Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

FACEBOOK 2016

 MỤC LỤC 2016

 

Suy nghĩ nông nổi, tính khí thất thường 4

Chúng tôi học ngoại ngữ như thế đấy! 7

Từ hồn ma biến thành quỷ dữ 13

Manh mún rời rạc, kém cỏi trong kết dính hòa nhập 16

Có phải người Việt Nam đang muốn hủy diệt lẫn nhau? 20

Những nguy cơ của hiện đại hóa 22

Nhân chuyện cây cảnh, thử bàn một vài khía cạnh trong văn hóa Tết của người mình 25

Chuyện hoa năm nay 28

Lễ bái như một thứ chạy tội 30

Phải chăng cái xấu, cái ác đã thấm quá sâu trong cuộc sống chúng ta? 31

Bạo lực có nguồn gốc sâu xa trong tâm lý và cách sống cộng đồng 34

Nỗi ác mộng không của riêng ai 38

Lố nhố một đám đông lộn xộn 40

Thế nào là man rợ? 44

Một niềm tin tùy tiện mơ hồ mà lại dai dẳng 48

Chuyện lan man: từ thế giới đảo ngược tới nghịch lý “cuộc sống bắt chước nghệ thuật” 51

Cách ăn của một người Việt khôn ngoan 54

Cây cỏ nước người trên xứ mình 58

Sự đối nghịch trớ trêu 60

Tương tự như quấn lốp xe 62

Văn hóa sách và quan hệ thế hệ ở Hàn Quốc và Việt Nam 66

Xin rút lại một ý kiến về giáo dục 69

Giàu có và tử tế thời nay 73

Một khía cạnh mâu thuẫn trong tâm lý người Việt 75

Bột phát hồn nhiên hay là nông nổi nhẹ dạ 79

Tự do trước các nhu cầu vật chất 82

Nói thêm về "tự do trước các nhu cầu vật chất" 85

Sự lạc hậu của giáo dục qua sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 87

Người với người là bạn 90

Tự nhận thức, một chỉ số cho thấy sự chuyển biến tính cách một cá nhân 94

Tại sao người Việt chiều con đến vậy 99

Nên giải thích về lòng biết ơn theo tinh thần hiện đại 102

Người đàn ông trong xã hội Việt Nam 105

Nhìn trẻ như những con người 107

Những ý tưởng sáng suốt lại bị coi rẻ 109

Thành phố Vinh 112

Trị quốc chi đạo 115

Nhân dân hư hỏng 118

Cuốn sách mới về Nho giáo 121

Về cách miêu tả hoa sen và lý do yêu hoa sen 124

Vương Trí Nhàn dưới mắt anh bạn Nguyễn Văn Vĩnh. 128

Học chữ Hán chính là một dịp để hiểu thêm tiếng Việt 131

Mong được nghe ý kiến đóng góp của các nhà sử học 132

Việc dạy chữ Hán có những liên hệ rộng lớn hơn chứ không phải riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ 136

Tại sao dân mình nhiều người lười biếng ăn cắp? 140

Hưng Yên & câu chuyện giã từ cái cũ 144

Yên phận 147

Hãy thoát khỏi những quan niệm cổ hủ 150

Bắt đầu từ việc xem xét lại cách nghĩ cách sống của cả cộng đồng 154

Tại sao tật nói ngọng ngày một phổ biến? 159

Sự hấp dẫn của môn lịch sử trước hết là ở nội dung của nó 164

Những biến dạng của nghề hầu rượu 171

Phải chăng thích đi hầu rượu là cả một nét tâm lý thời đại? 175

Người Việt & những thông báo khác nhau khi giao thiệp 178

Đâu là cái kiếp sống mà nhiều người chúng ta đang ao ước? 180

Những nguy cơ của cuộc sống tạm bợ 183

Di cư nội địa nhìn từ góc độ văn hóa 185

Ngại đi xa, thích yên phận, sợ cái mới 190

Qua khen thưởng biết trình độ quản lý xã hội 194

Chẳng ai được là chính mình 197

Những cuộc “trở thành mình” rất ngoạn mục 199

 

 


Suy nghĩ nông nổi, tính khí thất thường

Ngày đăng 2/1/2016

 

 

Cuộc sống đô thị con người đô thị ở nước Việt Nam khi mới bước sang thời hiện đại là phần nội dung chính được miêu tả trong truyện dài "Thiếu quê hương (1940) của Nguyễn Tuân.

 

Nhưng chương cuối sách lại có đoạn tác giả cho nhân vật chính về một làng quê là làng Xuân Phả, Thanh Hóa, bàn chuyện đưa một đoàn người làng này qua San Francisco bên Mỹ múa tuồng.

 

Chúng ta bắt gặp ở đây hình ảnh người Việt trong cái làng quê cố hữu của họ, cả người lẫn cảnh không khỏi có phần lèm nhèm nhếch nhác, và khi bước vào sinh hoạt chốn công cộng thì cách cư xử của cá nhân thay đổi thất thường rất khó xác định.

 

Bảo rằng con người có ý thức về mình ư, đúng lắm? Trước mặt nhân vật từ trên tỉnh về, một người làng có tài làm nghề và đang được gọi để cùng đi theo đoàn múa tuồng lên tiếng đầu tiên.

 

Ông ta ra vẻ hùng hổ, muốn nhân chuyện người ta cần đến mình mà lên mặt với đời:

- Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này chúng ông đi Hoa Kỳ về mà đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem.

 

Ông ta vừa nói xong, mấy người chung quanh hoa chân múa tay dấm dẳn phụ họa.

Thế nhưng chỉ cần các cố lão lên tiếng đe “Đừng có mượn chén mà nói láo” là ông ta xun vòi ngay. Lại còn không biết xấu hổ, bưng mặt khóc hu hu:

- Lạy các cụ con khổ lắm!

 

Cái chất nông nổi thất thường này của người Việt từng được nhiều người nước ngoài nêu lên, như một đặc tính cản trở họ trong bước đầu đến gặp gỡ giao thiệp, cũng như quan hệ lâu dài.

 

Theo trích dẫn của Hữu Ngọc trong một bài viết in trong sách "Về giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam" (Hà Nội 1963), một sĩ quan Pháp từng nhận xét “Họ hiền lành vô tư lự, nhút nhát thích khoe khoang, dễ bốc mà xỉu cũng nhanh, thường có tâm lý ăn may của người chơi bạc, nhiều khi biến thành lập lờ hai mặt”.

Một nhà văn là Jean Hougron cho rằng người Việt “nhu nhược không có cá tính, biển lận, thích tố giác”.

 

Một người khác là Palazzoli thì chỉ ra hàng loạt những đặc tính mâu thuẫn:

- Một đằng là lịch thiệp tế nhị, lãng mạn và đa cảm;

- Mặt khác là nửa kín nửa hở, dè dặt, dò xét. Mở rộng hơn là “một thiên hướng đa nghi, mưu mẹo, một thói quen lúc nào cũng thích chống đối, rồi lại nhanh chóng buông trôi chấp nhận”.

 

Tạp chí Bách Khoa số 73 ra ở Sài Gòn 1960, từng trích dẫn nhiều ý kiến sâu sắc của linh mục F Parrel về Thanh niên Việt Nam hiện nay. Theo ông, ở họ có mấy đặc tính:

- Trực giác lấn suy tưởng trừu tượng, chủ quan lấn khách quan …

- Tâm hồn ít xúc động về vật và người.

- Chiến tranh làm cho người ta không biết tới người khác. Họ phải tự động tạo ra mọi phương tiện tự vệ.

- Tâm hồn họ khô rắn lại vì đời sống bất trắc.

 

Trong “Văn minh Việt Nam” 1944, Nguyễn Văn Huyên cũng đã ghi nhận đặc tính đó của người Việt, và ông lý giải thêm ở đây có vai trò của một đời sống quá gian khổ mà luôn luôn bấp bênh; hơn thế nữa, ở đây có cả vai trò của yếu tố thời tiết.

Điểm qua báo chí đương thời. Trên báo Tiền Phong, số ra 1/2006, bạn Nguyễn Tất Thịnh nêu lên hàng loạt nhược điểm có tính chất nông nổi thất thường của người mình kéo dài từ xưa và đến nay chưa dứt:

- Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng – vừa đe hàng tổng đã sợ thằng mõ

- Chưa biết nghề đã dạy thợ, vừa dạy thợ đã chán nghề

- Chưa làm đã mệt vừa mệt đã kêu

- Chưa vui đã cười vừa cười đã khóc

- Chưa đói đã ăn, vừa ăn đã bỏ dở

- Chưa tỉnh đã say, vừa say đã làm càn

- Chưa có tài đã đánh mất tâm, vừa có chút tâm đã bài xích tài

v.v..

 

Theo bạn Nguyễn Tất Thịnh lối cư xử này có nguy cơ trở thành tập tính của cộng đồng.Tức là một nếp sống nếp nghĩ ổn định, khó thay đổi.


Chúng tôi học ngoại ngữ như thế đấy!

Ngày đăng 4/1/2016

 

Từ chiến tranh trở về, những người viết văn thuộc lớp chống Mỹ chúng tôi lòng đầy háo hức.Trong số những việc liên quan tới việc lập nghiệp, có việc học ngoại ngữ. Ồ, cái đó cần lắm chứ, phải lo học, phải đi quốc tế, phải trở thành những trí thức thật đàng hoàng – nhiều người gặp nhau ở ý nghĩ ấy.

 

Nhưng chẳng bao lâu, không ai bảo ai mà đều ngấm ngầm nhận ra một sự thực: Học khó quá. Tắc. Hình như kiến thức nó cố trốn chạy khỏi mình.

Như trong chuyện ngoại ngữ, dù có kiên trì đến mấy, học cũng không vào. Nhà văn nọ, có lần, sau khi tuyên bố hùng hồn là mình học tiến bộ lắm, xoè ra cho mọi người thấy một quyển sách tiếng Anh mới mua được ở một hiệu sách cũ. Bạn bè chung quanh nhìn kỹ, thì ra đó là một cuốn sách tiếng Pháp.

 

Dĩ nhiên về sau, cái sự gọi là quyết tâm kia có giảm. Có thương nhau thì bảo nhau lo viết ngay đi; chứ còn việc học, mà nhất là việc đọc sách và xì xồ với nhau mấy câu bằng các thứ tiếng xa lạ -- một hai năm sau, mọi người nói nhỏ với nhau -- sao thấy nó phù phiếm quá (!).

 

Thời của những cấm đoán

Những kỷ niệm trên lập tức trở lại trong tâm trí tôi, khi nghe những lời than phiền gần đây về tình trạng dân mình đội sổ trong việc ngoại ngữ và nhất là cái cách người ta giải thích về tình trạng bê bết đó.

 

Lấy ngành giáo dục làm ví dụ. Tuy trong thực tế việc học và dạy được tổ chức rất kém song trên các tuyên bố chính thức, việc chinh phục ngoại ngữ có lúc được đề lên như một thứ quốc sách. So với những năm chiến tranh, phải thấy điều kiện học của các bạn trẻ bây giờ đã khá hơn trước rất nhiều. Lại càng không nên nghĩ đến chuyện ký tính, sức nhớ, khả năng thông minh của học sinh sinh viên nước mình …

Vậy thì tại sao mọi việc thê thảm làm vậy?

 

Không dám coi như một môn bắt buộc trong các kỳ thi phổ thông.

Để mặc cho hiện tượng bằng giả tràn lan kể cả bằng thật nhưng kiến thức giả phổ biến trong giới giáo sư tiến sĩ.

 

Chấp nhận tình trạng quê mùa của cả xã hội mà không có cách nào kháng cự.

Phải chăng cái sự kém cỏi kia hiển nhiên và kéo dài từ thế hệ nọ sang thế hệ kia đến mức người ta bắt đầu tuyệt vọng.

 

Chính ở đây, tôi thấy phải nói tới những nguyên nhân tâm lý:

Nhìn vào lớp nhà văn chống Mỹ vừa nói ở trên, trước tiên tôi nhớ tới hoàn cảnh mà bọn tôi lớn lên, trong đó có những chuyện mà ngày nay không ai tưởng tượng ra nổi.

 

Hồi ấy, người Hà Nội xác định với nhau là “ta chỉ nói chuyện với chính ta“. Nghĩ tới người nước ngoài là nghĩ chuyện phải cảnh giác. Đi đường, thấy tây đầm hỏi đường, không được chỉ. Sổ ra vài câu tiếng tây với họ là bị công an gọi về đồn liền.

 

Xưa nay nghề dịch vốn đã èo uột, vậy mà hồi đó báo chí, kể cả báo chí văn nghệ còn gần như cai hẳn tức là bỏ luôn cái mục được coi là rắc rối này.

 

Vả chăng, muốn làm cũng chẳng có gì mà làm. Sách Anh Pháp không nhập, ngay sách Trung văn cũng không có, bên Bắc Kinh đang cách mạng văn hoá. Một số cuốn sách xô - viết loại như "Chuyện núi đồi và thảo nguyên" in xong -- cũng như phim "Đàn sếu bay qua" phim "Người thứ 41" mang chiếu -- liền bị phê phán và thu hồi, ai cố tình tìm còn bị quy kết chính trị và đánh cho đến mức lên bờ xuống ruộng khốn khổ khốn nạn .

 

Cái tình cảnh sống như tách mình ra khỏi thế giới ấy lâu dần lại được người ta lý tưởng hóa và biến thành một niềm tự hào "tự ta là đủ rồi", "ta không cần đến ai hết".

 

Đến thời hậu chiến, khi những rào cản cụ thể hôm qua có vẻ không còn, thì những rào cản trong tâm lý con người không phải bỗng chốc mà dỡ bỏ được ngay. Nó đã ăn vào tư duy, chi phối tình cảm và ý chí của nhiều thế hệ. Vì thế mới có tình trạng sống giữa sách vở ê hề, tài liệu chồng chất và "gần như" không chịu một hạn chế nào như hiện nay, người ta chỉ có học đòi làm dáng, chứ vẫn không thể có một sự giao lưu và tiếp nhận tốt như đáng lẽ phải có.

 

 

 

 

Lối mòn truyền thống

Năm 2004, một nhà văn Mỹ là S. Sontag qua đời. Tôi nhớ những năm chiến tranh, bà này có qua Hà Nội, và nghe nói nhận xét về người mình hay lắm, mà bọn tôi không được giới thiệu.

 

Thì may quá, có hôm đọc sách của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc thấy ông kể S. Sontag từng nhận xét người Việt Nam ít có thói quen tư duy trên một phạm vi địa lý rộng.

 

Đó cũng là cái ý mà một người Nhật gần đây có sống mấy năm liền ở Hà Nội nhận xét: Người Việt ít khi đặt mình vào địa vị của người khác để suy xét.

Tôi cho rằng chính những đặc tính trên đây cản trở việc học ngoại ngữ của ta hiện nay.

 

Đọc lịch sử cận đại, thời các cụ đua nhau Đông du, lại được biết: Hồi Phan Chu Trinh mới qua Nhật, ông có được gặp cả thủ tướng Nhật Bản lúc ấy mà phiên âm qua tiếng Hán Việt gọi là Đại Ôi. Câu đầu tiên mà Đại Ôi nói với Phan Chu Trinh đại ý tôi nghe nói người Việt Nam đã lâu, mà nay mới gặp, hoá ra người các ông ít đi nước ngoài thật.

 

Tiếp đó, khi biết rằng người đối thoại với mình lúc ấy chưa biết tiếng Pháp, Đại Ôi tỏ vẻ ngạc nhiên, sao lại thế, muốn đánh đuổi gì người ta cũng phải hiểu người ta đã, không học tiếng Pháp sao được?

 

Chuyện đầu thế kỷ XX mà nghe như chuyện của chính chúng tôi trong thời chống Mỹ. Và nếu ông Đị Ôi lại biết thêm rằng khi Việt Nam đã có độc lập, việc hạn chế học ngoại ngữ có lúc dù không ghi thành văn bản nhưng thực đã trở thành một thứ luật lệ, thì không rõ ông sẽ bình luận ra sao.

 

Mất hết cả sự khao khát

Những anh em lên Sapa về thường kể, không hiểu tại sao tuy chỉ tích luỹ theo kiểu học lỏm khách du lịch mà nhiều thanh niên dân tộc H’mong trên đó nói tiếng Anh rất giỏi, trong khi nhiều người Kinh mình gần đây học có bài bản hẳn hoi mà nói vẫn rất quê.

 

Từ chuyện có vẻ ngược đời đó, vẫn trên cái mạch đi tìm những ảnh hưởng của văn hoá đối với việc học ngoại ngữ, tôi muốn nêu một giả thiết:

 

Tuy không nói ra rành rọt, nhưng những thanh niên H’mông kia hiểu rằng ngoài cái thế giới mà họ đang sống, còn có thế giới rộng hơn, gần nhất là thế giới của người Kinh. Và muốn tồn tại họ phải hoà nhập với thế giới đó. Tức là ý thức về mình và kẻ khác của họ đã phát triển và nó ăn vào trong tâm thức họ, đời nọ truyền sang đời kia. Khi tiếp xúc với một thứ tiếng mới, họ có nhu cầu buộc mình cố bắt chước nói cho thật giống.

Còn ngược lại, nhiều người vùng xuôi khi tiếp xúc với người nước ngoài, tuy ở ngay các đô thị lớn, song thường thiếu nghiêm túc, không coi là chuyện thiết yếu liên quan đến cuộc sống của mình.

 

Sự xem thường đó là cả một thứ vô thức tập thể kéo dài và bền chắc, nó lưu cữu trong ta, và tha hồ tác oai tác quái.

Miền Bắc xã hội chủ nghĩa chúng tôi hồi chiến tranh là thế chứ còn gì nữa!

 

Để những bẽ bàng đừng lặp lại

Gần ba chục năm, tôi công tác ở một nhà xuất bản. Thỉnh thoảng, cơ quan tôi cũng có khách nước ngoài và khi tiếp khách, ông giám đốc không quên mời một số nhân viên cùng dự.

 

Nhưng sau một ít lần háo hức, những ngày về sau, phải thú thực tôi rất ngại.

Phần thì tiếng tăm không biết.

 

Phần thì, trong những buổi gặp đó, thường chúng tôi hiện ra vô duyên thảm hại.

Đại khái muốn trò chuyện về văn chương thì phải hiểu văn chương nước người ta ra sao, muốn bàn về xuất bản phải hiểu tình hình xuất bản bên họ thế nào. Đằng này chúng tôi mù tịt.

 

Theo lời một nhà thơ nổi tiếng là có đầu óc rất tỉnh và cũng từng là quan chức đầu ngành của văn nghệ Hà Nội là Vũ Quần Phương -- thì nhiều cuộc gặp gỡ của các nhà văn ta với nhà văn nước ngoài bí chuyện trao đổi với thảo luận quá, rút lại chỉ còn nói tiếu lâm và bàn chuyện ăn uống, đại khái hỏi họ bên nước ông ăn thìa hay ăn đũa, rồi tán dần ra.

 

Vài lần chầu rìa và ngồi nói tào lao như thế qua đi, giờ đây “nhỡ “ được gọi tiếp khách là tôi xin kiếu. Một số bạn bè cùng lứa cũng có tâm trạng như trên.

 

Chúng tôi muốn các bạn trẻ biết cho chuyện này và đừng lặp lại. Dẫu sao, khi vào đời, một sinh viên cũng phải có được một ngoại ngữ. Đó là dấu hiệu để có thể nói rằng mình và thế hệ mình đã đi ra và muốn làm bạn với thế giới. Ngoại ngữ cũng chính là phương tiện để đạt tới cái đích tự nhiên đó.

 

Còn nếu như sau khi đã quyết tâm rồi mà các bạn vẫn không sao học nổi thì xin có hai đề nghị có vẻ trái ngược nhau:

 

Một là các bạn đừng trách mình nhiều. Nói thật, lỗi không phải ở các bạn đâu mà lỗi là ở những người đi trước, nay các bạn vẫn đang phải gánh chịu những di lụy của quá khứ.

 

Hai là tuy vậy, các bạn vẫn phải tìm bằng được cách vượt lên để học những điều cần học. Con người phải có ao ước vượt qua định mệnh. Nếu chúng ta tiếp tục dốt nát tức chúng ta mãi mãi là tù nhân của quá khứ.

 

Nguyên là bài

"Tại sao người mình kém ngoại ngữ?"

Báo Sinh viên Việt Nam

10-2006


Từ hồn ma biến thành quỷ dữ

Ngày đăng 7/1/2016

 

Tôi thường mang tiếng là chỉ nhìn ra trong đời sống những cái thô lậu xấu xí, chắc là trong suy nghĩ thiếu chất thơ, có người đã nhận xét. Sự thực, tôi vẫn đến với thơ theo cách riêng.

 

Trong sổ tay của tôi còn ghi được nhiều bài thơ, kể cả thơ dịch, mà tôi từng thích (và có một số bây giờ đọc lại vẫn thích), lại có vẻ như ít được mọi người biết. Tôi định dần dần sẽ chép ra trên blog hoặc facebook để kiểm tra xem chúng có được đồng cảm không.

 

Sau đây là một trong những bài đó, tôi chép từ những năm trước 1975, không nhớ bài đã in ở báo nào năm nào, may mà còn nhớ ghi tên tác giả là nhà thơ Mỹ Felik Pollak (1909 – 1987).

NGƯỜI ANH HÙNG NÓI

Tôi đã không chịu đi

Chúng bắt tôi vào quân dịch

Tôi đã không muốn chết

Chúng gọi tôi là nhát hèn

Tôi đã tìm cách trốn

Chúng mang tôi ra tòa án binh

Tôi đã không nổ súng

Chúng bảo tôi là không có thớ

Chúng mở cuộc xuất kích

Một viên đạn ngấu nát ruột tôi

Tôi đau quá khóc lên

Chúng đưa tôi vào hầm trú ẩn

Trong hầm tôi đã chết

Chúng lặng lẽ chào tôi

Chúng đã gạch tên tôi

Và chôn tôi dưới một cây thánh giá

Chúng đọc điếu văn trong thành phố tôi sinh

Tôi không thể kêu lên là chúng nói dối

Chúng nói tôi đã cống hiến đời mình

Tôi thì cố mà giữ lại

Chúng nói chúng tự hào về tôi

Tôi thì đã xấu xa đi vì chúng

Tôi đã muốn sống còn

Chúng gọi tôi hèn nhát

Tôi đã chết hèn nhát

Chúng gọi tôi anh hùng

Xuân Diệu dịch

 

Để kiểm tra lại mức độ phổ biến của bài thơ, tôi đã lướt nhanh trên mạng và thấy một bạn đã tra nó ra cả bản tiếng Anh và dịch lại. Các bạn có thể tìm ở địa chỉ sau

http://zung.zetamu.net/20…/…/felix-pollak-speaking-the-hero/

 

Tự nhiên tôi tính đưa lại bài thơ này vì sáng 25/12/2015, mở báo Tuổi Trẻ, thấy có đưa bài viết có liên quan tới cuộc bình chọn 10 sự kiện VH-TT&DL tiêu biểu 2015, trong đó có việc đưa cả Nhà VN Expo 2015 vào giải. Về sau, sự việc đã được điều chỉnh lại. Nhưng cái lý gò ép mà các quan chức đưa ra lúc đầu thì rất đáng chú ý .Nó liên quan tới bài thơ của F.Pollak ở trên. Hóa ra nhiều khi người ta trở thành anh hùng hay được giải ở một cuộc thi đi chăng nữa chẳng phải là do giá trị hơn người gì cả, mà chẳng qua chỉ vì sự sắp xếp của người khác.

 

Ngày nay chúng ta đã biết không biết bao nhiêu trường hợp vinh thăng trong bê bối mà vẫn trót lọt. Có những giá trị to đùng mà hóa ra chỉ là sản phẩm của ý chí ai đó hay nhóm người nào đó .

 

Ta hay bực vì nhiều khi đằng sau chuyện giải ấy là chuyện tiền nong của cải.

Còn đối với những người anh hùng bất đắc dĩ, nó là chuyện ai mà từ chối dịp may, ta hay bỏ qua.

 

Nhưng tôi biết là sau khi được vinh thăng, vị anh hùng “giả cầy" hôm qua tưởng mình là anh hùng thật. Không phải tất cả, nhưng đúng là có một số. Sự thông minh trong họ thức dậy, một sự thông minh của quỷ dữ. Và họ hiểu rằng cuộc đời này chẳng qua là chuyện bịp, cứ lấn tới là sẽ thắng. Bấy giờ chúng ta có một thế giới đảo ngược.

 


Manh mún rời rạc, kém cỏi trong kết dính hòa nhập

Ngày đăng 9/1/2016

 

Đồng bằng sông Hồng, như học giả P.Gourou - tác giả "Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ" viết từ những năm ba mươi thế kỷ trước - nói, là một trong những vùng đất có mật độ dân số cao nhất thế giới.

 

Nhưng nét đặc biệt của cư dân nơi đây là sống rời rạc. Cũng có những làng có tới ngàn dân, nhưng tuyệt đại đa số là các làng nhỏ.

 

Theo Vũ Quốc Thúc, trước 1945, ở Thái Bình có hai làng chỉ có 13 -24 cư dân; ở Ninh Bình, có những làng không quá 10 dân.

Diệp Đình Hoa còn cho biết từ đầu thế kỷ XX vẫn còn không ít làng chỉ có một xuất đinh tức là một người đàn ông ("Người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ", NXB Khoa học xã hội, H.2000)

 

Ăn ở rời rạc như thế, người ta lại quá tin ở cái làng của mình, và đẩy nó lên thành một giá trị tuyệt đối. Các làng ở cùng quanh chân một ngọn núi đều đặt tên riêng cho ngọn núi ấy. Như núi Thiên Thai ở Bắc Ninh có đến 7 tên. Hoặc nếu có một con sông chảy qua các làng thì đến làng nào, sông được đặt tên theo làng đó. Cũng thờ chung thánh Tản Viên làm thành hoàng, nhưng mỗi làng, mỗi vùng lại nghĩ ra một cách cúng tế riêng, có làng cúng trâu có làng cúng bò, làng cúng lợn đen, làng cúng gỏi cá…

 

Xã hội được hình thành theo lối vón cục. Cả nước đâu cũng thấy chùa chiền, nhưng toàn là những chùa nhỏ lụn vụn.

 

Chùa Một Cột là gì nếu không phải là một chứng tích rõ ràng của sự lỡ làng, ở đó một ý định độc đáo không được hiện thực hóa bằng một hình thức hoành tráng tương xứng.

 

Chợ quê xưa không phải là một cơ cấu có phân ra các khu vực rõ ràng, sự nối tiếp chặt chẽ, chợ chỉ là một tập hợp của các hàng rong. Trước thời hiện đại, các đô thị của chúng ta cũng được hình thành tùy tiện bát nháo như vậy.

Trong khi đó thì theo Đặng Thai Mai từ đời Tần, xã hội Trung Quốc đã đạt đến trình độ “Thư đồng văn xa đồng quỹ ( sách cùng một loại chữ, trục ngang các loại xe cùng một kích cỡ, khiến cho mọi con đường đều phải có một chiều rộng thích hợp).”

 

Vì thói quen, và cũng vì muốn được buông thả rồi sau thì vì ương bướng, tùy tiện không chấp nhận những gì khác mình, người ta không muốn sống tập trung, và điều này làm cho trình độ làm ăn thêm trì trệ mà cách nghĩ của con người cũng hèn kém đi.

 

Manh mún rời rạc gần như đã trở thành “khí hậu” của xã hội Việt.

Tương truyền là ở nhà Cao Bá Quát có dán đôi câu đối

Nhà trống ba gian, một thày một cô một chó cái –

Học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi.

 

Đọc lên người ta thường chỉ nói tới tinh thần khinh bạc mà quên rằng ấn tượng chính toát lên ở đây là cái gì hoang lương, lơ thơ, vắng vẻ, một thứ “tèo teo cảnh” nói theo chữ của Nguyễn Gia Thiều.

 

Thế thì còn nói chi đến việc truy tầm chân lý, mở mày mở mặt ra với thiên hạ?

“Nho gia châm ngôn lục” là một cuốn trích tuyển các ý kiến trong sách vở cũ của Trung Quốc, bản tiếng Việt dịch là “Sách ghi những châm ngôn của nhà nho”, trong sách có câu liên quan tới khả năng tư duy của con người:

Thù thù nhi xứng chi, chí thạch tất mậu;

thốn thốn nhi độ chi, chí trượng tất sai.

 

Đại ý muốn lưu ý rằng kẻ quen suy nghĩ trong một phạm vi chật hẹp (cân từng thù, đo từng tấc) khi phải bao quát những vấn đề rộng lớn (cân từng thạch, đo từng trượng) thả nào cũng làm hỏng việc.

 

Chuyện này với chúng ta ngày nay là một ám ảnh. Manh mún rời rạc chi phối chúng ta trong xây dựng một khu đô thị làm một con đường, cho tới tổ chức các hoạt động thông tin, ra một tờ báo.

 

Tầm nhìn của nhiều người khi đứng ra quản lý công việc quốc gia vẫn là tầm nhìn làng xã, từ đây đã để lại bao bi kịch.

 

Manh mún rời rạc cũng làm cho người Việt rất khó phối hợp với nhau trong công việc.

Adam Smith viết ngay trong chương I cuốn “Của cải của các dân tộc”: Một xí nghiệp chỉ có 10 công nhân, với những máy móc đơn sơ của thế kỷ XVIII, có thể làm 48.000 đinh ghim trong một ngày công, trung bình một người làm được 4.800 đinh. Còn nếu họ làm ăn riêng lẻ và không kết hợp được với nhau thì mỗi người không thể làm nổi 20 đinh, thậm chí là một đinh.

 

Theo A. Smith, sự phân công lao động không chỉ mang lại mang lại cho người ta năng suất, sự khéo léo mà còn óc phán đoán đúng đắn tức là khả năng cải tiến công việc, để ngày mỗi hoàn thiện nó, ngày mỗi đưa nó đến chỗ tinh xảo.

Nhưng sự phân công và phối hợp lại là yếu tố khó thực hiện nhất trong trường kỳ lịch sử của người Việt. Ở các làng nghề, việc tổ chức sản xuất hình thành theo yếu tố gia tộc. Chỉ có máu mủ ràng buộc. Ngoài ra,không ai cộng tác được với ai.Giữa các làng thì lại càng không thể cộng tác nếu không nói xu thế chủ yếu là dấu nghề và bài bác nói xấu nhau.

 

Tôi nhớ đầu những năm 2000, có lần đi qua phố Bần. Nơi đây nổi tiếng với thứ nước tương quen thuộc của Bắc Bộ. Nhưng một đoạn phố nhỏ trên trăm mét mà tới vài chục hàng tương, hàng nào cũng mấy cái chai La Vie xúc sạch đổ tương vào, trông đều đặn đến phát ngán. Liệu một ngày sẽ có bao nhiêu người mua không ai cần biết. Lại càng không ai đứng ra tính toán xem chỉ cần một cửa hàng bao nhiêu người đứng bán là đủ. Người ta chỉ nghĩ là hàng bên cạnh còn mở thì mình vẫn mở. Đi làm nghề khác ư, không ai muốn và đây là cách nghĩ từ xưa chứ không phải hôm nay mới có.

 

 

 


Có phải người Việt Nam đang muốn hủy diệt lẫn nhau?

Ngày đăng 11/1/2016

 

Dưới cái đầu đề như vậy, một bài trên mạng Lê Văn Út 11/10/2011, kể ra các trò lừa đảo dân ta dùng với nhau hàng ngày kể cả việc dùng hóa chất tràn lan có có hại đến tính mệnh con người.

 

Tôi muốn bổ sung một tình trạng ít nổi cộm, nhưng lại phổ biến hơn, nó nằm sâu trong tâm thức con người, và tuy không nói ra, nhưng ở chỗ riêng tư không mấy ai phản đối. Đó là tình trạng người mình trong xu hướng kiếm tiền đang có tâm lý mong cho người khác càng hư hỏng tồi tàn càng tốt, nhờ thế mình có lý do tồn tại.

Người chế ra hàng hóa muốn chế phẩm của mình chóng hỏng để người ta phải mua hàng mới.

 

Thầy giáo muốn học sinh học kém để còn phải tìm đến nhà mình học thêm.

Dân làm tổ chức các cấp muốn các trường đại học chỉ đào tạo ra các sinh viên dốt nát để họ khi ra trường phải đến quỵ lụy chỗ mình xin việc.

Người cán bộ thuế mong người buôn bán khai man để còn phát hiện và nhân đó mang cái phần trốn thuế kia cưa đôi, mỗi bên ăn một nửa.

 

Sếp lớn trong ngành văn nghệ của chúng tôi trong những năm chiến tranh là Tố Hữu. Tôi chưa đến cái cỡ được làm việc với ông, chỉ nghe một vài bậc đàn anh như Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Nghi kể lại là trong công tác, ông sẵn sàng dùng những người bất tài, hoặc có những lỗi nặng. Dùng thế để dễ dàng quát mắng và sai bảo thế nào cũng được - mãi rồi anh em mới đoán mò ra vậy.

 

Đấy là cấp trên. Còn cấp dưới thì sao?

Lâu lắm rồi - cũng là hồi đang chiến tranh - tôi nghe một cán bộ cũng cỡ tốt nghiệp đại học xoàng xoàng bọn tôi kể rằng rất sợ phải làm việc với các ông cấp trên đứng đắn quá, những bố mô phạm ấy bao giờ cũng khắt khe, đâu có biết với đồng lương thế này cấp dưới sống sao nổi.

 

Cho nên anh ta khi xin việc toàn nhăm nhăm tìm về những nơi cấp trên có phốt, để mà “còn sống với đời” như anh ta nói .

Gần đây gặp lại thấy anh ta đổi giọng:

- Thế này mới biết là lớp trẻ thời nay nó sướng hơn mình. Tức là chúng không phải kén chọn nữa. Cái loại cấp trên đứng đắn xưa đã tuyệt chủng, thời nay cấp trên lại khuyến khích mình hư hỏng kiếm chác, miễn là trích một khoản nộp cho họ đầy đủ. Thật là mấy chục năm trước bọn mình nằm mơ cũng thấy lại có thời sung sướng như thế này!


Những nguy cơ của hiện đại hóa

Ngày đăng 25/1/2016

 

Báo Pháp “Khoa học & đời sống” một số đã lâu từng viết về “Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI”, tạp chí “Tia sáng” số 9/1998 đã dịch lại gồm có :

1/ Nhiệt độ tăng

2/ Đất thoái hóa

3/ Nước hết

4/ Hóa chất làm ô nhiễm

5/ Vùng biển bị khai thác quá mức

6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…

Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.

Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội:

7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và

8/Đô thị hỗn loạn.

 

Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những thị dân hung dữ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

 

“Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”.

 

Thành thị đã vậy còn là nông thôn? Tại một cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam, một báo cáo về tình trạng nông thôn dẫn lại hai ý sau :

 

- Theo Alain Touraine, trong nền kinh tế hiện đại, nông thôn được xác định bằng tình trạng bên lề và sự thất nghiệp.

 

- Còn theo M. Foucaul, nông thôn trở lại cái trạng thái tự nhiên như sự trì trệ mất hiệu ứng trước sự phát triển của nền kinh tế và trở thành mảnh đất màu mỡ cho những hành động phản văn hóa. Nông thôn không chỉ nghèo đi về vật chất và về tinh thần, mà còn hỗn loạn.

 

Tâm lý bất lực

Đối với nhiều người dân mình, hội nhập thường được hiểu như là quá trình ta có thể tha hồ mua sắm và sử dụng hàng nước ngoài, thêm nữa thì học theo cách làm ăn của họ chứ còn tư tưởng tình cảm thì mình vẫn là mình. Nhưng tôi cho rằng trước tiên, ta cần nghiên cứu về bước đường mà các dân tộc thế giới đã đi, cái hay thì học theo cái dở thì tránh.

Một trong những cái mà chúng ta nên sớm biết là những những nguy cơ đã đến với sự phát triền con người ở các xã hội đó trong quá trình hiện đại hóa.

 

Denis Goulet tác giả cuốn sách tiếng Anh “Sự lựa chọn nghiệt ngã: một khái niệm mới trong lý thuyết phát triển” N.Y 1971 có đoạn viết về các vấn đề tâm lý của người dân các nước tương tự như nước ta hiện nay: “Tình trạng kém phát triển thật là kinh khủng: nghèo khổ bệnh tật những cái chết không cần thiết và hoàn toàn tuyệt vọng”.

 

Sau khi bảo rằng có cả một cú sốc của tình trạng kém phát triển, cú sốc xảy ra khi những người đang sống trong cản cơ hàn bỗng nhận ra rằng cuộc sống của mình không phải là cuộc sống bình thường, tác giả viết tiếp rằng có một tâm trạng phổ biến, đó là “ý thức về sự bất lực của cá nhân cũng như của xã hội” trước bệnh tật và cái chết cũng như trước thiên tai và nạn đói.

 

Một cảm giác tương tự cũng nảy sinh khi con người ta chợt nhận ra xã hội dò tìm lối thoát với “biết bao lúng túng và ngu dốt”, trong khi đó thì lại nẩy sinh một cách vô duyên thái độ bợ đỡ đối với những kẻ mà quyết định của họ chi phối quá trình và diễn biến các sự kiện.

 

D. Goulet tóm tắt “Nghèo kinh niên là một thứ địa ngục, và ta sẽ không thể hiểu cái địa ngục đó là khủng khiếp thế nào nếu chỉ đơn thuần xem nghèo khổ như một vật thể?

 

Tôi chép lại các ý này từ cuốn sách của tác giả Michael P. Todaro, “Kinh tế học cho thế giới thứ ba”, bản tiếng Việt của NXB Giáo Dục 1998, tr. 141.

 

 


Nhân chuyện cây cảnh, thử bàn một vài khía cạnh trong văn hóa Tết của người mình

Ngày đăng 3/2/2016

 

Một đoạn sổ tay ghi về quất từ tết Ất Dậu 2005

 

1/Đi đâu cũng thấy nói thành phố năm nay nhiều quất.

Một người nước ngoài sống ở Hà Nội thú nhận: nhiều khi ngồi trên ô-tô thấy một người đèo cây quất đi qua, đẹp quá, ông ta chỉ muốn giơ tay hái một chùm làm kỷ niệm.

 

Nhưng khi theo mọi người đi mua quất, điều đầu tiên tôi có thể nhận xét, ấy là phổ biến loại quất to, cao đến ngực đến cổ, có hình cây thông.

 

Chắc chắn là so với những căn phòng chật hẹp của đa số người dân thành phố thì cây nào cũng to quá không hợp.

 

Nhưng sức chịu đựng của chúng ta bây giờ lớn lắm, nhìn những cây quất lù lù đứng giữa nhà mà chẳng ai thấy chướng, lại còn nháy mắt tự hào nữa! Hình như ở đây có sự xuất hiện của cái tâm lý hiếu đại (thích tỏ ra lớn), một thứ tâm lý phổ biến hiện thời.

 

“Nhất định là ta không chịu kém hàng xóm về cái khoản quất này”, nhiều người nhủ thầm trong bụng.

 

Như khi đi đường, họ nhấn còi inh ỏi.

 

Như khi mua được cái đầu về nhà hát karaoke với nhau, họ cố mở loa thật to, để hàng xóm phải biết là nhà họ có karaoke mới thôi.

 

Một cái khổ khác, là nạn quất giả. Kỹ thuật buộc thêm cả túm hoặc cắm những quả rời vào đầu cành đã có từ lâu.

 

Gần đây còn nảy ra một thứ kỹ thuật siêu hạng hơn, tôi chưa có dịp hỏi kỹ chỉ nghe đâu như người bán hàng phun hoá chất, hoặc quết cho các quả xanh một lớp nước muối, thế là chín đều cả (cà chua cũng có chuyện này).

 

Chỉ có điều mang về vài hôm thì rụng hết.

Nhà tôi cũng lâm cảnh đó.

 

Ngày ba mươi và sáng mồng một, vợ tôi có thêm mối lo là vừa nấu nướng vừa lắng nghe, hễ có tiếng bộp một cái là nhặt ngay, chỉ sợ để gốc quất đầy quả rơi thì lộ ra cái kém cỏi mua phải hàng lừa. Và lại xúi quẩy nữa.

 

2/ Nghĩ thêm về nạn quất giả, tại sao cái thói kỳ cục ấy lại nẩy nòi ra và ngày một phổ biến?

 

Tôi cho rằng trước tiên là tại người mua. Nghĩa là tuy không ai nói ra, nhưng khi đi mua cái món hoa tết này, ai cũng chỉ thích thứ gì giá rẻ mà lại thật đầy đặn thật rực rỡ, ngoài ra với số tiền ấy có đủ làm ra thứ quất như họ mong muốn hay không thì không ai cần biết.

 

Biết thóp vậy, người sản xuất đáp ứng ngay. Kỹ thuật hiện đại đã kịp thời có mặt trợ giúp cho họ. Và rút lại thì vẫn tiền nào của ấy. ở ta, cái sự người làm hỏng người nhiều khi chỉ bắt đầu bằng những nguyên nhân thật hồn nhiên và đơn giản.

Chỉ có cái khổ là bây giờ muốn mua loại quất thứ thiệt, loại quất không cần đắp điếm mà vẫn chín đẹp, người ta chỉ có cách mò lên đến tận vườn; và chuyện kiếm quất biến thành chuyện kết thân giữa người bán người mua, chứ không còn là hoạt động thương mại bình thường nữa.

 

Vả chăng, cái sự làm quất giả giờ cũng đã lây từ những người nông dân ở các tỉnh xa tới một ít gia đình chuyên nghề trồng quất ở Nhật Tân cũ. Gì thì gì, chứ cái lối kiếm tiền kiểu này người ta học nhau nhanh lắm, và cái chuyện anh dốt dạy anh giỏi, anh không có nghề dạy anh có nghề … là chuyện rất thường.

 

Trở lại chuyện gia đình tôi

- Biết thế sang năm mua quất ta phải cẩn thận – tôi nói với bà xã.

- Ngày tết ai cũng mua bán như ăn cướp, lấy đâu thời giờ mà lắc từng quả quất để xem giả hay thật. Mà nhỡ đi cả chợ không tìm ra một gốc quất có thể tin cậy được thì chẳng nhẽ quay về à? Hay là lại bảo nhau mua phiên phiến đi cho nhanh rồi tự an ủi rằng chắc nhiều người chứ không riêng mình bị lừa - vợ tôi đáp lại với vẻ hào hứng như là biết chắc thảo nào tôi cũng thua cuộc.

 

3/ Tôi nghĩ đến một vài bạn nước ngoài lần đầu ghé thăm Hà Nội cũng mua quất về đón xuân, không hiểu họ nghĩ gì khi nhặt những quả quất rơi, và lần sau còn muốn đến Hà Nội trong những dịp tết nữa hay không?

Và tôi định bụng phải viết một bài báo nói về chuyện này để mọi người, nhất là những người nông dân trồng quất và dân buôn quất biết.

 

Nhưng một con người khác trong tôi lên tiếng bác ngay:

- Ơ hay, chính là một ông ở Tổng cục du lịch gần đây còn lên Tivi tuyên bố rằng du lịch Việt Nam là du lịch khám phá, nói nôm na tức là “chỉ cần khách đến một lần chứ lần sau họ có đến nữa hay không thì không cần biết”.

 

Cán bộ du lịch nghĩ thế và dân trồng quất làm thế, phối hợp ăn ý quá, còn phải ý kiến ý cỏ gì nữa cho thêm rách việc.

 

GHI THÊM 3/2/2016

Mấy ý trên được ghi đến nay đã 11 năm. Nhưng tôi yên tâm mang trình trên facebook với niềm tin rằng thời gian qua đi, những cái dở cái tầm thường trong cách làm tết của dân Hà Nội chỉ ngày càng phát triển và có những nét biến hóa thông minh hơn dai dẳng hơn.

 

Lừa nhau trong chuyện quất còn là nhỏ, nay người ta lừa nhau trên những cái lớn hơn nhiều. Và nó không chỉ bó gọn trong lối chơi cây cảnh của người mình cũng như tinh thần các cuộc lễ hội mà là trên mọi phương diện của đời sống.

Và đây một phương diện khác của văn hóa Tết - Sẵn sàng tàn phá thiên nhiên để thỏa mãn niềm vui chốc lát

 

Trong bản tin VTV1 phát 19h tối 1/2/2016 vừa rồi, tôi nhớ có cả một chuyên mục nói về nguy cơ những rừng đào ở các vùng núi gần Hà Nội bị tận diệt.

Trên màn hình là cảnh đào rừng chất trên xe khách và đằng sau xe máy từ Sơn La , Mộc Châu đổ về Hà Nội, trong khi các gốc đào nơi sở tại trơ trọi, và cả khu rừng rã rời tan nát.

 

Chợt nhìn những tờ báo xuân mới ra.

Ngổn ngang quảng cáo và cũng không thiếu những cành hoa tươi tắn.

 

Không có báo nào nói tới chuyện dân mình tàn phá thiên nhiên để tìm những niềm vui sướng mà ai cũng cho rất thiêng liêng.

 

Tuyệt đối không.

 

Nhờ các bạn kiểm tra xem tôi có hàm hồ không.

 

Chuyện hoa năm nay

Ngày đăng 10/2/2016

 

Một người bạn bên phố cũ kể rằng đào và quất năm nay ế. Rồi anh kể thêm cái chuyện giải quyết hàng ế ẩm ở mình buồn cười lắm. Nhiều nhà chung quanh chợ đã đoán năm nay hoa khó bán, nên họ chờ sẵn, chiều tất niên ra nài nẫm hỏi xin mà nhiều khi lại chỉ biết dùng những lời lẽ khó nghe. Dân bán hoa tức lắm. Không thể mang về vì vận chuyển khó mà trồng lại cũng vất vả, họ đành chặt hạ những cây quất cây đào mà lúc trước giá hàng triệu, rồi mang vứt đống rác cho hả.

 

Giá ở địa vị người trồng hoa, tôi nghĩ mình cũng đành làm thế. Vì mấy người đi xin kia thực ra có yêu gì hoa. Họ chỉ lợi dụng đau khổ của kẻ khác. Nghèo không có tiền mua hoa ư? Sao không chọn lấy những cành vừa túi tiền và cũng vừa khung cảnh gia đình mình. Một cành đào nhỏ đặt trên bàn thờ hôm 23-24 tết giá cũng chỉ 40- 50 ngàn, đâu có là quá đắt.

 

Ca dao cũ có câu “Ra đường thấy cánh hoa rơi – Hai tay nâng lấy cũ người mới ta”.

Nay cũng có người làm thế. Một số người tạm gọi là nghèo hiện nay có lối chơi đào như sau. Họ mua những cây đào dại chở theo xe tải về, rồi gỡ ra thành nhiều cành nhỏ, và cắm lại theo kiểu người ta cắm la-dơn. Óc thẩm mỹ của con người có dịp bộc lộ.

 

Nhưng người biết làm thế ít lắm. Phần lớn cứ nhặt đại ở chợ rồi về và đào càng kềnh càng dị dạng họ càng tự hào ra cái điều thách thức với đời.

Nhân đây tôi nhớ một lần đi qua Nam Kinh Trung quốc. Người ta kể rằng ở đó mai đào rất nhiều, nhưng là mọc thành rừng ở ngoại ô. Ngày xuân, bạn bè và gia đình kéo nhau đi thưởng hoa. Tôi đoán trên thế giới không có trò a dua chơi đào riêng từng nhà như mình, rồi lấy chuyện cành to cành nhỏ, cành nhiều lộc cành ít lộc ra để khoe. Với người Việt, chỉ những cái thuộc về của mình người ta mới cho là đẹp.


Lễ bái như một thứ chạy tội

Ngày đăng 15/2/2016

 

Nhân chuyện lễ bái ngày tết, tôi nhớ một câu tục ngữ:

Ăn trộm ăn cướp thành Phật thành tiên

Đi chùa đi chiền bán thân bất toại.

Trong nghĩa ban đầu, câu nói chỉ muốn cảnh cáo rằng mọi chuyện không phải bao giờ cũng công bằng, động cơ không phải bao giờ cũng tương ứng với hậu quả, rõ thật sự đời là đỏng đảnh, là đa đoan rắc rối.

 

Thế nhưng đôi khi ngồi nghĩ quẩn, tôi lại thấy có thể giải thích như sau:

- Hình như ngày xưa có sự phân chia rành mạch.

 

Đã ăn cắp thì không dám tính chuyện đi đền đi chùa.

 

Ngược lại lễ bái là cả một việc thiêng liêng mà chỉ những người còn hy vọng ở sự tốt đẹp của đời sống mới thành tâm theo đuổi.

 

Hai loại người hai cách sống, rành mạch đâu ra đấy.

- Còn ngày nay, càng những người “có chuyện”, bao gồm từ buôn bán bất chính giả dối lừa lọc cho tới các loại quan chức lấy của công làm của tư, nhận hối lộ, tham ô ăn cắp (nói nôm na thì tham nhũng cũng chỉ là một loại ăn cắp) lại càng kỹ càng trong việc cúng bái.

 

Bởi một đặc điểm của thời nay là con người thừa hiểu mình đang làm việc xấu, song vẫn cứ làm.

 

Mà cũng bởi người ta tin rằng thần thánh cũng như người, giá năng đến năng xin, và quà bánh lót tay cho thật hậu hĩnh, thì tội lớn thế nào cũng tha bằng hết.

 

Thành thử mới sinh ra tình trạng đen trắng lẫn lộn, bắt cá hai tay. Càng giỏi kiếm chác càng hăng hái đi đền đi chùa. Và cầu cúng xong rồi thì về thêm yên tâm tiếp tục làm bậy.

 

Tôi không dám tin rằng cách giải thích này đúng với tất cả mọi trường hợp nhưng đang đúng với một tỷ lệ nào đó ngày càng lớn, năm sau lớn hơn năm trước.

 

Với các trọc phú thời nay, lễ bái đang là một thứ chạy tội.

Phải chăng cái xấu, cái ác đã thấm quá sâu trong cuộc sống chúng ta?

 

Ngày đăng 16/2/2016

 

Trên trang facebook ngày 13/1/2016, tôi đã dẫn ra sự phê phán của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hậu với truyện “Cây tre trăm đốt”.

 

Đọc vào chuyên mục Góc nhìn của VN Express 26/12/2015 lại thấy trường hợp tương tự. Đó là bài của Lương Hoài Nam có liên quan tới truyện “Gốc tích cái nốt dưới cổ con trâu”. Bài viết mang tên “Sao lại dạy điều xấu, việc ác?” có đoạn đầu như sau:

 

Truyện kể rằng: Ngày xưa trâu và người nói cùng một thứ tiếng. Một người làm ruộng thuê một cậu bé chăn trâu. Do ham chơi, cậu bé không dắt trâu đi ăn, mà cột trâu lại một nơi rồi bỏ đi chơi khăng. Cuối ngày, để che mắt chủ, cậu lấy mo cau áp vào bụng trâu, trát bùn ra ngoài rồi dắt trâu về chuồng. Cậu khôn ngoan dùng lời lấp liếm, không cho trâu có dịp mở miệng. Nhưng đến một hôm, khi chủ dắt trâu đi cày, trâu mách. Chủ biết chuyện, đánh cho cậu bé một trận tả tơi. Cậu bé ngồi trên bờ ruộng khóc. Bỗng dưng một ông lão hiện ra, hỏi cậu vì cớ gì mà khóc. Cậu bé giải thích rồi bày tỏ mong muốn “làm thế nào trâu không nói được nữa”.

 

Ông lão bèn rút từ trong người ra một que hương, đốt lên rồi bất thình lình gí vào dưới cổ con trâu. Con trâu kêu oai oái, tiếng nói của trâu dần dần mất hẳn, chỉ còn “nghé ọ” được mà thôi. Chỗ bị thương sau này thành một cái nốt và từ đó trâu không còn nói được nữa.

 

Tôi sốc bởi trong truyện này, cậu bé chăn trâu là một kẻ xấu. Cậu lười lao động, khôn lỏi, gian dối với người và tàn nhẫn với trâu - loài động vật hiền lành, có ích. Ông lão (ông Bụt) khi biết chuyện đã không dạy bảo điều khôn, lẽ phải cho cậu, lại còn thương hại kẻ xấu mà ra tay làm điều ác với con trâu.

Chúng ta muốn dạy người Việt Nam điều gì qua truyện cổ tích phản giáo dục này, khi điều xấu, việc ác không những không bị lên án, mà còn được chia sẻ và tiếp tay?

 

 

 

BÌNH LUẬN BỔ SUNG

Một điều thấy rõ ở truyện này: cái xấu cái ác ở xã hội cổ truyền Việt Nam phổ biến quá, nó nhập vào ngay những con người mà ta tưởng không bao giờ ác, như chú bé chăn trâu, như ông bụt. Mà cái ác ở họ sao tự nhiên dễ dàng vậy.

Tác giả Lương Hoài Nam tỏ ý thắc mắc “Tôi không hiểu tại sao chúng ta lại tuyên truyền những truyện như thế? Lại còn dịch ra tiếng Anh cho bạn bè quốc tế đọc nữa.”

 

Tôi muốn đi xa hơn một chút: tại sao lâu nay những truyện như thế không được mang ra mổ xẻ phân tích?

 

Và tôi tự giải thích :

Một đặc điểm của người Việt ngay cả giai đoạn hiện tại là những ảo tưởng về mình.

 

Ta cứ nghĩ căn bản truyện cổ tích Việt Nam nào cũng hay với nghĩa dạy bảo cho chúng ta nhiều điều sâu sắc còn đang thích hợp với cuộc sống hiện tại. Mà sâu sắc hơn cả: dân ta rất thông minh tài trí, và sống với nhau rất nhân hậu.

 

Chính cái tâm thức đó đã là bệ đỡ cho nhiều điều xấu xa độc ác mà hàng ngày chúng ta gây ra cho nhau, làm khổ nhau và trong một số trường hợp - đang còn ít ỏi nhưng chắc sẽ tăng lên nay mai - còn xuất khẩu ra nước ngoài nữa.

 

Chừng nào năng lực tự nhận thức của cộng đồng chúng ta còn ở mức hạn chế như ngày nay, chúng ta sẽ rất khó ra với thế giới và do đó rất khó cải thiện đời sống trước mắt.


Bạo lực có nguồn gốc sâu xa trong tâm lý và cách sống cộng đồng 

Ngày đăng 18/2/2016

 

Một bài trả lời phỏng vấn cũ với trang mạng VnMedia

Tên cũ “Người Việt sống bằng hành động nhiều hơn suy nghĩ”

 

PV MINH PHƯƠNG: Chia sẻ với ông, trong các vấn đề xã hội gây bức xúc, dư luận cũng quan tâm và lên tiếng mạnh mẽ đấy, nhưng rồi hầu như “chẳng làm thêm được gì”. Có người cho rằng, xã hội đã nhờn thuốc với những lời cảnh báo, hô hào…

VTN: Vấn đề không phải nhờn thuốc, mà là chưa tìm được thuốc hiệu nghiệm.

Còn làm sao để tìm ra thuốc hiệu nghiệm? Tôi cho rằng trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia… ta phải nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng của nó, từ đó nhận thức cho được thực chất của hiện tượng. Phải xác định không thể nóng vội và xử lý được ngay mà cần thời gian, cần đặt vấn đề chữa trị lâu dài.

Một đặc tính của dân mình là sống hời hợt, thường phản ứng vội, theo phong trào, ra quyết tâm nhưng ít đi tới cùng. Quan niệm ăn sâu “nói thì dễ, làm mới khó”, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn đề cao hành động hơn suy nghĩ, không có sự nghiền ngẫm sống…

Thiếu sự tư duy, vì không chịu phân tích và suy xét kỹ nên trong các vấn đề, chúng ta không hiểu biết một cách thấu suốt, thực chất… khi ấy, hành động chưa thể hiệu quả.

 

PV: Ý ông là, trong những vấn đề xã hội như thế, chưa nên vội dùng các loại thuốc kháng sinh như các biện pháp xứ lý, trừng phạt… mà là tìm thuốc bổ cho cơ thể?

VTN: Phải dùng cả thuốc bổ lẫn thuốc kháng sinh. Điều đầu tiên là phải tự tìm hiểu chính mình, vấn đề quan trọng nhất là tự nhận thức. Chỗ này liên quan đến quan niệm sâu xa của mỗi người về kiếp nhân sinh.

Tôi hay đọc lại Khổng Tử, và may mắn là tìm ra được một ông Khổng Tử có liên quan đến chuyện chúng ta đang bàn. Khổng Tử của tôi trước tiên là một nhà nhân học vĩ đại, với nghĩa ông rất hiểu về tiềm năng hư hỏng của con người.

Trong khi Mạnh Tử đề ra thuyết tính thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện) thì với Khổng Tử con người có cả thiện lẫn ác. Ông luôn đặt vấn đề con người phải vượt lên trên bản năng của mình, để tốt hơn, sống cho ra người hơn. Theo nghĩa này, Khổng Tử là một triết gia rất hiện đại.

Còn chúng ta hôm nay lại quan niệm về con người quá đơn giản. Trong cách giáo dục, chúng ta luôn tự hào là nhân dân ta sống rất nhân hậu. Tôi không cho là dối trá, nhưng chúng ta ảo tưởng rằng mình nhân hậu. Có nhiều cái chúng ta làm mà không nghĩ rằng đó là bạo lực.

 

Phải có nghiên cứu xã hội học

PV: Bây giờ, với trường hợp bạo lực xã hội, đặt vấn đề chữa trị lâu dài, theo ông, phải bắt đầu từ đâu?

VTN: Phải đưa các hiện tượng mà ta gọi là tiêu cực hiện nay thành một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc.

Nhiều người nước ngoài nhận xét, thanh niên ta hiện nay khá về khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Các kiến thức có tính nhân văn ở các em rất đơn giản. Vì chính người lớn chúng ta cũng có chịu tìm hiểu chính mình đâu, lại càng không chịu tìm hiểu về xã hội mình đang sống.

Ví dụ ở các nước, trong hoàn cảnh như ta, chắc chắn người ta phải có những công trình nghiên cứu tầm cỡ về tâm lý thời hậu chiến trong đó có Xã hội học bạo lực… Với thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề đi sâu vào bạo lực học đường.

Ở ta chẳng ai chịu chi tiền cho cán bộ khoa học làm. Bất đắc dĩ phải làm thì chỉ nhăm nhăm minh họa cho những ảo tưởng có sẵn. Những công trình nghiên cứu gọi đúng thực chất xã hội thì mang đút ngăn kéo, không cho phổ biến đến đông đảo công chúng. Thế sao gọi là nghiêm túc, là thực sự cầu thị?

 

PV: Đi cụ thể vào bạo lực học đường, nhiều ý kiến tranh luận giữa vai trò và trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội… Giáo dục có trách nhiệm như thế nào trong chặng thời gian “chữa trị lâu dài” ấy, thưa ông?

VTN: Trước đây, có sách Quốc văn giáo khoa thư (do nhóm nhà giáo đứng đầu là ông Trần Trọng Kim biên soạn), là sách được dạy chính thức trong các trường học trước năm 1945. Trong loạt bài nói về tính xấu của con người có hai bài đáng lưu ý:

Một bài tả cảnh một bé gái, chơi với mèo song lại giở thói ác, kéo đuôi mèo thật mạnh khiến nó quay lại cào cho một cái thật đau. Bài kia tả một em bé trai chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta. Cậu ta từng lấy bút của bạn ngồi cạnh đâm cho quằn đi, lấy đó làm sung sướng.

Lối soạn sách như thế này chắc đã bị nhiều nhà giáo dục của ta phản đối. Nhưng tôi cho rằng cách làm của người xưa đúng hơn. Bên cạnh việc giáo dục lòng nhân từ, chúng ta phải đưa vào chương trình phổ thông những bài học như thế này, để ngăn đe, để chống cái tàn bạo bản năng của lớp trẻ..

Khi soạn sách, phải đưa những bài văn có tính chất nuông chiều, buông thả bạo lực ra khỏi nội dung. Nếu cần phải giảng dạy những ca dao tục ngữ truyện cười, truyện cổ tích… có cài chen yếu tố bạo lực như đã nói, không nên lảng tránh mà cần chỉ rõ đây là những di lụy của thời xưa, ngày nay ta biết để tránh.

Sở dĩ tôi có đề nghị như vậy vì thấy gần đây, sau những cảnh bạo lực trong học sinh, người ta chỉ nói tới vai trò của thầy giáo cô giáo. Phải luôn luôn quan tâm tới các em, phải biết ngăn chặn các em… Tất cả những cái đó là đúng nhưng chưa đủ.

Toàn ngành giáo dục phải vào cuộc với nghĩa cả những người định ra nội dung chương trình giảng dạy, cả những người soạn sách giáo khoa cũng phải có mặt.

 

Truyền thông cũng phải trở thành trường học

PV: Truyền thông và các hoạt động nghệ thuật có vị thế là có khả năng ảnh hưởng tương đối. Theo ông, thì vai trò của họ trong vấn đề này, như thế nào?

VTN: Truyền thông hiện nay cũng phải trở thành một thứ trường học. Cần lôi cuốn các nhà nghiên cứu cơ bản tham gia phát biểu về các vấn đề thời sự. Rộng hơn từng hiện tượng lẻ, cần khai thác các ngành xã hội học trong việc tìm hiểu con người Việt xã hội Việt. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, mà là nói thực chất. Nói đúng thực chất thì tự nhiên có người nghe.

Với tư cách một người phê bình văn học, điều cuối cùng tôi muốn nói là trước tình trạng đạo đức xã hội như hiện nay, những người làm công việc văn chương tinh thần cũng nên tự vấn lương tâm của mình, nên nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm. Vì làm giáo dục một cách mòn sáo thất bại, nghệ thuật đang nghiêng về phía giải trí “mua vui” cho thiên hạ, tuy như ta thấy, chiều nịnh công chúng rút cục là làm hại công chúng.

 

Theo Minh Phương/VnMedia


Nỗi ác mộng không của riêng ai 

Ngày đăng 20/2/2016

 

Trang mạng “Triết học đường phố” có bài “8 điều khiến ngành du lịch Việt Nam trở thành nỗi ác mộng đối với khách du lịch nước ngoài”của tác giả Joseptuat. (?)

Trước khi các bạn đọc vào theo đường link

http://forum.triethocduongpho.com/t/topic/959   

xin ghi tóm tắt các điều đó là:

1. Hệ thống giao thông như lối tắt đi tới tử thần

2. Những địa điểm du lịch thiếu ý tưởng và bản sắc dân tộc

3. Cách hành xử thiếu tính chuyên nghiệp của những người làm trong nghề du lịch

4. Tệ nạn chặt chém trong buôn bán

5. Nhà vệ sinh công cộng là nỗi kinh hoàng

6. Tệ nạn xả rác bừa bãi vô ý thức

7. Thị trường tràn ngập các sản phẩm độc hại

8. Một xã hội không an toàn

 

Lưu ý thêm hai điểm:

1/ Nỗi ác mộng nói ở đây cũng chính là tình cảnh mà người dân Việt hàng ngày phải chịu, bao gồm từ điều 1, tới điều 8, chỉ trừ điều 2 sẽ nói ở dưới.

 

Điều 3 nói tới cách hành xử thiếu tính chuyên nghiệp của người hướng dẫn du lịch. Với người dân bản địa chỉ cần chuyển dịch mấy chữ “người hướng dẫn du lịch” thành “người quản lý xã hội” là đủ.

 

Với tư cách là khách viếng thăm, dân du lịch chỉ “chia lửa” với người bản địa trong chốc lát. Nhưng người dân trong nước thì hàng ngày phải chịu, nó đã là một thứ khí hậu, không ai trốn đâu cho thoát.

 

Cố nhiên, không nên quên rằng mỗi chúng ta vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của tình cảnh này.

 

Ví dụ hàng ngày mỗi chúng ta vừa bị người khác chặt chém vừa đi chặt chém người khác để tự vệ và cũng là để mưu sinh. Lại ví dụ chúng ta vừa chê trách những người quản lý vừa làm mọi cách để đứng vào hàng ngũ những người quản lý ấy với “lối hành xử phi chuyên nghiệp” của họ.

 

2/ Nếu các điều khác chỉ nói về tình hình trước mắt thì điều 2 trên đây có một vị trí đặc biệt. Nó nhìn vào bề sâu văn hóa.

 

Đau nhất là cái câu “Đã thế, hầu như mọi địa điểm du lịch ở Việt Nam đều thích bắt chước người nước ngoài về ý tưởng. Không bắt chước Tàu thì bắt chước Tây, Mĩ.

 

Chỗ níu kéo cuối cùng của nhiều người hiện nay là cái lý chúng ta có bản sắc riêng.

 

Nay hóa ra không phải. Các địa điểm du lịch là bộ mặt quốc gia. Mỗi địa điểm du lịch tập trung bao tài trí của cộng đồng mà còn thế, thì cuộc sống ở mọi địa điểm khác có thoát khỏi số phận đó không?

 

Chúng ta làm sao để cãi lại những người bạn du lịch rất từng trải và rất có thiện chí đây?

 

Chẳng lẽ họ nói oan cho ta?

 

Nếu đúng như họ nói thì chúng ta sẽ nói sao với ông cha và các thế hệ người Việt tương lai?


Lố nhố một đám đông lộn xộn

Ngày đăng 24/2/2016

 

Vào những ngày này, báo chí nhắc nhiều tới không khí hội hè nhốn nháo và xu thế bạo lực hóa ở các lễ hội vùng quê.

Người ta cắt nghĩa tình trạng đó bằng những nguyên nhân trước mắt như đô thị hóa hoặc hội nhập quốc tế.

 

Nhưng hãy nhìn lại quá khứ.

Tình trạng hỗn loạn hôm nay đã có mầm mống từ nông thôn trì trệ và đầy ung nhọt hôm qua.

 

Nông thôn, làng quê, người nông dân… nghĩ tới xã hội Việt Nam là phải nói ngay tới cái bộ phận thiết yếu đó. Có lẽ bởi vậy mà trong truyện dài “Thiếu quê hương” (in lần đầu năm 1940, NXB Hội Nhà văn tái bản năm 2006), mặc dù lấy đô thị hiện đại là địa bàn chủ yếu của các nhân vật, song cuối truyện nhà văn Nguyễn Tuân cũng phải một lần đưa họ về làng quê.

 

Ấy là khi Bạch – nhân vật chính – tính chuyện nhập vào một đoàn múa dân gian để đưa sang đấu xảo (như Hội chợ ngày nay) tận bên San Francisco nước Mỹ.

Nhưng nông thôn xuất hiện thì cũng là lúc cái đình xuất hiện. “Bạch ướm chuyện mới gọi đến việc tuồng hát Xuân Phả có mấy câu thì ông lý đã nhanh nhảu mời chàng ra đình xem”.

 

Trong làng xóm xưa, hàng ngày dân chúng sống chủ yếu với cái gia đình của mình. Những thiết chế công cộng như sân chơi chung câu lạc bộ nhà văn hóa thường thấy ở các nước phương Tây, ở đây gần như không có.

 

Trừ các phiên chợ, ngoài ra ở hầu như tất cả các làng xóm rất ít có những địa điểm để người ta gặp gỡ.

 

Chỉ còn có đình.

 

Chức năng chủ yếu của đình là phục vụ cho các loại việc làng. Chúng ta hẳn còn nhớ cái đình từng được nhắc tới nhiều trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố.

Đó là nơi diễn ra những cuộc tranh cãi của một bộ máy lý dịch kém cỏi.

Là nơi đám cường hào mưu đồ chống phá nhau.

Trong những buổi họp chung có tính chất chính thức ở đình, dân chúng chỉ làm nền cho đám lý dịch.

 

Đây là khía cạnh đầu tiên của các sinh hoạt đình làng. Trước mặt chúng ta là một đám đông thụ động. Họ không hiểu gì lắm về các trật tự ngôi thứ do bọn cường hào lập nên.

 

Trong đám đông, con người gần như lẫn vào nhau, tâm trí mỗi người bị thu hút cả vào chuyện quan hệ với người bên cạnh, khiến cho người ta càng thấy rõ là thực ra các nhân cách chưa thành hình, chỉ có cái phần bản năng trong mỗi cá nhân cựa quậy rồi lẫn đi ngay.

 

Tuy nhiên, ở làng nào cũng vậy, đình còn là địa điểm diễn ra các loại sinh hoạt tinh thần khác – gọi chung là việc đám.

 

Ở đồng bằng bắc bộ, những ngày đám này, các làng thường gọi các gánh chèo về biểu diễn ngay trên sân đình.

 

Nam Cao có một truyện ngắn mang tên “Mua danh”.

Nội dung truyện là anh cu Bịch nhân được giàn trầu tốt, bỏ ra cả trăm đồng chân hương trưởng trong làng, dẫn tới cái cảnh cốt truyện, khi làng có đám, anh ta được ra đình làm chân “dẹp đám” (nói theo ngôn ngữ ngày nay tức là giữ trật tự).

Và sự đời là như thế này: trong khi Bịch có vẻ hào hứng thì dân chung quanh buông ra đủ lời châm chọc khích bác. Họ lợi dụng ngay sự lúng túng của anh ta để chen lấn xô đẩy làm loạn xì ngầu ngay ngoài sân đình.

Nam Cao có thể là không cố ý, nhưng trong lúc nhân tiện nói về việc mua quan bán chức ở nông thôn cũ, đã vẽ ra một khía cạnh khác của sinh hoạt tập thể: từ chỗ nép mình trong một trật tự giả tạo, lúc này dân chúng đã trở thành một đám đông lộn xộn.

 

Nguyễn Tuân cũng có cảm nhận tương tự.

Trong lần duy nhất viết về nông thôn mà chúng ta đang nói, hình ảnh các đám đông ở nơi công cộng để lại trong ông nhiều ấn tượng không lấy gì làm đẹp.

“Theo cái lối họp làng bàn chuyện lúc đã nói thì tất cả đều nhao nhao lên và lúc đã im thì tất cả đều nín thít…cả ba bàn rượu đều lừng khừng kẻ hút thuốc người véo xôi, xoa kẽ chân hoặc nhìn lên rui kèo”.

Ta nhớ là lúc này những người dân được tập họp để bàn chuyện đi đấu xảo.

Ngay lập tức thấy nổi lên những thắc mắc về quyền lợi.

Ra cái vẻ thạo đời, một người đặt những câu hỏi nghi vấn chung quanh cái miếng lợi từ đâu mang tới.

Và cả đám đông lại như bị kích động.

Cái người thắc mắc lúc trước giờ tiếp tục tuyên ngôn tuyên bố hùng hồn:

“Đi một chuyến cho biết đó biết đây, và chuyến này là chúng ông đi Hoa Kỳ về mà đứa nào ở làng này còn giở lối hà hiếp chúng ông, tranh chỗ ngồi ngoài đình với chúng ông, ông đánh tan xương cho mà xem”.

 

Có cảm tưởng đây là lúc những oán thù cũ được khơi dậy.

Sau những ngày dài sống nhẫn nhục chịu đựng, người ta có dịp thức tỉnh.

Họ thấy lâu nay họ quá thiệt thòi và lại nép vế nữa. Họ tính chuyện trả thù.

Ấy vậy mà đấy chẳng qua chỉ là giây phút bốc đồng. Ngay khi con người hùng hổ nói trên đẩy hành động lên tới cao trào “quẳng một cái bát đèn ra ngoài sân, vỡ tan”, bị các cụ bàn giữa mắng, anh ta lại ôm mặt khóc hu hu “lạy các cụ con khổ lắm”.

 

Lâu nay sinh hoạt đình làng nói riêng và sinh hoạt cộng đồng nói chung, thường được miêu tả với màu sắc thơ mộng.

Đến với thơ Nguyễn Bính chẳng hạn thì mái đình chỉ còn là tượng trưng của tinh hoa quê hương làng xã.

 

Nhưng nhiều tài liệu nghiên cứu xã hội học khởi đi từ Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” qua Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, Nguyễn Văn Huyên trong “Văn minh Việt Nam” cho tới cả những điều tra của Vũ Văn Hiền trên tạp chí “Thanh Nghị” (1945) … đều cho thấy những bức tranh đại khái như Nam Cao và Nguyễn Tuân vẽ ra ở trên là xác thực.

 

Trước 1945, nhiều miền quê Việt Nam là những vùng nông thôn trì truệ. Sau cái bề ngoài lặng lẽ ẩn mình dưới lũy tre xanh là cả một thực thể ruỗng nát; những gì cựa quậy bên trong thực ra chỉ lồng bồng lửa rơm chóng cháy chóng tàn, cố nhiên là không đi tới đâu, chẳng dẫn tới cái gì.

 

Lần đầu in báo "Nông thôn ngày nay" Tết 2009

Bổ sung đoạn dẫn ở trên ngày 24/2/2016


Thế nào là man rợ?

Ngày đăng 2/3/2016

 

Hán Việt Tự điển Thiều Chửu ghi man ở đây là cậy thế mạnh làm càn, nói như chúng ta ngày nay là thiên về bạo lực.

Các từ điển khác giải thích man rợ là trình độ con người còn chưa phát triển “bất thông tình lý”.

 

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê nói rõ hơn, man rợ là tình trạng đời sống con người gần với thú vật, tàn ác đến cực độ, không còn tính người.

Về trình độ man rợ của một dân tộc, tôi lấy lại một đoạn cuốn hồi ký một tác giả khá phổ biến ở Việt Nam là Gorki (1868-1936)..

Thời thơ ấu (viết khoảng 1913) là tập đầu trong bộ ba tự thuật của Gorki thời ông còn là nhà văn Nga – Chương XII dành để nói về cách sống trong gia đình Aliosa. Các đoạn trích theo bản dịch của Vũ Minh Thiều S.1971.

 

MỘT TRÍCH ĐOẠN NGẮN

Một buổi tối, vào giờ uống trà, khi tôi vào bếp, tôi nghe thấy mẹ tôi kêu não lòng:

- Evgueni, tôi van anh, tôi van anh...

- Chuyện bậy bạ! Bố dượng tôi nói.

- À! Tôi biết là đi thăm nó!

- Vậy làm sao?

Yên lặng một lúc. Rồi mẹ tôi nói tiếp, trong cơn ho:

- Anh thật là đồ bợm bãi!...

 

Nghe thấy bố dượng đánh mẹ tôi, tôi nhảy bổ vào phòng. Mẹ tôi quỳ, lưng và khuỷu tay tì lên ghế, ngực ưỡn ra, đầu ngã ra phía sau; bà rền rĩ và mắt lóng lánh đến phát sợ. Và bố dượng tôi, trong bộ quần áo mới, đá mẹ tôi vào ngực. Trên bàn có một con dao chuôi ngà nạm bạc dùng cắt bánh, đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của cha tôi; tôi cầm lấy con dao và hết sức mạnh, tôi đâm vào cạnh sườn bố dượng tôi.

 

May mắn là mẹ tôi kịp đẩy Masimov ra, con dao đâm trượt và xẻ một miếng rộng vào bộ đồng phục mới, chỉ làm sướt da. Bố dượng tôi đưa tay bưng cạnh sườn và hấp tấp chạy ra ngoài kêu. Mẹ tôi giữ tôi lại, nhấc bổng tôi lên, ném tôi xuống đất và rít lên. Chính bố dượng tôi vào nhà và kéo tôi ra khỏi tay mẹ tôi.

Dù sao, mãi khuya ông ngoại tôi mới ra ngoài. Sau khi ông đi, mẹ tôi đến tìm tôi ở sau lò sưởi. Bà nhẹ nhàng bế tôi trong cánh tay, hôn tôi, khóc và nói:

 

- Tha thứ cho mẹ, chính là lỗi ở mẹ! À! Con bé, sao con dám táo bạo thế? Lại dám rút dao ra nữa!

 

Gọi ra tình trạng man rợ của mình là bước đầu của tự nhận thức để đi tới tự thay đổi

Khi nghe mẹ hỏi như trên, nhân vật cậu bé tỏ ý thành thật:

“Tôi trả lời mẹ tôi rằng tôi có thể cắt cổ bố dượng tôi và sau đấy tôi tự sát . Tôi thành thật và ý thức hoàn toàn khi nói. Tôi nghĩ là tôi dám làm hoặc cố thực hiện điều này. Ngay giờ này, tôi còn trông thấy cái chân dài và bần tiện với đường nỉ viền sáng trên mép khâu ở quần; tôi trông thấy chân này đưa đi đưa lại và đá vào ngực mẹ tôi.”

 

Đó là căn bệnh của cả cộng đồng mình – tác giả không giấu giếm. Và ở tuổi 45, tác giả cũng sớm biết rằng nói ra cái sự thực khó khăn ấy là cách để cá nhân cũng như cũng như cộng đồng vượt thoát khỏi sự man rợ

 

“Nhắc lại cái thời mà trong đời sống trong các phong tục tập quán của người Nga đầy rẫy những sự man rợ, đôi khi tôi tự hỏi có nên nói ra không. Nhưng nghĩ kỹ, tôi tin chắc rằng cần phải nói, vì sự thực ghê tởm này hãy còn tồn tại ở giờ phút này và cần phải hiểu biết rõ cảnh này để gạt bỏ nó ra khỏi tâm hồn chúng ta, để tiêu diệt hẳn nó trong cái đời sống vốn đã quá khó nhọc, quá tủi nhục của chúng ta”.

 

LỜI BÌNH I

Gorki còn nói tiếp:

“Một lý do nữa, còn khẩn thiết hơn, bắt buộc tôi mô tả những điều ô nhục nói trên.

 

Mặc dầu những điều ô nhục ấy thật ghê tởm, mặc dầu chúng đè trĩu lên chúng tôi, nghiền nát biết bao tâm hồn thanh cao - dân tộc chúng tôi cũng hãy còn trẻ trung và cường tráng để thắng những tệ đoan này.

 

Điều lạ lùng ở chúng tôi, không phải là đáng kể lớp bùn rất màu mỡ và phong phú này, nhưng là việc qua lớp bùn này dầu sao cũng manh nha một cái gì trong sáng, lành mạnh và sáng tạo, một thứ gì quảng đại, tốt lành làm phát sinh niềm hy vọng bất diệt về một đời sống cao đẹp và nhân hậu hơn.”

 

Trong hoàn cảnh một xã hội bị chi phối bởi xu thế bạo lực hóa – không chỉ trong các lễ hội mà cả trong đời sống thông thường, tôi muốn chép lại đoạn văn trên đây để thấy rằng cái “nỗi đau này không của riêng ai”.

 

Niềm tin của Gorki hiện vẫn chưa được chứng thực – cũng như ở xứ ta, nhiều cảnh man rợ vẫn đang diễn ra ở nước Nga của ông.

 

Song đề nghị của ông về việc phải nói to lên cái sự thực về tình trạng man rợ không phải là một lời xui dại mà vẫn đang có ý nghĩa tích cực của nó.

 

LỜI BÌNH II

Tình trạng man rợ Gorki kể lại ở đây là trong phạm vi gia đình. Nhưng tôi tin ở Nga cũng vậy mà ở Việt Nam cũng vậy, nó đang ngự trị trong mọi mối quan hệ giữa người với người, ở các công sở trường học.., cũng như trong cách đối xử của con người với thiên nhiên cây cỏ với các loại sinh vật cả chăn nuôi lẫn hoang dã, nói chung là với toàn bộ môi trường sống.


Một niềm tin tùy tiện mơ hồ mà lại dai dẳng

Ngày đăng 7/3/2016

 

Ngày càng có nhiều người nước ngoài nghiên cứu về người Việt, trong đó có cả những người đi vào những khu vực tối tăm bí hiểm của chúng ta.

 

Như việc đi chùa, các hoạt động cúng bái và nghề lên đồng.

 

TT&VH (tôi quên ghi số) có lần kể về một ông Tây đang làm nghề thầy cúng ở chung quanh Hà Nội. Ông ta đi học cẩn thận. Và ông ta nhận xét người Việt hình như cái gì cũng tin mà lại chẳng tin một điều gì.

 

Nhớ một ý của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut ( 1922 - 2007) về mối quan hệ của ông với tôn giáo.

 

Ông tự nhận là humanist — người theo chủ nghĩa nhân bản, “một phần có nghĩa là, tôi đã cố gắng ứng xử tử tế xứng đáng mà không vì kỳ vọng nào về phần thưởng hay trừng phạt ở đời sau

 

Ở một đoạn dưới, Vonnegut tự nhận là freethinker - “người suy nghĩ tự do, không bị ràng buộc vì tín niệm tôn giáo hay gì khác, nhưng vẫn trân trọng những điều rao giảng tốt lành của các tôn giáo”.

 

Tôi ghi lại hai ý này vì thấy nhiều phần ngược với người Việt.

 

Chúng ta chỉ cố gắng tử tế vì hy vọng được phần thưởng mà không bị trừng phạt. Và chúng ta làm việc này một cách dung tục cẩu thả. Chùa chiền ở miền bắc hiện nay sư mô nhiều người không biết chữ Hán, không thuộc kinh kệ và hiểu không đúng kinh kệ.

 

Dân cũng vậy. Điều quan trọng là con người ít nghiền ngẫm về “những điều rao giảng tốt lành” của tôn giáo. Chỉ có chủ nghĩa thực dụng đang thắng thế. Thực dụng ở đây tạo nên một tình trạng nước đôi (= lưỡng trị), bảo là tin cũng được mà bảo là không tin cũng được.

 

Niềm tin của người Việt trong tôn giáo có liên quan tới niềm tin của chúng ta nói chung.

 

Với các đạo lý làm người. Với các học thuyết chính trị.

Cái gì ta cũng theo, cái gì ta cũng tưởng hiểu rồi và thề sống thề chết thực hiện.

 

Rồi cái gì ta cũng rũ bỏ được khi tìm thấy một thứ có lợi hơn.

Hoài Thanh thường chỉ được ca ngợi như một người bình thơ giỏi. Nhưng ông chính làn người có những cảm nhận xuất thần về văn hóa Việt.

 

Trong tiểu luận “Có một nền văn hóa Việt Nam” bản in 1946, do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, ở trang 28, Hoài Thanh từng ghi nhận: “Người phương Tây ngạc nhiên thấy chúng ta hôm qua chỉ biết “Tứ thư ngũ kinh” mà hôm nay bỗng tin theo những thuyết rất mới mẻ. Học thuyết tư tưởng không phải là những căn bản tinh thần của dân tộc ta. Tư tưởng nào có lợi cho đời sống của dân tộc thì ta theo, nhưng một khi tình thế đổi thay, tư tưởng ấy trở nên có hại cho đời sống chung, ta sẽ trút bỏ dễ dàng không tiếc hối”.

 

Với niềm tin kiểu này, người Việt nhiều khi hiện ra với bộ mặt mâu thuẫn, vừa mau mắn cấp tiến đến dễ dãi, vừa bảo thủ cố chấp đến ù lì vô cảm.

 

Khi sự linh động quá thường trực thì nó lại chỉ còn là một mặt nước ngưng đọng, trong đó diễn ra một quá trình thoái hóa.

 


Chuyện lan man: từ thế giới đảo ngược tới nghịch lý “cuộc sống bắt chước nghệ thuật” 

Ngày đăng 9/3/2016

 

Có một mẩu tin tôi đọc từ cuối 1915, nhưng cứ nhớ mãi.

 

Tin các báo:

Trong phần chất vấn dành cho Thủ tướng phiên sáng ngày 17/11/15 tại Quốc hội, một đại biểu từ Tp HCM, ông Trương Trọng Nghĩa, nêu ra một nhận xét và đề nghị người đứng đầu chính phủ "giải thích thêm cho cử tri về việc này".

Nhận xét của đại biểu đó như sau :“Tham nhũng không giảm như các nghị quyết đã đề ra. Tham nhũng ngày càng tinh vi và có hiện tượng chi phối luật pháp và khi đó người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng chứ không phải là ngược lại”.

 

Cái hiện tượng nêu ra ở đây khiến tôi nhớ tới một tình huống trong cuốn “Alice ở nước diệu kỳ” của nhà văn Anh L. Carrol (1832-1868).

Nguyên đây là câu chuyện về cô bé Alice chui vào lỗ thỏ để rồi lạc vào xứ sở trong mơ của Thỏ Trắng, uống chai nước và ăn chiếc bánh kỳ lạ, tìm cách mở những cánh cửa bí mật khóa kín, đối đầu với các bà hoàng hậu, và những lá bài ma thuật.

Sau một hồi phiêu lưu trong thế giới giả tưởng đoạn cuối cùng miêu tả trong truyện này, Alice ngẫu nhiên dự một phiên tòa trong cung vua: tòa xử một vụ ăn cắp bánh của hoàng hậu.

Ngẫu nhiên khi vua ra lệnh cho gọi nhân chứng thì chú thỏ trắng lại gọi ngay Alice. Alice chối:

- Tôi đâu biết về vụ ăn cắp mà làm chứng.

- Đó mới là điều quan trọng. Ý ngầm mà thỏ trắng không nói: chính là vì ngươi không biết ta mới cần ngươi.

Khi hoàng hậu nêu một lý do vớ vẩn để bảo Alice không được làm nhân chứng, vua quát hãy rời khỏi đây, và Alice nằn nì xin ở lại thì lại được chứng kiến một cảnh xử án không có nơi đâu.

- Vua: Hãy tiếp tục luận tội.

- Hoàng hậu: tuyên án trước rồi sẽ luận tội.

- Alice: Ai lại tuyên án trước luận tội sau bây giờ, thật phi lý!

- Hoàng hậu: đem con nhỏ này ra chặt đầu ngay.

Khi bị tuyên bố chặt đầu, Alice mới như tỉnh cơn mê. Với câu nói cuối cùng “tất cả bọn ngươi chỉ là một bộ bài không hơn không kém”, giấc mơ của Alice cũng chấm dứt.

 

Quay trở lại hiện tượng nêu ở trên. Nghe ông ĐBQH nói chúng tôi nhớ tới một sự thực: Có bao chuyện hàng ngày chúng tôi tưởng là bình thường, hóa ra không phải. Nay là lúc xã hội loạn ly, người lớn sợ trẻ con, thầy giáo sợ học trò, người tốt sợ người xấu, người ưu tú sợ kẻ bất tài. Cái tình thế xã hội mà vị Đại biểu Quốc hội vừa miêu tả “người tham nhũng xử lý người chống tham nhũng” cũng chỉ là một phần của cái sự thực đó. Có thể tóm lại bằng công thức “thế giới đảo ngược.”

 

Cũng nhân dịp này, liên hệ tới thiên truyện “Alice ở nước diệu kỳ”, tôi nhớ tới một câu châm ngôn nghệ thuật:

- Không phải là nghệ thuật bắt chước cuộc sống mà chính ra là cuộc sống bắt chước nghệ thuật.

 

Cái ý này là của Oscar Wilde (1854-1900)

 

Tôi không rõ là ông phát biểu trong lúc nào. Là một người đi học ở nhà trường Hà Nội sau 1954, rồi đi vào viết văn viết báo, suốt đời tôi tin theo công thức “nghệ thuật phản ánh cuộc sống”.

 

Nay có người nói ngược lại và hình như không phải là không đúng. Vì tính chất nghịch lý của nó tôi vẫn nhớ mãi. Xin ghi lại ở đây để các bạn hiểu lý luận hơn giải đáp hộ.

 

PHỤ LỤC

Trên trang mạng kênh13.info 01/3-2016 tôi đọc được một đoạn có liên quan tới nghịch lý trên, xin đính kèm:

Sự nghiệp văn học đồ sộ của Oscar Wilde

 

Oscar Wilde là tác giả của khối tác phẩm văn học đồ sộ trong đó có 5 tập thơ, 9 vở kịch, 2 truyện dài, 1 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết.

 

“Bức chân dung của Dorian Gray” là tác phẩm nổi tiếng nhất được viết bởi tác giả này. Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim điện ảnh và gây tiếng vang rất lớn.

Điều thú vị là những câu nói trích dẫn từ các tác phẩm của ông nổi tiếng khắp thế giới, còn hơn cả chính tác phẩm của ông, trong đó điển hình như:

- Tôi không thích thời kỳ hẹn hò kéo dài. Nó khiến cho người ta biết hết mọi thứ về nhau trước khi kết hôn.

- Tôi có thể cưỡng lại mọi thứ, trừ sự cám dỗ.

- Chính là sự thú tội, chứ không phải các linh mục, khiến cho chúng ta cảm thấy được tha thứ.

- Cách duy nhất để thoát khỏi sự cám dỗ là đầu hàng nó.

- Điều duy nhất tồi tệ hơn việc bị mọi người bàn tán là không còn được ai bàn tán đến nữa.

- Trẻ con thường bắt đầu bằng tình yêu dành cho bố mẹ. Nhưng càng lớn lên, chúng càng hay phán xét bố mẹ. Thỉnh thoảng, chúng mới tha thứ cho họ.

- Không có cách gì hiệu quả để làm mất giá trị một con người bằng cách nói rằng, họ là kẻ phạm tội.

- Thế nào là một kẻ hoài nghi? Là người biết giá cả của mọi thứ nhưng không biết giá trị của bất cứ thứ gì.

- Kinh nghiệm là cái mà người ta dùng để đặt tên cho sai lầm của mình.

- Thật đáng buồn nếu trong cuộc đời, chúng ta chỉ nhận được những bài học mà chúng không còn giá trị sử dụng nữa.


Cách ăn của một người Việt khôn ngoan

Ngày đăng 12/3/2016

 

Trong một tiểu luận về Võ Phiến, http://thuykhue.free.fr/stt/v/VoPhien.html, nhà phê bình văn học Thụy Khuê có viết rằng Võ Phiến thường “trình bày bản tính thâm sâu của con người qua những cử chỉ ăn uống bài tiết, tiêu hoá, sinh lý mà không hề bận tâm lo lắng đến phần tâm linh, tâm hồn, thường được coi là linh thiêng, cao cả, đối với người Việt.

 

Và bà đưa ra một ví dụ trích từ cuốn Dung mà Võ Phiến cho in từ 1956, sau in lại trong tập Truyện ngắn 1, trang 35-36.

 

Xin nói thêm đoạn văn này cũng từng được trích lại trong Giảng văn lớp đệ ngũ phần MIÊU TẢ THUẬT KÝ, tr.105 , và được đặt tên là MẤY LỐI ĂN.

 

Sách do Đỗ Văn Tú, cử nhân văn chương, nguyên giáo sư trường trung học công lập Nguyễn Trãi – Sài Gòn, cơ sở Việt Nam tu thư xuất bản, trước 1975.

 

Nguyên bản vốn viết liền mạch, nhưng khi dẫn lại, chúng tôi tách ra thành từng câu riêng để nhấn mạnh.

"Tôi chưa thấy ai có lối ăn uống tàn bạo và bủn xỉn như hắn. Tiếc rằng những nét ấy không biểu lộ trong cặp mắt.

 

Vừa đối diện với mâm cơm, bằng một cái liếc rất nhanh, hắn đã định ngay được giá trị từng món ăn, chọn ngay được món ăn ngon nhất.

 

Và từ đầu đến cuối bữa ăn hắn tấn công vào trọng tâm một cách kiên nhẫn, tàn bạo, nhưng khôn ngoan lạ kỳ.

 

Có nhiều người đang ăn vụt chú ý đến món mà mình thích nhất gắp liền năm bẩy miếng, ăn lia liạ. Những người ấy hoặc quá thật thà hoặc lơ đãng; đôi khi lại là những người chăm nói chuyện, mà ít quan tâm đến việc ăn.

 

Có người gắp quàng xiên tùy hứng không suy nghĩ.

 

Có người tình toán rất công bình. Những người già những người bạc nhược ăn uống yếu đuối thường ngập ngừng đưa đôi đũa lưỡng lự giữa mâm.

Hạng lớn tuổi có khi tự do, thân mật đến lẩm cẩm, phóng đôi đũa ra sát mâm rồi mới chọn lựa.

 

Ngọn đũa của thanh niên quyết định nhanh chóng không dè dặt. Người tỉ mỉ hay sửa soạn, tém vén kỹ lưỡng miếng đồ ăn trước khi bưng chén lên và.

 

Mỗi người có một lối ăn. Riêng hắn thì hắn không tham lam một cách thực thà, không bao giờ gắp liên tiếp đôi ba lần món ăn ngon nhất.

 

Nhưng hắn không có một phút lơ đãng.

 

Hắn tính toán chu đáo, gắp khắp các đĩa, nhưng tổng kết lại thì thế nào cũng gắp được món ngon nhiều hơn cả.

 

Và hắn theo dõi ngọn đũa của tất cả các thực khách, không dung thứ cho một người nào hơn mình. Hắn cạnh tranh kín đáo nhưng ráo riết. Hắn bực mình nhất là gặp phải kẻ lơ đãng.

 

Kẻ lơ đãng đôi khi thình lình tấn công liên tiếp vào món ăn ngon, như một cua-rơ tự nhiên bức phá, làm cho hắn phải ra sức đuổi theo kèm sát. Có để ý đến thái độ của hắn trong những trường hợp này mới thấy hắn khéo léo thần tình.

 

Hắn lầm lì như không hề quan tâm chú ý đến đối phương nhưng hắn suy tính chín chắn và phản công trả đũa, chận đứng đối phương rất nhẫn tâm.

 

Bình thường thì ngọn đũa trí trá của hắn thu lại đầy ý thức chuẩn bị, rồi đột nhiên vụt phóng ra nhanh nhẹn lạnh lùng như một con cò già lão luyện phóng mỏ bắt ruồi, trăm lần không sai đích một lần."

 

Người ta thấy ở đây một cách ăn đầy tính toán của những người Việt mà người ta thường cho là khôn: tham lam song lại ra cái vẻ sĩ diện, biết tham là xấu nhưng lại tìm đủ mọi cách che giấu cho thói xấu của mình.

Trong chuyện ăn mà chúng ta gặp đủ những chữ thuộc về đời sống tinh thần:

ý thức chuẩn bị,tính toán chu đáo, khéo léo thần tình,công bình,tự do

 

Sau hết trong chuyện ăn có đủ nhẫn tâm, trí trá, cốt giành ưu thế cá nhân và sẵn sàng ngăn chặn bằng được những địch thủ làm trở ngại tới ý đồ bá chủ của mình.

 

Sự ăn uống tuy mang những đặc tính cố hữu của một cộng đồng, nhưng lại có thể thay đổi tùy theo sự tiến hóa trong ý thức con người

Còn dưới đây là một đoạn văn đưa trên Blog Trương Hồng Quang 30-3-2015, viết để kỷ niệm về một chuyến đi Singapore, tôi copy lại từ mạng Viet-studies của Trần Hữu Dũng.

 

“Hôm ấy, vào một buổi sáng, nhà tôi và tôi đẩy xe chở anh cu con sang một khu chợ Tàu để ăn sáng.

 

Thật tình tôi không còn nhớ mình đã đặt món gì nữa, nhưng đến giờ vẫn còn nhớ như in là gia đình tôi ngồi cùng bàn với một người đàn ông đứng tuổi gốc Trung Hoa (thì hẳn là thế!).

 

Bác ấy đặt một nồi cháo chim hầm và ngồi đánh chén ngay trước mặt chúng tôi. Từ “đánh chén” ở đây không hề có hàm ý bất nhã, thật tình tôi chưa thấy ai ăn một cách sung sướng, ăn say sưa, ăn quên mình và quên hết thế giới xung quanh như vậy.

 

Chi tiết đáng nhớ nhất (lúc chứng kiến thì cũng hơi … ghê ghê!) là lúc ăn bác ấy rất tự nhiên, nhổ và khạc xương xuống ngay mặt bàn.

 

Nói không hề ngoa là xương bắn tung toé ngay xung quanh niêu cháo, và như đã nói, bác ngồi cùng bàn và đối diện trực tiếp với chúng tôi!

 

Cao trào, hay bước ngoặt kịch tính của câu chuyện diễn ra sau khi bác ấy ăn xong: Bác rút một tờ giấy ăn, thu lượm hết tất cả đám xương cho vào nồi, lau sạch sành sanh chỗ bàn mình ngồi rồi đứng dậy, lúc đó rất thư thái, bê nồi, thìa, đũa trả về quầy.

 

Trong một khoảng thời gian ngắn tôi có cảm giác như đã học được bài học lớn nhất về xứ sở này: bản năng gốc Trung Hoa, thái độ tự tin bất cần toàn bộ thế giới còn lại của nó VÀ tinh thần kỷ luật (hay văn hoá?) Singapore.


Cây cỏ nước người trên xứ mình 

Ngày đăng 15/3/2016

 

Có một dạo Hà Nội có phong trào nuôi chó Nhật để xuất sang Trung Quốc. Sau do người mình lai tạp lung tung, nên họ không nhập nữa, người làm ăn tử tế mất nghề.

 

Trên đường phố, giờ đây tôi thỉnh thoảng vẫn gặp vài con chó Nhật còn sót lại. Chúng nhem nhuốc bẩn thỉu và cũng lam lũ chúi đầu vào đống rác kiếm ăn như chó bản địa.

 

Không muốn nhìn nữa... Chỉ thấy nhớ thuở chúng được chăm bẵm nâng niu… mà thoáng qua một chút ngậm ngùi giùm cho kiếp lưu đầy xứ lạ.

 

Khoảng đầu những năm chín mươi, ở Hà Nội nhà tôi cũng từng nuôi chó Nhật kiếm lãi, có con từng bán được cả cây vàng. Đặc điểm của chó Nhật mà tôi nhớ nhất là chúng không biết phân biệt người lạ và người quen, càng không biết đề phòng kẻ lạ làm chuyện xấu xa với nhà chủ. Thấy ai chúng cũng vui vẻ, tưởng là bạn mình, đã không có chuyện đề phòng lại không có chuyện giở mặt cắn trộm. Thế thì phù hợp với người mình sao được?

MỘT QUY LUẬT?

Lạ lùng cho đất An Nam

Trời sinh ra thế biết làm sao đây

Cái gì tốt tốt hay hay

Nước ngoài đem lại cũng quay ra xoàng

Khoai tây trồng hóa khoai lang

Thủy tiên cụ Tiễu đâm ngang hóa … hành

 

Tú Mỡ trong bài thơ mang tên “Biến đổi”, in trên Ngày nay 8/7/1939, đã viết vậy. Ông cười vì những cái tốt đẹp của nước ngoài khi vào xứ mình bị biến dạng như thế nào. Và trước tiên là số phận chúng rất yểu.

 

Ví dụ hôm nay

Tôi viết những dòng này vì tuần trước vừa qua Phan Thiết. Từ thành phố ra Mũi Né, bên cạnh con đường ven biển với nhiều biệt thự, một con đường hai chiều mới được mở rất hiện đại.

 

Ở giữa trồng hoa, hai bên trồng cây.

 

Chỉ khốn khổ là giữa vùng gió mà người ta trồng hoa giấy. Cây bông giấy trồng ở đồi cát càng dễ nở hoa sao lại nói khốn khổ? Thưa cây trồng trên thảm cỏ giữa đường phải nhỏ gọn, nói chung là phải bị khống chế về hình dáng và kích cỡ chứ không thể để tự do bò lan như ở các khu dân cư. Ở đoạn đường tôi đi, từng bụi hoa giấy mới trồng, cành thấp cành cao lêu nghêu vươn ra, gió đánh tơi tả, cảm giác khốn khổ đã đến với tôi vì như vậy.

Lại còn cám cảnh hơn là các hàng cây.

Cây đây là loại anh đào, chắc là mới xin từ Nhật về.

Mùa này đúng là mùa hoa nở. Nhưng đặt vào khung cảnh đơn điệu của các đồi cát cực nam Trung bộ, trên cái nền thời tiết nóng như rang, trong khung cảnh vắng vẻ tuyệt không có người đi bộ mà chỉ có những chiếc xe bóng lọng vụt qua, sao cứ thấy như cây và hoa bị đi đầy.

 

“Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”, câu thơ Thôi Hộ vụt trở về trong trí.

Chỗ của anh đào đáng lẽ là ở những khu dân cư, sang trọng quý phái nơi đó màu đỏ nhạt của hoa làm tôn lên vẻ đẹp của những mặt người.

 

Có ai biết cho nỗi nhớ người của hoa không?


Sự đối nghịch trớ trêu

Ngày đăng 17/3/2016

 

Hồi 2010, chưa có facebook, tôi từng viết các ý ngẫu nhiên của mình thành những mẩu GHI CHÉP và đưa trên blog. Đây là một mẩu trong số đó

 

5/10/2010

Lũ lụt. Có tin hàng vạn học sinh các tỉnh miền Trung nghỉ học vì lũ lụt.

Người dân méo mặt nhận quà của cấp trên gửi tặng. Chú thích ảnh “lá lành … hành lá rách”.

Lũ lụt trong dịp đại lễ chỉ làm tăng thêm cái tình thế trớ trêu đã sẵn có trong tình hình hiện nay.

Một bên là cuộc sống xa hoa trụy lạc hoang phí ngày một gắt lên chói lên ở các đô thị.

Một bên là cảnh lạc hậu nghèo nàn, một sự xác xơ tàn lụi của các vùng nông thôn nghèo và các vùng sâu vùng xa.

 

Sực nhớ tới một bài thơ của Văn Cao viết đầu 1945 và từng in trên tạp chí “Tiên Phong” của Hội Văn hóa Cứu quốc mang tên “Chiếc xe xác đi qua phường dạ lạc.”

Ở một đoạn giữa bài thơ, tác giả viết:

Ta về gác, gió cài then, cửa rú

Trên đường tối gió khỏa thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khúc nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc.

 

Nhìn vào tình hình hôm nay, tôi thấy thời gian qua đi tình cảnh xứ mình chỉ càng trớ trêu hơn. Hôm qua là lũ lụt, hôm nay là khô hạn, ngập mặn, cầu đổ nhà sập.

Còn sự hưởng lạc đang tăng lên hôm nay, tôi không thạo lắm, chắc nhiều bạn biết hơn tôi.

Cái tình cảnh của xứ mình hiện nay bi đát ở chỗ, cái kém cỏi xấu xa hư hỏng ngày càng tăng mà cái tử tế tốt đẹp ngày càng héo hon, lép vế, biến dạng.

Chỉ còn nỗi an ủi duy nhất, hình như trên thế giới cũng nhiều nơi thế mà trở lại thời xưa, dân mình cũng nhiều lúc tưởng như đã rơi vào điểm chết, rồi cũng qua khỏi cả.(?)

 

Ngay khi viết những dòng này, tôi đã biết rằng có lẽ không phải vậy, nhưng bi quan quá thì rồi sống sao nổi, thôi thì ta vẽ ra ít ảo tưởng sống sao cho qua ngày là được.

Một chỗ trú ẩn của tôi là thơ văn cổ.

Như là trước cảnh trớ trêu kia, cùng với mấy câu của Văn Cao, tôi còn hay đọc lại bài thơ Đường "Bạc Tần hoài" (Đỗ bến Tần Hoài) của Đỗ Mục (803 - 853)

Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng "Hậu đình hoa".

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Nước lồng khói toả, cát trăng pha,

Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia.

Con hát biết chi hờn mất nước,

Cách sông còn hát "Hậu đình hoa".


Tương tự như quấn lốp xe

Ngày đăng 21/3/2016

 

Ngoài việc thông báo tình hình nắng nóng lũ lụt, các bản tin thời tiết còn hay nói tới nạn cháy rừng.

 

Với đám dân thành phố chúng tôi những lần chứng kiến các cảnh ấy quả thật thấy buồn. Đã buồn vì rừng bị cháy lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy.

 

Tôi không biết rõ lắm, nhưng vẫn nhớ là ở các nước công nghiệp, người ta có nhiều phương tiện khá hữu hiệu.

 

Đằng này ở mình thì sao? Ngao ngán nhất là một lần trên màn ảnh thấy cái cảnh chữa cháy ở Kong Tum. Vòi rồng không có. Nước không có. Mấy ông bảo vệ tay chỉ có cành cây bẻ vội để xông vào với lửa.

Thế thì còn kiềm với chế gì nữa!

 

Có một câu tục ngữ khuyên răn về việc sử dụng công cụ để giải quyết sự cố: “Đừng dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà”.

Nó rất thích hợp trong nghề văn chương của tôi, nơi người ta hay thi nhau đao to búa lớn trong những cuộc tranh cãi lặt vặt.

Đằng này trong đời sống, tôi cảm thấy một tình hình ngược lại: luôn luôn chúng ta phải dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu.

 

Việc sử dụng những công cụ chữa cháy trên những cánh rừng mênh mông như trên là ví dụ. Và cố nhiên là còn thấy ở nhiều lĩnh vực khác.

- Thứ nhất là câu chuyện ứng phó trước các bệnh dịch, từ cúm gia cầm tới lợn tai xanh. Cơn dịch bùng phát như những cơn bão. Báo chí đưa tin ở huyện nọ heo chết mang trôi sông, cả quãng sông dài ba chục ki lô mét ngập xác lợn. Lúc bấy giờ huyện tỉnh mới biết và phát thông báo có dịch. Còn biện pháp để chạy chữa thì nhỏ giọt.

- Thứ hai là tình hình lạm phát gần đây. Giá cả leo thang. Đến gói xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách kiềm chế xem ra cũng đơn sơ lắm.

 

Theo sự tường thuật của báo Tiếng nói Việt Nam số ra ngày 29/3/2005, tại một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu tài chính cho rằng chúng ta thường chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, chứ chưa tính được xa hơn.

 

Nói chung chỉ thấy những cam kết duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các nhận thức ở tầm vĩ mô và các công cụ quan trọng kèm theo, thì chưa khởi động.

 

Bảo chẳng khác gì bẻ cây dập lửa cháy rừng, hoặc dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu, e cũng không phải quá.

 

Con người cổ lỗ phương tiện cổ lỗ

Khi bàn về cái sự kiềm chế lạm phát này, cũng ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn đưa ra một hình ảnh thú vị khác. Ông bảo cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay là kiểu “quấn lốp xe đạp”.

 

Chuyện này bây giờ các bạn trẻ ít người biết và đám người tuổi từ sáu mươi trở lên may ra mới nhớ, vậy tôi xin phép nhắc lại.

 

Hồi chiến tranh ngay ở Hà Nội chứ đừng nói nông thôn hay tỉnh lẻ, cái gì cũng thiếu.

 

Ví dụ như bút bi, ngay dân viết lách chúng tôi cũng dùng theo định mức, sau khi dùng hết một lượt ruột, chúng tôi phải nộp cơ quan cái ruột rỗng, thì mới được nhận ruột mới.

 

Nếu dùng quá tốn, vượt mức cơ quan cung cấp thì phải ra phố bơm lấy. Có nhiều cửa hàng chuyên bơm mực như vậy.

 

Hoặc như cái chuyện lốp xe. Phương tiện đi lại hồi ấy chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Lốp phân phối về cơ quan. Vài chục người mới được một chiếc. Công đoàn đứng ra tổ chức bình bầu hoặc rút thăm.

 

Khốn nỗi có phải lốp Sao Vàng lúc ấy cái nào cũng tốt như cái nào đâu. Nhận lốp về có thấy cái cong cái vênh cũng bấm bụng chịu.

 

Thế còn khi lốp xe quá hỏng, mà không được bình bầu, thì làm thế nào?

 

Có hai cách.

Một là ra các cửa hàng chữa xe đạp, nhờ các bác ấy đắp lại.

Hai là – trong những lúc vội và chưa có tiền -- nhiều người phải có lối dùng những sợi dây cao su quấn chung quanh.

 

Lốp được đắp lại cố nhiên khá hơn. Còn quấn tạm thì khổ lắm.

 

Đi trên đường phẳng mà xe cứ giật giật như trên đường mấp mô. Tốc độ chậm một cách khó chịu.

 

Nhưng thôi quấn lại lốp đi tạm còn hơn lẽo đẽo đi bộ - không phải một người mà hầu như tất cả dân cán bộ èng èng cấp thấp ở Hà Nội lúc ấy đều tự nhủ như vậy.

 

Một chút dư vị

Bây giờ bạn đọc hẳn đã có cách đánh giá của mình với cái hình ảnh mà vị chuyên gia tài chính kia đưa ra và từ đó hình dung cái khó của chúng ta trong việc chống lạm phát trên bề rộng.

 

Nói mãi chuyện buồn tôi muốn tiếp tục câu chuyện bằng một chi tiết vui vui, liên quan đến cháy rừng.

 

Lần ấy, một xã của huyện Tương Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ cũng quá chậm.

Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện.

Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc – ta rừng bị mất đứt.

 

Cụ già có lỗi ngồi hối hận.

 

Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.

Đã in "Người đại biểu nhân dân" 30/7/2007

 

 

VIẾT THÊM 21/3/2016

Từ nhỏ tôi thường được dạy dỗ và lớn lên cứ viết tràn rằng chỉ cần tư tưởng của ta tiên tiến, còn kinh tế kỹ thuật cổ lỗ có xá gì.

Không! Nay mới hiểu cả về trình độ lẫn cách tác động tới đời sống, kinh tế kỹ thuật sao thì tư tưởng văn hóa vậy!


Văn hóa sách và quan hệ thế hệ ở Hàn Quốc và Việt Nam

Ngày đăng 30/3/2016

 

Mạng RFI 19-3 2016 cho biết báo Pháp L’Express có bài “Triều Tiên, xứ sở của những người có học thức.”

Tôi trích hai đoạn:

- Nhân sự kiện từ ngày 17 đến 20 tháng 3, 30 tác giả Hàn Quốc được mời là khách đặc biệt tham gia triển lãm sách tại Paris, L’Express có bài phỏng vấn chuyên gia về văn hóa Hàn Quốc Martine Prost.

Bà giới thiệu Triều Tiên - là một đất nước châu Á có truyền thống sâu đậm. Với người Hàn Quốc thì tiêu chí tuổi tác được đặt lên hàng đầu. Người lớn tuổi phải được tôn trọng, một biểu hiện của sự tôn trọng đó là không được đặt người lớn tuổi hơn mình vào việc đã rồi.

- Về đời sống văn hóa, bà Martine Prost cho biết người Hàn Quốc chịu khó đọc sách nhất thế giới. Nếu không muốn mất mặt hay xấu hổ trong khi giao tiếp với người hàng xóm thì một người Hàn Quốc phải biết ít nhất một vài cuốn sách. Ngay cả những người nghèo nhất cũng rất chịu đọc sách báo.

 

Tạm coi những thông tin trên là chân thực, đọc xong tự nhiên tôi nẩy ra một ý tưởng vui vui.

Tôi tự đặt ra một câu hỏi “Nếu cần viết một bản tin tương tự về văn hóa Việt thì lúc này đây, 3/2016, mình sẽ viết như thế nào?”

 

Đây là bản tôi đề nghị, các bạn xem hộ:

Nhân triển lãm sách tại Paris, người ta đã đề nghi ban tổ chức tính việc mời một số tác giả VN tham dự, nhưng được trả lời rằng cũng có vài ba nhà văn Việt Nam có sách in ở Pháp đấy, nhưng sách họ thường phổ biến trong phạm vi hẹp, bởi không mấy khi đến được cả với giới trí thức ưu tú cũng như bạn đọc đông đảo. Và sẽ là không thích hợp nếu mời họ tham dự vào hội chợ sách: họ không có tác phẩm nào mới gây được chú ý như cả chục năm trước.

Người ta được biết người Việt cũng rất tự hào về truyền thống của cộng đồng, nhưng chỉ là truyền thống chống ngoại xâm chứ không phải trong các tiêu chí xã hội thông thường.

Mối quan hệ người già và lớp trẻ ở Việt Nam sau chiến tranh luôn trục trặc.

Trong các gia đình, lớp trẻ hiện nay oán trách lớp già là cổ hủ không biết xoay xỏa kiếm sống và tin rằng cần phủ định lớp già hoàn toàn.

Trong thực tế, lớp già tuy cổ hủ nhưng còn biết điều và biết sợ. Lớp trẻ hiện nay đa số coi việc phá cách làm liều...là phẩm chất đáng tự hào và sẽ là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công.

 

Trong việc lập gia đình riêng, người trẻ thường tự quyết định tất cả. Cái chuyện bên Hàn Quốc “không bao giờ đặt người già vào việc đã rồi” ở Việt Nam cần đảo ngược theo nghĩa đen.

 

Một câu thành ngữ đã được đúc kết: “con cái đặt đâu bố mẹ ngồi đấy”.

Về chuyện đọc sách, số lượng sách in và được đọc ở Việt Nam, có lẽ thuộc loại thấp nhất thế giới (?).

 

Về sức đọc của người dân, thống kê của các cơ quan văn hóa mà báo chí đăng lại 12/4/2013 cho biết tính ra người Việt một năm chỉ đọc 0,8 cuốn sách. Mấy năm nay có khá hơn, nhưng chắc không bao nhiêu.

 

Chưa có thống kê về việc đọc sách của người giàu cũng như người nghèo, song có phần chắc sự khác nhau không đáng kể , bởi phần lớn số người giàu phất lên không phải là nhờ tài năng hay trí tuệ gì mà chỉ là nhờ giỏi xoay sở và biết lợi dụng các mối quan hệ làm ăn.

 

Ngay các nhà văn nhà báo cũng ít đọc. Do không biết ngoại ngữ, phần lớn họ chỉ đọc phần sách dịch vốn rất tạp nham mà giới dịch thuật non kém và giới xuất bản vốn mỏng làm ăn cò con... dọn sẵn cho họ.

 

Các luận án sĩ tiến sĩ thạc sĩ được hoàn thành với số tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt dùng ở nội địa, và số lượng cũng ít đến thảm hại . Các văn bản gọi là công trình nghiên cứu đó phần lớn làm xong cất ngăn kéo.

 

Sách khoa học xã hội gần như không bao giờ trở thành mặt hàng người ta tìm kiếm ở các hội chợ sách.

 

Khẩu hiệu để các hội chợ sách chèo kéo người đọc thường là “Sách đang hạ giá”.

Trong mối quan hệ giữa người và người, việc đọc sách không bao giờ là tiêu chuẩn để xem xét đánh giá. Hồi chiến tranh, ở Hà Nội, người ta còn tự hào là mình không cần đọc, nhà văn mà đọc lắm sẽ bị ảnh hưởng người khác.

 

Vả chăng với nhiều người Việt hiện tại, các khái niệm xấu hổ, mất mặt... khá xa lạ, nói chi là mất mặt xấu hổ vì không đọc sách.

...

Bài báo trên L’Express nói trên có tên là “Triều Tiên, xứ sở của những người có học thức”.

Tôi ngần ngại không dám viết ra đây cái tên định đặt cho mẩu tin vừa nghĩ, nhưng chắc các bạn đều hiểu.


Xin rút lại một ý kiến về giáo dục

Ngày đăng 2/4/2016

 

Thời tôi lớn lên, người ta nói nhiều về tính ham học người dân Nghệ Tĩnh.

Hai năm 1961- 1963, học ở Đại học sư phạm Vinh, tôi đã chứng kiến cái huyền thoại ấy.

Cuối tháng 3 và đầu tháng 4, mấy lần nghe tin đưa trên VTV 1, gần 40% học sinh Nghệ An không tham dự các cuộc xét tuyển vào đại học.

Cảm thấy như cả một thời đại đã qua đi, mà cái tinh thần rút gon lại tức là thế giới đảo ngược.

Việc từ chối giáo dục chính thống sẽ đưa chúng ta đến đâu?

 

Trên facebook này ngày 30/1/2015, tôi đã đưa một vài ý kiến, đoạn đầu như sau:

 

Có phải là một lời khuyên vô trách nhiệm?

Đi lại trên đường phố Sài Gòn tôi thường trông vào các ông xe ôm. Vì bao giờ tôi cũng nhân dịp này, hỏi thêm họ vài chuyện có liên quan tới tình cảnh dân nghèo trong thành phố, nhất là chuyện đi học của con cái. Sau khi nghe họ kể lể về gia cảnh, tôi thường bảo:

- Thời buổi này bác ạ, trừ phi gặp đứa thật giỏi giang không kể, còn đừng có cho chúng nó đi học nhiều làm gì. Xong độ trung học cơ sở là thôi, cho đi học nghề. Các nghề linh tinh nhận tiền của dân ấy. Lam lũ nhưng chắc chắn. Bị coi khinh có khi lại sống.

- Học lên đến đại học chỉ phí tiền mà ra vẫn thất nghiệp?

- Đúng vậy. Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay, cấp nào cũng xoay. Kệ dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được họ đua với nhau. Với lại sau này họ còn có chỗ cho con họ thế chỗ.

Gặp ông biết nghe và hiểu tình hình, tôi còn nói thêm vài chuyện nữa.

Bây giờ cho trẻ đi học là chuốc lấy các loại kiến thức cũ mèm và nhiều thói xấu, mà xấu nhất là gian dối.

Cả đi làm nhà nước cũng vậy.

Âu là cứ trở về với dân gian. Chính dân gian lại dạy bảo nhau những điều tử tế.

Còn truy nguyên ư, nó xuất phát từ cái cảm giác tuyệt vọng của tôi về nền giáo dục đương thời. Làm sao mà có thể cải tạo cái bộ máy giáo dục hiện nay để chúng ta có thể yên tâm gửi con gửi cái cho họ được? Tương lai là mù mịt.

 

Đằng nào cũng chết

Cái hỏng nhất của tôi trong ý kiến nói trên là tin tưởng rằng dân gian có thể tự tìm ra lối thoát cho cái đời sống bế tắc mọi đường hôm nay. Khi không thi vào đại học, các bạn trẻ xứ Nghệ và các bạn trẻ ở các vùng khác sẽ biết tìm tới cách đi vào các ngành nghề thiết thực, và tự đào tạo lấy bản thân. Cái logic mà tôi tưởng là thông thường ấy là sản phẩm của những bài học tôi học ở nhà trường thời niên thiếu: nhân dân sẽ tìm ra con đường của mình.

Ảo tưởng hết!

Nhìn lại các gia đình quanh mình, tôi thấy khả năng đề kháng của con người hiện nay đã bị tiêu hủy gần hết. Thời tiền chiến người ta còn gặp những người dân thường hiền lành chất phác bằng lòng với cuộc sống của mình - đọc một nhà văn như Thạch Lam là thấy rõ nhất .

Sau ba mươi năm chiến tranh, tinh hoa mất đi, nhìn vào con người chỉ thấy cái phần hoang dại. Bốn mươi năm hậu chiến, cái phần bã ấy có được tô vẽ đủ vành đủ kiểu, nhưng bản chất vẫn vậy.

Thời nay rất nhiều người quanh ta và chính ta nữa, gọi là được giải phóng, nhưng trên nhiều phương diện là trở nên hỗn hào hư hỏng, không còn biết thế nào là tử tế lương thiện, dám làm tất cả mọi việc mưu sinh và không bao giờ dừng bước trước nhu cầu vật chất tầm thường của mình.

Lấy ngay trong việc làm nghề kiếm sống hiện nay làm ví dụ. Làm gì còn những người nông dân gắn bó với ruộng đồng? Làm gì còn những người thợ thủ công tay nghề tinh xảo? Làm gì còn những trí thức chuẩn mực và liêm khiết? Trên con đường đạt tới mục đích rất dung tục, con người hiện nay nhiều khi dám làm những việc mà nói như một câu danh ngôn “đến thần thánh cũng phải kinh sợ.”

Học xong trung học phổ thông, liệu có bao nhiêu phần trăm các em học sinh bỏ ra đi làm hôm nay có thể trở thành những con người có nghề nghiệp có lý tưởng sống tử tế như con người trong các thời đại trước vẫn sống?

Tôi mặc dầu rất muốn nhưng hơi khó thuyết phục mình rằng nên tin ở những câu trả lời tích cực.

 

Hiểu sao về hy vọng tuyệt vọng?

Nhân dân đã bị làm hỏng. Một kết luận cực đoan như thế lâu nay trong đầu óc tôi cứ hình thành dần dần và tôi ấp úng không dám nói ra, tự nghĩ rằng có lẽ phải tìm được nhiều ví dụ nữa để chứng minh; và quan trọng hơn, phải nghiên cứu để tìm ra cách đổi thay vận mệnh.

Một công trình như thế một hai người làm sao nổi?

Nhưng xin cứ ghi nó ra đây, âu cũng là một cách để sống lại cái tư tưởng mà các nhà tư tưởng nhiều thế kỷ trước đã nói “Con người không bao giờ được phép đầu hàng.”

Gần với ta hơn, tôi nhớ có câu của Trịnh Công Sơn “Tôi ơi đừng tuyệt vọng!”.

Tuy nhiên, chắc một số bạn cũng như tôi, nhiều lúc nghĩ rằng cái lối tự nhủ như thế, có vẻ như là một cách tự lừa mình, tự an ủi mình để sống cho qua ngày.

Trên đường học hỏi, tôi tìm được một vài ý tưởng hiện đại hơn .

- Lớp người như tôi ghi tâm khắc cốt "Bài ca hy vọng" của Văn Ký do nghệ sĩ Khánh Vân hát. Từ hồi có mạng, tôi có nghe thêm mấy người khác như Mỹ Bình, Trung Kiên và chỉ thẩy Rơ Chem Phiang là đạt một cái mốc như Khánh Vân.

Nhưng một nam ca sĩ là Lão Nông thì có câu bình luận rất hay: Bài ca hy vọng cũng là bài ca tuyệt vọng.

- Một nghệ sĩ chèo trứ danh ở Hà Nội được đào tạo từ trước 1945 là bà cả Tam. Bà bảo người diễn viên phải diễn sao cho “trong cái được có cái mất, trong cái vui có cái buồn, trong cái vô vọng có cái hy vọng”, thì mới thấu đáo tình người và lẽ đời.

- Và cái câu tuyệt vời nhất, gần với hoàn cảnh chúng ta hôm nay nhất là mệnh đề kép của của nhà văn Pháp A. Camus, lúc này đây tôi nhớ đại ý:

“Phải từ giã hết mọi hy vọng trần thế thì mới đạt được cái hy vọng chân chính”


Giàu có và tử tế thời nay

Ngày đăng 14/5/2016

 

Khoảng cuối 2002, đầu 2003, một người Đức đã viết trên mạng về một số khía cạnh xấu xí của người Việt trong đó có khía cạnh liên quan tới một nếp tư duy phổ biến trong chúng ta .

Sau khi kể lại những tình trạng lộn xộn trong xã hội Việt hiện nay ông người Đức này bảo hình như nhiều người bản địa cũng biết mình hư hỏng nhưng lại có lối đổ thừa cho hoàn cảnh.

Nhiều người Việt ông gặp nói thẳng vào mặt ông là tại chúng tôi nghèo quá nên chúng tôi mới hư hỏng thế này, còn nếu giàu có lên thì chúng tôi sẽ tử tế ngay.

Còn theo kinh nghiệm của người Đức và nhiều cộng đồng khác, con người phải tử tế thì mới có được sự giàu có chắc chắn.

Vậy là giữa người mình với người nhiều nước khác, đang có sự khác nhau về cách nghĩ.

Nên hiểu thế nào về tình trạng này?

Tôi nghĩ rằng những lúc tỉnh táo đối diện với mình có vẻ như khá đông chúng ta trong thâm tâm đều công nhận người Đức kia nói đúng dù là làm theo thì không thể.

Tuy sóng trong một xa hội chưa có điều kiện tổng kết nhưng con người VN thời trung đại đã thấm thía các bài học về việc làm người của mình trong đó có những triết lý cũng chẳng khác gì các cộng đồng khác. “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà” – cái câu cửa miệng ấy ai mà chẳng biết.

Thế tại sao lúc này đa số người Việt chúng ta lại sống với cái triết lý “giàu có rồi sẽ tử tế” tức là thả lỏng cho mình tự do xoay sở và cho phép mình kiếm sống bằng bất cứ phương tiện nào kể cả những phương tiện của quỷ dữ.

Câu trả lời của tôi trong trường hợp này là tại vì chúng ta trải qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp nó làm biến dạng cả mày mặt con người tư tưởng của chúng ta.

Là người đã sống ở Hà Nội thời chiến và hậu chiến suốt 50 chục năm qua, tôi thấy cái triết lý này có cơ sở của nó.

-- chiến tranh không đào tạo người ta thành người lao động bình thường, trước cuộc mưu sinh ngày nay, mỗi người hoàn toàn bất lực.

-- đi qua chiến tranh, người ta sống cảm giác kẻ sống sót, không thấy cuộc đời có ý nghĩa gì ngoài sự hưởng thụ.

-- để sống đươc trong chiến tranh người ta phải trải qua một sự TỰ LỪA DỐI mà đơn giản nhất là sự tin tưởng rằng sau chiến tranh, tự nhiên ta có tất cả.

Nên nhớ là dưới bom đạn, ảo tưởng lại được nuôi nấng, và đến nay khi ảo tưởng đó tiêu tan, thì con người ta như con trâu đứt mũi, thả mình phiêu lưu trong sự hư hỏng.

Ai cũng biết là nạn ăn cắp hiện nay quá phát triển mà một trong những lý do làm cho người ta yên tâm làm vậy là thấy ăn cắp -- bao gồm tham nhũng -- không bị trừng trị và không sao có thể trừng trị đến cùng.

Chắc mọi người lứa tuổi tôi đều biết ở Hà Nội những năm chiến tranh, nếu cả tập thể ăn cắp ( = tham nhũng ) rồi chia chác sòng phẳng thì coi như không có lỗi. Ở nông thôn vậy mà ở đô thị, --- nơi không chỉ có con buôn phe phẩy mà còn có giai cấp công nhân tiên tiến và bộ phận cán bộ kiên trung -- cũng đều như vậy.

Tinh thần bày đàn đã làm cho mỗi chúng ta mạnh lên và tự tin thêm rất nhiều.

“Người làm sao ta làm vậy- người làm bậy ta làm theo” chúng tôi tự nhủ như vậy.

Nếu tính cho chi li, ai cũng thấy sự sống “chẳng kém gì người” của một phần lớn chúng tôi hiện nay không ít thì nhiều là do mạnh tay kiếm chác trong lúc nhộm nhoạm, tức nói đến cùng kiệt, là đi qua con đường bất chính, và vì tất cả đều chung một con đường đó để đi, nên không ai “lạy ông tôi ở bụi này” bàn chuyện công khai cho mệt.

Còn những người giàu nhất?

Như các tài liệu thống kê công khai mà thế giới làm hộ ta đã chỉ rõ, chỉ một số nhỏ người Viêt giàu có “ngang tầm thế giới” hiện nay là làm ăn hợp pháp, còn lại hầu hết đám người kiệt xuất này không chứng minh được nguồn gốc tài sản của mình.

Bóng tối trên con đường làm giàu của họ lan tỏa vào tâm hồn họ. Họ dẫn đầu đám đông trên con đường xoay ra ủng hộ cho sự bất lương trên tất cả các phương diện chính trị xã hội.

Cái triết lý tự do làm giàu bất chấp lương tâm lẽ đời đó hiện nay – đôi khi đã được đóng gói che đậy - xâm nhập khắp nơi, từ những điều nói công khai trên đài trên báo, cho tới văn chương thơ phú, nó cũng là cái tinh thần chính len vào câu chuyện giữa người với người ở chỗ riêng tư.

Bây giờ không làm gì có những ông bố bà mẹ sáng sớm gọi con trở dạy chỉ dẫn bảo ban con về việc làm người. Trong lúc tỉnh táo nhất những ông bố bà mẹ ấy may lắm chỉ khuyên con có cóp bài hay tham nhũng thì hãy làm kheo khéo, ngoài ra đừng có nổi máu tử tế mà chết.

Chắc chẳng ai ngờ rằng như thế tức là trên phạm vi toàn xã hội cái tinh thần chính mà thế hệ đương thời truyền lại cho các thế hệ sau rút lại chính là khả năng bách chiến bách thắng của gian dối tàn ác.

Có lẽ vì thế câu chuyện người Đức nói ở trên chả mấy ai để ý.

Một khía cạnh mâu thuẫn trong tâm lý người Việt 

Ngày đăng 3/6/2016

 

Bên cạnh con người lì lợm Chí Phèo, Nam Cao còn thác sinh ra một loại nhân vật đặc biệt của các làng quê Việt Nam, của xã hội Việt Nam nói chung. Đó là những con người nhẫn nhục chịu đựng.

 

Dì Hảo trong thiên truyện cùng tên cũng như Nhu trong “Ở hiền” là những nhân vật bất hạnh gần như bẩm sinh. Trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, họ luôn luôn bị bắt nạt mà lại luôn luôn cắn răng yên phận kéo dài cuộc đời trong sự bất công thua thiệt.

 

Không chỉ các tôn giáo mà cả những người có lương tri đều khuyên con người biết chấp nhận đời sống, chấp nhận để chung sống rồi tìm cách đổi khác sau.

Nhưng chấp nhận khoan dung khác với nhẫn nhục của những nhân vật trên. Sự nhẫn nhục ở đây là phản ứng thụ động của con người và do đó gần với sự đầu hàng. Thế nhẫn nhục có phải chỉ thấy ở người phụ nữ Việt?

 

Không hẳn. Dân gian xưa truyền tụng loại người hiền như đất, lành nhưng cục, mặt nạc đóm dày… chính là để chỉ đám đàn ông loại này. Chỉ có khác là ở nam giới, những cá thể trong thế chân tường thường nảy sinh sự bột phát làm liều, mà khi được đẩy lên cao độ thì trở thành hung hãn càn rỡ. Đó là Chí Phèo mà cũng là binh Chức, là Trạch Văn Đoành, là nhân vật Đức ngẩn ngơ “con ông thiên lôi đâm lòi bụng vợ” (trong “Nửa đêm”).

 

Chuyển sang mặt đối lập

Nhưng Nam Cao là một ngòi bút cận nhân tình. Ông cho thấy loại nhân vật đập phá không phải bẩm sinh đã vậy. Trước khi đi tù, Chí Phèo cào làng ăn vạ chuyên môn được sai đi đòi nợ, là một anh lực điền hiền và nhát.

 

Những nhân vật khác cũng có tiến trình tâm lý tương tự. Trong dân gian, hành động làm liều của con người thường được ví như diều đứt dây. Tự do. Không còn ràng buộc. Nhưng mất phương hướng. Và thực là bé nhỏ trước cuộc đời bão táp. Người làm liều tự nhủ: “Một liều ba bảy cũng liều/ Cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây”.

Thường cả khi nhẫn nhục lẫn lúc làm liều, người ta không khỏi thấy mình vô lý. Nhưng trong lúc không đủ lý trí sáng suốt để phân tích lý giải tình thế hãy cứ đành thế cái đã. Trong hành động đã mang sẵn mầm tuyệt vọng.

“Ngồi buồn đốt một đống rơm -

Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào -

Khói lên đến tận thiên tào -

Ngọc hoàng phán hỏi thằng nào đốt rơm”

 

Từ chỗ chỉ chống đối vu vơ, chẳng đâu vào đâu, đùng một cái người ta đi tới những hành động quyết liệt hơn. Lúc này diều đứt dây đã biến thành trâu đứt mũi, lồng lộn phá phách. Làm liều đồng nghĩa với những hiện tượng manh động.

Ba Giai Tú Xuất, cũng như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, là một loại truyện cười đi thành series, thành chuỗi, cả truyện gồm nhiều mẩu nhỏ xoay quanh một nhân vật thống nhất.

 

Về mặt tính cách, nếu Trạng Quỳnh chỉ kẻ phá cách của các làng xóm trung cổ thì Ba Giai Tú Xuất đã vượt ra cả một vùng rộng lớn và có nhiều nét của con người hiện đại.

 

Trạng Quỳnh lấy việc trêu chọc mọi người làm vui. Trong hành động của Trạng có bao hàm cái ý tranh tài tranh giỏi. Việc “cho châu chấu trộn phân vào trong ống tre để ai đòi xem sẽ thấy văn mình thối như thế nào” xem ra đi quá đà, nhưng chẳng qua Trạng chỉ cốt lỡm mấy kẻ hay chữ rởm.

 

Ba Giai Tú Xuất nổi tiếng với những việc như cho người khác vào tròng, vào hàng ăn quỵt hoặc làm bẽ mặt phụ nữ. Và nếu hành động của Trạng Quỳnh chỉ là một thứ đùa nhả thì Ba Giai Tú Xuất đã có những việc càn rỡ đểu cáng. Việc quấy phá của họ có sự tính toán chủ động hẳn hoi. Sự tiến hóa trong ứng xử của con người ở đây là điều tự nhiên.

 

U tối khó hiểu

Nguyễn Văn Huyên trong cuốn “Văn minh Việt Nam” (1944) từng nói rất hay về những mâu thuẫn trong con người quê hương “Chẳng có mặt nào trong tính cách người Việt lại không có mặt bù lại, không gọi ra ngay tức khắc một bằng chứng ngược lại”. Ông bảo người mình phóng túng mơ mộng, nhưng lại cũng rất thực tế; vừa hay thay đổi, lại vừa là những tay dai dẳng và kiên trì đến cùng trong việc theo đuổi mục đích của mình.

 

Câu chuyện chúng ta nói ở đây lại là một minh chứng cho quy luật mà Nguyễn Văn Huyên phát hiện. Sự đắp đổi giữa nhẫn nhục và làm liều khiến cho con người Việt trong con mắt người nước ngoài hiện ra có phần u tối khó hiểu. Người ta không thể đoán được những gì xảy ra đối với họ, luôn luôn họ có thể thế này mà cũng có thể thế khác.

 

Hướng phát triển tai hại

Trong đời sống hiện đại, sự nhẫn nhục ngày càng mất đi, thay vào đó, sự manh động làm liều có nhiều phần tăng lên và được bộc lộ ra muôn ngàn cách khác nhau. Nó có giải phóng ở con người những năng lực nào đó, nhưng lại khiến cho xã hội từng lúc từng chỗ như rơi vào một tình trạng mà xã hội học gọi là sự loạn cương (tiếng Pháp: anomie).

 

Sự hỗn loạn thắng thế còn niềm khao khát trật tự thì bị lép vế và dần trôi vào quên lãng với nghĩa người ta quên rằng nó - tinh thần trật tự - là nhân tố hàng đầu của văn hóa theo nghĩa khái quát nhất của từ này.


Bột phát hồn nhiên hay là nông nổi nhẹ dạ

Ngày đăng 4/6/2016

 

Người Việt chúng ta sống ở trong nhịp điệu trong thanh âm nhiều hơn trong tư tưởng. Tâm lý ấy có giống với tâm lý trẻ con. Trẻ con thường vẫn ca hát luôn miệng mà chẳng mấy khi quan tâm đến ý nghĩa lời ca”.

Văn hóa Việt Nam quý ở phần tình cảm hơn phần tư tưởng, ở phần tiềm thức hơn ở phần hữu thức”.

 

Hoài Thanh đã viết như vậy trong bài “Có một nền văn hóa Việt Nam” (1946)

Năm 1951, trong tập sách nhỏ “Mấy vấn đề nghệ thuật” gồm mấy chục trang mỏng, in trên giấy dó - và sau này không thấy in lại nữa – Nguyễn Đình Thi cũng nhấn mạnh tính hồn nhiên tự phát của văn hóa Việt Nam. Chẳng hạn theo ông, âm nhạc ta thiếu hẳn phần hòa âm là phần đòi hỏi trí tuệ. Với ông, lục bát như con sông miên man chảy, nó dễ tràn bờ, và thường phung phí sức lực.

 

Điều đáng chú ý là trong không khí say sưa vì Cách mạng, cả Hoài Thanh và Nguyễn Đình Thi đều nói về đặc tính trên của người Việt với niềm tự hào.

- Chúng ta là thế đấy.

- Chúng ta chẳng cần gì cả

 

Trong khi ấy, chỉ cần lùi về trước vài năm, người ta thấy những Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên … đều đã viết về phương diện này của tính cách Việt với tinh thần phê phán.

Rằng người Việt nông nổi nhẹ dạ.

Ta dễ dãi chấp nhận của người mà không lo tìm lấy tư tưởng của mình.

Ta có ngay cách tháo gỡ mỗi khi gặp nước bí, nhưng lại rơi vào bế tắc trong những dịp phải đối mặt với những vấn đề lớn.

 

Rõ ràng những âu lo ở đây là đúng với người mình hơn những suy nghĩ bốc đồng kiểu Hoài Thanh nói ở trên.

 

Riêng hai câu thơ Tản Đà “Dân hai nhăm triệu ai người lớn – Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con” thì càng ngày người ta càng thấy đúng.

 

Mặc dù trong lý lịch trích ngang, Kiều là nhân vật lấy từ một truyện Trung Hoa, song khi cần nhắc đến một nhân vật văn học “đặc chất Việt Nam” người ta gọi tên Kiều. Tại sao? Tôi nghĩ ở đây các thế hệ bạn đọc có cái lý sâu xa của mình. Nhà có hoạn nạn, chẳng tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, Kiều chỉ khóc lóc rồi đòi đi bán mình. Lời khuyên Từ Hải ra hàng là cả một trọng tội … Tất cả chỉ vì Kiều đặt tình cảm lên trên mà thiếu hẳn sự suy tính cần thiết trước mọi diễn biến cuộc sống.

Cách cư xử như Tố Hữu viết “Trái tim lầm chỗ để trên đầu” không chỉ đúng với nhân vật nàng Mỵ Châu trong truyền thuyết xưa mà đúng với người Việt nói chung, ngay trong sinh hoạt hàng ngày lẫn cả khi cần giải quyết việc “quốc gia đại sự”.

 

Đặc biệt là mãi đên hôm nay học thuật của ta vẫn ngoi ngóp tẻ nhạt không sao trở thành một thứ tự ý thức sáng suốt đồng hành với mọi tiến bộ xã hội.

Đành nghĩ đó đã là cái bản sắc cái trình độ riêng của mỗi giống người, không phải bỗng chốc thay đổi được.

 

Sự vô tâm – đúng hơn sự hạn hẹp của tầm nhìn, sự dễ dãi trong thích ứng, sự ngại ngùng biếng nhác trong suy nghĩ, - tất cả những biểu hiện đó làm hại tới sự phát triển. Dù rất thiện chí thì cũng phải nhận như vậy.

 

Thế nhưng đáng lẽ phải xót xa lo lắng thì đằng này vẫn xảy ra một tình trạng ngược lại. Nhiều người thích lý tưởng hóa cái thói quen trẻ con đó. Họ không tìm cách nâng mình lên để phù hợp với nhu cầu mà sẵn sàng để sự nông nổi níu chân. Và “ma đưa lối quỷ đưa đường - lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”, câu Kiều xưa vẫn có sức ám ảnh. tôi muốn dùng lại tên một truyện ngắn của Trần Duy: như một tiếng sáo tiền kiếp.


Tự do trước các nhu cầu vật chất

Ngày đăng 8/6/2016

 

Trong bài nói chuyện của tổng thống Mỹ đương nhiệm Obama trước sinh viên trường đại học Rangoon 19-11-2012, người ta bắt gặp một đoạn có liên quan tới tự do như sau

Tự do không phải là một ý tưởng trừu tượng, tự do chính là điều làm cho tiến bộ loài người có thể xảy ra - không chỉ tại các thùng phiếu, nhưng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Franklin Delano Roosevelt, một trong những Tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ, đã hiểu rõ sự thật này. Ông xác định cứu cánh của Mỹ là điều gì đó nhiều hơn chỉ quyền bỏ phiếu. Ông hiểu dân chủ không chỉ là việc đi bầu. Ông kêu gọi thế giới nắm lấy bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do thờ phụng, (tự do) thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, và (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi.

Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng.

Vì vậy, đó là tương lai mà chúng ta tìm kiếm cho chính mình, và cho tất cả mọi người.

http://kinhtebien.vn/index.php…

Về tự do ngôn luận và tự do thờ phụng thì không có gì lạ.

Với sự vận động của xã hội hiện đại, tự do thoát khỏi sợ hãi, cũng đang được chúng ta thể nghiệm và chú ý nhiều hơn.

Lần này, trong khi ngẫm nghĩ một chút trước câu nói của Roosevelt, tôi đặc biệt chú ý loại tự do thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất.

Diệt dục là một lời khuyên chủ yếu của Đạo Phật.

Lẽ sống mà Lão tử muốn làm gương cũng là từ bỏ mọi ham muốn.

Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, đó là cái phương châm mà người quân tử trong đạo Nho thường lấy làm lòng.

Huống chi với tư cách là những con người của một xứ sở nghèo nàn lạc hậu, nhiều người chúng ta có bao giờ được sung sướng đâu mà sợ là bị sa ngã?

Tưởng sự đứng vững trước sự cám dỗ của vật chất là cái gì hoàn toàn dễ dàng. Song ta đã nhầm.

Tuy động lực chính của cách mạng là các tầng lớp cơ bản mà nay gọi là công nông, song người truyền bá những tư tưởng cách mạng đầu tiên lại là những người thuộc các tầng lớp trên, rất nhiều người trong họ đã từ bỏ gia đình và chính cuộc đời sung sướng vốn có, tức nói như ta nói ngày nay, họ hy sinh tất cả vì lý tưởng.

Khổ hạnh trở thành phong cách sống trong cuộc sống của cách mạng trong thời kỳ đầu.

Gọi là khổ hạnh thôi, thật ra chỉ là sống đúng với cái mình đang có.

Nhưng rồi thời gian qua đi. Một thói xấu có vẻ dễ tha thứ của những người thành đạt hôm nay, ngay cả những cấp rất thấp, lại là sự đua đả chạy theo vật chất.

Không thể vơ đũa cả nắm nhưng phải nhận bệnh đang phổ biến.

Bệnh của quan lan ra thành bệnh của dân. Nhiều người lao vào con đường quan chức vì tin rằng đó là con đường ngắn nhất để đi tới hưởng thụ mà không bao giờ phải hối hận.

Do quá nhiều người mắc nên lúc này có vẻ như chẳng ai xem đây là bệnh nữa.

Thói ham hưởng thụ đã trở thành một cách sống chi phối những người tuyên bố khổ hạnh hôm qua. Vì ham hưởng thụ mà người ta sẵn sàng ăn cắp tham nhũng bè phái làm bậy. Vì ham hưởng thụ mà người ta sẵn sàng bẻ queo cả văn hóa cả luật pháp. Và không bao giờ người ta chấp nhận rằng thực ra lúc này mình đã mất tự do để trở thành tù nhân của những cám dỗ vật chất như Roosevelt từng nói và bây giờ Obama nhắc lại.

Khi nghiên cứu về các chiến sĩ tình báo xô viết, các nhà quan sát ghi nhận một sự thực. Nhiều người hoạt động trong những điều kiện gian khổ thì chịu được. Nhưng động đến của cải vật chất là đầu hàng. Các cơ quan phản gián phương Tây thường lợi dụng chỗ yếu này của tình báo xô viết để chiêu nạp những nhân viên làm việc cho cả hai bên.


Nói thêm về "tự do trước các nhu cầu vật chất"

Ngày đăng 9/6/2016

 

Trong bài hôm qua, tôi đã nói dân mình hiện nay quá ham hưởng thụ, đang lấy hưởng thụ làm lẽ sống nên các ý tưởng của Roosevelt thật có giá trị gợi ý.

Ngồi nghĩ thêm một chút thấy trong đờì sống hậu chiến, cái sự ham muốn quá đáng ấy cứ được thổi mãi lên, chẳng qua là vì mấy lý do:

 

Từ trước đến nay ta sống khổ quá. Trong các lý thuyết hướng dẫn cách sống của con người, sự hưởng thụ nhiều khi bị coi là cái tội.

Trải qua một thời gian dài bảo nhau làm ăn phấn đấu, vậy mà cứ mãi không sướng được.

 

Đến mức trong ta mất hết tự tin.

 

Khi tự nhủ thầm “sẽ chẳng bao giờ ta được sướng đâu” cũng là lúc con người tự thả phanh cho mình truy tìm sự hưởng thụ trước mắt và càng làm càng say, càng hưởng thụ càng thấy hóa ra đời sướng thế này mà không biết, chỉ cần chịu hư một chút là ta sẽ có.

 

Những ý nghĩ loại này thoạt tiên chỉ phảng phất nhen nhúm, sau cứ mỗi ngày mỗi bắt rễ trong đầu. Đến khi nhận ra rằng nhiều bậc đạo cao đức trọng trong xã hội hóa ra cả đời phấn đấu cũng chỉ cốt để hưởng thụ như các bậc vua chúa ngày xưa, người ta chỉ còn có cách tự oán trách rằng mình khôn muộn thế.

Tức nay là lúc đời sống tinh thần chúng ta khá trống rỗng, ta chỉ lo tìm lối thoát khỏi bế tắc, mọi chuyện lý tưởng hay nói xưa kia nay tạm kính nhi viễn chi cái đã.

Một quá trình mình tự dối mình lan tỏa dần dần, và tồn tại như một phương thức tự vệ. “Này hãy tỉnh lại chớ có mê muội như ngày hôm qua mà chỉ có chết” - nhiều lúc con người khôn ngoan của ta ân cần nhắc ta như vậy.

 

Câu chuyện của Roosevelt, mà Obama dẫn lại trong bài nói ở Rangoon 2012 còn một ý nữa đáng lưu ý. Sau khi nói rằng có bốn quyền tự do cơ bản: tự do ngôn luận, tự do thờ phụng, (tự do) thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, và (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi R Roosevelt nói thêm "Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng."

Đối với người Việt mình hôm nay, đây quả là một điều mới lạ mà phải nghĩ thêm ta mới hiểu, còn hiện nay xin cứ tạm công nhận cái đã.


Sự lạc hậu của giáo dục qua sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1

Ngày đăng 10/6/2016

 

Trong lần phát biểu tại lễ trao giải thưởng văn hóa Phan Chu Trinh đầu 2016, một giáo sư người Pháp ông Pierre Darriulat đã lên tiếng than phiền là nhiều sinh viên Việt Nam phải học các kiến thức rất lạc hậu, mà sinh viên các nước bỏ qua, phải học như thế thì còn đâu thời gian học những cái mới khai phá nữa.

Tôi bắt gặp sự lạc hậu ngay trong các loại sách giáo khoa lớp 1. Ví dụ trong phần Toán, trẻ hiện nay vẫn làm rất nhiều bài tập, trong khi máy tính với các em không còn xa lạ nữa, và ra làm công chức các em không phải mất thời giờ cộng trừ nhiều như các thế hệ đi trước.

Nhưng tôi đặc biệt chú ý đến phần nội dung sách tiếng Việt.

Trước mắt tôi là bài thơ “Ngôi nhà”, của tác giả Tô Hà in trong phần chủ điểm Gia đình của sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1, bản của NXB Giáo dục Việt Nam 2014.

NGÔI NHÀ

Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

Em yêu tiếng chim

Đầu hồi lảnh lót

Mái vàng thơm phức

Rạ đầy sân phơi

Em yêu ngôi nhà

Gỗ, tre mộc mạc

Như yêu đất nước

Bốn mùa chim ca

Cảm tưởng chính của tôi là nội dung nêu lên có nhiều phần khó tưởng tượng so với học sinh hiện nay, nhất là học sinh ở các đô thị.

 

Làng xóm Việt Nam hiện nay đến 80 - 90% đã được bê tông hóa, phải làm gì còn có “hàng xoan trước ngõ”, với tiếng chim lảnh lót đầu hồi. Và hình ảnh đất nước bốn mùa chim ca tượng trưng cho Việt Nam trong quá khứ hơn hiện tại.

 

Trong một bài viết khác, người ta dạy trẻ yêu mến bà mẹ vì bà đã làm ăn vất vả đến khuya còn thắp đèn ra sân để sàng sẩy gạo. Nếu là giáo viên tôi chắc phải dành thời gian giảng cho các em cách làm gạo ngày xưa, mà tìm đâu ra tài liệu tham khảo ấy bây giờ.

 

Chẳng những không cần học hoặc chỉ học rất ít những kiến thức sáo mòn về cuộc sống trong quá khứ, tôi lại thấy trẻ hiện nay rất cần những kiến thức cụ thể, viết về cuộc sống đang thay đổi so với bốn mươi năm mươi năm trước. Loại kiến thức này bao gồm từ cách làm quen với con người khung cảnh tới việc phải sử dụng các tiện nghi như thế nào và nói chung phải sống như thế nào trong các thành phố hiện đại.

Có lần tôi đi mua cho đứa cháu nội quyển sách dạy về các hoạt động của trẻ ngoài trời cuốn “Sách cho con trai”. Sách toàn những kiến thức xa lạ với học sinh hiện nay. Nhưng tôi tìm thấy một trang, ở đó người ta dạy trẻ con những điều không nên làm khi ngồi trên ô tô đại khái như không được thúc chân vào ghế người ngồi trước, không được nói chuyện to làm phiền người lái, không được luôn mồm hỏi còn bao nhiêu phút tới. Những kiến thức thiết thực vậy nên được đưa đưa vào dạy dỗ các trẻ, kể cả trẻ nông thôn. Vì sao ư, vì cả những học sinh ở vùng nông thôn xa thành phố, cái ô tô không còn xa lạ nữa; các em làm gì chả có trường hợp theo trường theo lớp đi tham quan các đô thị dạy các em sao gọi là thừa.

 

Trong một tài liệu dạy chữ Hán ở bậc trung học của nền giáo dục Sài Gòn trước 1975, tác giả Trần Trọng San có lấy lại nhiều bài trong sách Tân quốc văn mà người Trung Quốc trước 1949 soạn cho bậc tiểu học của họ. Có một bài khiến tôi nhớ là bài dạy về cách trẻ con quan hệ với người nước ngoài thế nào, tại sao phải làm vậy. Tôi nghĩ đây cũng là điều rất cấp bách trong hoàn cảnh của xã hội được mở cửa như hiện nay. Chưa bao giờ những người nước ngoài có mặt trong đời sống người Việt thường xuyên như hiện nay. Quan hệ với những người nước ngoài như thế nào đó là điều chúng ta phải dạy cho trẻ. Mà không chừng điều đó còn cần cho cha mẹ các em nữa, khi xem con học, cha mẹ cũng học luôn thể

 

Trong giới giáo dục hiện thời nhiều người nhắc đến tập Quốc văn giáo khoa thư mà các ông Trần Trọng Kim và Đỗ Thận soạn cho bậc tiểu học. Tuy nhiên, chắc các nhà soạn sách giáo khoa thời nay chưa nghiên cứu những cuốn sách đó thật đầy đủ. Tôi chỉ lưu ý là trong các bộ sách đó, những người viết không chỉ nêu các tấm gương mà trẻ phải theo mà còn nêu những thói xấu mà trẻ phải tránh. Đây là cả một hướng viết các bài tập đọc ngắn trong sách lớp một lớp hai mà ta nên học, nó là nhu cầu đối với cả học sinh lẫn thầy giáo và cha mẹ.


Người với người là bạn

Ngày đăng 15/6/2016

 

Trong bài trước tôi đã nói tới một đoạn trong sách “Tân Quốc Văn” Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch dạy trẻ về quan hệ với người nước ngoài. Dưới đây là toàn văn bản dịch bài đó của nhà giáo Trần Trọng San trong sách “Hán văn” soạn từ trước 1975 và gần đây được in lại cả ở trong nước cũng như hải ngoại:

 

CÁI ĐẠO ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Con cọp, con chó sói rất hung ác. Chim ưng, chim chuẩn rất dũng mãnh. Nhưng không hề nghe nói chúng ăn thịt nhau. Vì sao? Vì chúng yêu đồng loại. Nay con người có thể không yêu đồng loại được ư? Những con người trong một nhà là đồng loại của ta, nên ta yêu. Họp nhiều nhà lại thành nước: những người trong một nước đều là đồng loại của ta, nên ta cũng yêu. Họp nhiều nước lại thành thế giới, những người trên toàn thế giới không phải đồng loại của ta ư? Ta làm sao không yêu họ?

Những dân tộc chưa khai hóa thường cho rằng những người nước khác có ngôn ngữ, phục sức bất đồng, phong tục, lễ nghi khác nhau, nên dùng những hành vi nghiêm khắc, bạo ngược, khinh bạc, đối xử với họ. Đến khi việc giao thông đã nhiều, nền văn minh mở rộng, người ta mới biết rằng hễ cùng là nhân loại, thì bất luận màu da như thế nào, trình độ như thế nào, đều phải được đối xử theo đạo lý. Dẫu trong trường hợp bất hạnh hai nước khai chiến, công phạt lẫn nhau, vẫn phải che chở cho những nhà buôn kiều ngụ, chữa chạy cho những tù binh bị thương. Trong lúc hai nước khai chiến mà người các nước đó còn phải đối xử với nhau như vậy, thì có thể hiểu được cách cư xử của họ trong những ngày hòa bình.”

 

Điểm nhấn ở đây, theo tôi, là cái quan niệm của người soạn sách về tình nhân loại. Người với người là bạn và ta phải đối xử với người thuộc mọi màu da, mọi trình độ ... theo đạo lý. Ngay cả khi giữa hai nước có chiến tranh thì trên nguyên tắc vẫn phải nhớ tới tư tưởng này để trong những hoàn cảnh có thể, đối xử với người bên kia chiến tuyến như những con người. Che chở cho những nhà buôn kiều ngụ, chữa chạy cho những tù binh bị thương – đằng sau hai việc cụ thể ấy chúng ta sẽ tự hiểu ra cái tinh thần cần phải noi theo những trường hợp khó xử khác.

 

Từ những sách dạy cổ văn Trung quốc của các nhà văn nhà giáo như Nguyễn Hiến Lê, Trần Trọng San, Võ Như Nguyện và Nguyễn Mộng Giao... tôi thấy có nhiều bài dạy trẻ cũng tương tự như bài trên.

 

- Chúng – các bài ấy - theo sát tinh thần thế giới đại đồng của triết gia và văn nhân Trung Quốc thời xưa.

- Chúng cũng trái hẳn với lý thuyết của chủ nghĩa dân tộc đang được âm ỉ nung nấu và thổi bùng lên ở một số nước hiện nay bao gồm cả Trung Quốc đại lục.

- Nó đang là xu hướng ngày một thắng thế hiện nay cơ mà ? – trong tôi có một giọng nói phản biện

- Không phải vì nó đang thắng thế hôm nay mà nó sẽ đúng mãi mãi.

 

Rối bời chân lý

Đọc bài này tôi cũng không khỏi nhớ tới tình hình tư tưởng của lớp người như tôi sống ở Hà Nội những năm 1963 – 1964. Hồi ấy chúng tôi rất mê sách vở và điện ảnh Xô viết. Đó là thời mà tư tưởng nhân bản trở lại với nền văn hóa vốn đầy tính chất hận thù những năm chiến tranh 1941-1945. Qua các bộ phim như “Đàn sếu bay qua”, “Người thứ 41”, cũng như truyện vừa “Cây phong non trùm khăn đỏ”, “Người thầy đầu tiên”, tôi thấy toát lên cái khẩu hiệu được khái quát rất gọn gàng: Người với người là bạn.

 

Ngược với sự say mê của bọn tôi, quan niệm “hòa bình chủ nghĩa” này sang ta lúc ấy bị đập tơi bời. Người ta cho rằng ai ca ngợi nó là hèn nhát, sợ chiến tranh, sợ đế quốc và không dám đương đầu với chủ nghĩa đế quốc.

 

Cố nhiên, quan niệm “chống xét lại” này vốn xuất phát từ Trung Quốc.

Trung Quốc lúc ấy cũng lấy việc chống “tu chỉnh chủ nghĩa” làm lẽ sống.

Thế là người Trung Quốc đại lục hôm nay đã đi ngược với Trung Quốc thời xưa ư?

Có lẽ là thế, năm sáu chục năm trước đã thế và hôm nay vẫn thế.

 

Tiếc là những lần đi du lịch bụi qua những thành phố nhỏ Trung Quốc tôi không để ý mua lấy một vài cuốn sách giáo khoa tiểu học xem bây giờ họ dạy trẻ thế nào về chuyện quan hệ với người nước ngoài. Chắc là cũng không mấy khi có sự tương tự như những tư tưởng được đưa ra trong những cuốn Tân Quốc Văn soạn thời trước 1949 và được tiếp tục ở Đài Loan sau 1949.

Riêng ở ta thì đúng là chuyện “quan hệ với người nước ngoài” chưa bao giờ được mang ra bàn một cách chính thức chứ là đừng nói là mang dạy trẻ.

- Tại sao anh lại nêu những chuyện này ở đây?

- Rất giản dị thôi, cách đối xử với người nước ngoài -- và rộng hơn là suy nghĩ về thế giới này - sẽ quay lại chi phối cách người ta đối xử với đồng bào của mình và nghĩ về nước mình.

- ....

- Nếu bạn còn chưa tin, xin hãy trở về với việc giáo dục gia đình. Nhiều gia đình chỉ yêu cầu con cái thương yêu bố mẹ ngoài ra không quan tâm tới việc con cái ra đường ra sao. Họ thả lỏng cho trẻ tha hồ làm bậy kiếm sống và đối xử với người ngoài theo cái lối mà người xưa gọi là bất nhân bất nghĩa.

 

Kinh nghiệm của tôi là những đứa trẻ hư hỏng ấy rút cục cũng đối xử với người thân của mình không ra sao cả, và chúng cũng rất khó khăn trong việc làm ăn theo con đường chân chính.


Tự nhận thức, một chỉ số cho thấy sự chuyển biến tính cách một cá nhân

Ngày đăng 1/7/2016

 

Sự nhìn nhận của tôi với nhân vật Trạng Lợn thay đổi hẳn đi khi tôi nhận ra cuối đời nhân vật đó hiểu rõ rằng mình chẳng qua gặp may và từ chối việc đưa mình lên vai trò mẫu mực có thể đứng ra dạy dỗ con cái.

 

Đó là điều tôi đã nói trong bài viết "Không phải ai cũng biết làm giáo dục".

Đi xa hơn một chút, tôi còn bắt gặp một nhân vật khác trong văn học ta có phẩm chất tương tự.

 

Anh ta thuộc loại cũng biết mình biết người, theo cái nghĩa hiện đại tức là

1/ Ghi tâm khắc cốt nguồn gốc của mình

2/ Hiểu rõ rằng cái nguồn gốc đó đã ảnh hưởng tới cuộc lập nghiệp của mình ra sao

3/ Không bao giờ che giấu cái nguồn gốc đó trong giao thiệp.

Tôi muốn nói tới Xuân tóc đỏ.

 

Bài viết dưới đây được in trên trang văn học TT&VH khoảng 2004-2005 và chưa được đưa vào tập sách nào của tôi.

 

XUÂN TÓC ĐỎ CẦN ĐƯỢC MINH OAN

Chí Phèo và Xuân tóc đỏ từng bước ra khỏi trang sách để trở thành những tên tuổi mà các thế hệ sau còn nhắc nhở trong câu chuyện hàng ngày.

 

Thế nhưng cũng phải nói ngay là quá trình đi ra với đời đó cũng là quá trình họ bị hiểu nhầm, hoặc bị rút gọn lại trong những khía cạnh méo mó xệch xạc.

 

Chí Phèo thường chỉ được xem như đại diện của hạng người u mê tăm tối - trong khi nếu trở lại tác phẩm, người ta sẽ thấy ở cuối thiên truyện, nhân vật này đi gần tới sự thức tỉnh, chứng tỏ trong anh còn một cái gì thuộc về đời sống tinh thần lành mạnh.

 

Còn Xuân tóc đỏ thì được khoác cho những cái “mũ” tệ hại hơn nhiều. Là bất lương, lừa bịp, đểu giả. Là đồng nghĩa với ma cà bông, lưu manh, du thủ du thực, đầu đường xó chợ. Hoặc hạng người nói phét gặp thời, chẳng qua ăn may nên leo trèo đến địa vị cao, thật chẳng khác gì trò chơi trong tay ông tạo hoá đa đoan đa sự.

Sự thực thì nếu vứt bỏ được cái thành kiến ban đầu, sẽ có thể nghĩ khác, trước tiên là về những phẩm chất làm người mà Xuân bộc lộ trong tác phẩm:

Để có thể thích ứng với hoàn cảnh mà mình rơi vào - một cuộc phiêu lưu giữa giới thượng lưu - trước hết Xuân đã tự chứng tỏ là người có năng lực. Từ việc bán hàng ở tiệm Âu hoá tới việc dạy mọi người chơi quần vợt và tranh giải môn thể thao này với các tay chơi chuyên nghiệp, việc gì cũng được Xuân làm một cách nghiêm chỉnh, đúng với tư cách một người chăm chỉ chịu khó. Những sự gọi là tiến thân của Xuân là thành quả mà NÓ – như đại từ tác giả vẫn dùng - đáng được hưởng chứ không phải do lừa bịp hoặc cướp giật của người khác.

 

Trong quan hệ với mọi người, Xuân chưa làm việc gì gọi là đểu giả. Do chỗ bị giới thiệu bừa là sinh viên trường thuốc thì nó nhận cho xong chứ không cố tình bịp bợm.

 

Không chỉ mau mắn nhạy cảm, mà theo tác giả, trong giao thiệp, Xuân còn là người biết trọng chữ tín. Hứa với ai điều gì, nó lo làm đầy đủ. Có lỗi với ai, nó ghi nhớ và tìm cách chuộc lỗi... Có đến mấy lần tác giả nói rằng khái niệm lương tâm chưa hẳn đã chết trong tâm trí nhân vật và quả thật lương tâm chính là yếu tố chi phối khá nhiều việc làm của nhân vật đầy tai tiếng này.

 

Thử nhớ lại đoạn Văn Minh báo tin muốn gả em gái cho Xuân. Ai cũng tưởng là con người trên không chằng dưới không rễ ấy sẽ chớp nhanh lấy cơ hội, nhưng chúng ta nhầm. Xuân không quên nguồn gốc hèn hạ của mình. Xuân nói thẳng rằng nó thuộc loại “không cha không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt ban quần, bán phá sau”.

 

Trong cái sự thú nhận dũng cảm này, Xuân cho thấy nó là một con người sáng suốt, biết điều. Cũng tức là một con người có sự nhạy cảm hợp lý trước những việc quan trọng đến trong đời mình.

 

Ai đó từng bảo: Khi người ta dám công khai và thẳng thắn nhận mình tầm thường, tức là người ta không tầm thường nữa.

 

Biết mình biết người, Xuân ở đây đã có sự chín chắn trong đời sống tinh thần. Theo các nhà tâm lý học, chỉ con người hiện đại mới có được sự tự ý thức cần thiết.

 

Sự việc được miêu tả như cao trào của tác phẩm - đoạn Xuân chịu thua nhà vô địch quần vợt người Xiêm ở cuối Số đỏ - chứng tỏ Xuân là người biết đánh giá đúng cái HOÀN CẢNH LỚN mà mình đang sống và có tầm nhìn xã hội rộng rãi.

Ở thời điểm của Xuân, đó là tầm nhìn còn ít được đám đông chia sẻ.

Sở dĩ được như vậy, một phần là vì với tư cách một con người của xã hội Việt Nam trên đường hội nhập với thế giới, trước sau Xuân không sợ hãi nép mình theo những khuôn khổ của người xưa mà cảm thấy nên sống và dám sống theo những tiêu chuẩn đúng đắn của thế giới hiện đại.

 

Trong khi Chí Phèo quẩn quanh với những nền nếp ngưng đọng ở một vùng quê tù túng chật hẹp thì Xuân là con đẻ của kẻ từ bỏ làng quê để đến với đô thị - một môi trường mới với ý niệm về sự phát triển tự do, đủ sức giải phóng những tiềm năng tích tụ trong con người.

 

Nhìn chung lại, nếu như khá nhiều nhân vật gọi là đáng nhớ trong văn học ta – những người được bạn đọc yêu mến, kể từ anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố, cô hàng xén, mẹ Lê của Thạch Lam …– là những con người bé nhỏ, những nạn nhân bị bó chặt vào cái hoàn cảnh do làng quê quy định thì Xuân thuộc về một hạng người mới: những con người hướng vào đô thị xã hội hiện đại vừa được mở ra, để lập nghiệp.

 

Với sự trưởng thành trên phương diện lý tính, Xuân đã có những dự cảm đúng đắn về đời mình.

Và Xuân đã thành công.

Khát vọng đổi đời của Xuân đã được thực hiện.

Trong con mắt một người như Văn Minh, Xuân đã trở thành một người khác (chính ý này được Văn Minh nói ra khi bàn chuyện chính thức gả Tuyết cho Xuân).

 

Sở dĩ những thành kiến về “Xuân lưu manh” kéo dài và tầm vóc của nhân vật này bị hạ thấp, một phần là vì nhiều người đọc còn hay nghĩ tác giả thác sinh ra Xuân tóc đỏ để giễu cợt cho vui, và toàn bộ Số đỏ được viết dựa trên cảm hứng về cái sự nhảm nhí vô nghĩa lý của cuộc đời.

 

Thế nhưng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, thì Vũ Trọng Phụng đã đặt vào Xuân một vài nét tiểu sử: Con số Xuân khai với ông thày bói ở đầu cuốn tiểu thuyết trùng với ngày sinh tháng đẻ tác giả. Cho đến ngoại hình hai bên cũng có những nét gần gũi. Một nhân vật gọi là phản diện điển hình không thể có được sự ưu ái như vậy

 

Cũng có thể dự đoán thêm là trong quá trình sáng tạo, nhân vật đã vượt ra ngoài tầm khống chế của nhà văn để có một logic riêng, một sức sống nội tại mà có lẽ chính Vũ Trọng Phụng cũng không ngờ tới.

 

Trên nhiều phương diện, Xuân tóc đỏ là một gợi ý về sự trưởng thành của con người khi xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn lịch sử hiện đại nửa đầu thế kỷ XX.

 

Và như vậy thì sự tiếp nhận của không ít bạn đọc chúng ta với nhân vật này chẳng phải là đã bị bắt vít vào những thành kiến sai lầm mà nay nên từ bỏ. Cần phải nghĩ tiếp về Xuân tóc đỏ theo cái nghĩa là soi mình trong anh ta để thấy có mình trong cái nhân vật mà ta thường khinh ghét đó!

 

GHI CHÚ

Bài viết trên đây thực ra chỉ là một bản tóm tắt một tiểu luận về con người hiện đại đã đưa trên blog của tôi ở đường link

http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/dang-con-nguoi-hien-ai-t…

 

Trong cả hai trường hợp tôi không hy vọng được các bạn đồng ý ở mọi chi tiết. Mong mỏi chủ yếu của tôi là mỗi người chúng ta phải tìm hiểu về những dấu ấn mà thời đại để lại trên chính mình để bắt đầu cuộc tự nhận thức cá nhân thực sự, gian khổ và cũng đầy lý thú.


Tại sao người Việt chiều con đến vậy

Ngày đăng 8/7/2016

 

Có lần đi du lịch bụi bên Thái Lan, tôi có hỏi thêm cái cách dân sở tại xử sự các mối quan hệ trong các gia đình. Người hướng dẫn của tôi kể rằng vào ngày sinh nhật của mình, đứa trẻ bên Thái ở tuổi bắt đầu biết nhận thức thường dậy sớm, vào hỏi thăm sức khỏe bố mẹ. Lên chùa, làm các công việc mà người Thái thường làm khi đến một nơi tôn nghiêm. Sau đó thì trở về nhà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng một bữa ngon lành để mời cha mẹ ăn, và lấy làm sung sướng được nghe bố mẹ nhận xét về mình.

 

Bên Hàn Quốc người ta cũng dạy con rất cẩn thận, với nghĩa là đề ra những yêu cầu cao với trẻ. Có cả một ngày gọi là “ngày rửa chân cho mẹ”, trong đó các học sinh trung học sung sướng khi được làm cái công việc mà từ lúc nhỏ bé đã thấy các anh chị lớn hơn từng làm.

 

Những chuyện nhỏ nhặt này rất đáng để ý bởi lẽ toàn xã hội Việt Nam đi ngược lại. Vào ngày sinh nhật của mình nhiều đứa trẻ Việt Nam tự coi mình là ông tướng bà tướng, ban ơn cho bố mẹ đã sinh ra mình, và tha hồ đòi hỏi bố mẹ, kể cả những điều vượt quá khả năng thông thường của bố mẹ. Mà lạ một cái là các ông bố bà mẹ không ai bảo ai đều nem nép dưới yêu cầu của các vị con giời, nếu không thỏa mãn ý thích của con thì lấy làm đau đớn.

 

Sản phẩm chiến tranh

Trong xã hội Việt Nam trước 1945 thì chỉ những gia đình nghèo mới có lối chiều con vô nguyên tắc như vậy.

 

Do chả có ưu đãi cho con về vật chất, họ chiều con theo cái nghĩa buông lỏng con muốn làm gì thì làm.

 

Nhìn sang những gia đình giàu có, tôi thấy có hai loại.

Một là những gia đình vốn nghèo sẵn nhưng mới khởi nghiệp phất lên, thường tiếp tục lối sống khi nghèo hồi trước.

 

Hai là những gia đình quan chức và những người giàu có nhiều đời. Để con có thể kế tục sự nghiệp ông cha, họ yêu cầu cao về con cái. Ngay cả hôn nhân con cái cũng yêu cầu con lấy lý trí ra giải quyết.

 

Sang thời chúng ta hiện nay thì nếp sống chiều chuộng con cái mới trở thành phổ biến. Nó bắt đầu từ những năm chiến tranh khi mà con người khổ quá và sống không có hy vọng gì về tương lai. Trong thời chiến thì mọi trẻ ở lứa tuổi thanh thiếu niên hiểu rằng trước sau mình sẽ đi lính mà không biết sinh tử ra sao.

Ngay trong học hành cũng chểnh mảng.

 

Quay về gia đình tự nhiên họ buông mình sống gấp, sống tranh thủ, hưởng thụ những cái mà người mới lớn lên muốn hướng tới.

Bà mẹ biết con thế nào cũng đi lính, thì chăm chăm tính chuyện lấy vợ cho con, để nó có chết cũng có người nối dõi. Và để dọn đường cho công việc nhiều khi không phải dễ dàng gì đó, bà mẹ lấy việc làm theo ý con, cho phép nó hư hỏng làm vui, nghĩ rằng đó là cách để đền đáp cho những gian khổ mà nó phải chịu từ nay về sau.

 

Sự phổ biến trong thời hậu chiến

Cách sống chiều con vô nguyên tắc này trở thành phổ biến ở các tỉnh phía Bắc trong thời hậu chiến, khi mà đời sống khá hơn so với những năm sống trong bom đan. Và lại càng nảy sinh ra những biến dạng mới do sự hội nhập với nước ngoài.

Một hiện tượng phổ biến thấy ở nhiều gia đình là nghe nói có thứ bánh kẹo, thức ăn gì ngon, muốn con được nếm thử; có những tiện nghi gì mới thì muốn mua sắm bằng được cho con để mong nó bằng người.

 

Tôi đọc ở đây một ý tưởng nằm sâu trong lòng người hậu chiến. Đó là hãy để trẻ con hưởng hết những điều gì lúc này ta có thể lo cho nó, vì tương lai chắc gì nó sẽ sướng hơn hôm nay.

 

Ta cũng không nên quên là một cách sống phổ biến của con người hậu chiến là sống gấp, tranh thủ hưởng thụ, dễ dãi với mình. Tâm lý này được chuyển từ bố mẹ sang con cái. Người ta chiều con với tâm lý chính là họ đang chiều mình, dễ dãi không có yêu cầu cao với mình.

 

Trong một số trường hợp người ta còn lấy cớ là chiều con để cho phép mình ăn cắp của công, tham nhũng, lừa lọc người mua hàng. Bấy giờ con cái trở thành chỗ ẩn nấp cho những ông bố bà mẹ hư hỏng.


Nên giải thích về lòng biết ơn theo tinh thần hiện đại

Ngày đăng 15/7/2016

 

Dưới đây là một bài viết in trong cuốn “Thực Hành Tiếng Việt và Toán” lớp 1 (tập 2), NXB Giáo Dục, năm 2012:

CHIẾC LÁ

- Lá ơi, kể chuyện cuộc đời bạn cho tôi nghe đi!

- Chẳng có gì đáng kể đâu, chim sâu ạ! Thuở nhỏ tôi chỉ là một cái búp, qua vài tuần thì lớn thành chiếc lá.

- Sao hoa, quả có vẻ biết ơn bạn thế?

- Hoa, quả cứ nói là có tôi mới có họ.

- Ồ, đúng thế đấy! Bạn thật tuyệt!

 

Thoạt đầu, tôi thật phục là sao tác giả có thể nghĩ ra câu chuyện oái oăm như trên. Đọc lại thì đoán có lẽ nó được viết do sự đặt hàng của những người làm sách. Đoạn văn dành để nói về sự biết ơn, nó khiến cho một gã chim sâu cũng đặt ra một lời tán thưởng không đâu vào đâu mà nếu không đặt mình vào khung cảnh của công tác giáo dục tư tưởng hiện nay, người ta sẽ không hiểu gì cả.

 

Ở ta lòng biết ơn loại này tràn ngập trong các sách vở mà con người ta phải tiếp nhận từ lúc còn đi học cho tới khi vào đời. Những người lên bục giảng kiêm tuyên truyền viên cho nó - cái tư tưởng biết ơn ấy - có vẻ như muốn chúng ta mang nó vào cả trong nấm mồ nên bất cứ chỗ nào nhắc lại được họ đều nhắc.

 

Nó là sản phẩm của một thời khi con người làm được những việc mà trước đó họ tưởng mình không làm nổi, đến mức mà họ tưởng rằng các thế hệ sau cũng không bao giờ làm nổi nữa.

 

Đó cũng là sản phẩm của một thời khi cách nghĩ trì trệ kéo dài, cuộc sống đầy biến đổi lịch sử đã qua giai đoạn khác mà những người sống ở giai đoạn trước không cảm thấy, nên cứ sống hoài theo nếp cũ.

 

Ở mức thái quá của nó, việc nhấn mạnh lòng biết ơn mang tính mục đích rõ rệt là ràng buộc, bắt người chịu ơn phải phụ thuộc hoàn toàn vào người ra ơn. Trong một xã hội biến động lối trở về truyền thống kiểu này làm nảy sinh cho con người ta cảm giác khó chịu, và rồi cuối cùng người ta chỉ còn có cách chắp tay vái dài “biết rồi khổ lắm nói mãi”!

 

Nhà văn Thụy Điển Selma Lagerlöf (1858 - 1940) từng có truyện ngắn mang tên “Ông bác Rubens” đại ý như sau:

Có một chú bé mang tên Rubens rất ngoan ngoãn nhưng lại mất sớm. Chỉ vậy, nhưng Rubens cũng đủ gợi lại cảm giác tốt đẹp mà những người trong gia đình và dòng họ không bao giờ quên nổi. Họ thường mang Rubens ra làm gương để giáo dục con cái trong nhà, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các chú bé luôn luôn bị các ông bố bà mẹ nêu hình ảnh bác Rubens ra làm mẫu, mặc dù trải qua mấy đời nay chẳng ai còn nhớ chuyện gì về Rubens cả. Đến mức có lần một cậu bé buột miệng nói: “Cái ông Rubens này là gì mà làm khổ chúng ta đến vậy!”

 

Tôi đọc bản dịch truyện này trên báo Văn Nghệ ở Hà Nội từ 1978, cứ nhớ mãi vì cảm thấy đó là một ví dụ độc đáo về cái tình cảnh nghịch lý “người chết làm khổ người sống”, “người tốt làm khổ người xấu”.

 

Có những tư tưởng ai cũng nghĩ là hiển nhiên, thời nào cũng đúng nhưng thực ra cách hiểu về nó lại thay đổi theo thời đại. Thuộc loại đó, tôi nhớ một mẩu chuyện như sau.

 

Ở một lớp học khi cô giáo nhấn mạnh liên hồi về tư tưởng ăn quả nhớ kẻ trồng cây, một em nhỏ thời nay đã cãi lại và tôi phục quá về cái cảm giác tự do chân chính mà em nhỏ đó đã bộc lộ:

- Em tưởng rằng khi em mua hoa quả từ một vườn cây chính là em giúp cho chủ vườn đó bán được hàng. Em đã mua bằng tiền mà bố em lao động chăm chỉ mới kiếm được và chủ vườn cũng rất cần bán hàng cho em. Thế thì tại sao em lại phải nói mãi lời cảm ơn như vậy?

 

Trong ca dao tục ngữ có nhiều chân lý loại đó .Ví dụ như câu “Ở hiền gặp lành”. Trong vai ông nội, khi giảng cho các cháu trong nhà về cách xử thế ở đời bây giờ, tôi luôn luôn phải nói thêm ở hiền có thể gặp lành và có thể không gặp lành. Tôi không nhắc lại với các cháu y như các bài giảng tôi được học lúc nhỏ. Mà tôi suy luận từ một số luận điểm của lý thuyết xác xuất thống kê trong vật lý hiện đại tôi tự học thêm từ trước 1975. Các cháu tôi có vẻ thỏa mãn với cách trả lời như thế hơn cách trả lời duy nhất mà nhà trường từ cấp thấp lên cấp cao bao nhiêu năm nay vẫn dạy chúng.

 

Trong trường hợp câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tôi nghĩ ở đây ta nên đổi thành mấy trường hợp.

1/ Ăn quả thì phải suy nghĩ về quy trình hình thành quả đó.

2/ Cách biểu lộ lòng biết ơn tốt nhất đối với người trồng quả đó là học hỏi thế nào để làm ra rất nhiều hoa quả khác. Các bạn nghĩ thêm hộ.


Người đàn ông trong xã hội Việt Nam

Ngày đăng 20/7/2016

 

Trong “Chuyến đi Băc kỳ năm Ất Hợi” (1876) của Trương Vĩnh Ký, đoạn phong tục có câu tả Hà Nội.

"Chốn thiềng thị thì công thương tụ, có lộn Ngô Khách. Đàn ông con trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm.”

 

Liên hệ tới ba truyện ngắn Thạch Lam.

Trong “Cô hàng xén” mọi việc trong nhà cô Tâm lúc chưa lấy chồng đều do mẹ cô lo liệu, bố cô chỉ đi chơi các nhà xa gần có khi vài ngày liền mới về .

Trong “Người bạn trẻ”, có đoạn tả cảnh nhà anh Bào “bà mẹ tráng bánh và thổi xôi để bán”. Còn “thầy anh ta, ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì”.

Trong "Hai lần chết": “Cha Dung chẳng làm gì cả. Từ xưa đến nay vẫn thế. Hình như ông ta sinh ra đời là chỉ để ngồi ở nhà cho lúc nào cũng có người và để những ngày giỗ tết trong họ, khăn áo chỉnh tề đi ăn cỗ mà thôi. Không ai thấy ông ta làm việc gì, mà cũng không ai nghĩ đến sự ông ta phải làm một việc gì đó”.

Xưa là thế còn thời nay?

 

Đây là một đoạn tả Hà Nôi ngày nay của một người nước ngoài là Drew Taylor, được giới thiệu trên nhiều mạng giữa 2010.

Bài viết có cái tên là "Ngộ quá ta!"

Đi dọc các con đường và ngõ ngách của quán nhậu ở Hà Nội, bạn sẽ thấy cánh đàn ông chuyện trò rôm rả không thua gì các phiên chợ buổi sáng của các bà. Họ nói chuyện đùa, chuyện tếu, chuyện phiếm, chuyện mặn chuyện lạt một cách say sưa và tự nhiên như thể chỉ có đàn ông là công dân danh dự trên quả đất này. Sau vài tuần bia và rượu, cánh đàn ông không hề trở nên đáng yêu hơn với gương mặt đỏ kè, giọng nói lè nhè hoặc the thé. Rồi họ chuyển sang chuyện chính trị, chuyện đấu đá ở cơ quan, hoặc bắt đầu lên giọng triết lý về các vụ scandal nóng nhất.”

 

Tôi chưa biết giải thích hiện tượng này ra sao, chỉ nhớ tới một sự thực trong lịch sử. Suốt thời phong kiến xứ ta liên miên trong chiến tranh, mà chủ yếu là nội chiến, chứ không phải chỉ chống ngoại xâm như các nhà sử học hiện nay vẫn viết.

Nhất là trong các thế kỷ XVII, XVIII, Nam Bắc phân tranh. Đại khái là các lãnh chúa địa phương bắt người đi lính, thường theo tỷ lệ cứ ba xuất đinh lấy một. Mà lại toàn là những trai tráng khỏe mạnh thông minh chứ loại đui què mẻ sứt vốn rất đông đảo không ai gọi lính làm gì. Bộ phận ưu tú này dù là không đánh nhau chăng nữa, song sống trong cảnh bị kiềm chế, mất hết lý tưởng làm người. Khi hết hạn lính quay trở về nông thôn, họ không chịu học lấy nghề nghiệp gì mà tự cho mình là có quyền dông dài chơi bời. Kể cả việc dạy con trong gia đình cũng do phụ nữ đảm nhiệm.

 

Tình trạng đó kéo dài cả trong thời Pháp thuộc và tuy có biến dạng đi chút ít song còn đến ngày nay.


Nhìn trẻ như những con người

Ngày đăng 25/7/2016

 

Tình cờ tôi tìm được trong một tập ảnh rút ra từ một cuộc triển lãm ở Sài Gòn năm 1970 hai bức ảnh chụp hình trẻ nhỏ.

 

Trong các tấm ảnh về trẻ mà mấy chục năm nay tôi quen thấy ở Hà Nội, các em thường hiện ra với vẻ trẻ dại hồn nhiên thơ ngây. Còn nét chủ yếu trong hình hai trẻ ở đây, là chiều sâu nội tâm. Các em như có suy nghĩ. Hoặc là muốn học theo người lớn, thâm nhập vào thế giới trừu tượng của người lớn. Hoặc là, trong cái thế bình đẳng với người lớn, em muốn minh oan, muốn cãi lại một sự áp đặt vô lý nào đó.

 

Theo khoa tâm lý học hiện đại, tuổi thơ không phải là một bước chuẩn bị làm người mà ngay từ thời gian ấy, cuộc làm người đã thực sự bắt đầu và ta phải đối xử với trẻ theo tinh thần đó. Còn như chỉ nhìn trẻ là một cái gì non nớt vụng dại rồi lấy cớ là thương yêu mà xoa đầu trẻ để trẻ buông thả tùy tiện - thực ra lại là một cách trốn trách nhiệm hướng dẫn trẻ và suy cho cùng là dễ dãi vô trách nhiệm trong việc làm bố làm mẹ của mình.

 

Trong cuốn Tiếng Việt lớp 1 tập hai, in ở nhà xuất bản Giáo dục 2014, tôi đọc thấy bài Tập đọc sau:

CHUYỆN Ở LỚP

- Mẹ có biết ở lớp

Bạn Hoa không học bài

Sáng nay cô giáo gọi

Đứng dậy đỏ bừng tai…

- Mẹ có biết ở lớp

Bạn Hùng cứ trêu con

Bạn Mai tay đầy mực

Cứ bôi bẩn cả bàn…

Vuốt tóc con, mẹ bảo:

- Mẹ chẳng nhớ nổi đâu

Nói mẹ nghe ở lớp

Con đã ngoan thế nào?

 

Theo ý những người soạn sách, và phần lớn chúng ta, đây là một cách giáo dục nhân bản, nếu không nói là khôn ngoan. Thời trẻ tôi cũng nghĩ như vậy. Còn bây giờ lại nghĩ khác. Người mẹ trẻ ở đây chả quan tâm gì đến tâm tình của con mà chỉ muốn áp đặt những lời dạy bảo có sẵn và buộc đứa nhỏ nghĩ theo những công thức quá đơn giản từ thời bao cấp do đó là không hợp với lớp trẻ thời nay.

 

Tôi dự đoán những ông bố bà mẹ kiểu này thường cũng gạt đi những chuyện gọi là tiêu cực mà trẻ thấy hàng ngày trong xã hội, thậm chí giấu biệt những chuyện lôi thôi trong gia đình, có biết đâu làm thế chỉ tạo ra tiền đề để đứa trẻ có kiểu sống hai mặt sống một đằng nói một nẻo cũng như tạo ra thói quen dối trá.

 

Đọc một số tài liệu về khoa sư phạm hiện đại tôi thấy người ta nói rằng yêu trẻ không đủ mà phải biết thể hiện tình yêu đó trong những công việc cụ thể đầy chất lý trí. Trẻ phải được quan tâm ở tất cả các phương diện đời sống. Hàng ngày cha mẹ phải để ra ít nhất nửa tiếng để nói chuyện với con cái. Trong các câu chuyện đó trước hết phải lắng nghe trẻ cho biết nó thấy gì nghĩ gì từ đó mới tìm cách lựa theo trẻ mà đưa ra những bài giáo huấn cần thiết. Sự tôn trọng trẻ hóa ra lại là yếu tố đầu tiên được nhấn mạnh trong việc dạy trẻ.


Những ý tưởng sáng suốt lại bị coi rẻ

 

Ngày đăng 31/7/2016

 

Sau khi dẫn lại mấy ý tưởng của Nguyễn Vân Nam, tôi giở sổ và còn tìm thấy nhiều ý tưởng sáng suốt khác từng được phát biểu trên sách báo mấy chục năm nay, nhưng bị xếp xó. Tạm dẫn hai ví dụ:

 

I/ Một cuốn sách về luật

Trong một lần lang thang trong phòng sách Thư viện Khoa học xã hội, 26 Lý Thường Kiệt Hà Nội, tôi tìm thấy cuốn “Chế ước quyền lực nhà nước” của Nguyễn Đăng Dung do Nhà xuất bản Đà Nẵng cho in 2008.

 

Cả phần đầu cuốn sách được viết với hai ý:

- Một là sự cần thiết của nhà nước. Nói như Thomas Hobbes trong cuốn Leviathan, cuộc sống mà không có nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự thì sẽ rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi.

- Hai là khi đã có quyền lực rồi thì sự lạm dụng quyền lực lại rất dễ dàng xảy ra. Bởi vậy phải có sự chế ước.

 

Ở trang 55 cuốn sách, tôi đọc được một đoạn dẫn lại ý của Thomas Madison, người thường được mệnh danh là cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ, như sau:

“Bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người.

 

Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền.

Nếu các thiên thần đóng vái trò cai quản thì sẽ không cần phải có sự kiểm soát với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong.

 

Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có khả năng tự kiểm soát mình”.

 

Nguyễn Đăng Dung là một giáo sư khoa luật Đại học Hà Nội.

Trong lúc những công trình gọi là khoa học của các giáo sư giả cầy chỉ mang nội dung tuyên truyền xoàng xĩnh cũng được báo chí lăng xê thì những công trình có giá trị thực thụ có thể trực tiếp tham gia vào các vấn đề đời sống như thế này chỉ được in ở một nhà xuất bản địa phương và gần như không hề được giới viết lách cả lề trái lẫn lề phải quan tâm.

Ngày hôm nay 31/7/2016, tra mạng Google tiêu đề “Nguyễn Đăng Dung Chế ước quyền lực nhà nước" chỉ được 55 kết quả.

 

Nếu đi điều tra ở các Thư viện lớn, xem có ai mượn cuốn sách đó không, tôi đoán con số thu được cũng chỉ là “dưới mức khiêm tốn.”

 

Lưu ý thêm là trong nhiều năm qua, nhiều cuốn sách về các vấn đề khoa học xã hội của các tác giả nước ngoài đã được in ra. Có những cuốn đưa ra gợi ý để tự ta sẽ tìm lấy câu trả lời cho nhiều câu hỏi của xã hội hôm nay, nhưng không hiểu sao (?) lại chỉ được in với số lượng rất ít, không bầy bán rộng rãi, đúng ra gần như bị giấu biệt đi; bọn tôi có khi chỉ do những cớ ngẫu nhiên mà tìm thấy. Rồi từ đây đến chỗ tiêu hóa được những sách đó, còn là một chặng đường dài, mấy ai theo đuổi mãi được. Xu hướng chung là vội phát biểu cho kịp thời mà quên cả nghiên cứu cơ bản.

 

II/ Những biến thái từ hai câu thơ của Tản Đà

Đạt tới tầm khái quát về dân mình, câu thơ sau đây của Tản Đà thường được nhiều người nhắc lại:

Dân hai lăm triệu ai người lớn

Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con

Đó là một trong những câu thơ loại “sấm truyền” từng được bọn tôi ở Hà Nội kháo nhau từ hồi đầu chống Mỹ, đúng hơn là trước sau 1970.

 

Bọn tôi nói ở đây là một vài anh em tôi quen, vừa tốt nghiệp đại học trong ngoài nước loại khá, mới được tuyển dụng về làm bên Ủy ban khoa học xã hội. Như, anh Tạ Ngọc Liễn bên Viện Sử, anh Dương Tất Từ bên Viện Văn, anh Bằng Việt bên Viện Luật và nhiều anh khác.

 

Một trong những băn khoăn của bọn tôi những năm đó là tính xem lúc này đất nước mình đang ở vào một tình thế như thế nào và khoa học xã hội có thể giúp gì cho cuộc sống. Điều đơn giản là chúng tôi hay đọc lại người xưa, tìm thấy nhận thức của mình trong suy nghĩ của người xưa.

 

Câu thơ của Tản Đà nói trên còn được đám bạn tôi - tạm gọi là lớp trí thức trẻ lúc ấy - đọc trệch đi theo nhiều kiểu.

 

Dân luật thì

Nước bốn ngàn năm không có luật

Dân hai lăm triệu đã thừa người

 

 

Dân sử thì

Nước bốn ngàn năm không có sử

Dân hai lăm triệu đã thừa người”

 

Nhưng thường nói cho vui vậy thôi rồi trong công việc, chúng tôi lại viết khác hẳn và cái khác hẳn đó sẽ làm nên sự nghiệp của những người năm nay đã ngoại bảy mươi cả một lượt.

 


Thành phố Vinh

Ngày đăng 9/8/2016

 

Tháng năm vừa rồi tôi có hai ngày ghé qua Vinh. Thành phố hôm nay làm cho tôi ngạc nhiên bởi tính hợp lý của nó. Đúng là nó được xây dựng theo một quan niệm thống nhất và đó cũng là một quan niệm hiện đại.

 

Các nhà ở Vinh không nhiều cái cao cái thấp mà đều là loại nhà từ 2 đến 5,6 tầng. Đường rộng, vỉa hè rộng. Và ở trung tâm thành phố người ta không thấy sự khoe khoang của các cơ quan quyền lực. Ngược lại tòa nhà gây cho tôi ấn tượng nhất chính là khu đại học Vinh vốn là cơ sở đại học Sư phạm cũ được nâng cấp. Tới đây tôi cảm tưởng như được vào trường đại học ở nước ngoài. Một không khí bao trùm là thoáng mát, rộng rãi, hiện đại và cũng đầy trí tuệ. Nếu vào trong trường chúng ta đã thấy tự hào thì lúc ra ngoài nhìn khu đại học đó trong toàn cảnh thành phố, chúng ta thấy toát lên một tinh thần tôn trọng học vấn và nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong sự phát triển của tương lai.

 

Các thành phố ở Việt Nam vốn được hình thành từ thời Pháp thuộc. Chiến tranh không làm nó tan nát, thì làm cho nó biến dạng. Trong chiến tranh nhiều người chạy khỏi vùng có bom đạn về Sài Gòn sống tạm bợ. Chỉ từ chiến tranh Sài Gòn mới có nhiều con đường hình thành từ những con đường cũ kéo dài, và không thiếu những con đường mới dù trải nhựa hẳn hoi nhưng vẫn không có vỉa hè và cong queo như đường làng.

 

Hà Nội lại còn bị biến dạng tệ hại hơn nữa.Trước chiến tranh 1965, khu phố Tây của Hà Nội đã bị tầm thường hóa một phần. Những khu phố cũ mà người ta gọi bừa là phố cổ giờ đây có được cải tạo chút ít sau thời Pháp thuộc thì nay càng trở nên bé nhỏ lụp xụp và con người như chui rúc trong những không gian chật hẹp. Đáng lẽ sau 1975 Hà Nội được xây dựng lại thì người ta lại làm cái việc là cơi nới phần Hà Nội cũ và sự biến dạng này làm cho Hà Nội lổn nhổn khó coi hơn. Còn những khu đô thị mới được xây dựng thì mạnh ai nấy làm chẳng theo một quy hoạch thống nhất nào cả và hình như khi xây dựng nó, người ta không nhớ rằng nó là một phần tiếp nối của Hà Nội cũ.

 

Sở dĩ Hà Nội và Sài Gòn như vậy, vì trong chiến tranh nó ở trong tình trạng sống dở chết dở. Bảo là còn ư, vẫn còn, nhưng lại không phải là mình nữa. Còn Vinh thì đã tàn phá hoàn toàn. Cái tưởng như khó khăn lại là cái thuận lợi lớn nhất.

 

Nhưng rồi người ta tự hỏi tại sao trên nước VN này cũng có nhiều thành phố mới xây mà nhìn vẫn không ra một thành phố hiện đại. Trong những trường hợp ấy tôi nghĩ chẳng qua là chúng ta vẫn xây dựng những đô thị mới bằng con mắt người quen ở nông thôn và không biết thế nào là xã hội hiện đại.

 

Đôi khi trong các thành phố mới xây này cũng có một hai khu phố đẹp, con đường đẹp, nhưng một thành phố đẹp theo nghĩa duy lý thì không bao giờ có.

 

Bất chợt tôi tự hỏi là tại sao Vinh có thể làm được như vậy. Bạn bè tôi ở Vinh nói rằng căn bản là có các chuyên gia Đức (hồi đó là CHDC Đức) giúp đỡ, họ quy hoạch thành phố theo hiểu biết họ về xã hội hiện đại trong đó bao gồm cả nghiên cứu sâu sắc vị trí địa lý về thành phố bắc miền trung này.

 

Cái thứ gió lào kinh khủng mà Nguyễn Tuân đã dành một thiên tùy bút để viết hồi kháng chiến đã được họ biết tới và tìm cách khắc phục.

 

Rộng hơn câu chuyện về việc xây dựng thành phố theo đề án của người nước ngoài, tôi nhận ra rằng những người chủ trương tái thiết thành Vinh đã hiểu rằng xây dựng hòa bình là một công việc mới mẻ mà họ hoàn toàn không hiểu biết và sẵn sàng chấp nhận những ý kiến đề xuất của người khác. Họ không kiêu căng nghĩ rằng mình đã làm chiến tranh được thì làm gì cũng được. Họ biết rằng xã hội hiện đại là một cái gì họ không hiểu và phải học hỏi thêm các nền văn minh khác thì mới có thể nhập vào thế giới hiện đại. Dù là trong hoàn cảnh VN hôm nay nữa thì hòa bình trước hết phải là sự tăng cường của hàm lượng trí tuệ trong đời sống.

 

Đấy là điều tôi suy đoán, nhưng tôi ngờ rằng nó đã phảng phất trong đầu óc nhiều người chúng ta không phải chỉ người ở Vinh mà còn ở Hà Nội và Sài Gòn - mà chẳng qua bốn chục năm nay trong khi say sưa với chiến thắng, chúng ta đã quên đi rồi triệt tiêu luôn cả con đường đi tới tương lai chân chính. Nhìn Vinh mà nghĩ rằng chả bao giờ Sài Gòn và Hà Nội lại có thể trở thành một thành phố thống nhất trọn vẹn hài hòa và hợp lý.


Trị quốc chi đạo

Ngày đăng 15/8/2016

 

Một lần ở một hiệu sách ở ga xe lửa Bắc Kinh, tôi thấy một cuốn sách dày cộp mang tên như trên.

 

Tôi không đủ chữ và đủ kiến thức để đọc, chỉ nghĩ đây là một bằng chứng cho thấy việc quản lý quốc gia ở nước Trung Hoa cổ được ghi chép rất đầy đủ và nâng lên tới trình độ một bộ phận quan trọng trong văn hóa.

 

Nay đọc cuốn sách “Sử Trung Quốc” Nguyễn Hiến Lê viết cuối đời (bản của NXB Tổng hợp TP HCM, 2006), càng thấy rõ điều đó.

 

- Tần Thủy Hoàng độc tài chuyên chế. Ông giết trí thức. Nhưng đó không phải là cách cai trị lưu manh vô học.

Đã tin dùng trí thức nào (thừa tướng Lý Tư) là dùng đến triệt để. Đốt sách, kể cả Tứ thư Ngũ Kinh nhưng là đốt những bộ tạp nham, trong khi vẫn tàng trữ một bộ trong triều đình (tr103 bản Sử Trung Quốc vừa nói).

 

Với những điều luật bắt buộc Thư Đồng Văn Xa Đồng Quỹ, ông ta có công đưa mọi sinh hoạt của quốc gia vào nền nếp tức là quy chuẩn. Các trường học dưới thời ông dạy rất kỹ môn pháp luật quốc gia.

 

- Thời Tiên Tần, Trung Quốc đã có những nhân vật quản lý xã hội đầy tài năng và có tư duy hiện đại như Quản Trọng, Thương Ưởng. Trung Quốc cuối thế kỷ XX cũng đang lặp lại nhiều biện pháp của Thương Ưởng.

 

- Triệu Khuông Dẫn vua nhà Tống được quân lính đặt lên ngai vàng nhưng công việc đầu tiên khi lên ngôi là đặt văn quan trên võ quan và hạn chế quyền lực của các chỉ huy quân đội.

(Nói như sách "Các nền văn minh thế giới—Lịch sử & văn hóa" , bản của Cty Văn Lang 2008, thì ngay từ đời Đường, người Trung Hoa đã tin chắc rằng các chế độ quân sự không hợp với một quốc gia có chuẩn tắc và văn minh.

 

- Trong các biện pháp cải cách của Vương An Thạch đời Tống cũng có nhiều việc rất hiện đại, chẳng hạn khi tuyển dụng quan lại chỉ huy các việc nông điền thủy lợi không dùng người văn hay chữ tốt vừa đỗ đạt mà thiên về dùng người có chuyên môn tức có kinh nghiệm.

- Sau các chiến thắng quân sự lẫy lừng, chế độ cai trị mà Hốt Tất Liệt áp đặt lên xã hội Trung Hoa hết sức tùy tiện “triều đình là một mớ hỗn độn vô tổ chức, hiệu lệnh ban ra địa phương không nghe; mỗi gia đình đại thần tự làm chính trị, mỗi người tự coi là quốc gia “ ( tr396-397)

 

- Trong số lý do khiến Mãn Thanh về sau thành công, có lý do này - “triều đình ít can thiệp vào đời sống của dân” (tr 481), “đất đai mênh mông mà số quan lại rất ít” (tr482). Ở trang 497 còn ghi rõ hơn 450 triệu dân chỉ có 100.000 quan lại.

 

Quan lại xuất thân từ dân nghèo càng dễ tham nhũng

Trong việc làm bộ sử này, Nguyễn Hiến Lê dựa nhiều vào các nhà sử học phương Tây, nhưng bao giờ cũng dẫn họ ra rất đầy đủ sau đó có ý kiến riêng của mình.

Ví như quanh chuyện quan lại và tham nhũng ở Trung Quốc. Lối tuyển người làm quan ở đây là qua khoa cử, nó có cái mạnh là tránh đi vào cha truyền con nối của quý tộc châu Âu, và đấy là điều khiến cho Voltaire cũng từng khâm phục.

 

Nhưng một nhà nghiên cứu là Eberhard lưu ý ta một điểm khác. Ông này khi nghiên cứu về các đời Đường Tống đã nói rằng nguồn gốc của tệ tham nhũng là do quan lại được trả lương quá thấp. Khi nghiên cứu sang thời Minh, Eberhard lại lưu ý càng đám quan lại xuất thân từ các tầng lớp dân nghèo, do đỗ đạt mà thành quan càng dễ tham nhũng. Tại sao? Muốn đỗ thì phải hối lộ quan trường, đỗ rồi muốn được bổ dụng thì phải đút lót nhà quyền quý... Đến lúc ra làm quan thì phải tham nhũng để thu hồi vốn và trả nợ.

 

Khi chép lại nhận xét này của Eberhard (tr44) Nguyễn Hiến Lê tỏ ý không tin. Nhưng tôi thì lại thấy đáng tin vì nó giúp tôi giải thích tình hình quan chức thời nay.

Trích từ blog 7/2011


Nhân dân hư hỏng

Ngày đăng 18/8/2016

 

Ta thường nói và tin rằng sức mạnh của nhân dân là vô địch. Nhân dân - chủ yếu là nhân dân lao động - bao giờ cũng tốt đẹp! Và sức mạnh của nhân dân thì thật vô tận. Một cách rất khôn ngoan người làm chính trị nào cũng thích tuyên bố mình thuộc về nhân dân và lẽ sống của mình là phục vụ nhân dân.

 

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu - Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.

Đến bây giờ nhiều người vẫn sẵn sàng tin ở cái câu tục ngữ mới ấy mặc dù từ thời nó ra đời đến nay hoàn cảnh đất nước đã khác, gần như một sự lật ngược.

 

Trong bài này tôi hãy nói một điều giống như nghịch lý ngay về mặt nhận thức. Nhân dân theo nghĩa ta nói chỉ là trong lý tưởng. Trong thực tế nhiều khi nhân dân là một tập hợp lực lượng ô hợp và dễ bị lợi dụng. Nhân dân cũng hư hỏng. Oái oăm thay cái nghịch lý rất hiện đại này đã được xác nhận từ những văn bản cổ.

 

“Đại Đường Tây vực ký” của nhà sư Huyền Trang (602- 664) từng được dịch ra tiếng Việt (NXB Phương Đông, 2007). Trong thiên bút ký này, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ (người Trung Quốc thời Hán Đường gộp chung là Tây vực).

 

Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể: “Người Tốt Lợi phong tục kiêu ngoa, chuyên môn lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau cũng tính toán hơn thua chẳng cần người tốt kẻ xấu, cứ nhiều tiền là được quý trọng… Cư dân một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi”. Tôi đã dẫn đoạn văn này, trong phần mở đầu cho bài "Tội làm hư dân", ở đường link:

http://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/01/toi-lam-hu-dan.html 

 

Còn đây là một đoạn tôi chép từ Kinh Thánh, bản tôi đang có trong tay là của nhà xuất bản Tôn giáo 2012, gọi là Thánh Kinh. Đoạn trích thuộc phần mở đầu chương Ê sai trong Cựu ước.

 

MỘT ĐOẠN KINH THÁNH

Thật ghê gớm chưa! Israel là một nước tội lỗi, một dân bị gian ác đè nặng, một đám con làm ác, thật là một lũ con gian ác. Chúng đã từ bỏ Chúa, ghét thượng đế, Đấng Thánh của Israel, và đã quay lưng khỏi Ngài như thể quay mặt khỏi người lạ.

 

Tại sao các ngươi muốn bị trừng phạt mãi? Tại sao các ngươi vẫn tiếp tục chống nghịch Ngài? Đầu các ngươi bị thương tích, lòng các ngươi bệnh hoạn. Từ bàn chân cho tới đỉnh đầu ngươi không có chỗ nào lành lặn; toàn thân ngươi đầy vết thương, trầy trụa và vết lở chưa được rửa hay băng bó, chưa được xức thuốc cho bớt đau.

 

Xứ ngươi bị tàn hại, các thành phố ngươi bị thiêu rụi. Trong khi ngươi nhìn thì kẻ thù ngươi bóc lột mọi thứ trong xứ ngươi; đất ngươi bị kẻ thù tàn phá.

Jerusalem bị bỏ hoang như lều trống trong vườn nho, như chòi bỏ hoang trong ruộng dưa, như thành bị kẻ thù vây hãm...

Khi các ngươi giơ tay cầu nguyện với ta, ta không thèm nhìn. Dù cho ngươi cầu nguyện dông dài, ta chẳng thèm nghe, vì tay ngươi dính đầy máu. Hãy tắm rửa cho sạch đi. Đừng làm điều ác. Và thôi làm điều bất chính. Hãy học làm điều lành. Tìm kiếm điều công bình. Trừng phạt kẻ làm hại người khác. Hãy giúp đỡ kẻ mồ côi, bênh vực người góa bụa…”

 

Tôi thường nhớ lại những khái quát vừa dẫn để tham khảo khi xem xét tình hình xã hội Việt Nam hậu chiến, mặc dù khi tự hỏi tại sao đến nông nỗi này - tức tại sao lại có tình trạng như trên - thì cũng chưa trả lời được.


Cuốn sách mới về Nho giáo

Ngày đăng 31/8/2016

 

NXB Hồng Đức và công ty Văn Lang vừa cho in bộ sách gồm nhiều tập sách nhỏ, mỗi cuốn là bản dịch một Dẫn Nhập về các vấn đề văn hóa do Oxford University Press chủ trương.

 

Trong khi một số bạn khác chú ý tới các mảng sách về các vấn đề hiện đại, tôi lại chú ý đến cuốn sách viết về đề tài Nho giáo:

Ảnh tôi đưa ở đây là bìa cuốn Confucianism – A Very short Introduction.

Từ lâu tôi quen đọc về Nho giáo qua sự hướng dẫn của các tri thức Sài Gòn trước 75, trong đó dễ đọc nhất là Nguyễn Hiến Lê. Cái mạnh của ông Lê -- nó cũng là lý do chính tôi thích đọc ông -- là nhìn triết học cổ điển phương Đông kết hợp giữa quan niệm Trung Hoa với ánh sáng của phương Tây, trong đó phương Tây là chủ đạo.

 

Các tác giả Đông Phương học Anh Pháp Mỹ được ông Lê trích dẫn có nhiều, tôi không ghi lại ở đây được, chỉ tin chắc họ đã viết ra những cuốn tốt nhất vào thời của ông.

 

Nay cuốn sách của Daniel. K Gardner có vẻ như bao gồm được những phát triển mới về Nho học ở phương Tây hai ba chục năm nay -- có thể tin điều này nếu xem phần thư mục cuối sách.

 

Trong phạm vi hơn 200 trang, khổ 12x20cm tiếng Việt, tôi thật sự thấy sáng rõ hơn về một hai điểm cơ bản trong Nho giáo.

Ở bìa 4 của cuốn sách, các nhà biên tập đã viết ..

“Gardner khám phá những ý tưởng lớn của truyền thống Khổng học, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của nó trong đời sống Trung Hoa, tập trung vào hai câu hỏi triết học quan trọng nhất.

- Điều gì tạo nên một con người tử tế?

- Điều gì lập nên một chính quyền tốt?

 

Đồng thời tác giả cũng mô tả cách các nhà tư tưởng lớn trong truyền thống Nho gia (các hậu duệ của Khổng tử) đáp ứng mỗi chủ đề ra sao.

Gardner đã làm sáng tỏ cái ý Nho giáo vẫn tồn tại trong các khía cạnh cuộc sống hiện đại. Hiện nay, người dân Trung Quốc lại một lần nữa tìm đến giáo lý của Khổng Tử để tìm lời giải đáp cho các vấn đề của một thời đại đầy biến động về kinh tế và xã hội."

 

Trong hoàn cảnh Việt Nam, tôi đã được đọc quá nhiều lời chê trách về sự lạc hậu của đạo Khổng thậm chí tác dụng phản động của học thuyết này.

Nhưng bản thân tôi lại thấy chính ra Khổng tử vẫn là một nhà triết học thích hợp với đời sống hiện đại.

 

Chủ đề thứ nhất của Khổng Tử trên vừa nói là đào tạo con người. Lẽ nào đó không phải là vấn đề của mọi thời đại?

 

Và điều thứ hai, cái câu hỏi "điều gì lập nên một chính quyền tốt" cũng đã thực sự mở ra cho các bạn đọc thấy một khía cạnh mà những người nghiên cứu về Khổng Tử thời nay ở Việt Nam hay bỏ qua. Nho giáo là học thuyết cai trị và quản lý xã hội.

Kết luận của cụ Khổng khá đơn giản: Nếu xã hội không hình thành nên nổi chính quyền tốt thì trước sau con người trong xã hội đó sẽ tha hóa hư hỏng.

 

Tôi rất tâm đắc với cái ý tác giả Gardner cho rằng Khổng giáo thích hợp với xã hội hiện đại.

 

Dù không đủ sức chứng minh nhưng toàn bộ kiến văn tôi từng thu nhận được và cả lương tri vốn có lại mách bảo tôi rằng đến nay đạo Khổng vẫn là một lý thuyết chính trị phù hợp hơn cả với một hoàn cảnh của một dân tộc như dân tộc ta -- đây là nói đạo Khổng ở phần tinh hoa tốt đẹp của nó chứ không phải đạo Khổng được nhà nước chính thống ở quê hương ông rao giảng và truyền bá.

 

Không nên vì đạo Khổng phát sinh từ một quốc gia đang hiếp đáp bắt nạt chúng ta mà rẻ rúng và lảng tránh nó, hơn nữa nói bừa về nó.


Về cách miêu tả hoa sen và lý do yêu hoa sen

Ngày đăng 2/9/2016

 

I/Bài viết sau đây được anh Trần Đình Sử đưa ra trên FB của mình ngày 30-8 :

KHUYẾT ĐIỂM CỦA BÀI THƠ TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN

 

Bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” được dạy trong nhà trương phổ thông, không ai là không thuộc. Tranh luận xung quanh bài thơ này có nhiều. Nay tôi muốn nêu một ý, có thể là mới. Sen có một đặc điểm khó quên, đó là mùi hương đặc biệt, thơm cả hoa, cả hạt, mứt sen, chè sen vẫn ngạt ngào một mùi thanh tao, quý phái. Ấy vậy mà bài thơ chỉ khen “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”, tức khen màu sắc. Câu cuối lại khen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Khen như thế chẳng khác nào thấy một cô gái đẹp mà chỉ khen cô ấy ăn mặc chỉnh tề, ngoan ngoãn, không khen sắc đẹp là cái hiếm có nhất. Vì sao tác giả bài thơ lại mù điếc về mùi thơm như vậy? Đó là do quan điểm ý thức hệ. Anh ta chỉ biết phân biệt với bùn thôi, chứ không quan tâm đến hoa.Ý thức hệ xưa nay đã làm hỏng bao nhiêu thiên tính của con người.”

 

Tôi thì tôi thấy, chính câu thứ tư “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” đã nói về mùi thơm của hoa. Không cần nói thẳng về sự vật hoặc miêu tả nó mà chỉ cần nói về sự trống vắng của nó, rồi tùy người đọc liên tưởng -- tôi nhớ đó là một bút pháp quen thuộc của hội họa Trung Hoa; mỹ học cổ điển phương Đông có cả một thuật ngữ để chỉ bút pháp này, tiếc là tôi không nhớ để nói ra ở đây. Nhưng có phần chắc đây là chuyện của mỹ học chứ không phải chuyện ý thức hệ.

 

Việc miêu tả mùi hương vốn là một chuyện khó. Trong văn học Pháp, Baudelaire (1821-1867) được ghi nhận như một người biết phân tích một cách tế nhị các cảm giác khác nhau, cả xúc giác lẫn vị giác. Chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp, mấy nhà thơ thời tiền chiến từng mon men tới lĩnh vực này. Huy Cận viết trong bài “Đi giữa đường thơm" “Trong không gian hương với màu hòa hợp” để ... lẩn tránh.

 

Còn Xuân Diệu trong bài “Vì sao?” tặng Đoàn Phú Tứ thì thú nhận:

“Ai đem phân chất một mùi hương

Hay bản cẩm ca? tôi chỉ thương

Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương”

 

Khi dành cả ba câu đầu vào việc miêu tả sắc hoa mà chỉ dành cho việc tả hương sen vào câu cuối, người viết đoạn ca dao trên cũng chỉ ...làm theo thông lệ từ xưa tới nay.

 

 

II/Khi đọc hai chữ khuyết điểm trong đầu đề bài viết lúc 7h36 nói trên của anh Sử, người viết mấy dòng này thoáng có một liên tưởng tội lỗi xin thú thực ở đây: tôi có cảm tưởng nhà giáo đang làm công việc chấm bài, phê vào bài của học sinh.

 

Nhưng, chỉ gần 9 giờ sau tức lúc 16h14, tuyệt vời thay, tôi được đọc bài viết bổ sung rõ là dấu hiệu của một cây bút nghiên cứu văn học thâm hậu.

 

CỘI NGUỒN CỦA BÀI CA DAO TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN

“Cội nguồn của bài thơ này là tư tưởng của Chu Hi, bậc đại nho đời Tống. Trong bài Ái liên thuyết, ông viết như sau:

Hoa các cây cỏ mọc ở dưới nước, ở trên cạn, các giống đáng ưa thích thì thật nhiều. Đào Uyên Minh thời Tấn chỉ thích cúc. Từ thời Đường tới nay người đời rất thích mẫu đơn. Tôi chỉ thích sen mọc ở trong bùn, mà không vấy bùn. Tuy ngã trên nước trong, gợn nước lăn tăn mà không có dáng nũng nịu, ẻo lả. Thân cây giữa thông suốt mà đứng sừng sững, không rậm cành rậm lá. Hương càng xa càng mát. Thẳng thắn uy nghi, đứng xa thưởng ngoạn chứ không đứng gần được. Tôi cho cúc là hoa ẩn dật, mẫu đơn là hoa phú quý, sen là hoa quân tử. Mới hay yêu cúc, sau ông Đào, không thấy nói đến tên ai. Cùng với tôi yêu sen thì có ai. Mẫu đơn thì ai cũng yêu.

 

Và anh Sử viết thêm lời bình:

“ Đây là bài tản văn rất đẹp, nhẹ nhàng, uyên bác, sâu sắc. Tuy nhiên tác gỉa đứng trên lập trường nhà nho mà yêu sen, ví sen với người quân tử, đem tiêu chí của người quân tử mà tả cây sen, nào uy nghi, cứng cỏi, không đứng gần được. Bài ca dao có thể do một ông đồ nho nào đó, do yêu bài văn mà diễn ra, nhưng thô thiển hơn, tuy cũng một lập trường đề cao sen quân tử. Như thế cốt lõi của nó là tư tưởng nho giáo của Chu Hi. Nhà thơ Phùng Quán có lí của ông ấy. Nhưng chúng ta vẫn yêu sen, không phải vì sen là biểu tượng của quân tử, mà sen là loài hoa quý, được coi là biểu tượng trong đạo Phật, biểu tượng của Việt. Cho nên cần có bài viết mới về hoa sen.”

 

Từ việc miêu tả hoa sen, câu chuyện đến đây đã chuyển thành tại sao yêu hoa sen.

 

Tôi không dám nghĩ tới chuyện viết một bài văn khác về hoa sen, nhưng giả sử -- trong muôn một -- có ai viết được một bài hoàn hảo tương tự thì cũng yêu cả hai chứ không vì bài này mà bỏ bài khác.

 

Tôi chỉ cảm ơn anh Sử là qua đây, hiểu thêm một khía cạnh của đạo Nho mà có lẽ ai đó đã viết ở đâu đó chỉ vì mình xao nhãng nên bỏ qua.

 

Các nhà nho xưa không yêu những cái gì tự nhiên như nhiên trời cho sẵn như vậy. Họ nghiêng về những vẻ đẹp vượt lên cái thông thường, những vẻ đẹp do phấn đấu mà có. Những cuộc vượt lên nghịch cảnh này càng khắc nghiệt thì vẻ đẹp càng cao quý.

Trong cuốn “Hán văn giáo khoa thư” của Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao tập II do Trung tâm học liệu của Bộ giáo dục in ở Sài Gòn 1972, tôi tìm thấy một bài cũng nói về hoa.

 

Bài viết mang tên “Cúc hoa tán” này không thấy ghi rõ tác giả là ai, nhưng cũng nêu lên cái lý do yêu hoa của người xưa tương tự như Chu Hy.

Trong bài, có đoạn “Cúc sở dĩ dược yêu quý vì sinh vào mùa thu.” Nếu biết là mùa thu ở phía bắc Trung quốc đã lạnh lắm rồi, ta mới hiểu tại sao tác giả viết “giậu gió buốt mà hoa vẫn xinh tươi mơn mởn có dáng vẻ độc lập không cậy dựa chi ai”.

 

Bài viết kết lại cũng với ý ấy “ Hoa cúc [cũng] nhân mùa thu mà phô vẻ đẹp lạnh. Thảo nào Đào Uyên Minh yêu hoa cúc cũng phải”.


Vương Trí Nhàn dưới mắt anh bạn Nguyễn Văn Vĩnh.

Ngày đăng 2/9/2016

 

BA NĂM TRƯỚC

Vào Sài Gòn trên bốn năm nay, nhưng tôi thường chỉ đến với các bạn cũ qua sự dẫn dắt của Vĩnh mỗi khi anh vào Hà Nội.

 

Năm nay cũng vậy.

 

Ngày hôm qua tôi đã có dịp ngồi sau xe máy của anh đến CLB Lan Anh để cùng gặp các bạn Trần Cương, Lê Sơn, Tô Hoàng.

 

Trong khi các bạn giải quyết hơn chục vại bia thì tôi, với tính quen xưa nay, chỉ ngồi uống nước khoáng.

 

Tuy vậy, tiệc này cũng kéo dài tới hơn ba tiếng đồng hồ.

 

Nhân vật được bọn tôi nói tới nhiều nhất hôm nay là Nguyễn Khắc Phục, người vừa qua đời hơn trăm ngày trước.

 

Tôi quen Nguyễn Khắc Phục từ 1969 và còn liên hệ thư từ với nhau trong những năm chiến tranh. Nhưng từ sau 1975 thì mỗi người mỗi ngả.

Hôm nay, nghe các bạn kể lại những biến động lớn trong đời Phục, tôi nghĩ nếu muốn viết về các lứa nhà văn trẻ chúng tôi trong chiến tranh thì không thể không nói về Phục.

 

Trường hợp anh gợi ra nhiều suy nghĩ về bọn người lứa tuổi tôi thời hậu chiến.

Như thường lệ Vĩnh có đưa lại hình ảnh buổi nhậu trên FB của mình, mời các bạn tìm đọc. Có một may mắn Vĩnh dành riêng cho tôi sau buổi gặp này, là bài viết về tôi của Vĩnh.

 

Bài đưa trên facebook của Vĩnh từ 2013, khi vợ chồng Vĩnh đến thăm gia đình tôi ở Phú Nhuận. Nhưng ngày ấy tôi chưa biết dùng facebook, nên cũng chưa đọc. Nay đọc bài đưa lại tôi mừng quá, muốn có thêm nhiều bạn cùng đọc.

 

Nhưng tôi chưa biết cách chia sẻ, nên chỉ đành copy lại ở đây.

Lại lấy làm tiếc là cuối bài có một bức ảnh Vĩnh chụp tôi, bản thân tôi rất ưng ý, nhưng chờ một bạn trẻ tới giúp thì mới đưa về đây được.

 

VỚI VƯƠNG TRÍ NHÀN

Với mình, ông bạn họ Vương này trước hết là một người "biết kể lại" các câu chuyện văn học, kể lại những tác phẩm và những con người sinh thành ra tác phẩm đó một cách hiểu biết và duyên dáng cùng sự "có nghề nhất". Sự phê bình và đôi khi nói lý (lý luận văn học) của Vương tiên sinh luôn có được một màu sắc khó lẫn, khó trộn với ai. Là có riêng một giọng, một điệu. Nhiều người thích, nhưng cũng không ít người cũng chẳng mấy ưa. Thói đời là thế. Nhưng kệ, biết được điều đó lắm lắm, nhưng người ấy vẫn mực thước riêng đó mà đi trong sự nghiệp. Người đó là ông bạn Vương Trí Nhàn.

 

Mình bên báo chí, không trong giới văn chương, tuy nhiên sự giao du bạn bè không có chốt chặn biên giới nào cả. Nên mình quen biết lâu năm với khá nhiều người biết Nhàn, trong giới của Nhàn nên dám nói lên vài nhận xét như trên chứ hoàn toàn không hồ đồ đồn đoán gì.

 

Nhiều năm nay Vương Trí Nhàn trốn biệt những giao lưu, gặp gỡ kiểu hú là tới, những bù khú nâng lên đặt xuống dù vui vẻ thư giãn mấy cũng tránh. Bạn bè nhiều người bực, chẳng vừa ý cho là chảnh. Nhưng cũng có người cảm thông vì tính khí Nhàn vốn thế. Trông lại thì chỉ những năm cuối cuộc chiến tranh và sau 1975 ít năm là Vương Trí Nhàn còn thích đàn đúm vui vẻ với cánh chúng bạn, chứ từ 1980 trở đi thì vắng dần, rồi vắng hẳn...

 

Hôm nay hai gia đình chúng mình gặp lại nhau tại đất Sài Gòn, sau nhiều câu chuyện bạn bè tình nghĩa xưa nay với nhau, Nhàn vẫn một lần nữa nói lên ý nguyện riêng tư, ông bà này nếu nhà tôi thu xếp được thì tôi sẽ vào đây (SG) ở hẳn, tức là sống nốt những năm tháng cuối cùng (nghe hơi thất chột dạ, Nhàn nhỉ ?!). Đơn giản vì khí hậu trong này hợp với tôi, với sức khỏe của tôi và nhất là sẽ làm được một ít việc viết lách nữa mà mình thấy thích, bởi trong này ít người biết đến mình thì mình càng rảnh để dành cho công việc...

 

Đã vượt qua tuổi 70 rồi, ở cái độ tuổi được nghỉ ngơi thoải mái, lại có một sự nghiệp không đến nỗi nào về văn học như Vương Trí Nhàn, thế mà ông bạn thâm giao của mình vẫn nói lại một lời mà ở Hà Nội đã từng nói với nhau, mình thấy càng hiểu trong thâm tâm ông bạn mình cái công việc viết lách vẫn "duyên và nợ" nhiều lắm với con người này. Điều này trong khung cảnh hiện nay đáng quý làm sao...

 

(Ông bạn Vương Trí Nhàn ít cười lắm, không biết sao hôm nay mình lại chớp được khoảnh khắc này...)


Học chữ Hán chính là một dịp để hiểu thêm tiếng Việt

Ngày đăng 4/9/2016

 

Nhân cuộc trao đổi chung quanh việc dạy chữ Hán ở nhà trường, xin giới thiệu lại một bài của Phạm Quỳnh có liên quan tới cách làm giàu ngôn ngữ trong hoàn cảnh hiện đại

 

THƯƠNG TIẾNG NƯỚC NHÀ

Phạm Quỳnh

Làm người Việt Nam phải nên yêu, nên quí tiếng nước mình. Nhưng yêu quí tiếng nước mình không phải là ruồng bỏ tiếng nước ngoài. Yêu quí tiếng nước mình là phải khéo lợi dụng tiếng ngước ngoài để làm cho tiếng quốc âm mình giầu có thêm lên. Cho nên những người vì “thương tiếng nước nhà” mà muốn “bài trừ chữ Hán” là tỏ ra ý kiến thấy hẹp vậy.

 

Than ôi! Thương tiếng nước nhà cũng năm bẩy đường. Thương mà phải đường ra thì lợi ích cho quốc văn biết dường nào…!

 

Lắm lúc bình tâm, tĩnh trí, tự mình hỏi mình nên dùng cách nào cho đạt tới mục đích đó. Nghĩ cùng mà không tìm ra một cách nào ngoài lề lối của ông cha ta để lại. Nhìn ngược, nhìn xuôi, trông xa, trông gần chỉ thấy rừng Nho man mác, lá rậm um tùm, muốn thoát ra ngoài mà không thoát được, đi mãi không cùng. Bấy giờ mới tỉnh ngộ mà biết rằng người mình sinh trưởng trong góc rừng này đã mấy mươi đời, những khi gió táp mưa sa được ẩn thân ở nơi cây cao, cội lớn, nay muốn thoát ly ra ngoài, bông lông trong đồng rộng biển khơi sao đành?

 

Chi bằng ta cứ nương náu ở đây, đặt đường xẻ lối cho tiện sự giao thông để đón lấy gió Âu mưa Mỹ mà ra công ráng sức tài bồi cho đất cũ mấy nghìn năm này có ngày được rạng vẻ phong quang tốt tươi, đẹp đẽ.

 

Ai ơi! Xin cố gắng lên, nhưng chớ nên thương quẩn, xót quanh mà làm cho người ta thiên lòng rối trí. Có thương tiếng nước nhà, xin thương cho phải đường!

 

Trích "Giảng Văn lớp đệ ngũ" - Việt Nam tu thư in lần thứ mười, S. không rõ năm , tr 192

soạn giả: Đỗ Văn Tú – Cử nhân văn chương

– Nguyên giáo sư trường Trung học công lập Nguyễn Trãi – Sài Gòn

Mong được nghe ý kiến đóng góp của các nhà sử học

Ngày đăng 6/9/2016 

 

Đọc báo Tuổi Trẻ hôm nay 6/9/2016, tôi thấy có lời phát biểu khá thú vị của một vị nguyên là cán bộ cao cấp ở Ban kiểm tra TW. Nhân chuyện đề bạt cán bộ có nhiều sai trái hiện nay, đoạn phát biểu ngắn này xoáy vào cái ý Phải “soi” cả người có quyền cất nhắc cán bộ.


Tôi không phải người thạo các vấn đề thời sự chính trị, nhưng đọc đoạn phát biểu này, chỉ thấy vấn đề sử dụng quan chức đang trở nên nhức nhối, cần có sự tham gia của nhiều ngành nhiều giới. Nhớ khi đọc lịch sử Việt Nam thường gặp các các tình tiết tương tự, và người xưa đã có cách giải quyết khá hay. Khi một quan chức trong triều đình có sai lầm, các vị minh quân thời xưa thường không chỉ xử tội đương sự mà mà còn quở trách – thời xưa gọi là HẠCH TỘI - các vị quan đầu triều đã tiến cử viên chức có tội đó với vua. Theo chỗ tôi nhớ (nếu sai xin được các nhà sử học đính chính giùm) việc này đã có từ thời Lê, đến thời nhà Nguyễn được làm một cách thường xuyên hơn.

 

Tôi vụt nảy ra trong đầu một câu hỏi đối với các đồng nghiệp làm sử: có phải nhiều việc không hay trong quản lý đất nước hôm nay đã có từ thời phong kiến? Nếu vậy tại sao các bạn không lên tiếng?

 

Tôi biết giới sử học hiện nay đã được đào tạo và biên chế thành một thứ sử quan chăm chăm nghiên cứu các đề tài do cấp trên đề ra để khi cần thì phát biểu minh họa, và các cơ quan quản lý sẽ dựa vào đấy để lên lương nâng địa vị cho các bạn. Nhưng tôi cho là ngoài nhiệm vụ với cơ quan, các bạn còn có trách nhiệm với dư luận chung cả xã hội và việc tham gia của các bạn vào vào các vấn đề báo chí đang nêu sẽ giúp cho xã hội rất nhiều.

 

Tôi đưa ra đề nghị này cũng xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân. Bản thân tôi trong quá trình tìm hiểu tình hình đương thời, luôn trở lại với các vấn đề lịch sử. 
Tôi đã trình bày những thu hoạch của mình trong một bài viết mà phần đầu như sau:

TẤT CẢ ĐÃ CÓ TRONG LỊCH SỬ

Trần Khánh Dư (không rõ năm sinh, mất năm 1339), thường được biết tới như một trong những công thần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Có điều ông cũng rất giỏi tham lam vơ vét. Khi làm trấn thủ Vân Đồn, tục ở đấy quần áo đồ dùng còn bắt chước người Trung Quốc, ông ra lệnh cho quân không được đội các nón kiểu phương Bắc mà phải đội nón của một làng gần đấy gọi là nón ma lôi để phân biệt. Nghe thì có vẻ rất nghiêm! Có biết đâu, trước đó ông đã sai người nhà mua sẵn nón về bán, mỗi chiếc giá đắt gần bằng một tấm vải, nhờ thế cũng có được một “chiến công tưng bừng” trên phương diện kiếm lợi bỏ túi.

Câu chuyện trên không thấy ghi trong các bộ sử hiện đại, kể cả Việt Nam sử lược, tôi chỉ biết được nhờ mấy hôm buồn tình lấy bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ra đọc. Đến khi tìm lại Đại Việt sử ký toàn thư thấy có thêm một chi tiết có sức tố cáo mạnh hơn. Có lần người dân đã kiện Trần Khánh Dư đến tận triều đình, nhưng ông không sợ mà còn công khai tuyên bố: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ?”.

 

Câu chuyện về Trần Khánh Dư trước tiên mang lại cho tôi một sự an ủi, hoá ra nhiều chuyện đời nay chỉ là phóng chiếu những chuyện đời xưa.
Về tham nhũng, Đại Việt sử ký toàn thư ghi, không phải đến thời vua Lê chúa Trịnh, mà ngay từ đời Lê Nhân Tôn (sau Lê Thái Tổ và Lê Thái Tôn, trước Lê Thánh Tôn), tức khi vương triều thịnh trị, đã có hiện tượng “trên thì tể tướng, dưới thì trăm quan, hối lộ bừa bãi”.

 

Về những dễ dãi trong việc ban quan tước, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi: “Triều Tây Sơn phong tước quá lạm, đến cả phu quét chợ, lính đẩy xe cũng đều trao cho tước hầu tước bá. Danh khí tồi đến như thế! Muốn cho khỏi loạn, có thể được không ?”.

 

Theo nhà triết học B. Russel “Đọc sử để biết những ngu xuẩn của quá khứ, nhờ thế người ta có thể chịu đựng tốt hơn những ngu xuẩn của hiện tại “(trích lại từ giáo sư Hà Văn Tấn). Nghe ra có vẻ đau đớn chua xót, nhưng thực ra đó mới là động cơ đủ sức thúc đẩy người ta “đi tìm thời gian đã mất”.
Bạn nào có nhu cầu đọc đầy đủ bài này xin trở lại với tập phiếm luận "Những chấn thương tâm lý hiện đại" hoặc trang mạng Chúng ta ở đường link
http://www.chungta.com/…/tu…/tat_ca_da_co_trong_lich_su.html

 

Hôm nay, trên blog của mình, tôi cũng đã đưa lại một bài thử lý giải về ngành sử học hiện nay, đường link


http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/thu-tim-cach-ly-giai-tin…


Việc dạy chữ Hán có những liên hệ rộng lớn hơn chứ không phải riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ

Ngày đăng 9/9/2016

 

Trong các phát biểu tại Hội thảo Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại diễn ra hôm 27/8, nhiều người chủ yếu nhấn mạnh về mặt chuyên môn, đại ý là "Cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt"
Nhà giáo Đoàn Lê Giang có mấy ý mới:


1/ Trong số các quốc gia thuộc khu vực đồng văn (các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc - PV) chỉ có Việt Nam là từ bỏ chữ Hán hoàn toàn nên thế hệ sau ít hiểu biết về quá khứ dân tộc.


2/ Từ bỏ chữ Hán cũng là lý do khiến thanh niên Việt Nam [trở nên những con người –VTN thêm] đơn giản nhất, học hành hời hợt nhất, các nhà khoa học xã hội của Việt Nam cũng kém nhất so với học giả các nước và nước ta nghèo nhất, lạc hậu nhất so với Nhật, Hàn hay Trung Quốc.


3/ Ông Giang cũng cho biết, nghiên cứu của một trung tâm nơi ông được mời dạy chữ Hán Nôm cho học sinh tiểu học cho thấy, những học sinh được học chữ Hán Nôm hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn những học sinh khác không được học (xem nguyên văn trên bản tin VietNamNet 29/8/16)

 

Tôi chỉ dẫn ra Đoàn Lê Giang vì không phải người trong giới, không dự hội thảo mà chỉ đọc VNN, nên không biết ngoài ông Giang còn có những ai trùng với ý trên chỉ theo kinh nghiệm mà dự đoán các ý tương tự như của ông Giang thuộc loại thiểu số.

 

Nhưng, học theo cách sống và cách nói của Phan Khôi, hôm nay "tôi đang muốn đứng về cái đám thiểu số này". Tôi buồn vì họ đang là thiểu số. Dù các ý kiến như của ông Giang có chiếm đa số nữa cũng còn không biết bao giờ mới thực hiện được. Nữa đây lại là thiểu số. Ở Việt Nam, tôi biết rồi, người thiểu số bị quên đi là may, có khi họ lại còn không được làm việc nữa. Nhưng tôi vẫn thấy, theo ông Giang là đúng.

 

Trong cuốn sách "Việt Nam và Pháp, bạn hay thù" tác giả Philippe Devillers, NXB Tổng hợp TPHCM , 2006 các trang 288-290 - có một đoạn kể lại những tính toán của người Pháp sau khi chiếm được các tỉnh miền Tây, cuối thế kỷ XIX , muốn xác định nền giáo dục ở các xứ bảo hộ để phục vụ cho nền cai trị của họ ra sao. 

 

Lúc bấy giờ đô đốc Bonard còn phân vân không biết nên dạy cho người bản xứ là chữ Hán hay chữ Quốc ngữ. Nhưng các cha cố thì kiên quyết là dạy ngay chữ Quốc ngữ vì nó rất cần cho việc giảng đạo của họ mà lại học được nhanh. 
Ở chỗ này, tôi thấy Bonard là một người rất sâu sắc. Ông ta bảo rằng đúng là học chữ Quốc ngữ thì nhanh biết chữ thật nhưng chỉ tạo ra những con vẹt; có điều do nhu cầu của việc bình định, ông ta vẫn đồng ý với việc dạy chữ Quốc ngữ. 
Sau này, tôi có đọc được trong một cuốn sách của Nguyễn Văn Trung về chữ quốc ngữ, cuốn này vì in ra từ cuối 1974 đầu 1975 nên ít người biết, và tôi cũng không có nó trong tay nên không chụp lại được. Nhưng cam đoan rằng ở đó Nguyễn Văn Trung có dẫn lại ý của một người Pháp nói là từ sau khi việc dạy chữ Quốc ngữ được phổ biến thì mặt bằng đạo đức xã hội của các tỉnh miền Tây thời đó thấp hẳn xuống.

 

Cái lạ ở đây là sự xuất hiện của nhóm từ "mặt bằng đạo đức".
Như vậy, ngôn ngữ không phải là một công cụ vô can? Ngôn ngữ có liên quan tới sự định hình đời sống tinh thần và trình độ làm người của các dân tôc?
Hôm nay giở lại cuốn sách của Philippe Devillers, thấy ở tr 289 có chép lại những lời giảng giải của một người Pháp là Luro về sự khác nhau giữa việc học chữ Hán và việc học chữ quốc ngữ:

 

"Biết đọc và biết viết , trong tiếng Trung Hoa, có nghĩa là đã để vài năm ở tuổi thanh niên của mình dừng lại trên những cuốn sách đạo lý, lịch sử, đã nghiên cứu và thấu hiểu các cuốn sách đó. Như vậy là đã nhận được cả sự học vấn và sự giáo dục(…). Còn với hệ thống của chúng ta [với tiếng quốc ngữ mà chúng ta dạy] đứa trẻ ra khỏi trường mà chẳng có chút kiến thức về đạo lý tức là chẳng được giáo dục gì cả."

 

Tôi rất thích cái ý tưởng này bởi lẽ, ngược với ý kiến nhiều người quá tự hào về chữ quốc ngữ và việc dạy chữ quốc ngữ từ 1945 tới nay, tôi thấy việc bỏ qua không dạy tiếng Hán Việt – dạy một cách khoa học, cẩn trọng nghiêm túc – đã là cản trở cho sự phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là khi ta bước sang thời hậu chiến.


Tại sao dân mình nhiều người lười biếng ăn cắp?

Ngày đăng 11/9/2016

 

Mở đầu chuyện Tấm Cám là câu chuyện người mẹ ghẻ của Tấm sai hai chị em đi bắt tép, đứa nào bắt được nhiều sẽ mang về thưởng yếm điều.
Bạn đọc xưa nay không mấy ai để ý đoạn này, song thật ra nó lại là một thông báo khá rõ về cách dạy con của người mình cũng như việc quản lý lao động trong các gia đình người Việt ở đồng bằng Bắc bộ.
Lẽ ra trước khi giao việc, người mẹ ở đây phải tính tới chuyện Tấm sẽ làm được những gì, Cám sẽ làm được những gì và như vậy mỗi người đáng được thưởng ở chỗ nào. 

 

Đằng này mẹ Cám không hiểu gì về tâm lý con trẻ, hồn nhiên “ném xương cho chó cắn nhau”, rồi đứa lười có ăn hiếp đứa chăm cũng không cần biết.
Cách quản lý của mẹ Cám nói ở đây cũng được cách các địa chủ sử dụng khi thuê mướn người làm ruộng và cả các chủ xưởng nhỏ quản lý đám thợ. Nó chỉ khuyến khích sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến một thói tục đáng sợ của người lao động: không cần chăm chỉ, chỉ cần dối trá lừa lọc, ăn chặn công của người khác là tha hồ vênh vang về sự khôn ngoan của mình. 

 

Người lao động cần mẫn chỉ cần sơ ý một chút thì sẽ bị thiệt. Xã hội không đánh giá đúng phần lao động của người ta, mà cũng không giúp người ta bảo vệ được thành quả làm ra. Không ai muốn chăm chỉ nữa. Nếu bí qúa, xoay ra ăn cắp, rồi liều mặt dày là xong. 

 

Cách quản lý gia đình nói trên cũng được áp dụng ở các tổ chức lao động công cộng, và thâm nhập vào ngay cả công việc của nhà nước phong kiến ở ta thời trung cổ.

 

Đọc các bộ sách của các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam ở các thế kỷ 17-18, thấy họ có nhận xét chung khá thống nhất về trình độ nghề nghiệp của dân ta.
Họ bảo người Việt thường khéo tay, có óc mỹ thuật nhưng không hiểu tại sao cứ nghèo mãi và không bao giờ đạt tới sự hoàn thiện về nghề nghiệp.
Sau hỏi ra mới biết trong xã hội Việt Nam thời trung cổ có một lệ rất lạ. Tức là ai có tài trong việc làm các nghề thủ công như dệt lụa, thêu thùa hoặc xây dựng nhà cửa, và nói chung là các việc phục vụ cuộc sống quý tộc đều bị nhà nước trưng dụng. Vào đó họ bị đối xử như nô lệ.

 

Khi lao động không tự nguyện, và lao động không mang lại lợi ích trực tiếp cho bản thân, con người ta sinh ra đối phó, tự mình hạn chế mọi tìm tòi sáng tạo. Từ đấy, mọi vấn đề nghề nghiệp không trở thành bức thiết nữa. Cuộc đời của những người lao công này mòn mỏi, sống cho qua ngày, con người mất đi cái năng động mà họ vốn có.

 

Đọc các truyện Trung Quốc cổ, tôi nhớ nỗi lo sợ của những gia đình có con gái đẹp, vừa đẻ ra, thấy lớn lên có thể trở thành xinh đẹp mỹ miều thì chắc sẽ bị tuyển vào cung cấm và sẽ sống cuộc đời mòn mỏi của cung nữ. Cá biệt, trong những trường hợp hiếm hoi có người đẻ được con gái đẹp liền làm cho xấu xa, thậm chí bóp chết, vì nghĩ không muốn con rơi vào tình trạng trở thành nô lệ suốt đời.
Tương tự như vậy, cái cách nhà nước Trung Quốc tập trung tinh hoa phục vụ cho đờì sống của giai tầng quý tộc cũng khắc nghiệt lắm.

 

Nhưng ở đó hệ thống quan lại thông minh hơn và họ biết cách giúp vua đối xử với những con người ưu tú một cách hợp lý hơn. Ví dụ họ để cho những người làm nghề giỏi có một khoảng riêng tư nhất định, ngoài chuyện có sản phẩm tiến vua họ vẫn còn một khoảng tự do lo cho cuộc sống riêng gia đình mình. 
Sự tham gia của bộ phận trí thức Trung Hoa khi nghiên cứu cách làm nghề càng khiến trình độ của những người lao động ngày một tiến hóa. 
Trong điều kiện của một xã hội phong kiến ở một trình độ phát triển thấp hơn, thì việc đối xử của nhà cầm quyền Việt Nam với những phần tử ưu tú trong lao động nghề nghiệp bị nhiều hạn chế hơn hẳn, đó chính là yếu tố tiêu cực, khiến cho mong mỏi về sự hoàn thiện nghề nghiệp ở con người bị thui chột.
Trước sự quản lý ngu ngốc của nhà nước, người dân -- đương nhiên - có những phản ứng tiêu cực có hại ngay tới sự phát triển nghề nghiệp của họ. 
Trong bộ “Việt Nam văn hóa sử cương” 1938, Đào Duy Anh dẫn lại một câu trong thiên “Quốc dụng chí” sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú “như nhà nước đòi sơn thì dân chặt cây đi; nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt; đòi gỗ thì dân quăng búa rìu; đòi tôm cá thì dân xé lưới”.


Hưng Yên & câu chuyện giã từ cái cũ

Ngày đăng 20/9/2016

 

Trong việc quy hoạch đô thị Việt Nam sau chiến tranh, ngoài Vinh còn một trường hợp nữa gây cho tôi nhiều ấn tượng là Hưng Yên.
Về cái thị xã ven sông Hồng này lần đầu năm 2010, tôi ngạc nhiên ngay về độ “chín” của một tỉnh lẻ. Không hiểu sáu bảy năm đã qua, bây giờ nó có còn như cũ không, nhưng hồi ấy đó đúng là một miền đất thanh bình. Mà không phải cái thanh bình của làng xóm nông nghiệp cây đa bến nước, đây là cái thanh bình của thành thị hẳn hoi. Đường vắng, người thưa, vỉa hè rộng. Xe qua ngã tư vì đường vắng cũng không cần bóp còi. Nhà cửa nhà nào nhà nấy rộng rãi, con người từ tốn sống trong môi trường lâu đời của mình. Ấn tượng nhất với tôi là một người bán xổ số bên đường. Người bán hàng ấy ngồi góc đường nhưng rất nghiêm túc, bàn ghế đàng hoàng, lại còn mang cả sách ra đọc. Nhớ những dân bán dạo xổ số hoặc là các hàng nước ở đầu đường Hà Nội mà thấy thế nào là sự khác nhau giữa ổn định và hỗn loạn.


***

Một trong những ám ảnh của Hà Nội sau chiến tranh là hiện tượng cơi nới. Nay là lúc thành phố khá nhiều những ngôi nhà bê tông cốt thép, kiểu cách tùy ý thích người có tiền, các ông chủ không chỉ học theo thời Pháp thuộc mà học cả tận bên Mỹ, và có khi cả bên Ả Rập. Những ngôi nhà siêu hiện đại ấy mọc lên những mảnh đất xiên xẹo hoặc siêu mỏng siêu méo mó vốn giành để cất tạm những căn nhà tranh nhà gạch mộc tường xây kiểu con kiến. Nên nhìn từng nhà thì đẹp nhưng nhìn cả khu phố, người ta vẫn nhớ lại cái tình trạng bát nháo cũ. 
Khi tôi hỏi cái thị xã Hưng Yên không cần mở rộng và phát triển hay sao thì một người dân trả lời :

 

Không, có chứ. Nhưng ở đây chúng tôi cấm hẳn chuyện cơi nới, nghĩa là phá vỡ sự ổn định của cái cũ. Ai có nhu cầu xây dựng to đẹp hơn thì hãy sang khu đô thị mới. Có điều ở đấy cũng không phải cứ quẳng ra một đống tiền mua đất rồi muốn làm gì thì làm. Mà phải đủ tiền để mua một khoản diện tích tối thiểu nào đó, rồi phải xây nhà theo kiểu mới, đúng quy cách, đúng số tầng quy định, nhà nọ ăn ý với nhà kia thì mới làm nên khu phố đẹp. 

 

Biết tôi từ Hà Nội xuống người dân Hưng Yên rất thạo đời này bổ sung: 
Tôi biết rồi, ở Hà Nội gọi là phố cổ nhưng nay là lúc toàn “đất mượn”, dân tứ chiếng đổ về át cả người cũ. Người ta cũng hiểu là dân kẻ chợ tất phải làm thế , vì mỗi tấc đất là một địa điểm kinh doanh ngày ra tiền triệu. Cái may của chúng tôi là những cái quá hiện đại quá mới mẻ không tràn về bóp chết cái cũ. Chúng tôi bảo nhau chỉ sống nhì nhằng thế này thôi, đừng có chết thèm chết khát vì những thứ mà mình không có.


***

Qua Hưng Yên ngày ấy, bài học về việc quy hoạch cái mới thì đã rõ ràng rồi. Tôi còn tự nhủ thêm, muốn từ giã cái cũ cũng phải rất thông minh. Tốt hơn hết là đừng động đến nó. Muốn thay đổi hãy làm hẳn cái mới. Trong nghề viết văn với tôi nhà văn Nguyễn Kiên nay đã quá cố là một bậc đàn anh. Ông từng kể lại với tôi một kinh nghiệm, khi viết ra một bản thảo nào đó mà đọc thấy chán thì tốt hơn hết là xé đi, vứt hẳn đi, chứ cứ ngồi đấy kỳ cạch chữa đi chữa lại đoạn này câu kia thì không bao giờ ra tác phẩm hoàn chỉnh.


 

Yên phận

Ngày đăng 24/9/2016 

 

Trong dịp qua Vinh tôi có may mắn được các bạn ở tạp chí “Văn hóa Nghệ An” cho ngồi xe, ngược dòng sông Lam để dẫn lên Đô Lương, dừng lại ở một xã mà xin lỗi là tôi đã quên ghi lại tên, ấn tượng của tôi là một cái gì rất thanh bình y như một thời trước chiến tranh phá hoại 1964. Nhà cửa trong xóm vẫn là loại nhà ngói kiểu cũ, sân trước rộng rãi, đồ trong nhà phần lớn là đồ gỗ và không có xanh xanh đỏ đỏ các loại hàng nhựa tân thời. Mọi người trong nhà thì bình tĩnh làm những công việc mà người nông dân nhiều đời đã làm chứ không chúi đầu vào tivi, hoặc cầm trên tay di động ngoáy ngoáy những game mới mang về từ Hà Nội, Sài Gòn. Sân không có rác của gói bim bim, hoặc các loại giấy bọc bánh kẹo sặc sỡ. Hỏi ra trong làng chỉ có vài chiếc xe máy mà cũng ít chạy, người trong làng hoặc đi làm ăn nơi xa, hoặc yên tâm với các công việc vốn có. Ngồi trong cái sân rộng được che bằng một giàn bầu, cảm thấy dễ chịu hẳn khi trước mặt là đồng lúa xanh và có vài bóng dáng xe đạp đi qua. Hỏi về giáo dục thì được biết trong làng trẻ con vẫn đi học đủ, số lượng những bạn trẻ trở thành sinh viên tuy mỗi năm một ít, đi, nhưng vẫn duy trì được đều đều như cái nếp sống ngàn đời ở những xóm làng Nghệ Tĩnh ham học vốn có.


Khi tôi nói chuyện với một người bạn là chị Phó tổng biên tập tờ VHNA nói ở trên thì chị cho biết quê chị ở Yên Thành, cũng cách Vinh không xa nhưng mà ven đường 1 ở đó đang hình thành thứ nông thôn khác hẳn. Nhà nào hình như cũng xây lại, cách sống người nào cũng mang đủ kiểu dáng mà họ học được ở các đô thị lớn. Trong làng nhiều xe máy thậm chí có cả ô tô, trẻ con tập trung lại ở những phòng net. Nhìn làng cũ mà cứ thấy nhang nhác bóng dáng của những Vinh hay Hà Nội, nhưng ở đây tất cả lại vụn vặt và tầm thường hơn nhiều. Trong khi có người bảo thế là học đòi thì phân lớn dân ở đây lại tự hào rằng mình đang bắt kịp thời đại và chê các nơi không biết làm như mình là cổ lỗ không thức thời.. 
Chúng ta thường bàn về khả năng hiện đại hóa nông thôn. Nhưng tôi cho rằng tốc độ hiện đại hóa phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người, về xu hướng của xã hội, cũng như hiểu biết về vị thế, tình trạng vốn có của mình. Chứ nếu chỉ học đòi và tạo ra những phồn vinh giả tạo thì đó sẽ là sự hiện đại hóa đầy tai vạ. 
Trong bài nói về Hưng Yên tôi quên không nói cái lý do khiến cho Hưng Yên có thể vẫn cứ là mình, khôn ngoan trong sự phát triển mà không bị cuốn theo cơn bão hiện đại hóa, đó là do những cơ may lịch sử hiếm có. Kháng chiến chống Pháp Hưng Yên là một thị xã mà không bị tiêu thồ nghĩa là phá hoại hết những công trình cũ. Đến khi hòa bình lập lại 1975 thì thị xã này cũng chưa bao giờ là nơi thu hút của những người chiến binh từ mặt trận trở về, những người luôn luôn bắt xã hội phải tìm mọi cách đền bù cho những hy sinh hôm qua. 

 

Thử so sánh với một vùng đất ngay cạnh Hưng Yên là Hải Dương. Hải Dương nằm trên trục đường năm, con đường huyết mạch luôn luôn vận chuyển hàng từ Hải Phòng lên hoặc từ HN xuống, không khí rộn rập đó mang lại cho người Hải Dương một khát khao được sống trong các thành phố hiện đại và họ cố làm theo với bất cứ giá nào. Trong khi đó Hưng Yên luôn yên phận trong tư thế một tỉnh đồng bằng. Cho tới trước 2010 cây cầu nối Hà Nam và Hưng Yên chưa được xây dựng, Hưng Yên gần như tách biệt khỏi không khí chung và không biết thế nào là vấn nạn của đồng bằng sông Hồng, nơi đang ồ ạt lập nên khu chế xuất, khu công nghiệp của các tỉnh Hà Nam, Nam Định. Ở vị trí ấy, Hưng Yên gần như bị bỏ quên. Hưng Yên chỉ sống với những cái gì vốn có và tiếp nhận những cái mới phù hợp trình độ . Việc xây dựng của Hưng Yên theo những bước đi cổ điển thật ra cũng chỉ là dấu hiệu của một nền văn hóa tỉnh lẻ -- chữ tỉnh lẻ ở đây không theo nghĩa xấu mà theo nghĩa tốt đẹp của nó. Tôi thầm nghĩ giá kể nhịp điệu phát triển của Hưng Yên cũng là nhịp điệu của cả nước thì hay biết bao. Vừa nghĩ xong, lại đã biết rằng mình lạc điệu rồi, hai chữ yên phận vốn chỉ có ở người Việt trước 1945 chứ làm gì có trong người Việt bốn mươi năm hậu chiến. Chúng ta hôm nay đâu còn là ta hôm qua nữa.


Hãy thoát khỏi những quan niệm cổ hủ

Ngày đăng 28/92016

 

Chương trình VTV 1 mấy hôm trước có đưa một tin đạị ý nói miền Tây Nam bộ không còn là vùng đất trù phú.

 

Báo Tuổi Trẻ số ra thứ 2, 29/8/2016 có bài viết "Việt Nam không nên làm sắt thép nữa".

 

Bài trên là một nhận định về một tình trạng thực tế.

 

Bài dưới không chỉ nói về phương hướng hành động mà còn liên quan tới phương hướng suy nghĩ, cổ hủ hay theo kịp thời đại.

 

Cả hai bài đều giống nhau ở ngụ ý cuộc sống luôn luôn biến chuyển và “Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa” tên một bài viết của tôi trên blog cá nhân http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/cai-ung-hom-qua-nay-khon…

 

Giờ tôi muốn nói kỹ hơn về bài dưới tác giả là ông Nguyễn Mại, một Thứ trưởng cũ của bộ Kế hoạch Đầu tư.

 

TA HAY BÀN NHAU VỀ HÀNH ĐỘNG ĐÚNG HAY SAI

NHƯNG THEO NHỮNG QUAN NIỆM CỔ HỦ

THÌ HÀNH ĐỘNG ĐÚNG CŨNG CHẾT

Khi có người hỏi rằng “sản xuất thép là nền tảng cho nền công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế tạo” thì ý kiến đó nay còn hợp lý không, thì ông Mại đã nói thẳng: “đây là một quan niệm rất cổ hủ”

 

Với tư cách là một người đã lớn lên trong xã hội này 60 năm qua, tôi biết rằng ở đây chúng ta động đến một vấn đề rất cơ bản.

 

Động cơ chúng ta thúc đẩy làm chiến tranh là nước Việt Nam độc lập, mà một nước độc lập thời ấy là nước có nền công nghiệp hiện đại… trong cái khái niệm công nghiệp hiện đại phải có nền công nghiệp nặng đi đầu trong đó có công nghiệp thép.

 

Những tư tưởng ấy đã chi phối chúng ta suốt cả thời hậu chiến và chúng ta không bao giờ nghi ngờ đến mức nghi ngờ rằng tất cả có thể làm khác.

Lúc ấy - và hình như cả đến bây giờ - việc có những nhà máy làm thép có những hoạt động phá hoại môi trường vẫn được coi là chuyện nhỏ so với định hướng lớn đất nước phải làm sắt thép.

 

Nay một quan chức - đồng thời có lẽ là một trí thức thực thụ chứ không phải thứ lợi dụng chức vụ để buộc người ta cho học hàm học vị - đã nói ra rằng chính đó là quan niệm rất cổ hủ.

 

Cổ hủ là một sự đánh giá rất ít khi được dùng trên báo chí và trong các cuộc thảo luận hiện nay. Ta chỉ hay nói người này dám làm người kia không dám làm, chứ không nói người này tiên tiến nghĩ khác cái cũ và cần đưa lên vị trí chiến lược, người kia bảo thủ cổ hủ và cần loại bỏ. Cứ ai có quyền là bị miễn dịch khỏi bảo thủ, cứ tư tưởng nào đang thắng thì không ai có quyền gọi tư tưởng đó là bảo thủ(!)

Bây giờ dừng lại một chút về chuyện sắt thép và công nghiệp nặng.

 

Tôi không phải chuyên gia về kinh tế nhưng trên lý thuyết hiểu rằng nếu cứ lặp lại bước đi của các nước tư bản và thực tế là tiếp nhận những cái mà xã hội hiện đại đã thải loại ra, thì không bao giờ chúng ta có thể đuổi kịp được các nước đó.

 

Cơn mộng tưởng về độc lập theo nghĩa cổ lỗ đó sẽ không bao giờ có thể thực hiện .

 

Người ta thường dẫn lời phát biểu của người phụ trách đối ngoại của Formosa với sự phê phán. Nhưng tôi thấy ở đây có một sự thực. Ông ta đã nêu cái ý trong vấn đề giữa cá và thép chúng ta phải chọn lấy một.

 

Nhiều bạn đã có ý nghĩ ở ta phải chọn cả hai, vừa có cá và thép.

 

Tôi cho rằng việc đòi hỏi như thế là quá cao với một đất nước vốn đã nghèo nàn lạc hậu, trải qua chiến tranh còn rệu rã tan nát, bốn chục năm nay chưa hồi phục và càng ngày càng thấy mình lệch hướng về mọi mặt.

 

Cách cứu vãn bây giờ là hãy thoát khỏi các quan niệm cũ.

 

Lý luận về sự phát triển công nghiệp là bài học ta học được từ cách mạng Nga và Trung Quốc.

 

Nhưng ở các nước Đông Nam Á sau khi thoát chủ nghĩa thực dân người ta hiểu khác.

 

Đọc tin về cách làm ăn của các nước như Thái Lan hay Miến Điện, tôi cảm thấy là họ ngầm tuyên bố rằng họ chưa thể làm công nghiệp được. Không thể có chuyện tổ chức làm săt thép để đáp ứng hết yêu cầu trong nước và trong tương lai không chừng có thể xuất khẩu mặt hàng công nghiệp này làm đà đua đòi với các nước tư bản.

 

Ngược lại các nước Đông Nam Á khôn ngoan biết rằng họ chỉ có thế mạnh về nông nghiệp và học người nước ngoài để làm tốt nông nghiệp. Còn những chuyện làm công nghiệp là phải đợi thời gian khi quốc gia có sự phát triển đầy đủ, đạt những chuẩn mực quốc tế. Trong thời gian hiện tại, như một ý của nhà văn Anh R. Kipling, người hiểu biết sâu sắc về Ấn Độ đã nói "Đông là Đông mà Tây vẫn cứ là Tây".

 

Phải chăng trong thời hiện đại sự phối hợp quốc tế là mở rộng hơn bao giờ hết, người ta có thể chọn những gì người ta mạnh, bỏ qua những gì người ta yếu.

 

Khi chọn sự phát triển nộng nghiệp - nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa – tức là chúng ta chấp nhận rằng trong khi đi theo những quy luật chung, ta phải xuất phát từ tình thế của mình.

 

Từ xưa người ta đã cười vào mũi những anh thả mồi bắt bóng.

 

Mọi sự mô phỏng đều thất bại, huống chi lại là mô phỏng cái cổ hủ và đã bị văng ra khỏi lịch sử.


Bắt đầu từ việc xem xét lại cách nghĩ cách sống của cả cộng đồng

 

Ngày đăng 29/9/2016 

 

Xem đoạn phim về một vườn Bách thú (cụ thể là ở Thượng Hải), điều tôi ngạc nhiên nhất lại là cái cách người ta trưng bày: trong khi thú ở Hà Nội được nhốt trong chuồng thì ở đây, thú được để hoang. 

 

Còn người đi xem cũng ở vị trí ngược lại, tức là chỉ có quyền nối đuôi nhau đi theo những hành lang đã được rào chắn cẩn thận, để từ đó đưa cặp mắt nhìn ra vườn thú.

 

Người như bị dốt trong khi thú tha hồ tung tăng. Có vẻ là hơi gò bó, nhưng để bù lại, họ được thấy con thú sống trong cái thế gần như tự nhiên vốn nó vẫn sống.

 

Đọc tài liệu về một bảo tàng mới khai trương, tôi lại nhận ra một điều lý thú khác. Nếu vào bảo tàng Việt Nam bắt buộc phải nghe những người thuyết minh (phần nhiều nói năng ngô nghê bởi không hiểu bao nhiêu về nội dung trưng bày, mà vui lòng làm một tiếng loa rè nhắc lại kiến thức đã được viết sẵn) – thì ở đấy, khi vào xem, mỗi người được phát cho một máy nghe, trông như điện thoại cầm tay. Trước một hiện vật nào đó, nếu muốn hiểu thêm, người nghe chỉ cần bấm máy là nghe được lời thuyết minh cần thiết.

 

Lại có nhiều kênh khác nhau, ai biết tiếng gì mở theo kênh tiếng ấy.
Phòng bảo tàng không còn cái cảnh ồn ào của đám học trò lạch bạch chạy theo cô giáo - đây là cô thuyết minh - giảng bài.

 

Mùa hè 1973, với tư cách một phóng viên của tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi có dịp được lang thang ít ngày ở nhiều làng quê Quảng Trị. 
Những xóm làng trù phú của Triệu Phong Hải Lăng chỉ vừa mới được giải phóng.
Đến đó tôi không chỉ ngạc nhiên với các loại tivi, hoặc xe honda, mà còn mê mẩn vì một chuyện khác - nó chủ yếu bộc lộ cái sự ngô nghê của tôi, nhưng xin phép cứ được kể cho vui - là nhà nào cũng nhiều các loại vỏ chai rượu, cố nhiên toàn rượu tây, chỉ có điều mỗi loại chai chế tạo theo một kiểu dáng riêng. 
Nếu ở Hà Nội hồi ấy tôi chỉ biết tới một hai kiểu chai đuồn đuỗn quê quê của nhà máy rượu Hà Nội, thì ở đây kiểu nào cũng lạ. Cái tròn cái bẹt, cái cao cái thấp, cái đút túi rất thuận tiện, cái to tổ bố trông đã sướng mắt.

 

NẾU TẤT CẢ CÓ THỂ LÀM KHÁC
THÌ SỰ TÌM TÒI CÁI KHÁC 
PHẢI BẮT ĐẦU TỪ KHÁC TRONG TƯ TƯỞNG

 
Trên đây là đoạn mở đầu cho bài “Tất cả có thể làm khác” mà tôi đã viết từ hơn chục năm trước và đưa vào cả sách "Những chấn thương tâm lý hiện đại" bản in đầu 2008, lẫn blog cá nhân , ngày 1/5/2013.

 http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/…/tat-ca-co-lam-khac.html.

Lúc đó, trước khi đưa ra một ví dụ nhỏ về việc tư nhân làm văn hóa, tôi tạm kết luận. 


"Với vài ba lần được sửng sốt như vậy, tôi thấy vỡ ra một điều, hoá ra mình biết quá ít." 


"Và điều đáng sợ hơn, cứ tưởng ít cái đã biết là tất cả những mẫu mực nhất nhất phải theo, rồi chăm chăm nghĩ chuyện sao y bản cũ, lâu dần thành một cách nghĩ khô cứng máy móc, đến nỗi mụ mị quên hết cả tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính."


"Trong khi đó với khả năng khơi gợi ý chí sáng tạo, chính chúng, cái tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính ấy, là những nhân tố cần cho đời sống, kể cả trong những việc nhỏ nhất như... tạo dáng cho mấy cái chai cái lọ vẫn dùng hàng ngày."

Nay nghĩ lại, muốn bổ sung:

 1/ Khái niệm cái khác đánh dấu sự trưởng thành về mặt tư duy của con người. “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn cho mình thì cũng đừng áp đặt cho người khác) thường được các nhà nghiên cứu phương Tây coi là câu hay nhất của "Luận ngữ" ( cuốn sách là tập đại thành những suy nghĩ về con người và xã hội của Trung Quốc cổ đại).

Chỉ có kẻ chưa trưởng thành mới cho rằng chỉ có mình tự quyết định số phận mình và trung thành mãi với cái quá khứ duy nhất do mình tưởng tượng ra.

 

2/ suốt thời chiến tranh và cách mạng dân ta chỉ đề cao hành động và coi nhẹ sự tìm tòi về mặt tư tưởng. Hoàn cảnh lúc ấy đòi hỏi phải như thế. 
Nay đã đến lúc không chỉ bàn nhau về những cách làm khác trên mạch cách nghĩ cũ mà phải dành một phần trí tuệ cộng đồng cho việc tìm tới một cách nghĩ khác, bao gồm từ nghĩ về mình đến nghĩ về các dân tộc có tiếp xúc với mình, nghĩ lại về quá khứ, nghĩ lại về tương lai.

 

Phải khỏe khoắn lắm về mặt nội lực ta mới dám phủ định lại cái mà hôm qua chúng ta thường tự hào. 

 

Nhưng tình trạng cộng đồng cay đắng thê thảm hiện nay khiến ta phải trở lại cái khẩu hiệu xưa “Không thể có con đường khác”.
Hôm qua nó có nghĩa một con đường cụ thể duy nhất.
Hôm nay nó có nghĩa phải là liên tục mở ra những con đường mới. Khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng: con đường đa dạng hóa.

 

3/ Trách nhiệm thay đổi cách nghĩ của cả cộng đồng trước tiên dồn lên vai những đầu óc ưu tú dám đứng tách ra để nhìn thực tế với cả tầm vĩ mô của nó.
Từ chỗ dám nghĩ khác đến chỗ tìm ra cách nghĩ tương đối đúng là cả một chặng đường dài.

Từ chỗ có cách nghĩ đúng đến chỗ chuyển nó thành hành động của một cộng đồng quen nệ cổ và ngại thay đổi là một chặng đường dài hơn, dài lắm lắm.
Nhưng cái hích đầu tiên vẫn là dám nghĩ khác.


Tại sao tật nói ngọng ngày một phổ biến?

Ngày đăng 24/11/2016 

 

Nhân chuẩn bị cho một cháu nhỏ trong gia đình thi vào trung học phổ thông, tôi có đi hỏi thăm vài người về chất lượng các trường trong phạm vi thủ đô. Tới XX, một trường được thành lập từ ngay sau 10/1954 và ở ngay trung tâm thì được kể:

- Ồ cũng như mọi nơi, xập xệ lắm. Một cô giáo đang dạy lớp 11 ở đó còn nói ngọng l/n.

 

Nghe mà buồn! Nhưng cũng nhân đấy, có dịp hiểu thêm về tình trạng nói ngọng hiện nay. 

 

Là nó đã quá phổ biến.

 

Trong khi vẫn coi việc nói đúng là một tiêu chuẩn để đánh giá một con người hay một đơn vị văn hóa, đồng thời người ta cũng đã bắt đầu quen với sự bất lực.

 

Nói ngọng đang bành trướng. Nó xâm nhập tới những nơi xưa nay không được phép bén mảng tới. Đã không ngăn chặn nổi nó thì thôi chung sống với nó vậy, người ta tự nhủ. Ví như bảo anh chị em bên tivi là không được đưa người nói ngọng xuất hiện trước màn hình thì có lẽ … nhiều chương trình sẽ bị cắt bỏ.
Trong khi chê trách sự nói ngọng, nhiều người đã nói tới việc giảng dạy ở các nhà trường. Nhưng có lẽ cũng nên nghĩ tới những nguyên nhân sâu xa hơn. Đang có một sự dễ dãi chi phối thái độ con người hôm nay đối với ngôn ngữ và sự giao tiếp nói chung, đầu mối là ở đấy chăng.

 

Bình là một đồng nghiệp trẻ mà tôi quen gần hai chục năm nay. Từ nông thôn lên, đẹp trai, thông minh, hội nhập rất nhanh với đời sống đô thị. Chỉ tội một nỗi không sao sửa được bệnh nói ngọng. Nhiều lần đang nghe Bình nói rất hay chợt nghe anh hồn nhiên lầm lẫn l/n, tôi cứ cảm thấy câu chuyện không còn ra làm sao.

Chúng ta sẽ rủ nhau mà đi xuống mồ với cái sự ngọng vĩnh viễn như thế này chăng?

Tại sao lại có hiện tượng như vậy?

Tôi thử tìm về nguồn gốc xuất thân, tức là chất trai quê của anh bạn.
Nhưng rồi tôi nghĩ lại. Bình lên Hà Nội theo con đường đàng hoàng là học đại học, vào làm cơ quan nhà nước, hàng ngày tiếp xúc với bộ phận tinh hoa của xã hội. 
Vậy không thể đổ cho nói ngọng là tại “trình độ thấp” được.
Vả chăng nay là lúc không chỉ người các tỉnh lên Hà Nội nói ngọng mà chính ở nhiều lớp người thủ đô cũ cũng có hiện tượng lại gạo, lại mắc thêm nhiều lỗi ngọng mới, tức là đánh mất sự trong sáng chuẩn mực trong ngôn ngữ của mình. 
Mạnh mồm khái quát lên một chút, liệu có thể nói tới một căn bệnh thời đại? Tôi muốn đi theo hướng ấy. 

 

Lần lại trong trí nhớ và nhất là soát lại các trang sách đã đọc, thấy thời trước con người trầm tĩnh kỹ lưỡng bao nhiêu, thì ngày nay cả ở Nam lẫn Bắc, cả nông thôn lẫn đô thị, người ta sống xô bồ, dễ dãi bấy nhiêu. Sự chuẩn mực bị coi thường. Mà sự tinh tế kỹ lưỡng thì nhiều khi bị mang ra chế giễu.

 

Phải quê quê một chút, phải cục mịch một chút mới ra vẻ thức thời. 
Cái lối nghĩ ấy theo sát chúng tôi suốt từ những năm thủ đô giải phóng (1954) và kéo dài mấy chục năm ròng. Đến nay đã có căn bệnh mới, là bệnh khoe giầu khoe giỏi khoe trí thức giả, song dấu vết của căn bệnh cũ vẫn còn dai dẳng.
Nhìn vào một ngành có liên quan nhiều tới chữ nghĩa và tiếng nói là ngành văn chương mà tôi làm việc mấy chục năm nay. Bước sang thời buổi thị trường không ai ngồi trau chuốt một câu một chữ nữa. Viết bừa viết ẩu. Sai câu. Sai chính tả. Chỉ cùng một ý mà mấy lần lặp đi lặp lại … Bấy nhiêu căn bệnh không gì khác chính là những biến dạng của SỰ PHI CHUẨN trong văn hóa giao tiếp. 
Mang danh chuyên nghiệp đã thế, còn nói chi tới những người dân thường.
Dạo này chúng ta hay nói tới sự phá hoại môi trường sống của cộng đồng.
Ngôn ngữ cũng là một yếu tố thuộc về cái môi trường mà chúng ta đã chểnh mảng bừa bãi trong đối xử. Văn hóa giao tiếp của chúng ta đang xuống cấp. 
Công cụ giao tiếp vốn đã cổ lỗ lại đang mòn sờn hư hỏng.
Nó kéo xã hội phát triển chậm lại và làm cho cuộc sống thêm bề mệt mỏi khó chịu. 

Tôi muốn đặt căn bệnh nói ngọng của chúng ta trong tình trạng suy thoái của văn hóa giao tiếp như vậy. Một lần tôi nghe Bình bảo:

- Giá kể biết thế nào là ngọng thì em sẽ sửa được ngay. Đằng này, chẳng ai bảo em thế nào là đúng thế nào là sai cả, sai đúng sao cũng được. Lại có mấy ông ngôn ngữ học “nửa mùa” bảo ngọng là phương ngữ, từ đó làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ cộng đồng. Thế thì còn biết đằng nào mà lần!

 

Tôi cảm nghe trong câu nói trên của người bạn không chỉ một cách cắt nghĩa mà còn một lời than phiền chân thành. Xã hội đã không tạo ra cơ chế tốt để giúp các công dân của mình duy trì các chuẩn mực trong giao tiếp, cũng tức là giúp mọi người nói năng viết lách ngày một hay hơn chính xác hơn, còn người có sai lầm cũng sớm biết cách mà từ bỏ cái sai mà lại còn bênh che cho họ xô họ xuống chỗ lầm lạc. 

 

Tôi nhớ tới một cách giải quyết ở nước ngoài. Từ 1635, nước Pháp đã lập ra một Viện Hàn lâm với nhiều ông hàn chuyện lo soạn từ điển và cầm cân nẩy mực về mặt ngôn ngữ. Bao giờ thì chúng ta mới có những Viện Hàn lâm với đúng nghĩa đích thực như vậy? Hay là, trong sự biến động hỗn loạn của tiếng Việt, rồi những ai có ý định làm ông hàn cũng chắp tay lạy để xin chuyển ngay sang ngành khác.

 

Đã in TBKTSG 6/10/2009

http://www.thesaigontimes.vn/…/Tai-sao-tat-noi-ngong-ngay-m…


Sự hấp dẫn của môn lịch sử trước hết là ở nội dung của nó 

Ngày đăng 2/12/2016

 

Báo Tuổi Trẻ 2/12/2016 có bài phỏng vấn một quan chức hàng đầu của giới sử học hôm nay, trong đó có một ý nói rằng phải cải tiến cách dạy sử có thể đưa cả phim hoạt hình vào lớp hoặc game vào lớp... 

 

Tôi nghĩ sự hấp dẫn của mọi môn học phải từ nội dung. Mọi thủ thuật trình bày chỉ đến về sau. Bàn chuyện dạy cho hấp dẫn là lấy cái phụ làm cái chính và lẩn tránh việc thay đổi quan niệm sử học đang ngự trị cả trong nhà trường lẫn xã hội.

 

Nhân đây xin giới thiệu lại, một bài viết cũ , đã đưa tren blog của tôi 
vuongtrinhan.blogspot.com/…/.../can-co-mot-thu-su-hoc-khac.…


CẦN CÓ MỘT THỨ SỬ HỌC KHÁC 

Từ đầu thế kỷ 20, một quan chức mà cũng là một trí thức nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn "Việt sử yếu" (viết năm 1914) đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông đảo dân chúng.

 

Có thể giải thích hiện tượng này bằng chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...

 

Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài bộ như "Toàn thư", "Cương mục", "Việt sử tiêu án", "Lịch triều tạp kỷ"... mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.
Đến thời chúng ta, tình hình lại đi theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.

 

Những bộ sử thời nay do Nhà nước chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng là lâu nay chúng ta chẳng biết gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về nhận diện chính mình.
Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu hơn sử ta?

 

Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn hơn. Không, không phải vậy, hoặc lý do chủ yếu không phải vậy. Cái lỗi trước hết là ở chính những cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử dụng.

 

Ở những trang sử Trung Quốc, không chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn... Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những trang sử ấy. Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.

 

Quay trở lại với những gì được viết trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời. Ở những trang sử ta viết cho ta, trên cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng quá đơn sơ, thô thiển.
Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào.

 

Lại càng không thể từ đó rút ra những gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay.

 

Bởi những bài học mà người viết sử gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người ta theo lối áp đặt gượng gạo.
Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.
Cái lỗi không phải chỉ là do mấy người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử và những người đã buộc các nhà sử học phải viết vậy.

 

Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội. Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người Việt.
Chúng ta là một cộng đồng mải chinh chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình...

 

Đó không chỉ là tình hình có thật trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.
Thời nay, trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối chỉ dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.
Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn tại mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát triển. Tóm lại là vậy.

 

Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn. Nghịch lý cuối cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.

Đã in TBKTSG 20/10/2011

 

Viết thêm 13/5/2013:

Không riêng gì sử học, mà toàn bộ học thuật nước ta, cần phải làm khác, nếu nền học thuật ấy còn muốn vươn tới trình độ hiện đại, từ đó có ích cho đời sống.
“Cần có một thứ sử học sinh động hơn, gần với hình ảnh con người nhiều hơn" – Trong bài viết hai năm trước tôi mới biết đến vậy, nay thấy nói thế thực là không đủ.

 

Trình độ của tôi lúc này không cho phép tôi phác họa ra một thứ sử học mà chúng ta cần. Tuy nhiên tôi muốn đề nghị một tiêu chuẩn chủ yếu.
Trong khi nói về quá khứ, một nền sử học phải giúp cho con người ngày nay giải thích được khung cảnh trước mắt. Phải thấy được sự liên tục của tình hình.
Sự bế tắc hôm nay là tiếp nối tình trạng trì trệ triền miên trong quá khứ.
Những người chèo lái xã hội hôm nay mang trong mình chỗ hay chỗ dở của bộ phận mà ta hay gọi là giai cấp thống trị quản lý đất nước các thế kỷ trước – thực ra chính họ đã là tinh hoa của xã hội lúc ấy dù là họ chỉ có thế.
Cho tới tự nhận thức của chúng ta về cộng đồng mình, mối quan hệ của chúng ta như một quốc gia với các quốc gia lân cận… trên nét lớn vẫn thế.
Tám mươi năm thuộc Pháp ta có học được ít nhiều, nhưng rồi mấy chục năm nay, một sự “lại gạo’ lại diễn ra dần dần và chúng ta đang trở nên giống ông cha ta thời trung đại hơn bao giờ hết.

 

Trên đường tìm tới một thứ sử học khác đi - khác về căn bản so với những gì sử học hôm nay đã và đang làm, ngoài việc học hỏi sử học nước ngoài, việc trở lại với sử học của ông cha cũng đang là việc cấp bách.
Sử học thời trung đại ở ta bao gồm hai loại. Có những bộ sử nhà nước như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục... Có những bộ sử do cá nhân đứng tên như Việt sử lược, An Nam chí lươc,, Lịch triều tạp kỷ, Đại Việt thông sử, Việt sử cương mục tiết yếu…

 

Cả về mặt bao quát sự kiện chi tiết lẫn trách nhiệm của ngòi bút và tư cách nhà viết sử nói chung … các bộ sử xưa thuộc cả hai loại đó xét ra còn khá hơn sử ngày nay rất nhiều.


Những biến dạng của nghề hầu rượu 

Ngày đăng 6/12/2016  

 

Không biết có phải là khiên cưỡng không, song việc các cô giáo ở thị trấn Hồng Lĩnh được điều động đi hầu rượu khiến tôi nhớ tới một tình trạng của giới văn chương nước ta thời nay. Đó là tình trạng các cây bút muốn tiến thân – bao gồm cả các nhà nghiên cứu lẫn các nhà sáng tác – tranh nhau viết bài hoặc kéo nhau đi dự các cuộc hội thảo về các cuốn truyện tập thơ hoặc các huấn thị của các nhân vật có chức có quyền. Tất nhiên là chỉ có ca ngợi tâng bốc.

 

Sự điều động trong trường hợp này được làm kín đáo hơn, người ta không trả công ngay, nhưng sẽ gọi những cuộc hầu rượu sang trọng đó là hoạt động khoa học, và sau nhiều kỳ tích lũy, người ta sẽ ban phát cho họ các loại học hàm học vị. Ôi hấp dẫn lắm chứ, mấy ai cưỡng nổi!

 

Từ đầu những năm chín mươi tôi đã viết phiếm luận dưới đây, bài đã được đưa vào tập “Những kiếp hoa dại’ 1993 và “Buồn vui đời viết” 1999.

 

Ban đầu tôi đặt tên bài là “Chất điếm trong mỗi chúng ta”

 

Khi duyệt bài anh Ngô Văn Phú tổng biên tập nhà xuất bản Hội nhà văn năm ấy đã chữa chữ “điếm” thành chữ “lang chạ”.

 

Tôi thấy chữa như thế càng làm nổi bật cách nghĩ cách sống của người mình là làm việc gì cũng nửa vời, biết là xấu song chỉ che che đậy đậy chứ thói nào tật ấy vẫn giữ đến cùng.

 

Nên đã cảm ơn anh Phú từ hồi ấy và nay nghĩ lại vẫn muốn nói lời cảm ơn

 

CHẤT LANG CHẠ TRONG MỖI CHÚNG TA

Giao thiệp rộng vốn là một yêu cầu thiết yếu đặt ra với nghề cầm bút. Có giao thiệp rộng, một người viết văn mới có cơ may hiểu đời hiểu người và có vốn để viết.

 

Trong hoàn cảnh mà việc viết lách còn luôn luôn đòi hỏi cả mọi sự thường xuyên dỏng tai nghe ngóng để nắm bắt được sư luận cho chính xác, thì có thể nói là không giao thiệp rộng không viết nổi.

Ấy vậy mà có những người trong chúng tôi, vụng về cố chấp, cả đời chỉ loanh quanh trong một đám bạn bè hẹp.

 

Trong khi ấy lại có những người gần như đi với ai cũng được, đi với ai cũng toe toét cười đùa nói năng bả lả. Cả già lẫn trẻ, cả các ma cũ lẫn đám ma mới, cả đám chuyên môn chúi đầu vào sách lẫn đám sống không ngại bụi đời và quan trọng nhất là cả những người lúc nghiêm chỉnh anh tìm đến để dãi bày tâm sự lẫn đám Chí Phèo thực bụng là anh e ngại, -- tất cả, tất cả, anh đều khoác tay thân mật như bồ bịch.

 

Trông sự đóng kịch của anh mà thèm.

 

Vâng, chúng tôi cũng hiểu anh X. nói ở đây là người giỏi đóng kịch, giỏi đổi màu, đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy, là sống theo kiểu làm xiếc.

 

Rồi có một lần ai đó buột miệng bảo anh là điếm. Không đánh đu với lão X. ấy được, người ta bảo vậy. Lão ấy điếm lắm, đi với ai cũng thế, chỉ cốt moi tài liệu thôi mà.

 

Người chung quanh ngớ ra một lúc rồi cũng thấy phải.

 

Riêng có anh X. vẫn cười nhăn nhở, vẻ như muốn bảo ai người trong bọn mình chả có chút điếm hoặc nói nhẹ đi một chút, ai chả lang chạ. Lang chạ trong giao thiệp như tôi còn là chuyện tha thứ được, anh nói thêm. Đến như các bố lang chạ trong viết lách mới thực đáng sợ.

 

Lần này thì lời cảnh cáo của cái con người thập thành ấy có làm cho chúng tôi sững người ra một lúc thật!

 

Trong tiểu thuyết Anh em Karamazov, nhà văn Nga Dostoievski từng nói tới một tình huống kỳ lạ. Smerdiakov thực thi việc giết bố. Nhưng chính kẻ sớm có ý định làm việc ấy và ngấm ngầm khuyến khích hung thủ, tóm lại tội nhân chính phải kể là Ivan.

 

Chuyện lang chạ nói ở đây cũng có nét gì đó tương tự. Có những người suốt đời không biết đến người đàn bà nào khác ngoài vợ, nói đến chuyện chơi bời thì ngớ mặt ra, muốn bảo vệ nhân phẩm của chị em một cách nhiệt huyết, một cách chân thành… song ở các lĩnh vực đời sống khác nhiều người trong họ lại cư xử theo đúng tinh thần của cái nghề mà họ khinh bỉ.

Trong sự giao thiệp hàng ngày nhiều khi vì lịch sự mà chúng ta phải tạm xếp cái cá nhân chính đáng của mình lại, để chiều chuộng tất cả những người mà ta có quan hệ.

 

Bảo thế là điếm e còn oan.

 

Nhưng cứ đà ấy mà kéo, nhân danh sự kiếm sống ta tự cho phép làm tất cả những việc ta vốn không thích, miễn làm vừa lòng khách hàng của mình; việc vốn thiêng liêng đáng ra phải mang tất cả tình cảm và hứng thú ra để làm, lại được tiến hành một cách bừa bãi, theo nguyên tắc của chiếc tắc xi, khách nào cũng chở, có tiền là chở, tiền trao cháo múc… thì đúng là lang chạ vô nguyên tắc rồi còn gì.

 

Càng những nghề có quan hệ tới công chúng rộng rãi, cái nguy cơ ấy càng lớn. Như trong việc sáng tác văn chương mà chúng ta đang nói.

 

Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút nào nhận viết về mọi đề tài không phân biệt quen hay lạ, sở trường hay sở đoản, cứ có người đặt tiền vào tay là viết, viết xong lại khinh bỉ ngay cái vừa viết rời tay, song rằng quen mất nết đi rồi, ngày mai lại làm tiếp cái việc hôm qua đã làm.

 

Là lang chạ vô nguyên tắc, những cây bút phê bình không cần biết hay dở, hợp gu hay không hợp gu, viết bạt mạng, viết lấy được, suồng sã xô bồ trong thẩm định và đánh giá.

 

Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường so sánh việc cầm bút với tình yêu, coi đó là những hành động nguyên bản, mỗi lần diễn ra là một trường hợp độc đáo. Bởi trong xã hội hiện đại, sự nhốn nháo có chiều tăng lên, người ta lại càng quý mến những ai giữ được tiết sạch giá trong của ngòi bút (còn việc mang lại cho cái tình yêu đó một sắc thái hiện đại, ấy lại là chuyện khác và chúng ta sẽ nói tới vào một dịp khác!)


Phải chăng thích đi hầu rượu là cả một nét tâm lý thời đại?

Ngày đăng 7/12/2016

 

Mấy năm 1954 - 1958 trường Chu Văn An Hà Nội còn là trường cấp II nay gọi là trung học cơ sở. Bọn học sinh chúng tôi rất hay được gọi đi làm những việc linh tinh núp dưới cái tên chung phục vụ công tác chính trị. Ví dụ đang học thì mấy lớp liền được gọi ra đứng hai bên đường Phan Đình Phùng vẫy cờ chào đón các ông cốp nước ngoài đến thăm Việt Nam.

 

 Có lúc chúng tôi còn được huy động kéo nhau sang tận sân bay Gia Lâm để “thay mặt nhân dân Việt Nam chào đón những người bạn quý”.

 

Hồi đó phương tiện giao thông còn hiếm lắm, đến xe bus cũng chẳng có, chúng tôi anh nào mượn được xe bố mẹ sang thì còn đỡ, một số phải đi bộ qua cầu Long Biên mấy tiếng đồng hồ.

 

Được cái nhà trường cho nghỉ học

 

Và chúng tôi thì thấy thích lắm, chả phải học mà có khi cuối năm toàn trường vẫn được thu xếp thế nào để gọi là hoàn thành chương trình còn bất cứ anh học trò nào cũng được xét học lực từ trung bình trở lên để rồi lên lớp cả một lượt.

 

Lớn lên trải qua một vài môi trường công tác thì biết thời nay cơ quan nào cũng có những anh chuyên môn chả chịu làm nhưng chỉ loanh quanh những việc cờ đèn kèn trống như vậy.

 

Việc chuyên môn của anh ta thì các anh em khác phải gánh.

 

Mà có khi đi nhiều quen biết nhiều, anh ta lại được tín nhiệm để trở thành sếp không biết chừng.

 

Không phải chỉ cấp trên thích anh ta mà giá được phát huy dân chủ tổ chức bầu người phụ trách, mọi người cơ quan cũng sẽ bầu cho anh ta ngay. Chúng tôi thường bảo nhau bầu người giỏi phụ trách cơ quan chỉ tổ khổ thân. Cái mà chúng tôi cần là những ông phụ trách giỏi chạy đề tài giỏi chạy dự án, giỏi đi liên hệ với các cơ quan cấp trên để xin tiền. Chỉ những người giỏi lo cho quyền lợi riêng (=tham nhũng) mới biết tha thứ cho những người cấp dưới hư hỏng.

 

Quay trở lại chuyện mấy cô giáo được gọi đi hầu rượu. Nay thì chắc chắn chẳng ai được điều tra hỏi han để xem phản ứng thực của các cô như thế nào.Nhưng suy bụng ta ra bụng người tôi đoán thả nào cũng có những cô thích làm cái công việc được gọi đi hầu rượu đó và nếu ban đầu có phản ứng chút chút, thì về sau lại cũng chỉ chăm chăm chờ đón xem có đám nào sắp tổ chức là chuẩn bị khăn gói đồ nghề, sớm tối cấp bách thế nào cũng có mặt theo đúng yêu cầu. Lý do thì cũng như đám học sinh chúng tôi thuở trước, thời ta được cái con người trẻ lâu, chúng ta quen lấy việc làm theo mệnh lệnh làm vui chứ đâu có thời giờ nghĩ đến chuyện tự trọng.

 

Hẳn có bạn nghĩ khi nêu những ý tưởng trên tôi đã cường điệu vấn đề và chắc chắn là tôi có vẻ bi quan quá. Tôi công nhận trường hợp các cô giáo Hà Tĩnh không phổ biến, nhiều người chúng ta thường gặp những ca nhẹ nhàng hơn nhiều. Nhưng phương hướng hành động tôi dự đoán như nhau cả. Mỗi chúng ta sẵn sàng lên án nhiều hành động lúc còn ngoài cuộc và sẽ tìm mọi ly do tự biện hộ lúc sa ngã.

 

Vậy là cường điệu thì đúng nhưng bi quan thì không.

 

Vả chăng, sao cũng được, thiển ý của tôi trong trường hợp này chỉ là mong chúng ta cùng suy nghĩ thêm về sự tha hóa của con người trong xã hội hiện nay.

 

Có phải nay đang là thời đạo đức xuống dốc; vô cảm buông xuôi bất lực, thả lỏng cho bản năng thả lỏng cho cái ác-- mỗi ngày một ít, cái tốt cứ bớt dần mà cái xấu cứ lấn dần?

 

Có phải là sức đề kháng của chúng ta ngày một yếu ? Mà cái chính là xã hội không giúp chúng ta phấn đấu cho tử tế hơn mà lại lôi cuốn chúng ta vào những việc xa lạ với lương tri phẩm giá ? Bằng cách khoác cho cả những hành động xấu xa những danh hiệu mỹ miều, xã hội đã khiến chúng ta xa lạ hơn hết với cái phần nhân bản mà người xưa đã dày công vun đắp?

 


Người Việt & những thông báo khác nhau khi giao thiệp

Ngày đăng 10/12/2016

 

Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên nêu ra những nhận xét xác đáng về ý nghĩa kép trong hành vi cử chỉ của người mình.

 

Ví dụ thì chúng ta đều biết, bài “Gì cũng cười” trong dó có đoạn

 

(..) " xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.

 

Thực không có tức gì bằng cái tức phải đối đáp với những kẻ nghe mình nói chỉ lấy tiếng cười hì hì mà đáp. Phản đối không tức, kẻ bịt tai chẳng thèm nghe cũng không tức đến thế..".

 

Dưới đây là một bài viết của Phạm Quỳnh trong đó ông cũng lật ra những gì tiềm ẩn đằng sau cái thái độ gọi là lễ phép, tôn trọng kẻ khác mà nhiều người Việt hàng ngày thực hành nhưng lại không có ý thức một cách đầy đủ.

 

CÁCH LỄ PHÉP CỦA NGƯỜI MÌNH

Người ta ở trong xã hội, trong khi giao tế với nhau, cần phải có lễ phép, dẫu đối với người cao hơn mình, người ngang bằng mình hay người thấp kém mình cũng vậy, kẻ khôn khéo thời tùy nghi mà gia giảm, nhưng bao giờ cũng phải có lễ nhượng (theo Từ điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn là lễ phép, khiêm tốn VTN chú) mới là người có giáo dục.

 

Nhưng giữ lễ phép không phải là tự làm đê hạ (thấp hèn - VTN chú) mình đi mới là tôn trọng kẻ khác, không phải là tự nằm rạp xuống đất hay uốn gẫy mình làm đôi, mới rõ là mình kính trọng người ta

 

Cách lễ phép như vậy thời một là giả dối, hai là đê hèn, đều đáng khinh bỉ cả, tưởng người được hưởng sự lễ phép ấy nếu biết cũng nên khinh trước mới là phải.

Xét trong cách lễ phép của người mình phần nhiều như thế cả. Đối với người dưới thời đã tuyệt nhiên không có chút lễ phép gì, thường lấy sự thô bỉ, tàn nhẫn mà đãi kẻ kém mình, đối với người trên thật đê tiện quá chừng.

 

Rụt rè, khúm núm, gãi đầu, gãi tai, bẩm bẩm thưa thưa, vâng vâng dạ dạ, coi lời ăn tiếng nói, dáng đứng cách ngồi, tưởng phàm người biết trọng cái phẩm giá con người không ai tự hạ đến thế. Mà thật những người ấy không biết lòng danh dự là cái gì.

 

Lòng danh dự là biết tự trọng mình, trọng cái nhân cách của mình: người ta là người, mình cũng là người, không lẽ có một người đối với một người mà phải tự coi mình như con giun, con dế, dẫu người kia có oai quyền thế lực đến thế nào nữa mặc lòng. Vả lại muốn biểu cái lòng tôn trọng với người hơn mình, không phải là tự hạ mình mới là kính trọng người, tự hạ mình đi là làm hạ giá cả cái lòng kính trọng của mình, không những thế, tức là khi (khinh bỉ - VTN) người ta nữa, vì tự hồ như cho người ta là hẹp lượng lấy những cách khúm nhúm quy lụy của mình làm chân thành vậy.

Phạm Quỳnh

(Danh dự luận)

 

Trích theo Sách giáo khoa "Giảng văn nghị luận" của Lam Giang, in ở Sài Gòn trước 1975, trang 30, 31


Đâu là cái kiếp sống mà nhiều người chúng ta đang ao ước?

Ngày đăng 13/12/2016

 

1/

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm con gà trống cho đời tự do

Khi vui thì gáy o o

Tha hồ đạp mái không lo trả tiền

Xong rồi về với tổ tiên

Tắm qua một cái là lên bàn thờ.

Bài ca dao này tôi mới được nghe từ miệng mấy ông bạn già ngoài sông Hồng mấy hôm nay, ai cũng vừa đọc vừa tủm tỉm cười, và sẵn sàng đọc đi đọc lại.

Bài còn dài nữa, nhưng tôi thấy chỉ sáu câu như trên là đủ.

Nó là sự phản ứng của con người trước một đời sống mà họ bất lực không tìm thấy lối thoát.

 

Xét ở bình diện lịch sử, chẳng qua nay là lúc nhiều người trong chúng ta ngày càng thấm thía cái cảm giác mà nhiều thế hệ cha ông đã nói trong văn học.

 

Hồi đang say máu cách mạng, ta tưởng ta đã vượt qua được những hệ lụy mà người xưa đã gánh chịu.

 

Ta bảo các cụ là thiếu tự tin là hư vô.

 

Ta tưởng ta có thể vượt lên cả thiên nhiên cả thánh thần.

 

Nay hóa ra đường đời của con người ngày nay cũng chỉ nằm trong quy luật của lịch sử.

 

Nói cho hết lẽ, phải thấy trong khi có những niềm vui lớn lao hơn thì các thế hệ hôm nay cũng có những nỗi đau vượt xa nỗi đau của các thế hệ đi trước.

 

Điều đáng lưu ý thêm, riêng có ở bài này: trong khi nhận ra sự vô nghĩa của cái trước mắt, người ta vẫn không quên tìm tới cái “vinh quang” lâu dài được LÊN BÀN THỜ, được tôn sùng, được đứng cao hơn kẻ khác, mặc dù thừa biết tất cả chỉ là hão huyền vô nghĩa.

2/

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Nghĩ về kiếp sau, người xưa còn có những mơ ước thanh cao giống như các cô kỹ nữ ngày xưa còn có lúc nghĩ tới sự hoàn lương.

 

Nay lối nghĩ đó không phải không có. Nhưng nó đang bị lép vế. Phổ biến hơn là cái ước ao chìm sâu trong sự hưởng lạc.

 

Tôi nhớ tới những bài ca dao thuộc dòng văn học dân gian được nhà trường hiện nay hết sức đề cao, trong đó có nhiều câu đố thuộc loại đố tục giảng thanh.

 

Tôi nhớ tới khá nhiều tác giả cổ điển khác mà hai tên tuổi đầu tiên phải nhắc là Nguyễn Công Trứ và Tú Xương tiếp đó là Chu Mạnh Trinh và có thể cả Tản Đà nữa.

 

Trong đời sống tinh thần của người Việt có hẳn một xu thế hưởng lạc được nâng lên thành triết lý, nói như Nguyễn Công Trứ

“Nhân sinh bất hành lạc

Thiên tuế diệc vi thương”.

 

Khi giảng về về văn học Việt Nam, các thầy giáo từ trung học trở lên đến đại học thường chỉ nhấn mạnh ở đó thấm nhuần tinh thần hiện thực và nhân đạo. Song đó chỉ là một phần sự thực, đằng sau nó cái xu hướng hưởng lạc dung tục kia vẫn thả cửa lan tràn, chính nó mới là cả một sợi chỉ đỏ xuyên suốt đời sống tinh thần người mình. Sự giả dối, tình trạng bề ngoài ra cái điều nghiêm chỉnh mà trong thực tế lại tự thả lỏng ... vốn là một phương diện của con người Đông phương trung cổ, ở ta cũng như ở Tầu.

 

Sau đây là một bài thơ ngắn tương truyền là của Nguyễn Công Trứ

Gia tài một chiếc thuyền con

Một con hầu nhỏ một quan đại thần

Ban ngày quan lớn như thần

Ban đêm quan lớn tần mần như ma

Ban ngày quan lớn như cha

Ban đêm quan lớn la đà như con

 

Những “bài thơ” loại này cho thấy muốn hiểu người Việt phải đi vào các thứ thơ văn hành lạc truyền bá từ nhiều thế hệ, ở đó có một khía cạnh mà chúng ta hay tảng lờ song thực tế là ngấm ngẩm có mặt và len vào tất cả mọi chỗ: sự trắng trợn.

 


Những nguy cơ của cuộc sống tạm bợ

Ngày đăng 17/12/2016

 

Chỗ tôi đang sống hai chục năm nay là một cửa ngõ để ra vào Hà Nội, một thứ “đầu ô” hiện đại nay đã thành phường, song thực chất vẫn là nửa quê nửa tỉnh. Ngoài cư dân vốn có, nơi đây tập hợp khá đông dân các tỉnh về. Đó là các chú nhóc chuyên đánh giày len lỏi khắp nơi; là những bà bán đội thúng bánh mì hoặc những ông "tôi bánh khúc đây" rao ời ời suốt ngày; rồi những gã trai trẻ hoặc mấy bác diện trung niên thong thả đạp chiếc xe đạp cũ, rọ xe chất chồng các loại bẫy chuột, xích chó, thuốc đánh ruồi..., hoặc những cô gái mặt đỏ rừ đẩy chiếc xe nôi cải tiến, trên xe khi lủng lẳng các loại quần áo, khăn mặt, khi khác chói lên màu xanh đỏ của các loại đồ nhựa.

 

“Một số lượng người chưa từng thấy đang đổ xô vào các thành phố của các nước đang phát triển. Họ làm thế nào để có thể sống nổi?”. Đó là câu hỏi thảng thốt cất lên trong bài mở đầu của số báo “Người đưa tin UNESCO ra tháng 6.1999”. Đề cập tới tình cảnh người nông thôn ra đô thị kiếm việc, ở hàng loạt nước Á - Phi - Mỹ la tinh, một tác giả có bài trong số báo tập trung vào khả năng hư hỏng của những con người phải sống trong cảnh bấp bênh, tạm bợ.

 

Do nhu cầu kiếm sống, bài báo viết, lớp người này ở trong một tình trạng “rơi tự do”. Họ không còn là dân nông thôn, chung quanh có gia đình, họ hàng để làm gì cũng phải gìn giữ, phải trông trước trông sau kẻo “mang tiếng”. Họ cũng chưa thành ra dân đô thị, để có được cái mà người ta thường gọi bằng sĩ diện, tức là một chút tự trọng của những cư dân các vùng thuộc loại phát triển trong xã hội.

 

Những thói xấu mà ở nông thôn, giữa môi trường ổn định và quen thuộc, họ dễ dàng kiềm chế, thờ ơ đây được thả lỏng. Ngược lại, những quy chuẩn mà người dân thành thị được giáo dục từ nhỏ tự nguyện noi theo, thì họ không được biết. Vả nếu có biết, họ cũng không bắt buộc phải thực hiện. Vì có ai biết họ là ai mà phải gìn giữ!

 

Quả thật, sự tự do lúc này với con người là cả một thách thức. Có thể với một số người, cuộc kiếm sống đầy gian nan đã rèn giũa cho họ những phẩm chất tốt đẹp.

 

Hàng ngày họ chăm chỉ làm ăn, lam lũ vất vả, chỉ cốt sao có ít tiền gửi về chi viện cho gia đình, hoặc có chút vốn giắt thắt lưng, dùng cho các việc lâu dài.

Song với một số người khác, càng sống trong thành thị, họ càng cảm thấy sự vô lý của kiếp người; chắt bóp lắm chẳng qua cũng chỉ thêm được mấy đồng bạc vụn. Trong khi đó những người chung quanh buôn bán trao tay tiền nghìn bạc vạn.

 

Khi đồng tiền kiếm được đã có vẻ vô nghĩa, thì mọi sự gọi là biết điều, đứng đắn cũng vô nghĩa nốt.

 

Trong mỗi con người dễ dàng nảy sinh một thứ hư vô tự phát, tức cho phép mình làm bất cứ việc gì miễn có tiền, và khi có tiền bằng con đường không lương thiên,lại dễ rơi vào học đòi, buông thả.

 

Viết đến đây tôi chợt nghĩ thật ra, từ bảy chục năm nay, cuộc sống của mọi người dân trên mọi miền đất nước căn bản là tạm bợ, các giá trị chi phối cuộc sống vốn hình thành từ trước 1945 bị đảo lộn nhưng các giá trị mới không hình thành hay nói đúng hơn hình thành mà nhiều khi là những chuẩn mực thấp kém giả tạo phi nhân bản. Nên những nguy cơ tạm gọi là “tiền lưu manh “ hoặc “cận lưu manh” dễ dàng len vào chi phối cuộc sống không trừ một ai, kể cả những người nhìn ngoài tạm gọi là ổn định.

 


Di cư nội địa nhìn từ góc độ văn hóa

Ngày đăng 19/12/2016  

 

1/

“Đúng là một cơ cấu siêu hiện đại nhảy dù xuống một lãnh thổ hoang dại!”

Tôi đã tự nhủ như vậy khi chứng kiến những khách sạn toàn loại năm sao bốn sao mọc lên ven biển Phú Quốc.

 

Không biết chụp ảnh nhưng tôi còn nhớ mãi hình ảnh ở góc đường nọ còn chưa có tên - một loạt biển quảng cáo cho những thương hiệu sang trọng cỡ thế giới lố nhố chen nhau giữa một cụm cỏ dại cao hơn đầu người.

 

Một cuộc nhảy dù khác ít ngoạn mục hơn là cuộc nhảy dù của những người dân của những vùng đất khác nhau tới vùng huyện đảo này.

 

Họ làm các nghề mà có thể tạm gọi là tạp vụ linh tinh phục vụ cho cả dân bản địa lẫn đám quý tộc hiện đại.

 

Miền Tây thì cố nhiên là nhiều nhất rồi. Nhưng có cả những người mãi tận các tỉnh phía Bắc.

 

Nay lại là thời người ta đua nhau đi tìm đặc sản và các cửa hàng ăn hoặc chuyên bán các đồ thủ công nào đó thì không bao giờ quên ghi rõ gốc gác nơi xuất xứ.

 

Nhớ đầu 2015, cùng anh bạn Nguyễn Văn Thành về thăm Nguyễn Dương Côn.

 

Hồi 1964, lên làm lính Tây Bắc tôi đã nghe câu ví “Thái Bình là đất ăn chơi – tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành.”

 

Nhưng đó là “tán”.

 

Giờ tôi mới biết trước đó Thái Bình đã là đất “tụ”

 

Trai bỏ vợ gái bỏ chồng, rồi buôn bán bán thua lỗ, rồi tù oan án nặng - đám người mà xã hội học ngày nay gọi là thiểu số - đua nhau về vùng đất mới này để góp phần làm nên “công nghiệp” - theo nghĩa cũ - của tác giả “Bài ca ngất ngưởng” là ông Doanh điền xứ Nguyễn Công Trứ.

 

Phú Quốc giờ đây ít nhiều cũng có cái chất của Thái Bình gần hai trăm năm trước.

 

2/

Hồi còn mồ ma nhà văn hóa học thứ thiệt Trần Quốc Vượng, đọc ông tôi cứ thắc mắc sao ông sớm đi vào các vùng khác nhau khi nghiên cứu văn hóa Việt.

 

Nay đọc thêm các sách sử hiện đại mới được dịch – mà số một là những trích đoạn từ cuốn “Lịch sử người Việt” của K.Taylor - tôi mới hiểu cụ Vượng quá có lý.

 

Người dân Việt mỗi vùng quê di cư đi đâu cũng mang theo nếp văn hóa vùng mình.

 

Họ sẽ sống với nhau ra sao ở những vùng mới di chuyển tới?

 

Tôi đoán chắc chẳng ai ở ta nghĩ nhiều về việc này.

 

Nhưng chính các tổ chức quốc tế đã nghĩ hộ.

 

Mấy năm nay, báo chí đã được phép cho dân biết nước ngoài nói về xứ mình như thế nào.

 

Bà Phạm Chi Lan mang về cái câu từ miệng một chuyên gia ngoại quốc hàng đầu “Có vẻ như người Việt đất Việt không chịu phát triển” , nghe đã tuyệt rồi.

 

Đến như cái câu thứ hai “Các anh lấy gì mà trả nợ?” thì thật đã tóm tắt đầy đủ cái tình thế xã hội Việt hiện tại.

 

Theo cái mạch đó, là chuyện dân di cư nội địa.

 

Bản thân khái niệm này cũng mới du nhập.

 

Tôi biết tới nó nhờ một mẩu tin mới nhất tôi đoán ít người chú ý.

 

"Được sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), sáng ngày 13 tháng 12 năm 2016, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tổ chức Lễ khai mạc triển lãm ảnh di cư có chủ đề “Nơi tôi gọi là nhà”.

 

Phát biểu tại buổi Lễ, quan chức hàng đầu của Tổng cụcnày nói “Ngày nay, di cư đã trở thành vấn đề toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, dòng người lao động di cư đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là dòng người lao động di cư từ nông thôn đến thành thị, khu công nghiệp, khu chế xuất. Di cư lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi trường chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các chính sách xã hội đối với người lao động di cư.”

 

Trong các yếu tố chi phối hiện tượng người di cư nội địa mà người phụ trách vấn đề Việt Nam nói ở đây chỉ thiếu mỗi vấn đề thiên hạ người ta coi là hàng đầu còn riêng ở xứ ta chỉ được xếp áp chót: vấn đề văn hóa.

 

3/

Tôi muốn nhân đây nhìn rộng ra một chút.

Ở trên, ta mới xét tác động của môi trường mới với người di cư.

Giờ hãy thử xét thêm những tác động ngược.

 

Những ý nghĩ sau đây liên quan tới không phải Phú Quốc mà là Tây Nguyên.

 

Chuyến lên Đắc Lắc của tôi tháng bảy 2016 thật là chuyến đi buồn bã với nghĩa chẳng thấy vị Tây Nguyên đâu cả.

 

Buôn Mê Thuột là một đô thị giống như nhiều thị xã mới xây dựng và được đôn lên là thành phố, địa điểm duy nhất có chất cao nguyên đất đỏ là Bảo tàng Tây Nguyên được xây dựng dựa trên các thành quả nghiên cứu của người Pháp.

 

Quay về xem các bản tin phát trên truyền hình chợt thấy thiêu thiếu cái gì, sau nhận ra là sự thiếu vắng không thể tha thứ hình ảnh những đồng bào của anh hùng Núp .

 

Nghe giọng nói và nghe tên tuổi mấy ông xã trưởng huyện trưởng hoặc các ông kiểm lâm các ông tài nguyên môi trường ... thấy không miền trung thì miền bắc.

Những người này hẳn đã và sẽ áp đặt cho Tây Nguyên nơi cư trú mới của họ một nền văn hóa đồng bằng .

 

Điều gì đã xảy ra và sẽ xảy ra?

 

Muốn dự đoán được, chúng ta phải đi vào thực tế Tây Nguyên mà chẳng hạn những hiểu biết của nhà văn kiêm nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc vừa cung cấp rất có ích.

 

Nhưng còn một yếu tố nữa chúng ta phải tìm tới: những công trình nghiên cứu của thế giới về vấn đề này. Tóm lại là hiểu biết về tác động của phương thức sinh hoạt con người vừa di cư, bao gồm cả hành động và tư tưởng của họ -- tóm lại tức là tác động của văn hóa mà ở trên đã nói -- với môi trường mà họ mới tới sinh sống.

 

Thu hoạch bước đầu của tôi:Khi xét và đối chiếu những biến động ở những khoảng thời gian lớn, có một ý tưởng trước hết cần nhớ, đó là hiệu ứng thời gian.

 

Xưa khoảng thời gian này kéo dài dăm bảy chục năm hoặc hàng trăm năm, nay thì rút ngắn hơn rất nhiều.

 


Ngại đi xa, thích yên phận, sợ cái mới

Ngày đăng 23/12/2016

 

Các tài liệu nghiên cứu về Phan Châu Trinh thường dẫn ra đoạn một bài báo nhỏ in trên báo Tiếng dân 24-3-1936, mang tên Cụ Phan Tây Hồ với việc Tây học.

 

Tác giả bài viết Huỳnh Thúc Kháng kể năm 1906, cụ Phan qua Nhật có gặp nhiều yếu nhân Nhật.

 

Thoạt gặp, nhà chính khách Khuyển Dưỡng Nghị đã hỏi:

- Các ông có biết tiếng Pháp ?

- Thưa chưa

- Sao lại không học. Phải học để biết điều hay của họ chứ.

 

Tiếp đó Phan Châu Trinh gặp Đại Ôi.

 

Ông thủ tướng đương thời của Nhật nhận xét ngay “Việt Nam thuộc quyền bảo hộ của nước Pháp mấy mươi năm mà nay tôi mới gặp người Việt Nam đầu tiên tới nước tôi, đủ thấy các ông ít đi ra ngoài. Đã không ra ngoài, mà không học tiếng, ở cạnh nhau cách xa ngàn dặm nhưng thấy ngay là các ông mắc bệnh ngột” (ngột = ngạt thở).

 

“Lìa nhà mười dặm đã bùi ngùi những mưa gió hoa vàng . Ở lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu bạc”- “Văn minh tân học sách” cũng từng nói rất hay về cái tâm lý ngại đi xa của dân mình.

 

Có thể dự đoán cách sống bảo thủ và ngại thay đổi này đã sớm đến với chúng ta ngay từ buổi đầu mới hình thành dân tộc.

 

Theo sách “Phương Đông thời cổ đại” (trong tủ sách Que saisje – Tôi biết gì nổi tiếng của giới Đại học Pháp), nếu sự ra đời của đô thị là cuộc cách mạng thứ hai trong lịch sử cư trú loài người thì cuộc cách mạng thứ nhất bắt đầu từ thời điểm ra đời của nông nghiệp và kèm theo đó là sự ra đời của làng xã.

 

Cho đến trước thời hiện đại, người Việt vẫn chỉ dừng lại ở cuộc cách mạng thứ nhất, tức là một cách sinh sống tự nhiên gặp sao hay vậy.

 

Kinh tế xã thôn phụ thuộc thiên nhiên lại ở trình độ thấp, nhiều khu làm không đủ ăn.

 

Đời sống mong manh và đầy bất trắc.

 

Nhưng cái đáng sợ hơn người ta không tin là có thể và cần thay đổi.

 

Nói như kỹ sư Nghiêm Xuân Yêm trên một số báo Thanh Nghị trước 1945 “Họ nhận thấy ruộng thiếu phân bón nhưng họ chẳng biết làm thế nào cho có nhiều phân.

Vì hình như họ cho sự thiếu thốn ấy là dĩ nhiên”.

 

Nói chung là có nhiều việc họ hiểu nếu làm thì rất có lợi nhưng lại chẳng bao giờ bắt tay cùng làm.

 

Rồi họ buông trôi lảng tránh “Thà rằng chẳng nghĩ đến làm còn hơn (!)”

 

Trong khi chỉ biết quan tâm tới sự tồn tại trước mắt, tự nhiên là tâm lý bày đàn hình thành và cái nguyên tắc trông nhau mà sống,

 

"Chết một đống hơn sống một người" cái triết lý ấy càng níu kéo người ta lại

 

Một trong những câu ca dao mà nhiều bậc cha mẹ vẫn nhắc nhủ con cái

Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

 

Bảo thủ ở đây được đề lên thành nguyên tắc tối cao. Cả trong làm ăn sinh sống lẫn trong tổ chức xã hội .

 

Cái lối tư duy chỉ cốt số lượng mà bất chấp chất lượng đang làm khổ con người hôm nay, thật ra có nguồn gốc sâu xa như vậy.

 

Báo Tiền Phong chủ nhật 24/8/2003 có bài phỏng vấn nhà đạo diễn múa Ea Sola.

 

Bà chia sẻ cảm giác mệt mỏi “Tôi đã đi khắp nơi, đã sống rất lâu ở nước ngoài. Anh không thể tưởng tượng được đâu, con người nhạt lắm, nhạt khủng khiếp. Nhạt!”.

Sau khi “phán” một câu chung chung rằng “Chúng ta cần lo cho cuộc sống hôm nay tốt đẹp hơn”, được tác giả bài báo hỏi lại “Là lo cái gì?”, Ea Sola bừng tỉnh, hạ một câu gan ruột:

- Người Việt hình như không thích cái mới.

 

Nhiều nhân vật của Thạch Lam trong tập truyện "Gió đầu mùa" viết từ 1937 lại còn không cảm thấy mình có quyền thích hay không thích như vậy.

 

Họ chỉ đơn giản là thấy mình bị ràng buộc trong cái cũ như con ruồi sa vào tấm lưới nhện mà không sao phá vỡ nổi.

 

Nhân vật Liên trong truyện ngắn “Một đời người” rất yêu người bạn trai nhưng không dám bỏ gia đình theo bạn.

 

Như tác giả viết:

“Liên nhiều khi sung sướng tưởng tượng đến cái đời dễ chịu của nàng nếu lấy Tâm. Nhưng Liên vẫn từ chối. Chính nàng vẫn không hiểu tại sao mà từ chối. Hình như có những cái lẽ tối tăm làm cho nàng sợ hãi, không dám nhận lời”.

 

(Bài đã in TT&VH 31/7/2007 và đưa lại trên blog Vương Trí Nhàn, đường link http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/04/ngai-i-xa-yen-phan-so-cai-moi.html)

 

VIẾT THÊM 24/12/2016:

Trên đây tôi mới lấy thí dụ từ trong lịch sử để làm chứng cho luận đề đã nêu trên đầu bài.

Với những biến động xã hội “long trời chuyển đất” vừa qua, có vẻ như những đức tính đó đã được gột sạch trong tâm lý người Việt từ sau 1945.

Nhưng đó chỉ là bề ngoài.

Tôi vẫn có cảm tưởng người Việt hiện nay rất sợ cái mới và thường học đòi hơn là tự mình đổi khác theo hướng tiến hóa. Sự đi xa quan trọng nhất là sự phiêu lưu về tư tưởng. Còn nếu chỉ đi xa theo lối đi bừa cho biết thì rồi người ta rất dễ quay lại bám vào cái cũ. Nhưng chứng minh và lý giải tất cả những cái phức tạp đó ra sao, thì tôi chưa làm được.

Nhưng tôi vẫn viết ra đây mong được các bạn khác góp sức chứng minh.

Mà bạn cũng có thể nêu những ý kiến phản bác để "hải nội chư quân tử" cùng bàn bạc... Tại sao không nhỉ?


Qua khen thưởng biết trình độ quản lý xã hội

Ngày đăng 25/12/2016 

 

1/ Những chuyện dở trong khen thưởng tôi nghe được trước tiên từ giới thể thao. Đáng lẽ trước khi thi đấu phải lo đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá đúng thực chất của mình, thì với nhiều người phụ trách ngành này, điều quan trọng nhất lại là chạy giải thưởng để tạo ra một cú đột phá. Họ ngầm bảo: cứ treo giải thật cao, rồi việc gì cũng làm được. Trong một cách nghĩ như vậy, thấy có sự nông nổi, dễ dãi. Nhất là thấy có sự cầu may, thiếu tự tin, tự đặt cho mình những yêu cầu quá cao để rồi làm khổ mình, sau hết sinh ra cay cú lừa mình dối người. Riêng với những vận động viên thể thao thì đã nảy sinh tâm lý vòi vĩnh, mặc cả.

 

2/ Chẳng những thể thao lo thưởng mà ở đâu cũng thấy có chuyện giải thưởng. Đố vui. Mua hàng. Chọn bài hát. Đoán người trúng giải… Cứ muốn thu hút người ta vào một việc gì đó cho thật đông vui là thấy bày ra giải thưởng. Và tôi cảm tưởng lúc nào một bộ phận xã hội cũng như trong cuộc đỏ đen cờ bạc. Lúc nào cũng chen chúc ồn ào, cũng í ới giục giã nhau đi thi cho mau, may ra được thưởng, không thi ngay chỉ có thiệt. Lại còn nhiều đợt học tập tìm hiểu về vấn đề gì đó mà các địa phương và các đoàn thể vẫn làm nữa chứ! Làm ăn nghiêm túc thì dễ khô khan; phải thêm một tí giải thưởng vào như một chất xúc tác để cho hoạt động này thêm hấp dẫn - ban đầu người ta chỉ nghĩ đơn giản vậy. Nhưng rồi cứ đà ấy mà kéo, rút cục trước mắt chúng ta việc nghiêm túc biến thành một trò câu khách. Người ta thi, người ta làm việc, người ta bỏ ra bao nhiêu thời giờ, thậm chí người ta mưu mẹo kiếm chác nữa, tất cả chỉ vì giải thưởng.

 

3/ Hàng ngày xem ti vi luôn thấy có chuyện các đơn vị, các ngành mừng công kỷ niệm. Rồi nhân dịp sáu tháng đầu năm, nhân dịp cuối năm, các cơ quan bước vào tổng kết. Không rõ trong thực tế, những buổi tổng này có rút ra được kết luận nào sâu sắc không, nhưng xem cách đưa tin trên mặt báo và các phương tiện truyền thanh truyền hình, thì thấy nhiều khi nó được làm theo lối chiếu lệ. Ở đó người ta nói với nhau quá nhiều những lời sáo rỗng. Và ở đó, đang hình thành một lối đánh giá nhau xem xét nhau hòa cả làng, giản đơn, dễ dãi. Ý tôi muốn nói tới cái lối lôi nhau ra thưởng một cách… vô tội vạ. Thưởng tràn lan. Thưởng theo niên hạn. Cứ ai không có khuyết điểm gì lớn, là được thưởng. Thưởng như thế là một cách xúc phạm đối với những người làm việc tốt, họ nghĩ rằng có ai biết cho công lao đóng góp của mình đâu, cá mè một lứa cả, thế thì từ nay về sau, không tội gì phải cố cho thêm nhọc xác! Thưởng nhau đại trà như thế chỉ là làm hỏng nhau thêm, cái hại này ai cũng thấy vậy mà cũng cứ nhắm mắt để mở rộng phong trào phát thưởng và lĩnh thưởng.

4/ Một nhà nghiên cứu lịch sử trung đại kể với tôi rằng các vua triều Nguyễn có lối ban thưởng rất tế nhị. Thưởng cho một viên quan, chỉ báo cho ông ta biết rồi bảo cứ về, sẽ cho lính mang tới nhà. Tại sao? Vì trước triều đình như thế là đã bố cáo cho mọi người thấy là ông ta có công lao rồi. Còn không làm công khai, vì biết thông thường ở những xã hội còn kém phát triển như xã hội ta, con người khi nhận phần thưởng thường bộc lộ những mặt không mấy dễ thương, ví dụ như quá hý hửng đến mức gần như là hèn hạ. Vua hiểu triều thần, không muốn cái phần xấu xí trong người bầy tôi tài năng của mình có dịp bộc lộ, nên tránh cho ông ta trước. Bồi dưỡng nhân tài lâu dài mới là một mục đích sâu xa của ban thưởng.

 

5/ Khen thưởng không chỉ quan hệ với số đông. Mà trước tiên nó cho thấy năng lực và tầm vóc thực sự của những người chủ trì hoạt động một ngành nào đó và mở rộng ra cho tới cả xã hội . Những người này định ra những chuẩn mực như thế nào, hiểu biết về khu vực mình quản lý đến đâu? Có hiểu lao động của người dưới quyền và muốn trình độ họ ngày một nâng cao? Tức ở đây là chuyện tổ chức và định hướng công việc. Và đằng sau đó là quan niệm của nhà lãnh đạo về con người, cùng những cách tác động để kích thích con người. Gọi nó là một thứ văn hóa khen thưởng mới đúng, thứ văn hóa rất cần thiết cho những người có quyền.

Rút gọn từ bài “Khen thưởng cũng phải trở thành văn hóa”

- blog VTN ngày 17/1/2010 


Chẳng ai được là chính mình

Ngày đăng 25/12/2016

 

Trong một lần gặp gỡ đầu 2016, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu có kể với tôi là ở nhiều xí nghiệp do người nước ngoài làm chủ hiện nay, có nhiều thợ mới.

 

Họ là những người nông dân bỏ làng ra tỉnh để làm ăn. Nhưng cách sống cách suy nghĩ của họ thì hoàn toàn là của những người nông dân đi làm thuê lang bạt.

 

Họ không được đào tạo đầy đủ.

 

Họ không có đồng lương hợp lý. Họ xa gia đình và sống trong một hoàn cảnh tạm bợ.

 

Họ luôn nghĩ rằng mình chỉ làm cho qua một thời gian, kiếm ít vốn để sinh sống và sau này sẵn sàng quay trở về làng quê nơi đã xuất phát.

 

Nguyễn Thị Hậu và các đồng nghiệp của chị -- dân xã hội học - cho rằng đó không phải là những người công nhân theo đúng nghĩa của nó.

 

Phần tôi trong những năm 1960 tôi thường hay gặp gỡ với nhà văn Võ Huy Tâm, tác giả cuốn tiểu thuyết “Vùng mỏ” mà tất cả các học sinh Việt Nam đều phải biết dù không mấy người yêu thích.

 

Anh Tâm đúng là một công nhân thật.

 

Anh kể với tôi, chỉ có công nhân thời nay thì mới ăn cắp, còn người công nhân thời Pháp thuộc không bao giờ ăn cắp vì nếu ăn cắp họ lập tức bị sa thải liền.

 

Vậy có thể nói là cái mà chúng ta hay xác định về nhau rằng là người thành phần nọ thành phần kia, hóa ra toàn chuyện áng chừng. Con người bây giờ như một câu thơ của Hồ Xuân Hương tả các nhà sư, “chẳng phải tàu chẳng phải ta” tạp nham hỗn hào thật khó xác định.

 

Khoảng năm chục năm trước, tôi có lần ngồi với nhà thơ Hoàng Hưng. Vốn cùng là dân học sinh Hà Nội, chúng tôi thử rút kinh nghiệm về quãng đời mài đũng quần trên ghế nhà trường và thử tính xem xã hội muốn mình thế nào, từ đó gọi xã hội hôm nay là gì.

 

Chắc là nghiền ngẫm đã lâu, anh Hưng bảo tôi, hãy tạm gọi nó là xã hội thích không được.

 

Mình đã hỏi nhiều người - anh Hưng nói tiếp - tất cả những thằng học khá chúng mình đều có cảm tưởng là cả lớp không thích , nếu không muốn nói là ghen ghét đố kỵ. Vì đây là một xã hội cá mè một lứa, mình mà nổi lên là gây phiền cho nhiều người. Nhưng các anh học kém cũng không được yên. Phát hiện ra cậu nào thuộc dạng học sinh cá biệt thày chủ nhiệm cũng chỉ thị cho bọn học giỏi phải kèm anh ta bằng được, không để một ai dưới trung bình. Anh không có quyền kém cũng như những anh khác không có quyền giỏi. Thế chẳng phải thích không được là gì.


Những cuộc “trở thành mình” rất ngoạn mục

Ngày đăng 28/12/2016

 

Mới học cấp II (phổ thông cơ sở), bọn học sinh Chu Văn An những năm 1960 trở về trước chúng tôi đã được huy động đi dạy Bình dân học vụ. Nhà ở Thụy Khuê nên tôi được giao dạy ở khu vực làng Hồ (Yên Thái), chuyên làm giấy. Tuần hai buổi, thứ hai thứ năm, tôi theo xe điện lên Bưởi rồi cuốc bộ vào mãi cuối xóm, dưới ánh đèn dầu dạy cho một bác thợ seo.

 

Trí thức hóa công nông – đã từng có một khẩu hiệu như thế. Nói nôm na là thời ấy, như tôi nói trong bài viết ngày 25/12/2017, người ta không được dốt.

 

 Ngày nay tôi vẫn bị cách nghĩ đó ám ảnh, và thấy nó có vẻ đúng nhưng lại thấy rõ là nó đã lạc hậu. Nhìn những anh em làm lao động chân tay, chẳng hạn mấy bạn trẻ công tác bảo vệ ở chung cư mình đang sống - các anh em này khi rỗi rãi chỉ chơi game - tôi đã mấy lần định bảo họ sao không theo học một chương trình nào đó, nhưng lại thôi ngay. Đấy cũng là lúc tôi buồn rầu nhận ra cái điều đơn giản rằng nay đã sang một thời khác. “Thời nay tử tế mới khó chứ lười biếng dốt nát tha hồ không ai chê trách, tương tự như cờ bạc rượu chè nhậu nhẹt đang được khuyến khích!” - ai đó đã nói với tôi như thế và tôi không cãi lại được.

 

Điều này đúng với cả các em đang cắp sách đến trường. Quyền được dốt của học trò ngày nay được thực thi nghiêm túc hơn nhiều so với các thế hệ trước. Em có kém cỏi đến mấy, các thầy các cô cũng chẳng quan ngại. Thang điểm ngày càng hạ, vả chăng đã có các lớp học thêm, và đường dây chạy bằng cấp ... - cả một cơ chế hình thành bảo đảm cho những bạn trẻ - trong đó đặc biệt nổi lên một số lười học nhưng lại khôn ngoan giỏi giang trong việc xoay sở kiếm chác - yên chí vào đời lập nghiệp. Họ được khuyến khích và dần dần đóng vai trò rường cột xã hội. Nhớ lại thời đi học chắc có lúc họ nghĩ giá kể mình gắng sức học giỏi theo nghĩa trường ốc thì chắc chẳng được như thế này.

 

Thế còn những học sinh học giỏi thời nay thì sao? Câu chuyện năm chục năm trước tôi với anh Hoàng Hưng bàn nhau nay đã trở thành lạc hậu. Xã hội đang khuyến khích những người trí thức giỏi giang theo cái nghĩa riêng mà chỉ thời nay mới có:

 

1/ Trở thành gà chọi để mang khoe, biến thành cây cảnh để chứng tỏ tiềm năng trí tuệ của địa phương cũng như cả cộng đồng.

2/ Được trao vài vai quan trọng trong bộ máy quan liêu, việc này khiến nhiều nhà chuyên môn giỏi ngày nay chỉ còn cái mã và nếu trong quá trình quan liêu hóa này họ có tha hóa biến chất thì cũng không ai tước bỏ cái vai chuyên môn hôm qua của họ. Họ đã trở thành một thứ bản thể mới, xa lạ với những lý tưởng trong sáng mà họ noi theo khi mới bước vào đời. Nhưng nhìn lại từ lúc còn hàn vi thì phải nói cái quyền được giỏi của họ vẫn được bảo đảm đấy chứ?

 

Có phải lớp trí thức chân chính đang dần dần tuyệt chủng? Suy trước tính sau, tôi vẫn chỉ thấy có một câu trả lời là gần như thế. Không phải ai thời nay cũng đi theo con đường tha hóa, nhưng theo thiển ý của tôi sức đề kháng ở mỗi người ngày càng yếu ớt. Thỉnh thoảng trên các trang mạng tôi cũng đọc được vài tin về các trí thức trẻ Trung Quốc. Nhiều người trong họ khi du học Anh Mỹ trở về lúc đầu trong lòng cũng còn đầy lý tưởng, nhưng rồi, trên đường tiến thân và lo hạnh phúc gia đình, họ cũng nhanh chóng gia nhập vào bộ máy chuyên chế và tham nhũng. Trở thành chính mình lúc này đồng nghĩa với đầu hàng.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét