Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

FACEBOOK 2014

 BÀI ĐĂNG TRÊN FACEBOOK

NĂM 2014

MỤC LỤC

1. Mấy câu danh ngôn chính trị 3

2. Những tai hại do không nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hán Việt 5

3. Khi dối trá, con người biến dạng 8

4. Nhà triết học Platon bàn về dân chủ 11

5. Một minh họa cho thuyết đám đông của  G.Le Bon 13

6. Made in Vietnam 15

7. Ba ngày ở Myanmar 17

8. Đạo Phật miền Nam 21

9. Tìm hiểu chính sách đào tạo lớp trí thức mới của nhà nước Nga Xô Viết để hiểu trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954 23

10. Sự dốt nát của quan lại trong lịch sử 24

11. Thái độ hạ cấp: Một giá trị mới của        xã hội 25

12. Khả năng im lặng 30

13. Hai đề nghị của Myanmar về giáo dục mà chúng ta khó nuốt 31

14. Biện hộ cho sự vô cảm 34

15. Thái Lan – Xứ sở biết tự cai trị 35

Chiều sâu cuộc sống 36

Biết cách tổ chức xã hội 37

16. Nhẹ kiếp nhân sinh 44

17. Niềm tin ghê gớm 45

18. Tuổi già xứ mình 47

19. Tìm học những cách nghiên cứu văn hóa 48

20. Cái hiện đại & trung cổ 49

21. Đâu là nguyên nhân mọi yếu kém của người Việt 50

22. Gợi ý từ một nhà kinh tế 53

23. Bước đi giữa bóng tối 54

24. Tuổi già ... và phụ nữ 56

25. Người anh hùng nói 58

26. Cái vội của người mình 60

27. Nhân hiện tượng truyện ngôn tình Trung Quốc 63

28. Ngày mỗi phụ thuộc 64

29. Những cung bậc của cái hèn 69

30. Cái hay không theo, theo cái dở 72

31. Chung quanh sự học 73

32. Tiếp tục câu chuyện sự có mặt của những ngày xưa 74

33. Chủ nghĩa khoái lạc ở dạng tầm thường nhất của nó 75

34. Dấu hiệu hoang dã 77

35. Một thứ tự do hoang dại 78

36. Sống chậm lại 83

37. Mấy điều vân vi khi nhớ lại một lời ai điếu vay mượn 84

38. Tại ta hay tại người? 87

39. E sợ khi bước ra thế giới 88

40. Thời gian & rác 90

41. Một truyện tiếu lâm Xô Viết có liên quan tới giới nhà văn 94

42. Làm gì đây, lúc về già?! 96

43. Chuyện những người già 98

44. …Những bóng ma trên bãi tha ma của sách 100

45. Đi tìm khái niệm lưu manh qua sách vở 101

46. Lưu manh côn đồ cũng ngày một đổ đốn 107

47. Tội làm hư dân 109

48. Vận may có tới cũng chắc đâu đã biết tận dụng 111

 

Mấy câu danh ngôn chính trị

Ngày đăng: 18/10/2014

 

Từ điển danh ngôn thế giới do Lưu Văn Hy biên soạn bản của nhà Tổng Hợp TP HCM 2006 có một ưu điểm, so với một số cuốn khác tôi đã đọc - tác giả chọn được ra nhiều câu thú vị có liên quan đến đời sống chính trị hiện đại.

Một câu của nhà văn Mỹ Henry Brooks Adams (1838 – 1918)

“Làm chính trị, trên thực tế, bất luận trong lĩnh vực nào, luôn luôn là việc tổ chức một cách có hệ thống lòng căm thù.”(tr 12)

Câu của tiểu thuyết gia Anh Elizabeth Gaskell (1810 -1865)

“Nội dung cơ bản của loại chủ nghĩa ái quốc ấy là ghét bỏ mọi quốc gia khác” (Tr 129)

Câu sau đây liên quan tới Henry Reed nhà thơ Anh (1914 - 1986). Nghiên cứu về hồi ký của một viên tướng Mỹ thời kỳ nội chiến Nam Bắc, ông nhắc lại một câu của viên tướng đó:

“Trong một cuộc nội chiến, một viên tướng cầm quân phải biết – bằng vào bản năng hơn là thực hành – phải biết chính xác khi nào ngả sang phe bên kia.”(Tr 283)

Theo tôi hiểu  ở đây người ta muốn nói, trong một cuộc nội chiến, không phải phe này hay phe kia chiến thắng mà cả dân tộc chiến thắng, nghĩa là tránh được chiến tranh, vãn hồi hòa bình, ở đó người trong một nước bàn bạc với nhau về vận mệnh Tổ quốc.

Lòng trung thành với quốc gia phải đặt cao hơn lòng trung thành với phe phái mà mỗi người là một thành viên.

Nhìn vào các cuốn từ điển danh ngôn, phần bàn về nội dung chính trị, tôi nhận thấy không có tác giả người Việt. Ở cuốn này cũng vậy.

Nhưng rồi tôi tự hỏi, nếu mình biên soạn mình biết chọn ra câu danh ngôn nào của tác giả Việt bây giờ. Không có!

Trên lĩnh vực này, người mình không có những nhà tư tưởng mà khi phát biểu ra, thiên hạ phải chịu rằng cũng đúng với trường hợp xứ họ.

Dân ta - kể cả bộ phận ưu tú - chưa có tư duy chính trị hiện đại?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những tai hại do không nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hán Việt

Ngày đăng: 18/10/2014

 

Trong buổi cà phê ở chỗ anh Dương Thụ thứ  bảy 18/11 này, bọn tôi sẽ được nghe ông Hoàng Dũng nói về chủ đề:

Ứng xử của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại

Đọc lời dẫn thấy diễn giả viết:

“Tiếng Hán Việt rất quan trọng, không chỉ vì tiếng Việt đã du nhập một số lượng lớn từ Hán Việt, mà còn vì chúng có vai trò đặc biệt, không thể thay thế, trong việc cấu tạo các thuật ngữ khoa học và các diễn ngôn quan phương. Tiếng Hán Việt hoạt động theo quy tắc nào? Đó có phải là biệt lệ so với các ngôn ngữ Sino-xenic (các ngôn ngữ có số lượng lớn từ vay mượn tiếng Hán như tiếng Nhật, tiếng Hàn) và rộng ra là sự vay mượn phổ quát xảy ra giữa các ngôn ngữ có quan hệ tiếp xúc hay không? Thái độ đúng đắn là đề cao khuynh hướng "giữ gìn sự trong sáng" (purism) hay tôn trọng hiện thực?”

Đọc lời dẫn giải ấy, tôi hiểu đây là buổi nói về vai trò, về tầm hoạt động và ý nghĩa của tiếng Hán Việt.

Tôi đã viết ngay trong email cho người bạn trẻ Linh Thoại “tiếng Hán Việt quan trọng vì nó liên quan tới sự phát triển trí tuệ của cộng đồng và là phương tiện bắt buộc để người Việt hội nhập với quốc tế. Điều đó đúng trong lịch sử lại càng đúng với xã hội hôm nay”

Trong lúc chuẩn bị để viết một bài kỹ lưỡng hơn, tôi tìm thấy đoạn ghi chép cũ ghi từ mấy năm trước:

Trong cuốn sách Việt Nam và Pháp, bạn hay thù tác giả Philippe Devillers, NXB Tổng Hợp TP.HCM  2006, các trang 288-290, có một đoạn kể lại những tính toán của người Pháp sau khi chiếm được các tỉnh miền Tây, cuối thế kỷ XIX, muốn xác định nền giáo dục ở các xứ bảo hộ để phục vụ cho nền cai trị của họ ra sao.

Lúc bấy giờ đô đốc Bonard còn phân vân không biết nên dạy cho người bản xứ là chữ Hán hay chữ Quốc ngữ. Nhưng các cha cố thì kiên quyết là dạy ngay chữ  Quốc ngữ vì nó rất cần cho việc giảng đạo của họ mà lại học được nhanh.

Ở chỗ này, tôi thấy Bonard là một người rất sâu sắc. Ông ta bảo rằng đúng là học chữ Quốc ngữ thì nhanh biết chữ thật nhưng chỉ tạo ra những con vẹt; có điều do nhu cầu của việc bình định, ông ta vẫn đồng ý với việc dạy chữ Quốc ngữ.

Sau này, tôi có đọc được trong một cuốn sách của Nguyễn Văn Trung về chữ Quốc ngữ, cuốn này vì in ra từ cuối 1974 đầu 1975 nên ít người biết. Ở đó Nguyễn Văn Trung có dẫn lại ý của một người Pháp nói rằng là từ sau khi việc dạy chữ Quốc ngữ được phổ biến thì mặt bằng đạo đức xã hội của các tỉnh miền Tây thời đó thấp hẳn xuống.

Cái lạ ở đây là sự xuất hiện của nhóm từ "mặt bằng đạo đức".

Như vậy, ngôn ngữ không phải là một công cụ vô can? Ngôn ngữ có liên quan tới sự định hình đời sống tinh thần và trình độ làm người của các dân tộc?

Hôm nay giở lại cuốn sách của Philippe Devillers, thấy ở tr 289 có chép lại những lời giảng giải của một người Pháp là Luro về sự khác nhau giữa việc học chữ Hán và việc học chữ Quốc ngữ:

“Biết đọc và biết viết, trong tiếng Trung Hoa, có nghĩa là đã để vài năm ở tuổi thanh niên của mình dừng lại trên những cuốn sách đạo lý, lịch sử, đã nghiên cứu và thấu hiểu các cuốn sách đó. Như vậy là đã nhận được cả sự học vấn và sự giáo dục(…). Còn với hệ thống của chúng ta [với tiếng Quốc ngữ mà chúng ta dạy] đứa trẻ ra khỏi trường mà chẳng có chút kiến thức về đạo lý tức là chẳng được giáo dục gì cả.”

Tôi rất thích cái ý tưởng này bởi lẽ, ngược với ý kiến nhiều người quá tự hào về chữ Quốc ngữ và việc dạy chữ Quốc ngữ từ 1945 tới nay, tôi thấy việc bỏ qua không dạy tiếng Hán Việt – dạy một cách khoa học, cẩn trọng nghiêm túc – đã là cản trở cho sự phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là khi ta bước sang thời hậu chiến.

 


Khi dối trá, con người biến dạng

Ngày đăng: 18/10/2014

 

Ngoài việc viết báo, Trần Đĩnh còn là một dịch giả. Một trong những bản dịch tôi đã đọc của ông là cuốn của Trương Nhung: Những con chim hồng hộc, NXB Phụ Nữ, 2008.

Đây là đoạn viết về Trương Nhung trong Wikipedia:

Trương Nhung (Trung văn giản thể: 张戎; Trung văn phồn thể: 張戎; bính âm: Zhāng Róng; Wade–Giles: Chang Jung, Phát âm tiếng Trung: [tʂɑ́ŋ ɻʊ̌ŋ], tiếng Anh: Jung Chang, sinh 25 tháng 3, 1952) là một nhà văn quốc tịch Anh sinh tại Trung Quốc và hiện đang sống ở Luân Đôn. Bà nổi tiếng với cuốn truyện viết về gia đình mình.

Wild Swans đã bán trên 10 triệu bản khắp thế giới nhưng bị cấm tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Cuốn tiểu sử Mao Trạch Đông dày 832 trang, Mao: The Unknown Story, của bà viết cùng chồng là sử gia Anh Jon Halliday, đã được xuất bản tại Anh tháng 6 năm 2005.

Trương Nhung sinh ra tại Nghi Tân, Tứ Xuyên ngày 25 tháng 3 năm 1952. Cha mẹ bà là viên chức Đảng Cộng sản Trung Quốc và cha của bà là người đam mê văn chương. Từ khi còn nhỏ bà đã có tình yêu với việc đọc và viết, sáng tác thơ văn.

Là cán bộ Đảng, gia đình bà có cuộc sống tương đối tốt. Cha mẹ bà lao động cần cù và cha bà là một tuyên truyền viên có uy tín tại địa phương. Ông là "cán bộ cấp 10", có nghĩa rằng ông là một trong 20.000 cán bộ quan trọng bậc nhất của Trung Quốc. Đảng Cộng sản cấp cho gia đình bà một chỗ ở trong khu nhà có tường bao và được canh gác, một người giúp việc, một tài xế, cùng với một vú nuôi cho năm anh chị em của bà. Những đặc quyền này là phi thường tại Trung Quốc những năm 1950 còn rất nghèo khó.

Nhưng gia đình bà cũng đã tan nát vì cách mạng văn hóa, chỉ may mắn sống sót và có dịp làm ăn trở lại khi ra định cư ở nước ngoài

Wild Swans mà Trần Đĩnh dịch là Những con chim hồng hộc có khi còn được dịch là Những con thiên nga dại.

Sau đây là một đoạn kể lại đời sống tinh thần của con người thời công xã nhân dân.

Mùa hè ấy, Trung Quốc được gom lại thành những đơn vị mới, mỗi công xã có từ 2.000 đến 20.000 hộ. Một trong những nơi đi đầu của phong trào này là Tú Thủy ở tỉnh Hà Bắc và nó liền được Mao ca ngợi đánh bóng.

Để tỏ ra xứng đáng với sự quan tâm của Mao, đảng bộ địa phương tuyên bố sản lượng hạt cốc của họ tăng hơn trước mười lần.

Phần lớn dân chúng bị cuốn vào cái thế giới viển vông điên rồ này.

Nhiều người kể cả những nhà nông học và lãnh đạo cao cấp của Đảng nói họ đã chứng kiến các phép lạ này.

Những ai không ứng hợp kịp với các tuyên bố hoang đường của người khác thì bắt đầu nghi ngờ chính bản thân mình và tự phê bình là bảo thủ.

Dưới một nền độc tài như chế độ của Mao, nơi người ta giấu và chế biến thông tin, rất khó tìm thấy một người bình thường mà còn tin vào kinh nghiệm hay kiến thức của chính mình.

Lờ hiện thực đi rồi đơn giản đặt niềm tin vào Mao thì dễ sống. Ngừng lại để suy nghĩ hay ngờ vực thì có nghĩa là chuốc rắc rối vào người

Sau khi kể một ví dụ, tác giả viết tiếp:

Người dân đã học được cách bất chấp lý tính mà đi đóng kịch mần tuồng.

Ngôn ngữ của họ dần thoát ly hiện thực trách nhiệm và ý nghĩ thực của con người. Cả nước trượt vào lối nói nước đôi.

Người ta nói dối nói dá dẻo quẹo bởi vì chữ đã mất nghĩa và chẳng còn có ai coi lời người khác nói là nghiêm chỉnh nữa.

Sau đó bệnh dối trá lại được củng cố bởi quy chế quân ngũ hóa xã hội.

Khi cho tổ chức ra những công xã đầu tiên, Mao nói cái lợi chính của nó là giúp cho việc kiểm soát dân chúng dễ dàng, vì từ nay nông dân thôi sống riêng lẻ mà được đặt vào một hệ thống tổ chức chặt đến không ai cựa nổi.

Một cách quân ngũ hóa nữa là đặt ra các nhà ăn tập thể.

Trích từ Những con chim hồng hộc - bản dịch Trần Đĩnh,Tr 203- 205

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhà triết học Platon bàn về dân chủ

Ngày đăng: 18/10/2014

 

Trong cuốn Câu chuyện triết học của Will Durant, bản dịch của Trí Hải và Bửu Đích, in ra, tức tái bản, ở NXB Văn hóa Thông tin 2008, ở các trang 29-30, người ta có thể đọc được những lời dẫn giải sau:

Về sự tham gia của đám đông vào việc quản lý xã hội

Khi chính thể dân chủ  đến, kẻ nghèo chiến thắng đối thủ của họ, tàn sát một số, trục xuất một số, và cho tất cả mọi người tự do bình đẳng.

Nhưng chính thể dân chủ tự phá hủy vì [bề ngoài] quá dân chủ.

Họ – đây muốn chỉ những người đề xuất chính thể dân chủ  –  muốn rằng tất cả mọi người đều có quyền tham gia chính phủ và ấn định đường lối quốc gia.

Sau khi bảo rằng mới xem qua thì việc bầu cử phổ thông – tức là cho tất cả mọi người tham gia vào việc lựa chọn các thành viên của bộ máy quyền lực – là một lý tưởng quá ư tốt đẹp, W. Durant cài ngay vào đấy cái ý của Platon cảnh báo rằng thực ra việc đó vô cùng nguy hiểm. Vì dân chúng không được giáo dục để có thể lựa chọn người tài giỏi ra cầm quyền và tìm ra đường lối thích hợp nhất.

Dân chúng không có kiến thức, họ chỉ lặp lại những điều nhà cầm quyền nói với họ.

Phát triển ý của Platon, Durant cũng đi guốc vào bụng các nhà chính trị khi chỉ rõ cái chiến thuật xoàng xĩnh: muốn ủng hộ hoặc đả phá một học thuyết, chỉ cần soạn những vở kịch [hiểu theo nghĩa rộng những tác phẩm văn nghệ] trong đó những học thuyết kia được đem ra chỉ trích hoặc cổ võ, rồi trình bày trước công chúng.

Thế là tha hồ dắt mũi họ.

….

Tổng kết về chuyện bầu bán, W. Durant viết:

Dân chúng rất ưa những lời nịnh hót; những kẻ khôn ngoan và vô liêm sỉ, tự gán cho mình cái nhãn hiệu bảo vệ dân chúng [nói lên tiếng nói dân chúng] thường được mở ra cả cơ hội lớn để nắm quyền lực tối cao.

Chính Platon đã tỏ ra kinh ngạc về sự điên rồ khi giao cho quần chúng [đang còn là đám đông những kẻ chưa trưởng thành] trọng trách chọn người cầm giềng mối quốc gia.

Về sự có mặt của một vài đại biểu đám đông trong bộ máy quyền lực

Theo W. Durant, Platon phàn nàn rằng đối với một việc nhỏ như việc đóng giày, may quần áo, người ta còn phải lựa chọn những người thợ chuyên môn, tại sao trong lĩnh vực chính trị là một lĩnh vực có tầm ảnh hưởng rộng lớn, người ta có thể tin rằng bất cứ kẻ nào chiếm được nhiều phiếu [hậu quả của việc được bảo kê hoặc giỏi tiếp thị trước công chúng] đều biết cách trị nước an dân.

Khi chúng ta bị bệnh, chúng ta không kiếm những thày thuốc đẹp trai hoặc những thày thuốc dẻo mồm khoe khoang mà mời bằng được những y sĩ lành nghề đã trải qua nhiều năm đèn sách và học tập.

Thế thì tại sao khi quốc gia lâm nguy chúng ta không tìm tới những người khôn ngoan nhất đức hạnh nhất?

Rút lại, theo W.Durant, ý của Platon là:

Để cho dân chúng cầm quyền không khác gì để cho con thuyền quốc gia lướt trong vùng bão tố, miệng lưỡi bọn chính trị gia càng làm mặt nước nổi sóng và có thể lật ngược cả hướng đi của con thuyền.

Không chóng thì chầy, một chính thể như vậy sẽ rơi vào con đường độc tài.

Tìm ra mọi phương pháp để loại bỏ bọn bất tài và bịp bợm ra khỏi bộ máy quyền lực.

Chọn lựa cho được những kẻ tài cao đức trọng.

Đó là vấn đề chính của triết lý chính trị.

 

Trích trong bài Quản lý Hà Nội sau 10/1954 – một cách hiểu về dân chủ quá dung tục in trên blog ngày 12/10/14

 

Một minh họa cho thuyết đám đông của  G.Le Bon

Ngày đăng 19/10/2014

 

Đó là cảm tưởng của tôi khi đọc các tường thuật về Đại hội nhà văn lần thứ VIII, nơi đó - theo con số của báo Thể thao & Văn hóa 8/8/2010 - 90% diễn giả, bất chấp hay dở đúng sai ra sao, bị cử tọa ngồi dưới vỗ tay mời xuống, ngay sau khi nói vài phút.

Nhiều nhà tường thuật đã nói tỉ mỉ, không phải tất cả hội trường vỗ tay. Khi ngán cả người phát biểu, lẫn sự phản ứng vô lối của người ngồi cạnh mình, nhiều nhà văn đã chọn con đường bỏ ra khỏi Hội trường.

Nhưng theo tôi hình dung, những người không vỗ tay chỉ im lặng ngồi đấy vẫn nhiều hơn. Hào hứng theo dõi không khí chung. Giữa một cuộc sống đầy những bức xúc chán chường, thấy như nó có đáp ứng một nhu cầu nào đó của mình. Ờ mọi chuyện cũng vui đáo để đấy chứ !

Tình thế bi hài của người tử tế bao giờ chẳng mang lại chút niềm an ủi cho tất cả những kẻ bất tài – đó là một quy luật tâm lý từng được nhiều nhà thông thái chia sẻ.

Có thể dự đoán là một diễn biến như thế đã đến với tâm lý nhiều người. Tôi lấy kinh nghiệm bản thân mà suy. Tức xin tự nhận là ở tôi cũng đã có những giây phút như thế và bây giờ không dám chắc là đã gột bỏ hết.

Giá có mặt ở Đại hội VIII, biết đâu tôi chả ngồi vỗ tay theo và hể hả vì thấy tất cả chỉ còn là trò hề.

(Chính vì thế mà tôi thấy cần truy kích những tiềm năng hư hỏng này tới cùng để …bận sau đừng thế nữa!)

Trở lại với tâm trạng người ngồi hội trường. Chủ quan từng người thế nào không biết, song khách quan mà xét, tự khoác cho mình cái vai trò chứng kiến chỉ là một cách chạy tội.

Thực ra với những kẻ khởi xướng vỗ tay vô tội vạ, chúng ta đã là những kẻ đồng lõa.

Và nhìn toàn cục, tôi tưởng vẫn có thể nói rằng chúng ta có một hội trường giống như một đám đông pha trộn đủ thứ bệnh tật hư hỏng. Bắt nguồn từ sự mỏi mệt, người ta đã trở nên hung hãn dữ rằn từ lúc nào mà cũng không hay biết. Đã xuất hiện một tâm thế hư vô không coi cái gì là quan trọng. Đánh đồng tất cả, từ chối tất cả. Muốn phá phách, muốn lung tung cả lên để trả thù đời.

Lý thuyết của Le Bon– mà tôi nương theo để phát triển suy nghĩ của mình ở đây - là tôi đọc được từ cuốn Tâm lý học đám đông (đã có hai bản dịch một ở miền Nam trước 1975 và một, gần đây ở Nxb Tri Thức). Theo Gustave le Bon, khi nhập vào đám đông hỗn độn, con người như đánh mất bản thân. Đám đông rất dễ bị những bản năng thấp chi phối, mất hết sáng suốt, dễ bị kích động, dễ nhắm mắt làm theo cái sai trái, kể cả chống lại chính mình.

Do đó đám đông rất dễ điều khiển.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Made in Vietnam

Ngày đăng 19/10/2014

 

Cuộc vận động dùng hàng Việt đang có một cái tên cụ thể hơn: cuộc đấu tranh giữa hàng Việt và hàng Tầu. Và hàng Tầu đang lấn tới bằng cách giả làm hàng Việt.

Trung Quốc có cả một cuốn sách mang tên Thương chiến binh pháp, cuốn sách từng đã được dịch ở Hà Nội (NXB Thanh Niên, 1996, 539 tr.)

Chiếu theo quan niệm ấy - quan niệm buôn bán cũng là chiến tranh - thì gần đây có hiện tượng phía họ đang trà trộn vào hàng ngũ ta, giả làm chúng ta, nói theo cách nói hồi chiến tranh, “túm lấy thắt lưng ta mà đánh”.

Giá có thời giờ đọc lại Đông Chu liệt quốc, chắc người ta hiểu ra ngay lối tác chiến kiểu này, khá phổ biến ở nước Tầu cổ.

Điều đáng nói hơn, là lúc này, trong trận chiến này, phía ta lại mời họ đến, cho họ mượn danh nghĩa, giúp cho cái việc hoán cốt đoạt thai kia trở thành hợp pháp.

Nhiều báo trong đó có SGTT đưa tin một số cơ sở sản xuất chỉ làm cầm chừng, phần chính đi đặt hàng bên “nước lạ” làm. Hàng vẫn mang nhãn mác do mình đặt, lại rẻ hơn và chất lượng tốt hơn, bán ra ăn khách hơn.

Chương trình VTV1 tối 9/8 đưa tin, ở phố Hàng Bồ Hà Nội, người ta nếu cần, mua được rất dễ dàng những con tem made in Vietnam để dán vào thứ hàng mới nhập từ biên giới về.

Một người bán hàng chợ Đồng Xuân nói thêm với tôi:

- Các tem này cũng do họ in sẵn, nên mới đẹp như thế.

Tự nhiên nổi hứng muốn … làm thơ con cóc. Có bản phỏng dịch một bài thơ không đề của B. Brecht (tôi ghi theo trí nhớ)

 

***

Đả đảo chiến tranh

Người viết dòng khẩu hiệu ấy

Đã ngã dưới chân thành

***

Có thể nhại Brecht thành mấy vần lủng củng như sau:

Made in Vietnam

Nơi sản xuất những con tem ấy

Là bên Trung Hoa

Tem để dán trên hàng Trung Hoa

Chỉ có người bán và người mua

Là người Việt

Mua bán với nhau trên đất Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ba ngày ở Myanmar

Ngày đăng 21/10/2014

 

Những "cái không" mà người Việt Nam thấy lạ

Một chút tò mò thúc đẩy tôi muốn sớm đến Yangon: người ta bảo thành phố đó tuyệt đối không có xe gắn máy. Đến đây lại thấy cái chuyện tưởng là kỳ lạ ấy thật ra không có gì phải ngạc nhiên.

Cuộc sống các nước nghèo Đông Nam Á lẽ ra nó phải như thế. Xe máy nhộn nhạo cuồng loạn như chúng ta là hiện đại gắng gượng, hiện đại nửa vời, hiện đại giả tạo.

Thảm ô tô khá dày nhưng mọi xe đi lại từ tốn, nhìn nhau mà đi chứ không bao giờ phải còi réo với đèn bấm ngậu xị như bên mình.

Sau đây là một vài "cái không" khác của Yangon.

Nhà cửa không cao, không có các loại cao ốc vài chục tầng, chỉ có những chung cư nhỏ. Tường nhà nhiều nơi cũ kỹ. Đường phố không dày đặc những biển quảng cáo hàng ngoại.

Trên vỉa hè những bóng người thưa thớt đi lại chậm rải. Cộng với sự từ tốn của phương tiện giao thông, vẻ thanh thản của con người trên đường khiến khách phương xa mới tới có ngay cảm giác về sự ngự trị của trật tự. Không thấy một bóng cảnh sát giao thông gọi là có.

Người đi đường không mỗi người một điện thoại cầm tay bấm nhoay nhoáy rồi nói cố gào thật to để át đi tiếng ồn phố xá.

Nhìn vào các gia đình, cũng như trong các công trình công cộng, không thấy chỗ nào cũng một cái Tivi, hết quảng cáo mời chào mua hàng, lại lôi kéo giục giã người ta dán mắt vào các bộ phim nước ngoài sặc mùi bạo lực hoặc cải lương mùi mẫn.

 

Một chút so sánh khi nhìn vào cuộc sống tinh thần - Liên hệ tới xứ mình.

Đáng lẽ quay trở về với xã hội tiểu nông trước chiến tranh để bình tĩnh băng bó những vết thương cũ dần dần khôi phục đất nước thì xã hội Việt Nam sau 1975 lại làm ngược lại.

Người ở nông thôn dồn lên đô thị.  Các chiến binh - vốn không được chuẩn bị để có hiểu biết cần thiết về việc làm ăn xây dựng - chia nhau lấp đầy bộ máy quản lý, điều hành mọi mặt kinh tế xã hội văn hóa giáo dục.

Hỗn loạn chồng lên hỗn loạn. Nhưng mặc, tất cả hoan hỉ coi như xã hội mình đã bước vào cuộc sống hiện đại, bất chấp thực tế đó là một thứ quả chín ép dễ dàng biến dạng.

Chúng ta luôn luôn thèm muốn một cuộc sống khác với cuộc sống mình vốn có. Cuống cuồng ăn nói đi lại. Cuống cuồng lừa đảo nhau hành hạ nhau. Cuống cuồng hưởng thụ, cố bắt cho được cái gì gọi là giàu có hiện đại mà người phương Tây đang có.

Sở dĩ cuống cuồng là vì ta biết mình xa lạ biết bao với cái hiện đại thực sự. Càng bước gần hiện đại càng thiếu tự tin. Bằng con đường chính thường không bao giờ đạt được ước muốn nên làm liều, làm lấy được.

Đối lập lại là cách làm của Myanmar. Nội dung của sự thanh thản, yên bình lương thiện ở Yangon, là cái tinh thần tự nhận thức âm thầm của xã hội Miến Điện. Người ta biết là người ta đang ở chỗ nào của thế giới này. Tự bằng lòng với mình. Yên tâm là có một xã hội phù hợp với trình độ sống vốn có.

Năm 2010, đến Siemriep Campuchia, tôi ngạc nhiên vì trong khi khách nước ngoài nườm nượp thì thỉnh thoảng mới thấy một người bản địa. Giá Việt Nam có một di tích như thế xem. Dân mình sẽ đổ xô đến, ngoài chuyện làm dịch vụ kiếm sống trên lưng nhau, còn để thêm niềm “tự sướng” là ông cha mình đã tài ba giỏi giang đến thế đấy, nước mình vĩ đại ghê lắm.

Chùa Vàng mà bọn tôi đến hôm nay cũng là một cái gì ngoại cỡ. Chiều thứ bẩy, người ta đổ đến lấp kín khu chùa mênh mông. Không thấy có cảnh chen vai thích cánh xô đẩy nhau, chen bật nhau. Đến chùa ở đây là để tưởng niệm. Để được sống dưới bóng từ bi, cả gia đình con cái cầu cúng xong ăn bữa cơm đạm bạc bên chân tháp. Thế thôi.

Trong khi chúng ta làm khổ nhau bằng những ám ảnh đâu đâu, thì người ta lẳng lặng sống theo cái nếp làm người vốn có.

Ngoài đường, thỉnh thoảng lại gặp những đàn bồ câu lớn, tụ tập tự nhiên, không biết sợ người là gì; cạnh đấy thường có một người ngồi bán các loại thức ăn dành cho chim.

Tản mát khắp các phố xá là những nhà sư khất thực, kể cả các em nhỏ mới vào chùa, tự nguyện sống cái cuộc sống đơn sơ của bao thế hệ đi trước.

Lặng lẽ để thay đổi

Sự ồn ào trên đường phố Việt Nam chẳng qua cũng là một biểu hiện của sự quá ồn quá lố trong đời sống nói chung.

Mà rõ nhất là cái ồn bắt nguồn từ mạng lưới truyền thanh, truyền hình, tuyên truyền quảng cáo làm khổ con người hàng ngày.

Tôi đã nói trên đường phố Yangon tịnh không nghe thấy những tiếng nói đầy áp đặt đó. Trong căn phòng ở khách sạn, khi mở ti-vi, tôi cũng chỉ thấy chỉ có một kênh riêng của nhà nước Miến Điện, ngoài ra là một số kênh nước ngoài, nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở con số 12.

Thế có phải là đất nước này cứ đứng lì một chỗ?  Không phải, giở lại lịch sử từ 1947 đến nay đã thấy họ bao thay đổi.

Khi tôi từ Myanmar trở về, mấy người quen hỏi ngay là sao liều thế, thấy nói là ở bên đó quân ly khai các vùng đang nổ súng cơ mà. Không, tôi có cảm tưởng là ở cái xứ thanh bình này ai làm việc đó, chính trị là việc của một số người hiểu biết chứ không phải việc của bất cứ ai.

Ở họ là những rắc rối nhỏ của một tình thế bình thường. Mình thì là cả một tổng thể rắc rối. So làm sao được.

Trong cơn bế tắc, dân mình đang bàn tán nhiều tới những thay đổi bên nước Myanmar mà tổng thống Thein Sein mang lại mấy năm nay. Và nhiều người cấp tiến lại còn tính chuyện giá ta cũng làm như họ.

Tôi thử giải đáp cho mình những câu hỏi loại này bằng cách nhớ lại một vài tin tức cũ. Ví dụ, trong số các tin tức mà tôi đọc được về Myanmar hồi trước có mẩu tin công chức Myanmar rất chuyên nghiệp, người nào cũng thành thạo tiếng Anh và không được đồng thời lo làm kinh tế riêng.

Bộ máy nhà nước và những con người của bộ máy đó khác chúng ta lắm, làm gì có chuyện ta sẽ có ngày như họ.

Mấy điều nhỏ sau đây hé ra cho thấy cung cách vận động của đời sống chính trị của Myanmar.

-  Xứ sở này không hề lệ thuộc vào những danh hiệu sẵn có. Lúc họ gọi họ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Miến Điện, lúc thì lại Liên bang Myanmar.

- Thủ đô Rangoon đang rộng rãi hợp lý như thế, nhưng thấy cần thì lại thiết lập thủ đô mới ở Naypydaw.

Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không phải trung thành với quá khứ.

Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão.

Đâu mới là xứ sở của vẻ đẹp tiềm ẩn

Khi viết bài này, tôi có lên mạng và đọc được một bài của một bạn trẻ tên Phùng  Kim Yến viết sau 6 ngày ở Myanmar, trong đó có câu nói về cái đẹp tổng quát của xứ sở mà bọn tôi vừa tới: đất nước có vẻ đẹp và cái duyên dáng tiềm ẩn (the hidden charm).

Sau khi bảo đây vốn là slogan của du lịch Việt Nam, bạn Yến nhấn mạnh:

Trong suy nghĩ của tôi, không phải Việt Nam mà chính Myanmar, mới là đất nước có vẻ đẹp và cái duyên dáng tiềm ẩn.

Tôi cũng thấy thế. Tôi muốn bổ sung, còn rất nhiều thứ khác xứ ta không có, song dân ta lại thích đưa lên thật oách, và cố buộc mọi người tin rằng ta có. Tức đua đòi và khoe khoang một cách lố bịch không phải là bệnh riêng của ngành du lịch Việt Nam.

 

Đạo Phật miền Nam

Ngày đăng 21/10/2014

 

Chỗ nào cũng hòm công đức, thực chất là một cách moi tiền khách thập phương. Sư sãi chính trị hóa và thế tục hóa lộ liễu, còn dân thường thì vụ lợi theo cách riêng của mình. Thay niềm tin thiêng liêng bằng mê tín, các đám đông trở nên hỗn hào mà nhiều khi lại đá sang cả chất khoe mẽ tân thời.…

Cái lý do khiến tôi dạo này chán không tính tới chuyện tìm hiểu đạo Phật ở các vùng quanh Hà Nội là vậy.

Vào miền Nam, thấy có chút khác.

Ở Côn Đảo đến thăm ngôi chùa mới được xây dựng. Một chị trạc 40 - 45 kể thầy trụ trì ở đây là ở chùa Vĩnh Nghiêm ra. Thầy bảo chỉ nên lên chùa để nghe kinh và ngẫm chuyện đời chuyện đạo. Chứ ai lên chùa mà chỉ chăm chăm cầu sao buôn may bán đắt và thăng quan tiến chức thì đừng có lên.

Tưởng rằng chỉ Côn Đảo là nơi thoát khỏi cái sôi động của đời sống hiện đại mới có những ngôi chùa như vậy, hóa ra nhiều chùa khác ở chung quanh Sài Gòn tôi cũng gặp tình hình tương tự.

Người dẫn tôi đến chùa Hoằng Pháp ở Hóc Môn kể chính vì nhờ lên chùa mà chị tìm thấy sự yên ổn trong tâm linh và sự hòa hợp ngay trong cuộc sống gia đình. Hiệu sách trong chùa khá đông khách, ở đây tìm được nhiều loại băng đĩa và sách vở cần thiết. Tôi được chị bạn mua tặng một loạt sách và đĩa.

Thường nghe nói tôn giáo ở Việt Nam nhiều khi là một thứ niềm tin không giáo lý. Ở nhiều chùa miền Nam, tôi gặp những cố gắng vượt thoát khỏi tình cảnh đó.

Cũng bàn về tôn giáo của người Việt, dưới đây là một đoạn văn của L. Dutreuil de Rhins trong Nghiên cứu Huế tập tám, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan mới cho in quý I năm nay. Tôi đọc và thấy tự tin với những ý nghĩ vừa trình bày ở trên của mình. Đoạn văn như sau.

Cùng với Phật, [người An Nam] sùng bái vô số thánh thần. Mỗi gia đình sùng bái riêng nhiều vị các vị này sẽ phù hộ cho gia đình tai qua nạn khỏi. Như thế là từ các lập thuyết Trung Hoa, người An Nam chỉ giữ lại một mớ dị đoan thô lậu, và mọi thứ trở lực chống lại xu thế thô lậu này bị hoàn toàn vô hiệu hóa. Không bao giờ cảnh chùa chiền đông đúc tín đồ như ta thấy ở Trung Hoa; theo nghĩa này, chùa thường xuyên vắng vẻ. Không có lễ chùa, không có kinh kệ. Mà ngược lại, toàn đám đông cúng bái ồn ào kèm theo ăn uống xô bồ, như sở thích người An Nam vốn vậy.

Ngày đăng 21/10/2014

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tìm hiểu chính sách đào tạo lớp trí thức mới của nhà nước Nga Xô Viết để hiểu trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954

Ngày đăng 22/10/2014

 

Tập tiểu luận Về trí thức Nga (La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, NXB Tri Thức H. 2009) gồm có nhiều bài viết xuất sắc:

- Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức

- Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của tác giả N.A. Berdaev

- Tầng lớp kỹ giả - Alekssandr Solzhenítsyn

- Phẩm tính trí thức - Dmitri Likhachev

Riêng bài Bàn về số phận của tầng lớp có học ở Nga của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917. Tầng lớp này đã được quan niệm như thế nào, nhà nước Xô Viết đã hình thành họ theo những cách thức ra sao, tại sao giới trí thức Nga lại có bộ mặt như chúng ta đang thấy, tại sao trong thời đại mới, đa số những người này dừng lại ở cái trình độ thảm hại và kèm theo những suy đồi về đạo đức quá rõ so với trí thức Nga trước Cách mạng.

Chúng tôi lược thuật bài này, cốt để các bạn xa gần qua đó, từ trí thức Nga sau 1917, có thể hiểu thêm về lớp trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954.

Trong cơn thức tỉnh sau chiến tranh, nay là lúc xã hội thường hay chê trách lớp trí thức này về mọi mặt. Nhưng nếu hiểu được người trí thức ở ta là thế và được nhào nặn như thế, chúng ta sẽ độ lượng với họ hơn với nghĩa… bớt hy vọng ở họ hơn.

 

Xem: vuongtrinhanblogspot

 

Sự dốt nát của quan lại trong lịch sử

Ngày đăng 22/10/2014

 

Trên báo Đại Đoàn Kết từ cuối tháng 3 có mục Cán bộ phải là công bộc của dân. Tôi sợ cách đặt vấn đề như thế là của thời 45 - 46. Hơn sáu chục năm đã qua, nay bộ khung đoàn thể hôm qua đã qua thành bộ máy nhà nước với hệ thống quan chức ngày một bành trướng. Nhiều thanh niên vào đời hiện nay cũng biết rõ là cách lập nghiệp nhiều triển vọng nhất là tham gia vào bộ máy công quyền ở đó tha hồ có mọi thứ cần thiết. Vậy phải cập nhật mà đặt vấn đề nghiên cứu về bộ máy quan chức trước khi muốn khuyên bảo họ thế nọ thế kia.

Ở nhiều người có sự ngộ nhận bộ máy quan chức thời nay khác hẳn quan chức thời xưa.

Trên lý thuyết mà xét thì đó là điều không thể có.

Đi vào sử sách càng thấy như vậy.

Đọc những sách mà người Pháp viết, thấy họ kêu giời lên vì tình trạng quan chức người Việt dốt nát đến cùng cực và tham lam thì cũng không kém.

Thế sách vở của Việt Nam? Tôi đã có lần dẫn ra tình hình thời Lê sơ là quan lại vốn chỉ quen chiến chinh, nên với việc kinh bang tế thế, dốt là cái chắc. Nay đọc lại ở Đại Việt sử ký toàn thư (bản của NXB Khoa học Xã hội 1985, tập II , trang 389) còn thấy có đoạn kỹ đến thế này:

“Bậc túc nho như Lý Tử Tấn Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc ồn ào như ong đàn nổi dậy như chó chuột nhe răng. Tể thần như Lê Sủng Lê Sát thì ngu si không phân biệt nổi sáu loài súc vật; chưởng binh Lê Điêu Lê Luyện thì mù tịt, chẳng sao hiểu được bốn mùa trong một năm. Văn giai như Công Soạn tuổi gần tám mươi, tể thần như Lê Ê không biết một chữ. Người trẻ không biết nghĩ, làm việc ngông cuồng; người già chẳng chết đi, trở thành mối họa”

 

Thái độ hạ cấp: Một giá trị mới của        xã hội

Ngày đăng 24/10/2014

 

Bài viết dưới đây là của tác giả Nguyễn Hoài Vân, tôi lấy lại từ mạng Vanchinh.net 30 tháng 12 năm 2008.

Sở dĩ hôm nay tôi muốn các bạn cùng đọc lại bài này, đơn giản là vì chính tôi cũng muốn viết một bài như thế, mà chưa viết được.

Cuối bài, tôi sẽ còm-men vài ý.

Điều đáng suy nghĩ là vì sao tính hạ cấp lại càng ngày càng phổ quát, trong xã hội Việt Nam cũng như ở Tây Phương?

Những câu nói đùa nham nhở, những trêu chọc dưới thắt lưng, đặc biệt mỗi khi có mặt phụ nữ, những cử chỉ thô lỗ, kể cả ợ, đánh rắm, v.v… dần dần đã trở thành những đề tài cười cợt vui vẻ, trong giao tiếp thường ngày, và cả trên các màn ảnh truyền hình (tại Việt Nam, cũng như tại Pháp, nơi người viết tạm sống).

Thời sự nước Pháp đang rung động vì một đoạn phim tài tử cho thấy tổng thống Sarkozy dùng lời lẽ hạ cấp chửi một người khiêu khích ông tại cuộc Triển Lãm Nông Nghiệp hôm thứ hai 25 tháng hai vừa qua.

Bên cạnh trường hợp rất đặc biệt có thể được coi là một “tai nạn” này, những thái độ và lời nói hạ cấp thường là những phương cách hiệu quả để một cá nhân có thể hội nhập vào một nhóm.

Làm cho người khác cười, bằng những lời nói hay cử chỉ hạ cấp, đó chính là tờ thông hành mới để thành công trong việc giao tế!

Thật ra hạ cấp không phải chỉ thu hẹp ở những điều vừa được nhắc đến.

Các cố gắng phô trương trong cách ăn mặc, điện thoại,, xe cộ, nhà cửa v.v… cũng là hạ cấp.

Một hình ảnh dễ nhận ra là cô “Marie sến” hiện đại, nhí nhảnh trong chiếc quần jean giả cũ, vá víu, cắt thấp, phơi bụng, phơi lưng, phơi cả … thấp hơn lưng một tí! Áo, kính, ví tay, điện thoại di động, tất cả nơi nàng đều dính liền với thời trang mới nhất.

Nàng vừa õng ẹo, vừa thở ra những mẩu chuyện lượm lặt được từ những tuần báo hay chương trình TV đại chúng, những trang web thời thượng, không quên đều đặn chua thêm vài từ Anh ngữ ít nhiều thích hợp.

Nàng chải tóc, nói, cười, đi đứng, một cách hoàn toàn “quy ước”. Tất cả con người nàng đều hướng vào một hình ảnh được tâm lý của nàng phóng ra trước mặt, mà nàng cảm thấy cần được phơi bày một cách rõ ràng nhất.

Bên cạnh cô “Marie sến” kia, là những “mợ” giàu mới tụ tập bàn chuyện sex, chuyện tình nhân, khoe khoang hiểu biết về những kỹ thuật làm tình kỳ lạ nhất, sau khi đã chán phô trương xe SUV hai cầu (dùng để chạy trong … sa mạc!), biệt thự có hồ bơi, cùng với những thứ lặt vặt như đồng hồ quý giá, nữ trang đắt tiền, quần áo thượng hạng, nhất là không quên nhấn mạnh nơi mua … Làm sao cho mọi người phải biết: tôi giàu, tôi nhiều sex, nhiều quen biết, có địa vị cao trong xã hội, có … đủ thứ!

Rồi cũng phải nói đến những anh chàng cố gắng biểu lộ một đặc tính vay mượn: nào lè phè bất cần đời, áo quần sốc sếch, hay phiêu bồng lãng tử, gật gù trên mây trên gió, hoặc kiểu cách “nghệ sĩ tiền phong” khinh miệt cái xã hội không hiểu nổi giá trị siêu đẳng của mình. Rồi cũng có vị phùng mang phơi bày thái độ trí thức, học giả, không gì không biết của mình, hoặc mượn phong thái một nhà kinh doanh năng động, vung vẩy hàng tỷ, lướt trên các thị trường nhưcu cậu Peter Pan trên bầu trời Neverland… Những vay mượn ấy không gì khác hơn là… hạ cấp.

***

Hạ cấp theo nghĩa nguyên thủy là tìm mọi cách để bắt chước những giá trị của một giai cấp cao hơn mình.

Và vì đó là những vay mượn, nên người hạ cấp tự cảm thấy cần phải phát biểu những giá trị ấy một cách quá đáng, trở thành lố bịch.

Một người hạ cấp muốn với lên một giai cấp cao hơn, sẽ nói chuyện chơi golf, mặc dù anh ta mê bóng đá! Không những thế, anh sẽ nói chuyện chơi golf một cách vô cùng điệu nghệ, với thật nhiều say mê, sẽ khoe khoang tô điểm cho sự giả dối ấy, đến độ lố lăng.

Người ở giai cấp cao hơn mà anh ta muốn với tới đương nhiên là rất dễ dàng nhận diện ra anh ta, và sẽ không có khuynh hướng chấp nhận anh như một người của giai cấp họ. Thêm vào đó, người ở giai cấp của chính anh ta sẽ thẳng tay ruồng bỏ anh như một kẻ phản bội.

Thế là anh chàng “hạ cấp” nọ trở thành… vong thân, không còn biết mình là ai, thuộc về tập thể nào. Người hạ cấp cũng có nỗi niềm tuyệt vọng của họ …

***

Cần nói là trong ý nghĩa “giai cấp thấp” muốn từ bỏ chính mình để chạy theo một hình ảnh thuộc về giai cấp cao hơn, chữ “hạ cấp” tương đương với từ “vulgarity” trong tiếng Tây Phương.

Chữ này đến từ tiếng La Tinh “vulgus”, có nghĩa là “tiện dân”.

Vì thế, có thể nghĩ được rằng người “hạ cấp” là một người vong thân, đã đánh mất chính họ, không chấp nhận được bản thân mình, và buộc phải phơi bày ra bên ngoài một hình ảnh về mình, một hình ảnh rất xa với con người thực của mình. Khoảng cách giữa hình ảnh được phô trương ra với con người thật càng xa xôi bao nhiêu, thì tính hạ cấp lại càng rõ nét bấy nhiêu.

Tuy nhiên, giả sử một người nào đó đã gột bỏ được những lớp vỏ liên hệ đến giai cấp nơi mỗi con người, và, ngồi một mình, anh ta ngoáy mũi, ợ, đánh rắm, thì sao nhỉ?

Một người tình cờ chứng kiến có thể coi anh ta là hạ cấp được không?

An Nam ta ăn xong xỉa răng, không khỏi bị người Tây Phương coi như hạ cấp. Người Bắc Phi lịch sự, được đãi ăn xong phải ợ một cái để cho người mời biết mình đã ăn ngon, đã no bụng, cũng là hạ cấp?

Một dân tộc miền Patagonia chuyên đánh rắm thật kêu trong lúc truyện trò tiếp khách, phải được coi như thế nào?

Thiền sư Phật Ấn khi chê “Đại Cư Sĩ” Tô Đông Pha không bằng phát rắm của ông ta, thì có hạ cấp hay không?

Như thế, cử chỉ bị coi là hạ cấp cũng có thể đến từ một trạng thái bất chấp những quy ước xã hội, văn hóa thông thường, hoặc khi người ta sử dụng những quy ước đặc thù, tức quay về với chính con người mình, chứ không phải bao giờ cũng là vong thân, đánh mất bản thân mình, như vừa nói ở trên.

Tóm lại, giữa vong thân với quay về với bản thân mình, thì, theo bạn, đâu là định nghĩa thống nhất của thái độ hạ cấp ?

***

Thật ra, có lẽ “hạ cấp” chỉ là một phê phán trịch thượng đối với những người bị coi là “thấp” hơn mình. Vì sự phê phán ấy có tính chủ quan, nên không có chuyện thống nhất trong định nghĩa. Cư xử thế nào cũng có thể bị coi là “hạ cấp”. Trong điều kiện ấy, phải chăng tất cả chúng ta đều có khả năng trở thành “hạ cấp” đối với một ai đó?

Điều đáng suy nghĩ là vì sao tính hạ cấp lại càng ngày càng phổ quát, trong xã hội Việt Nam cũng như ở Tây Phương? Tôi nghĩ có lẽ trong những xã hội càng ngày càng phân hóa, trước nguy cơ mình bị ai khác coi là hạ cấp càng lúc càng cao, thì sẽ có càng nhiều người cảm thấy cần phải tự bảo vệ bằng cách chui xuống ẩn trú nơi giai tầng thấp nhất, “hạ cấp” nhất, nơi họ có thể kết nối những liên hệ vui vẻ, thoải mái với những người “hạ cấp” như họ, để không còn lo lắng, thoát mọi mặc cảm…

Hạ cấp tràn lan… không có gì là lạ vậy!

Nguồn: nguyenhoaivan.com

Bổ sung của Vương Trí Nhàn

Tôi ngờ rằng điều làm cho một số bạn đọc cảm thấy được an ủi là - như tác giả đã trình bày - xu thế "tỏ ra hạ cấp" đang phổ biến không chỉ ở Việt Nam và ở phương Tây.

Nhưng chính ở chỗ này tôi cảm thấy cần bổ sung mấy ý:

- Chắc chắn việc tỏ ra hạ cấp ở Việt Nam ta thời hậu chiến bây giờ trầm trọng hơn nhiều so với bất cứ xã hội nào khác. Nó bao gồm cả sự cố ý lẫn tình trạng tự phát làm liều, do dốt nát và xuất thân hèn kém mà hồn nhiên, tự nhiên vung vãi mọi thứ hạ cấp của mình.

- Khi tỏ ra hạ cấp con người cũng tự tuyên bố về tình trạng tuyệt vọng, nó là cái vũng bùn mà anh ta đã sa vào và cựa quậy mấy cũng không sao ra nổi.

Con người lúc này không còn cảm thấy có điều gì thiêng liêng và phải tôn trọng, Với anh ta, tương lai không có ý nghĩa gì nữa.

Hướng thượng vốn là một cảm giác cao đẹp có khả năng đánh thức những tiềm năng tốt đẹp trong mỗi con người, với anh ta hoàn toàn xa lạ.

- Cái mới của thời nay là ở chỗ không chỉ dân đen, dân vô học hồn nhiên khoe cái thái độ hạ cấp mà cả những người có học cũng đi vào con đường nhơ bẩn đó. Có hai khả năng có thể xảy ra. Một là anh ta chỉ là trí thức nửa mùa. Và hai là anh ta đã bị đánh phá đã bị làm nhục quá đáng, đến mức như là vong thân, không còn tin tưởng gì ở mình cũng như ở chung quanh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khả năng im lặng

Ngày đăng: 24/10/2014

 

Có một thứ năng lực mà người xưa hơn hẳn người nay, đó là khả năng cam chịu.

Chắc có người nghĩ, nhấn mạnh khả năng cam chịu là làm hèn con người đi. Đâu có đơn giản thế. Khi biết là rơi vào tình cảnh bế tắc thì cam chịu là sáng suốt, cứ liều lĩnh làm bừa đi mới là ngu ngốc. Chính nhiều tôn giáo trong đó có Đạo Phật cũng đã dạy người ta cam chịu như là một sự chấp nhận. Im lặng và cam chịu ở đây đồng nghĩa với suy nghĩ, một nhân tố chuẩn bị cho một sự giải thoát đích thực.

Trong các nhân vật trí thức nước mình, tôi thích nhất La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804). Khi Tây Sơn cần, ông ra giúp, lập Sùng chính viện lo đào tạo cơ bản bằng việc dịch sách chữ Hán ra chữ nôm. Nhưng khi Quang Trung mất, ông làm việc dưới triều Quang Toản ít ngày, rồi rút lui về quê. Gia Long cho mời cũng từ chối.

Nhưng có những khi người ta rơi vào hoàn cảnh muốn im lặng không được.

Hồi 1974, Nguyễn Khải đi Tiệp Khắc về kể là trước mùa xuân Praha, các trí thức bên ấy bảo nhau: Nay là thời mà sự im lặng cũng phải câm nín.

 

 

 

 

 

 

 

Hai đề nghị của Myanmar về giáo dục mà chúng ta khó nuốt

Ngày đăng 25/10/2014

 

Khi bàn về cải cách ở Myanmar, lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi có mấy ý kiến về giáo dục mà tôi thấy rất tâm đắc.

Trước tiên bà bảo, sau giai đoạn thuộc địa và thời kỳ sống trong chuyên chế, nay cái mà Myanmar cần là đào tạo nhiều thợ học nghề chứ không phải đào tạo kỹ sư.

Đội ngũ trí thức trẻ, cần thì cần thật nhưng phải là thứ thiệt. Lấy đâu ra đại học tử tế để có số kỹ sư cần thiết ấy? Vậy phải tạm xếp yêu cầu đó lại.

Cách chuẩn bị tích cực nhất là nhờ nước ngoài, theo kinh nghiệm của Myanmar là nhờ Anh.

Lâu nay sách sử dạy trong các trường học Myanmar vẫn soạn theo tinh thần của các nhà sử học Anh khi viết về Myanmar. Cả nền giáo dục trước sau tính là phải theo những chuẩn mực quốc tế.

Riêng đại học Rangoon vẫn là đại học có tiếng ở Đông Nam Á.

Vậy mà theo Aung San Suu Kyi, thế vẫn chưa đủ. Bà bảo trong thời gian giới quân sự nắm quyền, giới sinh viên được đào tạo thành những con người biết vâng lời và làm theo mệnh lệnh hơn là con người sáng tạo. Và bà đề nghị phải làm lại nền đại học này. Trong tình hình của Myanmar, nước phải nhờ là nước Anh.

Chỉ có cách đó

Thoáng đọc, chắc ai cũng thấy các đề nghị nói trên dựa trên những nguyên tắc xa lạ với giáo dục Việt Nam.

Ngay cái chuyện đừng tính đại học vội mà hãy lo đào tạo công nhân lành nghề - ý kiến ấy cũng khó nuốt lắm. Như thế là thoái thác cái đề án “xây dựng công nghiệp hiện đại nông nghiệp hiện đại, văn hoá giáo dục tiên tiến” sao? Ai mà chịu nổi.

Đến như cái điểm đi nhờ giáo dục nước ngoài, lại càng không ai nghe được.

Ta quen thói tự tin, cho rằng cái gì cũng phải lấy tinh thần độc lập tự chủ làm đầu. Thế thì ai lại muối mặt đi nhờ các nước phương Tây mà ta vừa thèm muốn được như họ, vừa căm ghét sao họ hơn mình nhiều thế?

Sở dĩ người Myanmar đi tới những định hướng trên đây, bởi ở họ có một tinh thần thực sự cầu thị.

Họ cho rằng họ phải học hỏi nước ngoài nhiều thì mới có được một nền giáo dục cần thiết.

Ta thì luôn luôn tự hào rằng mình có một truyền thống giáo dục hết sức tốt đẹp, và chỉ cần có tiền là sẽ làm được hết.

Trong mọi việc ta thường chỉ lo làm dáng. Khi đứng trước một việc mà thâm tâm thấy bất lực, liền đánh bài lấp liếm, mức cao hơn nữa là tự lừa dối chính mình cho xong chuyện.

Nhưng tôi vẫn thấy trong hoàn cảnh của ta, cái phương án Myanmar nói trên là phương hướng khả dĩ.

Trước mắt là không nên thảo luận về cải cách gì cả.

Bộ phận giáo dục hiện nay đã hỏng hẳn với nghĩa là tự nó không thể nghĩ ra phương hướng thay đổi. Và giả sử có phương hướng đúng thì những người trong cuộc cũng không theo nổi.

Ví dụ dù có tung ra bao nhiêu tiền của chăng nữa thì bộ phận soạn sách giáo khoa ở ta hiện nay cũng không sao làm nổi một bộ sách giáo khoa cần thiết.

Và giá có bộ sách ấy thì hệ thống giáo viên cũng không đủ sức dậy theo.

Vừa rồi có một đề nghị là phải trả lại tự do cho ngành giáo dục. Nhưng kinh nghiệm của tôi bên văn chương cho thấy một bài học khác. Các nhà văn của ta bị trói quá lâu, đúng hơn là bị đào tạo vội vàng, cũng tiên thiên bất túc y như bên giáo dục. Luôn miệng đòi tự do nhưng lại không biết làm gì với thứ tự do đó cả. Khi được cởi trói một chút thì chỉ có tự do hoang dại là phát triển.

 

Từ bỏ chủ nghĩa bình quân

Cũng phải nói thêm, sở dĩ chúng ta biết không đạt chuẩn mực vẫn cứ làm, lý do là vì muốn ai cũng được hưởng phúc lợi giáo dục. Ngay trong hoàn cảnh xã hội chưa trưởng thành mọi mặt trong đó khâu thấy rõ nhất là về kinh tế, ta cũng vẫn cố phổ cập giáo dục rộng rãi để lấy tiếng và để mọi người ai cũng có thể vừa lòng.

Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta phải lựa chọn: hoặc chất lượng giáo dục hoặc số lượng.

Tức một việc đau xót có thể xảy ra, là phải tạm thời từ bỏ nguyên tắc phổ cập đó, lùi một bước tiến ba bước.

Giống như trong kiếm sống, phải có người giàu trước người giàu sau. Thời gian trước mắt, trong giáo dục chúng ta chỉ có thể bảo đảm cho một số nhỏ thanh thiếu niên được học hành cẩn thận, còn đa số sẽ chỉ được trang bị một ít kiến thức cơ bản rồi lo học nghề, để ra làm thợ, có lẽ như thế sẽ hợp lý hơn chăng?

Còn làm như hiện thời, cố để mà phổ cập giáo dục là một việc quá sức, và thực tế là sẽ không bao giờ có thể có giáo dục với nghĩa đúng đắn của nó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biện hộ cho sự vô cảm

Ngày đăng 25/10/2014

 

Thời đại chúng ta cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối cảm nhận nó một cách bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Bây giờ không có một con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai, nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp.

(D.H.Lawrence, nhà văn Anh, 1885-1930 tác giả Người tình của Chatteley phu nhân).

Thây kệ ở đây chính là thói vô cảm chúng ta đang nói.

http://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/10/bien-ho-cho-su-vo-cam.html

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thái Lan – Xứ sở biết tự cai trị

Ngày đăng 26/10/2014

 

Một thoáng trên đường

Từ phòng ăn của một khách sạn nhỏ nhìn ra, tôi cảm thấy thiên nhiên ở thành phố Đông Nam Á mà mình vừa đến cũng “tự nhiên như nhiên”, cũng ngang dọc cao thấp tùy tiện không ra hàng ra lối, tức không được chăm sóc một cách kỳ khu tinh tế, do đó có cái vẻ mỹ lệ, nó là niềm tự hào về sự có mặt của con người, như ở bên Tầu, bên Nhật.

Không có may mắn đi sâu vào những thắng cảnh đẹp nhất của Bangkok, chỉ ngồi xe ô tô du lịch nhìn ra hai bên đường ngoại ô, tôi cũng chỉ thấy những ngôi nhà phần nhiều màu xám, cao ốc đâu chỉ dăm bảy đến mười tầng. Có những khu vực san sát nhà mái tôn kiểu ven đô Sài Gòn. Vào các siêu thị thấy hàng hóa rất nhiều, nhưng trên đường thì thấy ít biển quảng cáo.

Thái Lan với tôi chỉ là vậy. Đó không phải một Thái Lan làm tất cả để mời gọi khách du lịch, như tôi hằng nghe một số bạn đi về kể lại. Tôi cũng bắt gặp ở đây những bãi cỏ hoang lụn vụn. Chạy ngầm dưới mặt tiền một khách sạn là một con cống mà tới quãng lộ thiên thì bốc mùi thoang thoảng khó chịu. Đường rộng nhưng mới chỉ đủ cho xe đi lại và chỉ nhờ người đi xe biết kiềm chế và tôn trọng luật pháp nên không cảm thấy hỗn loạn. Đường thật nhiều ô tô nhưng những xe được sử dụng phần lớn là xe nội địa.

Cảm tưởng chung rút lại là một cái gì không choáng lộn không nổi bật.

Tuy nhiên tôi lại cho rằng chính cái đó là hợp với tình cảnh của một nước Đông Nam Á, khu vực đã từng là mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân trong các thế kỉ 18 – 19, và tới nay vẫn không phải là vùng phát triển của thế giới. Mà về mặt văn hóa, nó là khu vực bị kẹt giữa hai nền văn hóa lớn là Trung Hoa và Ấn Độ .

Ở bên nhà, những lúc rỗi, tự đối diện với lòng mình, tôi thường buồn bã nhận ra một điều. Nếu có một cái gì mà làm người ta khó chịu nhất ở Hà Nội, thì đó là việc mọi người cùng hùa nhau tìm cách che giấu thực trạng đang sống, cả nước muốn tô vẽ cho mình, muốn chứng tỏ rằng dân Việt không thua kém gì những nơi khác. Ở Thái Lan, tôi không có cảm tưởng đó. Vừa phải. Biết điều. Chân chất. Giản dị... Thái Lan mà tôi gặp là một cái gì tổng hợp của những phẩm chất đó. Ngay ở các khu chợ ồn ào chật hẹp không thấy khắp nơi là túi ni lông như ở Hà Nội. Cũng như bên Nhật, không thấy cảnh người Thái liến láo nói trong điện thoại.

Trước cửa chùa Phật Vàng (Kim Phật Tự) có một người ăn mày. Ông ta ngồi ăn cơm tay lấy cái thìa xúc cơm ra từ túi ni lông. Nhưng ăn xong, ông không quên gói ghém các thứ rồi lấy dây thun buộc lại cho vào túi sách, chứ không thẳng tay quăng ra mặt đường, và nếu quăng được vào những chiếc xe sang trọng đi qua thì càng sung sướng. Ở ông không có lòng căm hận của những người nghèo thấy tất cả những người giàu khác là kẻ thù của mình như đám ăn mày Hà Nội. Ông ăn mày Thái đang yên vị trên một chiếc thảm nhỏ dùng để ngồi. Khi hút thuốc lá, ông gạt tàn vào một cái bát đặt ngay bên cạnh.

Sau này đọc báo mới biết Thái Lan là một đất nước của những con người hiền hòa. Khách phương Tây mệnh danh đây là đất nước những nụ cười. Người ta lại còn bảo trong cái cười của người Thái Lan có thoáng qua ý mai – pen – rai, với nghĩa không sao, không có gì đâu mà. Nó xa lạ với những tiếng cười phá trời, cái cười đắc thắng của các đám nhậu bên vỉa hè Hà Nội.

 

Chiều sâu cuộc sống

Cùng với việc che giấu thực trạng lạc hậu, người Việt mình lại thường thích tô vẽ để trưng ra niềm tự hào thô lỗ về các phong tục tập quán ngàn đời và bảo đó là nền văn hóa “đậm đà bản sắc” không lẫn với ai hết.

Đọc phần văn hóa Thái Lan trên mạng và qua câu chuyện với người hướng dẫn viên, tôi thấy tinh thần chi phối phong tục tập quán ở đây khác hẳn. Xin kể ba ví dụ.

- Ở nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, tới ngày sinh nhật của con cái hình như cả nhà đều bận rộn lo lắng, làm sao để chứng tỏ rằng đứa con có ngày sinh nhật đó là niềm tự hào của gia đình. Còn ở Thái, ngày sinh nhật là dịp để bọn trẻ bộc lộ lòng biết ơn với bố mẹ ông bà và với cuộc đời. Trong ngày sinh nhật, trẻ muốn mình có hình ảnh đẹp hơn, trở nên ngoan ngoãn hơn trong mắt bố mẹ và lấy đó làm niềm hãnh diện.

- Với đà ào ạt trở lại của các hủ tục, các đám ma ở Hà Nội thường ồn ào, người ta như muốn khoe ra sự thương xót đối với người vừa nằm xuống. Còn theo phong tục của Thái Lan, khi đưa đám người chết không nên khóc nhiều, bởi khóc nhiều sẽ làm cho người chết thấy phiền lòng.

- Trong thái độ đối với tôn giáo, tôi cảm thấy ở người Thái có thái độ thành tín. Các nhà sư được tôn trọng, chùa chiền giữ được vẻ trang nghiêm, thanh tịnh. Cuộc sống như có một cái gì đó thiêng liêng, đó là hương vị mà ở Hà Nội, tôi chỉ cảm thấy hồi nhỏ, trước 1954, kéo dài ra tới đầu những năm sáu mươi. Còn từ sau 1965 đến nay, nó đã bị đánh mất dần dần.

 

Biết cách tổ chức xã hội

Ngay từ trong lời giới thiệu trước chuyến đi, công ty du lịch đã lưu ý chúng tôi về sự sùng bái Hoàng gia của người Thái.

Những câu chuyện của người hướng dẫn địa phương cũng xoay quanh chủ để này. Hơn thế nữa, chúng tôi còn cảm nghe được rằng đó là những bằng chứng thực chứ không phải những lời lẽ tuyên truyền nhằm áp đặt cho khách từ xa tới.

Hoàng gia Thái Lan tạo được sự kính trọng tuyệt đối trong dân gian. Bất cứ một hành động nào xúc phạm đến Hoàng gia đều có thể bị mọi người chung quanh báo cho cảnh sát biết và bị nghiêm trị. Cho đến việc tiêu tiền nữa, ở Bangkok, người ta chỉ sử dụng tiền Thái vì ở đó có in hình quốc vương mà người ta kính trọng. Một tội lớn trong giao thiệp dành cho người nào dám lấy chân chà đạp lên đồng tiền, vì đó cũng coi là xúc phạm đến giá trị tinh thần của đất nước.

Khi nghe nói đến một nước quân chủ, nhiều người Việt ở tuổi tôi lập tức nhớ lại những bài học được học ở phổ thông. Các vua chúa thời xưa được miêu tả là những người cực kỳ đoảng vị. Nhất là nhà Nguyễn. Thôi thì bạc nhược, yếu hèn, đồi bại đủ thứ. Làm như họ không phải là người Việt.

Sau này tôi được biết rằng thực ra cái lối bôi nhọ giai cấp phong kiến như thế chỉ là sản phẩm của một thời con người quá uất ức muốn thay đổi và đập phá, nên nhìn tất cả những người chủ cũ là có tội. Chứ thực ra giai cấp phong kiến Việt Nam đâu đến nỗi.

Cuối năm 2012, một nhà sử học là anh Cao Tự Thanh vừa dịch và giới thiệu cuốn Đại Nam thực lục chính biên đệ thất kỷ của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cuốn sách cho thấy từ đời Khải Định, nhà vua đã biết đặt ra khẩu hiệu ba vế, bên cạnh Tôn quân quyền, là Khai dân trí, Dụ dân tài (hướng dẫn cho dân làm giàu). Còn nhiều việc khác, chứng tỏ chính quyền lúc ấy biết học hỏi để cải lương tức cải cách xã hội theo hướng hiện đại.

Trở lại với chuyện bên Thái. Sự kính trọng đối với Hoàng gia có cái lý của nó. Hoàng gia rất xứng đáng với sự kính trọng đó, trước hết là trên phương diện định hướng cho sự phát triển kinh tế quốc gia, mà cũng là cách thức để bảo đảm đời sống cho dân chúng.

Ở khắp nơi trên đất Bangkok và Pattaya, tôi bắt gặp hình ảnh của vua Rama IX là vị vua trị vì từ 1946 tới nay. Người hướng dẫn sớm cho chúng tôi biết rằng, bản thân vua là một trí thức đã từng theo học ở đại học phương Tây. Ông là kỹ sư nông nghiệp. Chính ông đã nghiên cứu để tạo ra giống ổi không hạt, là một thứ hoa quả mà nước Thái có thể xuất khẩu.

Hoàng gia đứng ra bảo lãnh cho những ngành kinh tế mà có thể giúp cho Thái Lan phát triển. Khi tỉnh Phuket bị sóng thần tàn phá, Hoàng gia đã đầu tư vào để giúp tỉnh đó tổ chức lại đời sống. Nghề sản xuất Yến Sào cũng được Hoàng gia bảo trợ và một vị công chúa trực tiếp làm công việc là kiểm tra sản phẩm trước khi xuất xưởng để đảm bảo uy tín của sản phẩm. Một vị công chúa khác vừa học nghề bác sĩ vừa nhận giảng dạy một ít giờ ở trường đại học. Và trong nông nghiệp, thì sau một chuyến sang Việt Nam, bà đã mang về giống thanh long, trở thành giống quả phổ biến ở Thái Lan. Khi tôi đến thăm cửa hàng đá quý, ở đó bên cạnh hình ảnh đức vua đương thời là Rama IX có hình ảnh vua Rama V. Người ta giải thích với tôi là ông này đã có công mang công cụ sản xuất vàng bạc từ phương Tây về để đổi mới công nghệ làm đá quý của nước Thái.

Từ trường hợp của Thái, người ta có thể rút ra cái tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá một chế độ chính trị.

Đã gọi Hoàng gia tức đây không phải là chính quyền của dân, do dân như tình hình ở một số nước châu Á trong thế kỷ XX. Sau khi lật đổ chế độ quân chủ, các nước này thường tuyên bố là dân chủ, tiến bộ. Những người cầm quyền đúng là mới nẩy nòi lên từ đám đông dân chúng thực. Nhưng khi nắm quyền trong tay, họ hoàn toàn chủ quan và tùy tiện trong việc quản lý quốc gia. Các cuộc bầu cử hầu hết đều hình thức giả tạo. Ai đứng ra tổ chức bầu cử kẻ đó được. Cộng với một lý do nữa nghe có vẻ tình nghĩa mà hóa ra gây mầm hậu họa: họ không bao giờ quên là đã hy sinh quá nhiều để ngoi lên địa vị cao nhất xã hội. Với nhiều hình thức khác nhau, họ băm bổ lao vào xoay xỏa kiếm chác, ý muốn đòi hỏi xã hội phải báo ơn cho mình gia đình mình, phe nhóm mình; và khi không được thì quay ra dùng bạo lực trị dân, phản bội ngay cái lý tưởng ban đầu vốn rất tốt đẹp mà họ theo đuổi.

Kinh nghiệm xã hội hiện đại là trong chính trị, rất dễ có sự tách rời giữa cái danh và cái thực, giữa điều người ta tuyên bố thậm chí là cái điều người ta mong muốn và điều làm được. Thái Lan không vụ cái danh mà chỉ lo tính tới cái thực. Thái Lan hiểu rằng cái thời dân chủ theo nghĩa chân chính nhất còn chưa tới.

- Cốt nhất là sự trung thành với tương lai chứ không phải trung thành với quá khứ.

- Đáng phải lo nhất là sự tử tế của con người và sự thịnh vượng của xứ sở chứ không phải cái tiếng hão lý tưởng này chủ nghĩa nọ.

Trong những ngày đi du lịch bụi trên đất Myanma, tôi đã cảm thấy như thế (xem bài trên blog này 14/3/2014). Hôm nay đến Thái Lan tôi lại cảm thấy như thế.

 

Tự đổi mới cách cai trị và làm cho nền cai trị có được một bộ máy thích hợp

Một khía cạnh khác làm nên tính chính đáng của Hoàng gia Thái là khả năng tự cải biến tự làm mới mình để phù hợp với sự phát triển của thời đại.

Trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á, của D.G.E. Hall (đã dịch ra tiếng Việt) phần viết về Việt Nam, tôi thấy sử gia người Anh nhận định Nguyễn Ánh Gia Long là người sinh ra để chiếm lại đất nước, là người chiến thắng sau những cuộc nội chiến, chứ không phải người sinh ra để cai trị đất nước.

Tôi rất thích cái ý này vì nó gợi cho người ta nhớ lại cách hình thành bộ máy quyền lực thường thấy ở xứ mình. Lịch sử Việt là lịch sử được làm vua thua làm giặc. Người thắng trong những cuộc nội chiến sẽ có tất cả chính nghĩa và mọi thứ vinh quang khác. Rồi nếu như họ lại còn chiến thắng trong công cuộc ngoại xâm nữa, thì quyền quản lý đất nước mặc nhiên là trong tay họ. Họ muốn dày vò, phá nát đất nước thế nào, dân chúng cũng phải chịu. Không phải chỉ có Gia Long mà các đời vua chúa ở Việt Nam đều theo luật như vậy.

Trong khi đó, ở Thái Lan, như tôi thấy người ta viết trong sách vở và hôm nay nghe người địa phương kể lại, nhà cầm quyền biết cai quản đất nước bằng sự nhạy bén của tầng lớp quý tộc nhiều đời cộng với nhận thức tổng quát chính xác về thời đại. Là bộ phận tinh hoa của đất nước, Hoàng gia đã tự biến chuyển để theo kịp với mọi tình thế.

Bên cạnh việc lo bảo đảm phúc lợi cho dân, tính chính danh của Hoàng gia bộc lộ trước tiên là trong việc định hướng lớn cho sự phát triển của đất nước.

Trong khi Anh – Pháp xâm lược hai nước bên cạnh là Myanma và Campuchia thì Thái Lan là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ được nền độc lập của mình.

Hoàng gia lúc ấy đã sớm hiểu rằng phương Tây là một nền văn hóa văn minh cao hơn mình, và có thể học hỏi họ trong tất cả mọi việc. Thái Lan không chỉ lo mua hàng mà còn muốn mua cả tư duy của phương Tây nữa.

Các hoàng tử và nhiều người trong hoàng tộc được cử sang các nước phương Tây để học từ những nghề nghiệp bình thường cho đến việc tổ chức xã hội.

Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) là người thành thạo tiếng Anh và ham đọc các sách phương Tây dưới sự hướng dẫn của các ông thầy phương Tây. Ông đã ký với người nước ngoài nhiều hiệp định cần thiết.

Vua Rama V – Chulalongkorn (1868-1910) nhiều lần đi tham khảo học hỏi ở các nước phương Tây. Trong chính phủ của ông có nhiều cố vấn người Bỉ, Đan Mạch. Thời ông, Hoàng gia mở trường do người Anh dạy, trong đó có trường luật. Từ 1844 tới 1877, có ít nhất 7 tờ báo tiếng Anh trong toàn quốc.

Khi Thái Lan khai thông tuyến đường sắt đầu tiên của đất nước, vua Chulalongkorn bảo rằng đó là ngày đẹp nhất của đời mình.

Trong khi ở các nước mới lật đổ chế độ quân chủ, việc quản lý đất nước hoàn toàn có tính cách nghiệp dư, thì Hoàng gia Thái Lan quản lí đất nước với một sự hiểu biết tinh tường về các vấn đề hành chính sự nghiệp.

Châu Âu vốn có nhiều quan niệm hợp lý về tổ chức xã hội. Trong khi Pháp, Đức là những nước cộng hòa thì Anh, Hà Lan, Bỉ… lại là các vương quốc. Và Thái Lan đã học theo họ.

Ngày 10/12/1932,vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên và Thái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến. Tuy chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932, nhưng 80 năm qua Thái Lan đã thay đổi gần hai mươi hiến pháp. Hiến pháp lần đầu một đảng, hiến pháp thông qua lần thứ hai đã cho phép đa đảng.

Các thể chế như Thượng viện, Tòa án tối cao … luôn luôn hình thành trong sự phối hợp giữa nguyện vọng của đông đảo dân cư và sự chỉ đạo của Hoàng gia. Quân đội như một bộ phanh hãm, khi chính trường không tìm thấy sự đồng thuận thì quân đội làm nhiệm vụ làm trụ cột tạm giữ cho tình hình trật tự, để mọi ngành mọi giới bàn bạc tiếp. Các tướng lĩnh có thể làm thủ tướng tạm thời, nhưng các bộ thì bao giờ cũng do các nhà chuyên môn nắm.

Chúng tôi đến Thái Lan đúng vào dịp đất nước này vừa qua cuộc đảo chính của giới quân sự. Mặc dầu vậy suốt trên đường đi, không mấy khi thấy bóng những đám lính hay cảnh sát và không khí đằng đằng sát khí của các xứ có thiết quân luật.

Bằng kinh nghiệm Việt Nam, ai cũng nghĩ rằng khi đất nước đang qua cuộc đảo chính như thế này, tức là không ai làm ăn gì nữa, khắp nơi lộn xộn. Nhưng hôm nay, Thái Lan gợi cho người ta nghĩ khác. Ở những nơi nào kia, sự ổn định luôn luôn phải nhờ đến bàn tay của bạo lực, do đó là một sự ổn định giả tạo, nó luôn luôn chông chênh như sẵn sàng bị đánh mất, thì ở Thái, sự ổn định nằm sẵn trong cốt cách cuộc sống và mọi biến động trên bề mặt là để đi dần tới sự ổn định mới.

Hoàng gia Thái Lan không phải là loại người cai trị mà lúc nào cũng khoe khoang về công ơn của mình với người dân. Hoàng gia Thái Lan càng không phải là những người cai trị tự cho là mình “biết tuốt”, trong đầu luôn có ảo tưởng rằng mình đưa dân tộc đi lên, trong khi thực tế là lôi cả xã hội rơi xuống vũng bùn của cô độc và lạc hậu. Các đời vua kế tiếp ở Thái Lan hiểu được những giới hạn của họ, cái gì lo được thì lo, không lo được tự để xã hội cùng bàn bạc và thể nghiệm.

Nạn kẹt xe hiện còn khá phổ biến ở Bangkok. Người dân nơi đây khi mắc cảnh kẹt xe yên tâm chờ đợi, không lanh chanh phá luật tìm lối riêng cho xe mình. Bởi họ biết rằng đó là chuyện thường tình ở một nước mới phát triển. Nhất là họ biết rằng bộ máy quản lý giao thông đang suy nghĩ để cấu trúc lại hệ thống, nhằm có được cách sống cách đi lại phù hợp với hoàn cảnh đất nước ngày một phát triển.

Đối với tình hình chính trị, người dân Thái cũng có sự bình tâm và niềm tin tương tự.

Đặt quốc gia mình vào trong xu thế vận động của thế giới

Rộng hơn câu chuyện biết thích ứng với hoàn cảnh, đúng hơn là đặt cơ sở cho việc thích ứng đó, là quan niệm người Thái về vị trí của mình trong thế giới. Sống cạnh Trung Quốc nhưng Thái Lan không coi Trung Quốc là thiên triều là mẫu mực, nhất là xa lạ với quan niệm chỉ có châu Á mình là văn minh, mà phương Tây là man di mọi rợ. Vua Rama IV - Mongkut (trị vì 1851 - 1868) hiểu thất bại của Trung Quốc trước phương Tây lúc đó là do Trung Quốc không chịu mở cửa. Và ông đi theo cách của mình như trên đã kể.

Mà chẳng cứ phương Tây, Thái Lan tôn trọng tất cả các dân tộc chung quanh. Đồng thời với việc sang du học phương Tây, vua Rama V (1868 - 1910) từng có những chuyến thăm thú và khảo sát dài ngày sang các nước lân cận.

Trong một bài viết trên mạng bàn về đời sống chính trị Thái Lan, tôi thấy người ta bảo rằng chính sách ngoại giao của Thái Lan là cách tồn tại của cây sậy tức là gió chiều nào ngả theo chiều ấy. Trong việc quan hệ với các quốc gia bên ngoài, họ không tìm cách đẩy xã hội mình đến tình trạng đối đầu mà luôn luôn tìm cách cùng chung sống cùng tồn tại.

Sự khôn ngoan của Thái Lan bộc lộ rõ nhất trong những giai đoạn thế giới có những biến chuyển lớn.

Sử sách còn ghi là hồi Đại chiến thứ hai, lúc đầu Thái Lan cũng cộng tác với người Nhật, đến 1/8/1944, lập tức trong một đêm quay sang phía người Mỹ.

Dường như Thái Lan muốn tuyên bố nước này không bị ràng buộc bởi tất cả cam kết nhất thời, lại càng không bị ràng buộc bởi những danh tiếng nhăng nhố. Cách xử lí của họ đúng là theo đúng tinh thần mà các nhà chính trị lõi đời ở cả Đông lẫn Tây đều thống nhất: không có bạn vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi của dân tộc là vĩnh viễn. Cần biến thù thành bạn chứ không phải biến bạn thành thù. Không lấy việc làm đau các quốc gia khác làm niềm vui, bởi khi đó chính chúng ta cũng sẽ rơi vào cái cảnh thân tàn ma dại.

 


Nhẹ kiếp nhân sinh

Ngày đăng 27/10/2014

 

Dưới mắt người nước ngoài giao thông đi lại ở Hà Nội hiện ra khá thú vị.

Nhà văn Carol Howland đã viết trong cuốn sách Những con rồng trên mái nhà - một năm ở Việt Nam: “Đi bộ ở Hà Nội 36 phố phường giống như len lỏi tìm đường đi trong một bát mì.”

Chris Anderson, một cựu phóng viên của CNNGO cảm nhận: Ồn ào, đông đúc và dễ lạc là điểm nổi bật dễ nhận thấy nhất của phố cổ Hà Nội. Vì thế, để khám phá, nên đi lang thang không mục đích. Không điểm đến, không lộ trình được vạch sẵn. Chỉ đơn giản rẽ trái, rẽ phải hay đi thẳng.

Vẫn theo Chris Anderson, “không có con đường nào được gọi là “ít được đi lại” ở đây. Tất cả các tuyến phố đều tràn ngập xe máy, ô tô, xe đạp và người đi bộ. Đừng chỉ tập trung vào bước chân, hãy nhìn sang hai phía và tận hưởng khoảnh khắc bạn đứng ở giữa phố với hàng tá xe cộ vây quanh.”

Từ chuyện giao thông thấy gợi ý về cả một triết lý sống. Đừng đặt cho mình mục đích gì hết. Hãy sống nhẹ nhõm, bằng lòng với mọi tình huống xảy ra, lấy sự quan sát sự đời làm vui, kết quả thế nào cũng chấp nhận. Tôi đoán nhiều người trong bụng cũng đồng tình với Chris Anderson và trong sự bươn bả hàng ngày thực ra vẫn sống bằng triết lý đó. Nếu không thì chịu sao nổi hở trời!

 

 

 

 

 

 

 

Niềm tin ghê gớm

Ngày đăng 28/10/2014

 

Thiên là trời, địa là đất – đó là mấy câu mở đầu cungTam tự kinh. Lối nói vần vè mang trong mình nó cả một thông báo về cách học chữ Hán của người Việt. Ta mải học âm hơn là học chữ. Không biết rằng chữ Hán có rất nhiều từ đồng âm. Cũng không biết rằng một từ có nhiều nghĩa. Chẳng hạn bên cạnh chữ thiên là trời lại còn chữ thiên là thay đổi (trong biến thiên, thiên di); trong trường hợp thiên là trời, bên cạnh nghĩa ấy, nó còn được dùng với nghĩa là ngày (minh thiên là ngày mai, kim thiên là hôm nay).

Sự thiếu hiểu biết này dẫn tới những chuyện hy hữu, đại khái một tiến sĩ ngữ văn học ở Pháp về nhất định cãi tự sự là chỉ kể chuyện mình. Vì bà chỉ biết tự là riêng mình. Nhưng chữ Hán có mấy chữ tự nữa, tự là chữ, tự là chùa, tự là riêng mình, tự lại là kể ( mỗi chữ tự ấy viết một kiểu riêng)…

Các nước khác người ta đều tư duy trên dạng chữ viết ra.

Hồi đầu thế kỷ XX, khi mới dùng chữ quốc ngữ rộng rãi, để phiên âm một số khái niệm mượn từ chữ Hán, người viết báo luôn luôn phải ghi mặt chữ Hán bên cạnh để cho người đọc khỏi nhầm.

Lối tư duy thuần túy trên âm chỉ có ở ta từ khoảng những năm sau 1930 trở đi, và ngày càng phát triển vô tội vạ. Chưa hiểu hết nghĩa của từ người ta đã dùng, kệ cho sự giao tiếp rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Hôm nay tôi kể chuyện này vì, nhân đăng ký đi du lịch Đài Loan, lấy về mấy tờ giới thiệu nội dung chuyến đi của các công ty lớn, thì thấy chỗ nào đáng phải viết tham quan thì người ta đều viết thăm quan.

Đã có lần tôi nói với một nhân viên Saigontourist là viết thế sai đấy, phải nói như ngày xưa mới đúng. Nhưng chả ai buồn nghe.

Tìm hiểu thêm thì được biết cả những người có vai vế trong xã hội – chẳng hạn trong phạm vi tôi quen, một nhà văn trẻ nổi tiếng, đã được mời đi Mỹ - cũng ủng hộ lối viết thăm quan này.

Thăm mới có nghĩa chứ sao lại là tham? Thế anh không biết rằng tham trong tiếng Việt là tham lam càm quắp, và hiện nay hai chữ tham quan đã được dùng riêng để chỉ các công chức ăn hối lộ à.

Tôi có tra lại một số từ điển và thấy rằng chữ tham quan với nghĩa quan lại tham nhũng thường thấy ghi ở các từ điển cũ ở miền Nam trước đây, như từ điển Đào Văn Tập, từ điển Thanh Nghị. Còn Từ điển Văn Tân in ở miền Bắc trước 1975 đã cắt nghĩa tham quan là “xem xét một nơi nào”.

Từ điển Hoàng Phê mới nhất ghi cả hai nghĩa, kèm theo hai chữ tham và hai chữ quan viết khác nhau trong chữ Hán.

Một chữ tham là dự phần và một chữ tham là ham muốn quá đáng

Một chữ quan là xem xét và một chữ quan là viên chức.

Cả bốn chữ đều gốc Hán.

Theo chỗ tôi tra được hiện nay thì không có từ điển tiếng Việt nào có mục từ thăm quan cả.

Các từ điển Việt Anh, Việt Pháp, Việt Hán… cũng vậy.

Điều đáng nói là khi giảng cho tôi như trên, những người chủ trương thăm quan tỏ ý rất tự hào là họ đã trở về với tiếng nói dân gian, bảo vệ yếu tố thuần Việt trong ngôn ngữ (thăm nom và quan sát, hay bao nhiêu).

Và đọc trong ý nghĩ thầm kín của những người ấy, tôi thấy còn có cả niềm tự tin ghê gớm. Tin rằng tất cả các từ Hán Việt vốn có nghĩa gốc ra sao, tại sao ta lại nói như thế - không cần biết. Cứ dùng đại đi, nó là của mình rồi! Thậm chí không việc gì phải nói theo người xưa cả, cứ theo cách hiểu của mình hôm nay mà đặt ra chữ nghĩa mới. Một sự sáng tạo đã diễn ra chăng? Trong bao nhiêu việc khác đã thấy có kiểu sáng tạo này rồi, giờ nó vào trong ngôn ngữ có gì là lạ!

 

 

 

Tuổi già xứ mình

Ngày đăng 28/10/2014

 

Trang Viet-studies mấy hôm trước in bài Tuổi già là thời sung sướng nhất. Đọc vào thì thấy người già ở xứ người - kể cả người Việt -  sao mà dễ sống. Luôn luôn họ tìm được sự bằng lòng. Mọi cái ở nơi khác coi là bất hạnh - chẳng hạn vợ chồng về già còn ly dị - cũng được các vị ấy “tiêu hóa” một cách dễ dàng.

Tôi ước ao có một ai đó ngồi tổng kết về tuổi già ở xứ mình.

Trong một phản ứng tức thì, tôi chỉ thấy rằng người già ở trong nước đang rất khổ với nghĩa cả khi về già có được đời sống tạm đủ ăn, thì cũng luôn có gì đó như là bất mãn. Thấy tiếc quãng đời trẻ, muốn truy lĩnh muốn hưởng thụ bù vào những ngày lê lết trong khốn khổ. Lại có đôi người tự thấy rằng năng lực của mình chưa được thể hiện hết, nay lao ra hoạt động còn năng nổ hơn trước, và hoạt động nhiều khi khá kệch cỡm. Trong khi đó, ngoảnh lại nhìn những người thân trong gia đình, thấy ngạc nhiên. Sao mình lại có thể chung sống hàng bao nhiêu năm với người chồng hay người vợ như thế này? Đứa con nay đã trưởng thành này có phải là đứa nhỏ mà xưa kia mình đã từng chăm bẵm? Có cái bực bội nó khiến người ta muốn thoát sớm cho rảnh. Ngay lúc ấy lại có cái tỉnh táo tin rằng chả làm sao trốn khỏi cuộc đời này…Tuổi già là trong ê chề, tuổi già là trong bất lực.

Trích Ghi chép trong tuần (20-26/10/2014) đưa trên blog hôm nay

 

 

 

 

 

 

Tìm học những cách nghiên cứu văn hóa

Ngày đăng 29/10/2014

 

Khi bí, hãy nhảy đại vào những khu vực anh chưa bao giờ ghé thăm và hãy nín thở chờ đợi – biết đâu ta chẳng tìm ra ở cái nơi tưởng xa lạ đó những gì quen thuộc, thậm chí những gì cần thiết.

Không biết ai đó có lần đã nói với tôi điều đó và hôm nay tôi thử đi theo lối đó.

Lâu nay khi loay hoay với các chủ đế văn hóa Việt Nam, tôi chỉ mới tìm cách mở sang văn hóa Trung Hoa và văn hóa Đông Nam Á. Hôm nay tôi thử ngó sang... văn hóa Hồi Giáo - Ả Rập.

Lang thang thử đọc cuốn sách mang tên Lịch sử Trung Đông 2000 năm trở lại đây của Bernard Lewis, Nguyễn Thọ Nhân dịch. Ghi nhận được vài điều, chẳng hạn cái ý về vai trò của các nhà thơ trong các nền hành chính ở vùng này:

“Một vị vua chúa tầm thường nhất cũng nuôi ít nhất một nhà thơ để ca tụng mình bằng những vần thơ dễ nhớ và dễ quảng bá. Các vị đại vương thì có trong triều cả một tập thể thi gia chẳng khác gì một bộ tuyên truyền của chính phủ”

“Nếu việc của nhà thơ là tô điểm cho hình ành hiện thời của hoàng đế thì các nhà viết sử lại lo cho hình ảnh nhà vua truyền cho hậu thế” (tr 221)

Còn nhiều điều khác có trong văn hóa vùng Trung Đông tôi thấy nó như là những biến thể của văn hóa mình.

Tuy nhiên, bài học giá trị nhất là về cách nghiên cứu một nền văn hóa. Phần dẫn nhập giới thiệu hình ảnh một người đàn ông ngồi trong một quán cà phê, từ đó phân tích những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với con người Trung Đông.

Dường như nghiên cứu một nền văn hóa hiện nay, là nghiên cứu mối quan hệ giữa nền văn hóa đó với các nền văn hóa mà nó tiếp xúc – tôi tự xác định.

Cái hiện đại & trung cổ

Ngày đăng 30/10/2014

 

Con đường ven đê vùng tôi ở từ ngày được nâng cấp trải nhựa thì lại khiến tôi ngại đi. Đường càng tốt xe càng rồ máy phóng ào ào. Có nghĩa bản năng người đi đường càng được kích động, nên nó trở nên đáng sợ hơn.

Ở Việt Nam, cái hiện đại chỉ làm cho cái trung cổ sẵn có được dịp bộc lộ đầy đủ. Cái hiện đại chỉ đóng vai trò như một yếu tố phụ trợ. Chủ đạo vẫn là cái trung cổ. Một sự chuyển pha nửa vời, và vì thế, tình trạng lạc hậu càng trở nên đậm nét.

Điện thoại di động càng phổ biến thì càng cho thấy người mình nói nhiều tào lao với nhau là nhiều, các mối giao tiếp xã hội bùng nổ đến mức thừa thãi nhưng trống rỗng không có nội dung, ồn ào mà vẫn vắng lặng.

Không chỉ đi ô tô bằng tâm lý người đi xe đạp, người ta còn đang làm những ngôi nhà bê tông cốt sắt bằng tư duy của người làm nhà lá.

Trước tiên là đất nào cũng làm nhà được. Và làm theo lối gạn từng thước đất khiến cho các căn nhà như chềnh ềnh ra đường, để tố cáo chủ nó là con người không bỏ nổi tính tham vặt.

Con người giàu có hôm nay từ trước chưa có nhà mà cũng chưa biết thế nào là cuộc sống trong những ngôi nhà hiện đại cả.

 

 

 

 

 

 

 

Đâu là nguyên nhân mọi yếu kém của người Việt

Ngày đăng 30/10/2014

 

Trên facebook Nhân Thế Hoàng, hôm nay 30/10/2014, tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:

Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi.

Cái này là điệp khúc mà mấy bạn trẻ cuồng đảng hay phát ngôn để bảo vệ khi có ý kiến trái chiều chê trách về các vấn đề xã hội hay tình trạng bê bết của nền kinh tế hiện nay.

Thế bạn có biết, cũng là người Việt nhưng năng suất lao động của 3 triệu người Việt ở Mỹ tương đương với năng suất lao động của 90 triệu người Việt trong nước hay không? Con số 100 tỷ USD tạo ra hằng năm của 3 triệu người Việt ở Mỹ đã nói lên điều đó, điều này chứng minh người Việt không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới về độ thông minh, cần cù, chịu khó, chỉ là do bị kèm cặp quá nên 90 triệu người trong nước mới làm việc kém năng suất và hiệu quả như vậy. Người xưa có câu: "Cây quýt trồng ở đất này thì ngọt mà mang sang đất khác thì chua", và lạ thay cây quýt Việt thường chua ở xứ mình nhưng lại ngọt ở xứ người!

Bình luận của tôi, đã đưa trên blog cá nhân hôm nay, đưới đây xin tóm tắt một số ý.

Tại sao lại có hiện tượng ở trong nước thì dở, ra nước ngoài mới tử tế?

Dẫn chứng mà bạn Nhân Thế Hoàng nêu lên là không thể cãi được.

Theo tôi nó chỉ khi bị buộc phải làm theo sự chỉ đạo của người khác, chúng ta mới dứt bỏ được thói quen cố hữu từ ngàn đời ông cha để lại để có thể sống và làm việc như mọi con người tử tế khác trên thế giới.

Chính trường hợp 3 triệu người Việt Nam ở Mỹ mà bạn Hoàng nêu là nằm trong hoàn cảnh đó.

Trở lại với đầu thế kỷ XX. Do sự bảo trợ của người Pháp, sống trong một nhà nước do người Pháp quản lý, mà người Việt có được sự thay đổi trong tính cách và có những bộ phận đạt được cách sống cách suy nghĩ trình độ làm việc của con người hiện đại.

Kết luận tạm thời: chúng ta là một cộng đồng kém về năng lực tự quản lý. Trong những điều mà chúng ta học được từ văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta học được ít nhất là văn hóa tổ chức xã hội, văn hóa quyền lực. Cai trị học – bên Trung Quốc người ta gọi là trị quốc chi đạo - là cả một vấn đề lớn, muốn có kết luận thuyết phục cần trở lại với các tài liệu lịch sử, phải nhiều người mới làm được, tôi chỉ nêu sơ sơ như vậy.

Dưới đây để chứng minh cho ý kiến trên, tôi lấy thêm một số ví dụ không phải trong khu vực chính trị mà chỉ là trong phạm vi đời sống thông thường.

Trong phạm vi hướng nghiệp cho con em trong các gia đình bình thường, Phương Quỳnh bạn tôi có lần kể cho tôi chuyện sau.

- Con mình học khá giỏi, nhưng đi làm cho các ông chủ trong nước một hồi, thấy đằng nào cũng chết.

Làm cho nhà nước thì gặp toàn những ông dốt, lại còn cái lối phong kiến cổ lỗ, coi bọn mới ra trường như kẻ ăn người ở, chuyên sai vặt.

Làm cho tư nhân - nhất là tư nhân xuất thân Hà Nội - cũng phần lớn là bọn trương ra cái biển thật to để dọa thiên hạ, chưa làm đã lo buôn lậu với lại đi hối lộ cấp trên cùng là sẵn sàng cạnh tranh với các đồng nghiệp bằng mọi thủ đoạn man rợ.

Và Phương Quỳnh khuyên:

- Các cậu có con bây giờ thì phải tính trước đi, cố hướng con cái kiếm được việc cho các hãng nước ngoài, ở đó cắn răng mà học lấy nghề thì mới nên người được.

Vài điều tôi tạm rút ra cho mình:

- Xã hội Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay chỉ được tổ chức theo những nguyên tắc quá đơn giản. Việc quản lý con người theo nghĩa đầy đủ nhất của chữ này chưa bao giờ được coi như một nghiệp vụ mà người ta phải học hỏi mới làm được. Cái khó nhất với nhiều người Việt có năng lực là tìm ra ông chủ xứng đáng với mình.

- Chính vì chúng ta không có những nhà quản lý giỏi, những ông chủ giỏi mà mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cứ mãi mãi lạc hậu, và trước mắt chỉ đi làm ăn dưới quyền chỉ đạo của người nước ngoài, ta mới khá lên được.Từ chỗ chịu làm ăn mọi tính cách người Việt sẽ thay đổi.

- Chỉ lúc đó, ta mới có quyền tự hào. Chỉ lúc đó, dân ta mới sửa được những tính xấu cố hữu như lười biếng dối trá ăn cắp …và - cho tôi bổ sung thêm một thói xấu nữa - là chỉ giỏi cãi bừa cãi sằng, hễ ai động vào tử huyệt của mình là chửi người ta thiếu thiện chí.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gợi ý từ một nhà kinh tế

Ngày đăng 31/10/2014

Ông Đặng Phong, một nhà lịch sử kinh tế qua đời. Tôi biết ông nhân một lần đọc cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do ông chủ biên, thấy có nhắc thoáng qua một điều gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết: trước 1975, kinh tế miền Nam đã ở trình độ cao hơn kinh tế miền Bắc.

Tự ngẫm nghĩ, thì thấy đúng thế, không thể khác được, không thể nói ngược như chúng tôi vẫn nói, hoặc lảng tránh cho là cấm kỵ, và lấy những chuyện khác nói át đi.

Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.

Như vậy dễ dàng công nhận là trình độ sống của bà con trong ấy cao, nhất là dân thành phố. Dấn thêm một bước, trong đầu tôi thấy vụt lên cái ý, liệu có thể nói rằng, xét trên phương diện hiện đại hóa, là con đường tất yếu mà xã hội phải trải qua, nhân dân miền Nam đã đi xa hơn, đạt tới tầm mức văn hóa cao hơn? Như vậy bản thân khái niệm văn hóa mà lâu nay tôi vẫn hiểu cũng phải được xem xét lại chăng?

Tôi sẽ tự phản bác lại nhiều lần trước khi đi đến kết luận…

Nhưng càng đọc Đặng Phong, ý tưởng trên càng không rời khỏi tôi.

Đặng Phong đã được mời đi giảng bài tại một số Đại học lớn bên Anh Mỹ. Các bộ sách về lịch sử kinh tế của ông đã xuất bản đáng quý ở chỗ có nhiều tài liệu ghi chép được từ các cuộc trò chuyện với các nhà chỉ đạo kinh tế quốc dân. Ông có lối làm việc khách quan khoa học, chỗ nào ý của người khác ghi rõ, chỗ nào ý của mình để riêng. Khi biết những chi tiết này, tôi thêm tin ở ông để nghĩ tiếp những điều ông đã nghĩ.

Bước đi giữa bóng tối

Ngày đăng 1/11/2014

 

Tiểu thuyết Chú nhóc đen, tác giả Richard Wright, Vũ Văn Kha tức Trần Dần dịch, bắt đầu bằng một câu đề từ lấy từ sách Job trong Kinh Thánh.

Họ thấy bóng tối giữa ban ngày, và họ bước giữa ngọ, tựa hồ đấy là đêm

Tôi nhớ tới câu nói ấy khi đọc các tin tức về những tình hình làm ăn bê bối mọi mặt hiện nay.

Cắt nghĩa các vụ vỡ nợ, lừa đảo, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng chúng  “điển hình cho sự thiếu minh bạch về đối tác làm ăn trong xã hội”.

Ta đang bàn nhiều về tình trạng hư hỏng trong mối quan hệ nhà nước với người dân. Nhưng cả mối quan hệ giữa người dân với nhau, cái đó cũng đang bị tha hóa. Câu nói của nhà kinh tế gợi người ta nghĩ tới một thứ bóng tối trong các mối quan hệ dân sự.

Trong một mức độ nào đó, có thể nói nay là lúc nhiều người chúng ta sống như lên đồng, như đánh bạc, sống mò mẫm, sống nặng về cầu may. Dám làm mọi việc nếu nó hứa hẹn ra tiền. Nhưng chẳng hiểu mọi chuyện đi đến đâu và trước mắt chẳng hiểu đối tác của mình là ai, có đáng tin cậy không.

Thế giới nửa người nửa ma. Ma dại đầy đường. Người lẫn với ma. Cái chữ ma này được Tô Hoài láy đi láy lại từ bài viết về Nguyễn Bính. Ông dùng để tả đám người làm văn chương thất tha thất thểu hồi tiền chiến. Nay thì chúng ta có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác và cả không gian xã hội.

Ca dao cũ: Đi đâu lả cả là cà—Như chim lạc tổ như ma lạc mồ.

Thơ Nguyễn Duy: Người đi như xác chết trôi giữa đường.

Thơ Văn Cao viết 1945: Kiếp người tang tóc - Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương - Một nửa lang thang ma đói sa trường - Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc

Cần nói thêm là nếu ngày xưa, ma đói, ma dại, ma như những cái bóng nhợt nhạt thì ngày nay ma trở nên năng động, ma đầy dục vọng, những hồn ma đang biến thành quỷ.


Tuổi già ... và phụ nữ

Ngày đăng 2/11/2014

 

Mấy ông già tôi quen ngoài sông hôm nay ngồi đọc một câu ca dao mà ở nhiều gia đình thành câu truyền miệng:

- Đố: Con gì ăn ít nói nhiều

Mau già lâu chết, miệng kêu tiền tiền.

- Trả lời: đám già.

Nhớ một lần khác, một ông già kể có lần một người mẹ đang chơi với con vui vẻ, thấy ông ta đến liền bảo kìa chào ông đi, đứa bé ngó một lúc rồi sợ quay ra khóc.Với nó, khuôn mặt già cả nhăn nheo là một cái gì xấu xa kỳ dị đáng sợ.

Cái già ở đâu cũng thế, chẳng cứ mặt người! Thế mà thử nghĩ xem, chúng ta sống giữa một xã hội già cả cổ lỗ - già trong tinh thần chứ không phải bề ngoài - cả lớp trẻ hiện nay, sao tôi trông cái cách kiếm tiền chơi bời hưởng thụ, cũng thấy họ già sớm quá

***

Nếu tuổi già tiêu biểu cho suy kiệt thì phụ nữ tượng trưng cho sự đỏng đảnh. Đây là ý của Henry Troyat. Ông này là một nhà văn Nga, sau Cách mạng tháng Mười lưu vong sang Pháp, viết văn, trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ông thường viết về nước Nga cũ, nhưng lại từ chối không bao giờ về thăm quê hương. Ông bảo, để cho cái cũ nó được sống đúng như nó có.

Sau đây là đoạn văn mà tôi tạm đặt tên là Đàn bà là gì?, ông viết nhân khi bàn đến nhân vật Grouchenka trong Anh em Karamazov

Người đàn bà, ấy là sự điên cuồng làm bằng xương thịt. Người đàn bà khô héo trong sự chờ đợi, đau khổ trong sự thực hiện những ý muốn của họ. Lúc thì họ ác độc để có cái thứ tỏ ra dịu dàng tiếp sau đó. Lúc thì họ dịu dàng để có cái thú được tỏ ra độc ác liền một khi. Họ có những e lệ tà tâm và những khoái lạc ngây thơ. Họ nói láo với đàn ông, với chúa, với chính họ. Họ đùa với cuộc đời. Họ đứng trước cuộc sống như đứng trước một tấm gương. Họ làm duyên làm dáng. Và họ thay đổi vẻ mặt điệu bộ để tự tạo cho mình cảm giác là mình đang sống. Đối với đàn ông sự trường tồn là bằng chứng của thực thể họ. Và chính do sự đổi thay mà người đàn bà xác nhận sự hiện hữu của mình. Cái người đàn ông muốn là một, còn người đàn bà muốn là nhiều. Người đàn ông chỉ tự cảm thấy mạnh trong sự ý thức đầy đủ về các đức tính và lỗi lầm của họ. Người đàn bà chỉ cảm thấy mạnh trong vô thức hoàn toàn về bản thân. Người đàn ông, chính là cái thế giới được tổ chức. Người đàn bà chính là cái vũ trụ dị dạng. Đối với người đàn bà, tất cả đều có thể, không gì là nhất thiết với họ cả. (Tôi chép từ bán nguyệt san Văn in ở Sài Gòn khoảng 1971-1972, số đặc biệt về Dostoievski)

Đỏng đảnh cũng là một phương diện chủ yếu của đời sống hôm nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người anh hùng nói

Ngày đăng 3/11/2014

 

Trên báo Văn Nghệ trong khoảng 1967- 1968, Xuân Diệu đã dịch và cho in bài thơ sau đây của Felik Pollak nhà thơ Mỹ- 1909-1987- tôi không nhớ chính xác số báo mà chỉ chép lại từ sổ tay.

Có lẽ vì nội dung của nó hơi lạc lõng so với tinh thần thời đại mà Xuân Diệu về sau không sưu tầm đưa vào sách nào cả. Nhưng tôi thấy nên chép lại dưới đây vì bài thơ như là tiếng nói của những người lính trong chiến tranh đã lao vào chỗ chết mà không được chuẩn bị tương xứng, chẳng qua họ chỉ nghe theo lời khuyến nghị của những nhà chỉ huy giỏi sách động. Bảo họ là nạn nhân của những người chỉ huy ấy cũng không sai.

Tôi đã không chịu đi

Chúng bắt tôi vào quân dịch

Tôi đã không muốn chết

Chúng gọi tôi là nhát hèn

Tôi đã tìm cách trốn

Chúng mang tôi ra tòa án binh

Tôi đã không nổ súng

Chúng bảo tôi là không có thớ

Chúng mở cuộc xuất kích

Một viên đạn ngấu nát ruột tôi

Tôi đau quá khóc lên

Chúng đưa tôi vào hầm trú ẩn

Trong hầm tôi đã chết

Chúng lặng lẽ chào tôi

Chúng đã gạch tên tôi

Và chôn tôi dưới một cây thánh giá

Chúng đọc điếu văn trong thành phố tôi sinh

Tôi không thể kêu lên là chúng nói dối

Chúng nói tôi đã cống hiến đời mình

Tôi thì cố mà giữ lại

Chúng nói chúng tự hào về tôi

Tôi thì đã xấu xa đi vì chúng

Tôi đã muốn sống còn

Chúng gọi tôi hèn nhát

Tôi đã chết hèn nhát

Chúng gọi tôi anh hùng

Bài thơ được dùng làm đoạn kết cho bài viết Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh- hai kiểu nhà cách mạng Việt nam đầu thế kỷ XX.

Tại sao lại đưa bài thơ trên vào tiểu luận về hai cụ Phan? Việc làm của tôi có khiên cưỡng không? Tôi chờ sự phán xét của các bạn.

 

 

 

 

 

 

Cái vội của người mình

Ngày đăng 5/11/2014

 

Năm 1982, Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh thời gian” để mô tả một tín điều đang ám ảnh nhiều người. Những người này thường tự nhủ: “Thời gian đang trôi đi, không còn đủ thời gian, và bạn phải nhanh hơn, nhanh hơn nữa mới bắt kịp nó”.

Sau khi dẫn lại một nhận xét tổng quát như thế, Carl Honoré (tác giả cuốn Ngợi ca sống chậm - bản dịch của Nhà xuất bản Phụ Nữ) tự đặt cho mình một loạt câu hỏi: Vì sao chúng ta luôn vội vã như vậy? Đâu là nguyên nhân tâm lý? Liệu có thể - và có nên ao ước - sống chậm lại?

Những căn bệnh được tác giả miêu tả đủ loại, ăn nhanh, đi vội, sống gấp, làm việc đến kiệt sức, hưởng thụ ngoài sức tưởng tượng. Bởi ở mọi nơi mọi chỗ, chúng ta khao khát tốc độ, nên đã tự làm hỏng cuộc đời đi, ông bảo vậy. “Thời đại của sự rồ dại”, tinh thần của khái quát đó trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm.

Từ đó, ông giới thiệu một giải pháp ngược lại, đã tự phát hình thành trong thực tế và ngày càng được tin theo, đó là sẵn sàng sống chậm, cốt tìm tới sự hài hòa. Những biện pháp nêu ra, như bớt thời giờ xem ti vi, để thêm thời gian đọc sách và làm vườn hoặc đan lát... chỉ là gợi ý. Trước tiên người ta phải nhận thức được rằng cố sao cho nhanh thường đồng nghĩa với vội vàng, hời hợt nôn nóng, đặt số lượng lên trên chất lượng. Đó là thứ tư duy đã lỗi thời. Còn chậm nghĩa là thư thái cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo. Nhanh và chậm chỉ là tương đối. Cái chính là mỗi người tìm cho mình một nhịp sống hợp lý.

Từ chuyện bên Tây quay về Việt Nam, thấy chúng ta cũng đang bị cái vội cuốn đi thật. Một nhịp sống gấp gáp lôi cuốn. Gấp gáp đến liều lĩnh. Và vội vàng đến bất cẩn. Đường sá quay cuồng. Công việc cứ rối tung cả lên mà vẫn chẳng việc gì ra việc gì.

Một người bạn tôi mới đây dẫn ra nhận xét của một người dân Singapore có dịp sống ở vài thành phố lớn của ta:

- Người Việt các anh đã mất hết tính kiên nhẫn rồi hay sao? Nên biết là ngay ở Singapore, việc chờ taxi mất nửa tiếng với chúng tôi cũng là chuyện thường.

Vấn đề bây giờ chỉ còn là giải thích tại sao chúng ta lại sống vội như vậy và xem xem có phải là cái vội bộc lộ một cái gì to lớn hơn, cần phải gạt bỏ.

Tôi sống trong nghề viết văn, viết báo liên tục đã bốn chục năm nay và có dịp chứng kiến hai giai đoạn nghề nghiệp. Từ 1986 trở về trước, ở Hà Nội báo lom đom dăm bảy tờ, sách viết xong không chắc đã có giấy để in. Thế là không ai bảo ai, viết cái gì cũng đận đà chậm chạp, không thiếu nhà thơ để cả tuần tính một hai chữ trong thơ. Còn nay thì làm ăn như ăn cướp, vừa nghĩ ra cái đầu đề đã ngồi ngay vào bàn, bản thảo chưa hoàn thành (nói như ngày xưa chữ chưa ráo mực) đã giục nhà xuất bản xin phép cho in. Lúc đầu tưởng phải viết cho nhanh mới giải phóng hết được sức sáng tạo. Sau nhìn lại cái đống viết ra hổ lốn hỗn tạp - bằng chứng là bạn đọc ngày càng xa lánh - mới hiểu rằng mình đã rơi vào vòng tay của sự làm liều làm ẩu lúc nào không biết. Chậm mới hợp với trình độ của mình. Nhanh là ảo tượng giả tạo, bỏ mồi bắt bóng.

Khốn khổ có riêng nghề của bọn tôi đâu, nghề nào bây giờ chẳng vậy!

Xưa nay dân ta ít ai để ý tới chuyện cười cợt của người mình. Tới những thập niên đầu thế kỷ hai mươi, Nguyễn Văn Vĩnh mới đọc ra trong đó cả một triết lý sống. Trong bài Gì cũng cười, viết trên Đông Dương tạp chí, nhà văn này giả định, “Trong cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác: có cách láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà đã gièm trước ý tưởng người ta, không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta”.

Học theo Nguyễn Văn Vĩnh, tôi cũng muốn nói rằng trong sự nóng vội người đời bây giờ có cái hạn hẹp trong tầm nghĩ, chỉ thấy đời sống trước mắt mà không thấy đời sống thâm nghiêm lâu dài; có cái tự ti, biết rằng mình đã quá lạc hậu với thế giới nên phải lo truy đuổi trong tuyệt vọng; có cái hỗn loạn trong cảm giác về giá trị, từ đó tạo nên ám ảnh lấy thịt đè người, chỉ có nhanh mới hốt được của thiên hạ.

Với một số người, vẻ vội vàng mà họ biểu hiện như vậy là cả một lời tố cáo. Rằng đời sống tinh thần họ tầm thường. Rằng họ không biết mình là ai trong thế giới này. Thậm chí ở một số trường hợp vội vàng đồng nghĩa với gian manh, cố tình tạo ra tình trạng hỗn loạn để đẩy đi thứ hàng kém cỏi mình làm, cái cuộc sống vớ vẩn mình muốn áp đặt cho kẻ khác. Vội trong trường hợp này là để lấp đi cái trống rỗng, mà cũng là cái bế tắc của tình thế.

Hồi còn bao cấp, tôi thường hình dung cái vội của dân mình như người có cái xe đạp đã tàng đã cũ, cứ phải rướn cổ cò mà đạp trên con đường quê gồ ghề. Còn ngày nay thường đến với tôi là hình ảnh những người chạy xe gắn máy rồ ga bóp còi inh ỏi, đưa xe lên cả vỉa hè, nhưng chẳng để làm gì ngoài việc lăn từ đám tắc đường này sang đám tắc đường khác. Mà cả thành phố thì trì trệ ì ạch, dấu hiệu còn lại của thời buổi kinh tế thị trường chỉ là một sự nhốn nháo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân hiện tượng truyện ngôn tình Trung Quốc

Ngày đăng 5/11/2014

 

Sự bung ra của loạt sách này làm cho một số người sốt ruột. Một vài nhà nghiên cứu có chút hàn lâm lấy làm khó hiểu nêu ra những câu hỏi. Đại loại hỏi tại sao có tình trạng đó? Tại sao lớp trẻ lại có sự lựa chọn như thế? Về khách quan tại sao các nhà văn không lên tiếng về thứ một thứ văn chương gần với rác rưởi, tại sao những người phụ trách ngành văn hóa văn nghệ lại thờ ơ với tai họa và hình như lại đã có chủ trương cho phép rộng rãi.

Tôi mạn phép giải đáp:

- Với bạn đọc trẻ Việt Nam lúc này nói chuyện lựa chọn nghiêm túc là quá xa xỉ. Chán chường trước những cái người trong nước viết thì họ tìm sách dịch. Và chán những cái dịch nghiêm túc - xa lạ và khó hiểu - thì họ tìm cái tầm thường. Thị hiếu họ lang thang theo hướng thấp dần. Trong trường hợp này người đọc trẻ mua sách cũng đang như người Hà Nội ra chợ mua hàng Trung Quốc. Biết nó chả ra gì, nhưng được cái giá rẻ. Cũng từng ấy tiền, người mình còn không làm nên cái mặt hàng coi được nữa là.

- Về phía các nhà văn. Tại sao họ không lên tiếng ư. Họ cũng đang bí. Đã có những “nhà văn” mình xoay ra làm hàng kiểu này, nhưng có ai viết được đều đều và trở thành tác giả hẳn hoi như mấy đồng nghiệp lôm côm bên Tầu?

- Về các nhà quản lý. Họ chả có chủ trương gì rõ ràng cả. Họ chỉ lo các nhà xuất bản và các nhà sách tư nhân ra được nhiều sách và nộp thuế , thế là họ mừng rồi. Cuối năm, trong các báo cáo lên trên họ vẫn viết lại đủ thứ thành tích như các năm trước. Có ai đọc những báo cáo đó của họ mà sợ.

 

 

 

Ngày mỗi phụ thuộc

Ngày đăng 6/11/2014

 

Không cần là một chuyên gia kinh tế, nhiều người cũng đã biết rằng nền sản xuất và buôn bán của ta phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu hàng nước ngoài. Không chỉ dầu, xăng, thép, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh.. mà ngay cả mấy hạt muối dùng trong công nghiệp hay nguyên liệu chế biến thức ăn cho gia súc, ta cũng phải đi mua. Thời buổi thế giới biến động, nền kinh tế mình như cái phao, biển động nổi gió một tí là dập dềnh theo, thiên hạ vừa hắt hơi một cái là mình đã nước mắt nước mũi giàn dụa.

Nhưng hôm nay tôi muốn nói một khía cạnh khác của sự phụ thuộc. Thoạt nhìn, nó có vẻ không mấy đáng ghét, bởi chỉ là chuyện có vẻ bề ngoài, có vẻ tạm thời - như cách mọi người hay nói - nhưng suy cho cùng, vẫn tố cáo một sự lệ thuộc sâu sắc của ta.

 

Sự phụ thuộc trong sinh hoạt

Phải tới những năm chiến tranh qua đi, dân Hà Nội mới biết và rỉ tai nhau là mấy khách sạn lớn nhất ở đây thường dùng rau và thịt chuyển từ nước ngoài về, chứ không dùng đồ mua từ các chợ quanh phố như dân bản địa.

Với tâm lý của kẻ sống trong thế giới trung cổ, nghe những chuyện đó, lập tức nhiều người thấy sao mà họ cầu kỳ và có phần rởm nữa. Sống ở đây mà tách ra như trên một hòn đảo, sao họ lạ vậy ?

Ai ngờ việc sử dụng cả lương thực ngoại nhập đó giờ đây lan ra trong nhiều tầng lớp dân thường người mình, nhất là sau các đợt phát hiện rau quả có phun hóa chất, còn các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm thì hoành hành, cứ chấm dứt được ít lâu lại bùng phát trở lại.

Ở đây tôi không dừng lại ở khía cạnh đạo lý của vấn đề mà chỉ vấn vương ở chỗ là hình như chính chúng ta đang không nuôi mình bằng các thứ thổ sản, không xài thứ hàng mà chính đồng bào trong nước chúng ta làm ra, mà sẵn sàng toàn dùng hàng hóa xuất phát từ các xứ khác do người khác làm.

Tại sao tình trạng này ngày một phát triển?

Nghĩ tận căn nguyên thấy có hai lý do. Thứ nhất hàng ngoại rẻ và tốt. Thứ hai là nhiều khi hàng ngoại đáp ứng được cái nhu cầu sát sườn của mình mà hàng nội không đáp ứng nổi.

Liên quan tới lý do thứ nhất, có một ví dụ tôi nghe từ mấy năm trước thấy rất có ý nghĩa. Là ngay ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh hay Cần Thơ, nhiều người dân đang thích dùng gạo chuyển từ Thái Lan sang. Trời! Giá vài chục năm trước, nghe ai nói thế chúng ta sẽ bảo là chuyện bịa. Làm gì lại ra nông nỗi như thế. Từ Thái Lan sang quá diệu vợi, còn công tàu bè chuyên chở, công bốc vác, sao mà rẻ được?! Mà làm gì có chuyện gạo họ ngon hơn, hợp với cái hương vị nồi cơm mà mỗi người chúng mình được thấm từ hồi còn bú mẹ! Hóa ra thời thế thay đổi, việc không ai tưởng là có, nay đều có cả.

Liên quan tới ưu thế của hàng ngoại trong việc đón đường và nắm bắt nhu cầu, sau đây là câu chuyện tôi nghe từ miệng mấy bà bán hàng lặt vặt ở phố chợ Hà Nội (tôi cố ý tránh chữ phố cổ mà thấy gọi là phố chợ có lẽ hợp hơn).

Từ lâu người Hà Nội có thói quen là nếu chiến thắng trong các cuộc đua tranh trong thể thao là đổ ra đường ăn mừng. Lúc đó người ta thích mua cờ và các băng khẩu hiệu để trương lên, giá đắt cũng mua.

Một số nhà sản xuất Việt Nam cũng biết điều đó, nhưng vốn mỏng không làm được bao nhiêu. Khôn ngoan và biết tổ chức công việc hơn là các nhà sản xuất từ bên kia biên giới. Họ nắm ngay lấy khoảng trống đó. Mỗi lần dân thủ đô có nhu cầu là hàng từ biên giới phía Bắc tràn về. Rút cục dân buôn mình chỉ thành trung gian bán lẻ cho đồng bào mình thứ hàng mà họ sản xuất.

Không chỉ trong chuyện băng cờ khẩu hiệu mà nhiều mặt hàng khác cũng có tình trạng tương tự. Theo tôi hiểu, đây là cả một xu hướng mà mỗi ngày chúng ta cảm thấy rõ rệt hơn. Mọi dòng nước ngược phản công lại cũng có nhưng không thấm thía gì cả.

 

 

 

Để cả vui buồn trong tay người

Trong Nỗi lòng ai tỏ của Nguyễn Công Hoan, nhân vật chính là một cô gái tân thời. Đang tự nhiên, cô suốt ngày thở ngắn than dài bỏ cơm, lên giường thút thít khóc, khiến cho cả nhà phải lo lắng. Cô bảo chỉ có một người bạn gái mới hiểu được cô và giải phiền cho cô. Đến khi người bạn kia tới thì cô nhỏm ngay dậy tâm sự.

Sở dĩ cô buồn - buồn - buồn mất mấy ngày, ấy là vì một nhân vật tiểu thuyết cô đang đọc chết, thương quá!

Tôi nghĩ đến những con người thời nay. Chắc hẳn hàng ngày không thiếu cảnh cậu ấm cô chiêu ở các nhà giàu đập chân đập ta hành hạ bố mẹ vì không tìm ra mấy loại xe mới cho họ trưng diện. Rồi cả những cán bộ bình thường Hà Nội ngủ trưa trên bàn cơ quan và chia nhau suất cơm hộp chục ngàn cũng để hết tâm trí cả vào những Chelsea với lại Real Madrid ở các phương trời xa. Rồi cả những thanh niên đặt môi hôn cả ghế ngồi của các tài tử Hàn Quốc. Tóm lại, cái sự đặt vui buồn hàng ngày trong tay kẻ khác như thế này đang trở thành cách sống thời đại.

 

Viết thêm

1. Trong dăm bảy năm gần đây, tình trạng phụ thuộc nước ngoài của xứ mình đã lên đến cái mức trở thành ám ảnh trong đầu óc mọi công dân yêu nước cũng như mỗi con người tự trọng. Thậm chí, mọi người không muốn nghĩ đến nó nữa.Vì càng nghĩ càng đau. Chúng ta đã chìm rất sâu vào cái hố móng khủng khiếp này, và đứng ở đáy sâu của nó ngước nhìn lên trên, chỉ thấy lại một mảng trời đen tối.

2. Như trong bài trên tôi đã nói, sự phụ thuộc nước ngoài hiện nay là ở hai cấp độ. Cấp thứ nhất là trên phương diện quốc gia, nền kinh tế của đất nước. Cấp thứ hai là trên phương diện cách sống và tâm lý con người. Kinh tế quyết định tâm lý tinh thần. Những hụt hẫng tan nát về kinh tế là nguồn gốc dẫn tới sự bi quan cùng cực, cũng tức là mất niềm tin trên phạm vi rộng. Rồi tình thế người trong nước khảng tảng, ai cũng tìm cách thoát khỏi cuộc sống vốn có, càng khiến cho sự phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài trở nên một lối thoát duy nhất để duy trì sự ổn định. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ chết vì chúng ta vẫn còn cần cho người khác. Chúng ta chỉ luôn luôn trong cảnh ngắc ngoải. Và sự thật, cái gọi là phụ thuộc hôm nay còn tệ hại hơn nhiều, so với sự phụ thuộc mà trong lịch sử, ông cha chúng ta vẫn chịu đựng.

3. Nguyên nhân của sự phụ thuộc kinh tế trong hòa bình là sự phụ thuộc đến mức quyết định đối với nước ngoài khởi đầu từ cuộc chiến tranh ba mươi năm. Đây là điều cần sự xác minh của các tài liệu lưu trữ mà nay đang bị giấu kín. Nhưng, như các cụ ngày xưa hay nói, cái kim giấu trong bọc mãi cũng lòi ra. Vào thời buổi của sự bùng nổ thông tin, nếu chịu khó làm việc, ta vẫn ngày một đi gần hơn tới sự thực. Một số tài liệu mới hé ra đây đó cũng đã giúp ta định hướng cho sự suy nghĩ của mình. Và trách nhiệm của giới trí thức là phải lượng định cho hết những di lụy của quá khứ đối với hiện tại và cả tương lai dân tộc vài chục năm tới.

4. Trong các bài sử thuộc phần lịch sử hiện đại học ở phổ thông, tôi nhớ là đã được giảng về hai dạng khác nhau của chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa thực dân cũ tức là việc một nước mang quân đến chiếm nước khác, rồi đưa người của mình sang tổ chức bộ máy cai trị. Còn chủ nghĩa thực dân mới thì khôn ngoan hơn và đơn giản hơn. Không cần mang quân chiếm đóng. Thời buổi hiện nay làm thế mang tiếng chết. Mà người ta chỉ cần lèo lái thế nào để nước thứ hai kia biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho mình. Như thế mặc dù vẫn còn cái tiếng độc lập, nhưng cái nước thứ hai kia, có khác gì đất thuộc địa?

Theo tiêu chuẩn trên mà tính, rồi bạn cũng như tôi sẽ có thể rút ra kết luận cần thiết về thực chất mối quan hệ giữa nước ta với một số nước chung quanh đang vồ vập săn đón ta và dường như lúc nào cũng đứng bên ta.

5. Hồi còn chiến tranh, không phải là nhiều người dân không thèm muốn được sống được ăn mặc được hưởng thụ như người nước ngoài. Nhưng cuộc sống thời chiến không cho phép ta làm vậy. Nhất là trong mỗi người còn cả niềm tin, tin rằng một mai đây khi đất nước hòa bình, với trí thông minh và sức phấn đấu của cả cộng đồng, nước ta dân ta sẽ không thua kém các dân tộc khác các quốc gia khác. Nhưng khi đã tỉnh lại sau chiến tranh, trong tình hình của sự giao lưu quốc tế rộng mở, trải qua những mò mẫm tìm đường, ta mới ngày càng hiểu ra cái tầm vóc của những mất mát đã qua. Nó quá lớn, nó đã khiến chúng ta cạn kiệt cả niềm tin và sức lực. Sự bế tắc trong gần bốn mươi năm hậu chiến khẳng định thêm điều đó. Ta ngầm hiểu rằng nay có cố gắng đến đâu cũng không bao giờ đưa xứ ta trở lại là một xã hội bình thường, và trong so sánh, là xan bằng được khoảng cách ta với các nước chung quanh. Sống trong phụ thuộc nay không còn dừng lại ở thói quen học đòi non dại của lớp trẻ, mà đã biến thành vấn đề nhận thức quan niệm cùng là niềm tin có tính định mệnh của những người từng trải ở cả bên thắng cuộc lẫn bên thua cuộc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những cung bậc của cái hèn

Ngày đăng 7/11/2014

 

Không cần tìm đâu xa, trong các truyên cười dân gian, người ta đã bắt gặp vô số chân dung người Việt hèn. Anh chàng sợ vợ định nói phét thì gặp vợ về. Thầy đồ ăn vụng, thầy đồ liếm mật. Sư mô cũng gian dâm ăn cắp.

Có đến mấy truyện cổ tích trong đó có vai phú ông tham vàng bỏ ngãi, định gả con gái cho người này rồi thấy người khác giàu hơn lại hèn hạ bội ước. Cho đến cả chàng Thúc Sinh trong Truyện Kiều, trước cảnh Kiều bị vợ cả là Hoạn Thư hành hạ, cũng chỉ đành đóng vai giả câm giả điếc không dám đứng ra bênh vực con người mà mình từng thề non hẹn biển.

Dân nghèo nên hèn đâu cũng gặp, kẻ giàu hèn rất nhiều, cho đến cả mấy triều vua cũng kế nhau mà hèn một cách thê thảm.

Đó là vào giai đoạn từ đầu thế kỷ XVII trở đi khi Đàng ngoài rơi vào tình cảnh “vua Lê chúa Trịnh”. Vua bị tước quyền, chỉ ngồi đó là bù nhìn, mọi công việc do phủ chúa quyết định. Đến khi có người hỏi sao lại làm thế thì trả lời đại ý là như vậy việc nặng nhọc dồn cả sang vai chúa, mình được chân nhàn nhã, cũng chẳng là may hay sao (!)

Cũng là một thứ lý sự của kẻ hèn.

Ở phương Đông cũng như phương Tây, thật ra người xưa đã khôn ngoan bảo nhau “ tránh voi chẳng xấu mặt nào”, biết sợ kẻ đáng sợ không phải là xấu.

Điều đáng nói ở đây là cái cách chịu thua và biết sợ của người xứ mình. Trong sự hèn ở đây, có thái quá biến thành khiếp nhược; lại có niềm tin rằng không bao giờ bằng người. Trước một việc lẽ ra phải lấy cái chết để tự khẳng định thì người ta vứt bỏ đạo nghĩa, hy sinh danh dự miễn sao bảo toàn tính mệnh; từ đây sinh ra cả một cách sống lẩn khuất chui nhủi.

Theo Nguyễn Tất Thịnh (Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt – 2006),và một số bạn khác, dân mình có một nhu cầu giấu giếm rất lạ. Đánh nhau kiểu hội đồng sau lưng mà không đối mặt đấu trường. Trên diễn đàn thì ngậm miệng nhưng bàn nát chuyện ngoài quán. Bao nhiêu tinh lực dành cho sự lẩn lách để tồn tại, bởi vậy ưa những hình thức phi chính thống. Nói năng cởi mở nhưng phong cách khép kín. Khi nói chuyện không dám nhìn thẳng. Hay nói nước đôi lập lờ. Giữa đám đông hay thì thào liếc ngang liếc dọc. Nói chung là tâm lý không ổn định, hay thay đổi thất thường.

Tất cả những thói quen tương tự không chỉ cho thấy nhiều người chúng ta là những kẻ yếu mà lại tố cáo một điều quan trọng khác sự hèn yếu ở đây tước đi ở con người lòng tự trọng, ý chí ngoan cường vượt lên trên tình thế bi đát trước mắt.

Trong nhiều truyện ngắn Tô Hoài viết trước 1945, người ta bắt gặp những đôi trai gái yêu nhau, đã thề không lấy được nhau thì chỉ có chết. Kết cục vài tháng sau trai đi lấy vợ gái đi lấy chồng bình thản như không, chả ai chịu chết cho thiệt thân .

Nguyễn Công Hoan vốn nổi tiếng với những những truyện ngắn gây cười. Song đến Tôi cũng không hiểu tại làm sao I và II, (1937) giọng ông trầm tĩnh hẳn đi. Truyện thứ nhất kể về một công chức ăn sáng trong giờ làm việc, bị sếp người Pháp bắt quả tang. Anh này lúc đầu cãi cứng, đến khi bị sếp bảo há mồm ra cho xem thì cũng há, để phô ra cả cái vẻ lố bịch khá thương tâm.

Trong truyện thứ hai một công chức khác (đồng sự của anh trên) đi làm muộn, đặt một con tính cũng sai, chữa mãi không được, xoay ra cáo ốm và xin nghỉ không lương. Chủ thấy thế dọa cho anh thôi việc luôn. Rốt cuộc cái anh công chức hay bướng đó đành xin lỗi chủ, để rồi ra ngoài tâm sự với bạn, không hiểu tại làm sao mình lại có những phút đê tiện như thế.

Các nhân vật trong truyện dân gian hèn một cách bẩm sinh. Đến các công chức ở đây, cái hèn của họ vẫn tự nhiên, song bước đầu con người đã nhận thức đươc tình thế, ít ra đã tự mình đặt câu hỏi tại sao mình lại hèn vậy. Đây là sự vận động trong tâm lý mà chỉ con người hiện đại mới có, nó là cơ sở để người ta trưởng thành dần dần.

Song ở con người hiện đại, cái hèn còn có một hướng phát triển khác. Nên biết là trong các từ điển tiếng Việt được soạn nghiêm túc, chẳng hạn Từ điển Hoàng Phê, hèn không chỉ có nghĩa là nhát yếu thấp kém mà còn có nghĩa là cách làm kém bản lĩnh, đến mức đáng khinh, ví dụ cái hèn của một kẻ đánh trộm, cái hèn của một kẻ dùng những mưu kế ít người ngờ nhất để đánh bại kẻ mạnh hơn mình. Hèn ở đây là từ phản nghĩa của dũng cảm đàng hoàng khí phách. Trong tâm lý học, người ta lại còn nói đến những quá trình tâm lý kỳ lạ khi hai mặt đối lập của cùng một quá trình tâm lý tự nhiên hoán vị cho nhau, ví dụ kẻ tự ti nhút nhát bỗng có lúc tự tin quá đáng, kẻ hèn nhát đến bước đường cùng vụt trở nên liều lĩnh làm được những việc mà bình thường chỉ người dũng cảm mới làm nổi. Đây là những khía cạnh tâm lý cũng đã thấy ở người Việt hiện đại, có điều còn ít được miêu tả và nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cái hay không theo, theo cái dở

Ngày đăng 8/11/ 2014

 

Nhân 65 năm ngành giáo dục, Tuổi Trẻ có bài viết kể là tháng 9/1945, khi lên báo cáo công việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Giáo dục lúc đó là Vũ Đình Hòe đã có nhiều ý kiến, trong đó có cái ý sau đây:

Tôi nêu vấn đề cải cách giáo dục, đề nghị thay thế hẳn nền giáo dục vị học thuật (kiểu Pháp - đào tạo những bậc tài hoa) bằng nền giáo dục vị nhân sinh (kiểu Anh - Mỹ), đào tạo những nhà hành động, sớm phân chuyên ngành, phân từ rộng đến hẹp, sớm dạy nghề sát với yêu cầu xây dựng kinh tế và chú trọng dạy đạo làm người.

Đọc mà thấy lạ quá. Ở miền Nam sau 1954, người ta mới làm được cái việc là thay đổi mô hình này, tức là từ đại học kiểu Pháp chuyển sang đại học kiểu Mỹ, từ đó đưa nền đại học trong nước nhập vào trào lưu hiện đại.

Không ngờ là năm 1945, nhiều trí thức nước mình đã biết điều đó. Thế rồi kháng chiến. Thế rồi chúng ta có nền giáo dục đại học tạm bợ ở Việt Bắc. Sau 1954, nhân rộng ra cả miền Bắc. Sau 1975, thành mô hình của cả nước. Chẳng những không so được với Anh Mỹ mà so với Pháp xưa cũng thua xa. Như một đứa trẻ tiên thiên bất túc, có lớn mà chả bao giờ thành người. Như một đoàn tàu đã trật bánh rồi, không đổ, nhưng không bao giờ trở lại được con đường đáng lẽ phải đi.

 

 

 

 

 

 

Chung quanh sự học

Ngày đăng 24/11/2014

 

Trong cuốn Nhân thế tu tri của Cao Xuân Dục (bản của NXB Văn Học 2001) tôi đọc được một câu quá hay bàn về sự học:

“Kẻ đi học quý là ham học, quý hơn nữa là biết học”

Câu này vốn trích từ một cuốn sách Trung Quốc mang tên Súc đức lục – tạm hiểu là Ghi chép về cách chứa đức - tác giả Cao Xuân Dục chép lại. Nhưng riêng cái việc không chỉ nói tới sự ham học mà bắt đầu quan tâm tới cách thức học và lưu ý tới hiệu quả chất lượng của việc học thì cũng đã cho thấy tác giả thật đã xứng đáng một vị đại thần đứng đầu ngành sử và giáo dục triều Nguyễn, một nhà văn hóa lớn thời cận đại.

Thời chúng ta hiện vẫn chưa thoát khỏi tình trạng bảo nhau cắm đầu học mà không biết đặt vấn đề tại sao cứ học ít lâu rồi bỏ, không thể học nổi lâu dài. Hiện tượng ham học hôm nay phổ biến vẫn là lửa rơm, chóng nổi rồi cũng chóng tàn. Cứ lo học cách này thì dân tộc không thể có những trí thức lớn mà mọi xã hội muốn phát triển vẫn đòi hỏi.

Một đoạn trong chương Dương hoá sách Luận ngữ (XVII.8), ghi lời Khổng Tử

Có nhân mà không học thành ngu

Có trí mà không học thành kiêu ngạo

Có tín mà không học thành tổn hại mình

Có trực (ngay thẳng) mà không học thành ngang ngạnh mất lòng người

Có dũng mà không học thành làm bậy

Có cương cường mà không học thành cuồng bạo

 

Tiếp tục câu chuyện sự có mặt của những ngày xưa

Ngày đăng 24/11/2014

 

Cái quan trọng thì mất. Cái đáng còn thì không còn. Cái đáng thay đổi thì giữ nguyên.

Tôi thực không ngờ người viết câu Hôm nay 8/3 – Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi cũng là nhà thơ. Thế thì trên đất nước này có ai không phải nhà thơ!

Nhìn việc cầu cúng của những người đi lễ hội nhiều năm nay, người ta hiểu thêm tư duy của người mình, ví dụ dân buôn thì cầu buôn may bán đắt, còn quan chức thì đổ đi nhận những đặc sản của lễ khai ấn để còn toan tính thăng quan tiến chức.

Một mặt quan cũng từ dân mà ra chứ đâu có phải trên trời rơi xuống.

Mặt khác, phải nhận nhập được vào ngạch quan, tức đã thành một thứ cá vượt vũ môn. Ở phương diện nào cũng được, nhưng nhất thiết họ phải là những tinh hoa của dân chúng.

Tôi hiểu thêm điều đó, cái sự hơn người của quan chức, qua chuyện ông H. đi cầu cúng.

Ông này thường mầy mò đi lễ riêng chứ không đợi đến các lễ hội chen chúc. Nghe kể là có một năm, ông bắt vợ ông gánh đồ lễ (vàng mã) lên cả núi Tản và yêu cầu vợ chỉ khấn cho mình ngồi ghế vững vàng, tóm lại là chỉ cầu chữ lộc thôi chứ không cầu thêm gì cả.

Ông giải thích thêm. Có lộc là sẽ có tất cả, có phúc cho cả mình và dòng họ, mà cũng có luôn chữ thọ, tức có sức khỏe.

Đúng đến thế thì ai còn cãi nổi!

 

 

Chủ nghĩa khoái lạc ở dạng tầm thường nhất của nó

Ngày đăng 26/11/2014

 

Nhân có phóng viên hỏi xem nên nghĩ sao về tình trạng thi hoa hậu hiện thời, tôi muốn trở lại với những ý tưởng của một nhà văn hóa Nga là Sergei Averintsev về một hướng phát triển của đời sống tinh thần nước Nga sau 1991:

Những sai lầm của quá khứ, kết quả của những nhà tư tưởng đáng giá hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã bị truất ngôi cùng với những hệ tư tưởng cực quyền. Việc truy tìm gốc rễ của cái xấu ở thời xa xưa trong lịch sử tư tưởng đang được theo đuổi ráo riết.

Tuy nhiên vẫn còn những lý do để lo âu. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhận ra những dấu hiệu của một chủ nghĩa khoái lạc rất phàm tục.

Ở một nước còn rất thiếu hàng hóa như nước Nga, cái chủ nghĩa khoái lạc này càng trở nên dữ dội vì người ta đã bị bỏ khát quá dài và giờ đây đuổi theo khoái lạc bao nhiêu cũng luôn luôn cảm thấy chưa thỏa.

Thứ đến là là sự biến mất tăm của nền văn hóa với đặc trưng là ý thức liêm sỉ hoặc thói quen biết xấu hổ.

Và cuối cùng là sự xuất hiện một chủ nghĩa phi lý hẩu lốn trộn nháo nhào các giá trị tư bản chủ nghĩa và mác xít.

Rồi một thứ nữa không phải là dung hợp càng không phải tổng hòa mà chẳng qua là một sự nhập cục cơ học cả Ford, Freud, lẫn Marx trong cùng một cấp độ trong một thế giới không thượng đế.

Dục năng (libido) đang xâm chiếm đời sống, không phải chỉ là một thứ dục năng nhục thể mà - lạ thay - cứ như là máy móc đang trở nên đầy thèm khát hoặc bản chất con người đang biến dạng để trở nên máy móc vậy.

Ngày nay ở nước Nga thật khó nói đến một ý thức biết xấu hổ.

Kể cũng cần thiết là việc người ta sổ toẹt cả một loạt quy phạm phẩm hạnh giả dối mà trước đây người ta áp đặt cho họ. Nhưng rồi người ta đi tới đâu ?

Cũng có thể nói là người ta trở lại với một tình trạng trống trơ của trẻ con, nhưng đó chỉ là bề ngoài, những đứa trẻ con này đã bị làm hỏng để trở nên thối rữa tự bên trong.

Đã đành những quy phạm ứng xử thời Xô viết chỉ là biếm họa của một thứ văn hóa liêm sỉ đích thực. Nhưng từ bỏ nó, không phải là người ta tới được sự cao thượng về tâm hồn. Thay thế vào đó, chỉ là những lệch lạc mới, chẳng hạn thói đạo đức giả và nhất là xu thế chạy theo khoái lạc tầm thường mà người ta tưởng là biểu trưng của tự do.

Trong trường hợp này phải nói bản chất tự nhiên của con người cũng bị đe dọa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dấu hiệu hoang dã

Ngày đăng 27/11/2014

 

Tin trên Lao Động: Công viên Tuổi trẻ thủ đô sau hơn 10 năm vẫn“hoang dã”

Cái hoang dã ấy đối với tôi, không lạ; tôi thường bắt gặp nó ngay ở những mặt người trên đường. Nay là lúc nhiều người quanh ta trông mặt chịu không đoán ra là làm nghề nghiệp gì. Mặc dù ăn mặc hiện đại, nhưng lại có cái linh động hung hãn chứ không thuần hậu từ tốn, như các lớp người cũ.

Một liên tưởng. Nếu nhìn vào thảm thực vật một số địa phương, người ta nhận ra một hiện tượng của sự làm ăn “phú quý giật lùi”. Các giống cây được thuần hóa hỏng rất nhanh. Yếu tố hoang dại trong cây phát triển mạnh.

Hình như ở người cũng vậy.

Trên Sài Gòn Tiếp Thị một số tháng 8/2011 Ea Sola Thủy trả lời Sài Gòn Tiếp Thị về công việc một đạo diễn múa, nhân thể nói về con người hiện nay: Lạ một điều, thời bao cấp, đi đến đâu cũng gặp rất nhiều người tốt, lúc nào cũng vui vì gặp nhiều người tốt lắm. Còn bây giờ, gặp người tốt mà không biết có tốt thật hay không! Bây giờ con người không còn cần con người lắm. Bây giờ đi đâu cũng được hết, nhưng không thấy ai. Đông người lắm nhưng không biết ai tốt, ai không tốt... Vắng người lắm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Một thứ tự do hoang dại

Ngày đăng 28/11/2014

 

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng.

Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.

Còn như các khu phố mới được xây dựng ở Hà Nội những năm bung ra hoàn toàn ngược lại.

Được biết là trong xây dựng đã có rất nhiều quy định chung chung, nhưng những quy định quan trọng nhất liên quan đến việc đóng góp của ngôi nhà vào vẻ đẹp của thành phố lại không có, bởi không ai có ý niệm gì về vấn đề này.

Không thiếu nhà đẹp, từng cái rất đẹp, nhưng toàn bộ lại xấu.

Ở Hà Nội hiện nay có những căn nhà chiều ngang mỏng dính, rồi những căn nhà học đòi kiểu cách nước ngoài trông thật kỳ cục, đến mức một nhà báo đã phải trương lên cái tiêu đề cho một bài báo: Eo ôi Hà Nội phố! (nhại tên bài hát Em ơi Hà Nội phố! của Phú Quang).

Hỏi các chủ nhà thì cái câu trả lời thường nhận được là: “Nhưng mà tôi thích vậy”. Quá lên một chút nữa, người ta lại giở giọng “Tùy tôi muốn sống thế nào thì sống, không ai được dí mũi vào việc riêng của tôi cả”.

Vừa phóng xe vừa hút thuốc. Vào rạp chiếu phim vẫn nói điện thoại di động oang oang. Phô bày những cái xấu xa ngay giữa nơi công cộng. Xả rác ngay dưới chân cái bàn ngồi ăn. Đánh vợ chửi con ầm ĩ hàng xóm láng giềng. Ấy là chưa kể làm hàng giả làm hàng kém phẩm chất, quảng cáo bịp bợm, ăn cắp, ăn cướp, ăn xin ...Ấy là chưa kể - với những người có quyền lực - việc cho ra những quyết định trái luật pháp rành rành vẫn diễn ra hàng ngày. Khi làm những việc đó trong thâm tâm con người thường âm thầm tự hào vì một thứ tự do hoang dại thấm đẫm trong mạch máu mình. Nói cách khác, những viêc đó đều xuất phát từ quan niệm về một thứ tự do hoang dại mà chúng ta thừa hưởng từ lịch sử và chưa bao giờ đặt vấn đề về nó một cách nghiêm túc.

Cái khác của người thời nay so với thời xưa là làm những trò ngang ngược một cách cố ý. Chẳng hạn, người ta viện dẫn cái gì chưa có luật cấm thì cứ làm. Đến lúc có luật cấm - như chuyện hút thuốc thời nay - thì lại bảo quen nết rồi bỏ sao nổi.

Nay cũng là thời trong đầu óc những người tôn sùng tự do hoang dại luôn có sẵn một mớ lý sự để sẵn sàng bảo vệ cho cách sống của mình.

Họ sục vào một hai cuốn triết học xã hội học nửa mùa nào đó, nhặt ra vài câu có lợi cho cách hiểu về cái gọi là tự do của mình để biện hộ.

Nghe vừa thấy có lý, vừa như một sự ngụy biện thế nào đó!

Để cãi lại, tôi cũng đành trở lại với sách vở .

Sơ bộ tôi thấy ngay ở những cuốn phổ thông nhất, người ta cũng đã ghi cái ý tự do là không bị ràng buộc gì hết, tự do là để con người làm theo ý muốn.

Chỉ có điều nếu đọc kỹ hơn thì thấy khi bàn về tự do, các nhà xã hội học đã lưu ý ngay là không được đẩy nó lên cực đoan.

Thứ nhất, do con người sống trong xã hội nên cái đi kèm với tự do là sự kiểm soát xã hội. Tự do của người này không thể cản trở tự do của người khác. Nói “điều kiện đầu tiên để có tự do là tự do phải bị hạn chế” là với nghĩa đó.

Thứ hai, tự do ở đây phải có tính nhân văn, với nghĩa con người chỉ có quyền tự do để sống cận nhân tình hơn, tốt đẹp hơn chứ không phải để hư hỏng, xấu xa đi.

Theo một nhà triết học Trung Quốc cận đại là Lương Khải Siêu (1873-1929), thứ tự do bừa bãi kia nên gọi là tự do hoang dại, và đó là dấu hiệu của một xã hội phát triển thấp.

Thời Trung Hoa còn thuộc nhà Thanh ông và các đồng sự như Nghiêm Phục đã băn khoăn mãi khi tìm một chữ gì trong tiếng Hán để tương ứng với chữ liberty trong tiếng Anh.

Tính toán hồi lâu các ông đành dùng chữ tự do.

Theo nghĩa đen, tự do nghĩa là từ mình mà ra đồng thời là trở về với mình.

Nhưng mà con người ta phải là cái gì trí tuệ, hiểu biết, tự làm chủ được mình, thì mới có quyền trở về mình chứ? Để cho thứ tự do hoang dại kia lôi cuốn là làm rối loạn xã hội! Chính vì hiểu thế, Lương thấy cần tiếp tục cái ý tưởng mà các nhà tư tưởng hàng đầu của Nho giáo đã khởi xướng, theo đó các nhà quản lý xã hội không chỉ thân dân, gần gũi dân mà còn phải tân dân, làm cho dân ngày một tốt hơn. Chính là sách Đại học  một trong những cuốn sách cái của đạo Nho - đã mở đầu bằng câu “Đại học chi đạo tại minh minh đức tại tân dân”.

Xem vậy đủ thấy không những là câu đầu miệng của người bình thường, tự do còn thu hút không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà triết học.

Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, Bàn về tự do của John Stuard Mill in năm 1859 là cuốn sách kinh điển viết về khái niệm này, ở đó tác giả bàn kỹ về ý nghĩa xã hội của tự do như tự do tư tưởng, tự do về đời sống tinh thần. Những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề phải có quyền tồn tại ngang nhau, không ai được lấy cớ gì để ngăn cấm.

Những khía cạnh mà ông học giả người Anh bàn từ thế kỷ trước cũng đang thành chuyện thời sự ở ta.

Cái khó là ở chỗ trong khi thứ tự do theo nghĩa thiêng liêng đang là chuyện mỗi người hiểu một cách và phải gỡ dần dần, thì ý niệm tự do theo nghĩa phàm tục lại chiếm lĩnh tâm trí nhiều người.

Tầm thường dung tục trong quan niệm và học đòi những cái nhố nhăng trong hành động - những hành xử kiểu đó kéo người ta thấp xuống. Nó chỉ làm cho một xã hội trở nên nhộn nhạo và hàm chứa đầy tai vạ, chứ không thể góp phần thiết lập trật tự là điều kiện chủ yếu để một cộng đồng tiến bộ.

Tự do hoang dại không thể được coi là dấu hiệu của một nhân tính tốt đẹp nào hết.

Nó đóng vai trò một thứ van xì hơi, giúp người ta xả bớt những bức xúc trong lòng nhưng lại làm lãng quên cái quyền tự do cơ bản là tự do nâng cao chất nhân văn trong mỗi con người để mở đường đi tới xã hội văn minh.

In lần đầu trên TBKTSG 30/9/2010.

Bản trên mạng này có kèm theo một số sửa chữa và bổ sung.

 

Viết thêm 19/4/2013

1/ Lòng khao khát tự do hoang dại của người Việt ngày trước biểu hiện thấp thoáng trong những “tuyên bố” bất cần đời, chẳng coi việc đời là gì: Thứ nhất quận công thứ nhì ỉa đồng.

Còn ngày nay đại khái ở mấy việc kiểu như đòi hỏi hãy cho nhập ô-tô, xe máy thật thoải mái bất chấp việc tỉ lệ đường xá trên một đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới. Hoặc những lời la hét, nhân danh tự do cư trú, đòi không được hạn chế người nông thôn lên nhập cư ở đô thị.

2/ Trong cuốn hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê sớm ghi lại cái tình trạng sau 4/-1975, dân chúng quanh khu ông ở bắt đầu ra chiếm vỉa hè buôn bán loạn xị và vứt cả rác ra đường.

Trước đó, tôi cũng thường được nghe Tô Hoài nói tương tự.

Nhiều lần đi trên các đường phố Hà Nội cống rãnh bẩn thỉu ngập ngụa trước nhà, ông bảo với tôi rằng ngày xưa mà để thế này thì đội sếp Tây nó phạt chết.

Nghĩa là chính ở xã hội ta hôm nay, thứ tự do này mới có dịp nẩy nở...hết cỡ.

3/ Đây cũng là tình trạng người ta thấy ở nước Nga sau 1917.

Bác sĩ Zhivago trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak (1890 -1960)có lần nói với bạn gái:

“Cô thử nghĩ xem, cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xảy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc: Tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ, vì ngộ nhận”.

Tôi ngờ rằng nếu nhìn mãi về thời sau nữa, ở đây tác giả sẽ viết thêm “… tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau, hành hạ nhau”.

Hóa ra ở đâu cũng thế!

Từ đây lại mang máng cảm thấy rằng không chừng những nước càng không có thứ tự do cao cả, tự do có ý nghĩa nhân văn, thì tự do hoang dại càng phát triển.

Chuyên chế thường tự che đậy bằng mị dân.

Mà cách mị dân ít tốn kém nhất là thả cho dân dông dài, hoặc nói như một thuật ngữ kinh tế hay dùng gần đây, là kích hoạt vào thói tự do hoang dại của người dân. Người dân càng hư hỏng thì người ta càng tìm thêm một chút có lý cần thiết cho mọi hành động chuyên chế của mình. Rồi cái đích cuối cùng là làm thịt dân cũng vì thế mà trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

4/Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào?

Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc.

Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình với giá cao cho những người giàu có.

Và thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe đầy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây, họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.

 

 

 

 

Sống chậm lại

Ngày đăng 29/11/ 2014

 

Trên VNN có một bài nói rằng ở Tp.HCM hiện nay có một số sinh viên thường lên chùa để tìm thấy nơi yên tĩnh về tâm hồn. Họ nói rằng tới đó để giải thoát cho mình khỏi những khó chịu bực bội hàng ngày. Sau khi ngày đêm sống trong cảnh thiền thanh vắng và trò chuyện với các nhà sư có hiểu biết, trở về với đời sống bình thường, họ yêu thương mọi người hơn và ham sống hơn.

Đọc thấy thú quá. Lâu nay tôi vẫn nghĩ trước khi “bước những bước đầu trong cảnh trần gian” - thơ của Thế Lữ hồi Thơ mới- các bạn trẻ cần có thời gian lùi lại tự mình đối diện với mình suy nghĩ chiêm nghiệm về cuộc đời nói chung. Nghe nói ở bên Lào, bên Thái Lan có phong tục thanh niên trước khi bước vào đời buộc phải lên chùa sống vài năm. Không biết bây giờ còn phong tục đó không?

Cứ ngỡ ở Việt Nam bây giờ chả ai tính tới chuyện đó. Hóa ra tự nó đời sống đã tìm được những thể nghiệm cần thiết.

- Xã hội trước kia trì trệ chậm chạp thì người ta mới có thời gian bình tâm đứng tách ra mà nghĩ về đời như vậy. Chứ thời đại tên lửa hiện nay bắt chúng tôi hy sinh vài năm để chết chúng tôi à?Chắc hẳn sẽ có người phản đối.

Trong phạm vi những chuyện bàn phiếm với nhau, tôi tạm có một ý để cãi lại:

- Chính vì cuộc sống lôi ta đi nhanh quá mà ta lại càng cần có thời gian tách ra để nghĩ về nó. Mọi dự tính vượt lên trên sự thông thường phải đến với người ta từ trẻ. Còn như lúc nào trở lại với đám đông chả kịp.

 

 

 

 

 

Mấy điều vân vi khi nhớ lại một lời ai điếu vay mượn

Ngày đăng 30/11/ 2014

 

Hồi tướng Giáp qua đời, giáo sư Vũ Khiêu có mấy câu khóc thảm thiết bằng văn chương, khiến nhiều người cảm động, trong đó có đoạn:

“Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp? Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao anh có thấu hiểu lòng tôi?”

Không hiểu sao lúc ấy tôi đọc đã ngờ ngợ, hình như cách nói này mình đã được nghe ở đâu đó.

Cho tới mấy hôm đi lục sách báo cũ ở Sài Gòn, thấy có cuốn Thành ngữ điển tích của Diên Hương, NXB Tổng Hợp Đồng Tháp 1992, trong đó ở mục Tri kỷ có ghi lại mối tình bạn giữa hai nhân vật thời Đông Chu bên Tầu là Bão Thúc Nha và Quản Trọng.

Bão Thúc Nha là người từ nhỏ đã buôn chung với Quản Trọng sau lại là người giúp Quản Trọng rất nhiều trên đường công danh.

Tổng kết lại, Quản Trọng bảo “Cho nên ta biết rằng sinh ra ta là cha mẹ ta, còn biết ta là Bão Tử mà thôi”.

Lúc lên mạng, ở mục Quản Trọng và Bão Thúc Nha, thấy các bài đều có ghi lại mẩu chuyện trên và cái câu nói có cánh dẫn trên. Đây là một địa chỉ:

http://vietnamese.cri.cn/chinaa…/chapter17/chapter170406.htm.

 

Nhìn sự việc dưới góc độ lịch sử văn hóa

Xin phép được bình luận thêm

1/ Đầu tiên tôi chỉ nghĩ cụ giáo sư khinh bọn hậu sinh quá. Sau nghĩ thế là cụ khinh thường cả cái dư luận ở xứ mình, nên cũng không lấy gì làm buồn nữa.

Rồi nghĩ tiếp “Tài liệu trên mạng còn ghi Vũ Khiêu sinh 1916. Ở tuổi ấy, người ta đã già, dễ quên, dễ lẫn”. Có thể nêu một giả thiết như thế về lời ai điếu ở trên chăng?

Cũng đã tuổi ngoại bảy mươi, tôi muốn chúng ta cùng có một cái nhìn thông cảm như vậy.

Còn như, nếu xét về lý, trong trường hợp này, phải quy trách nhiệm của cả giới làm văn làm báo nước ta. Lẽ nào trong việc công bố một ý tưởng như trên vừa dẫn các nhà biên tập ở đài ở báo đều vô can?

Rộng hơn trường hợp Vũ Khiêu, cần phải nghĩ chung về các bậc thầy văn hóa Việt Nam hôm nay. Cả họ nữa, họ cũng phải chịu trách nhiệm về những dốt nát và vay mượn của các thế hệ tiếp theo.

Từ xưa đã thế, nhiều người Trung Quốc, ở cả đại lục lẫn hải ngoại, rất giỏi tiếng Việt và thường xuyên theo dõi sinh hoạt tinh thần ở Việt Nam. Anh Tạ Ngọc Liễn ở Viện Sử có lần nói với tôi là riêng ở Đại học Trịnh Châu tỉnh Hà Nam (một tỉnh có các thành phố kinh đô cổ Lạc Dương và Khai Phong), đã có khoảng 500 nhà nghiên cứu Trung Quốc chuyên về Việt Nam học.

Đọc những lời ai điếu loại như của Vũ Khiêu, họ sẽ nghĩ về giới trí thức Việt Nam, và cả văn hóa Việt Nam xưa và nay ra sao? Liệu chúng ta có đủ sức bác bỏ những kết luận của họ không?

2/ Cũng theo hướng suy diễn rộng ra một chút, tôi nhớ tới hai trường hợp.

Một là câu thơ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa của Cao Bá Quát.

Và hai là bài ca dao:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy/

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Khi có người tố lên rằng thật ra đó là những câu thơ Trung Hoa cổ được vay mượn nguyên văn hoặc được dịch lại, thì nhiều người lý sự thế này:

- Cỡ như Cao Bá Quát không thể có chuyện vay mượn được.

- Nông thôn Việt Nam là thành lũy của tinh thần phi Hán hóa ở người Việt, không thể có chuyện ca dao về làm ruộng lại dịch từ Trung Quốc được.

May quá có thêm trường hợp Vũ Khiêu. Đến trong thời đại kỹ thuật tra cứu phát triển như hiện nay mà còn có chuyện nhầm lẫn, thì nhìn vào người xưa, có thấy điều tương tự, cũng không phải lạ.

Anh Dương Trung Quốc có lần bảo tôi, thời phong kiến, có hai thứ hàng các vị quan chức (= các trí thức lớn của đất nước) đi sứ được mang về là sách và thuốc.

Nhưng nhớ có lần đọc Đại Việt sử ký toàn thư, thấy có chuyện có mấy cuốn sách sứ Tầu mang biếu, vua cho các quan mượn xem, có nhiều ông giữ lại luôn làm của riêng. Chắc về làm tài liệu để chọe nhau.

(Lúc này tôi không tra cứu kịp để ghi lại số trang Đại Việt sử ký toàn thư có chép chi tiết trên, xin hẹn dịp khác).

Trong văn học hiện đại, nhà văn Nguyễn Đình Thi của chúng tôi nổi tiếng là người thông thạo văn hóa thế giới, mỗi lần nghĩ tới ông tôi cứ thấy xấu hổ cho các thế hệ về sau.

Nhưng trong một lần hơi say say, nhà văn Kim Lân nói với tôi về ông Thi:

- Ừ thì người anh em ăn nói viết lách Tây cũng phải chịu thật. Nhưng tôi ngờ là có khối thứ bố ấy đọc, bố ấy khoắng luôn, rồi đưa vào thơ vào truyện. Bố ai biết được ma ăn cỗ.

Tôi không rõ đầu đuôi thế nào, chỉ nhân câu chuyện về Vũ Khiêu nên chép lại ở đây.

 

 

 

Tại ta hay tại người?

Ngày đăng 2/12/2014

 

Nhìn rộng hơn về mối quan hệ với nước ngoài. Một khách du lịch khác kể một giáo viên tiếng Anh tại Nha Trang cho anh ta biết người Việt được giảng dạy rằng tất cả các vấn đề mà người Việt gặp phải đều được đổ lỗi cho phương Tây, đặc biệt là người Pháp và người Mỹ. Nay người Việt hi vọng người phương Tây đến để tiêu tiền ở Việt Nam… do đó họ (người Việt) không chào đón Tây ba lô (những người ít tiền).

Nửa sau câu nói chỉ là chuyện nhỏ.

Nhưng nửa đầu thì là chuyện lớn.

Việc coi người phương Tây là nguyên nhân của mọi vấn đề mà người Việt gặp phải là cách nghĩ của cả cộng đồng chứ không phải của riêng ai.

Chẳng phải đó là lý do khiến chúng ta đồng tâm làm cuộc đổi dời lớn lao là đập vỡ xã hội cũ để dẫn tới tình trạng ngổn ngang hôm nay?

Đỗ Mục (803-853) là một nhà thơ lớn đời Vãn Đường, nổi danh không kém gì Đỗ Phủ thời Thịnh Đường. Trong bài phú Cung A Phòng nói về sự hưng vong đời Tần Thủy Hoàng và sáu nước thời Chiến quốc (Yên Triệu Hàn Ngụy Tề Sở) ông từng viết “Than ôi! kẻ diệt lục quốc không phải Tần mà là lục quốc. Kẻ diệt Tần chính là Tần không phải thiên hạ”. (Theo bản dịch Cổ văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê S. 1966).

Có lẽ còn phải một thời gian nữa rồi dân ta mới đạt tới cách nghĩ “tiên trách kỷ hậu trách nhân” như vậy. Nhiều người Trung Quốc khi nhìn sự phát triển xã hội hiện đại cũng mắc bệnh này. Nhưng bệnh dân ta nặng hơn bệnh dân Tầu.

 

 

 

E sợ khi bước ra thế giới

Ngày đăng 5/12/2014

 

Những hạn chế trong việc làm ăn này đã tiếp tục chi phối chúng ta trong việc làm ăn buôn bán với thế giới?

Rải rác tôi đã thấy người ta nêu ra đủ thói xấu của ta sau khi gia nhập WTO: e ngại, chỉ muốn đánh quả, lanh chanh kiếm chác mà lại dại dột ngớ ngẩn dễ bị lừa, đau chết điếng đi mà không cách gì thoát nổi…

Tôi muốn mở rộng thêm mà nói rằng đây là cả một “truyền thống” của Việt Nam, thứ quán tính nó ràng buộc chúng ta từ nhiều đời.

Đọc lịch sử sẽ thấy nền ngoại thương của Việt Nam bây giờ không khác các thế kỷ XVII - XVIII là bao. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, ở Đàng ngoài, chúa Trịnh nói chung cấm cửa lái buôn ngoại quốc, sợ họ vào gây náo loạn nhân tâm. Nhưng  ngồi nghĩ, lại tiếc, nên chính sách cứ khi thò khi thụt, dùng dằng, dang dở, nay thế này mai thế khác. Mà chính sách càng tuỳ tiện đỏng đảnh, quan lại càng dễ đi đêm để hưởng lợi.

Còn ở Đàng trong, tiếng rằng mở cửa – và đây là một bước tiến đáng kể so với Đàng ngoài – nhưng toàn là người ta đến bán hàng cho mình và mang hàng của mình đi, chứ dân ta có lái buôn chủ động vươn ra với họ đâu! Đến người phiên dịch dắt mối trong các vụ làm ăn này cũng thường là người Tàu, ta không có nhân viên của mình. Quan chức quản ngoại thương chủ yếu chỉ lo thu thuế, khi kiểm tra thương thuyền nước ngoài, thường lợi dụng chức vụ để xin xỏ kiếm chác cho mình, bao che cho thương nhân nước ngoài. Được lợi chút đỉnh, họ sẵn sàng bán rẻ cả quyền lợi của quốc gia.

- Từ góc độ văn hoá ông cắt nghĩa hiện tượng này như thế nào ?

- Với quá trình lịch sử liên miên bị đe doạ bởi ngoại xâm, người Việt quen nghĩ rằng những tai vạ của mình là do nước ngoài mang tới. Trong mắt ta, họ thường là là kẻ thù nhiều hơn là đối tác cùng tồn tại. Nên ta nhìn họ với nhiều e ngại và tự dặn nhau càng ít tiếp xúc với người ngoài càng ít càng tốt.

Ta quen sống co lại, ít có khao khát ra với thế giới, hiểu thế giới. Trong tiếp xúc ít có khả năng đặt mình vào địa vị người khác, không có thói quen và kinh nghiệm quan hệ với bên ngoài, lảng tránh là hơn.

Cho đến thời gian thế hệ chúng tôi lớn lên, tâm lý này vẫn chi phối mạnh mẽ. “Thôi con đừng khóc chi con/ Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người”. Đây là một câu ca dao tôi nghe thuộc lòng từ nhỏ. Về sau đọc sách, càng thấy cái tâm lý ăn quẩn vườn nhà đã ngấm vào tâm thức của dân mình. Người dân đồng bằng Bắc Bộ xưa thường chỉ biết đến phạm vi 20 km quanh vùng họ ở. Luôn luôn tâm niệm “ta về ta tắm ao ta”, vừa ra khỏi làng đã nước mắt ngắn nước mắt dài sùi sụt. Ngần ngại, sợ hãi…

Càng co lại ta càng đánh mất đi khả năng phát triển, càng không đủ bản lĩnh để ra với thế giới và hiểu thế giới.

Đợt hội nhập vừa rồi là có vẻ như ta buộc phải bung ra, mở cửa, chứ thật ra chưa chín ở bên trong. Vừa không có thói quen, vừa không chuẩn bị thích đáng, cuối cùng ta “nhảy đại” cho xong. Chính cái đó sinh ra nhiều tệ nạn: tâm lí đánh quả, định đi tắt đón đầu, “lừa”, lách luật…

Nhìn ở một tầng sâu hơn, có thể nói quan hệ kinh tế củaViệt Nam với thế giới trong thời gian vừa qua không dựa trên cơ sở văn hoá chắc chắn. Đại khái thấy ai làm mình cũng làm theo, khi thất bại mới ngớ ra thì đã muộn. Định bán hàng cho người ta nhưng không hiểu gì về lịch sử tâm lý dân tộc cách sống của người ta, cái gu của người ta thì bán sao được?

 

 

 

 

 

 

 

Thời gian & rác

Ngày đăng 7/12/2014

 

Luôn luôn trên mặt báo có những bài than vãn, kể về những bất lực của chúng ta trước thứ …của nợ này.

Ở thành phố A, bãi rác cũ đã lấp, nhưng bãi rác mới chưa chính thức hoạt động, nay phần chính trong rác thành phố vẫn được đưa về một bãi tạm.

Ở thị xã B, bãi rác gây mùi và làm thành ổ ruồi nhặng, dân bên cạnh có kêu thì Sở vệ sinh môi trường vẫn chỉ biết hứa sẽ cố gắng.

Ở thị trấn nọ, người ta có sáng kiến làm ra 111 thùng rác dựng trên đường phố. Nhưng hóa ra việc đó chẳng phải vì dân mà chỉ cốt để đỡ công thu gom. Một tuần các thùng rác đó mới được dọn dẹp một lần, kết quả là mùi hôi thối bốc lên, dân có người lật ngược cả thùng rác để không ai đổ nữa cho đỡ khó chịu.

Tôi nghĩ rằng có thể nhìn vào rác và cách giải quyết rác cũng như các loại chất thải nói chung để thấy đủ thứ, từ trình độ sống của dân mình, tới những bước đi của xã hội.

Nóí cho văn hoa tức là lại còn có thể đếm bước thời gian trong cái thứ chế phẩm ngoài ý muốn này nữa.

Từ 1871, kinh thành Huế được Nguyễn Trường Tộ miêu tả như sau:

“Nói riêng về một sự ở... Nay trong kinh thành, con đường lục bộ cho đến đường các nha  thự, chợ quán, tường hào, vườn hoa và các bến sông, chỗ nào cũng có uế khí, thậm chí có kẻ trước mặt công chúng mà đi tiểu đại. Các cầu dọc theo sông, không luận ngày đêm đàn ông đàn bà, cứ ra nơi ấy mà phóng uế, quen lấy làm thường...

Ở phương Tây, phàm những người nào bỏ rác làm nhơ đường đều bị phạt cả vì việc ấy bất nhã mà có mối hại chung. Ta cũng là người như họ, lại không biết xấu hổ sao?

Đến như gạch vỡ, ngói hư, cây nhành khô lá rụng, rác và tro than các nhà loại ra, người nước khác đều thu nhặt làm đồ vật hữu dụng. Mà người mình thì vứt ra cùng đường, ném xuống ao vũng, hoặc đổ ra ngoài hào quanh thành, chất đầy cả bến sông.

Dinh thự các quan, tường vách xiêu đổ. Ngoài đường thì bùn lầy, vườn tược thì rác bẩn, trước sân thì cỏ mọc. Ngoài hào thì nơi lồi nơi hủng, các nhà trong thành hai bên đường gần nhà chỉ theo giới hạn mà quét dọn. Những đường bên vách tường đó, mùi hơi hôi thối, người đi qua phải che mũi đi mau. Như thế thì lòng tu ố (ghét điều xấu ở kẻ khác) ở đâu? Sao gọi là nước biết giữ lễ nghĩa? ”.

(trích trong bài Về việc cải cách phong tục)

Kinh thành còn thế, nữa là các đô thị khác, như Hà Nội, Sài Gòn.Trong mắt các giáo sĩ và lái buôn phương Tây …các miền đất tinh hoa đó cũng có những nét tương tự.

Những năm mới hòa bình lập lại (1954), ở cái xóm nghèo trên Thụy Khuê gia đình tôi sinh sống, tôi nhớ ngay tới một bà già, sáng sáng chủ nhật đi gọi mọi người tổng vệ sinh.

Vào cái thời cả xóm còn dùng đèn dầu, làm gì có micro như bây giờ. Bà già chỉ có cái loa bằng tôn. Nhưng bà a-lô không biết mệt.

Học sinh Chu Văn An hồi ấy kéo ra đường làm vệ sinh cũng là chuyện thường.

Hồi chiến tranh thủ đô của tôi cũng chưa đến nỗi tệ lắm.

Nhưng sau chiến tranh khi con người bắt đầu nhờn với mọi kỷ cương xã hội và lao vào mải làm giàu thì Hà Nội cứ mỗi ngày mỗi bẩn thêm.

Điều đáng nói không chỉ là thành phố ngày càng nhiều rác, người dọn không xuể. Mà cái đáng sợ hơn là thói quen của người dân.

Đang đi trên đường, tự nhiên nghe một tiếng đánh bộp. Thì ra dân hàng phố nhặt rau hay ăn mía xong, gói vào cái túi mỏng, quăng ngay ra đường, có khi quăng đúng vào dòng chảy của cống rãnh lộ thiên, nước bắn lên tung tóe.

Ai từng đi bộ trên đường, chắc thảo nào cũng có lúc gặp những đòn đánh bất ngờ kiểu ấy.

Sợ nhất là vào nhiều chợ. Nhiều khi không dám bước nữa. Bởi cái lép nhép dưới chân, không chỉ do bùn từ giày dép mang vào, mà còn vì các loại rau thối bẩn các loại dây rợ lạt buộc, các loại lá lẩu … từ tay các bà bán hàng ném ra. Còn bà hàng cá kia nữa, làm xong ruột cá cho khách là đổ ràn ngay nước ra đường, mặt đường còn thoáng có màu đỏ nhợt nhạt của máu cá.

Nhớ lại cái đường phố Huế mà Nguyễn Trường Tộ đã tả. Gần 150 năm qua đi mà nếp sống của chúng ta có thay đổi được bao nhiêu.

Mươi năm gần đây có chuyện rác thải của các bệnh viện. Rác được mang bán và người ta mua về chế biến ống tiêm, vỏ chai thành các loại đồ nhựa dân dụng.

Có lần có tin một huyện vùng núi Nghệ An phát hiện ra một kho DDT mà các đơn vị y tế chôn từ hồi chiến tranh, coi như rác bỏ, nay do tác hại đến nguồn nước, người dân mắc bệnh nhiều mới tính giải quyết, mà không biết tống đi đâu bây giờ.

Điều duy nhất tôi cảm thấy được an ủi trong chuyện này: Thế hóa ra không phải chúng ta chỉ có các loại rác cổ điển, mà còn nhiều loại rác hiện đại.

Vâng, chỉ thời hiện đại mới sẵn túi ny lông, hộp xốp, các loại bao bì, các loại linh kiện đồ điện tử và hóa chất.

Và nhất là chỉ thời hiện đại mới có lối hoặc lén lút hoặc trâng tráo vứt rác bừa bãi như hiện nay.

Chứ trước 1945, việc quản lý các thành phố trong tay người Pháp, đố ai dám tính chuyện làm bậy thế.

Thời ấy người ta làm bậy không bao giờ thoát tội.

Đây là một đoạn trích trong chương II Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Chuyện xảy ra tại một bót cảnh sát khi một viên quản ngồi than thở sự đời với một thày cảnh sát dưới quyền:

- Thày có tiếc cái thời buổi ngày xưa, cách đây mười năm không ?

- Tiếc lắm ! Mười năm trước đây, dân ta còn ngu ..

- Ngày nay dân ta văn minh mất rồi rõ thảm hại! Thày phải biết là xưa kia, xã hội tinh những du côn với nặc nô, tinh những người bất lịch sự chỗ nào cũng phóng uế, cũng đánh nhau. Hồi ấy có khi bốn người ngồi một xe! Họ chửi nhau hàng nửa giờ, đánh nhau vỡ đầu, nhà cửa của họ thì rác rưởi, nước cống nước rãnh tung toé, ngập lụt. Chó của họ cũng chạy ra ngoài đường nhông nhông... Xe đi đèo, hay không đèn là nhan nhản. Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả.

Tôi đã chứng minh được cái luận đề nêu lúc đầu: thời đại in dấu vào rác.

Còn suy nghĩ tiếp thế nào, xin bạn đọc cứ tùy nghi.

Một hướng suy nghĩ mà tôi đề nghị:

Có phải lịch sử luôn luôn là vận động theo hướng văn minh tiến bộ? Hay lịch sử nhiều khi lại là những bước thụt lùi? Trên một số phương diện, xã hội ta đang trở về thời tiền - hiện - đại?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một truyện tiếu lâm Xô Viết có liên quan tới giới nhà văn 

Ngày đăng 9/12/2014

 

Trên mấy báo mạng, trong đó có tờ Văn hóa Nghệ An, tháng 10 -11/2014, anh Lã Khắc Hòa vừa cho in một số giai thoại có tính cách tiếu lâm về Stalin và sự chỉ đạo của Stalin với văn học.

Tôi nhớ một chuyện cũng liên quan đến đề tài này.

Một lần Stalin tổ chức một cuộc gặp mặt với các nhà văn mới nổi, và đang được xem là có triển vọng nên cần giúp đỡ.

Người thứ nhất than phiền vì căn hộ chật hẹp.

Người thứ hai báo cáo ông ta cần một chiếc ô-tô đi lạị giữa tờ báo trong thành phố ông ta làm việc, và cơ sở nông trang ông ta đang bám trụ, để theo đuổi những biến đổi của nông thôn mới.

Người thứ ba ngần ngừ một lúc rồi đề đạt nguyện vọng là muốn có một chuyến tham quan học tập ở nước ngoài.

Người thứ tư lại càng ngần ngừ hơn. Hỏi tại sao, ông ta trả lời trong thổn thức:

- Thưa đồng chí Stalin, tôi có một nguyện vọng quá lớn đến mức không đủ dũng cảm để trình bày với đồng chí.

- Nguyện vọng gì vậy?

- Cả đời tôi chỉ mong có một cuốn Những vấn đề chủ nghĩa Lénin có chữ ký của tác giả. Tôi sẽ đặt nó bên bàn viết. Tác phẩm sẽ soi sáng tư tưởng của tôi khi viết.

Bốn người ra về. Nguyện vọng của hai người đầu được đáp ứng lập tức. Người thứ ba - xin đi nước ngoài - sau một số kiểm tra, cũng được thỏa mãn.

Riêng người thứ tư thì - đúng như nguyện vọng mà ông đã khó nói nên lời - được tặng một bản Những vấn đề chủ nghĩa Lénin, loại đặc biệt có kèm thêm chữ ký của tác giả, tức là đồng chí J.Stalin kính mến.

Ngoài ra, nhà văn thứ tư này còn được tặng thưởng kèm theo một chiếc ô-tô, một căn hộ và một chuyến đi nước ngoài, nghĩa là bằng ba người trước cộng lại.

Trích từ bài in trên blog VTN ngày 8-12-2014

Kinh nghiệm khai thác những dòng chảy ngầm trong văn học Nga thời kỳ Xô viết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Làm gì đây, lúc về già?!

Ngày đăng 15/12/2014

 

Nhân sự đóng góp của Tản Đà trong những năm cuối đời, thử tìm một ít liên hệ tới các nhà văn hôm nay.

Tản Đà (1888 -1939) là một trong số ít ỏi những nhà thơ Việt Nam sinh ra để làm thơ, vung bút thành thơ, ngồi đâu có thơ đấy - mà toàn là thơ hay, thơ để đời, chứ không phải là thơ con cóc, thơ vè, thơ nhăng nhít của mấy ông sẩm giỏi bắt vần. Sức sáng tạo của tác giả Thề non nước thật tràn trề. Mà lòng tự tin nơi ông cũng mãnh liệt như mọi con người hiện đại. Bởi vậy, người ta hẳn lấy làm lạ khi nhìn lại một sự thực: tác giả qua đời năm 1939, khi vừa năm mươi mốt tuổi, còn tập thơ cuối cùng của ông, tập Khối tình con II thì in ra trước đó có tới gần hai chục năm (về sau chỉ có thơ tuyển). Đặc biệt từ hồi xuất hiện những tập thơ mới quan trọng như Người sơn nhân (Lưu Trọng Lư, 1933), Mấy vần thơ (Thế Lữ, 1934), Điêu tàn (Chế Lan Viên, 1937), Thơ thơ (Xuân Diệu, 1938) thì ông vĩnh biệt hẳn thơ, đến thơ đăng báo cũng không gửi, mà lo kiếm ăn nơi khác. Viết báo. Viết tạp văn. Và dịch, dịch cả văn xuôi (Liêu trai chí dị)lẫn thơ (thơ Đường). Và ngồi chú giải Truyện Kiều. Tóm lại là làm bất cứ thứ gì để có thể quên đi một tình yêu sâu nặng, để khỏi nhớ mình là nhà thơ. Vẫn hậm hụi kiếm ăn, nhưng không bao giờ kiếm ăn bằng thơ.

Việc này có một cái lợi: người ta không bao giờ cảm thấy Tản Đà hết duyên mà vẫn tham xuất hiện, lê lết trong nghề, cố đấm ăn xôi, bám vào cảm tình vốn có của dư luận để ăn vạ. Xét chung cả đời, ông không âm lịch, cũng không cổ lỗ trong quan niệm về nghề nghiệp.

Ngược lại người đương thời cũng như đời sau luôn luôn cảm thấy Tản Đà là người làm nghề có bản lĩnh, biết từ giã “sân cỏ”, ngay khi sự nghiệp đang ở đỉnh cao, hơn nữa có thể nói là người hết lòng với thơ, xem thơ là việc của thần thánh và bao giờ cũng đối xử với thơ theo kiểu trân trọng muôn vàn, muôn vàn trân trọng (chữ của Tây sương ký).

Cũng nên biết thêm là trong việc này, không chỉ có sự biết điều, sự kiềm chế của người trong cuộc, mà còn có sự giúp đỡ chí tình của lớp trẻ nữa. Giúp đỡ như thế nào? Chúng ta biết nhóm Tự lực văn đoàn vốn yêu quý Tản Đà. Nhưng yêu quý một cách rất tỉnh táo. Chính họ gợi ý để Tản Đà dịch thơ Đường, và những bản dịch hay nhất của ông đều in ở Ngày nay cơ quan phát ngôn của họ, tờ báo trí thức nhất mà cũng có uy tín nhất lúc ấy. Nhưng chỉ có thế. Còn thơ Tản Đà thì nhất định Ngày nay không in.

Tôi ghi lại một ít sự kiện này để thử nghĩ về công việc của mình cũng như của những người cùng tuổi với mình mấy năm tới, khi chúng tôi bước sang tuổi già. Một vài câu hỏi mà tôi thường đặt ra đại khái như:

- Có phải có những việc dành riêng cho tuổi trẻ, còn tuổi già nên tính việc khác ?

- Có phải cách tốt nhất để giữ được một uy tín là đừng làm cho uy tín đó trở nên nham nhở bởi những cố gắng bám trụ tầm thường ?

- Có phải sự bảo thủ, và hơn thế nữa sự hoang tưởng, là thói quen tự nhiên có ở mọi người, kể cả những cây bút có lúc được xem là thiên tài và để sửa chữa cái cố tật đó, rất cần có sự giúp đỡ thông minh và kiên quyết của lớp trẻ?

Trường hợp Tản Đà đã mang trong mình lời đáp sống động cho những câu hỏi này, mỗi người có thể rút ra để áp dụng cho mình. Cố nhiên bao giờ cũng có những ngoại lệ. Nhưng nên biết thêm rằng cỡ như Tản Đà cũng không coi mình như ngoại lệ, thì có nghĩa là ngoại lệ ….hiếm hoi lắm.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyện những người già

Ngày đăng 15/12/2014

 

Bà chị tôi 77 tuổi kể rằng dạo này yếu lắm, cứ ngồi xem ti vi thì ngủ gật mà nằm xuống thì lại không ngủ được.

Chị M. kể về một cậu em. Lúc trẻ sống độc thân tự tin lắm, bảo rằng khi về già đau ốm sẽ tự lo liệu, nếu không được thì sẽ tự xử, chứ không làm phiền đến ai. Ngoài sáu mươi bị tai biến mạch máu, nay vào nhà dưỡng lão lại rất yêu đời, ham sống. Đã có một căn nhà cho thuê đủ chi tiêu, nhưng ai tới thăm cũng ngửa tay xin người ta tiền.

Ở tuổi 55, bậc sư phụ trong nghề của tôi là Nhị Ca bị ốm. Vợ con hầu hạ ông được bốn năm, tới năm thứ năm ông bảo thế là đủ rồi, đi viện ông không cho truyền dịch, lặng lẽ tiếp nhận cái chết.

Nhà báo Thái Duy năm nay tuổi đã 89. Ông kể rằng có nhiều người già như ông hồi trước cũng quyết tâm lắm, quyết tâm nếu bị tai biến mạch máu não là làm luôn mấy viên thuốc ngủ liều cao cho đi luôn, chứ sống đâu có chữa được nằm mãi khổ lắm.

Nhưng đến khi tai biến xảy tới thì chưa kịp lấy thuốc, người nhà đã khiêng đi viện, rồi quay về, kéo dài bệnh tật ở giường nhà. Một số ngồi trên xe bảo con cái khiêng ra đường ngắm người chung quanh, lòng ngao ngán với ý nghĩ:

- Đâu có muốn chết là được, chết theo ý mình càng khó.

Simone de Beauvoir, nhà văn Pháp, có một tác phẩm mang tên Tuổi già. Ở ta, NXB Phụ Nữ đã cho in cuốn sách này, bản dịch của Nguyễn Trọng Định. Trong sách có điểm qua quan niệm và thực trạng về người già ở hàng loạt dân tộc trên thế giới.

Ví dụ, trong chương Tuổi già trong các xã hội ngày xưa, những người quen khoe về sự “trẻ mãi không già” của mình hẳn bị dội một gáo nước lạnh khi tìm thấy một câu được viết từ thế kỷ XV ở Pháp “người già nhầy nhụa những đờm, dãi và cứt đái, cho tới khi trở thành tro bụi”.

Tạp chí Thơ số ra 6-2011 có in lại bài viết của Xuân Diệu về thơ Tagor trong đó dẫn ra hai câu tuyệt vời của thi hào Ấn Độ:

Tôi có ngại gì tóc tôi điểm bạc

Bao giờ tôi cũng trẻ và cũng già như người trẻ nhất và người già nhất trong làng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

…Những bóng ma trên bãi tha ma của sách

Ngày đăng 18/12/2014

 

Thỉnh thoảng vẫn nghe tin có những khu đất không người lai vãng ngay giữa thành phố, hoặc những kho hóa chất trong rừng.

Ở các thư viện lớn, có những cuốn sách mà không bao giờ có người đọc tới.

Và bây giờ là cuốn Từ điển tiếng Việt dùng cho học sinh của tác giả Vũ Chất.

- Tại sao một cuốn sách như thế mà đến nay người ta mới phát hiện ra sai lầm không thể tha thứ của nó?

- Phải chăng điều này có nghĩa là trong khâu chuẩn bị cho nó xuất xưởng, các biên tập viên đứng tên ở các trang cuối không hề đọc nó, ông Tổng biên tập cũng không hề giở qua vài trang của nó trước khi ký giấy cho in.

- Và sau khi in ra nó không hề được bất cứ nhà giáo cũng như em học sinh nào sử dụng?

Tóm lại trên bãi tha ma sách vở chung quanh ta, lại thêm một hồn ma -không, có lẽ là một bóng ma vờ vật - ngay từ lúc ra đời đã nằm ép xác ở các ngăn tủ nào đó, chờ ngày trở thành sách cũ mang bán đồng nát, nghĩa là trở thành tro bụi - tro bụi không mang một nghĩa bóng gió nào hết.

 

 

 

 

 

 

Đi tìm khái niệm lưu manh qua sách vở

Ngày đăng 21/12/2014

Mời các bạn đọc lại một bài báo cũ đã in trên blog của tôi 1/1/2012.

Tên cũ của bài là Rất nên quan tâm tới lưu manh

1/ Trong bài Đường đi và người đi - Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa in trên TT&VH số ra 18-12-2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết:

“Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩa xấu, cũng như chữ Lưu manh – người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.

Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ lưu manh.

Chữ manh ở đây không phải người mù.

Trong chữ Hán cũng có một chữ manh viết bằng cách kết hợp chữ vong với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là mắt không có con ngươi, tối tăm.

Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ vong như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ manh nói về sau này thời cổ chỉ chung là dân.

Trong Bình Ngô đại cáo có câu:

"Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập"

Đào Duy Anh dịch là

"Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp"

Là dùng chữ manh ấy.

Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung (Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.

Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu. Nghĩa xấu đó là gì? Từ điển Khai trí tiến đức 1931 ghi "đểu cáng" là hạng người hèn mạt vô hạnh.

Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất.

Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.

Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán - Hán hiện đại thường ghi lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp,  sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi”, tức là kẻ không biết chính nghĩa là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.

Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan, scoundrel... sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.

2/ Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.

Khi nghiên cứu về giao thông Việt Nam trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.

Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh Thượng theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân - địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.

Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.

Phần góp chuyện của tôi:

Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân.

Nhưng ở trang 87 của Từ điển từ nguyên tiếng Trung (NXB Hồng Đức H. 2008 ), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:

“Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt văn và Kim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân.”

Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghệ nghiệp. Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ. Họ chẳng coi cái gì là quan trọng. Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc Việt Nam họ là nguồn gốc của những hỗn lọan mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.

Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.

Trong lịch sử Trung quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết “trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.”

Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và phát triển mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác. Trong xã hội hiện đại, xu thế này chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm …tức là lưu manh hóa họ.

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính.

Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Ở tầng lớp lưu manh khóac áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.

BỔ SUNG 20-12-2014

Người ta thường đi từ kinh nghiệm thực tế để nói về lưu manh.

Tôi muốn làm ngược lại, đi từ sách vở, các cuốn từ điển, các bộ sử..

Tôi tin cách làm này là hợp lý bởi sách vở không phải là từ trên trời rơi xuống, sách vở là tổng kết từ thực tế.

Để tìm hiểu một vấn đề nào đó, đi theo con đường sách vở chắc chắn là con đường ngắn nhất.

Cố nhiên đó là loại sách vở xứng đáng với tên gọi của nó chứ không phải là phần lớn những gì chúng ta đang viết bừa viết bãi hôm nay.

 

PHỤ LỤC

Sau đây là một bài viết ngắn có liên quan đến lưu manh của nhà học giả An Chi. Để giúp cho các bạn có thêm tài liệu cùng suy nghĩ về chủ đề này, xin phép nhà nghiên cứu An Chi cho tôi ghép lại làm phần phụ lục sau đây.

LƯU MANH LÀ GÌ?

(Petrotimes 25/03/2013)

Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa gốc của hai tiếng lưu manh. Chữ manh ở đây có phải cũng là manh trong thông manh và manh mối không, thưa ông? (Trần Văn Bá)

Học giả An Chi: Trước nhất xin nói về nghĩa của từng thành tố. Chữ manh氓 có hai nghĩa mà “Hán ngữ đại tự điển” (Thành Đô, 1993) đã cho như sau:

“1 - Dân; cổ đại xưng bách tính (Người dân; xưa chỉ trăm họ)”. Mao Trạch Đông họa thơ Quách Mạt Nhược (“Họa Quách Mạt Nhược đồng chí”) có câu:

Tăng thị ngu manh do khả huấn

Yêu vi quỷ hoặc (quắc) tất thành tai.

Dịch ý:

Sư cũng dân lành còn sửa được

Yêu tinh là quỷ dấy tai ương

Trong bài “Manh” thuộc phần “Vệ phong” của Kinh Thi, mà câu đầu tiên là “Manh chi si si”, chữ manh cũng có nghĩa này. Đây là một bài thơ trữ tình hay nhất và sớm nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc.

“2 - Dã dân. Chu triều chỉ cư trú tại bỉ dã địa khu tùng sự nông nghiệp sinh sản đích nô lệ”. (Dân quê. Thời Chu, chỉ những người nô lệ cư trú tại những vùng quê để sản xuất nông nghiệp).

Âm xa xưa của chữ manh 氓 trong tiếng Việt là mống, còn được giữ lại trong những lối nói mang tính quán ngữ như: không mống nào chạy thoát, chết không còn một mống. Nó chẳng có liên quan gì đến chữ manh trong thong manh cả. Thong manh là biến thể ngữ âm của thanh manh 青盲, một chứng bệnh về nhãn khoa. Vậy, một đằng là manh 氓 bộ thị 氏 , một đằng là manh 盲 bộ mục 目¿, chẳng liên quan gì đến nhau. Mà nó cũng chẳng liên quan gì đến chữ manh trong manh mối vì ở đây, chữ manh là một hình vị Hán Việt chính tông mà chữ Hán là 萌, có nghĩa là “khai mào”, “khởi đầu”, “dấy lên” như có thể thấy trong một cấu trúc khá quen thuộc là manh nha. Một đằng thuộc bộ thị 氏, một đằng thuộc bộ thảo 艹(艸), nên cũng chẳng liên quan gì đến nhau.

Lưu 流÷ có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phái sinh là du thủ du thực, rày đây mai đó.

Hai tiếng trên ghép lại thành danh ngữ lưu manh 流氓, được “Hán ngữ đại tự điển” giảng là: “Nguyên chỉ vô nghiệp du dân, hậu lai chỉ phẩm chất ác liệt, bất vụ chính nghiệp, vi phi tác đãi đích nhân”. (Vốn chỉ lưu dân không nghề nghiệp; về sau chỉ những kẻ phẩm chất dữ dằn, không làm việc chính đáng, làm bậy làm càn).

Thế là lưu manh vốn có nghĩa trung hòa, nhưng nay thì hai tiếng này có nghĩa là kẻ du thủ, du thực, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi nghĩa bóng là đứa du côn, bất lương. Tùy theo ngữ cảnh mà nó có thể được dùng như danh từ hoặc tính từ. Với tư cách tính từ, nó hoàn toàn tương ứng với tiếng Anh rogue trong ngữ đoạn rogue state smile emoticon quốc gia lưu manh) mà Chính quyền Reagan của Hoa Kỳ từng dùng hồi thập niên 80 của thế kỷ trước để chỉ chế độ và chính sách của ông Muammar Kaddafi ở Lybia. [Xin lược bỏ mấy câu không hại gì tới nội dung - VTN]

Hiện nay, hai tiếng lưu manh cũng được dùng làm định ngữ để chỉ một khuynh hướng văn học: văn học lưu manh, mà dưới đây, chúng tôi xin dẫn một đoạn của Báo Tuổi Trẻ để giới thiệu với bạn đọc:

“Như thế, khái niệm “lưu manh" từ chỗ tụt quần áo trần truồng và xả ra ngôn từ rác rưởi, dễ bị nhận diện, đã trở thành lưu manh trong lý tưởng, lối sống và kinh khủng hơn là lưu manh trong các giá trị, ví dụ như: thưởng thức nghệ thuật xong sẽ đưa ra các lời bình luận thấp kém, phản bác, công kích nghệ sĩ; ngắm tượng Vệ Nữ xong chỉ phát hiện nàng này không mặc quần lót; gặp một cô giáo quên mình cứu học sinh thì chỉ nghĩ giá như cô giáo này làm điếm sẽ kiếm được nhiều tiền hơn; nhìn xã hội phong kiến chỉ thấy niềm vui sướng được ngủ với hàng đàn mỹ nữ mà không bị pháp luật sờ gáy; sống ích kỷ với thú vui bản thân bất chấp đạo đức xã hội lại được coi như đi tìm kiếm cái tôi đích thực, cái tôi cô đơn, khác biệt...”.

“Từ điển văn học online của Trung Quốc đưa ra một định nghĩa, theo đó, văn học lưu manh gần như buộc phải có hai thành tố cốt lõi là sex và báng bổ”.

“Văn học lưu manh được đông đảo độc giả và nhà phê bình quan tâm là bởi mỗi tác phẩm đều kéo theo sau nó rất nhiều lời phê phán lẫn tung hô của nhiều hạng người khác nhau trong xã hội”.

Nói chung thì lưu manh đại khái là như thế.

 

 

 

Lưu manh côn đồ cũng ngày một đổ đốn

Ngày đăng 24/12/2014

 

Lưu manh côn đồ phát triển đã không còn lẻ tẻ và ở dạng tự phát mà tập hợp lại thành hẳn một thế lực xã hội một bộ phận của đời sống. Thế lực này có mặt ở khắp nơi, họ như thứ xe càn xe ủi tham gia giải quyết mọi việc.

Tôi nghĩ vậy vì nhớ là từ dăm bẩy năm trước, đọc VNExpress đã thấy có cái tin khoảng 500 người kéo tới Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) để phản đối việc gây ô nhiễm môi trường. Và khi không giải quyết được với nhau, gây ra xung đột, người ta nghi ngờ công ty có liên quan việc thuê côn đồ đánh dân.

Một chuyện có tính chất phổ thông hơn. Anh A. có căn nhà phần ngoài hàng rào bị lấn chiếm. Tính đi trình chính quyền địa phương. Anh B. can, làm thế vô ích, các ông ấy lại vòi tiền cũng quá chết, mà không chừng chính các ông ấy bảo kê cho việc họ làm. Nhờ làm sao được, B bảo.

A đáp thế thì mình đi thuê luôn đám dân anh chị ấy vậy.

B mới giảng cho biết là thuê được bọn họ cho êm thấm cũng không phải dễ. Bọn họ cũng hay bắt nạt mình lắm, quát giá đã cao, mà nhiều khi còn ăn vạ. Chẳng hạn, thanh toán xong họ còn kêu rêu nào là nguy hiểm quá, nào bị thương khi hành nghề, xin các anh cho thêm, không cho không được.

Sau B phải giúp A mãi mới tìm được một đầu mối ra giá sòng phẳng mà lại gọn việc.

Trong đầu óc tôi nẩy ra một số câu hỏi.

Phải chăng côn đồ lưu manh xã hội đen hôm nay cũng là cả một xã hội thu nhỏ?

Có kẻ vô tình làm liều ? Có bọn theo lời rủ rê rồi sau không bỏ nổi nghề?

Có kẻ ngồi đấy chỉ huy kẻ khác?

Có huấn luyện có tổ chức? Có xuất đi nước ngoài để học hỏi và sau đó quay trở về hành nghề đắc lực hơn – tức là có chuyện hội nhập văn hóa?

Nguyên Hồng quá quen với học sinh Việt Nam qua tiểu thuyết Bỉ vỏ. Lâu không đọc lại nhưng chỉ nhớ hồi ấy cái làm bọn tôi được giảng rõ nhất là cái ý ngược đời. Tác giả muốn hé ra cho thấy là đám dân anh chị ấy nhiều người đời sống tâm hồn cũng chưa đến nỗi hư hỏng, ở họ còn có tình người.

Lưu manh thời nay không được văn học sau 1945 miêu tả. Nhưng tôi cho rằng, nay cái loại lưu manh như của Nguyên Hồng không còn nữa.

Thời buổi này đến cả những người bình thường và các trí thức, các loại quan chức cũng lưu manh hóa thì tìm đâu ra dân ăn cắp ăn cướp chuyên nghiệp còn lương tâm loại như Tám Bính?

Chẳng những thế, còn có thể đoán là, thời nay, chính cái đám “dưới đáy” ấy cũng ngày một đổ đốn hơn, tức ngày một tệ bạc hơn so với chính họ trong các xã hội cũ. Vì họ làm sao đứng ngoài để thoát khỏi đà suy đồi chung của cả xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tội làm hư dân

Ngày đăng 27/12/2014

 

Muôn hình vạn trạng những đau khổ của người dân đang là câu chuyện đầu miệng ở xã hội Việt Nam hôm nay.

Những đau khổ này không phải từ đâu mang lại, cũng không phải là tội của thực dân đế quốc như các tài liệu chính trị vẫn rao giảng. Mà tất cả bắt đầu từ chính chúng ta, trong đó có những nguyên nhân sâu xa từ sự hư hỏng sự tha hóa của con người nói chung mà chúng tôi đã đề cập tới trong một số bài phiếm luận in gần đây.

Mục đích bài viết bạn đọc vừa đọc ở trên là tìm hiểu trách nhiệm của những người quản lý xã hội trong việc làm hư dân.

Người viết mới chỉ dừng lại ở tình trạng giới quan chức tham nhũng bất chấp luật lệ cho phép mình làm bậy, chính họ đầu têu cho người dân thường bắt chước theo.

Trong thực tế, có thể thấy cách làm hư dân của bộ máy quan chức rất đa dạng. Cũng giống như việc cha mẹ quá chiều chuộng khiến con cái không nên người, chỉ cần nhà cầm quyền dễ dãi vô nguyên tắc bỏ mặc cho dân muốn làm gì thì làm thì cái việc có vẻ nhân nghĩa này đã là nguồn gốc dẫn tới sự hư hỏng của đám đông. Họ sẽ tùy tiện làm ăn gian dối, rồi lừa lọc nhau, ăn cắp ăn cướp của nhau, như chúng ta đang chứng kiến.

Mở rộng ra, cần nghiên cứu sự hình thành tầng lớp quan chức trong lịch sử và văn hóa quản lý xã hội ở ta trước nay ra sao.

Ví dụ, cần đi vào chi tiết việc quản lý các làng xã xưa, nơi đó bọn cường hào thao túng cuộc sống người dân và kìm hãm họ trong cảnh trì trệ.

Hoặc là theo dõi sự vận hành của bộ máy quyền lực những thời gần với xã hội hôm nay như xã hội thời Lê Trịnh ở Đàng Ngoài và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII- XVIII.

Khi mà người ta làm kinh tế theo kinh nghiệm của những người chỉ quen chinh chiến và quản lý xã hội theo kiểu trại lính thì sự nghiêm túc chỉ là bề ngoài, bên trong là hỗn loạn thối nát.

Tôi muốn nói thêm đến tội làm hư dân của một hoạt động xã hội đặc thù: công việc của những người làm văn học nghệ thuật.

Vào các thế kỷ XVII-XVIII, văn nghệ vẫn là một thứ tiếng nói của nhân dân, dù chỉ là một thứ tiếng nói chuệch choạc.

Thời đó văn nghệ được dùng để nói lên nỗi đau khổ của nhân dân. Nó vẫn được xem là khá tỉnh táo.

Ngày nay, trong thể chế của chúng ta, một bộ phận chủ đạo trong giới văn nghệ không còn là tiếng nói của dân nữa, họ là một thành phần của giới quan liêu. Có thể chỉ là một cách tự phát - bí quá thì làm liều - nhưng bộ phận văn nghệ này lại đang đi vào làm cái việc rất tội lỗi là kích động khuyến khích sự chơi bời - hưởng lạc - lười biếng - gian dối, tức sự hư hỏng của con người.

Làm thế để dân quên đi những vấn đề chủ yếu làm nên cuộc sống của họ.

Trong trường hợp này, trang sách viết ra - cũng như bài hát viết ra, vở kịch diễn ra, thước phim làm ra - không còn đóng vai giáo hóa như thường thấy trong xã hội cũ, mà chính là lại mắc vào cái tội chúng ta đang nói — tội làm hư dân.

Khi con người đau khổ thì còn có cách tổ chức lại đời sống để họ biết làm biết nghĩ, biết rõ chính mình, và hướng phấn đấu của chính mình, nó là tiền đề để họ trở nên hoàn thiện, theo một nghĩa nào đó, trở nên hạnh phúc.

Nhưng khi con người đã hư hỏng mà không tự biết sự hư hỏng của mình, rồi lại được kẻ khác khuyến khích để hư hỏng thêm, thì thật hết đường cứu vãn.

Nhưng nhân dân đang không biết trông cậy vào ai! Lấy ai là người hướng dẫn bảo ban khuyên nhủ họ bây giờ?

 

 

 

Vận may có tới cũng chắc đâu đã biết tận dụng

Ngày đăng 30/12/2014

 

Sau đây là một truyện cười tạm đặt tên là Ba điều ước – tôi đọc được ở đâu đó không nhớ, song mỗi lần ôn lại trong đầu, cứ thấy nó vận vào tình cảnh những người như mình.

Hai vợ chồng nhà nọ nghèo quá, bảo nhau giá kể bây giờ Bụt hiện ra cho mình mấy điều ước thì tuyệt biết mấy.

Lần ấy Bụt hiện ra thật. Bụt bảo cho các con ba điều ước.

Đang đói, anh chồng buột miệng:

- Ước gì có khúc dồi chó.

Vừa nói xong thì một khúc dồi chó vừa nướng ngon lành hiện ra trên một chiếc đĩa.

Chị vợ tức lộn ruột. Thằng cha này ngu quá.

Trong cơn bực bội, thị liền ra đòn trả thù chồng :

- Xin Bụt cho khúc dồi đeo ngay bên môi mà không ăn được, cho lão thèm đến lúc chết.

Bụt cho thực hiện ngay điều ước của người vợ.

Trong lúc người chồng bực bội thì thị cười như nắc nẻ.

Nhưng lập tức thị sầm ngay mặt lại. Sẽ cả đời sống với cái lão chồng thế này sao tiện?

Biết rằng trong ba điều ước có thể có đã mất tong đi hai, nhưng cuối cùng thị cũng phải ước xin cho miếng dồi chó biến khỏi mặt chồng, để rồi cả hai ngơ ngác như vừa sống qua một giấc mơ.

Tôi thường nhớ tới câu chuyện này để nghĩ về tình trạng cùng cực của con người hiện nay. Khi họ đã bị đày ải quá mức, họ chỉ còn những ước nguyện vớ vẩn. Và rồi người nọ tìm cách phá hại người kia, không ai cho phép người bên cạnh mình thay đổi để được hơn mình.

Cả cộng đồng tay trắng lại hoàn tay trắng. Kể cả khi đã có Bụt cho ba điều ước.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét