những đường phố bụi bẩn, những người bán hàng cửa quyền, những chuyến tàu chậm giờ, những sự sinh sôi vô tội vạ. Bởi đã không có chiến tranh...
Còn tương lai ở trong kia ra sao? Đất, ta được bao nhiêu? Dân, bao nhiêu? Không ai biết. Trước mắt vẫn đang lấy người đi chiến trường. Bởi theo hướng dẫn, tức là phải xây dựng trong kia thành một vùng độc lập. Lấy đâu ra người?
Có tin sẽ đưa một đoàn nhà văn quân đội vào B2.
Nguyễn Khải cũng có tên trong danh sách đó. Mỗi ngày ông hở cho tôi một ít tin tức cùng một ít tâm sự:
-- Chính tôi lần này cũng thấy bất ngờ. Mình cứ tưởng là một vài ông vào làm phép thôi. Nhưng mà tôi lại tự nhủ bao giờ chẳng thế. Thành ra đành cứ im tho.
--Trong cả bọn đi, chỉ có tôi là trông bợ nhất. Ông Xuân Thiều hen, ông M.L ông Tr.L, ông nào cũng một đống bệnh. Toàn những người già rồi. Ông Xuân Thiều xin xung phong, trên lại nhận cho ngay, thế mới dại. Cái ông ấy xưa nay cái gì cũng khôn, nhưng đến việc quyết định thì lại dại. Nhưng mà thôi, cứ trông như thằng Sĩ Hanh, chuyến đi nào cũng thấy có mặt, thì mình lại yên tâm được.
-- Nói thế, chứ đã thấy động dạng gì đâu. Ở ngoài, cánh Nam bộ từ chối hết. Vì mình là người miền Bắc, mình vào còn có lúc mình ra. Chứ như họ người miền Nam, quay vào trong ấy là ở hẳn thôi. Bây giờ họ già cả rồi, cuộc đời không còn biết xoay sở ra sao nữa. Có ông cũng chỉ đợi chết già. Lý để họ từ chối là thế. Nhưng mà mình thì phải đi thôi.
-- Phen này ông Khải lại làm cò mồi? – sáng nay có ông lại hỏi tôi vậy. Tôi phải trả lời tôi là bộ đội thì tôi phải theo lệnh... Chỉ mong là mình vào lần đầu, mọi thứ còn cần tuyên truyền, để mồi cho các lần sau. Chứ một hai năm nữa, đến lượt các ông vào ấy à, cứ như là rơi vào cái vực không có bao giờ ra được nữa. Xưa nay người ta dùng người vẫn thế, gạt gạt như gạt con số, thiếu úy, trung úy cũng cần mà thiếu tá, trung tá cũng cần. Cần cả anh chưa đi lần nào lẫn anh đã đi vài lần, đã có kinh nghiệm. Ăn may là thoát.
Thế mới biết, tên tuổi như các ông ấy, mà cũng chỉ là cát bụi, nói chi đến lớp sau bọn tôi.
Rồi người ta nói thêm về tình hình trong ấy, nhất là cái nhìn thiển cận, đầu óc địa phương của các ông chỉ huy, sự mất đoàn kết Bắc-Nam.
... Tất cả những chuyện này bắt nguồn từ đâu? Sao lại có đủ thứ ai cũng biết mà không ai nói với ai -- những cánh rừng không dân, những đoàn quân tự vò xé trong cơn đói, những đoàn người đi về như mộng du -- và có thể sau này phải kể, là những sự thất bại, những đau đớn quằn quại. Có một cách nào khác không?
Vả chăng, vấn đề còn nằm ở chính ngoài này nữa. Tôi nhìn quanh mình, những lớp người già cỗi; đám trẻ vô học; bao nhiêu người thân tàn ma dại, không có khả năng làm lại cuộc đời. Đời sống chó sói với nhau, giả dối với nhau. Tất cả những cái đó là từ đâu đến? Tại sao chúng ta lại tự ràng buộc với nhau, theo kiểu như vậy? Sao ta lại đến chốn này / Số ta là số ăn mày ta ơi!
Nhàn: Không biết việc này bắt đầu như thế nào?
Khải: Nó bắt đầu như mọi chuyện đã bắt đầu, chứ còn thế nào nữa? Làm gì có nguyên tắc với lại luật lệ nào mà ông cứ hỏi vớ hỏi vẩn.
Chuyện gì cũng có thể xảy ra. Ví dụ bây giờ ông ấy bắt sáng tác tập thể. Ví dụ bây giờ, có thể, ông ấy muốn tất cả sách của các nhà văn quân đội đều phải in ở Nhà xuất bản Quân đội. Cứ mang về đấy đã rồi có gì thì ta sẽ góp ý kiến lại với nhau. Ai bảo rằng chuyện đó không có khả năng xảy ra? Hỏi ông có trốn được không?
Khi một guồng máy được tổ chức theo kiểu đánh giặc, thì nó không dùng được vào việc gì khác – tôi nghĩ.
Ghi chép từ 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 3 – 73 (đoạn 2)
Ngày 17 tháng 3 năm 2023
-
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
---------------
4/3
Tôi biết làm sao để sống một cách mà tôi cho là đáng sống. Cái cách sống ấy quá khó khăn trong giai đoạn hiện nay.
Cùng lúc muốn làm bao nhiêu thứ, đến nỗi không yên tâm làm bất cứ việc gì.
Tôi tin sách vở, và yêu những cuộc sống cũ, nó có cái nhịp điệu đều đặn của nó. Nay không sống được trong những điều kiện ấy nữa. Muốn đọc những cuốn sách hay, nhưng chung quanh, chỉ có những sách dở.
Nhìn vào mọi thứ, thấy đáng lẽ nó phải khác. Lẽ ra người ta phải sống tốt hơn. Nhưng lúc nào cũng nghe thấy những chuyện làm hại nhau, cấu xé nhau, rồi dại dột, rồi nhầm nhỡ.
Nếu có một cái gì đó nó giống với điều mong ước, như là tử tế, tình nghĩa, thì ngay lập tức hiểu ra, đó chỉ là bề ngoài tạm bợ. Cái tốt không thể thực hiện. Có một sự hỗn loạn, một sự lẫn lộn đến mức không thể chịu được bao trùm trong cách nhìn, trong cách sắp xếp đánh giá.
Một bài thơ của N. Vazarov (Bulgari) mang cái tên "Tàn ác, cuộc đấu tranh khốc liệt đến cùng."
Một cảm giác mà Xuân Quỳnh thường kể: Trước cái đời sống thế này, nhiều lúc như là xót ruột, như là cảm thấy bị bào vào ruột thật sự. Một cảm giác rất cụ thể, rất vật chất!
5/3
Một vấn đề trong vở kịch Mỹ "Con tôi cả": Tội ác có nguồn gốc của nó. Nhưng chẳng lẽ do đó con người ta phải bằng lòng chấp nhận? Chẳng lẽ người ta có thể làm bất cứ việc gì theo cái lý của mình.
Thế còn những nguyên tắc chung, sự công bằng? Thế còn...
Nguyễn Thuỵ Ứng khái quát:
-- Một mặt thì chúng ta đánh thắng Mỹ. Một mặt thì nhìn quanh, mọi việc của chúng ta đều lay lứt, vơ vẩn. Vậy thì vấn đề là phải xem lại tiêu chuẩn giá trị. Cuối cùng chỉ có một an ủi là chúng ta không chết. Thế thôi. Không chết chứ không phải chúng ta sống.
Nhàn: Đời sống bây giờ nhiều vấn đề phức tạp, người ta dễ lạc hậu lắm, dễ bảo thủ lắm, ở chiến trường càng bảo thủ.
Khải: Đúng thế... Tôi vừa gặp một tay bạn cũ là ông Nguyễn Đình Tiên, ông ấy mới ra. Lúc đầu thì ông ấy kêu, cho là các ông ngoài mình sống thoải mái quá nói cụ thể là vô trách nhiệm với chiến trường quá. Nhưng chỉ ra ngoài này ít lâu, là ông ấy hiểu ngay. Tại sao con mình học kém? Vì ở trường thầy cô có dạy gì đâu. Tại sao nó yếu? Bởi vì nó thiếu chất đạm. Sung sướng gì cái hậu phương này! Thành ra mỗi anh, cả anh ở chiến trường lẫn anh ở đây, đều có cái vất vả riêng và bất mãn riêng.
Tôi biết rằng những cái mà hôm nay chúng ta còn nói với nhau và coi là câu chuyện đằng sau, chuyện phụ - chỉ cần im tiếng súng thôi, thì nó sẽ là chuyện chính.
Ông Lê Duẩn nói chuyện ở báo Nhân Dân.
- Thắng lợi vừa qua là thắng lợi vĩ đại, nhưng nếu ta không làm gì tiếp tục, thì sẽ chẳng có gì hết. Không thể làm ăn như mười năm qua nữa. Không thể sống quá nhiều bằng dĩ vãng, đừng để quá khứ đè nặng lên chúng ta. Ta đừng quá say sưa về những lời thế giới ca ngợi chúng ta. Sau đây ít lâu, dân ta phải biết nghèo là gì mới được.
- Ta chú ý quá nhiều vấn đề đạo đức. Phải đặt vấn đề lý trí trước đạo đức. Ai bảo Đảng ta không biết lãnh đạo kinh tế, chỉ biết lãnh đạo chính trị. Không. Đảng ta lãnh đạo kinh tế cũng tài.
- Báo Nhân Dân ít người đọc, như thế là không được. Phải cải tiến tổ chức để mọi người đọc báo nhiều hơn nữa.
- Tôi lên Chèm, thấy nhà nuôi lợn tập thể rất kém. Tôi rất ngạc nhiên. Đã có nghị quyết 19 rồi, sao vẫn thế.
- Tôi rất hoang mang...
- Tôi suy nghĩ rất lung...
- Tôi hoài nghi... Sau hoà bình, mọi người không biết nên buồn hay nên vui, điều đó làm ta phải suy nghĩ.
Đảng ta lãnh đạo nước ta ba chục năm nay. Công cũng nhiều, mà tội cũng nhiều. Tội là hiện trạng nghèo khó như hiện nay.
…
Khi kể chuyện này với Khải, Thép Mới đế vào: Đảng ta phải giương cao một ngọn cờ nhân văn, trước khi những kẻ Nhân văn khác có thể lợi dụng.
Hân: Đọc ông Duẩn, cả bọn cấp tiến lẫn thủ cựu đều khó chịu. Trong mỗi bài, 30% cấp tiến,70% thủ cựu. Một tay cán bộ cỡ giám đốc thuộc thành phố bảo ông Lê Duẩn nói bao giờ cũng rắc rối, không hiểu được.
Nhiều việc vốn đơn giản lại bị bới ra cho rắc rối thêm.
Nhân Xuân Thiều đi Hội nghị nhà văn Á Phi, kể một ít chuyện về Chế Lan Viên, Nguyễn Khải còn nói đầu đuôi đầy đủ hơn:
-- Nước ngoài họ nghe mình nói chiến tranh là chuyện bình thường, họ thấy ghê sợ. Còn cái ông Chế thì nổi tiếng là lắm sự rồi. Ông ấy bảo ở nước chúng tôi, người ta không nói chiến tranh, mà nói kháng chiến. Nói nhiều đến nỗi tay Inna nó phải bảo không biết thế nào, chứ khi các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng sang đây, các đồng chí ấy không chú ý chữ nghĩa lắm đâu.
-- Đâu như tại Hội nghị, Ban tổ chức nó không treo cờ miền Nam Việt Nam. Ông Chế Lan Viên thắc mắc, làm om cả lên. Về nhà, hỏi Tô Hoài, ông ấy bảo, xưa nay vẫn thế, nó có bao giờ nó treo đâu. Mà ở nhà, coi như thả nào nó cũng treo rồi, cho nên cũng không hỏi. Những thằng như thằng Phan Tứ nó khôn, biết cũng không nói. Chỉ bây giờ, ông Chế ông ấy đi, ông ấy mới thắc mắc thế thôi.
Khải tóm tắt:
-- Nói chung, lão Chế lão ấy tin ở cái lý của lão ấy lắm, chứ không phải đùa đâu. Có lẽ là vì ngày trước, thiếu lòng tin quá mức, cho nên bây giờ, đâm ra hung hăng.
Hôm nọ, gặp nhau, nghe ông ấy kêu, tôi cũng chỉ "ừ", cho xong. Sau cùng mình mới chốt lại một câu. Chính là cái câu như tôi vẫn nói với ông, bây giờ giáo dục dân mình sao cho sống gắn bó với nhau, tin cậy nhau, đã là rất khó.
8/3
Lại chuyện tin đồn với bô báo. Ng Khải cho biết Bùi Bình Thi với Đỗ Chu, vừa nói vớ nói vẩn với nhau về chuyện chính trị, đã đến tai lão An già tóc bạc ở bộ phận bảo vệ trong Cục tuyên huấn.
Nguyễn Đức Toàn nói rõ hơn:
-- Ông An bảo bây giờ lại có ý kiến cho rằng như vậy là ta không thắng lợi. Thắng lợi gì mà thế này. Ai bảo thế? Nhà văn Bùi Bình Thi với lại nhà văn Đỗ Chu. Thế có bỏ mẹ không!
Mà đến tai ông An, tức là đã đến tai đủ các loại cán bộ chuyên rình mò bô báo rồi, Khải nói tiếp. Khốn nạn, có nhiều người làm cái việc khốn nạn ấy lắm. Các ông không biết chứ, cái hồi 67, tôi chỉ mới đến nhà tay Mai Luân có một tí thôi - chả hồi ấy tôi cũng thích nghe chuyện, đến chỗ kia thì nhiều chuyện mà, - thế là đã có người bảo ông tử tế, ông đang có vị trí như thế này, sao ông lại chơi ở chỗ ấy.
Sau này, ông Mai Luân cũng như ông Đinh Chân khi làm khai báo đều cũng cho tôi được mấy dòng.
Cho nên bây giờ, tôi phải cố làm như một người không có chính kiến, lúc nói thế này, lúc nói thế kia, ai ghét cũng được, chứ làm sao? Đời mình ngắn lắm, mình phải biết thích nghi, không thích nghi thì chết.
Vẫn lời Khải:
-- Nhưng mà quả thật, đi đâu cũng nghe thấy chuyện buồn. Ai tử tế một tí hẳn buồn. Nguyễn Kiên kể hôm nọ, ông Hoàng Trung Thông đến uống rượu - người ấy là người tốt đấy, cho nên mới buồn, ai rủ đi uống rượu cũng đi. Ông ấy đến làng Nguyễn Kiên uống say, chạy ra ngoài nôn mửa, xong quay vào nhận xét.
- Làng cậu sản xuất kém bỏ mẹ!
- Sao anh bảo kém?
- Mình nôn một lúc xuống ao, mà chả có cá nào đến đớp, thế là kém chứ gì.
Nguyễn Kiên bình, ông ấy say, mà vẫn còn có con mắt lãnh đạo.
Hoàng Trung Thông còn bảo nước mình, ngoài Nguyễn Tuân, còn có 2 nhà văn họ Nguyễn. Một ông ngày càng gày quắt lại, một ông ngày càng béo lên. Thế thì biết ai khôn thật với ai khôn giả cầy?
Ghi chép từ 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 3 – 73 (đoạn 3)
Ngày 20 tháng 3 năm 2023
--
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
**************
16/3
Đặc tính thấy rõ nhất của những ngày đầu hoà bình này là gì? Là mất phương hướng. Ít ra với tôi là vậy. Có lúc nghe nói có hoà bình thật. Ta có lực lượng mạnh mẽ để gìn giữ hoà bình. Có lúc lại nghe phổ biến khác. Chính thức mà cũng mập mờ, không biết là chiến tranh hay hoà bình. Hình như hoà bình chỉ chắc ở miền Bắc. Còn ở miền Nam, vẫn là có thể thế nọ, có thể thế kia.
Ngày càng có tin bên kia “phá hoại hiệp định”. Có nhận định vừa rồi mình hữu khuynh, để mất nhiều. Bây giờ có thể là đánh, đánh rồi tuyên truyền cẩn thận.
Lại có tiếng xì xào nó nện mình một, mình nện nó mười, chứ mình có vừa đâu?!
Rồi thì thủ đô miền Nam ở đâu? Có tin ở Đông Hà. Nhưng lại có tin ở tận xa hơn, trong B2. Cái thị trấn được nhắc nhiều nhất là Lộc Ninh. Lộc Ninh có cái chợ lèo tèo vài ba người mua bán.
Việc trao trả tù binh Mỹ lúc nghe nói gián đoạn, lúc thì lại làm bình thường, chả có ai thông báo rõ ràng.
Có cả tin cán bộ trong kia của mình bị đánh. Ở Huế? Chuyện xảy ra trong ngày lễ cầu siêu, cầu siêu cho những người bị chết đầu năm 1968. Lúc ấy chỉ cần ai lỡ mồm nói ngược một chút thôi, là chết với người ta ngay.
Nhân đây nói một chuyện cũ của Huế. Nhiều người nghe được từ phía bên kia, đều bảo rằng năm 1968 là năm ta tàn sát dân khá nặng. Một chỉ huy là ông Thân Trọng Một đã có lần thú nhận...
Phải chăng, đó là một sự thất bại, một sự vỡ mộng, một bi kịch? Những người lính chờ mãi. Lúc vào, không thấy dân giống như sách vở từng nói. Gặp vài phản ứng trái chiều. Thế là bắn hết, giết hết. Sản phẩm của một quan niệm nông dân. Phía bên kia, không ai biết cho điều ấy.
Tiếp tục câu chuyện cho mỗi người vay 500 đồng. Dân thích nhưng sợ (lãi nhiều quá!). Còn trên lại sợ rằng làm như thế thì có vẻ thay đổi quá.
Chữ nghĩa dùng trên báo cũng bị dày vò.
Ng Khải nghe đâu về kể, bữa nọ, trên phê bình rồi đấy. Ai cho các anh dùng chữ “giai đoạn mới”. Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc vẫn thế. Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam vẫn thế. Chưa có nghị quyết trung ương, chưa có đại hội đảng. Ai cho các anh tự tiện dùng chữ giai đoạn mới?
Nhưng rồi lại nghe nói, các cụ bảo thôi cũng được, nói giai đoạn mới, tức là nói hoà bình, cho anh em phấn khởi.
Lần đầu tiên, sĩ quan mình vào Sài Gòn, và sĩ quan bên kia ra Hà Nội. Bên kia rất trẻ. Ở Sài Gòn ta cho đi toàn những ông già. Lắm lúc cứ thấy sợ.
Nhưng có phải khôn hết đâu. Ngay cả những người thông minh nhất của báo chí, cũng có những chỗ hớ. Ví như ông Thành Tín. Ông này có lần lẫn Nguyễn Văn Thiệu với Ngô Đình Diệm.
Phương Tây đưa tin: Trung tá Bùi Tín bắt tay một lính nguỵ. Nó không bắt. Ông này tương một câu, thế anh không hoà hợp dân tộc à?
Những buổi “tiễn” Mỹ về nước, là một dịp để cho các nhà báo của ta có dịp được thoải mái gặp người của phía bên kia. Khốn nạn, lâu nay không ai dám hé răng hỏi và trả lời họ câu gì thì sao mà tự nhiên được. Bây giờ thở ra toàn những câu ngớ ngẩn.
- Ra đây, thấy B52 nó đánh Hà Nội anh có đau xót không?
- Vâng, chúng tôi cũng đau xót, như đau xót khi thấy các ông pháo kích vào Huế. Còn như B52, chúng tôi đã gặp nhiều cán binh Bắc Việt hồi chánh, và họ đều bảo họ rất sợ B52.
Sĩ quan Sài Gòn người gốc Hà Nội ra miền Bắc được đi thăm thành phố cũ. Ra cái vẻ để cho họ tự do mà. Đi đâu, có một cô gái đi cùng.
- Ở Hà Nội có nhiều vô tuyến truyền hình không?
- Có
- Sao không thấy ăng ten?
- Vô tuyến truyền hình không cần ăng ten.
- Có nhiều làn sóng không?
- Nhiều lắm.
Tay sĩ quan kia, mang câu chuyện này về, đăng công khai trên báo Sài Gòn.
Dạo quanh Hà Nội, đám sĩ quan kia chẳng về nhà, toàn đi chụp ảnh. Ra công viên họ chụp một dãy ghế đá vắng người. “Đây Hà Nội chủ nhật” Và chụp một bức tường mà rất nhiều người Hà Nội đều biết, với dòng chú thích: “Bức tường này, gần 20 năm trước, chúng ta rời Hà Nội ra đi, giờ vẫn như vậy”.
Những ai cứ nghĩ những ngày hoà bình đầu tiên, sẽ là những ngày có những thay đổi lớn, thì nhầm hết.
Trong Sài Gòn, nó cho công nhân thêm lương. Còn như ở ngoài này, cũng có nhiều người viết thư đến báo Nhân Dân đề nghị tăng lương, đề nghị khao dân, theo như tục lệ ở các nước thắng trận. Nhưng lấy tiền đâu?
Tôi cảm thấy mọi người dân Hà Nội hôm qua chiến tranh thông minh nhanh nhảu, hôm nay lại lúng túng chậm chạp như chết khiếp đi, khi quay về làm ăn bình thường.
Phương Thảo cho biết: Giá thịt lợn tăng, thịt ngon giá ngoài đến hơn một đồng một lạng. Cá đắt...Nhưng kinh nhất là nhiều người dân sinh ra lễ bái. Đến các nhà máy, thấy công nhân đánh bạc nhiều. Không có việc làm. Ngoài phố, nhiều đám trẻ tụ tập ăn cướp, trêu gái. Xã hội ly loạn. Còn như đi đâu, cũng nghe những chuyện bắt người. Mấy ông cốp khác quan điểm lần lượt bị tóm. Liệu nó sẽ báo hiệu chuyện gì?
22/3
Ông Mạn: Trẻ con, phá cửa cơ quan vào xem truyền hình ghê quá.
Khải: Bây giờ cơ quan nào chẳng bị người ta phá cổng? Cơ quan nào chẳng như nhà hoang! Ai muốn làm gì thì làm.
Ông Chu Văn kể chuyện các tỉnh uỷ bây giờ nó nói dối cứ xoen xoét. Hôm nọ Nam Hà vừa điện lên, Trung ương lấy thịt đi, không có Nam Hà thừa thịt không biết làm gì cả. Trong khi ấy, thì cỡ như Chu Văn từ tết đến giờ chỉ ăn lạc thối.
-Thế Nam Định bây giờ kiến thiết thế nào?
- Nam Định kiến thiết đến nỗi ngày hè, tôi đi ra đường, phải đi ủng.
Ng Khải kể lại lời lão Thợ Rèn ở báo Nhân Dân nói xấu chế độ mới ghê. Nói một câu bằng mình nói cả năm.
- Này ông Khải, giải thưởng văn học thế nào?
- Chả có gì.
- Bây giờ chỉ có hành động. Hôm nọ một vị ở trên đến báo Nhân Dân. Vị cũng to, cổ cồn, bụng phệ, khuyên nhủ vài điều, pha trò nhạt. Đang nói, thì trời mưa, thế là các phóng viên, biên tập viên chạy vù vù cả. Thì ra cánh đàn ông chạy đi cất xe đạp, các bà thì chạy đi cất mì phơi trên gác. Nhà chật quá, phải mang mì đến cơ quan, mỗi người đèo một bì đến, rồi lại còn ăn cắp ăn nẩy của nhau, cãi nhau loạn xị.
Khải nói tiếp:
-- Ông Thi giải thích thế này thì đúng này. Ông ấy bảo sức hấp dẫn của trong ấy, là sức hấp dẫn của chủ nghĩa tư bản. Còn của mình ngoài này, cái nào ra chủ nghĩa xã hội không kể, còn ngoài ra thì đặc phong kiến, người ta không thích được là phải.
...
Mới hai tháng sau hoà bình mà đời sống đã khác đi nhiều lắm. Có một sự gì đó mà cả những người dân thường cũng có thể cảm thấy thành ra không thể bỏ qua được.
Một tù binh nói một cách thận trọng, dường như đã suy nghĩ kỹ lắm:
-- Chúng tôi hiểu miền Bắc là một xã hội hình thức nặng nề. Quyền lực chỉ tập hợp vào cấp lãnh đạo. Mọi sinh hoạt dân chủ không có.
Rõ ràng, lần này, mình phải đối phó với kẻ thù khác hẳn. Nó chuẩn bị còn kỹ hơn cả mình nữa. Thế cho nên rồi không hiểu tình hình xoay chuyển đến tận đâu.
Còn như ở dưới, những cuộc đời thường đã hoá nhênh nhang nhoè nhoẹt như cháo vữa. Người ta tự nguỵ tạo trong bao nhiêu thứ áo giáp, bao nhiêu thứ định kiến. Tất cả là để đối phó với chung quanh.
-- Chính là các anh cần phải được giải phóng, chứ không thể giải phóng ai hết (lời Phan Nhật Nam)
***
Một bài báo mọi người truyền tay
in trong Tài liệu tham khảo
TỪ CHỦ NGHĨA ANH HÙNG
TỚI CHỦ NGHĨA QUAN LIÊU
Jean - Claude Pomonti
Một người ngoại quốc đi trên đất này, như bước trên sa mạc. Không có mối liên quan nào giữa anh ta và những người chung quanh. Việc giữ bí mật ở Bắc Việt đã tạo ra một thói quen kỳ lạ. Không ai hiểu việc của ai, đến một người trong cơ quan cũng không sao hiểu nổi công việc cơ quan anh ta trong cái nhà nước mà anh ta phục vụ.
Người Bắc Việt đã tập vui buồn theo chỉ thị cấp trên. Hầu hết người dân thủ đô là công nhân, là cán bộ. Tất cả tạo thành một bộ máy quan liêu kén đặc lại, trong đó, mỗi người chỉ một nhiệm vụ là tự bảo vệ.
Hai tháng đã qua kể từ ngày hoà bình lập lại. Bao nhiêu vấn đề đang đặt ra với đất nước nơi đây nhưng tôi chắc không có ai có thể trả lời được cả.
Một người lãnh đạo mà tôi không tiện nói tên, đã nói chuyện với tôi với vẻ mặt thoả mãn đến làm tôi khó chịu.
... Trong bài báo của ông Lê Duẩn, có rất nhiều điểm tiến bộ. Nhưng công thức “kết hợp cũ -- mới” chứng tỏ họ vẫn không nhích lên đến nửa bước.
... Lại nói về nếp làm việc ở đây. Người ta làm việc một cách tuỳ tiện. Ví như đối với người nước ngoài, mất bao nhiêu thời gian trong cái việc đi chơi bời, du lịch, thực tế là để chờ Công An điều tra và xin chỉ thị cấp trên. Có lần, tôi đã phải dự một buổi biểu diễn văn công bắt buộc như thế này: Trước khi tan buổi chiêu đãi năm phút người ta bảo là có văn công. Và thế là tôi được đưa đi, lẫn vào giữa dòng người, phải ngồi xem, hỏng hết cả kế hoạch công việc của tôi.
Tôi rời đất nước này, với ý nghĩ rằng mặc dù những hy sinh lớn của dân tộc Việt Nam, đất nước này sẽ rơi vào tình trạng buồn tẻ, nhạt nhẽo mà không ai chú ý tới, nó cũng không xứng với vị trí đáng lẽ miền Bắc Việt Nam được hưởng. Trong những năm qua, những người lãnh đạo ở miền Bắc cũng tích luỹ được một ít vốn liếng: sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Nhưng họ đang tiêu phá những cái đó một cách bừa bãi, và chẳng bao lâu lại trở nên tay trắng.
Một bài khác, có mấy ý:
Có một câu danh ngôn đại ý nói, những ngày hoà bình đầu tiên, những ngày sau chiến tranh, bao giờ người ta cũng nghĩ ngay tới sự báo thù. Cần một người có tính đàn bà, để dám làm những chuyện dơ dáy nhất.
Nhưng hôm nay khi báo chí đưa tin người lính Mỹ bị bắt cuối cùng về nước, nét mặt người Hà Nội không thấy một thoáng căm thù. Thế là thế nào? Có phải đúng như lâu nay chính quyền Bắc Việt vẫn nói, căm thù là tình cảm mãnh liệt nhất của con người nơi đây? Hay người dân ở đây đã bắt đầu hiểu rằng tai vạ không phải do những người Hoa kỳ kia gây ra.
---
Một bài thơ E. Evtouchenko
(chỉ truyền tay chứ không đăng báo)
---
Ở đây, tất cả phân phối theo phiếu, trừ sự hài hước.
Ở đây, tất cả phân phối theo phiếu, trừ sự tự hào
Đất nước này tự hào về sự nghèo nàn của mình
Ước gì bằng sự tự hào đó, may ra họ có thể ra khỏi sự nghèo nàn thật sự của họ.
Mưa rất lâu, rất lâu. Nhưng còn một thứ lâu hơn nữa, là chiến tranh
Ở đây, chiến tranh đã làm tất cả những gì mà ở nơi khác, chiến tranh đã làm
Ở đây một phần ba phụ nữ goá chồng.
Ở đây, những cây lúa nhón chân lên
Như là những đứa trẻ con nhón chân lên
Để nhìn vào những máy bay-- xem máy bay mình có lên không
Ở đây, người ta lại hát
“Em ơi đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé”
Tôi nhìn bức tượng nghìn mắt nghìn tay
Nhưng nghìn tay kia không đủ để lau nước mắt
Nghìn mắt kia không đủ để nhìn thấy máy bay.
Vẫn biết rằng chiến thắng rồi sẽ đến
Nhưng nó có xứng với những hy sinh của người ta?
NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY NGHỊCH LÝ
Ngày 22 tháng 3 năm 2023
1/
“Thời đại ta là thời đại của những nghịch lý” - cái ý ấy là của L.Landau, nhà vật lý Xô - viết từng được giải Nobel. Tôi đọc được lần đầu là từ một bài viết về ông, chứ sức đâu mà đọc chính L.Landau.
Về sau thấy nhiều người khác cũng nói cái tinh thần ấy.
Hoàng Phủ Ngọc Tường từng có câu tả Cà Mâu: Ở đây người ta “chèo thuyền giữa rừng, cá đẻ trên cây và những dòng sông thì đều bắt nguồn từ biển”.
Đó là cái nghịch lý trong khung cảnh.
Sau đây là một câu trong Kinh Thánh tôi nghe được từ Nguyễn Khải. “Mi là muối mà mi không mặn thì còn muối được ai”.
Anh Khải thích nhắc lại câu đó mỗi khi nói về sự tầm thường của văn nghệ minh họa: khi nó không còn là nó, thì không thể có những tác dụng mà người ta mong muốn.
2/
Trong các chuyện chưởng của Kim Dung, có một triết lý trở đi trở lại: nay là thời chính tà lẫn lộn. Chính những kẻ thuộc tà phái lại cư xử với nhau đàng hoàng.
Còn chính phái thì có tất cả những thói xấu của tà phái, chỉ có điều bọn họ cố tình giấu giếm cho nên càng đáng ghét.
Và thái độ của con người trong thời nay được nêu lên trong cái quyết tâm sòng phẳng với mình:
- Thà làm chính tà còn hơn làm ngụy quân tử.
Vào khoảng những năm 1980 trở đi, khi bắt đầu phải suy nghĩ về hướng làm ăn trong thời hậu chiến, với quyết tâm làm sao vừa sống đủ vừa lương thiện, tôi thường “dịch” câu trên của Kim Dung thành cái mệnh đề chỉ đạo gia đình mình:
- Thà buôn bán mà đóng thuế đầy đủ còn hơn là cán bộ nhà nước mà ăn cắp.
Chả là ở Hà Nội trước 1975 và còn lan đến mãi về sau, người ta coi tư nhân buôn bán là xấu, chỉ có cán bộ nhà nước mới là những con người chân chính.
3/
Cũng khái quát về sự hư hỏng của những giá trị mà xưa nay người ta vẫn cung kính, tôi nhớ cách nói của một nhà tư tưởng phương Tây mà tôi quên tên:
- Bọn tiểu nhân thì không biết thế nào. Còn các vị quân tử thì tôi biết rồi, tởm lắm!
Một vài câu khác ghi được từ tiểu thuyết "Anh em Karamazov" của F. Dostoievski:
- Đối với những người không óc kinh nghiệm, nhiều khi cái mặt người đời lại là trở lực ngăn cản tình yêu.
- Sống với bất kỳ giá nào, tôi cho rằng họ Karamazov nhà ta, người nào cũng có đặc điểm ấy.
- Đối với một người tự do, không có nhu cầu nào cấp thiết bằng tìm một nhân vật để kính phục.
- Không gì quyến rũ con người bằng tự do ý chí, nhưng cũng không có gì đau đớn bằng tự do ý chí.
- Có những loại người mà thà làm kẻ thù của hắn, còn hơn làm bạn của hắn.
MỘT NHÀ VIẾT SỬ VIỆT THỜI NAY & NHỮNG SỢI CHỈ RỐI RẮM CỦA LỊCH SỬ
Ngày 29 tháng 3 năm 2023
"Để đạt được mức độ khách quan hợp lý, tôi e rằng phải đợi thế hệ cũ chết đi và một thế hệ mới xuất hiện.” Nguyễn Thế Anh
--
Sử gia Nguyễn Thế Anh vừa tạ thế tại Toulouse (Pháp) ngày 19.3.2023, hưởng thọ 87 tuổi.
Trên trang mạng Nghiên cứu quốc tế ngày hôm nay
vừa có bài viết giới thiệu về ông
NGUYỄN THẾ ANH:
SỬ GIA ĐI TRÊN LẰN RANH
https://nghiencuuquocte.org/.../nguyen-the-anh-su-gia-di.../
Bài này lại lấy từ nguồn tư liệu Pháp
Louis Raymond, “Nguyễn Thế Anh, l’historien sur le fil”, Les Cahiers du Nem, 19/07/2021. Louis Raymond là một nhà báo người Pháp gốc Việt, hiện sinh sống và làm việc tại Nantes. Biên dịch: Phản Tư
Dưới đây là một số trích đoạn lấy từ bài này trong đó chúng tôi đã mạn phép sửa lại một vài chữ.
*****
Đây là cuộc đời vừa khổ hạnh vừa biến động, bị giằng xé giữa những đòi hỏi của công việc học thuật và những hậu quả của một chương trong cuốn sử hiện đại đầy hỗn loạn.
Sau 1968, ông làm việc ở [Đại học] Văn khoa Sài Gòn. Các đồng nghiệp của ông là những trí thức nổi bật nhất thời bấy giờ, trong đó có Nguyễn Văn Trung [1930-2022], người mà ông đánh giá cao trí tuệ nhưng không bao giờ đồng thuận.
Ông thấy sự phát triển của phe “cánh tả” đối lập với quân đội, nhất là với tờ “Đối diện” của linh mục Nguyễn Ngọc Lan [1930-2007] mà ông cho là người “gần giống cộng sản”.
Ông cũng nói chuyện với các ký giả ngoại quốc đưa tin về chiến tranh: Jean-Claude Pomonti [1940-], chủ nhân giải thưởng Albert Londres sau này hay Jean Lartéguy [1920-2011], người ông gặp gỡ ở trụ sở Viện Viễn Đông Bác cổ. Ông đã chỉ cho Pomonti thấy những sách nhiễu của quân đội miền Bắc và cho Lartéguy thấy sự bợ đỡ của miền Nam, đó chính là nguồn cơn của một chế độ thối nát.
Hiệp định Paris đã ký, người Mỹ đã rút, thảm cảnh 1975 dần hé lộ. Ở một chừng mực nào đó, Nguyễn Thế Anh hoàn toàn đối lập với điệp viên hai mang nổi tiếng Phạm Xuân Ẩn [1927-2006], cựu ký giả, giám đốc văn phòng tạp chí Time tại Sài Gòn, trước khi tiết lộ mình là gián điệp của miền Bắc:
trong bầu không khí lừa dối khắp nơi, sự hai lòng của người này lại được mọi người đánh giá cao và sự trung thực của người kia lại bị dán một cái nhãn sai lầm.
Ông thường nhấn mạnh “trí tuệ của mỗi người là ở cách tiếp cận lịch sử phù hợp,” đó là một vài nguyên tắc mà ông muốn truyền lại cho các học trò và bản thân ông đã thừa hưởng từ những bậc thầy của mình.
Vậy phương pháp tiếp cận này là gì? Đó có phải là hướng tới “tính khách quan” (objectivité), điều mà, trong khoa học xã hội và nhân văn, nghĩa là bước đi trên một ranh giới nguy hiểm như đứng giữa hai làn đạn của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn?
Có thể nào gạt chính trị sang một bên khi nhập cuộc làm một nhà sử học?
“Đó là một mục tiêu mà hiện thời rất khó đạt được. Ký ức chiến tranh vẫn còn dai dẳng. Dù người ta có nói gì đi nữa, thì vẫn còn hai nước Việt Nam, một miền Bắc và một miền Nam từng cùng tồn tại. Để đạt được mức độ khách quan hợp lý, tôi e rằng phải đợi thế hệ cũ chết đi và một thế hệ mới xuất hiện.”
Khó khăn trong việc nhìn thẳng vào mọi thứ cũng cho thấy sự chia rẽ rất sâu sắc tồn tại trong chính miền Nam. Ký ức là một vết bỏng dai dẳng, và chính vì lý do này mà ông không muốn viết tự truyện.
Ông nói thêm: “Vâng, để có một cái nhìn chân thật của sử gia, tức là một cái nhìn tách rời với lập trường, chúng ta sẽ phải đợi rất lâu.”
Nhiệm vụ khó khăn nhất đối với bất kỳ ai quan tâm đến lịch sử đương đại của Việt Nam là phải phân biệt được thật giả, trong một cuộc chiến đã sản sinh ra vô số “quan điểm”.
Tuy nhiên, Nguyễn Thế Anh nhấn mạnh, nguồn gốc của sự thật biến thiên và liên tục tái cấu trúc này cần được tìm kiếm xa hơn trong lịch sử cận đại, trước rạn nứt năm 1945.
“Tôi rất quan tâm đến cuộc đời của một số vị vua nhà Nguyễn [1802-1945]. Trong những gì mà Hàm Nghi, Duy Tân hay Bảo Đại viết, dù là về mình hay về xung quanh, đều có những điều ngụy tạo theo quan điểm của sử gia.”
Đây là một di sản của truyền thống văn học Trung Quốc: “Có vô số điều sai sự thật về một số nhân vật, vì vậy chúng ta thường đắm chìm trong dã sử.”
Nhà sử học không có nhu cầu thần thánh hóa mà phải dám đánh vào lòng kiêu hãnh yêu nước mong manh nhất. Một nhận định về cổ sử mà ông tin tưởng:
“Chúng ta đã bịa ra truyền thuyết để không thừa nhận rằng giữa người Hoa và người Việt vẫn còn một cộng đồng tổ tiên.”
Vào thế kỷ 20 có một “phát minh” gọi là học thuyết dân tộc kiểu Việt Nam, theo nghĩa như Jules Michelet [1798-1874] đã phát minh ra học thuyết dân tộc Pháp vào thế kỷ 19: theo đó quyền lực chính trị đảm bảo rằng lịch sử phải đáp ứng nhu cầu của hiện tại, nghĩa là, lịch sử phải hợp pháp hóa hiện tại.
[Trong bản dịch trên NCQT, người dịch dùng chữ tiểu thuyết - “tiểu thuyết dân tộc của Việt Nam”, “tiểu thuyết dân tộc Pháp”; dùng như thế dễ gây hiểu lầm, nên tôi mạn phép đổi là “học thuyết” - VTN]
Phát minh này là một phần của quá trình “Marx hóa” (marxisation), đôi khi thô thiển, về quá khứ của đất nước.
Vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ trong lịch sử của đất nước này mà các nhà nghiên cứu trẻ, những người muốn nghiêm túc tìm tòi giải quyết, phải làm.
Đó là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, đòi hỏi phải duy trì sự cân bằng
Và hãy cẩn thận để không bị choáng váng, vì dưới chân họ đầy những điều không trung thực và dối trá, đó là cả một vực thẳm.
K. W. TAYLOR: LỜI GIỚI THIỆU CUỐN "VIỆT NAM VẬN HỘI"CỦA NGUYỄN THẾ ANH
Ngày 2 tháng 4 năm 2023
Bản lược thuật
--
Năm 2020, một tập sách có tính cách tuyển tập các bài viết về lịch sử Việt Nam của giáo sư Nguyễn Thế Anh đã được nhà sách Nhã Nam tuyển chọn cho ra mắt bạn đọc.
Tập sách mở đầu bằng một bài viết của nhà sử học Mỹ K.W.Taylor, phác ra những đóng góp chủ yếu của giáo sư Nguyễn Thế Anh với ngành lịch sử Việt Nam.
Sau đó, bài viết này lại đã được đưa lại trên mạng Viet studies.
https://www.viet-studies.net/NguyenTheAnh_KeithTaylor.html
Đối với những người còn ít hiểu biết về giáo sư Nguyễn Thế Anh như tôi thì bài viết này của K.W.Taylor có ý nghĩa một bài dẫn luận rất quan trọng và tôi đã đọc nó một cách chăm chú.
Song, vì bài viết được viết bằng một ngôn ngữ sử học rất hiện đại, khi dịch ra tiếng Việt lại bám sát cú pháp tiếng Anh và sử dụng một số thuật ngữ đối với trình độ phổ thông là quá mới mẻ, nên thật sự là lúc đầu tôi chưa hiểu ngay được.
Tôi không biết tiếng Anh để có thể tìm cách tra cứu bài viết theo nguyên bản. Chỉ còn một cách là mò mẫm đọc đi đọc lại nhiều lần để cố hiểu ý tác giả, rồi xoay xỏa lại câu cú một chút cho dễ hiểu hơn, cố nhiên là trên cơ sở bảo đảm giữ được tinh thần của văn bản.
Dưới đây, là bản lược thuật của tôi.
Xin nói thêm rằng so sánh giữa bản đặt ở đầu sách Việt Nam vận hội và bản đưa trên trang Viet studies, tôi thấy có một số từ ngữ khác biệt. Do tin rằng bản trên Viet studies là phản ánh đúng ý tác giả hơn – nên chúng tôi theo bản này là chính.
Mới đây sau khi giáo sư Nguyễn Thế Anh qua đời, trang mạng Văn Việt có đưa lại bài viết này của K.W.Taylor
fo/tu-lieu/de-tuong-nho-gio-su-nguyen-the-anh-161936-1932023/
thì cũng là gần với bản của Viet Studies trước đây hơn là bản in trong sách nên chúng tôi càng tin ở sự lựa chọn trên.
*****
Đóng góp của Giáo sư Nguyễn Thế Anh đối với nền học thuật đương đại về Việt Nam đã truyền cảm hứng và duy trì một dòng tư tưởng học thuật vừa hiện đại vừa mang tính dân tộc.
Trên phương diện nghề nghiệp, ở ông nổi lên khả năng chấp nhận sự đa dạng văn hóa và một quan niệm sử học đa trung tâm.
Điều này tương phản với sự tái lập chủ nghĩa độc tôn truyền thống được ngụy tạo dưới danh nghĩa chủ nghĩa dân tộc cách mạng vốn được ưu tiên trong nền học thuật ở Việt Nam kể từ năm 1975.
Ông đã tiên phong nghiên cứu về triều Nguyễn từ rất lâu trước khi nó trở thành trào lưu.
Quan niệm lịch sử chính thống ở Việt Nam coi Hà Nội nhất thiết là trung điểm của sự phát triển lịch sử dân tộc. Mọi triều đại “miền nam” – dù là một triều đại lớn mà không đóng đô ở Hà Nội - đều không đáng để mắt tới. Người ta coi nó là một triều đại phản loạn.
Bằng vào việc nghiên cứu về triều Nguyễn, giáo sư Nguyễn Thế Anh đã thể hiện sự phản kháng đối với việc lãng mạn hóa tính anh hùng bài ngoại của chủ nghĩa dân tộc cách mạng.
Ông đề cao mọi định hướng nhằm đưa Việt Nam tiếp cận thế giới bên ngoài thay vì chỉ có phản ứng và cố thủ.
Ông hướng tới một Việt Nam tự tin ở khả năng trí tuệ để chấp nhận và vượt qua những bất trắc không thể tránh khỏi do sự thay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh.
Ông cũng cho rằng cần có một Việt Nam đi vào con đường đối thoại và cải cách hợp lý hơn là ngả hẳn theo sự cám dỗ của tư tưởng cách mạng, vốn lý luận rằng để có được trật tự thì cần phải có những xung đột mang tính bạo cuồng.
Điều này ngày càng quan trọng trong lúc ngành Việt Nam học tiến xa hơn vào kỷ nguyên hậu cách mạng và khi người Việt ngày một cấp bách tìm kiếm những tầm nhìn khác hầu thay thế cho một tầm nhìn cũ mòn về quá khứ dân tộc.
Ba chủ đề mà tôi tin là điển hình trong cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Nguyễn Thế Anh:
- ông cho thấy những tinh hoa mang tầm quốc tế chỉ được tạo ra bởi những nỗ lực tổng hợp từ nhiều nền văn hóa, dù các cuộc tiếp xúc đó xảy ra ở trong lãnh thổ quốc gia hay ở bên ngoài;
- để vượt lên những sự đơn giản không thể tránh khỏi của ý thức hệ, ông cho rằng cách mạng càng phát triển càng cần kinh nghiệm của những người mãi mãi sống với những thăng trầm của cải cách và thay đổi;
- cuối cùng, ông cho thấy cần làm thế nào, trong cộng đồng tha hương, hình thành cho được một tầm nhìn lịch sử sáng suốt phù hợp với thế giới đương đại để cho phép Việt Nam không rơi vào những khuôn mẫu giáo điều mới.
Xem xét lối vào thế giới hiện đại của Việt Nam có thể thấy có hai hình thức căn bản; hai cách thức này được minh họa bởi hai con người đã trở thành biểu tượng của tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
Trong khi Phan Bội Châu ủng hộ bạo lực cách mạng để chống lại thực dân Pháp, Phan Châu Trinh lại chủ trương mượn tay người Pháp để cải cách và đổi mới dân tộc mà không dùng bạo lực.
Không ngạc nhiên khi những người chọn con đường bạo lực đã thắng thế; và họ trở thành tượng trưng cho một dân tộc với những anh hùng không ngừng chống ngoại xâm; từ đó, họ đề xuất một quan niệm sử học biện minh cho bạo lực sinh ra từ những tham vọng của họ.
Thời gian đã cho thấy tri thức lịch sử của Phan Châu Trinh sâu sắc hơn của Phan Bội Châu. Bạo lực không tự mất đi khi người ta đi vào tương lai; trái lại, nó gây ra đau đớn và cho con người, cũng như nhạo báng chính cái cứu cánh mà nó được cho là một phương tiện.
Phan Châu Trinh chủ trương cởi mở trong giao thiệp với người nước ngoài, với niềm tin rằng những gì thực sự đáng gìn giữ, tức cái bản chất luân lý của con người, sẽ không thể bị hủy hoại nếu không có sự đồng mưu của chính họ.
Phan Châu Trinh hiểu rằng bản sắc dân tộc không phải là một cái gì cố định chỉ biết đòi hỏi sự tuân thủ. Mà nó luôn luôn vận động và mời gọi tác động của con người.
Ngược lại, mọi hoạt động của Phan Bội Châu được thúc đẩy chỉ bởi một quyết tâm đơn giản là đánh đuổi ngoại bang dưới danh nghĩa tìm lại một bản sắc dân tộc; bản sắc này - một cách tự nhiên - sẽ tái khẳng định mình một khi công cuộc này đã hoàn thành.
Những người cộng sản Việt Nam đã đi theo con đường của Phan Bội Châu và bây giờ chúng ta có thể đánh giá những kết quả của cuộc thử nghiệm này trong lúc Việt Nam dần dà phục hồi sau hàng thập niên chiến tranh và hiện đang phải đấu tranh để bước vào thế giới hiện đại theo định hướng của Phan Châu Trinh.
Phạm vi học thuật của Giáo sư Nguyễn Thế Anh thực sự đáng chú ý.
Ông đã viết nhiều nghiên cứu chi tiết về các chủ đề cụ thể cũng như các nghiên cứu có tầm vóc cần tới sự tổng hợp và phân tích thông tin trong những khoảng thời gian dài.
Công trình của ông bao gồm các nghiên cứu lịch sử về địa chất học, nông nghiệp, và khí hậu học; hệ tư tưởng và tôn giáo, Phật giáo, Nho giáo, tín ngưỡng dân gian, và chủ nghĩa Marx; ngoại giao và thương mại; chiến tranh; quan hệ Trung-Việt; quan hệ giữa Việt Nam và phương Tây; lịch sử Đông Á và Đông Nam Á; lịch sử Hoa Kỳ; sử Việt nói chung; các chủ đề trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, đặc biệt nhấn mạnh triều Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc; và các nghiên cứu về lịch sử Việt Nam sau 1945.
Số tác phẩm viết về Việt Nam sau 1945 này bao gồm cả ba chủ đề (những trải nghiệm biên giới, chủ nghĩa dân tộc phi cách mạng, và một góc nhìn toàn cầu về dân tộc).
Các tác phẩm ấy được viết với một lòng tin cởi mở là trong quan hệ với các nước láng giềng, người Việt có thể tập trung theo hướng mở rộng tiếp xúc và tìm cách thay đổi quá khứ hơn là mải mê đi vào các khía cạnh của danh tính và đối đầu.
Điển hình là, trong công trình của Nguyễn Thế Anh, biên giới chủ yếu là nơi gặp gỡ thay vì là ranh giới.
Chủ đề này ở một mức độ nào đó có thể hiểu là phản ảnh một quan điểm của người Việt về biên giới mang sắc thái “miền nam” hơn là “miền bắc”
Nhìn chung cả nước trong khi biên giới phía bắc đã được cố định ở một nơi trong nhiều thế kỷ thì biên giới phía nam được mở rộng đáng kể và mở ra sự tiếp xúc với nhiều nhóm cư dân và chính thể.
Sự nghi ngờ đối với ngoại bang và thái độ phòng vệ đối với biên giới thường được xem là một “quan điểm truyền thống của người Việt,” nhưng nếu vậy thì nó đã bỏ qua trải nghiệm của miền nam, nơi đã thử thách thành công một cảm quan về việc “là người Việt trong sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ, xã hội, và kinh tế.”
Tương tự là một dòng tư duy về cách đất nước bước vào cái mà chúng ta gọi là thế giới hiện đại.
Trong khi quan điểm của nhà cầm quyền nhấn mạnh tư tưởng sự nối tiếp của dân tộc từ cách đây hàng ngàn năm làm nền tảng cho đất nước hiện đại, Giáo sư Nguyễn Thế Anh hiểu được những ý nghĩa của một thực tế đơn giản: đất nước Việt Nam hiện đại là một món quà của miền Nam.
Nó phát sinh từ miền nam, từ Sài Gòn, cuối thế kỷ XVIII, với những người sáng lập triều Nguyễn, triều đại lần lập nên nước Việt Nam chúng ta thấy trên bản đồ ngày nay.
Nước Việt Nam này được hợp nhất bởi những đội quân tiến về phía Bắc – chứ không phải Nam tiến; từ khu vực được gọi là “biên cương,” thường bị coi là nơi ô hợp – chứ không phải từ “vùng đất trung tâm cổ xưa” được ca tụng bởi những người nhiệt tình cách mạng.
Hơn nữa, khi những quan điểm miền Nam không được phép thể hiện, Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã mở đường cho nền học thuật quốc tế vượt lên sự trì trệ - nền học thuật giành này cho mình quyền tự do khám phá văn hóa và trải nghiệm lịch sử của Việt Nam, thoát ra khỏi các quan niệm cách mạng đã lạc hậu vì quá đơn giản.
Đây là một món quà lớn cho Việt Nam ngày nay khi kỷ nguyên hậu cách mạng tạo cơ hội cho một môi trường ý kiến đa dạng hơn.
Cuối cùng, tôi muốn đề cập đến khía cạnh thứ tư trong di sản của giáo sư Nguyễn Thế Anh, theo một trật tự khác, đó là danh tiếng của ông là một sử gia xuất sắc, người đã nghiêm túc nghiên cứu các văn bản và tài liệu lưu trữ.
Ông là thầy của nhiều sinh viên đã học được cách trở thành học giả từ tấm gương của ông, và điều này sẽ tiếp tục có tác động tích cực đến ngành Việt Nam học trong tương lai.
Trong khi đưa ra những luận thuyết, công trình của ông vượt lên những định kiến về ý thức hệ trước đây phát triển nghiên cứu khoa học.
Giáo sư Nguyễn Thế Anh thuộc thế hệ học giả sống qua những biến động to lớn như sự suy tàn của chủ nghĩa thực dân, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cách mạng, và các cuộc nội chiến giành quyền kiểm soát quốc gia dân tộc.
Với thế hệ này, học thuật là một hình thức chính trị, một phương tiện để khẳng định, một đánh giá đạo đức đối với những kẻ thù chính trị của mỗi người.
Đó cũng là một hình thức phản kháng gián tiếp, không chỉ nhằm vào những gì được hiểu như một quyền lực ngoại bang thống trị hay một quyền lực quốc gia đối đầu, mà còn nhằm vào bản thân đất nước vốn không có khả năng duy trì sự tinh khiết không bị ô nhiễm của những nguồn gốc tiền thuộc địa của mình.
Công trình của Giáo sư Nguyễn Thế Anh không tự thu hẹp trong sự đơn giản hóa từ học thuật sang ý thức hệ.
Ngược lại, nó mãi mãi là nguồn cảm hứng cho nền học thuật nhằm hồi đáp sự tò mò không giới hạn của con người về quá khứ và sự tôn trọng các chuẩn mực phương pháp luận khoa học.
Đặt trong bối cảnh của ngành Việt Nam học hiện đại thì đây là một thành tựu không nhỏ.
2017
BẤT ĐỊNH! BẤT ĐỊNH!
Ngày 3 tháng 4 năm 2023
Có thể chẳng là gì
Có thể chẳng là ai
E. Evtushenko
---
Tôi đọc được trên mạng một bài viết thú vị
Ukraine và tính bất định của trật tự toàn cầu
https://nghiencuuquocte.org/.../ukraine-va-tinh-bat-dinh.../
trong đó nhìn lịch sử bằng cái nhìn bất định với mấy tiểu mục có tên là KHÔNG CÓ GÌ CHẮC CHẮN
là cái gì cũng CÓ THỂ VÀ CÓ LẼ
Trong khi suy ngẫm về quá khứ để đoán định tương lai, bài báo viết “thế giới nơi các cuộc đại chiến hình thành cũng là một thế giới không thể đoán trước” “trật tự toàn cầu không phải vốn dĩ đã vững chắc, hay vốn dĩ rất mong manh.”
Tự nhiên tôi nhớ lại một bài thơ Nga, do Bằng Việt dịch dưới đây tôi sao chép lại từ trang mạng Thi viện. Tuy triết lý rút ra từ bài báo trên và bài thơ sau không hoàn toàn trùng nhau nhưng vẫn có một khía cạnh chung là cùng lưu ý chúng ta về tính chất bất định của cuộc sống.
ĐÊM TRẮNG Ở ACKHĂNGHEN
БЕЛЫЕ НОЧИ B АРХАНГЕЛЬСКE
Evghenhi Evtushenko
Tất cả trò hú tim có thể đến đêm nay
Những khoảng sáng lung linh tự dưng thành xúc động.
Có thể ngỡ mặt trời, có thể ngỡ mặt trăng
Có thể như nỗi buồn, lại có thể như niềm vui tĩnh lặng.
Những người hoa tiêu lang thang trên phố:
-Có thể là Ackhănghen, cũng có thể Mác-xây chăng?
Các cô gái mỉm cười rót rượu suốt đêm
Mắt họ cũng như bóng thuyền vô định
Có thể phút giây khoác vai thân thiết
Giữa trăm tiếng ồn ào ai để ý gì ai?
Có thể hôn nhau, rồi có thể thốt nhiên ngừng bặt.
Nên chăng? Không nên?...Đêm trắng muốt trải dài...
Đàn hải âu vừa kêu vừa lượn đỉnh cột buồm
Có thể chúng khóc chăng, cũng có thể chúng cười, ai biết?
Trên bến cảng chàng thủy thủ đến giờ ly biệt
Ôm hôn rất lâu cô gái đứng bên mình:
-"Nhưng tên em là gì?"-"Điều ấy cần chi nữa nhỉ?"
Cũng có thể không cần, cũng có thể cần chăng?
Chàng thủy thủ lên thang, còn ngoái lại nói to:
-"Anh sẽ quay về tặng em bộ lông thú tuyệt trần của biển".
Nhưng anh quên sẽ tặng cho ai, tên là gì, chưa kịp hỏi.
Người con gái lặng thinh, không hứa hẹn một lời.
Biển trăm ngả có ngả nào trùng lặp
Cũng có thể anh về, cũng có thể rồi thôi!
Và tôi bỗng dưng quá đỗi bâng khuâng:
Hải âu không là hải âu, sóng biển không là sóng biển.
Hai người yêu nhau cũng không phải là hai người thoắt vừa đưa tiễn
Có thể chỉ là ánh phản quang tinh khiết lạ lùng
Hay cảnh ảo lớp lớp xa mờ, chồng nhau trong điện ảnh...
Có thể đêm nay mình mất ngủ, có thể giấc mơ chăng?
Còi tàu hú vang, căng thẳng, giã từ
Chàng thủy thủ không thể nhìn lại nữa
Theo con sóng nổi trôi, buồn rầu, vội vã
Anh đứng tách trên bong, xa lạ một mình
Hình như anh còn nói câu gì cợt đùa với biển
Hay với chính con tàu hay với chính lòng anh
Hay biết đâu, cũng không thật là anh đấy nữa?
Và người con gái không tên còn đứng lại bến tàu
Khoác chiếc áo choàng xanh như khói mỏng
Có thể phút ấy cuối cùng chăng, hay mới bắt đầu thôi?
Đêm vẫn trắng miên man, sương tan từng cụm nhỏ
Có thể đó là ai, một Vêra, Tamara, Dôia nào đó
Hay có thể chẳng là gì? Hay có thể chẳng là ai?
-----------
Ghi thêm:
TẤT ĐỊNH
Trong cái vẻ dài dòng mà chỉ thơ hiện đại mới chấp nhận, bài thơ trên đề nghi một cách nhìn phải chăng về tương lai mà chúng ta có thể chía sẻ. Không bi quan mà cũng không lạc quan.
Nhưng đó là nhìn ra thế giới.
Còn như về dân mình nước mình hôm nay thì tôi bị ám ảnh bởi một ý nghĩ khác.
Không bất định gì cả.
Mà là tất định.
Chúng ta đang sống theo những quy luật của vật lý Newton chứ không phải của vật lý lượng tử.
Tôi đang nhớ tới bài ca NGHE NHỮNG TÀN PHAI của Trịnh Công Sơn
Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những chuyến xe
Còn đây âm vang não nề
Ngày đi đêm tới trăm tiếng mơ hồ.
Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những đám đông
Người chia tay nhau cuối đường
Ngày đi đêm tới trăm tiếng hư không.
Có ai đang về giữa đêm khuya,
rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ
Vòng tay quen hơi băng giá,
Nhớ một người tình nào cũ,
Khóc lại một đời người quá ê chề.
Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không
Bàn in hơi bên ghế ngồi
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người.
Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là con nước trôi,
Đèn soi trên vai rã rời
Ngày đi đêm tới còn chút hao gầy.
NGƯỜI ĐỌC PHƯƠNG TÂY NÓI GÌ VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM (TRONG NƯỚC) ĐƯƠNG ĐẠI?
Ngày 7 tháng 4 năm 2023
Bài của Hoàng Hưng
(Trích tham luận tại Hội nghị Giới thiệu Văn học VN ra nước ngoài, Hà Nội tháng 1/2010.)
Nguồn :
http://vanviet.info/.../nguoi-doc-phuong-tay-noi-gi-ve.../
---
Trong cán cân giao lưu văn học VN-quốc tế, “nhập” áp đảo “xuất” với tỷ số tuyệt đối. Giới thiệu văn học VN đương đại ra quốc tế vẫn là ưu tư canh cánh của những người yêu “chuông nhà”. Làm sao cải thiện về căn bản tình trạng này? Muốn có câu trả lời thiết thực, không duy ý chí, tưởng cũng nên bắt đầu bằng việc “khảo sát thị trường”.
Khảo sát bằng cách nào? Trong điều kiện một cá nhân đơn lẻ, không có phương tiện nào khác, tôi thử dùng công cụ dễ kiếm nhất, nhanh nhất, mà cũng có lẽ là trung thực nhất, là lướt mạng, để xem những tác phẩm nào gây ấn tượng nhất, và xem người đọc Phương Tây (người đọc thực tế và tiềm năng lớn nhất của chúng ta ở nước ngoài) nói gì về chúng? Từ đó, có thể gợi ý về con đường chinh phục thế giới của các nhà văn nhà thơ ta.
VỀ VĂN XUÔI
Cho đến nay, có 5 tác phẩm được người đọc bình chọn 4,5/5 trên mạng quan trọng nhất về sách là Amazon.com và vài mạng khác, cũng là những tác phẩm có nhiều người bình luận.
1/ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (NBCT) của Bảo Ninh (The Sorrow of War, bản dịch tiếng Anh của Phan Thanh Hảo, Frank Palmos hiệu đính): Cho đến nay vẫn xếp vị trí đầu bảng trong số các tác phẩm được bạn đọc phương Tây chú ý. Báo The Independent trao giải Sách nước ngoài hay nhất năm 1994.
Năm 2010, tổ chức Hội Tác giả Anh quốc (the British Society of Authors) xếp vào 50 cuốn sách dịch hay nhất TK 20.
Một số tác giả người Anh so sánh với Mặt trận phía Tây không có gì lạ của Remarque. Có nhà phê bình xếp nó trong top 10 các tiểu thuyết Đông Nam Á, có người lại nói nó xứng đáng được giải Pulitzer (giải văn học sáng giá nhất của Mỹ). (Kenneth Champeon, nhà văn, mạng ThingsAsia)
--
Nhận định của báo The Independent:
“NBCT bay cao bên trên [những cách nhìn lãng mạn hoá hay công thức hoá của những tác phẩm về chiến tranh VN của cả Mỹ lẫn VN]… Nó tiến và lui về thời gian, vào và ra nỗi thất vọng, kéo ta xuống khi người anh hùng đơn độc dẫn ta đi qua địa ngục riêng tư của anh trên cao nguyên Trung Việt, hay kéo ta lên khi tinh thần của anh lên cao. Đó là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay và một cuốn sách kỳ diệu”
• Phẩm chất đầu tiên của NBCT được người đọc nêu lên là chân thực, khách quan, không định kiến chính trị:
“Không chạy trốn sự dữ dội và hiện thực trần trụi. Tác giả là một người sống sót trong cuộc chiến, chiến đấu trong quân đội Bắc VN chống Mỹ, nhưng Bảo Ninh không có hảo ý với cả quân đội Bắc VN cũng như người Mỹ và đồng minh. Trong cuốn tiểu thuyết này không có chủ nghĩa lãng mạn, mà chỉ là sự chân thực. Kiếp sau khi dạy học, tôi sẽ yêu cầu học sinh của mình đọc nó đối chiếu với tác phẩm “The Things They Carried” của Tim O’Brien (tác phẩm về chiến tranh VN của nhà văn Mỹ nổi tiếng, đã có bản tiếng Việt của Trần Tiễn Cao Đăng – HH). Những cuốn sách ấy có thể làm chấm dứt một cuộc chiến” (Edward j. Santella, 1/57 người bình luận trên Amazon.com)
• Nhân bản cũng là giá trị được nhấn mạnh:
“Là một cuốn tiểu thuyết chứ không phải luận văn, The Sorrow of War không cho ta câu trả lời. Nó chỉ yêu cầu chúng ta thừa nhận một sự thật, ngay cả với những cuộc chiến tranh gọi là “chính nghĩa”: “Công lý có thể đã thắng, nhưng sự tàn bạo, chết chóc, và bạo lực phi nhân cũng đã thắng”(Kenneth Champeon)
• Một bất ngờ cho những ai kết tội cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là có cái nhìn tiêu cực đối với người lính miền Bắc VN. Ngược lại, không ít bạn đọc phương Tây phát hiện vẻ đẹp của người VN qua cuốn sách, đối nghịch với sự tuyên truyền của phim ảnh Mỹ:
“(Cuốn tiểu thuyết) cố gắng nhân bản hóa hoàn toàn một dân tộc cho đến nay vẫn thường bị xem như những kẻ cuồng tín hành động như người máy” (The Sunday Times (London))
“Nỗi buồn chiến tranh ca tụng sức chịu đựng bền bỉ của người lính Bắc VN… Vai trò của người phụ nữ thể hiện trong cuốn sách… Tôi chưa từng biết khía cạnh này trong văn hóa Việt Nam cho đến khi đọc cuốn sách này và tôi liền theo học một khóa về lịch sử Việt Nam. Văn hóa phương Tây không thường vẽ chân dung những người phụ nữ bảo vệ gia đình và chiến đấu cho đất nước. Là một phụ nữ và một phụ nữ từng là lính, tôi cảm thấy mình có mối liên thông với những người phụ nữ trong truyện… Tôi hâm mộ họ. Nhìn thấy cái cách họ được miêu tả tôi nhận ra rằng trong văn hóa Mỹ của mình có lẽ tôi chẳng bao giờ thấy một chủ nghĩa anh hùng như thế. Phần lớn các nữ anh hùng trong truyện bị giết hoặc bị hiếp, nhựng họ vẫn được phép trở thành anh hùng như thế. Tôi thấy đó là sự khác biệt lớn giữa Nỗi buồn chiến tranh và những phim sách “American made”. Việc đọc cuốn sách này cho tôi thêm một chiều kích mới đối với cuộc chiến tranh VN” (Susan L. Birmingham, AL, Hoa Kỳ, mạng Amazon.com)
--
2/ CHỐN VẮNG của Dương Thu Hương, bản tiếng Pháp (Terre des oublis của Phan Huy Đường), là một thành công ở Pháp (gần 200.000 bản phát hành, giải thưởng của báo Elle, tái bản trong các bộ sách Le Livre de Poche, Robert Laffont…) tiếp theo là các bản dịch xuất bản ở Mỹ (bản tiếng Anh No Man’s Land của Nina McPherson) ở Ý và Tây Ban Nha.
• Nhiều phẩm chất được ca ngợi, nổi bật là về sự thể hiện sinh động tâm lý xã hội VN thời hậu chiến và sự quyến rũ của bút pháp “Một sự đột nhập lôi cuốn vào lãnh thổ ít người biết: chấn thương gây ra bởi cuộc chiến tranh VN đối với những người chiến thắng” (Kirkus Reviews)
“Hương gợi lên vẻ đẹp của xứ sở, những truyền thống Việt Nam xưa, và những tiết tấu phi thời gian của đời sống hàng ngày, đối âm với những bi kịch của sự đàn áp và chiến tranh. Chia sẻ những tâm sự đau khổ của mỗi tính cách bị mắc vào cái mạng thắt nghẹt của tuyệt vọng, bổn phận, ham muốn, cảm thương, và giận dữ, Hương dẫn một câu chuyện quyến rũ, chính xác về chi tiết và có tầm rộng lớn. Một cuốn tiểu thuyết làm ta say đắm, phân tích một cách sắc sảo bản chất của chiến tranh và hòa bình, sự nghèo nàn và giàu có về vật chất và tinh thần, cái tôi và cộng đồng, sự cưỡng bức và tình yêu” Donna Seaman (Booklist _ American Library Association)
“Đó là một cuốn tiểu thuyết cao cả với bút pháp thơ, trộn lẫn nhục cảm với sự tàn bạo trong những miêu tả lộng lẫy đầy màu sắc và mùi hương. Người đọc không thể không bị chao đảo, chói lóa sau khi đọc nó” (Florinette www.leslecturesdeflorinette.com” (Aquitaine, Pháp)
--
3/ THIÊN ĐƯỜNG MÙ của Dương Thu Hương (Bản dịch tiếng Anh Paradise of the Blind của Nina McPherson): Được chọn trong “500 cuốn sách lớn của tác giả nữ”:
• Sự hấp dẫn của “xứ lạ” và hiện thực xã hội:
“Cuốn sách thể hiện được vẻ đẹp lớn lao và những sự thú vị đầy ấn tượng của xứ sở độc đáo này, cũng như sự xuống cấp và hiện thực ảm đạm của thời hậu nội chiến”
(School Library Journal)
- Nổi bật là sự thể hiện đặc sắc văn hóa Việt Nam: “… một chuyện kể giàu chi tiết và không định kiến. Tác giả…miêu tả sự phức tạp của văn hóa Việt Nam – sự trung thành với gia đình và tổ tiên, giá trị biểu trưng của thức ăn, sự phân biệt giai cấp và cảm giác luôn luôn tuyệt vọng trộn lẫn với lòng tự hào” (Publishers Weekly)
“Qua con mắt của Hằng, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của những ràng buộc gia đình và hiểu được vai trò của thực phẩm, nghi lễ và sự thờ cúng tổ tiên trong xã hội VN. Chúng ta cảm nhận nỗi khổ đau của người phụ nữ sống trong một xã hội nam quyền, ở đó họ chỉ ngang hàng với đày tớ” (Library Journal)
--
4/ Tuyển tập truyện ngắn SANG SÔNG của Nguyễn Huy Thiệp (Crossing the River bản dịch của Nguyễn Nguyệt Cầm)
• Cũng là về đặc sắc văn hóa VN:
“Một đề tài trở đi trở lại khai thác tình trạng không thích hợp của các anh hùng và những niềm tin truyền thống. Tuy nhiên, phần lớn hình ảnh, môi trường xung quanh, và sự kiện thấm đẫm triết lý đạo đức Việt Nam và Phật giáo cùng với huyền thoại và lịch sử Việt Nam. Về nhiều mặt, sự liền kề của tranh đấu có ý thức với chấp nhận hài hước đen tối dường như là một đặc điểm cốt yếu của văn hóa Việt Nam” Allison Martin “Book Reviewer” (Amazon.com)
--
5/ Tập truyện ngắn TRONG SƯƠNG HỒNG HIỆN RA của Hồ Anh Thái (Behind the Red Mist bản dịch của Wayne Karlin & Nguyễn Quí Đức)
• Phẩm chất sâu sắc của nội dung xã hội đi đôi với đặc sắc của bút pháp:
“Một tập hợp rất đẹp gồm 10 truyện ngắn của một nhà văn có tài, khai thác đời sống hậu chiến ở Việt Nam quê hương ông với sự trộn lẫn chủ nghĩa hiện thực tàn bạo và huyễn tưởng tượng trưng chủ nghĩa. Chủ đề căn bản của Thái là sự tương phản giữa chủ nghĩa ái quốc ngây thơ với chủ nghĩa hiện thực cay đắng của những thế hệ sau bị tổn thương vì lịch sử cuộc chiến kéo dài gần đây của đất nước họ” (Kirkus Reviews)
“Châm biếm, siêu thực và ẩn dụ ngập tràn nhiều truyện ngắn trong tập truyện được xây dựng một cách lịch lãm này” (New York Times Book Review)
****************
VỀ THƠ
Dễ hiểu tại sao thơ rất ít được chú ý. Dịch thơ là cực khó, nhất là khi sự khác biệt vê ngôn ngữ và văn hóa giữa VN và phương Tây quá lớn, và khi thị hiếu toàn cầu ngoảnh mặt với thể loại văn học này.
1/ Gây được tiếng vang rộng rãi là Tuyển tập CHÓ ĐEN VÀ ĐÊM, Thơ VN đương đại (Black Dog, Black Night, Contemporary Vietnamese Poetry) do Nguyễn Đỗ và Paul Hoover chọn và dịch, NXB Milkweed 2008, gồm 17 nhà thơ trong nước và 4 nhà thơ gốc Việt công dân Mỹ.
• Cuốn sách được tạp chí thơ online Coldfrontmag bình chọn là tuyển thơ dịch hay nhất của Mỹ năm 2008
• Tập đoàn những NXB nổi tiếng như Macmillan Reference USA™, Charles Scribner’s Sons® hoặc Primary Source Media™… đã quyết định chọn 15 bài thơ của 11 nhà thơ Việt Nam trong tuyển tập Black Dog, Black Night để đưa vào tổng tập văn học thế giới, một loại SGK tham khảo văn học thế giới bằng tiếng Anh. Tên tổng tập này LitFinder (tạm dịch: Tìm Văn), do nhà thơ Emma Hull biên tập, xuất bản tại chi nhánh ở Anh quốc.
Danh sách 11 nhà thơ và 15 bài thơ Việt Nam đã được chọn, xếp theo thứ tự của NXB:
Hữu Loan (Màu tím hoa sim),
Tế Hanh (Hà Nội vắng em),
Văn Cao (Có lúc; Năm buổi sáng không có trong sự thật),
Trần Dần (Cột đèn câm),
Hoàng Hưng (Người đàn bà điên; Người về),
Nguyễn Khoa Điềm (Vườn quả của mẹ),
Ý Nhi (Lời bài hát; Buổi sáng),
Nguyễn Quang Thiều (Linh hồn đàn bò),
Nguyễn Đỗ (Hồi ức một ngày; Với),
Xuân Quỳnh (Thơ tình cuối mùa Thu),
Nguyễn Duy (Đà Lạt một lần trăng).
• Một bài thơ trong tuyển đã được bình luận khá kỹ trên mạng của tổ chức thơ hùng mạnh nhất của Mỹ là Poetry Foundation (Người về – A Man Returning Home):
“Tôi xếp bài thơ này vào Hồ sơ “Những bài thơ hâm mộ” vì tôi mê cái cách sử dụng trạng thái nghiêng của nó. Tôi yêu lối bất an của cuộc sống người đàn ông này dường như đồng thời tăng tiến và giảm đi với cường độ lớn. Cái “tiếng bâng quơ hỏi” có thể sẽ dường như bớt đe dọa hơn nếu như nó đến sớm hơn trong bài thơ, như sau câu thơ nói về các con ông ta chẳng hạn. Nhưng ở đây, đến cuối bài thơ, khi chúng ta thấy được những sự bất an về thể xác như “một cái vỗ vai” khiến ông hoảng hốt đến thế, thì tiếng nói kia trở nên đáng lo ngại không thể tin nổi. Tiếng nói ấy đòi ông làm gì vậy? Dòng thơ ngắt sau cái giật mình đặc biệt hiệu quả ở chỗ cái “giật mình” đến liền sau sự đe dọa của những câu hỏi. Bây giờ cái ý người đàn ông giật mình dường như báo động một cách khủng khiếp, và mặc dù lẽ ra chúng ta được trấn an vì thật ra ông ta giật mình chỉ vì một sự nhỏ nhặt như thế, thì cuối cùng sự đe dọa của “một cái vỗ vai” lại tăng lên chứ không mất đi. Tôi cũng yêu cái từ không xác định “cõi ấy” và việc từ này được viết hoa và in nghiêng trong bản dịch (That). Hoàng Hưng để cho người đọc quyết định người đàn ông này trở về từ chỗ nào. Tôi có những phỏng đoán của mình, nhưng câu trả lời chính xác cho “cõi ấy” có thể ít ý nghĩa hơn nhiều so với câu trả lời mà chúng ta có được về những gì “cõi ấy” đã gây ra cho người đàn ông. Và với những chi tiết dồn dập trong bài thơ, nỗi khiếp hãi cái “cõi ấy” có thể ngày càng dồn sức nặng theo sự tiến triển của bài thơ. Hãy xem xét cái cách những sự lựa chọn phản ánh những âu lo. Hay là hãy xem cái cách những âu lo phản ánh những lựa chọn. Có gì khác nhau giữa hai cái? Camille Dungy (nhà thơ, PGS khoa Viết văn trường Đại học San Francisco State)
http://www.poetryfoundation.org/.../a-few-prompts-drawn.../
--
2/ Tác phẩm Thơ nhận được nhiều lời bình: Tập ĐƯỜNG XA của Nguyễn Duy (Nguyễn Bá Chung & Kevin Bowen dịch)
“Đây là một Whitman của Việt Nam: một nhà thơ yêu đất nước mình, bị kẹt vào một cuộc xung đột tàn bạo giữa miền Bắc và miền Nam, một nhà thơ ôm trọn sự hỗn mang và khắc tạc nó thành bài ca. Những bài thơ đen tối nhất của ông vẫn dành chỗ cho sự hồi sinh tập thể, hay ít nhất là sự sống sót”.(Catherine A. Salmons, The Boston Sunday Globe)
Những bài thơ chiến tranh mạnh mẽ một cách bình lặng của Duy là không thể quên được (The Boston Sunday Globe)
… một giọng say đắm, giọng của lòng can đảm và lòng tin, hy vọng và tình yêu. Ông khai thác vẻ đẹp của ngôn ngữ trực tiếp, giản dị theo một cách vừa cá nhân vừa chính trị, không màu mè hay giáo huấn (Lori Tsang, Multicultural Review)
****
VÀI ĐIỀU RÚT RA:
Các tác phẩm trên được ưa thích vì những khía cạnh chủ yếu sau: khách quan trung thực trong việc tái hiện hiện thực xã hội, không định kiến (định hướng) chính trị; thấm đẫm chất nhân bản, nhân văn; đặc sắc về tâm lý-văn hóa Việt Nam; lối viết tương đối hiện đại. Cần xoá bỏ ngộ nhận: những tác phẩm được nước ngoài ưa chuộng là do nội dung “chống chế độ” Việt Nam (như đã dẫn chứng về Nỗi buồn chiến tranh). Người đọc chân chính trên thế giới có cái nhìn rất khách quan về giá trị của một tác phẩm văn học, tất nhiên dựa trên những tiêu chí phổ quát của thời đại.
Thương hiệu cho văn học Việt Nam chỉ có được một khi có những tên tuổi đủ sức chinh phục công chúng thế giới. Mà muốn chinh phục thế giới, trước nhất phải độc đáo – sự độc đáo của văn hóa và hiện thực Việt Nam nhưng thể hiện ở tận mức cá nhân chứ không chỉ là “đậm đà bản sắc dân tộc” nói chung. Nhưng sự độc đáo ấy phải mang một tư tưởng nhân văn cao sâu ở tầm nhân loại. Một đóng góp thực sự vào văn học thế giới phải là sản phẩm “3 trong 1” (cá nhân – dân tộc – nhân loại) như thế.
Gần đây tôi thường nghĩ đến một hiện tượng văn hoá Việt Nam có sức mạnh chinh phục người phương Tây rất lớn: đó là những ý niệm và thực hành Phật gíao đang được hiện đại hoá theo phong cách rất Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh (được gọi là “Pháp môn Làng Mai”). Tư tưởng Phật giáo là một tư tưởng phổ quát đã thấm nhuần sâu xa và được Việt Nam hoá tích cực nhất trong lịch sử dân tộc. Thích Nhất Hạnh cũng là một nhà văn, ông có vài chục cuốn sách được xuất bản trên thế giới với hàng triệu bản. Hiện tượng này có thể cho ta những gợi ý tốt về con đuờng ra thế giới của văn học VN./.
1/2010
HÀNG TRĂM TỶ HỒN MA ĐANG XUYÊN QUA CHÚNG TA MỖI GIÂY
Ngày 8 tháng 4 năm 2023
Trong cuốn Hỗn độn & hài hòa (tác giả Trịnh Xuân Thuận; bản tiếng Việt do Phạm Văn Thiều và Nguyễn Thanh Dương dịch -- nxb Khoa học kỹ thuật 2003) ở tr 180, tôi đọc thấy một đoạn nói về một hạt kỳ lạ, được Wolfgang Pauli phát hiện ra và sau này được đặt tên là nơtrino.
Nó không có khối lượng. Cũng không có điện tích, lại chuyển động với tốc độ ánh sáng.
Vì lẽ đó, nó chỉ tương tác với những lực hạt nhân yếu. Còn lực hấp dẫn, điện từ và hạt nhân mạnh không hề tác động tới nó.
Do đó, các hạt này ít có dịp bộc lộ. “Tựa như một hồn ma - tác giả viết tiếp – chúng kín đáo lướt đi trong một màn đêm dày đặc, nên trước đó các hạt mới này không thể nắm bắt được.”
Ở đoạn dưới, tác giả cho biết nơtrino còn có mấy đặc tính.
Một là rất nhiều.
Hai là sức sống rất mãnh liệt. Một lượng khổng lồ các nơtrino sinh ra trong những giây đầu tiên của vụ nổ nguyên thủy đến nay vẫn tồn tại.
Mà tồn tại cách nào?
Đặc tính thứ ba: Chúng lang thang trong vũ trụ và có mặt ở khắp nơi.
Đây là câu nguyên văn của tác giả
”Vào lúc mà bạn đang đọc những dòng chữ này, hàng trăm tỷ nơtrino sinh ra ngay từ buổi khai thiên lập địa vẫn đang đi xuyên qua cơ thể của bạn mỗi giây… “
Tôi nghĩ đến những hồn người bé nhỏ tham gia vào cả quá trình lịch sử đất nước mấy chục thế kỷ nay để rồi thành tạo nên cuộc sống chúng ta hôm nay.
Không phải chỉ có biết ơn mà cái tình cảm của chúng ta, với những hồn ma làm nên quá khứ ấy, chắc chắn phức tạp hơn nhiều.
Hiểu biết về các hồn ma ấy một cách tường tận là một trong những bước đi cần thiết trên đường ta hiểu về ta ở mọi thời điểm.
2011
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 4 – 73 (đoạn 1)
Ngày 11 tháng 4 năm 2023
---
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị -Hà Nội 1972 – 1975”
***
MỘT NỀN HÒA BÌNH NGẤM BỆNH
3/4
Vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì hoà bình. Bây giờ, trên nhiều quãng đường, cái âm thanh nghe reo vui nhất, là tiếng máy gạt, máy san. Và những cái nền đất đẹp nhất, là nền đất mới. Đất mới đổ xuống hầm hố cá nhân. Đất mới san nền, đất lật tung ra, từ những hầm đất lâu nay cỏ đã lên xanh.
Bầu trời được dọn dẹp đã trở thành bầu trời bình yên.
Hôm qua đất là chỗ trú chân. Hôm nay, đất phải là cuộc sống.
7/4
Cảm giác rõ nhất của Hà Nội 1973: xe bò.
Đi đâu cũng nghe những tiếng gõ của bánh xe bò, tiếng móng bò đập trên đường. Ban đêm nhìn theo bóng dáng một khối lùm lùm trên đường, chỉ thấy một ngọn đèn lắc lư, chiều sâu của xe âm âm tối tối.
Xe chạy âm thầm như xấu hổ, nhưng lại cần mẫn đến phát sợ. Rất khuya, còn nghe tiếng bánh lăn. Chợt sáng, đã nghe xe dậy. Dễ xe chui vào tất cả mọi ngả đường, mọi xó xỉnh. Đã bao nhiêu lần, tôi bắt gặp những người đánh xe như đang thiu thiu ngủ, như đang sống qua đi cho xong chuyện. Nhưng con bò vẫn đi, cái xe vẫn chuyển, dòng xe vẫn trôi đi đều đều, và tôi vừa bằng lòng, vừa sợ hãi với cái sức sống đó của Hà Nội.
Hà Nội và năm tháng. Có bao giờ chúng ta biết chính xác tuổi Hà Nội. Có bao giờ chúng ta nghĩ mình hiểu hết Hà Nội. Ẩn sau Hà Nội thanh lịch luôn luôn có một Hà Nội dầu dãi, nhẫn nại. Những nếp nhăn trên nét mặt các cụ già, những căn nhà mốc meo, những cái bếp dầu khét lẹt, tiếng xe điện guồng bánh mãi từ lâu mà không thấy tới - đất nước xa vắng như từ thế kỷ nào mang lại. Cách mạng là gì vậy, mà những cái tốt trong quá khứ thì chết hết cả, những cái xấu thì cứ còn mãi, chìa ra lan tràn ban phát đầy sông, đầy đường.
Phan Nhật Nam theo ra trao đổi tù binh về viết (có đúng thế không hay chỉ là đồn đại?) người ta đã biến Hà Nội thành một thành phố vô tính (không ra đực, không ra cái), một thành phố không có người. Cái câu Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà của Trần Dần cần phải thay bằng: Tôi bước đi không thấy phố thấy người.
Có bao giờ anh chợt nhận ra có một bầu trời trên đầu mình?
Đi trên thành phố chúng ta cứ bị hấp dẫn bởi những nét mặt và những hàng cây, đến nỗi quên đi bầu trời trên kia. Bầu trời trên thành phố vẫn là một sự vô tận ngơi nghỉ, một thoáng ưu tư.
Những hàng cây cho ta ý niệm về sự trong sạch, cây chết đứng giữa thành phố bụi bẩn, nhưng cây tìm cách sống. Cắm sâu vào đất, nó lại vươn lên ánh sáng.
10/4
Nhàn: Thanh niên bây giờ có loại con các ông to. Nó tha hồ làm đủ mọi chuyện.
Niệm: Nó khác mình ở chỗ ấy. Chúng mình con nhà nghèo nên mình vẫn còn rút rát. Trong khi ấy, nó cứ đàng hoàng làm bậy, chẳng sợ gì cả.
Nhàn: Căn bản là vì nó không bị ràng buộc về kinh tế.
Niệm: Nhất là nó không bị ràng buộc vì dư luận. Cái này quan trong hơn nhiều.
Thư, em tôi kể ở lớp có một thằng bạn làm thơ, mơ ngày mai anh này sẽ làm kỹ sư, anh kia sẽ đi nước ngoài, anh nọ viết văn. Khánh (cháu ngoại cụ Tôn Đức Thắng) làm thơ bác lại:
- Ai khiến anh phát vé cho tôi?
- Ai khiến anh ban phát cho mọi người.
- Tương lai là thế nào, không ai biết được!
Ng Khải nghe tôi kể lại bình luận:
-- Đúng, đúng thế. Những vấn đề mà giới văn nghệ nói còn là hiền. Đi ra ngoài nghe người ta nói còn là khốn nạn bằng mấy. Sự thực sẽ do từ chính những người hiểu bản chất hôm nay nhất mà ra.
17/4
Hôm qua, nhiều người đi xem diễu binh thử. Hôm nay, suốt từ chập tối, đầu phố Quan Thánh leo lẻo tiếng loa. Đang thử loa mắc ở đầu đường, để điều khiển duyệt binh.
Tôi không thể háo hức với những chuyện duyệt binh này. Tôi chưa yêu được những hồi quang của cái sức sống hùng tráng hôm qua. Hàng ngày tôi chỉ cảm thấy một thứ sức sống dòi bọ lúc nhúc, người nọ đạp lên đầu người kia.
Con người ở đây, sống thấp lè tè mặt đất, còn cả bầu trời trong sạch thì bị thả nổi cho một bọn dốt nát hoành hành. Họ muốn nói gì thì nói. Như là hành hạ người ta, bắt người ta nghe, tống đủ mọi thứ sáo rỗng vào đầu người ta. Tiếng loa tiếng đài luôn có cái vẻ kiêu hãnh của kẻ một mình một gậy múa loạn lên ở giữa đường như thể ở chỗ không người.
Chủ nghĩa xã hội là gì? Là một cuộc mít tinh lớn, trong đó, quần chúng nhân dân là một khối đông đặc, và ở trên, có mấy lãnh tụ, trong khi không trung leo lẻo tiếng loa tuyên truyền.
Một mẩu đối thoại với Khải:
-- Tôi cảm thấy người dân nghèo thành thị quanh tôi là những người đầy hiếu động.
-- Có phải thế đâu. Dân mình là trì trệ nhất.
-- Không, hiếu động nghĩa là hơi một tí là sinh sự, chửi bới, đánh nhau, có thể là còn móc mắt nhau, xin nhau tí tiết! Còn trì trệ là nhìn từ xa, nhìn bao quát. Mình có cả hai đặc tính đó.
Và lúc này dân ta là những người hay thì thào. Ra phố, hàng nước có người thì thào; vào mậu dịch, các nhân viên thì thào. Cho đến khi vào những buổi họp, người ta cũng thì thào. Đất nước mất đi sự thông tin chung. Luật pháp không xác lập được những mối liên hệ lớn, và người ta cứ phải tự lập những mối liên hệ, cứ phải quan hệ lẫn nhau. Những mối liên hệ tưởng rất lằng nhằng, nhưng thật ra nó đơn điệu. Nó chỉ gồm những mạch ngắn.
Và bây giờ lại hỗn loạn nữa. Nếu quen một người công an, hẳn sẽ thông báo ta biết là ngày nào cũng có những cuộc ẩu đả, đánh nhau, giết nhau. Đã nghe một người nào đó nói:
- Nhà nước không có luật pháp gì nữa. Thì để chúng tôi làm lấy luật pháp vậy.
18/4
Nhận ra trên đường phố đan cài rất nhiều những mặt lính, cả những đại uý thiếu tá là thứ hồi trước chiến tranh rất hiếm.
Tôi nhớ đến những khoảng rừng. Ban đầu người lính đến đó trong tâm lý sống tạm bợ qua ngày. Nhưng rồi họ trở thành chính khu rừng.
Đánh nhau lâu, trở về Hà Nội, người lính ấy cảm thấy phố phường giờ hóa xa lạ. Họ đã là một thứ sản phẩm bị rừng núi “thuộc” đi, làm biến chất đi.
Họ không còn là họ nữa. Người ta bảo là họ trở nên tốt đẹp hơn. Cái đó có. Nhưng tôi còn thấy họ trở nên thực dụng, tầm thường. Một cái nhìn thân tình lúc này phải thấy đau xót.
NHỮNG BÀI HỌC TỪ MỘT CÂY BÚT HẢI NGOẠI
Ngày 11 tháng 4 năm 2023
---
Trên BBC 23-2-2017 có bài “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt” của Nguyễn Phan Quế Mai
https://www.bbc.com/vietnamese/forum-39061117
(Bạn đọc có thể đọc lại bài này trên Văn Nghệ quân đội tháng 3-2018
http://vannghequandoi.com.vn/.../viet-thanh-nguyen-va...)
Tôi không đọc được Nguyễn Thanh Việt nhưng lại muốn hiểu đôi chút về tác giả này với tư cách một người viết về chiến tranh.
Qua bài báo của Nguyễn Phan Quế Mai tôi nhận ra một số chủ đề được Nguyễn Thanh Việt triển khai như sau:
- Chiến tranh. Tại sao chiến tranh lại xảy ra? Tại sao con người lại tiếp tục chia rẽ con người? Sự chia rẽ đó không chỉ tồn tại trong hoặc ngay sau cuộc chiến, mà hậu quả của nó còn kéo dài trong rất nhiều thập kỷ.
Theo sự kể lại của Nguyễn Phan Quế Mai, trong truyện ngắn “I'd Love You to Want Me” (tạm dịch Em muốn anh khao khát em), quá khứ - với những đường viền ảo mờ là chiến tranh và loạn lạc - có nguy cơ chia rẽ những cặp vợ và chồng vốn rất gắn bó. Bà Khanh - người phụ nữ phải hy sinh công việc mà bà yêu thích để có thể chăm sóc chồng - dần nhận ra rằng chồng bà đang nhầm lẫn bà với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ đó là ai và có vai trò thế nào trong thời gian chồng bà còn sống ở Việt Nam? Liệu việc bà và chồng đã cùng sống sót chuyến hành trình vượt đại dương, đã cùng vượt qua những ngày đầu ở California - nơi họ đã phải ăn đồ ăn mua bằng phiếu thực phẩm, mặc quần áo cũ do người khác bố thí - có đủ níu họ lại với nhau? Nghĩa là kinh nghiệm tị nạn liệu có lấn át kinh nghiệm chiến tranh?
-- Tị nạn. Di sản mà những người tị nạn chiến tranh thừa hưởng từ cha mẹ mình thường bao gồm sự nghèo đói, hoặc sự bơ vơ lạc lõng trên đất khách quê người.
Theo Nguyễn Phan Quế Mai, khi mô tả những di sản thường gặp đó, ngòi bút của Nguyễn Thanh Việt bám rễ vào thế giới nội tâm của những người tị nạn để cất lên tiếng nói về di chứng tâm lý hậu chiến.
Chẳng hạn “khi nằm trên giường và lắng nghe những đứa trẻ chơi nhắm mắt chạy trốn ở lối đi giữa những chiếc lều, anh cố gắng quên đi những người đã bám vào không khí khi rơi xuống sông, một số người bị đánh ngã trong sự hỗn loạn, một số bị những người lính đang tuyệt vọng tìm đường tháo chạy bắn vào lưng”.
Trong các nhà văn VN hiện nay không có nhiều người lo viết về chiến tranh. Số muốn tiếp tục khai thác đề tài này thì lại không rõ nên viết cách nào và trước hết nên quan niệm viết về chiến tranh như thế nào.
Dường như để trả lời cho câu hỏi này, Nguyễn Phan Quế Mai dẫn lại một câu tâm huyết của Nguyễn Thanh Việt:
“…Các tác phẩm của tôi, mặc dù chủ yếu nói về người Việt và cuộc chiến tranh Việt Nam, nói cho cùng là để hướng tới những chủ đề to lớn hơn - chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý. Lịch sử của bản thân tôi - với tư cách là người tị nạn mà cả hai đất nước đều không muốn đón nhận - đã khiến tôi trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.”
--
Đoạn văn có tính tuyên ngôn này gợi ra nhiều điều để suy nghĩ tiếp.
HÃY TÌM TỚI
NHỮNG KHÁI QUÁT
Các nhà văn VN ở Hà Nội (và theo sự quan sát của tôi, phải kể cả một phần lớn người cầm bút ở Sài Gòn trước 4-1975) khi viết về chiến tranh thường chỉ dừng lại ở sự miêu tả cụ thể và những khái quát đơn giản. Chưa thấy ai có khả năng mở ra những vấn đề “chiến tranh và ký ức, quyền lực và lạm dụng quyền lực, loại trừ và dung nạp, bất công và đấu tranh giành lại công lý” như Nguyễn Thanh Việt nêu ở đây.
Một phần lý do của sự “dừng lại” này là ở chỗ chúng ta chỉ biết tới chiến tranh ở Việt Nam mà gần như chẳng biết gì về chiến tranh ở các nước khác. Không có cái mà so sánh thì khó lòng hiểu một sự việc cho sâu sắc – đấy là một lẽ thường tình.
Khi không tự hạn chế trong miêu tả những vấn đề cụ thể của cuộc chiến đã qua ở Việt Nam, Nguyễn Thanh Việt nâng tầm khái quát của tác phẩm bằng cách đi vào những vấn đề bao quát cả trong chiến tranh lẫn đời sống trong thế giới hiện đại.
Tôi cũng tìm thấy ở đây cái lý do chính khiến cho Nguyễn Phan Quế Mai đặt tên bài viết của mình là “Những câu chuyện không chỉ dành cho người Việt”
PHẢI BIẾT VƯỢT QUA
CHỦ NGHĨA DÂN TỘC
Nguyễn Thanh Việt đã rất tâm huyết khi tự nhủ
[hãy thay đổi bản thân theo hướng] trở thành một người viết luôn ngờ vực chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh, và những tác phẩm viết ra không vì mục đích tạo nên sự thay đổi.”
Sâu trong tâm lý người Việt Nam chúng ta, suốt trong những năm chiến tranh và gần 50 năm hậu chiến, khái niệm quốc gia/dân tộc đã được đưa tới một tầm mức thiêng liêng chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta.
Nhưng xét trên phạm vi thế giới thì không phải thế.
Cuốn sách “Những cộng đồng tưởng tượng” (Imagined Communities) của Benedict Anderson là một tác phẩm nghiên cứu về chủ nghĩa quốc gia/dân tộc gây chấn động.
Trong cuốn sách, Benedict Anderson "đã chứng minh rõ khái niệm về quốc gia/dân tộc là một khái niệm mà theo ông “đã tạo điều kiện cho việc, trên hai thế kỷ qua, bao nhiêu triệu người sẵn sàng giết và sẵn sàng bị giết”.
Dịch giả Như Huy - trong bài dẫn luận cho cuốn sách mà tôi đọc được trên mạng Văn Việt - cho biết Benedict Anderson đã đi tới một kết luận theo đó nên xem chủ nghĩa này như một trong những ý thức tiêu diệt tính nhân bản của con người.
Chúng ta không bắt buộc phải tôn sùng quan niệm này nhưng chúng ta nên biết, phải biết. Việc tìm hiểu thêm về quan niệm này của Benedict Anderson sẽ giúp chúng ta có cách nghĩ đa dạng hơn nhiều chiều hơn về vai trò chiến tranh trong lịch sử dân tộc cùng những vấn đề liên quan.
(còn tiếp)
THÁCH THỨC LỚN NHẤT ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY LÀ CHÚNG TA CHƯA CÓ TƯ DUY HÒA BÌNH
Ngày 12 tháng 4 năm 2023
....
Trích bài GS Cao Huy Thuần (Pháp)
trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn tiếp thị 2013
******************
HỎI
Theo Giáo sư, vì sao một dân tộc từng ngẩng cao đầu trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những chặng hòa bình tìm kế bứt phá vươn lên?
TRẢ LỜI
Chiến tranh có quy luật của chiến tranh. Hòa bình có quy luật của hòa bình. Trở về lại với bài quốc ca, năm 1945 chúng tôi hát: "Thề phanh thây uống máu quân thù" mà chẳng thấy gì ghê rợn. Bây giờ chúng ta hát: "Đường vinh quang..." Thế là "văn hóa" của chiến tranh đã khác với văn hóa của hòa bình rồi!
"Mỗi ngày anh du kích giết được 3 thằng Tây, vậy 10 ngày anh giết được bao nhiêu thằng?", ấy là bài toán đố lớp tiểu học hồi 1950.
Bây giờ không ai ra toán kiểu đó nữa.
Tuy vậy, chiến tranh vẫn chưa ra khỏi cái đầu và thực tế chính trị. Như một quán tính, chiến tranh vẫn đè nặng trên tư duy. Ta và địch vẫn mãi đánh nhau trong đầu óc, với căm thù, thủ đoạn và bạo lực, ngăn cản mọi suy nghĩ về sự cần thiết tất nhiên của cạnh tranh chung sống trong hòa bình.
Có cần phải nhắc lại rằng chiến tranh không có văn hóa? Không ai nói "văn hóa chiến tranh". Chỉ có văn hóa hòa bình.
Đừng áp dụng quy luật của thời chiến vào giai đoạn của thời bình.
Một bên là nước mặn, một bên là nước ngọt.
Chiến tranh là chỉ huy, hòa bình là nghe ý kiến.
Chiến tranh là mệnh lệnh, hòa bình là biện luận.
Chiến tranh là đại bác, hòa bình là cây bút.
Chiến tranh là sắt thép, hòa bình là tơ lụa.
Chiến tranh là thù địch, hòa bình là đối thủ.
Chiến tranh là cưỡng bức, hòa bình là thuyết phục.
Chiến tranh là lý lịch, hòa bình là vua Trần xí xóa.
Chiến tranh là bạo lực, hòa bình là pháp luật.
Chiến tranh là sa trường, hòa bình là nghị trường.
Chiến tranh là lạnh lùng của bộ máy, hòa bình là nồng ấm của hơi thở con người.
Chiến tranh là nhất cực, hòa bình là đối trọng.
Chiến tranh là con ó quắp mũi tên nơi móng, hòa bình là con bồ câu lông trắng, chân son, và mắt ôi là bồ câu.
Hòa bình mà cứ dùng khí giới của chiến tranh để đối thoại thì "văn hóa" ấy không phải là động lực của phát triển. Đó là cản trở phát triển. Cản trở về mọi mặt, mọi lĩnh vực.
---
HỎI
Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay là gì, thưa Giáo sư?
TRẢ LỜI
Là chưa có tư duy hòa bình như tôi vừa nói.
---
HỎI
Theo Giáo sư, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn chế những thách thức đó để đưa dân tộc đi lên?
Chỉ có một phương thức duy nhất thôi là dân chủ. Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy, quyền lực lâu ngày của một chế độ sẽ hao mòn tính sắc bén với thời gian, người Pháp nói rõ hơn: le pouvoir s'use, ta có thể dịch là quyền lực bị lão hóa.
Ngày xưa, khi mới đánh đuổi ngoại xâm và lên ngôi, ông vua thường là minh quân. Một đời, hai đời, vài đời, tính sắc sảo ban sơ dùi mòn đi, cuối cùng là hôn quân hắc ám.
Giới tinh hoa quan chức không có động lực gì thúc đẩy để thay đổi, chỉ ham địa vị, cũng từ từ rữa nát theo ông. Tất cả chế độ chỉ dựa trên ông vua và hầu cận tả hữu mà vua thì hôn quân, quan thì nịnh thần, tất loạn, không Hồ Quý Ly thì Mạc Đăng Dung phải soán ngôi để thiết lập trật tự mới.
Chế độ quân chủ ngày xưa không tìm ra được một nguyên tắc để ngăn cản tính lão hóa tất yếu của quyền lực, để quyền lực chuyển mình thay đổi trong hòa bình.
Ngày nay, chính thể dân chủ có nguyên tắc, có kinh nghiệm để mài giũa lại quyền lực cho sắc bén, hữu hiệu, để quyền lực tự củng cố, tự sửa đổi.
Ông Khổng Tử ngày xưa bảo thủ như vậy mà cũng nói: Học cũng như chèo thuyền nước ngược, không tiến tất thoái. Cai trị cũng vậy.
Nhân ngày độc lập, tôi cũng xin nói thêm, hay nói cho đúng, cũng xin hát thêm - hát những bài hát mà chúng tôi đã hát hồi 1945. Bài Bao chiến sĩ anh hùng tận cùng như thế này: "Thề phục quốc, tiến lên Việt Nam!/ Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam!/ Đài hạnh phúc đắp xây tự do!/ Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm".
Triệu người Việt Nam như một đều đang nói: chúng ta đang gặp ngoại xâm. Triệu người Việt Nam như một đều đang thề: thề phục quốc. Triệu người Việt Nam như một đều đang hô to: lập quyền dân. Triệu người Việt Nam như một đều đang ước mơ tự do, hạnh phúc. Chúng ta đang sống năm 2013 hay năm 1945?
---
HỎI
Triết lý phát triển nào cho Việt Nam phù hợp với bối cảnh hiện nay, thưa GS?
TRẢ LỜI
Tôi xin mượn một chuyện khoa học để trả lời câu hỏi của anh. Hồi thế kỷ 18, nhiều nhà hóa học, nhất là Stahl, nghĩ rằng nếu cái bàn, cái ghế, bất cứ cái gì cũng có thể cháy được thì như vậy hẳn phải có một tố chất gì đó chung cho tất cả những vật thể có thể cháy ấy. Tìm tòi mãi mà không chiết ra được cái tố chất chung ấy, họ gọi cái chất hãy còn vô hình đó là phlogistique. Như thế cho đến Lavoisier. Lavoisier đảo ngược cách suy nghĩ. Chắc gì cái tố chất chung ấy nằm ở trong bản thề cáí bàn, cái ghế, mọi vật có thể cháy? Biết đâu nó nằm ở bên ngoài? Đảo ngược cách suy nghĩ như vậy, Lavoisier khám phá ra cái mà bây giờ trẻ con cũng biết: cái ấy là ôxy. Có ôxy thì cháy. Ôxy ở bên ngoài.
May mắn cho Lavoisier là rốt cục các nhà hóa học không còn kết án ông là diễn biến... khoa học. Không làm một cuộc đổi mới tư duy thì xin anh đừng nói phát triển.
---
HỎI
Giáo sư có tin rằng mỗi dân tộc có một số mệnh riêng?
TRẢ LỜI
Tôi là Phật tử nên không tin ở số mệnh. Đạo Phật dạy tôi: tất cả đều do hành động của ta. Hành động tốt thì kết quả tốt, hành động xấu thì kết quả xấu. Các câu hỏi của anh là hành động. Trả lời của tôi là hành động. Nó nhỏ như hạt mưa. Nhưng triệu triệu hạt mưa thì chấm dứt hạn hán.
LÊ NGỌC SƠN (THỰC HIỆN)..
Ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 4 – 73 (đoạn 2)
Ngày 21 tháng 4 năm 2023
--
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
--
21/4
Dạo này anh Nhị Ca hay nói với tôi về sự trả thù. Suốt những năm hòa bình, dân buôn bán Hà Nội bị dân cán bộ khinh rẻ. Họ bị gọi bằng cái từ mới xuất hiện mấy năm nay - phe phẩy. Thù nhau ngấm ngầm.
Nay đến thời chiến thì đám dân phe phẩy ấy báo thù, khinh lại dân cán bộ ra mặt. Đơn giản thôi, chỉ cần trông vào bữa cơm của hai gia đình một dân đen một cán bộ đang sống cạnh nhau là thấy ngay tại sao họ lại không muốn sống cạnh nhau.
Tôi nghĩ đến một cái gì đó, một thứ luận thuyết thâu tóm chung, gọi là quy luật của đời sống. Và tôi sẽ chứng minh là nước Việt Nam của tôi, do không chịu tuân theo những luật đó, cho nên không làm được gì. Hơn nữa, những quy luật bị dồn ép khiên cưỡng lại còn bật dậy trả thù người ta nữa.
22/4
Tự nhiên nổi lên trong đầu óc mọi người vấn đề quyền lực.
Cũng như các chủ đề khác, nó lại được khơi gợi từ thế giới bên ngoài.
Cuốn Trăm năm cô đơn bản tiếng Pháp được truyền tay và bàn luận. Tôi thấy mấy nhà văn thạo tin dẫn lại với nhau những câu mà các anh bảo là của nhân vật chính, đại tá Aureliano Buendia:
- Sự choáng váng về quyền lực trong ông đã trở thành những giờ phút bất mãn sâu sắc với ngay bản thân mình.
... Các mệnh lệnh của ông thi hành khi ông chưa kịp ban ra, thậm chí trước cả khi ông nghĩ ra, và lại được chấp hành vượt quá cả mức mà ông dám hành động.
-... Đi đến đâu, ông cũng gặp những thanh niên đón tiếp. Họ nhìn ông với những đôi mắt giống như đôi mắt ông, họ nói với ông bằng giọng nói giống giọng nói của ông, họ chào ông với lòng hoài nghi như ông. Họ chào và họ tự coi là con cháu ông. Ông cảm thấy một cảm giác rất kỳ lạ -- hình như họ làm cho chính ông nhân tăng lên nhiều lần song chính vì vậy mà nỗi cô đơn càng trở nên nặng nề hơn, đau đớn hơn.
Chúng ta chiến đấu chỉ để giành quyền lực mà thôi...
.... Ông phải làm 32 cuộc chiến tranh, phải phá bỏ mọi điều quy ước với cái chết phải gục xuống trong vũng bùn vinh quang để có thể hiểu ra -- tuy đã muộn gần 40 năm -- sự quý giá của một cuộc sống bình thường.
Trên Bản tin tham khảo thấy có in bài một nhà báo Pháp nói về tình hình VN hiện thời
- Nước Việt Nam thường xuyên ở vào những điểm nóng của thế giới, đến nỗi họ tưởng rằng những tai vạ là ở ngoài vào, chứ không phải chính họ gây ra.
- Một dân tộc chỉ có thể phát triển trong sự cọ xát với các dân tộc khác. Người Việt Nam đang tự nhốt họ lại, và tôi ngờ rằng họ sẽ chết ngạt.
26/4
Vẫn chuyện xe bò. Ngày mưa, người điều khiển xe cuốn cái cạp nứa (vốn chuyên dùng để be thành xe cho tăng thêm sức chứa) thành một vòm mái che mưa, rồi ngồi núp dưới đó.
Giả sử như tôi làm nghề xe bò, hẳn tôi đã luôn luôn có đủ thứ mặc cảm. Mặc cảm tự hào nghênh ngang rằng mọi người cần đến mình. Mặc cảm bất cần. Chẳng ao ước gì cả. Ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, chân đi đất ư, kệ -- ngồi vào cái xe bò thì còn tính chuyện gì nữa?
Mưa. Năm nay thời tiết ngang trái. Tết thì nắng nồng oi bức. Nắng đến không có chỗ cho con người ăn diện nữa. Nắng không để cho những ý định cá nhân được mở mày mở mặt. Làm gì có chỗ cho những cái đó.
Và bây giờ thì mưa. Đầu hè, mưa hàng mươi hôm liền. Mưa đá rơi xuống khu vực người về chuẩn bị duyệt binh, những mái lều của người lính nát bung, trơ ra lần vải bạt bên trong.
Mưa trắng trời Hà Nội, ngập những đường phố bị trũng. Trẻ con đi học về lội bì bà bì bõm. Cô giáo đứng giữa ngã tư đường, cấm, doạ chúng nó mãi, chúng nó mới chịu thôi.
Mưa đã tàn phá một chút gì trên đường phố và trong tâm hồn những đứa trẻ đó (Tôi nhớ cái ý đến với tôi thuở nhỏ: mưa có khả năng “bộc lộ”, “lột trần tất cả”).
Nhưng thôi hãy nói cụ thể. Không đâu cho thấy tai hại của mưa bằng ở nhà máy điện. Máy móc không kịp che, mưa phá những đầu mối, những lò hơi, mưa gây ra sự cố điện cho cả thành phố -- có buổi sáng, cả thành phố lạnh tanh.
Cuộc sống sau mưa. Thành phố sau mưa. Những con đường trơ đá sạch trắng. Lá mới rụng còn xanh đen. Năm nay, căn nhà lợp lá của gia đình tôi dột đến mức ngay sau cơn mưa phải láng tro trên mặt nền mới đi lại được, nếu không thì ngã như chơi.
27/4
Hai chục năm nay, dân Hà Nội chỉ có phá, mà không lo làm thêm của cải cho xã hội. Cắm mặt xuống chả ai biết gì. Bây giờ, khôn lên, mới ngớ ra. Bao nhiêu sáng kiến được đưa ra khắc phục, nhưng ví dụ muốn làm thêm gian nhà ư, vật liệu đâu, lấy gì mà làm. Nói theo từ ngữ thời nay, chỉ cần tắc khâu vật tư, là nhắm mắt chịu.
Rút cuộc, kẻ có quyền thế nhất trong xã hội, trong mỗi cơ quan -- là những người nắm phương tiện vật chất.
Và do lúc này người ta không cho những người ấy một vị trí xứng đáng, cho nên ở trong bóng tối, họ càng hoành hành tợn.
Tôi hiểu ra điều ấy khi làm công việc đơn giản của người con trai trong gia đình là tu sửa cái nhà tranh vách đất theo nghĩa đen, mà bố mẹ tôi đã làm từ 1952.
Tuần trước tôi đã phải xuống Phà Đen mua ít lá gồi về dọi lại chỗ dột. Mấy chủ nhật nay thì mượn cái xe ba gác bằng sắt ở cơ quan cùng hai cậu em ra sông Hồng xúc cát rồi kéo qua đường Thanh niên, theo đường Thụy Khuê qua trường Chu Văn An về nhà.
Theo lời khuyên của bà Tèo làm nhà máy bia lâu nay ở nhờ, chúng tôi đang lo thay các bức vách trát bùn ọp ẹp bằng tường gạch ba banh. Đi xin than xỉ ử các nhà đun bếp lò rồi về giã nhỏ ra. Rồi mang trộn với xi măng cát và ép thành khuôn.
Việc đóng khuôn thì đã có cậu Đăng em tôi nhận làm.
Khó nhất là chuyện xi măng. May quá, khi mang việc này nói với anh em ở cơ quan, tôi được anh Doãn Trung tìm cách giúp. Anh Trung có người quen cũ là anh Ninh trước cũng là dân phiên dịch Trung văn, nay về làm ở Ủy ban phường dưới Ô chợ Dừa. Anh Ninh có thể giúp tôi mua ít bao xi măng Hải Phòng ở cửa hàng vật liệu xây dựng.
Mỗi lần đến anh Ninh lấy giấy giới thiệu ra cửa hàng, tôi không quên mang theo một tút thuốc Trường Sơn. Nó là tiêu chuẩn anh Trung chạy cho anh em trong cơ quan, thường tôi vẫn dùng để tiếp khách riêng. Lần nào anh Ninh cũng trả tôi tiền thuốc đầy đủ theo giá nhà nước.
MẤY LỜI BỘC BẠCH CỦA DƯƠNG THU HƯƠNG
Ngày 23 tháng 4 năm 2023
-
Những ghi chép dưới đây được tôi ghi vội sau những cuộc “chuyện vặt” với tác giả trước sau 1990. Riêng phần CUỘC PHỎNG VẤN 40 PHÚT thì là một buổi trò chuyện có chuẩn bị trước tại một phòng làm việc ở 65 Nguyễn Du. Tất cả những dòng dưới đây chỉ mới một lần được đưa trên trang blog của tôi ngày 18 tháng 1, 2016.
---------
*Quan hệ với các đồng nghiệp
--
Có lần ông Tuân đưa cho tôi cái các-vi-dít và bảo thêm 12 giờ trưa bao giờ cũng độc ẩm. Hương có thể đến chơi bất cứ ngày nào.
Tôi nhận, cám ơn, nhưng không đến.
--
Lúc bé, gia đình tôi với gia đình Đỗ Chu gần nhau, nó chuyên môn đến choẹ ông bố tôi. Bao nhiêu khách khứa của nó, ông bố tôi phải tiếp cả. Trong Các vĩ nhân tỉnh lẻ, viết về Đỗ Chu thế là còn hiền đấy chứ!
--
Nhàn: Tôi là người hay bị lừa lắm.
Hương: Tôi cũng thế. Thằng Bách nó vẫn bảo nó cho tôi ăn quả lừa luôn đấy chứ.
--
Dương Thu Hương nói hồi gặp ở Moskva 1987:
-- Tôi là phụ nữ, cho nên tôi mê hai cái. Một là ở nhà, tôi phải lo làm món ăn. Hai là, đi một đại hội festival như thế này, thế nào tôi cũng tìm được một vài kiểu quần áo đẹp, và trở về, tôi sẽ may giống vậy.
Trần Ninh Hồ: Con bé chê gì thì chê, nhưng gia chánh thì lại rất chuẩn.
--
Tôi không ghét gì Xuân Quỳnh. Tôi thích thơ nó nữa. Tôi chỉ không thích nó cái tính này -- sự khiếp nhược đàn ông. Làm gì mà nó phải quỵ luỵ thằng Vũ thế? Tự nó không sống được à? Đàn bà phải tự trọng thì đàn ông nó mới quý mình được.
Tôi cũng không chơi với cái Thái. Tôi tả nó trong Bên kia bờ ảo vọng do tưởng tượng. Ví dụ, tôi tin gần như chắc chắn rằng cứ về nhà là nó tụt ngay quần ra.
--
Tôi thường nhận được nhiều thứ của các cụ già đã về hưu, thứ nào cũng dặn là con phải giữ gìn.
Lại còn cái đám trí thức khoa học của mình, thư nhiều lắm.
(LNÂn xác định đám trí thức này phần lớn là người của những năm 60 - Ngày 9-2-90, Hương từng nói chuyện với trí thức Hà Nội ở một CLB.)
--
Có lần trước đại hội nhà văn, báo Lao động phỏng vấn Hương, và Hương đã nói là trong những năm gần đây người viết văn nổi nhất là Nguyễn Huy Thiệp.
- Thiệp nó có đến tìm tôi. Trong thâm tâm tôi vẫn chịu là nó viết được hơn mình. Thiệp được chuẩn bị hơn chị, nó nói lại. Mày xông ra như một con mãnh hổ vậy, tôi công nhận.
--
Nó nói với tôi là bên Bộ Ngoại giao có cho nó biết, bên Pháp mời 2 nhà văn Dương Thu Hương và Nguyễn Huy Thiệp sang. Nó có cho tao đi thì tao đi. Còn nếu bắt tao làm con tin, nói những chuyện gì của bọn nó thì tao không chịu. Thiệp bảo chị phải bình tĩnh mới được. Theo như Thiệp biết, thì bên Bộ Ngoại giao họ rất thiện ý.
---------------
*Tuổi trẻ vỡ mộng
--
Năm 20 tuổi, tôi tự nguyện vào Trường Sơn. Cùng với đoàn văn nghệ đi các địa phương Quảng Bình (nơi mà tiếng khóc như ri cất lên sau những trận bom.)
Đi với niềm tin trong sáng để rồi vỡ mộng. Nhớ một kỷ niệm. Bí thư Tỉnh uỷ gặp trưởng đoàn văn công, phẩy tay bảo mang ngay cho nó ít bột trứng, táo tầu. Giống như một cú sốc đầu tiên.
Nghe bí thư tỉnh ủy Tư Thoan nói, cảm thấy gã như một cường hào. Hai chữ đồng chí vang lên như một sự lừa bịp. Tôi còn ngu dại, chưa biết gì thêm.
--
Cuộc sống như thời đồ đá. Nguồn cung cấp thức ăn là kho gạo bên kia sông nơi thỉnh thoảng cũng cho chúng tôi những hộp thịt. Kho hết phải đi lên xanh, rồi vòng xuống đồng bằng lấy gạo. Nhớ một vụ kỷ luật mấy cô y tá. Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình đẹp trai, quyến rũ. Bê bối về nam nữ tràn lan. Những cô gái đó sau bị thuyên chuyển công tác để cấp trên trốn tội.
Tôi sinh ra với tâm lý phong kiến rất nặng. Nghĩ bọn có quyền đó, dùng quyền lực để chiếm đoạt phụ nữ. Hỏi tại sao không phản ứng. Mọi người bảo không thể. Tôi nghĩ chúng ta hèn nhát chúng ta đẫm đầu óc nô lệ.
--
... Thời kỳ đó qua đi. Sau 1975, tôi vào miền Nam. Tôi không mê lụa là son phấn. Chỉ để tâm một điều -- ở đó có hệ thống thông tin hoàn chỉnh. Người dân người ta biết nhiều. Các vỉa hè đầy sách... Soljenitsin, Pasternak đủ cả.
Tôi choáng váng. Văn hoá ngoài ta bị khuôn dính. Tại sao chỉ biết Nga? Dân nghe đài nước ngoài thời ấy bị quy là phản động. Mà cũng mấy ai có đài Mẫu đơn, Xiangmao để nghe? Ở miền Nam, người ta biết nhiều hơn hẳn… Làm sao mà dân trí ta nâng lên được? Ngay cánh gọi là trí thức trình độ cũng thấp thảm hại. Dễ đi theo giáo điều. Được chỉ đạo bằng chỉ một tư tưởng duy nhất. Tôi nhớ sách lược bọn thống trị Trung quốc chôn nhà nho, đốt sách.
Việc này phản ánh khát vọng kẻ cầm quyền muốn đặt nhân dân trong vòng ngu dốt trở thành bày cừu. Ngu dân là thế. Người đúng là người không bao giờ cam tâm kiếp con cừu.
--
Tại sao ta chiến đấu, để làm gì. Ta phải đánh giá lại cuộc sống của chính mình. Tôi nghĩ vậy. Tôi không hối tiếc những việc đã làm. Nhưng đặt ra câu hỏi sống để làm gì.
Bạn bè tôi chết nhiều khủng khiếp ở chiến trường B5.
Xã hội phải có lý tưởng. Lý tưởng đó phải chân thực. Đó không thể là một xã hội phong kiến được đánh bóng mạ kền bằng những danh từ xa lạ.
Tôi không biết làm gì, đành viết văn. Động cơ viết là muốn chỉ ra những ngộ nhận của con người trong đời sống.
Sau chiến tranh nhiều kẻ giàu lên. Nhiều người lính khổ sở. Trở về với một khung xe đạp, một con búp bê. Người lính đó là tôi. Còn những kể khác, thu hoạch không giới hạn.
Chúng ta chấp nhận hy sinh. Nhưng thực tế, có sự khập khiễng giữa lý tưởng và bộ máy thực thi. Hình như đồng hồ quay ngang.
---------------------
* Về mấy tác phẩm đầu tay
--
Lúc đầu tôi thích viết truyện tình cốt hấp dẫn, thanh niên đọc.Thầm mong trong truyện tình có thể phát hiện ra bản chất xã hội. Tôi không buộc bản thân phải nhớ mình là đàn bà. Tôi không coi mình khác đàn ông trong văn học.
Với con người ở các nước khác, bi kịch nổi lên là trong tình yêu. Nhưng ở ta khác, ở xã hội ta, có những gia đình tự tử vì thiếu ăn.
Quan niệm về tình yêu chi phối phương thức biểu hiện tình yêu trong văn học.
--
Trong viết văn, tôi ẩu tả. Không nghĩ về nghề nhiều. Chỉ viết văn như một nhiệm vụ công dân. Tôi có tư tưởng phong kiến. Tôi hiểu điều đó. Tôi lùi lại. Nay là thời đại đổ vỡ niềm tin. Ở nhiều người là đổ vỡ mà không sao kiềm chế. Lớp trẻ “hiện sinh” một cách vô ý thức. Họ cho không còn tình yêu nữa. Chỉ có va chạm. Tình yêu như ly nước, cần thì uống. Vì quá khứ đè nặng, tôi dị ứng với những cái đó. Ngay những người đàn ông, đàn bà truỵ lạc nhất cũng không bớt đau khổ.
Người ta phải tìm những cái gì hợp với cá nhân.
--
Về cuốn Bên kia bờ ảo vọng. Tiểu thuyết đầu tay nhiều nhược điểm. Hăng say. Tự nhủ không nên bán mình vì khi bán mình thì chính anh cũng sụp đổ.
Còn cuốn Những thiên đường mù . Khi cải cách ruộng đất tôi 9 tuổi. Đang ở Bắc Ninh. Một lần qua đường tàu, thấy một đảng viên tự sát, bộ quần áo nâu trên người còn mới. Một phú nông .
Một lần khác, lại nghe chuyện có một người bị quy là địa chủ tự tử. Người ta kể lai lịch trong kháng chiến ông ta là đảng viên. Ta cài làm lý trưởng. Nay bị quy oan.
--
Tôi không sinh ra ở nông thôn, nhưng thường đi công tác ở nông thôn. Tôi hình dung ra biến cố đó. Một nhà văn phải nghĩ đến nỗi đau. Không có quyền chỉ nghĩ đến những gì tốt đẹp.
Lương tâm nhà văn chỉ thanh thản khi anh không bỏ qua những nỗi đau từng sống và chứng kiến.
Tôi biết so với thực tế, mình viết chưa thấm thía gì. Tôi nghe có chuyện cả ngàn người chà lên một xác chết. Có những hoàn cảnh người ta buộc phải làm việc đó. Không ai dám từ chối.
Không thể tiến lên một xã hội mới, khi dày đạp con người như thế. Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp. Nhưng lòng tôi lúc nào cũng bị ám ảnh. Một nhà văn lớp trước, anh Mai Văn Tạo góp ý kiến cho tôi. Ông Tạo bảo Cải cách ruộng đất là cả một sự ngạo mạn. Khinh bỉ sinh mạng con người... Tôi không quên được. Không cần bôi đen. Bôi đen là không lương thiện.
--
Tôi chưa bằng lòng với Những thiên đường mù. Chỉ được 1%. Nhưng thế cũng được rồi. Thành công sẽ đến khi nhà văn viết như một sự nghiệm sinh, viết về những gì mình từng phải trả giá.
------------------
*Tìm lại sự thật
--
Xã hội ta luôn luôn tự ngắm mình, ve vuốt mình. Cho nên mới có sự tha hoá như hôm nay. Nhân loại chỉ một lần như thế, thời cộng sản nguyên thuỷ. Xã hội ấy xa rồi. Đến xã hội nô lệ, đã có những thằng hề. Phong kiến còn có gián quan có ngự sử. Họ sửa sai cho nhà cầm quyền. Chúng ta nổ pháo hoàn thành cách mạng. Nhưng đây là thời kỳ khác. Việc bắt chước thời nguyên thuỷ là một sự chế giễu lịch sử.
--
Tôi không ngắm mình. Nghề văn luôn luôn bất trắc. Có thể mai đây, tôi phải bỏ bút. Luôn luôn người ta phải lựa chọn một cách lương thiện nhất.
Mỗi con người có thể và cần tìm cho mình một lối sống. Mỗi nhà văn đến với văn học theo con đường của mình. Tôi đặt chức trách công dân lên trên vai trò nhà văn.
Cá nhân tôi, tôi nghĩ: những bi kịch của dân tộc lớn hơn mọi chuyện gia đình... Hãy tha thứ cho sự nóng vội của tôi. Bây giờ tôi cần nói ngay. Chờ đến khi tôi hiểu được hết có khi người ta không cần tôi nữa.
Nhiệm vụ tối thượng nhà văn - giải ảo tưởng. Cái đó cao hơn hết.
Biết ơn nhân dân là chuyện cũ mà không cũ. Quên dân quá lâu. Việc đó gây ra tai vạ cho cả hai. Tôi nói điều đó, với ý nghĩ: phải hiểu đám đông. Sau cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cần cuộc đấu tranh nâng cao dân trí. XHCN kiểu ta trước đây, là kiểu trại lính. Trêu ghẹo nó, chịu tai vạ.
--
Những khi luồng thông tin hồi đáp bị chặt đứt - xã hội không thể lành mạnh.
Mọi người cho tôi là liều lĩnh. Tôi thua kém mọi người ở đây về rất nhiều điều nhưng tôi không liều lĩnh. Ta đi theo cách mạng, vì một xã hội tự do. Là kẻ hậu sinh tôi thấy các bậc đàn anh sống trong một tâm trạng đầy đau khổ. Kiểu xã hội trại lính chỉ đẻ ra những gia nô. Tôi biết nhiều người những nghệ sĩ, đã trở thành gia nô.
----------------
*Vai trò trí thức
--
Lịch sử đang được nói tới rất hàm hồ. Nhiệm vụ trí thức tìm lại chân lý bị đánh rơi. Tôi rất thương những người bị thất sủng về vườn đốt than. Nhưng không còn con đường nào khác. Người trí thức phải chiến đấu cho công bằng xã hội. Các trí thức đi theo CNXH không còn rung động với cuộc sống đau khổ của nhân dân. Trong những năm qua, nhiều trí thức bó giáo lai hàng, bởi chế độ không chỉ nắm dạ dày, mà còn nắm vận mệnh họ.
Tôi hiểu trí thức chân chính đang trong tình trạng tan nát. Cơ chế thiếu dân chủ đẩy họ vào bóng tối.
Người ta không thể hy sinh thế hệ này thế hệ khác vì một lý tưởng ảo. Tôi thấy đau lòng khi thấy các anh có tài phải sống trong đau khổ. Chế độ chuyên chế bao giờ cũng tiêu diệt trí thức. Trước bóp mồm bóp mũi người ta không cho người ta nói. Nay khủng bố họ bằng con đường êm dịu hơn. Cắt đứt tất cả quan hệ, làm cho họ ung thối đi không còn khát vọng.
--
Một xã hội không thể tiến lên, nếu không có trí thức. Xã hội tiêu diệt trí thức là man rợ, là có tội với lịch sử. Nhân dân đau khổ cũng là nhân dân thần thánh. Nhưng trong mòn mỏi có lúc họ bao che cho tội ác. Chúng ta cần đấu tranh cho thể chế cụ thể. Quốc hội thông qua luật báo chí. Tôi nghĩ rất lạ. Trong đó có cái ý không được in những bài ở nước ngoài. Chân lý được quy nạp trên những quyết định trái chiều. Nếu không ai được nói khác đi, xã hội sẽ chìm vào bóng tối chuyên chế.
--
Tại sao tự do quan trọng?
Mấy thời kỳ vừa qua, đẻ ra một lớp quý tộc mới. Đó không phải những người có tài. Mà là những rập khuôn, là những công chức ngoan ngoãn. Quyền lực đem theo những món lời khác. Xã hội chỉ có bọn lập trường giả tạo, bọn cơ hội.
Không có điều luật nào quyết định được sự suy nghĩ. Trí nhớ không thể bị chi phối bởi quyền lực. Không có lưỡi dao nào chặt được trí nhớ người ta, chỉ để phần có lợi còn lại. Tự hoàn thiện của nhà nước là điều kiện sống còn của xã hội.
CUỘC PHỎNG VẤN 40 PHÚT
Bắt đầu kể:
- Lúc đầu tôi chỉ mơ làm cầu thủ bóng bàn, làm vận động viên... Ở trong đội tuyển của tỉnh Bắc Ninh (lúc ấy chưa sát nhập tỉnh). Lớn lên thích âm nhạc, kéo đàn ắc coóc. Học ắc - coóc 1965-1968. Học ở địa điểm sơ tán Yên Dũng gần trường nhạc.
13 tuổi có thơ đăng báo. Vào Quảng Bình, chơi với Mây, Dạ (tôi ở Ty Văn hoá, bọn kia ở Hội).
Sau giải phóng về Huế, làm công tác văn hoá cho sinh viên. Từ 1977 - càng mở rộng quan hệ với giới nghệ thuật
*Bà không nghĩ văn chương như một nghề?
- Đúng.
*Tức cho rằng không thể sống bằng viết văn.
- Không. Không bao giờ.
*Nhưng vẫn xem mình như một nhà văn. Điều đó bắt đầu từ lúc nào?
- Ngay bây giờ tôi vẫn không tin là tôi đi mãi với nghề. Ngày mai có thể chán viết. Ngày mai có thể bỏ đi đâu đó. Trước tôi toàn viết truyện ngắn và trước nữa làm thơ. Bây giờ đây nghĩ viết mãi những thứ đó là vô nghĩa.
Tôi trọng văn chương mà cũng khinh văn chương. Ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp. Thái độ coi văn chuơng là ghê gớm -- với tôi -- là xa lạ. Một thánh đường ư, tôi có thể vứt bỏ thánh đường đó.
*Bà không coi cái gì là thiêng liêng?
- Sự thiêng liêng là những giá trị mà mình xác lập. Lúc này đây là tự do, là công bằng xã hội. Lý tưởng này khiến tôi bắt tay với những người khác kể cả người tôi không thích. Ai yêu tôi, nhưng khác lý tưởng, tôi không chơi.
*Mục tiêu của người viết văn?
- Với trí thức, là đấu tranh cho công bằng xã hội. Dám bỏ cả viết văn, nếu cần. Mục tiêu viết văn của tôi không phải là văn chương.
*Tôi được biết là nghề này dính lắm, ai vào không ra được.
- Nó còn có danh vọng, có tiếng tăm. Xã hội cổ lỗ, người ta không dễ làm người với nghĩa có quan niệm riêng. Tôi thì khác. Trong sự thách đố xã hội, tìm thấy niềm vui. Tôi chấp nhận cô đơn, kể cả tự tử. Nhưng không thể đánh mất mình. Phải làm mọi việc vì niềm vui.
*Bà nhìn giới viết văn ra sao?
- Thương hại. Xin lỗi nhưng tôi không bỏ được từ này. Người ta chạy vạy lặt vặt. Tôi thấy ái ngại cho họ. Có những người tôi kính trọng như nhà thơ Hữu Loan. Ông sẵn sàng từ bỏ nghề văn nếu không được dùng ngòi bút làm việc của mình. Tôi thương và kính trọng. Ông ấy nghèo khó bần cùng đi. Lựa chọn con đường ấy coi như cuộc đời đã hết, còn hơn làm điếm.
*Vai trò kiến thức văn hoá với nhà văn?
- Quan trọng. Phải có cái vốn nào đó.
*Có cố viết?
- Cũng có cố với nghĩa được gì hay đấy. Tôi đi chơi đến chán, rồi về viết. Mọi sự dùi mài cũng thảm hại, nhưng thà thế còn hơn lười biếng buông trôi.
*Ai là người có ảnh hưởng?
- Gần đây, là Nguyễn Huy Thiệp. Ông Nguyễn Minh Châu tốt, quý, nhưng không nói chuyện được. Chưa có Nguyễn Huy Thiệp, chả có ai. Chơi nhiều. Bỏ nhiều.
*Thiệp ảnh hưởng gì?
- Tôi chú trọng công dân. Tôi thiếu cái phần nhân bản. Chưa đủ thì đúng hơn. Ở Thiệp, nghề văn là nghiêm túc, đồng thời là đáng khinh. Nếu nó không biết khinh bỉ tôi không chơi với nó.
*Làm sao giữ được cân bằng?
- Cheo leo thế, kệ nó.
*Nghiêm túc với Thiệp nghĩa là gì?
- Chú ý đến nghệ thuật. Có ý thức về nội lực. Tôi làm khơi khơi. Đáng lẽ phải tu luyện nhiều về nghề nghiệp.
*Bà có tin mình làm được như Thiệp.
- Được.
*Bà làm việc như thế nào?
- Đọc sách hàng ngày
*Có đọc đi đọc lại quyển nào?
- Quyền lực của B. Roussel, Thần đêm u ám của Koestler. Rồi đọc linh tinh sách Sài Gòn trước 1975. Nhà văn Nga thích nhất là Tchékhov (phần kịch) rồi Đốt. Vấn đề mà ông ấy quan tâm. Đọc Paustovski thấy nhạt nhẽo.
*Bà tự nhận kiến thức chắp vá?
- Đúng. Tôi không cần hoàn chỉnh.
*Văn học Pháp.
- Đọc hết...
*Văn học cổ VN?
- Hồ Xuân Hương. Thích máu nổi loạn. Cả Kiều cũng không thích bằng.
*Tự lực văn đoàn?
-- Ghét. Văn chương trước 30-45 chỉ có Vũ Trọng Phụng.
*Nghĩ gì khi thấy một bạn trẻ viết văn?
- Thấy buồn cười như thấy người ta cưới nhau, rồi nghĩ lại có lúc kính thưa quý toà, bỏ nhau.
*Trong đó có chút gì ngớ ngẩn?
- Đúng. Nhưng đó là kiếp người, kể cả tôi.
*Thuở bé?
- Tôi là người phụ nữ trưởng thành muộn. Khi các bạn đã yêu nhau tôi trong cặp vẫn có cặp na - củ đậu để đi chơi.
*Người đàn bà viết văn vất vả. Vất vả hơn đàn ông?
- Trong xã hội bạo lực, người đàn ông lại khó khăn hơn.
*Ấn tượng về những phụ nữ viết văn?
- Tôi ít nghĩ tới. Vì mải nghĩ chuyện khác. Với họ, không chơi. Tôi coi họ như không có.
*Có bị họ ghét?
- Tôi không để ý
*Bà không sợ dư luận?
- Đến bạo lực tôi cũng không sợ. Tôi chỉ sợ mình chán mình, mình không kính trọng mình nữa. Ngoài ra, cần gì.
*Có tình bạn trong văn chương?
- Không có. Chơi với ông Châu, với ông Khải là chuyện cơm nước, trò chuyện, châm chọc.
*Viết xong, có hay mang cho ai đọc?
- Không!
*Đọc thư bạn đọc, cảm tưởng ra sao?
- Cảm thấy lúc ấy, mình có ích cho người ta. Cộng với lòng tha thiết với lẽ công bằng mình đã được đền đáp.
*Bà tin ở tác dụng với mọi người?
- Cái đó có. Tôi thiếu thành kính với văn chương. Nhưng tôi thành kính với con người. Tôi thấy có thể giúp cho đau khổ con người được thuyên giảm. Mặc dù tôi biết có khi là mình đau khổ trước tiên.
*Dạo này bà hay nói “nhà văn của nhân dân”?
- Mới vài năm nay. Trước kia viết bản năng. Không muốn vào nhóm nào. Kiến thức là nghe người ta nói, cả những cái về cải cách ruộng đất... Nhưng không muốn ràng buộc với bất cứ ai.
*Bà không định thành con người hoàn chỉnh.
- Kể cả khuynh hưóng văn chương. Có nhiều người muốn dạy tôi. Rất tốt bụng. Nhưng tôi từ chối.
*Một người học trò ngỗ ngược?
- Đúng, tôi thấy mình thế. Mặc dù anh Phạm Mạnh Hùng mắng tôi xa xả nhưng anh ấy quý tôi. Ai quý, tôi tha thứ. Các ông Nhân văn Giai phẩm mời tôi đến tôi không đến.
Đấy, tôi là thế. Tôi bảo thủ. Tôi không uyển chuyển. Tôi ít thay đổi, chấp nê, dễ chết. Người đàn ông tử tế đã khổ; đàn bà khổ cách khác.
*Bà ít đọc sách tôn giáo và không muốn nhẫn nhục?
- Tôi không chấp nhận sự nhẫn nhục. Một là tôi chết. Hai là tôi sống, tôi chống lại cái ác.
*Có cho là mình gặp may?
- Nếu sống thời trước, chết rồi. Vậy gặp may. May mắn nhất là có một quan niệm văn chương thoải mái.
*Có lúc nào cảm thấy mình bất hạnh?
- Không và có. Có lúc nghĩ không ai khổ bằng mình Rồi lại nghĩ người khác bất hạnh hơn.
*Tại sao viết văn?
Thấy nhờ đó đấu tranh chống cái ác tốt hơn.
*Có bao giờ định bỏ?
- Sau Bên kia bờ ảo vọng, tôi muốn tự tử. Tôi chả hiểu vì tại sao? Cộng với những đau khổ cá nhân, lúc ấy tôi cảm thấy mọi chuyện vô nghĩa.
Thấy trong cuộc sống, bất hạnh và hạnh phúc có từ lâu, mà vẫn như không có.
Nói chung tôi chả yêu ai bao giờ. Nhưng thấy truyện tình người ta viết nhiều thì viết. Không có ý thức gì. Như là Chuyện tình kể trước lúc rạng đông. Không phải chuyện của mình. Chỉ nghe kể rồi viết lại.
* Bà nghĩ sao về giới phê bình?
- Nhiều người trong họ có học nên thông minh hơn cánh viết văn. Nhưng họ bị nô lệ.
MỘT HIỆN TƯỢNG CỦA VĂN HỌC HẬU CHIẾN
Ngày 25 tháng 4 năm 2023
Sáng tác của Dương Thu Hương qua các tập truyện
Những bông bần ly, Một bờ cây đỏ thắm
và Ban mai yên ả
xuất bản 1981, 1982 và 1985
Đã in trên báo Văn Nghệ 12-1986
với nhan đề Chất lượng sáng tác gần đây của Dương Thu Hương
******
CƠN LỐC RỰC RỠ
Được viết ra liên tục trong khoảng mươi năm gần đây, các truyện ngắn của Dương Thu Hương thường miêu tả đời sống qua trường hợp của những con người ở lứa tuổi khoảng 30 - 40.
Thời thanh niên sôi nổi của họ đã trôi qua trong chiến tranh.
Từ các đơn vị quân đội thanh niên xung phong chiến đấu ở chiến trường trở về (hoặc không đi đâu xa, nhưng nếm trải mọi vất vả ngay trên quê hương hậu phương), họ có nhiều chỗ giống nhau, chẳng hạn bề ngoài không còn cái vẻ trẻ trung mau mắn như trước nữa.
"Làn da mầu hồng tươi tắn xưa kia đã sạm lại, xanh mét. Cặp môi đỏ mọng cũng nhợt nhạt khô đi. Mái tóc dày đen nhánh giờ thưa hẳn...". Nhân vật chính trong Một bờ cây đỏ thắm như vậy, mà nhiều nhân vật khác cũng vậy.
Chỉ riêng có những ao ước, những hy vọng ở họ là vẫn còn, nếu không nói là có phần mãnh liệt hơn bao giờ hết!
Sự đi rộng biết nhiều lại giúp cho họ hiểu rằng lẽ ra, họ có thể rất sung sướng. Có điều thực tế cuộc sống không một chiều thuận lợi như trong mộng tưởng. Trước mặt họ bao nhiêu vấn đề phải nhận thức lại. Khi căm ghét, khi hờn dỗi, khi tê tái vì những mất mát đã qua, khi hào hứng lấy lại cái hãnh diện chính đáng trước quãng đời trước đây của mình -- những tình cảm ấy nối tiếp nhau mà đều ở sắc độ gay gắt.
Ta cũng không nên quên rằng Dương Thu Hương là một cây bút phụ nữ.
Ở một số tác giả nào đó, chất phụ nữ thường bộc lộ ở vẻ dịu dàng đôn hậu trong con mắt nhìn đời, những kín đáo ý nhị trong cách biểu hiện. Dương Thu Hương trình diện với một mỹ cảm hoàn toàn khác.
Mở đầu thiên truyện Một bờ cây đỏ thắm là hình ảnh một cô gái đang chạy. "Bao giờ nó cũng chạy từ đỉnh con dốc xuống phố. Nó chạy như một mũi tên bay. Quần áo gió bạt ngược về phía sau, mái tóc gió đánh tung như đám cỏ rối, chiếc khăn màu lơ quàng cổ phất phới bay... Màu hoa phượng rung rinh trên bầu trời. Nó giống như một cơn lốc rực rỡ".
Mười hai năm sau, cô gái được mệnh danh là đồ quỷ đó vẫn giữ được "tiếng cười như tiếng chuông... lanh lảnh, giòn giã, chói chang".
Nhân vật nữ ấy thật đã mang đủ cốt cách văn chương của Dương Thu Hương. Lấy ham hố quyết liệt làm động lực, trong quá đáng tìm thấy sự quân bình, -- văn Dương Thu Hương hiện nay có những đoạn sắc sảo đến tàn nhẫn, nhưng cũng nhiều ý tưởng tha thiết khiến người dửng dưng cũng phải nao lòng.
Ưu thế của một cây bút phụ nữ sử dụng đến đâu thì vừa, đến đâu là lạm dụng - câu hỏi ấy có lúc người đọc thấy phải đặt ra. Bởi lẽ ở đây, biết bao ẩn ức chôn chặt đáy lòng, biết bao dồn nén, người khác không dám nói ra, tác giả đã nói ra bằng hết.
Điều có phần chắc chắn hơn là dù không hoàn toàn tán thành cách nhìn đời sống của Dương Thu Hương, người ta vẫn muốn đọc văn Dương Thu Hương.
Sự nồng nhiệt trong say mê yêu ghét và những nhạy cảm trong quan sát đã giúp cho ngòi bút đi đến cùng trong phạm vi mà tác giả muốn biểu hiện.
"Tài năng là một sự ám ảnh, là ngọn sóng điên cuồng cũng như cơn gió định mệnh nó cuốn ta đến một mục tiêu nhất định... Mỗi nhà văn là một con bệnh, một con bệnh trầm trọng."
Đấy là cách mô tả của nhà văn L. Leonov về một loại người viết văn hiện đại (cố nhiên không phải ai cũng vậy). Trong chừng mực nào đó, Dương Thu Hương chính là kiểu người cầm bút vừa khít với nhận xét ấy của nhà văn Xô-viết.
ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CON NGƯỜI HẬU CHIẾN
Những bông bần ly, một trong những thiên truyện được viết sớm nhất và thuộc loại hay nhất của Dương Thu Hương có một cốt truyện khá đơn giản.
Men theo những vui buồn chợt đến trong lòng nhân vật Ngân qua chuyến đi từ một tỉnh miền Bắc vào Tây Nguyên bốc mộ cho người em trai và một người bạn, tác giả khéo léo giới thiệu cảnh ngộ éo le của Ngân, tình yêu nồng nàn của chị hôm qua với một chiến sĩ và cuộc sống khó chịu bên người chồng lãnh đạm và vô vị của chị hôm nay.
Chuyến đi do vậy đóng vai trò một thứ nhân tố khẳng định thêm những nhận thức nẩy nở dần trong tâm trí Ngân.
Sau chiến tranh, mỗi chúng ta đã giàu có thêm lên nhưng cũng đã mất mát bao nhiêu trong tình cảm. Có cả những sai lầm nó sẽ đeo đẳng theo mãi chúng ta và không bao giờ ta gỡ ra nổi.
Cuộc sống mơ mộng chấm dứt, nhưng biết làm sao, đôi lúc chỉ còn an ủi là những người đã nằm xuống sẽ có lúc trở về, nâng đỡ chúng ta trong những đoạn đường sắp tới.
Cùng mạch cảm hứng với Những bông bần ly trong những năm khoảng từ 1975 đến 1980, Dương Thu Hương còn viết nhiều truyện ngắn mà dấu vết của một cuộc sống từ chiến tranh chuyển sang hoà bình in khá đậm.
Miền cỏ tơ phác ra cảnh nương tựa vào nhau hàn gắn lại hạnh phúc giữa những con người cùng có những thất thiệt sau cuộc chiến.
Loài hoa biến sắc giống như một sự tự xác định. Phải qua việc tiếp xúc thực sự với một cô gái ở cái tình thế sống nhờ vào túi tiền người khác, một cô gái từng là thanh niên xung phong mới thoát ra khỏi cảm giác tự ti và những thèm muốn dậy lên trong lòng khi trở về thành phố.
Trong Ban mai yên ả (sang tập Chân dung người hàng xóm in ở Nxb Văn học được đổi thành Buổi sáng yên tĩnh), nhân vật chính còn tìm cách trở về với xã hội bằng cách bắt tay cụ thể hơn vào công việc hoà nhập với đời sống bình thường ở hậu phương hôm qua.
Nhưng trước mắt anh bao nhiêu là khốn khó.
Lối sống tỉnh lẻ tuỳ tiện, lười biếng, thái độ dửng dưng vô trách nhiệm đã ăn thành nếp ở một vài người có chức có quyền, những cái đó như một thứ keo đặc vây bủa lấy anh, khiến những ý định tốt lành sẵn có ở anh khi trở về không sao có thể thực hiện.
Chỉ muốn sống cho lương thiện thôi, anh đã buộc phải làm phiền bao nhiêu người và thái độ bướng bỉnh của anh gây cho họ nhiều bực bội.
Đến đây, câu chuyện đã vượt qua phạm vi những người trở về để đứng ra nhìn thẳng vào đời sống của cả xã hội hậu chiến.
Hướng khai thác thường thấy ở Dương Thu Hương là tìm cách xé tuột cái vẻ bề ngoài nếu không dễ thương thì cũng coi được, để khơi thẳng vào những gì thuộc về thực chất của các hiện tượng cũng như các mối quan hệ.
Trong thiên truyện vừa dẫn (Ban mai yên ả), nhân vật hoạ sĩ Đàm Tiến tưởng là tốt bụng, thậm chí là một nghệ sĩ có tài nữa, hoá ra là một kẻ sống cẩu thả, lười biếng, thờ ơ với mọi người chung quanh, gọi là ăn bám cũng không có gì quá đáng.
Cả Loài hoa biến sắc lẫn Ngôi nhà trên cát, Chuyện nghe thấy mà không nhìn thấy lẫn Một khúc ca buồn đều có những cảnh sống bề ngoài tưởng là đầm ấm dễ chịu, mà thực ra, đủ vẻ nhếch nhác khốn nạn.
Khi cần khai thác một đề tài thời sự như trong Chân dung người hàng xóm, Dương Thu Hương cũng vẫn trung thành với cách viết của mình; toàn bộ thiên truyện giống như một động tác “lật tẩy”: Đấy! Con người ta hôm nay mới thế mà mai đã như thế, như thế...
Một mô-típ thường được tác giả láy đi láy lại: giữa ước ao của con người thời trẻ và thực tế cuộc sống người ta phải sống thường là cả một khoảng cách xa vời, không sao lấp đầy nổi.
Mà tai vạ không phải ai đâu mang lại, ma đưa lối quỷ đưa đường, tai hoạ thường do ta tự chuốc lấy, mọi tai ương đều do chính ta lựa chọn, không thể trách ai khác (Ngôi nhà trên cát, Chuyện một nữ diễn viên).
Một mô-típ nữa cũng được tác giả ưa thích: Nhu cầu thường xuyên về hạnh phúc của con người và những đau đớn ê chề người ta thường gặp trong công cuộc truy tìm hạnh phúc.
Trong nhiều thiên truyện, qua miệng mọi người, cả đàn ông cũng như đàn bà, luôn luôn thấy vang lên cái câu hỏi nhức nhối: hạnh phúc là gì? Tai ương và hạnh phúc, làm sao để biết chính xác cái gì sẽ đến với mình?
Ở truyện này người chồng biết điều, đứng dắn, lấy phải người vợ tham lam, học đòi. Ở truyện kia, người đàn bà nhạy cảm tinh tế phải sống suốt đời với hạng đàn ông tầm thường, đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành, hoặc tàn ác, vụ lợi. Ở một thiên truyện khác, đứa con khôn lớn, gặp lúc bố mẹ đổ đốn.
Mà ở thời này, những bộ mặt xấu xa ấy có nhợt nhạt để cho người ta bỏ qua đâu, luôn luôn nó hiện ra quá quắt, quái gở đến phát sợ!
Có thể rất lâu, ngươì ta vẫn sống yên ổn bên nó, song, chớ vội mừng. Khi đã phát hiện ra nó một lần rồi thì cay đắng, ngán ngẩm vô cùng, tưởng không sức đâu mà chịu đựng nữa!
Theo cách miêu tả của Dương Thu Hương, có những người càng giàu có lên và đắp điếm thêm ít tri thức vào đầu, càng tầm thường hơn trong nhân cách. Dù có lừa được hết cả thiên hạ, họ cũng không lừa nổi những người thân trong gia đình. Hoá ra hạnh phúc không phải ở tất cả những tiện nghi người ta bon chen để có bằng được, hạnh phúc là ở sự tương hợp giữa người với người, giữa con người và hoàn cảnh, và -- trên một phương diện khác -- ở tầm sâu của nhận thức và tầm cao của nhân cách.
Nhưng đã mấy người có được cả những phẩm chất tuyệt vời lẫn những may mắn hiếm có ấy.
Biết bao người trong khi ráng sức đắp xây cho hạnh phúc, thực ra lại củng cố cái nhà ngục của đời mình và khi nghĩ lại, đã quá muộn.
Trong sự nhạy cảm với bất hạnh, toàn bộ sức mạnh trong ngòi bút phụ nữ ở Dương Thu Hương được dịp bộc lộ và người ta có cảm tưởng ít khi trong văn học ta, nhu cầu hạnh phúc được diễn tả một cách ráo riết đến thế.
Một điều cũng thấy rất rõ là mặc dù trước sau, vẫn một chủ đề ấy, song, mỗi khi chạm tới người và việc, Dương Thu Hương đều có được sự say mê và truyền được nỗi say mê ấy sang người đọc. Dù đã nhiều lần khắc hoạ những bộ mặt khác nhau của bất hạnh song tác giả đã tìm ra cách để có thể nói mãi và chúng ta còn muốn nghe chị nói thêm.
Tại sao? Người bất hạnh chung quanh ta còn nhiều? Có thể.
Nhưng có lẽ cái chính là ước ao hạnh phúc trong tác giả, trong các nhân vật trong chính chúng ta, nỗi ao ước đó thật khôn cùng.
Nghĩ tới nó, lòng ta đã thổn thức!
Mặc dù bao lần thất bại đi nữa, song ý muốn vươn tới hạnh phúc ở mỗi chúng ta làm sao có thể nguôi giảm!
PHÁ CÁCH, LẬT TẨY,
CAY ĐẮNG, TÀN NHẪN
Cùng bắt rễ vào thực tại, song mỗi nhân cách sáng tạo vẫn là một cá tính độc đáo, giống như một thứ cây mang lại cho đời một thứ quả riêng, không giống mọi loại cây khác.
Đào sâu vào mình, trung thành với mình vừa là nhu cầu tồn tại, vừa là niềm vui.
Từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, người ta cứ thế đi mãi theo phương hướng đã lựa chọn, ở đó cái hay cái dở cài lẫn vào nhau, tự mình cũng đã nhận ra, nhưng muốn khác đi, đâu có khác nổi.
Những yếu tố đầu tiên liên quan đến sự hình thành bút pháp Dương Thu Hương có lẽ là gắn liền với quá trình vào nghề cụ thể của tác giả.
Cây bút này bắt đầu viết hơi muộn; trước 30 tuổi mới rụt rè gửi những bài thơ của mình từ một tỉnh miền Trung về Hà Nội và chỉ ngoài 30, mới bắt tay vào cái mạch chính của mình là viết truyện.
Liệu tình yêu văn học của người con gái Kinh Bắc cũ này có gì giống với trạng thái tâm lý mà tác giả Sông Đông êm đềm M.Solokhov đã mô tả "Khi tình yêu đến muộn màng với một người đàn bà thì nó không nở ra thành một đoá uất kim hương ngoài đồng nội, mà nở thành một thứ hoa dại mọc ở lề đường, có mùi hương ngây ngất, ma quái?"
Chỉ biết quả thật đó là một thứ tình yêu khác thường. Chất “hoa dại mọc lề đường” ở văn xuôi Dương Thu Hương thể hiện ra đủ vẻ.
Đó là một thứ văn khá sặc sỡ, tình ý đôi khi ngả mầu cải lương, câu chữ nhiều chỗ khoa trương bóng lọng (một nhà thơ nhận xét: ”nhiều những chữ có lẽ chỉ thơ ca mới dùng, mà cũng chỉ dùng có mức độ, ở đây Dương Thu Hương cân tất “), song nhờ vào những rung cảm thực của tác giả nên các truyện vẫn có khả năng lôi cuốn bạn đọc.
Một trái trăng thu chín mõm mòm -
Nảy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom.
Trong thơ Hồ Xuân Hương xưa đã có lối diễn tả gắt, đậm, lối viết gần như bóp méo hình tượng và tạo ra những vẻ đẹp khác đời, nếu không muốn nói là thô kệch vậy.
So với tì vị chúng ta, chúng quá "nặng" và chỉ dần dần, ta mới quen nổi.
Trên phương diện tạo hình và rộng hơn, trong mỹ cảm, ở văn xuôi Dương Thu Hương hôm nay, chúng ta cũng bắt gặp những quá đáng tương tự.
Mầu sắc rực rỡ, toàn loại mầu nóng.
Âm thanh thì chói chát, khó quen với lỗ tai.
Trời đất lúc nào cũng lộng gió và như cháy lên với những cánh hoa kim phượng trưa hè.
Còn con người thì nôn nao những khao khát dự định, dù cố ghìm lại, song không ghìm nổi, họ cứ phải kêu to lên những ý nghĩ của mình và chỉ sợ không làm ngay, tất cả sẽ trôi tuột đi mất.
Niềm say mê đô thị mà tác giả có lần lưu ý ta, khi tả tính cách một nhân vật (cô gái xưng tôi trong Những cánh buồm trong thành phố, tập Ban mai yên ả) có lẽ cũng là niềm cảm hứng chính chi phối văn xuôi Dương Thu Hương và bởi lẽ niềm say mê ấy đến với tác giả muộn màng, nên có lúc nó có gây ra những choáng ngợp.
Trên nét lớn, thế giới nghệ thuật ở Dương Thu Hương hiện nay có sự phân cực rõ rệt.
Một đằng là những kỷ niệm thời thơ ấu, một thứ bản giao hưởng đồng quê đầy thi vị, nào những ban mai đánh trâu ra đồng, nào những lần vùi khoai, nướng cá, ăn ngay ngoài bãi cỏ, thiên nhiên con người sống hoà hợp với nhau, đường nét tinh tế như văn Đỗ Chu hồi trước.
Một đằng là sinh hoạt thành phố, những quán ăn đông người, những tiện nghi hiện đại, mốt quần áo, và các bản nhạc mới nhập từ nước ngoài về, tóm lại là cảnh sống gấp gáp, chộn rộn, con người ai cũng nói nhiều, bao nhiêu tiếng nói cùng cất lên thành một mớ âm thanh hỗn độn.
Trước những bất hạnh gặp trên đường đời, các nhân vật của Dương Thu Hương -- những nhà báo, nhà thơ, diễn viên, hoạ sĩ (đúng là Dương Thu Hương rất thích tuyển chọn nhân vật từ những người trong cái thế giới nghệ thuật đa dạng này!) -- thường nhớ tới những phương trời mơ ước thuở nhỏ, bãi cát ven sông, làn nước mát lạnh, những cảm giác trong sáng hồn nhiên.
Song muốn hay không muốn, tất cả họ - và trước tiên là người đã sáng tạo nên họ, trước tiên là tác giả - đâu có thoát nổi đô thị, càng giãy giụa thì họ càng chìm sâu vào cuộc sống nơi đây, tâm trí họ như mê đi, chân họ bước mãi về phía của tiếng ồn của ánh sáng.
Phải công nhận là niềm say mê đô thị ở Dương Thu Hương quá mức mạnh mẽ. Chỉ quy về cảm hứng đô thị, chúng ta mới hiểu tại sao nhà văn này thường có lối viết rất thô, lối miêu tả đôi khi khá trâng tráo -- từ nỗi ghen tị day dứt trong lòng một người con gái trước những người con gái khác xinh đẹp hơn mình, cho đến cảm giác "những bông lúa vàng ướt át và sắc cạnh cọ vào da thịt".
Chỉ quy về cảm hứng đô thị đó, chúng ta cũng mới hiểu tại sao tác giả không ngại trình bày mình qua các trang viết như là một người soi mói không thương tiếc vào những chuyện xấu xa chung quanh, hoặc để cho các nhân vật sẵn sàng sừng sộ với nhau, xỉ vả nhau là "cứt nát hết cả rồi", là "bốc lên mùi cóc chết", và không khí chung quanh đôi khi toàn những khai lợm, tanh tưởi...
Giả sử mọi nhà văn đều viết như thế, có lẽ người đọc sẽ phát rồ.
May thay trong thực tế lại không có cái việc giả sử đó. Trong văn học ta sau 1945 đây là một trong những trường hợp đầu tiên.
Và ta có thể an ủi sở dĩ nảy sinh văn xuôi Dương Thu Hương, đó là do tác giả muốn tạo nên một thứ đối trọng bên cạnh bao nhiêu ngòi bút đôn hậu khoẻ khoắn nhưng cũng lắm khi nhạt nhẽo khác.
Sau khi đọc những Ban mai yên ả, Chân dung người hàng xóm rồi, bạn đọc có muốn trở về những cây bút mực thước ấy thì vẫn còn kịp.
Đỉnh cao của lối nhìn, lối viết đầy thách thức trên đây của Dương Thu Hương là hai truyện ngắn Thợ làm móng tay và Sói con.
Giữa nhân vật Sáng thuở nhỏ thủ dao cùn trong túi và lén tập võ để lo có ngày trả thù cho cha bị Tây giết với chú Sáng hôm nay quỳ mọp bên chân các bà các cô nhiều tiền, cốt kiếm miếng ăn qua ngày (Thợ làm móng tay), quả thật, có cả một trời xa cách.
Đọc xong truyện này, người ta không khỏi xót xa khi nghĩ rằng sao mà trường đời xô đẩy con người theo những nẻo lối đến là trớ trêu, và trong muôn thứ nghề nghiệp của con người, sao lại có những nghề kỳ cục vậy.
Nhưng đến Sói con, người ta còn được chứng kiến một trường hợp vừa thương tâm vừa ghê tởm hơn nữa.
Trong Sói con, sự sụp đổ của mơ ước, sự vô nghĩa của kiếp người hiện ra rõ rệt trong thân hình tàn tạ của một phụ nữ, một cô me Mỹ mới mười bảy tuổi nhưng đã trải qua mọi thứ khoái lạc trong đời để rồi trở về nằm liệt trong một ngõ vắng thân hình loã lồ ruồi bâu gián bò không đủ sức đuổi.
Có thể trong đời sống cũng có một chuyện như thế, nhưng ngòi bút của tác giả ở đây thật đã đi đến những chỗ cùng cực trong cách miêu tả, và nhiều người đọc đã nhận xét là tác giả có phần ác quá.
Có điều, phải nhận, những truyện trên đã bộc lộ đầy đủ cái chất riêng của bút pháp Dương Thu Hương. Ta đã chấp nhận phong cách này, thì hãy để cho nó đi hết sự phát triển vốn có, không dừng lại nửa vời.
Ít ra thì ở Dương Thu Hương cũng khộng có cái lối xuê xoa, thoả hiệp của những cây bút khéo tay.
Còn nếu sau khi đọc xong những Thợ làm móng tay, Sói con, người đọc có thấy ghê sợ hơn trước những cạm bẫy đang mở ra trước cuộc đời mình để lo sống cho tỉnh táo hơn, mực thước hơn, thì đấy cũng đã là một thành tựu mà không phải tác phẩm văn học nào cũng có thể làm được.
VIẾT NHƯ MỘT SỰ VƯỢT THÓAT
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về giấy mực, in ấn, nhưng đời sống văn học mươi năm gần đây vẫn có sự phát triển vượt bậc về số lượng. Ngoảnh đi ngoảnh lại mới độ vài năm, nhiều cây bút trẻ đã cho in ra đến dăm bảy cuốn sách.
Chỉ hiềm một nỗi chất lượng không phải bao giờ cũng đi liền với số lượng. Sách ra, trong sự hờ hững của đời sống. Lại có không ít trường hợp sự hoan nghênh kia chỉ là tạm thời giả tạo, sớm nở tối tàn, vì tuy có chiều lòng được một lớp công chúng nào đó, nhưng nhìn cho kỹ vẫn không phải là những giá trị chân chính.
Đặt trong hoàn cảnh ấy, mới thấy những thành tựu Dương Thu Hương gặt hái được là đáng quý. Ngòi bút này đang độ viết khoẻ và viết khá đều tay. Bên cạnh những tập truyện ngắn đã in, chị còn là tác giả của tập tiểu thuyết Hành trình ngày thơ ấu kể lại cuộc phiêu lưu của một cô bé mười hai tuổi, vừa ngỗ ngược, vừa tốt bụng, được các bọn đọc nhỏ tuổi rất thú.
Bạn đọc cũng như các đồng nghiệp trong giới viết văn, kể cả những người khó tính bậc nhất đều chú ý và đánh giá khá cao sáng tác của Dương Thu Hương.
Đây có lẽ là tác giả trẻ nhất cùng lúc có mặt trong các tuyển tập truyện ngắn do các nhà xuất bản Văn học, Giáo dục, Tác phẩm mới in ra trong năm 1985. Và nếu tính riêng trong lớp các nhà văn mới xuất hiện mươi năm gần đây, là tác giả duy nhất.
Tại sao dư luận lại đặc biệt chú ý tới Dương Thu Hương như vậy, dù nhiều người cũng biết là thế giới trong văn xuôi tác giả này có phần chật hẹp, và ngòi bút của tác giả còn chông chênh, lắm khi tác phẩm như được viết trong cơn sốt, diễn biến thất thường, kết cấu không thật chặt chẽ, chi tiết sai lầm chắp vá?
Theo tôi hiểu, ở đây có mấy lý do. Phần thì do Dương Thu Hương đã chạm đến cái khu vực nhạy cảm trong mỗi chúng ta là câu chuyện gia đình, những ước ao hạnh phúc. Quan trọng hơn, là lối viết "hết mình" của tác giả.
Về cơ bản đây là một ngòi bút chân thành, thái độ yêu ghét rõ ràng, và luôn luôn cùng vui cùng buồn với mọi sự kiện nói tới trong tác phẩm.
Viết, đối với chị, nhiều khi là một sự giải thoát.
Chúng ta nhớ đoạn mở đầu Sói con:
"Đó là một kỷ niệm khó quên. Bởi nó giống như sự ám ảnh của ngục tù. Đã có những tháng ngày dài, tôi không nhớ tới, nhưng rồi bất chợt, nó lại hiện lên rõ ràng, như vừa mới gặp chiều hôm trước. Và như thế, tim tôi lại quặn thắt lên bởi những nỗi đau lạ lùng. Cuối cùng, tôi viết ra để trốn thoát những dày vò, day dứt..."
Đoạn văn có cái giọng của một thứ tự thú, không những đúng với Sói con mà con đúng với nhiều thiên truyện khác của cùng tác giả. Tâm trạng của một người buộc phải đi đến cùng trong sự lựa chọn của mình ở đây là điều dễ tạo ra sự thông cảm. Chừng nào còn giữ được cái chân thành của những điều nhất thiết phải nói ra, tác phẩm của Dương Thu Hương còn được nhiều người tìm đọc.
XÓT XA LẮM
Ngày 1 tháng 5 năm 2023
Tôi tán thành ý tưởng của chị Hậu.
Và tôi muốn nói thêm ngày này giờ này cũng là bắt đầu bùng phát một quá trình người Việt hư hỏng như một di lụy sau những năm chiến tranh. Ở khía cạnh ấy, cũng nên có nhiều những hồi chuông
Hậu Kc Nguyễn
orSenospdt3tmá324m0h4ini70c446341t901ggac7 22gl,9f31acm32 c ·
Ngoài kia là pháo hoa... Bao năm rồi mình chỉ mong ngày này giờ này tất cả nhà thờ, chùa chiền, trên TV và radio... vang lên tiếng chuông cầu nguyện cho tất cả những người đã mất trong và sau cuộc chiến vì bom mìn, vì chất độc, vì vượt biển...
Đã qua 48 năm… liệu đến năm thứ 50 – nửa thế kỷ sau chiến tranh – mong ước của mình có thành sự thật?
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 5 – 73
Ngày 1 tháng 5 năm 2023
-
(đoạn 1)
Buổi mít tinh đầu tiên ở Ba Đình
kể từ 5-8- 1964
...
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
----
CON NGƯỜI SỐNG SÓT
THÀNH PHỐ SỐNG SÓT
1/5
Hội hè là gì? Là những ngày vui, sau công việc. Là những ngày xả hơi buông thả sau những “chiến dịch” mệt nhoài.
Thử tìm ý nghĩ của đám tham gia duyệt binh. Họ quen tuỳ tiện buông thả. Mà duyệt binh trước tiên cần trật tự, ý chí, nghị lực. Từ thực tế đánh nhau trở về, người ta dễ xem đây là một việc tội nợ phải làm.
Nhưng rồi máu anh hùng nổi lên, lại nhớ rằng việc đó rất có ý nghĩa. Và người ta cắn răng lại để làm.
Rút cuộc thì cảm giác về một cái gì lớn lắm quay lại chi phối đến mức có lúc họ hiện ra lố bịch!
Nhưng vẫn thoáng qua những bất cập. Nhờ đi theo phóng viên nhiếp ảnh Đoàn Công Tính, tôi được vào sâu quảng trường, ngay dưới chân khán đài. Tôi nhìn kỹ những nét mặt đi qua quảng trường. Rất ít những nét mặt đẹp. Người chúng ta, không phải là những người để đi duyệt binh. Khuôn mặt thô, nước da xám, mắt tròn, mắt dẹp, “cờ ra côm”... đủ chuyện. Không có ai đẹp!
Cuối xuân, đầu hè, lá đã bắt đầu xanh sau mưa. Khẩu hiệu đỏ rực các đường phố. Thú thực, tôi hơi ghê sợ cái màu đỏ này. Nó gợi cảm giác hỗn loạn. Nó tượng trưng một sự phá phách.
Sau buổi mít tinh, để tìm lại một chút bình thản, tôi muốn đi về phía sông, phía cát, phía màu xanh.
Nhưng mà vẫn không dứt khỏi ám ảnh về sự kiện vừa có mặt.
Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cuộc mít tinh lộn ẩu thế. Người đi dự mít tinh thì ít (mỗi khối phố định lấy 20 người, mà lấy được có 10). Sau này nhìn TV thấy trên quảng trường nhiều chỗ trống.
Nhưng người đi xem, thì đông, họ nằm la liệt mọi ngả đường. Đây là cái cảnh không có trong những đám mít tinh hồi trước 1964.
Độ 8h, những người phải đứng thì bỏ về, trong khi người đi xem tràn lên.
Như một thứ lũ lụt: Người ta chui vào giữa các khối Công an - bộ đội. Người ta len vào giữa khách nước ngoài. Người vỡ ra từng mảng xô đẩy.
Công An, Công An Nhân dân vũ trang, đám trật tự viên, tất cả bất lực.
Ở quãng Hùng Vương, phía bên phải lễ đài, nơi thoát ra của đoàn người diễu hành, người ta xô lên, đường chỉ còn lại một nửa. Tan nát, lộn ẩu ở phía người diễu hành đi qua, trong khi đó, ở phía sau, không gian rỗng ra. Đến nỗi người như Tính cũng phải nhận:
- Người ta đã quen với cách sống thời chiến. Lúc này mới hiểu chiến tranh...
Vẫn theo Tính, chắc người đi qua lễ đài cũng chán ngán mệt mỏi. Không có Cụ Hồ để hy vọng chào đón, người ta ngoảnh đi lung tung. Lòng người phân tán quá chừng. Các lãnh tụ cười, vẫy tay chỉ vì nhớ rằng ống kính các nhà quay phim đang chĩa vào mình.
Lúc gần kết thúc, tôi nghe tiếng lao xao: “Thế này thì người nước ngoài cười chết. Khu vực quần chúng trống quá.”
Một giọng hét rất to: “Quân nhạc cử Giải phóng miền Nam.”
Khi điệu nhạc Giải phóng miền Nam vừa dứt, lại tiếng lao xao từ khu vực chỉ huy “Đáng nhẽ ông Đồng phải ra nói trước mọi người.”
Chờ đợi. Rồi ông ấy cũng ra:
-- Chúng ta đã cử hành ngày lễ một cách rất thắng lợi (!).
Và ông không quên cái điều thực chất nó khiến ta phải làm mít tinh:
-- Chúng ta yêu cầu các nước anh em tiếp tục đồng tình ủng hộ chúng ta về mọi mặt.
Tôi nghĩ bây giờ thì dân họ cũng biết mọi chuyện rồi. Nhưng họ mệt mỏi không thiết gì nữa.
Nhớ một ý Xuân Quỳnh nói buổi chiều:
- Giá những người đi duyệt binh kia về cày cuốc, thì được bao nhiêu việc.
Lúc ấy tôi chỉ hùa theo: “Ai mà quay về được nữa. Ở mình bây giờ, những thứ quân sự đã hóa dễ quen hơn dân sự!”.
Lúc này tôi nghĩ lan man thêm. Vậy thì ở mình chỉ những sự phá phách là toàn thắng. Nó ào ào như nước lũ vỡ bờ vô tận, như việc các dân tộc khác - tự tin, hào hứng, - làm ra của cải vô tận và thẳng đường tiến tới văn minh.
Phải tới đêm tối thì những ấn tượng ban ngày mơi dứt hẳn.
Đêm trên thành phố là khi con người trở về với cái hoang dại. Người ta chú ý đến tất cả những gì chung quanh, một tiếng lá rơi, một ngả đường rộng. Có thể có ai đó đang lo chạy cấp cứu vì vợ đẻ, con đau. Nhưng nói chung những khốn khổ hàng ngày lùi đi rất xa. Cái lối phớt lờ mọi chuyện của những cặp tình nhân được coi là có lý nhất. Trong đêm, tiếng người nói to hơn, tiếng móng xe bò gõ trên đường nhựa, nghe nhộn nhạo hơn. Ở đấy là tất cả những gì đang sống.
VÀI LÁT CẮT BI KỊCH TRONG ‘VIETNAM: AN EPIC TRAGEDY, 1945-1975’
Ngày 5 tháng 5 năm 2023
...
Mạnh Kim
25/10/2018
--
Không có câu chữ mượt mà và hình ảnh đậm chất văn học như A Bright Shining Lie (1989) của Neil Sheehan; không làm nhức đầu với khối lượng tư liệu ngồn ngộn như Death of a Generation: How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War (2003) của Howard Jones, và cũng không nhiều chi tiết đến mức thừa thãi như Hue 1968 (2017) của Mark Bowden, quyển sách dày cộm gần 1.000 trang - Vietnam: An Epic Tragedy, 1945-1975 - của nhà báo-sử gia người Anh Max Hastings (NXB Harper Collins phát hành ngày 16-10-2018) là những câu chuyện “rất người” và “rất đời”, được thuật từ nhiều phía, ở cự ly rất gần…
Không mắc vào “tư duy phản chiến thiên tả” như trong nhiều quyển sách hoặc phim tài liệu về cuộc chiến Việt Nam của giới nghiên cứu Mỹ, Vietnam: An Epic Tragedy ghi lại những câu chuyện sống động nhưng bi thảm với sự biến dạng nhân tính của một cuộc chiến khủng khiếp như vốn dĩ bản chất chiến tranh.
Với tư cách phóng viên chiến trường (và là một trong những người nước ngoài cuối cùng rời Sài Gòn trên chiếc trực thăng vào những ngày di tản tháng 4-1975), Max Hastings có cái nhìn nhiều chiều đặt trong tầm quan sát với không gian rộng.
Gần như chẳng sự kiện nào được miêu tả một phía. Cái gọi là chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” Điện Biên Phủ, dưới ngòi bút Max Hastings, cũng đầy tổn thất cùng những xói lở tinh thần của lính Bắc Việt.
Ghi lại lịch sử một cuộc chiến một cách khá “cân bằng”, Max Hastings đã “bắn” vào mọi mục tiêu. Ông cho thấy Pháp bám víu trong thế thua như thế nào; ông nhắc lại chính sách và chiến lược sai lầm của Mỹ, ông thuật lại tình trạng tham nhũng của VNCH và ông kể lại sự tàn bạo của du kích Việt Cộng lẫn binh lính Bắc Việt…
Vietnam: An Epic Tragedy không đi theo motif “lời nguyền cuộc chiến” mà nhiều quyển sách trước đó mắc phải. Max Hastings không mất thời giờ cho những “tự vấn” quen thuộc: tại sao và như thế nào. Thay vào đó, ông lột tả diện mạo man rợ của chiến tranh.
Gần như không kể lại những cảnh gào thét phản chiến chấn động nước Mỹ, Max Hastings đưa ra hình ảnh “một phụ nữ bị chém chết bởi bà có hai con đi lính VNCH”, hoặc “một người đàn ông bị (du kích) chôn sống, mồm gào lên liên tục “Tôi sắp chết! Tôi sắp chết!”, trước khi tiếng la thét của ông chìm mất bên dưới gò đất”. Max Hastings cũng miêu tả “một người khác bị (du kích) giết chỉ bởi ông nhậu với một cảnh sát địa phương”…
Cuộc chiến không chỉ có các chiến dịch tìm diệt của lính Mỹ mà còn có những cuộc khủng bố khiếp đảm của Việt Cộng.
Từ 1957 đến 1960, có đến 1.700 viên chức Sài Gòn và các tỉnh đã bị giết. Thêm 1.300 người nữa bị giết trong năm 1961. Con số khủng bố ám sát viên chức chính quyền miền Nam tăng vọt lên 2.000 người vào năm 1963 (trang 151)…
Và trong khi hàng ngũ lính tráng VNCH được miêu tả là thiếu tinh thần kỷ luật thì quân lính Việt Cộng cũng xảy ra không ít rối ren. Nam Kinh, một chỉ huy địa phương ở miền Tây Nam bộ, nổi tiếng có tài nhưng nghiêm khắc, đã bị bắn vào lưng bởi một trong những người lính của mình do tức giận khi bị ngăn cản kết hôn với một góa phụ xinh đẹp. Thanh Hải, một chỉ huy khét tiếng của Việt Cộng, cũng “vang danh thiên hạ” với tật nhậu nhẹt và gái gú (có lần mò vào mùng của vợ một người khác) (trang 151)…
Không chỉ thuật lại mâu thuẫn trong giới chính trị Mỹ về chính sách đối với cuộc chiến, Max Hastings còn miêu tả chi tiết bức tranh khốn khó của xã hội miền Bắc, mà như đại tá quân đội Liên Xô Yury Kislitsyn miêu tả: “Người (Bắc) Việt ăn mọi thứ biết di chuyển trừ xe tăng; mọi thứ biết bơi trừ hàng không mẫu hạm, mọi thứ biết bay trừ B-52” (trang 368).
Có nhiều chi tiết liên quan xã hội miền Bắc trước nay ít được kể trong những quyển sách về cuộc chiến Việt Nam. Mùa hè 1961, miền Bắc lâm vào tình trạng đói nghiêm trọng, đến mức xảy ra biểu tình và dẫn đến một vụ đốt kho thóc; rồi người dân đụng độ với quân đội; và tháng 8 thì xảy ra vụ đốt một nhà máy sản xuất xe đạp. Thậm chí có một vụ đặt bom ở Đông Anh hoặc một vụ nổi loạn của quân đội địa phương (trang 148)…
Vietnam: An Epic Tragedy cũng kể lại chiến dịch viện trợ vũ khí lẫn người của Liên Xô, cũng như chính sách “đu dây” giữa Trung Cộng và Liên Xô của Bắc Việt, khiến Sứ quán Liên Xô phải “cay đắng báo cáo về Moscow vào tháng 3-1967”, rằng “chuyên gia quân sự của chúng ta làm việc trong một môi trường cực kỳ khó khăn, thường bị làm tồi tệ hơn bởi các đồng chí Việt Nam…”.
Trong nhiều trường hợp, Bắc Việt thường cố tình báo cáo chậm các vụ bắn rơi máy bay Mỹ và khi chuyên gia Liên Xô đến hiện trường thì mọi thứ có giá trị đã bị dọn đi mất cùng với các chuyên gia Trung Quốc.
Sự trở mặt của Bắc Việt với Liên Xô trở nên công khai hơn vào tháng 3-1968, khi Hà Nội tung ra luật cấm đi lại đối với viên chức ngoại giao Liên Xô cũng như cấm giao tiếp với dân địa phương (trang 370)…
Quan hệ nam nữ giữa chuyên gia Liên Xô với các cô gái địa phương bị cấm gần như tuyệt đối. Có lần, khi thấy một nhóm cô gái khuân đá tại một công trường dưới sự canh gác của bảo vệ, trung úy Valery Miroshnichenko đã được phiên dịch giải thích: “Bọn chúng là những kẻ phạm tội quan hệ với người nước ngoài” (trang 368).
Đói là nỗi ám ảnh kinh niên của người dân lẫn lính Bắc Việt. Đại tá Nguyễn Hữu An kể, có lần khi nghe tin săn được một con voi, mọi người chạy ào đến. Tới nơi đã thấy bụng voi được “mổ” bằng thuốc nổ. Một người bò ra khỏi bụng nó, cầm mảng thịt to; và những người khác thì lao vào xẻ thịt. Phần ngon nhất, cái vòi và bốn chân, đã bị cắt đi mất. Chỉ sau vài giờ, tất cả những gì còn lại là đống xương bầy nhầy (trang 423).
Lần khác, khi nghe tin bắn được con tinh tinh, một nhóm lính Bắc Việt cũng vội chạy đến. Tuy nhiên, sau khi lột da, con vật trông hệt như một phụ nữ mập ú với làn da loét lở trong khi cặp mắt nửa trắng nửa xám vẫn còn trợn ngang trợn dọc. Cả nhóm kinh sợ bỏ chạy. Cuối cùng, thay vì ăn con vật, họ chôn nó dưới một tảng đá (trang 424).
Không chỉ chuyện đói, xã hội Bắc Việt còn ngột ngạt bởi không khí chính trị hóa. Phạm Phương đã không thể vào đại học chỉ bởi cha cô là một trí thức đọc thông viết thạo tiếng Anh, Pháp và Nga. Tương tự trường hợp Nguyễn Đình Kiên. Khi Kiên nhận được giấy báo nghĩa vụ quân sự, bố mẹ cậu làm đơn xin hoãn vì cậu là con trai duy nhất, sau khi người anh của cậu tử trận ở Lào. Bố cậu từng làm nhân viên bảo vệ cho Pháp. Thế là thuộc “thành phần không tốt” rồi. Đơn xin vào Đảng của Kiên, dĩ nhiên, bị từ chối. Dù học giỏi nhưng Kiên vẫn không được chọn đi du học. Tình nguyện xin học lái máy bay và thi đậu tất cả các cuộc kiểm tra, Kiên vẫn không được vào quân đội (trang 362)…
Vietnam: An Epic Tragedy là một trong quyển sách chiến tranh Việt Nam hiếm hoi đề cập không chỉ những ngày cuối cùng của tháng 4-1975 mà còn nhắc lại những bi kịch hậu chiến.
Câu chuyện nhân vật “Hai Thuan” là một ví dụ. Từng chiến đấu dưới hàng ngũ Việt Minh và sống ở miền Bắc suốt cuộc chiến, Hai Thuan trở về “tiếp quản” Sài Gòn sau 30-4. Dù làm cho Bộ Tư pháp dưới chế độ mới nhưng ông vẫn không “cứu” được người con ruột bị bắt đi “học tập cải tạo” vì là sĩ quan VNCH. Sự phản đối và kêu nài của ông bị Bộ chính trị khước từ. Một buổi sáng, ông nhảy lầu tự tử từ nóc một building ở đường Lê Lợi, để lại hai bức thư tuyệt mệnh – một cho Đảng; và một cho vợ con, xin tha thứ cho ông (trang 734).
Câu chuyện của bà Lê Thị Thu Vân là một bi kịch kiểu khác. Ngày 23-4-1975, người phụ nữ 45 tuổi Thu Vân, vợ góa của giáo sư Nguyễn Văn Bông, tìm cách di tản. Khi lên chiếc C-130, bà và các con được xếp ngồi trên bốn chiếc ghế. Một người Mỹ trẻ cao to chen đám đông đến, ra hiệu cho bà Thu Vân nhường ghế. Khi bà từ chối, người thanh niên Mỹ giận dữ ném chiếc vali nặng xuống chân bà. “Này bà kia” – người thanh niên Mỹ nói – “bà có biết bà sẽ làm gì ở đất nước chúng tôi không? Bà làm ở phòng giặt đồ!”. Sau này, bà Thu Vân viết: “Tôi đã rời đất nước mình với con tim nặng trĩu và đôi chân bị nghiền nát” (trang 712).
Cuộc chiến đã “kết thúc” bằng những bi kịch như vậy, với những con tim trĩu nặng và bàn chân bị nghiền nát, để lại những di chứng kinh khủng, đến mức không ít người, cho đến nay, sau hơn 40 năm, vẫn chưa một lần trở về quê ...
***
Ghi chú của VTN 5-5-2023
Về phần chúng ta - mỗi người Việt từng đã sống cả tuổi thanh niên trong chiến tranh -, chúng ta ít nhiều đều biết còn bao nhiêu sự việc tương tự như đã được miêu tả trong cuốn sách nói ở trên còn nằm trong ký ức và dần dần bị quên lãng. Một dân tộc chỉ có thể nói là tự trọng và sáng suốt khi có hiểu biết đầy đủ và chính xác về quá khứ của mình. Và từ đó mới có thể phát triển.
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 5 – 73 (đoạn 2)
Ngày 6 tháng 5 năm 2023
**
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
---
2/5
Nhớ lại cái phía đời thường của ngày lễ. Công việc được bàn nhiều ở các khu phố là lấp nốt những hố cá nhân. Một mặt thì ở đó chứa chất tất cả những gì cần phải đổ đi, than xỉ, bùn cống. Mặt khác, cái miệng cống vẫn quẩn lên một lớp váng như một thứ ký ức không chịu tan biến đi cho. Dĩ vãng có mặt trên mỗi đoạn đường chúng ta đi tới.
Là người công dân Hà Nội lúc này nghĩa là gì? Là người thợ may vá chữa quần áo. Là người thợ thiếc nhặt từng ống bơ cũ về làm lại cái đèn, cái ấm đun nước. Là mấy chị phe phẩy lo chạy hàng phục vụ đám dân Hà thành từ nơi sơ tán trở về. Là cô giáo cũ đi thu nhặt lại đám học sinh.... Họ đang là những nhân vật chủ yếu của thành phố!
Người ta mang về các vườn hoa một ít dụng cụ đồ chơi. Và đây quả thật là những “quả nhỏ” của chiến tranh: những cái khung đồ chơi bằng sắt trông nặng, chắc. Những lớp sơn tạm bợ. Tiếng khung sắt động vào mặt đất xi măng nghe rào rạo một thứ âm thanh xa lạ.
Hà Nội thích nói tới sự tài hoa vì Hà Nội chỉ có cái bề ngoài. Hà Nội dũng cảm vì Hà Nội nghèo khổ. Hà Nội từng trải, lì lợm, vì Hà Nội sống sát mặt đất. Đã bao nhiêu lần, tôi nghe được những người khác nhau nói về Hà Nội. Có những chuyện vui nhất lẫn những chuyện buồn nhất. Và tôi hiểu cộng những cái đó lại, mới là Hà Nội.
Sấu rụng. Lá sấu rơi như mưa, phủ trên mặt đất một lớp dày, người đi lá sấu rụng trên vai, đứa trẻ ngẩng mặt hứng lấy chiếc lá không cho nó kịp rơi xuống đất.
Cành sấu không bao giờ trơ lá. Lá sấu già mới rụng đi, lá sấu non đã nẩy, và trong một sớm một chiều, sấu trên đường vẫn xanh um.
Với chúng ta, những sắc phượng đỏ thường gắn liền với thời khắc buổi trưa. Những trưa hè, màu đỏ như lửa loá lên trong nắng, -- tưởng như nắng quá, ngọn cây là một chất dễ cháy, đã bốc lên thành ngọn lửa.
Nhưng lúc này phượng hiện ra kinh sợ đối với tôi bởi hình như đó đã là một thứ phượng khác. Buổi chiều phố vắng. Bóng tối mùa hè ngập ngừng dâng lên, dâng lên. Không khí trong suốt tối dần. Bóng tối ập cả vào mặt.
Trong cái giờ khắc ấy, tôi ngước lên nhìn hàng phượng, thấy màu đỏ đã thẫm lại, tím lại, mà nó vẫn cứ không chịu lẫn đi với màu xanh đã trở thành nhợt nhạt của lá, màu nâu đã hết bản sắc của cành. Tôi nghĩ đến tình yêu của tôi. Tôi lại nghĩ đến những vết thương rớm máu của xã hội này. Tất cả đều là hiện thực.
3/5
Tiếng trẻ con hát lảnh lót bài Oan ta mê la. Âm thanh đi lại uốn lượn trên vòm trời, như một tiếng cầu kinh của những tín đồ trung thành (và cái mà nó gợi theo, đấy là chủ nghĩa tự do, một thứ tự do vô dụng nên lang thang vô mục đích).
Những thanh niên nhộn nhạo, ầm ĩ trên đường. Cái quần loe họ mặc, cái áo màu nghệ thối họ khoác trên người. Những chuyến đi suốt đêm, có thể là gần suốt đêm bên nhau. Những trận cười thâu đêm, những tình yêu nồng cháy. Hoà bình là thế, hoà bình phải có những cái ấy, dù đây là một nền hoà bình có thể đổ sập bất cứ lúc nào.
4/5
Thế nào là dấu hiệu của một xã hội suy vi? Người ta, những người dân thường, không ai muốn làm ăn cẩn thận. Còn lại, chỉ những người tốt là khổ.
Đã rõ là xã hội không thể, không làm được cái việc tối thiểu là động viên mọi người làm việc. Mọi người cứ nhớn nhác chờ một cái gì đó. Chờ một may mắn từ trên trời xuống, chờ một phép màu. Chỉ có làm việc (mà ta gọi là sản xuất) thì không ai nghĩ tới.
Một điểm nữa làm tôi kinh sợ. Tôi nhận ra xã hội đang như một dòng họ thoái hoá. Những lớp người sau ngày càng còi cọc đi, so với những lớp người trước. Khôn ranh hơn, năng động hơn mà hoá ra hư hỏng thực sự. Tôi nhớ tới hai chữ đồng huyết. Đây là một khái niệm sinh vật học: những người khác giới cùng dòng máu phối hợp với nhau, không tạo ra những biến dị tốt -- mà chỉ làm sinh thể thoái hoá dần.
Có lẽ trong công tác tư tưởng, cũng có những vấn đề tương tự. Tư tưởng, khi không được tiếp xúc với những tư tưởng khác, sinh ra thoái hoá, luẩn quẩn! Và đấy là hiện tượng thấy ở xã hội hôm nay. Chúng tôi có biết được gì ngoài mình?
Xã hội nào cũng có những luật pháp ghi thành văn bản, và những tập tục, thói quen, thậm chí cả những thể chế, những luật pháp quy định những điều được phép và không được phép không ghi thành văn bản.
Xã hội của chúng ta hiện nay, luật pháp thì ngặt, ảo tưởng, hoá ra vớ vẩn, không thực hiện được. Thói quen thì tự do hoành hành, không bị một ràng buộc gì hết. Người ta cho phép mình làm mọi điều trong bóng tối.
... Sao tự nhiên, tôi khao khát mọi nền nếp của xã hội trước 1945, một thứ pháp điển mới tới với xã hội VN từ hồi Tây phương xâm nhập, mà sao quá quen thuộc như tự ngàn đời đã vậy. Những căn nhà yên tĩnh, những khu phố sạch sẽ, những người làm việc với niềm tin lâu dài. Những bài giảng về văn học cổ điển. Phút nhẩn nha khi đọc một áng thơ dịch. Bức tranh treo trên tường.
Lâu nay, xã hội tôi sống nặng về tàn phá mà không xây dựng, nặng về ồn ào ngày lễ, mà không có cái sâu xa của ngày thường. Trong nhà trường trẻ con biết đến cả những tên tuổi văn học rất là vớ vẩn, nhưng không biết những giá trị lớn.
Đất nước này, người ta chỉ nói tới lịch sử khi cần che giấu cái trống rỗng hiện tại.
----------
Ghi chú cho cả tâp nhật ký
*Trong những điều tôi ghi ở đây -- từ gần 50 năm trước – có nhiều điều nay tôi đã nghĩ khác, chữ nghĩa dùng cũng phải khác. Nhưng để tôn trọng quá khứ, tôi xin phép vẫn giữ nguyên. Mong được sự đồng tình của các bạn. 4-2021
TÓM TĂT TRUYỆN “CHỐN VẮNG”
Ngày 7 tháng 5 năm 2023
Ngày 21 - 4, trong thông báo của Viện Hàn Lâm Pháp trao tặng giải Cino Del Duca cho nhà văn Dương Thu Hương thấy có ghi rõ tác giả này đã
“mô tả cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam, sức nặng của quá khứ và truyền thống trong một xã hội mang trong lòng nhiều dấu vết của các cuộc chiến tranh bi thương.”
Riêng tiểu thuyết “Chốn vắng” được ghi nhận là cuốn sách của tác giả có nhiều bạn đọc nhất.
Theo cách nói của Donna Seaman (Booklist _ American Library Association) "đây là một cuốn tiểu thuyết làm ta say đắm, phân tích một cách sắc sảo bản chất của chiến tranh và hòa bình, sự nghèo nàn và giàu có về vật chất và tinh thần, cái tôi và cộng đồng, sự cưỡng bức và tình yêu”
Còn nhiều lời lẽ có cánh khác các bạn có thể đọc đây đó.
Tôi do tuổi già không đủ sức tìm đọc ngay bản tiếng Việt cuốn sách này trên mạng nhưng cứ muốn biết ít nhiều.
May mà từ hơn nửa năm trước, tôi đã có dịp được đọc bài viết sau
------------------
29 Tháng Tám 2022 by lieutruong
« CHỐN VẮNG » CỦA DƯƠNG THU HƯƠNG
https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/.../chon-vang.../
------------------
trong đó có đoạn tóm tắt thiên truyện này trong hơn 2. 000 chữ. Tôi nghĩ với một số bạn, đoạn tóm tắt này cũng có thể có ích, nên copy lại dưới đây.
Tôi đã cũng mạn phép tác giả Liễu Trương tách văn bản thành nhiều khổ nhỏ để dễ đọc.
***
Truyện xảy ra vào thời hậu chiến. Mới vào truyện, người đọc gặp ngay một hoàn cảnh éo le, gay cấn, phải đi theo tác giả đến cùng để xem sự việc được giải quyết ra sao.
Ở Xóm Núi, Miên là một phụ nữ đẹp, nết na thùy mị, sống hạnh phúc với chồng con. Cơ ngơi của hai vợ chồng rất đồ sộ: một ngôi nhà cất trên một đỉnh đồi, xung quanh là vườn cây trái, xa hơn là những nương tiêu, nương cà phê. Hoan, chồng Miên, làm ăn phát đạt, có một đoàn thuyền chở hàng hóa vào bán ở Đà Nẵng, Sài Gòn.
-
Một hôm, Hoan đi vắng với đoàn thuyền, Miên vào rừng tìm mật ong với những người phụ nữ khác. Khi trở về, Miên ngạc nhiên thấy đông người tụ họp trước nhà và trong nhà mình, có cả ông xã trưởng.
-
Một người đàn ông gọi tên Miên, tự xưng là Bôn, chồng của Miên. Miên sững sờ không nhận ra người đàn ông của 14 năm trước, đã từng làm chồng của Miên trong một mùa hè ngắn ngủi. Rồi Bôn nhập ngũ 5 năm, rồi có giấy báo tử gửi về. Hai năm sau, Miên chính thức làm vợ của Hoan.
-
Người từ mặt trận trở về có quyền hưởng đặc ân của cộng đồng, có quyền đòi cái phần hạnh phúc của mình. Trong thời gian chiến đấu, Bôn nhớ thương vợ, và giờ đây cảm thấy yêu vợ say đắm.
Ông xã trưởng, trước khi ra về, nghiêm nghị nói với Miên những lời đầy ẩn ý: Chính quyền cũng như đảng ủy xã không can thiệp vào chuyện riêng tư của bất cứ công dân nào. Chị và anh Hoan đều là những người lương thiện, chấp hành đúng mọi pháp luật của nhà nước. Nay do tình cảnh éo le chị phải đứng trước sự lựa chọn. Chỉ có chị mới có quyền quyết định cuối cùng. Như chị đã thấy, anh Bôn là người trực tiếp góp xương máu cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng đất nước. Chúng ta có được cuộc sống thanh bình thịnh vượng, đất nước được độc lập tự chủ là nhờ sự đóng góp của những chiến sĩ như anh Bôn (tr. 24).
-
Khi mọi người ra về, chỉ còn lại Bôn và Miên; cảm thấy trong ánh mắt của Bôn nỗi say đắm, ham muốn, Miên đâm hoảng sợ và tỏ ra lạnh lùng. Còn Bôn nhớ rõ kỷ niệm đêm tân hôn, nhưng sợ hãi trước sự lạnh lùng của Miên và hoang mang nghĩ đến người chồng thứ hai của Miên. Miên để Bôn ăn tối và ngủ tạm trong nhà như một người khách.
-
Bất ngờ bị dồn vào thế bí, và trước câu hỏi khẩn cấp của Bôn, Miên buộc phải có một quyết định; Miên bình thản cho Bôn biết trước kia Miên là vợ của Bôn, nay Miên là vợ của Hoan, cả hai lần đều kết hôn chính thức.
-
Bôn biết Miên có quyền lựa chọn, mặc dù làng xã, truyền thống, đạo đức bênh vực anh. Bôn thổ lộ: … tôi yêu Miên. Suốt ngần ấy năm trời tôi chẳng quên em một ngày… và tôi không hề biết chuyện báo tử (tr. 61).
-
Miên thẫn thờ, nói sẽ làm tròn bổn phận với một người có công với đất nước. Miên cho Bôn biết sẽ sắp đặt chuyện nhà cửa xong xuôi, trong hai tuần nữa sẽ đến sống với Bôn. Miên biết rồi đây phải từ giã dinh cơ, cái nơi hạnh phúc với chồng con, để trở về căn nhà tồi tàn, mục nát của Bôn. Miên vẫn yêu Hoan, thương đứa con 5 tuổi, và không nhớ gì nhiều về Bôn. Miên bị dằng co đau đớn.
-
Vì gia cảnh của Bôn quá nghèo, đảng ủy cho một số trai làng đến giúp sửa lại gian nhà của Bôn, trước khi đón Miên về.
-
Phần Hoan, khi trở về nhà hay tin chồng cũ của Miên đã trở về, anh bàng hoàng, ngẩn ngơ. Hai vợ chồng ôm nhau khóc khi nghĩ đến chia ly. Hoan nói : Anh chẳng biết anh sẽ sống thế nào khi không có em. Hoan đau khổ, gào thét trước sự phi lý. Miên chấp nhận số phận, Hoan thì không.
-
Ngày Miên ra đi, Hoan nhìn theo, thấy Miên thẫn thờ đi theo Bôn như một tên tử tù. Miên để lại tất cả áo quần đẹp, đồ đạc sang trọng mà Hoan đã mua tặng Miên, chỉ đem theo vài bộ đồ cũ mốc. Hoan nhét tiền theo cho Miên. Đứa con của Miên được gửi cho một bà dì nuôi. Miên khuyên Hoan nên lấy vợ. Hoan nói cả dinh cơ là sở hữu của Miên, Hoan sẽ thuê một quản gia trông nom, rồi về thành phố buôn bán với người chị.
-
Miên cho phơi khô thứ cỏ thạch trinh hương để nấu nước tắm tẩy trần, khi về ở với Bôn. Căn nhà của Bôn đã được sửa sang lại, Bôn chưng hoa cho đẹp mắt. Nhưng trong nhà chỉ có 5 ký gạo nhiều sạn, không nồi niêu, bát đĩa, dầu đèn.
-
Miên khám phá tiền Hoan cho là một số tiền lớn. Ngày đầu tiên chung sống với Bôn, Miên tỏ ra dửng dưng, sống như một người khách lạ ; biết mình không yêu Bôn, cuộc trở về này là phận sự phải chấp nhận thôi.
-
Còn Bôn thì trong ánh mắt yêu đương và quỵ lụy của anh có một nỗi thiết tha rồ dại khiến chị mủi lòng (tr. 160).
Bôn yêu Miên và tin tưởng sẽ có nhiều con với Miên. Nhưng khi làm tình với Miên, Bôn mới biết mình bất lực.
-
Còn Miên sau mỗi lần chịu đựng sự chung chạ, thì vội đi tắm với thứ nước tẩy trần. Miên vẫn làm bổn phận của mình : bỏ tiền nuôi Bôn, nuôi cả người chị dâm ô của Bôn ở bên cạnh. Bôn thường nhìn Miên, nhưng đôi mắt đẹp của Miên nhìn vào khoảng trời xa xôi là một cõi xa lạ đối với Bôn.
-
Bôn lấy làm khốn khổ, vì giải ngũ trở về với hai bàn tay trắng, phải ngả tay xin tiền vợ. Bôn cảm thấy nhục nhã vì không thể chinh phục lại được người vợ xinh đẹp mà mục đích chính của Bôn là có nhiểu con với người đó.
-
Bôn tìm đến ông cụ Phiều, một ông lão cường tráng, sành sõi về tình dục, để ông bày cho Bôn những bí quyết chữa bệnh bất lực. Nhưng bí quyết của ông lão chưa thấy có hiệu quả.
Những lúc Bôn làm tình với Miên, thì Miên bất động như khúc gỗ, gương mặt xa vắng, hướng về cõi riêng. Miên ghê tỡm những nụ hôn đắm đuối, hôi hám của Bôn, đến nỗi Miên phải đẩy Bôn ra để chạy ra ngoài nôn mửa.
Bôn cũng nhớ lại quảng đời đã sống qua trong chiến tranh. Có một người mà Bôn yêu mến, đặt hết lòng tin, đó là người tiểu đội trưởng của Bôn, 23 tuổi, người Hà Nội, đã dìu dắt chỉ dẫn Bôn. Cái chết của anh ta xảy ra sau trận đánh ở ngọn đồi 327.
-
Tiểu đoàn của Bôn chết rất nhiều. Bôn đào mộ trong rừng, chôn người tiểu đội trưởng và giữ lại cuốn nhật ký để sau này về Hà Nội trao lại cho người cô. Sau đó Bôn đi tiếp ba tiếng đồng hồ, chịu đói khát, ngủ đêm trong rừng. Nhưng không chịu nỗi cô đơn, Bôn trở lại ngôi mộ, đào mộ lên, mang theo cái xác.
-
Tử thi đã bốc mùi, một bầy kền kền theo sát. Bôn đi rất lâu trong rừng, dừng lại để ngủ và rơi vào một giấc chiêm bao đầy bóng ma. Rồi Bôn đuối sức, bất tỉnh. Cuối cùng Bôn được lính của một đại đội khác phát hiện, họ chôn cất xác người tiểu đội trưởng và đưa Bôn vào y viện quân đoàn.
-
Ký ức của Bôn đưa Bôn về một kỷ niệm khác. Sau một trận dội bom, đơn vị của Bôn tan rã, Bôn là người sống sót, mò mẫm tìm đường, đi bộ nhiều ngày và lạc vào một làng Lào: Bản Kheo, được một cô gái Lào câm điếc cứu và cho ăn uống, nghỉ ngơi, cô gái tên Thoọng. Bôn được Thoọng yêu thương, được gia đình cô quý mến. Anh cảm thấy cuộc sống dễ chịu, nhận lời kết hôn với Thoọng, và tham gia vào đời sống của người dân quê Lào.
-
Nhưng Bôn bắt đầu cảm thấy buồn nhớ quê hương Xóm Núi, nhớ Miên. Nỗi nhớ ngày càng quay quắt, một hôm Bôn kiếm cách trốn thoát và trở về.
Rời kỷ niệm, Bôn trở lại hiện tại, những nổ lực của Bôn để có con với Miên ngày càng thất bại.
-
Xá, người bạn thân của Bôn, khuyên Bôn đi nông trường kiếm kế sinh nhai, và ở đấy có rất nhiều cô gái lỡ thì để Bôn chọn vợ. Nhưng Bôn không muốn rời Xóm Núi, lại nữa Bôn nay sức đã yếu không mong làm được những công việc nhọc nhằn.
-
Vì Bôn muốn có con, Xá lại mách Bôn một bài thuốc kích dục, bằng cách uống cà phê đặc với chút muối trước khi gần đàn bà. Bôn vội vàng thực hành lời khuyên của Xá.
-
Sau vụ Bôn vồ vập, Miên cảm thấy mình có thai, Miên không muốn đứa bé chịu ơn Hoan, và có ý định phá thai, nhưng lòng người mẹ không nỡ nào.
Về phần Bôn khi biết Miên có thai thì tỏ ra hết lòng chiều chuộng Miên.
Nhưng xảy ra một chuyện xô xát do mấy đứa con của người chị của Bôn gây nên. Miên nổi giận, đâm bụng vào một cánh cửa để làm trụy thai, Bôn khóc lóc van nài Miên để cho đứa con được sống. Một thời gian sau, Miên vào bệnh viện thành phố sinh một quái thai không đầu. Bôn rụng rời không còn hy vọng gì nữa.
-
Về phần Hoan, anh có những dự định lớn lao. Anh lo giảm bớt công việc king doanh ở thành phố, trở về Xóm Núi, bỏ tiền xây cất một trường học cho trẻ con, và xây cất một nông trại ở Suối Nhỏ hy vọng sẽ đưa Miên về đấy.
-
Hoan xem cơ ngơi của hai người như một sở hữu của Miên. Hoan thân hành đến nhà Bôn khi Miên còn ở đấy, và với một thái độ tử tế, ôn hòa, Hoan khẳng định Hoan và Miên là vợ chồng chính thức, và mời Bôn đến ở nhà của Miên, Hoan hứa sẽ giúp đỡ Bôn.
Miên trở về cơ ngơi tĩnh dưỡng và ở hẳn đấy, dần dà Bôn cũng đến cơ ngơi. Nhưng giữa Miên và Bôn có sự ngăn cách rõ ràng.
-
Miên chỉ xem Bôn như một người anh; đời sống vật chất của Bôn được đầy đủ, có người quản gia chăm sóc Bôn. Ban ngày Hoan đến đón Miên và đứa con, chiều tối lại đưa hai mẹ con trở về nhà Miên.
-
Chẳng bao lâu Miên có thai, trong thời kỳ này xảy ra một biến cố. Bôn vì nghĩ rằng Hoan đã phá hoại đời mình, nên tìm cách giết Hoan.
-
Nhân mùa săn, đặc biệt có sự hiện diện của Hoan, Bôn mượn cây súng của Xá, vợ Xá linh cảm điều chẳng lành, bèn báo cho Miên. Miên chạy băng qua nông trại để báo cho Hoan biết. Chẳng may phát súng đã nổ, viên đạn trúng tay Miên, Miên bị thương ở mấy ngón tay. Miên tuyên bố với mọi người rằng lỗi tại mình, vì quá táy máy với cây súng.
Nhưng Hoan biết Miên nói dối để che chở Bôn vì lòng cao thượng, và Hoan càng thầm phục Miên, càng yêu thương Miên.
-
Miên hạ sinh một đứa con trai, Hoan vui mừng thương quý đứa con, Hoan nghĩ nó chào đời để về sau che chở bố nó.
-
Về phần Bôn ngày càng thẫn thờ, anh không còn ai trên đời để yêu thương, trò chuyện. Bôn ra nghĩa địa ngồi dưới mưa, trò chuyện với những bóng ma, với người tiểu đội trưởng. Không gian mở rộng quanh Bôn, không một bóng người.
*******
Để có thêm môt ít ấn tượng về truyện “Chốn vắng” mời các bạn đọc thêm ít dòng từ trang Fb bạn Sao Mai 1-5-2023
-
Tò mò đọc cuốn “CHỐN VẮNG”
Vẫn nghe nói Dương Thu Hương là một nhà văn tài năng và cực kỳ cá tính.
Nhưng thật kỳ lạ, cái vẻ “đanh đá, đáo để, quyết liệt, cay nghiệt” mà nhiều người đã tiếp xúc có nhận xét về bà … lại không hoàn toàn thấy y như vậy trong văn chương.
Để nói thì rất dài.
Từ thời niên thiếu đến nay nhìn thấy tên bà ở đâu, nhà em đều đọc và cơ bản là đã từng đọc gần hết các đầu sách của bà.
Và đây và vài nhận xét nhanh về tác phẩm “Chốn vắng”:
- Thấm đẫm chất văn chương:
Lời văn đẹp, tha thiết, lãng mạn, sáng tạo, ngôn từ lạ và phong phú.
- Phân tích tâm lý nhân vật cực kỳ sâu sắc, tinh tế, rất nhạy cảm và thực. Thực đến moi thấu tâm gan người đọc.
- Bút pháp độc đáo, quyết liệt, miêu tả đến tận cùng, không khoan nhượng bằng những ngôn từ sắc sảo, nhưng không kém phần “điệu đà” của một cây bút tài năng và rất nữ tính.
- Tả sex cực hay và bạo. Hay ở chỗ nó mãnh liệt, nồng nàn nhưng vô cùng gợi cảm và tinh tế chứ không thô lậu và trơ trẽn.
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 5 – 73 (đoạn 3)
Ngày 22 tháng 5 năm 2023
-
Trích từ cuốn sách chưa xuất bản
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
*
Trong những điều tôi ghi ở đây -- từ gần 50 năm trước – có nhiều điều nay tôi đã nghĩ khác, chữ nghĩa dùng cũng phải khác. Nhưng để tôn trọng quá khứ, tôi xin phép vẫn giữ nguyên. Mong được sự đồng tình của các bạn. 4-2021
---------
4/5(tiếp)
Việt Anh (đang dạy toán ở trường Chu Văn An): Tôi cảm thấy thời gian sau này người ta đã bắt đầu chú ý tài năng.
Nhàn: Chưa bao giờ, chưa bao giờ. Ngay cái khái niệm tài năng cho chính xác chưa đặt ra, thì làm sao mà chú ý được.
Việt Anh: Tôi cảm thấy cái hướng nghịch của học sinh bây giờ là phá phách.
Nhàn: Nói phá phách còn nhẹ. Nó là cái mầm của mất lòng tin, mất phương hướng.
Bao giờ cho cuộc sống ổn định lại! Tôi vốn nghiêng về sự bùng phát, sự phá cách chứ không phải rập khuôn theo mẫu. Tôi vốn nghĩ những chuyện hôm nay là chưa từng có trong lịch sử, vậy phải khai mở lấy con đường của mình. Nhưng phải biết cái cũ, kể cả những sự phá cách cũ, thì người ta mới có điểm tựa để nghĩ về cái mới.
9/5
Lắm lúc, có cảm tưởng muốn phát khóc vì sự nhảm nhí của cuộc đời. Cuộc sống mang lại cho tôi biết bao nhiêu tin không hay.
- Hai thứ trưởng cãi nhau, người ta xây cho 2 ông một bức tường mất 8.000 đồng, để khỏi nhìn mặt nhau.
- Nhà tôi dột nát...Khi nghe nói có thể mua được ít lá, giấy dầu, bố tôi đang ốm nhỏm ngay dậy.
- Chung quanh nhà, nuôi vịt, nắng bốc lên mùi hôi thối, không sao chịu nổi.
- Thằng em tôi làm phép phân tích ra thừa số nguyên tố: 100 = 97 + 3. Nó không cần gì cả, kể cả cần học giỏi...
- Những người như ông Doãn Trung nhà này xe máy, chụp ảnh, hống hách như vua con, bảo làm có cái đơn vào Đảng cũng lên nước.
Một mục nhỏ trên báo Quân đội nhân dân đưa tin: bao nhiêu tiền một viên đạn; mỗi lần chữa một cái máy, tốn bao nhiêu. Cạnh đó trên báo Nhân Dân là một bài nói về những thứ hàng giả ở thị trường. Thuốc lá giả, chè giả, mì chính giả, ruốc giả. Chỉ cần đặt hai bài báo đó cạnh nhau đã thấy khá đầy đủ, một bài nói về những nguyên nhân, và một mô tả hiện trạng xã hội hiện nay!
Và, tôi nghĩ, phải bổ sung những tin tức giả, do báo chí đưa ra. Sai số thực tế, so với sai số cho phép gấp 300 lần.
10/5
Xuân Sách kể: ở Hải Phòng, một đám thương binh, tức mình với một tay nói láo, đến phá nhà, quăng đồ đạc ra đường để đốt.
Ở Hà Nội, Công An đánh nhầm diễn viên đoàn kịch Nam Bộ - tưởng là lưu manh. Xong rồi lại lăn tay họ để làm cung giả mạo. Hiện họ ngừng biểu diễn và doạ không giải quyết việc này, toàn thể chi bộ sẽ xin ra Đảng.
...
Tôi đang sống trong một xã hội thế nào đây, một xã hội nhọc nhằn, chó má, giả dối, con người như con vật. Chiến tranh, người ta đã bòn rút tất cả sức lực xã hội này cho chiến tranh, đã kéo những người tốt đi đánh nhau, người tốt chết cả để bây giờ xã hội chỉ còn đống bã, không còn ai tử tế, không còn những ý tưởng tử tế. Sao lại đến nông nỗi này, tôi không hiểu sao cả, nhưng quả đã đến lúc đối diện với một tình trạng kiệt sức, một sự sụp đổ. Chỉ còn máu, nước mắt, sự giả dối, và sự nghèo nàn... là bền mãi. Rồi sự nghèo nàn kinh niên lại bắt đầu từ tất cả những chuyện trên mà ra.
12/5
Đối thoại với Nhị Ca:
- Tôi căm thù cái xã hội này, nó đẻ ra cái lối sống này.
- Không được nói bậy thế. Anh được bao nhiệu lợi lộc, anh còn căm thù ai.
- Tôi căm thù những kẻ có quyền, họ lái xã hội đi theo ý họ.
- Chính anh là kẻ có quyền.
- Tôi chỉ là một kẻ đi làm thuê.
- Không, chính anh là trong hàng ngũ chủ nhân. Anh tưởng không biết bao nhiêu thằng nó đang chửi anh đấy à? Từ một thằng móc cống ở đất Thụy Khuê, vậy mà bây giờ ung dung giữa Hà Nội đủ điện nước, một mình một phòng riêng, muốn làm gì thì làm.
- Tôi là người lao động lương thiện.
- Bao nhiêu người khác cũng lương thiện. Anh không được nói anh lương thiện. Nói như thế là kiêu căng. Người khác là cứt cả đấy chắc.
-...
- Anh hãy sống như mọi người, hãy lấy vợ đi.
Đấy là một cuộc đấu khẩu điển hình của tôi.
Tôi bị mắng một cách đích đáng nên đành câm họng không cãi lại được.
...
Tôi sẽ tìm ra cho mình một triết lý sống như thế nào bây giờ? Tôi không thể sống như mọi người khác. Bao bạn tôi sau khi bị hành đến bươu đầu sứt trán càng xoay ra phá phách. Biết cuộc đời, để mà làm mọi chuyện giống nó, cũng đủ thói xấu như chính nó. Tôi, so với họ, quá nhiều chất học trò, không thể liều lĩnh như vậy được. Tôi cứ chăm chỉ làm việc một cách hiền lành. Còn tương lai, còn cái mà mình sẽ có? Nó đen ngòm ra đấy còn gì. Tôi giãy giụa mà không thoát! Cảm thấy bị hoàn cảnh chi phối trên từng bước một.
12/5(tiếp)
Chiến tranh, -- lại chỉ có thể đổ cho chiến tranh, dù không hẳn là như thế. Tôi đi trên đường, những cái hố cá nhân tròn trặn vẫn đổ đầy rác, miệng vênh lên một tí trên mặt đường. Bao nhiêu đứa trẻ sẽ còn vấp trên miệng hố đó. Giá có ai làm cái việc là cưa cho nó bằng bặn mặt đường cũ, hẳn đỡ nhiều tai nạn. Nhưng lấy ai làm việc ấy, và bây giờ thì cũng chẳng ai nghĩ làm việc ấy.
“Tôi thấy bà phải bình tĩnh. Tập đứng bên bờ của những cái vô tận để mà bình tĩnh!” Một lần, nhân một chuyện gì đó khá nghiêm trọng, tôi đã nói với Xuân Quỳnh như vậy. Cái quay cuồng dục vọng của ona...không phải là chuyện riêng tư. Có thể không gắn gì với chiến tranh, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thấy nó là hôm nay. Hoàn cảnh đã làm cho mỗi người cuống quýt cả lên.
Hôm nay, từ nay về sau, với bản thân tôi, lúc nào bao giờ tôi cũng chỉ có cái thứ đó để nói với mình -- bình tĩnh.
Vì bình tĩnh bây giờ chính là dũng cảm. Tôi đang muốn viết về chiến tranh và người lính. Nói cho đúng – chứ không phải là văn hoa đâu --, có lẽ vẫn phải nói tới sự dũng cảm. Người lính phải dũng cảm lắm, một thứ dũng cảm bắt buộc, khốn nạn khốn khổ. Dũng cảm trong đánh nhau, mà cũng là dũng cảm trong những cách sống, bảo đảm sự sống, một thứ dũng cảm điềm đạm. Mà khốn khổ, mà cay đắng, ngay trong những dũng cảm ấy.
16/5
Hình như những gánh nặng hôm nay và tương lai sẽ không rơi vào một loại người mà chúng ta hết lời ca ngợi: người lính. Những người ở tiền phương trở về sẽ thanh thản vô hạn -- họ đã xong việc.
Còn chúng tôi, những người hôm nay ở hậu phương, chúng tôi nợ nần bao nhiêu người, cả người chết lẫn người sống. Chúng tôi là nạn nhân của chiến tranh. Chúng tôi không phải là những thương binh cụ thể, nhưng tận trong tâm lý lại dính chấn thương thật. Chúng tôi không trở thành anh hùng, chúng tôi chỉ là những người bình thường, và đó là một điều ai cũng cảm thấy mà ở chế độ này, người ta không nói-- làm anh hùng e dễ hơn làm những người bình thường.
18/5
Với tôi, điều quan trọng nhất mà tôi tự dặn trong những ngày này, đó là nhẫn nhục cắn răng chịu đựng, làm một người bình thường. Tôi đã thấy những người ở chiến trường trở về, như Nguyễn Khoa Điềm rối rít, vội vã. Tôi đã từng thấy chính mình bạn bè mình ở Hà Nội quay cuồng truy đuổi nhau, cốt hơn nhau một bánh xe đạp, một chỗ xếp hàng. Chúng ta đang bị nung nóng hết cả lên, người chảy hết cả ra. Chúng ta đầy những mưu đồ thấp hèn và ảo tưởng giả tạo. Khủng khiếp quá! Sao chúng ta không thể sống bình thường, tin cậy, như người các dân tộc khác trên thế giới. Không, trong cái hướng này, chúng ta càng vội vã, quay cuồng, hý hửng, nhăn nhở cười cợt với nhau, - chúng ta càng chết.
25/5
Gặp lại Thảo, như gặp một hình nhân; người bạn gái của tôi rất yếu, ốm, buồn rũ ra. Trong tiềm thức của tôi, đó là cái xác của tôi ngày hôm qua. Chúng tôi đều là những nạn nhân của chiến tranh.
Chiến tranh làm chúng tôi thay đổi. Chỉ từ chiến tranh, tôi mới hay ghê sợ những gì tinh tế, trong sáng, tốt nhưng buồn tẻ. Thảo là thế. Tôi đành chủ động lảng tránh, chỉ đứng với nhau mấy phút.
Tuy vậy, khi chia tay, tôi vẫn nói với Thảo những điều lâu nay tôi thường nghĩ, và cũng chỉ có một điều duy nhất: phải sống, quyết sống. Sống đơn độc, nhưng là sống mạnh mẽ và hiện đại.
31/5
Không được nghĩ nhiều tới quá khứ. Mà cách tốt nhất để quên quá khứ là bận bịu vào hiện tại. Hãy sống, sống mãnh liệt, cả quyết. Làm nhanh, viết nhanh, đi nhanh. Làm để không kịp hối hận nữa, vì lúc nào cũng có cái để hối hận tiếp, lúc nào cũng có cái để ngượng nghịu. Cẩn nhất là lúc nào cũng quay cuồng trong chuyển động, dù cái chuyển động đó không để làm gì cả.
Liệu tôi có làm thế được không? Liệu tôi có biết hết được những gì tôi có ở trong cuộc sống? Liệu tôi có làm được một ít việc, trong nửa cuối cuộc đời tẻ nhạt của mình?
Nhìn về những đồng nghiệp Sài Gòn, họ cũng sống nhênh nhang, cực nhọc. Cũng luôn luôn lo lắng kiếm tiền, xoay xoả để sống. Cũng luôn luôn hối hận, và tiếp tục hối hận nữa. Con người trong chiến tranh ở đâu cũng thế.
... Và thật là kỳ lạ, lúc này đây, cách tốt nhất để có thể tiếp tục làm việc được, không biết chừng lại là ngơi nghỉ, chơi bời, phóng túng. Hãy xông ra với mọi người. Hãy tẻ nhạt, suồng sã, vớ vẩn như mọi người. Hãy tự phá mình đi, trước nay chẳng phải tôi đã tự phá một phần, và những bước đi của tôi về sau sẽ là phải dựa hẳn vào đó, để phá tiếp. Trong mỗi người, cái cần phải tàn phá cũng đang vô tận.
LÀM NHÒE MÌNH ĐI NHƯ LÀ MỘT CÁCH TỰ VỆ
Ngày 12 tháng 6 năm 2023
--
Ngày 23 thg 5, 2023 báo Tuổi trẻ có đưa bài "Bảo Ninh: Không sống đời bộ đội tôi không có đời viết văn"
Ngày 11-6 bạn Đoàn Công Lê Huy có đưa lại đày đủ cùng một tập hợp những phản hồi rất hay về bài trả lời phỏng vấn nói trên.
--
19h 11-6 tôi đã có một đoạn còm mèn ngắn như sau trên trang DCLH
--
Tôi thì lại xem đây là một trường hợp nhà văn tự vẽ nhọ bôi hề, tự làm cho mình tầm thường đi. cốt sao người ta để cho mình được yên. Xem cái cách nhà văn phải tự giải thích mình khác đi so với con người thật mà mình từng trình diện trong tác phẩm -- do đó thỏa mãn được cái yêu cầu lớn nhất lúc này là tác phẩm được tiếp tục phổ biến ở trong nước đến cái mức xứng tầm của một tác phẩm quan trọng nhất trong văn học VN đương đại -- thì tôi thấy vui mừng vì võ công của nhà văn đã đến mức thượng thừa. Tuy nhiên vẫn có một chút buồn vì hiểu rằng cái ngày mà nhà văn có thể bộc bạch nỗi lòng và trình bày những suy nghĩ có thực về con người và tác phẩm của mình cho mọi người cùng nghe ngày ấy còn xa lăm lắm. Mà đó lại là yếu tố quan trọng bậc nhất để những kiệt tác cỡ như NBCT nay mai có thể ra đời.
--
Sáng nay 12-6 tôi xin bổ sung hai ý, tạm gọi là một cách giải thích về cách xử sự của nhà văn BN
1/Ở xã hội VN hôm nay mà bị ai chỉ đích danh là “văn chương chống đối” là “xét lại chiến tranh” là từng “gặp nhiều phiền phức với chính quyền” là “nhà vănVN đương đại nổi tiếng nhất trên thế giới” thì tức là toi đời rồi, người ấy sẽ bị thù ghét đến suốt đời, trước sau câu chuyện mất nghiệp lúc nào cũng ám ảnh. Ba chục năm nay BN đã hiểu điều ấy như thế nào và việc nhà văn này còn tồn tại như Nguyễn Huy Thiệp còn tồn tại đã là hai trường hợp đặc biệt hai ngoại lệ của lịch sử. Nên anh phải tìm cách tự vệ phải vẽ cho mình một bộ mặt khác đi, hợp thời hơn, phải nói dối.
2/Qua đây càng thấy, cũng như lịch sử nói chung, lịch sử văn học tám chục năm nay còn nhiều phần nằm trong bóng tối mà các bạn trẻ bốn năm chục tuổi trở xuống gần như không hiểu gì cả mà cũng chả có mấy ai cất công đi tìm lịch sử vì việc này tốn công lắm nguy hiểm lắm.
Xét ở phương diện này thì một bài như bài phỏng vấn BN ở báo TT lại là một việc cần làm một việc có ích.
-
Ghi chú
Tôi biết được có bài của ĐCLH là nhờ có anh Trần Đình Sử. Phải nhận rằng đây là một ví dụ cho thấy nhà giáo uyên bác của chúng ta lại rất nhạy bén trước thời sự văn học. Cám ơn anh Sử.
CAMPUCHIA: MỘT CUỘC SỐNG VỚI BỘ MẶT RẤT HIỀN HÒA
Ngày 13 tháng 6 năm 2023
----------
Tuổi già đêm mất ngủ tôi lướt qua Fb. Nhờ một bạn khác mách bảo tìm ra bài sau, thấy hoàn toàn tin và càng nghĩ càng buồn cho dân minh nước mình.
Đọc đi đọc lại không thấy chán nên đưa lại ở đây với hy vọng rằng bài viết có thêm người đọc.
***
Cambodia, và ấn tượng về một Việt Nam buồn.
Huynh Hoa Binh
10-6
Đi xe máy hơn trong 1.000km đường bộ ở Campuchia, không hề gặp một tai nạn xe máy, tai nạn giao thông nào.
Đi hơn 1.000 km đường bộ ở Campuchia không hề gặp một cái ổ gà, ổ voi nào.
Đi hơn 1.000 km đường bộ ở Campuchia không hề thấy cảnh dân bị cảnh sát giao thông chốt chặn bất ngờ thổi phạt nào.
Đi hơn 1.000km đường ở Campuchia không hề thấy một trạm thu phí nào.
Đi hơn 1.000 km ở Campuchia gần như không nghe tiếng còi xe nào.
Đi hơn 1.000 km đường bộ ở Campuchia thấy trường học được xây cực nhiều. Cứ chạy một đoạn không dài lắm là lại thấy xuất hiện một trường học khang trang với biển cảnh báo đi chậm lại.
Trạm xá, bệnh viện dọc theo hai bên đường chỉ thấy lác đác so với trường học.
Cổng chào và tượng đài ở Campuchia vừa đẹp, vừa đơn giản, vừa đậm chất dân tộc.
Cổng chào của họ không kỳ dị, lai căng, đạo nhái đủ kiểu như ở Việt Nam.
Tượng đài của họ nếu là con người thì đường nét rõ ràng, chân dung rõ ràng, không như kiểu đi đâu cũng thấy một cục đá, cục sắt gì đó vuông vuông được đẽo gọt nét ngang phè, nhét cho cây súng, cái nón cối, đi chỗ nào cũng na ná nhau.
Giao thông ở Phnuompenh dễ chịu hơn ở Sài Gòn nhiều. Đèn giao thông ở ngã tư của mở thành 4 lượt, mỗi nhánh đường một lượt (ở Việt Nam gần như chỉ mở 2 lượt đi cho 4 nhánh đường) nên ngã tư của họ xe cộ qua đường khá thoảng mái, không bị đan xen thành một nùi, lấn đường, chen xe tùm lum khi qua ngã tư.
Đi hơn 1.000 km đường ở Campuchia không hề thấy người bán vé số dạo, cũng gần như không thấy ấn xin. Dân Cam hiền lành, chất phác, bán hàng bình dân ít nói thách, chặt chém như ở Việt Nam.
Từ cửa khẩu Mộc Bài về Phnuompenh, đường sá tốt hơn từ cửa khẩu Mộc Bài về TP.HCM. Tại cửa khẩu, phía Campuchia phát triển sầm uất, casino, khách sạn, buôn bán tưng bừng, phố sá nhộn nhịp. Tại cửa khẩu, phía Việt Nam khá hoang vắng, đìu hiu. Mà dân Việt đổ qua cửa khẩu đánh bài, làm ăn quá sá. Sao không mở Casino phía Việt Nam luôn cho rồi, cấm người ta qua bên kia đốt tiền cũng vậy.
Chỉ trong vòng 10 năm, Campuchia từ một nước nghèo nàn, lạc hậu đã và đang phát triển vượt bậc, đang tăng tốc vượt qua Việt Nam.
* Ấn tượng Campuchia tốt đến mức nhận được gợi ý có muốn sang Campuchia làm trưởng đại diện cho một tạp chí thương mại bên đó trong vòng 10 năm với mức lương 1.500 USD tháng hay không. Nhưng mà đi làm sao được khi Pooh không thể đi học bên đó bằng tiếng Cam, dù thích lắm.
***
Ghi chú của VTN
Mẩu bài ngắn này lúc đầu có tên là
CHIẾN TRANH ĐÃ LÀM BIẾN DẠNG TẤT CẢ
CHÚNG TA HẾT ĐƯỜNG TRỞ VỀ
CUỘC SỐNG BÌNH THƯỜNG CON NGƯỜI BÌNH THƯỜNG
Đã nhiều bạn phê phán tôi là cái gì cũng đổ lỗi cho chiến tranh và bản thân tôi cũng thấy đáng lẽ phải thấy các nguyên nhân khác. Nhưng khi tuổi ngoại tám mươi, tôi tự thấy cái phần kinh nghiệm sống này của mình sâu đậm hơn cả, nên đành dừng lại ở một cái nhìn phiến diện vậy. Còn cái mơ ước về một cuộc sống HIỀN HÒA thì chắc chắn là một niềm tin tuyệt vọng nhưng sao mà khó từ bỏ đến thế.
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 6– 73 (đoạn 1)
Ngày 16 tháng 6 năm 2023
Trích từ cuốn sách
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
***
1/6
Hoa phượng. Hoa phượng đỏ, khắp thành phố ngoảnh về phía nào cũng thấy phượng. Phượng kết thành tấm thành mảng và dầy mãi lên như một niềm oan nghiệt.
Tại sao hoa phượng đỏ trong mùa hè lại làm cho lòng cảm động. Bởi mùa hè nồng nóng thế, mà sao vẫn đẻ ra một thứ hoa đẹp như thế? Cuộc đời càng buồn, thì trời đất càng đẹp, nó là hiện thân cái câu mà chúng ta vẫn nói -- cuộc sống chỉ có một lần.
Quên làm sao được hoa phượng trong những buổi chiều. Anh có biết không, khi ấy mặt trời đã tắt, mọi thứ như tối sầm lại, vậy mà phượng vẫn sáng bừng lên. Màu đỏ của phượng bây giờ như một cái gì ma quái -- Làm sao lại có một thứ màu sắc kỳ dị như vậy nhỉ? Phượng lấy sắc đỏ ở đâu ra? Hay phượng là cái phía bung ra bất cần của cuộc đời, phượng là một cái gì rất nghệ sĩ -- tôi nghĩ vậy.
Sao năm nào, trời đất cũng đẹp, và hình như càng trưởng thành, thì người ta càng thấy trời đất đẹp hơn.
Không phải tôi không yêu thiên nhiên. Tôi chỉ sợ thiên nhiên đánh thức trong tôi những khao khát sống. Thà cứ bắt tôi đứng giữa cuộc đời bình thường, những người đàn bà tham lam, những người đàn ông hèn hạ, những bông hoa tả tơi nhàu nát tôi lại còn thấy dễ chịu – khi ấy tôi cảm thấy cuộc sống là vừa phải. Đằng này lại là cái thiên nhiên của hoa phượng chói chang.
2/6
Nói với Đoàn Công Tính:
Con người hiện đại khác con người trước kia có lẽ là ở chỗ nó uyển chuyển hơn. Nó biết đầu hàng. Nó biết chịu đựng. Nó không xa lánh mọi chuyện. Nó nhập cuộc, dù thấy đời nhầy nhụa nhớp nháp cũng nhập cuộc. Và sau tất cả những cay đắng ấy, nó vẫn tìm cách thể hiện mình.
Người nghệ sĩ mới tham gia vào những vấn đề chính trị rồi lại đứng tách ra để mà phán xét.
Trong lời giới thiệu những nhân vật trẻ ở Nga như A.Voznesenski, E. Evtouchenko... bao giờ cũng thấy người ta nói tới hai mặt ở họ: cái hay và cái dở, cái thật và cái giả, ánh sáng và bùn lầy!
Chúng tôi khổ vì chúng tôi là những thanh niên, tức những người ở vào cái thời gian tập làm chủ mình. Nếu chúng tôi đã lớn tuổi, đã yên bề vào một vị trí nào đó, thì chúng tôi sẽ cam chịu.
Đằng này không phải thế. Chúng tôi ở vào cái tuổi tự do. Nhưng ai dám bảo đã có đủ điều kiện để người ta sử dụng cái quyền đó một cách tốt nhất.
Nói với Trần Đức Kiểm:
Những người lính bây giờ mang nhiều thói xấu mà cuộc sống chiến tranh cố kết lại trong họ. Họ đã mất đi khả năng tự nhận thức. Thành thử nếu chỉ đi với lính, anh không sao hiểu được họ.
Người ta chỉ có thể hiểu được người lính, khi đặt họ trong thế đối lập với hậu phương. Hậu phương sẽ làm nổi họ lên. Hậu phương là cội nguồn của mọi biến động thời chiến.
Một cái vé đi xem biểu diễn ca nhạc, một bữa ăn đủ chất?
Không, những đòi hỏi bình thường thế, trong thời chiến là quá cao, chúng tôi đâu dám đòi hỏi, và bây giờ vẫn không dám. Bây giờ chúng tôi không có nhà mà ở, không có đường mà đi. Nhìn vào lòng đường các nước khác xem. Tất cả ngăn nắp trật tự, mọi người có chỗ của mình. Lòng đường của chúng tôi bây giờ bụi bậm bẩn thỉu, người đi chen chúc, người nào cũng cố vượt lên trước. Đường là hình ảnh của xã hội.
Nghiêm Đa Văn kể ông Phạm Văn Đồng bảo ở Việt Nam bây giờ, không ai làm việc của mình cả. Người ta bắt thầy giáo và học trò làm đủ mọi việc, trừ việc dạy và học.
Nhận xét của kiều bào ở nước ngoài về: Ở miền Bắc làm việc tốt cũng như việc xấu. Làm cũng như không làm.
8/6
Tôi vừa kính phục những người khắc khoải và bất mãn, vừa ghê sợ. Bởi trái tim chịu được dày vò, đó là một trái tim phải lớn lắm, phải khỏe lắm. Tôi không có một trái tim như thế.
Níetzsche hay nói tới các siêu nhân nghĩa là những kẻ vượt lên con người thông thường. Shakespeare chẳng hạn.
Trong nhà viết kịch người Anh, người ta bắt gặp bao nhiêu cuộc đời bao nhiêu số phận. Ông là tổng số của những kẻ đó.
Những người bình thường đơn giản hơn nhiều.
Song đó là chuyện của các thế kỷ trước.
Nay là lúc ở con người bình thường cũng có không biết bao nhiêu chuyện. Bao nhiêu vấn đề được đặt ra. Thành thử lại có thể nói không có con người nào là bình thường. Con người nào cũng đặc biệt, rất đặc biệt.
Nói theo thuật ngữ văn học, tôi ngỡ phân tích cho kỹ lưỡng, con người bình thường nào cũng là con người điển hình, cũng mang những đặc điểm của giới anh ta, xã hội mà anh ta sống.
Như là một cá nhân, tôi quằn quại xem có thể làm thế nào, để tìm đường cho mình, thấy những lẽ phải của mình, để mình có thể yên tâm. Hầu như chả ai có thể giúp được tôi, tôi kinh sợ.
Hình như ở một quyển sách nào đó, có nói đến khái niệm Tôi, bây giờ...
Một câu thơ nào đó, bắt đầu bằng mấy chữ: Tôi, bây giờ... Chỉ có thế mà thỉnh thoảng nghĩ lại, cứ giật mình. Đó là một cảm giác thường trực phải có. Tôi, bây giờ, cảm giác của thay đổi, cảm giác của một người từng trải, đã có những ê chề.
Anh đến xin việc một nơi, một người chủ Pháp sẽ hỏi: Anh có bằng cấp gì?
Một người chủ Đức: Anh biết những gì?
Một người chủ Mỹ: Anh có những kinh nghiệm gì?
...
Và ở Việt Nam hôm nay, những người phụ trách, những người mách mối hỏi: Anh có quen ai ở đấy không? Anh có phải là đảng viên không?
==
BẢO NINH KỂ VỀ VIỆC ĐỐI MẶT VỚI CHẤN THƯƠNG TÂM LÝ Ở VIỆT NAM
Ngày 20 tháng 6 năm 2023
- Cù Tuấn dịch bài phỏng vấn của Washington Post.
--
Bảo Ninh được quốc tế biết đến vào năm 1991 với việc phát hành tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”. Cuốn sách đã bị cấm ở quê hương của ông trong 15 năm do những mô tả gai góc, thường là tàn bạo của Chiến tranh Việt Nam - được biết đến ở Việt Nam với tên gọi kháng chiến chống Mỹ.
Ninh phục vụ trong Quân đội Bắc Việt trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc chiến. “Nỗi buồn chiến tranh” là tác phẩm duy nhất của ông được xuất bản bằng tiếng Anh trong hơn 30 năm; cho đến tập truyện ngắn “Hà Nội lúc 0 giờ,” do Texas Tech University Press phát hành đầu năm nay.
“Hà Nội lúc 0 giờ” là một tác phẩm đánh giá lại mang tính tự sự về cuộc chiến và tác động của chiến tranh đối với những người mà đã bị mắc kẹt trong cuộc chiến. Gồm 10 câu chuyện được viết trong 40 năm qua, cuốn sách khám phá một Việt Nam bị chiến tranh tàn phá về môi trường, vật chất và tâm lý.
Câu hỏi ngụ ý xuyên suốt: Làm thế nào để một người tiếp tục sống sau khi đã phải trải qua sự khủng khiếp của chiến tranh? Đó là một vấn đề vượt ra ngoài chiến tranh và câu hỏi đó có thể được bất kỳ ai từng trải qua tổn thương hoặc mất mát sâu sắc, ghi nhận.
Thường xuyên tránh ánh đèn sân khấu, Ninh đã đồng ý phỏng vấn này qua email. Câu trả lời của ông, được các biên tập viên Hà Mạnh Quân và Cab Trần của “Hà Nội lúc 0 giờ” dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, đã được chỉnh sửa để làm rõ ý.
***
ĐOẠN 1
* Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, ông đã viết về sự cần thiết phải hoàn thành nghĩa vụ của mình với tư cách là một nhà văn. Nhiệm vụ đó là gì?
--
Thời phổ thông, rồi những năm đi lính (1969 đến 1976), tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc trở thành nhà văn. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1975, tôi đã dành một năm để thu nhặt và chôn cất xác liệt sĩ ở miền Nam. Bên cạnh xác chết của những người lính [Quân đội Bắc Việt], nhóm của tôi cũng chôn xác những người lính và thường dân [Nam Việt Nam].
Nhiệm vụ của tôi chỉ kéo dài một năm, nhưng nó cho tôi cảm nhận về mức độ khốc liệt của chiến tranh, sự tàn phá mà nó để lại, đối với tôi dường như còn phi nhân tính hơn nhiều so với sáu năm tôi ở chiến trường với tư cách là một người lính.
Tôi xuất ngũ năm 1976, và từ năm 1979 đến năm 1986 tôi làm lụng vất vả để nuôi sống bản thân và gia đình. Cha tôi là giáo sư Việt ngữ học. Năm 1986, tôi nghe theo lời khuyên của cha, nộp hồ sơ vào Trường viết văn Nguyễn Du và học với hai tác giả có tư tưởng tiến bộ là Nguyên Ngọc và Hoàng Ngọc Hiến. Tôi bắt đầu viết văn từ năm 1987, lúc 35 tuổi, vào thời điểm Việt Nam không còn chiến tranh. Người Pháp đã rời khỏi đây vào năm 1954, sau đó là người Mỹ năm 1975. Chúng ta cũng không nên quên cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc từ năm 1979 đến 1990.
Tôi nhận ra rằng nếu tôi không tham gia chiến tranh và không là một người lính, tôi sẽ chọn một con đường khác và không trở thành một nhà văn. Đó là lý do tại sao kể từ khi tôi bắt đầu viết, tôi luôn viết về nỗi đau khổ của người Việt Nam và cách họ sống trong chiến tranh.
Nhưng tôi cũng viết về chiến tranh để chống lại chiến tranh; viết về chiến tranh là viết về hòa bình - về hòa giải, tình yêu, niềm vui, sự tha thứ và những ý tưởng nhân văn khác.
ĐOẠN 2
* Ông đã viết về mối quan tâm của ông đối với tương lai của thế hệ tiếp theo. Theo ông mọi thứ đã diễn ra như thế nào đối với thế hệ trẻ Việt Nam?
--
Thế hệ của tôi và những người đã chiến đấu trong cuộc chiến đã trở thành một phần của lịch sử. Thế hệ ngày nay, hầu hết ở độ tuổi đôi mươi, cảm thấy đã tách rời khỏi những cuộc chiến tranh đẫm máu của thế kỷ trước. Việc họ có sống cuộc sống viên mãn hay không phụ thuộc vào việc họ có thể từ bỏ lối suy nghĩ của thế hệ của tôi hay không; thế hệ của của tôi thường cố gắng áp đặt thế giới quan của chúng tôi lên thế hệ trẻ.
Giống như tất cả các thế hệ trẻ trên khắp thế giới của chúng tôi, những người Việt Nam sinh ra sau chiến tranh — đặc biệt là sau năm 2000 — hoàn toàn khác với thế hệ của tôi. Văn học của họ và cách họ thể hiện bản thân thông qua nghệ thuật của họ khác với cách thể hiện của thế hệ tôi. Không ai có thể đe dọa họ, bảo họ phải làm gì hoặc bảo họ phải hành động như thế nào. Họ trải nghiệm thế giới và sống cuộc sống của họ theo cách riêng của họ, và khi họ viết về nó - về những nhận thức và trải nghiệm này - họ làm như vậy mà không bị bất kỳ một hệ tư tưởng quy định nào áp đặt.
ĐOẠN 3
* Giới văn nghệ sĩ Việt Nam đã bày tỏ sự bức xúc với chế độ kiểm duyệt ở Việt Nam. Ông có nghĩ rằng có sự thiếu tự do ngôn luận?
--
Vào nửa sau thế kỷ 20, Việt Nam là tâm điểm của Chiến tranh Lạnh. Chính trị của Việt Nam được hệ tư tưởng cộng sản chi phối, và quốc gia này được phân loại là một quốc gia xã hội chủ nghĩa. Trong quá khứ, văn học được biến thành vũ khí để chống Pháp và sau đó là chống Mỹ. Văn học cũng là một vũ khí tư tưởng được sử dụng để chống lại các học thuyết tư bản, và là một phương tiện để thúc đẩy lý tưởng cộng sản. Vì vậy, bất kỳ tác phẩm văn học nào đi chệch khỏi chương trình nghị sự đó đều bị kiểm duyệt.
Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Việt Nam khởi xướng chính sách Đổi mới vào năm 1986, mở cửa với các nước ngoài khối cộng sản. Văn học và các nhà văn Việt Nam từ đó được trao nhiều quyền tự do hơn.
ĐOẠN 4
* Trong câu chuyện đầu tiên trong “Hà Nội lúc 0 giờ,” ông đã mô tả tác động của chất độc hóa học da cam. Ông muốn người đọc biết gì về nó?
--
Chất dioxin mà người Mỹ sử dụng trong chiến tranh đã - và vẫn là - một vũ khí diệt chủng. Nhiều người Việt Nam thuộc các thế hệ sau chiến tranh đã bị nó ảnh hưởng nặng nề và bị nó giết hại.
Kể từ khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1995, Mỹ đã cố gắng giúp Việt Nam giảm thiểu các tác động tàn phá, nhưng phải mất vài năm nữa mới đạt được. Mặc dù chúng ta trong thế kỷ 21 đã cố gắng bảo vệ các hệ thống sinh thái trong môi trường của mình, nhưng khoản đầu tư của chúng ta vào việc này là rất nhỏ so với những gì chúng ta đã đầu tư vào chiến tranh. Đối với tôi, đây là đặc điểm tự mâu thuẫn và ghê tởm nhất, vô nhân đạo và ngớ ngẩn nhất của loài người chúng ta.
ĐOẠN 5
* Tại sao người dân Việt Nam rất thân thiện và chào đón người Mỹ, kể cả những người lính đã tham chiến?
--
Tháng 11 năm 2000, tôi thấy Tổng thống Bill Clinton và phu nhân đi dạo ở Hà Nội, và họ được hàng ngàn người Việt Nam trên đường phố chào đón nồng nhiệt. Tương tự, năm 2018, Tổng thống Obama và phu nhân được người Việt ở Sài Gòn chào đón nồng nhiệt.
Từ khi ra đời cách đây hơn 2.000 năm cho đến những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, Việt Nam đã không ngừng tự bảo vệ mình trước sự xâm lăng của ngoại bang. Tất cả các quốc gia xâm lược này đều vượt trội về quân sự so với người Việt Nam. Nhưng mỗi lần bị xâm lăng, đất nước này lại phải hứng chịu những hậu quả thảm khốc: đất đai bị biến thành tro tàn và cái chết rình rập khắp nơi. Sau mỗi cuộc xâm lược, người dân Việt Nam, để tồn tại, không chỉ phải làm việc cật lực để xây dựng lại nhà cửa và cộng đồng, mà còn phải đương đầu với những cơn ác mộng và những chấn thương tâm lý tái phát do chiến tranh mang lại. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải học cách nhanh chóng “gác lại quá khứ”. Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi cần làm hòa với những kẻ thù cũ của mình và không có ác cảm với họ, bởi vì ác cảm như vậy có thể có hại.
ĐOẠN 6
* Ông cảm nhận thế nào về người Mỹ?
--
Năm 1998 và 2005, tôi được một nhóm nhà văn, nhà thơ Mỹ là cựu chiến binh Việt Nam mời sang thăm Mỹ. Họ đưa tôi đến các tiểu bang khác nhau, nơi tôi gặp một số người Mỹ và gia đình của các cựu chiến binh Mỹ. Tương tự như vậy, nhiều nhà văn, nhà báo, khách du lịch và cựu chiến binh Mỹ đã đến thăm tôi tại Hà Nội. Giống như những người Việt Nam khác, tôi đã phát triển mối quan hệ thân thiết thực sự với người Mỹ. Khi tiếp xúc với họ, tôi có cảm giác rằng hầu hết người Mỹ cũng giống như người Việt Nam bình thường: chân thành, thân thiện, hào phóng; không khoe khoang hay kiêu ngạo. Tôi vui mừng khi quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam đang được cải thiện hàng ngày và hai nước luôn tôn trọng lẫn nhau.
Một mặt, tôi rất vui khi thấy sự tôn trọng lẫn nhau này. Nhưng mặt khác, khi gợi lại quá khứ, lòng tôi vẫn đau đáu những nỗi buồn - và niềm vui tôi cảm nhận được không xóa nổi nỗi buồn do chiến tranh gây ra hơn nửa thế kỷ trước.
ĐOẠN 7
* Ông có hy vọng gì cho tương lai của Việt Nam?
--
Hòa bình mãi mãi. Chiến tranh và những đau khổ của chiến tranh phải kết thúc.
TẦM VÓC QUỐC TẾ CỦA TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”
Ngày 21 tháng 6 năm 2023
Đây nguyên là bài “Tại sao tiểu thuyết 'Nỗi buồn chiến tranh' được quốc tế quan tâm?” của • Minh Châu đưa lên mạng ZING NEWS ngày 17/7/2019
Nguồn
https://zingnews.vn/tai-sao-tieu-thuyet-noi-buon-chien...
-------------
Chiều ngày 15/7/2019, khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức thuyết trình khoa học “Ảnh hưởng quốc tế của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh”.
Trước sự chứng kiến của vị khách mời đặc biệt là nhà văn Bảo Ninh - cha đẻ tiểu thuyết - và các giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên của khoa Văn học, diễn giả Giáo sư, Tiến sĩ Laichen Sun đã dành gần hai giờ đồng hồ để nói về ảnh hưởng quốc tế của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Ông nêu lý do tại sao cuốn tiểu thuyết này lại được cộng đồng quốc tế quan tâm.
TS Laichen Sun giảng dạy ở Đại học bang California tại Fullerton, Mỹ, Tổng biên tập Tạp chí Chuỗi dịch thuật nước ngoài ở Đông Nam Á, thành viên Hội đồng quản trị Hiệp hội Châu Á về lịch sử thế giới.
Mở đầu phần thuyết trình, Laichen Sun đã trích dẫn một số nhận định về cuốn tiểu thuyết này:
“Ở Việt Nam từ khi xuất bản Nỗi buồn chiến tranh, mọi người không còn mô tả chiến tranh như trước đây nữa”, ông Phạm Xuân Nguyên - cựu Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội nói.
“Trước khi đến Việt Nam, tìm hiểu về Việt Nam, bạn hãy đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh”, Nhà xuất bản Lonely Planet chuyên xuất bản sách hướng dẫn Du lịch có trụ sở ở Melbourne, Australia khuyến nghị.
“Tất cả các trường học trên thế giới nên đọc cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh”, nhà văn người Anh và đạo diễn từng đoạt giải thưởng Charlie Raman nói.
“Tiểu thuyết vượt lên thời gian và không gian và có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ”, Kang Young Ha, một nhà văn nổi tiếng của Hàn Quốc nhận xét.
Laichen Sun cho biết ông đã dành nhiều công sức và thời gian để tìm hiểu tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh khi nhận lời viết lời giới thiệu cuốn tiểu thuyết dịch xuất bản ở Trung Quốc.
Sau khi đọc tác phẩm, ông đã viết lời giới thiệu 97 trang (khoảng 70.000 chữ tiếng Trung). Riêng phần tóm tắt đã là 6.000 chữ.
Laichen Sun cũng cho biết có hàng trăm công trình trên thế giới nghiên cứu cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Đây là tác phẩm lớn đáng để tìm hiểu, không chỉ bởi vai trò của nó trong thúc đẩy hòa bình ở châu Á mà nó còn giúp chúng ta hiểu được giá trị của hòa bình và căm ghét chiến tranh.
Nhiều vấn đề liên quan đến cuốn tiểu thuyết được Laichen Sun tìm hiểu rất cặn kẽ, ông còn lập các phụ lục với hàng loạt số liệu thống kê về các công trình trích dẫn cuốn tiểu thuyết, các bài phỏng vấn nhà văn Bảo Ninh, những trường đại học, trung học sử dụng tiểu thuyết, các thứ tiếng dịch tác phẩm…
Ông cho biết cuốn tiểu thuyết dịch ra 15 thứ tiếng, 18 phiên bản (mỗi thứ tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Trung có hai phiên bản), tiếng Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Pháp, Đức, Ba Tư, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Thái Lan. Phần lớn các bản dịch là chuyển ngữ lại từ bản tiếng Anh, cho dù chưa thực sự chính xác nhưng nó vẫn chiếm được sự quan tâm lớn lao của quốc tế.
"Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh góp phần làm cho Việt Nam nổi tiếng. Đây là cuốn tiểu thuyết tiếng Việt được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất thế giới, tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của Việt Nam từ trước tới giờ. Một trong những tác phẩm văn học lớn nhất trên thế giới. Một tác phẩm về chiến tranh nổi tiếng nhất thế kỷ XX", GS Laichen Sun dành nhiều lời ca ngợi.
Cuốn tiểu thuyết còn vượt qua khỏi lãnh địa văn chương sang các lĩnh vực khác như tâm thần học, tâm lý học, giới sử học và các khoa học khác cũng rất quan tâm.
Tác phẩm này còn được giảng dạy rộng rãi trong các đại học ở Mỹ và một số nước, được xếp cùng nhiều tác phẩm danh giá khác và có vị trí trang trọng trong không gian trường học Mỹ. Không những thế tiểu thuyết còn ảnh hưởng đến không ít các học giả và là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn quốc tế.
Laichen Sun cho biết sau khi đọc Nỗi buồn chiến tranh ông rất xúc động và tác phẩm này đã làm thay đổi cách dạy lịch sử của ông. Trong hơn 10 năm dạy học, trong các tiết học, ông luôn yêu cầu sinh viên đọc tác phẩm này để hiểu hơn về lịch sử Việt Nam, về sự tàn phá của chiến tranh, sự khủng khiếp của chiến tranh, căm ghét chiến tranh và nuôi dưỡng tình yêu hòa bình.
Nhà văn Bảo Ninh cho biết nhờ bài thuyết trình của Giáo sư Laichen Sun mà ông biết tiểu thuyết của mình được sự quan tâm của quốc tế. Nhưng ông cũng băn khoăn khi thực trạng của văn học Việt Nam trầm lắng. Bởi nhiều tác phẩm chưa được dịch sang các ngôn ngữ khác. Ông đề nghị giáo sư với uy tín của mình nên quảng bá, giới thiệu nhiều tác phẩm văn học của Việt Nam ra quốc tế.
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất bản lần đầu vào năm 1990 với tiêu đề do các biên tập viên xuất bản lựa chọn: Thân phận của tình yêu. Một năm sau đó cuốn sách đầu tay này của nhà văn Bảo Ninh được tái bản với tiêu đề của chính tác giả: Nỗi buồn chiến tranh.
Sự ra đời của cuốn tiểu thuyết đặt dấu mốc quan trọng, mở ra một lối viết khác, cách nhìn khác về chiến tranh. Nếu như trước đây, chiến tranh thường được tái hiện từ cái nhìn của cộng đồng, con người thường được khai thác từ phương diện xã hội, được nhìn từ góc độ của cái đẹp, cái anh hùng, và kết cấu tiểu thuyết thường được xây dựng theo chiều tuyến tính, thì đến Nỗi buồn chiến tranh, người ta bắt gặp một lối viết hoàn toàn mới: Cá nhân hoá hư cấu, xây dựng nhân vật trên phương diện tâm lý cá nhân, tái hiện cuộc chiến từ góc độ chủ yếu là bi kịch, với kết cấu tiểu thuyết theo mô hình dòng ý thức, tiểu thuyết ở bên trong tiểu thuyết.
Sự đổi mới trong cả cách nhìn và lối viết ấy khiến cho chiến tranh và con người bước ra từ cuộc chiến hiện lên với tính hiện thực, phức tạp, đa chiều, nhiều ám ảnh. Đó là một tiểu thuyết giúp con người bước vào hành trình đi tìm chân lý: Chiến tranh là nỗi buồn, là điều khủng khiếp, nhưng chính sự sẻ chia nỗi buồn ấy là gia tài quý báu mang lại sức mạnh vĩ đại để những người lính vượt qua nó, và hoà bình chính là điều quý giá nhất của nhân loại.
Tiểu thuyết này cũng kiến tạo một hành trình đi tìm một lối viết mới về chiến tranh và khơi nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm sau này.
NHỮNG LẦN TRONG ĐỜI DẠO PHỐ CÙNG CHA
Ngày 24 tháng 6 năm 2023
Nhà văn Bảo Ninh về cha mình là GS Hoàng Tuệ (1922-1999), nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học
Đọc bài này để hiểu thêm lý do tác giả "Nỗi buồn chiến tranh" cầm bút viết văn.
*
Nguồn-mạng Dân Việt 16/06/2019
----------
Nghĩ mà buồn, càng ngẫm càng hối tiếc. Tôi hoàn toàn chẳng có được lấy một tấm ảnh nào chụp riêng tôi với ba tôi. Hồi nhỏ đang vỡ lòng cấp một thì có, nhưng là ảnh chụp chung nhiều người, và hồi ấy là hồi hòa bình những năm trước 1964. Nhưng rồi sau đấy là chiến tranh, gian khổ, xa cách, ly biệt, đến khi qua xong được chiến tranh thì lại đẵng đẵng thời bao cấp. Máy ảnh là thứ khó lòng mà có nổi trong hầu hết các gia đình bình dân, giáo viên, giảng viên như song thân tôi.
Nhớ lại những năm tháng đấy, tôi phục và thương ba mẹ tôi vô cùng. Hồi đó mặc dù không ai là không phải chịu gian khổ, song người lớn tuổi vẫn cực gấp nhiều lần so với người còn trẻ. Như tôi thì khi xưa đang trong thực cảnh cuộc sống thời bao cấp chẳng thấy cực gì mấy. Mọi người thế nào mình thế nấy, chung hòa vào nhau nên đâu có biết rằng mình cực. Vả lại lúc rời tay súng, ra khỏi cuộc chiến, bắt đầu vào đời sống hòa bình, tôi còn trẻ, mới 24.
Còn ba tôi, khi cũng tuổi 24 ấy, đã rời bỏ nếp sống và mức sống dù gì cũng khá là êm ấm của một thanh niên trí thức con nhà để cầm vũ khí dấn mình vào thời đại bão tố đầy khốc liệt và gian khổ từ ngay ngày đầu Toàn quốc Kháng chiến; rồi là liên tiếp hai cuộc trường chinh mười ngàn ngày Chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ; vừa hòa bình 1975 chưa được bao lâu lại phải chịu gánh nặng của đời sống nhọc nhằn thời bao cấp chồng chất lên thêm với hai cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới; đến được Đổi Mới thì ba tôi đã già, sức khỏe đã suy, sức chịu đựng vơi cạn, mà vẫn đang phải sống kham khổ, túng thiếu đủ bề, con cái lại cũng nghèo chẳng đỡ đần được gì cho cha mẹ.
Nhưng mà cực nhất, thấm thía nhất đối với người già, là nỗi buồn trước thời cuộc và sự đời, rồi nữa là niềm cô đơn, sự trống trải. Những người đồng chí, đồng đội, cùng thời, cùng thế hệ, cùng tâm tư và tầm văn hóa lần lượt khuất núi, càng năm ba tôi càng bị mất dần đi, thưa vắng dần những bằng hữu thâm giao tâm đầu ý hợp.
Có thể một phần là bởi vì thế mà từ khi đã trưởng thành, bắt đầu đời bộ đội, nhất là từ giải ngũ trở về sau chiến tranh, tôi gần được với ba tôi hơn hẳn ngày còn đi học. Ba tôi để tâm trò chuyện kỹ hơn và nhiều hơn với tôi, một cách bình đẳng, chân tình, đàn ông người lớn với nhau. Và thường là ông lựa những lúc chỉ có hai cha con.
Tuy nhiên những lúc như vậy không nhiều. Chỉ thỉnh thoảng, vào những buổi chiều, đôi khi ba tôi bảo tôi đi dạo cùng ông. Mà thực ra cả trong những lần đi dạo như thế hai cha con cũng không nói chuyện gì mấy. Ba tôi trầm lặng, rất đỗi kiệm lời. Tôi thì lúng túng lụng vụng, không biết cách diễn đạt gãy gọn ý nghĩ, nên sự nói năng luôn miễn cưỡng. Hai cha con đi bộ từ nhà, có hôm quanh Quảng trường Ba Đình và Lăng Bác, có hôm dạo gần khắp các phố cổ, rồi mới về, mà ba tôi trao đổi với tôi chỉ dăm câu chục lời, có hôm chẳng lời nào.
Vậy nhưng, tôi ghi nhớ mãi và ơn sâu mãi trong lòng những lần bách bộ lặng lẽ hầu như không lời ấy.
* * *
Buổi chiều ấy, ngay trước ngày nhập ngũ, giã từ thời tuổi trẻ học trò, giã từ thành phố thân yêu ruột thịt của mình, tôi đi bộ với ba tôi ra Hồ Gươm. Bấy giờ, mới hơn một tuần sau ngày Bác Hồ mất, Hà Nội vẫn đang ngấm sâu trong đau buồn, phố xá thầm lặng, dưới mưa.
Lúc trở về, đã gần tối, hai cha con rẽ vào một quán cà phê “chui” ở ngõ Cấm Chỉ. Quán ẩn trên áp mái. Một khoang gác ọp ẹp. Dăm bộ bàn ghế thấp tịt. Khách khứa lặng lờ như những cái bóng, không ai nhìn rõ ai. Bàn của hai cha con tôi kê kề một ô cửa sổ hẹp không có khung gỗ, giống như một lỗ thủng. Trông ra thấy sàn sàn nhấp nhô một vùng ướt át những mái nhà phố cũ và những sân thượng, sân sau, những căn gác lửng.
Đấy là lần đầu tiên tôi vào một quán cà phê và cũng là lần đầu thưởng thức cà phê một cách đúng điệu đàn ông. Không trộn một tý ty nào bột ngô bột cám, cà phê thật sự cà phê, pha phin, đậm đặc, nhỏ từng giọt, đường thật ít. Và thuốc lá. Mọi khi đừng nói bia bọt với cà phê, nước trà ba tôi cũng nghiêm khắc cấm tiệt tôi. Vậy mà bữa ấy cả thuốc lá ông cũng cho phép. Bóc một gói Tam Đảo bao bạc, ông đưa mời tôi, như mời một người bạn. Bởi vì rằng ngày mai tôi đã là anh bộ đội nên với ba tôi kể từ đây tôi là người lớn thực thụ, còn hơn thế, là người mà ông có thể chia sẻ tâm sự.
Hàng ngày bận bịu công việc nghiên cứu và giảng dạy, ba tôi ít khi dành riêng thì giờ cho tôi, con trai thứ của ông. Sự học hành của tôi, điểm số, thi cử, sổ liên lạc, họp phụ huynh v.v... hầu hết mẹ tôi lo. Thành thử từ hôm tôi nhận giấy gọi nhập ngũ, ba tôi như muốn bù đắp lại sự xa cách ấy. Trong những ngày tôi còn ở nhà, ngoài cùng tôi đi chào từ biệt suốt lượt họ hàng nội ngoại, ba tôi đưa tôi đến thăm những người bạn cùng trung đoàn với ông thời kháng Pháp, để nghe các bác kể về đời bộ đội, về cuộc sống trong quân ngũ, và về những kinh nghiệm, những bài học đáng nhớ có được từ chiến trận...
Và, nghĩ cũng buồn cười, không tính rằng tôi sẽ có ba tháng tân binh luyện quân ở thao trường ngoài Bắc, ba tôi đã lo xa, bày dạy cho tôi cách mắc võng, cách gấp chăn màn quần áo sao cho gọn ghẽ vuông vức kiểu nhà binh, cả cách nhóm lửa trong mưa, cách nấu cơm trong hăng gô. Ông tìm cho tôi cuốn “Sổ tay rau rừng” của bác Từ Giấy, để làm cẩm nang trên đường trường hành quân. Có lẽ, bởi vì ngẫm từ bản thân mình, ba tôi thấy trước những khó khăn vướng vấp mà hầu hết những ai như tôi, là học sinh thành thị, non nớt và vụng về, có thể sẽ gặp phải trên chặng đầu tiên đời bộ đội.
Thế nhưng buổi chiều tối ấy, khi cha con ngồi bên nhau có thể là lần cuối cùng, ba tôi lại hầu như chẳng lời nào bàn tới cuộc chiến đang đợi tôi. Nhâm nhi tách cà phê thứ nhất rồi thứ nhì, hết điếu thuốc này nối điếu thuốc khác, ba tôi trầm tư, lúc nói lúc ngừng lặng, trở về với thời tuổi trẻ của ông ở Huế, học trường Quốc học, tham gia Cách mạng, nổ súng đánh Tây.
Ông kể về ngôi nhà và khu vườn của ông bà nội tôi ở đường Hộ Thành bên hồ Tịnh Tâm gần Đại Nội, mà vào cuối năm 1946 các cụ đã phải rời bỏ, tản cư chạy giặc. Ba tôi nói về nỗi đau lòng của bà tôi, nước mắt của bà hồi năm 1956 hay tin Mỹ Diệm phá hoại Tổng tuyển cử, đất nước có thể mãi mãi bị chia cắt, bà tôi có thể mãi mãi không về lại được Huế... Những câu chuyện ấy miên man lùi về một thời xa lắc, một nơi xa lắc, mà khi đó tôi cho là chẳng liên quan tới cái sự ngày mai tôi ra trận.
Nhưng trí nhớ thật kỳ lạ. Ngay khi đấy, thú thực, tôi nghĩ đâu đâu, không thật sự chú tâm nghe ba tôi nói. Vậy mà về sau, dọc Trường Sơn, trong Tây Nguyên, những khi tăng võng rừng khuya tỉnh giấc nhớ Hà Nội, và cả tới tận bây giờ nữa, hễ cứ khi nửa đêm thao thức nhớ đến cha, là tôi lại nghe thấy rõ mồn một gần như từng lời của ông ngày đó, buổi chiều tối ấy, trong cái quán cà phê ấy.
* * *
Sau chiến tranh, giải ngũ, tôi trở về nhà vào một ngày cận tết Bính Thìn, 1976.
Vì thuộc diện ra Bắc sớm nhất đơn vị nên tôi mang theo trong ba lô rất nhiều thư của các đồng đội quê Hà Nội. Vui nhất đối với tôi trong mấy ngày trước Tết là đi đưa những lá thư ấy, mang trực tiếp đến cho gia đình các bạn tôi niềm hạnh phúc vô bờ. Hơn hai chục lá thư, hơn hai chục địa chỉ, khắp trong thành phố, mà đều là do ba tôi lọc cọc chở tôi đi. Ông nhất định không để tôi đạp xe đạp tự đi lấy một mình. Hồi đó, Hà Nội đâu có kìn kìn ô tô xe máy như ngày nay. Nhưng ba tôi sợ ngộ nhỡ.
Đưa thư tới các gia đình bộ đội cũng là đi dạo phố. Ba đưa tôi đi may đo hai bộ đồ dân thường tại hiệu may Hàng Gai, thửa đôi giày da ở một tiệm giày khuất sâu trong ngõ Phất Lộc, rồi đi ăn phở. Tiệm phở nhà họ Cồ phố Hàng Đồng. Và uống cà phê, ở Ngõ Gạch chứ không phải Cấm Chỉ, song cũng là cà phê “chui” và cũng ẩn trên gác xép, y chang cái quán ngày nào. Hai cha con cũng gọi hai tách cà phê phin, cũng một bao thuốc lá Tam Đảo bóc ra và cũng chậm rãi, gần như lặng lẽ, trò chuyện.
Sáu năm trước, đang cao đỉnh thời chiến, sắp tới lúc chia tay con trai lên đường ra trận, ba tôi buồn, nặng trĩu âu lo nên trầm lắng. Nhưng nay đã hòa bình và tôi còn sống trở về mà ba tôi vẫn vậy, ưu tư, kiệm lời, mặc dù dĩ nhiên là ông vô hạn mừng vui.
Trên đường về nhà, ba tôi và tôi vào chợ hoa Hàng Lược chọn một cành đào. Từ năm 1965, qua 10 năm chiến tranh, tới Bính Thìn Tết ấy trong gia đình chúng tôi mới có lại giò hoa thủy tiên, chậu cúc, cành đào.
Ngày hôm sau, thư từ đã chuyển hết xong, ba tôi vẫn tiếp tục đạp xe chở tôi đi chào họ hàng và những người bạn của ông. Ấy là những bác mà cách đó sáu năm, trước hôm lên đường nhập ngũ, tôi đã được gặp. Tuy nhiên, có một người, hôm đó ba tôi mới tôi đưa tôi đến gặp lần đầu, là nhà thơ Hồ Dzếnh, nhà ở phố Hòa Mã.
Ba tôi là Giáo sư Ngôn ngữ học nên ông quen biết nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng. Nhà thơ Hồ Dzếnh thì có thể là vào năm 1976 ấy đang không nổi tiếng, nhưng ba tôi rất ngưỡng mộ thơ của ông, vả lại đã quen biết ông từ kháng chiến chống Pháp, nhà thơ dạy học ở Khu Tư, còn ba tôi công tác tại Bộ Tư lệnh Liên khu 4 của tướng Nguyễn Sơn.
Giờ đây, ngẫm lại, tôi nghĩ rằng đời tôi bén với văn chương là kể từ rất lâu rồi trước khi lần đầu cầm bút viết văn, mà cụ thể là kể từ ngày hôm ấy, vừa từ quân ngũ trở về, đi dạo phố phường Hà Nội cùng cha, được ông dẫn tới gặp một nhà thơ.
Thực ra, luôn luôn là vậy, trên dọc đường đời, tôi luôn đi theo những bước đi lặng lẽ của ba tôi. Khi xưa, sánh vai chúng bạn cùng thế hệ quyết chí lên đường ra trận, là bởi vì tôi mong nối chí thế hệ của ba tôi, và cũng bởi vì, xét cho cùng, tôi muốn góp phần thực hiện mong ước sâu nặng của ông, sâu nặng mà giản dị: thống nhất được đất nước, đưa được bà nội tôi về lại với ngôi nhà xưa của bà ở Huế.
Về sau, cũng vậy, tôi viết văn trước nhất là do thấm thía từ ba tôi tình yêu Tiếng Việt. Cầm bút viết văn đó thực sự là tôi đang đi trên con đường của ba tôi.
LÀM SAO LỚP TRẺ HÔM NAY CÓ THỂ DỬNG DƯNG VỚI MỘT CUỐN SÁCH NỒNG NHIỆT NHƯ VẬY!
Ngày 26 tháng 6 năm 2023
-
Lược trích bài của Tô Trần Thủy Tiên” Nỗi buồn chiến tranh - những u uất, ảm đạm, đìu hiu của số phận.” 17 tháng 7 2019.
Nguồn
https://spiderum.com/.../Diem-sach-Noi-buon-chien-tranh...
Khi đưa vào trang Fb này, để bài viết dễ đọc hơn, chúng tôi xin phép lược bỏ những ý tưởng và những trích dẫn đã thấy ở nhiều bài viết khác (nguyên bản 3175 từ, nay còn 1845 từ)
***
Cho đến, lần thứ hai đọc Nỗi buồn chiến tranh, tôi vẫn thấy những nỗi buồn cứ thắt chặt ở tim, ứ nghẹn ở cổ. Và, lồng ngực cứ nhói buốt. Mãi không thôi. Hoặc, trào ra từ khóe mắt. Hoặc, nấc lên đứt đoạn, rồi ảm đạm đến muốn phát điên lên xuyên suốt cả buổi đọc.
Vào một buổi trưa hè, những ngày cuối cùng của tháng 5 năm 2018, khi còn là sinh viên năm ba của khoa Văn trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, tôi thấy mình khổ sở, bất lực và dằn vặt biết nhường nào khi đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lần đầu tiên.
Tôi đã không thể nào đọc một mạch, từng trang của cuốn sách cho đến hết, mà phải liên tục dừng lại, suy nghĩ. Lật về trang trước, và những trang trước, rồi lại suy nghĩ, rồi giật lùi về trang đang đọc giở. Tôi phải ghi lại những gì mà mình thấy. Những địa điểm, mốc thời gian, những con người. Chuyện gì đã xảy ra, sự kiện gì và ai đã chết, đã chết trong trận nào, chết như thế nào? Tình yêu trước, trong và sau thời chiến diễn ra như thế nào… Để có thể hiểu được đôi chút những gì mà tác giả đang cố nhớ lại, và tái hiện bằng từng con chữ đầy khắc khoải.
Hòa bình là gì? Lí tưởng sống cao đẹp là gì? Chiến tranh là gì? Tàn khốc ra sao? Những ai đã tổn thương trong cuộc chiến này? Con người với con người họ giết nhau vì điều gì? Cái gì là chính nghĩa, cái gì là phi nghĩa? Nhân văn, nhân tính, tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống … Trời ơi, cái thời ấy. Ở cái độ tuổi ấy, bằng tôi và còn nhỏ hơn cả tôi lúc này đây, sao họ có thể làm được những điều thiêng liêng đến thế. Những điều mà giả sử, chỉ là giả sử chiến tranh có lặp lại một lần nữa, tôi không dám chắc rằng mình có thể “sống” được như họ vào cái thời ấy.
Tôi đã phải khổ sở như thế suốt mấy ngày liền đọc cuốn tiểu thuyết này, thậm chí là chuỗi ngày dài tiếp nối sau đó, sau khi đã đọc xong, tôi phải mày mò đọc hết những gì mà người ta viết về Nỗi buồn chiến tranh.
Tôi không biết người ta nghĩ gì về tác phẩm này sau khi đọc xong. Những người cùng thời, những người khác thời, cùng hoặc không cùng quan điểm và chí hướng. Một độc giả bình thường, hay một nhà phê bình, một vị giáo sư, nhà văn có tiếng nào đó. Thậm chí là những người khác cả phần lãnh thổ, lẫn ngôn ngữ. Tôi không biết họ có đau đáu, xót xa, u buồn và day dứt mãi ở trong lòng về một nỗi đau chiến tranh, một sự mất mát lớn cũng như tất cả những tổn thương mà nhiều hơn một dân tộc phải gánh chịu.
Ở quá khứ, ở hiện tại hoặc là mãi mãi, những nỗi đau và những vết thương sẽ còn đó cho dù đã được xoa dịu và chữa lành.
Cũng như Kiên - cái gã nhà văn đáng thương thời hậu chiến trở về từ một người lính may mắn sống sót qua hàng ngàn cái chết sờ soạng, rờ rẫm, ngang dọc. Tôi tin rằng tác giả của mình cũng khốn khổ không kém cho đến khi hoàn thành Nỗi buồn chiến tranh. Và còn khốn khổ mãi về sau này cho đến tận bây giờ.
Tôi cũng tin rằng cái “sự sống” của Kiên còn khốn khổ hơn bội phần so với những cái chết mà anh ta viết ra trong những bản thảo rồi đem đốt đi như một nghi lễ cuồng tín, mang dại, dấy loạn. Chính vì thế tôi càng thấy thương tác giả của cuốn tiểu thuyết này hơn. Vì tôi biết rằng Bảo Ninh, vốn là một cựu chiến binh Bắc Việt, và tôi vẫn hay thường nghĩ rằng đây liệu có phải là một cuốn tự truyện của tác giả, mặc dù được biết chính tác giả đã phủ định điều này khá nhiều lần.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã kể lại: "Bảo Ninh có lần tâm sự với tôi rằng anh viết vì câu hỏi: Vì sao anh lại còn sống sót đến hôm nay trong khi hàng trăm, hàng vạn bạn bè của anh cũng trẻ trung, cũng phơi phới, rất nhiều người còn đẹp đẽ hơn anh, tài năng hơn anh bội phần... lại đã mất đi? Câu hỏi dày vò anh đến trọn đời như một niềm ân hận vừa vô lý, vừa có thật không nguôi. Và câu hỏi thứ hai: Tại sao tất cả những điều ghê gớm ấy, bây giờ lại như thế này?"(1)
Nỗi buồn chiến tranh, in lần đầu tiên ở Nhà xuất bản Hội Nhà Văn với tựa Thân phận của tình yêu, năm 1990. Đây chưa từng là một tác phẩm dễ đọc cho dù là đối với độc giả Việt hay độc giả Mỹ.
Người đọc sẽ luôn có cảm giác bị mắc kẹt, rồi bị cuốn theo cái dòng xoáy chiến tranh tàn ác, bị đảo lộn xuôi ngược về quá khứ, tới hiện tại. Trước, sau chiến tranh, tất cả hầu như không có một trật tự thời gian nhất định nào cả, cũng không hề có cốt truyện.
Chiến tranh, ôi chiến tranh, hôm nay ngày mai, hòa bình hay chiến đấu, cái đẹp của tuổi trẻ, cái đẹp của tình yêu tinh khiết đến thương. Cho đến sự nghiệt ngã của giết chóc, tởm lợm của xác thịt thối rữa, âm u rùng rợn của những cánh rừng ma. Rồi những khát khao thầm kín của thanh xuân và những thèm muốn dung dị về một thế giới yên bình của người lính. Đau đớn tinh thần, thể xác và sự rách nát tâm hồn bởi chiến tranh. Những nỗi buồn xơ xác, ảm đạm, u uất sau ngày chiến thắng.
Trong Nỗi buồn chiến tranh không có cái đúng, cũng không tồn tại cái sai. Tôi đã nhìn thấy, cho dù là ta hay địch thì suy cho cùng chúng ta cũng đều là con người. Suy cho cùng, nếu đã cầm súng giết nhau thì đều là “thiếu nhân tính”, cái chết cho dù là phe ta hay địch thì đều là nỗi buồn của mỗi một phía.
Nỗi buồn chiến tranh là một góc nhìn khác về sự huy hoàng của thắng lợi, thay vì ca ngợi thành quả và hò reo vì hòa bình thì Bảo Ninh lại viết nhiều về những mặt tối của chiến tranh. Cũng là lần đầu tiên văn học chiến tranh đề cập đến vấn đề cá nhân, thông qua tập thể, chú ý đến sự mưu cầu, nỗi niềm ẩn ức của con người, bao gồm tình yêu, bao gồm tình dục…
“Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của con người đi tìm lẽ sống hôm nay. Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình. Cuốn sách này không mô tả chiến tranh. Nó mô tả một cuộc kiếm tìm nặng nhọc chính hôm nay. Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằng quại và đầy trách nhiệm. Trách nhiệm lương tâm. Cuốn sách nặng nề này không bi quan. Vẫn thấm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng hy vọng tiềm tàng. Chính là vì thế. Anh đi tìm nghĩa là anh còn hy vọng”(3)
Gạt bỏ hết những lý tưởng cao đẹp, những vinh quang hào nhoáng, khác xa với những dòng văn học chính thống, viết về chiến tranh theo một lề lối của Đảng, đối với Nỗi buồn chiến tranh, nhân văn, nhân tính, lý tưởng anh hùng đều gộp lại bằng “cái chết” và “những cái chết” tàn khốc và đẫm máu.
Lịch sử sẽ không bao giờ viết về chiến tranh như Bảo Ninh. Lịch sử sẽ viết về Chiến tranh theo một cách nào đó mà khiến cho chúng ta cảm thấy tự hào nhất, biết ơn nhất về sự hi sinh của thế hệ cha ông đi trước, về những anh hùng đã quả cảm nằm xuống để đổi lấy cho chúng ta sự bình yên như ngày hôm nay.
Còn Nỗi buồn chiến tranh sẽ khiến độc giả, trong đó có cả tôi hoặc bạn phải giật mình và phải nhìn lại “hòa bình” một cách thận trọng.
Chiến tranh đi qua và sẽ chìm vào lãng quên, nhưng có nhiều thứ sẽ chẳng bao giờ có thể trở về như cũ được nữa.
Như một cơn bão đẫm máu và nước mắt, một cơn mưa đạn đã không những cướp đi sự sống của những người đáng sống, mà còn làm đổ nát hết tâm hồn của những người may mắn thoát chết. “Như cũ à? Nghĩa là mặt trời sẽ mọc đằng tây à?” [tr.317]. Những số phận con người nhỏ bé bị cuốn vào dòng xoáy của cuộc chiến khốc liệt ấy, bị dồn ép cho đến tận cùng của bờ vực nhục nhã, ề chề, đớn đau, quằn quại và nhớp nháp… “Anh thì thành ra thế, mà em thì cũng thì thế này mất rồi…” [tr.318]
Có thể thấy ở Nỗi buồn chiến tranh tất cả những mảnh ký ức, những suy nghĩ, trăn trở hay những tình cảm mộng mị đều chung một dòng chảy và hòa lẫn với nhau, lồng ghép vào nhau, đan xen nhau, dù có vẻ như không theo một trật tự nào cả.
Cuốn tiểu thuyết mãi mãi gợi một nỗi buồn man mác, mà cũng đầy bi ai và chứa đựng nhiều thông điệp sâu sắc về cuộc chiến đấu của quá khứ …
----------///---------
Chú thích:
(1) Trích bài Trường Viết Văn Nguyễn Du, Một Sự Nghiệp Ðáng Say Mê, Nguyên Ngọc, báo Văn Nghệ, số 47, ra ngày 25-11-1989.
(2) PV Những cuộc chiến tranh của Bảo Ninh- Bài viết thuộc Zzz Review số 5, 20-4-2019
(3) Tiểu thuyết về một cuốn tiểu thuyết - Tạp chí cửa Việt Hội Văn Học nghệ thuật Quảng Trị, số 7- Nguyên Ngọc
Chuyện phiếm:
BỆNH THÈM ĐƯỢC NHẤT THIÊN HẠ
Ngày 27 tháng 6 năm 2023
-- Kim Văn Chính
26-6-2023
(VTN sưu tầm trên mạng)
***
Tôi người mang họ Kim. Tương truyền dòng họ có nguồn gốc tận Cao Ly mà là Cao Ly phía Bắc, nơi hiện nay có gia đình họ Kim làm lãnh đạo đến 3 đời rồi vẫn chưa có dấu hiệu suy xuyển. Ở vùng đất đó, hình như hơn 30% dân số mang họ Kim, và ai họ Kim là vinh dự lắm, lúc nào cũng vênh vênh với các họ khác là họ mình nhất thiên hạ.
Nhưng họ nhà tôi chẳng biết từ đời nào lưu lạc ở Việt Nam, là công dân Việt từ đời cụ kỵ rồi chẳng ai còn bằng chứng mình là gốc Cao Ly nữa…
Ấy vậy nhưng cái bệnh lúc nào cũng muốn nhất thiên hạ vẫn còn, có lẽ đó là bằng chứng chăng?
Được cái, ở quê hương Việt Nam của tôi không phải chỉ họ Kim mà tất cả các họ khác, nhất là các họ hay làm lãnh đạo đất nước, họ cũng có cái bệnh vĩ cuồng còn nặng hơn họ Kim.
Do vậy, mỗi khi đi ra nước ngoài họ Kim tôi hay xập xí xập ngầu, lúc thì khoe mình người Cao Ly, lúc thì lại nói mình người Việt cho oai.
Nhưng lấy cái gì để ra oai đây?
Hồi còn trẻ, tôi được đi học ngoại quốc bên trời Âu, thấy rõ cái gì mình cũng kém (chỉ duy nhất khi đến giờ toán học thì mình có nhỉnh hơn).
Tôi cứ ước ao làm sao để học đại học chỉ có giờ học toán thôi. Khốn nỗi, bên đó họ học toán chỉ có chừng mực và không coi trọng lắm, mình đành đánh vật với các môn chẳng giỏi giang gì để tốt nghiệp.
Ra ngoài đời thì thật xấu hổ:
Bạn bè nước người ta họ rủ đi nghe nhạc cổ điển, mình đi theo, nghe chẳng hiểu gì, không cưỡng được ngủ gật, cũng chả biết nhạc phẩm của ai…
Họ đi cùng đội lao động công trường thì sức khỏe, thể lực mình kém, khiêng cùng thùng bê tông cứ một lát lại phải ngồi thở, sau họ phải xếp chung với nhóm phụ nữ cho vừa sức.
Đi hội hè thì không biết nhảy đầm, khi biết võ vẽ thì chả thấy cô gái nào vui vẻ nhận lời mời cùng làm bạn nhảy (thân hình mình còn thấp hơn mấy cô gái cao to, cân nặng thì quá khiêm tốn… Món này tôi nhận ra mình thua kém cả mấy anh da đen Châu Phi).
Sau nghe theo mấy hội bạn, nghe đâu bọn Đông Âu nó rất nể người Nhật, thế là đi đâu là lạ mình cứ xưng là người Nhật Bản cho oai.
Huyễn hoặc này chẳng có lợi gì nhưng cũng giúp được cho mình cứ vênh mặt lên khi họ hỏi “mày là người nước nào”?
Gần đây Hàn Quốc (Triều Tiên) lên ngôi cùng với Nhật Bản, Kim tôi được thể, đi đâu cứ nhận bừa mình là người Hàn Quốc.
Nhiều người Âu họ cũng chả phân biệt Nam với Bắc Triều Tiên. Cũng tại họ cơ, khi họ nhận booking hoặc xem hộ chiếu của tôi, đến 90% họ chả chú ý gì đến cái chữ Việt Nam đáng tự hào của tôi, mà họ chỉ chú ý đến cái họ Kim của tôi thôi và luôn gọi tôi là ngài Kim, và trong đầu họ mặc nhiên nghĩ tôi là người Cao Ly Triều Tiên (Tây họ gọi vậy).
Họ Kim tôi đúng là nhất thiên hạ.
Cầm quyền lâu nhất, quân đội đông nhất, biểu tình chống Mỹ lớn nhất, duyệt binh lớn và đẹp nhất… (Xem ảnh duyệt binh do họ Kim nhà tôi chỉ đạo, ai cũng phục lăn).
Ai mà phát hiện tôi là người Việt Nam thì tôi lại có võ khác để chứng tỏ mình nhất thiên hạ: Nước tao có ngôi chùa mới xây to nhất; có đảng cầm quyền lâu nhất; có ngành công an giỏi nhất; có tượng Bồ Tát lớn nhất…
Gần đây, ngành kỷ lục học Việt Nam lớn mạnh như diều gặp gió, đã giúp tôi rất nhiều: Nước tao có cái bánh chưng to nhất, có cái bánh ram rán ở Hà Tĩnh dài nhất, có cái áo đầm nặng hơn 250kg và đuôi dài nhất…
Bọn Tây nó rất quái. Nó xếp hạng rất linh tinh chứ tư duy bọn nó không theo chỉ đạo của đảng ta.
Cái làm tôi xấu hổ nhất, xấu hổ tầm dân tộc hẳn hoi, thì nó cũng mang ra xếp hạng. Mỗi lần tắm truồng ở các nhà tắm hơi, dù ở châu Âu hay ở Nhật, tôi đều khéo léo mang theo cái khăn che kín chỗ mà mình kém hơn họ.
Ấy vậy mà bọn Tây nó công khai xếp hạng, đăng tùm lum trên các báo cáo.
Rồi nó mang chỉ số tham nhũng, chỉ số ô nhiễm, chỉ số lòng tin của dân, chỉ số quyền con người, mức phân hóa giàu nghèo… ra công khai trước mặt họ Kim nhà tôi mới ức. Việt Nam toàn hạng bét – hết bệnh vĩ cuồng.
Gần đây nó lại xếp Việt Nam mình cùng Bắc Cao Ly thuộc nhóm cuối hạng (danh sách xám và đen) tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt.
Vậy là Kim tôi thuộc dân tộc giống hoặc ít nhất cùng họ với Nga rồi, lăm lăm hạt nhân hủy diệt, dọa thiên hạ…
Có lẽ về sau tôi không dám khoe nhất thiên hạ nữa. Giấu biến gốc họ Kim đi có khi hay hơn…
Có khi nhờ bác Bùi Hiền ghi thêm vào hộ chiếu họ Kim, biến thành họ Kimtsm cho Tây nó không đọc nổi là cái gì thì rất hay. (Giống mấy thằng cháu tôi khai sinh ở nước ngoài, nó toàn thêm đầu hoặc đuôi vào cái họ của nó andrei, anton, johnathan, noe… làm chính tôi dù biết ngoại ngữ cũng cứ méo mồm mỗi khi phải phát âm cái tên chính chủ của nó).
Trong lúc suy nghĩ vẩn vơ rất bi quan thì lời ai đó lại như thổi cho một luồng sinh khí mới:
-- Mình phải làm sao thì họ mới đối xử với mình như vậy chứ.
Đó hoàn toàn không phải là chủ nghĩa AQ. Nó là cứu cánh để căn bệnh vĩ cuồng vốn ăn vào máu vẫn ngẩng cao đầu kể cả khi đi thi chim dài hay ngắn.
Các đoạn ghi chép 50 năm trước
HÀ NỘI THÁNG 6– 73 (đoạn 2)
Ngày 28 tháng 6 năm 2023
Trích từ cuốn sách
“Nhật ký chiến tranh
Hà Nội - Quảng Trị - Hà Nội 1972 – 1975”
*
Trong những điều tôi ghi ở đây -- từ gần 50 năm trước – có nhiều điều nay tôi đã nghĩ khác, chữ nghĩa dùng cũng phải khác. Nhưng để tôn trọng quá khứ, tôi xin phép vẫn giữ nguyên. Mong được sự đồng tình của các bạn. 4-2021
----------------------
9/6
Nói với chị Yên, em không biết mua bán thế nào. Trông cái gì cũng thấy giả dối.
-- Đến tôi cũng không biết mua, chứ không phải chỉ có cậu. Mua cái gì cũng phải lâu, cũng phải chọn, nhìn qua loa đã mua là y như về vứt đi.
Cái tình trạng này bao trùm từ chuyện đời thường tới chuyện chính trị.
So sánh hai miền, không biết ai nói đầu tiên, ông Khải nhắc lại:
- Chúng ta từ chính nghĩa, hoá ra phi nghĩa. Nó ngược lại. Bây giờ không một thằng lính nào phía bên kia có mặc cảm là Việt gian, là nguỵ cả.
- Không biết chừng, lúc nào nó tuyên bố xây dựng socialism. Trước tiên, nó tuyên bố quan hệ với Trung quốc chẳng hạn...
Rồi có cái hư danh, nó cũng lấy nốt của mình, chứ không phải chỉ có cái thực đâu.
Không biết chừng, nó lại làm vẻ vang cho dân tộc Việt Nam.
...
Bàn về lòng tin, Nguyễn Kiên bảo giờ mình chỉ còn có cách là tin vào người dân thường. Tôi bác lại:
- Không, người dân thường bây giờ cũng bị tàn phá rồi tàn phá đến khủng khiếp. Không còn những thói quen cũ. Không còn lễ nghĩa phong kiến. Không còn sự tự trọng tối thiểu.
Làm sao khỏi chán bây giờ, ông Kiên nói tiếp và đây là câu nghe được này:
-- Riêng ở trường hợp tôi – tôi nghĩ đúng là nhiều lúc chỉ chán quá, đến mức, chán cả cái chán của mình, rồi thôi, -- bấy giờ mới lại làm việc được.
12/6
Tham gia việc vận tải ở miền Bắc có tới 2 vạn xe. Mà trong đó 47-53% xe chạy không.
Một tờ báo ở Sài Gòn nhận xét ở Hà Nội, dần dần, mọi chữ nghĩa mất hết ý nghĩa. Mọi kế hoạch bị lãng quên.
Xuân Sách:
-- Nhìn các nước, thấy mọi chuyện bên trên nó có thay đổi, nhưng ở dưới, người ta vẫn làm việc một cách bình thường
Còn ở mình, cứ dồn mọi người vào cả một đống. Con người bị đánh thức, việc gì cũng xông vào. Cả nước làm chính trị, cả nước dòm ngó xét nét nhau. Cho nên không ai dám tính chuyện thay đổi. Chỉ cần chững lại một chút, là tất cả nổ tung hết.
Để làm cho người ta sống bình thản, cái công cụ chủ yếu mà xã hội này sử dụng là làm cho người ta tê dại. Người ta khổ, nhưng không còn sáng suốt nhận ra sự khổ sở của mình. Tức là vẫn nghĩ rằng mình sung sướng, có lý luận như vậy. Mặc cảm làm chủ. Mặc cảm biết tất cả mọi điều. Khả năng tự lừa dối. Như người thủ dâm.
15/6
Lính ở chiến trường, vùng tiếp giáp, nói chuyện với lính địch, không ai bắt, mà cũng dối trá. Nói rằng ngoài Bắc sung sướng. Lính được về phép bằng ô tô. Cho nó cả đồng hồ. Tết, cho nó ăn bánh chưng, rồi tự mình nhịn.
Hoàng Hưng: Thời mới hoà bình này là thời gian của những sự dò dẫm lẫn nhau. Trên dò dưới, dưới dò trên. Nghiêm Đa Văn bảo ở dưới, cứ chửi bới, cãi nhau lung tung trước cấp trên, nhưng sau đó, có miếng ăn, thì cả bọn trên cũng như dưới lại nịnh nọt nhau, xoa dịu nhau.
17/6
Khải: Trước kia mình cứ thắc mắc, sao mình không bằng nó. Bây giờ hiểu rồi, phong kiến phải thua tư bản, thì tất nhiên rồi. Bây giờ, mình cứ định bắt họ (dân Quảng Trị) trở lại vùng giải phóng, làm ăn kiểu phong kiến như mình, họ không chịu đâu.
Cũng như, ở ngoài này, cách mạng nó ăn vào mình rồi, bây giờ có quay trở lại những nền nếp tốt đẹp cũ, chính mình cũng không chịu được.
Đỗ Chu: ở xã hội mình bây giờ, chỉ thấy cái xấu nó quá đường bệ, nó đàng hoàng đứng đó, không ai làm gì được.
Việt Nam --tức là miền Bắc bây giờ -- mang đủ những chứng xấu của chủ nghiã tư bản, cả phong kiến và cả chủ nghĩa xã hội. Thế giới bây giờ, tất cả hội lại, mang nhãn hiệu Việt Nam.
Có lẽ vào những ngày này, chiến tranh mới bộc lộ hết cái độc hại của nó. Học sinh học hành chểnh mảng ư? Vì chiến tranh. Xã hội vô nguyên tắc ư? Vì chiến tranh.
Trẻ con được dậy không biết sợ là gì để sau này đi đánh nhau cho dễ. Nó học quá nhanh, nên bây giờ nó làm loạn.
10 năm nay, chúng ta chỉ nói với nhau một điều duy nhất là hãy đi đánh nhau -- Thế thì còn biết làm sao?
Tất cả chúng ta đã bị thương, trong cuộc chiến tranh đang diễn ra.
Bây giờ thì chúng ta mới hiểu chiến tranh là xa lạ với bản chất con người thế nào. Chiến tranh là đáng nguyền rủa. Định hướng chiến tranh trong những năm vừa qua đã trở thành quốc sách. Giờ nó trả thù. Mà không ai biết nó sẽ dai dẳng theo ta đến tận bao giờ.
19/6
Trẻ con chơi, hát
Rồng rồng rắn rắn
Bắt con rắn qua sông
Bắt con rồng qua bể
Bắt con kiến lẻ loi
Này người bạn tôi ơi
Bắt lấy thằng đuôi chó.
20/6
Đến nhanh quá cái vẻ sớm tàn của hoa phượng.
Ngày nào, cách đây, độ một tháng, hoa phượng nở. Bấy giờ phượng vồng lên những cánh mập mạp. Có một lần, tôi thấy một đứa trẻ cầm một cành phượng, nặng trĩu những hoa là hoa. Thế mà, chưa đầy một tháng, phượng đã héo tàn rã rượi, chỉ còn bám hờ trên những cành lá xanh. Màu đỏ thẫm lại. Cả những con người những sự việc cũng thế, chóng nở, chóng tàn, mà khi tàn thì day dứt mãi.
23/6
Sao mà cuộc đời đẹp một cách đáng sợ, đẹp đến làm ta bàng hoàng. Bão xa ở đâu không biết, đây chúng tôi đang sống những ngày hè tuyệt vời. Thành phố như một vùng ven biển. Nắng rất trong. Gió rất nhẹ nhưng lúc nào cũng có. Gió mơn man trên da người. Gió như sự có mặt của hạnh phúc.
... Đi đến đâu, tôi cũng gặp những biểu tượng của lòng ham sống. Người tràn ra đường, những cô gái rất đẹp, một cô bé nào cái cúc áo trên cùng không cài, để ngỏ he hé cái cổ măng tơ. Những em bé lôi nhau ra đường chơi bóng, chơi một thứ trò chơi gì đó, phải cõng nhau rồi ném bóng cho nhau. Một cụ già mặc áo dài vào thư viện đọc sách chữ Hán. Một đôi thanh niên nam nữ đèo nhau, bàn tay người con gái tìm bàn tay người con trai, hai bàn tay nắm lấy nhau, trên một chiếc xe đạp. Và em tôi, đứa em kém tôi 13 tuổi, nay cũng đã bước vào tuổi yêu đương. Nó cũng có bạn gái đến nhà, cũng thương nhớ, ngần ngại.
25/6
Cùng Nguyễn Khải nói về lớp trẻ:
- Nên đi, nên viết, đây đang là thời của các ông. Phải phiêu lưu.
- Đúng, đây là cái chữ mà chúng tôi cũng đang tìm. Có những thằng như thằng Vũ nó đã nói nó sẽ vào vùng Giải phóng, nếu cần, nó sẽ vào thành. Tôi không dám làm việc đó. Nhưng anh cũng công nhận phiêu lưu nhất là sang phía bên kia chứ gì?
-... Ờ (lặng đi một chút). Này, nhưng mà mình đọc sách của nó nhiều đến nỗi tuy chưa sang bên kia, mình cũng có thể hình dung được rằng sống ở phía bên kia là không chịu nổi... Ví như mình phải có gan đạp lên đầu người khác cơ.
- Tôi cũng đã nói với Vũ như thế. Tôi bảo mỗi cá nhân là nhỏ bé quá. Và hình như thế này, những con người bình thường sống ở bên này là phải. Chỉ những con người tài năng thì mới có thể sống ở bên kia. mà tôi thì không có tài.
Cái chuyện Lưu Quang Vũ nói với tôi trên là có thật.
Làm thế nào, không chừng, lại đánh nhau nữa chứ không vừa đâu, Vũ bảo.
Tôi cãi lại không, bây giờ có đánh nhau nữa cũng thế, mà không đánh nhau nữa cũng vậy. Chúng ta đã biến thành tù nhân vĩnh viễn của chiến tranh rồi.
Vũ lại bảo đi thôi. Bây giờ thì xã hội này không phải chỉ có một hai chỗ không ra sao, mà tất cả đã là không ra sao rồi.
Tôi phải giở con bài cuối cùng. Tất cả mọi chuyện tôi đều đồng ý với ông. Nhưng chỉ là do cảm tính. Phải sống mới biết. Ác cái cuộc sống không bao giờ cho phép người ta ướm thử cả.
Hữu Mai: Tôi có nghi ngờ hiện tượng, nhưng cái nguyên tắc, thì tôi vẫn công nhận. Ví như duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Nhàn: Nguyên tắc tôi cũng thấy có vấn đề. Duy vật biện chứng thì đúng, nhưng còn duy vật lịch sử? Có nhiều cái phản duy vật biện chứng. Những vấn đề quan hệ cá nhân - quần chúng, còn lúng túng lắm. Mà đây lại là chuyện con người đối mặt hàng ngày.
ĐỀ THI VĂN
Ngày 28 tháng 6 năm 2023
Tôi phục nhất trong đoạn bình luận của bạn NNC là cái ý "đề thi Văn này không đủ nhân văn, không thôi thúc khát khao, không đồng điệu với thời đại." Chẳng phải đó cũng là lời chê trách với văn học ta hôm nay hay sao?
Lại Nguyên Ân
Sntprodeos4083f 841m 0tf4t9u95m3g9á2 ,g06m18ui220nh277838hl2
[.....] Đoạn trích đó không nên là chủ đề nghị luận cho một triệu thanh niên 18 tuổi đang háo hức bước vào đời để ganh đua toàn cầu, trong một thế giới chuyển động bởi những phát minh công nghệ khổng lồ.
Đề thi Văn không đủ nhân văn, không thôi thúc khát khao, không đồng điệu với thời đại. Sẽ không có những bài văn hay, sẽ không thấy tầm hiểu biết từ những đề thi Văn như thế này. [......]
Trích nhận xét của TS. Nguyễn Ngọc Chu
MỘT VẤN NẠN LỚN TRONG NGÀNH GIÁO DỤC ĐÃ ĐƯỢC NÓI RA
Ngày 29 tháng 6 năm 2023
----------
Nhân đề thi văn năm nay, từ sự gợi ý của bạn Nguyễn Ngọc Chu, trên trang Fb của mình ngày 28-6-2023, anh Trần Đình Sử vừa có những quan sát rất gan ruột, hẳn là đã tích lũy trong nhiều năm tháng, trong phạm vi vài trăm chữ mà chỉ ra cả vấn nạn của giáo dục -- và phần nào đó là của cả xã hội ta -- từ sau 1945 và thể hiện rõ nhất trong những ngày gần đây
Tôi đưa stt này về đây để đánh động với các bạn và giữ làm tài liệu thôi, các bạn quan tâm tới vấn đề này nên trở lại với chính trang của anh Sử và đọc kỹ các bình luận, ở đó có nhiều quan sát sâu sắc và cả những tâm sự thân mật.
Từ những còm mèn này có thể thấy trong hoạt động tư tưởng ở xã hội ta hiện nay có nhiều điểm thắt nút mà không ai chịu nói giờ có người nói ra ai cũng thấy đúng.
Ý tôi muốn nói trong lúc suy nghĩ tiếp từ gợi ý của anh Sử, tôi thấy chúng ta nên lo làm cho nó phong phú và có sức thuyết phục thêm trước hết bằng cách chỉ rõ cái bế tắc nói ở đây không chỉ là bế tắc riêng của ngành giáo dục mà ở ngành nào lĩnh vực nào cũng có bế tắc tương tự.
-------------
Dưới đây là một số còm-mèn tiêu biểu mà tôi trích được lúc 14h30 ngày 29-6
Chu Vĩnh Hải
Cần phải phi chính trị hóa giáo dục, thầy ạ
Vũ Xuân Tửu
Chính phủ đã cấm các tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ tư nhân. Vậy, học sinh cũng chẳng cần phải năng động sáng tạo, mà chỉ cần phục tùng như là nô lệ kiểu mới mà thôi. Nếu may mắn được vào các cơ quan nhà nước thì tuân theo quy chế quản lí.
Quyen Tran Van
Chính xác! Một sự khác nhau lớn về tư duy và tầm nhìn giữa 2 hệ thống thể chế quản trị quốc gia:
trong thể chế của các nước phát triển, lãnh đạo luôn có tầm nhìn về phía trước (rất ít nhắc lại quá khứ) và tư duy đổi mới phát triển (không bao giờ cho phép tương lai giống như quá khứ) - nhìn về tương lai và tư duy đổi mới phát triển là phù hợp với quy luật tạo hóa sinh ra đôi mắt ở phía trước là vậy.
Trong khi đó lãnh đạo các nước nghèo, lạc hậu (mà lại đánh thắng 2 đế quốc to) thì luôn nói về quá khứ, dạy lớp trẻ rằng các vị tiền nhân giỏi lắm, cần làm và đi theo con đường của tiền nhân vạch ra - đi ngược quy luật nên quốc gia đi giật lùi
Phạm Thành Hưng
Đề thi phản ánh trọng bệnh của hệ tư tưởng chính thống, cầm quyền.
Phung Ho Hai
Làm thế nào để những người trẻ cũng nhìn thấy được những điều GS Sử nói. Đó mới là giáo dục.
Quyền Nguyễn
Cảm ơn Thầy đã có những ý kiến chính trực, bắt rễ sâu sắc từ tư tưởng nhân văn, khai phóng!
Đoàn Thành Đồng
Bế tắt cho anh Tràng .Tràng ngày nay nhặt vợ đợ con đi làm thuê làm mướn, dịch bệnh người chết như rạ, thắt nghiệp nghèo nàn...Cái gọi là nhặt vợ , nhặt nước...Phải nhặt một đất nước mang cùm gông...
---------------
Và đây là một còm mèn cũng về bài này khi được đưa trên trang Chu Vĩnh Hải
Hương Nguyễn Trọng
Bây giờ là thế kỷ 21 rồi
Chính sách ngu dân vẫn còn đó
Thế thì ta hội nhập với thế giới phẳng chỗ nào khi mà còn dạy thế hệ trẻ chuyện Mù của quá khứ
Bộ Gd có biết xấu hổ không khi một thời cha ông lạc loài trong tuyên truyền của cách mạng
Thời ấy cách mạng phá kho thóc, chống đối thu thuế nhưng nhìn ngay bây giờ thuế người dân phải chịu còn vẫn nhiều hơn
Xét về hành động phá kho thóc thì ngày nay người dân có thể đập cả nghị trường ba đình vì nơi ấy chỉ quyết những luật làm khổ dân tạo điều kiện cho các lợi ích nhóm
Có còn lý tưởng vô sản hay là khoảng cách giàu và nghèo đã cách xa
Đảng đừng mị dân và đầu độc giới trẻ nữa qua đề thi
Dân đã chán và bất tin rồi
Ngày 2 tháng 7 năm 2023
Tôi không tin rằng những bài loại đi vào sử Việt văn hóa Việt như thế này nói gì cũng đúng. Nhưng tôi cho rằng làm gì nghiên cứu gì thì cũng phải đọc tức là phải dành thời gian đồng hành với các tác giả cùng suy xét về các giả thiết mà họ đi tới. Vì những điều nêu ra ở đây khi nó đúng sẽ là "khởi nguyên của mọi khởi nguyên". Mặc dù chỉ lõm bõm về văn hóa về sử nhưng hai chục năm nay tôi lo học ở các ngành này rất nhiều. Tôi muốn có một cơ sở hợp lý để nhìn lại cuộc đời trên 50 năm làm nghề và do đó yên tâm sống những năm tám mươi của cuộc đời mình.
--
Quang Phan
ndorepotSs 1062t223ám252g8u73u0g 97,m91fm6htun2a2921c15ih3 a ·
Viết nhanh và hồi đáp sau Talks: Văn hóa – bản sắc Việt
1. Đi tìm mầu gốc Việt Nam
Đến giờ mà nói cái gọi là bản sắc Việt vẫn chưa thể được định hình, cắt nghĩa một cách khoa học, rành rọt và có định lượng. Tất nhiên cắt nghĩa một phạm trù trừu tượng như Văn Hóa là điều không dễ dàng, huống hồ tâm thức người Kinh rối rắm, phức tạp, những diễn ngôn quốc gia, dân tộc không hề thống nhất và xuyên suốt.
Cái sau phủ định cái trước. Từ Hán nhân thành người bản địa văn hóa 4000 năm, từ bản địa lại đang tìm hướng thành Bách Việt mà ghê gớm hơn lại là tinh hoa Bách Việt lưu vong mà lập quốc. Là quốc gia ngàn năm tuổi trên cơ sở hợp nhất các block văn hóa – ngôn ngữ, hay là quốc gia có một dân tộc đơn nhất xuyên suốt suốt từ thời mạt kỳ đá mới đến nay.
Điều ấy càng khiến cho việc cắt nghĩa bản sắc – mầu gốc – mầu riêng của người Việt góp chung vào đa sắc mầu văn hóa nhân loại càng thêm khó khăn. Và càng khó khăn thì càng khắc khoải tìm nó.
Câu hỏi ta là ai? Ta từ đâu tới? Sao ta là Việt Nam chắc sẽ còn hối thúc người Việt quá khứ, hôm nay, ngày mai đi tìm lời giải theo những lẽ riêng của mình.
Sự nhẹ nhàng thanh thản cực kỳ khi định nghĩa dân tộc là gì chiếu rọi vào cái đầu của ta. Ta không còn phải tưởng tượng và tìm kiếm những biện giải để hợp lý hóa những tưởng tượng đó nữa. Nói một cách khoa học là ta không cần thiết phải kiến tạo truyền thống hay tạo ra những truyền thống tân tạo nữa.
2. Giáo sư Chu Hảo một niềm thiết tha
Ngày 1 tháng 7 vâng lời Nhạc sĩ Dương Thụ thì mình host cho Gs Chu Hảo làm talk Văn hóa – bản sắc Việt. Một câu chuyện rất dài từ thủa tiếng nói của ta, Hán văn Lý – Trần đến điêu khắc – kiến trúc – tượng đài – tư duy Việt Nam.
Cái tiếng nói ấy như mình biết gốc vẫn là proto Vietic trải qua ước khoảng 3000 năm tích hợp vào đó rất nhiều từ vựng Hán – Đường. Nhiều từ vựng Hán cổ đã được hay bị gọi là Việt hóa và trở thành tiếng Việt (thực ra Hán nó vẫn là Hán thôi, Việt cái gì không biết?).
Đến tuyệt tác Hán văn Lý Trần, chà thế kỷ XXI giữa khán phòng thưởng coffee đọc câu thơ “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”. Ấy là đã thưởng một phần cái phong vị Thăng Long thuở Lý Công Uấn định đô.
Giá phỏng có thêm Phật Thuyết thì có lẽ ta còn thấy cái anh Han Annam giằn vặt, ngơ ngác, ngáo ngơ khi cố tìm cách phiên âm, ký âm Vietic nữa không chừng.
Ở Gs Chu Hảo ta thấy một niềm yêu văn hóa Việt Nam thiết tha. Yêu cái truyền thống bác học trong Hán văn Lý Trần. Một nuối tiếc khi người Việt nay đứt gãy, mất kết nối với cái truyền thống ấy. Những câu chuyện về người Việt đọc thơ chữ Hán hay hơn người Bắc Kinh hay hơn người Hàn cũng được Gs kể lại.
Học Hán văn là để hiểu tiếng Việt mình, hiểu tổ tông nói gì. Vì cái tiếng Việt của ta mà bỏ hết Hán Văn đi thì có lẽ chỉ còn trần truồng proto Vietic, một ít từ vựng Tai – Cham. Yêu nước kiểu ấy là cực đoan vậy. Gs Chu Hảo nói: Chúng ta đều yêu nước, nhưng yêu nước theo những cách khác nhau.
Những chuyện buồn hay không vui của Văn hóa Việt cũng được Gs đề cập tới, như một ngỏ ý rằng “chi bằng học” để có thể định vị lại mình và vượt qua những tồn đọng quá khứ. Thoát ra khỏi “công cụ” để trở thành con người của thời Hậu Hiện Đại.
3. Sao ta không có công trình kỳ vĩ
Nếu nói công trình “thổ mộc” của Việt Nam thì so với khu vực thật là kém xa. So với người Cham cũng không có cách gì sánh nổi cả. Chúng ta đã không kiến tạo nên nổi Phật Viện Đồng Dương, Thánh Địa Mỹ Sơn. Thôi chờ phục dựng hoàn toàn thành Thăng Long xem nó có đủ độ kỳ vĩ để dương danh với lân bang không? Chỉ tiếc đàn Nam Giao Thăng long nơi Quân Vương Đại Việt tế trời lại hóa thành cái Trung tâm thương mại Vincom Center Bà Triệu đè lên.
Nghe anh bạn KTS kể lòng mình đầy bi phẫn, giận dữ. Nhưng biết sao được? BĐS đem lại rất nhiều tiền, thì ký ức tổ tông là cái quái gì đâu?
Nhưng tại sao ta không có công trình kỳ vĩ? Binh lửa, tập đoàn này phá hủy lâu đài đền các của tập đoàn kia (toàn là do mấy ông Vietic hoặc gốc Vietic đốt bỏ) đó là một lẽ đã đành. Nhưng lẽ sâu hơn là người Việt lập quốc rất muộn. Năm 938 mới chế định triều nghi, định đô, đặt bách quan. Nghĩa là chậm hơn Lâm Ấp những 800 năm, chậm hơn Khmer những 300 năm.
Vấn đề tiếp theo là chúng ta không phải là một thể thống nhất. Chúng ta là gom bởi những block văn hóa. Cái anh Hán Annam – anh Ngô Việt ngữ phải chung sống với người Man mà Man dưới chân núi Tản Viên lại hay làm loạn. Ở Trường Châu là phong tục Liêu Di, ở Phong Châu là Lạc tụ nơi Trăng – trời Văn Lang. Quân vương Đại Việt lại phải đối phó với Man Cử Long suốt mấy chục năm ròng rã. Người Diễn Châu ngu muội không tuân giáo hóa – Lời Lý Thái Tổ, xung khắc Kinh- Trại. Rồi mối liên hệ kimi với người Tày Thái. Phía thượng nguồn sông Hồng lại là nước Ngưu Hống.
Cần rất nhiều thời gian và cả công sức – cái gì không nói được bằng mồm – chiếu chỉ thì đã có lưỡi gươm để các block văn hóa này nhào trộn lại thành một thể đồng nhất. Thế thì thời gian đâu, công sức đâu, tiền của đâu để mà …lao công thổ mộc?
Tương Dực Đế muốn xây Cửu Trùng Đài, có thợ khéo là Vũ Như Tô, quan viên can sống chết, đến nỗi Trịnh Duy Sản thí vua. Thế thì biết là ý chí quân vương chưa đủ, mà nền tảng xã hội cũng không cho phép người Việt đủ sức kiến tạo những công trình tuyệt tác cho mai hậu.
Ngay khi lập quốc quân vương Đại Việt lại phải đối mặt với một loạt vấn đề sinh tồn của quốc gia vừa mới kiến lập. Ấy là binh, lương, tiền. Mà binh và lương lại có gốc là dân. Khai khẩn châu thổ sông Hồng, đắp đê, lấn biển, trồng lúa… đều cần đến sức của hàng chục vạn người. Và tiềm lực quốc gia phải đổ hết vào công cuộc này, thay vì dồn sức kiến tạo lâu đài, đền các. Thế nên cái công trình kỹ vĩ nhất mà tiền nhân để lại cho hậu thế là hệ thống Đê sông Hồng. Hệ thống ấy đã nuôi dưỡng nên văn minh Đại Việt một nền văn minh châu thổ kiểu Hán giữa lòng thế giới Đông Nam Á.
Đại Việt thủa lập quốc còn thêm một trắc trở nữa ấy là kỹ thuật đóng thuyền đã tiến bộ vượt bậc. Thương thuyền từ miền Nam Trung Hoa không phải quá cảnh tại các cảng biển khu vực vịnh sông Hồng mà có thể dương buồm tiến thẳng xuống Vijay, từ đó gặp gỡ thương nhân Ấn Độ, Hồi. Mất đi vị thế là trạm chung chuyển trên con đường Tơ lụa biển Đông sức hội nhập của quốc gia vào kinh tế Hải dương bị đình trệ lại. Điều này hối thúc quân vương Đại Việt phải phóng ánh mắt nhìn về phía Chiêm Thành. Tạo tác kỳ vĩ thứ hai của người Việt chính là con kênh nhà Lê 1000 năm tuổi mở lối cho người Việt mở cõi.
Cái tạo tác thứ 3 chính là trên nền tảng của văn hóa Óc Eo đế quốc Phù Nam người Việt tạo ra hệ thống kênh mương của châu thổ sông Cửu Long. Từ đó vựa lúa lớn nhất cả nước ra đời.
Dân tộc trẻ trung, ý chí kiêu hãnh, chỉ cần học, thì tương lai sẽ rạng ngời. Ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hy vọng vẫn dồn về phía người Trẻ biết trân trọng những gì thuộc về tổ tiên (chứ không phải là truyền thống tưởng tượng, keo chó rẻ nhưng rất hại) và biết mình là công dân – một người tự do.
1/
TIẾC THƯƠNG NGUYỄN VĂN THÀNH
Ngày 16 tháng 7 năm 2023
Tuy viết không được nhiều, nhưng Nguyễn Văn Thành thực sự là một người yêu mến văn học, và đã sống hết lòng với đời sống văn học đương thời. Riêng với tôi, anh cũng là người bạn làm nghề loại gần gũi nhất.
Chúng tôi quen nhau sau những lần cùng đến thăm đạo diễn Nguyễn Đình Nghi ở khu tập thể sau Nhà hát lớn thành phố. Phải nhận là Thành có công trong tình bạn khoảng hơn hai chục năm nay của chúng tôi. Anh nể tôi thương tôi. Anh nồng nhiệt trong mọi cuộc trò chuyện, và đã có ý kiến của mình về khá nhiều điều mà tôi quan tâm. Trên những chuyến xe bus chật chội anh cùng tôi đi thăm những người bạn già trẻ mà chúng tôi quen chung, rồi cả những người mà tôi không quen, đặc biệt là cái phía văn học nhiều phần “đa tạp” lẫn lộn cả hay lẫn dở, cả mới lẫn cũ, cả giả lẫn thật… mà tôi vừa lảng tránh vừa tò mò thích thú.
Chẳng hạn đã mấy lần anh dẫn tôi tới nhà Nguyễn Đình Chính ở ven đê sông Hồng vùng Nghi Tàm Quảng Bá, tới phía nam thành phố thăm Vũ Đình Phòng, đã đi cùng tôi đến thăm Nguyễn Huy Thiệp nơi lối vào nhà rắc rối quá sau mấy năm tôi đã quên hết cả thì anh vẫn nhớ rành rọt.
Đáng nhớ nhất là chính anh đã dẫn tôi đến gặp Nguyễn Kiến Giang khi bác còn khỏe và kịp giảng giải cho tôi vài điều; thăm Hà Văn Cầu khi bác nằm viện; thăm nhà văn Nguyễn Bản sống trong một căn phòng bé nhỏ ở giữa làng Ngọc Hà. Nguyễn Bản tác giả “Giá trị mới” là một trong những người viết khá xuất sắc ở Hà Nội những năm 1960s, sau bỏ sáng tác và chuyên dịch để kiếm sống, chứ không tham gia vào mọi sinh hoạt hội hè như mọi người.
Tôi vốn vụng về và trong các mối quan hệ, lại sớm bị chi phối bởi các thành kiến, còn Thành thì không, anh khá công bằng.
Dù biết đến tận cùng các chỗ yếu chỗ dở của X., anh vẫn nhìn ra phần chủ yếu là các đóng góp đáng kể của X. cho nghiên cứu văn hóa văn học.
Bởi có được cả sự nồng nhiệt lẫn sự tự tin biết rõ vị trí của mình trong giao tiếp, nên anh đi đâu cũng “lọt”, muốn tìm hiểu vấn đề gì cũng được giúp đỡ.
Trong khi tôi rất ngần ngại nếu không nói là lười biếng trong các cuộc họp hành hội thảo, thì Thành hội nghị nào cũng dự, vấn đề nào cũng phát biểu, ở hội nghị ra còn có ý kiến bàn bạc thêm và nhất là khi trở về thì không quên ghi lại đầy đủ mọi nhận xét của mọi người và của bản thân mình.
Những đoạn ghi thành nhiều mẩu khá táp nham này được anh lưu giữ cẩn thận đến mức mà sau này anh chỉ nhớ là anh đã ghi, còn nó ở đâu thì anh chịu chết, chỉ tuyên bố là nhất định tìm ra và một lúc nào đó sẽ đưa tất cả những ghi chép này lên mặt báo.
Tình yêu dành cho sách vở của Thành cũng là cái phần mà tôi có nhiều chia sẻ, cụ thể là nghe ai nói có những cuốn sách hay là chúng tôi cũng cố tìm hiểu. Nhưng trong khi tôi thường cả thèm chóng chán, sau khi đọc ít trang sách vừa nghe giới thiệu mà không hiểu là gạt sang một bên, thì Thành còn lưu luyến mãi với những gì đã được nghe giới thiệu và còn trở lại mỗi khi có dịp. Trong những trường hợp có thể, anh cố tìm để có được một văn bản giữ riêng ở nhà.
Với một mối quan tâm hết sức đa dạng, cái phòng riêng của anh trở thành một kho chứa sách lộn xộn mà tôi không hiểu làm sao anh có thể quản hết nổi. Mà nỗi ham sách của Thành thì kỳ cục lắm. Có lần tôi ngẫu nhiên kể với anh rằng trong việc học tập lí luận văn hóa của tôi, có hai cuốn sách tôi đặc biệt chịu ơn là “Những vấn đề thi pháp Dostoevski” của M.M. Bakhtin và “Những phạm trù văn hóa trung thế kỉ” của A.Ja.Gurevich (cả hai đã được dịch ra tiếng Việt), nhân thể tôi đang có cả hai bản Gurevich trong tay và muốn tặng anh, thế là Thành nằn nèo bằng được là tôi phải ghi thêm vào đấy cái ý là cuốn thứ hai này cũng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi chẳng kém gì cuốn thứ nhất, rồi mới nhận sách.
Một kỉ niệm khác còn lại trong tôi là những chuyến cùng nhau lang thang đây đó. Tôi vốn kém quan hệ với các anh chị em văn nghệ ở các địa phương mà lại thích đi, thế là khi nào hứng chí lên tôi chỉ có cách rủ Thành.
Chúng tôi chỉ hai người đi với nhau, khi đèo nhau trên xe máy khi theo xe khách khi theo tầu hỏa, từ xuống Thái Bình thăm Nguyễn Dương Côn, rồi gặp Đức Hậu và Võ Bá Cường; cho đến gần đây thì vào Nghệ An gặp Phan Thắng, Phan Huy Dũng, Nguyễn Duy Bình; trước đó thì đi Sơn Tây, Hưng Yên thăm các di tích văn hóa ở các nơi đó.
Nhưng nhiều lần nhất là tôi cùng với Thành lên thị xã (nay là thành phố) Bắc Ninh, dăm lần bảy lượt lòng vòng trước các hiệu sách cũ của tỉnh này kể cả những quán sách nằm trong chợ. Bắc Ninh có huyện Yên Phong, là nơi có những nhà máy giấy cỡ nhỏ, cho nên sức thu hút sách cũ của Bắc Ninh theo tôi hiểu là thật lớn, sách từ các thư viện lớn nhỏ thải ra vô thiên lủng. Sách cũ mà tôi với Thành kiếm được ở Bắc Ninh thì táp nham đủ kiểu kể cả những cuốn sách khoa học phổ thông. Cũng ở Bắc Ninh, chúng tôi có dịp làm quen với mấy bạn sưu tầm sách chuyên nghiệp và ở đấy có lần tôi đã tận mắt trông thấy một bản “Lửa thiêng” in từ 1940 do Trần Văn Cần trình bày và Tô Ngọc Vân vẽ bìa.
2/
HAI TRÍCH ĐOẠN LẤY TỪ CÒM MÈN
BÀI TRÊN Fb CỦA LẠI NGUYÊN ÂN 12-7
Gia Ninh Trần
Vô cùng thương tiếc nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn văn Thành. Cầu cho vong linh Anh siêu thoát nơi Thiên Thu Cực Lac.
Tôi quen biết anh Thành là cái duyên kỳ ngộ. Khi quyển KTVM in lần đầu ( tức tiểu thuyết “Kim Thiếp vũ môn” NXB Văn học, 2015, tái bản 2017—VTN chú) lặng lẽ ra đời, không biết ngẫu nhiên thế nào anh lại đọc được và anh vào tận Nghệ tĩnh để hỏi manh mối về tác giả lạ hoắc. Được VHNA cho biết là tôi ở HN. Thế là anh liên lạc cùng với gần chục bạn trẻ đến nhà tôi trò chuyện. Lúc đó mấy bạn phải đọc KTVM qua bản photocopy. Từ đó chúng tôi gặp nhau như những người bạn tri kỷ tri âm ngoài đời! Anh yếu đã lâu, tiếc là tôi chưa thực hiện được đề nghị của Anh là dẫn một đoàn do anh tổ chức gồm những người hâm mộ KTVM đi dọc con đường mà các nhân vật và sự kiện đã xẩy ra. Thương tiếc Anh, người bạn văn chương tri âm tri kỷ.
--
Dan Truong Van
Khoảng cuối năm 2014 tôi tình cờ gặp anh Nguyễn Văn Thành trong buổi hẹn cà phê ở Hànoi với nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh. Nghe a B. Sinh gt tôi là việt kiều, sống 40 năm ở Ý và bây giờ về Việt Nam, có viết văn, 3 năm trước có in một quyển tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” và có nhiều dư luận. A nhướng mắt nhìn tôi và nói đùa: sống hơn 40 năm ở nước ngoài, lại lấy vợ Ý thì sao mà viết được tiếng Việt? Tôi xin a địa chỉ để khi về SG sẽ gửi sách tặng. Rồi cũng quên đi.
Mấy tháng sau có dịp ra Hànoi, hẹn nhau cũng với B. Sinh, a có đến và nói… “xin lỗi tôi gạch nát q sách của anh”. Tôi kinh ngạc nhìn quyển tt Bàn tay nhỏ dưới mưa bị gạch và ghi chú bằng bút mực chằng chịt trên lề các trang, các mũi tên lên xuống… gần như không còn chỗ trống. Có lẽ anh tưởng tôi buồn nhưng tôi xem đó là cái duyên kỳ ngộ.xem đó là người đọc kỹ và tâm dắc nhất vơi tp của mình. Sau đó vài tháng tôi nhận được 1 email của con trai anh ( anh Thành không biết lướt web, không dùng email, hay tham gia bất cứ mạng xã hội nào…) bai viết về tt BTNDM.
( http://www.art2all.net/.../btndm_nguyenvanthanh.html...)
Từ đó mỗi lần ra Hà Nội là chúng tôi gặp nhau như những người bạn tri kỷ tri âm, xa thì gọi thăm nhau ! Anh đa gt tôi và Elena với các nhân sĩ Hanoi như Vương Trí Nhàn, nhà văn Nguyễn Thiện Luân, đến thăm nhà đạo diễn Nguyễn Đình Nghi…. anh cho rằng “Bàn tay nhỏ dưới mưa“ có thể làm kịch bản hay làm phim rất hay nên đã từng gt tôi vói các đạo diễn ở Hanoi như Đặng Tú Mai/ Trần Quốc Trọng / Chu Tiến Dũng, … để nói chuyện làm kịch bản…
Anh yếu đã lâu, tháng 7 năm ngóai 2022, sau hơn 2 năm bị kẹt vì covid 19 ở Ý tôi có ra Hanoi và có gặp anh. Năm nay có gọi anh máy lần tiếc là anh không còn nghe rõ… Vô cùng thương tiếc Anh, Nguyễn Văn Thành, người bạn văn chương tri âm tri kỷ. Cầu mong vong linh a sơm được siêu thoát!
3/
MỘT CÁI CHẾT THẬT BUỒN
Hai năm nay tôi không có tin tức gì về Thành. Tôi thì ốm sẵn chỉ loanh quanh ở nhà, mà Thành thì nghe nói cũng yếu nhiều. Từ 2020 về trước lúc tôi mới bị tai biến, vài tháng một lần anh còn thường sang thăm tôi, nhưng rồi con người rất hay đi lang thang ấy cũng phải nằm bẹp một chỗ. Chúng tôi lại không thể gọi điện thoại được cho nhau. Tai tôi đã hỏng không nghe được giọng người nói từ xa. Từ xưa đến nay, Thành nói tôi đã khó nghe, bây giờ thì đành chịu.
Chiều chủ nhật 9-7-2023, tôi được bạn Trần Bích Phương, vốn cùng cơ quan với bà xã Thành, cho biết là Thành vừa trút hơi thở cuối cùng ngày hôm qua và đến hôm sau thì đưa đám. Bệnh ung thư phổi đã cướp đi sinh mạng bạn tôi chỉ sau chín ngày phát hiện. Mấy ngày tiếp đó. tôi chỉ có cách lướt qua các trang Fb quen thuộc xem có bạn nào báo cái tin đau buồn này không, nhưng tuyệt đối không. Tới khoảng trưa 12-7, tôi đành báo cho Lại Nguyên Ân biết, anh Ân sau khi thẩm tra thêm qua người em gái của Thành, là người đầu tiên đã đưa tin này trên Fb ở trang riêng của anh và được khá nhiều người quen biết chia sẻ.
Tới sáng 13-7 tôi mới chính thức nói chuyện được với Lưu Ý Nhi. Thì ra lỗi cũng là chỗ lâu nay tôi đã bỏ không nghe điện thoại. Mãi tới lúc Nhi tìm được số điện thoại của bà Yến nhà tôi thì tôi mới chính thức biết rõ mọi điều. Tôi tìm về trang Fb của Lưu Ý Nhi và đọc được dòng thông báo ngắn ngủi dưới đây ghi ngày 6-7
“Giờ Anh đã đi thật xa… Mẹ con em Mong Anh yên giấc ngàn thu bên Ông Bà, Cậu Mợ … Anh Thành nhé”
Hiện tôi cũng chưa tìm thấy ở đâu có in cáo phó và hình ảnh cũng như các chi tiết về tang lễ.
Cho đến hôm nay đúng mười ngày sau thời điểm bạn ra đi tôi mới nhờ được người gõ hộ mấy dòng này đưa trên Fb.
Một cái chết thật buồn, tôi chỉ còn biết tự nhủ.
Nhưng trong sự thất thường của những cảm xúc lúc tuổi già bệnh tật và trong một thời hơn kém thật giả khó phân, có lúc tôi lại chỉ mong mình có một cái chết đơn giản và nhẹ nhõm như vậy.
Những bài viết về “Nỗi buồn chiến tranh” từng đưa trên mạng
có thê đọc lại để tham khảo
...
MỘT KHÍA CẠNH LÀM NÊN HỆ-QUY-CHIẾU-TƯ-DUY MỚI CÙNG NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CUỐN SÁCH
Ngày 18 tháng 7 năm 2023
---
Nguồn
Anh hùng (phần 2)
https://hoangtq.wordpress.com/.../anh-hung-ph%E1%BA%A7n-2/
January 18, 2008
*********
“Bất kỳ ai nghĩ rằng người Việt Nam không có những cảm xúc của một con người bình thừơng, hoặc cho rằng có cái gì đó ma quỷ (evil) ở họ, cần phải đọc cuốn tiểu thuyết này”, đó là nhận xét của một nhà văn Mỹ về cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.[1]
Vì sao ông ta lại có nhận xét này?
Vì sao có người Mỹ cho rằng người Việt Nam không có cảm xúc, cảm giác của một con người bình thừơng?
Cái gì làm cho họ sợ người Việt Nam là ma quỷ? Vì sao phải đọc tác phẩm của Bảo Ninh mới có thể thay đổi được quan niệm này?
Vậy còn những tác phẩm viết về cuộc chiến tranh này của rất nhiều nhà văn Việt Nam trước đó? Đâu là sự khác biệt giữa tiểu thuyết của Bảo Ninh và các nhà văn khác?
--
“Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh mở đầu bằng thời điểm năm 1976, một năm sau khi cuộc chiến chống Mỹ kết thúc. Nhân vật chính và cũng là người kể lại toàn bộ câu chuyện, Kiên, có dịp quay lại khu vực Truông Gọi Hồn để tìm kiếm hài cốt đồng đội, nơi đã từng xảy ra một trận đánh “ghê rợn, độc ác bạo tàn” khiến “cái tiểu đoàn bất hạnh mà anh là một trong mười người may mắn [trong số 500 người] còn được sống đã bị bao vây rồi bị tiêu diệt mất hoàn toàn phiên hiệu”.[2]
Chỉ đọc qua vài trang đầu, ngay tức khắc ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa quan điểm của Bảo Ninh về chiến tranh và những quan điểm truyền thống vẫn thường được giảng dạy và phổ biến rộng rãi trong các trường học và trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở trong nước.
Để thấy rõ sự chuyển đổi trong hệ-quy-chiếu-tư-duy của “Nỗi buồn chiến tranh” và những tác phẩm khác, tôi thử so sánh ngôn ngữ mô tả của Bảo Ninh về tiểu đoàn “bất hạnh” 27 của Kiên với ngôn ngữ mô tả tiểu đòan 307 anh hùng qua bài hát “Tiểu đòan 307” sau:
----------
“Ai đã từng nghe tiếng Tiểu đoàn (tiếng Tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy )
… Đã chiến đấu bao năm ròng, chiến đấu với bao thành tích huy hoàng
Trận Tháp Mười , trận Mộc Hoá vang tiếng đồn với trận La Bang
Lưỡi gươm vung với cánh tay sắt đầu giặc rụng
Nổ súng đồng đồn giặc vỡ tan
… Đoàn quân lẻ bảy kể từ ngày ấy đánh đâu được đấy
Tiểu đoàn lẻ bảy oai hùng biết mấy
Với dạ sắt gan vàng tiến lên lòng son chẳng nao
Tiếng tiểu đoàn bao nhiêu quan Pháp run rẩy sợ hãi vang lừng danh tiếng ba trăm lẻ bảy”.
---------------
Với những những câu ca hùng tráng như trên, liệu có ai sau khi nghe bài hát có thể nghĩ đến việc gán ghép hai chữ “bất hạnh” cho bất kỳ một tiểu đoàn giải phóng quân nào?
Nghe câu “Lưỡi gươm vung với cánh tay sắt đầu giặc rụng” có ai tưởng tượng ra được cảnh “tiểu đoàn trưởng [tiểu đòan 27 của Kiên] gào to, như điên [‘Thà chết không hàng. . . Anh em , thà chết . . . ?’ rồi], mặt tái dại, hốt hoảng hoa súng ngắn lên, và ngay trước mắt Kiên anh ta tự đọp vào đầu, phọt óc ra khỏi tai”?[3]
Nếu như tiểu đòan 307 có tên tuổi và chiến công lẫy được lừng ghi vào sử sách và khắc sâu trong trí nhớ những học sinh thế hệ 7x của tôi thì ngược lại, đối với tiểu đòan của Kiên, sau trận đánh “ghê rợn, độc ác bạo tàn” trên, “chẳng còn ai nhắc đến tiểu đoàn 27 nữa”.
Liệu điều này có nghĩa là những đồng đội trong tiểu đoàn 27 của Kiên không hề lập được một chiến công “hiển hách” nào trong suốt bảy năm tham gia kháng chiến? Tất nhiên là không!
Chắc chắn họ đã có không ít dịp giương lê, bóp cò lấy đi mạng sống của không ít người lính phía bên kia, nhưng Bảo Ninh quyết định không “anh hùng hóa” những hành động bắn, giết này, không xem đó là niềm tự hào, hạnh phúc hay lẽ sống của người lính.
Thay vào đó ông đã phân tìch, mổ xẻ tâm tư, suy nghĩ, cảm nhận và số phận của người lính cách mạng từ một góc độ hòan tòan khác. Cuộc chiến ông mô tả trong “Nỗi buồn chiến tranh” là “một cuộc chiến tranh chưa từng được biết tới.”[4]
Hình ảnh người lính giải phóng trong truyện của Bảo Ninh không có chút dáng dấp “người hùng” quen thuộc nào, chẳng gợi lên trong trí óc người đọc hình ảnh các anh hùng Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Nguyễn Văn Trỗi hay hình ảnh anh giải phóng quân hiên ngang, tràn đầy lạc quan và tự tin trong thơ của Tố Hữu (và nhiều tác giả khác VTN thêm).
Những người lính trong truyện của Bảo Ninh là những con người bằng xương, bằng thịt, cần có nhu cầu ăn uống, tình cảm gia đình, tình cảm yêu đương và xác thịt. Họ chẳng phải là những cỗ máy vô tri vô giác chỉ sống bằng bắn giết. Họ chẳng thể vượt qua những giới hạn và đòi hỏi của thân xác vật lý để trở thành những “siêu nhân” vận hành thuần túy bằng lý tưởng và lý trí.
Như Can, người đồng đội của Kiên thổ lộ trước khi đào ngũ để quay về bên mẹ già: “Tôi không sợ chết, nhưng cứ bắn mãi giết mãi thế này thì chết hoại tình người. Dạo này đêm nào tôi cũng mộng thấy mình chết và tôi bơi ra khỏi xác biến thành con ma cà rồng đi hút máu người … Mình vào đây làm gì khi để mẹ già ở nhà cơ cực không nơi nương tựa, ngày đêm than khóc nhớ con… Bao thằng khốn nạn ung dung hưởng lộc chiến tranh chỉ con cái nông dân là phải dứt lòng ra đi bỏ lại đằng sau cảnh mẹ già màn trời chiếu đất. […] Cả đời đi đánh nhau, thú nhật, tôi chả thấy cái trò này là có gì vinh. Nhưng do hy vọng nên vẫn còn chịu đựng. […] Nhưng mấy đêm vừa rồi tôi toàn mê thấy mẹ tôi gọi tôi… Có nhẽ anh tôi đã chết mà mẹ tôi thì khổ não lâm bệnh rồi chăng.”[5]
Đối với Marx, “hạnh phúc là đấu tranh”, và đối với các tác giả viết sách truyện về cuộc chiến chống Mỹ cứu nước trước Bảo Ninh, được đứng vào hàng ngũ anh bộ đội cụ Hồ, được chiến đấu xả thân cho đất nước là niềm vinh dự và hạnh phúc vô biên.
Nhưng đối với những chiến sĩ trinh sát trong truyện của Bảo Ninh thì “một thời kỳ sung sướng, bình yên, nhàn cư, vô tư lự … [là] những ngày suốt mùa mưa … chẳng phải đánh đấm gì” và “cả trung đội mười ba đứa, vẫn còn đủ mặt”.
Những giây phút hạnh phúc của họ còn là những giây phút được tìm đến các ảo giác, mộng mị của ma túy để “mà quên mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ, chết chóc, quên béng ngày mai”.[6]
Thế đấy, viễn tưởng về một ngày chiến thắng và một cuộc sống hòa bình trong một tương lai xa vời nào đó đâu thể đem lại cho họ một cảm giác hạnh phúc cụ thể và cũng chẳng thể làm họ quên đi được những gian khổ và sự tàn bạo diễn ra hàng ngày trong chiến tranh.
Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tràn ngập những quan điểm phi-chính-thống “vi phạm, …lật ngược tất cả những giáo điều”[7] đã được truyền bá, phổ biến rộng rãi trước đó.
Cứ sau vài trang là người đọc bắt gặp những mẩu đối thọai “ngược ngạo” sau:
“- Ôi giời ơi! … Chém giết là sự nghiệp của những thằng đang sống.
– Nhưng dù sao thì cũng đã hoà bình. Giá mà giờ phút hoà bình là giờ phút phục sinh tất cả những người chết trận nhỉ.
– Hừ, hoà bình! Mẹ kiếp, hoà bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại có chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.
– Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu làm gì?
– Thế à! Ờ, thì cũng phải hi vọng thôi, tất nhiên. Nhưng chả biết tới khi mô con cháu ta mới đủ lớn khôn. Với lại chúng sẽ lớn khôn theo kiểu gì, ai mà biết. Chỉ biết bao nhiêu cái tốt đẹp đã bị giết. Còn sót chút nào thì bọn chúng mang đổi chác nốt rồi. Đấy, cứ nhìn cái cảnh chợ giời xô bồ “miền Nam nhận họ miền Bắc nhận hàng” ở các thành phố thằng nào chẳng nản. Rồi lại nhìn xương cốt mồ mả anh em mình đây, tủi hận lắm ông ạ.
– Nhưng hoà bình không là điều tốt hơn à?
– Nền hoà bình này… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bày ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra…”[8]
Hoặc trong một đọan văn khác, trước khi Kiên lên đường ra trận, Bảo Ninh đã mượn lời người cha kế khuyên nhủ Kiên để nêu lên một thông điệp quan trọng sau – có lẽ ông hy vọng sẽ đánh thức và làm thay đổi tư duy truyền thống của những người do hòan cảnh bắt buộc đã phải cầm súng chiến đấu nhưng giờ đây vẫn ôm chặt lấy một quá khứ vinh quang nhuộm đầy máu của 3-4 triệu người đã ngã xuống:
“Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ… Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy”.
Chẳng có gì ngạc nhiên là với kiểu tư suy “lệch lạc” này, trong đợt in lần đầu tiên, nhà xuất bản yêu cầu Bảo Ninh thay đổi tựa đề cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” thành “Thân phận tinh yêu”. Ta có thể hiểu lý do của họ là không thể chấp nhận có một “nỗi buồn” nào trong cuộc kháng chiến đánh thắng giặc Mỹ xâm lược hào hùng và oanh liệt của dân tộc. Mà nếu có thì đó là nỗi buồn của một cá nhân riêng lẻ, không thể so sánh được với niềm hạnh phúc tột bật và ánh hào quang sáng ngời của cả một dân tộc anh hùng, bất khuất đánh thắng một đế quốc giàu, mạnh nhất trong lịch sử nhân loại! Viết về cuộc chiến tranh ấy từ góc độ “nỗi buồn chiến tranh” với những mất mát, đau thương, dằn vặt của thân phận con người bị xem là một sự xúc phạm, là sự “phủ nhận quá khứ của chính mình, mồ hôi nước mắt của chính mình và bao người khác những năm chiến tranh”.[9]
Dĩ nhiên, thay đổi tựa đề không thể thay đổi nội dung bên trong của truyện. Nhưng có thể họ đã hy vọng rằng một cuốn truyện với một tựa đề yêu đương vớ vẩn sẽ tránh được sự chú ý của các cơ quan giám sát, quản lý văn hóa?
Và cũng không có gì ngạc nhiên là tại một buổi tọa đàm về cuốn tiểu thuyết “Rừng thiêng nước trong” của nhà văn Trần Văn Tuấn do Hội đồng Lý luận – Phê bình của Hội Nhà văn TPHCM tổ chức ngày 27-8-2004, một vị đại tá tham gia buổi tọa đàm đã nhận định “Viết như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là thiếu chân thật”.[10]
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh chỉ được nhận lại “tên khai sanh” của nó sau khi được dịch sang tiếng Anh và gây được một tiếng vang đáng kể trong giới phê bình nước ngòai. Tuy vậy, chúng ta biết rằng hệ-quy-chiếu-tư-duy mới cùng những giá trị nhân văn của ông vẫn chưa hòan tòan được chấp nhận và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam. Nhưng ta hòan tòan có thể hy vọng trong một tương lai không quá xa ngày ấy sẽ đến. Nó sẽ đến.
________________________________________
[1] “Larry Heinemann in Conversation with Kurt Jacobsen”, đăng trên Logos số 2.1 – Winter 2003, ở đây http://logosonline.home.igc.org/heinemann.htm.
[2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] “Nỗi buồn chiến tranh”, bản điện tử trên internet nên không xác định được trích đoạn nằm ở trang nào.
[9] Vương Trí Nhàn, “Nhờ hội nhập, một cuốn sách hay đã trở lại với bạn đọc!”, Báo Tuổi Trẻ Online, 5/11/2006, http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx...
[10] “Đề tài chiến tranh cách mạng có còn hấp dẫn?”, đăng tại http://hanoi.vnn.vn/vanhoc/cuocsong.asp?id=BT3080437396...
BẢO NINH HÔM NAY
Ngày 20 tháng 7 năm 2023
Nguyên là bài viết “Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh”
của Rohit Inani, Nhà báo ở Delhi, Ấn Độ, viết cho các báo Time, The Nation and Himal Southasian.
Phạm Xuân Nguyên dịch từ nguyên bản tiếng Anh.
Theo ghi chú ở cuối bản tiếng Việt, thì bài đã được đăng trong "Viết & Đọc, chuyên đề mùa xuân 2019", Nxb Hội Nhà văn.
Những đoạn sau đây là lấy từ nguồn
https://vanthekt.blogspot.com/.../noi-buon-chien-tranh...
--
Cả bài khá dài, hơn 6 ngàn chữ. Chúng tôi mạn phép đặt lại tên chung cả bài như trên và sau khi lược bỏ một số ý không cần thiết thì chia làm hai phần nhỏ.
I./
Phần đầu
MẤY NÉT SƠ SÀI VỀ CON NGƯỜI TÍNH CÁCH BÈ BẠN
*
Bảo Ninh ngồi vào ghế và gọi trà. Ông đặt gói thuốc Camel lên bàn và nhìn ra ngoài cửa sổ. ”Dịp này đến Hà Nội không hay lắm”, ông nói.
Tháng Năm ở thành phố nóng bức và ngột ngạt, báo hiệu một mùa hè oi ả đang đến. Khi nhiệt độ lên cao, các đám đông như bị xì hơi. Sau đó, những cơn mưa rào rửa sạch thành phố, khơi động lại “tinh thần Hà Nội” mà theo Kiên – nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh (NBCT) cuốn tiểu thuyết táo bạo và nổi tiếng rộng khắp năm 1990 của Bảo Ninh dựa trên kinh nghiệm trận mạc của chính ông – là “mạnh nhất về đêm khi toàn thành phố dường như đã vắng vẻ, ướt át, cô đơn, lạnh lẽo và buồn tê tái”.
Chúng tôi gặp nhau tại một quán cà phê ở phố cổ Hà Nội, nơi yêu thích của các nhà báo, nghệ sĩ và các quan chức hạng trung. Bảo Ninh hiếm khi gặp gỡ báo chí hay trả lời phỏng vấn, ông thích một cuộc sống giản dị bình lặng ở Hà Nội, nơi ông ít khi rời đi.
Ngoài phố, một cơn gió nhẹ thổi và ánh nắng chiếu vào bậu cửa sổ đôi lúc khiến Bảo Ninh chú ý. Ông đốt một điếu thuốc. “Tôi quý cái công của ông tìm gặp tôi, nhưng chẳng có gì để nói nhiều đâu,” ông bảo tôi thông qua cô phiên dịch Nguyễn Phương Loan. “Tôi là một nhà văn. Tôi chỉ viết thôi chứ nói về mình thì dở lắm.”
Bảo Ninh đẹp trai, có mái tóc nâu xám gợn sóng và cặp mắt sâu ủ rũ. “Ta bắt đầu nhỉ?” ông nói. “Không có nhiều thời gian đâu. Ngày mai tôi phải đi mổ.”
Tuần đầu tháng Năm ông được chẩn đoán là bị một khối u ung thư, hậu quả của nhiều năm trời uống rượu và hút thuốc, một thói quen ông có từ sau khi hết chiến tranh trở về nhà, về lại cuộc sống khó khăn thời hậu chiến, viết và uống thâu đêm suốt sáng tại nhà mình hồi đó ở một nơi tồi tàn tại trung tâm Hà Nội.
Bảo Ninh, người tháng Mười này sang tuổi 66, là nhà văn Việt Nam nổi tiếng nhất với cuốn tiểu thuyết NBCT mà khi bản dịch sang tiếng Anh được xuất bản năm 1994 đã lập tức được coi là cuốn truyện kinh điển về chiến tranh, được so với tác phẩm nổi tiếng Phía Tây không có gì lạ của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, một tiểu thuyết viết về trải nghiệm của những người lính Đức trong Thế chiến Một.
Dựa trên kinh nghiệm của một anh lính Bắc Việt trong tiểu đoàn 27 – trong số 500 thanh niên ra trận năm 1969, Ninh là một trong số mười người sống sót trở về, sau đó sáu người trong số đó đã tự tử - cuốn tiểu thuyết kể lại những trải nghiệm của một phản nhân vật – Kiên, một cựu chiến binh trung niên nhớ lại tháng ngày chiến trận của mình khi đi quy tập thi thể đồng đội trong các cánh rừng ở miền Trung Việt Nam.
Năm 1994, Bảo Ninh trở thành nhà văn Việt Nam đầu tiên được giải thưởng văn học ở nước ngoài, giải tiểu thuyết nước ngoài xuất sắc của tờ The Independent, cùng với tác phẩm Đường đến San Giovanni của Italo Calvino.
Tại buổi lễ trao giải ở Hay-on-Wye, Robert Winder khi đó là biên tập viên văn học của The Independent đã gọi cuốn tiểu thuyết là một tác phẩm “lịch sử” và đã nói khi tuyên bố giải: “Thông thường, lịch sử là câu truyện được bên thắng cuộc kể lại; cuốn sách của Bảo Ninh nhắc cho chúng ta rằng trong chiến tranh các bên đều thua.”
Khi âm vang chiến thắng 4-1975 lặng xuống, Việt Nam cuối cùng đã được thống nhất sau hàng chục năm chiến tranh, bắt đầu thấm thía cái giá phải trả để thực hiện ước mơ bao lâu mong đợi. Đất nước tan hoang, các thành phố thị trấn đổ nát dưới những trận bom từ máy bay trút xuống. Năm triệu héc ta rừng và cây trồng bị phá hủy do những vụ nổ lớn và các chất độc hóa học, bao gồm cả khoảng 43 triệu lít chất độc da cam. Hơn ba triệu người Việt Nam bị giết. Và với việc không còn sự giúp đỡ của Liên Xô thời bị cô lập quốc tế, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn toàn sụp đổ.
Năm 1986, sau gần một thập niên lạm phát cao và nghèo đói trên diện rộng, ĐCSVN bắt đầu thực hiện các biện pháp tự do hóa nền kinh tế, một phong trào được biết đến dưới tên gọi Đổi Mới, và đưa Việt Nam hai thập niên sau đó trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Năm 2008, tạp chí The Economist gọi đó là “một sự thần kỳ khác của châu Á” sau Trung Quốc.
Thế hệ người lớn Việt Nam hiện nay quá trẻ để nhớ tới chiến tranh. Bảo Ninh đứng ở trên lề sự chuyển đổi đó, là tác giả của cuốn tiểu thuyết chiến tranh được yêu chuộng nhất nước, người không chỉ nói với thế hệ đánh trận mà còn thương xót các nạn nhân cuộc chiến và khi làm thế đã tách khỏi bộ máy quan liêu Việt Nam vẫn duy trì món cocktail pha trộn lòng yêu nước, vinh quang và tuyên truyền.
Sau khi chiến tranh kết thúc, các bài diễn văn chính thức của đảng chỉ tập trung nói về những hành động anh hùng của người lính và sự hy sinh của họ cho đất nước, nhưng lại lấp liếm những chuyện đau khổ và tàn bạo của họ trong thời chiến.
“Đó là một điều quan trọng khi xảy ra và đến nay vẫn quan trọng, khi nhiều người Việt Nam hoặc không biết gì về quá khứ chiến tranh của họ hoặc chọn cách quên đi những điều họ biết,” Nguyễn Việt Thanh, nhà văn Mỹ gốc Việt được giải Pulitzer viết cho tôi qua email.
Nhưng trong khi cả một thế hệ đặt quá khứ lại phía sau để đi tìm một căn cước dân tộc mới thì Bảo Ninh lại không nhìn nhận mọi chuyện đơn giả vậy. Tôi đã phỏng vấn một số người bạn của ông là nhà văn và cựu chiến binh, phần lớn họ đều nói tới hai đặc điểm nổi bật, không thay đổi qua năm tháng của Bảo Ninh: trầm lặng và buồn bã.
Một buổi chiều, sau khi uống rượu và đốt thuốc liên tục trong phòng họp của Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN), một hội đoàn văn hóa chính thức do ĐCSVN lãnh đạo, một số nhà văn thân thiết của Bảo Ninh ngồi bên chiếc bàn gỗ tếch dài chờ bữa ăn được đặt sẵn. Phần lớn những người ở đây là hội viên.
“Bảo Ninh luôn trầm lặng. Anh ấy không bao giờ nói về việc viết lách hay các sách của mình. Chúng tôi đã quen thế rồi.” Nguyễn Chí Hoan nói.
“Anh có bao giờ hỏi anh ấy là vì sao lại thế không?” tôi hỏi.
Hoan bật cười. “Chúng tôi không dám hỏi anh ấy điều đó. Ở đây, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của anh ấy.”
Hoan chỉ sang Đào Bá Đoàn giục nói. “Anh này ngồi với Bảo Ninh nhiều. Đoàn, ông nói về Bảo Ninh đi.”
Đoàn, một nhà văn, giật nắp lon bia tu một ngụm to rồi chậm rãi đưa tay phải ra vung lên đầu, ngón tay trỏ chỉ vào thái dương mình. “Đầu anh ấy vẫn còn chứa một nỗi buồn lớn,” anh nói. “Chỉ người Việt Nam mới có thể hiểu được nỗi buồn trong tâm anh ấy.”
Những người khác thở dài gật đầu đồng ý.
Sau đó bầu không khí im lặng trong phòng bị phá vỡ khi cánh cửa mở ra. “A, ăn trưa ở đây,” Đoàn kêu lên.
2/
Phần tiếp
MỘT GIAI ĐOẠN GẦN NHƯ LÀ TẠM NGỪNG
*
Kể từ khi xuất bản NBCT, Bảo Ninh không ra cuốn tiểu thuyết nào mới. mặc dù ông vẫn viết đều, chủ yếu là các truyện ngắn và các bài tiểu luận mà một số đã được dịch ra tiếng Anh và in trong những tuyển tập như "Night, Again" do Đinh Linh chủ biên.
Mấy năm trước, ông có tham gia làm cho một tờ phụ trương văn học in ở Hà Nội của HNVVN. “Tôi vẫn viết hàng ngày,” ông bảo tôi. “Viết để giết thời gian.”
Có tin là Bảo Ninh đã viết xong cuốn tiểu thuyết thứ hai cũng về chiến tranh với tên gọi “Thảo nguyên”, nhưng ông ngần ngại xuất bản nó, thậm chí miễn cưỡng nói về nó.
Năm 2006, trong một cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi cho tờ The Guardian khi được hỏi tại sao ông do dự cho ra đời cuốn sách mới, ông nói, “Tôi bắt mình dừng lại. Tôi kìm mình lại… Tôi so sánh những cái mình viết bây giờ với những cái viết trước đây thì thấy chúng không tự nhiên như trước.”
“Cuốn đó có tên là Thảo nguyên?” tôi hỏi Bảo Ninh.
Ông cười. “Đấy là tôi nói với mọi người thôi chứ tôi đã viết đâu.”
Ngừng một lát để tìm câu trả lời, ông nói, “Giờ không phải là lúc dễ dàng để in một cuốn tiểu thuyết ở Việt Nam.”
Ở Hà Nội, cuốn tiểu thuyết chưa in của Bảo Ninh được phủ một màn bí mật.
Như Bass đã viết, sau cuộc thăm ngắn của ông với Bảo Ninh năm 2008, “Cá nhân tôi không biết được là bản thảo này có hay không mà ở Việt Nam người ta coi như là con cá voi trắng của thuyền trưởng Ahab (nhân vật trong tiểu thuyết “Cá voi trắng” của nhà văn Anh Herman Melville’s Moby-Dick – ND) – nhiều người ngờ là không có, một số tin là có, còn chỉ vài người là đã thấy.”
Bạn bè ông cũng như độc giả ở Hà Nội khi cố công tìm xem Bảo Ninh đã viết xong bản thảo hay chưa hoặc moi ở ông câu trả lời vì sao ngại công bố nó đều chỉ gặp sự im lặng của ông. “Anh ấy chỉ cười lảng tránh. Và rồi im lặng,” Nguyễn Quang Thiều nói.
Một hôm, Phạm Xuân Nguyên cùng Bảo Ninh uống rượu và hỏi về cuốn tiểu thuyết thứ hai. Ông cũng chỉ nhận được thái độ của Bảo Ninh như mọi lần, nhưng lần này ông Nguyên quyết hỏi cho ra. “Ông là nhà văn một cuốn sách. Nhà văn mà chỉ viết một tiểu thuyết chưa phải là nhà văn thực thụ. Ông cần phải viết tiếp một cuốn nữa.” Nghe thế Bảo Ninh tức giận bật lại ông Nguyên, “Ông cứ chờ đấy, khi nó ra thì đó sẽ là một quả bom, nổ tung.” Đó là chuyện vài năm về trước.
“Có người nói anh ấy sợ đưa bản thảo cuốn tiểu thuyết thứ hai ra vì anh ấy nghĩ là nó kém so với NBCT. Tôi không tin điều đó.” Nguyễn Quang Thiều bảo tôi. “Tôi đã nói với anh ấy là hiện nay khác với trước đây. Bây giờ tình hình đã rất khác. Anh có thể in nó ra. Anh ấy chỉ cười. Và không nói gì. Anh ấy bắt mình dừng lại. Tôi không hiểu vì sao.”
Cuốn tiểu thuyết mới ấy, nghe nói lấy bối cảnh Nam Việt Nam năm 1974, kể về một gia đình chạy dần về phía nam khi quân đội Bắc Việt tràn tới và sau đó di tản. “Có lẽ vì lý do đó mà anh ấy không muốn công bố nó, biết đâu đấy,” một hội viên và là bạn thân của Bảo Ninh bảo tôi. “Đó là cuốn sách tìm hiểu về các nạn nhân của chiến tranh. Chúng tôi thì dễ hiểu. Chính phủ thì dễ hiểu. Nhưng việc trốn chạy khỏi chế độ cộng sản thì khó hiểu hơn nhiều.”
“Tôi không muốn hỏi anh ấy về cuốn tiểu thuyết thứ hai nữa. Tôi không muốn gây khó cho anh ấy thêm. Tôi chấp nhận thái độ im lặng của anh ấy,” Thiều nói. “Anh ấy lo lắng cho tình trạng của các nhà văn ở Việt Nam. Lo lắng về văn học ở Việt Nam. Anh ấy cũng lo lắng về thái độ của chính quyền đối với các văn nghệ sĩ. Anh ấy muốn thấy có tự do nhiều hơn.”
Bảo Ninh từ chối nói gì nữa về cuốn sách thứ hai của mình, xóa nó đi bằng thái độ im lặng cố ý. “Tốt nhất là anh nên gặp các nhà văn khác, họ có nhiều mà. Chứ đừng gặp tôi,” ông nói. “Tôi đã không nghĩ đến cuốn sách ấy nữa – ý nói NBCT – lâu nay rồi.”
Tất cả các nhà văn, ông nói thêm, đều viết những cuốn sách để quên đi. “Muốn viết gì về cuốn đó thì cứ việc, nhưng xin đừng bắt tôi nói về nó.”
Ông đứng lên để đi, nói là đã muộn giờ hẹn với bác sĩ.
“Chúc ca mổ của ông thành công,” tôi nói.
Ông cười. “Tôi là một người lính. Tôi không sợ gì hết.”
NHÀ VĂN TRUNG QUỐC - DIÊM LIÊN KHOA: 'CHỦ NGHĨA HÒA BÌNH QUAN TRỌNG HƠN CHỦ NGHĨA ÁI QUỐC'
Ngày 22 tháng 7 năm 2023
Báo mạng
phunuonline.com.vn
10/04/2019 -
https://www.phunuonline.com.vn/nha-van-trung-quoc-diem...
Nhà văn Diêm Liên Khoa đã gặp gỡ sinh viên ngữ văn, nhân tiểu thuyết Đinh Trang mộng vừa xuất bản, tiểu thuyết Tứ thư đang rục rịch ra mắt tại Việt Nam.
Với những suy tư trực tiếp, nhìn thẳng vào lịch sử và hiện thực Trung Quốc, con người Trung Quốc, nhiều tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa đến nay vẫn gây tranh luận tại nước này.
Trong mấy chục năm viết văn, Diêm Liên Khoa nhận rất nhiều giải thưởng văn học danh giá trong nước cũng như quốc tế. Đặc biệt, năm 2014, ông là nhà văn Trung Quốc đầu tiên và là nhà văn châu Á thứ 2 (sau Haruki Murakami) nhận giải thưởng văn học Kafka - một trong những giải thưởng văn học danh giá trên thế giới hiện nay.
Tiêu chuẩn đề cử của giải thưởng này là tác phẩm phải có “tính nhân văn cùng việc đóng góp vào sự khoan dung văn hóa. Hơn nữa, vai trò của nó phải đủ vững bền, đồng thời thể hiện một cách hiệu quả những bằng chứng về thời đại của chúng ta”.
Tại Việt Nam, 5 tác phẩm của ông đã được xuất bản: Phong Nhã Tụng, Người tình phu nhân sư trưởng, Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Kiên ngạnh như thủy, Đinh Trang mộng. Tứ thư là quyển thứ 6 và năm cuốn khác cũng sẽ được dịch, xuất bản tại Việt Nam trong thời gian tới.
Tại cuộc nói chuyện với sinh viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội, giáo sư Vương Nghiêu (Đại học Tô Châu, Trung Quốc) nói: Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Diêm Liên Khoa là những nhà văn quan tâm tới vấn đề nhân tính, đều thể hiện sự kinh sợ với ngôn ngữ và dùng việc viết để thúc đẩy văn học Trung Quốc. Nếu không có 3 người đó, khó có sự phát triển của văn học Trung Quốc hôm nay.
“Trong khi nhiều nhà văn khác hài lòng với thành tựu, Diêm Liên Khoa không dừng lại. Mỗi tác phẩm của ông là một sự nhảy vọt về tư tưởng và khi ông viết xong một tác phẩm, ta thấy, ông sẽ không thể viết thêm tác phẩm nào khác tương tự. Diêm Liên Khoa là nhà văn tiên phong, tiến bộ, không ngừng tiến về phía trước. Theo tôi, Diêm Liên Khoa là một nhà văn lịch sử” - giáo sư Vương Nghiêu khẳng định.
************
NẾU CHỈ NÓI VỀ TÍNH THIỆN,
VĂN HỌC KHÁ ĐƠN GIẢN VÀ NÔNG CẠN
1/
Phóng viên:
Tiểu thuyết Đinh Trang mộng của ông từng được chuyển thể thành phim Tối ái (2011) với sự tham gia của Quách Phú Thành và Chương Tử Di. Ở phần đầu phim thể hiện, những chi tiết trong phim chỉ là hư cấu, không phải sự thật. Ý kiến của ông thế nào?
………………………
Nhà văn Diêm Liên Khoa: Tôi muốn nhấn mạnh một điều ở đây: chỉnh thể câu chuyện là hư cấu, nhưng mỗi chi tiết nhỏ của câu chuyện lại là thực, thậm chí đều là những thứ đã từng xảy ra. So với tác phẩm của tôi, bộ phim nghiêng về khía cạnh tình yêu nhiều hơn, nhiều chi tiết về cái ác đã bị cắt giảm. Tôi nghĩ, tiểu thuyết của tôi, nếu giữ nguyên mà dựng thành phim thì không thể công bố ở Trung Quốc. Việc kiểm duyệt điện ảnh thậm chí còn khó khăn hơn kiểm duyệt sách. Hơn nữa, sách của tôi phức tạp và có quá nhiều vấn đề, cũng khó dựng thành phim. Tôi cũng không mong muốn sách của mình dựng thành phim, vì điều đó chứng tỏ sách của tôi quá đơn giản.
2/
* Giáo sư Huỳnh Như Phương của Việt Nam nói, có vẻ, với những bậc thầy viết về nông thôn như Lỗ Tấn ở Trung Quốc hay Nam Cao ở Việt Nam thì nông thôn ấy còn có thể “cứu chữa”, nhưng Diêm Liên Khoa viết về đề tài này thì nông thôn đã không còn cứu chữa được nữa. Sao ông không viết về tính thiện mà lại viết về cái tối, cái ác?
…………………….
- Tại Trung Quốc, có rất nhiều người viết về những vấn đề xán lạn của đất nước, thì cũng nên có những người viết về bóng tối như tôi. Tính thiện và tính ác là hai vấn đề lớn của văn học. Nếu văn học chỉ quan tâm tới cái thiện, tới tình yêu thì tôi cảm thấy, văn học khá đơn giản và nông cạn. Sự vĩ đại của văn học nằm ở chỗ, nó có thể quan tâm tới bóng tối, cũng như cái ác. Vì khi chúng ta quan tâm tới cái ác, ta mới trân quý cái thiện; chỉ khi sống trong bóng tối, mới cảm nhận được từng chút ánh sáng. Việc quan tâm tính thiện, cũng như cái ác, rất quan trọng.
Tôi cho rằng, văn học Trung Quốc hay văn học Việt Nam mà chỉ quan tâm một chiều thì rất lạc hậu. Tôi xin khẳng định, tất cả vấn đề trong cuộc sống của chúng ta, trong thế giới này, đều là tài nguyên của văn học. Chúng ta không nên nhấn mạnh cái này là tốt, cái kia là xấu.
Đương nhiên, mỗi nhà văn sẽ có lựa chọn của riêng mình, khi đứng trước vấn đề thiện và ác.
Cá nhân tôi có cảm giác, mình mang sứ mệnh cảm nhận bóng tối, mẫn cảm với bóng tối, viết về bóng tối, để đánh thức mọi người về chân - thiện - mỹ. Tôi cũng không chăm chăm viết về bóng tối, mà vẫn viết về những ánh sáng lóe lên trong bóng tối đó. Nếu đọc nhiều tác phẩm của tôi, các bạn sẽ hiểu, bóng tối và ánh sáng, cái ác và cái thiện tôi viết.
VĂN HỌC KHÔNG CÓ VÙNG CẤM
3/
* Trung Quốc được biết đến là một đất nước tôn sùng chủ nghĩa ái quốc. Nhưng Trung Quốc trong tác phẩm của ông lại đầy bóng tối và xấu xa. Tới bây giờ, vẫn có những tác phẩm của ông không được xuất bản tại Trung Quốc. Ông có cảm thấy mình bị “ruồng rẫy” ngay trên chính quê hương mình?
… ……………….............
Không ai nói ái quốc là điều xấu, nhưng rõ ràng, Trung Quốc đang chìm đắm trong sự mê muội của chủ nghĩa ái quốc. Tôi xin nhấn mạnh chữ “chìm đắm”.
Hiện nay, chủ nghĩa này vô cùng lớn mạnh ở Trung Quốc. Những quốc gia chìm đắm trong chủ nghĩa này đều không có tương lai.
Tất nhiên, chủ nghĩa ái quốc không thể vĩ đại và quan trọng bằng chủ nghĩa hòa bình. Tôi hy vọng, sự mê muội của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa nước lớn sẽ dần được giảm bớt và chúng tôi được tiếp xúc nhiều hơn với các nền văn hóa - văn học của các nước xung quanh.
Còn cảm giác bị ruồng rẫy? Những điều tôi viết rất nhạy cảm. Sách của tôi đã từng bị cấm hoặc gặp trắc trở trong quá trình xuất bản, nhưng tới bây giờ, tôi vẫn cảm thấy mình là người may mắn, khi vẫn còn được viết. Tôi cũng không quan tâm tới việc người ta tán dương hay chỉ trích, vì bất kỳ cảm xúc nào đều không quan trọng với tôi. Tôi 60 tuổi rồi. Những điều tôi hướng đến là làm thế nào để viết về thế giới nội tâm của chính mình và làm sao để tiểu thuyết và kỹ thuật viết đạt đến trình độ cao nhất. Điều đó quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác. Theo tôi, văn học không có vùng cấm. Khi viết, tôi thể hiện sự tự do lớn nhất của nội tâm, vì tôi sáng tác không phải để xuất bản. Tôi viết vì nội tâm của chính mình chứ không phải vì độc giả.
4/
* Ông nói thôn trang của ông là trung tâm của thế giới. Từ thôn trang đó, nhìn ra được những vấn đề của thế giới. Cụ thể ra sao?
……………………….....
- Thôn trang của chúng tôi là thôn trang hậu xã hội chủ nghĩa điển hình. Nhưng từ thôn trang, có thể nhìn thấy những vấn đề của nhân loại. Tôi là đứa trẻ xuất thân từ nông thôn, từ bé đã sống trong sinh quyển có cỏ cây, đồng ruộng, vườn tược, chim chóc… Nhưng ở nông thôn Trung Quốc hiện nay, tỉnh dậy đã không còn nghe tiếng chim hót nữa. Tôi nghĩ, khi thôn trang không còn tiếng chim hót, tiếng gà vịt... ngày tận thế của nhân loại cũng gần đến rồi. Tôi rất hy vọng Trung Quốc hay Việt Nam đều giàu có, lớn mạnh; nhưng dù phát triển thế nào đi nữa, cũng nên lưu lại những âm thanh của chim chóc trên bầu trời.
Thế giới ngày nay, có lẽ, cũng chẳng có nơi nào như Trung Quốc - có thể cung cấp cho nhà văn những tư liệu sống vừa hoang đường vừa phức tạp, vừa có nhiều nội dung như Trung Quốc hiện đại. Vấn đề của nhà văn là tương tác và chọn phương pháp, hình thức thích hợp để viết mà thôi.
5/
* Tôi có đọc lời giới thiệu của ông nhân tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được xuất bản tại Trung Quốc. Từ Bảo Ninh, ông nhìn nhận thế nào về văn học Việt Nam cũng như những nước xung quanh?
…………………….
- Ở Trung Quốc hiện nay, mọi người vẫn đang theo đuổi và tôn sùng nền văn học Mỹ, châu Âu, nên lơ là các nền văn học giá trị xung quanh mình cũng như các nền văn học Đông Nam Á khác. Tôi nghĩ, các tác giả Việt Nam cũng chẳng kém gì các tác giả Trung Quốc. Tôi đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thấy rất thích, xúc động và kinh ngạc. Tôi tin rằng, không nhà văn Trung Quốc nào, kể cả tôi, viết về chiến tranh hay hơn Bảo Ninh. Ông đã viết ra được cái tàn khốc của chiến tranh và nói được những điều vượt ra ngoài văn học. Cách viết trữ tình của Bảo Ninh là yếu tố cốt lõi trong văn học truyền thống phương Đông của chúng ta. Tất nhiên, phong cách viết của tôi khác Bảo Ninh. Tác phẩm của tôi cũng tự nó phá ra bên ngoài cái lõi đó, bởi văn học muôn hình vạn trạng, tôi muốn thử nghiệm những thứ mới mẻ hoặc điên rồ khác.
6/
* Ông định tiếp tục hành trình văn chương ra sao? Qua các tác phẩm của ông, dường như ông đang chuyển dần từ chủ nghĩa hiện thực sang chủ nghĩa thần thực?
……………………..
- Tương lai, tôi rất muốn được viết những tác phẩm không phải tiểu thuyết, nghĩa là, tôi muốn viết một loại tiểu thuyết không giống với tiểu thuyết, vì tôi rất ghét những tiểu thuyết quá giống với tiểu thuyết.
Còn chủ nghĩa thần thực mà tôi đề xuất, tôi chủ yếu quan tâm tới hiện thực mà chúng ta không nhìn thấy hơn là những gì có thể nhìn thấy. Tôi nghĩ, phải quan tâm tới cái chân thực bị chân thực che lấp; thậm chí, cần quan tâm tới những vấn đề căn bản không tồn tại. Những tác phẩm như Đinh Trang mộng, Kiên ngạnh như thủy… đã có những mầm mống của chủ nghĩa thần thực. Nếu các bạn đọc những tác phẩm sau này như Tứ thư, Nhật tức, Thụ hoạt... sẽ hiểu hơn về chủ nghĩa thần thực. Nhưng viết gì thì viết, tôi nghĩ, một tác giả tìm được phương pháp thích hợp với mình nhất và nói được một câu chuyện cá nhân nhất, là cách viết mà ta nên theo đuổi.
* Xin cảm ơn ông.
Đậu Dung (thực hiện)
************
THAM KHẢO THÊM
CÁC Ý KIẾN VỀ DIÊM LIÊN KHOA
CŨNG IN TRONG TRANG MẠNG NÀY
PGS - TS La Khắc Hòa - Đại học Sư phạm Hà Nội: “Diêm Liên Khoa vượt ra khỏi mọi khuôn khổ của văn học Trung Quốc hiện nay”
Diêm Liên Khoa là một nhà văn lớn, vượt khỏi mọi trường phái, khỏi mọi bước đi, khuôn khổ của văn học Trung Quốc hiện nay. Nếu xét về phong cách, nội dung, chủ đề, ông ấy viết theo phong cách giễu nhại. Nội dung trong sáng tác của ông không đơn giản chỉ là hiện thực Trung Quốc, mà là hiện thực Trung Quốc trong văn chương một thời. Chính thứ hiện thực đó, được ông ấy giễu nhại, lại tạo thành nội dung và hình thức độc đáo, lạ. Tôi cũng không hiểu vì sao ông ấy nhiều lần được đề cử giải Nobel văn chương mà vẫn chưa được. Ông ấy hoàn toàn xứng đáng với một giải Nobel.
Diêm Liên Khoa là nhà văn đạt đến ngưỡng tự do của sự viết. Tôi có cảm giác, ông ấy vừa đứng trong truyền thống văn học Trung Quốc vừa đứng trong truyền thống văn học nhân loại nhiều hơn. Theo dõi, ta thấy, ông ấy đứng ở cái truyền thống dẫn đến tiểu thuyết hiện đại, tức là tiếng cười trào phúng dân gian. Điều này đưa tác phẩm của ông ấy thành giai thoại về Trung Quốc nhiều hơn là cái pho sử chính thống của Trung Quốc, như là tiểu thuyết xưa nay. Tác phẩm của ông vượt khỏi khuôn khổ của tiểu thuyết ở chỗ, ông ta không viết tiểu thuyết theo kiểu cũ mà viết theo kiểu siêu tiểu thuyết.
Giáo sư Vương Nghiêu - Đại học Tô Châu, Trung Quốc: “Ta sẽ nói về Diêm Liên Khoa như nói về Lỗ Tấn, Marquez hay Shakespeare...”
Việc đặt một nhà văn vào một trào lưu văn học nào đó là kết quả của bàn luận văn học, là công việc của các nhà phê bình. Họ thường thích quy nhân vật vào một trào lưu hay trường phái, để thuận hơn khi bàn luận. Nhưng một nhà văn xuất sắc luôn vừa ở trong vừa ở ngoài trào lưu. Không thể dùng một trào lưu để bàn về một nhà văn xuất sắc. Nếu dùng trào lưu để khuôn định, đó là một sự phê bình thất bại.
So với các tác giả khác, Diêm Liên Khoa thành công muộn. Rất khó để xếp ông vào một trào lưu nào đó. Nếu phải xếp ông vào một trào lưu thì trào lưu đó là trào lưu của riêng ông chứ không liên quan gì tới các nhà văn khác. Chúng ta không dùng định nghĩa văn học để định nghĩa Diêm Liên Khoa, mà ngược lại, chính ông đã định nghĩa lại văn học. Cá nhân tôi cho rằng, ông là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc đương đại. Tôi nghĩ, khi có một độ lùi về thời gian, ta sẽ nói về Diêm Liên Khoa giống như hôm nay ta nói về Lỗ Tấn, Marquez hay Shakespeare…
Du Nguyên (ghi)
DIÊM LIÊN KHOA GIẢI THÍCH VỀ CÁC SÁNG TÁC CỦA MÌNH
Ngày 22 tháng 7 năm 2023
*
Các nhà văn hàng đầu ở nước Trung Hoa đã đạt tới trình độ thế giới trong thế kỷ XXI (trong khi các nhà văn VN trừ một vài ca đặc biệt thì còn ở vào giữa thế kỷ XX).
Đó là cảm tưởng của tôi sau khi đọc một số tác giả như Gỉả Bình Ao, Mạc Ngôn, Dư Hoa , Diêm Liên Khoa khi tác phẩm của họ dịch ra tiếng Việt khoảng ba chục năm nay.
Cái cảm tưởng ấy cũng trở lại trong tôi khi đọc một bài báo nhỏ sau đây,
bài Diêm Liên Khoa: Mong muốn được viết "tiểu thuyết không giống tiểu thuyết".
Bài báo nhỏ này vốn được đặt như phụ lục cho bài “Nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa: Người chép sử hay kẻ bị cầm tù trong văn chương?” của tác giả ZÉT NGUYỄN in trong TTCT 16/04/2019
Nguồn
https://cuoituan.tuoitre.vn/nha-van-trung-quoc-diem-lien...
***********
1/
Độc giả nhiều nước biết đến ông như một nhà viết sử chuyên về mặt tối của Trung Quốc qua những tác phẩm của mình. Ông có hài lòng với cách nhìn này không và có chủ định làm người chép sử như thế không?
---
Tôi cho rằng nói như vậy là rất giản đơn và phiến diện. Tôi không hề nói rằng sáng tác phải phản ánh mặt đen tối của xã hội Trung Quốc, mà cần nhìn thấy ánh sáng trong bóng tối.
Văn học vô cùng đa dạng phong phú, nhưng văn học càng phức tạp, càng sâu sắc phải viết được thứ ánh sáng trong bóng tối, cái thiện và tình yêu thương trong sự đen tối, điều tốt đẹp trong sự đen tối.
Tôi nghĩ nếu chỉ đơn thuần hiểu là đen tối thì đó là cách hiểu vô cùng đơn giản về văn học, hoặc là hiểu lầm về tôi. Tôi chắc chắn không đồng ý với cách nói này. Tôi nghĩ tôi là một nhà văn khá phong phú, chứ không giản đơn như mọi người nói.
Đương nhiên, mỗi nhà văn đều có thể bị hiểu nhầm. Người đọc hiểu thế nào đó là chuyện của người đọc, nhưng cùng với sự thay đổi của thời gian, đọc tác phẩm của tôi nhiều hơn, tôi nghĩ họ sẽ không có cái nhìn như thế nữa.
2/
Các tác phẩm của ông thường tập trung vào những câu chuyện điên rồ và phi lý mà theo ông là để miêu tả sự thật? Sự thật ở đây là gì? Nước Trung Quốc hiện đại, theo ông, có thể mô tả như thế nào?
---
Tôi cho rằng, Trung Quốc là một Trung Quốc cực kỳ phức tạp, “Trung Quốc” mà mỗi người nhìn thấy chỉ là một phần của Trung Quốc.
Thế giới cũng là một thế giới cực kỳ phức tạp, “thế giới” mà mỗi nhà văn nhìn thấy cũng đều chỉ là một phần của thế giới. Chỉ nhà văn vĩ đại và khác biệt mới có thể nhìn thấy phần thuộc riêng về anh ta, chứ không phải là nhìn thấy phần mà người khác nhìn thấy.
Tôi nghĩ tôi tiếp cận sự thật của Trung Quốc theo cách của riêng tôi, đó là con đường rất riêng của tôi.
Tôi không hy vọng thứ tôi nhìn thấy, người khác cũng nhìn thấy, thứ người khác nhìn thấy, tôi cũng có thể nhìn thấy.
Tôi nghĩ cách tiếp cận riêng nhất về bản chất của hiện thực chắc chắn là cách tiếp cận nghệ thuật nhất, và cách tiếp cận nghệ thuật nhất cũng chính là cách tiếp cận cá tính nhất.
3/
Ông có sợ mình bị đóng khung trong những cách đọc hạn hẹp, coi văn chương của ông chủ yếu là một tác phẩm phê phán chính trị và xã hội đơn thuần thôi?
---
Tôi nghĩ đây là một số người đọc ít kinh nghiệm đọc, hoặc khi đọc một cuốn tiểu thuyết chỉ nhìn thấy những thứ bề mặt, những thứ giản đơn, mà không nhìn thấy những thứ ở tầng sâu của văn học, vì nếu nhìn thấy họ sẽ không nghĩ như thế.
Tôi quan tâm không phải là chính trị hay phê phán quyền lực, mà quan tâm đến bản thân con người, quan tâm đến hoàn cảnh sinh tồn khó khăn của nhân tính, quan tâm đến quan hệ mâu thuẫn và căng thẳng giữa con người và thế giới này.
Cách nhìn này rất đơn giản.
Thật ra sự phê phán này không nhiều như mọi người vẫn nghĩ. Ví như ở châu Âu và Mỹ người ta không nhìn nhận như vậy. Họ xem xét nhiều hơn về mặt nghệ thuật trong tác phẩm của anh.
Ví như kể chuyện, câu chuyện của anh có nội dung gì, nhưng đối với tôi phương pháp kể chuyện quan trọng hơn. Âu Mỹ cũng nhìn thấy điểm này.
4/
Trong các tác phẩm đã viết, tự bản thân ông đánh giá cao nhất cuốn nào?
---
Tôi nghĩ mỗi thời kỳ đều khác nhau. Cho dù ở Trung Quốc, cũng không có một nhà phê bình hay bạn đọc nào nói đồng ý Kiên ngạnh như thủy của Diêm Liên Khoa là hay nhất, Đinh Trang mộng hay nhất, Nhật quang lưu niên hay nhất, Thụ hoạt hay nhất.
Mọi người luôn có sự bất đồng ý kiến rất lớn. Tôi là một trường hợp đặc biệt như vậy đấy, khi bàn luận về tác phẩm kinh điển nhất của Diêm Liên Khoa, ý kiến của mọi người đều không nhất trí. Tôi lại thấy kiêu hãnh vì điều này.
Nếu mỗi người trên thế giới này đều trả lời được tác phẩm hay nhất của mình là cuốn nào, thì đối với tôi, có nghĩa là sáng tác của tôi quá giản đơn. Tôi hy vọng sáng tác ở mỗi giai đoạn có sự thay đổi. Ví như Đinh Trang mộng, Nhật quang lưu niên, Kiên ngạnh như thủy, Thụ hoạt, Tứ thư, Tạc liệt chí, Nhật tức đều là những tác phẩm tôi hài lòng trong quá trình sáng tác.
Vì sao?
Vì phương thức ngôn ngữ, câu chuyện, nhân vật, phương pháp kể chuyện, nhịp điệu kể chuyện… của mỗi tác phẩm đều có sự thay đổi rất lớn.
Đối với tôi, nếu cuốn truyện dài này và cuốn truyện dài kia giống nhau, có nhiều điểm tương tự, tôi sẽ rất không hài lòng với sáng tác của mình. Tôi tương đối hài lòng với những tác phẩm kể trên.
5/
Thế nào là một tác phẩm văn chương lý tưởng đối với ông? Ông đã viết được một tác phẩm như thế chưa?
---
Thật ra tôi cho rằng các tác phẩm thời kỳ đầu của tôi rất đơn giản, đều thuộc thể loại tả thực. Đến lúc khá lớn tuổi rồi tôi mới hiểu rằng tác phẩm lý tưởng của tôi, tác phẩm lý tưởng trên toàn thế giới nên là viết ra một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không phải tiểu thuyết, tiểu thuyết không giống tiểu thuyết.
Tôi hiểu điều này khá muộn.
Nếu có một ngày tôi viết một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không phải tiểu thuyết, khiến người đọc đánh giá: Đây mà là tiểu thuyết sao? Nhưng nó chính là tiểu thuyết. Khi ấy tôi sẽ thấy hài lòng.
Tôi cho rằng tôi vẫn chưa viết ra được tác phẩm như vậy. Hằng ngày tôi đều đang nghiền ngẫm vấn đề này. Nếu một ngày kia tôi viết ra được tác phẩm như vậy, tôi sẽ rất hài lòng với toàn bộ sáng tác của mình.
6/
Ông nghĩ thế nào về việc độc giả thế giới tiếp xúc tác phẩm của ông đầu tiên là vì yếu tố cấm kỵ trước đã, vì họ thường coi ông là “tác giả được tụng ca đồng thời bị cấm nhiều nhất ở Trung Quốc?”
---
Phải thừa nhận rằng nhiều độc giả bắt đầu tìm hiểu sách của tôi vì sách bị cấm do những điều bàn luận trong sách.
Tôi muốn nói một vấn đề: tiểu thuyết hay, tiểu thuyết nghệ thuật không đồng nghĩa với sách cấm. Tôi từng bàn về vấn đề này ở khắp nơi trên thế giới. Sách cấm không đồng nghĩa với sách hay.
Đương nhiên như ban nãy vừa nói tôi ghét nhất việc hạn chế/cấm sách. Nhưng không phải vì bị cấm mà chúng ta liền cho rằng cuốn sách đó hay, điều này phải phân biệt rạch ròi.
Tôi nghĩ bảo rằng tôi là tác giả có sách cấm nhiều nhất ở Trung Quốc, thì đấy là chiêu trò của nhà xuất bản để bán sách, điều này không có nghĩa là tác phẩm của mình hay, tôi nhất định phải chờ người đọc nói rằng cho dù ông ấy có bao nhiêu sách bị cấm, ông ấy chính là một nhà văn tài giỏi, ông ấy viết ra những tác phẩm tuyệt vời nhất, đó là điều tôi mong muốn nhìn thấy.
Tôi cho rằng các nhà xuất bản vẫn luôn lấy việc này PR để bán sách, thật ra đó là gây tổn hại cho sách của tôi, khiến người đọc sinh ra nhiều hiểu nhầm về sách của tôi.
7/
Ông cho biết đã tự kiểm duyệt mình nhiều khi viết Đinh Trang mộng và rất ân hận vì điều đó, cụ thể là tự kiểm duyệt như thế nào?
---
Về Đinh Trang mộng, vì đã đến thăm thôn trang đó mười mấy lần, tôi từng lập kế hoạch phải viết một cuốn sách phi hư cấu hoàn toàn, ghi chép sự thực về bệnh AIDS ở Trung Quốc, do tự kiểm duyệt nên tôi không viết được, bởi vậy tôi rất tiếc nuối.
Nhưng hôm nay nhìn lại, tuy tôi rất tiếc nuối với Đinh Trang mộng, ngược lại trên phạm vi toàn thế giới mọi người đều cho rằng cuốn sách này đọc vào nhất, giàu tưởng tượng nhất, cũng sâu sắc, phức tạp nhất. Về điều này thực ra tôi rất mâu thuẫn.
Một mặt tôi tự kiểm duyệt, mặt khác người đọc có được cuốn sách mà họ dễ chấp nhận nhất, cho nên tôi rất mâu thuẫn. Nhưng tôi rất tiếc nuối vì mình không viết ra cuốn sách phi hư cấu hoàn toàn ghi chép sự thực về bệnh AIDS, nhiệt tình sáng tác trong quá khứ đã không còn nữa. Tôi cho rằng đây là cuốn sách mình đã đánh mất do tự kiểm duyệt.
8/
Theo ông, sự nguy hại của kiểm duyệt là ở điểm nào? Ông từng nói trong sáng tác cần có tự do nội tâm, vậy làm thế nào để có được điều đó?
---
Đương nhiên kiểm duyệt là điều vô cùng tệ hại. Trong một nhà văn, văn hóa, nhân cách, nội tâm mạnh mẽ hoặc yếu đuối cấu thành quan hệ đối ứng.
Vì dù sao Trung Quốc hiện nay đã không phải là Trung Quốc của ngày hôm qua, đặc biệt là chúng tôi viết tiểu thuyết, viết những thứ hư cấu, do bạn có một nội tâm mạnh mẽ, viết không hoàn toàn vì độc giả, viết chỉ cho nội tâm mình, thì bạn có thể muốn viết thế nào thì viết. Ví dụ như Tứ thư, Đinh Trang mộng… anh muốn viết thế nào thì viết.
Những người nội tâm không mạnh mẽ lắm, viết chủ yếu để xuất bản thì sẽ hy vọng được kiểm duyệt nhiều hơn.
Tôi nghĩ do độ tuổi và trạng thái sống, tôi đã đi qua giai đoạn đó rồi. Giờ đây tôi không còn sáng tác vì xuất bản, mà chỉ sáng tác vì thế giới nội tâm mình. Có bao nhiêu người đọc, có bao nhiêu tiền, bán được bao nhiêu bản, kiếm được bao nhiêu nhuận bút, đó là những thứ tôi không cần suy xét quá nhiều.
-Xin cảm ơn ông!
(*) Với sự giúp đỡ phiên dịch của cô Nguyễn Vinh Chi. Chú thích của TTCT
TẾT NĂM ẤY, SAU CUỘC CHIẾN
Ngày 25 tháng 7 năm 2023
(Bảo Ninh
báo Người lao động 19-2-2015)
http://nld.com.vn/.../tet-nam-ay-sau-cuoc-chien...
-----------
Đưa lại tại Fb Trần Ngọc Hiếu 14-6- 2017 với ghi chú
Vừa chạy ra hiệu sách ngó ngàng dòng tản văn hoài cảm về tuổi thanh xuân, có lẽ là xu hướng "hot" trở lại của tản văn năm nay, đọc qua cũng không thấy cuốn nào đọng lại.
Về nhà, mở cuốn tạp văn của Bảo Ninh thì đọc bài này. Đọc xong lại thấy tuổi thanh xuân vì sao lại có thể định nghĩa là tuổi biết buồn - mượn chữ của Phạm Duy.
*Được sống và hưởng hòa bình là hạnh phúc tột đỉnh đời người.
-------------
Chưa đầy nửa tháng sau ngày hòa bình, tôi rời Sài Gòn, trở lại Tây Nguyên làm công tác quy tập hài cốt liệt sĩ. Đầu năm 1976 thì được giải ngũ, ra Bắc. Ra theo xe của 559, tới Vinh (Nghệ An) lên tàu hỏa.
Sáu năm trước, tiểu đoàn chúng tôi rời Hà Nội hành quân vào Nam. Chặng đầu đến Vinh được ngồi tàu hỏa. Ngày đó, trong đội hình tiểu đoàn có 51 người là dân thủ đô. Giờ đây, trên chuyến trở về thành phố quê hương thì chỉ còn có một tôi mà thôi.
TÔI XUỐNG HÀNG CỎ BUI TRƯA, 26 THÁNG CHẠP.
Một ngày chủ nhật lạnh giá. Mặc dù biết rằng ngôi nhà ga có từ đầu thế kỷ XX và có kiến trúc rất đẹp này đã trúng bom hồi cuối năm 1972 mà nhìn thấy đống đổ nát vẫn sững cả người, tôi phải ngồi lại định thần một lúc lâu trên sân ke. Từ ga về nhà, tôi đi dọc đường Nam Bộ. Trời mưa lất phất nhưng tôi bỏ mũ cối ra, mở cúc áo ngực, đón nhận căng tràn hương vị của thành phố thân yêu sau bao năm trời xa cách. Tôi rảo bước theo nhịp tim đập dồn.
Qua chợ Cửa Nam, rồi vừa vượt chỗ chắn tàu, tôi khựng lại bởi nghe thấy tên mình ai đó kêu rú lên gọi. Một người đàn bà từ sau quầy hiệu may nơi mặt tiền nhà 44 nhào ra chụp lấy quai ba-lô của tôi. “Cháu về đấy à, cháu đã về đấy à, cháu ơi!...”.
Rồi từ “cháu ơi”, bà kêu lên, khóc: Kế ơi, bạn con về rồi đây này, con ơi, mà con thì sao không, không bao giờ nữa... Tiếng khóc dữ dội, cuồng dại mà như đang lặng ngất.
Đấy là bà mẹ của Kế, bạn học một lớp Trường Bưởi với tôi. Nhập ngũ trước Kế nên tôi không biết rằng Kế cũng đã vào bộ đội... Người trong nhà chạy ra đỡ lấy bà mẹ. Tôi thì cứ đứng thần ra, không thốt nổi lời nào. Cầm lòng không đậu, cơn thổn thức rát bỏng lồng ngực.
Nước mắt ngày gặp mặt trước cửa nhà Kế khiến tôi bất giác thấy sợ khi đứng trước cổng nhà mình. Chỉ riêng cái chung cư một chục gia đình này cũng đã góp vào cuộc chiến 4 chàng trai, cô gái sàn sàn tuổi tôi, mà không chừng cũng chỉ duy nhất một mình tôi trở về mà thôi. Linh cảm ấy khiến lòng tôi se lại, chỉ dám hé cổng sắt ra, rón chân đi ngang qua sân. Buổi trưa, trong giấc thiu thiu, ngôi nhà lặng như tờ.
Mẹ tôi, cha tôi không hề hay tin tôi về, đột ngột trông thấy tôi ở ngưỡng cửa, vậy mà không reo lên, cũng chả thốt kêu lên. Tôi ôm lấy mẹ.
Mẹ tôi lặng khóc. “Bảo nó chết rồi, vừa báo tử tuần trước”, đấy là lời đầu tiên mẹ tôi nói với tôi.
Rồi mẹ lại nói: “Còn Hưởng thì báo tử năm ngoái”.
Tối hôm ấy, mẹ tôi làm bữa cơm đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, ai nấy nói khẽ. Cửa sổ khép lại. Đèn tắt bớt ngọn. Ngay bên kia tường là tang tóc gia đình Bảo. Bên kia sân thì bố mẹ Hưởng...
Ngày hôm sau và nhiều ngày sau đó nữa, lặng lẽ những ông bố, bà mẹ, người vợ, người chị trong khu phố đến mừng tôi còn sống và hỏi thăm tin tức người thân. Nào tôi biết nói gì đây.
Tôi là lính Sư 10, trận mạc chủ yếu ở Tây Nguyên mà các ngả đường của chiến tranh, những nơi anh em bộ đội đã nằm xuống thì khôn xiết kể, bao la mờ mịt trùm phủ thế gian này.
“Cháu có hay tin gì của thằng Đức nhà bác không, đơn vị nó chiến đấu ở Cánh đồng Chum...”,
“Thư cuối anh trai em nói đang ở mặt trận Long An...”.
Chắc rằng bất kỳ ai trở về sau chiến tranh đều gặp những câu hỏi như thế nên hẳn là cảm thông được cho nỗi “đau nhói hòa bình” trong lòng tôi, một kẻ gần như là đã một mình sống sót trở về hồi ấy.
Vì thuộc diện ra Bắc sớm nhất đơn vị nên tôi mang theo trong ba-lô rất nhiều thư của các đồng đội quê Hà Nội gửi về nhà. Vui nhất, sung sướng nhất đối với tôi trong mấy ngày trước Tết là đi rải những lá thư ấy, mang đến cho gia đình của các bạn tôi niềm hạnh phúc vô bờ.
Hơn hai chục lá thư, hơn hai chục địa chỉ, khắp trong thành phố, mà đều là do ba tôi lọc cọc chở tôi đi. Ông nhất định không để tôi đạp xe đạp tự đi lấy một mình. Hồi đó, Hà Nội đâu có kìn kìn xe máy như ngày nay. Nhưng ba tôi vẫn sợ, nhỡ... thì...
Đưa thư tới các gia đình bộ đội cũng là đi dạo phố.
Ba đưa tôi đi thửa đôi giày ở tiệm giày “chui” ngõ Phất Lộc. Loanh quanh dạo phố, cha con tôi đi ăn phở “chui” trên gác xép nhà họ Cồ phố Hàng Đồng, rồi vào cà phê phin, cũng “chui”, trong ngõ Gạch.
Xưa, ngay trước ngày nhập ngũ, tôi cũng được ba đưa đi ăn phở và uống cà phê những chỗ ấy. Ngày đó, chiến tranh, ly biệt, ba tôi buồn, nặng trĩu nỗi âu lo nên âm thầm. Nhưng nay tôi sống sót trở về mà ba tôi vẫn vậy, ưu tư, mặc dù dĩ nhiên ông vô hạn mừng vui.
Cha con tôi lặng lẽ uống cà phê, lặng lẽ dạo phố, lặng lẽ rẽ vào chợ hoa Hàng Lược chọn một cành đào.
Ông tránh, không hề nói gì tới chiến tranh, không đả động hỏi tôi về trận mạc, tấn công Buôn Ma Thuột thế nào, tiến đánh Sài Gòn ra sao...
Ba hiểu tâm trạng tôi đang rất muốn quên đi để được êm ả trong lòng mà vui Tết.
Từ năm 1965, hơn 10 năm chiến tranh, tới Bính Thìn 1976 Tết ấy, trong gia đình chúng tôi mới có lại giò hoa thủy tiên, chậu cúc, cành đào. Tôi cũng mua một bánh pháo song tới giao thừa thì lại thôi, nghe lời ba mẹ, không đốt nữa. Tiếng pháo quá rộn rã, trong khi biết bao gia đình không thể làm sao rộn rã cho nổi dẫu đã hòa bình rồi.
TỪ MÙA ĐÔNG 1946.
Đằng đẵng ba chục năm trời đau khổ da diết cầu mong tàn cuộc binh lửa, vậy mà Hà Nội đã chào đón mùa Xuân hòa bình đầu tiên một cách chừng mực. Tôi cảm nhận thấy thế. Ở đâu tưng bừng hoan hỷ, rầm rộ ăn mừng không biết, chứ như tôi thấy thì Tết ấy, khắp các phố xá của người bình dân Hà thành, một bầu không khí trầm tư của những nông nỗi mừng vui lẫn lộn. Trầm tư, bởi có biết bao nhiêu là niềm mặc tưởng trong lòng khi mùa Xuân tới.
Giao thừa Bính Thìn, tiếng pháo ran lên nhưng nghe hiền hòa và đầm ấm chứ không dữ dội đinh tai nhức óc cuồng lên phô trương như tiếng pháo của những cái Tết về sau. Vừa giã từ vũ khí mà bánh pháo Hà Nội hồi ấy khi lạch tạch nổ tỏa mùi thuốc pháo nhà quê Bình Đà hiền lành dễ chịu chứ không nồng nặc mùi thuốc đạn của loại pháo hung tợn những năm sau đó nhập khẩu về.
Có một điều rất lạ, tôi còn nhớ rõ, là ca nhạc mừng Xuân Tết ấy rất êm đềm. Tết ấy là Tết hòa bình và cố nhiên là cả Tết chiến thắng nữa, vậy mà từ các loa phóng thanh của phường phố tới những sân khấu văn nghệ quanh bờ hồ Gươm không nghe vang lừng lên những khúc quân hành. Tưng bừng chiến công chiến thắng chỉ có bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, còn thì người ta hát Nối vòng tay lớn, hát Mùa xuân đầu tiên và nhất là Bài ca hy vọng.
Cũng rất lạ nữa là các rạp xi-nê dịp Tết ấy không thấy chiếu những phim anh hùng chiến công này nọ. Ở rạp Kinh Đô gần nhà tôi đang phải chiếu cái phim Lửa hận rừng dừa lòe loẹt và huyên náo, giáp Tết người ta thay bằng phim Cánh buồm đỏ thắm. Rạp Tháng Tám và Công Nhân cũng vậy, chiếu bộ phim thơ mộng ấy. Kim Đồng chiếu Con chim vành khuyên, tuy là phim thời chiến nhưng ẩn chứa sâu sắc tình yêu hòa bình. Còn cái rạp Bắc Đô bình dân, náu mình ở gầm cầu, thì moi từ đáy kho phim Đàn sếu bay qua ra chiếu.
CHIỀU 30 TẾT, CÁC BẠN CŨ LỚP 10 TỚI HỘI Ở NHÀ TÔI, cơm tất niên cùng ba mẹ tôi. Buổi tối cả lớp kéo nhau đi dạo bờ hồ. Trước giao thừa, ra Bờ Hồ trẩy hội, đi bộ, ngắm đèn, ngắm người là cái lệ, là nếp quen từ xưa của tuổi trẻ Hà thành. Chìm trong đông đảo nườm nượp, trong trùng điệp tươi vui, tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tôi ngây ngất hạnh phúc.
Dường như tới buổi tối đó, tôi mới thực sự thấu cảm niềm hạnh phúc còn sống trở về và được hưởng hòa bình. Tôi như trở lại với thời học trò 17 tuổi. Các bạn lớp 10 ngày xưa quây quần ríu rít quanh tôi, ai cũng muốn đi sát vào tôi, khoác tay tôi. Tôi được thương mến, được hưởng tình thân ái của các bạn còn hơn là hồi đang đi học với nhau.
Sau một vòng quanh hồ, cả hội vào Thủy Tạ giữ 2 bàn bên lan can kề mặt nước. Thủy Tạ mở cửa đến 22 giờ, mà lúc đó đã quá nửa tiếng rồi nhưng do chúng tôi có Lan là con gái của bác cửa hàng trưởng nên được ưu tiên ngồi nán. Dù trời rất lạnh, kem thì tê buốt mà xúm xít với nhau vẫn thấy ấm lòng. Chỉ có điều, tới lúc chia tay để ai nấy về nhà đón giao thừa cùng gia đình thì Lan bật khóc. Nhà của Lan ở đầu Hàng Gai, cách một đoạn, đầu Hàng Cân là nhà Cường, trưởng lớp 10C chúng tôi. Cường hy sinh ở Quảng Trị, năm 1972. Vì ai đó nhắc tới Cường khiến Lan khóc...
Tôi lặng người. Cho đến lúc ấy tôi mới nhận ra rằng gọi là “cả lớp” hội với nhau ở đây mà thực ra chỉ có 16 “tên”. Và chỉ duy nhất tôi là con trai. Sĩ số của 10C chúng tôi ngày thi tốt nghiệp chẵn 40. Mười lăm nữ, 25 nam. Tất cả bọn con trai đều đã lên đường ra trận, sao bây giờ chỉ có một tôi có mặt ngồi đây cùng bọn con gái?
Được sống và hưởng hòa bình là hạnh phúc tột đỉnh đời người song niềm hạnh phúc ấy lại đồng thời là nỗi đau thương tột cùng. Tôi nghĩ về đời mình, về cuộc đời của thế hệ mình như thế, từ buổi tối ấy, khi đoàn tụ sum vầy bên hồ Gươm với phần còn sống sót của lớp học ngày xưa.
NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
Ngày 31 tháng 7 năm 2023
(Bài phỏng vấn Bảo Ninh của nhà báo John Fuller, đăng trên MekongReview số 12 tháng 8 năm 2018)
Theo đánh giá của Trần Hữu Dũng, chủ trang Viet-Studies.com thì bài phỏng vấn này là một “của hiếm” (chú của Phạm Văn Thiều)
***
Khi chúng tôi bấm chuông cửa nhà của tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất của Việt Nam, thì trong nhà tiếng nhạc Für Elise bắt đầu cất lên. Bảo Ninh, tác giả của cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được thế giới ca ngợi, vẫn còn sống ở thành phố tuổi ấu thơ của ông – chính cái thành phố nơi nhân vật chính của ông – anh chàng cựu chiến binh Kiên luôn dày vò dằn vặt, đi lang thang hàng đêm, khi “linh hồn của Hà Nội là mạnh mẽ nhất …thậm chí còn mạnh hơn cả cơn mưa. Giống như bây giờ, khi toàn thành phố dường như hoang vu, ẩm ướt, đơn độc, lạnh lẽo và buồn tê tái”.
Bản Für Elise kết thúc và cửa nhà mở ra. Chúng tôi ngồi trên đi văng ở phòng khách, nhấm nháp tách trà và không ai đụng đến đĩa hoa quả bày trên bàn.
Trong khi chuyện trò, Bảo Ninh lúc thì ôm chiếc gối, lúc thì bỏ xuống bên cạnh, rồi lại ôm lên. Ông nói sang sảng với mớ tóc xoăn rối bù đã bạc trắng. Ông thường kết thúc câu nói bằng cách hơi nghiêng đầu ra phía sau và nhướng đôi lông mày, cứ như thể thách bạn dám biểu lộ sự bực bội hay phản đối những lời của ông, những lời ông đã nói một cách cởi mở và không hề nghĩ tới hậu quả của chúng.
Ở tuổi 65, ông mới cảm nhận rõ sự hữu hạn của đời người: đầu năm nay, khi đang ở Hàn quốc, lần đầu tiên trong cả chục năm, ông mới đi kiểm tra sức khỏe và bác sĩ kết luận rằng ông phải phẫu thuật tiền liệt tuyến. Vào ngày chúng tôi đến gặp, ông đã về nhà dưỡng bệnh.
Bảo Ninh không cho xuất bản một tiểu thuyết nào khác, sau Nỗi buồn chiến tranh, cuốn sách in lần đầu với nhan đề Thân phận tình yêu năm 1990. Một tập truyện ngắn của ông xuất bản một cách lặng lẽ vào năm 2013 và tiếp sau là tập tản văn xuất bản vào năm 2016.
Giờ đây ông đang thực hiện một dự án lớn, nhưng ông không muốn gọi nó là tiểu thuyết (vá đúng hơn, hoàn toàn không muốn nói về nó). Khi chúng tôi tới, ông nói rằng ông đồng ý trả lời phỏng vấn chỉ bởi vì ông nghĩ chúng tôi muốn hỏi ông về tác phẩm của các nhà văn khác. Nhưng vì chúng tôi đã ở đây, thôi thì nói gì cũng được.
Mặc dù Bảo Ninh nói rất cởi mở về những vấn đề của nước Việt Nam đương đại – tham nhũng, sự biểu lộ chính kiến bị bóp nghẹt, một nhà nước kiểu Trại súc vật của Orwell – nhưng ông nói rằng ông không làm chính trị.
Nỗi buồn chiến tranh là một đột phá khi nó được xuất bản, bởi vì nó mâu thuẫn với lối kể chuyện mang nặng tính tuyên truyền về chiến tranh.
Nhưng Bảo Ninh coi văn học chống chính phủ gay gắt cũng tội lỗi chẳng kém gì nghệ thuật tồi vậy. “Các nhà văn không phải là nhà báo, họ cũng không phải là nhà chính trị,” ông nói.
“Các nhà văn chỉ vẽ chân dung cuộc sống, và cái chuyện chính phủ xấu hay tốt không phải là công việc của họ…”
***
HỎI
Khi đã nổi tiếng thế giới là một tác giả người Việt xuất sắc nhất còn đang sống và là người đại diện của văn học Việt Nam, ông cảm thấy như thế nào?
TRẢ LỜI
Tôi không nghĩ rằng mình vĩ đại đến như thế; tôi chắc chắn mình không phải đại diện của cái gì hết. Đó chẳng qua chỉ là do sách của tôi được dịch ra tiếng Ạnh, và sau đó ra tiếng Hàn, mà nhờ đó tôi được mời đến Hàn Quốc thuyết trình mà thôi.
Trong đầu tôi không bao giờ nảy ra ý nghĩ rằng mình là đại diện cho Việt Nam.
Các phương tiện truyền thông ở nước ngoài thường nói rằng tôi là nhà văn Việt Nam xuất sắc nhất hiện còn đang sống. Tôi nghĩ rằng điều đó không đúng, bởi vì trong văn học không có nhà văn xuất sắc nhất hay kém cỏi nhất.
Những nhà văn kém cỏi thì có ở khắp nơi, tất nhiên, nhưng họ không thực sự là nhà văn theo đúng nghĩa của nó. Còn nếu anh là nhà văn thực sự, thì không có thứ hạng.
Tôi cũng không nghĩ các nước có nền văn học quốc gia riêng. Người ta thường nói về văn học Việt Nam, Văn học Thái, hay văn học Mỹ, tôi không nghĩ có sự phân biệt rạch ròi như thế. Chẳng hạn, tác phẩm của tôi chẳng có liên quan gì đến các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương hay Nguyễn Ngọc Tư cả. Ý tưởng về một nền văn học quốc gia là thứ gì đó do giới truyền thông bày đặt ra mà thôi.
Tôi nghĩ tôi nổi tiếng ở nước ngoài vì tác phẩm của tôi đã được dịch ra tiếng Anh, không giống như phần lớn các tác phẩm của Việt Nam … Nếu các tác phẩm của Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng được dịch ra tiếng Anh thì độc giả ở các nước nói thứ tiếng đó chắc cũng sẽ rất thích.
HỎI
Ông thích Nỗi buồn chiến tranh được bạn đọc nước ngoài cảm nhận như thế nào?
TRẢ LỜI
Tôi viết cuốn sách này là cho bạn đọc Việt Nam. Tôi không thích nó được dịch ra tiếng Anh. Khi những người nước ngoài tới thăm tôi, tôi thường hỏi họ nghĩ gì về cuốn sách này – không phải về nội dung mà là ngôn ngữ.
Thi thoảng tôi có đọc văn học thế giới qua bản dịch tiếng Việt, nhưng phiên bản tiếng Việt dở tới mức tôi phải vứt cuốn sách đi bất kể tác giả của nó là nhà văn lớn tới cỡ nào.
Chẳng hạn, có khá nhiều bản dịch tồi các tác phẩm của Hemingway. Và mặc dù tôi cũng biết Hemingway vĩ đại cỡ nào, nhưng tôi cũng vứt hết những bản dịch mà tôi có. Một bản dịch khác mà tôi kiếm được gồm một số truyện ngắn của Tolstoy, nhưng cũng không đọc được. Và đó cũng là nỗi sợ của tôi, rằng bản dịch tiếng Anh tác phẩm của tôi không đạt. Nhưng tôi cũng chẳng có kỳ vọng gì, thôi thì số đọc giả càng lớn càng tốt.
Tôi tin vào khả năng sử dụng tiếng Việt của mình, vì đó là lãnh địa của tôi. Nhưng tôi cảm thấy thiếu tự tin hơn khi tác phẩm của tôi chu du ra ngoài ngôn ngữ gốc của nó.
Còn về nội dung thì tôi nghĩ mỗi người có quan điểm riêng của mình về Chiến Tranh Việt Nam, nhưng chắc sẽ không ai cho rằng cuộc chiến tranh đó đúng như tôi đã mô tả.
Văn học không phải là lịch sử hay chính trị; văn học là văn học. Sẽ là rất sai lầm nếu đọc sách của tôi với ý định để hiểu cuộc chiến tranh này.
HỎI
Thế những ai là bạn đọc lý tưởng của Nỗi buồn chiến tranh?
TRẢ LỜI
Tôi chưa bao giờ nghĩ xa đến mức ấy. Các nhà văn chỉ biết viết thôi. Tôi viết cho những người lính, về cuộc Chiến tranh Việt Nam, từ quan điểm của một Việt Cộng, tức những người lính Băc Việt.
Vào thời kỳ đó, những người lính được đọc những thứ rất nực cười. Tôi muốn viết cái gì đó cho những người lính Bắc Việt, một cái gì đó thật gan ruột đối với họ. Tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1986 là rất công thức, giáo điều và giả dối. Nó không có giá trị gì.
Ở giai đoạn cuối cuộc chiến, khi mà giao thông đã bắt đầu được cải thiện, từ miền Bắc, chính phủ đã chuyển vào cho những người lính chúng tôi không chỉ gạo và súng đạn, mà còn có cả sách nữa, rất nhiều sách. Hồi đó tôi là bí thư đoàn của đơn vị nên cũng được chỉ định làm thủ thư luôn. Tôi nhận thấy rằng những người lính không muốn đọc những thứ vớ vẩn đó. Họ quẳng những cuốn sách đó đi, mặc dù thậm chí những cuốn sách đó nói về họ.
Không ai muốn đọc những loại tiểu thuyết như thế. Làm sao bạn có thể chịu nổi cuốn sách ca tụng bạn đến mức ngớ ngẩn?
Những cuốn sách mà họ muốn đọc là văn học dịch, đặc biệt là những truyện ngắn trong tập Bút ký người đi săn của nhà văn Nga Turgenev. Họ đã nghiền ngẫm cuốn sách cho tới khi nó nhàu nát, mặc dù ở đó nó chẳng ca ngợi ai và chẳng nói gì về chiến tranh hay các trận đánh hết.
Không ai nhớ tới các quyển sách khác, mặc dù thậm chí tôi không có thẩm quyền để loại bỏ chúng. Tôi nhớ rằng những cuốn sách đó rất dày, được viết ở Hà Nội, một nơi rất xa chiến trường, và ngay từ trang đầu tiên đã không thể đọc được. Thậm chí một số trong đó còn nói những chuyện hoàn toàn dối trá. Chúng không phải là tiểu thuyết mà là tuyên truyền được tiểu thuyết hóa.
Đọc chúng thì thà đọc các nghị quyết chính trị còn hơn.
Ở một mức độ nào đó, tôi tin những cuốn sách ấy đã hạ thấp cuộc chiến tranh này, bằng cách tầm thường hóa nó và các tác động của nó đến nhân dân Việt Nam, mô tả họ như những kẻ thô lỗ hay những con robot. Nhưng làm sao những con robot có thể chiến đấu được với lính Mỹ?
HỎI
Phương pháp viết của ông có tương tự phương pháp của Kiên, cũng chính là người kể chuyện trong Nỗi buồn chiến tranh trong đó cuốn sách là sự chồng chất những mảnh vỡ?
TRẢ LỜI
Chỉ đúng một phần. Đó là sự nói quá lên, mà nói quá là một phần rất căn bản của văn học, miễn sao đừng quá trớn.
Tôi không nghĩ rằng có một nhà văn nào có thể viết như thế, tức trộn các sự kiện lại với nhau. Còn tôi, tôi đã viết quyển sách này theo cách đó và hình như bạn đọc cũng thích phong cách phân mảnh và cách sử dụng ngôn ngữ của tôi.
Nhưng Kiên và tôi không có gì chung hết, trừ điều là chúng tôi đều là lính. Rất nhiều người hỏi có phải tôi chính là Kiên không; tôi nói là không, hoàn toàn không.
Họ thậm chí còn đi xa hơn, họ nói tôi viết câu chuyện về đời tôi.
Nhưng tôi chỉ là một người lính bình thường và đời tôi chẳng có gì đặc biệt cả. Tôi giống như mọi người khác ở thời đó. Nếu như bây giờ ta cùng trở lại cái thời chiến tranh đó thì tôi nghĩ anh cũng sẽ đi chiến đấu như tôi thôi.
HỎI
Thành công của cuốn sách có làm thay đổi cách viết của ông không?
TRẢ LỜI
Có lẽ cách viết của tôi đã thay đổi nhưng không phải vì cuốn sách này. Đó chỉ là do tôi đã già và những suy nghĩ của tôi đã thay đổi theo tuổi tác.
HỎI
Ông có nghĩ rằng những hy sinh của ông trong chiến tranh là đáng không?
TRẢ LỜI
Mỗi thế hệ có mối quan tâm riêng của mình. Sẽ là không khôn ngoan nếu nghĩ quá xa về tương lai. Khi còn trẻ, chưa quá 30, trước mắt tôi là bọn Mỹ xâm lược, vì vậy điều duy nhất tôi có thể làm là chiến đấu với bọn chúng.
Làm sao người ta có thể nhìn xa tới cả thế kỷ sau được, nó là bận tâm của thế hệ tiếp theo.
Ngày hôm nay anh có thể thấy rằng người dân Việt Nam hân hoan về chuyến tới thăm của cựu tổng thống Mỹ Obama. Và hàng hóa của người Mỹ tràn ngập khắp nơi ở đây. Một số người thậm chí còn đặt vấn đề về cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhưng bạn không thể nói thế được.
Những người khác còn quay lại xa hơn, họ bàn về cuộc kháng chiến chống Pháp. Một số người nói rằng nếu chúng ta không chiến đấu chống lại thực dân Pháp, thì Việt Nam bây giờ sẽ văn minh hơn và giàu có hơn nhiều. Đã quá nhiều người Việt bị giết trong hai cuộc chiến tranh này, nhưng Việt Nam lại không được giàu có như Singapore hay thậm chí Thái Lan.
Nhưng không thể nói như vậy. Ngày hôm nay là thời của anh; những sự kiện hiện thời không thể làm cho anh ân hận về quá khứ được.
HỎI
Ông nghĩ gì về cách viết chủ đạo ngày hôm nay?
TRẢ LỜI
Các nhà văn chỉ viết được về thời của mình. Tôi thuộc một thời khác, nên tôi không thể nói cho những nhà văn thời nay được.
Có điều chắc là các nhà văn ngày hôm này có điểm nhìn để từ đó xem xét lại quá khứ và họ có quyền đặt những câu hỏi như tại sao chúng ta lại đánh Mỹ, chẳng hạn, và đã đạt được cái gì.
Nhưng nếu là tôi, tôi sẽ gạt bỏ những câu hỏi như vậy; ở thời tôi, đánh Mỹ là một niềm tự hào. Một nhà văn trẻ hôm nay đặt những câu hỏi mà nhiều độc giả sẽ có câu trả lời. Nhiều năm trước, nếu anh hỏi những câu như thế thì sớm muộn cũng sẽ vào tù.
Quang cảnh văn hóa và văn học ở Việt Nam đang trở nên tốt đẹp hơn và nó sẽ tiếp tục phát triển. Người dân giờ đây có thể suy nghĩ tự do hơn và đặt ra nhiều câu hỏi có tính phê phán. Chẳng hạn như “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì? Khi tôi còn học phổ thông, không thể có những chuyện như vậy. Tại sao trên đời này một nước cộng sản lại có một khái niệm như thế? Tôi không phải đảng viên, nhưng tôi không nghĩ chủ nghĩa cộng sản và nền kinh tế thị trường lại có thể đi đôi với nhau. Một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tập thể và quan liêu mệnh lệnh. Phải vậy không? Còn trái lại, thị trường thì thuộc chủ nghĩa tư bản. Vậy thì cái “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” có nghĩa là gì? Một nhà văn có thể đặt câu hỏi như vậy.
HỎI
Ông chờ đợi gì về sự tiếp nhận tác phẩm sắp tới của mình?
TRẢ LỜI
Vì thời của tôi là thời chiến tranh, nên điều không tránh khỏi đối với tôi là viết về chiến tranh. Nhưng đối với Việt Nam, không chỉ có chiến tranh, mà còn hơn thế nữa. Đất nước này đã chuyển từ cộng sản sang bán cộng sản, và rồi sẽ thành cộng sản giả hiệu. Bây giờ nó thậm chí không còn là một nước cộng sản nữa: chủ nghĩa thịnh hành bây giờ là tư bản đỏ. Vậy tại sao tôi lại không chống lại nó.
Nhân dân ở Việt Nam có cuộc sống riêng của mình, và sống ở đây cũng có những ưu thế của nó. Đó chỉ là những chính sách ở những thời khác nhau. Việt Nam một thời đã chiến đấu quyết liệt chống lại người Mỹ nhưng rồi bây giờ lại hoan nghênh họ.
Nói thực lòng, đa số người Việt Nam thích Mỹ hơn Trung cộng. Tôi cũng thế. Tôi viết, nhưng sự xuất bản lại là chuyện khác. Và bởi vì tôi sống ở một nước “cộng sản”, nên tôi không thể nói tất cả những thứ mà tôi muốn được.
Còn nghĩ là quyền của tôi, tất nhiên, nhưng ở Việt Nam đôi khi người ta không thể nói những điều mình nghĩ được. Tôi thường hằng suy nghĩ, và tôi vẫn sẽ tiếp tục biểu đạt những quan điểm của mình, nhưng một số thứ tôi viết tôi sẽ giữ kín trong ngăn kéo của tôi.
TẠI SAO “NÕI BUỒN CHIẾN TRANH” CÓ SỨC LAN TỎA RỘNG RÃI?
Ngày 5 tháng 8 năm 2023
...
Nguyên là bài
“Bản sao của những bản sao: về Bảo Ninh”
Đưa lại theo bản trên mạng diaCRITICS
đường link
https://dvan.org/.../ban-sao-cua-nhung-ban-sao-ve-bao-ninh/
----
Lời dẫn
Qua bài viết về cuộc gặp gỡ Bảo Ninh của nhà báo Ấn độ Rohit Inani -- mà tôi đã trích thành bài "Bảo Ninh hôm nay" và đưa trên Fb này ngày 20-7-2023 -- , chúng ta được biết Madeleine Thien là một nhà tiểu thuyết Canada, riêng bài này xuất hiện đầu tiên trên trang mạng của hội PEN Mỹ 2015 sau đó được một số tờ báo của các quốc gia khác đưa lại.
Đặc biệt trong bài viết có chêm vào những đoạn nói về tính chân thực và tầm quan trọng của những bức ảnh các khuôn mặt người còn giữ lại được sau cuộc diệt chủng ở Campuchia để lưu ý rằng cuốn sách của Bảo Ninh cũng là một giá trị lớn lao tương tự. Với mong mỏi giúp các bạn khỏi phân tán khi đọc một bài báo quá dài chúng tôi mạn phép tước bỏ các liên hệ đó.Đồng thời chúng tôi lại phân đoạn và đặt thêm các đầu đề nhỏ để tiện theo dõi.
***
Bài văn này của Madeleine Thien nói về nạn nhân chiến tranh. Nhưng hơn thế nữa, nó kể về những hồn ma vẫn còn lang thang dai dằng sau khi lửa đã tắt, mong tìm chỗ đứng trong lịch sử. Hầu hết chúng ta chăm chăm nhìn vào những tấm hình và những câu chuyện về những người bị cột chặt vào cuộc chiến mà không nhận ra một chi tiết quan trọng nhất: Đó là họ từng là những con người.
diaCRITICS
***
SÚC SỐNG CỦA MỘT CUỐN SÁCH
Bảo Ninh, hiện đang sống tại Hà Nội, trở thành tiểu thuyết gia khi đã đi qua nửa bên kia của cuộc đời.
Vào năm 1987, ông bắt đầu sáng tác. Sau ba năm, Bảo Ninh cho ra đời quyển tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất, “Nỗi buồn chiến tranh”. Đó là một quyển sách mỏng và nhỏ, dễ dàng nằm gọn trong túi áo.
Quyển sách mà tôi có được là bản dịch tiếng Anh mua từ một người bán sách ở Phnom Penh. Các trang sách đều đã quăn góc và cũ sờn lại còn mỏng đến mức tưởng như có thể nhìn xuyên qua được.
Quyển sách thực chất là bản photo từ một bản photo khác. Các dòng chữ “lên bờ xuống ruộng” khắp trang sách. Chữ ở một số chỗ còn bị nhòe và phai màu vì ẩm ướt.
Sách in lậu như thế này rất phổ biến ở Đông Nam Á. Chúng được bày bán ở các hiệu sách, quầy sách báo vỉa hè, hay trên tay của những đứa trẻ bán hàng rong. Đọc sách dưới cái nóng tháng tư của Phnom Penh, tôi như thể quên hết mọi thứ xung quanh. Câu chuyện trong sách cuốn bay cả thời gian và không gian.
*
KHÔNG TÀI NÀO HIỂU ĐƯỢC CÁI HIỆN THỰC ĐANG HIỂN HIỆN, KIÊN LIỀN BẮT ĐẦU VIẾT VỀ QUÁ KHỨ
Kiên, nhân vật chính trong tác phẩm, tham gia quân đội Việt Nam ở Hà Nội khi chỉ vừa tròn mười tám. Năm 1975, khi Sài Gòn đổi ngôi, trung đoàn của anh gồm năm trăm binh sĩ đã hy sinh và hơn ba triệu người Việt Nam thiệt mạng trong chiến tranh.
Nhiệm vụ cuối cùng của anh là đi dọc mọi miền đất nước để tìm kiếm và xác định danh tính cho thi thể của các đồng đội đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. “Nếu không tìm cho ra tên tuổi của họ thì cuộc đời chúng ta sẽ mãi mãi day dứt về sự hy sinh của họ”, người đội trưởng căn dặn anh.
Trên đường thực hiện nhiệm vụ của mình, Kiên băng qua cánh đồng bị bỏ hoang, năm xưa nơi đây là chiến trường, nhưng nay, cỏ cây đầy sức sống đã mọc lên. Anh bắt gặp những linh hồn tự giải thoát khỏi lòng bùn đất. Họ chơi bài, uống rượu, đắm chìm trong phóng túng và lạc thú. Thi thể đã chết đi và mục nát, nhưng họ vẫn hát hò và kể chuyện tục trong khi Kiên cầm chai Brandy, uống cạn hết ly này đến ly khác theo “kiểu uống man di, như thể phỉ báng cuộc đời”.
Các hồn ma bước ra từ khắp các hang cùng ngõ hẻm, từ các lối mòn trong rừng, thay nhau tạo ra một cốt chuyện như cơn sóng đến rồi đi – cứ thế bất tận, cứ thế không lối thoát, khó hơn cả những mê hồn trận thời Aristote xa xưa.
Nơi đây, người chết này lại nhớ đến người chết khác, họ gọi hồn của những bóng ma của chính họ, để chúng ta phải luôn nhớ đến, và sống trong một hành lang vô tận của những con người như thế.
Không tài nào hiểu được cái hiện thực đang hiển hiện, Kiên liền bắt đầu viết về quá khứ, “hòa trộn thân phận của chính mình vào thân phận của các nhân vật”. Bị cuốn theo dòng xoáy của ký ức vốn bất chấp trật tự thời gian và không gian, câu chuyện của Kiên cứ chạy dài theo “cái lô gíc bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng”.
*
“CÓ AI KHÁC NGOÀI CON MỚI CÓ THỂ NHÌN THẤU CUỘC ĐỜI CON ĐÂY?”
Bảo Ninh viết, sự xuất hiện dồn dập của vô số những linh hồn, “đã xâm nhập trong tâm trí anh, ăn sâu vào tiềm thức.” Kiên luôn cố hết sức để dành một chỗ nào đó cho từng vong hồn vô danh khi viết một cuốn truyện mà “trang nào cũng dường như là trang đầu tiên, trang nào cũng dường như là trang cuối cùng”.
Anh như một người vô ngã, sống vì những người đã chết.
Anh không còn là anh mà hòa vào góc nhìn của người thứ nhất, người thứ hai và cả người thứ ba trong những hồi ức của kẻ khác.
Những câu chuyện, của một thời khi mà “tất cả đều còn rất son trẻ, ngây thơ và chân thành”, trở thành hiện thực duy nhất của anh trong một thế giới được tái hiện.
Dần dần, ngay cả bản thân Kiên cũng sẽ biến mất và được thay thế bởi một người dẫn truyện khác, cũng có thể là chính tác giả, hoặc cũng có thể không.
“Có ai khác ngoài con mới có thể nhìn thấu cuộc đời con đây?” Câu hỏi giản đơn được thốt ra từ cha dượng của Kiên, nhưng đó lại là tinh thần bao trùm lên điều mọi điều Bảo Ninh lột tả.
Ở một mức độ nào đó, người đọc có thể chiêm nghiệm bao phận đời mà Bảo Ninh truyền tải đến chúng ta thông qua tâm sự của một nhân vật đơn độc, duy nhất là Kiên, một nhân vật không bao giờ dừng chân mà luôn rong ruổi hết đêm này sang đêm khác, từ rừng thiêng đến chốn thị thành, từ hiện hữu đến hư không.
*
TÁC GIẢ LÀ AI TRONG SỐ HỌ, LÀ TẤT CẢ HỌ, HAY CHẲNG LÀ AI CẢ?
Gần cuối truyện, Bảo Ninh đặt ra câu hỏi, “Còn bản thân tác giả, mặc dù xưng ‘tôi’ nhưng đích thực anh là ai trong biệt đội trinh sát đó? Liệu anh có phải có phải một trong số những hồn ma hay những bộ hài cốt được đào lên từ đáy rừng?”
Bảo Ninh đã tạo nên một con người thinh không, một con ốc mượn hồn, sống dậy qua tiếng nói của những người khác.
Kiên sống sót qua chiến tranh, nhưng nhân dạng và bản ngã không còn nữa.
Anh vừa trở thành một ống dẫn đầy ắp vừa là một ống dẫn rỗng không, một nhân vật biết rằng chỉ có tình người lớn lao hơn, những tiếng nói đầy mâu thuẫn vang lên như mây như mưa thì mới giữ anh tồn tại được.
“Hãy để những câu chuyện trở thành cát bụi”, một người phụ nữ trẻ nói với Kiên khi cuộc chiến kết thúc, mong muốn anh quên đi quá khứ. Nhưng cả anh và cô đều không nhận ra rằng tro bụi sẽ vẫn còn đó.
Mọi thảm kịch đi qua đều để lại những tàn tích. “Lẽ dĩ nhiên tôi biết điều đó” nhà thơ Bertolt Brecht đã viết, “chỉ nhờ may mắn nên tôi mới sống sót lâu hơn những người bạn của mình. Nhưng trong giấc mơ đêm nay, những người bạn ấy nhận xét về tôi, ‘chỉ có những kẻ mạnh mới sống sót,’ và tôi thấy căm ghét chính bản thân mình.”
*
ĐI NGƯỢC LẠI NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ CẤU TRÚC THÔNG THƯỜNG, ĐÁNH ĐỔI CẢ SỰ MẠCH LẠC ĐỂ CÓ THỂ NÓI RA ĐƯỢC NHỮNG SỰ THẬT TRONG LÒNG.
Xuất bản lần đầu vào năm 1990, “Nỗi buồn chiến tranh” chẳng mấy chốc thì bị cấm ban hành tại Việt Nam, quê nhà của nhà văn Bảo Ninh.
Tuy nhiên, đây lại trở lại thành một tiểu thuyết về chiến tranh của Việt Nam được yêu thích nhất, một cuốn sách được tưởng thưởng vì lối miêu tả gay gắt nhưng đầy trắc ẩn về một thế hệ chiến chinh.
Tại đây, ở Mỹ, tiểu thuyết của Bảo Ninh bị giới phê bình chê là lủng củng, rời rạc, lộn xộn, mất kiểm soát, và không có được sự sâu sắc hay mạch lạc như quyển The Things They Carried (Những thứ họ đã mang theo) của Tim O’Brien.
Có lẽ các nhà phê bình đã đúng. Hoặc giả, tiểu thuyết, cũng như tâm trí con người, linh hoạt hơn nhiều so với suy nghĩ của chúng ta. Khi xem xét kĩ hơn, “Nỗi buồn chiến tranh” đã đi ngược lại những chuẩn mực về cấu trúc thông thường, đánh đổi cả sự mạch lạc để có thể nói ra được những sự thật trong lòng.
*
“CHÚNG TÔI ĐÃ TỪNG
LÀ NHỮNG CON NGƯỜI,”
Vài năm trước, khi tham gia một hội thảo của các nhà văn ở Boston, Bảo Ninh được một người cựu binh Mỹ phỏng vấn.
Người Mỹ Marc Levy này đã gặp phải một sự im lặng khi yêu cầu Bảo Ninh mô tả những chiến thuật của quân Việt Nam, chiến thuật đi rừng, và công tác tư tưởng. Cuối cùng, Levy đành hỏi Bảo Ninh là có điều nào ông muốn nói thêm, điều nào mà buổi phỏng vấn đã bỏ sót. “Chúng tôi đã từng là những con người,” Bảo Ninh trả lời đơn giản. “Đó là điều mà các anh cần nói với mọi người. Chúng tôi đã từng là những con người.”
Năm 2006, trước tin đồn ông đã viết xong quyển tiểu thuyết thứ hai, Bảo Ninh thừa nhận rằng sau khi xuất bản quyển “Nỗi buồn chiến tranh”, ông đã không ngừng viết, nhưng chưa biết mình có còn xuất bản thêm một tựa sách nào nữa không. “Tôi liên tục ngăn mình lại”, ông nói. Hiện tại, ở tuổi 58, ông biên tập một tuần san văn chương ở Hà Nội, và sống cuộc sống của một nhà văn ẩn dật, người đã trở nên nổi tiếng bởi một quyển sách chứa đầy sự vị tha, một cuốn sách vô ngã nhưng lại nói hộ tiếng lòng cho cả một thế hệ.
***
LANG THANG KHẮP CHỐN
Được sao lại từ những bản sao và dịch lại từ những bản dịch, câu chuyện về những hồn ma của Bảo Ninh đã được tái sinh và trao tặng một cuộc đời mới kiên cường hơn.
“Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể được tìm thấy trong những nhà khách yên tịnh ở Bắc Lào hay lẫn trên những kệ sách dài bất tận trong nhà sách Kinokuniya ở San Franscisco.
Tháng 6 năm 2010, tôi đi xe buýt từ Bucharest đến Biển Chết, nơi mà khoảng 2000 năm trước, nhà thơ La Mã cổ đại Ovid đã trải qua mười năm cuối đời trong đày ải đơn độc.
Tại một hội thảo chuyên đề của các nhà văn Romani và quốc tế, tôi từng giới thiệu về “Nỗi buồn chiến tranh.”
Lúc ấy, trong túi áo của tôi vẫn là bản truyện cũ sờn tôi mua ở Phnom Penh.
Ngồi bên bờ Biển Chết, một lần nữa tôi lần giở những trang sách và cảm nhận mùi gió biển mằn mặn dần biến mất, nhường chỗ cho khu rừng xanh thẳm của Kiên vươn lên.
Thế giới tiểu thuyết thật lạ kỳ, đó là nơi ngôn từ có thể khiến ta sống lại những điều chưa từng trải qua, nơi ký ức được lưu giữ trên trang giấy. Các trải nghiệm mới vẫn đến với ta sau mỗi lần được thưởng thức tác phẩm nghệ thuật bất hủ, dù đó là thơ ca, nhạc họa, hay phim ảnh.
Mỗi lần như thế, ta lại mong có thể đưa mình đi sâu hơn vào cuộc chinh phục mới. Ta lại mong mang theo mình phần nào nữa của thế giới này và cả những trải nghiệm bản thân.
*************
Người dịch:
Lê Thanh Tuấn, Giảng viên thỉnh giảng, Khoa Ngữ văn Anh, Trường ĐHKHXH-NV, ĐHQG, TPHCM. Nguyễn Thị Như Ngọc, Thạc sĩ, Trưởng bộ môn Biên – Phiên dịch, Khoa Ngữ văn Anh, Trường ĐHKHXH-NV, ĐHQG, TPHCM. Nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu.
Bài gốc được xuất bản trong Finding the Words, (tạm dịch – Đi Tìm Hình Của Chữ) biên tập bởi Jared Bland. Bản quyền © 2011thuộc về Madeleine Thien
==
“TÔI PHẢI VIẾT VẬY VÌ ĐÃ SỐNG VẬY”
--
Bài báo “Tết năm ấy, sau cuộc chiến” của Bảo Ninh -- đưa trên Fb này ngày 25-7-2023 -- mới được viết 2015 mà Nỗi buồn chiến tranh thì được viết từ gần ba chục năm trước. Nhưng tôi nghĩ rằng bài viết ngắn ấy là một cách tác giả giải thích về cuốn sách chủ yếu của đời mình, lời giải thích ấy tạm tóm tắt là “tôi phải viết vậy vì đã sống vậy”.
Tôi không có chút hiểu biết gì về các bài phỏng vấn nhà văn này ba chục năm qua với báo chí nước ngoài, chỉ biết là có.
Theo tôi cảm nhận, ngoài những nội dung khác thì một tinh thần chủ yếu ngụ trong những câu trả lời của Bảo Ninh với báo chí nước ngoài bấy lâu cũng là “tôi phải viết vậy vì đã sống vậy”.
Những câu trả lời dưới đây được đưa trên báo MekongReview không nằm ngoài tinh thần đó.
Bài báo này, tôi chưa bao giờ thấy nguyên bản. Bản dịch các bạn sẽ đọc do dịch giả Phạm Văn Thiều trực tiếp chuyển cho tôi và tôi đã đưa trên blog cá nhân của tôi ngày 12 tháng 11, 2018
Đây là bản duy nhất có trên mạng hiện nay.
Hôm nay khi chuyển bài này lên Fb, tôi đã cắt bớt đi một vài đoạn ngắn không cần thiết và có trình bày lại các đoạn đối thoại để dễ theo dõi.
SỰ CẦN THIẾT PHẢI HIỂU BẢO NINH
Tôi hiểu rằng chưa chắc nhà văn Bảo Ninh đã hoàn toàn thích thú khi những bài loại này được đưa đến với bạn đọc trong nước.
Có những câu hỏi giá kể khi có báo chí trong nước hỏi như vậy, anh sẽ không nói hoặc nói khác.
Nhưng như tôi đọc được ý anh ở cuối bài này, tình hình bây giờ so với hai ba chục năm về trước đã có chỗ khác.
Vẫn có những điều ta không nên nói nhưng vẫn có một ít điều mọi người đều cần nghe, cứ nói đi, rồi thấy nói cũng được, cần phải nói.
Tôi tha thiết mong các bạn khác, đọc được những bài Bảo Ninh trên báo chí nước ngoài, sẽ dịch ra và công bố cho bạn đọc trong nước cùng biết.
Chúng ta còn phải làm rất nhiều để hiểu Bảo Ninh và kiệt tác của anh, từ đó hiểu cuộc chiến tranh vừa qua đã nhào nặn lại tất cả như thế nào.
Hiểu anh để hiểu chính mình thời đại mình.
Cái sự không hiểu chính mình chính là nguyên nhân tạo nên sự bế tắc trì trệ và cả sự băng hoại của xã hội hiện thời
NHỮNG NGƯỜI TÀI ĐI HẾT, RỒI TA SẼ SỐNG VỚI AI?
Ngày 11 tháng 8 năm 2023
-----
1/Thế nào là người tài?
*
Lớp 10C Chu Văn An bọn tôi khóa 1958-1961 có bạn Phạm Đình Tuấn. Tuấn thông minh, nhưng thường điểm các môn không cao lắm, nên không được coi là học sinh giỏi. Tôi chỉ bái phục Tuấn khi được biết rằng hồi ấy anh đã đọc được “Thủy hử” trong nguyên văn bằng chữ Hán.
Hết lớp mười lớp 12 hiện nay) Tuấn thi vào đại học hàng hải, những mong theo tàu viễn dương đi khắp thế giới. Cái lý lịch là dân Hà Nội cũ đã làm hại anh. Người ta sợ những người như anh đi đây đi đó rồi sẽ bỏ ra nước ngoài. Anh phải chuyển về nông lâm khoa nuôi cá nước ngọt và học xong được điều lên Sơn La.
Bạn bè ai cũng nghĩ chắc anh bị quên giữa núi rừng mịt mùng tức đã lẫn vào đám công chức xã hội chủ nghĩa tỉnh lẻ ở miền Bắc. Cái điều lo lắng đó của chúng tôi được coi là sai khi biết sau 1975 được tin Tuấn bỏ Sơn La vào Sài Gòn tính chuyện làm ăn, rồi nhanh chóng vượt biên.
Thật tôi không hiểu tại sao mà trong những ngày ở Sơn La anh còn làm được hai việc rất khó khăn là tiếp tục học thêm về nuôi trồng thủy sản và nhất là học được tiếng Anh đến mức khi đi di tản sang Mỹ nhập ngay được vào xã hội đó, như một người lao động giỏi giang. Làm sao lại không kinh ngạc khi biết về hưu của anh lên tới 4.000USD.
Tôi không có điều kiện gặp anh từ 1961, chỉ biết qua lời kể của các bạn Nguyễn Nghĩa Bùi Hồng, nên không biết có gì sai trong các chi tiết vừa kể.
Nhưng tôi chắc rằng về căn bản Phạm Đình Tuấn của tôi là người Hà Nội sau 1954 không bị cách giáo dục của xã hội làm cho tầm thường đi và nhất là không bị cuộc chiến tranh 1965- 75 làm hỏng. Tôi muốn coi anh người bạn nay đã qua đời này là một công dân Hà Nội tiêu biểu. Tại sao?
Ở đây không chắc các bạn xa gần đồng ý với tôi, nhưng tôi có cái chuẩn mực riêng của mình.
Theo tôi, cái tinh thần chính mà người Hà Nội “trong thời Pháp thuộc” đã học hỏi được -- đúng hơn là cái thời mà các công dân đô thị đã được nền văn hóa phương Tây do người Pháp đưa vào hướng dẫn -- đó là tinh thần hướng ra thế giới và ở đâu cũng tự rèn cho mình cái khả năng gia nhập vào xã hội hiện đại.
Những người như thế hiện nay đang là thiểu số. Còn đa số chúng ta thì khác. Lớp người thuộc lứa tuổi tôi đa số thích ứng với chiến tranh và nay đang sống rất khó khăn trong cái thời mà xã hội cần phát triển.
Nhìn từng người thì có người nọ người kia và ta phải buộc lòng mà chấp nhận vậy. Nhưng xét chung cả cộng đồng thì sao? Chúng ta loay hoay mang chút uy tín có được trong chiến tranh ra làm bảo đảm để đi vay mượn rồi cùng với chút tài nguyên ông cha để lại bán đi để tiêu xài.
Đáng lẽ chúng ta phải để cho những người đã có sự chuẩn bị cho hội nhập và phát triển như Tuấn hướng dẫn xã hội này thì chúng ta lại để cho họ bỏ ra nước ngoài. Và đó là nguyên nhân lớn nhất khiến tôi tin rằng chúng ta sẽ còn tụt lùi nữa.
2/Những người tài đi hết
rồi ta sẽ sống với ai?
*
Tôi nhớ lại về Tuấn và có những ý nghĩ trên khi đọc bài trên mạng Dân trí ngày 11-11-2017 mang tên.
“Người đàn ông uống cà phê cùng Thủ tướng Canada bên vỉa hè Sài Gòn”.
http://dantri.com.vn/…/nguoi-dan-ong-uong-ca-phe-cung-thu-t…
Bài báo cho biết “ Ông Hiệp sinh năm 1946, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sài Gòn. Có lẽ, vừa là một nhân viên thâm niên hơn hai mươi năm của lãnh sự quán Canada tại TPHCM lại là người bản địa nên ông được lãnh đạo giao nhiệm vụ hướng dẫn Thủ tướng Trudeau dạo phố, ngắm cảnh, uống cà phê cóc Sài Gòn...”
...Cuộc trò chuyện giữa hai con người chỉ biết nhau qua “giấy tờ” vỏn vẹn chừng mươi phút nhưng ấn tượng hình ảnh một vị lãnh đạo trẻ trung, năng động, thân thiện để lại trong lòng ông Hiệp vô cùng sâu sắc. Hai người trò chuyện bằng tiếng Anh xong rồi tiếng Pháp. Thủ tướng Trudeau khá bất ngờ với khả năng nói tiếng Pháp của ông Hiệp.
Ông Hiệp cũng trải lòng cùng Thủ tướng: “Cũng làm đã lâu, hơn hai mươi năm rồi, tôi có ý định xin hưu để sang Canada sống với con cháu…”.
Nghe đến đó, Thủ tưởng Trudeau xin ngắt ngang: “Chính phủ Cananda rất trân trọng những người lớn tuổi, rất tôn trọng những người hăng say lao động và làm được việc, Canada không quan trọng tuổi tác”.
...
Chắc các bạn đã đoán ra, nhưng tôi vẫn muốn nói ra bằng được cái cảm giác của tôi về nhân vật ông Hiệp trong bài. Đế mượn lại một chữ của Thạch Lam, tôi không khỏi se lòng, khi nghĩ những người như thế, nay đang hiếm dần.
Chúng ta sẽ sống với ai? Ai là người sẽ giúp chúng ta tiếp tục quan hệ với thế giới?
Có một chi tiết mà tôi nhớ mãi khi đọc lịch sử. Mỗi khi người Tầu xâm chiếm nước ta họ thường bắt các vương triều của ta giao nộp người tài. Chỗ khác giữa xưa và nay là những người tài thời nay thường tự nguyện ra đi, khổ mấy cũng quyết để đi.
KHÔNG HIỂU NỔI TẠI SAO HỌ KHÓC?
Ngày 14 tháng 8 năm 2023
Bài sưu tầm trên mạng
T/g An Vui - 13 tháng 5, 2023
Tôi đã định tắt màn hình, kết thúc một ngày, nhưng video của Dân Trí và Lao Động với màn khóc lóc của cổ động viên Việt Nam sau khi U22 Việt Nam thua Indonesia tại SEA Games 32 lại khiến tôi bật dậy.
Đó là những cổ động viên trẻ của U22 Việt Nam, đang xem trận đấu giữa Việt Nam và Indonesia qua màn hình tại phố đi bộ Nguyễn Huệ (quận 1, Sài Gòn) chiều 13 Tháng Năm 2023.
Người khóc có cả nam, cả nữ. Nước mắt tràn ngập trên gương mặt họ. Điều đáng nói là họ khóc thật tình, đau đớn thật tình, thất vọng thật tình, không hề giả trân.
Tôi không hiểu nổi, cách họ bày tỏ sự thất vọng; cách họ tiếc nuối, rên rỉ, trách móc; cách họ van vái, rồi quỳ mọp xuống hoặc ngã vật ra… Tôi không hiểu nổi tại sao họ lại đau đớn, vật vã giữa phố đông người… chỉ vì đội tuyển Việt Nam thua Indonesia, mất cơ hội đoạt huy chương vàng môn bóng đá nam?
Nhìn các bạn trẻ khóc lóc thật tình chỉ vì U22 Việt Nam thua một trận bóng tranh huy chương vàng SEA Games – thường gọi là cuộc chơi “ao làng”, tôi hoàn toàn không hiểu nổi, nhưng cảm thấy rất rõ là Việt Nam không có hy vọng vào tương lai.
Nhiều năm qua, khi nhìn thấy số đông người trẻ giờ chỉ còn quan tâm vào chuyện thắng thua của đội tuyển bóng đá nam Việt Nam, tôi thấy buồn và ngán ngẩm. Đây rõ ràng là trào lưu (hay xu hướng) được nhà nước Việt Nam khuyến khích.
Họ khéo lồng vào cái gọi là “tinh thần dân tộc”, đội tuyển bóng đá nam thắng là Việt Nam đang thắng; còn đội tuyển bóng đá nam thua là Việt Nam đang thua, điều họ không thể chấp nhận với tâm lý ngạo mạn.
Mỗi khi nhìn dàn cổ động viên Việt Nam ngồi trên khán đài cổ vũ đội tuyển bóng đá nam, nhìn cách họ kêu gào, hú hét chữ “Việt Nam”, khua chiêng đánh trống, giơ cờ, trưng ảnh… sao tôi không hề thấy tự hào mà chỉ thấy sợ?
SỢ. Vì cổ động viên Việt Nam giống hệt “hồng vệ binh”, nhuộm đỏ người từ đầu đến chân, một màu đỏ hiếu thắng và ngạo mạn, với niềm tin “sắt máu” là “Việt Nam luôn thắng” (!) nên mỗi lần đội tuyển bị thua là mỗi lần họ cay cú, khóc lóc, tưởng như Việt Nam bị bại trận tới nơi!
Còn mỗi lần đội tuyển bóng đá nam thắng thì chao ơi, chính những fan cuồng của bóng đá lại là niềm sợ hãi của bao nhiêu người, trong đó có tôi, vì nhóm người này sẽ nhân danh ăn mừng chiến thắng để thổi kèn ồn ã suốt đêm.
Hành vi phổ biến là họ sẽ tràn ra đường, cởi áo, khua chiêng gõ trống, hú hét, trở thành hung thần đường phố…, sẵn sàng lạng lách bất chấp gây tai nạn cho người khác, mà công an nếu có mặt cũng ưu ái “bao dung” với cớ họ đang ăn mừng chiến thắng!
Phải khen là ai đó đã khéo khơi dậy “tinh thần dân tộc” bằng cách dựng màn hình lớn, tụ tập đám đông mê bóng đá đến phố đi bộ Nguyễn Huệ cùng xem để cổ vũ cho U22 Việt Nam. Có cả trẻ em trong đám đông đó mới sợ chớ.
Màu đỏ tràn ngập khắp nơi, nhuộm đỏ từng người, từ tấm băng quấn quanh đầu, đến sticker dán trên mặt, áo mặc trên người, cờ cầm trên tay… Một màu đỏ không phải của đam mê mà của sự hiếu chiến.
Nhìn giới trẻ bộc lộ sự vui mừng quá đà khi U22 Việt Nam thắng, rồi khóc lóc cũng quá trớn khi U22 Việt Nam thua, tôi cho là fan cuồng cổ vũ bóng đá Việt Nam không hiểu được sự thắng thua là lẽ thường ở đời này.
Bởi đôi khi thua mà lại “thắng”, còn thắng có khi lại là “thua”. Có những chiến thắng lại khiến người ta khóc cùng với đối thủ; và có những khi thua mà người ta vẫn an nhiên mỉm cười, cảm ơn đối thủ.
Than ôi, chỉ khi nào biết khiêm nhu trong chiến thắng thì người ta mới biết bình tâm khi thua cuộc. Chỉ khi nào đủ dũng khí biết nhận mình yếu, mình thua là lẽ thường thì lúc đó mới có chiến thắng thực sự.
Còn nếu giới trẻ – cổ động viên cuồng nhiệt cho bóng đá hôm nay, chỉ sống trong ảo tưởng, tự ru ngủ điệp khúc “Việt Nam luôn thắng”, “Việt Nam không thể thua” thì mãi mãi đất nước này sẽ chẳng có ngày mai nào tươi sáng!
Nhìn đám đông người vò đầu bứt tóc khi Việt Nam thua Indonesia trên phố Nguyễn Huệ chiều 13 Tháng Năm 2023, tôi tự hỏi trong số họ có bao nhiêu người đang lậm vào trò cá độ bóng đá? Có bao nhiêu người cười như điên như dại khi U22 thắng vì họ thắng đậm, sắp có số tiền lớn vì thắng độ?
Có bao nhiêu người khóc như cha chết, mẹ chết… (cũng chưa chắc cha mẹ họ chết mà họ khóc) khi U22 thua vì lý do thực sự là họ đã thua độ, sắp nợ nần, phá sản đến nơi?
Một người bạn của tôi có cậu con trai duy nhất từng du học ngoại quốc, có tấm bằng thạc sĩ, thế mà đi làm mới vài năm, dính vào trò cá độ bóng đá, bạn phải trả nợ thay con vài lần, quá sợ hãi đến mức buộc con nghỉ làm, mỗi ngày phát cho 200,000 đồng ($8.5) để tiêu xài, với mục đích khi không làm ra tiền, không gặp gỡ ai thì con sẽ cắt đứt cơn nghiện cá độ.
Một người bạn khác có em trai cũng du học ngoại quốc về, rất hiền lành chăm chỉ… bỗng một ngày phải trốn chui trốn nhủi đến nỗi gia đình không thể liên lạc, vì em nợ nần cá độ bóng đá quá nhiều không trả nổi mà gia đình cũng không ai đủ sức “gánh” thay. Tất cả đều là thanh niên con nhà tử tế, được học hành đến nơi đến chốn.
Ngoài nghiện cá độ thì sự thèm cảm giác chiến thắng trong các trận bóng đá đang là một “cơn nghiện” khác của giới trẻ Việt Nam.
Cơn nghiện ấy chỉ được thỏa mãn khi đội tuyển bóng đá nam chiến thắng, đủ giúp họ quên đi sự bức bối của việc làm, của đồng lương không bao giờ đủ mua một căn nhà; quên đi sự tha hóa của đạo đức cá nhân khi con người sẵn sàng trút giận vào nhau; quên đi môi trường sống (từ văn hóa đến không khí) ngày càng ô nhiễm; quên đi sự nhọc nhằn của chính cha mẹ họ đang ngày ngày vật lộn với giá cả leo thang của thực phẩm và điện nước, hoặc có khi chết sớm vì không đủ tiền chữa trị bệnh tật.
Khi nào cơn cuồng bóng đá của giới trẻ Việt Nam có điểm dừng, chuyện thắng thua của đội tuyển bóng đá nam không còn tác động đến cảm xúc của giới trẻ, không còn là điều quan trọng nhất đối với họ thì lúc đó, Việt Nam mới có tương lai. Ngày đó chắc còn xa lắm.
Cảm ơn trời, đêm nay tôi sẽ được ngủ ngon vì U22 Việt Nam thua.
CHÂN TRỜI KHÔNG BAO GIỜ CŨ
Ngày 21 tháng 8 năm 2023
Viết ngày Hồ Dzếnh qua đời 13-8-1991.
Viết để ghi nhận rằng có thứ văn chương một thời và có thứ văn chương của nhiều thời kể cả trường hợp thời này là thế giới đảo ngược của thời kia.
***
Hồ Dzếnh qua đời ở tuổi 75, song quả thật, ông hầu như đã ngừng viết trước đó rất lâu. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) cũng đã có một vài cuốn sách mang tên ông được xuất bản – cả sách sáng tác lẫn sách dịch – có điều chúng không có gì đáng kể và sự thực là trong cuốn Hồ Dzếnh tác phẩm chọn lọc làm năm 1987 khi ông còn sống, phần chủ yếu vẫn là tập truyện ngắn Chân trời cũ cùng ít bài thơ trong Quê ngoại.
Bảo rằng về già, Hồ Dzếnh sống trong chờ đợi thì cũng không hẳn. Những gì tâm huyết đã mang cống hiến cho đời và ông sống khá thanh thản. May mà trong trường hợp này lịch sử đã công bằng.
Mấy năm trước khi mất, chẳng những Hồ Dzếnh có tuyển tập mang tặng bạn bè mà ông còn có dịp chứng kiến Chân trời cũ được in lại ở mấy chỗ, trong sự tha thiết yêu chiều của bạn đọc, nhất là những bạn đã đọc văn Hồ Dzếnh từ lâu, mà sau những năm chinh chiến mãi vẫn không kiếm được sách. Thật là một sự ơn trả nghĩa đền xứng đáng.
Cuộc đời mỗi nhà văn – cũng giống như cuộc đời mỗi con người – là một cái gì độc đáo, không ai giống ai, và mọi ý muốn người ta áp đặt cho nhau, khuyên bảo nhau, suy cho cùng, đều chả mấy nghĩa lý: số phận là cái không ai có thể chọn lựa. Dẫu sao nghĩ lại thì thấy trừ những kẻ bất tài và lười biếng, ở đây, trong văn chương đại khái có hai cách tồn tại.
Một là những tác giả, viết luôn tay, viết đều, có khi lại hoạt động trên các thể loại khác nhau, và như có bàn tay vàng, làm gì cũng nổi lên tự nhiên và sự nghiệp toà ngang dãy dọc đồ sộ.
Và thứ hai là loại người sống như kẻ lơ đãng, tâm trí để tận đâu đâu, họ chỉ viết rất ít, cả một đời văn thu gọn trong một vài quyển sách chi đó. Song chỉ thế thôi mà cứ là sống mãi trong lòng người yêu văn chương.
Không nói đâu xa, ngay trong các nhà văn Việt Nam thế kỷ hai mươi cũng đã thấy có sự phân chia đôi ngả đôi dòng như vậy.
Một bên là Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính…
và bên kia là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Nhược Pháp, và lùi về phía sau một chút, là Quang Dũng.
Cố nhiên, Hồ Dzếnh cũng thuộc cái loại thứ hai chúng ta đang nói.
Tên tuổi ông gắn liền với Chân trời cũ, ở đó người ta đọc ra tiểu sử, những từng trải riêng của đời sống và cả cách cảm cách nghĩ riêng của Hồ Dzếnh trước cuộc đời này nữa.
Mặc dù được viết ra khi tác giả mới 26 tuổi, và chủ yếu nói về những năm tuổi trẻ của một đời người, song Chân trời cũ lại có một sự già dặn riêng.
Nó là thứ văn chương không có tuổi.
Thậm chí – bây giờ đã đến lúc có thể nói được điều này – nó là thứ văn chương viết xong người ta có thể gác bút, có thể buông tay nhắm mắt. Và chỉ nhờ thế, cuốn sách chưa đầy 200 trang đó, mới đủ tư cách để đưa một con người trở thành một tên tuổi vĩnh viễn trong lịch sử văn học.
Những người có dịp gặp gỡ Hồ Dzếnh mấy năm cuối đời hẳn còn nhớ ông già trên 70 tuổi ấy luôn luôn có cái vẻ thản nhiên, hình như mọi chuyện “thế sự buồn rầu và cảnh đời hùng tráng” – chữ của Hồ Dzếnh – mình đều đã biết cả rồi, thiệt hơn thế nào cũng được, cuộc sống là thực mà cũng là một cõi hư vô nào đó. Thành thử, ông lại luôn luôn tìm được niềm vui hồn nhiên của mình. Một nụ cười có chút siêu hình đã thường trực trong tâm trí Hồ Dzếnh cho đến khi ông chia tay chúng ta.
Đã in trong Chuyện cũ văn chương 2001
THÓI HÁO THẮNG CỦA NGƯỜI VIỆT
Ngày 28 tháng 8 năm 2023
Nguyễn Thị Bích Ngà•Thứ Năm, 17/08/2023
---
Lang thang trên mạng, VTN tôi tìm thấy bài viết này. Đọc vào thêm cả một vài bài khác thì đoán có lẽ là một người nước ngoài - cụ thể hơn là người Nhật - đã đặt địa vị mình như một con dân nước Việt và đã đủ hiểu văn hóa Việt Nam tới mức mạnh dạn đi vào một đề tài khá tế nhị. Cũng cần lưu ý thêm tác giả đã viết thẳng bằng tiếng Việt. Xin giới thiệu để các bạn cùng đọc và xét xem tôi đoán đúng hay sai - nếu sai tôi cũng không lấy làm buồn. Tới đây, trên con đường đi tìm những người cùng chí hướng đi vào đề tài THÓI HƯ TẬT XẤU người Việt một cách thiện tâm và đầy trách nhiệm, tôi hy vọng tìm thêm được nhiều ngòi bút đồng điệu khác.
***
“Chẳng cần lợi lộc gì cho to tát, chỉ cần một chút máu háo thắng trong người, là người ta đã dễ dàng bị ma quỷ xỏ mũi. Mà cả cái nền văn hoá giáo dục Việt Nam, xưa nay, cứ cố tình nuôi dưỡng và cổ xuý cho cái máu háo thắng như thế…”
Nguyễn Hưng
Sáng nay, đọc status ngắn của anh Hưng, tôi bị ám ảnh, suy ngẫm về tính háo thắng của người Việt mình. Háo thắng là gì? Từ đâu chúng ta có tính háo thắng? Nó gây hại ra sao? Có thể thay đổi được không?
Háo thắng là lúc nào cũng muốn thắng, muốn hơn người. Háo thắng xuất phát từ bản năng tồn tại của con người và muốn vượt lên trên một cách thái quá.
Có nhiều dạng tâm lý dẫn đến con người có hành vi háo thắng, tựu trung có hai dạng chính:
1. Là những người được sinh ra khỏe mạnh về thể chất và được bảo bọc quá đáng. Những người này không hề nếm mùi của sự bất hạnh, nghèo khổ, thiếu thốn, mỗi khi va vấp đều được gia đình đứng ra nâng đỡ hỗ trợ mọi thứ nên họ tự cho mình cái quyền có tiếng nói, địa vị hơn người, sinh ra hành vi khinh thường người khác xung quanh. Họ không biết chia sẻ, sống vô cảm với nỗi đau của người khác và thờ ơ với xã hội, chỉ biết và cho rằng mình là trung tâm của vũ trụ. Khi không được đáp ứng, thỏa mãn, họ sẽ trở nên hung hăng, oán ghét và hại người để bản thân trở nên vượt trội.
2. Là những người mang mặc cảm về thể chất, hoàn cảnh sống và muốn vươn lên bằng mọi cách. Họ học cách ăn nói, lối sống của nhóm 1, tạo cho bản thân sự ảo tưởng để gia nhập vào tầng lớp những người ở nhóm tự cho rằng mình hơn người.
Thông qua giáo dục đúng cách, con người biết cách kềm chế tính háo thắng để sống hòa đồng trong cộng đồng. Ngược lại, giáo dục sai cách sẽ khiến con người bộc lộ tính háo thắng trong mọi lĩnh vực, điều này gây hại cho chính bản thân người háo thắng và cộng đồng, xã hội.
Giờ, ta thử điểm qua vài nét về giáo dục xưa nay của mình xem nó ra sao.
Hồi nhỏ, đọc những mẩu chuyện Trạng Quỳnh, tôi cứ thắc mắc hoài tại sao một người như thế lại nổi tiếng và được ca tụng là tài giỏi và truyền đời học hỏi? Trong khi người ta chăm chút để vẽ con rồng ra con rồng bằng tài năng khéo léo, vẽ nhanh của họ thì Trạng lại ăn gian nhúng mười ngón tay vào mực nguệch ngoạc và cho rằng mình vẽ được mười con “rồng đất” thắng người kia chỉ vẽ được mỗi một con. Cái tính háo thắng làm Trạng chơi ăn gian, chơi bẩn mà vẫn dương dương tự đắc là mình hơn người, không hề thấy xấu hổ vì cách chơi xấu của bản thân.
Xuyên suốt những câu chuyện về Trạng Quỳnh, ta luôn thấy ông ta vận dụng trí khôn lỏi (tôi không gọi là thông minh) để ăn gian, chơi bẩn, chơi xấu, chơi trên đầu người khác hòng chứng tỏ bản thân hơn người, chẳng đem lại bài học nhân văn nào cho con người. Cho đến chết cái tính háo thắng của ông ta cũng vẫn không hết, ông làm cho kẻ hại mình phải chết theo mới hả dạ. Ấy vậy mà, chuyện về Trạng là những mẩu chuyện được coi là thông minh, dí dỏm và đáng học hỏi, cho đến tận bây giờ. Và không chỉ có Trạng Quỳnh mới thế, ta có thể bắt gặp những chuyện tương tự như vậy ở trong nhiều câu chuyện cổ tích, giai thoại, văn học khác.
Xưa đã thế, trong cuộc sống hiện đại, con người ngày càng bộc lộ tính háo thắng nhiều hơn. Cũng phải thôi. Sự giáo dục tư tưởng “đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” là một sự háo thắng từ ngay trong chính những câu tuyên ngôn. Và sự háo thắng còn thể hiện thông qua các chính sách, nghị quyết, đưa vào giáo dục, đời sống xã hội. Tất yếu con người trong một xã hội như vậy sẽ không thể không bị ảnh hưởng.
Xã hội Việt Nam ngày càng phân hóa và chia làm hai nhóm người giàu nghèo rõ rệt, điểm chung là đều mang trong mình tâm lý háo thắng. Dù dạng nào, cái háo thắng ở người Việt, thường xuyên chỉ khôn lỏi kiểu Trạng Quỳnh hoặc kiểu bị nhồi sọ là hết.
Nhà hàng xóm xây hai tầng vì nhà họ đông người, nhà mình cũng cố hai tầng cộng thêm cái tum cho cao hơn chút chỉ để thỏa mãn tính háo thắng chứ chẳng ai ở, lãng phí, thậm chí còn gây nợ. Vợ chồng với nhau vẫn để tính háo thắng lấn át tình cảm, hơn thua nhau từng lời nói để cố chứng tỏ mình hơn. Cư xử với cộng đồng thì luôn tranh hơn từ chuyện xếp hàng cho đến giành chỗ tốt, hơn thua ngay cả trong cái ăn cái uống.
Trên mạng xã hội thì người ta thường hung hăng thể hiện cái tôi duy nhất đúng, dùng lối ngụy biện để tấn công cá nhân người khác. Các cuộc thảo luận thường không mang tính thảo luận mà rất dễ nhanh chóng rơi vào trạng thái căng thẳng chỉ vì người ta để cho tính háo thắng lấn át lý trí, không phân biệt đúng sai, không công nhận cái lý đúng của người. Người ta thường quy chụp ý kiến phản biện hoặc chất vấn thành ý kiến chống đối hoặc phá hoại, hoặc thậm chí cho rằng người ta ngu nên ngay lập tức nhảy dựng lên và phản ứng lại rất gay gắt hoặc mỉa mai.
Làm việc trong một tập thể, thấy người ta giỏi hơn mình thì không cố gắng học hỏi để vươn lên mà lại quay ra cố gắng nói xấu, gây hại, cô lập người giỏi đó để họ không có điều kiện phát triển và mình thì nhướng mày tự đắc hả hê. Cuối cùng cả mình và người đều thiệt, chẳng có lợi gì cho ai mà còn hại cho việc chung rất lớn. Ngay trong những người mong muốn thay đổi xã hội cũng có hiện tượng này, và thẳng thắn thừa nhận rằng nó không hề ít.
Kiến thức là vô hạn, con người không ai giỏi toàn diện tất cả mọi mặt. Tôi có thể hơn anh điểm này nhưng thua anh điểm khác. Anh hơn chị mặt này nhưng thua chị mặt kia. Nếu ta được giáo dục để nhận biết điều này thì ắt sẽ có tính khiêm cung và biết cách hợp tác để làm việc cùng nhau hòng tạo ra giá trị tốt nhất cho công việc chung, trong đó có lợi ích của chính mình và cả của người. Ngược lại, trong một tập thể, cộng đồng mà không ai công nhận ai, ai cũng cho rằng mình giỏi hơn người thì xã hội đó sẽ đi thụt lùi về con số âm trong mọi mặt đời sống từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, đạo đức.
Tôi thường đưa ra giải pháp cho vấn đề hoặc cách sửa tính xấu mỗi khi viết về một tính xấu nào đó trong loạt bài này. Nhưng, riêng trong bài này, tôi không đưa ra cách khắc phục nào, bởi qua nhiều chuyện cay đắng, tôi nhận ra rằng, đó là điều ngoài khả năng mình. Viết ra chỉ để mỗi chúng ta tự suy ngẫm về chính mình, tự nhận biết và tự khắc phục.
Nguyễn Thị Bích Ngà
Ở CUỐI BÀI CÓ GHI
Theo facebook Nguyễn Thị Bích Ngà
Nguồn trithucvn.org
VIỆT NAM LẠI ĐỨNG THỨ NHÌ THẾ GIỚI!
Ngày 28 tháng 8 năm 2023
---
Bài này tôi sưu tầm trên mạng từ gần mười năm trước, nay đưa lại ở đây vì thấy không kể các chi tiết cụ thể mặt này mặt nọ có thể lên xuống thì tinh thần chủ đạo được đưa ra cho tới hôm nay vẫn đúng. Khi đưa lại tôi đã mạn phép lược bỏ các chi tiết không thật cần thiết, mong được T/g tha thứ
---
T/g: NTZung, June 24th, 2014
***
Tuy vẫn biết VN hay được xếp thứ hạng rất cao, nhưng việc tờ báo The Economist lại vừa ra một bài mới về xếp hạng “độ tử tế của các nước” (the goodness of nations), xếp hạng 125 nước, đo mức độ tử tế của các nước trong cộng đồng quốc tế, mà trong bảng xếp hạng này, Việt Nam suýt chiếm ngôi đội sổ, làm tôi cũng phải giật mình!
Xem bài báo ở đây http://www.economist.com/.../graph.../2014/06/daily-chart-18
Chi tiết xem ở: http://www.goodcountry.org/
---
Theo bảng xếp hạng đó thì đứng ở vị trí số to nhất (125) là Libya, còn vị trí thứ 124, ngôi á hậu là Việt Nam.
Bảng xếp hạng về độ tử tế này được tính theo tổng hợp của 7 lĩnh vực:
- đóng góp về khoa học công nghệ,
- đóng góp về văn hóa,
- đóng góp vào hòa bình và an ninh thế giới, trật tự thế giới, bảo vệ môi trường của hành tinh,
- đóng góp vào sự phồn vinh và bình đẳng của thế giới,
- đóng góp về y tế sức khỏe.
Mức độ đóng góp này được tính trên nền mức độ giàu nghèo của các nước. (Tức là nước nghèo có đóng ít hơn cũng có thể được tính ngang bằng nước giàu mà đóng góp nhiều hơn).
Về khoa học công nghê, Việt Nam đứng thứ 89/125, với tỷ lệ đóng góp tương đối là âm, đặc biệt là về bằng sáng chế là âm nặng.
Về mặt văn hóa, Việt Nam có nhỉnh hơn, đứng thứ 76/125, khá tốt về mặt xuất khẩu đồ sáng tạo nghệ thuật, nhưng lại đứng bét bảng về vấn đề tự do ngôn luận, và cũng âm về tự do đi lại.
Về mặt canh giữ hòa bình thế giới, tuy Việt Nam cùng với Cu Ba là hai trụ cột của hòa bình thế giới, nhưng chỉ đứng thứ 103/125. (Cuba thì không có xếp hạng trong danh sách 125 nước, có lẽ vì quá đặc biệt nữa).
Có mỗi một điểm sáng trong hòa bình thế giới của Việt Nam là vấn đề xuất khẩu vũ khí, đơn giản là vì VN chẳng làm được cái vũ khí nào đáng để người khác mua? Hai khoản âm nặng của VN trong lĩnh vực hòa bình và an toàn thế giới là lĩnh vực an toàn internet và lĩnh vực nộp tiền cho quân của Liên Hiệp Quốc.
Về khoản trật tự thế giới thì VN đứng thứ 123/125, nói đơn giản là vô tích sự: không có nuôi được người tị nạn nào từ các nước khác, mà trái lại, lại là cái nguồn sản sinh người tị nạn, cũng chẳng tuân thủ hay ký được nhiều các hiệp định quốc tế.
Chỉ có mỗi một điểm “không tối” chứ chưa phải là sáng sủa, đó là có hạn chế được sự bùng nổ dân số.
Về khoản bảo vệ môi trường (hành tinh và khí hậu) thì VN cũng sát đội sổ, đứng thứ 123/125, đặc biệt âm nặng về việc thải chất độc ra môi trường.
Về việc đóng góp vào phồn vinh và bình đẳng kinh tế thế giới, VN ngoi lên được thứ 79/125, tuy chẳng giúp được ai và còn hạn chế tư do thương mại, nhưng không đến nỗi bị rơi vào cụm các nước ăn bám.
Về khoản đóng góp cho y tế và sức khỏe thế giới, VN cũng lẹt đẹt ở thứ hạng 111/125, chủ yếu là tầu há mồm nhận viện trợ của nước ngoài về lương thực thuốc thang, và lại còn là ổ ma túy. Tuy nhiên có một điểm sáng là có đóng góp vào tổ chức y tế thế giới (WHO).
Tính tổng cộng lại, thì VN đứng thứ 124/125 về độ tử tế trên thế giới.
TÔ HOÀI - NGƯỜI TẬN TỤY ĐẾN CÙNG VỚI NHỮNG TƯ TƯỞNG CỦA MÌNH
Ngày 31 tháng 8 năm 2023
--
Bài đã đưa trên blog cá nhân VTN hai lần, 5-10-2014 và 23 -10 - 2020. Đưa lại ở đây khi trên các trang mạng Fb gần như đang có một cuộc thảo luận nho nhỏ về cách tồn tại của các nhà văn tiền chiến trong cách mạng. Vấn đề là chưa bao giờ thấy hé ra có sự xuất hiện một công trình tổng kết mang tính bước ngoặt với nghĩa có một sự định hướng đúng đắn để các thế hệ nghiên cứu về sau còn triển khai tiếp.
******
Tadeusz Rozewicz là nhà thơ Ba Lan sinh 1921 qua đời 2014. Có một bài thơ của ông tìm cách cắt nghĩa về người viết văn gợi cho tôi nhiều liên tưởng.
NHÀ THƠ LÀ AI
Nhà thơ là người làm thơ
và là kẻ chẳng làm thơ bao giờ
nhà thơ là người chẳng ưa ràng buộc
và là kẻ tự buộc dây vào mình
nhà thơ là người cả tin
và là kẻ chẳng chịu tin bao giờ
nhà thơ là người lừa dối
và là kẻ bị dối lừa
nhà thơ là người gục ngã
và là kẻ tự mình đứng dậy
nhà thơ là kẻ ra đi
và là kẻ một li chẳng rời.
Lê Bá Thự dịch
Ở cuối bài thơ có chua rõ thời điểm sáng tác 18-8-2011. Nghĩa là nó được viết vào dịp tác giả Tadeusz Rozewicz chín mươi tuổi.
Tôi đọc và nghĩ đến trường hợp Tô Hoài.
Ngay ngày 6-7-2014, mạng BBC có bài mang tên Nhà văn Tô Hoài từ trần ở tuổi 94, trong đó có đoạn nói khơi khơi rằng nhà văn này có một cách nhìn chính thống.
Nguyên văn cả đoạn
“Năm 1992, hồi ký Cát bụi chân ai của ông đã gây ồn ào dư luận khi đưa ra chân dung một số nhà văn thuộc hàng 'vai vế'.
Trong hồi ký, ông có nhắc tới Nhân văn Giai phẩm, một chủ đề luôn được coi là nhạy cảm, tuy CÁCH ÔNG ĐỀ CẬP, NHẬN ĐỊNH VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ LÀ CHÍNH THỐNG, PHÙ HỢP VỚI CÁI NHÌN CỦA GIỚI CHỨC.”
Tôi cho đây là một lời đánh giá chứng tỏ người viết không thật hiểu về các nhà văn Hà Nội sau 1945 nơi mà -–mượn chữ của Tô Hoài
Tối sáng lẫn lộn…
Những cách tồn tại khó khăn...
Những tiếng nói lắp bắp
Những bộ mặt thường khi lờ mờ nhòe nhoẹt…
Chúng tôi là thế. Nhưng ai sẽ hiểu cho chúng tôi đây?
Nói cho đầu đuôi thì như thế này:
--Về những cái dở của Tô Hoài, xưa nay người trong giới chúng tôi không lạ. Nếu trong sinh hoạt cá nhân ông đã nổi tiếng là một ông già thực dụng tham lam càm quắp, một con người rất trần tục, thì về chính trị nhiều khi ông cũng cẩu thả, cơ hội, dám làm đủ thứ việc mà chính ông rất khinh bỉ.
Có lần, nhân nói về trường hợp Nguyễn Khải, tôi đã tính thử gọi ra cái căn bệnh phổ biến mà tôi tạm gọi là lang chạ đó (xem Chất lang chạ trong mỗi chúng ta in trong tập Những kiếp hoa dại). Cái chất LANG CHẠ này trong Tô Hoài cũng rất sẵn.
-- Nhưng từ lâu chúng tôi lại cũng biết rằng ông vốn là một nhà văn biết gìn giữ lương tâm nghề nghiệp. Trong ông không phải chỉ luôn luôn có hai con người như nhiều người khác, lúc thì cuồng nhiệt xông pha lúc thì hối hận, rõ nhất là Nguyễn Khải, là Chế Lan Viên… Mà trong ông luôn luôn ngự trị một con người chủ đạo con người này chờ đợi thời cơ để trình bày cho được những quan sát riêng suy nghĩ riêng về các vấn đề lớn nhất của cái cuộc sống xã hội.
Ông không chơi trò xếp hàng hai cửa.
Ông không loanh quanh lấp lửng vừa nói vừa sợ.
Ông cũng không manh động chọc ngoáy liều lĩnh rồi lại co vòi hối hận.
Ông có sự tính toán hợp lý của mình.
Thời gian chỉ càng làm tăng thêm độ căng, độ ráo riết trong tư duy ông, khiến người ta có cảm tưởng ông bền bỉ đi trên con đường đã chọn.
-----
Tôi cho đoạn viết sau đây của mạng Bauxite VN với Tô Hoài khi ông qua đời là khá chính xác:
Là nhà văn tham gia cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám, nhiều thập kỷ được rèn giũa kỹ năng viết “định hướng”, được mài xát bằng vô số cuộc chỉnh huấn tư tưởng, nhưng Tô Hoài vẫn không bị cùn mòn trong tư duy nghệ thuật.
Những năm hòa bình sau Hiệp định Genève, luồng gió tự do tư tưởng của Nhân văn Giai phẩm đã gián tiếp thổi qua tâm trí ông, giúp ông sáng tác được truyện dài Mười năm (1958), để sau đó bị trả giá bằng những bài phê bình gay gắt.
Sau thời Đổi mới, ông cho ra liên tiếp ba cuốn truyện ký làm chấn động dư luận: Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Ba người khác đưa lại một cách nhìn “phản tỉnh” về những năm tháng cay nghiệt của một miền Bắc thực hiện chuyên chính theo đường lối vô sản, cải cách ruộng đất ở nông thôn và “cải tạo tư tưởng tiểu tư sản” trong hàng ngũ trí thức, nhà văn.
Bút pháp hồi tưởng nửa thực nửa hư, trữ tình xen trào lộng, hiện thực giễu nhại cùng song hành... đã tạo nên trong tâm thế người tiếp nhận một cảm hứng bột khởi, bùng vỡ bức xúc, nhưng không đổ vỡ mà lấy lại được sự thăng bằng. Có thể nói Tô Hoài đã chuộc lại sự thanh thản, thiện lương cho chính mình và cho bạn đọc.
---
Trong nhiều lần trò chuyện với tôi, Tô Hoài hay nói tới cái ý giá kể không có cách mạng thì chắc nhiều nhà văn khác sẽ đi làm nghề khác. Nguyễn Đình Thi sẽ ra làm quan. Nguyễn Văn Bổng sẽ là giáo sư một trường trung học nào đó. Chỉ riêng ông là thế nào cũng trở thành nhà văn.
Hiếm hoi lắm, lại có những lần, cũng vẫn về nghề nghiệp, tự nhiên Tô Hoài ngả sang cái giọng ngùi ngùi. Ông nói tới các bậc tiền bối, từ cụ Tản Đà mà chính ông không biết mặt, tới cụ Hồ Biểu Chánh mà cái lần vào Dầu Tiếng 1942, ông đã ”xông” tới tận nhà.
Khoảng cuối 1975, vào Nam, nếu như Nguyễn Tuân từ chối thì ông thản nhiên đến thăm Vũ Bằng. Sau khi đi cải tạo về, ghé qua Hà Nội, Doãn Quốc Sỹ có đến tìm ông. Ông đã gặp nhiều người khác nữa. Nam có Bắc có. Bên này bên kia. Ông cho người ta cảm tưởng là ông mãi coi những người ấy là đồng nghiệp, muốn tên tuổi mình về sau được đặt bên các vị đó.
---
Tôi biết là khi đề cập tới các chuyện đó, trong tâm trí Tô Hoài đang theo đuổi một ý niệm riêng về cách tồn tại của người cầm bút trong một thời buổi hỗn hào. Ở cái quan niệm rất Tô Hoài đó, có phần chung nhưng cũng có phần xa lạ với cách hiểu của người đương thời, nhờ thế lại gần hơn với cách hiểu của ông cha ta trong quá khứ.
Vậy là cuộc đời ông bao hàm một sự lưỡng phân.
Ông phải vào vai. Ông phải đóng kịch. Để miêu tả ông, tôi muốn mượn ý tứ trong bài thơ trên của Tadeusz Rozewwicz để đưa ra mấy câu gọi là cảm đề hoặc đơn giản là một bản phỏng dịch tùy tiện:
Ông chẳng ưa ràng buộc, nhưng lại là kẻ tự buộc dây vào mình
Ông vốn dễ dãi và có lúc cả tin nhưng chẳng chịu tin cái gì đến cùng
Ông tham gia vào sự lừa dối nhưng lại lặng lẽ bóc trần sự lừa dối
Bao phen ông gục ngã, nhưng cuối cùng ông vẫn là người đứng thẳng
Ông đã ra đi, nhưng -- nếu có một vài nhà văn thời này còn lại -- bao giờ người ta vẫn phải kể tên ông.
---
Đoạn tin trên báo TT&VH sau đây của nhà báo Chiêu Minh chắc ít người để ý, nhưng đối với tôi nó là cái tin ngắn hay nhất có liên quan tới ngày Tô Hoài qua đời:
“Trong những năm cuối đời, viết văn vẫn là cách để Tô Hoài neo mình lại với cuộc sống xung quanh.
Ở tuổi 90 ấy, ông viết bộ 100 truyện cổ tích cho NXB Kim Đồng với những cái kết rất riêng của mình. Ở đó, Mỵ Châu không chết tức tưởi dưới lưỡi gươm của An Dương Vương.
Cô Tấm cũng không xả thịt Cám để làm mắm, gửi cho dì ghẻ.
Hỏi vì sao viết vậy, [trong nguyên văn nhà báo dùng thêm chữ lão VTN xin phép bỏ] nhà văn chỉ cười.
Rồi, ông chuyển chủ đề sang cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn thành nếu điều kiện sức khoẻ cho phép:
“Tôi muốn viết về Cách mạng tháng Tám như những gì mình trông thấy. Ở đó không chỉ có khí thế ngút trời của quần chúng mà còn có cả những chuyện dở khóc dở cười của những anh trí thức nghèo đang lúng túng không biết chọn đường nào”
(http://Thethaovanhoa.vn/.../nha-van-to-hoai-qua-doi-da-di... n20140707073753506.htm )
--
Mấy năm cuối đời Tô Hoài tôi có ít gặp ông, nhưng nhớ loáng thoáng là trong những dịp ấy, cũng đã mấy lần được nghe ông nhắc tới cái ý định viết lại về Cách mạng. Và đúng là viết với cái nhìn “kiểu Dế mèn” như nhà báo trên TT&VH vừa nói.
Tôi nhớ lại tiểu thuyết Mười năm.
Nhất là tôi nhớ lại tạp chí Tiên phong. Đây là tạp chí của Hội Văn hóa cứu quốc in ra trong khoảng từ 11/1945 tới 12/46. Thời gian đó Tô Hoài là phóng viên của tờ Cứu quốc, nhưng cũng hay viết sang Tiên phong.
Trong bài ký này Tô Hoài kể chuyện người dân vào phá thành Sơn Tây với thói tham lam và bộ mặt nhếch nhác gần giống như kẻ hôi của.
Ở đoạn ghi chép kia – với tư cách phóng viên chiến tranh— ông ghi nhận rằng gọi là Nam tiến song thực ra lúc đó cái chính là các ông đã sống cái cảm giác ngao du lang bạt đầy chất yêng hùng.
--
Còn như nhìn vào mấy cuốn sách cuối đời của Tô Hoài:
--Cát bụi chân ai viết về các sự kiện có liên quan tới những năm tháng tìm đường và những đầu hàng cùng nhẫn nhục chịu đựng của cả một lớp người cầm bút cũ hồi Nhân văn – Giai phẩm
-- Ba người khác viết về Cải cách ruộng đất. Trong cả tháng sau khi Tô Hoài mất, nhân triển lãm Cải cách ruộng đất, một số trang của Ba người khác được trích ra in lại, cùng với nhật ký Trần Huy Liệu, sổ tay ghi chép của Trần Dần và các trích đoạn trong Đèn cù.
Bây giờ trở lại cuốn sách về cách mạng. Nếu đã hiểu con người nhất quán trong Tô Hoài, sau những điều ông vừa nói ra, chắc không khó khăn gì để đoán ra cả những điều ông sẽ viết. Ở mỗi thời điểm, ông cảm được rất sớm cái khoảng trống vừa được mở ra. Việc nắm bắt cơ hội ở ông đã thành một thứ năng khiếu.
Nhà nghiên cứu người Nga M.M. Bakhtin thường cho rằng muốn hiểu biết một hiện tượng nảo đó, ta không được đứng từ xa và có con mắt kính cẩn; mà phải có lối tiếp cận suồng sã. Chữ SUỒNG SÃ ở đây không phải là đùa tếu lăng nhăng mà chính là cách tiếp cận gần gũi với hiện tượng, đối thoại với chính các đối tượng bất chấp đó là đối tượng nào, cao hay thấp, kể cả những cái mà người ta coi là cấm kỵ-- các nhân vật và các hiện tượng lịch sử.
Một số tác phẩm nêu trên được coi như thành công của Tô Hoài, chính là nhờ ông đã có LỐI TIẾP CẬN SUỒNG SÃ RẤT NGHIÊM CHỈNH ĐÓ.
--
Tôi thường cũng vẫn dùng những chữ tiếc thương khi đưa đám các nhà văn quen biết. Trong thâm tâm tự biết bên cạnh phần xót xa thực sự của một kẻ “một lứa bên trời lận đận“, không khỏi có phần tôi chỉ hùa theo mọi người, nói những lời sáo.
Nhiều bậc đàn anh của tôi, kể cả những người có tài nhất, ra đi khi đã hết lộc. Có người đã ăn lạm vào phần của đám người đi sau. Không sợ mang tiếng tàn nhẫn thì có thể bảo cái phần tinh hoa của họ đã chết khi họ còn sống và bạn bè đồng nghiệp chỉ đang đi sau những cái xác.
Riêng với Tô Hoài thì khác. Ngày ông ra đi, tôi thầm nhủ với mình một điều xuất phát tự đáy lòng. Tôi tiếc.
TÔ HOÀI – NGƯỜI “GIẢI ẢO” LỊCH SỬ QUA VĂN HỌC
Ngày7 tháng 9 năm 2023
Tác giả Đặng Thị Thanh Hà
.
--
Tôi tìm thấy bài viết này trên mạng năm 2015 với dòng ghi chú về tác giả: Sinh viên năm thứ 3, Khoa Báo chí Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV TPHCM.
Lúc save lại bài này tôi quên không ghi nguồn, chỉ nhớ nó nằm trong mục các tham luận trình bày trong cuộc hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tô Hoài, mà nhiều tờ báo lớn đã đưa, ở đó bài báo này luôn luôn được ca ngợi.
Nhiều trang mạng của các báo lớn như Tuổi trẻ Thanh Niên Người lao động… đã đưa tin về cuộc hội thảo này, trong đó đều có nhắc đến bài viết Tô Hoài – người “giải ảo” lịch sử qua văn học
Trong khi các trang khác chỉ đưa hình của Tô Hoài thì qua TPO người ta còn thấy hình của Đặng Thị Thanh Hà
https://tienphong.vn/nha-van-to-hoai-nguoi-so-huu-nhieu...
Bài còn được đưa nguyên văn trên tạp chí Văn nghệ quân đội số 8-2015.
Vậy mà nay tìm lại thì không đâu thấy, tôi đành lấy lại bản đã lưu trong máy tính cá nhân và đã đưa trên blog cá nhân của tôi hồi 2020.
Đáng lưu ý là trước sau bài này tôi cũng không thấy tác giả xuất hiện một lần nào khác. Có đúng thế không hay tôi không biết cách tìm - nếu bạn nào có thể giúp đỡ tôi trong việc này tôi xin cảm ơn.
Theo tôi bài viết dưới đây thuộc loại dăm bảy bài nghiên cứu hay nhất về Tô Hoài, chủ yếu là ở chỗ nói về mối quan hệ của tác giả này với hiện thực, một khía cạnh mà trước đây chưa ai nói tới.
Để giúp bạn đọc tiếp nhận bài viết dễ dàng hơn tôi đã mạn phép tác giả tôi đã tách văn bản thành nhiều đoạn ngắn và đặt thêm đầu đề nhỏ ở đầu mỗi đoạn.
***
Đã tròn một năm kể từ ngày nhà văn Tô Hoài trở về với “cát bụi chân ai”. Năm ngoái, bạn đọc thương tiếc tiễn đưa cha đẻ của chú Dế mèn về với cát bụi. Năm nay, dĩ nhiên vẫn vậy. Người ta vẫn tiếc thương cha đẻ của chú Dế mèn đã làm bạn với bao thế hệ tuổi thơ.
Điều đáng nói ở đây là trong tâm trí của đa số người Việt Nam, cái tên Tô Hoài chẳng lẽ chỉ có thế? Cuộc đời 94 năm với hàng trăm tác phẩm lớn bé của hơn 70 năm đi và viết, những gì người ta biết về nhà văn Tô Hoài không thể chỉ gói gọn mãi trong Dế mèn phiêu lưu ký và Vợ chồng A Phủ (hai tác phẩm của Tô Hoài được trích dạy trong chương trình trung học!).
“GIẢI ẢO” LÀ PHƠI BÀY
NHỮNG SỰ THẬT LỊCH SỬ BỊ CHE GIẤU
Phải đọc thôi, những tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Và phải đọc, nhất là người trẻ. Tô Hoài, ông không chỉ là cha đẻ của mỗi chú Dế mèn và cô Mị không thôi. Những người trẻ đương háo hức muốn cầm bút thì càng cần phải đọc.
Tô Hoài, ông không chỉ là một nhà văn. Những gì ông để lại cho đời, cho người Việt Nam đã vượt rất xa giới hạn của một người cầm bút. Ông xứng đáng được lịch sử cảm ơn và đáng được xem là người “giải ảo” cho lịch sử của thế hệ trẻ với những gì đã viết suốt đời mình.
“Giải ảo”, đơn giản là phơi bày sự thật, những sự thật lịch sử mà người ta muốn lãng quên và thực sự đã lãng quên.
Nhà văn Hoàng Ngọc Hiến, người từng được Tô Hoài hướng dẫn làm đề tài nghiên cứu khoa học chia sẻ: “Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và cuộc đời”, tôi hình dung một lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không giống như những điều được trình bày trong những bộ sử đã công bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra thảm hơn, mà cũng lớn lao hơn”. Nhưng nếu không có được cái “duyên” nghe Tô Hoài kể chuyện, ta hoàn toàn có thể hình dung lịch sử ấy qua những truyện ngắn, hồi ký, kể cả tiểu thuyết, của ông.
Lịch sử trong các trang viết của Tô Hoài, lịch sử đã được giải ảo, rất “khác”, và “mới”.
“Khác”, không phải là đi ngược với những gì ta đã được biết trong sử sách, mà là cụ thể, phong phú, sống động vượt xa những dòng chữ ngắn gọn, có khi sơ sài, trong sách sử.
Người đọc có khi sẽ giật mình, kinh ngạc, lẫn phẫn nộ vì những khung cảnh thời xưa hiện ra từ tác phẩm Tô Hoài. Lịch sử thực sự là thế này a? Đọc tác phẩm, cảm thấy Tô Hoài như đang nắm tay ta lôi tuột vào những ngóc ngách, hẻm hóc để nhìn vào cái bề sau, bề sâu của những gì mà ta ngỡ như đã biết, biết rõ.
Trước mắt ta, Tô Hoài như đang lật xới bề chìm, bề sâu đó, để phơi bày một khung cảnh “khác”, một lịch sử “khác”, lịch sử trọn vẹn của những thời, những vùng ông đã đến, đã sống, đã đi qua.
Những bề chìm, bề sâu ấy có khi “choảng” nhau với những điều đã trở thành chân lí, đã “hóa đá” trong suy nghĩ của nhiều thế hệ.
GIẢI ẢO HÀ NỘI
Người Việt Nam nào mà chẳng nằm lòng, người Hà Nội nào lại không tự hào vì câu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.
Thế mà trong tập bút ký Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài, vùng đất “ngàn năm văn hiến” này lại hiện lên với những nét, những chuyện, những người chẳng xứng đáng chút nào với danh xưng ấy.
Đó là cái Hà Nội “muôn mặt đời thường” thời thuộc Tây, “thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp, trở thành nửa tây nửa ta, nửa cũ nửa mới, nửa sang nửa quê” (Nguyễn Vinh Phúc).
Có ai ngờ vùng đất Thăng Long kinh kì bảy, tám mươi năm về trước lại là tồn tại một “Phố Mới” là một cái chợ buôn người đầy kinh sợ. Đến nỗi trông vào “lúc nào cũng thấy ủ ê, hốt hoảng. Những nét mặt người ngoài đường, người đứng tụ tập ướt át, bẩn thỉu. Cả đến cái ngách cửa hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được một nút người sầu thảm như thế”.
Cảnh bắt khách, chào hàng, kì kèo, xỉa xói như diễn ra mọi lúc với những món hàng là những người đói việc từ khắp các nơi, các tỉnh, “đêm hôm rút ráy ngủ nghê ở đâu, ban ngày bò ra đứng bày hàng từng lũ trên đường, trên hè”.
Đến cả mưa bụi cũng khiến cho mặt đường, mặt người “âm u, xám ngắt, nhẽo nhợt”. Có một Hà Nội nhố nhăng, biến chất, kinh người như thế ở nội thị và có một Hà Nội lầm than ở các làng ven nội. Nơi đó, Tây đoan bắt rượu lậu khiến người dân nghèo lâm vào thảm cảnh phải “tù rượu thay” để có người lo cho vợ con ở nhà, khắp nơi vang lên tiếng ai oán kể khổ xin ăn của những người ăn mày, tàn tật... “Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao nếu không có một người quen ý tứ trả công dạy học lũ con ông ta bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay dì Tư không, hay còn thế nào nữa…”” (Nguyễn Vinh Phúc).
Tô Hoài đã đi qua một thời như thế của Hà Nội, với tư cách một chứng nhân. Được mệnh danh là “nhà văn của Hà Nội”, ngoài lý do ông sở hữu số lượng tác phẩm đồ sộ về vùng đất này, một nguyên nhân xác đáng hơn có lẽ là ông chính là người đi vào tầng sâu cuộc sống của nơi này và phơi bày nhiều sự thật nhất về Hà Nội, kể cả những nỗi khổ nhục, những xấu xa, biến chất của một thời mà người kinh kì cũng muốn xóa nhòa trong kí ức.
Cảnh lầm than, khốn cùng ở những làng nghèo ngoại thành càng hiện rõ hình rõ nét hơn trong tập truyện ngắn Khách nợ của Tô Hoài. Những mẩu chuyện bình dị, nhẹ nhàng lại là một sự cụ thể hóa đến tận cùng, đến tàn nhẫn “đời sống bần cùng dưới ách thực dân” ở làng Nghĩa Đô trước Cách mạng tháng Tám.
Đó là cảnh vợ chồng sẵn sàng chì chiết nhau, lao vào thụi nhau, hăm dọa đốt nhà chỉ vì một cái chai bán đồng nát được hai xu rưỡi (Buổi chiều ở trong nhà), cảnh cả làng đi kiếm ăn từ một cơn mưa mà đứa con gái của anh Duyện vì muốn bắt thêm vài con nhái mà bị rắn cắn chết, khi chết “hai tay còn ôm khư khư cái giỏ nhái” (Nhà nghèo), cảnh vợ chồng bỏ nhau chỉ vì cả hai cùng ăn khỏe quá (Cu Lặc),… Đến nỗi đòi nợ trở thành một cái nghề sinh nhai của những người như lái Khế, những người mà ai nghe tên “cũng khiếp như nghe tiếng cú rúc đầu nhà”, còn con nợ như Hương Cay thì đến ba mươi Tết lại mang những vật còn có thể xiết được như “cái đèn, cái vò gạo và cái điếu ăn thuốc” sang gửi nhà hàng xóm, “đã thành kinh nghiệm và thói quen”.
Riêng loạt truyện ngắn về loài vật: Con gà trống ri, Đôi ri đá, O chuột, Gã chuột bạch, Mụ Ngan, Đực, Một cuộc bể dâu… trong tập này chứng tỏ Tô Hoài có một khả năng tưởng tượng tài tình hóm hỉnh cùng lối văn vừa tinh nghịch vừa tinh tế. Bởi tuy viết về loài vật đấy, nhưng cái được phản ánh không gì khác hơn là chuyện của loài người, là cuộc sống giữa xã hội đảo điên.
GIẢI ẢO LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN
Những ai đã quen đọc lịch sử qua những trang viết bằng bút pháp sử thi và cảm hứng anh hùng cách mạng, có lẽ sẽ hơi… thất vọng và bẽ bàng khi đọc tập Chuyện để quên của Tô Hoài.
Những câu chuyện gắn liền với một thời kỳ tranh đấu hào hùng của dân tộc, nhưng những nhân vật của ông sao mà… thường thế. Đó không phải là những hình tượng anh hùng được chạm khắc như một điển hình nghệ thuật. Đó chỉ là những dân công, bộ đội, cán bộ, tự vệ… mà ông gặp hằng ngày, trong những chuyện thường ngày.
Ở truyện ngắn Những ngày đầu, Tô Hoài đã làm sống lại không khí hồ hởi, hồn nhiên của những năm đầu kháng chiến ở làng.
Hồn nhiên thật, bởi những chàng trai, cô gái có bao giờ ngờ được sau một đêm, “cuộc đời họ cuốn vào những điều xưa kia không bao giờ biết. Cũng như không ai có thể hiểu tại sao khung cửi, guồng tơ, chuyện làng chuyện xóm hôm qua, vứt đi hết”, họ trở thành quân dân tự vệ. Hồn nhiên thật, vì họ chưa biết được cái khốc liệt nào đang chờ đợi mình phía trước. “Làng nào cũng chạy loạn hết, không còn ai tiếp tế, tự vệ phải đi kiếm ăn để có sức gác. Bữa đói bữa no thất thường. Tuy nhiên, lúc nào tụ lại chỉ toàn tán gẫu chuyện Tết sắp đến”.
Truyện Khiêng máy kể việc công nhân nhà in báo Cứu quốc Việt Bắc chuyển cả xưởng in lên rừng. “Một ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối. Rồi mai lại cật lực khiêng… Tưởng như mỗi lần ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê ình oàng vào sương đêm, không biết từ phía nào. Nhưng chẳng có ai có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn uống cái gì ngon nhất, rồi lấy quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn, như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu. Lúc thì tranh nhau giá cả, bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu…”.
Đấy, họ là những người làm cách mạng, vậy mà có lúc như “bọn đánh bạc”, “chè chén”, “đổi chác” như thế đấy!
Truyện ngắn Bác Niệm là cuộc đời của một anh nuôi thời kháng chiến mà thời bình chẳng mấy ai còn nhớ đến… Bác Niệm có một câu nói mà ngẫm lại thấy đúng cho cả tập truyện: “Ở đời thì người nào việc nấy, cả con chó cũng có việc của con chó”.
Những người dân công, bộ đội, cán bộ, tự vệ, anh nuôi… cũng thế. Họ chính là những nhân vật lịch sử của Tô Hoài, là những người con gái, con trai “không ai nhớ mặt đặt tên” nhưng “đã làm nên Đất Nước” (Nguyễn Khoa Điềm). Mỗi người họ mang trong mình một nỗi đau, mỗi người họ làm nên một phần chiến thắng. Cái “khác” của Tô Hoài chính là đưa ta tới những gì ta chưa tưởng, chưa ngờ tới khi nghĩ về thời chiến. Nó cũng thường ngày thế thôi.
Vào thời điểm mới ra đời, tiểu thuyết Mười năm – mười năm chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến tới Cách mạng tháng Tám của Tô Hoài – đã bị chỉ trích vì miêu tả những người cách mạng với những ưu lẫn khuyết, những cao cả lẫn tầm thường. Kì thực, tác giả đã xây dựng “lớp thanh niên mới lớn, khỏe, hăng, háo hức” bước đến cách mạng bằng chính những trải nghiệm thời trẻ của mình và bạn bè đồng lứa thời bấy giờ. Thì cách mạng cũng là “chuyện thường, người thường, đời thường” thế này thôi. Nhưng thực sự chính nhờ những điều rất thường này, ta mới thấy lịch sử thực trọn vẹn, thực phong phú, thực gần gũi mà lớn lao.
Sang đến tập Chiếc áo xường xám màu hoa anh đào, lịch sử hiện ra còn… thảm hơn nhiều. Đó là thời cách mạng oanh liệt và đau thương của vùng Tây Bắc. Nếu chỉ được chọn ra một điểm khiến Tô Hoài “khác” với những nhà văn cách mạng khác, đó chỉ có thể là cái “duyên” với miền Tây, như ông đã thú nhận: “Đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều, không thể bao giờ quên… Hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi”.
Đến với Tây Bắc, ngón nghề miêu tả phong tục đã thành sở trường ở những tác phẩm trước như thể cá gặp được nước, vẫy vùng từ thời xa xưa hủ tục đến những năm cách mạng soi sáng. Hình ảnh những người thấp cổ bé họng ở miền Tây Bắc đứng vụt dậy thành những người cách mạng đi “cứu đất cứu mường”, như Mị, như A Phủ, hẳn đã được đề cập rất nhiều trong những giờ học văn phổ thông, tài năng của Tô Hoài trong việc làm bật lên sức sống của con người nơi đây không còn gì tranh cãi nữa.
Một điểm khác khiến ta phải phục ông trong tập truyện này vẫn chính là thái độ “giải ảo” lịch sử. Tiêu biểu là truyện Vượt Tây Côn Lĩnh, dựa theo nhật ký của một đại đội trưởng trung đoàn Lao – Hà (Lào Cai và Hà Giang). “Tây Côn Lĩnh là một ngọn núi cao hơn hai nghìn thước thuộc tỉnh Hà Giang, nối với dãy núi Lùng Chùng Phủng chạy liền sang Trung Quốc. Tây Côn Lĩnh, cái bình phong thiên nhiên ngăn Hoàng Su Phì phía Tây và Cổng Giời phía đông. Pháp đóng ở Hoàng Su Phì không ngờ có thể nào quân ta đám leo một triền núi đá cao ngất không người qua lại bao giờ và, dù đương mùa hè, trên đỉnh núi cũng rét cóng, đến cây cỏ cũng không mọc lên được”. Một trung đội thuộc trung đoàn Lao – Hà đã làm được điều đó. Nhưng không phải đánh một lần thắng ngay. Có những hi sinh không thể phủ nhận được. Trận ấy khiến Pháp một phen khiếp vía, nhưng “chúng tôi đã phải để trên cả đường đi và về, hai người trong Bản Quá và sáu người nằm muôn đời trên đỉnh Tây Côn Lĩnh”.
GIẢI ẢO CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
Tô Hoài đã không né tránh sự thật, đó là điều khiến ta phải phục ông. Những ngày ấy, ông đã có một cách nhìn “giải ảo” như thế, thực là một cách nhìn thực cần thiết cho lịch sử, “một nhân tố tiến bộ trong văn hóa, nhất là người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn những ước lệ và cấm kỵ” (Hoàng Ngọc Hiến).
Ý thức đó có lẽ được thể hiện rõ nhất trong tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài. Đây hẳn là một tác phẩm có tính chất “giải ảo” mạnh mẽ, đến mức ông phải gọi nó là tiểu thuyết. Nhưng ai đọc cũng có thể hiểu đó là những chuyện thật sự đã xảy ra trong những năm tháng cải cách ruộng đất, ở thôn Am, thôn Chuôm hay bất cứ cái thôn làng nào có đội về ở miền Bắc thời kỳ 1954 – 1956.
Ba người khác đã lột trần bản chất của Cự, Bối, Đình, những anh đội nhân danh cách mạng, chính nghĩa, lương tri xuống làng, xã để “làm thay đổi cái làng này, xã này. Cả nước đã đứng lên. Tất cả sẽ bị đánh đổ, bao nhiêu địa chủ và bọn bóc lột phải bị đạp xuống đất đen, chúng tôi phóng tay đưa bần cố nông lên vị trí và địa vị người chủ thực sự của đồng ruộng”. Thực chất những gì mà các anh đội này làm hết thảy đều máy móc, chạy theo những lý luận xám xịt, những bằng khen hình thức, thành ra vô tội vạ. Họ lộ nguyên hình là những thằng ngu dốt, lươn lẹo, đểu cáng, hủ hóa. “Nhờ” họ mà những người dân trong làng từ bần, cố, trung nông đến phú, địa đều bị lôi vào cái xấu, cái ác không biết mình là nạn nhân hay thủ phạm. Những đêm tố khổ vô tội vạ để đạt chỉ tiêu địa chủ, những cuộc mít tinh xử án “người có tội”, những ngày dân chúng tranh nhau chia ruộng, chia quả thực chẳng cần biết đến ai, những đêm “đàn bà, đàn ông ở đây ăn nằm đùa cợt với nhau như gà”, tất cả hiện lên sinh động, chân thực đến từng chi tiết khiến ta rùng mình, ám ảnh về cái thời “lầm lỡ” của cách mạng và giật mình nhận ra có những cái sai vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ…
GIẢI ẢO ĐỂ LÀM MỚI CHÍNH MÌNH ĐỂ VIẾT CHO CHÂN THỰC
Lịch sử cần “giải ảo” bởi những câu chuyện như thế. Nhưng có những câu chuyện tàn nhẫn, ám ảnh đến ngỡ ngàng. Vậy dựa vào đâu mà ta có thể tin những gì Tô Hoài viết là sự thật?
Tô Hoài từng thú nhận rằng: “Mình không được học như Huy Cận, Xuân Diệu nên ít chịu ảnh hưởng Tây học và không biết nhiều về sự hình thành các khuynh hướng văn học. Chỉ là tự nhiên, mình thích viết về cuộc đời thực”. Làng Nghĩa Đô trong tập Khách nợ chính là quê ngoại và cũng là quê sinh, nơi tác giả sống gần hết cuộc đời mình. “Từ những ngày đầu cách mạng, rồi đi qua chiến tranh, hay về với thời bình, Tô Hoài không ngừng đi và viết. Cho đến khi ở độ tuổi gần 90, ngòi bút và tâm hồn ông vẫn luôn mở rộng đón những điều mới mẻ từ cuộc sống chứ không chỉ có hoài niệm về một thời đã qua” (Chi Mai).
Ngay đến nhà văn Nguyễn Tuân, người đứng đầu trường phái xê dịch cũng đã từng thốt lên: “Tô Hoài mới là anh đi nhiều, đi thật, còn tôi là anh đi chơi!”. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn đánh giá Tô Hoài là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất so với các nhà văn đương thời vì ông “sống đến đâu viết đến đấy”.
Tô Hoài có thời gian làm phóng viên và chủ nhiệm của báo Cứu quốc Việt Bắc và cũng có thời kỳ là một cán bộ cải cách.
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ kể rằng bà từng được ông nhắc nhở: “Bây giờ còn trẻ, chưa thấy tiếc thời gian và trí nhớ, nghĩ ra cái gì chưa viết tưởng vẫn còn trong đầu. Không phải thế đâu. Quên hết đấy nếu không ghi chép hay là viết luôn ra. Phải viết hằng ngày, không phải viết cái gì cũng hay cũng vừa ý, nhưng phải viết hằng ngày”.
Phải chăng vì vậy mà những truyện ngắn của Tô Hoài luôn đem lại cảm giác rất “mới”? Như thể vừa sáng ông chứng kiến, tối về ông viết ngay. Chính ông là tấm gương của câu nói ấy, suốt đời. Chính cái “mới” này đã làm nên cái “khác” và cái “khác” ấy lại làm nên cái “mới” của lịch sử trong truyện ngắn Tô Hoài. Có thể trời phú cho ông con mắt tinh tường để quan sát, nhìn thấu mọi vật, mọi sự, cũng có thể trời cho ông một trí nhớ tốt để nhớ chính xác những chi tiết, sự kiện của đời sống thực tại. Nhưng nếu không có nỗ lực tự thân để mài giũa cái tài ấy hằng ngày, chẳng phải là uổng phí lắm sao?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải kể lại: “Trong những chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, nhà văn Tô Hoài luôn có tác phong vừa nghe người ta nói, vừa xem họ làm, vừa sinh hoạt với họ, đồng thời còn ghi chép lại. Có những đoạn ông ghi lại tiếng chim gáy trong rừng sâu, tiếng chim gáy ở đồng bằng, hay như tiếng chim nuôi trong lồng, nhốt trong thành phố thế nào… Những đoạn ghi chép ấy ông đều đọc cho chúng tôi nghe. Mỗi cái đều có sự tinh tế khác nhau. Từ đó mới thấy nhà văn Tô Hoài làm việc rất tỉ mỉ và những điều ông đưa ra làm cho chúng ta tin được”. Phải, chúng ta hoàn toàn có thể tin được những trang viết của ông, tin rằng những nhân vật, chi tiết đã “sống” như thế, rõ ràng, chân thật, như chỉ mới hôm qua, và tin vào “cuộc đời thực” mà ông đã bền bỉ đi, sống và viết, “cuộc đời thực” nhà văn Tô Hoài.
Và một lý do nữa để ta trao niềm tin cho ông chính là ý thức về lịch sử, ý muốn đặt sự thật lên tất cả và tinh thần “giải ảo” mạnh mẽ. Những tác phẩm của ông, dù là truyện ngắn, hay hồi ký, tiểu thuyết, lúc nào cũng mang đậm chất ký, chất tự truyện, cũng vì lí do ông luôn viết về những cái thực của mình và bạn bè mình, người làng mình, luôn tôn trọng những gì xảy ra xung quanh mình, trong thời mình sống, ở nơi mình đến.
Dù là những tác phẩm được viết sau sự kiện vài chục năm, có khi gần cả thế kỷ (như tiểu thuyết Ba người khác ra đời năm 1992, cách xa cuộc cải cách ruộng đất gần 40 năm, hay tiểu thuyết Quê nhà viết năm 1978 kể về cuộc chiến đấu anh dũng của những anh hùng vô danh thời kì đầu thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX), nhưng ta vẫn có thể tin được.
Vì sao? Vì sao Tô Hoài lại viết Quê nhà sau khi đã viết hai quyển Quê người và Mười năm kể về những giai đoạn lịch sử tiếp theo cũng của vùng ngoại thành Hà Nội? Còn lý do nào khác ngoài ý muốn hoàn thiện lịch sử, một giai đoạn chống Pháp trọn vẹn của vùng đất nơi ông sinh ra và lớn lên. Vì sao ông lại phơi bày cái hiện thực kinh sợ, những tội lỗi, sai lầm của những người làm cách mạng khi nó đã lùi xa hơn mấy chục năm? Còn lý do nào khác ngoài ý muốn đối mặt với lịch sử, đối mặt với “một sự kiện rung chuyển đời sống của hàng triệu người Việt, một sự kiện không thể tẩy xóa được của lịch sử nước Việt” (Lại Nguyên Ân).
Tập bút ký Chuyện cũ Hà Nội lần đầu tiên xuất bản vào năm 1986 chỉ có 40 truyện, đến lần tái bản năm 2004 là 114 truyện với “không gian được mở rộng, thời gian được giãn dài. Chuyện đời, chuyện người phong phú lên nhiều”, không chỉ vùng quê ven đô mà “cả một nội thị Hà Nội dàn trải trong tập sách” (Nguyễn Vinh Phúc).
Sự bổ sung lớn về số lượng lẫn nội dung của tập bút ký về Hà Nội ngày càng đồ sộ này khiến ta có thể tin rằng những trang viết của Tô Hoài luôn luôn “động” và ngày nào còn sống, còn nhớ được, còn viết được, ông sẽ tận cùng phơi bày những hiện thực đã và đang diễn ra trong suốt cuộc đời mình.
GIẢI ẢO ĐỂ TÌM TỚI SỰ ĐA DẠNG
Phơi bày như thế không có nghĩa là Tô Hoài đang phản bác lịch sử. Chỉ là, ông đang đưa ra những góc nhìn mà người đã đi qua thời đó chưa thấy hoặc không muốn thấy, đưa ra những sự thật mà những người sinh sau thời đó không thể biết. Trong vai trò một nhà văn, ông đã để lại cho con cháu thế hệ sau một thứ tài sản vô giá, đó chính là những ký ức rõ ràng và trọn vẹn về thời trước. Ai cũng có quá khứ, một dân tộc cũng thế. Và ai cũng có quyền được biết quá khứ của dân tộc mình. Tô Hoài đã gánh lấy trách nhiệm “cho biết” về quá khứ với vai trò là một chứng nhân mang trong mình sứ mạng của người cầm bút. Trong trang viết của Tô Hoài, không phân biệt tốt hay xấu, cái được đề cao là sự thật, là hiện thực, dù có là hiện thực tàn nhẫn, khốc liệt, chua cay, đau xót. Làm tốt vai trò, sứ mạng ấy suốt đời mình, còn ai xứng đáng được tặng những dòng thơ này hơn Tô Hoài: “Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời/Sét nổ trên người không xô tôi ngã/Giấy bút tôi ai cướp giật đi/Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá” (Phùng Quán).
Vì thế, người trẻ hãy đọc Tô Hoài. Phải xăng xái đọc đi thôi. Đọc để thấy ngày càng trọn vẹn lịch sử của mình và thấy bản thân mình chính là lịch sử. Chẳng phải lịch sử trong những trang viết của Tô Hoài đều được dựng lên từ những người vô danh đó sao? Và lịch sử không phải là những gì đã xảy ra mà còn là những gì đang xảy ra quanh ta, từng giờ từng phút. Cái cách viết nhẩn nha về “chuyện thường, người thường, đời thường” của Tô Hoài thực khiến ta có cảm giác bản thân ta là một phần của lịch sử và có trách nhiệm với những gì đã, đang xảy ra xung quanh mình. Sự “giải ảo” đạt đến bực này quả thực là tài tình lắm!
GIẢI ẢO MANG LẠI SỨC SỐNG
CHO NGHỀ NGHIỆP
Và những người trẻ đương háo hức muốn trở thành nhà văn càng phải sớm “lao” vào Tô Hoài, để vẫn là được “giải ảo”, về chính cái nghiệp cầm bút này.
Ai mang một ảo tưởng đẹp đẽ về nghề văn đến với hồi ký Cát bụi chân ai có lẽ đều… bật ngửa vì cuộc đời người làm văn hóa ra không phải lúc nào cũng là phiêu diêu trong những xúc cảm để viết và bán những chữ của mình. Nhà văn cũng là người và cũng phải đối mặt với cơm áo gạo tiền mỗi ngày, cũng có những nhếch nhác, những thói hư tật xấu rất “người”. Ngay cả Tô Hoài cũng không giấu giếm những nhếch nhác đó của chính mình. Vậy thì suy cho cùng, nhà văn cũng là một người bình thường mà thôi, có hơn chỉ là hơn cái khả năng dùng chữ và tạo chữ, làm sao để chữ “sống” được, để bán cho người ta, nuôi sống chính mình. Về chữ nghĩa, Tô Hoài là cả một kho báu, một bậc thầy.
Nếu muốn nghe lời khuyên của Tô Hoài dành cho các nhà văn trẻ, chỉ cần nhớ một câu này: “…chừng nào chưa phân biệt được “mồm” và “miệng” thì đừng có cầm bút…”. Thực ngắn gọn mà sâu cay lắm thay! Bởi suy cho cùng, văn chương chính là chữ nghĩa. Chưa biết tìm đúng chữ có sẵn để diễn tả cho người ta hiểu cái tâm, cái ý của mình, thì chuyện viết văn, sáng tạo đúng là quá xa vời. Có đọc những trang viết của Tô Hoài mới thấy nó như một tấm gương rọi thẳng vào cái vốn ngôn từ của mỗi người chúng ta, để thấy sao mà nó nghèo nàn, còm cõi, xơ xác đến thảm hại. Có lẽ không ai là không ấn tượng với đoạn văn tả quang cảnh làng mạc ngày mùa hiện có mặt trong chương trình giáo khoa Tiểu học: “Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi. Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng. Từng chiếc lá mít vàng ối. Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi. Buồng chuối đốm quả chín vàng. Những tàu lá chuối vàng ối xoã xuống như những đuôi áo, vạt áo. Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy. Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng. Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn. Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt. Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới. Lác đác cây lụi có mấy chiếc lá đỏ. Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói. Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng. Không còn có cảm giác héo tàn hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông. Hơi thở của đất trời, mặt nước thơm thơm, nhè nhẹ”.
Đọc Tô Hoài để thấy có rất nhiều chữ đến nay đã “chết” vì người ta không còn viết, còn nói, còn dùng, để thấy một thế hệ với ngôn từ nghèo nàn sẽ khiến ngôn ngữ dân tộc ngày càng nghèo nàn. Đọc Tô Hoài để thấy ta không thể thờ ơ với chữ nghĩa của mình. Đọc Tô Hoài để học cả chữ lẫn cách làm sống những con chữ đó trong trang viết.
Khi được hỏi về vấn đề: “làm thơ bằng ý hay bằng chữ?”, Tô Hoài đã trả lời rằng: “làm thơ bằng chữ nhưng vấn đề là người làm thơ sống những chữ của mình như thế nào?”.
Văn cũng thế. Người viết văn phải sống hết những chữ của mình. Ngoài 20 tuổi, Tô Hoài đã có những truyện ngắn như những lát cắt sắc và sâu, vì dùng thật đúng, thật đích, thật đáng cái chữ ấy để miêu tả người ấy, sự ấy, việc ấy. Như chữ “hớp” trong đoạn tả đôi mắt ả con gái trong mắt gã người yêu trong cuộc hẹn cuối cùng của hai người: “Đôi mắt đăm đắm, đen đen, ngời như nước giữa hai hàng mi. Gã muốn hớp lấy. Nhưng chưa bao giờ gã hớp được. Gã chỉ nghĩ đường dài rằng bao giờ nó là vợ mình, thì mình sẽ hớp được hai con mắt ấy” (Ông giăng không biết nói). Cái chữ “hớp” đã có một đời sống thật lạ trong văn Tô Hoài. Nó thật nhẹ nhàng mà lại gợi được cái tình cảm mãnh liệt, mãnh liệt mà lại thầm kín, buộc phải đè nén và chôn chặt trong lòng. Bao nhiêu cái sắc thái đối lập trong một chữ “hớp” ấy đủ hiểu Tô Hoài đã sống thế nào, sống đến đâu những chữ của mình.
Muốn sống như thế, bắt buộc phải đi thôi. Sống, đi, đọc, viết, mỗi ngày đều như thế, đời sống của Tô Hoài là như thế, đã trở thành một cái chuẩn không thể thay đổi được. Có đi mới học được ý mới, chữ mới, để không lặp lại chính mình, để “Mỗi chữ phải là một hạt ngọc buông xuống những trang bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của mình mà có” (Tô Hoài).
Còn nếu không thể đi, thì không thể không đọc. Đọc, và liên hệ, đọc và suy nghĩ, suy ngẫm, suy tưởng, về người, về ta. Lịch sử là những gì sẽ lặp lại. Trong chuyện hôm qua có chuyện hôm nay. Hãy để Tô Hoài chỉ ta sống đúng trách nhiệm với lịch sử và dạy ta biết sống những chữ của mình. Hãy cho ông sống trong đời ta với nhiều vai trò thiêng liêng, không phải chỉ là cha đẻ của Dế Mèn và cô Mị.
THÁI ĐỘ HẠ CẤP: MỘT GIÁ TRỊ MỚI CỦA XÃ HỘI
Ngày 7 tháng 9 năm 2023
Tác giả Nguyễn Hoài Vân
đã đưa trên Fb này của VTN ngày 24/10/2014
------------
Bài viết dưới đây là của tác giả Nguyễn Hoài Vân, từ nguồn: nguyenhoaivan.com; tôi lấy lại từ mạng Vanchinh.net 30 tháng 12 năm 2008.
Sở dĩ hôm nay tôi muốn các bạn cùng đọc lại bài này, đơn giản là vì chính tôi cũng muốn viết một bài như thế, mà chưa viết được.
Cuối bài, tôi sẽ còm-men vài ý nhỏ.
***
Điều đáng suy nghĩ là vì sao tính hạ cấp lại càng ngày càng phổ quát, trong xã hội Việt Nam cũng như ở Tây Phương?
Những câu nói đùa nham nhở, những trêu chọc dưới thắt lưng, đặc biệt mỗi khi có mặt phụ nữ, những cử chỉ thô lỗ, kể cả ợ, đánh rắm, v.v… dần dần đã trở thành những đề tài cười cợt vui vẻ, trong giao tiếp thường ngày, và cả trên các màn ảnh truyền hình (tại Việt Nam, cũng như tại Pháp, nơi người viết tạm sống).
Thời sự nước Pháp đang rung động vì một đoạn phim tài tử cho thấy tổng thống Sarkozy dùng lời lẽ hạ cấp chửi một người khiêu khích ông tại cuộc Triển Lãm Nông Nghiệp hôm thứ hai 25 tháng hai vừa qua.
Bên cạnh trường hợp rất đặc biệt có thể được coi là một “tai nạn” này, những thái độ và lời nói hạ cấp thường là những phương cách hiệu quả để một cá nhân có thể hội nhập vào một nhóm.
Làm cho người khác cười, bằng những lời nói hay cử chỉ hạ cấp, đó chính là tờ thông hành mới để thành công trong việc giao tế!
--
Thật ra hạ cấp không phải chỉ thu hẹp ở những điều vừa được nhắc đến.
Các cố gắng phô trương trong cách ăn mặc, điện thoại, xe cộ, nhà cửa v.v… cũng là hạ cấp.
Một hình ảnh dễ nhận ra là cô “Marie sến” hiện đại, nhí nhảnh trong chiếc quần jean giả cũ, vá víu, cắt thấp, phơi bụng, phơi lưng, phơi cả … thấp hơn lưng một tí! Áo, kính, ví tay, điện thoại di động, tất cả nơi nàng đều dính liền với thời trang mới nhất.
Nàng vừa õng ẹo, vừa thở ra những mẩu chuyện lượm lặt được từ những tuần báo hay chương trình TV đại chúng, những trang web thời thượng, không quên đều đặn chua thêm vài từ Anh ngữ ít nhiều thích hợp.
Nàng chải tóc, nói, cười, đi đứng, một cách hoàn toàn “quy ước”. Tất cả con người nàng đều hướng vào một hình ảnh được tâm lý của nàng phóng ra trước mặt, mà nàng cảm thấy cần được phơi bày một cách rõ ràng nhất.
Bên cạnh cô “Marie sến” kia, là những “mợ” giàu mới tụ tập bàn chuyện sex, chuyện tình nhân, khoe khoang hiểu biết về những kỹ thuật làm tình kỳ lạ nhất, sau khi đã chán phô trương xe SUV hai cầu (dùng để chạy trong … sa mạc!), biệt thự có hồ bơi, cùng với những thứ lặt vặt như đồng hồ quý giá, nữ trang đắt tiền, quần áo thượng hạng, nhất là không quên nhấn mạnh nơi mua … Làm sao cho mọi người phải biết: tôi giàu, tôi nhiều sex, nhiều quen biết, có địa vị cao trong xã hội, có … đủ thứ!
Rồi cũng phải nói đến những anh chàng cố gắng biểu lộ một đặc tính vay mượn: nào lè phè bất cần đời, áo quần sốc sếch, hay phiêu bồng lãng tử, gật gù trên mây trên gió, hoặc kiểu cách “nghệ sĩ tiền phong” khinh miệt cái xã hội không hiểu nổi giá trị siêu đẳng của mình. Rồi cũng có vị phùng mang phơi bày thái độ trí thức, học giả, không gì không biết của mình, hoặc mượn phong thái một nhà kinh doanh năng động, vung vẩy hàng tỷ, lướt trên các thị trường nhưcu cậu Peter Pan trên bầu trời Neverland… Những vay mượn ấy không gì khác hơn là… hạ cấp.
--
Hạ cấp theo nghĩa nguyên thủy là tìm mọi cách để bắt chước những giá trị của một giai cấp cao hơn mình.
Và vì đó là những vay mượn, nên người hạ cấp tự cảm thấy cần phải phát biểu về những giá trị ấy một cách quá đáng,dể nó trở thành lố bịch.
Một người hạ cấp muốn với lên một giai cấp cao hơn, sẽ nói chuyện chơi golf, mặc dù anh ta mê bóng đá! Không những thế, anh sẽ nói chuyện chơi golf một cách vô cùng điệu nghệ, với thật nhiều say mê, sẽ khoe khoang tô điểm cho sự giả dối ấy, đến độ lố lăng.
Người ở giai cấp cao hơn mà anh ta muốn với tới đương nhiên là rất dễ dàng nhận diện ra anh ta, và sẽ không có khuynh hướng chấp nhận anh như một người của giai cấp họ. Thêm vào đó, người ở giai cấp của chính anh ta sẽ thẳng tay ruồng bỏ anh như một kẻ phản bội.
Thế là anh chàng “hạ cấp” nọ trở thành… vong thân, không còn biết mình là ai, thuộc về tập thể nào. Người hạ cấp cũng có nỗi niềm tuyệt vọng của họ …
--
Cần nói là trong ý nghĩa “giai cấp thấp” muốn từ bỏ chính mình để chạy theo một hình ảnh thuộc về giai cấp cao hơn, chữ “hạ cấp” tương đương với từ “vulgarity” trong tiếng Tây Phương.
Chữ này đến từ tiếng La Tinh “vulgus”, có nghĩa là “tiện dân”.
Vì thế, có thể nghĩ được rằng người “hạ cấp” là một người vong thân, đã đánh mất chính họ, không chấp nhận được bản thân mình, và buộc phải phơi bày ra bên ngoài một hình ảnh về mình, một hình ảnh rất xa với con người thực của mình. Khoảng cách giữa hình ảnh được phô trương ra với con người thật càng xa xôi bao nhiêu, thì tính hạ cấp lại càng rõ nét bấy nhiêu.
Tuy nhiên, giả sử một người nào đó đã gột bỏ được những lớp vỏ liên hệ đến giai cấp nơi mỗi con người, và, ngồi một mình, anh ta ngoáy mũi, ợ, đánh rắm, thì sao nhỉ?
Một người tình cờ chứng kiến có thể coi anh ta là hạ cấp được không?
An Nam ta ăn xong xỉa răng, không khỏi bị người Tây Phương coi như hạ cấp. Người Bắc Phi lịch sự, được đãi ăn xong phải ợ một cái để cho người mời biết mình đã ăn ngon, đã no bụng, cũng là hạ cấp?
Một dân tộc miền Patagonia chuyên đánh rắm thật kêu trong lúc truyện trò tiếp khách, phải được coi như thế nào?
Thiền sư Phật Ấn khi chê “Đại Cư Sĩ” Tô Đông Pha không bằng phát rắm của ông ta, thì có hạ cấp hay không?
Như thế, cử chỉ bị coi là hạ cấp cũng có thể đến từ một trạng thái bất chấp những quy ước xã hội, văn hóa thông thường, hoặc khi người ta sử dụng những quy ước đặc thù, tức quay về với chính con người mình, chứ không phải bao giờ cũng là vong thân, đánh mất bản thân mình, như vừa nói ở trên.
Tóm lại, giữa vong thân với quay về với bản thân mình, thì, theo bạn, đâu là định nghĩa thống nhất của thái độ hạ cấp ?
--
Thật ra, có lẽ “hạ cấp” chỉ là một phê phán trịch thượng đối với những người bị coi là “thấp” hơn mình. Vì sự phê phán ấy có tính chủ quan, nên không có chuyện thống nhất trong định nghĩa. Cư xử thế nào cũng có thể bị coi là “hạ cấp”. Trong điều kiện ấy, phải chăng tất cả chúng ta đều có khả năng trở thành “hạ cấp” đối với một ai đó?
Điều đáng suy nghĩ là vì sao tính hạ cấp lại càng ngày càng phổ quát, trong xã hội Việt Nam cũng như ở Tây Phương? Tôi nghĩ có lẽ trong những xã hội càng ngày càng phân hóa, trước nguy cơ mình bị ai khác coi là hạ cấp càng lúc càng cao, thì sẽ có càng nhiều người cảm thấy cần phải tự bảo vệ bằng cách chui xuống ẩn trú nơi giai tầng thấp nhất, “hạ cấp” nhất, nơi họ có thể kết nối những liên hệ vui vẻ, thoải mái với những người “hạ cấp” như họ, để không còn lo lắng, thoát mọi mặc cảm…
Hạ cấp tràn lan… không có gì là lạ vậy!
BỔ SUNG CỦA VƯƠNG TRÍ NHÀN
Tôi ngờ rằng điều làm cho một số bạn đọc cảm thấy được an ủi là - như tác giả đã trình bày - xu thế "tỏ ra hạ cấp" đang phổ biến không chỉ ở Việt Nam và ở phương Tây.
Nhưng chính ở chỗ này tôi cảm thấy cần bổ sung mấy ý:
Chắc chắn việc tỏ ra hạ cấp ở Việt Nam ta thời hậu chiến bây giờ trầm trọng hơn nhiều so với bất cứ xã hội nào khác. Nó bao gồm cả sự cố ý lẫn tình trạng tự phát làm liều, do dốt nát và xuất thân hèn kém mà hồn nhiên, tự nhiên vung vãi mọi thứ hạ cấp của mình.
Khi tỏ ra hạ cấp con người cũng tự tuyên bố về tình trạng tuyệt vọng, nó là cái vũng bùn mà anh ta đã sa vào và cựa quậy mấy cũng không sao ra nổi.
Con người lúc này không còn cảm thấy có điều gì thiêng liêng và phải tôn trọng, Với anh ta, tương lai không có ý nghĩa gì nữa.
Hướng thượng vốn là một cảm giác cao đẹp có khả năng đánh thức những tiềm năng tốt đẹp trong mỗi con người, với anh ta hoàn toàn xa lạ.
Cái mới của thời nay là ở chỗ không chỉ dân đen, dân vô học hồn nhiên khoe cái thái độ hạ cấp mà cả những người có học cũng đi vào con đường nhơ bẩn đó. Có hai khả năng có thể xảy ra. Một là anh ta chỉ là trí thức nửa mùa. Và hai là anh ta đã bị đánh phá đã bị làm nhục quá đáng, đến mức như là vong thân, không còn tin tưởng gì ở mình cũng như ở chung quanh.
PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH-- HAI KIỂU NHÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
Ngày 8 tháng 9 năm 2023
--
Đầu Pháp chính phủ thư tức Thư gửi toàn quyền Beau, Đông Dương chính trị luận, Thư thất điều …
Lâu nay, nói tới con người Phan Châu Trinh, người ta thường chỉ được biết các luận văn ấy.
Song, có một tài liệu theo tôi đáng gọi là chìa khóa để đi vào hiện tượng Phan Châu Trinh, đó là bài viết Pháp Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam ( tạm dịch Nước Việt Nam mới sẽ như thế nào sau khi Pháp -- Việt liên hiệp, dưới đây tôi gọi tắt là Liên hiệp hậu)
Tôi lần đầu được đọc bài này là từ tập sách Phan Châu Trinh tuyển tập của Nguyễn Văn Dương, in ra ở NXB Đà Nẵng 1995; sau được Vĩnh Sính giới thiệu kỹ hơn trong một bài in trong cuốn sách Từ Đông sang Tây H.2005 và trên mạng Diễn đàn 2007.
Theo các nhà nghiên cứu trên, Liên hiệp hậu là một bản thảo được khởi thảo vào khoảng 1910. Nội dung tác phẩm hết sức phong phú, như có đoạn nói về lịch sử giao thiệp VN với Trung Quốc, lịch sử giao thiệp giữa nước Nam với nước Pháp; nhưng nhiều phần -- mà là những phần chính có liên quan tới nội dung chính nêu trong tiêu đề -- chưa hoàn thành.
Ngay ở dạng như hiện nay thì Liên hiệp hậu vẫn đáng được coi như một chìa khóa để hiểu chính cương đường lối hoạt động của tác giả. Ngoài ra cũng có những phần được viết đọc rất thú vị là phần ông nói về mình, trong sự phân biệt với Phan Bội Châu.
--
Khi miêu tả các nhà hoạt động xã hội -- các nhà cách mạng được nhiều người biết tiếng, các tài liệu ở ta thường chỉ đi vào khuynh hướng chính trị của người ấy.
Phần tính cách hay nhiều khi goi là cá tính bị lảng tránh.
Khi nói cá tính thực ra chúng tôi muốn nói tới từ sự xuất thân, quê hương gia đình, cho tới học vấn cách biểu lộ tình cảm, cách hiểu về ý nghĩa đời sống, quan niệm về hành động về hạnh phúc của một con người.
Miễn là biết cách phân tích, người ta sẽ thấy cái phần gọi là cá tính này thực ra mang rất nhiều yếu tố xã hội.
Và đó là phương hướng chi phối cụ Tây Hồ khi viết về Phan Bội Châu. Ông muốn xét người để định việc,
Phan Châu Trinh viết Liên hiệp hậu sau khi ở tù ra. Ở tù sau mấy cuộc binh biến và dân biến thất bại. Lúc này ông cần nhìn thẳng vào những con người. Ông lấy bản thân và các đồng chí ra để phân tích. Với ông, cắt nghĩa các biến động đó, cũng là một cách xác định lại đường hướng tư tưởng của mình. Người đọc cảm thấy tác giả có một sự thôi thúc muốn “gọi sự vật bằng cái tên của nó” tức phải viết ra bằng được điều mình đã tâm niệm, để trình với lịch sử.
MỘT ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG ĐẦU THẾ KỶ XX
Sự sáng suốt và chừng mực của Phan Châu Trinh là ở chỗ bao giờ viết về Phan Bội Châu ông cũng theo lối đề cao chỗ mạnh chỗ khả thủ, để rồi liền sau đó mới đi vào đào cùng tát cạn nói bằng hết những nhược điểm nó là chỗ không thể chấp nhận được của đối tượng.
“Phan Bội Châu là người rất có chí khí có nghị lực, nhẫn nhục dám làm; có điều tin vào thì không chịu bỏ, dẫu có sấm sét cũng không đổi. Nay sĩ phu khắp nước chưa ai có thể ví với ông ấy. Tiếc thay học thuật không rành, thời thế không rõ, thích dùng quyền thuật (ý nói mánh lới mưu mẹo -- VTN chú), tự dối mình dối người, ngoan cố không đổi. Lớn lời không ai bì, hãm quốc dân vào đất chết cam chịu tiếng ác mà không tự biết (Nguyễn Văn Dương Phan Châu Trinh tuyển tập, sách đã dẫn ở trên, tr 530)
Ở một đọan dưới:
“Ông ấy là người khẳng khái dám làm, không kể thân mình, sức tự tin rất sâu, hễ cho là phải thì sống chết không đổi …Nhưng ông ấy cậy sức làm bậy, sẵn lòng giết người cố chấp theo ý mình, xem người đều không bằng ta (tlđd, tr 542).
Có mấy điều Phan Châu Trinh hẳn đã tự lưu ý khi viết những đoạn này.
Thứ nhất luôn luôn nhấn mạnh rằng ông rất thân, rất quyến luyến Phan Bội Châu.
Thứ hai theo Phan Châu Trinh, những đức tính trên, cả hay lẫn dở, cũng như mọi đức tính khác của Phan Bội Châu đều là tiêu biểu cho dân VN.
Đã có một sự giải phóng về tư tưởng. Tác giả vượt lên những thói thường của những người cùng hoạt động giữ ý với nhau, cốt “dĩ hòa vi quý“ xuê xoa che giấu cho nhau.
Chẳng những thế, ông còn biết mang lại cho nhận thức riêng của mình một ý nghĩa có liên quan tới cả xã hội.
Khi đã hiểu “có nói gì về Phan Bội Châu cũng là vì cái chung”, ông càng tự tin trên đường tìm tới bản chất của hiện tượng.
Ông gọi Phan Bội Châu là ngông cuồng.
Ông nói thẳng Phan Bội Châu không hiểu gì về thời thế, “không có phương châm gì“, hành động thì “chạy bậy ra nước ngoài”, phát ngôn thì “bậy bạ” ( tr 514 )
Ông đưa ra một sự thực -- Phan Bội Châu đọc sách rất ít, nhất là những sách mới. Khi miêu tả rằng có nhiều việc Phan Bội Châu biết rằng thất bại vẫn làm, ông phanh phui động cơ hành động của Phan Bội Châu là “lợi dụng chỗ kém của quốc dân để làm rõ cái hay của mình”
Phi Phan Châu Trinh thì không ai dám nói rằng trong việc xúi người khác xông lên, đẩy người khác vào nơi chết chóc, khách quan mà xét Phan Bội Châu đã hiện ra như một người tàn ác “đến giết hết cả giống nòi mà chưa thôi” (tr 532).
SỰ KHÁC BIỆT ĐẾN MỨC ĐỐI LẬP
Nghiên cứu lịch sử VN thế kỷ XX cũng như cả các thế kỷ trước, người ta dễ nhận thấy một sự thực. Người Việt ta thích làm hơn thích nghĩ; xã hội ta được thúc đẩy không phải bởi các nhà tư tưởng mà bởi các nhà hành động.
Dù có thất bại -- Phan Bội Châu là một ví dụ -- thì họ cũng vẫn được ca tụng.
Nhiểu khía cạnh trong cái gọi là cá tính của Phan Bội Châu mà Phan Châu Trinh nói ở trên cũng rất phổ biến ở các thế hệ cách mạng thời đại tiếp sau.
Theo nghĩa này người đọc ngày hôm nay dù chưa có dịp hiểu sâu hiểu kỹ về các đối tượng Phan Châu Trinh đề cập, song cũng dễ có điều kiện để kiểm tra lại sự chính xác trong những khái quát của ông.
Nhưng trước hết dùng những gợi ý mà Phan Châu Trinh đã nêu để đi vào phân tích đường lối hoạt động của các nhà cách mạng trong quá khứ.
Việc này chính Phan Châu Trinh đã thử làm. Ông từng so sánh mình và nhân vật song đôi của mình – mà ông gọi là hai người thuộc hai đảng -- , ở từng việc một.
“Bội Châu không xét thời thế, không kể lợi hại mà chủ trương bài Pháp thì thủ đoạn không thể không do bạo động mà ra.
Bạo động ắt thất bại và ắt chết. Dân biết cái thế ắt thất bại ắt chết thì ắt không theo. Cho nên [phải tính chuyện -- VTN thêm cho lọn nghĩa] lợi dụng cái ngu của dân, lợi dụng dân không có đường sống [mà rủ rê lôi kéo họ]."
"Đã lợi dụng dân ngu không có đường sống, cho nên không nói khai trí trị sinh; cho nên hội học hội diễn thuyết hội buôn không cần lập, sợ rằng dân khôn, dân khi đã có đường sống thì ắt không nghe lời ông ấy.
Đã chủ trương bạo động thì cái thế lợi dụng phải mờ ám, cho nên sự vận động của đảng ấy đều là làm giấu, là rủ rê các kẻ ngu trong dân để lấy tiền mà người và việc đều không xuất hiện cho nên xét nó khó.
Vả lại đảng ấy đã lợi dụng cái ngu của dân mà thủ đoạn lợi dụng mờ ám cho nên kẻ theo phần nhiều đều là bọn du đãng, thấy lợi quên chết. Còn trung lưu trong xã hội thì không có [có lẽ là không quá – VTN chú] một vài người, mà đều là người ngoan cố, vô học, mờ ám vì thời cuộc, không đáng đếm xỉa đến".
Còn về phần mình chính Phan Châu Trinh:
"Tôi đã chủ trương cậy Pháp, thì thủ đoạn không thể không do tự trị mà ra… Tự trị cũng chẳng là việc dễ lắm đâu, việc hỏng ắt cũng chết. Nếu không phải là kẻ chí sĩ yêu nước không kể sống chết lại hiểu rõ thời thế thì không dám làm theo.
Cho nên lợi cho trí dân, lợi cho dân có đường sống.
Đã lợi trí, lợi có đường sống, cho nên không thể không nói khai trí trị sinh; cho nên cái thế là không thể không lập nhiều hội học, hội diễn thuyết, hội buôn.
Bởi vì trông dân có trí, dân có đường sống, sau đó tôi có nói ra, họ mới nghe theo. Cho nên cái chủ nghĩa kia đã chủ trương tự trị thì thế lợi dụng phải rõ ràng, cho nên sự vận động của đảng tôi toàn là tụ tập dân chúng, đường đường chính chính, diễn thuyết, họp chí sĩ, khảo cứu chính trị thời thế, ăn to nói lớn, người và việc ai nấy đều thấy, cho nên xét nó rất dễ. Chủ nghĩa của tôi đã lợi dụng dân trí, thủ đoạn lợi dụng rõ ràng cho nên những kẻ nghe theo đều là người đọc sách biết lẽ, vì nước quên mình … “
(tlđd, tr. 544-545)
Một bên thì duy ý chí, cốt làm lấy được điều muốn làm, “lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện”, đi tới nhiều chỗ mờ ám, và chỉ khai thác được cái phần kém cỏi trong cộng đồng cũng như trong mỗi người.
Bên kia thì đàng hoàng minh bạch, hướng về trí tuệ về ánh sáng, đặt ra yêu cầu cao với những người dân.
LIÊN HỆ VỚI THẾ HỆ CÁC NHÀ CÁH MẠNG VỀ SAU
Giả sử bây giờ tôi kê ra những đặc tính để làm nên chân dung một nhà hoạt động chính trị ở VN như sau:
- Yêu nước thương nòi, có chí khí có nghị lực, dám hành động nhưng lười đọc sách, không chịu suy nghĩ về các vấn đề lớn của xã hội, chỉ nghĩ về những hiệu quả trước mắt.
- Không phải là giỏi lý thuyết mà chỉ tài về phương diện sách động, tức dùng khẩu thuật để mê hoặc lòng người
- Sẵn sàng xô đẩy đám đông vào chỗ chết, cốt đạt đến mục đích của mình. Nếu người ta có chết thì lại xụt xịt thương khóc, gọi người ta là anh hùng, lấy đó làm tấm gương cho người khác noi theo
và bảo rằng đó chính là chân dung các nhà cách mạng đầu thế kỷ XX, chắc nhiều người sẽ cho là tôi chỉ có cách nhìn phiến diện.
Song sự thực – như trên các bạn vừa đọc -- đó là những nét chủ yếu làm nên chân dung một người chúng ta hết sức yêu kính là Phan Bội Châu qua cách cảm nhận của một người chúng ta cũng hết sức yêu kính là Phan Châu Trinh.
Trong con mắt của các sử gia Hà Nội, Phan Bội Châu hơn nửa thế kỷ nay - từ 1945 cho tới 1986 - được đặc biệt ca ngợi, còn Phan Châu Trinh thì bị phê phán rất nhiều.
Phê là cải lương, là ngây thơ quá tin tưởng ở thực dân Pháp.
Từ ngòi bút của những sử gia có nghiên cứu hơn một chút, thì di sản của Phan Châu Trinh không dùng được vì cải lương thỏa hiệp, đặt nặng việc nâng cao dân trí…ngược với chủ trương của cách mạng về sau là bạo lực.
Nay tôi mới hiểu thêm cái chính là các nhà cách mạng về sau, rất gần với con người Phan Bội Châu mà trên đây Phan Châu Trinh đã miêu tả.
Còn Phan Châu Trinh thì hoàn toàn là một típ người khác.
Nhưng để chứng minh được nhận xét trên một cách thuyết phục, còn phải nghiên cứu nhiều.
***
MỘT BÀI THƠ MINH HỌA
Trong đoạn văn miêu tả Phan Bội Châu của Phan Châu Trinh nói trên, có một điều cần dừng lại kỹ.
Đó là phát hiện của cụ Tây Hồ về cái cách của cụ Sào Nam “lợi dụng chỗ kém của quốc dân để làm rõ cái hay của mình”, cụ thể là xúi người khác xông lên, đẩy người khác vào nơi chết chóc.
Khách quan mà xét, trong trường hợp cụ thể này, Phan Bội Châu hiện ra một người bất cận nhân tình dám nhân danh mục đích cao cả làm những việc hao người tốn của tai hại tới mức “đến giết hết cả giống nòi mà chưa thôi”.
Có thể gọi cái chất mà cụ Tây Hồ nhìn thấy ở Sào Nam -- nhân vật mà hậu thế vẫn xem như là cặp bài trùng của mình -- là tài sách động của các nhà cách mạng khi đi vào thực tế để vận động quần chúng. Đương thời, Phan Bội Châu nổi tiếng với khả năng dùng tình cảm để lôi cuốn người khác hoạt động theo ước vọng của mình. Khi họ chết, Phan Bội Châu sẵn sàng viết ra những bài ca tụng công lao của họ và lấy đó làm đủ, vừa xong người này, lại lao vào những cuộc vận động lôi cuốn người khác.
Không phải tới thời hiện đại, người ta mới đặt vấn đề này.
Trong Luận ngữ ở chương XIII (mang tên Tử Lộ) có đoạn 30,
“Tử viết: Dĩ bất giáo dân chiến, thị vị khí chi.”
Nguyễn Hiến Lê đã dịch là Khổng tử bảo: Đưa dân không được dạy dỗ ra đánh giặc tức là bỏ dân (Luận ngữ bản của nhà Văn học, 1995, tr 227.
Hoàng Văn Thư (Tứ thư, nxb Văn hóa thông tin, 2003 ), dịch hơi khác đi một chút nhưng theo tôi là rõ hơn:
“Thầy nói không dạy dân mà bắt dân đi đánh giặc là đưa họ đến chỗ chết mà thôi.”
Cũng không phải chỉ ở Việt Nam người ta mới thấy có hiện tượng này.
Khoảng 1967-68, trên báo Văn nghệ nhà thơ Xuân Diệu đã dịch và cho in, bài thơ sau đây. Có lẽ vì nội dung của nó hơi lạc lõng so với tinh thần thời đại mà Xuân Diệu về sau không sưu tầm đưa vào sách nào cả. Nhưng tôi thấy nên chép lại dưới đây vì bài thơ như là tiếng nói của những người đã lao vào chỗ chết mà không được chuẩn bị, chẳng qua họ chỉ nghe theo lời khuyến nghị của những nhà chỉ huy giỏi sách động. Bảo họ là nạn nhân của những người chỉ huy ấy cũng không sai.
NGƯỜI ANH HÙNG NÓI
T/g Felik Pollak
nhà thơ Mỹ 1909-1987
---
Tôi đã không chịu đi
Chúng bắt tôi vào quân dịch
Tôi đã không muốn chết
Chúng gọi tôi là nhát hèn
Tôi đã tìm cách trốn
Chúng mang tôi ra tòa án binh
Tôi đã không nổ súng
Chúng bảo tôi là không có thớ
Chúng mở cuộc xuất kích
Một viên đạn ngấu nát ruột tôi
Tôi đau quá khóc lên
Chúng đưa tôi vào hầm trú ẩn
Trong hầm tôi đã chết
Chúng lặng lẽ chào tôi
Chúng đã gạch tên tôi
Và chôn tôi dưới một cây thánh giá
Chúng đọc điếu văn trong thành phố tôi sinh
Tôi không thể kêu lên là chúng nói dối
Chúng nói tôi đã cống hiến đời mình
Tôi thì cố mà giữ lại
Chúng nói chúng tự hào về tôi
Tôi thì đã xấu xa đi vì chúng
Tôi đã muốn sống còn
Chúng gọi tôi hèn nhát
Tôi đã chết hèn nhát
Chúng gọi tôi anh hùng
--------------------------
Một phần bài viết này đã đưa trên blog cá nhân của tôi
ngày 06-04-2011 dưới cái tên
Cụ Sào Nam trong cái nhìn cụ Tây Hồ, một chìa khóa để đi vào hiện tượng Phan Châu Trinh
NÓI THÊM VÀI ĐIỀU VỀ TÁC PHẨM PHÁP VIỆT LIÊN HIỆP HẬU CHI TÂN VIỆT NAM CỦA PHAN CHÂU TRINH
Ngày 10 tháng 9 năm 2023
T/g Lê Thí
--
(Bài đã đăng trên Báo Quảng Nam và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử xứ Quảng)
Nguồn
https://huynhthuckhangluongvancan.wordpress.com/.../noi...
***
Pháp Việt Liên hiệp hậu chi tân Việt Nam (thường được gọi tắt là Tân Việt Nam) là một trong 5 tác phẩm chính luận hàng đầu của Phan Châu Trinh. Đây là tác phẩm gây nhiều “boăn khoăn” cho những nhà nghiên cứu đời sau. Để hiểu thêm ý nghĩa của tác phẩm, tránh các “hiểu nhầm” hoặc “boăn khoăn” về nội dung trình bày của tác giả cần xác định rõ thời điểm ra đời của quyển sách từ đó xác định mục đích và bối cảnh dẫn đến quan điểm của người viết.
Trước hết là về thời điểm sáng tác. Nhà nghiên cứu Vĩnh Sính trong tác phẩm Phan Châu Trinh và các tác phẩm chính luận (Nxb Trẻ, năm 2018) cho rằng: “Bản thảo ban đầu cho tác phẩm Tân Việt Nam được viết khi Phan Châu Trinh còn ở Mỹ Tho, ít lâu sau khi được thả từ Côn Đảo về và trước khi đi Pháp (6/1910-4/1911)”.
Để đi đến kết luận này ông đã đưa ra 2 biện dẫn sau:
– Bản thảo duy nhất chữ Hán viết rất nhỏ, có đoạn trùng lắp và nhiều chỗ bổ sung sửa chữa giữa các hàng. Bản thảo cũng khó đọc vì giấy dùng để viết không được tốt lắm. Điều này chứng tỏ bản thảo được hình thành trong thời điểm khó khăn, chính là lúc bị an trí ở Mỹ Tho!
– Có hai đoạn trong bản thảo Phan Châu Trinh có đề cập đến hoàn cảnh của mình:
+ Ở trang 15 cụ viết: “Tôi dẫu được phóng thích, đem ở một nơi, cử động bị nghi ngờ, tâm sự không nói được, lặng lẽ mà hổ thẹn vì người bạn bị chết…”(1)
+ Ở trang 34 cụ lại viết: “Được tha từ Côn Lôn, tôi bị thả trong một cái phòng của quản hạt ở Mỹ Tho không có lấy một người quen…”(2)
Trước và sau nhận định của Vĩnh Sính chưa có nhà nghiên cứu nào đề cập đến thời điểm sáng tác của Tân Việt Nam kể cả hai tác giả Nguyễn Văn Dương và Nguyễn Q Thắng là hai người dịch tác phẩm này ra Quốc ngữ. Ta đồng tình với ý kiến của Vĩnh Sính!
Về mục đích viết Tân Việt Nam.
Dựa vào nội dung có thể thấy, Phan Châu Trinh viết tác phẩm này nhằm mục đích chính là nêu rõ sự khác biệt trong lập trường của ông (phái minh xã chủ trương duy tân với khẩu hiệu khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, bất bạo động, hoạt động công khai) với lập trường của Phan Bội Châu (phái ám xã, chủ trương bạo động, lật đổ chính phủ thuộc địa của người Pháp bằng bạo động, cầu viện nước ngoài, hoạt động bí mật trong tổ chức Duy Tân Hội).
Từ trên cơ sở đó Phan Châu Trinh minh oan cho các đồng chí của mình đang bị giam cầm trên cả nước sau cuộc biến năm 1908.
Để nêu sự khác biệt trong lập trường của hai người (hai phe) Phan Châu Trinh đã cho thấy hai cách hiểu lịch sử dân tộc của ông và của Phan Bội Châu, cũng là cách hiểu của hầu hết sĩ phu thời đó!
Để đạt được mục đích trong tác phẩm của mình, Phan Châu Trinh tuy không đả kích cá nhân nhưng đã phê phán mạnh mẽ đôi khi rất nặng nề (đến khó nghe) về con người và chủ trương của Phan Bội Châu cùng “đảng” của ông ta.
Ta có thể tham khảo:
“Tiếc thay ông ấy (Phan Bội Châu) học thức nông cạn, không rõ thời thế, thích dùng thủ đoạn và mánh khóe (quyền thuật), tự dối mình và dối người, đầu óc ngoan cố khăng khăng không chịu thay đổi … Chủ nghĩa phục thù cực đoan của Phan Bội Châu thật ngoan cố và sai lầm cùng cực, đã không hợp lý luận, không hợp thời thế mà lại còn đẩy đồng bào vào chỗ chết”, “ông ấy là người có lòng yêu nước nhưng không biết cách thương nước”! (3)
“Cho nên ông ấy là người đại biểu cho tính tình tập quán của người nước Nam, không biết chân tướng của người nước Nam xem ông ấy thì biết được. Người nước Nam ngu yếu mà thích tự cho là lớn, lại cho người khác là ngu, cho nên thích bài ngoại, thì mà ông ấy bài ngoại đạt tới cực đoan. Người nước Nam ngu yếu mà không biết sửa sang bên trong, phần nhiều cậy sức người khác để được mạnh, cho nên thích ỷ ngoại, thì ông ấy lại ỷ ngoại đến chỗ cực đoan”.(4)
-“Phan Bội Châu là người cực kỳ thủ cựu, nhất thiết không chịu đọc Tân thư”. Bởi thế, “những trước tác của ông ấy không căn cứ vào lý luận, không khảo sát thời thế, khi thì chửi tràn, khi thì khóc than thống thiết, xem ra toàn là biến thể của văn chương bát cổ, không có mảy may một chút giá trị, nhưng vì trình độ và tính cách thích hợp với quốc dân, nên dân mới bị lừa theo”.(5)
Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc khi đọc những câu quá sức “thẳng thắn” của Phan Châu Trinh có lẽ cũng hơi “boăn khoăn” nên cho rằng “Đó là một nhu cầu đối phó với thực dân, không nên xem đó là những ý tưởng đích thực …Những phê phán đôi khi nặng lời với người bạn đồng hành còn lưu trong di cảo cần phải được nghiên cứu thận trọng: tác giả viết cho ai đọc, trong hoàn cành nào và đã được công bố chưa ?(6)
Sự “băn khoăn” của Trần Viết Ngạc (và nhiều người) là có căn cứ nhưng cũng chứng tỏ là họ chưa hiểu hết “tâm trạng” và “tính cách” của Phan Châu Trinh!
Biết được thời gian ra đời và mục đích ta mới có thể xét đến bối cảnh ra đời của tác phẩm từ đó mới có thể hiểu được thái độ của tác giả thông qua nội dung tác phẩm.
Dĩ nhiên không thể quên xét đến “tính cách” của tác giả.
Vì vậy để “hiểu” Tân Việt Nam và “đồng cảm” với Phan Châu Trinh cần phải nghiên cứu 2 vấn đề sau:
-Bối cảnh xã hội khi Phan Châu Trinh viết tác phẩm này từ đó hiểu được “tâm sự” của ông.
-Tính cách của người Quảng và đặc biệt là tính cách của Phan Châu Trinh, người “trực ngôn” nhất trong số những người Quảng trực ngôn.
Về bối cảnh ra đời:
– Phan Châu Trinh viết Tân Việt Nam khi ông vừa ra tù, bị đưa đi an trí, các cơ sở mà phong trào Duy Tân xây dựng trong mấy năm đã bị phá hủy hoàn toàn “Hội buôn trường học bóng tan bọt chìm” ; các đồng chí người thì bị giết, người thì đang thụ án ở Côn Đảo, Lao Bảo hay các nhà tù địa phương!Trách nhiệm của người đứng đầu, người khởi xướng phong trào đang dằn vắt và đè nặng lên vai Phan Châu Trinh.
“Tôi dẫu được phóng thích, đem ở một nơi, cử động bị nghi ngờ, tâm sự không nói được, lặng lẽ mà hổ thẹn vì người bạn bị chết”
-Mặc dù đường lối chủ trương của phong trào Duy tân khác xa với Duy Tân Hội “Bởi vậy ban đầu thì thương nhau mà cuối cùng thì xa nhau, trước là bạn mà sau là địch” nhưng Phan Châu Trinh và các đồng chí bị triều đình Huế và thực dân Pháp kết tội là đã “cộng tác” với Phan Bội Châu. Bản án ngày 3 tháng 8 năm Duy Tân thứ hai viết rất rõ: “Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng…, cử nhân Phan Thúc Duyện, Lê Bá Trinh, thị độc Nguyễn Đình Tán cung phụng Nguyễn Thành là những người trong danh sắc, há không biết người phản quốc Phan Bội Châu là người không nên theo hay sao, thế mà Nguyễn Thành thấy y đến nơi liền mời Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đến cùng mưu nghị , kế nghe y bỏ nước đi…” (7).
Điều này làm Phan Châu Trinh rất “ức”! Lại thêm cảnh:
“Tôi sở dĩ bất chấp sống chết đụng chạm tới kỵ húy nhằm hô hào người trong nước cũng vì ông ấy. Tôi thất bại chẳng còn chút gì, đồng chí bạn bè bị tù đày hay phải hy sinh đầy rẫy và cho tới nay cũng vì ông ấy mà tôi hãy còn bị nghi kỵ và không giải bày tâm sự được” (
Về mối quan hệ giữa “phe” Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu có thể tham khảo thêm một người trong cuộc là Phan Khôi để hiểu thêm bối cảnh vào thời đó: “Vào khoảng 1907-1908, giữa cuộc vận động chánh trị ở Trung Kỳ chia ra hai phái: Một phái theo chủ nghĩa Phan Châu Trinh, lo việc khai trí, trị sinh, cải cách tệ tục, nương theo nước Pháp mà tiến bộ. Một phái theo chủ nghĩa Phan Bội Châu, xuất dương du học, mong có ngày đuổi người Pháp mà lấy lại chủ quyền.
Bấy giờ, người trong hai phái tuy không đến nỗi cừu địch nhau chứ cũng kỵ nhau lắm. Phái Phan Châu Trinh xưng mình là “minh xã” mà xưng phái bên kia là “ám xã”. Người trong ám xã lúc đó có một bức thư gởi cho nhau mà bên minh xã tò mò biết được, và họ rất chú ý ở câu nầy: “Tây Hồ chi quy đa bất lợi ư thương hữu”. Nghĩa là: Sự về của Tây Hồ có nhiều đều chẳng lợi cho bạn buôn.
“Bạn buôn” là cái hiệu kín mà ám xã dùng để xưng nhau. Câu ấy có ý nói từ Phan Châu Trinh ở Nhật về, xướng lên cái thuyết “bất bạo động”, làm cho nhiều người trong hội kín đến xiu lòng: thế là bất lợi.
Cái hiện tượng chia rẽ ấy rõ ràng lắm. Bao nhiêu những sự lập trường học, mở hiệu buôn, hớt tóc, mặc âu phục đều là việc làm của minh xã. Còn bên ám xã họ hành động vẫn bí mật, nhưng kẻ có tình rình người có ý, rồi cũng biết được nhau…
… Hai phái ấy, giá bấy giờ cứ để cho họ tiến, có ngày đến họ giết nhau cũng nên. Nực cười có cuộc bắt bớ năm 1908, làm cho hai phái chẳng hề có tiếp hiệp với nhau mà bỗng dưng hợp một; và từ đó trở đi hầu hết những người từng ở bên minh đều phải “khí minh đầu ám” … Bọn minh xã bấy giờ còn sót lại người nào, bị bên kia bêu diếu dữ lắm. Như chửi vào mặt, họ bảo: “Hãy cứ tin cậy ở nước Pháp đi, rồi có đi Côn Lôn một thể với chúng tôi!”. Bởi vậy mà, buồn tình, những người nầy đều vào với họ. (9)
Trong bối cảnh như vậy Phan Châu Trinh cũng thẳng thắn nhận ra sự thất bại của “phe” mình, không phải do “sai lầm” mà do trình độ dân trí và do đường lối sai lầm của Phan Bội Châu lại phù hợp với nhận thức sai lầm của người dân.
Đó cũng chính là nỗi “cô đơn” của Phan Châu Trinh:
“Tôi tự biết những lý do mà chủ nghĩa của ông ấy đưa ra thì rất yếu, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của dân nước Nam thì rất mạnh. Chủ nghĩa của tôi, lý do đưa ra thì rất mạnh, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của người nước Nam trong tình thế hiện tại thì rất yếu. Chủ nghĩa của ông ấy rất hợp với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ mạnh mà lợi dụng và vì ở hải ngoại nên ngôn luận tự do, dễ có người theo, do đó chủ nghĩa ông ấy sẽ tất thắng. Chủ nghĩa của tôi tương phản với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ yếu mà cứu và vì ở trong nước nên bị các thế lực chèn ép và nghi kỵ tập trung vào, các hoạt động và ngôn luận đều không được tự do nên người theo cũng khó, do đó chủ nghĩa của tôi tất bại” (10)
Trong tâm sự như vậy (dằn vặt, uất ức, cô đơn) khi viết Tân Việt Nam, Phan Châu Trinh quyết “nói một lần” cho rõ, nói hết, nói thiệt, nói “huỵch tẹt” để giải bày với dư luận và cho người Pháp hiểu, từ đó có sự đối xử phụ hợp với các đồng chí của ông!
Bên cạnh “tâm sự”, khi đọc Tân Việt Nam phải hiểu thêm tính cách của Phan Châu Trinh. Ông là người trực ngôn nhất trong số những người Quảng trực ngôn. Ông luôn thẳng thắn và đấu tranh đến cùng cho lẽ phải, cho suy nghĩ của mình. Lối nói của Phan Châu Trinh cũng “bạt mạng” “ngang tàng” như chính cuộc đời và hoạt động của ông. Điều này nghiên cứu kĩ ta sẽ rất rõ, từ việc đối xử với “thầy” (các quan Huấn đạo ở quê), với vua (Khải Định trong thư Thất điều), cho đến Ngự sử, Tổng đốc và cả với Thống sứ Bắc Kỳ. Với tài hùng biện, với lối nói ngang tàng ông đã từng làm “cứng họng” những người “bắt bẻ” ông! Lối nói này của ông ta gặp lại trong Tân Việt Nam!
Ngoài ra một điều không thể quên là khi viết Tân Việt Nam Phan Châu Trinh chưa sang Pháp. Ông còn quá “lý tưởng” về nước Pháp. Từ tiếng gọi tự do, bình đẳng đẹp đẽ của cách mạng Pháp mà ông tiếp nhận của JJ Rousseau, Montesquieu… qua Tân thư đến thực tế của đế quốc Pháp với chủ nghĩa thực dân còn một khoảng cách khá xa. Lúc này ông còn quá “kỳ vọng” vào chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” của mình!
_______________
(1,2,5, 7, 8): Vĩnh Sính, Thử tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm Pháp Việt Liên hợp của Phan Châu Trinh, Từ Đông sang Tây, Kỷ yếu mừng GS Lê Thành Khôi 80 tuổi, Nxb Đà Nẵng, 2005.
(3,4,10) : Vĩnh Sính, Phan Châu Trinh và các tác phẩm chính luận (Nguyễn Nghị dịch), Nxb Trẻ, Sài Gòn, 2018.
(6): Trần Viết Ngạc, Theo dấu Hy Mã, Chim Việt Cành Nam, năm 2017
(7): Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế ở Miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân , Nxb Văn Học, 2008
(9): Địa vị Thái Phiên và Trần Cao Vân trong sự biến năm 1916-Tạp chí sông Hương số 7,8 tháng 10-1936)
Sài Gòn, tháng 6/2019
CÓ KHI NÀO CHÍNH SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC LẠI GÂY NÊN TAI VẠ CHO XÃ HỘI CHO ĐẤT NƯỚC?
Ngày 13 tháng 9 năm 2023
--
Tôi ngờ rằng trong đầu óc của một số người việt trong những ngày này đôi khi đã thấp thoáng có một câu hỏi như thế.
Và hôm nay tôi cảm thấy hình như chúng ta có thể tìm được câu trả lời trong một cuốn sách mới dịch ở nhà xuất bản tri thức.
Xin trích ra ba ý nhỏ trích từ trang fb của nhà xuất bản tri thức
1/
Tác giả lập luận rằng nếu không có ý tưởng mạnh mẽ, mạch lạc và đầy cảm hứng để hướng dẫn và thúc đẩy, giáo dục sẽ trở thành một công cụ đơn thuần của các quy trình quan liêu và tham vọng kinh tế, không có ý nghĩa sâu sắc hơn và sức mạnh biến đổi.
2/
Rút ra từ một loạt các tài liệu tham khảo về lịch sử, văn học và văn hóa, ông đưa ra những ý tưởng thay thế có khả năng làm trẻ hóa bối cảnh giáo dục, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền đạt các giá trị, nuôi dưỡng tư duy phê phán và nuôi dưỡng tình yêu học tập thực sự.
3/
Về bản chất, "Chung cuộc của giáo dục" đóng vai trò như một lời kêu gọi rõ ràng đối với các nhà giáo dục, các nhà hoạch định chính sách, phụ huynh và học sinh, hãy nhận thức lại giáo dục không phải là mục đích tự thân mà là một hành trình hướng tới sự hiểu biết, giác ngộ và cải thiện xã hội.
NHÀ VĂN DỊCH GIẢ NGUYỄN BẢN QUA ĐỜI
Ngày 17 tháng 9 năm 2023
Qua trang Fb Son Kieu Mai tôi được biết nhà văn Nguyễn Bản (1932- 2023) vừa qua đời cách đây một ngày. Sau lời thành kính phân ưu tôi có viết thêm một đoạn ý kiến sau
-
Hơn chục năm trước tôi từng cùng Nguyễn Văn Thành ghé thăm ông trong một căn phòng bé nhỏ tiều tụy ở giữa làng Ngọc Hà.
Nguyễn Bản tác giả truyện ngắn “Giá trị mới” in trên báo Văn nghệ là một trong những người viết khá xuất sắc ở Hà Nội những năm 1960s, sau bỏ sáng tác và chuyên dịch để kiếm sống, chứ không tham gia vào mọi sinh hoạt hội hè ầm ĩ để "lưu danh sử sách" như mọi người.
Mà những cái ông dịch cũng có giá trị khai phóng cao chứ không chỉ để kiếm sống.
Sáng tác và dịch thuật của ông là một thứ dòng chảy ngầm của Hà Nội trong thời chiến tranh và hậu chiến. Có thể nói những người như ông là một bộ phận của giai đoạn lịch sử mà chúng ta vừa sống nhưng lại chỉ biết cái phần cuồng nhiệt điên đảo trên bề mặt chứ không phải những gì cũng náo loạn nhưng lặng lẽ biến động ở bề sâu.
Bởi Nguyễn Bản thích sống kín đáo không giao du rộng rãi không mấy khi công khai và lớn tiếng bộc lộ quan niệm riêng.
Tôi không rõ ông có để lại sổ tay và di cảo nào không. Thành tâm mong các bạn từng đi lại bạn bè với ông kể thêm về con người này.
Rộng hơn là cần nghiên cứu về cái dòng chảy ngầm mà Nguyễn Bản là một bộ phận.
TRẦN DẦN, GIỮA GIAI THOẠI VÀ VĂN BẢN
Ngày 25 tháng 9 năm 2023
Bài của Nguyễn Ly
----
Tài liệu này trích từ trang Fb Nguyễn Nam Hải 25-9-2023.
-----
Để hiểu bài này cần trở lại với một số Tiền vệ 2003, tức 20 năm trước.
http://e.org/home/activities/viewTopics.do...
Có thể ngày nay mọi điều nói ở đây đã được các tác giả - cả phe thuận lẫn phe nghịch - nghĩ khác, nhưng không vì thế mà coi các loại ý kiến này không tồn tại. Ngược lại, trên đường tìm tới một loại kết luận tạm coi là đúng đắn và đáng được chấp nhận theo tôi chúng ta rất cần thiết nhắc lại các ý kiến từ tất cả các phía để tham khảo. Và cũng để hiểu rằng suy nghĩ đúng thật là khó bởi chúng ta thường bị đủ loại thành kiến ngăn cản.
***
Trong một nền văn chương nghiệp dư, chúng ta quen sống bằng giai thoại, nhận định, phê bình cũng bằng giai thoại. Một số bài viết về Trần Dần tôi vừa đọc trên Tiền Vệ là ví dụ.
Cùng với giai thoại là những nhận xét đầy cảm tính về tác giả và tác phẩm, rồi đến những kết luận thường là ở cấp so sánh tuyệt đối. Hầu như chúng ta ít khi làm việc trên văn bản.
Với tất cả sự trân trọng, cảm thông với các tác giả thuộc nhóm Nhân văn - Giai phẩm, tôi thấy cần bổ sung một vài ý kiến về hiện tượng văn học này. Và có lẽ không chỉ là ý kiến cá nhân tôi, tôi tin rằng rất nhiều người chia sẻ quan điểm của tôi.
Để xác định thế nào là “tinh thần Nhân văn - Giai phẩm”, chúng ta có khá nhiều tư liệu để có thể dựng lại thời kỳ lịch sử đó ở cả hai giai đoạn, giai đoạn xảy ra biến cố và giai đoạn sau biến cố.
Giai đoạn thứ hai dài hơn và tác động sâu xa hơn đến các tác giả thuộc nhóm Nhân văn – Giai phẩm, làm biến dạng “tinh thần Nhân văn - Giai phẩm” và để lại dấu ấn trong sáng tác của các ông.
Nhưng lịch sử không phải là những gì đã xảy ra mà là cung cách diễn đạt những gì đã xảy ra.
Các ông đã sống nhiều năm trong im lặng và nhẫn nhục, các ông đã được công chúng gán cho vầng hào quang tử vì đạo trong suốt thời kỳ dài đằng đẵng đó. Tất cả đã trở thành giai thoại.
Cho đến khi các ông được in tác phẩm của mình. Người đọc đã chờ đợi, đã háo hức và đã… hẫng hụt.
Đó là một sự thật đáng buồn. Nỗi thất vọng của người đọc cũng dễ hiểu. Họ đã kỳ vọng, và rồi giữa kỳ vọng với thực tế tác phẩm là một khoảng cách không nhỏ.
Không thể trách người đọc là đã kỳ vọng quá cao ở các ông. Họ có quyền kỳ vọng ở những ngươi đã tự nguyện nhận lãnh sứ mệnh cao cả của nhà văn - lương tri của thời đại, chứng nhân của lịch sử… cho dù sau này không ít ngòi bút đã chối bỏ sứ mệnh cao cả đó.
Cũng không phải người đọc chỉ kỳ vọng về phương diện chính trị–xã hội mà chính là họ đã kỳ vọng và đã thất vọng về phương diện nghệ thuật.
Người đọc không ngây thơ đến mức trông đợi ở các ông những gương mặt chính khách hay triết gia mà là những Prometheus có khả năng soi sáng con đường nghệ thuật cho các thế hệ kế tiếp. Hơn nữa, các ông phải là những tấm gương về tinh thần sáng tạo mạnh mẽ, khoáng đạt và tự do. Vậy mà...
Khi những tác phẩm được chờ đợi, được thì thào, được chuyền tay một vài đoạn ngắn ngủi ấy ra đời trong ánh sáng ban ngày với tất cả diện mạo thì chỉ có một sự im lặng hồi đáp. Có thể người đọc tế nhị không muốn làm tổn thương thêm những số phận đã quá u ám mà cũng có thể là họ cảm thấy ngượng ngập vì lý do nào đó?
Trừ một vài lời nồng nhiệt thái quá từ những “fan” của các ông, bây giờ chúng ta lại nghe tiếng tụng ca ồn ào ở hải ngoại. Riêng hai chữ “hải ngoại” thôi cũng đã thấy dường như vấn đề không chỉ nằm trong phạm vi nghệ thuật thuần tuý.
Khi những “Ô mai”, “Bến lạ” của Đặng Đình Hưng, “Bên kia sông Đuống”, “Men đá vàng” của Hoàng Cầm, “Bóng chữ” của Lê Đạt, “Cổng tỉnh”, “Mùa sạch” của Trần Dần... ra đời, người đọc tự hỏi: Những ngòi bút đã bao năm tháng âm thầm chịu khổ nạn, âm thầm tôi luyện để rồi đưa ra cho chúng ta có vậy thôi sao?
Điều đáng ghi nhận là sự im lặng đối với Trần Dần. Không phải vì kỳ vọng đối với ông là lớn nhất mà vì nỗi thất vọng đối với ông là rõ rệt nhất. Cái người được thì thào nhiều đến thế, được các đồng chí của mình vì nể đến thế (trên trang bìa một bản thảo “Ô mai” của Đặng Đình Hưng có lời đề tặng viết tay: “À TD, mon maitre”), và bây giờ được Tiền Vệ coi là nhà thơ hàng đầu của xứ sở, những tác phẩm “nằm” nay được dựng dậy đã không gây ra một chấn động thẩm mỹ nào như lẽ ra phải có.
Ông đi quá xa và quá nhanh trên lộ trình sáng tạo chăng? Người đọc quá ngu dốt không thể hiểu được công trình sáng tạo kỳ vĩ của ông chăng?
Có lẽ đó là quan điểm của một số nhà phê bình nào đó được trang bị cặp mắt xanh chứ không phải của chúng tôi, những độc giả tầm thường đã quen biết ông đôi chút, yêu mến ông đôi chút, kỳ vọng ở ông đôi chút. Chỉ đôi chút thôi vì chúng tôi muốn được yêu mến ông trên văn bản, thán phục ông trên văn bản chứ không phải qua các giai thoại.
Hoặc giả người đọc đã biết ông ít nhiều qua “Nhất định thắng”, “Người người lớp lớp” và thấy rằng Trần Dần của “Cổng tỉnh”, “Mùa sạch”- cả của “Jờ joạcx” nữa - dẫu hình thức có tân kỳ hơn cũng vẫn là Trần Dần của “Nhất định thắng”, “Người người lớp lớp” xưa kia.
Mà “Nhất định thắng” hay “Người người lớp lớp” rõ ràng là giá trị nghệ thuật chẳng nhiều nhặn gì, dù nhìn ở góc độ nào đi nữa.
Chúng tôi không dám nhận là có thể “đọc xuyên qua được những trang bản thảo” của ông như một bài viết về ông trên Tiền Vệ, nhưng chắc chắn ông không đóng vai trò nào trong những giày vò trăn trở của chúng tôi, ông cũng chưa bao giờ là tấm biển chỉ đường cho lớp hậu sinh trong bóng hỗn mang của đời sống tinh thần xứ sở, ngay cả khi chúng tôi có thể đọc ông trọn vẹn.
Dứt khoát thơ ông không phải là thứ thực phẩm mà nền văn học của chúng ta đói khát, không phải là thứ ánh sáng cuối đường hầm của hành trình khám phá và nhận diện. Mà như vậy thì việc ông được kính trọng và bị từ khước cũng không có gì khó hiểu.
Ông được kính trọng vì nhân cách và bị từ khước vì văn cách. Không thể đem nhân cách cầu chứng cho văn cách trong bất cứ trường hợp nào và ngược lại cũng vậy. “Nhân cách của một nhà văn là văn cách của anh ta” là một cách nói, còn trong hầu hết các trường hợp cụ thể, khi bàn đến nhân cách hay văn cách là chúng ta lại lôi giai thoại vào cuộc và che phủ văn bản trong một màn khói xúc cảm chẳng dính dáng gì đến nghệ thuật.
Dẫu sao, ông cũng đã có được chữ ký của mình và có cả một số tín đồ – mà ở xứ ta, việc trở thành một đấng “giáo chủ” không đến nỗi khó khăn lắm – trong số đó có thể có người xuất sắc hơn ông, đôi khi xuất sắc hơn ông chỉ vì không cực đoan như ông.
Tôi tự nhận mình thuộc loại “không hiểu” Trần Dần nếu cứ tin vào những giai thoại về ông và sau đó đối chiếu với những gì được đọc. Nhưng có lẽ ông không phải là một tác giả “vượt ra mọi cách” như một lời tán tụng ông, mà ông có cách của ông – cái cách ấy cũng không phải là chưa hề có trong lịch sử văn học, hơn nữa lại dễ bắt chước.
Có vẻ như ông đang là lời biện hộ đáng ngờ cho một lối làm văn chương tự nhận là duy mỹ, chỉ có chức năng giải trí, sau khi các tác giả của lối làm văn chương ấy đã kiêu hãnh tẩy rửa mọi chức năng khác ra khỏi tác phẩm, nhân danh tinh thần hiện đại và hậu hiện đại.
Tôi e rằng bản thân ông lúc sinh thời không hề nghĩ như vậy và việc coi văn chương chỉ như một trò chơi chính là phản lại ông.
Nhưng dù sao tôi cũng đã nhận là mình không hiểu được cái “khối khổng lồ” có thể “vượt ra mọi cách” ấy! Một thiên thể vượt ra khỏi tầm nhìn của mọi loại kính viễn vọng thì hoặc là thiên thể ấy ở quá xa chúng ta, hoặc là thiên thể ấy không tồn tại!
VĂN HOÁ CHỬI
Ngày 17 tháng 10 năm 2023
( Hà Sĩ Phu)
***
Sau khi đưa bài của Giáo Thứ, qua trang Sao Mai, tôi lại đọc được bài của Hà Sĩ Phu mà GT có nói đến. Xin bổ sung luôn vào đây.
Tôi đã định tiếp tục công việc của các tác giả trên bằng cách đi tìm câu trả lời cho mấy câu hỏi :
1/ liệu có thể nói chửi là một thứ văn hóa? Khi ấy chúng ta phải định nghĩa lại về văn hóa như thế nào?
2/cái gọi là văn hóa chửi như thế này nói gì cho ta thấy gì về người việt?
Nhưng vừa mở google thấy ở đấy đã có dăm bảy chục bài về vấn đề chửi, đành xin rút lui. Trong bụng chỉ còn hy vọng có bạn nào đó sẽ làm công việc tổng kết thú vị này
--------------
Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hoá nào nghiên cứu về cái sự “Chửi” nhỉ? Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở Từ điển Lạc Việt năm 2002, tra hú hoạ chữ Chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính, tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm thì có một chữ Chửi đơn giản là cùng.
Tôi nhầm! Các từ về Chửi xếp đầy một trang màn hình!
Này là Chửi mắng, Chửi bới, Chửi đổng, Chửi nhau, Chửi rủa, Chửi thầm, Chửi thề, Chửi tục! Lại còn Chửi bâng quơ, Chửi vu vơ, Chửi thậm tệ! Chưa hết, có cả Chửi bóng Chửi gió, Chửi chó mắng mèo, Chửi như tát nước, Chửi như vặt thịt, Chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ Chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng Anh tương ứng. Hoá ra người Anh người Mỹ họ cũng chua ngoa, cũng điên tiết gớm chứ đâu có vừa (nhưng các “đế quốc to” ấy nhất định thua xa mình về cái khoa Chửi, kể cả Chửi đáng khen và Chửi đáng chê).
Cuốn từ điển còn thiếu một khái niệm Chửi tối quan trọng: Chửi như mất gà! Rất may, tìm mãi mới thấy cụm từ Chửi này có trong Từ điển Việt Hoa của Khổng Đức.
Nhưng rốt cuộc thì từ điển gì, chữ nghĩa gì cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi.
Khoan hãy tìm hiểu vì sao Gà lại giữ vị trí quan trọng trong khoa Chửi của dân An Nam mình đến thế. Tôi hãy phác qua vài nét nhân thân bà cô ruột, tức cuốn từ điển sống của tôi về Văn hoá Chửi. Dòng họ nhà tôi, từ bố tôi trở về trước nghèo lắm. Mấy đời chỉ là ông đồ dạy chữ nho, ông chú ruột tôi mới sáu tuổi đã bị đem cho một nhà thờ đạo vì ông bà tôi không sao nuôi nổi. Cô tôi đương nhiên không được học hành gì, sớm được gả cho một anh thợ cày cũng nghèo kiết xác, là ông cậu tôi. Cậu tôi chẳng may mất sớm, để lại cô tôi goá bụa khi chưa đầy hai mươi với một đứa con gái chưa đầy ba tuổi. Chỉ một đôi quang thúng cũ nát, lèo tèo mấy quả na quả bưởi, mấy chiếc bánh đa, bánh gai…, hoặc mấy mớ rau, con cá, bà đèo đẽo đi khắp chợ Hồ, chợ Gôi, chợ Ngo, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Cẩm Giàng, chợ Núi (tức núi Thiên Thai)… trên dưới mười cây số. Áo xống nhuộm bùn (hồi trước các cụ gọi chiếc váy là xống), vá chằng vá đụp, làm chỗ cư trú lý tưởng cho lũ chấy rận. Lúc nào nghỉ chợ là bà lại đem áo xống ra bắt rận, tuốt trứng lép bép và cắn rận đôm đốp. Nhưng người cô nghèo khổ ấy thương lũ cháu, thương chúng tôi lắm. Cô cho chúng tôi cái bánh, quả na mà chậm ăn là cô chửi cho mất mặt, à ra đều mày khinh cô nghèo mày không ăn hử? Đến năm tôi đã là giảng viên đại học (chả gì cũng gọi là trí thức xã hội chủ nghĩa) mà mỗi lần về thăm cô vẫn cho tiền, này thằng Tụ, cô cho mấy đồng cầm đi mà tiêu. Thương cô lắm mà vẫn phải cầm, chứ đợi cô chửi cho rồi mới cầm ư?
Nhưng Chửi cũng ba bảy đường Chửi. Bà chửi thương, chửi yêu thì chỉ chửi “nôm” thế thôi, chứ không có bài. Khác hẳn những khi định hướng vào “kẻ thù”, là những kẻ ăn không ăn nảy của bà, vu oan giáng họa cho bà, cậy quyền cậy thế chèn ép lấn át bà (kiểu như bây giờ ta gọi là vi phạm quyền dân chủ ở cơ sở ấy mà) thì vũ khí Chửi của bà tung ra đầy tính kỹ thuật, bài bản hẳn hoi và đầy sức lôi cuốn. Một ngón võ thật sự.
Hôm ấy bà đi chợ về muộn. Chuẩn bị nấu cơm chiều, vét niêu cơm cháy, vừa ngô, vừa khoai được một bát đầy hú hụ, bà cất tiếng “chích chích chích chích”, “pập pập pập pập” gọi mấy con gà mà bà đã chăm chút cả năm để chuẩn bị ăn Tết. Lũ gà quen tín hiệu đã tề tựu ngay tắp lự. Chờ mãi vẫn không thấy con gà mái nâu, đang ghẹ, béo nhất đàn. Bà bổ đi tìm quanh, “điều tra” khắp vườn, khắp xóm. Không thấy. Vẻ mặt bà hằm hằm, mắt bà chợp chợp, tôi biết cơn giận trong bà đã chất chứa đến nhường nào. Nhưng bà lẳng lặng đi nấu cơm. Hai mẹ con bà ăn cơm xong đâu đấy. Mọi nhà đã lên đèn. Tôi nằm chơi trên cái chõng tre giữa sân.
Đúng lúc làng xóm đang yên tĩnh, ổn định, thì bài trường ca bắt đầu.
Hình như trời phú cho những người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội một cơ quan phát âm, đúng ra là cơ quan phát thanh, có độ vang đủ phủ sóng khắp “địa bàn” cư trú. Phần giao đãi của trường ca mất khoảng mười phút, nhưng cũng đủ cho việc đặt vấn đề. Người nghe đã kịp nhận ra cuộc chửi liên quan đến vụ việc gì, bà nghi ngờ cho ai. Sau khi đã khu trú được vấn đề và đối tượng (tất nhiên bà chẳng cần gọi tên chúng ra), bà vào phần chính của việc chửi bới. Bà mạt sát đối thủ bằng những tư liệu rút ra từ gia phả, án tích, dư luận; bà chứng minh tội phạm bằng những chứng cứ và suy luận mà bà đã quan sát và thu thập được; và cuối cùng là phần hình phạt. Bà phạt kẻ bị tình nghi phạm tội bằng phương pháp rất nhân đạo là cho ăn và cho uống, thực đơn gồm toàn những thứ sống sít từ cơ thể thiên nhiên của bà. Thì bà còn có gì khác ngoài cái vốn tự có ấy?
Toàn bộ “cáo trạng” từ việc điều tra, luận tội và xử phạt bà làm độ nửa giờ là xong. “Phiên toà” kiểu này có cái “hay” là không cần mời ai đến dự mà vẫn xử được công khai. Thế mới biết kẻ ở thế yếu thì cứ phải “phát-xít“ thôi. Vô chính phủ cũng là một cực của phát-xít, nhưng cái phát-xít của bà cô tôi vừa đáng yêu, vừa đáng thương, lại vừa đáng tủi làm sao!
Bà “viết” văn xuôi theo lối biền ngẫu, rất nhiều đoạn rập theo một công thức như lối viết báo cáo hoặc xã luận của những anh không chịu đổi mới ngày nay. Văn xuôi nhưng lại có vần như thơ (có thể đây là tiền thân của loại thơ văn xuôi bây giờ đấy nhá!), lại có lên bổng xuống trầm như nhạc.
Đặc biệt, vô cùng đặc biệt là đoạn cao trào. Tôi nghe một lần là nhớ suốt đời.
Đoạn ấy thế này: “… Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, thì bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l…, rớt l… của bà đây này (lúc này bà khẽ rướn người lên, hai đầu ngón tay khẽ nhúm chiếc váy đụp nâng lên phía trước, tuy đứng một mình mà bà làm như đang diễn thuyết trước đám đông người). Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à? Cứ ra mặt với bà xem! Bà thì cứ… dứt cái lông l… thứ tám, bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn còn thừa cái nút hậu!...”. (Cái sinh lực nữ tính mới đầy uy lực làm sao!)
Lạ chưa? Cái lông thứ tám? Vậy là trong cái đám lôm xôm ít được thấy ánh sáng văn minh ấy cũng phải có trật tự, ngôi thứ hẳn hoi (cứ như trong trại lính hay trong triều đình xôi thịt vậy)! Không biết cái ngôi thứ này là do chúng cọ xát với nhau mà phân định hay do bà phải đánh số để tiện việc quản lý?
Để ra quân, bà chưa cần cử các ngôi vị thứ nhất, thứ hai, thứ ba trang trọng làm gì, mà mới dùng cái “thằng” thứ tám, thậm chí chả cần cả “thằng” thứ tám nữa, nên bà mới tạm chẻ nó làm tư (khiếp thật, xưa nay người chi li lắm cũng chỉ chẻ sợi tóc làm đôi là cùng). Còn ở trận tuyến bên kia thì bà không thèm chấp cái bọn ăn cắp gà, không thèm trói chúng cho bẩn… cái dây trói của bà, mà lôi cổ hẳn cái ông tổ năm đời mười đời nhà nó ra (bọn này về chầu ông… vải từ lâu rồi mà bà vẫn không tha, vì chính chúng đã khai sinh ra cái lũ ăn cắp gà vô liêm sỉ này). Binh lực của bà đã tự giảm đi bấy nhiêu lần, binh lực của địch cho phép tăng lên bấy nhiêu lần, vậy mà vẫn chưa cân sức: cái dây trói vẫn quá dài so với cái cổ bự của những ông tổ năm đời mười đời kia, trói cẩn thận đâu vào đấy rồi mà dây vẫn còn thừa nhiều quá, lại phải buộc thêm một “múi” nữa cho dây đỡ luề thuề, tức là phải buộc thêm cái nút hậu. Tương quan địch ta chênh lệch như thế thì chúng còn làm sao dám ra mặt với bà được nữa, chứ nói gì đến lên mặt, giở thói kiêu ngạo cổ truyền của chúng trước bàn dân thiên hạ?
Như thế, bản trường ca đã dùng một “thi pháp” so sánh, tương phản đầy ấn tượng! Thiết kế một bài Chửi khoa học và tinh tế như thế thì các bậc thâm nho, hay các viện sĩ khoa học mọi thời đều xin bái lạy.
Thiên nhiên sinh ra muôn loài vốn đã tài tình, xã hội loài người tự nhiên cũng tài tình như thế. Cứ phải tự cân bằng, cứ phải tạo lấy cái hợp lý để cân bằng lại cái vô lý. Đấu tranh sinh tồn mà sinh ra cả.
Một lần, đọc bài thơ của một nhà thơ trẻ miền Trung, tôi gặp một tứ thơ độc đáo: “Trong tấn tuồng đời bọn bất lương đã giành đóng hết các vai đạo đức mất rồi”! Bảng phân vai chỉ còn các vai phản diện, xấu xa, mà những người bị trị, những người lương thiện, bao giờ cũng chậm chân, đành phải nhận đóng. Không nhận những vai ấy cũng không được. Đã là tuồng đời thì anh không đóng cũng không được, “lẩn tránh” cũng là một vai của tuồng đời chứ đâu có thoát.
Khi những kẻ ăn cắp gà lại chi phối luật pháp, lại độc chiếm hết diễn đàn để giảng đạo đức (tất nhiên là đạo đức giả), thì người mất gà đành phải chửi thôi. Những phụ nữ chịu nhiều tầng ràng buộc nhất chỉ còn cách tự vệ ấy để quyết thực hiện quyền ngôn luận, “tự do báo chí” của mình.
Bài Chửi độc đáo kia, nghe tưởng cay độc quá, nhưng xem kỹ lại thấy vẫn nhân đạo. Bà vẫn mở đường: nếu mày không sửa chữa thì bà mới làm như thế, như thế!
Đấu tranh sinh tồn là cuộc “nội chiến” muôn đời. Đã là cuộc chiến phải có vũ khí, phải có binh pháp. Bọn thống trị khôn ngoan bao giờ cũng lo xa, tước hết vũ khí vật chất và tinh thần của đám bị trị. Nhưng trời sinh voi thì trời sinh cỏ. Bị lột trần trụi thì chính cái trần trụi biến thành vũ khí.
Những giá trị thật mà bị dè bỉu (hoặc giả vờ dè bỉu), đẩy xuống dưới cùng, chính là tiền đề để nó bật lên thành vũ khí, xấn vào tận mặt kẻ làm bộ khinh rẻ nó, cái “Yoni” của các bà chính là một phẩm vật như thế. Trong võ cổ truyền hay Judo, chính kẻ ở dưới mới chuyển được sang thế thượng phong để chơi ngón “bốc”, ngón “quật”, ngón “ném”. Cho nên, trong văn hoá, kẻ nào đẩy những giá trị cao quý xuống tận đáy chính là tự chuốc lấy diệt vong.
Chửi là vũ khí của người nghèo bất khuất, người yếu bất khuất. Kẻ mạnh (về lực) hoặc kẻ phi nghĩa mà chửi thì nhạt thếch, sẽ thành tàn bạo, thô tục, thành lố bịch ngay. Trái lại, dân tộc nào, tầng lớp nào sức sống dai dẳng nhưng bị “yếu kinh niên” sẽ có khả năng mài rũa vũ khí Chửi của mình trở nên hoàn thiện.
Trong môn Chửi, tên tục của hai “sinh thực khí” có một vị trí độc đáo.
Cái Linga và cái Yoni đã sinh ra loài người thì khi con người bị đẩy vào tư thế trần trụi, nguy nan không lối thoát, hai thứ ấy lập tức phải đứng ra đương đầu cứu viện, chiến đấu, với tên thật của nó. Cửa sinh, cửa tử, cũng là cửa thoát. Vậy thì: Yoni-Linga muôn năm! (Khẩu hiệu này đáng ra phải hô bằng tên thật).
Hà Sĩ Phu bên tượng linh vật Yoni
Khi dùng cái phương tiện bề ngoài có vẻ rất giống nhau ấy, người lương thiện và thằng khùng chỉ khác nhau ở cái mục đích, vì lẽ phải hay không vì lẽ phải.
Đành rằng có chửi cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái Chửi đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lý. Lương tâm và công lý sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những CON GÀ VÀNG nặng hàng chục tấn, và trả lại cho đời, cho dân những công bằng lớn lao hơn. Ý nghĩa văn hoá của sự Chửi chính là ở đó.
Cụ bà Nguyễn thị K., một công dân vô danh trong xã hội, người cô ruột xấu số đáng thương và đáng quý ấy là cuốn
từ điển sống của tôi, là một khối văn hoá vừa “vật thể” vừa “phi vật thể”. Trong cuốn từ điển Chửi ấy, nếu thấy cần bổ sung thì có lẽ chỉ cần ghi thêm khái niệm “Chửi Chữ” nữa thôi.
Thưa cô, cháu học hành cả đời, hôm nay mới nhận ra cô thì cô không còn nữa.
Cháu thèm được cô cho một chiếc bánh gai và lại chửi cho một câu như những ngày nào tấm bé .
19.4.2005
Nguồn: Fb Nguyễn Thị Khánh Trâm
NHỮNG CẢNH BÁO CAY ĐẮNG
Ngày 19 tháng 10 năm 2023
Khác với thông lệ, một hai chục năm gần đây, giải Nobel văn học bị nhiều người kêu rêu, không chấp nhận và thậm chí là phản đối. Năm 2004 là trường hợp Elfriede Jelinek (Áo), năm 2009 là trường hợp Herta Muller (Đức). Sở dĩ hai tên tuổi này bị “đặt thành vấn đề” không phải do họ viết dở – xưa nay không thiếu tác giả được giải Nobel xong là rơi vào quên lãng – mà cái chính là bởi cả Jelinek lẫn Herta Muller có nhiều tư tưởng lạ.
Có lần nhà văn Áo tự nhận mình là người chuyên đi dọn những thứ rác rưởi trong cảm xúc: “Có ai chịu làm công việc bẩn thỉu đó đâu? Tôi thì lại xem như được số phận giao phó”. Có lẽ vì thế Vatican có lần đã gọi Jelinek là người đàn bà điên loạn, hư vô.
Một hướng suy nghĩ tương tự cũng thấy ở Herta Muller. Trong tác phẩm của bà, con người được miêu tả như là họ bị nhốt trong ác mộng. Họ là nhân chứng của một thế giới bị thống trị bởi hận thù. Bằng các nghi lễ và chuẩn mực giả dối, thế giới này đối xử với họ tàn ác, vô cảm.
Muller quan niệm: “Tôi không có bổn phận gì hết đối với văn học. Những gì tôi viết là để hoàn thành sứ mệnh đối với bản thân tôi”.
Thủ tướng Đức A. Merkel thì bảo tác phẩm của Herta Muller là “bằng chứng về nỗi sợ hãi nhưng cũng chứng tỏ một lòng dũng cảm phi thường”.
Một điều đặc biệt là thái độ của hai nhà văn này với xứ sở mà họ lớn lên. Họ thường sống cô độc, ít người biết tiếng.
Jelinek đã gây sốc cho chính đất nước quê hương, khi bà đay đi đay lại chuyện nước Áo trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Bà phát biểu vào năm 1980: “Áo là một quốc gia tội ác”.
Trường hợp Herta Muller hơi tế nhị một chút. Sinh ra ở Romania nhưng bà lại là người Đức và hiện sống ở Đức. Từ hoàn cảnh riêng, bà bảo “quê hương là thứ người ta không thể chịu đựng được mà cũng lại là thứ không buông tha người ta bao giờ”.
Với người có cách nghĩ cổ điển – luôn coi quê hương là một thứ khái niệm thiêng liêng – những phát biểu này chỉ gây những phản cảm.
Nhưng sự phát triển của lịch sử là thế. Nhìn chung cả giải Nobel văn học mấy chục năm nay, nhiều người có cảm tưởng nay là lúc những giá trị kinh điển, những đầu óc kỳ vĩ được cả nhân loại công nhận – cỡ như Sartre và Camus – không còn nữa.
Nhân loại đang quằn quại đi tìm những tư tưởng mới. Mỗi một tư tưởng mới mẻ này có phần độc đáo riêng của nó, nhưng nhìn chung, phần lớn giống nhau ở chỗ đều đi vào hướng nghịch thường. Nó gây sốc, bởi nó muốn vượt qua những giới hạn mà xưa nay người ta phải dừng lại. Nếu các tư tưởng cổ điển là thuộc về thần thánh, thì những tư tưởng mới nhiều khi có bộ mặt của quỷ dữ. Nó là cái người ta muốn từ bỏ mà không nổi.
Năm 2005, giải Nobel văn học được trao cho nhà văn người đảo quốc Trinidad là V.S.Naipaul. Trong lời phát biểu khi nhận giải, Naipaul chỉ cảm ơn nước Anh mà ông gọi là ngôi nhà của tôi, và Ấn Độ là đất nước của tổ tiên tôi. Lý do là, theo ông, nếu không có nước Anh, ông sẽ không hiểu được những gì xảy ra tại Trinidad. Khi có người hỏi ông sao không cảm ơn tổ quốc mình, ông bảo họ phải cảm ơn ông mới đúng, vì nhờ có ông mà người ta biết rằng có một xứ sở tên là Trinidad. Toàn cách trả lời mà giá như gặp phải dân mình thì no đòn!
Chung quanh con người hiện nay, thế giới cũng đang đi tới những quan niệm mà thoạt nhìn dễ cho là kỳ quặc, phi nhân đạo. Năm 1991, nhân dịp chiến tranh lạnh kết thúc, triết gia A. Glucksman (Pháp) đưa ra mấy điều tổng kết, trong đó cảnh báo: 1. Cái ác luôn ẩn chứa trong con người; 2. Cần phải luôn luôn hoài nghi về cái thiện, cần phải thừa nhận vĩnh viễn rằng thế giới là lộn xộn, có một nguy cơ hỗn loạn thường xuyên hiện diện. “Không có gì không thuộc về con người lại xa lạ với chúng ta cả”, Glucksman khái quát.
Nên nói ngay là cũng công thức này, nhưng một giáo sư đại học đồng thời là nhà văn, Umberto Eco, phát biểu một cách khác. Theo Eco, đang hình thành một hình thái mới của cái “ngã”, không còn chắc đặc và thống nhất nữa mà được cấu thành bởi tính cách vô chính phủ của các nguyên tử. Trở lại với Nietzsche, Eco giả định rằng nay không phải là thời của các siêu nhân mà là thời của những con – người – bên – kia – con – người. Tức nay là lúc con người tiến mãi về phía cái phi nhân. Một lời cảnh báo cay đắng!
Như vậy là Glucksman, cũng như Jelinek, Muller của giải Nobel, không đơn độc.
MẤY CÂU HỎI NHỎ
Từ mấy mẩu chuyện trên, quay về với đời sống trí thức xứ mình, trong đầu óc tôi trở đi trở lại những câu hỏi.
-- Có phải mọi dự báo đều có quyền tồn tại miễn nó đã được nghiền ngẫm một cách khoa học? Ai mà biết được sự vận động sẽ đưa nhân loại tới đâu?
-- Đến bao giờ chúng ta mới thực sự hiểu rằng tiêu chuẩn của chân lý không phải là sự chấp nhận của đám đông?
-- Cụ thể hơn, đến bao giờ những đầu óc ưu tú của cộng đồng mới được làm công việc thể nghiệm, rồi dự báo những xu thế sẽ tới của xã hội?
-- Chúng ta đã có những đầu óc ưu tú loại đó chưa?
-- Nếu chưa có thì làm sao để đào tạo? Mà với tình hình kinh tế và giáo dục như thế này, có đào tạo được không?
2013
ĐÁM TRẺ Ở TA ĐANG ĐƯỢC DẠY DỖ ĐỂ SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI LỚN
Ngày 21 tháng 10 năm 2023
--
Một khía cạnh của tính chất trung cổ
trong nền giáo dục hiện thời.
1/
Tại một số trường tiểu học, có đội cờ đỏ do các em lập ra, uy quyền bao trùm khiến cả các giáo viên đôi khi cũng phải sợ, nói chi là các bạn – đấy là tin tôi đọc được từ một hai năm trước.
Cũng qua tờ Tuổi trẻ năm ấy, tôi thấy một vị phụ huynh kể chuyện con bà ta muốn bớt tiền ăn quà để làm việc riêng.
Việc gì? Cháu cần nộp tiền cho bạn lớp trưởng, để bạn ấy khỏi báo cáo cô giáo, một lỗi nhỏ mà cháu vô ý phạm phải.
Còn chuyện trẻ con xin tiền để nhờ bạn làm hộ bài thì đâu tôi đã đọc được ở vài nơi chứ không phải riêng ở báo nào, và nhiều nhất là nghe trong câu chuyện hàng ngày.
Cùng với tuổi già, trong tôi bắt đầu xuất hiện và ngày càng thấy sống dai dẳng một con người thích cãi nhau với mình phản bác lại chính mình.
Trước các hiện tượng không quen, trong tôi như là có hai con người N và N’ thích nhiễu sự lật lại vấn đề và dông dài bàn thêm.
Lần này cũng vậy.
Khi N tôi phàn nàn về mấy việc nhỏ nói trên -- cho là nó miêu tả không đúng bản chất nhà trường ở chế độ ta -- thì N’ nói ngay, chúng ta có một xã hội thế nào thì trước sau nó phải phản ánh vào trong nhà trường chứ còn sao nữa.
N’. còn nói thêm:
-- Có cái chết là người ta không thấy đấy là điều đáng lo ngại và tìm cách trừ bỏ, mà lại còn tự hào là đã đưa được các tư tưởng đang chỉ đạo xã hội vào trong nhà trường, để con trẻ sớm được tiếp xúc với các vấn đề mà sau này chúng phải đối mặt.
Nó là cả một nguyên tắc chi phối nền giáo dục mất rồi, hãy đi mà cãi nguyên tắc đi, trước khi phê phán các hiện tượng thực tế.
Đã đến nước này thì N tôi đành chịu.
2/
Tôi ít xem TV, nhất là các chương trình văn nghệ, nhưng cũng đủ có được cái nhận xét là dạo này dân nhà đài rất hay đưa trẻ em ra biểu diễn.
Chuyện quảng cáo, trẻ dài mồm ra mà khen bát mì ngon, hoặc từ xa chạy sầm sầm vào nhà mở tủ lạnh lấy kem ăn rồi thè lưỡi ra trước mặt người xem truyền hình.
Chuyện ca nhạc, tấu hài ...như tối qua 19-3 -2017, thấy ở một chương trình có một em nhỏ môi son má phấn con mắt ra vẻ lẳng lơ đưa tình khi đóng vai Thị Màu lên chùa.
Do chỗ chuyện văn nghệ này cũng dính tới chuyện nhà trường nói trên, nên câu chuyện giữa hai anh bạn N và N’ trong tôi lại tiếp tục:
-- Làm thế trẻ nó hư đi ! Vả chăng ta thường nghe nói ở nhiều nước người ta cấm khai thác lao động trẻ em. Đây chẳng phải là một hình thức bóc lột lao động với các em hay sao?
-- Cũng đã có người nói thế đấy. Người ta bảo các ông ở truyền hình bí các tiết mục quá mới nghĩ ra cái chiêu trò này để câu khách, và các nghệ sĩ sống quanh đài thì cứ có ai đặt tiền là làm. Khi có người phê phán như anh vừa nói thì các ông ấy bảo đây là gia đình người ta thích thế cơ mà.
-- Tôi phản đối. Người dân người ta dại dột không biết, mình là người hướng dẫn dư luận mình phải bảo người ta chứ.
-- Anh chẳng biết gì về con người thời nay cả. Không có thời nào như thời nay, cả nước rủ nhau rượu chè, cờ bạc. Hẳn anh nhớ là trong các gia đình thời xưa, các bà nội trợ ăn theo nhưng rất sáng suốt, ai rủ rê chồng bà ta đi rượu chè đấu hót thì các bà ấy đến tận nơi các bà ấy chửi cho ủng mả. Nay thì các hãng bia tha hồ lên TV quảng cáo bia và trong các đám nhậu người ta thi nhau đổ rượu cho nhau, chẳng biết khi nào là hồn nhiên và khi nào quyết chí làm hại bạn để bạn cũng hư như mình.
Lại còn cái chuyện chơi sổ số điện tử hàng tỉ đồng nữa chứ. Anh thử lên tiếng than phiền đi xem có ai người ta nghe không hay chỉ chuốc lấy tiếng chê cười mình là người lạc hậu.
-- !!!
3/
A. Ja. Gurevitch là một nhà nghiên cứu văn hóa người Nga chuyên về trung thế kỷ.
Tôi rất thích tác giả này vì đọc ông chẳng những tìm thấy những hướng dẫn để đi vào con người Việt Nam từ XIX về trước mà còn giúp tôi hiểu thêm về dân mình hôm nay.
Trước vấn đề tuổi thơ trên đây vừa nói -- khi tự đặt cho mình câu hỏi “Thế đây có phải là cả một quan niệm về giáo dục của thời trung cổ đang sống lại mạnh mẽ hay không?" – tôi tìm vào Gurevitch và được ông cho biết :
“Thời trung cổ người ta xem đứa bé như là một người lớn còn bé và người ta không đặt ra vấn đề nào cả về sự phát triển và sự hình thành tính cách con người .
Cho tới thế kỷ XII, XIII, nghệ thuật tạo hình mô tả trẻ em như là những người lớn kích thước thu nhỏ lại, ăn mặc như người lớn và kết cấu thân hình như giống như người lớn. Trong giáo dục, người ta không tính đến lứa tuổi và đám trẻ thì được dạy dỗ như là những người lớn. Trò chơi, trước khi trở thành trò chơi của trẻ em, đã là trò chơi của các kỵ sĩ. Trẻ được xem như những người bạn tự nhiên của người lớn.”
Và Gurevitch dẫn lại một câu trong cuốn "Trẻ và đời sống gia đình trong các thể chế cũ" của học giả Pháp F. Aries, in ở Paris 1960, ông này cho rằng thời trung cổ, người ta không biết đến phạm trù trẻ em như là một trạng thái đặc biệt xác định về chất của con người.
Văn minh trung cổ theo F. Aries, là văn minh của những người lớn.
Đoạn vừa dẫn được Gurevitch viết trong cuốn "Những phạm trù văn hóa trung thế kỷ", ở chương cuối "Đi tìm nhân cách con người", đây tôi dẫn theo trang 333 trong bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến do nxb Giáo dục cho in 1996, -- trong bản tiếng Việt anh Hiến gọi là trung cổ nhưng tôi thấy nên gọi là trung thế kỷ cho gần với nguyên văn hơn.
Những tư tưởng nói trên cũng được Gurevitch nhắc lại trong mục từ “tuổi thơ” (detstvo) ở cuốn "Từ điển văn hóa trung thế kỷ" bản tiếng Nga in ra ở Moskva Rosspen 2003, do chính ông làm chủ biên.
4/
Tôi đã phần nào phác họa được một hai khía cạnh trung cổ trong nền giáo dục VN hiện thời.
Có hai khía cạnh cần lưu ý thêm.
MỘT là xưa nay nói đến trung cổ người ta thường nói đến sự trì trệ.
Trong cái đêm trường trung cổ ấy, nhân cách con người bộc lộ ra thế nào?
Đây là câu trả lời của Gurevitch;
- con người thời ấy được tạo ra theo hình ảnh của Chúa và giống với Chúa (tr 322 bản Hoàng Ngọc Hiến nói ở trên)
- mặt khác, con người là nô lệ của Thượng đế (tr323)
- con người không ý thức được bản thân mình như một cá tính tự trị, nó thuộc về chỉnh thể và phải thực hiện cái vai trò được trao cho nó trong khuôn khổ của chỉnh thể (tr 326)
- trong linh hồn con người có cuộc đấu tranh của những nhân tố khác nhau mà ngọn nguồn của chúng lại ở ngoài nhân cách. (tr 331).
HAI LÀ, nhìn chung trên phạm vi thế giới, hiện nay nhân loại đã bước sang thời đại khác. Với sự có mặt của văn minh phương Tây, sinh hoạt người Việt từ thế kỷ XX về căn bản đã bước sang thời hiện đại.
Sự có mặt của các yếu tố trung cổ hôm nay là lạc lõng, nó phá hoại sự nhất trí của con người và xã hội.
Nó làm cho bước đường hiện đại hóa -- mà chúng ta đinh ninh là mình đang tiến tới -- ngày càng trớ trêu khó thực hiện hơn.
--
Viết và đã đưa trên Fb này tháng 3-2017
VĂN NGHỆ & BÃO LỤT. VĂN NGHỆ & XÃ HỘI DÂN SỰ
Ngày 27 tháng 10 năm 2023
Mời các bạn cùng đọc lại hai đoạn ghi tôi đưa trên Fb này từ sáu năm trước và đối chiếu với tình hình mưa lớn năm nay 2023 xem có phải mọi chuyện luôn luôn lặp lại hay không
I
Đã đưa trên Fb này ngày 5—11—2017
--
Lũ lụt ở miền Trung. Cái trớ trêu của tình thế là trong khi sự tàn phá của thiên nhiên khủng khiếp hơn bao giờ hết thì những cảnh vui vầy hưởng lạc trên quy mô lớn vẫn diễn ra đều đều trên cả nước.
Dừng tất cả những trò vui ấy lại ư?
Không chắc là đã có lợi gì hết. Sự nhẫn tâm ở chúng ta đã trở thành có lý, nó giống như kẻ tự chọc mù đôi mắt vì biết rằng mọi cố gắng đều vô ích hoặc chỉ là "gãi ghẻ".
Lỗi lầm của chúng ta đã bắt đầu từ lâu lắm rồi,'
Thứ nhất, nó bắt đầu từ những khinh thường không hình dung nổi những biến động của môi trường trong thế giới hiện đại. Ở miền Bắc trước 1975 từng có khẩu hiệu " vắt đất ra nước thay trời làm mưa" "nghiêng đồng đổ nước ra sông". Đến bây giờ người ta vẫn tự hào vì những trạm thủy điện rải rác dọc miền trung và khi cần sẵn sàng xả lũ giết dân để cứu trạm.
Thứ hai, nó chỉ là hậu quả của cái sự không chịu phát triển bao trùm suốt thời hậu chiến.
Có phải riêng xứ ta chịu tác động thiên nhiên đâu.
Nhưng tôi dự đoán, không xứ sở nào lại đang quằn quại trong sự tàn phá của lụt bão như xứ ta hôm nay.
Vì họ đã chuẩn bị.
Vì họ có những phương tiện cứu hộ nhanh hơn và chắc chắn sẽ hồi phục nhanh hơn.
Cứ đảo ngược chuyện xứ người là sẽ ra ngay chuyện xứ ta chứ gì nữa.
Mỗi khi chứng kiến cảnh đối nghịch, trong đầu tôi thường nhớ lại bài tứ tuyệt sau của Đỗ Mục đời Đường (tôi chụp từ trang mạng THI VIỆN)
泊秦淮
煙籠寒水月籠沙,
夜泊秦淮近酒家。
商女不知亡國恨,
隔江猶唱後庭花。
Bạc Tần Hoài
Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng "Hậu đình hoa".
Dịch nghĩa
Khói lan toả trên nước lạnh, ánh nguyệt lan trên cát
Buổi đêm đậu thuyền tại bến sông Tần Hoài cạnh quán rượu
Cô gái trẻ không biết đến nỗi hận mất nước
Ở bên kia sông còn hát khúc "Hậu đình hoa".
Rồi tôi lại nhớ một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí Tiên Phong của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên "Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc."
Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:
.....
Ta về gác, gió cài then, cửa rú
Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ
Kèn nhịp xa điệu múa vô luân
Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm
Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc
Kiếp người tang tóc
Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương
Một nửa kêu than ma đói sa trường
Còn một nửa lang thang tìm khóai lạc
Nói vậy song tôi vẫn thầm nghĩ rằng so với mọi thời, con người thời nay (trong đó có mình) thực đã hỏng quá rồi, con đường trở lại với sự tử tế xem chừng khó lắm.
Tôi có anh bạn Lê Văn Viện cùng học với nhau hồi Chu Văn An 1958-1961. Sau khi học tiếng Anh khóa bốn năm Đại học sư phạm anh chuyên đi làm phiên dịch cho các chuyên gia phương Tây. Hôm nọ anh kể có lần ở Quảng Ninh, đi đâu về anh chợt thấy các bạn chuyên gia nhốn nháo bàn bạc, có người khóc thút thít. Hỏi làm sao, họ bảo mày không thấy à rừng đang cháy mà chúng mình thì bất lực. Anh Viện nói thêm, nhiều lần chứng kiến sự xúc động đó ở những bạn nước ngoài chứ không phải chỉ một lần.
I I
Đưa ngày 10—11—2017
--
Tôi vẫn cứ bị ám bởi nông nỗi chúng ta hôm nay-- nhất là giới văn nghệ -- giá lạnh trước nỗi đau khổ của đồng bào.
Tôi nhớ tới trường hợp Vũ Trọng Phụng.
Nhà văn được các giáo trình văn học tiền chiến chúng ta chê là tự nhiên chủ nghĩa đó, không chỉ là tác giả của những cuốn "Số đỏ", "Giông tố" mà còn là tác giả "Vỡ đê".
Ngô Tất Tố thì có tạp văn "Làm no hay cái ăn trong những ngày nước ngập"
Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài, hồi còn đăng trên "Hà Nội tân văn" của Vũ Ngọc Phan, là "Đi hộ đê".
Ở làng quê của mình, sau một trận bão, Nam Cao có chùm truyện "Mua nhà" "Thôi đi về" "Từ ngày mẹ chết"
Báo chí văn nghệ hôm nay hình như (?) không có bài nào như thế, có sức bùng nổ như thế và có khả năng trở thành bằng chứng của lịch sử tương tự.
Tại sao giới văn chương -- và các nhà sử học, xã hội học -- nói chung là các cây bút trí thức -- không viết về các sự kiện dân sự loại này, lý do nhiều người cho rằng trang sách thời nay không thể phản ánh kịp thời như báo chí và nhất là không thể cạnh tranh nổi với phát thanh truyền hình
Cách hiểu như thế không chỉ là để che đậy thói lười biếng mà còn tố cáo một sự thực: nay là lúc nhiều người chúng ta chỉ biết tới các giá trị đương thời mà không còn tin tưởng gì ở sức sống của cái hay cái đẹp thực thụ trong tương lai. Thật đáng xấu hổ khi nghĩ về phản ứng trước các sự kiện tương tự của các bậc thầy tiền chiến.
***
Chắc cũng nhiều bạn biết được tình thế bão lụt là do ảnh đưa trên mạng. May mà thói quen tò mò và thích hoạt động đã khiến cho nhiều nhà nhiếp ảnh nghiệp dư có được các bức ảnh và các đoạn phim giá trị.
Tôi đang định đặt ra câu hỏi TẠI SAO KHÔNG LÀM NHỮNG TRIỂN LÃM ẢNH VỀ SỰ KIỆN BÃO LỤT MIỀN TRUNG, nhưng rồi lại thấy nản ngay.
Giới quan chức văn nghệ thì chỉ lo làm theo những sự kiện cấp trên yêu cầu, họ còn đâu cái xúc cảm về các sự kiện thông thường loại này. Mà anh em mình thì cũng đã nản lòng hết, ai dám ho he tính chuyện xin phép để tổ chức những sự kiện như chúng ta đang nói.
***
Trong bài trước, tôi đã nói trước các sự kiện dân sự chấn động xã hội cứ xem nước ngoài họ làm thế nào rồi lật ngược lại là biết các làm của ta.
Đây là một bằng chứng tôi đã ghi nhận từ hơn ba năm trước
"Bài học từ trận lụt phố cổ Passau" là tên một bài viết in trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số ra 03/06/2014, tác giả là Võ Văn Dũng (nghiên cứu sinh ngành Đông Nam Á - Trường đại học Tổng hợp Passau, CHLB Đức).
Bài báo kể:
Passau (bang Bayern, Cộng hòa liên bang Đức) thành phố hơn 2.700 năm tuổi. Tháng 6-13, thành phố bị một trận lụt. Gần bốn tháng sau, nhà nhiếp ảnh Christoph Brandl từ Berlin đến Passau để phối hợp tổ chức một cuộc triển lãm kéo dài sáu ngày về trận lụt với phong cách “mở” hoàn toàn: mọi người dân có thể tham gia triển lãm tranh ảnh, vật dụng... liên quan đến trận lụt và thoải mái sáng tạo cách sắp đặt theo ý tưởng của mình.
Triển lãm diễn ra trên các tuyến đường đi bộ của phố cổ, gồm nhiều bức ảnh, những đôi ủng dính đầy bùn đất, la liệt cuốc, xẻng, áo mưa... Cuộc triển lãm tự do ấy đã thật sự gợi nhớ những ký ức vừa đáng buồn bởi những mất mát do thiên tai, vừa ấm áp bởi sự xích lại gần nhau hơn của cả cộng đồng.
Những hình ảnh về trận lụt tiếp tục được tờ Tin Tức Passau (Passauer Neue Presse) kêu gọi công chúng gửi về, kết hợp với những hình ảnh ngập lụt của thành phố láng giềng Deggendorf để thực hiện cuốn sách ảnh 2013 Hochwasser In Passau und Deggendorf(2013 Ngập lụt ở Passau và Deggendorf).
Sách bán chạy như tôm tươi, nhanh chóng được tái bản, một phần lợi nhuận được góp vào quỹ sửa chữa phố cổ. Điều thú vị là nhiều du khách đã mua cuốn sách này để chứng kiến hình ảnh một Passau chìm sâu trong biển nước và xác xơ sau lụt, bên cạnh một Passau cổ kính, bình yên trong những tập sách ảnh thông thường.
Trên đây là đoạn mở đầu cho bài viết của tôi trên blog cá nhân ngày 11-8-14 và ngày 10—11—2017. Mời các bạn ghé qua, nếu có thời gian và có chung những mối quan tâm như tôi.
CUỘC SỐNG BẮT CHƯỚC NGHỆ THUẬT
Ngày 28 tháng 10 năm 2023
Sau đây là một stt đã đưa trên blog này 7 năm trước 2016
--
Có một mẩu tin tôi đọc từ cuối 2015, nhưng cứ nhớ mãi.
Tin các báo: Trong phần chất vấn dành cho Thủ tướng phiên sáng ngày 17/11/15 tại Quốc hội, một đại biểu từ Tp HCM, ông Trương Trọng Nghĩa, nêu ra một nhận xét và đề nghị người đứng đầu chính phủ "giải thích thêm cho cử tri về việc này".
Nhận xét của đại biểu đó như sau :“Tham nhũng không giảm như các nghị quyết đã đề ra. Tham nhũng ngày càng tinh vi và có hiện tượng chi phối luật pháp và khi đó người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng chứ không phải là ngược lại”.
--
Cái hiện tượng nêu ra ở đây khiến tôi nhớ tới một tình huống trong cuốn “Alice ở xứ sở diệu kỳ” của nhà văn Anh L. Carrol (1832-1868).
Nguyên đây là câu chuyện về cô bé Alice chui vào lỗ thỏ để rồi lạc vào xứ sở trong mơ của Thỏ Trắng, uống chai nước và ăn chiếc bánh kỳ lạ, tìm cách mở những cánh cửa bí mật khóa kín, đối đầu với các bà hoàng hậu, và những lá bài ma thuật.
Theo một bài báo trên mạng của Trịnh Tố Uyên, khi viết thiên truyện này, “tác giả Amanda Craig tin rằng những nỗ lực không ngừng của Alice trong việc giải mã những quy luật kỳ dị, phi luân lý, và đi ngược lại với tự nhiên ở Wonderland sẽ có sự liên hệ với bất kỳ ai trong cuộc sống bình thường đã cảm thấy lạc lõng, bối rối, sợ hãi và chán nản. Cuối cùng, Alice là biểu tượng của chính chúng ta về việc làm thế nào để giữ vững lý trí trong một thế giới điên rồ.”
MỘT PHIÊN TÒA
Sau một hồi phiêu lưu trong thế giới giả tưởng, tới đoạn cuối cùng miêu tả trong truyện này, Alice ngẫu nhiên dự một phiên tòa trong cung vua: tòa xử một vụ ăn cắp bánh của hoàng hậu.
Ngẫu nhiên khi vua ra lệnh cho gọi nhân chứng thì chú thỏ trắng lại gọi ngay Alice.
Alice từ chối:
- Tôi đâu biết về vụ ăn cắp mà làm chứng.
- Đó mới là điều quan trọng.
Ý ngầm mà thỏ trắng không nói: chính là vì ngươi không biết ta mới cần ngươi.
Khi hoàng hậu nêu một lý do vớ vẩn để bảo Alice không được làm nhân chứng, vua quát hãy rời khỏi đây.
Alice nằn nì xin ở lại thì lại được chứng kiến một cảnh xử án không có nơi đâu.
- Vua: Hãy tiếp tục luận tội.
- Hoàng hậu: Tuyên án trước rồi sẽ luận tội.
- Alice: Ai lại tuyên án trước luận tội sau bây giờ, thật phi lý!
- Hoàng hậu: đem con nhỏ này ra chặt đầu ngay.
Khi bị tuyên bố chặt đầu, Alice mới như tỉnh cơn mê. Với câu nói cuối cùng “tất cả bọn ngươi chỉ là một bộ bài không hơn không kém”, giấc mơ của Alice cũng chấm dứt.
HIỆN TƯỢNG & XU HƯỚNG
Quay trở lại phần nhập đề bài này.
Cái tình thế xã hội mà ông Trương Trọng Nghĩa vừa miêu tả “người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng” cũng chỉ là một phần của tình trạng thế giới đảo ngược mà người ta quan sat thấy ở nhiều xã hội thời nay, kể cả ở ta.
Riêng ở ta thì nhiều người thuộc lứa tuổi tôi thường khái quát: nay là lúc xã hội loạn ly,
Cái hiện tượng “người lớn sợ trẻ con, thầy giáo sợ học trò, người tốt sợ người xấu, người ưu tú sợ kẻ bất tài” ngày một phổ biến cái nọ chuyển hóa vào địa vị của cái kia.
Người ta không biết giải thích làm sao. Người ta chỉ đành kêu trời.
Nhưng nói như Nam Cao, trời ở rất xa.
Người chống tham nhũng thì ngày càng ít đi mà người tham nhũng thì ngày một nhiều hơn.
Từ đây tới khi xảy ra tình trạng người tham nhũng nhiều xử kẻ tham nhũng ít, hoặc người tham nhũng có quyền lực xử kẻ tham nhũng mất quyền lực -- thời gian chắc chẳng bao xa.
Đằng nào thì cũng là những chuyện mà trong thế giới cổ điển nó hiếm hoi hãn hữu, nay lại trở nên phổ biến.
Điều đáng mừng là trong việc này nghệ thuật lại có vai trò tiên tri với nghĩa nghệ thuật đã dự báo trước.
Đó chính là nội dung của cái câu “Không phải nghệ thuật bắt chước cuộc sống mà chính ra là cuộc sống bắt chước nghệ thuật”, người nêu ra định đề này là Oscar Wilde (1854-1900).
Dù là cái thiên chức này của nghệ thuật còn đang là chuyện xa lạ ở VN, thì người ta vẫn mừng là nó đã có và nếu chịu khó đọc, chúng ta sẽ bình tĩnh hơn khi nhìn nhận hiện tượng trước mắt.
VĂN HỌC PHÁP ĐÌNH
Một mô-típ phổ biến của văn học nhiều nước, là cái tình tiết “con người phạm tội, họ phải ra tòa và công lý đã phải khó khăn ra sao để giải quyết”.
Từ những câu chuyện về Bao Thanh Thiên ở Trung quốc tới trường hợp cuốn "Tội ác và trường phạt" của Dostoievski, biết bao là cách xa diệu vợi.
Nhưng cả hai đều thuộc về một mảng văn học mà chúng tôi tạm gọi là văn học pháp đình.
Ở ta tuy ít nhưng không phải là không có
Ai đọc truyện cười VN, hẳn nhiều còn nhớ truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày!”
Làng kia có một tên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.
Một hôm nọ, Cải với Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện.
Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng.
Ngô biện chè lá những mười đồng.
Khi xử kiện, thầy lí nói:
- Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xoè năm ngon tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí khẽ bẩm:
- Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:
- Tao biết mày phải... nhưng nó lại phải... bằng hai mày!
Trong văn học hiện đại, tôi chỉ nhớ tới cuốn phóng sự “Trước vành móng ngựa “ của Hoàng Đạo. Còn từ sau 1945, thì lục mãi không nhớ, vậy nhờ các bạn tìm hộ.
Nhưng tôi vẫn tin chắc là ở ta hiện nay thứ văn học pháp đình này đâu có nằm trong sự quan tâm của các nhà văn nên dự đoán là ít chắc chẳng sai.
Vì ở ta hôm nay đến báo chí nói về các vụ kiện ở các tòa án ở cái mức và cái tình trạng mà ta vẫn thấy ở nhiều nước -- thứ báo chí đó cũng còn rất lẹt đẹt!
NGHĨ VỀ PHÊ BÌNH TRONG MỘT NGÀY VUI
Ngày 8 tháng 11 năm 2023
Trong báo cáo nhân dịp kỉ niệm 75 năm báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam ra số đầu tiên (1948-2023), tôi đã cố tìm mà không thấy những người phụ trách báo nhắc tới bộ phận phê bình văn học vốn tồn tại thường xuyên trên mặt báo.
Theo tôi đó là một điều đáng tiếc vì trong lịch sử báo chí hiện đại, phần phê bình nghiên cứu vốn mang nặng tính chất thời sự nên bao giờ cũng được các giới độc giả chăm chú tìm đọc.
Riêng ở nước ta phần phê bình lại là nơi để cấp trên của giới văn hóa tư tưởng thực hiện việc chỉ đạo khen chê cũng như xác định đường lối văn nghệ nói chung.
Trong lúc chờ đợi ngày ra mắt những công trình nghiên cứu tạm gọi là Lịch sử phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam cận hiện đại, thì việc chuẩn bị lẽ ra phải được làm một cách dày đặc hơn và thường xuyên hơn.
Trong hoàn cảnh ấy, sự ra đời cuốn sách “Phê bình văn học Việt Nam hiện đại – Lịch sử và chân dung” của Trần Đình Sử là một sự kiện đáng kể.
Vì tôi đau ốm, sáng 6-11-2023, anh Trần Đình Sử đã tới nhà riêng tặng tôi cuốn sách. Cùng đi có các bạn khác, Lại Nguyên Ân, Ngô Thảo, Đỗ Lai Thúy.
Nhân dịp này tôi đã trình bày hai điều ước của tôi đối với nghề nghiệp phê bình văn học.
1. Nhờ sự phát triển của Facebook, hiện nay có nhiều nhóm nghề nghiệp thường đã tập hợp lại để ra những trang riêng rất bề thế chuyên sâu về một nghề nghiệp nào đó.
Tôi cho là giới phê bình cũng cần có những trang riêng của mình để viết về nghề phê bình một cách thường xuyên hơn, đầy đủ hơn, vừa cập nhật các tin tức mới nhất, vừa là nơi trở lại với lịch sử phê bình và giới thiệu về đời sống phê bình ở Việt Nam trong quá khứ kể cả trong văn học nước ngoài.
Lâu nay chúng ta chỉ hay nghĩ rằng giới phê bình chỉ có việc viết về những người khác. Nay đã đến lúc giới phê bình phải viết về giới của mình, mỗi nhà phê bình vừa viết về chính mình vừa viết về các đồng nghiệp.
Tính chất uyển chuyển đa dạng của Fb khiến cho chúng ta có thể trình bày những ý tưởng vừa mới thoáng qua, những ghi nhận bột phát nối tiếp nhau, điều đó chắc sẽ vẽ nên một đời sống phê bình không những phong phú đồ sộ mà cũng không bao giờ là tẻ nhạt.
2. Công trình mới ra mắt của anh Trần Đình Sử có một phần quan trọng là viết về chân dung một số nhà phê bình mà anh cho là tiêu biểu.
Tôi tin rằng nếu được hỏi mỗi nhà phê bình ở ta hôm nay sẽ trình bày một danh sách riêng của mình về những nhân vật tiêu biểu đó.
Trong lúc chờ đợi những công trình dày dặn như sách của anh Sử ra đời, chúng ta nên tiến hành một cuộc “tổng điều tra dân số” về những người làm phê bình ở các thời kì.
Ý tôi muốn nói là trước khi làm việc tuyển chọn những nhân vật tiêu biểu thì chúng ta hãy làm một cuốn ghi nhận đại trà danh sách tất cả những người làm phê bình.
Chúng ta quen nghĩ từ điển là phải quy mô tổng hợp có tính chất chắt lọc, có tính chất chỉ đạo…Nhưng ở nhiều nước cũng thấy có những loại từ điển phổ thông, loại như “Who is who” ghi nhận những thông số phổ biến của mọi người bất kể thành tựu và cách tồn tại của người đó như thế nào.
Một việc như thế đang là rất cần thiết trong tình hình phê bình đang “mải viết cho người” mà ít lo nhìn lại mình như hiện nay.
Trong số những người có mặt ở nhà tôi sáng hôm đó, tôi thấy một người bạn cũ của tôi là Ngô Thảo rất xứng đáng để đóng vai trò chủ trì cho công việc “giới phê bình tự nói về mình”. Anh Ngô Thảo hiện đang tràn đầy sức lực nên tôi tin rằng công việc nói trên nằm trong tầm tay của anh.
THỦ LĨNH TRONG BÓNG TỐI
Ngày 19 tháng 11 năm 2023
Bài Phạm Thị Hoài viết về Trần Dần hai mươi sáu năm trước
Nguồn
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=900&rb=0102
***
Ðúng mười năm trước tôi được đưa đến ra mắt Trần Dần, sau khi ông đọc bản thảo một số truyện ngắn đầu tay chưa công bố của tôi.
Làng văn Hà Nội khi ấy, trong đêm trước của cuộc cởi trói ngắn ngủi, có một không khí nhộn nhịp nhất định.
Dân văn chạy ngược xuôi trong văn, không tất tả việc khác như bây giờ. Cả người viết lẫn người đọc đều chờ một cái gì không rõ, nhưng sẽ đến, và có lẽ vì thế mà háo hức, không lãnh-đạm-biết-rồi như hiện tại.
Khi đó chưa nhà nào có điện thoại riêng, muốn trò chuyện phải tìm nhau tận mặt, rượu tây chưa phổ biến, thức nhắm còn nghèo nàn, thuốc lá Liên Xô Ấn Ðộ đã là sang, đi xe máy là ngoại hạng, và mọi người đều viết tay trên giấy xấu...
Cảnh hàn vi đó nuôi lớn một thứ chủ nghĩa lãng mạn giản dị, đầy tính lý tưởng và cũng đầy ảo tưởng mà giờ đây đã biến mất.
Hà Nội, khi Trần Dần qua đời, khác xa mười năm trước, khi tôi hồi hộp đến gặp ông như gặp một thủ lĩnh văn chương trong bóng tối.
Không người viết nào muốn thuộc về phía tối của đời sống văn học, song khi phía được chiếu sáng quá tầm thường thì được khuất mặt có thể là một hãnh diện chính đáng.
Trước khi ông tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp đại náo làng văn thì Nhân Văn Giai Phẩm với mọi huyền thoại của mình đã luôn là một trong những cái chợ đuổi có sức mê hoặc lớn hơn cửa hàng văn học mậu dịch nhiều.
Văn học của Nhân Văn Giai Phẩm tập trung ở những tác giả và tác phẩm cụ thể của nhóm ấy thời ấy, nhưng tôi quan niệm tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm rộng hơn, bao trùm một số quan niệm, phong cách, nguyên tắc, thái độ ứng xử, đề tài... nhất định, có thể tìm thấy ở những chỗ khác thời khác, ở độc giả, ở các nhà phê bình, thậm chí ở những người từng quyết liệt chống Nhân Văn Giai Phẩm hoặc rất sợ dính vào đó.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn luôn ký tên hàng đầu trong các bản án chống Nhân Văn Giai Phẩm, song chính cái tinh thần Nhân văn Giai phẩm trong ông được kết hợp ở thế chân kiềng với tài năng và lòng biết sợ đã tạo cho ông một đặc cách trong văn học chính thống.
Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng tương tự như vậy. Song sau nhiều chục năm, số tác phẩm ra đời trong những hoàn cảnh như thế không còn đọng lại bao nhiêu.
Như thể không ai chết được nhiều lần, mà trong tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm ấy, các chiến sĩ ưu tú nhất đã ngã xuống cho những lý tưởng khác trước khi kịp hi sinh cho nghệ thuật.
Khi tiếp xúc với thế giới của họ, tôi đã hy vọng là sẽ trèo qua nhanh cái nấc thang thứ nhất đương nhiên là rất quan trọng, vì nếu không thì chẳng vào với nhau được: đó là bi kịch mà ai cũng biết ít nhiều về Nhân Văn Giai Phẩm.
Trèo qua nhanh, vì đã bận tâm vào đó thì không thể chỉ rỏ nước mắt vào rửa những vết thương bên ngoài. Tôi hình dung rằng những vị tử vì đạo rất ghét kẻ nào chạy lăng xăng quanh nỗi đau của họ, ăn theo những thăng trầm của họ. Mà tôi lại chú tâm vào những bi kịch văn học hơn, cho nên nấc thang sau và sau nữa là cái đích của tôi.
Văn học không chỉ sinh ra từ cuộc đời bên ngoài, mà còn sinh ra từ chính văn học. Khi bước vào nghề văn, tôi muốn biết cái nồi văn mà tôi đang nấu, hoặc định nấu, được kê bằng cái gì, được đun bằng cái gì.
Trừ ngoại lệ lớn nhất và bền bỉ nhất là Trần Dần cùng một vài người chịu ảnh hưởng trực tiếp của ông, tôi luôn có cảm giác rằng giữa những người theo tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm và tôi có trò chuyện, nhưng hầu như không có một đối thoại thật sự, và những cuộc trò chuyện giữa đôi bên bao giờ cũng chỉ dừng ở một chiều sâu lịch sự, dễ chịu, không thể đi quá một chút nào, và luôn luôn quanh quẩn ở cái nấc thang thứ nhất kia.
Dường như thời gian ở chỗ họ từ lâu lắm rồi đã không nhích thêm gang tấc nào, tôi thì đầy sự nôn nóng của tuổi trẻ, mà lại phải rất cẩn thận để không làm tổn thương ai. Luật của chúng ta dường như là vậy. Ðầy đọa, thanh trừng, xoá sổ kẻ khác thì được, nhưng làm mất lòng thì không. Tôi không thể nói thẳng với họ, rằng tôi không nhất thiết phải đọc họ chỉ để biết rằng, nhà văn cần yêu ai cứ nói là yêu, ghét ai cứ nói là ghét, điều đó tôi được học ở nhiều chỗ khác rồi, mà không phải là học qua văn chương.
Nói như thế là bạc, là phản bội, là rũ trắng mọi khổ đau đen ngòm của người khác. Nhưng có lẽ tôi đã kỳ vọng ở họ nhiều quá. Khi tuổi trẻ bị bịt đường lên phía trước thì nó ngoảnh lại phía sau mãi như vậy và thành những ông cụ bà cụ non.
Tôi đã tìm một lối để thoát khỏi văn học Việt Nam đương đại. Cái văn học đó buồn tẻ, nhưng cuối cùng thì lối thoát của nó không phải là giật lùi về đỉnh cao của những năm 50. Cũng như vậy, văn học đổi mới hiện tại chẳng còn gì đáng nói nhiều nữa, song nó không nên ngoảnh lại tiếc nuối cao trào 1988-1989.
Trong những điểm cốt yếu, văn học của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cùng một bản chất với văn học chính thống sau này. Có thể coi đó là sơ kỳ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Còn phần lớn các tác phẩm cuối những năm 80 mà trong nước tuy gọi đùa, nhưng có lý của nó, là Nhân Văn 2, ngoài nước gọi là văn học phản kháng, là mạt kỳ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Thực ra những người làm nhiệm vụ duy trì và bảo vệ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có thể yên tâm lâu dài: một mạt kỳ có thể kéo thêm cả thế kỷ, mà theo tôi thì văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa hoặc một cái gì na ná như vậy còn có tương lai vô tận ở Việt Nam.
500 hội viên này của Hội nhà văn Việt Nam có thể được thay bằng 500 hội viên khác, song 50 triệu người đọc thì không bãi đi để bầu mới nhanh như vậy được. Nền văn học này cũng đẻ ra một số tài năng và những tác phẩm có thể xúc động lòng người. Nhưng các tác giả và tác phẩm của nó giống nhau, hoàn toàn không có cá tính, đúng như Trần Dần đã nhận xét, năm 1955, về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, rằng thậm chí những câu hay của Tố Hữu cũng không có chữ ký riêng, có thể ký ở dưới là Nguyễn Du, Tản Ðà, hay Ca Dao đều được.
Những người có tên tuổi ở thời Nhân Văn Giai Phẩm cũng không tránh được điều đó. Một số bài thơ của Lê Ðạt và Phùng Quán thuở ấy có thể ký lộn cho nhau, sau này thì Lê Ðạt tách hẳn ra để có một chữ ký độc đáo cho riêng mình, và lịch sử quả thật thích đùa khi ông bị Trần Mạnh Hảo, một nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa mạt kỳ phủ đầu, chính vì đoạn sau này.
Bên Kia Sông Ðuống của Hoàng Cầm, hay Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan đi vào lòng người vì những lý do khác, chứ không phải vì đạt tới cái mà Trần Dần đòi hỏi, ngay từ thuở ấy, rằng nhà thơ trước hết phải có được cái chữ ký riêng của mình. Ông cũng chua ngay rằng đương nhiên còn phải xem kỹ cái chữ ký ấy nó như thế nào, nhưng mức tối thiểu là phải đạt được như vậy.
Lịch sử văn học Việt Nam nửa thế kỷ qua cho thấy, cái tối thiểu mà Trần Dần yêu cầu ấy đã hầu như không đạt được. Cho nên phần lớn tác phẩm của ông, mỗi dòng là mỗi riêng một cõi, càng lúc càng riêng, riêng tới mức cực đoan, riêng tới mức bí hiểm phải giải mã, phải cần đến một từ điển Trần Dần, không có cách nào khác là làm phận bản-thảo-nằm.
Ở ông là một bi kịch văn học lớn mà cái bi kịch chính trị của Nhân Văn Giai Phẩm chỉ là một trong những bè đệm, còn ở một số người khác thì là sân khấu, thậm chí có sự trình diễn của các vai nạn nhân, văn chương chỉ đóng một vai rất phụ.
Cho nên, nói về ông bây giờ mà không qua cái nấc thang thứ nhất kia cùng là tí ti minh oan, tí ti phục hồi, tí ti thương cảm, thì khác nào nhổ sơ sơ vài ngọn cỏ cho sạch vài phân vách đá, nhưng đằng sau đó là Ăng-co, để dùng lại một biểu tượng mà ông ưa dùng.
Bất hạnh lớn của Trần Dần là Nhân Văn Giai Phẩm , nhưng bất hạnh còn lớn hơn của ông là ông đã quẳng gánh từ lâu lại sau lưng, còn người đời thì vẫn è lưng ra gánh mãi.
Sự nghiệp của ông không chấm dứt với năm 1958, mà mở đầu từ đó, và đạt tới cao trào trong khoảng 15 năm, từ giữa những năm 70, nghĩa là liên quan không nhỏ tới việc Sài Gòn thất thủ, đến cuối những năm 80, khi ông ngã bệnh.
Bi kịch của Trần Dần là bi kịch của một nhà cách tân, có lẽ là nhà cách tân lớn nhất và sâu sắc nhất trong văn học miền Bắc Việt Nam nửa thế kỷ qua. Việc ông đi theo cuộc cách mạng của Ðảng cộng sản cho đến Nhân Văn Giai Phẩm là việc dễ hiểu, bởi đôi bên khi ấy cùng chung nhau một chữ cách: cách mạng, cách tân, cùng chung nhau một ý tưởng đổi mới.
Việc diễn ra sau đó đối với ông, theo tôi, cũng là một tất yếu.
Tôi không cho rằng ông bị hiểu nhầm, mà ông bị không hiểu. Không hiểu chứ không phải hiểu nhầm. Hiểu nhầm còn chữa lại được, không hiểu thì khó thay đổi hơn nhiều. Một người như thế sống ở bất kỳ đâu cũng khó.
Còn ở một nơi mà tính đại chúng là tiêu chuẩn tối thượng của văn chương nghệ thuật, một nơi mà sự phục tùng tổ chức, quyền uy, thế lực là kim chỉ nam cho mọi hành vi văn chương thì một người như thế phải bị đày đọa, bị tảy chay, hoặc nhẹ nhất là bị bỏ qua.
Trong văn học Việt Nam, tôi chưa biết một trường hợp nào mà ham muốn sáng tạo và cách tân quyết liệt như ở Trần Dần. Nghĩa là ham muốn vượt qua, hoặc ít nhất là khác đi với cái cũ, hoặc cái đã trở thành cũ, ở bên ngoài mình đã đành, lại còn liên tục tự mới với chính mình, tự vượt qua mình, mà lại làm điều ấy trong từng chi tiết, cho đến tận nét chữ chẳng hạn.
Ông có 4 kiểu chữ hoàn toàn khác cách nhau: cho giai đoạn đến Nhân Văn Giai Phẩm những năm 50 là một, giai đoạn ngắn sau đó, đầu những năm 60 là hai, giai đoạn đến đầu những năm 80 là ba, từ đó đến nay tuy chung một kiểu chữ là bốn, nhưng ngay trong một kiểu này cũng có nhiều phát triển khác nhau, kèm theo một khoa chính tả khác thường và một thư pháp, hay thư họa rất đặc trưng Trần Dần.
Chỉ riêng điều có thể coi là nhỏ nhặt trong cái khối khổng lồ là ông- để dùng lại chữ của Dương Tường- đã làm việc đọc ông rất phức tạp, mà lại càng không thể công bố nhiều tác phẩm của ông ở dạng in ấn bằng những con chữ thông thường.
Trần Dần đương nhiên là khó hiểu. Nhưng ông nói về sự khó hiểu một cách hết sức giản dị: “Tất cả mọi giá trị Chân Thiện Mỹ đều là khó hiểu.”
Khi ông tuyên bố: “Cái đèm đẹp giết chết cái đẹp”, thì một câu sáng rõ như vậy quả là tối tăm mù mờ với những ai chưa bao giờ nghĩ ngợi về cái “đèm đẹp”.
Cái xinh xinh không thể đẹp, ý này có thể của ai khác, có thể từ tư duy trong tiếng nuớc ngoài, song vào tay Trần Dần thì thành cách nói đặc biệt Trần Dần, nhanh, mạnh, lột trần, độc đáo, không lặp lại ai và không tự lặp, rất Việt và rất hiện đại.
Ðồng nghiệp của ông yêu cách nói này thì ít, mà sợ thì nhiều. Nguyễn Khải đã tả về hai con mắt “hiếp đáp thiên hạ” của Trần Dần. Không ít người suốt đời hậm hực về một lời phê thường cộc lốc nghiệt ngã của ông.
Song một nhận định phát ra từ bóng tối và cõi im lặng của Trần Dần có cái uy dũng mà người ta tuy hãi nhưng thèm.
Ai chịu trận được thì mang ơn ông mãi. Tôi được ông ưu ái khi vừa mon men vào nghề, phấn khởi lắm, nhưng những lời đe của ông sau này mới thực cho tôi những bài học càng lâu càng ngấm.
Người ta coi Trần Dần là lập dị. Nhưng trong một môi trường mà chỉ riêng chiếc ba toong của cụ Nguyễn chống trên vỉa hè Hà Nội đã được coi là biểu tượng của khác thường, thì sự lập dị của Trần Dần là vượt ra mọi cách.
Chúng ta có thể tôn sùng kẻ đứng đầu một cách, nhưng kẻ vượt ra mọi cách thì không có chỗ đứng. Cho nên Trần Dần nằm. Thơ ông là thơ nằm. Mọi bản thảo của ông là bản thảo nằm. Hàng chục sổ thơ của ông là sổ nằm, ông đặt tên là sổ bụi, và khi hết sổ phải dùng đến vở tự khâu, thì đấy là vở bụi.
Vả lại, khí chất của Trần Dần là cái khí chất không thuận với mọi cách, may ra ông gần hơn cả, gần chứ không thuận, với cách thi trung hữu qủy, và tự gọi mình là một thi tặc.
Tôi chưa thấy ai trong lịch sử thi ca Việt Nam dám như vậy, đường hoàng như vậy: Thi tặc!
Thơ ca của chúng ta có hay thì cốt hay-mãi-ngàn-năm theo hướng thánh thi, tiên thi, đạo thi, có đẹp thì đẹp theo cách tròn đầy nhã nhặn mà Trần Dần tuy ghi nhận nhưng không rung động.
Nếu ai hoảng sợ trước cái khái niệm thi tặc ấy thì tốt nhất đừng đọc Trần Dần. Còn đã quyết định đến với ông thì xin đừng coi trọng quá những hành trang tinh thần mà mình đương nhiên khuân theo, vì Trần Dần thật lắm bất ngờ.
Và nhất là, ông sẽ giới thiệu một thứ ngôn ngữ khác, một thứ tiếng Việt không chỉ cho lỗ tai mà còn cho con mắt, không trói nghĩa vào chữ, không bôi chữ vào chỗ trống của vô nghĩa.
Từ 1958 đến nay Trần Dần làm cái việc mà ông gọi là “làm quốc ngữ”, trong bóng tối, cách bức với những phong trào “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” cứ thỉnh thoảng lại ồn ào dấy lên bên ngoài.
Công trình quốc ngữ của một cá nhân lẻ loi lặng lẽ như Trần Dần hoàn toàn khác. Con chữ nào qua tay ông là mang một cuộc đời mới. Những người xung quanh ông, người nào cũng xin được, có khi trộm được, ít nhất là một vài con chữ từ cái lò luyện chữ của Trần Dần như vậy. Những chữ rất hiện đại và đầy truyền thống.
Cách ông đối xử với ca dao chẳng hạn là cách của một người biết yêu sao cho cả phía được yêu lẫn phía mình đều lớn bổng lên, không phải cách “yêu ai thì người đó nhỏ lại” như ông đã từng phê rất đích đáng một nhà thơ nổi tiếng. Là những chữ rất hàn lâm uyên bác mà cực nôm. Cái sướng nôm của ông, nôm hiện đại của “1 bát sẹo 1 lẹo vú 1 bú đít 1 lít nách”, lây mạnh sang những người xung quanh, thành những ca vô cùng đặc sắc, thành một thứ tiếng Việt hiện đại và đầy phiêu lưu kỳ thú.
Ông thậm duy mỹ mà sâu xa và có một giác quan không thể đánh lừa cho mọi giá trị thực. Ðiều đó kéo theo sự trân trọng và ngưỡng mộ, rất bất chấp, rất hồn nhiên của ông trước những tài năng và nhân cách thật. Ông đã nâng niu thơ Ðặng Ðình Hưng như thơ ruột, dù quan hệ đôi bên không phải lúc nào cũng êm. Ðồng thời, sự thẳng thắn đến phũ phàng của ông trước những thứ của rởm cũng không chừa bạn bè thân thích.
Trước những con chữ, lòng ông khăng khăng trong sạch. Chỉ có điều, tất cả những thứ ấy đóng kín trước một số đông, một số rất đông, không phải của riêng thời Nhân Văn Giai Phẩm , mà cả bây giờ và sẽ rất lâu sau này vẫn thế.
Bây giờ, nếu một phần di cảo của ông có được đưa ra nghiên cứu và sử dụng, cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay số người có thể đọc xuyên qua được những trang bản thảo ấy.
Sau ba mươi lăm năm, một trong hơn ba chục tác phẩm của Trần Dần mới ra mắt người đọc, tập thơ-tiểu thuyết Cổng Tỉnh, và được nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam.
Sự công nhận muộn mằn này dừng lại ở mức một cử chỉ thiện chí, với một quá khứ oan khiên, với một nhà thơ lớn khi ấy đã gần đất xa trời. Song nó không mang lại cho Trần Dần nhiều người đọc hơn.
Khi cái lưỡi của đám đông đã hoàn toàn thoái hoá thì cao lương mỹ vị bày ra cho ai? Một phần ba thế kỷ văn vần quốc doanh, văn xuôi mậu dịch trên môi và trong lòng người đọc Việt Nam đã khiến ít ai vượt qua chỉ cái tựa đề Cổng Tỉnh. Tôi mở trang đầu, đọc những dòng đầu mạnh mẽ mộc mạc:
Kỷ niệm! Ðưa tôi về chốn cũ!
Ðừng ngại mây che từng cây số buồn rầu!
Ðừng ngại mở trong lòng vài khung cửa nhớ thương...
qua những dòng bồng bột lạ lẫm:
Thì hãy lấy mùi soa đêm chùi đôi mắt khổ
Hơn là mỏi răng nhai ràu rạu vỉa hè...
những dòng ngọt lịm:
Có lẽ xa kia là phố tôi sinh
Có sương sớm đọng trên đèn muộn...
những dòng Trần Dần huyền thoại:
Gió thổi kèn ma mưa thui lòng ngõ hẹp
ò..ò đêm đi như một cỗ quan tài...
những dòng tha thiết:
Ở đâu? ở đâu có ngụm đèn xanh
Rèm che nhoè cửa sổ?...
Nín đi thôi. Nín đi thôi các đại lộ nhiều cây
Ðừng sa sút lá
Ðể ta còn khuyên gió...gió đừng rung cây...
những dòng khinh bạc quay quắt:
Tôi ơi! Tôi ơi!... Tôi vẫn rong chơi bên mấy cột đèn mù...
Tôi càng đứng bơ vơ đầu cổng tỉnh..
Tôi không có đủ đau thương cho mãn hạn sống
Tôi không có đủ tình yêu
Yêu trái đất lục đục thế này...
rồi lại ngọt đắng:
Gió ơi đừng vội tủi
Khuya rồi! Hãy tới khóc ở hom sông...
Có lẽ thu rồi em nhỉ
Em chớ khóc nhiều vàng ố ngã tư xưa...
Chỗ nào ông cũng thổi một sự sống khác thường vào những con chữ, chỗ nào cũng dành cho ta một bất ngờ. Biết bao giờ số đông người đọc Việt Nam mới dọn lòng, dành cho tài năng ghồ ghề jờ joạcx này một chỗ?
Số phận của Trần Dần là số phận hoàn toàn cô đơn và trong bóng tối theo mọi nghĩa của một người dốc hết mình vào thửa ruộng thử nghiệm của văn học, đặc biệt là của thi ca, một người, để dùng lại chữ của NVGP mà chắc sau này ông cho là mauvais gout lắm, moi tim moi óc làm thơ, một Tư Mã - như tên ông đặt cho mình và bạn bè - suốt nửa thế kỷ không chịu lùi một ly chữ, để làm cái việc mà ông gọi là thồ thơ tự xứ này lên.
Một người đi suốt ván chiêm bao của những cái bị nợ và tự nợ, đánh suốt một ván đời với cái biết và cái chưa biết. Ông nói rằng, cái biết là nghĩa, cái chưa biết là chữ. Làm câu châm ngôn hay như Khổng Tử là chưa phải thơ, nghịch lý như Lão Tử chưa phải thơ. Nhảy qua bóng mình mới là thơ. Mình chưa hiểu thơ vì khó mà nhảy qua bóng mình.
Tôi không dám nói ông đã thành công trong bao nhiêu mùa thử nghiệm của mình. Chỉ biết rằng, những ai may mắn đến lấy một hạt giống ở ông, rồi đem về đất của chính mình, đổ sức của chính mình vào đó thì ắt là thành công, trong những trường hợp hiếm hoi như Ðặng Ðình Hưng thì là một thành công lớn. Còn nếu không cũng được một mùa, theo chữ của ông, là mùa sạch.
Trần Dần từng nói, “tôi sốt ruột đợi lớp trẻ lớn lên để chôn chúng tôi, như chúng tôi đã chôn tiền chiến.”
Nhưng trong một sổ bụi ông lại tự hỏi: lớp trẻ liệu có còn được một cơ hội mấy chục năm quốc nạn như mình không để làm cái việc ấy?
Ông đã ngã bệnh nhiều năm trước khi qua đời, có lẽ cũng linh cảm nhưng không còn đủ thời gian để nhìn thấy những hình dạng mới của quốc nạn. Văn chương bây giờ có vẻ như chưa cần đày đọa đã ngắc ngoải tự hủy, chưa sinh ra đã kề huyệt. Thì chôn ai?
Tôi thuộc lớp trẻ, nợ ở ông một lòng ưu ái, mang theo lời đúc kết rất Trần Dần: nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta. Tối thiểu tôi phải có được một văn cách.
1997
Nguồn: Đăng lần đầu trên tạp chí Văn Học, 1997
VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ TÀI CHÂN DUNG VĂN HỌC
Ngày 20 tháng 11 năm 2023
Trích từ bài của HÀ THỊ KIM PHƯỢNG* ThS, Trường Trung học Phổ thông Gia Định TPHCM;
Nguồn
///C:/Users/PC/Dropbox/My%20PC%20(DESKTOP-0C831A9)/Downloads/1461-1462-1-PB-3.pdf
Luận văn của tác giả Hà Thị Kim Phượng là một bài viết dài nhiều chú giải chi tiết. Trong phạm vi một bài đưa lên Facebook tôi chỉ trích ra mấy đoạn có ý nghĩa thiết thực nhất.
-
1. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, trong một bài viết đăng báo Văn nghệ đã nhận xét rằng: “Cái từ chân dung gần như đang thành mốt… Chẳng hiểu sao mà các từ “tác giả”, “tiểu sử”…lại đang bị thay bằng “gương mặt”, “vẻ mặt” và sau đó là “chân dung”. Và ông nhắc nhở: “Cần phân giới thế nào để không quá dễ dãi trong cách hiểu thể tài chân dung văn học”.
…
2. Thực ra, cũng đã từng có những ý kiến tìm cách minh định nội hàm của khái niệm chân dung văn học. Lại Nguyên Ân cho rằng chân dung văn học phải đụng được đến cái “chân dung bên trong” “chân dung tinh thần”, “cái phần mà trách nhiệm là thuộc hẳn về người sáng tác”, là “lấy ngôn từ để vẽ một con người” .
Như thế, theo tác giả, chân dung văn học trước hết phải có “chất văn học”.
Nguyễn Đăng Mạnh, người viết thành công khá nhiều chân dung văn học cho rằng chân dung văn học là một dạng của phê bình: “Chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học. Đây là chân dung nhà văn chứ không phải loại người nào khác. Đọc chân dung văn học phải được thấy ông ta là nhà văn chứ, nghĩa là phải hiểu được cái văn của ông ta ra sao chứ! Tôi cho viết chân dung, đây là chỗ khó nhất. Phải nắm được cái thần của văn nghiệp người nghệ sĩ ngôn từ - đó mới là cái đích của chân dung văn học. Nhưng đi đến cái đích ấy, hay nói đúng hơn, dẫn người đọc đến cái đích ấy lại phải thông qua những chi tiết trong đời thực của nhà văn. Ở đây, chân dung văn học đặt ra yêu cầu: phải tìm được chỗ thống nhất giữa văn và người của mỗi cây bút. Tất nhiên thống nhất ở bề sâu, ở bản chất chứ không phải ở bề ngoài”.
Nguyên An (Nguyễn Quốc Luân), trong một công trình nghiên cứu khá dài hơi, xác định chân dung văn học có ba đặc trưng:
(i) Chân dung văn học là một thể văn thuộc loại bút ký - sáng tác văn chương;
(ii) Chân dung văn học là một thể văn bộc lộ rõ nét chất chủ quan của người viết;
và
(iii) Chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học
Ba đặc điểm trên là hoàn toàn xác đáng, tuy nhiên điều đáng tiếc là tác giả không đi sâu vào mối quan hệ giữa các đặc điểm, đặc biệt là mối quan hệ giữa tính chất bút kí và hư cấu văn chương, không tiến hành thao tác phân lập để loại trừ những gì là “họ hàng” nhưng không hẳn là chân dung văn học.
Vì thế, nhắc đến lịch sử của thể tài chân dung, người viết dẫn ra nhiều tác phẩm như Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam – thời kì cổ cận đại của Huệ Chi (1983), Một số gương mặt văn chương và văn học nghệ thuật Việt Nam (2001) của Phong Lê…, mà theo chúng tôi, thực chất đây là những công trình nghiên cứu, phê bình tác giả.
Chúng tôi cho rằng các định danh nêu trên đều có yếu tố hợp lí của nó. Nhưng để có một định nghĩa sát thực hơn, cần thiết phải xem xét kĩ từ nguồn gốc, đặc trưng, chức năng của chân dung văn học, cả ở hai góc nhìn thể tài và thể loại, từ đó để phân biệt nó với các thể văn có liên quan.
3. Trước hết muốn xác định các đặc trưng cơ bản, cần truy lại nguồn gốc của chân dung văn học. Chúng tôi đồng tình
với Đỗ Lai Thúy khi cho rằng chân dung văn học có gốc gác từ phê bình tiểu sử.
Phê bình tiểu sử là một trường phái phê bình trước hết xuất phát từ tiểu sử nhà văn, xem tiểu sử là căn cứ quan trọng để phát hiện, giải mã tác phẩm, tìm kiếm những gì còn ẩn náu phía sau các sáng tác của nhà văn.
Phê bình tiểu sử được viết một cách văn chương thì có thể trở thành chân dung văn học. Theo chúng tôi, các chân dung văn học đích thực còn có thể có dấu ấn cách viết của kiểu phê bình ấn tượng (như Hoài Thanh đã làm trong Thi nhân Việt Nam).
Nhìn từ nguồn gốc, chân dung văn học trước hết phải là một kiểu, một dạng sinh động của phê bình văn học, là nhằm phát hiện ra “mối quan hệ giữa văn và người” (cách nói của Nguyễn Đăng Mạnh), là đi tìm “những cuộc làm người của họ trong văn chương” (cách nói của Vương Trí
Nhàn). Nhìn từ cội nguồn, tiểu sử nhà văn là xuất phát điểm, phê bình nhà văn (nhận định, đánh giá) là đích hướng đến của chân dung văn học.
Những sự kiện, hoạt động trong cuộc đời nhà văn là những chi tiết bên ngoài, bề nổi, dễ nhận ra. Nhưng tìm ra những khoảnh khắc, những bước ngoặt, tìm ra cách thể hiện, văn phong phù hợp (như Gorky viết về L.Tolstoi, Chekhov, Essenin; Stephan Zweig viết về Balzac, Dickens, Byron; Nguyễn Đăng Mạnh viết về Quang Dũng, Nguyên Ngọc; Vương Trí Nhàn viết về Tô Hoài; Tô Hoài viết về Nam Cao…) để cho người đọc thấy hiển hiện bản chất con người, tài năng, trí tuệ nhà văn… lại là bút lực của người viết chân dung.
Bài viết xin điểm qua chân dung ấn tượng về các nhà văn, nhà thơ của một số tác giả tiêu biểu trong Văn học Việt Nam.
Chân dung nhà thơ Quang Dũng của Nguyễn Đăng Mạnh chứa chan cảm xúc (Quang Dũng - Người thơ). Không những đồng cảm sâu sắc với “sự rắc rối” mà thi nhân vướng phải, giáo sư còn cho chúng ta thấy bản chất con người tác giả Tây Tiến: “Có những thi sĩ quả là khôn ngoan lắm. Nhưng cũng có những người lại chân thật như là trẻ thơ. Chân thật đến mức có thể gọi là dại dột. Vì họ là thi nhân, là người thơ. Quang Dũng là một người như thế”. Nguyễn Đăng Mạnh dẫn lại lời kể của nhà văn Đỗ Chu:
“Ông mê cách mạng, thích làm cách mạng. Nhưng không biết cách mạng ở đâu. Nghe đồn cách mạng ở bên Tàu, bèn
lần mò sang. Không may gặp phải đám Quốc dân đảng đóng trụ sở, cắm cờ phất phới, có người bồng súng gác hẳn hoi. Thế là đi theo. Ở với họ một thời gian, thấy sinh hoạt chẳng có vẻ gì là cách mạng cả, lại quay trở về nước. Sau đó theo bộ đội ta đánh giặc. Chiến đấu cũng dũng cảm lắm. Người ta bèn tính kết nạp Đảng. Ông ấy khai lí lịch là đã ăn ở một thời gian với Quốc dân đảng. Thế là hỏng, và cái lí lịch tai hại cứ đeo đuổi ông ấy mãi về sau này…”. Quả thật khi đọc đến đây ta không khỏi bật cười, nhưng cười chảy ra nước mắt. Quang Dũng - con người ngang dọc trên chiến trường, con người đã khắc vào thơ hiện đại khúc ca hùng tráng Tây Tiến, khi trở về đời thường lại hết sức hiền lành, chân chất, thậm chí vụng về vậy.
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong chân dung về nhà văn Tô Hoài (Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du) quả là rất am hiểu yêu cầu của thể tài chân dung văn học. Qua ngòi bút rất linh hoạt và tỉ mỉ đến từng chi tiết của Vương Trí Nhàn, Tô Hoài hiện ra với một khuôn mặt rất đa diện nhưng cũng rất độc đáo có một không hai: “Hơn 50 năm trời liên tục như thế, lẽ tự nhiên là ở Tô Hoài, hình thành nên cả một nếp sống lạ lùng. Ở ông, cùng lúc tồn tại nhiều con người khác nhau: nhà văn lam lũ ham đi ham viết và anh cán bộ tháo vát, chẳng việc gì có quyền từ nan; người lãng tử lang thang trong đời vui đâu chầu đấy và ông chủ văn chương nhạy cảm, giàu kinh nghiệm, biết đối phó với mọi biến chuyển ở khu vực mà mình phụ trách…Và trong mọi việc lại thấy hiện ra một Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt!”.
Nếu trong Những kiếp hoa dại, Vương Trí Nhàn dựng chân dung Nam Cao qua hình thức đối thoại, vấn đáp tưởng tượng thì với bài viết Chúng ta mất Nam Cao, Tô Hoài vẽ chân dung Nam Cao bằng những chi tiết cảm động của một người từng thân thiết, gắn bó với nhà văn. Hình ảnh một Nam Cao đầy chất lí tưởng mà cũng đậm chất đời thường: “Nam Cao ngồi một gối đè lên ba lô. Cổ anh vẫn khoác nguyên cả cái màn mà đêm qua leo núi, rét quá, anh đã lấy quấn vào. Trên khuôn mặt hốc hác, đôi mắt không chớp nhìn xuống thung lũng. Đồng chí bí thư vừa dứt tiếng, đôi mắt ấy nhìn lên đồng chí.
- Tôi mong ngày hôm nay từ mười năm nay rồi. Tôi xin thề trung với Đảng…Nói đến đấy, Nam Cao nghẹn lời. Nước mắt cứ tràn xuống hai gò má nhô cao đương đỏ bừng lên”.
-------------------------------
CÁO LỖI
Ngày 19-11-2023 tôi đã đưa trên Facebook cá nhân bài viết của Phạm Thị Hoài “Thủ lĩnh trong bóng tối” viết về nhà thơ Trần Dần. Trong lời dẫn ngắn ngủi mở đầu, tôi đã gọi đây là một chân dung văn học. Nay xem lại thấy gọi như thế thật không thích hợp. Tôi đã cắt bỏ hoàn toàn mấy câu dẫn. Hi vọng rằng tôi có thể trở lại vấn đề này trong một dịp khác.
MẤY Ý NGHĨ NHÂN NGÀY 20-11
Ngày 21 tháng 11 năm 2023
***
ĐỔI TÊN
Ngày 20-11 thường được gọi là ngày Quốc tế Hiến chương các Nhà giáo, trong dân gian thường hiểu nôm na tức là ngày tôn vinh các nhà giáo.
Tôi cho rằng vào những ngày này hai chữ tôn vinh đọc lên nghe hơi trớ trêu vì dân ta chưa bao giờ “kêu” các nhà giáo như lúc này.
Tôi đề nghị nên đổi là NGÀY GIÁO DỤC VIỆT NAM. Trong thực tế trên các báo chí nhất là trên các mạng xã hội, lâu nay nhân ngày 20-11, người ta đã bàn luận nhiều về các vấn đề khác nhau của giáo dục đất nước. Đổi như thế là đặt tên đúng công việc và đối tượng.
GIÁ NHƯ SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT VỀ GIÁO DỤC
TƯƠNG ĐƯƠNG SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG
Các vấn đề giáo dục cần nghiên cứu hiện nay quá rộng, trong khi bài vở trên báo chí hoặc các công trình nghiên cứu thì lại quá ít.
Tôi sống trong giới viết văn, thường được nghe nói nay là thời lạm phát văn chương ai cũng viết văn, làm thơ và cứ có tiền là in được sách. Còn sách vở tài liệu viết về giáo dục thì ngược lại.
Muốn giáo dục phát triển, tôi cho là nên phát động một phong trào “Toàn dân viết về giáo dục”,
viết báo viết sách,
viết về tình hình thời sự,
viết về lịch sử giáo dục,
viết về giáo dục trong nước, viết về giáo dục nước ngoài.
Nếu hàng năm chúng ta có được số lượng các công trình nghiên cứu về giáo dục tương đương với số lượng các tập thơ, và trước đó, các bài viết về giáo dục tràn đầy các mặt báo như số lượng các sáng tác thơ văn đang được in ra, thì như thế may ra mới đáp ứng được nhu cầu tự nhận thức của nền giáo dục Việt Nam.
CÁC LOẠI SÁCH DỊCH
Nói tiếp về công việc làm sách.
Muốn hiểu giáo dục Việt Nam phải nhìn ra giáo dục nước ngoài, giáo dục thế giới. Tại sao bộ phận có trách nhiệm nghiên cứu giáo dục ở ta không lo dịch in các cuốn sách viết về lịch sử giáo dục Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ, lịch sử giáo dục các nước phương Tây? Tại sao những người viết sách giáo dục không bắt buộc phải đọc những dịch phẩm mới dịch, rồi những người làm chuyên môn đó sau khi đọc sách, sẽ viết lại thành những bài báo phổ thông để cho nhiều người bình thường tìm đọc.
NHỮNG NGƯỜI QUẢN LÝ
Bên cạnh các nhà giáo, một đối tượng cần được đặc biệt coi trọng, đó là nhóm người làm nghề quản lí giáo dục.
Tương ứng với sự phát triển của trường lớp của thày cô và học sinh, số lượng những người làm nghề này cũng đang tăng lên và họ có một vai trò lớn lao nếu không nói là quyền uy đặc biệt với thày và trò, với sự phát triển giáo dục nói chung. Tôi có nghe nói là hiện nay số lượng các luận án viết về quản lí giáo dục rất nhiều, số người được phong học hàm, học vị do giảng dạy và nghiên cứu ở lĩnh vực này rất đông. Nhưng chính thực chất công việc và chất lượng làm việc của bộ phận những người này ra sao thì lại chẳng ai biết trong khi ở chỗ riêng tư có nhiều lời suy đoán rằng họ có nhiều những quan niệm trì trệ cản trở sự hiện đại hóa giáo dục. Thực hư thế nào cần được điều tra.
THÊM NAM GIÁO VIÊN CHO CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
Khi tới các trường tiểu học hiện nay, người ta thường gặp nữ giáo viên. Theo tôi nhớ trong nền giáo dục thời Pháp thuộc, ở cấp tiểu học số nam giáo viên thường chiếm tỉ lệ lớn. Điều đó có lí do một phần là trong thời gian đó vai trò của phụ nữ trong xã hội còn bị hạn chế, đến nữ học sinh còn ít ỏi so với nam giới, nói chi là các bà giáo, cô giáo. Nhưng dù thế nào thì tỉ lệ nam so với nữ giáo viên không thể thấp như hiện nay, vì bộ phận nam giới đó có thể mang lại cho các lớp học sinh tiểu học một tinh thần mạnh khỏe, chắc chắn mà các nữ giáo viên không thể làm được.
CẦN THÊM NHỮNG GIÁO VIÊN CÓ TUỔI
Trong số các vấn đề về giáo viên hiện nay, tôi thấy còn một loại giáo viên cần được đặc biệt chú ý là những người lớn tuổi.
Tôi nhớ là ở rất nhiều tác phẩm văn học viết về thầy giáo và nhà trường thời trước, nhân vật chính thường là các thầy giáo già với những phẩm cách sư phạm làm chúng ta khâm phục, vì chỉ những người 40, 50 trở lên (“tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh”) mới có được những phẩm cách đó, từ tốn làm công việc đã làm gần như suốt cuộc đời mình, làm một cách tận tụy, làm với ý nghĩ rằng đây là việc tốt nhất mình có thể đóng góp cho đời.
Khi tự đặt cho mình câu hỏi tại sao thời nay không có những giáo viên lớn tuổi dạy ở tiểu học , tôi thấy mấy lí do như sau.
Một là trong các thang bậc lương hiện nay, lương giáo viên tiểu học thấp một cách thảm hại. Sau một thời gian dạy học, người có xu hướng “góp mặt với đời” dễ tìm cách chuyển đi các nơi khác để kiếm sống. Nếu ai tiếp tục ở mãi trong nghề thì cũng tìm cách đi học thêm để chuyển lên dạy trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Hai là có một sự thực: trong tâm lí chung của người dân thường và các nhà phụ trách chuyên môn cũng như chính quyền, công việc của người giáo viên tiểu học có nhiều phần bị coi thường. Khi nói đến các bậc thầy đáng kính trọng người ta thường nêu danh giáo sư nọ, giáo sư kia, dạy ở các trường đại học này hay trường đại học khác. Một lần nói chuyện với các bạn bên ngành y tế, các bạn đó cũng cho tôi biết là khi nói đến ngành y, ở nước ta hiện nay chỉ nói đến giáo sư bác sĩ, trong khi ở nhiều xã hội khác, người ta rất tôn trọng những người làm nghề y tá, hộ lí, họ tìm thấy ở những người đó những nhân cách cao cả mà chính các giáo sư, bác sĩ không có. Sự tôn sùng cấp bậc thuần túy chuyên môn mà không chú ý đến nhân cách con người và trình độ thuần thục trong việc làm chuyên môn cũng như việc làm người đã khiến xã hội ta thiếu đi những người lao động chân chính, đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách của lớp trẻ.
HAI ĐIỂM THU HOẠCH, TỪ MỘT BÀI VIẾT TRÊN MXH, NHÂN NGÀY 20-11
Ngày 22tháng 11 năm 2023
--
Được đưa đúng vào ngày “Tôn vinh các nhà giáo” như chúng ta quen gọi, bài báo “Có Ngày Nhà Giáo, thầy cô được và mất gì?” này của Gió Bấc có nhiều nội dung phong phú, ở đây tôi chỉ lược ra hai ý liên quan đến bài viết “Mấy ý nghĩ…” của tôi hôm trước để các bạn tham khảo.
Một là SỰ TÔN KÍNH CHÂN THÀNH KHÔNG VỤ LỢI CỦA XÃ HỘI VỚI CÁC NHÀ GIÁO TRONG QUÁ KHỨ.
Hai là CÁI TÌNH THẾ "KHÔNG (phải là) QUAN KHÔNG (phải là) DÂN" KHIẾN CHO SỰ HÀNH NGHỀ CỦA NHÀ GIÁO LÚC ẤY ĐƯỢC THUẬN LỢI NHƯ THẾ NÀO
1/
Trong tập “Người xưa cảnh tỉnh” (2019), tôi có ghi lại ý kiến người xưa về nhiều mặt tiêu cực của giáo dục VN. Tôi làm như vậy vì từng đọc nhiều ý kiến nêu ra những mặt tốt đẹp của mối quan hệ thầy trò đã được viết ở nhiều tài liệu tiếng Việt khác. Nhưng tôi thấy đoạn viết sau đây của tác giả Gió Bấc dẫn ra được nhiều tư liệu mới
---
ĐOẠN TRÍCH
Ông cha ta có ngày nhà giáo không? Xin thưa từ lâu lắm rồi dân gian có câu “Mồng một tết cha, mồng hai tết vợ, mồng ba tết thầy”.
Ngày nhà giáo của ông cha ta được đặt định ngay trong dịp tết nguyên đán, khoảng thời gian tinh khiết và long trọng nhất của năm. Đó không phải câu nói suông mà đã là tục lệ.
Không cần ai phát động, không cần báo đài đưa tin, không có băng cờ khẩu hiệu, người ta thực hành nghiêm cẩn đạo nghĩa, tình nghĩa thầy trò một cách tự nhiên.
Tới bây giờ vẫn còn không hiếm học trò xưa đi viếng tết thầy cũ dịp mồng ba tết. Bạn bè tôi, những cựu giáo chức thế hệ U70, U 80 vẫn giữ nếp ở nhà suốt ngày mồng ba tết vì ngại học trò đến thăm mà không có mặt.
Đi tết thầy cô, chúc tết thầy cô ngày tết mồng ba gói trà, miếng bánh chừng như tự nhiên, ấm áp hơn là lễ lạt đông người nơi công sở.
Ngay trong sách tập đọc lớp vỡ lòng, sau câu ca dao ngắn công cha như núi Thái Sơn…., học trò được học bài thuộc lòng Ông Thầy Đầu Tiên:
Trẻ còn ngu dại biết chi
Nhờ thầy chỉ dạy khắc ghi trong lòng
Mở mang trí hóa cho thông
Cầm tay sửa miệng cái công rẫy đầy.
Nhờ ai ta được thế này
Ta nên nhớ lấy ông Thầy đầu tiên.
Ở lớp lớn hơn, trẻ được đọc chuyện ông Carnot thành đạt về trường thăm thầy cũ vẫn cúi đầu lễ phép “Thưa thầy con là Carnot, là học trò cũ của thầy đây!” đơn giản nhưng thấm vào lòng người.
Truyền thuyết về Đầm Mực nêu tấm gương con thuồng luồng vì cái nghĩa với thầy Chu Văn An, dám trái mệnh trời làm mưa, phải trả giá bằng tính mạng của mình, thật thấm thía.
Không chỉ là truyền thuyết, sách vở, cách đây trên 100 năm ở Miền Nam có rất nhiều câu chuyện thật về đạo nghĩa thầy trò càng là bài học đáng nêu gương.
Anh học trò ở Cần Giuộc dâng em gái làm vợ ông thầy mù Nguyễn Đình Chiểu. Kết quả cuộc hôn nhân hiếu nghĩa này là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, người phụ nữ Việt đầu tiên làm chủ báo và lại khai sinh tờ “Nữ Giới Chung” tờ báo Việt đầu tiên dành cho nữ giới.
Cụ Phan Thanh Giản dời mộ vị đại sư Võ Trường Toản từ Gia Định về Ba Tri, Bến Tre, không để hài cốt thầy nằm trong vùng đất bị Pháp chiếm.
Đến lượt mình cũng gửi xác ở đây để lại cho Ba Tri một quần thể di tích lịch sử ba lăng mộ nằm kề Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản.
Thế hệ kế tiếp đến lượt Tống Hữu Định và những học trò trí thức Tây học Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 dù không học chữ Hán từ các vị nho gia Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản, nhưng vẫn đóng góp của tiền trùng tu Văn Thánh Miếu Vĩnh Long lập ban thờ các vị này trong Thơ Lầu và còn gọi là Văn Xương Các còn kiên cố đến ngày nay.
2/
Ở phần cuối bài “Mấy ý nghĩ…”, tôi có nhấn mạnh đến sự thua thiệt của người giáo viên cấp Tiểu học trong xã hội hiện nay, nhưng chưa đi vào cặn kẽ tại sao lại có tình trạng như thế. Nay đọc bài viết của tác giả Gió Bấc, tôi tìm thấy một sự giải thích chi tiết hơn.
Tác giả này cho thấy sự thua thiệt nói trên không chỉ ở giáo viên cấp Tiểu học, mà ở giáo viên các cấp khác nói chung.
---
ĐOẠN TRÍCH
Trong thời phong kiến, theo quy củ của Khổng Giáo, thứ bậc xã hội phải tôn trọng là Quân, Sư, Phụ.
Thơ Nguyễn Công Trứ.
“Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên!” –
Nghĩa là
Nghề giáo, kẻ sĩ, nằm trong năm tước và đứng đầu bốn loại dân (sĩ nông công thương).
Từ thời Pháp thuộc đến Việt Nam Cộng Hòa, thầy giáo là công chức được bổ nhiệm theo ngành dọc không lệ thuộc vào chính quyền địa phương về hành chính, chính trị, nghiệp vụ.
Trường không có kế toán, thủ quỹ, lương do nhân viên từ Ty phát thẳng cho giáo viên.
Tiêu chuẩn tuyển sinh vào Đại học Sư Phạm rất khắt khe, hồ sơ thi vào Sư Phạm phải có chứng chỉ đại cương Văn Khoa hoặc Khoa Học tương thích với ngành đăng ký.
Giáo sư Trung học đệ nhị cấp - tức giáo viên trung học phổ thông bây giờ - được bổ nhiệm theo nghị định của Bộ Giáo Dục.
Ngạch lương của giáo sư đệ nhị cấp cao hơn đốc sự hành chính (phó quận, phó tỉnh, phó ty) khoảng 20%.
Thầy giáo không phải là nhân dân cũng không phải nhân viên của ông quận.
Chính quyền tôn trọng họ như một loại nhân sĩ. Không có chuyện Ủy Ban, Phòng Giáo Dục điều nữ giáo viên đi tiếp bia cho quan khách như những cô gái bia ôm.
Hiệu trưởng chỉ có vai trò điều hành công việc của nhà trường chứ không phải là ông vua toàn quyền sinh sát như bây giờ. Muốn khiển trách, kỷ luật, thuyên chuyển thầy cô trong trường, hiệu trưởng cứ làm hồ sơ báo cáo lên đến Bộ xem xét quyết định. Người thầy tự do trong không gian của chương trình giáo dục khai phóng.
Tự do giảng dạy, tự do chấm điểm học sinh không phải chịu áp lực về thành tích, tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ khá giỏi.
Một giai thoại được nhiều người bàn tán hoàn toàn không phải nịnh nọt. Giáo Sư Phạm Biểu Tâm thẳng thắn lắc đầu khi có người gợi ý nâng điểm cho Ngô Đình Lệ Thủy, Trưởng nữ của Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhưng hoạn lộ của ông thầy này chẳng mảy may suy suyển.
Không ai cấm nhưng cũng không có chuyện thầy giáo dạy thêm thu học phí.
Quan hệ thầy trò, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ với phụ huynh, hoàn toàn trong suốt vì mục tiêu giáo dục, không có sự chen lấn của đồng tiền, lợi ích chính trị, lợi ích thân hữu.
Thầy cô giáo [ngày nay] là loại viên chức hạng bét trong thang bậc xã hội và phải nhận lãnh nhiều công việc ngoài giáo dục.
Theo phân cấp quản lý, trường cấp 1,2 thuộc xã, trường Trung học thuộc huyện, quận. Ông Chủ tịch, công an, bà mặt trận đều có thể sai khiến, giao việc cho ông hiệu trưởng.
Trường học trở thành bộ máy hành chính, chính trị với đủ thứ tổ chức đảng, đoàn, công đoàn, hội, … thậm chí là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu với hầm bà lằng các loại phí.
Dù muốn hay không muốn, ông hiệu trưởng cũng trở thành một lãnh chúa với đủ thứ quyền hạn, trách nhiệm với địa phương, với ngành dọc cấp trên.
Nào là trách nhiệm đóng góp xây dựng địa phương, thành tích thi đua thậm chí là trách nhiệm nâng điểm, chạy trường cho con cái quan chức, bán bảo hiểm y tế…
Thân phận giáo viên còn bèo bọt hơn. Họ là tay sai của Hiệu trưởng và bị trói chặt trong thể chế giáo dục được áp đặt từ trên mà không có chút tự do nào.
Về chuyên môn, giáo viên phải dạy theo chương trình áp đặt từ bên trên với lịch tiến độ cứng nhắc theo khuôn mẫu chung cả nước.
Họ phải gồng lưng chạy theo những quy định hành chính hình thức: nào soạn giáo án, nào tập huấn nâng cao, nào học tập chính trị, nào cập nhật kiến thức theo sự thay đổi xoành xoạch chương trình học.
Giáo viên phải chịu áp lực trực tiếp từ bao thứ chỉ tiêu học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi…và cá những yêu cầu cá nhân của gia đình các học sinh có thế lực.
--
MỘT ĐỀ NGHỊ BỔ SUNG
Về tình trạng giáo dục và địa vị của người giáo viên xã hội ta, từ 2014, tôi đã có bài viết “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc”: https://nghiencuulichsu.com/.../may-cam-nhan-ve-su-khac.../
Xin mời các bạn đọc thêm.
MỘT “THI TẶC”
Ngày 23 tháng 11 năm 2023
***
Ngày 19-11-2023 trên trang Fb này tôi đã đưa đầy đủ toàn bộ văn bản bài của Phạm Thị Hoài “Thủ lĩnh trong bóng tối” khoảng 4.000 chữ.
Còn dưới đây là bản tóm tắt văn bản trên trong khoảng 1500 chữ. Tôi cũng mạn phép tác giả mà đặt lại tên bài viết, cả hai việc này đều mong được tác giả tha thứ.
***
ĐẶT LẠI TẦM VÓC VỤ NHÂN VĂN
Trước khi ông tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp đại náo làng văn thì Nhân Văn Giai Phẩm với mọi huyền thoại của mình đã luôn là một trong những cái chợ đuổi có sức mê hoặc lớn hơn cửa hàng văn học mậu dịch nhiều.
Văn học của Nhân Văn Giai Phẩm tập trung ở những tác giả và tác phẩm cụ thể của nhóm ấy thời ấy, nhưng tôi quan niệm tinh thần Nhân Văn Giai Phẩm rộng hơn, bao trùm một số quan niệm, phong cách, nguyên tắc, thái độ ứng xử, đề tài... nhất định, có thể tìm thấy ở những chỗ khác thời khác, ở độc giả, ở các nhà phê bình, thậm chí ở những người từng quyết liệt chống Nhân Văn Giai Phẩm hoặc rất sợ dính vào đó.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn luôn ký tên hàng đầu trong các bản án chống Nhân Văn Giai Phẩm, song chính cái tinh thần Nhân văn Giai phẩm trong ông được kết hợp ở thế chân kiềng với tài năng và lòng biết sợ đã tạo cho ông một đặc cách trong văn học chính thống.
Ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng tương tự như vậy. Song sau nhiều chục năm, số tác phẩm ra đời trong những hoàn cảnh như thế không còn đọng lại bao nhiêu.
Trong những điểm cốt yếu, văn học của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cùng một bản chất với văn học chính thống sau này. Có thể coi đó là sơ kỳ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Còn phần lớn các tác phẩm cuối những năm 80 mà trong nước tuy gọi đùa, nhưng có lý của nó, là Nhân Văn 2, ngoài nước gọi là văn học phản kháng, là mạt kỳ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Thực ra những người làm nhiệm vụ duy trì và bảo vệ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có thể yên tâm lâu dài: một mạt kỳ có thể kéo thêm cả thế kỷ, mà theo tôi thì văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa hoặc một cái gì na ná như vậy còn có tương lai vô tận ở Việt Nam.
ĐIỀU MÀ TRẦN DẦN ĐÒI HỎI:
NHÀ VĂN PHẢI CÓ CÁ TÍNH
Nền văn học này cũng đẻ ra một số tài năng và những tác phẩm có thể xúc động lòng người. Nhưng các tác giả và tác phẩm của nó giống nhau, hoàn toàn không có cá tính, đúng như Trần Dần đã nhận xét, năm 1955, về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, rằng thậm chí những câu hay của Tố Hữu cũng không có chữ ký riêng, có thể ký ở dưới là Nguyễn Du, Tản Ðà, hay Ca Dao đều được.
Những người có tên tuổi ở thời Nhân Văn Giai Phẩm cũng không tránh được điều đó. Một số bài thơ của Lê Ðạt và Phùng Quán thuở ấy có thể ký lộn cho nhau...
Bên Kia Sông Ðuống của Hoàng Cầm, hay Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan đi vào lòng người vì những lý do khác, chứ không phải vì đạt tới cái mà Trần Dần đòi hỏi, ngay từ thuở ấy, rằng nhà thơ trước hết phải có được cái chữ ký riêng của mình.
Lịch sử văn học Việt Nam nửa thế kỷ qua cho thấy, cái tối thiểu mà Trần Dần yêu cầu ấy đã hầu như không đạt được.
Sự nghiệp của ông không chấm dứt với năm 1958, mà mở đầu từ đó, và đạt tới cao trào trong khoảng 15 năm, từ giữa những năm 70, nghĩa là liên quan không nhỏ tới việc Sài Gòn thất thủ, đến cuối những năm 80, khi ông ngã bệnh.
Bi kịch của Trần Dần là bi kịch của một nhà cách tân, có lẽ là nhà cách tân lớn nhất và sâu sắc nhất trong văn học miền Bắc Việt Nam nửa thế kỷ qua.
Việc ông đi theo cuộc cách mạng của Ðảng cộng sản cho đến Nhân Văn Giai Phẩm là việc dễ hiểu, bởi đôi bên khi ấy cùng chung nhau một chữ cách: cách mạng, cách tân, cùng chung nhau một ý tưởng đổi mới.
Việc diễn ra sau đó đối với ông, theo tôi, cũng là một tất yếu.
Tôi không cho rằng ông bị hiểu nhầm, mà ông bị không hiểu. Không hiểu chứ không phải hiểu nhầm. Hiểu nhầm còn chữa lại được, không hiểu thì khó thay đổi hơn nhiều. Một người như thế sống ở bất kỳ đâu cũng khó.
Trong văn học Việt Nam, tôi chưa biết một trường hợp nào mà ham muốn sáng tạo và cách tân quyết liệt như ở Trần Dần. Nghĩa là ham muốn vượt qua, hoặc ít nhất là khác đi với cái cũ, hoặc cái đã trở thành cũ, ở bên ngoài mình đã đành, lại còn liên tục tự mới với chính mình, tự vượt qua mình, mà lại làm điều ấy trong từng chi tiết, cho đến tận nét chữ chẳng hạn.
Trần Dần đương nhiên là khó hiểu. Nhưng ông nói về sự khó hiểu một cách hết sức giản dị: “Tất cả mọi giá trị Chân Thiện Mỹ đều là khó hiểu.”
Khi ông tuyên bố: “Cái đèm đẹp giết chết cái đẹp”, thì một câu sáng rõ như vậy quả là tối tăm mù mờ với những ai chưa bao giờ nghĩ ngợi về cái “đèm đẹp”.
Cái xinh xinh không thể đẹp, ý này có thể của ai khác, có thể từ tư duy trong tiếng nuớc ngoài, song vào tay Trần Dần thì thành cách nói đặc biệt Trần Dần, nhanh, mạnh, lột trần, độc đáo, không lặp lại ai và không tự lặp, rất Việt và rất hiện đại.
Khí chất của Trần Dần là cái khí chất không thuận với mọi cách, may ra ông gần hơn cả, gần chứ không thuận, với cách thi trung hữu qủy, và tự gọi mình là một thi tặc.
Tôi chưa thấy ai trong lịch sử thi ca Việt Nam dám như vậy, đường hoàng như vậy: Thi tặc!
Thơ ca của chúng ta có hay thì cốt hay-mãi-ngàn-năm theo hướng thánh thi, tiên thi, đạo thi, có đẹp thì đẹp theo cách tròn đầy nhã nhặn mà Trần Dần tuy ghi nhận nhưng không rung động.
Nếu ai hoảng sợ trước cái khái niệm thi tặc ấy thì tốt nhất đừng đọc Trần Dần. Còn đã quyết định đến với ông thì xin đừng coi trọng quá những hành trang tinh thần mà mình đương nhiên khuân theo, vì Trần Dần thật lắm bất ngờ.
----
Sau ba mươi lăm năm, một trong hơn ba chục tác phẩm của Trần Dần mới ra mắt người đọc, tập thơ-tiểu thuyết Cổng Tỉnh, và được nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam.
Sự công nhận muộn mằn này không mang lại cho Trần Dần nhiều người đọc hơn.
Khi cái lưỡi của đám đông đã hoàn toàn thoái hoá thì cao lương mỹ vị bày ra cho ai? Một phần ba thế kỷ văn vần quốc doanh, văn xuôi mậu dịch trên môi và trong lòng người đọc Việt Nam đã khiến ít ai vượt qua chỉ cái tựa đề Cổng Tỉnh.
Tôi mở trang đầu, đọc những dòng đầu mạnh mẽ mộc mạc:
Kỷ niệm! Ðưa tôi về chốn cũ!
Ðừng ngại mây che từng cây số buồn rầu!
Ðừng ngại mở trong lòng vài khung cửa nhớ thương...
qua những dòng bồng bột lạ lẫm:
Thì hãy lấy mùi soa đêm chùi đôi mắt khổ
Hơn là mỏi răng nhai ràu rạu vỉa hè...
những dòng ngọt lịm:
Có lẽ xa kia là phố tôi sinh
Có sương sớm đọng trên đèn muộn...
những dòng Trần Dần huyền thoại:
Gió thổi kèn ma mưa thui lòng ngõ hẹp
ò..ò đêm đi như một cỗ quan tài...
những dòng tha thiết:
Ở đâu? ở đâu có ngụm đèn xanh
Rèm che nhoè cửa sổ?...
Nín đi thôi. Nín đi thôi các đại lộ nhiều cây
Ðừng sa sút lá
Ðể ta còn khuyên gió...gió đừng rung cây...
những dòng khinh bạc quay quắt:
Tôi ơi! Tôi ơi!... Tôi vẫn rong chơi bên mấy cột đèn mù...
Tôi càng đứng bơ vơ đầu cổng tỉnh..
Tôi không có đủ đau thương cho mãn hạn sống
Tôi không có đủ tình yêu
Yêu trái đất lục đục thế này...
rồi lại ngọt đắng:
Gió ơi đừng vội tủi
Khuya rồi! Hãy tới khóc ở hom sông...
Có lẽ thu rồi em nhỉ
Em chớ khóc nhiều vàng ố ngã tư xưa...
------
Tôi thuộc lớp trẻ, nợ ở ông một lòng ưu ái, mang theo lời đúc kết rất Trần Dần: nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta. Tối thiểu tôi phải có được một văn cách.
CẦN MỘT THỨ SỬ HỌC KHÁC
Ngày 30 tháng 11 năm 2023
Bài viết này của tôi đã đưa trên một tờ báo từ 11, 2015 và có may mắn vừa được bạn Sơn Hoàng Vũ đưa lại trên Fb của mình. Tự nhận thấy trong bài còn có một số ý khả thủ, tôi xin chép nguyên văn dưới đây để trình các bạn mà chưa kịp sửa chữa gì thêm, mong được tha lỗi.
***
Từ đầu thế kỷ 20, một trí thức nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt sử yếu (viết năm 1914) đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông đảo dân chúng.
Có thể giải thích hiện tượng này bằng chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...
Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài bộ như Toàn thư, Cương mục, Việt sử tiêu án, Lịch triều tạp kỷ... mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.
Đến thời chúng ta, tình hình lại đi theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.
Những bộ sử thời nay do Nhà nước chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng là lâu nay chúng ta chẳng chú ý gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về nhận diện chính mình.
Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu hơn sử ta?
Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn hơn.
Không, không phải vậy, hoặc lý do chủ yếu không phải vậy.
Cái lỗi trước hết là ở chính những cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử dụng.
Ở những trang sử Trung Quốc, không chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn... Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những trang sử ấy. Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.
Quay trở lại với những gì được viết trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.
Ở những trang sử ta viết cho ta, trên cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng quá nghèo nàn, đơn sơ.
Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào. Lại càng không thể từ đó rút ra những gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay. Bởi những bài học mà người viết sử gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người ta theo lối áp đặt gượng gạo.
Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.
Cái lỗi không phải chỉ là do mấy người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử. Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.
Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người Việt.
Chúng ta là một cộng đồng mải chinh chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình... Đó không chỉ là tình hình có thật trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.
Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối hôm nay chỉ dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.
Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn tại mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát triển. Tóm lại là vậy.
Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn và nhất là đáp ứng nhu cầu của tương lai mạnh mẽ hơn.
Nghịch lý cuối cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.
NHỮNG TAI HẠI DO KHÔNG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY NGHIÊM TÚC TIẾNG HÁN VIỆT
Ngày 8 tháng 12 năm 2023
Bài cũ, đưa trên Fb này lần đầu ngày 18/10/2014.
***
Trong buổi cà phê ở chỗ anh Dương Thụ thứ bảy 18/11/2014 sắp tới, bọn tôi sẽ được nghe ông Hoàng Dũng nói về chủ đề:
“Ứng xử của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại”
Đọc lời dẫn thấy diễn giả viết: “Tiếng Hán Việt rất quan trọng, không chỉ vì tiếng Việt đã du nhập một số lượng lớn từ Hán Việt, mà còn vì chúng có vai trò đặc biệt, không thể thay thế, trong việc cấu tạo các thuật ngữ khoa học và các diễn ngôn quan phương. Tiếng Hán Việt hoạt động theo quy tắc nào? Đó có phải là biệt lệ so với các ngôn ngữ Sino-xenic (các ngôn ngữ có số lượng lớn từ vay mượn tiếng Hán như tiếng Nhật, tiếng Hàn) và rộng ra là sự vay mượn phổ quát xảy ra giữa các ngôn ngữ có quan hệ tiếp xúc hay không? Thái độ đúng đắn là đề cao khuynh hướng "giữ gìn sự trong sáng" (purism) hay tôn trọng hiện thực?”
Đọc lời dẫn giải ấy, tôi hiểu đây là buổi nói về vai trò, về tầm hoạt động và ý nghĩa của tiếng Hán Việt. Tôi đã viết ngay trong email cho người bạn trẻ Linh Thoại “tiếng Hán Việt quan trọng vì nó liên quan tới sự phát triển trí tuệ của cộng đồng và là phương tiện bắt buộc để người Việt hội nhập với quốc tế. Điều đó đúng trong lịch sử lại càng đúng với xã hội hôm nay”
-------------
Trong lúc chuẩn bị để viết một bài kỹ lưỡng hơn, tôi tìm thấy đoạn ghi chép cũ ghi từ mấy năm trước:
Trong cuốn sách “Việt Nam và Pháp, bạn hay thù” của tác giả Philippe Devillers, NXB Tổng Hợp TP.HCM 2006, các trang 288-290, có một đoạn kể lại những tính toán của người Pháp sau khi chiếm được các tỉnh miền Tây, cuối thế kỷ XIX, muốn xác định nền giáo dục ở các xứ bảo hộ để phục vụ cho nền cai trị của họ ra sao.
Lúc bấy giờ đô đốc Bonard còn phân vân không biết nên dạy cho người bản xứ là chữ Hán hay chữ Quốc ngữ. Nhưng các cha cố thì kiên quyết là dạy ngay chữ Quốc ngữ vì nó rất cần cho việc giảng đạo của họ mà lại học được nhanh.
Ở chỗ này, tôi thấy Bonard là một người rất sâu sắc. Ông ta bảo rằng đúng là học chữ Quốc ngữ thì nhanh biết chữ thật nhưng chỉ tạo ra những con vẹt; có điều do nhu cầu của việc bình định, ông ta vẫn đồng ý với việc dạy chữ Quốc ngữ.
---------------------
Sau này, tôi có đọc được trong một cuốn sách của Nguyễn Văn Trung về vấn đề này mang tên "Chữ, Văn Quốc Ngữ – Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc"; cuốn này vì in ra đầu 1975 nên ít người biết, nhưng từ sau 2000 đã được mấy nhà xuất bản nối tiếp nhau tái bản .
Ở đó Nguyễn Văn Trung có dẫn lại ý của một người Pháp nói rằng từ sau khi việc dạy chữ Quốc ngữ được phổ biến thì mặt bằng đạo đức xã hội của các tỉnh miền Tây thời đó thấp hẳn xuống.
Cái lạ ở đây là sự xuất hiện của nhóm từ "mặt bằng đạo đức".
Như vậy, ngôn ngữ không phải là một công cụ vô can? Ngôn ngữ có liên quan tới sự định hình đời sống tinh thần và trình độ làm người của các dân tộc?
---------------
Đến lúc giở lại cuốn sách của Philippe Devillers, thấy ở tr 289 có chép lại những lời giảng giải của một người Pháp là Luro về sự khác nhau giữa việc học chữ Hán và việc học chữ Quốc ngữ:
“Biết đọc và biết viết, trong tiếng Trung Hoa, có nghĩa là đã để vài năm ở tuổi thanh niên của mình dừng lại trên những cuốn sách đạo lý, lịch sử, đã nghiên cứu và thấu hiểu các cuốn sách đó. Như vậy là đã nhận được cả sự học vấn và sự giáo dục (…). Còn với hệ thống của chúng ta [với tiếng Quốc ngữ mà chúng ta dạy] đứa trẻ ra khỏi trường mà chẳng có chút kiến thức về đạo lý tức là chẳng được giáo dục gì cả.”
A! Câu chuyện "mặt bằng đạo đức" hóa ra là thế.
Tôi rất thích cái ý tưởng này bởi lẽ, ngược với ý kiến nhiều người quá tự hào về chữ Quốc ngữ và việc dạy chữ Quốc ngữ từ 1945 tới nay, tôi thấy việc bỏ qua không dạy tiếng Hán Việt – dạy một cách khoa học, cẩn trọng nghiêm túc – đã là cản trở cho sự phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là khi ta bước sang thời hậu chiến.
MỘT ĐOẠN BỔ SUNG
Trích từ bài
"Việc dạy chữ Hán có những liên hệ rộng lớn hơn chứ không phải riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ"
đưa trên Fb này ngày 9/9/2016
--
Trong các phát biểu tại Hội thảo “Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại“ diễn ra hôm 27/8/ 2016, nhiều người chủ yếu nhấn mạnh về mặt chuyên môn, đại ý là "Cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt"
Nhà giáo Đoàn Lê Giang có mấy ý mới:
1/ Trong số các quốc gia thuộc khu vực đồng văn (các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc - PV VNN) chỉ có Việt Nam là từ bỏ chữ Hán hoàn toàn nên thế hệ sau ít hiểu biết về quá khứ dân tộc.
2/ Từ bỏ chữ Hán cũng là lý do khiến thanh niên Việt Nam [trở nên những con người –VTN thêm] đơn giản nhất, học hành hời hợt nhất, các nhà khoa học xã hội của Việt Nam cũng kém nhất so với học giả các nước và nước ta nghèo nhất, lạc hậu nhất so với Nhật, Hàn hay Trung Quốc.
3/ Ông Giang cũng cho biết, nghiên cứu của một trung tâm nơi ông được mời dạy chữ Hán Nôm cho học sinh tiểu học cho thấy, những học sinh được học chữ Hán Nôm hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn những học sinh khác không được học (xem nguyên văn trên bản tin VietNamNet 29/8/16)
Tôi chỉ dẫn ra Đoàn Lê Giang vì không phải người trong giới, không dự hội thảo mà chỉ đọc VNN, nên không biết ngoài ông Giang còn có những ai đồng tình với ý trên.
Chỉ theo kinh nghiệm mà dự đoán các ý tương tự như của ông Giang thuộc loại thiểu số.
Nhưng, học theo cách sống và cách nói của Phan Khôi, hôm nay "tôi đang muốn đứng về cái đám thiểu số này".
Tôi buồn vì họ đang là thiểu số.
Mà dù các ý kiến như của ông Giang có chiếm đa số nữa cũng còn không biết bao giờ mới thực hiện được.
Nữa đây lại là thiểu số.
Ở Việt Nam, tôi biết rồi, người thuộc loại thiểu số bị quên đi là may, có khi họ lại còn bị mắng chửi và không được làm việc nữa.
Nhưng tôi vẫn thấy, nên theo ông Giang,
Vì ông ấy đúng.
THEO SỬ GIA MỸ PETER ZINOMAN, NHÂN VĂN - GIAI PHẨM VỪA GIỐNG VỪA KHÁC CÁC PHONG TRÀO CẢI CÁCH Ở ĐÔNG ÂU
Ngày 9 tháng 12 năm 2023
Bài của Lê Quỳnh, 2011
--
Văn bản dưới đây vốn có tên là “Một đánh giá mới về Nhân văn - Giai phẩm” , bài đã đưa trên mạng BBC tiếng Việt - thứ sáu, 2 tháng 9, 2011.
Đầu đề trên là do chúng tôi mạn phép đặt lại.
Như Lê Quỳnh dẫn ở phần dưới, tiểu luận dài 40 trang của tác giả Peter Zinoman này vốn đăng trên
Journal of Cold War Studies - số Mùa đông 2011
--
Nhân Văn - Giai Phẩm thường được xem là phong trào đòi tự do dân chủ mạnh mẽ và có ảnh hưởng lớn nhất trong giới trí thức sống dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bị dập tắt vào cuối thập niên 1950, phong trào này đến hôm nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu và nhiều nhân vật có vai trò lớn trong giai đoạn đó vẫn để lại cảm hứng và ảnh hưởng cho văn nghệ sĩ người Việt trong ngoài nước.
Tuy vậy, một nghiên cứu công bố gần đây của chuyên gia nổi tiếng về lịch sử Việt Nam, Peter Zinoman, cho rằng danh tiếng của Nhân Văn - Giai Phẩm (NVGP) như một lực lượng đối kháng mạnh mẽ đã bị "thổi phồng".
Tác giả, một người rất quen thuộc với giới nghiên cứu ở Việt Nam, nhận định thời gian qua đã có thêm nhiều nghiên cứu mới "thành công khi thể hiện một hình ảnh đáng tin về NVGP như một phong trào mạnh của sự bất đồng quan điểm chính trị chống lại đảng-nhà nước".
Nhưng ông cho rằng các học giả đã không phân tích sâu sắc nội dung các bài viết đã đăng của NVGP, mà chỉ có xu hướng tập trung vào những tuyên bố chống đối kịch tính nhất.
Lấy ví dụ, sử gia Peter Zinoman -- đang là Phó Giáo sư khoa Lịch sử của ĐH Berkeley, Hoa Kỳ -- đã đề cập tới bài viết “Bài học Ba lan và Hung-ga-ri của nhà thơ Lê Đạt”, in ở Nhân văn số 5, ngay sau khi xảy ra các biến cố rung chuyển hai nước Đông Âu.
Theo đúng những gì người ta trông đợi từ một phong trào đối kháng, bài này bị chính quyền ở Hà Nội phê phán là "bào chữa cho bọn phản cách mạng".
Nhưng tiến sĩ Zinoman lưu ý người đọc rằng trong phần kết luận, Lê Đạt cho rằng phong trào đối lập ở hai nước Đông Âu bị "bọn đế quốc" kích động và lại còn tán thành với việc dùng bạo lực dập tắt sự nổi dậy ở Hungary.
Ví dụ này phải chăng cho thấy sự hạn chế trong nghị trình của NVGP. Ngoài ra, phong trào khi ấy không thể liên kết với công nhân, sinh viên và cộng đồng tôn giáo, và dường như người dân cũng không bày tỏ ủng hộ giới văn nghệ sĩ.
Bài nghiên cứu của tiến sĩ người Mỹ này muốn bác lại việc xem NVGP là phong trào "bất đồng chính kiến". Theo ông, khi so sánh với sự trỗi dậy của các phong trào cải cách trong thế giới cộng sản thập niên 1950, thì NVGP là "nỗ lực tương đối hạn chế nhằm 'cứu' chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam bằng cách chuyển hóa nó từ bên trong".
THÁCH THỨC MỨC NÀO?
Tiến sĩ Peter Zinoman nói "mặc dù NVGP nhắc đến nhiều sự lạm dụng độc đoán của giới chức bậc trung, nó hiếm khi thách thức ban lãnh đạo đảng hay sự chính danh của hệ thống Cộng sản".
"Thông thường NVGP tìm cách giảm nhẹ cường độ công kích bằng việc đi kèm các tuyên bố trung thành với chính thể và ý thức hệ cai trị."
Giọng điệu trung dung của NVGP "thật tương tự với dòng chảy chính trị Cộng sản cải cách hoặc xét lại tăng tốc trong thế giới Cộng sản sau cái chết của Stalin, lên đến đỉnh điểm đúng vào khi NVGP bắt đầu năm 1956".
Lập trường của các phong trào này, như Andras B. Hegedus đã nói về tình hình ở Hungary, là họ tin rằng "có thể cải thiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Marx có thể được tái sinh".
Tiến sĩ Peter Zinoman nhận thấy ở NVGP có sự trung thành chính trị với Đảng Cộng sản, khẳng định đi theo chủ nghĩa Marx, ngưỡng mộ Khrushchev, Lenin và tôn sùng nhà thơ Mayakovski như biểu tượng chống sự sùng bái cá nhân.
Trong một khảo sát về bảy vấn đề lớn chi phối phong trào cải cách ở Hungary, Ba Lan, Đông Đức và Tiệp Khắc giữa thập niên 1950, Vladimir Kusin ghi nhận có sự gần gũi về quan điểm giữa các phong trào.
Bốn trong số bảy vấn đề này cũng xuất hiện nhiều trong các bài viết của NVGP: (1) dân chủ hóa đảng; (2) cải tổ hệ thống chính trị và pháp luật; (3) bảo vệ tự do trí thức; (4) nhân văn hóa chủ nghĩa Marx.
Có hai vấn đề không được nhóm quan tâm là giảm bớt kiểm soát của Liên Xô với các nước vệ tinh, và thực thi cải cách kinh tế.
Về vấn đề thứ bảy - thúc đẩy chung sống hòa bình với phương Tây - NVGP không tỏ ra có một lập trường mạnh mẽ hay thống nhất.
Sự quan tâm của NVGP đối với dân chủ trong đảng, cải cách hệ thống chính trị - pháp luật, và tự do trí thức đặt phong trào vào dòng chính của xu hướng cải tổ chủ nghĩa cộng sản trên thế giới cùng thời điểm.
Nhân Văn - Giai Phẩm vừa giống vừa khác các phong trào cải cách ở Đông Âu
Nhưng hai điểm khác của NVGP giúp giải thích vì sao phong trào không nhận được sự ủng hộ hay biết tới của dân chúng.
Thứ nhất là cải tổ kinh tế (kế hoạch hóa tập trung, tập thể hóa, giá lương tiền). Ngay cả các bài viết của NVGP về cải cách ruộng đất cũng chỉ xem đây là vấn đề chính trị chứ không phải là một chính sách kinh tế thất bại.
Như chuyên gia Tường Vũ từng phân tích, chính các đơn thưa của người lao động liên quan lạm phát, điều kiện lao động...là chủ đề của phong trào lao động rộng lớn trong những năm đầu cai trị của Đảng Cộng sản ở miền Bắc.
Vấn đề thứ hai là NVGP hầu như không đề cập vấn đề tự chủ và bình đẳng trước Liên Xô, khác với giới đòi cải cách ở Đông Âu.
Dĩ nhiên, điều này có thể được giải thích vì khi ấy Liên Xô không có mặt nhiều ở miền Bắc, và Đảng Cộng sản, vừa chiến thắng quân Pháp, không bị công kích về tinh thần dân tộc.
Nhưng, theo tiến sĩ Peter Zinoman, việc thiếu vắng hai chủ đề này cũng đã làm giảm sức mạnh chính trị của phong trào khi so với ở Đông Âu.
Kết lại, tác giả xem NVGP là "sự biểu lộ tương đối nhẹ của một hiện tượng toàn cầu".
Theo ông, danh tiếng "bị thổi phồng" của NVGP một phần là nhờ sự kịch tính trong sự trỗi dậy và sụp đổ của phong trào. Những diễn giải sau này, nhấn mạnh sự táo bạo của NVGP, là phản ứng chống lại sự chỉ trích độc địa của báo chí nhà nước thời bấy giờ.
Truyền thống đối kháng nội bộ bên trong Việt Nam tương đối yếu ớt cũng giúp làm tăng sự quan trọng và sức mạnh của NVGP, phong trào chỉ trích đảng duy nhất trước 1986.
Tiến sĩ Peter Zinoman còn cho rằng một thế hệ văn nghệ sĩ, trí thức mới đối lập trong ngoài nước cũng đã phóng đại nội dung phê phán của NVGP nhằm thiết lập "mối dây phả hệ giữa nỗ lực của chính họ và một truyền thống phê phán Cộng sản trước đó".
Tiểu luận dài 40 trang của tác giả, đăng trên
Journal of Cold War Studies - số Mùa đông 2011, là nghiên cứu mới nhất bằng tiếng Anh về NVGP.
Sự diễn giải mà tác giả gọi là "xét lại" với NVGP hẳn sẽ nhận phản hồi khác nhau của giới trí thức người Việt trong ngoài nước, trong bối cảnh vấn đề trí thức và dân chủ đang được bàn đến nhiều thời gian gần đây.
Tiến sĩ Peter Zinoman nói nghiên cứu của ông không nhằm "phủ nhận sự dũng cảm của các lãnh đạo phong trào hay bi kịch của họ dưới bàn tay tàn nhẫn của đảng - nhà nước". Ông muốn bài viết tìm hiểu lại mục tiêu của NVGP và đánh giá điềm tĩnh hơn về tiềm năng cũng như hạn chế của phong trào trong vai trò lực lượng chính trị.
NGUỒN GỐC TỪ VỰNG HÁN VIỆT: TRAO ĐỔI VỀ VĂN HÓA, DÂN TỘC VIỆT NAM VỚI NNC NGUYỄN HẢI HOÀNH
Ngày 13 tháng 12 năm 2023
Nguyên văn bài của tác giả Quang Phan dài tới 6500 từ’. Các bạn có thể tìm ở nguồn
https://www.facebook.com/song.han.9461/posts/pfbid02dWcdSWqUMiWyuNWJw1aL8zTEE2WTYt3fgHmEcjsWSs7fXTYwo8mNUKbuZDuDhDZil 3-11-2023
dưới đây chúng tôi lược bớt chỉ còn trên 3000 từ.
***
Trên Tia sáng 28-10-23, NNC Nguyễn Hải Hoành vừa công bố bài viết “Vì sao tiếng Việt không cùng nguồn gốc với tiếng Hán?”. Bên cạnh những tán đồng với tác giả về quan hệ cội nguồn của tiếng Việt, mối liên kết của người Việt (Kinh) với văn hóa Bách Việt, chúng tôi nhận thấy cần trao đổi lại với tác giả về vấn đề từ vựng Hán Việt, cũng như các mệnh đề liên quan mà ông đề cập.
Sau phần lược sử nghiên cứu về Quan hệ cội nguồn của ngôn ngữ người Việt (Kinh), tác giả đưa ra mệnh đề: “Sáng kiến phiên âm chữ Hán thành từ Hán-Việt đã giúp người Việt thuận lợi tiếp nhận chữ Hán mà hoàn toàn không nói tiếng Hán, đồng thời làm cho kho từ vựng tiếng Việt có khả năng phát triển hầu như vô hạn. Đây là một thành tựu kiệt xuất về ngôn ngữ học của tổ tiên ta”.
Dẫn lời Giáo sư Trần Trí Dõi, tác giả đi đến kết luận: “Như vậy thì cội nguồn văn hóa Việt Nam cũng không thể chung nguồn gốc với văn hóa Hán”. Thậm chí ông còn đi xa hơn khi mở vấn đề đến lịch sử hình thành dân tộc lên tới 20 ngàn năm.
Nhằm giúp vấn đề rõ ràng, gợi mở và cận khoa học hơn, chúng tôi trao đổi, phản biện với tác giả về những mệnh đề nói trên.
--
CỘI NGUỒN TỪ VỰNG HÁN VIỆT:
Trong bài viết, tác giả Nguyễn Hải Hoành đưa ra nhận định: “Từ vựng Hán Việt là loại từ vựng do tổ tiên ta sáng tạo ra trong quá trình tiếp nhận chữ Hán” hay: “tổ tiên ta đã sáng tạo ra cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt mà không đọc theo âm Hán, tức cách phiên âm chữ Hán thành từ Hán-Việt”.
Từ vựng Hán Việt không phải là sáng tạo của tổ tiên ta. Từ vựng ấy được hình thành bởi những người Hán tại Giao Châu – Annam (tức Việt Nam thời Hán Đường).
Tác giả Nguyễn Hải Hoành không đưa ra bất cứ một bằng chứng lịch sử nào chứng minh cho nhận định của mình.
Nhưng nhiều nhà khoa học lịch sử và ngôn ngữ đã công nhận rằng tại Miền Bắc Việt Nam đã từng có cộng đồng Hán ngữ đó đã từng rất phồn vinh .
Động lực nào để người Hán di cư tới Giao Châu - Annam?
Ngoài những lần Trung Quốc có biến loạn thì lợi ích kinh tế mới là cốt lõi.
…
Cố GS Nguyễn Tài Cẩn trong “Chương thứ II - Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt” có trình bày cặn kẽ hoàn cảnh lịch sử đặt nền móng cho cách đọc Hán Việt.
Ông cho biết có 3 yếu tố tác động trực tiếp tới việc hình thành từ vựng – cách đọc Hán Việt bao gồm:
a) Di dân người Hán, (dân di cư tự do và được triều đình khuyến khích, tội đồ, quan lại và gia đình họ, binh lính số lượng hàng vạn…).
b). Các yếu tố chính trị - số lượng quan lại ngày càng phình lớn bởi sự quan liêu hóa, …).
c). Công cuộc phổ quát văn hóa Hán tại Giao Châu - An Nam (Việt Nam thuộc thời Hán Đường): Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, đặc biệt là triều Đường đã mở trường dạy chữ Hán ở Giao Châu .
GS Trần Quốc Bảo (Viện nghiên cứu Việt Nam, Đại học Sư phạm Quảng Tây) trong chuyên luận “Tầm quan trọng của di dân Trung Nguyên trong thời đại nhà Đường đối với sự phát triển của Annam” cũng có những nhận định tương đồng với Giáo sư Nguyễn Tài Cần về dòng di cư của người ngôn ngữ và văn hóa Hán vào khu vực nay là miền bắc Việt Nam .
Những hoạt động bền bỉ kéo dài hàng ngàn năm như vậy đã dẫn tới sự hình thành và phát triển của những khu định cư của người Hán tại Giao Châu – Annam.
Ngôn ngữ Hán ở Annam cùng với Tương ngữ, Việt ngữ (Quảng Đông…) phát triển từ Hán ngữ thượng cổ (Old Chinese) lên Hán ngữ trung cổ (Middle Chinese). Cộng đồng nói phương ngữ Hán Annam trung cổ (Annamese Middle Chinese) ấy tồn tại và khẳng định được vị thế của mình trong buổi đầu thiên niên kỷ II tại Đại Việt.
Chúng tôi tán đồng với quan điểm của John Phan rằng từ vựng Hán Việt ngày nay có gốc từ phương ngữ Hán Trung Cổ tại Annam.
Từ thiên niên kỷ thứ II, cộng đồng nói ngôn ngữ ấy dần chuyển ngữ sang ngôn ngữ proto Việt Mường (Language shift), đóng góp toàn bộ quỹ từ vựng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.
Trải qua hàng thế kỷ, tại Châu thổ sông Hồng một phương ngữ mới ra đời. Chúng tôi cho rằng, nhận định của tác giả Nguyễn Hải Hoành về nguồn gốc cách đọc Hán Việt chỉ chính xác với một số phương ngữ Mường, không chính xác với ngôn ngữ người Kinh.
Người Việt không có sáng kiến nào về việc đọc chữ Hán theo tiếng Việt cả.
Sở dĩ phát âm Hán Việt khác với tiếng Hán hiện đại là do môi trường phát triển ngôn ngữ ở người Kinh mang đặc thù là sự tương tác, hòa nhuyễn giữa hai khối ngôn ngữ proto Việt Mường và Hán Annam Trung Cổ.
-
NGƯỜI KINH NÓI NGÔN NGỮ GÌ?
Theo Nguyễn Hải Hoành “… tổ tiên ta đã sáng tạo ra cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt mà không đọc theo âm Hán, tức cách phiên âm chữ Hán thành từ Hán-Việt” và “sáng kiến phiên âm chữ Hán thành từ Hán-Việt đã giúp người Việt thuận lợi tiếp nhận chữ Hán mà hoàn toàn không nói tiếng Hán”.
Có thể tác giả không có ý phủ định việc người Việt đã từng nói – nói thành thạo Hán ngữ, nhưng để tránh những ngộ nhận không đáng có, chúng tôi đề cập lại vấn đề ngôn ngữ người Kinh (Việt).
Từ TK X đến ít nhất là đầu thế kỷ XV, tại những vùng đất mà triều đình Thăng Long trực tiếp quản lý có ít nhất hai ngôn ngữ cùng song song tồn tại là Hán và proto Việt Mường. Ngôn ngữ Hán tồn tại trong các cộng đồng gốc Đường và được tiếp động lực từ những người nhập cư nói Ngô ngữ, Mân ngữ và Việt ngữ. Tất cả hội tụ trong văn ngôn thời Lý Trần (ngôn ngữ của tầng lớp tinh hoa Đại Việt).
Trong khi đó cộng đồng Việt Mường sử dụng ngôn ngữ của chính họ. Bằng chứng cho sự hiện diện của cộng đồng này là triều đình Đại Việt đã phải dịch Phật Thuyết, hay vua Trần Nhân Tông làm thơ nôm Cư Trần Lạc Đạo Phú…
Sự giao giữa hai khối ngôn ngữ ấy đã trở thành ngôn ngữ Việt Mường Siêu Hán Hóa (khái niệm John Phan dùng chỉ việc ngôn ngữ Việt Mường biến đổi sâu sắc và toàn diện bởi ngôn ngữ Hán Annam).
Ngôn ngữ mới này, nhờ sự hỗ trợ của triều đình mà ngày càng trở nên uy tín tại Đại Việt.
Nhưng có dữ liệu nào ủng hộ cho việc có ngôn ngữ Hán tại Đại Việt thời Lý – Trần.
Toàn thư chép có chép về việc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đến Sứ Quán gặp sứ Nguyên là Sài Xuân.
Ở đây, ta thấy Hưng Đạo Vương đã trực tiếp nói chuyện với sứ Nguyên mà không cần phiên dịch.
Hán văn Lý Trần – một di sản văn hóa đồ sộ cho thấy, tầng lớp tinh hoa Đại Việt trao đổi với nhau, làm thơ tặng nhau bằng, thực hành niềm tin tôn giáo bằng Hán ngữ.
Kể cả tiếng Việt Mường siêu Hán Hóa mà John Phan đề cập tới cũng chứa đựng từ 70 – 75% từ vựng Hán.
Bài thơ Việt Giới, của Trần Minh Tông ngõ hầu đưa chúng ta về lại bối cảnh và sự tương đồng ngôn ngữ giữa Đại Việt và Hán ngữ phương quan (chữ dùng của Trần Quang Đức trong Ngàn năm áo mũ).
Trích:
“Ngôn ngữ vô đa biệt/
Y quan bất khả đồng”,
tạm dịch:
Ngôn ngữ chẳng khác nhau nhiều/
Áo mũ không được giống nhau .
Như vậy có thể nói rằng ít nhất đến TK thứ 13, 14 Đại Việt vẫn có cộng đồng mạnh nói tiếng Hán, tự hào với tiếng Hán. Ít nhất đến khoảng thời gian này, nhiều cư dân Đại Việt vẫn thông ngôn trực tiếp với người Trung Quốc.
--
CỘI NGUỒN VĂN HÓA
Theo Nguyễn Hải Hoành “Việc tiếng Việt, tiếng Hán thuộc hai ngữ hệ khác nhau chứng tỏ ngôn ngữ Việt không cùng nguồn gốc với ngôn ngữ Hán. Như vậy thì cội nguồn văn hóa Việt Nam cũng không thể chung nguồn gốc với văn hóa Hán”.
Nhưng điều này có hoàn toàn chính xác không? Chúng tôi cho rằng đưa ra mệnh đề như vậy tác giả (của mệnh đề này) chưa đi đến cội nguồn của văn hóa người Kinh.
Nguồn gốc tiếng Việt và nguồn gốc Văn hóa Việt Nam là không trùng khít.
Nguồn gốc ngôn ngữ Việt và nguồn gốc văn hóa người Kinh cũng không trùng khít.
Từ những người nói ngôn ngữ proto Vietic đến Việt Mường đến tiếng Kinh đến Việt Nam là hành trình ngôn ngữ 4000 năm, với nhiều giai đoạn.
Trong mỗi giai đoạn đó, người nói ngôn ngữ Vietic đã tiếp nhận các luồng văn hóa và cả di truyền tới từ những người thuộc các ngữ hệ khác.
Những người Kinh đầu tiên cảm thấy mình gần Hoa Hạ, có gốc cội Hán Đường. Họ nhìn cư dân bản xứ ở vùng rìa chỉ là Liêu Di, là Mán Mọi, “nô lệ miền núi”.
Từ Khúc Thừa Dụ, đến những sứ quân gốc Hán tại khu vực sông Hồng và chưa hết! Chúng ta có những tư liệu cho thấy nhà Lý là một gia tộc tới từ đất Mân, nhà Trần đến từ đất Mân (lưu ý rằng đến thế kỷ thứ 9, 10, người Mân đã nói một phương ngữ của tiếng Hán gọi là Mân ngữ).
Những điều này đã tạo cho thành Thăng Long một nền văn hóa khác biệt với những cư dân vùng rìa. Người Thăng Long coi những cư dân ấy là Man, là Liêu Di. Từ kinh thành họ đã phóng ra hàng chục cuộc tấn công vào các thế lực bản địa khi họ “ương ngạnh không tuân giáo hóa”.
Thái úy Đỗ Anh Vũ nhà Lý nói: “Để bọn man di quấy Hạ là tội của thần [...] Nay cấm chỉ thói mọi, chắp tay mà chịu mặc hình; trộm cắp dân ven, mất mật mà theo hoàng hóa”.
Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục cho rằng thật tệ khi sinh ra ở cõi Man Di, tắm chung một dòng sông, chỉ có sinh ra ở Trung Quốc, lục căn đầy đủ là quý giá nhất: “…ba là đã được sinh ra ở Trung quốc, nhưng sáu căn không đủ, bốn thể chẳng toàn, mù điếc ngọng câm [...] tuy ở trong Hoa Hạ cũng hệt như ở ngoài hoang dã. Nay đã làm người, được sinh ra ở Trung quốc, lại có đủ sáu căn, há chẳng quý lắm sao?” .
Phạm Sư Mạnh trong bài Kinh Lý Thao Giang Lộ đã phóng chiếu cách nhìn rất đỗi Trung Hoa với vùng đất bên rìa Kinh Lộ.
Trong Án Thao Giang Lộ, ông viết: “Tục tạp Nhiễm Bàng kiêm Bặc Bắc/Địa liên Thiện Thiện dữ Vân Nam” .
Nguyễn Phi Khanh nhìn về Trường Châu thấy: “Tục tạp liêu di dân thái cổ”. Và khi đi tuyên chiếu ở Trường châu thì ông đem “chiếu chỉ triều Đường”, “sắc lệnh nhà Hán” đến với dân Liêu Di ấy.
Trong tờ chiếu đánh Ai Lao năm 1479, Vua Lê Thành Tông xưng mình cai quản Trung châu; còn phía đối phương chỉ là man rợ, chó má.
Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam Trung Đại chúng ta còn bắt gặp rất nhiều những diễn ngôn như vậy.
Trong ngàn năm qua, chúng ta dành tới 90% thời gian để theo đuổi nỗ lực Vô tốn Trung Hoa (無遜中華 - không khác và không thua kém Trung Hoa).
Từ những cứ liệu trên, chúng tôi cho rằng với người Kinh thì từ từ vựng, văn hóa, đến ý thức tự nhận chúng ta đã từng có điểm giao rất lớn với nền Văn minh Trung Hoa (Việt Nam nằm trong Hán quyển).
Cũng lưu ý cội nguồn văn hóa Việt Nam được hình thành bởi 54 sắc tộc trên toàn quốc gia, không phải chỉ dành riêng cho người Kinh.
--
DÂN TỘC 20 NGÀN NĂM TUỔI?
Nghiên cứu của Gs Trần Trí Dõi “Lịch sử ngôn ngữ người Việt: Góp phần tìm hiểu văn hóa Việt Nam” đã gợi xúc cảm để tác giả Nguyễn Hải Hoành đi đến mệnh đề:
“Kết luận trên cho thấy dân tộc Việt được hình thành trên mảnh đất này từ khoảng hơn 20 nghìn năm trước. Có thể là, theo thuyết “Đi khỏi châu Phi” (Out of Africa), trước đó tổ tiên ta từ châu Phi di cư tới đây. Năm 1923, nhà khảo cổ Madeleine Coloni phát hiện di cốt người Việt cùng nền văn hóa của họ trong hang đá ở tỉnh Hòa Bình, các di vật này có niên đại 18.000 năm trước CN”.
Chúng tôi không hiểu dựa trên cơ sở khoa học nào mà tác giả lại kết nối từ văn hóa cuội ghè Hòa Bình đến tận người Việt hôm nay? Chúng tôi thẳng thắn lưu ý rằng theo chuẩn thuật ngữ khoa học thì chỉ có một dân tộc Việt Nam được hình thành từ 54 sắc tộc, trong đó người Kinh là sắc tộc chủ thể.
Về định nghĩa dân tộc, ngày 11 tháng 3 năm 1882, tại Đại học Sorbonne, Ernest Renan đưa ra định nghĩa về “dân tộc” như sau: “Dân tộc là một tâm hồn, một nguyên lý tinh thần. Có hai yếu tố, thực ra chỉ như một, tạo nên tâm hồn hoặc nguyên lý tinh thần này. Một nằm trong quá khứ, một trong hiện tại. Cái này là sự đồng sở đắc di sản ký ức phong phú; cái kia là sự thỏa thuận trong hiện tại, là lòng mong muốn được chung sống, là ý chí biến giá trị kế thừa, giá trị mà mỗi người đã tiếp nhận dưới hình thức trọn vẹn, trở nên bất diệt” .
Với người Kinh, chúng ta bắt gặp diễn ngôn người Kinh là Hoa Hạ, hãnh diện làm người Trung Quốc (xem phần trên).
Theo định nghĩa Ernest Renan thì ta sẽ gặp ký ức và mong muốn làm bất diệt hóa ký ức di sản Trung Hoa ngay tại Đại Việt. Như vậy giả thiết “dân tộc Việt được hình thành trên mảnh đất này từ khoảng 20 ngàn năm trước” liệu có phù hợp không?
Tiếp theo, chúng ta sẽ lưu ý tới những luồng di cư.
Dữ liệu di truyền học cho thấy 4000 năm trước người ngữ hệ Nam Á di cư vào khu vực châu thổ sông Hồng, sáng tạo văn Phùng Nguyên. Người mang di truyền học ngữ hệ Tai Kadai sáng tạo ra nền văn hóa Lạc .
Dữ kiện lịch sử và Khảo cổ học cho thấy, người Hán di cư tới châu thổ sông Hồng. Tất cả những dòng di cư ấy đều không phải là người của văn hóa cuội ghè Hòa Bình.
Xin hỏi tác giả Nguyễn Hải Hoành: nếu văn hóa, lịch sử của người Kinh (tác giả dùng khái niệm dân tộc Việt) (có thể…) được bắt nguồn từ người Hòa Bình, vậy tiếng nói người Kinh được hình thành từ tiếng nói của người thuộc văn hóa Hòa Bình ư?
Người Hòa Bình nói ngôn ngữ gì vậy?
Proto Vietic, hay là Austroasiatic, hay sâu nữa là proto Austroasiatic đây? Chúng ta kế thừa và mong muốn bất diệt hóa di sản ký ức nào từ người Hòa Bình đây?
Chúng tôi nhấn mạnh rằng chưa có bằng chứng khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ, văn hóa nào ủng hộ kết luận “dân tộc Việt được hình thành trên mảnh đất này từ khoảng hơn 20 nghìn năm trước”.
Chúng ta chỉ có những bằng chứng khẳng định người Hòa Bình là những người bản địa đầu tiên ở khu vực nay là Đông Nam Á và cả nam Trung Hoa. Hậu nhân của họ vẫn còn săn bắn hái lượm trong các khu rừng rậm của Phillipine, Malaisia, Thái Lan ngày nay.
--
KẾT LUẬN
Chúng tôi thiết nghĩ bài viết “Vì sao tiếng Việt không cùng nguồn gốc với tiếng Hán?” của tác giả Nguyễn Hải Hoành cần bổ sung rất nhiều cứ liệu về ngôn ngữ (trong đó có phục nguyên âm, âm vị), lịch sử, văn hóa, khảo cổ. Tác giả cũng cần cẩn trọng hơn trong việc đề cập tới các vấn đề dân tộc, văn hóa, sử dụng dữ kiện.
Sự cẩn trọng và thanh thản khi đối diện các vấn đề lịch sử, dữ kiện lịch sử là cần thiết cho hành trình tiệp cận khoa học lịch sử mà cụ thể là lịch sử hình thành người Kinh.
Không ai có thể tự biện rằng: “Mọi nghiên cứu về thời cổ đều chỉ là “thầy bói sờ voi”, tất cả đều chỉ dựa trên suy đoán, ai suy luận có logic thì dễ được người đọc tin là đúng. Không ai có quyền chê người khác là sai”.
NGƯỜI XƯA & NGƯỜI NAY
Ngày 17 tháng 12 năm 2023
Đã đưa trên Fb này ngày 15 - 12 - 2018
--
Một chủ đề tôi thường thích theo dõi là tìm hiểu đại cương sự khác nhau giữa người ngày nay và người xưa, cụ thể là con người Hà Nội trước 1945 và sau 1945. Thì đây, lời kể của anh Vĩnh bạn ngoài bãi tắm sông Hồng.
Ngày xưa – tức là đầu thế kỷ XX -- ông nội bác Vĩnh giỏi lắm, ba lần đỗ tú tài nhưng không ra làm quan cho Tây. Một lần có việc từ nhà ra Hà Nội ăn giỗ. Đường dài 13km, ông cụ đã đi bộ nhiều lần. Nhưng không hiểu sao hôm ấy cụ không kịp về đúng hẹn. Gần tối người nhà đi tìm, thấy ông đứng giữa đường, tay cầm một túi tiền. Hỏi thì cụ bảo:
--Tao thấy ai đánh rơi cái này.
- Kệ người ta chứ.
- Không được. Thả nào người đánh rơi cũng quay trở lại tìm.
-- Thì vứt lại.
-- Ấy chết, nhỡ có đứa xấu đi qua, nó lại lấy mất của người ta. Tao phải đợi người ấy quay lại rồi trao tận tay mới coi là xong.
Người xưa rất hiểu là cái xấu còn tồn tại quanh mình và trong chính mình. Nhưng họ dám chống chọi và quyết chống chọi bằng được. Họ lại còn biết bảo vệ lòng tốt của họ.
Ngày nay chúng ta có nói con người thương yêu nhau cũng chỉ là câu đầu lưỡi, hoặc do quen mồm mà nói; vừa nói xong đã nghĩ thời nay ai lo phận người ấy đã là tốt lắm rồi, không mấy ai tính chuyện chuyển lòng tốt của mình thành hành động và lo thực hiện lòng tốt của mình tới cùng.
Sở dĩ tôi tin mẩu chuyện này của anh Vĩnh (một bạn cùng tuổi thất thập cổ lai hy) vì tôi nhớ tới thiên truyện Lão Hạc của Nam Cao. Một xã hội có những người như lão Hạc thì cũng có những nhân vật như người ông của anh Vĩnh.
Nói theo chữ nghĩa tức con người trong xã hội trước 1945 còn lo vun đắp và giữ được phần nhân bản, còn thấy cần phải làm những việc tốt không vụ lợi. Mà con người bây giờ thì nghĩ cũng không và làm càng không.
CẦN TÌM CÁCH GIẢI THÍCH
Mỗi thời một khác, tôi không dám ước có chuyện người nay hành động như người xưa. Nhưng việc phải biết rằng ngày xưa có những con người như thế thì cần thiết và cũng càn tìm cách giải thích tại sao lại có hiện tượng đó.
Trong việc giải thích, tôi tạm cho rằng không thể trông chờ ở riêng một hai người mà phải là công việc của cả xã hội. Nhưng thậm chí chỉ gói gọn như thế tôi vẫn thấy bi quan chưa biết bao giờ cái thời “luôn đặt vấn đề về chính mình” đó mới tới. Hoặc có khi chả bao giờ tới cũng nên.
THẾ NÀO LÀ TINH THẦN QUÝ TỘC, BÌNH DÂN VÀ LƯU MANH?
Ngày 23 tháng 12 năm 2023
Đây là một bài vừa đưa trên mạng. Chỉ cần đọc đoạn kết đủ hiểu tầm vóc vấn đề nêu trong bài
--
"Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh"
Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo văn minh, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?
--
Tyantuan Le
ptoordSsen6ámtg2c800hm123 234 t7ih3h4i1,m0902h20 h5gmn133u86 ·
Bài rất hay
THẾ NÀO LÀ TINH THẦN QUÝ TỘC, BÌNH DÂN VÀ LƯU MANH ?
Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển
Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.
Quý tộc, bình dân và lưu manh
Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản không đồng nghĩa với lưu manh, giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.
Tinh thần quý tộc là gì?
Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.
Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển
Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.
Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử
Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ, đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.
Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh
Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo văn minh, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?
Hoàng Hà (biên dịch từ 360doc.com)
MỘT BÀI VIẾT MÀ TÔI MONG ĐỢI
Ngày 25 tháng 12 năm 2023
Lâu nay tôi muốn làm một người học trò nhỏ trong tìm hiểu thêm lịch sử. Nay thì thấy đã có những người đáng tin cậy giúp đỡ mình. Không bám sát sử thì nhiều khi nghiên cứu văn học sẽ chệch đường.
-
Hậu Kc Nguyễn
tSnpodsroei7g 2ht0ua58g290h17uá3nug12luh4cht1tf 581,0a21mh0 ·
“NHỮNG CỘNG ĐỒNG TƯỞNG TƯỢNG” – VÀI SUY NGHĨ RỜI
Hậu khảo cổ (đặt gạch "bản quyền")
Note này viết sau buổi Midnight talk về cuốn sách mới được dịch lại. Repost một phần note sau buổi Talk tối qua của Trần Trọng Dương về “Thời đại Hùng Vương qua góc nhìn Sử chí học – Một giả thiết tân tạo hay một truyền thống tái trang”
2/ Sau buổi trò chuyện về công trình này từ những gợi ý của người trình bày, từ góc độ hiểu biết của mình và sự trải nghiệm cá nhân, tôi có vài điều suy nghĩ còn rời rạc (và sẽ còn phải nghĩ tiếp).
2.1 Không/chưa có “một dân tộc – quốc gia” thời VH Đông Sơn, VH Sa Huỳnh, VH Đồng Nai. (nhân tiện, xin nhắc vài người nghiên cứu lịch sử/văn hóa vẫn nhầm lẫn, coi ĐS - bắc, SH - trung là tương đương với Óc Eo /Phù Nam ở Nam bộ, mà thực ra là tương đương văn hóa Đồng Nai – Đông Nam bộ).
- Về công cuộc nghiên cứu “Thời đại Hùng vương” như là một lực đẩy rất mạnh cho tinh thần dân tộc Việt (Nam) trong nghiên cứu XHNV và (ứng dụng vào tuyên truyền) chính trị. Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương là một lễ hội mùa xuân của một địa phương trong chuỗi hội hè mùa xuân ở miền Bắc. Khi nâng cấp thành “Quốc lễ” cũng là một cú đẩy “nâng cấp” tinh thần dân tộc (đoàn kết/đồng bào) trong bối cảnh mới ở VN và thế giới.
- Phát hiện và nghiên cứu KCH ĐNA cũng có thời kỳ “dĩ Âu vi trung” (tk 18 -19), nhưng từ khoảng đầu thế kỷ 20 thì lại nhấn mạnh tính đặc thù, các nền văn minh ở khu vực này gắn liển với các quốc gia cổ đại được coi là “dân tộc” bản địa. Tính bản địa của các nền văn hóa khảo cổ do “môi trường tự nhiên” quyết định được nhấn mạnh như “đối lập/đối trọng” với văn minh châu Âu. Hiện tượng “bảo thủ” của công cụ đồ đá thời đá cũ được giải thích là sự thích ứng với môi trường tự nhiên, và là một con đường riêng của ĐNA. Sự giải thích này đến từ các học giả châu Âu nghiên cứu ĐNA, phản ánh nhận biết sự khác biệt của ĐNA nói chung và từng quốc gia trong khu vực. Đây là cơ sở để vài chục năm sau, thế hệ các nhà nghiên cứu bản địa ĐNA phát triển để nhấn mạnh “bản sắc, cội nguồn” của mình.
2.2 Hiện tượng người Việt ở Nam bộ: tiếng Nam bộ được coi là tiếng “Việt mình” # tiếng Việt “nước Bắc”. Người Việt nam bộ hồi cố lịch sử chỉ đến thời Chúa Nguyễn và hầu như không có tâm thức “4000 năm, thời Hùng Vương, truyền thống...”. Có thể nhận thấy một nguyên nhân từ thể chế chính trị:
- Tuyên truyền của VN cộng hòa: Bắc tiến, hai quốc gia: quốc gia – nam và cộng sản – bắc. Do Lịch sử cộng đồng lưu dân vào Nam bộ chủ yếu từ miền Trung – Ngũ Quảng.
- Ngược lại, ở miền Bắc tâm thức thường trực là thống nhất đất nước, chống đế quốc Mỹ giải phóng miền nam... Nước VN là Một, dân tộc VN là Một” phổ biến trong giáo dục và tuyên truyền từ nửa sau thế kỷ 20. Có lẽ cũng từ nguyên nhân sâu xa hơn từ thời Đàng Trong – Đàng Ngoài: tâm thức của chính quyền không chấp nhận sự “cát cứ” ngày càng mạnh của chúa Nguyễn, nhất là việc nhà Nguyễn bỏ kinh đô Thăng Long “ngàn năm” của Đại Việt mà lập Huế làm kinh đô của nước Đại Nam.
- Từ sau 1975 cùng với “làn sóng” di dân từ Bắc vào Nam, các bảo tàng địa phương phía Nam mới thành lập đều có phần trưng bày về “thời nguyên thủy” rồi đến “Thời dựng nước” bao hàm ý nghĩa “giai đoạn hình thành dân tộc”. Tâm thức về “4000 năm lịch sử” được phủ rộng từ cộng đồng đến giáo dục, tuyên truyền. Năm 2004, sau khi cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long có những kết quả rực rỡ, Bảo tàng LSTPHCM đã trưng bày hiện vật cuộc khai quật tại TPHCM. Từ cuộc trưng bày này những người thực hiện (trong đó có tôi) nhận thấy giá trị của các khái niệm “dân tộc VN là Một, cội nguồn bốn nghìn năm”... được khuyếc tán rộng rãi hơn, trên cơ sở bằng chứng vật chất tác động trực tiếp đến cộng đồng, cụ thể hóa những tuyên truyền/giáo dục từ sau 1975 ở phía nam.
2.3 Chủ nghĩa dân tộc VN: khuyến khích, ca ngợi sự hy sinh, coi hy sinh là một phương thức để có/bảo tồn “dân tộc”, thậm chí phát triển khuyến khích sự hy sinh ở... người khác! (bằng những phong tặng, những danh hiệu, ko coi trọng con người cụ thể mà coi trọng “nghĩa vụ” đối với dân tộc...). Hình như đặc điểm này được khuếch tán mạnh mẽ người Việt (kinh) do văn hóa cộng đồng được coi trọng, nhẹ tính cá nhân, cá nhân chỉ được nhìn thấy/xác lập trong một cộng đồng cụ thể (gia đình, dòng họ, làng xã, đồng hương – con ông nào/họ gì/ở đâu/quê đâu)?
- Ở SG báo chí ra đời sớm nhưng hầu như ít thấy khuyến khích hay tuyên truyền về truyền thống hay CNDT với những “biểu hiện” trên. Mà thường phổ biến những giá trị của thế giới phương tây đương đại: dân chủ, bình đẳng, bác ái. Cũng từ giá trị này mà chuyển thành “giá trị dân tộc” – độc lập dân tộc: Đó là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy tầng lớp trí thức, tư sản, điền chủ Nam bộ theo Việt Minh chống pháp.
- Ngôn ngữ cũ – mô hình mới: có thể coi cộng đồng người Việt nam bộ là trường hợp này: đình làng Nam bộ thờ nhân thần, nhiên thần, tiên hiền hậu hiền, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn... không nhấn mạnh “gốc rễ” mà nhấn mạnh “công lao” và lòng từ bi, khoan dung.
- Sau 75: khái niệm “Tư sản dân tộc” thường chỉ nói về tư sản người Việt, còn tư sản người Hoa/Hoa kiều thì bị coi chung là “TS mại bản”! bên cạnh ý nghĩa chính của 2 khái niệm này thì điều này có lẽ liên quan đến quan hệ/phân biệt Việt – Hoa/Việt – Trung trong lịch sử? Mối quan hệ/phân biệt này chưa bao giờ phai nhạt, có thể chìm xuống nhưng ko mất đi mà ngày càng trở nên sâu sắc do quan hệ của hai quốc gia trong thời hiện đại.
3/ Có thể nói ở VN trong nhiều trường hợp, “tinh thần dân tộc” là cụm từ có ý nghĩa như/tương đương “chủ nghĩa dân tộc” nhưng dễ hiểu và gần gũi với số đông người dân, có thể sử dụng trong nhiều hoàn cảnh. Có lẽ VN là một trường hợp (case) điển hình về một cộng đồng tưởng tượng có tên “dân tộc Việt/ Việt Nam”. Động lực của sự tưởng tượng này bắt đầu từ truyền thống chống ngoại xâm, và ngày càng mạnh từ hai cuộc kháng chiến chống pháp – mỹ và nhu cầu được thừa nhận vai trò dẫn đắt quốc gia của đảng CSVN trong thế kỷ 20 và đặc biệt khi bước sang thế kỷ 21.
- Khi chính quyền có nhu cầu thống nhất về tâm thức, cội nguồn thì thực tế là chưa có/không có hoặc đang có nguy cơ phá hoại điều đó. Khi đó, từ ý chí, “quyết tâm chính trị” của chính quyền thì trong thực tế việc thực hiện luôn “quá đà”, thường bỏ qua sự “thống nhất trong đa dạng” mà “tiến nhanh, tiến thẳng” lên sự đồng nhất, đồng phục về tâm thức và thiết chế văn hóa.
- Trong nghiên cứu KHXHNV cũng có hiện tượng “dĩ Bắc vi trung” – coi mọi thành tố, hiện thực văn hóa ở phía Nam đều có nguồn gốc hay từ phía Bắc mang vào, coi văn hóa đồng bằng sông Hồng là “chuẩn”. Mà không thấy sự biến đổi, tiếp nhận những yếu tố văn hóa khác, tạo nên bản sắc văn hóa mới ở phương Nam.
- Lịch sử là một phần của văn hóa. Tiếp cận từ VH sẽ nhận biết lịch sử toàn diện hơn vì văn hóa là của cộng đồng, còn lịch sử “được làm nên” bởi “một số” trong cộng đồng, nên lịch sử sẽ mang bản sắc cộng đồng cùng bản tính cá nhân. Mối quan hệ cá nhân – cộng đồng là hai chiều và ở một số nhân vật lịch sử, mối quan hệ này có khi nhòa lẫn vào nhau và cá nhân được coi là đại diện cho cộng đồng.
(Sẽ còn suy nghĩ tiếp về vấn đề này)
Atlat các dân tộc VN
VIÊT NAM CÓ THỂ HOÀN TOÀN 'THOÁT TRUNG' ĐƯỢC KHÔNG?
Ngày 31 tháng 12 năm 2025
(Nguyễn Hải Hoành dịch)
Nguồn tiếng Trung: 越南能否彻底“去中国化”? 2017-05-10
Dịch giả cũng cho biết bài không ghi tên tác giả, có lẽ là một nhà báo Trung Quốc giấu tên.
Posted on 15/02/2019 by The Observer
http://nghiencuuquocte.org/.../viet-nam-co-the-hoan-toan.../
Khi đưa trên Fb, VTN tôi đã lược bỏ một số đoạn không cần thiết. Mặc dầu vậy, bài vẫn dài tới hơn bốn ngàn từ. Chúng tôi xin phép tách đoạn giữa ra thành một bài riêng “Thoát Trung trong lịch sử” sẽ đưa sau. Phần đăng dưới đây chỉ gồm phần đầu và phần cuối.
---------
Sau sáu năm, tôi lại đến Việt Nam lần nữa; chuyến đi này nhằm mục đích chính là tìm hiểu tình hình tiến trình “Thoát Trung” của Việt Nam thời cận đại và hiện đại cũng như các ảnh hưởng của tiến trình đó.
Cho dù chỉ là một du khách bình thường đi tham quan kiểu cưỡi ngựa xem hoa thì bạn cũng sẽ dễ dàng cảm nhận được văn hóa Trung Hoa có ảnh hưởng sâu sắc như thế nào đối với Việt Nam: những biển chữ Hán ngoài cổng các kiến trúc cổ trên đường phố, những đôi câu đối nghiêm chỉnh trên cột các đền chùa, môn cờ tướng Trung Quốc là trò giải trí được nhiều người ưa thích nhất ở các công viên, chữ Song Hỷ màu hồng trong các lễ cưới….
Thế nhưng sau khi đi sâu quan sát thì bạn sẽ phát hiện thấy chỗ nào cũng có dấu tích của tiến trình “Thoát Trung”: một số bảng biển chữ Hán ở các đền chùa bị thay bằng các bảng biển viết chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thậm chí cả đến câu đối cũng đều đã “La tinh hóa” như vậy, những chữ La tinh của đôi câu đối viết dọc từ trên xuống dưới đem lại cho người ta một cảm giác cười ra nước mắt.
Trong các viện bảo tàng, những phần trưng bày về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hầu như không thấy nói gì về viện trợ của Trung Quốc; các cửa hiệu trên đường phố đều treo biển “Hàng Việt Nam”, “Hàng Nhật”, “Hàng Hàn Quốc” “Hàng Mỹ” thậm chỉ “Hàng Canada” mà hầu như chẳng thấy biển hiệu “Hàng Trung Quốc”, cho dù Trung Quốc là nước nhập khẩu hàng hóa lớn nhất vào Việt Nam.
Chưa thấy nhiều tác phẩm nghiên cứu có hệ thống về vấn đề Việt Nam “Thoát Trung”. Trong mấy tài liệu tôi sưu tầm được, các tác giả chưa nhất trí về nguồn gốc và tình hình phát triển của tiến trình Việt Nam “Thoát Trung”, việc phân tích động cơ “Thoát Trung” cũng khá đơn giản, và đó lại chính là nguyên nhân thúc đẩy tôi đến Việt Nam tìm hiểu.
“LA TINH HÓA” CHỮ VIẾT CỦA VIỆT NAM
Từ thế kỷ 19 thực dân Pháp ra sức đẩy mạnh sử dụng chữ Việt Nam La tinh hóa (chữ Quốc ngữ), dần dần trở thành chữ viết chính thức của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Người Pháp làm thế nhằm mục đích chính là để tầng lớp tinh hoa người Việt thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, cắt đứt mối liên hệ văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc. Cho nên một số học giả coi việc La tinh hóa văn tự Việt Nam tiến hành trong thời kỳ Pháp đô hộ nước này là sự khởi đầu quá trình “Thoát Trung” của Việt Nam.
Thế nhưng ngay cả trong thời kỳ Pháp thuộc thì chữ Hán và chữ Nôm (một loại chữ Việt Nam hóa dựa trên nền tảng chữ Hán) cũng không hoàn toàn biến mất trong đời sống người Việt. Trên rất nhiều lĩnh vực, chữ Hán vẫn dùng song song với chữ Quốc ngữ.
Sau khi thành lập chính quyền Bắc Việt Nam thì chữ Hán hoàn toàn bị thay thế, trở thành vật hy sinh của “Phong trào xóa nạn mù chữ” do nhà nước triển khai.
Đối ngoại, chính phủ Việt Nam tuyên bố sở dĩ phải đẩy mạnh dạy chữ Quốc ngữ chứ không dạy chữ Hán, đó là do chữ Quốc ngữ La tinh hóa đơn giản dễ học.
VIỆT NAM CÓ THỂ
TRIỆT ĐỂ “THOÁT TRUNG” ĐƯỢC CHĂNG?
Những năm gần đây, do xung đột trên vấn đề Biển Đông [nguyên văn Nam Trung Quốc hải] và do nỗi đau vết thương còn lại sau cuộc chiến 1979 ấy, một số nhà phân tích cho rằng Việt Nam có lẽ sẽ tăng cường độ “Thoát Trung”.
Năm 2010 một bộ phim truyền hình cổ trang của Việt Nam quay tại trường quay ở Trung Quốc vì “quá ư Trung Quốc hóa” mà bị chính quyền Việt Nam cấm chiếu.[1]
Năm 2014, Bộ Văn hóa Việt Nam gửi công văn kiến nghị các địa phương không bày biện, không sử dụng, không thờ cúng các loại tượng điêu khắc, sản phẩm, linh vật và vật phẩm quái dị không hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam”. Nghe nói những vật phẩm ấy chủ yếu là các loại sư tử đá “Trung Quốc hóa” nhập từ Trung Quốc.
Thế nhưng các cố gắng “Thoát Trung” về văn hóa của Việt Nam xem ra không có hiệu quả lớn. Suy cho đến cùng, quá trình hơn 2000 năm ngấm văn hóa Trung Quốc đã đặt nền móng văn hóa cho bản thân Việt Nam, triệt để “Thoát Trung” sẽ tương đương với sự cắt đứt lịch sử của chính mình.
Ở Việt Nam ngày nay, tam giáo Nho, Thích, Đạo đều có mảnh đất của mình, mà cả ba đều từ Trung Quốc truyền sang, các tín đồ của họ vẫn chiếm tuyệt đại đa số trong số dân tin theo tôn giáo ở nước này.
Về kinh tế, hầu như chẳng ai tin rằng trong một thời gian ngắn Việt Nam có thể thoát khỏi sự dựa dẫm vào Trung Quốc. Cho dù nội bộ chính phủ Việt Nam thỉnh thoảng có thảo luận vấn đề “Cố gắng Thoát Trung về kinh tế” nhưng ngành chế tạo của Việt Nam chỉ là một khâu trong chuỗi sản xuất công nghiệp do Trung Quốc làm chủ, sản phẩm làm ra lại cần lấy Trung Quốc làm nước nhập khẩu lý tưởng.
Thoát khỏi Trung Quốc về kinh tế hầu như là một “nhiệm vụ không thể thực hiện”.
Lĩnh vực Việt Nam có khả năng nhất để thực hiện “Thoát Trung” là chế độ chính trị. Mặc dù rất khó có thể nói thể chế chính trị hiện nay của Việt Nam là bản sao của Trung Quốc, nhưng mỗi lần Việt Nam và Trung Quốc xảy ra xung đột thì hầu như lần nào mâu thuẫn cũng đều được hóa giải với lý do “giữ cho toàn vẹn mối tình giữa hai đảng, hai chính phủ”.
Tuy nhiều báo đài từng đưa tin với tiêu đề đại để như “Công cuộc cải cách thể chế chính trị của Việt Nam tiến nhanh hơn Trung Quốc” song tình hình thực tế lại không như vậy, hoặc có thể nói việc cải cách thể chế ở Việt Nam chưa có những đột phá thực chất.
Tháng 8/2014, hãng tin Bloomberg đưa tin: 61 thành viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có một cựu đại sứ tại Trung Quốc, cùng ký tên vào một bức thư ngỏ gửi Chính phủ Việt Nam. Bức thư viết: Các nhà lãnh đạo nên “xây dựng một nhà nước thực sự dân chủ, pháp trị”, cho phép tự do ngôn luận chính trị ở mức độ rộng hơn, “thoát khỏi” sự dựa dẫm vào Trung Quốc.
Bản tin cho biết, một số người, kể cả các cựu quan chức chính phủ đã dự thảo một bản Hiến pháp yêu cầu triển khai sự “cạnh tranh về chính trị”.
Mặc dù kết quả bầu cử lãnh đạo mới đây không thể hiện Chính phủ Việt Nam có dấu hiệu “thoát khỏi Trung Quốc”, nhưng việc vấn đề này có thể được bàn luận trong thư ngỏ là đủ tỏ rõ nguyện vọng của một bộ phận khá đông đảo trên chính trường Việt Nam.
Bất kể là trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ hay vấn đề kinh tế, Việt Nam đều tính toán khả năng dựa vào phương Tây, thậm chí từng có thời đã xem xét vấn đề lập liên minh quân sự với quốc gia cựu thù là Mỹ, song le lại khó có thể vượt qua trở ngại về ý thức hệ.
Nếu Việt Nam muốn tăng cường mối quan hệ với phương Tây để chống Trung Quốc
thì tiền đề ắt phải là
-- nên mở cửa hơn, bỏ chế độ chuyên chế một đảng,
-- cần triệt để cắt đứt quan hệ với Trung Quốc.
Bước đi này tuy không gian nan như sự “Thoát Trung” về văn hóa nhưng lại chẳng dễ dàng thực hiện.
Nguồn tiếng Trung: 越南能否彻底“去中国化”? 2017-05-10
———————
[1] Có lẽ là phim “Lý Công Uẩn – Đường dẫn tới thành Thăng Long” Tham khảo: https://nld.com.vn/.../khong-chieu-ly-cong-uan-duong-toi...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét