BÀI ĐĂNG TRÊN FACEBOOK
NĂM 2015
Mục lục
3. Những nỗi sợ thông thường 13
4. Có phải là một lời khuyên vô trách nhiệm? 15
6. Qua việc dùng hàng hiệu thử bắt mạch đời sống tinh thần của người Việt hiện nay 18
9. Già cả là chấp nhận tất cả 26
10. Hoa Hà Nội 28
11. Những hành động vô nghĩa 30
12. Đám đông & cách sống hung hãn 33
13. Gọi ra bệnh thì đã quá muộn 35
14. Nhà văn & tình trạng đơn độc 37
16. "Dân tộc Việt là cả một khối tự phát khổng lồ!" 40
17. Văn học Việt Nam tìm kiếm bạn đọc trong nước không xong, lại tính chuyện chinh phục thế giới 48
19. Lễ hội thế nào thì xã hội thế ấy! 54
20. Chưa chắc đã là niềm tin thực sự! 58
21. Tinh thần Diên Hồng nên được hiểu ra sao? 61
22. Chung quy là ở trình độ sống của người Việt còn thấp 63
23. Những nỗi đau của thời nay 69
25. Mấy cây si và đôi voi đá 74
26. Hai cuốn sách viết về các vấn đề trừu tượng mà lại dành cho bạn đọc nhỏ tuổi 77
27. Tại sao tôi lại đề nghị các bậc phụ huynh hướng dẫn con em mình đọc cả những sách triết học? 80
29. Bệnh của chữ & bệnh của người 88
30. Thử tìm hiểu cách kiếm sống của người Việt 91
31. Thử tìm cách đánh giá lớp trẻ hiện thời 94
32. Hãy nghĩ tới ngày giã từ sư phụ xuống núi 97
33. Nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn của Vương Trí Nhàn 103
36. Giao thông Việt Nam – Tiếp cận từ văn hóa 118
37. Không nên dung túng cho tâm lý ăn xin 122
38. Điên dại 125
40. Những tù nhân của lợi ích trước mắt 132
41. Những dấu hiệu của một tư duy trung cổ 136
42. Một nếp tư duy thô thiển cứng nhắc 140
44. Thói háo danh tạo nên hàng giả 147
45. Cái giả làm lộ bản chất xấu xa của cái thật 149
46. Sống trong ghen ghét đố kỵ 153
47. Hội chứng "Ít chịu học hỏi","Tự mình mê mình ở người Việt” 156
49. Giữa vòng vây của một thị trường quảng cáo tàn bạo 162
50. Rất nên quan tâm tới... hiện tượng lưu manh, tâm lý lưu manh cách sống lưu manh 164
51. Sự lan tràn của nghịch lý 168
52. Người Việt ra làm ăn ở nước ngoài 170
54. Câu chuyện của người tự học 174
55. Đà Nẵng & một cảm giác bình an 177
56. Đặt Huế trong khung cảnh đất nước thời hậu chiến 178
57. Một bài học cho nghề văn 184
58. Chuyện lan man từ những chiếc xe gắn máy 187
60. Khen thưởng cũng là một biểu hiện của văn hóa 194
62. Tình trạng nghề nghiệp của con người đương thời 200
64. Một quan niệm đơn sơ về thế giới 207
65. Từ chối học hỏi - Chế giễu bài bác trí tuệ 210
66. Nghèo đói biếng lười bế tắc hư hỏng 214
67. Những người Nga kỳ cục 219
68. Đến với cuộc sống dưới đáy 225
69. Một xã hội nhiều người ốm dở 229
70. Một trường hợp kỳ lạ của đạo văn 231
71. – Cả hai bài thơ đều hay 231
73. Hay là sự khốn cùng của nạn đạo văn hiện nay 234
74. Đâu là sự đạo văn tởm lợm nhất? 236
75. Tốt đấy mà cũng xấu ngay đấy 238
77. Con người và xã hội Việt Nam qua truyện Tấm Cám 244
78. Một khía cạnh mâu thuẫn trong tính cách người Việt: Nhẫn nhục và làm liều 255
80. Không đói cũng ăn vụng - Không túng cũng làm càn 262
81. Bế tắc nên sinh trụy lạc 266
82. Chấp nhận tạm bỏ môn sử ở nhà trường miễn là sau đó phải tìm tới một cách viết sử khác 270
83. Cần một thứ sử học khác 273
84. Một cuốn sách tiên tri viết năm 1952 276
85. Ai cũng như ai, chen cạnh mà sống 279
88. Độc đáo với bất cứ giá nào 294
90. Cạn nghĩ ngắn hơi dễ thỏa mãn 299
Ngày đăng 1/1/2015
Những ngày trời đất giao mùa thời tiết bất thường mà lại buồn bã, không làm được gì, tôi thường tìm chỗ bấu víu ở những cái mà lâu nay mình đã đọc. Nhưng cái phần gia tài tôi tích cóp bấy lâu dù mỏng mảnh mà vẫn lộn xộn ngổn ngang, thứ giàu khả năng bao quát đời sống như SỬ thì tiếp cận khá muộn, thứ có nhiều hơn và thuộc nhiều hơn là văn chương thì không hiểu sao nay thấy phần lớn là phù phiếm. May quá, có những bài thơ, ví như bài dưới đây, tác giả là nhà thơ Pháp Josephine Soulary (1815 - 1891), tôi đã chép được từ sổ tay Xuân Quỳnh khoảng 1968 - 1970, mà Xuân Quỳnh chép được từ một bạn văn khác, chính thức thực tôi cũng không biết ai là dịch giả. Tôi cho là loại thơ như thế này có thể đọc lại mỗi khi người ta muốn nhẩn nha men theo chiều dài cả cuộc đời mình.
HAI ĐÁM RƯỚC
Hai đám rước gặp nhau ở nhà thờ
Một đám thì buồn – nó mang theo quan tài một đứa bé
Một người đàn bà đi theo quan tài, bà gần như điên, cố nén một tiếng nấc trong cái ngực đang bốc cháy, nó như bẻ gẫy bà ta.
Đám rước kia là một lễ rửa tội
Một đứa bé mới sinh miệng ọ ẹ, đang ngọe nguậy trên cánh tay người đàn bà nâng niu nó
Mẹ nó đặt vào miệng nó cái vú với dòng sữa dịu ngọt
Mẹ nó ôm nó choàng lấy tất cả nó trong một cái nhìn kiêu hãnh của conngười vừa tạo được một kỳ công
Người ta ta làm lễ rửa tội, và nhà thờ dần vắng người
Hai người đàn bà lúc ấy gặp nhau dưới chỗ niệm kinh
Họ trao cho nhau cái nhìn kín đáo, và cả hai đều giống nhau ở chỗ vừa nhìn
đã quay đi hướng khác.
Và (có lẽ là) bởi sự biến cải kỳ diệu mà lời cầu nguyện đã tạo nên
Người mẹ trẻ khóc lúc nhìn quan tài
Còn người mẹ (có con chết) lúc trước vừa khóc, thì lại cười lúc nhìn đứa bé mới đẻ.
Lịch sử lên tiếng qua những kẻ điên
Ngày đăng 3/1/2015
Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở Việt Nam mình sao hiệu thuốc lắm thế.
Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội.
Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.
Tra các từ điển Hán Việt thấy chữ điên thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh (khi viết bằng chữ vuông, thì chữ điên có bộ nạch chỉ bệnh tật)
Bệnh điên thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.
Giá có ai để công tìm hiểu thêm tình trạng điên dại của nhân loại thời nay và trước tiên những lời bàn về chuyện điên? Chắc là nhiều ý tưởng hay ho lắm! Một câu ngạn ngữ Hy Lạp vừa được một bạn nào đó dẫn ra trên mạng “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.
Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại cao cấp có liên quan nhiều tới giới trí thức, những người có đời sống tinh thần khá phức tạp.
Trong bài viết Vừa khóc vừa cườiNguyễn Mạnh Tường in trong Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4/2011 có đoạn:
“Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.”
Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà Nguyễn Mạnh Tường nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng. Số lớn chuyển sang dạng bệnh mãn tính, không chết người nhưng làm hỏng người dần dần.
Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước: Sau khi Liên xô sụp đổ, có một tiến sĩ (ở ta gọi là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhảy lầu tự tử. Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.
Về quan hệ giữa những người điên với thời đại, một nhà văn Senegan là Semben Ousman đã có lần trả lời phỏng vấn về châu Phi hậu thực dân trên một số tạp chí Người Đưa Tin Unesco:
“Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.
Cách duy nhất để sung sướng là người ta phải điên lên một chút.”
Có những tình thế quá bi đát mà người tỉnh táo biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại. Bấy giờ người điên - hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người - mới đóng vai trò của mình.
Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:
- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những kẻ điên.
Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác nói lại hay tự ông nghĩ ra.
Thiên hạ sống khác hẳn mình
Ngày đăng 7/1/2015
Nhà thơ Vương Trọng từng có bài ký Lạ lắm Phần Lan kể rằng ở bên ấy dân họ rất sợ tiếng ồn. Con đang chơi ngoài vườn mà mẹ có gọi vào thì cũng ra tận nơi gọi chứ không đứng ở cửa mà réo.
Việc quản lý chất thải chặt chẽ phát sợ. Đến các viên thuốc thừa người ta cũng yêu cầu phải giao nộp theo cách nào đó, chứ không quẳng vào thùng rác vô tội vạ.
(Báo Tuổi Trẻ Cười số ra 1/8thì dẫn lại câu chuyện có liên quan tới một người đẹp đương thời là Lều Phương Anh. Cô này khi sang Nhật thích bắt trộm chim bồ câu để ăn, chỉ có một nỗi lo là làm sao tẩu tán xương. Thật là một chi tiết rất Việt Nam!)
Một người khác kể chuyện về lò sát sinh. Ở nhiều nước Tây Âu, trước khi bị làm thịt, bò được dẫn theo một con đường hoàn toàn giống như những con đường nó vẫn đi hàng ngày và chắc chắn là nó không hề có những phản ứng tự nhiên của một con vật cảm thấy mình sắp bị giết. Người ta bảo phải làm thế vì họ biết rằng nếu chứng kiến những đồng loại bị giết hại một cách tàn nhẫn, trong cơ thể bò sẽ tiết ra một thứ chất dịch nào đó, có hại cho những người ăn thịt - chất cuồng bạo trong họ sẽ bị kích thích.
Trên Sài Gòn Tiếp Thị một số ra tháng 6/2011, anh Đoàn Khắc Xuyên kể là ở bên Butan, trên đường xe cộ đi lại không có cảnh sát, người ta quan niệm rồi người lái xe biết cách thỏa thuận với nhau, chứ không cần đèn xanh đèn đỏ gì hết.
Còn bên Thái Lan một hai năm trước, khi phe áo đỏ mới biểu tình, cảnh sát ra giữ trật tự. Hết buổi ra về, cảnh sát và dân lại trò chuyện với nhau một cách thân mật.
Bản thân người Việt Nam vẫn thường tự hào rằng chúng ta là dân tộc thông minh, cần cù, sáng tạo và ham học hỏi?
Ngày đăng 10/1/2015
Giao lưu văn hoá là xu thế chung của thế giới. Một nền văn hoá lớn như văn hoá Trung Hoa luôn luôn tự hào là có thái độ chủ động tiếp xúc với bên ngoài, lấy văn hoá ngoại lai làm giàu cho văn hoá mình, và rất nghiêm túc trong học hỏi. Từ đời Đường, đạo Phật của Ấn Độ đã được tiếp thu trên quy mô lớn. Triều đình cử hẳn Đường Tam Tạng qua Ấn Độ lấy kinh và về cho dịch thật kỹ càng thật đầy đủ. Đến Trung Hoa, đạo Phật ngoại lai có thêm một bước phát triển mới. Người ta nói rằng nhờ học theo lối kể chuyện trong kinh Phật mà nghệ thuật tự sự nẩy nở dẫn đến sự ra đời của các tiểu thuyết lớn. Từ đời Đường những điệu múa có nguồn gốc Trung Á… đã xâm nhập vào tận cung đình.
Nhật Bản cũng coi việc tiếp thu nước ngoài như một cái nguồn lớn làm nên sức sống của văn hoá mình. Riêng về sách thôi, Nhật Bản thiết lập một mối giao lưu thường xuyên với Trung Quốc. Một con đường sách trên mặt biển đã hình thành, được coi là tương đương với con đường tơ lụa nổi tiếng. 50-60% sách in ở Trung Quốc có bản lưu ở Nhật Bản.
Còn Việt Nam mình thì sao? Trong các cuốn lịch sử văn hoá Việt Nam, phần viết về sự tiếp nhận văn hoá nước ngoài thường rất đơn sơ, nhiều ngành nghề nhiều bộ môn nghệ thuật rõ ràng học từ bên ngoài, nhưng lờ đi, coi là ta nghĩ ra. Chỉ một vài việc buộc phải ghi nhận nhưng chỉ nói qua loa và lúc nào cũng không quên nói thêm là chúng ta tiếp thu có sáng tạo.
Trong thực tế sự học hỏi diễn ra khá “tế nhị”. Từ xưa ta đã học của Trung Hoa rất nhiều, nhưng chỉ học lỏm, bắt chước mà không nghiêm túc tuân theo bài bản, ăn bớt bài gốc của người ta rất nhiều. Đến thời tiếp xúc với văn hoá Tây phương, lúc đầu từ chối, sau buộc phải tiếp nhận thì bên cạnh phần tiếp thụ sáng tạo cũng nhiều phần chỉ qua loa láng cháng, mà tình trạng học đòi những cái lặt vặt lại diễn ra dài dài.
Quan sát bề ngoài, người Việt Nam hôm nay thích nghi nhanh, học nhanh. Nhìn quần áo, đầu tóc, cách nghe nhạc cách chơi xe của người Việt, nhiều người nước ngoài phải kêu lên: sao mà Tây thế! Thế nhưng đó lại là cái học, cái thích nghi hời hợt, dễ dãi chứ không phải tiếp nhận ở bề sâu văn hóa. Thành ra nhiều khi chỉ hớt váng, hớt lấy cái phần hời hợt của người và hệ quả tất yếu là những rác rưởi của thế giới đã vào quá dễ dàng, cả rác công nghiệp và rác văn hoá.
Những khó khăn trong việc làm ăn quan hệ với nước ngoài bắt nguồn từ chính chúng ta. Hay dở tốt xấu cái cần cho mình cái phải xa lánh… không có sự phân biệt. Từ chiến tranh bước ra ta chưa nhận thức đầy đủ rằng mình là một thành phần của thế giới và trước sau sẽ phát triển theo quy luật của thế giới. Cho đến tương lai của ta ra sao, cũng chưa ai hình dung nổi.
Nhìn vào những cái xe bus
Ngày đăng 22/1/2015
Tại sao người dân đô thị khó chịu với cái xe bus? Vì đô thị ở ta là đô thị trung cổ. Mà bus chỉ xuất hiện ở xã hội hiện đại. Ở các nước phát triển xe bus phải có đường riêng, các xe hoạt động theo kỷ cương.
Ở Việt Nam, bus chỉ có từng xe hoạt động riêng lẻ, tương tự cái ô tô con, cái xe đạp, vận hành theo kiểu các phương tiện ấy. Tức là cũng giành đường cũng luồn lách. Mà lại nhân danh cái xác to xù để bắt nạt thiên hạ.
Trên xe lại cũng là một xã hội thu nhỏ với nghĩa một đám đông lộn xộn, mọi người không ai biết ai cả nên có làm gì cũng không sợ xấu hổ.
Các bài trên Tuổi Trẻ gần đây hay nói tới việc xây dựng chính quyền đô thị. Tức là lâu nay chúng ta quản lý đô thị mà chả hiểu gì cả, cả hai khái niệm trong cụm từ đó, chính quyền và đô thị, chính người trong cuộc cũng đang còn quá lờ mờ, nếu không nói là ẩn giấu một quan niẹm quá cổ lỗ.
Theo Hermann Broch, con người hiện đại tương tự con người mộng du. Những con người ấy cảm thấy mình trống rống, không thoả mãn với mình, không thoả mãn với đời sống.
Đời sống hiện nay không làm cho người ta tin người ta có thực
Ngày đăng 22/1/2015
Ở mục Thời sự và suy nghĩ báo Tuổi Trẻ 30/1/2012 tôi đọc ra một lời nhắn nhủ “Đừng để lễ hội thành nỗi sợ”. Mấy năm đã qua, vẫn cứ nhớ mãi.
Lâu nay báo chí thường chỉ nói tới những nỗi sợ có liên quan đến bạo lực. Còn lễ hội ư, một sinh hoạt văn hóa cơ mà, sao lại có nỗi sợ len vào đây? Nhưng chỉ cần nhớ lại mấy lần đi hội thấy cảnh xô đẩy nhau cầu cúng, chen chúc mua bán nham nhở hưởng thụ, thấy nhà báo nói cũng có lý.…
Báo Nông Thôn Ngày Nay một số cuối 2011 dẫn một ý kiến phát biểu trong Quốc hội: “Đừng để người dân ra đường là sợ”. Chắc không chỉ muốn nói tới các tai nạn giao thông đang rình rập, mà còn là chuyện cướp giật, chuyện móc túi.
Trên đà liên tưởng, tôi chợt nhận ra trong đời sống còn vô số nỗi sợ thông thường khác, những nỗi sợ này có sắc thái trung tính nên có vẻ như rất phổ biến.
Buổi sáng sợ đi làm vì không dễ gì vượt qua đám đông chen chúc trên đường.
Đến sở sợ gặp không khí chơi bời xả láng đến mức thấy mọi cố gắng bản thân thành vô nghĩa.
Có việc gặp cơ quan công quyền, sợ mọi sự hạch sách vô lý. Hồi 19 tuổi, trong một lần đến làm giấy tờ để chuyển hộ khẩu từ Hà Nội vào trường Đại học Sư phạm Vinh, tôi bị một người cậy quyền cậy thế quát thét đến mức phải ra ngoài khóc một hồi, rồi mới quay vào nhẫn nhục chờ ông ta giải quyết tiếp.
Đang ngồi trong căn phòng khách sạn chợt thấy tiếng loa phường mắc trên cột điện chõ ngay vào cửa sổ, nghĩ có lẽ đến chết không cách gì thoát nổi những tiếng loa này.
Đi họp phụ huynh cho con chợt phát hiện cô giáo là người kém cỏi lại ham thành tích, sợ không biết cô giáo - và nền giáo dục này nói chung - còn dẫn con mình tới chỗ nào.
Một người bạn già của tôi bảo rằng tuy ốm đau luôn đấy nhưng rất sợ phải đi khám bệnh.
Không chỉ vì sợ lối làm việc quan liêu, mà đơn giản sợ lại chạm mặt mấy ông cùng cảnh về hưu, rỗi rãi tháng nào cũng vào khám cốt lấy ít thuốc hạng bét, về bán đi thêm tiền tiêu vặt.
Sợ hãi len ngay cả vào trong những chuyện tình cảm riêng tư. Đây là hai câu thơ của Nguyễn Duy, tả nỗi khổ thời bao cấp nghèo đói:
"Vợ chồng ngủ với nhau như vụng trộm
Không nỗi sợ nào bằng nỗi sợ có con"
Lại có những nỗi sợ mà thực ra không đáng sợ một chút nào cả, chỉ vì chúng ta “thần hồn nát thần tính” nên sinh ra một chút hoảng loạn.
Đoạn cuối Chuyện kể năm hai ngàncủa Bùi Ngọc Tấn có một chi tiết lạ. Nhân vật chính ở tù ra đến xin đi làm. Ông cán bộ nhà máy biết rằng anh này xưa nay vốn rất tốt, nên vui vẻ ký nhận ngay. Nhưng vừa ký xong thì một nỗi sợ mơ hồ cứ bám riết lấy ông. Ông cứ phải la lên thật to rằng ta không làm điều gì xấu cả. La không phải cho ai nghe mà là để chính ông nghe.
Người mãn hạn tù trở về tức là có mọi quyền công dân bình thường, ấy thế mà sao lớp người chúng tôi vẫn gờn gợn thế nào mỗi khi tiếp xúc với họ. Tại sao lại có nỗi sợ kỳ cục vậy? Cái này ai đã sống ở miền Bắc trước 1975 mới hiểu được.
Đó là chuyện miền Bắc. Còn chuyện miền Nam? Một ông anh họ tôi trước 1975 là chuyên viên dân sự. Sau 1975, bị gọi đi cải tạo, vài tháng được về. Ông chỉ kể thấy thương những người quản giáo, do hai ấn tượng chính.
Một là, mấy người này sống quá đạm bạc, nhưng không biết cách thay đổi cuộc sống của mình. Có trong tay cả một đội ngũ chuyên viên khoa học tài năng mà chẳng biết tổ chức lại, dùng họ làm ra sản phẩm để cải thiện cuộc sống của mình.
Hai là, lúc nào cũng sợ mình sai. Mỗi khi lên lớp chính trị cho các học viên, có người lắp ba lắp lắp, có người nói như đồng thuộc, nhưng họ đều giống nhau ở chỗ cố nói cho đúng những gì cấp trên bảo phải nói, chỉ sợ buột miệng ra những lời không đúng chính sách mà chung quanh phát hiện ra thì sẽ vạ to. Người có quyền mà lại sợ vì không biết cái quyền đó có thực không và đâu là giới hạn của mình.
Có phải là một lời khuyên vô trách nhiệm?
Ngày đăng 30/1/2015
Đi lại trên đường phố Sài Gòn tôi thường trông vào các ông xe ôm. Vì bao giờ tôi cũng nhân dịp này, hỏi thêm họ vài chuyện có liên quan tới tình cảnh dân nghèo trong thành phố, nhất là chuyện đi học của con cái. Sau khi nghe họ kể lể về gia cảnh, tôi thường bảo:
- Thời buổi này bác ạ, trừ phi gặp đứa thật giỏi giang không kể, còn đừng có cho chúng nó đi học nhiều làm gì. Xong độ trung học cơ sở là thôi, cho đi học nghề. Các nghề linh tinh nhận tiền của dân ấy. Lam lũ nhưng chắc chắn. Bị coi khinh có khi lại sống.
Học lên đến đại học chỉ phí tiền mà ra vẫn thất nghiệp?
- Đúng vậy. Các ông ấy có dạy được đâu. Mà lại hay xoay sở trường nào cũng xoay cấp nào cũng xoay. Kệ dân cán bộ sống bằng của tham nhũng được họ đua với nhau. Với lại sau này họ còn có chỗ cho con họ thế chỗ.
…
Gặp ông biết nghe và hiểu tình hình, tôi còn nói thêm vài chuyện nữa.
Bây giờ cho trẻ đi học là chuốc lấy các loại kiến thức cũ mèm và nhiều thói xấu, mà xấu nhất là gian dối.
Cả đi làm nhà nước cũng vậy.
Âu là cứ trở về với dân gian. Chính dân gian lại dạy bảo nhau những điều tử tế.Những lần đầu, sau khi không ngại vô duyên buông ra một lời khuyên như vậy, tôi cũng hối hận. Sao mình ăn nói như một kẻ vô lại vậy?
Nhưng rồi tự nghĩ vẫn thấy mình đã tự bác bỏ mình mà không bác nổi.
Chính với những họ hàng xa gần tôi cũng hay nói vậy và không ít trường hợp nhận được sự đồng tình.
Còn truy nguyên ư, nó xuất phát từ cái cảm giác tuyệt vọng của tôi về nền giáo dục đương thời. Làm sao mà có thể cải tạo cái bộ máy giáo dục hiện nay để chúng ta có thể yên tâm gửi con gửi cái cho họ được. Tương lai là mù mịt.
Ngày đăng 30/1/2015
Từ khoảng những năm 1980 tôi đã được nghe nhà văn Ma Văn Kháng kể lại mẩu chuyện sau đây:
Có một bà mẹ có hai người con tham gia chiến tranh. Một hy sinh. Và một trở về. Người trở về nhân danh có công và sức khỏe suy tàn, mang theo bao nhiêu thói xấu, bắt cụ nuôi báo cơm. Trong khi đó, người đã hy sinh mang lại cho cụ cái thẻ liệt sĩ, cụ được hưởng một ít quyền lợi, mà lại đỡ phải hứng chịu những chuyện đau lòng.
Và anh Kháng bảo, đấy cậu xem, cái sống cái chết bây giờ khác nhau là thế, chết lại hơn sống.
Hơn ba chục năm đã qua, tình cảnh những gia đình trên đây có những diễn biến mới. Sau một thời gian bế tắc, một số người trở về lấy ngay cái thành tích chiến đấu của mình ra mà ăn vạ, không việc gì mà không dám làm, ban đầu còn chỉ tính truy lĩnh cái phần mình thiệt thòi, sau tha hồ làm những chuyện bất nhân bất nghĩa.
Trong cơn khốn quẫn, có những bà mẹ thấy con làm vậy cũng chấp nhận xui con làm tiếp.
Nhưng tôi biết có những bà mẹ càng thấy con vô cớ mà nhà cửa cứ giàu lên đùng đùng thì càng phiền lòng. Một bà đã kể lại với Ma Văn Kháng cái cảm giác kỳ cục của mình, rồi nhà văn của chúng ta mới gia cố nó thành chết lại hơn sống.
Khi nói với các bác xe ôm Sài Gòn những lời có vẻ vô trách nhiệm về sự học thời nay, tôi thường nhớ tới câu chuyện trên của Ma Văn Kháng.
Chúng ta đang phải sống trong cái thời cay đắng quá.
Qua việc dùng hàng hiệu thử bắt mạch đời sống tinh thần của người Việt hiện nay
Ngày đăng 3/2/2015
Bạn Trương Anh Ngọc, trong mục thư châu Âu trên Thể Thao& Văn Hóa một số cuối 10/2014 viết:
Một nhà báo Italy mới trở về từ Việt Nam kể rằng một trong những ấn tượng mạnh nhất với ông chính là việc không ít phụ nữ Hà Nội đeo túi... Louis Vuitton đi ngoài phố.
Nhà báo Italy tỏ ra thông cảm. Ông bảo rằng, ông không tin là kinh tế Việt Nam có thể phát triển nhanh đến mức đồ hiệu nhan nhản ngoài phố như thế, nhưng nó thể hiện một điều: ước mơ đổi đời và giàu sang, đẳng cấp đã len lỏi vào cuộc sống của tất cả mọi người.
Ông giải thích thêm: Người ta thậm chí sẵn sàng dùng những thứ hàng nhái chỉ để có cảm giác rằng họ sang trọng và theo kịp với thời thượng.
Đấy là một thứ giấc mơ thực sự, vì với thu nhập khiêm tốn của mình, họ không biết đến bao giờ mới có cơ hội được dùng những đồ thứ thiệt vốn có thể lên tới hàng nghìn, hàng chục nghìn USD.
Ông, một người rất hay quan sát, bảo rằng, những đồ nhái như thế có mặt ở khắp mọi nơi ông đi qua.
Ông đặt một câu hỏi: phải chăng, người Việt sính ngoại đến mức sẵn sàng mua tất cả những thứ đó, bất kể đó là đồ ăn cắp mẫu mã và thương hiệu cũng như không ai biết chất lượng của chúng ra sao?
Tôi muốn bổ sung vào cách giải thích của ông nhà báo ngoại quốc:
- Nay là lúc khao khát hưởng thụ trong chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
- Đồng thời, nay cũng là lúc chúng ta đã mất hết tự tin. Người dân Việt hiểu rằng cứ như trình độ làm ăn hiện nay, thì không bao giờ ta đuổi kịp thế giới cả.
- Nảy sinh nhu cầu tự lừa dối, tức dùng hàng giả. Sự tự lừa dối có mặt trong tất cả mọi hoạt động của guồng máy xã hội và lan tràn cả trong lĩnh vực tinh thần thiêng liêng như tín ngưỡng, văn hóa giáo dục. Không mấy ai còn thấy kiếp người là thiêng liêng nữa.
- Mà khi đã trở thành ĐẠI TRÀ thì sự tự lừa dối ở ta diễn ra một cách rất cẩu thả và dễ dãi. Chỉ cần biết rằng chung quanh ta mọi người cũng đang như ta là người ta dám sống một cách trâng tráo, không còn kiêng nể quỷ thần gì hết.
…
Một đoạn lạc đề
Nhân nói đến nhu cầu khao khát hưởng thụ, tôi muốn nói thêm rằng đây chính là một thứ mất tự do rất nghiêm trọng của dân ta hiện nay nhất là lớp trẻ.
Tôi nảy ra ý ấy khi đọc một đoạn trong bài nói chuyện của tổng thống Mỹ đương nhiệm Obama trước sinh viên trường đại học Yangon 19/11/2012.
Ông Obama đã nói:
“Tự do không phải là một ý tưởng trừu tượng, tự do chính là điều làm cho tiến bộ loài người có thể xảy ra - không chỉ tại các thùng phiếu, nhưng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Franklin Delano Roosevelt, một trong những Tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ, đã hiểu rõ sự thật này. Ông xác định cứu cánh của Mỹ là điều gì đó nhiều hơn chỉ quyền bỏ phiếu.
Ông hiểu dân chủ không chỉ là việc đi bầu.
Ông kêu gọi thế giới nắm lấy bốn quyền tự do cơ bản:
- Tự do ngôn luận,
- Tự do thờ phụng,
- (tự do) Thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất,
- Và (tự do) thoát khỏi sự sợ hãi.
Bốn quyền tự do này củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng.
Vì vậy, đó là tương lai mà chúng ta tìm kiếm cho chính mình, và cho tất cả mọi người."
Dẫn theo http://kinhtebien.vn/index.php…
Hóa ra không chỉ dân ta hôm nay bị ám ảnh bởi nhu cầu vật chất.
Ở nhiều nước dân người ta cũng thế.
Chỉ có điều, người ta muốn thoát khỏi, còn mình thì không.
Lại còn tưởng không biết làm ra cái gì hết, chỉ cần thành thạo trong hưởng thụ đã oai lắm rồi, đáng vênh mặt với thiên hạ lắm rồi.
Ngoài ra tôi thấy chưa hiểu lắm cái câu gần cuối - chắc của Obama chứ không phải của Roosevelt :
Bốn quyền tự do này (Tự do ngôn luận, tự do thờ phụng, tự do thoát khỏi sự bức bách của nhu cầu vật chất, tự do thoát khỏi sự sợ hãi) củng cố lẫn nhau, và bạn không thể hoàn toàn thực hiện một mà không thực hiện tất cả chúng.
Vấn đề mênh mông quá, tôi sẽ tìm hiểu thêm, ghi lại ở đây để mong các bạn cùng quan tâm.
Ngày đăng 14/2/2015
Những ngày vui đầu năm khiến nhiều người nghĩ tới mà sợ. Một dịp để người ta tự cho phép có thể sống buông thả, do đó cũng là lý do để khôi phục nhiều hủ tục như chè chén lu bù, rượu chè cờ bạc dông dài.
Ca dao cổ: Tháng giêng là tháng ăn chơi - Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè
Chúc tết sếp: Từ mới xuất hiện, thay cho từ cổ lễ tết quan trên hoặc lễ tết thượng cấp. Thời điểm lý tưởng để bày tỏ sự biết ơn và đầu óc ăn chia sòng phẳng của một kẻ từng được che chở sau một năm làm ăn vất vả. Cũng là tình huống để kẻ đến biếu chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc đối với cái gu của cấp trên, phát hiện kịp thời những gì mà nhà sếp còn thiếu, hoặc đặc biệt ưa thích - và tài lùng sục những của được coi là lạ hiếm.
Hái lộc: Tục cổ đúng lúc giao thừa bẻ một nhành cây trong vườn mang vào nhà để mong gặp may mắn, nhưng đã biến tướng thành ham muốn lén bẻ đại cành lá ở những nơi công cộng, vừa là kiếm thêm ít lộc ngoài đường, vừa thoả mãn ý muốn làm bậy trong những lúc sống giữa đám đông. Nhiều người biết là một thói quen xấu song vẫn thích làm.
Hội làng: Cuộc chạy đua giữa các làng xóm, làng nào cũng muốn nhận mình là trung tâm văn hoá của vùng, mình có những nét truyền thống độc đáo, để chèo kéo khách phương xa chuộng lạ.
Du xuân: Những ngày nghỉ ngoài quy định của nhà nước.Với một số cơ quan xí nghiệp ăn nên làm ra, là một dịp để hợp pháp hoá các khoản chia chác nội bộ. Xem thêm mục từ đi chùa, đi lễ ở một số báo trước.
Báo tết: Một dịp để các ban biên tập bộc lộ khả năng làm dáng cho tờ báo của mình: nó có thể hào nhoáng đến đâu, mỹ miều đến đâu. Để bày hơn để để đọc. Cũng là một dịp để ban biên tập trình ra đội ngũ cộng tác viên loại xịn và chiêu đãi họ sau một năm làm ăn khó nhọc bằng những khoản nhuận bút hậu hĩnh hơn so với ngày thường. Tài làm báo tết còn bộc lộ rõ ở tài chạy quảng cáo, và đó là lý do chính khiến người ta vẫn phải lo báo tết bằng được, mặc dù số lượng in của nhiều báo ngày tết thường giảm.
Mừng tuổi(lì xì):trong không khí tết, tặng cho trẻ ít đồng bạc để chứng tỏ quan hệ hữu hảo với cha mẹ chúng,tại một số địa phương, một số gia đình, đã lan sang cả đối tượng người lớn và trở thành mối quan hệ có đi có lại, tôi mừng tuổi anh thì anh lại mừng tuổi tôi.
Ngày đăng 14/2/2015
Tết
Những ngày vui đầu năm khiến nhiều người nghĩ tới vừa mừng vừa sợ. Một dịp để người ta tự cho phép có thể sống buông thả, do đó cũng là lý do để khôi phục nhiều hủ tục như chè chén lu bù, rượu chè cờ bạc dông dài.
Ca dao cổ
Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè ...
Một bằng chứng về tình trạng trung cổ của xã hội mà chưa biết bao giờ ta mới vượt qua được.
(chữ trung cổ là do tôi mượn của Xuân Diệu.
Xin xem bài viết "Đúc tết lại" trên blog của tôi
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/02/uc-tet-lai_12.html
hoặchttp://vuongtrinhan.blogspot.com/…/xuan-dieu-va-loi-e-nghi-…)
Chúc Tết sếp
Từ mới xuất hiện, thay cho từ cổ lễ tết quan trên hoặc lễ tết thượng cấp. Thời điểm lý tưởng để bày tỏ sự biết ơn và đầu óc ăn chia sòng phẳng của một kẻ từng được che chở sau một năm làm ăn vất vả. Cũng là tình huống để kẻ đến biếu chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc đối với cái gu của cấp trên, phát hiện kịp thời những gì mà nhà sếp còn thiếu, hoặc đặc biệt ưa thíchvà tài lùng sục những của được coi là lạ hiếm.
Hái lộc
Tục cổ đúng lúc giao thừa bẻ một nhành cây trong vườn mang vào nhà để mong gặp may mắn, nay đã biến tướng thành ham muốn lén bẻ đại cành lá ở những nơi công cộng, vừa là kiếm thêm ít lộc ngoài đường, vừa thoả mãn ý muốn làm bậy trong những lúc sống giữa đám đông. Nhiều người biết là một thói quan xấu song vẫn thích làm.
Mừng tuổi (lì xì)
Trong không khí vui vẻ, tặng cho trẻ ít đồng bạc để chứng tỏ quan hệ hữu hảo với cha mẹ chúng. Một dịp hối lộ có lý do chính đáng.
Tại một số địa phương, một số gia đình, đã lan sang cả đối tượng người lớn và trở thành mối quan hệ có đi có lại, tôi mừng tuổi anh thì anh lại mừng tuổi tôi.
Lễ hội
Cuộc chạy đua giữa các làng xóm về tính chính danh. Làng nào cũng muốn nhận mình là trung tâm văn hoá của vùng, làng mình có những nét truyền thống độc đáo, để chèo kéo khách phương xa chuộng lạ.
Một hoạt động được các cấp chính quyền cực kỳ tán thành vì coi như một dịp trình diện trước toàn dân thiên hạ tư cách ông chủ của một vùng đất.
Cũng là một dịp để ngành thương nghiệp tống ra các thứ hàng, nhất là hàng hỏng hàng kém phẩm chất. Sự vụ lợi khiến ngành này ủng hộ lễ hội vô điều kiện.
Du xuân
Những ngày nghỉ ngoài quy định của nhà nước.Với một số cơ quan xí nghiệp ăn nên làm ra, là một dịp để hợp pháp hoá các khoản chia chác nội bộ.
Báo Tết
Một dịp để các ban biên tập bộc lộ khả năng làm dáng cho tờ báo của mình: nó có thể hào nhoáng đến đâu, mỹ miều đến đâu.
Báo thường đẹp theo nghĩa để bày hơn để đọc.
Cũng là một dịp để ban biên tập trình ra đội ngũ cộng tác viên loại xịn và chiêu đãi họ sau một năm làm ăn khó nhọc bằng những khoản nhuận bút hậu hĩnh hơn so với ngày thường.
Tài làm báo tết còn bộc lộ rõ ở tài chạy quảng cáo, và đó là lý do chính khiến người ta vẫn phải lo báo tết bằng được, mặc dù số lượng in của nhiều báo ngày tết thường sút giảm.
Cầm một vài tờ báo tết chạy theo quảng cáo quá mức đến mức lố bịch, tôi nghĩ đây không còn là báo kèm quảng cáo mà là quảng cáo kèm thêm báo. Vai trò chính phụ đã bị đảo ngược. Tôi nhớ tới một câu thành ngữ nghe được từ lúc nhỏ"Cứt nặng hơn người". Câu nói có vẻ thậm xưng và thô tục, nó là cách nói dân gian. Nhưng đã có nhớ nên xin phép nhắc lại ở đây, rất mong được các bạn đánh cho hai chữ đại xá
PHỤ LỤC
Nếu có nhu cầu, mời các bạn tìm thêm các bài tôi đã viết về xuân và Tết, trên trang blog của tôi từ mấy năm trước.
Dưới đây là một số địa chỉ
16 Tháng giêng 2009 Ba mươi tết xưa và nay
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/01/ba-mi-tt-xa-v-nay.html
23/1/2009 Cái tết của các nhà đại văn hào
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/tu-ao-tuong-hao-huyen-en…
09/02/2010 Thế nào là một cành đào đẹp?
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/nao-la-mot-canh-ao-ep.ht…
11/02/2010 Một dịp trở về với dĩ vãng
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/mot-dip-tro-ve-voi-di-va…
16 Tháng giêng 2012 Xuân & tết với con người tiền chiến
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/xuan-tet-voi-con-nguoi-t…
18/1/2012 Các nhà văn (tiền chiến) làm báo Tết
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/cac-nha-van-lam-bao-tet.…
22 Tháng giêng 2012 Thạch Lam & những cái Tết thanh đạm
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/thach-lam-nhung-cai-tet-…
25 Tháng giêng 2014 Xuân Diệu và lời đề nghị “hãy giã từ ...
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/xuan-dieu-va-loi-e-nghi-…
31 Tháng giêng 2014 Phố cũ Hà Nội sớm mùng một Tết
http://vuongtrinhan.blogspot.com/…/pho-cu-ha-noi-som-mung-m…
Ngày đăng 20/2/2015
Sách Luận ngữ ở thiên Vi chính có đoạn 4 như sau:
Tử viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh”
Nhiều bản tiếng Việt dịch là: Khổng Tử nói ta mười lăm tuổi để chí vào việc học đạo; ba mươi tuổi biết tự lập; bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa; năm mươi tuổi biết mệnh trời.
Tôi cũng như một số đồng nghiệp thường dừng lại ở đó.
Nhưng có lúc mò mẫm, mới biết trong nguyên bản câu này còn thêm đoạn sau: Lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất dụ củ…
Tạm để vế thất thập lại hãy xét vế “lục thập nhi nhĩ thuận”.
Đoàn Trung Còn trong các bản dịch đã in từ trước 1975 giảng: đến sáu mươi tuổi, lời chi tiếng chi lọt vào tai ta thì ta hiểu ngay, chẳng cần suy nghĩ lâu dài.
Tứ thư toàn tập của Dương Hồng - Vương Thành Trung… do Trần Trọng Sâm dịch ra tiếng Việt (2006) thì hiểu là sáu mươi tuổi nghe người khác nói đều thuận tai.
Dương Thu Ái và Nguyễn Kim Hanh, tham khảo từ nhiều bản Trung Quốc khác nhau, diễn giảng rằng nhĩ thuận tức có thể phân biệt rõ mọi điều tốt xấu phải trái thật giả trong những lời nói người khác
Sách Văn hóa Trung Hoacủa Đại học PhúcĐán 2006 thì cho rằng đó là nghe được những ý nghĩa tinh tế nhất trong lời người khác.
Bản của Trung Hoa thư cục Bắc Kinh 2008 (đã in tới lúc đó 50.000 bản) đưa ra cách hiểu: sáu mươi tuổi có thể nghe được các ý kiến khác nhau (Lục thập tuế năng thính đắc tiến các chủng bất đồng đích ý kiến).
Tôi thấy có thể tin vào các bản dịch vừa nói về sau, tin là người ngày nay mới hiểu cái sự lão thực của cụ Khổng. Thoạt nghe có vẻ ba phải, song sự thực là, như một ý của Heghen, mọi sự tồn tại đều có lý. Mà ý tưởng cũng là một thứ tồn tại.
Đọc tiểu sử Khổng Tử thì thấy trong khi trò chuyện với học trò, ông thường có lối nói dè chừng không khẳng định gì cả. Riêng một chữ nhân(với nghĩa ban đầu nhân từ nhân hậu), mỗi lúc ông giảng một khác, nhưng gộp cả lại tạo thành một tổng thể thống nhất và hết sức đa dạng.
Ông thầy này không bao giờ độc đoán và cho mình quyền nói tiếng nói cuối cùng.
Nếu từ 1949 đến 1976,giới khoa học giáo điều của Trung Quốc có rất nhiều sai lạc trong việc áp đặt Mác Lenin để giải thích triết học Trung Quốc cổ đại thì sau 1976 họ có những thay đổi cơ bản trong việc thẩm định các giá trị quá khứ.
Nay họ thường đứng trên quan điểm nhân văn để suy nghĩ chứ không sống sượng quy chụp tư tưởng người xưa theo lý luận về đấu tranh giai cấp.
Rồi ra các nhà trí thức uyên thâm của xứ sở này, khi được giải phóng tư tưởng, còn có thể tìm tới những cách lý giải mới.
Tuy nhiên dù người ta có thay đổi cách giải thích ra sao thì lời của Khổng Tử vẫn còn đó.
Sở dĩ nó còn có khả năng kích thích người ta vì nó hàm chứa một tính đa nghĩa.
Còn những tư tưởng đơn nghĩa chỉ có một cách giải thích duy nhất, những tư tưởng đó sẽ chết cùng với cái thời, cái hoàn cảnh đã sinh ra nó.
Về già, tôi thường cảm thấy mình mất sự quyết đoán trong suy nghĩ. Mọi chuyện với tôi luôn luôn có thể xảy ra thế này mà cũng có thể xảy ra thế khác. Ai cũng có lý. Và cái lý của tôi ra sao - tôi phải tìm mới thấy. Những câu nhận xét mơ hồ mà rất đúng đắn của cụ Khổng trong Luận ngữ với tôi là một chỗ dựa.
Ngày đăng 22/2/2015
Cái vườn hoa duy nhất mà hồi nhỏ tôi biết là vườn hoa Hàng Đậu.
Từ trước 1954, tôi sống với gia đình bố mẹ ở Thụy Khuê, thường ngồi xe điện Bưởi - Bạch Mai xuống chợ Đồng Xuân. Tàu lên tàu xuống tránh nhau ở "quai - di - măng" đầu phố Quan Thánh, ngay cạnh vườn hoa nhỏ. Hồi trước nó được gọi là vườn Vạn Xuân, nay cứ quen mồm gọi là vườn hoa Hàng Đậu.
Năm 1968 tôi về công tác ở Văn Nghệ Quân Đội. Cơ quan lúc đầu còn sơ tán ở Hương Ngải Thạch Thất. Từ cuối 1968, thì về lại 4 Lý Nam Đế. Lại thường qua khu vườn hoa quen biết, coi như vườn nhà.
So sánh hoa trồng hai thời ở vườn hoa này, tôi nhận ra thế nào là dấu vết chiến tranh.
Trước đây hoa trồng bao giờ cũng đều tăm tắp, các luống hoa toát ra một vẻ đẹp thuần hậu và cao quý. Mới mấy năm chiến tranh mà cái vườn hoa đã cây thấp cây cao, nhiều giống hoa lạ xuất hiện khiến cả luống không bảo đảm thuần chủng như ngày xưa.
Trải qua nhiều năm, đến cuối chiến tranh tôi lại nhận thêm ra một điều. Là vẻ đẹp toát lên từ nhiều hoa mới trồng hiện nay là một vẻ đẹp hoang dã. Thời Pháp thuộc có Sở trồng hoa và ươm cây, ngay cạnh Vườn Bách Thảo. Tôi đoán hồi trước loại hoa nào được trồng cũng cân nhắc kỹ. Còn ngày nay người ta cho phép lưu hành mọi loại hoa khác nhau, tính chất quý phái của hoa mất đi, và cuộc đời các giống mới thì thay đổi rất nhanh, trồng vài năm chán, người ta vứt đi lại trồng thứ khác.
(Tôi thường liên hệ số phận của hoa với số phận người trí thức chân chính.
Người có tài thường đòi hỏi nhiều sự chăm sóc riêng biệt. Chiến tranh cào bằng tất cả, chiến tranh chỉ cần những người dám xông lên và biết nghe lời. Cũng như hoa, trí thức thứ thiệt cũng là loại sớm bị hy sinh trong chiến tranh và tới nay sang thời hậu chiến thì đã gần như mất giống không sao khôi phục nổi nữa. Nhưng thôi, đây là cả một câu chuyện dài, sẽ nói khi khác.)
Chung quanh thái độ con người với hoa tôi muốn nêu hai việc:
- Để bảo vệ các loài hoa mới trồng ở những nơi có nhiều người qua lại như quanh Hồ Gươm chẳng hạn, tôi thấy người ta chỉ dùng mấy sợi dây lem nhem hoặc mấy đoạn dây thép cứng quèo, còn đoạn tre nứa cong queo cắm làm cột giữ thì đổ xiêu đổ vẹo.
- Muốn chứng tỏ là mình yêu hoa, gần đây lại có mốt trồng hoa ở ngay dưới gốc cây dọc các vỉa hè, nghĩa là sát mặt đất, nơi vô ý người ta có thể giẫm lên bất cứ lúc nào. Hoa là thứ cao quý nay thành một thứ thấp lè tè và chỉ có tác dụng phụ trợ cho các cây lớn ngồng nghềnh. Giữa cây và hoa, mỗi bên có vẻ đẹp riêng. Lúc này vẻ rực rỡ của hoa bị tầm thường hẳn đi bên cái đẹp thô tháp cứng cỏi của cây. Đặt thế sao tiện? Như là làm nhục hoa vậy.
Trở lên mới nói về hoa ở các nơi công cộng. Còn chuyện chơi hoa trong các gia đình thời nay? Tôi nghĩ cái giống tượng trưng cho thiên nhiên và đồng nghĩa với vẻ đẹp này chắc cũng đang có một số phận bạc bẽo. Người lợi dụng nó thì nhiều, người yêu nó thì ít. Mà có yêu chăng nữa cũng không biết cách yêu, nên chỉ lửa rơm một thời gian ngắn rồi tình yêu đó cũng tàn phai.
Ngày đăng 25/2/2015
Nghiên cứu về tâm lý tôn giáo các nước Đông Á, người ta được biết là đi chùa ở Hàn Quốc là con người đi thiền, còn ở Việt Nam đi để cầu may.
Khái quát lên có thể bảo đằng sau việc cầu cúng, là nỗi thèm khát những ân huệ ngẫu nhiên và luôn luôn cầu cúng để đạt tới những gì mà hằng ngày mình không đạt tới được bằng con đường lương thiện.
Nói cách khác, con người luôn luôn tin vào những điều may rủi, tin vào những gì người khác ban phát cho mình chứ không phải do bàn tay mình làm ra.
Cứ nhìn quảng cáo bán hàng của các hãng nước ngoài thì biết, chưa chi người ta nói đến chuyện treo thưởng và người ta lấy ngay phần tiền mình nộp cho người ta để làm phần thưởng cho mình. Thế là mọi người vẫn cảm thấy hí hửng xem như mình vừa được ai cho một cái gì đó.
Một, hai tết gần đây, người ta hay nói tới chuyện dân dùng tiền lẻ để đặt vào chân tượng và các điểm thờ cúng. Đây là cả một xu thế mà hình như không ai bảo ai, nhiều người thích làm theo và không có một cách gì có thể làm người ta thay đổi.
Chỉ có thể hiểu được điều này dựa vào mấy điểm:
1. Cách tin của người Việt Nam là vừa tin vừa không tin. Họ không cầu cúng riêng ở một hai điểm nào cả mà họ muốn rải lòng tin ra ở nhiều điểm khác nhau, càng nhiều điểm càng tốt.
2. Trong niềm tin của người Việt, thần thánh cũng có những thói xấu y như con người, nghĩa là vừa tham vừa dại dột, và rất dễ bị lừa. Thần nhận được 100 tờ giấy 500 đồng thì vẫn sướng hơn là nhận được một tờ giấy 500 ngàn đồng.
3. Mặc dù nghèo nhưng người mình lại rất thích chứng tỏ mình không nghèo tí nào. Cũng số tiền cúng chùa mà đưa ra bằng tiền lẻ thì trông nó vẫn dày dặn hơn, đồ sộ hơn, oai hơn chỉ có một tờ tiền chẵn.
Có một câu chuyện báo chí vừa nhắc tới, là ngày tết ở Hà Nội dân vứt đi khá nhiều bánh trái giò chả ra đường.
Chuyện này lại cũng chỉ có cách giải thích như trên tôi đã nói. Biết rằng nghèo đói , truyền kiếp - mọi sự giàu sang đều là phù vân giả tạo - thỉnh thoảng người ta phải cố tạo ra cảm tưởng mình cũng thừa thãi, cũng biết "bất cần" như ai.
Và rộng ra hơn nữa tôi thấy hình như việc này có liên quan tới một đặc điểm trong hành động của người Việt.
Là nhiều khi chúng ta làm mà chẳng có mục đích gì cả.
Làm vì quá buồn.
Làm vì không biết làm gì.
Làm mà không hình dung ra hậu quả.
Và với tư cách một con người trong đám đông, người ta làm vì thấy chung quanh rất nhiều khác đã làm sắp làm như mình.
Khi nhắc lại chuyện này thì nhiều người không quên mấy sự kiện xảy ra ở Hà Nội trước Tết: hoặc là tình trạng dân xếp hàng tranh nhau để vào ăn ở cửa hàng miễn phí. Hai là, tình trạng dân xếp hàng chen nhau trước cửa sứ quán Hà Lan để nhận những tấm ni lông dùng làm áo mưa.
Không phải vì họ đói họ rách mà họ làm thế đâu.Họ chỉ làm cho vui.
Riêng tôi, tôi nhớ lại câu chuyện ở một hội sách.
Người ta cũng đổ xô vào cướp sách khi ban tổ chức có nhã ý đưa ra một số sách miễn phí.
Và tôi cũng quan sát thấy là những người cướp được sách đấy khi ra khỏi hội chợ cũng chả buồn giở xem quyển sách mình cướp được là cuốn gì. Họ sẵn sàng cho người khác hoặc quẳng cuốn sách mình vừa cướp vào đống rác.
Vấn đề ở đây không phải là tranh cướp được cái gì mà bản thân hành động tranh cướp đã gây thú vị và chỉ riêng việc người ta cướp được còn người khác thì không đã làm cho người ta vênh vang tự hào.
Trên đây là một đoạn tôi ghi sau Tết Giáp Ngọ
Có cảm tưởng những gì xảy ra hôm qua 2014 thì hôm nay 2015 cũng đúng.
Có bổ sung thì chỉ bổ sung về chi tiết. Ví dụ mở đầu một cái tin tôi đọc 23/2 tác giả kể:Trong dòng người du xuân mới ở Thủ đô Hà Nội, người ta thấy cảnh một số không ít người dân “nhét” tiền công đức vào tay tượng Phật, ném xuống Hồ nước rêu xanh. Năm nay chẳng khác năm trước. Hoặc có lẽ chỉ khác là những cái dở càng dở thêm, hoặc vừa tử tế hơn ở chỗ này đã hư hỏng hơn chỗ khác.
Ngày đăng 1/3/2015
Một cảnh tượng tương tự đã từng xảy ra sáu năm trước - ngay khi được đọc tin về những hành vi thiếu văn hóa tại tại lễ hội Hoa Anh Đào, tôi nhớ lại một vụ bê bối khác.
Hội đền Hùng mùa xuân năm 2002 thường được ghi nhận với việc làm ra một chiếc bánh dày 1,8 tấn. Ngày 9/3 âm lịch, trên đường chuyển đến nơi hành lễ, chiếc bánh bị cả trăm người xúm quanh xô đẩy dằng xé. Bà con đi hội đã tự tiện “thụ lộc”. Trong khoảng hơn một giờ đồng hồ, từ 10h đến 11h30, chiếc bánh “bốc hơi” hoàn toàn. (Báo Tiền Phong ra ngày 22/4/2002 ).
Lùi về thời trước, có lần đọc báo Phong Hóa, tôi đã thấy các nhà văn Tự lực văn đoàn kể chuyện đám công tử Hà Nội đi Hội Lim Bắc Ninh toàn lo chuyện đánh nhau và giở trò gỡ gạc kiếm chác - chữ hồi ấy gọi là chim gái.
Bởi vậy trước cảnh tượng ở triển lãm Giảng Võ, tôi không lấy làm lạ. Những gì xảy ra ở đây chỉ là một thứ đỉnh lũ của những cơn cuồng vọng hung hãn tự do quá trớn.
Hàng ngày ta đã bỏ qua bao sự việc tương tự. Hàng ngày thấy những mầm mống của nó, ta coi thường và mặc kệ. Theo nghĩa này, không phải chỉ những người đã trực tiếp vào hái hoa bẻ cành mà tất cả chúng ta đã có lỗi.
Trong số những cuốn sách giúp tôi xem xét đời sống, có cuốn Tâm lý học đám đông của Gustave Le Bon (viết từ 1905). Tư tưởng chính của cuốn sách: Đám đông thường bị vô thức lôi cuốn. Chính trong đám đông, con người ta bị kích động. Những gì đen tối trong họ bùng phát. Họ trở nên hung hãn liều lĩnh bất chấp mọi chuẩn mực.
Đọc G.Le Bon rồi, tôi không ngạc nhiên nữa.
Tự dăm nay, ở Hà Nội gần như tôi lảng tránh các hội hè triển lãm, ở đó tôi chỉ thấy những đám đông hỗn tạp ồn ào, nó làm tôi buồn thêm về sự xuống cấp của con người. Những điều tưởng như chỉ đúng với xã hội nào khác, hóa ra rất đúng với chúng ta. Thậm chí có cảm tưởng nhà tâm lý học người Pháp viết riêng cho chúng ta nữa.
Từng chi tiết một trong vụ hoa anh đào này đáng để chúng ta dừng lại suy nghĩ. Một thanh niên khi được nhắc nhở đừng làm bậy nữa chỉ bảo “Bình thường thôi”. Một người phụ nữ khi cầm hoa trên tay “bị” chụp ảnh, hồn nhiên nói với con “Ngày mai mẹ sẽ lên báo” (trích từ báo Lao Động điện tử). Nếu câu nói thứ nhất nói về tính phổ biến của hiện tượng thì câu nói thứ hai ghi nhận một tình trạng tâm lý đáng lo hơn. Con người hôm nay làm việc xấu một cách có ý thức. Họ đã trở nên chai lì. Đối với họ không còn gì là thiêng liêng nữa .
Ai đọc báo chí phương Tây, hẳn thấy những biểu hiện này không phải là quá hiếm hoi với con người trong xã hội hiện đại. Nhà văn Italia U.Eco từng cảnh báo bên cạnh con đường nhân bản, con người đang phát triển theo cái hướng phi nhân. Trên tờ Tin nhanh ở Pháp 1991, nhà triết học A.Gluckman nhận xét “Không gì không thuộc về con người mà lại xa lạ với con người hôm nay cả !“.
Tuy nhiên ở xứ mình , mọi chuyện như có gì đặc biệt hơn. Ba mươi năm, cuộc chiến tranh khủng khiếp bòn rút trong con người gần hết điều tốt đẹp và để lại bao mầm xấu. Tiếp đó lại là ba chục năm vật lộn để sống, mà một trong những nội dung chủ yếu là cuộc truy tìm mọi sự chơi bời hành lạc hưởng thụ lâu nay không được hưởng. Nhiều chuẩn mực sụp đổ, trên nhiều lĩnh vực, xã hội rơi vào tình trạng mà các nhà xã hội học gọi là loạn cương (anomia). Thiếu lý tưởng, mất lòng tin vào tương lai, từng người tự thả lỏng mình. Chúng ta nuông chiều chúng ta một cách vô lối . Mọi biểu hiện tha hóa biến chất xảy ra hàng ngày sẵn sàng được tha bổng nếu giả vờ hối hận. Tất cả đã chuẩn bị cho những Đền Hùng 2002, Giảng Võ 2008.
Không việc gì phải quá hoảng hốt. Cần thiết là nhân đây cả xã hội cùng đặt lại vấn đề về chính mình. Tôi biết nhà xuất bản trường Đại học Bắc Kinh từ đầu 2000 có cả một series sách hướng tới đại chúng Trung Hoa đông đảo mang tên Giáo dục tố chất nhân văn. Các ngành truyền thông ở Việt Nam cũng đến lúc phải lo vấn đề có tính đại cục đó.
Hà Nội 9/4/2008
Ngày đăng 2/3/2015
Tin trên VietNamNet: Khán giả "phát điên" vì phim Việt
Tức giận, bức xúc, xấu hổ, bực mình, thất vọng, ngượng... là những trạng thái cảm xúc khác nhau của hàng trăm độc giả khi phản hồi về phim truyền hình Việt hiện nay.
Cạnh đó là danh sách các bài liên quan:
- Phim truyền hình: Vết thương cũ trên cơ thể bệnh tật
- Quyền Linh: sợ phim Việt chẳng còn dám diễn
- Rùng hết cả mình vì phim Việt
- Nhức mắt với quảng cáo trong phim Việt
- Phim Việt mất giá
Đã nhiều lần tôi muốn ghi những đoạn tin tương tự như thế này vào sổ tay, rồi nghĩ, bây giờ ai mà chả biết, nếu muốn, người ta phải ngồi mà ghi cả ngày.
Nhưng “nhịn” mãi không nổi, cứ ghi một đoạn như trên cho vui, với mấy điều lưu ý:
1. Khi đọc một tin riêng lẻ thế này, hẳn tất cả đều hiểu ngầm đấy không chỉ là tình trạng của phim truyền hình Việt. Mà là tình trạng của nhiều ngành khác, văn chương, mỹ thuật, âm nhạc... Tùy mức độ khác nhau nhưng nói chung cả nền văn nghệ đang suy sụp.
2. Một câu hỏi đặt ra, dẫu sao khi nói về phim truyền hình, người ta cũng mạnh mồm hơn các ngành khác, tại sao? Vì ngành này mới phát triển, sự đổ đốn của nó thấy rõ hơn. Thứ nữa, ngành không có những cây đa cây đề, đủ sức ngăn chặn sự công phẫn của dư luận.
Ví dụ như bên văn học, có thể cũng có nhiều lời chê đấy, nhưng người ta sẽ cãi lại: tác phẩm của chúng tôi được mang vào dạy ở các cấp phổ thông và đại học cơ mà. Các anh còn phải để cho các thầy các cô dạy cho học trò chứ!Thế là không ai nói cho ra nhẽ nữa.
3. Khi bệnh còn ở dạng sơ khởi, không cho ai nói, đến lúc đã tóe tòe loe như hiện nay, hỏi nói còn được việc gì, lấy đâu ra thuốc bây giờ, với những người làm ăn kém cỏi hiện nay, ai sẽ thay được bây giờ?!
Ngày đăng 3/3/2015
Orhan Pamuk viết trong diễn văn Nobel đọc ngày 7/12/2006:
“…Chúng ta muốn sáng tạo ra những thế giới sâu sắc, nhưng chính khao khát được đứng riêng mới buộc chúng ta hành động.
Cần cù kiên nhẫn không đủ: Nhà văn phải biết rời khỏi đám đông để trở về với chính mình.
Quy tắc sáng tác: Phải kể chuyện mình như thể đó là chuyện của người khác, và kể chuyện người khác như của chính mình.
Một nhà văn độc lập là người biết lắng nghe chính mình, khai sáng chính mình trước khi nghĩ đến người khác.
Viết, hành động xuyên qua chính mình.
Viết, tức là biến cái đắm đuối nội tâm thành câu chữ, là khám phá cái thế giới mình tương tác với mình, cần mẫn ương ngạnh và say sưa
Khi tôi ngồi vào bàn: tôi tạo ra một thế giới mới
Tôi đang sinh ra một kẻ khác bên trong tôi
Bí mật của nhà văn không phải là cảm hứng mà là tính ương ngạnh của anh ta.
Người Thổ có câu: Phải biết đào giếng bằng kim…”
Tôi trích lại những dòng này, vì trong tôi đang có những suy nghĩ giống như vậy. Thói quen của một người cả cuộc đời hơn năm chục năm trời (1968-2017) làm nghề công chức văn chương xui tôi phải lao ra đường. Phải đến với các đám đông. Phải lo gặp gỡ người nọ người kia. Phải đi vớt vát giành giật lấy ít tiền bạc tiếng tăm.
Nhưng... từ trẻ tôi đã bị ám bởi một vài bài học mà tôi rút ra từ cái trường học lớn là văn chương tiền chiến và từ đời sống văn học bình thường ở các xã hội khác.
Một trong những bài học đó: cái mà người viết văn lo nhất là làm giàu chính mình khai thác chính mình (như mấy câu của Pamuk ở trên đã dẫn). Ngoài ra chỉ là chuyện giời ơi đất hỡi. Về già càng cần phải lo trở lại chính mình. Khẩu hiệu luôn luôn cần tự nhắc lại: Hãy đơn độc đối diện với cái tương lai mù mịt. Tôi không đến với các bạn không phải là tôi không nghĩ đến các bạn. Có thể là bạn không cần, nhưng phải thú thực là tôi vẫn viết vì các bạn và muốn gửi tới các bạn, đó là nhu cầu của riêng tôi.
Nó cũng giống như một vài mối tình một phía tôi đã trải qua lúc còn trẻ. Mãi về sau này, khi nghĩ về cái mà ai cũng bảo là thất bại, tôi vẫn đau khổ và thường khi có cả xấu hổ nữa.Chỉ khi tuổi ngoài 70, tôi mới nghĩ được rằng hạnh phúc là có lúc tôi đã sống những giây phút như thế. Tôi đã yêu được người khác, thế là được rồi. Hạnh phúc thông thường là sự gặp gỡ, là sự được đền đáp, nhưng cũng có thể - trong một vài phân nhỏ thế nào đó - bao hàm cả cái nghĩa là biết vô vọng mà vẫn làm.
Ngày đăng 6/3/2015
Suốt mấy chục năm chiến tranh, nhiều di sản cũ cũng trở thành nạn nhân như con người. Kế đến là những năm hậu chiến gian khổ, người đang sống lo ăn còn không đủ, lấy đâu tâm huyết và tiền của lo cho người xưa. Bởi vậy nhiều di sản như các thành quách, chùa chiền của chúng ta trong tình trạng đổ nát và cần tôn tạo lại. Nghe tin nơi này nơi kia dựng lại chùa, tô lại tượng ai mà chẳng mừng.
Nhưng không phải hôm nay mà có đến cả chục năm nay, đi đâu tôi cũng gặp tình trạng tôn tạo tùy tiện nhìn vào chỉ còn biết dở khóc dở cười. Tinh thần của công trình cũ không được tôn trọng. Gọi là hiện đại hóa nó, nhưng sự thật là ta làm cho nó trở nên tầm thường lố lăng. Cái phần hồn vía vốn có bay đâu mất cả. Rồi nó vẫn còn đấy mà thân tàn ma dại như đã chết. Không phải ngẫu nhiên có người đã dùng đến chữ bức tử, một sự hiếp đáp quá khứ ngay giữa thanh thiên bạch nhật.
Tại sao lại có tình trạng nói trên? Tôi sẽ chưa nói có khi đó là sự vụ lợi, sở dĩ sự càn rỡ đó vẫn đang tồn tại dài dài, ở đây có những vấn đề chung của văn hóa cộng đồng. Phũ ra mà nói thì là không hiểu biết và kém cỏi. Cụ thể hơn phải nói tới cách hiểu của chúng ta về di sản, ý niệm của chúng ta về thời gian cùng là trình độ tư duy của chúng ta nữa.
Có lần trên đường ghé thăm một ngôi đền, tôi hỏi mấy cụ già sống gần đấy là đền thờ ai, làm từ bao giờ, chẳng cụ nào biết. Thậm chí có cụ chẳng buồn ngẩng mặt lên để trả lời tôi nữa vì cho câu hỏi của tôi là ngớ ngẩn. Thế nhưng khi tôi mới đi được vài bước, chính ông cụ ấy giật giọng gọi lại bằng được: “Này, nhưng mà đền thiêng lắm đấy, trong làng khối người đến cầu rồi làm ăn phát tài phát lộc đủ cả”.
Cách nghĩ như trên không dừng lại ở một hai người, một hai địa phương. Phải nói rằng nó đang chi phối nhiều người. Quá bận bịu với việc hằng ngày, chúng ta sẵn sàng quan liêu với quá khứ, bằng lòng với thói chàng màng trong hiểu biết về nó. Cái sự hời hợt là trên mọi phương diện.
Hời hợt trong sự tìm hiểu thì cũng dễ dãi qua quýt trong sự tái tạo quá khứ.
Người xưa kỹ lưỡng tinh tế trong mọi công việc hằng ngày. Người xưa biết làm văn hóa bằng cái cảm giác thiêng liêng trước sự trường tồn bất tử. Còn chúng ta, trong sự ồn ào của thời hiện đại, chúng ta bằng lòng làm tù nhân của thói vụ lợi và sự dung tục. Khi sự cẩu thả đắp điếm giả tạo chi phối trong việc xây một cây cầu, dựng một cao ốc thì với các di tích, thái độ làm bừa, làm lấy được là không thể tránh khỏi.
Tóm lại, một công việc văn hóa lại được làm một cách rất thiếu văn hóa. Ngày nào mà các vấn đề đối xử cẩu thả với quá khứ còn chưa được mổ xẻ đến cùng thì thảm cảnh phá hoại sẽ diễn ra trên cả hệ thống chứ không riêng một di tích nào cả.
"Dân tộc Việt là cả một khối tự phát khổng lồ!"
Ngày đăng 11/3/2015
Trong quá trình suy nghĩ của tôi về các vấn đề văn hóa xã hội, bài trả lời phỏng vấn với một phóng viên trẻ VietNamNet khoảng đầu 2008 “Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ” là một bước ngoặt.
Nó mở ra cho tôi một hướng làm việc.
Nhận thấy bài phỏng vấn có thể nhiều phần thích ứng với đời sống hôm nay, sau khi đã sửa chữa một chút cho rõ ý hơn, tôi muốn giới thiệu lại với bạn đọc.
Quá trình chuẩn bị bản thảo có một trắc trở vui vui. Lúc tra Google không thấy. Không biết tại tôi vụng tìm hay nó đã bị mạng gốc xóa? May mà có một mạng khác đã lấy lại ở địa chỉ sau.
http://www.gosanh.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=376
Link gốc trên VietNamNet:
http://vnn.VietNamNet.vn/giaoduc/2007/10/750394/
Hôm nay giới thiệu nó ở đây, tôi đặc biệt cảm ơn bạn phóng viên ký tên Hoàng Lê của VietNamNet. Mặc dầu cả những câu trả lời và câu hỏi đã được tôi viết lại, song tất cả ý tưởng ra đời đều là nhờ cú hích ban đầu của Hoàng Lê. Nhờ sự gợi ý của bạn, tôi đã buột miệng ra những ý tưởng mà trước đó tôi chỉ nghĩ lờ mờ.
Vào thời gian bài trả lời phỏng vấn xuất hiện, bọn viết văn thế hệ trước chúng tôi thường khá e dè đối với báo mạng. Khi nói với Hoàng Lê, chính tôi cũng không ngờ là các ý tưởng này được giữ lại toàn vẹn mà không bị làm cho tầm thường đi. Tôi hiểu Hoàng Lê đã là người đầu tiên chia sẻ với các ý tưởng này, và cũng như tôi, muốn nó đến với bạn đọc ở cái dạng mà chúng tôi đã nói với nhau.
***
(VietNamNet) Soi rọi các hiện tượng xã hội dưới ánh sáng văn hóa - đó là công việc mà nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn đang theo đuổi. Dưới đây là những chia sẻ của ông với phóng viên VietNamNet nhân một câu chuyện thời sự.
Người Việt duy tình, cạn nghĩ, ăn xổi
Suốt tuần nay, dư luận ầm ĩ xung quanh sự kiện một diễn viên trẻ bị đưa chuyện phòng the lên mạng. Từ góc độ một người nghiên cứu văn hóa, nhận định của ông về việc này ra sao?
Có hai hiện tượng đáng để nhìn nhận.
Thứ nhất, việc tự quay phim ghi lại chuyện ân ái của mình, chứng tỏ một bộ phận lớp trẻ hiện nay có lối sống khá bế tắc, bất cần, muốn vượt ra ngoài các lề thói đạo đức thông thường.
Thứ hai, việc dư luận sôi sục lên trước sự kiện ấy, chứng tỏ chúng ta có một đám đông rất nhạy cảm, dễ bị kích động. Song tôi dự đoán, rồi cũng giống như một vài vụ trước, như vụ các cô dâu lấychồng Đài Loan, Hàn Quốc, nó chỉ là hiệu ứng lửa rơm sớm nở tối tàn. Lối sống thác loạn của một bộ phận giới trẻ không phải bây giờ mới có. Chờ nó được đưa ra sân chơi công cộng, mới nảy sinh “làn sóng” chú ý, mổ xẻ, lên án nó thì muộn quá rồi còn gì. Lẽ ra với một thái độ kiên trì và bình tĩnh, chúng ta phải mang ra bàn bạc từ lâu, vừa bàn vừa lắng nghe và chờ đợi. Cả buông xuôi lẫn nóng vội ở đây đều vô nghĩa, nếu không muốn nói là có hại.
Tức là, theo ông, hiện tượng dư luận ồn ào quá mức xung quanh một chuyện cá nhân là bất thường?
Không hẳn bất thường. Như người ta vẫn nói, cái nước mình nó thế. Từ thuở chỉ quanh quẩn trong các làng xã, chúng ta vẫn có lối phản ứng như vậy. Nó là một đặc điểm của tính cách người Việt.
Tôi nhớ, trong một bài báo gần đây, ông Trần Ngọc Thêm (nhà nghiên cứu văn hoá - PV) có nói: Đặc điểm tính cách người Tây là duy lý, người Tàu là duy ý chí còn người Việt là duy tình. Chữ tình, nói theo chữ của ông Thêm, là lối sống giàu tình cảm, trọng tình nghĩa của người Việt. Căn bản phải xem đó là một ưu điểm, một thế mạnh.
Nhiều người cũng nghĩ như ông Thêm.
Phần tôi, tôi cho rằng chỉ nên nói đặc điểm người Việt là tính tự phát rất lớn, thường là những cơn xúc cảm bùng lên, song không trải qua những suy ngẫm nên sẽ qua đi nhanh.
Tức, tôi không coi duy tình là một niềm tự hào. Trái lại, bên cạnh phần hay, nó có nhiều phần dở vì dễ làm cho người ta thiên vị lầm lạc và không kiểm soát được hành vi của mình. Căn bản nó cho thấy một trình độ sống còn thấp, ta phải tính để vượt lên một trình độ sống khác.
Cụ thể hơn, theo ông, “sự duy tình” có những điểm nào không đáng để tự hào?
Cả sự kém duy lý (vận dụng trí tuệ) và kém duy ý chí (sự thôi thúc của tham vọng) đều góp phần kìm hãm sự phát triển của chúng ta.
Yếu về lý tính dẫn đến nông nổi, cạn nghĩ, kết quả là không biết sống, không tìm ra cách sống tối ưu. Kém ý chí dẫn đến ngắn hơi, ăn xổi. Cái gọi là duy tình ở đây đồng nghĩa với bột phát, tùy tiện, lúc thế này lúc thế khác, và thường không dẫn đến sự sáng suốt cùng những quyết sách hợp lý - điều tối cần trong xã hội hiện đại.
Như trong câu chuyện phần trên chúng ta vừa nói: cả các bạn trẻ hiện nay cũng sống truồi theo cảm hứng tự phát, không nghĩ đường xa. Mà dư luận cũng tự phát, ầm ĩ đấy rồi cũng bỏ qua ngay đấy.
Đằng sau nó là những nguyên nhân sâu xa...
Một khối tự phát khổng lồ
Vậy là, từ một hiện tượng ồn ào trong dư luận hiện nay, ông muốn đi tới những khái quát đúng cho cả chiều dài lịch sử. Liệu có gượng ép quá không?
Tôi không ngại, phải đi tới khái quát, lần này khái quát sai thì lần sau khái quát tiếp, bao giờ cho tới cái đúng thì thôi. Chứ lần mò mãi trong các hiện tượng cụ thể sẽ không bao giờ thay đổi được hiện trạng.
Hơn nữa, liệu cách nhìn nhận của ông về cốt cách sống của dân mình quá cực đoan và khắt khe? Người Việt xưa nay vẫn tự hào là một dân tộc hiếu học, thông minh và có sức chịu đựng bền bỉ.
Các phương tiện truyền thông và cả bản thân chúng ta vẫn thường tự ve vuốt mình bằng những nhận định như mấy chữ bạn đã dùng.
Còn tôi, sau một giai đoạn nghiên cứu về văn hoá và tính cách Việt, tôi mạnh dạn sử dụng hình ảnh “một khối tự phát khổng lồ”.
Nói vậy có thể gây tự ái cho ai đó và có thể gây hiểu lầm. Ngay như bản thân tôi, cũng đã nhiều lần tự tìm cách phủ định nó, nhưng hiện tại tôi vẫn chưa tìm ra được dẫn chứng phủ định mà có sức thuyết phục.
Người Việt ít đặt vấn đề dụng công nghiên cứu cái gì cho sâu, cho kỹ. Chúng ta tự cho phép sống theo thói quen, nếu như có nói đến các lý thuyết, các định hướng nọ kia thì chủ yếu là đi thừa hưởng các kết quả nghiên cứu từ các dân tộc khác. Thêm nữa, chỉ treo lý thuyết lên gọi là có, chứ vẫn sống theo cách của mình.
Tôi ví dụ, đơn giản nhất là trong đời sống tôn giáo. Với đạo Phật, chúng ta hiểu biết lơ mơ. Về tất cả các lý thuyết, hầu như không nghiên cứu gì cả, phần lớn là dịch của nước ngoài, rồi làm cho nó giản lược đi, truyền miệng với nhau. Trong tu hành thì chỉ lo “thiền”, “ngộ”, tức là ngồi để tự nhiên nghĩ ra cái gì đấy mà không tính chuyện khổ luyện.
Tôi nghĩ lối sống này làm nghèo chúng ta đi. Từ sự trống vắng, kết quả thu được cũng chẳng gì hơn cũng là trống vắng. Trong khi ấy, thử so sánh, người Trung Quốc có không biết bao nhiêu pho kinh, chẳng hạn như ông Huyền Trang sang tận Ấn Độ lấy về, dịch ra, họ đã mang lại cho đạo Phật một sức sống mới.
Bàn một chút về đặc điểm tính cách dân tộc. Theo ông, có những nguyên nhân nào tác động đến điều này?
Khi nhìn vào những ngổn ngang trong đời sống trước mắt, nhiều người có ý cho rằng đó là bởi các lý thuyết này khác mà chúng ta theo đuổi, chẳng hạn lý tưởng cộng sản... Tôi thì lại thấy những nguyên nhân sâu xa cơ bản là nằm trong cái cốt cách mà dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Chính nó quyết định việc ta đi theo một lý thuyết nào đó, nhất là có cách thực hiện lý thuyết ấy theo lối riêng của mình.
Hiểu rõ nguồn gốc dân tộc, sự hình thành của dân tộc mình là một trong những cách để nhận chân lại mình để tìm ra phương hướng hợp lý cho hành động. Không lo tính phương hướng mà chỉ kêu gào nhau hành động thì cuối cùng vẫn là giẫm chân tại chỗ, nếu không nói là mãi mãi sa lầy vào cái cũ.
Lấy một ví dụ:
Theo thuyết địa lý- nhân văn, mỗi khu vực địa lý tạo ra một giống người với đặc điểm riêng của họ.
Nói một cách thô thiển nhất thì chúng ta là người xứ nóng, một vùng nhiệt đới, được thiên nhiên ưu đãi, nên dễ sống, nó là hoàn cảnh tạo cho dân ta cái tính dễ dãi, thế nào cũng xong, rồi sinh hỏng việc.
Người xứ nóng thường có cuộc sống đơn giản.
Trước đây, thời các cụ, chẳng cần có quần áo, chỉ có cái khố cũng sống qua ngày được. Ngay trước Cách mạng tháng Tám, dân chúng ở ta phần lớn còn đi chân đất.
Trong khi đó, người xứ lạnh, thời tiết khắc nghiệt đòi hỏi họ phải chuẩn bị cho cuộc sống cẩn thận hơn. Phải có đôi giày để đi. Phải có những ngôi nhà bền chắc. Mọi vật dụng phải bền chắc hơn, có sức chịu đựng hơn... Tất cả những điều này ảnh hưởng một cách vô thức đến tính cách dân tộc.
Tự bộc lộ trong chiến tranh
Sau những nguyên nhân ban đầu ấy, mọi chuyện đã phát triển ra sao?
Một công cụ để một dân tộc nào đó tư duy, là chữ viết. Việc không hình thành cho được một thứ chữ viết riêng mang lại cho chúng ta rất nhiều hạn chế. Sự phát triển của trí tuệ Việt bị kìm hãm. Chính nó khuyếch đại thêm cái khía cạnh nông nổi tự phát mà chúng ta nói từ đầu.Sau thời trung đại dùng chữ Hán sau này, đến khi bước vào thế giới hiện đại ta lại dùng chữ hệ Latinh. Lâu nay người ta chỉ thích nhấn mạnh rằng chữ Latinh góp phần thúc đẩy xã hội tiến tới. Tôi cũng thấy thế, nhưng lưu ý thêm chữ quốc ngữ càng làm cho chúng ta cẩu thả trong nói và viết. Nếp tư duy hời hợt lan rộng và xâm nhập vào mọi cách xử lý công việc, kể cả những cái gọi là đại sự.
Việt Nam, xét trong lịch sử, là một nước trải qua khá nhiều các cuộc chiến tranh. Yếu tố này có góp phần ảnh hưởng đến cái gọi là tính cách dân tộc không, theo ông?
Tất nhiên rồi. Trên nét lớn, chiến tranh ở ta còn để lại dấu vết nặng nề và càng không chịu nghĩ kỹ về nó, chúng ta càng bị nó ám.
Không cần có kinh nghiệm nhiều thì người ta cũng có thể biết chiến tranh là tình trạng ăn xổi, ở thì. Lúc đó, trong khi sống với những mơ tưởng xa vời, thực tế là người ta lại chả biết rõ ràng ngày mai của mình như thế nào.
Cụ thể hơn, hai cuộc chiến lớn của dân tộc trong thế kỷ vừa qua, để lại dấu ấn như thế nào trong đời sống tinh thần người Việt?
Chuyện lớn quá, cho phép tôi chỉ nói một điểm có tính cách xuất phát: phải nói chính ra chiến tranh nuôi dưỡng ảo tưởng. Ta không biết rõ ta đã trở nên như thế nào. Ta tưởng rằng, sau chiến tranh, mình còn nguyên vẹn, nhưng thực ra mình đã mất mát rất nhiều. Nhìn vào nhiều mặt đời sống, tôi cảm thấy so với trước chiến tranh, có một bước lùi. Con người ít tham vọng hơn, cẩu thả bừa bãi với mình hơn mà lại buông thả hơn.
Phải ông đang thiên kiến và liều lĩnh quá? Có nhiều ý kiến cho rằng, chính cuộc chiến này đã khơi dậy, đánh thức được tiềm năng của các thế hệ.
Tôi cho rằng, nhận định đó là đúng nhưng chưa đủ, khi nói vậy chúng ta chỉ nói được một mặt của vấn đề.
Cuộc kháng chiến chống Pháp còn vừa sức với dân tộc ta. Còn cuộc chiến chống Mỹư? Với tư cách một người vừa lớn lên thì bước vào chiến tranh, tôi muốn nói rằng nó to lớn vĩ đại, nó kinh khủng quá, nó hút hết sức lực của cộng đồng. Chiến tranh ở ta như việc một người nhỏ bé phải đối mặt với một thách thức quá sức. Vẫn làm được đấy, nhưng sau đó nó làm ta đau ốm bệnh tật không còn là mình. Tối thiểu là sẽ mệt mỏi, một sự mệt mỏi kéo dài cho đến hôm nay và chưa biết bao giờ xã hội ta, như một cơ thể, mới trở lại bình thường.
Việc nghiên cứu tính chất của xã hội hậu chiến ở ta ít được xem trọng. Nhưng nếu trở lại với lịch sử, đọc kỹ sách vở để nhìn rõ thực trạng đất nước sau chiến thắng quân Nguyên, quân Minh ...thì sẽ hiểu ngay.
Cả việc lớp trẻ lao đầu vào cuộc hưởng thụ lẫn một dư luận xốc nổi, khi quá khắt khe, khi quá dễ dãi, tức là một đời sống tinh thần sa đọa - câu chuyện mà chúng ta nói từ đầu đến giờ - cũng là hiện tượng thường thấy ở các xã hội hậu chiến đó.
Tóm lại chính chiến tranh đã thúc đẩy chất tự phát trong sự phát triển của dân tộc suốt từ 1945 tới nay?
Làm sao nghĩ khác cho được!
Hoàng Lê (thực hiện)
Văn học Việt Nam tìm kiếm bạn đọc trong nước không xong, lại tính chuyện chinh phục thế giới
Ngày đăng 14/3/2015
Trong khi tụt xuống mức thấp nhất của chất lượng thì chúng ta lại mơ tưởng hão huyền tới những đỉnh cao vinh quang nhất - đấy là ý nghĩ của tôi, khi nhận ra một hướng vận động của văn học hiện thời.
Để chứng minh cho tình trạng tồi tệ của đời sống sáng tác, trong phần phụ lục dưới đây, tôi sẽ giới thiệu lại một bài báo được viết từ hai năm trước trên báo Thể Thao& Văn Hóa mà có lẽ ít ai để ý.Bài viết có cái giọng riêng của mình. Cái giọng ấy có thể người này thích người kia không chấp nhận, cái đó không sao. Cái chính là bài viết đã nêu gợi ý rằng thơ ca của chúng ta văn học của chúng ta chỉ đang ở dạng văn hóa dân gian trong một thời điểm suy đồi, tức là một thứ thang bậc thấp của các nền văn học hiện đại. Và mọi cố gắng tô son điểm phấn cho mình chỉ khiến chúng ta thêm phần nhếch nhác. Sự bế tắc càng thấy rõ hơn ở ngay cái chỗ ta tưởng ta tìm ra lối thoát.
Đáng lẽ phải hiểu ra tình trạng thực tế của mình, thì hơn bao giờ hết chúng ta lại “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, nằm suông tán phét, mơ màng những chuyện xa vời mà có mọc cánh ta cũng không làm nổi.
Tôi nhớ những cây bút trong thế hệ của tôi. Năm tháng chiến tranh đã nuôi dưỡng mọi mơ ước của họ. Trở về, họ muốn làm lại tất cả. Trong cuộc sống riêng, họ sẽ có gia đình có hạnh phúc. Về chuyên môn, họ sẽ trở thành nhà văn lớn, tác phẩm của họ sẽ trở nên sánh ngang vai với các bậc thầy trong quá khứ và nhất là được dịch ra tiếng nước ngoài…
Lịch sử văn học bốn mươi năm qua diễn tiến theo một mũi tên đi xuống. Chúng ta không thể làm lại đời mình, khi thiếu những phẩm chất cơ bản của nghề nghiệp.Chỉ có mơ ước ở mỗi con người là không chịu chấm dứt và trong khi hiểu rằng nó ngày càng xa vời thì chúng ta, giống như người nông dân tính chuyện ăn đất của Ngô Tất Tố, lại cố tạo ra những giá trị giả để tạm yên lòng.
Tôi muốn nói tới những công việc được gọi là đưa văn học Việt Nam ra thế giới được nhiều người lo tính gần đây.Trong các cuộc hòa đàm giữa các bên tham gia, nhiều khi người ta nghe bên A tố bên B là muốn dùng hội nghị để giành những chiến thắng không đạt được trên chiến trường.Nay với các nhà văn cũng vậy.Tất cả các số liệu thống kê đều chỉ ra rằng, nay là lúc nhà văn Việt Nam đương thời đang thất bại trong việc tìm kiếm bạn đọc trong nước.Vậy mà với những thứ ấy, người ta lại tính chuyện xuất ra thế giới.
Có thể có người sẽ đặt câu hỏi:Nhỡ tác phẩm của tôi quá cao, trong nước không có ai hiểu nổi, tôi sẽ ra với thế giới trước rồi quay về tìm kiếm bạn đọc nội địa sau thì sao?
Tôi biết nhiều người nói câu này chỉ là trong cơn hăng máu nói bừa và bảo rằng thử cãi cho vui thôi. Nhưng tôi cũng xin trả lời một cách nghiêm chỉnh rằng trình độ văn chương một nước không bao giờ vượt quá trình độ mọi hoạt động chính trị kinh tế của nước đó.
Cũng có thể bác bỏ các ảo tưởng nói trên bằng cách nhìn sang các ngành nghệ thuật khác.
Từ Paris, hoạ sĩ Trần Trọng Vũ có một nhận xét khái quát về tình trạng của hội hoạ Việt Nam. Những nhận xét ấy được họa sĩ Trịnh Cung hưởng ứng. Ông cắt nghĩa tại sao mình lại đồng tình với Trần Trọng Vũ qua bài trả lời phỏng vấn ngắn in trên Thể thao &Văn Hóa số ra 16/5/2003.Theo Trần Trọng Vũ và Trịnh Cung, chưa bao giờ tranh Việt Nam có mặt trong hệ thống các gallery chuyên nghiệp; và người mua tranh Việt Nam thường chỉ là khách du lịch.Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, cái nhận xét trên chỉ có một nghĩa đơn giản: chúng ta đang có một nền hội họa thuộc loại chầu rìa.Đại khái cũng giống như trong bóng đá, chỉ khác là trong bóng đá người ta có hệ thống xếp loại rõ ràng còn trong nghệ thuật thì chưa.
Trên đây là một đoạn trích trong một bài báo đã cũ của tôi mang tên
Trông người lại nghĩ đến ta
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2009/07/trong-nguoi-lai-nghi-en-ta.html
Nhắc lại nó ở đây, người viết chỉ lưu ý thêm: sở dĩ các ngành như hội họa và một môn thể thao như bóng đá có thể chấp nhận tình trạng lạc hậu của mình so với thế giới vì người hoạt động trong các ngành đó có sự cọ xát thường xuyên và sòng phẳng với thế giới.
Còn bên văn học, người ta lại hay lòe nhau bằng những cái gọi là tính tư tưởng, tính dân tộc nên dễ ảo tưởng.... Sự hiểu biết của phần đông người viết văn trong nước về văn học thế giới thường đơn giản và sai lệch, được mấy ông có ngoại ngữ giới thiệu cho cái gì thì biết cái ấy. Mà các ông gọi là nhà văn biết ngoại ngữ kia, cũng đâu có phải là những trung gian đáng tin cậy.
Tóm lại, đứng ở góc độ khách quan sẽ thấy những người làm văn chương chúng ta hiện nay thường hiện ra như những kẻ chẳng tri kỷ tri bỉ, biết mình biết người gì hết. Bị hư danh chi phối, ta dễ dàng tìm mọi cách để lừa nhau, người nọ lừa người kia và mỗi người tự lừa mình.Tất cả chỉ bắt đầu bằng việc không xác định được trình độ thực của mình và chỉ thích đo mình bằng thước đo riêng chứ không phải bằng thước đo của thế giới.
Ngày đăng 16/3/2015
1. Mỗi buổi sáng thức dậy nỗi lo đầu tiên của nhiều người dân thành phố hiện thời là lo con đường từ nhà đến nơi làm việc liệu có ách tắc gì không. Thuở mọi người còn nghèo, người ta chỉ đạp xe đi làm và mọi vui buồn lúc ấy dồn cả vào chiếc xe đạp cà khổ. Nay số người có xe máy ngày mỗi đông, mà lạy giời, xe cũng ít hỏng, tưởng đã đỡ lo. Thì lại nảy sinh cái khổ về đường sá! Đường xấu, đường tốt, đường bụi, đường sạch, đường còn nguyên lành và đường bị đào xới, cái đó cũng phải tính toán một phần, nhưng con người nơi đây gian khổ đã quen, thế nào rồi cũng chịu được. Nhưng từ lúc nào không biết, tự nhiên đường trở nên quá đông đúc, và sự ùn tắc trở nên thường xuyên, cái ấy mới rầy rà. Ùn tắc nghĩa là gì? Là xe máy mà tốc độ chỉ bằng xe đạp, hoặc đi bộ. Là mất thì giờ chờ đợi. Là đến sở muộn. Là lỡ hẹn. Là hỏng việc... Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý: Trong việc đi lại hiện thời, con người như bị kéo sống gần nhau hơn. Bao nhiêu cái xấu vốn có được bày ra và buộc nhau phải chịu đựng. Và một cách tự nhiên cứ phải nghĩ ngợi về văn hoá chung sống của cả xã hội.
2. Tạm kể ra đây một ít nặng nề về mặt tâm lý, mà trong cảnh giao thông căng thẳng chen vai thích cánh trên đường, hàng ngày mỗi chúng ta phải chịu:
- Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, còi xe đã là một phương tiện bị cấm, và chỉ được phép dùng trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng ở ta thì còi xe vẫn tha hồ lưu hành, và nhiều lúc không gì thay thế nổi. Có điều đáng lẽ chỉ xem việc dùng còi là bất đắc dĩ, thì một số người lại thích thú nhấn còi cho thật inh ỏi. Hình như những người này coi đây là phương tiện hành hạ người khác, anh mà không nhường đường để cho tôi đi trước thì còn là khổ vì tiếng còi của tôi! Ngoài ra còn có tiếng còi vênh vang, tiếng còi khoe của, tiếng còi chơi trội... đủ kiểu!
- Đường đã đông, song nhiều người cứ cố luồn lách vượt lên, ra cái điều mình khôn ranh sáng ý, thạo đời hơn người. Tự bản thân nó, việc đi vào những con đường ngược chiều và vượt đèn đỏ ở các ngã tư đã là phạm luật và gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Song với người nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ, nó cứ như một sự trêu ngươi: Các anh hiền lành thực thà thì các anh khổ, xem này, tôi có sao đâu(!)
- Có một khái niệm hơi cũ là sự làm phiền. Đứng về mặt luật pháp thì chả ai cấm tôi chở bó củi hay bao tải hàng sau xe, nhưng trên đường đi, như vậy là tôi đã choán chỗ công cộng và gây khó chịu cho chung quanh. Vậy, mong các anh thứ lỗi. Đại khái, cảm giác thấy mình làm phiền bắt đầu từ một nhận thức như vậy. Thế nhưng loại người biết lo nghĩ cho chung quanh đang “hơi bị hiếm”. Đường là của chung và ai giỏi chiếm dụng, kẻ đó được lợi lộc nhiều, họ nghĩ thế. Còn như khách quan mà xét, cái sự khuếch trương của họ giống như một sự ăn cướp không gian của người khác, họ không cần biết. Nhiều khi sự trâng tráo ở đây đã vượt qua mọi giới hạn.
3. Một trong những đặc điểm của cuộc sống đô thị, là khả năng làm cho con người trở nên vô danh. Chẳng hạn khi đi ra đường, ấy là lúc không ai biết ai làm nghề gì, nhà ở đâu, học vấn ra sao, đang có cương vị như thế nào. Ta chỉ còn là một người đi đường bình thường như mọi người. Sự vô danh lúc này mang lại cho mỗi cá nhân một ít tự do, anh ta không phải đóng cái vai mà anh ta vẫn đóng, và do đó có thể dễ dàng đi thẳng tới cái đích của mình. Thế nhưng ở ta nhiều người không nghĩ như thế. Sự vô danh được khai thác vào những mục đích khác. Hoặc có khi ăn mặc lôi thôi lếch thếch ra cái điều bất cần đời. Hoặc diện xe máy hẳn hoi, song thản nhiên dóng xe song đôi mà tâm sự... Trai gái đèo nhau vuốt ve nhau như ở chỗ không người. Qua cầu buồn tình dừng xe đái bậy... Tự do được xem đồng nghĩa với vô lối, bất cần, không để ý đến bất cứ ai khác. Ở trên, chúng ta vừa nói cái đáng sợ nhất đối với người đi đường hiện nay là lối phóng xe ào ào lao tới, gây kinh hoàng sợ hãi. Nhưng đến khi gặp phải cái cảnh mấy cô gái ăn mặc thật diện, lững thững sang đường, sẵn sàng dừng lại nhởn nhơ kéo áo, vuốt tóc ngay giữa dòng xe cộ tấp nập, thì người ta cũng chỉ còn có cảm tưởng về một sự cám cảnh vô duyên. Một khi những cái rề rà chậm chạp vẫn còn tìm được chỗ đứng của mình, trong không khí sôi động nói chung, tức là mọi sự chuyển pha còn dang dở, và cái nếp sống gọi là hiện đại, mới chỉ là bề ngoài, ở trong còn bao điều trơ lỳ, tĩnh tại.
4. Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (bản dịch của NXB Đà Nẵng 1997) là một cuốn sách mang tính cách tổng hợp, ở đó, những người biên soạn tìm cách đọc ra trong mọi hình thức của đời sống cái nội dung mà nhiều thế hệ đã gửi gắm vào nó. Theo từ điển này thì chính nhà tâm lý học C. Jung cho rằng “cần coi các xe cộ, trong ý nghĩa tượng trưng của chúng, như những hình tượng của cái tôi. Chúng phản ánh các mặt khác nhau của cuộc sống nội tâm, có quan hệ với các vấn đề phát triển của nhân cách”. Vậy thì đâu là những cái tôi mà người ta có thể đọc ra, khi nhìn vào dòng xe cộ tấp nập trên đường hôm nay? Dĩ nhiên nay là lúc có thể nhận ra rất nhiều cái tôi năng nổ, cái tôi bứt phá trên đường nhằm đạt tới mục đích xa rộng. Qua rồi cái thời già trẻ bảo nhau nhẫn nại chịu khổ, thủng thẳng đạp xe đến đâu hay đến đấy. Mà mỗi phút bây giờ đều được quy ra tiền của, mỗi người trên xe là một cá nhân khao khát tự khẳng định! Song cũng phải nói, chưa bao giờ như bây giờ, những cái mầm tai hoạ nho nhỏ vùi sâu trong mỗi cá nhân lại công khai bộc lộ trên đường như vậy. Một mặt chưa phải là hết cái tôi bản năng tự phát, đã ngồi trên xe có động cơ phi trên đại lộ rồi mà vẫn mang nặng tâm lý anh chàng đi xe đạp nghênh ngang ở giữa đường làng. Mặt khác, điều đáng lo ngại hơn, là rất nhiều cái tôi hiếu thắng, vênh váo vì có được cái xe lạ, hoặc hỉ hả ra mặt khi vượt trước kẻ đồng hành. Thường thì những cái tôi hiếu thắng này đồng thời cũng là cái tôi thiển cận: Người ta sát khí đằng đằng lao tới trước vì tưởng rằng có thể mưu cầu hạnh phúc riêng cho mình, có biết đâu mỗi cá nhân vẫn chỉ là một phần tử nhỏ bé của cái dòng chảy chung là cả xã hội, thoát làm sao được!
5. Số phận con người thời nay là phải dành nhiều sự sống trên đường. Song có cái lạ là ở những nước biết tổ chức giao thông hợp lý và đưa nó lên trình độ hiện đại, thường sau khi đi một quãng đường dài, xem đồng hồ, người ta mới ngạc nhiên là mình đã ngồi trên xe đến hàng giờ và vượt qua cả trăm cây số. Ngược lại ở ta nếu tính tới những bực bội mà bản thân phải chịu trên đường từ nhà đến sở, đôi lúc ta tưởng đã đi được rất xa trong một thời gian rất lâu. Song tính kỹ, hoá ra chỉ đi độ 5-6 km trong 10-15 phút gì đấy! Hệ thống đường sá kém cỏi cố nhiên là yếu tố đầu tiên khiến mỗi chúng ta có cái cuộc sống trên đường kỳ cục như hiện nay. Song đấy là chuyện vượt lên trên tầm lo liệu của mỗi người. Rút lại, câu chuyện tôi muốn nói hôm nay chỉ là mong sao mỗi chúng ta khi ngồi trên xe có thêm ý thức về hoạt động của mình, nghĩ thêm hoạt động của mình, nghĩ thêm về mọi mặt phiền toái ta gây cho người khác để rồi biết điều một chút, nhường nhịn một chút trong đi lại - chỉ một chút thôi, thì cuộc sống trên đường của những người đồng hành với mình cũng đỡ nặng nề đi rất nhiều. Và đó chính là văn hoá.
Lễ hội thế nào thì xã hội thế ấy!
Ngày đăng 19/3/2015
Bài báo này được viết dựa trên những dữ kiện của đời sống dăm bảy năm trước. Song tôi vẫn muốn trình ra với bạn đọc của năm 2015. Bởi những biến động mà chúng ta quan sát thấy ở các lễ hội năm nay chẳng qua chỉ là đẩy nhanh hơn quá trình đã diễn ra từ nhiều năm trước.
Vấn đề không chỉ ở tính bạo lực đã bộc lộ quá rõ rệt.
Chúng ta đang có những lễ hội xấu xí.
Mà lễ hội chỉ là mô hình thu nhỏ của đời sống.
Ở báo Người đưa tin Unesco số ra tháng hai 1989, với tiêu đề Lễ hội nơi nơi, tôi đọc được một nhận xét tổng quát: Từ Đông sang Tây, gần như ở tất cả các xã hội đã và vẫn đang còn hội hè đình đám. Tại sao? Bởi thế giới này hỗn độn đến cùng nên nhất thiết cần trật tự - một lễ hội được coi như có lý do tồn tại khi để lại trong con người tham gia cái dư vị có sức ám ảnh đó.
Thế còn ở ta, ở người Việt ta hôm nay, thì sao?
Báo Tuổi Trẻ 18/2/2011 chạy trên trang nhất cái tít: Thảm hại lễ hội. Những chữ được dùng trong các phản hồi: vô văn hóa, cuồng tín, lố bịch, nhảm nhí, mê muội.
Tại sao lại có tình trạng như vậy?
Câu trả lời chung nhất trong trường hợp này chỉ có thể là sự giống nhau giữa lễ hội và đời sống.
Lễ hội là một thứ mô hình đời sống thu nhỏ. Chúng ta đến với nó trong cái bối rối của những người đang đứng trước một tương lai vô định.Trong lúc cuống cuồng vượt lên để theo đuổi cái ảo ảnh phía trước, ta sẵn sàng chen chúc nhau giẫm đạp lên nhau, lừa lọc nhau, miễn cảm giác là mình được sống.
Với những đám đông hỗn độn, lễ hội là điển hình của tình trạng tự phát bản năng của đời sống người Việt.
Lễ hội hôm nay đang mất thiêng vì bao nhiêu phương diện khác nhau của đời sống đang bị hả hơi và nhiều khi người ta phải tự dối lòng để khỏi kêu thật to khi -mỗi ngày một chút - âm thầm nhận ra sự mất mát lớn lao đó.
Tại sao, hết hội này đến hội khác, chúng ta đua đả nhau để đi bằng được? Vì biết bao việc hàng ngày ta làm đâu có hiểu vì sao mà làm, đúng ra là chỉ nhắm mắt đưa chân theo nhau, yên tâm làm vì có bao nhiêu người đang làm như mình.
Tại sao đi hội cứ phải kèm theo mua bán ăn uống hưởng thụ chơi bời hưởng lạc?
Trong số báo Người đưa tin Unesco nói trên, một nhà nghiên cứu văn hóa đã lý giải:Lễ hội vừa hoan lạc vừa có tính chất lễ nghi. Lễ hội hòa giải những điều trái ngược. Lễ hội liên kết những gì mà dòng ngày tháng có xu hướng muốn tách rời - nghiêm trang và lêu lổng, tôn giáo và phàm tục, tàn phá và phục hồi. Trong khi đi tìm cái thiêng liêng, nhiều khi lễ hội chẳng khác gì một cuộc truy hoan phóng đãng.
Kinh doanh và lễ hội. Tại sao trong lúc làm những công việc mà người ta tin là cao cả thiêng liêng, cái lòng ham muốn xoay xỏa kiếm chác cứ đồng hành cùng con người và len vào làm nên một phần hồn cốt và cái vẻ hấp dẫn riêng của lễ hội?
Không khó khăn gì để trả lời câu hỏi này cả.
Khi thói quen mua bán đã là một thứ khí hậu của đời sống con người trên mảnh đất muôn đời nghèo khổ là đồng bằng Bắc bộ này, thì chúng ta sẽ mang nó vào mọi khu vực của đời sống.
Lễ hội cũng phải vụ lợi. Tránh đâu cho thoát?
Cái sự buôn thần bán thánh ở đây chỉ là tiếp tục các vụ mua quan bán chức mua bằng bán học vị ngoài đời. Đến các buổi tập thể dục buổi sáng ở các công viên cũng có chợ nữa là ở đây. Một tờ báo đã khái quát nay là thời toàn dân vào cầu cả nước đánh quả. Làm sao lễ hội có thể nằm ngoài cái xu hướng nói chung đó?
Nhiều khi chúng ta sống bằng cách khai thác những lầm lạc mê muội của người khác. Với một bộ phận cư dân các làng nghề, mỗi mùa lễ hội là một vụ làm ăn. Nhiều địa phương sở dĩ tha thiết với việc xin được cấp trên công nhận di tích địa phương mình vì có thể vất vả một hai tháng mà sống cả năm.
Người ta giẫm đạp lên đồng tiền. Người ta nhét tiền vào bất cứ chỗ nào được cho là thiêng liêng. Trong thái độ tự khinh rẻ thành quả lao động của mình, người ta đang chứng tỏ rằng với tư cách là điểm tận cùng của phàm tục, cái tinh thần hư vô theo nghĩa xấu nhất đã bắt đầu xuất hiện.
Những điệu múa đơn sơ và giống nhau. Những điệu nhạc pha tạp. Những chi tiết trang trí lố lăng và cẩu thả, những ngôi chùa tối tăm, xấu xí … Lễ hội tố cáo chúng ta có một cuộc sống nghèo nàn và để che giấu cái sự nghèo đó nhiều người sẵn sàng nhắc đi nhắc lại đến ngàn lần không chán rằng chúng ta rất giầu có rất hạnh phúc.
Tại sao chỗ nào cũng thấy kêu về những ban tổ chức chỉ có trình độ làng xã - chỉ lo sắp xếp một cái bãi trông xe và quản mấy trật tự viên cũng không xong -lại nhất quyết dành lấy cái quyền long trọng là đối thoại với tổ tiên với thần thánh?
Có gì lạ đâu, có bao nhiêu việc hàng ngày - nhỏ thì như tổ chức giao thông an toàn cấm hút thuốc lá, lớn lao hơn thì như kéo con người vào sự học hành tử tế, sản xuất làm ăn hơn là buôn gian bán lận - các vị tai to mặt lớn bằng mấy đâu có làm nổi?
8.000 là con số lễ hội diễn ra cùng lúc trên toàn quốc. Tính trung bình mỗi ngày có 20 lễ hội. Người đưa ra con số ấy bắt đầu gợi ý chúng một sự bùng nổ trên phạm vi số lượng giống như sự phát phì, sự làm hàng giả tràn lan trong cái hoạt động tâm linh này.
Lại nhớ từ xưa, mà nhất là thời chiến tranh liên miên như thuở Trịnh Nguyễn phân tranh Đàng Trong Đàng Ngoài, rất nhiều đền chùa mọc lên đến mức sau khi lên ngôi, Quang Trung đã có lệnh là phải soát xét lại để xóa bỏ các dâm từ.
Hoặc ngay từ thời đánh xong quân Minh, Lê Lợi cũng cho kiểm tra lại các chùa nếu chùa nào sư mô không đủ trình độ thì bắt phải hoàn tục.
Xô bồ và hỗn loạn đã bành trướng đến mức là phải gạn lọc, nhiều người gặp nhau trong ý nghĩ đó. Nhưng lễ hội làm sao có thể thực hiện cái việc mọi lĩnh vực khác bất lực.
Đã bắt đầu có ý kiến rằng phải hạn chế lễ hội.
Nhưng mùa xuân sang năm tôi đoán là sẽ gặp lại tất cả không khí lễ hội của mùa xuân này với những lời kêu ca phàn nàn những sự phiền trách và xấu hổ. Cuộc sống đang trên cái mạch của nó, chưa thấy dấu hiệu gì là nó có thể khác. Nhận thức của chúng ta chưa có chuyển biến. Ta luôn luôn tự hào chúng ta là văn hóa văn minh. Ta đang vùi đầu vào việc sùng bái quá khứ. Thì làm sao lễ hội có thể khác?
Đã in trong TBKTSG số ra 24/2/2011
Đưa lại trên blog này ngày 26-2-11 dưới nhan đề“Lễ hội: mô hình thu nhỏ của đời sống”
Chưa chắc đã là niềm tin thực sự!
Ngày đăng 21/3/2015
Những ngày ngồi ô-tô đi dọc đất nước Malasia, trong đó có việc đi qua nhiều miền quê, cánh du lịch bụi bọn tôi thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những nghĩa trang nho nhỏ. Không hề lộng lẫy xa hoa, mà ngược lại các nghĩa trang ấy rất đơn giản. Nếu so với mức sống của dân thì thật quá ư tiết kiệm, trong khi đó vẫn không làm mất đi vẻ nghiêm trang thành kính là cái không khí mà các nghĩa trang nhất thiết phải có.
Mấy năm trước, đi xe lửa từ Bắc Kinh về Nam Ninh, Trung Quốc, cũng nhớ là không có chỗ nào thấy nghĩa trang quá chói lọi nguy nga mà lại lộn xộn đến mức phải kinh ngạc... như của dân mình.
Sở dĩ chúng tôi để ý chuyện người, cái chính là vì chuyện xứ mình. Mấy năm nay nhiều nơi có phong trào đua nhau xây lăng cho tổ tiên thật to thật đẹp. Cũng đá hoa, đá mài. Cũng mái cong, mái uốn. Cũng họa tiết hoa văn chìm nổi. Và thường thì tất cả những yếu tố gọi là hiện đại ấy để cạnh nhau chỉ toát ra vẻ đắp điếm lòe loẹt mà lại chắp vá lủng củng, không những giữa ngôi mộ mới tân trang đó với các mộ chung quanh chẳng ăn nhập gì với nhau, mà cũng chẳng ăn nhập gì với tập quán ngàn đời của dân tộc.
Trong chiến tranh, Quảng Trị là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn. Nghe nói là tính ra số người nằm dưới đất Quảng Trị còn đông hơn dân số đang sinh sống. Có cái lạ là xứ Quảng Trị đó - một trong những tỉnh nghèo nhất trong cả nước - cũng chính là nơi có những lăng mộ được xây tốn kém tới cả trăm triệu.
Cái lối săn sóc tới người đã chết theo kiểu như trên thật ra đã có từ lâu.
Trên báo Ngày Nay số ra 12/9/1937, nhà văn Thạch Lam trong một bài báo ngắn, sau khi kể lại rằng một người Pháp rất khen tục thờ cúng ở ta, đã nói thêm “cái đó là tuỳ ông thôi, còn chúng tôi, chúng tôi thấy chúng tôi quá trọng người chết, quên hẳn mất việc sống (...) chen chúc nhau mà chết đói chứ không chịu đi đến những nơi khác để chen vai thích cánh với người ta”.
Tôi đã dẫn ra một lần đoạn văn này khi nói về thời gian, nay xin mời các bạn đọc lại một lần nữa.
Nương theo Thạch Lam, nhìn cảnh đua chen hôm nay, tôi nghĩ: khoe khoang rầm rộ như thế ắt là vì người sống chứ đâu có vì người chết. Một khi đã mang tính cách một sự tô vẽ giả tạo thì nhất thiết sẽ nẩy sinh phản cảm.
Vào những dịp tuần rằm mùng một, nhìn cảnh người đi cúng lễ ở các đền chùa, nhiều người tự hào cho rằng dân mình biết tôn trọng quá khứ và có niềm tin sâu nặng ở thế giới bên kia.
Với óc hoài nghi sẵn có, M - bạn tôi - buông một nhận xét lờ lững:
- Anh thử nghĩ xem người nghèo có mấy khi đi đền đi chùa vênh vang như thế? Mà toàn dân có của đấy chứ.
Tôi ngờ đến quá nửa trong đó là quan chức tham nhũng với lại cánh buôn gian bán lận, vừa làm vừa sợ tội nên chạy lễ đến đây để hối lộ thần thánh mong gỡ tội.
Tôi chưa biết cãi lại làm sao chỉ biết rằng so với mấy chục năm trước, mặc dầu đền chùa bây giờ đông nghịt nhưng không có được không khí thành kính của thời thịnh trị. Còn như để trả lời câu hỏi tại sao người ta cúng cáp ghê thế chắc chắn phải có một vài nhà nghiên cứu văn hóa làm những cuộc điều tra khoa học. Nếu xem xét nghiêm chỉnh, không chừng sự thật sẽ thuộc về anh bạn hay hoài nghi của tôi!
Có lần đọc báo thấy nói ở một vùng nọ trên Lạng Sơn những người có thế lực rào những khu đất để chờ bán cho người chết. Tức là một hình thức kinh doanh địa ốc xuất hiện, có điều ở đây mặt hàng kinh doanh là lăng mộ.
Tôi không oán những người kinh doanh đó. Thấy làm gì kiếm được tiền là người ta làm. Có người yêu cầu nên còn người phục vụ.Tôi muốn nghĩ đến những người sẽ đổ xô đến với các “chung cư” dành cho người chết để tỏ là mình biết sống. Phú quý sinh lễ nghĩa cái đó có một phần. Nhưng theo tôi cái chính ở đây là sự hoang vắng tiêu điều trong lòng người. Có thế thì đám người sẵn của kia mới lấy sự hơn người giả tạo làm niềm kiêu hãnh.
Tinh thần Diên Hồng nên được hiểu ra sao?
Ngày đăng 26/3/2015
Phòng họp chính của Quốc hội ngày nay gọi là Phòng Diên Hồng.
Chuyện này báo chí đã đưa từ cuối năm ngoái,(ví dụ http://vov.vn/blog/tan-trao-va-dien-hong-vao-nha-quoc-hoi-moi-360419.vov) nhưng mãi tới hôm qua 20/3/2015, xem tivi tôi mới biết.
Tiếp tục đọc lại các báo cũ, thấy chung quanh chuyện này, mọi người rất hỉ hả. Ta đang trở lại với truyền thống. Ta rất dân chủ.
Tôi nghĩ đơn giản là hay đấy. Nhưng không đủ nữa.
Theo Wikipedia Hội nghị Diên Hồng là hội nghị năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý, hỏi về chủ trương hòa hay chiến khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ 2.
Hội nghị này được tổ chức trước thềm điện Diên Hồng vào tháng chạp năm Giáp Thân 1284, hội nghị Diên Hồng không bàn đến chiến lược, chiến thuật quân sự mà chỉ bàn: nên đánh hay nên hoà.
Hội nghị Diên Hồng được xem như hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Các phụ lão có thể coi là những đại biểu của dân. Sau hội nghị, chính các phụ lão là những người truyền đạt lại chủ trương của chính quyền đến người dân.
Từ đó suy ra:
- Hội nghị Diên Hồng là dành để bàn về việc nước khi xã tắc lâm nguy, quân thù đe dọa sự tồn vong của quốc gia.
Ngày nay vấn đề căn bản là tổ chức lại xã hội, bàn chuyện phát triển.
Hai nhiệm vụ khác nhau, làm sao lấy tinh thần hôm qua gợi ý cho hôm nay được.
- Hội nghị Diên Hồng triệu tập toàn các cụ phụ lão, bởi trong các xã hội trung cổ, kinh nghiệm là quan trọng.
Còn trong xã hội hiện đại, chính là lớp trẻ - nhất là những trí thức trẻ có kiến thức về khoa học xã hội được học hành theo đúng chuẩn mực trở thành những chuyên gia ngang tầm quốc tế - mới đáng được hỏi ý kiến trước tiên.
- Nhiệm vụ của Hội nghị Diên Hồng theo như đoạn Wikipedia nói trên chỉ là bàn chuyện quyết tâm đánh giặc mà không bàn xem cần đánh giặc ra sao.
Họp về, việc các bô lão phải làm là truyền đạt lại quyết tâm của các nhà cầm quyền đến dân.
Thời nay, tinh thần của các cơ quan lập pháp như Quốc hội phải là bàn cụ thể về cách thức hành động và các bước đi của bộ máy quản lý xã hội trong công cuộc phát triển.
Sau đó cơ quan này còn tiếp tục theo dõi (hoặc qua cơ quan tư pháp mà theo dõi) xem các quyết nghị của họ được hành pháp thực hiện đến đâu.
Quốc hội ngày nay mà chỉ sống theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng thì sao gọi là đủ cho được?
Ta thường hay nói với nhau trong văn hóa quyền lực ở Việt Nam thời xưa đã có yếu tố dân chủ và lấy Hội nghị Diên Hồng ra làm ví dụ. Nhưng ý niệm dân chủ ấy xem ra là quá sơ lược và có vẻ như nó đã thuộc về quá khứ tức là thời phong kiến.
Nó không đáp ứng được nhu cầu thời đại ngày nay.
Không thể sử dụng một khái niệm theo nghĩa cũ trong hoàn cảnh hiện tại - trừ trường hợp trong thâm tâm chúng ta cũng hiểu rằng sau những năm tháng chiến tranh khủng khiếp, thật ra xã hội chúng ta cũng đang vận hành theo những quy luật của xã hội phong kiến, và việc chúng ta sử dụng khái niệm dân chủ theo nghĩa ấy là không thể khác.
Chung quy là ở trình độ sống của người Việt còn thấp
Ngày đăng 28/3/2015
Chia sẻ với ông quan điểm, rồi sẽ còn tiếp tục có những biểu hiện bạo lực mới với cấp độ ngày một cao. Đã có rất nhiều vụ bạo lực trong gia đình, học đường, xã hội… ghê gớm hơn, chỉ có điều không “lộ sáng” dưới hình thức dễ tác động tới công chúng. Tức là, sự xuất hiện của những clip mà cả xã hội đang xôn xao kia chỉ là sự bộc lộ một tình trạng mà chúng ta chưa ý thức đầy đủ?
Đúng như vậy. Các clip bạo lực học đường này so với nhiều câu chuyện được đề cập trên báo chí hàng ngày đã ăn thua gì. Tôi được biết, trong những vụ tai nạn xe ô tô, nhiều khi tài xế cố cán cho người bị nạn chết luôn, chấp nhận bị đi tù vài năm - so với việc chẳng may phải bồi thường và nuôi nạn nhân cả đời nếu họ bị tàn tật hình như vẫn “nhẹ nhàng” hơn.
Bạo lực chứng tỏ trình độ làm người thấp của cả cộng đồng. Chúng ta còn rất nhiều phấn đấu để vượt lên một trình độ sống khác.
Báo chí hàng ngày cho thấy các hình thức bạo lực cũng đang bùng phát ở nhiều xãhội khác, được cho là văn minh hơn. Vậy, nói bạo lực phản ánh trình độ sống thấp của dân Việt là một khái quát vội vã?
Cố nhiên, dân mình không độc quyền trong chuyện này. Bạo lực đang hoành hành ở nhiều xã hội. Có điều, theo tôi hiểu, ta thuộc về khu vực của những nước bạo lực không chỉ phổ biến mà còn bị đẩy lên quá đáng, nhiều khi phải nói là dã man.
Bất cứ ở đâu phát triển bạo lực tức là nơi đó trình độ sống còn thấp. Ta cũng là một minh chứng rõ rệt cho quy luật đó. Tại sao tôi nói vậy?
- Trở lai thái độ bạo lực đối với thiên nhiên đã nói lần trước. Sở dĩ loại bạo lực này còn đến ngày nay, xét sâu xa ra vì ta chưa hiểu sâu săc mối quan hệ con người với thiên nhiên. Trong công cuộc kiếm sống, tư duy hái lượm còn đang chi phối. Tư duy hái lượm nghĩa là chỉ biết ăn sẵn, lo tước đoạt thiên nhiên chứ không biết làm giầu cho thiên nhiên. Tước doạt không kịp thỏa mãn nhu cầu thì làm bậy, phá hại. Ở các xã hội phát triển hơn, lối kiếm sống này -lối tư duy này - bị vượt qua từ lâu.
- Bạo lực giữa người với người nảy sinh và tồn tại dai dẳng khi ngôn ngữ giao tiếp bất lực người ta không thể dùng lời nói để thuyết phục nhau, chia sẻ ý kiến với nhau, và quan trọng nhất là phân chia quyền lợi với nhau, đành dùng lối “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” vậy. Chẳng nhẽ sự thiếu vắng một ngôn ngữ chung hiệu quả (ngôn ngữ theo nghĩa một công cụ giao tiếp) chẳng phải là dấu hiệu của trình độ sống còn thấp hay sao?
Nằm sâu trong văn hóa Việt
Ông đặt vấn đề suy nghĩ về gốc rễ của bạo lực trong đời sống. Vậy thì, nhìn xa hơn những biểu hiện mà ta đã nói đến, thì mầm mống của bạo lực trong đời sống Việt còn thấy ở đâu?
Ở ngay trong di sản văn hoá của cộng đồng. Ngay trong ca dao, tục ngữ… có những câu báo động về cách cư xử của người xưa. Nhiều câu tôi nghe từ lâu “Cả vú lấp miệng em”, “Lấy thịt đè người”, “Già đòn non nhẽ”… Gần đây trong những dịp đọc linh tinh, tôi lại nhặt thêm được một câu “Cả bè to hơn văn tự”. Câu này đại khái có nghĩa thế mạnh vật chất là nhất, vượt lên trên mọi cam kết, mọi lẽ phải, mọi luật pháp.
Cổ tích của chúng ta cũng có không ít chuyện cho thấy ẩn ức bạo lực của con người. Trong Tấm Cám, cô Tấm trả thù mẹ con nhà Cám rất tàn bạo. Trong ngụ ngôn Trí khôn của ta đây, con người lừa trói con hổ, châm lửa đốt… chỉ để khẳng định bản thân.
Đó là những biểu hiện tâm lý của thời kỳ xa xưa, có thể hiểu là thời kỳ chưa văn minh. Trên hành trình phát triển của dân tộc, những yếu tố gì khác nuôi dưỡng mầm mống bạo lực này, thưa ông?
Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước ta trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Hoàn cảnh chiến tranh khiến người ta coi nhẹ cái chết, coi nhẹ bạo lực. Đã đổ máu nhiều tự nhiên người ta sinh ra coi thường sự đổ máu.
Đi qua chiến tranh, chúng ta tưởng rằng mình sẽ khác, nhưng thực tế lại bước vào cuộc cạnh tranh khác. Những tiền đề bạo lực ấy hàng ngày đang được dung dưỡng, tha thứ.
Ngoài ra, tôi cho một trong những yếu tố quan trọng là người Việt chúng ta không có một thứ tôn giáo đủ mạnh, đủ để làm cho họ sợ mà tránh phạm điều ác. Cảm giác hướng thượng, cảm giác về một cuộc sống khác trong mỗi người thường rất mong manh. Dân ta đâu có tin nhiều thần thánh! Người ta nô nức đi chùa, đi đền, không gì khác là để hối lộ thần thánh, mặc cả với thần thánh. Còn lòng nhân từ mà tôn giáo nào cũng khuyến khích lại không bắt rễ sâu sắc trong ta.
Làm sao để có hiệu quả
Lần trước chúng ta đã ghi nhận tình trạng: Sau mỗi vụ bạo lực, bạo hành những cơn xúc động của dư luận bùng lên để rồi lại xẹp xuống cho đến khi lại có những vụ việc tiếp theo…Ông có thể nói thêm về tình trạng đó.
Trong cách phản ứng hiện nay thấy thể hiện một khía cạnh tính cách người Việt. Chúng ta thường nông nổi đồng bóng mà ít chịu nghĩ sâu một điều gì đó. Không riêng gì với bạo lực, cách ứng xử ấy đã bộc lộ trong nhiều trường hợp khác. Chúng ta cũng đã từng kêu ầm lên khi có hiện tượng các cô gái đi lấy chồng Hàn Quốc… Rồi có làm gì thêm đâu.
Hơn thế nữa tôi cảm thấy một xu hướng cư xử hiện nay là chúng ta thích dễ dãi với nhau bỏ qua cho nhau nhiều điều lẽ ra không thể bỏ qua. Ta không biết ngăn chặn cái ác từ lúc nó mới manh nha. Cái gốc là ta không đặt ra những yêu cầu cao với những người chung quanh, với người thân của ta, với con em ta nữa.
Có người nói xã hội đã nhờn thuốc với những lời cảnh báo, hô hào? Làm sao để xã hội có thể phản ứng một cách hiệu quả?
Vấn đề không phải nhờn thuốc, mà là chưa tìm được thuốc hiệu nghiệm.
Còn như làm sao để tìm ra thuốc hiệu nghiệm? Trước tiên phải gọi đúng bệnh. Tôi cho rằng trước khi đặt vấn đề phải giáo dục nhau thế này, phải lên án nhau thế kia…, ta phải nghiên cứu hiện tượng ở bề sâu và bề rộng của nó, từ đó nhận thức cho được thực chất của hiện tượng. Chỗ này liên quan đến quan niệm sâu xa của mỗi người về kiếp nhân sinh.
Tôi hay đọc lại Khổng Tử, và may mắn là tìm ra được một ông Khổng Tử có liên quan đến chuyện chúng ta đang bàn. Khổng Tử của tôi hôm nay trước tiên là một nhà nhân học vĩ đại, với nghĩa ông rất hiểu về tiềm năng hư hỏng của con người. Luôn luôn ông đặt vấn đề con người phải vượt lên trên bản năng của mình, để tốt hơn, sống cho ra người hơn.
Trong khi Mạnh Tử đề ra thuyết tính thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện) thì với Khổng Tử con người có cả thiện lẫn ác. Theo nghĩa này, Khổng Tử là một triết gia rất hiện đại.
Trong văn học Việt Nam thế kỷ XX cũng có một người thấm nhuần tinh thần trên của Khổng Tử. Nam Cao có một thiên truyện mang tên Cái chết của con Mực. Nhân vật trong truyện là một thanh niên đi học trên tỉnh trở về, nhân đó, gia đình định làm thịt con chó để mừng. Chẳng may làm sổng mất con chó còm đó, anh ta sinh ra vừa thẹn thùng vừa bực bội. Đây là nguyên văn mấy câu Nam Cao đã viết “Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người … Đã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay”
Tôi nghĩ đây là một ít trường hợp hiếm hoi trong đó một nhà văn Việt Nam miêu tả cái thích thú của con người khi tự tay thi hành chém giết. Nhân vật của Nam Cao về sau hối hận lắm, thấy cảnh mấy đứa em túm được con chó, chàng nghẹn ngào nén khóc. Bằng cách đó bài học nhân ái mà Nam Cao muốn nói đến với chúng ta một cách cảm động hơn.
Còn chúng ta hôm nay thì quan niệm về con người quá đơn giản. Trong cách giáo dục, chúng ta luôn tự hào là nhân dân ta sống rất nhân hậu.Tôi không cho là dối trá, nhưng chúng ta ảo tưởng rằng mình nhân hậu. Có nhiều cái chúng ta làm mà không nghĩ rằng đó là bạo lực.
Bây giờ đặt vấn đề chữa trị lâu dài, theo ông, phải bắt đầu từ đâu?
Phải đưa các hiện tượng mà ta gọi là tiêu cực hiện nay thành một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc.
Như nhiều người nước ngoài đã nhận xét, thanh niên ta hiện nay khá về khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội. Các kiến thức có tính nhân văn ở các em rất đơn giản. Vì sao? Vì chính người lớn chúng ta cũng có chịu tìm hiểu chính mình đâu, lại càng không chịu tìm hiểu về xã hội mình đang sống. Ví dụ ở các nước, gặp cảnh như ta, chắc chắn người ta phải có những công trình nghiên cứu tầm cỡ về tâm lý thời hậu chiến trong đó có xã hội học bạo lực. Với thanh thiếu niên, phải có những chuyên đề đi sâu vào bạo lực học đường. Ở ta chẳng ai chịu chi tiền cho cán bộ khoa học làm; bất đắc dĩ phải làm thì chỉ nhăm nhăm minh họa cho những ảo tưởng có sẵn; với những công trình nghiên cứu gọi đúng thực chất xã hội thì mang đút ngăn kéo, không cho phổ biến đến đông đảo công chúng. Thế sao gọi là nghiêm túc, là thực sự cầu thị?
Trở lại với vấn đề bạo lực trong nhà trường.
Quốc văn giáo khoa thư (do nhóm nhà giáo đứng đầu là các ông Trần Trọng Kim biên soạn), là sách được dạy chính thức trong các trường học trước năm 1945. Trong loạt bài nói về tính xấu của con người có hai bài đáng lưu ý.. Một bài tả cảnh một em bé - mà lại là bé gái- chơi với mèo song lại giở thói ác, kéo đuôi mèo thật mạnh khiến nó quay lại cào cho một cái thật đau. Bài kia tả một em bé độc ác chơi với ai chỉ tìm cách hại người ta. Cậu ta từng lấy bút của bạn ngồi cạnh đâm cho quằn đi, lấy đó làm sung sướng.
Lối soạn sách như thế này chắc đã bị nhiều nhà giáo dục của ta phản đối. Nhưng tôi cho rằng cách làm của người xưa đúng hơn. Bên cạnh việc giáo dục lòng nhân từ, chúng ta phải đưa vào chương trình phổ thông những bài học như thế này, để ngăn đe…
Nếu cần phải giảng dạy những ca dao tục ngữ truyện cười truyện cổ tích…có cài chen yếu tố bạo lực như trên vừa nói, không nên lảng tránh mà cần chỉ rõ đây là những di lụy của thời xưa, ngày nay ta biết để tránh.
Sở dĩ tôi có đề nghị như trên vì thấy gần đây, sau những cảnh bạo lực trong học sinh, người ta chỉ nói tới vai trò của thầy giáo cô giáo. Phải luôn luôn quan tâm tới các em… Phải biết ngăn chặn các em… Tất cả những cái đó là đúng nhưng chưa đủ. Toàn ngành giáo dục phải vào cuộc với nghĩa cả những người định ra nội dung chương trình giảng dạy, cả những người soạn sách giáo khoa cũng phải có mặt.
Trong công việc này, vai trò của truyền thông và các hoạt động nghệ thuật như thế nào, theo ông?
Truyền thông hiện nay cũng phải trở thành một thứ trường học.Cần lôi cuốn các nhà nghiên cứu cơ bản tham gia phát biểu về các vấn đề thời sự. Rộng hơn từng hiện tượng lẻ, cần khai thác các ngành xã hội học trong việc tìm hiểu con người Việt, xã hội Việt. Vấn đề không phải nói cái tốt hay cái xấu, Mà là nói thực chất. Nói đúng thực chất thì tự nhiên có người nghe.
Trong việc chữa trị thói hư tật xấu, chúng ta phải tìm tới một cách làm tổng hợp huy động các phương tiện khác nhau. Cần có nhiều liều thuốc khác nhau. Không chỉ là thuốc bổ, mà cả kháng sinh.
Với tư cách một người viết văn, điều cuối cùng tôi muốn nói là trước tình trạng đạo đức xã hội băng hoại như hiện nay, những người làm công việc văn chương tinh thần cũng nên tự vấn lương tâm của mình, nên nghĩ rằng mình phải có trách nhiệm. Vì làm giáo dục một cách mòn sáo thất bại, nghệ thuật đang nghiêng về phía giải trí “mua vui” cho thiên hạ, tuy như ta thấy, chiều nịnh công chúng rút cục là làm hại công chúng.
Ngày đăng 31/3/2015
Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ.
Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao.
Song, nếu được so sánh, tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội.
Đau đớn không phải do “trời xanh” hay “con tạo” gây ra, mà đơn giản do cái xu thế chi phối cả xã hội lôi cuốn người ta, đau khổ do người nọ gây ra cho người kia, hoặc suy đến cùng là do chính mỗi người tự chuốc lấy. Cuộc sống trần trần trong ánh ngày đấy mà như trong cơn mê, và thỉnh thoảng người ta tỉnh ra thì cũng lập tức biết rằng tất cả đã muộn, tình thế vô phương cứu chữa.
Trong mục Trà dư tửu hậu trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 10/2008, tôi đã kể về một cô giáo trẻ chạy trốn khỏi nghề dạy học sau khi chứng kiến mấy học trò trong lớp xé ngay cái bài cô thức đêm để chấm và vừa trả lại cho chúng.
Cô không đương nổi nỗi đau mà nhiều thầy giáo có lương tâm bây giờ phải gánh chịu: không có được lớp học trò tử tế để có thể yêu thương tin tưởng, cống hiến hết mình cho nghề.
Những nỗi đau tương tự như thế diễn ra hàng ngày đến mức người ta đâm ra dạn dày không muốn nghĩ tới.
Lớp người năm nay sáu mươi, bảy mươi tuổi chúng tôi thỉnh thoảng lại có những buổi họp lớp.
Một kết luận khiến nhiều người sững sờ: kẻ thành công trong đường đời (giàu hơn và có địa vị xã hội cao hơn) nhiều khi không phải là người giỏi giang mà đơn giản chỉ là những kẻ liều lĩnh hơn, dám làm... láo hơn.
Trở thành công chức nhà nước, chúng tôi thèm được làm việc trong những cơ quan mà người đứng đầu thạo việc hơn mình, để rồi khốn khổ thay, đó là ao ước không mấy người đạt được.
Nhưng thôi, những nỗi đau đó xem ra còn có vẻ “sang trọng” quá.
Có nhiều nỗi đau cụ thể hơn, đời thường hơn. Chẳng hạn bạn hãy tìm đến một gia đình nào đó có đứa con nghiện hút.
Bây giờ cuộc mưu sinh quá lôi cuốn, đến mức nhiều người nhắm mắt bỏ qua, con hư mặc kệ, hàng ngày nhẫn nại mở tủ cung cấp cho con tiền bạc tiêu xài. Bản thân thì lấy sự chi tiêu tốn kém cho con làm cái cớ để bước sâu thêm vào vòng tham nhũng hoặc buôn gian bán lận, cốt bòn rút được của cải của thiên hạ và lấy đó làm điều hãnh diện.
Song, bên cạnh những người mê muội vẫn còn những người tỉnh táo hơn và tấn bi kịch tinh thần của họ bắt đầu từ sự tỉnh táo đó.
Sau những cố gắng tuyệt vọng để cứu vớt đứa con hư và tìm cách đưa nó về con đường chính đáng, nhiều gia đình rơi vào bất lực và tuyệt vọng.
Đến nước ấy, người ta chỉ có cách từ con, rồi lo chạy chọt để tống con vào trại cai nghiện và thầm mong mỏi một điều ngược đời: mong cho đứa con rứt ruột của mình chết đi càng sớm càng tốt.
Vâng, đúng thế vậy!
Hãy hình dung cái cảnh những bậc cha mẹ mặt lạnh như tiền đến đón đứa con mang đi mai táng, xem như thoát được một gánh nặng và một nỗi nhục nhã. Chẳng phải đó là tình cảnh phi nhân văn nhân đạo, tức trái với tính bản thiện của con người, những tình thế xưa nay chưa từng có mà chỉ ngày nay mới có?
Hàng ngày báo chí loan tin bao nhiêu kiểu giết người mà tôi không muốn kể ra ở đây vì thấy quá kinh dị.
Chỉ nói một ca nhẹ hơn, một cháu bé trong cơn điên thèm chơi game, bóp cổ bà già hàng xóm lấy tiền.
Tôi ngờ là trong số những người thân của cháu nhỏ này, một lúc nào đó, trong đầu óc sẽ quẩn lên câu hỏi, con mình hay cháu mình có còn là người nữa không. Nỗi đau của những người đó - khi mơ hồ dự đoán tương lai của đứa trẻ - chắc chắn là một nỗi đau vô bờ.
Một người mẹ có hai con có mặt trong chiến tranh.
Đứa lớn không trở về, nhưng tấm bằng liệt sĩ mang lại cho bà sự kính trọng của họ hàng và xóm giềng.
Đứa em thì ngược lại, trở về với một tâm hồn lạnh giá.
Gã tự dành cho mình cái quyền hư hỏng phá phách làm càn để bù lại bao nhiêu gian khổ đã hủy hoại gã trong những năm tuổi trẻ. Không nghiện hút, chỉ cần rượu chè, cờ bạc đề đóm thôi, gã cũng đã thành một hiện thân của bệ rạc và tha hóa.
Trong cơn buồn bã bất lực, có lúc bà mẹ chép miệng: “Thà nó cứ chết đi như thằng anh, tôi nghĩ lại thấy đỡ vô phúc hơn là quay trở về hành hạ tôi như thế này”!
Tôi đã nói tới cái trường hợp nghịch lý này trong một bài khác.
Nhưng như người ta hay nói, nhắc lại cả ngàn lần cũng không thừa.
Trong cái câu than thở của bà mẹ, tôi nghe ra một tiếng khóc thống thiết.
Hạnh phúc cuối cùng của con người xưa nay là tình yêu cuộc sống, thấy rằng cuộc sống có ý nghĩa. Chỉ nhờ có được điều hy vọng tự nhiên đó mà con người vượt lên được bao nhiêu thách thức gặp phải trên đường đời.
Nay cái ý nghĩa lớn lao đó nhiều người không tìm thấy.
Tương lai trở nên vô vọng.
Cuộc sống chỉ còn chuồi đi theo thói quen.
Tự mình chứng kiến sự hư hỏng của mình và những người thân của mình - hỏi có nỗi đau khổ nào hơn, và về mặt này, những lớp người tiền bối làm sao có thể so sánh với nhiều người chúng tôi hôm nay được!
1/
Trên đường Sài Gòn, một lần, tôi được nghe một người xe ôm kể rằng ông ta vừa về hưu, so với tuổi là hơi sớm.
Có hai điểm làm cho ông chán:
Giám đốc là người quá dốt, chỉ biết hô hào chung chung, không hiểu công việc chuyên môn.
Trong xưởng, người chăm với người lười cũng như nhau, cuối năm ai cũng tiên tiến hết.
Tôi đoán chính ra ông là một người thợ giỏi.
Tiếp tục câu chuyện về nỗi đau của con người thời nay, tôi nghĩ rằng cái đau của ông thợ nói trên là ở chỗ phải sống trong một xưởng máy mà giỏi kém như nhau, vàng thau lẫn lộn.
Nhiều cuốn sách tôi mua là tập hợp hỗ lốn những bài báo hay lẫn với những bài dở, mỗi bài một kiểu đến mức có lần mua về tôi phải xé hết những bài nhảm nhí thì mới yên tâm đọc tiếp các bài giá trị trong tập sách.
Các tuyển tập thơ thường sắp xếp một cách vô cảm, nghĩa là theo abc tên tác giả.
Và nếu nhìn vào chất lượng thì người ta thấy nhiều bài chỉ được chọn là do vai vế tác giả của nó thế nọ, thế kia chứ không phải do chất lượng.
Từ hồi đi học, tôi đã cảm thấy, người học giỏi thì hay bị làm phiền. Các lớp tiểu học bây giờ có lối đưa cả những học sinh cá biệt vào, cá biệt theo nghĩa học kém, vì thế làm hỏng tiến bộ chung của cả lớp.
2/
Một khía cạnh khác của việc san bằng con người đang được kéo dài là thù ghét những phần tử ưu tú.
Xã hội chỉ có thể đi lên nếu những người ưu tú có vị trí xứng đáng làm mũi nhọn kéo cả cộng đồng đi theo. Nhưng ở Việt Nam nhiều khi có tình trạng ngược lại.
Cái tội của cải cách ruộng đất không phải chỉ là khuyến khích người ta tố điêu, làm bậy. Mà cái chính còn là diệt những người giàu có, cho rằng những người giàu có là những người hư hỏng, gian ác.
Thật ra thì trừ một số cá biệt, còn phần lớn những người giàu có này, chính là những người biết tính toán công việc và giỏi sử dụng nhân công dưới quyền.
Cải cách ruộng đất qua đi, nhưng cách làm cách nghĩ của nó còn mãi với xã hội
Còn chiến tranh thì lại làm công việc san bằng con người giống như một cái máy gạt khổng lồ.
Sẵn lòng tự trọng, những người ưu tú thường xuất hiện ở hàng đầu và đã chết. Tới ngày chiến thắng, chỉ còn lại những người kế theo tiếp nhận chiến công của đám ưu tú vừa bị hy sinh, tận hưởng vinh quang và lợi lộc.
Thứ mất mát thường bị người ta lờ đi này thật ra không gì bù đắp nổi.
Sau những cuộc chiến tranh kéo dài quá sức chịu đựng của con người, các xã hội hậu chiến thường lụn bại một thời gian, một phần cũng vì lý do ấy.
Ngày đăng 12/4/2015
Đền chùa ở các tỉnh xa thường được đặt trong một cảnh quan rộng rãi thoáng đãng nên đi dạo ở ngoài khuôn viên cũng đã là một niềm vui.
Chùa Côn Sơn mấy năm gần đây lại được tu sửa nên khá khang trang.
Chỉ hiềm một nỗi ra về tôi cứ thấy thương cho mấy cây đại vốn rất điển hình cho các chùa chiền phương Đông được trồng ngoài sân.
Còn nhớ trong những lần đến thăm một số thắng cảnh ở Trung Quốc thấy các cây cổ thụ loại quý đều có gắn một tấm biển ghi rõ cây đã bao nhiêu tuổi.
Ngay ở Bách Thảo Hà Nội trước năm 1954, nhiều cây cũng có biển ghi tính danh cùng niên đại đính ngay vào thân.
Còn trước mấy cây đại ở Côn Sơn, bọn tôi chỉ có cách đứng nhìn rồi đoán già đoán non về tuổi của chúng.
Khổ một nỗi nữa là cảnh chèn ép diễn ra trước mắt.
Không hiểu từ đâu lạc vào mà mấy thân si tầm thường có mặt ngay giữa sân chùa. Lá si xanh tốt, rễ si khô cứng lùm loà tranh cướp cả không gian sinh sống, thành thử mấy cây đại kia trở nên côi cút lạc lõng ngay trên mảnh đất vốn dành cho chúng.
Từ Côn Sơn sang đền Kiếp Bạc không xa, và ở đây chúng tôi lại xót xa vì một chuyện khác.
Vào nhiều đền chùa bây giờ người ta không khỏi bực mình vì những bức hoành phi câu đối được tu sửa.
Màu sắc không phải thứ màu nền nã vẫn thấy ở các đền chùa xưa nay.
Mà màu mới tô, khi thì quá xỉn, khi quá loè loẹt, không hợp với khung cảnh chung. Chữ viết lại xấu, chắc không tìm đâu ra các cụ thạo chữ Hán nên cứ viết đại cho xong, cốt có chữ vuông là được.
Đền Kiếp Bạc cũng không ra ngoài thông lệ đó.
Đến như đôi voi đá đặt ở sân đền thì lại càng khiến người ta ngao ngán.
Chúng trắng phếch như vừa được làm vội. Và thô thiển như một thứ hàng tầm tầm ta quen gọi là hàng chợ. Chắc do ai đó mới đặt để công đức cho đền.
Di tích là của mọi người, ai cúng vào cái gì mà chẳng thấy quý ? Song, trí nhớ tôi mách bảo một cách nghĩ khác: xưa, phải thứ chữ như thế nào mới được mang khắc ở đền chùa, cũng như đồ cung tiến nói chung phải tinh xảo sang trọng như thế nào mới được phép đặt vào những nơi tôn nghiêm.
Chỉ có tiền và mong muốn đóng góp chưa đủ.
Người xưa hay gọi những nhà có của mà kém về khiếu thẩm mỹ là mấy anh trọc phú đâu có phải oan? Họ không có quyền để lại dấu vết chỉ cốt để khoe khoang ở những di tích văn hóa.
Ta hay tự hào nay là lúc việc thăm thú di sản đã trở thành một thuần phong mỹ tục.
Song sau những chuyến đi, tôi cứ thấy ấm ức thế nào.
Hồi các di tích đang trong tình trạng tiêu điều còn thấy dễ chịu một phần, trong bụng nghĩ rồi sẽ có lúc mọi người chung lưng làm cho nó đẹp hơn, thiêng liêng hơn, nhiều ý nghĩa hơn.
Giờ đây hoạt động trùng tu diễn ra khắp nơi nhưng hình như bàn tay của con người chỉ còn đồng nghĩa với một sự can thiệp thô lỗ hoặc những đắp điếm giả tạo.
Nhiều người cho rằng quản lý một danh lam thắng cảnh chẳng có gì khó, ai mà chẳng biết làm, và làm thế nào cũng được, trong khi thực ra công việc ở đây đòi hỏi người ta phải có nghiệp vụ riêng và, đằng sau cái chuyện nghiệp vụ đó, là sự hiểu biết kỹ càng về lịch sử cũng như một quan niệm chắc chắn về văn hoá. Càng đi càng thấy đấy là cái chúng ta đang thiếu và bởi nó- sự thiếu văn hóa ấy -là quá phổ biến nên lại chỉ còn có cách tự nhủ rằng ao ước mà làm gì cho thêm tội nghiệp!
Riêng trường hợp mấy cây đại, cùng đôi voi đá còn khiến cho tôi vân vi ra nhiều chuyện khác.
Mang hai hiện tượng đặt cạnh nhau, người ta thấy chẳng qua chúng là hai biểu hiện của cùng một quan niệm nó cũng là cách xử sự phổ biến hiện nay:
- Không tách nổi cái ưu tú khỏi cái tạp nhạp làng nhàng.
- Với cái thực có giá trị thì rẻ rúng chẳng coi là gì, còn với những cái tầm thường thì lại quá rộng rãi, để chúng tha hồ lấn lướt và leo lên cả những chỗ chúng không xứng đáng.
Ở đâu thì cách xử sự đó cũng là dở, song trong việc quản lý di sản nó càng tỏ ra bất cập. Bởi sau những tuỳ tiện như vậy, bao nhiêu thiện chí của người ta dù có cao vời đến đâu chăng nữa rồi cũng chỉ mang lại một hiệu quả... lùn tịt.
Đã in trong tập phiếm luận "Nhân nào quả ấy"
T.B. Đoạn văn này tôi viết từ trước 2000, nên những chi tiết có thể đã lạc hậu. Nhưng tôi tin là tinh thần của bài vẫn đúng, nên đưa lại lên FB. Hy vọng rằng chung quanh vấn đề này, các bạn có thêm nhiều phát hiện mới.
Hai cuốn sách viết về các vấn đề trừu tượng mà lại dành cho bạn đọc nhỏ tuổi
Ngày đăng 14/4/2015
Nhân đi mua sách cho hai cháu nội, tôi thấy có hai cuốn có những cái tên khá dài, nội dung thì hình như quá cao, quá trừu tượng
- Cuốn sách về những sự trái ngược mang tính triết học
- Những câu hỏi hóc búa về đức tin
Cuốn trên - liên quan nhiều đến triết học - vốn của nhà xuất bản Nathan bên Pháp, và cuốn dưới -liên quan tới các vấn đề tôn giáo - do bộ phận làm sách thiếu nhi của tập đoàn Macmillan bên Anh xuất bản.
Bản quyền bản tiếng Việt của cả hai cuốn trên đều thuộc nhà Kim Đồng.
Hôm nay, tôi mới liếc qua được cuốn thứ nhất.
Chữ nghĩa viết ra không nhiều, nhưng nhìn đầu đề các phần đã thấy đặc sệt chất triết học:
Nhất thể và phức thể
Hữu hạn và vô hạn
...
Thời gian và vĩnh cửu
Tôi và người khác
Đây là cái câu coi như đặt vấn đề về sự cần thiết của cuốn sách
"Tại sao phải suy nghĩ về những điều trái ngược?"
"Bởi thiếu những điều trái ngược, chúng ta sẽ không thể tư duy?"
Câu mở đầu cho đoạn 3 chương Tôi/ người khác cũng có cái ý đầy thách thức:
"Mỗi chúng ta đều là duy nhất với bản sắc riêng cần được công nhận và tôn trọng"
Trong chương Lý trí/ đam mê có một câu hỏi.
"Ta nên làm theo lý trí hay theo đam mê?"
Hình ảnh dùng làm minh họa trong sách thì được hình thành và liên kết lại theo những quy luật chi phối ngôn ngữ tạo hình trong nghệ thuật hiện đại. Có thể nhìn qua đã hiểu, xem đi xem lại nhiều lần càng hiểu và càng thích thú hơn.
Tôi không chắc là đám cháu trên dưới mười tuổi của tôi có thể thích được hai cuốn này.
Nhưng tôi cứ mua về để một là tự mình học hỏi thêm, và hai là dần dần bằng cách nào đó, trong những dịp thuận lợi cho các cháu làm quen.
Biết đâu - trong muôn một - các cháu sẽ tò mò đọc tiếp nghĩ tiếp.
Khi lo làm sách hướng tới một tầng lớp bạn đọc ở lứa tuổi nào đó, người ta thường chỉ tự hạn chế trong cái đối tượng đông đảo tức bộ phận gọi là trung bình. Không ai nhớ rằng còn có một lớp bạn đọc ưu tú vượt lên trên trình độ thông thường, và xã hội cần phải tính tới việc phục vụ họ.
Nhớ những khi đọc loại sách tiểu sử các vĩ nhân - chẳng hạn cuốn Napoléon Bonaparte của Tarle - tôi thấy người ta đều viết rằng từ lúc học tiểu học các nhân vật này đã có dịp đọc các loại sách kinh điển của thế giới, kể cả các loại khoa học xã hội.
Lẽ nào chúng ta chỉ chấp nhận rằng trong tương lai người Việt sẽ chẳng có ai vượt lên trên trình độ trung bình thông thường?
Và NẾU tin rằng chỉ khi có một bộ phận ưu tú xuất hiện - người xưa gọi là lớp trí thức thượng lưu - xã hội mới tiến lên được.
THÌ hãy tự hỏi ta đã làm gì để chuẩn bị cho những phần tử ưu tú đó?
Trong hoàn cảnh hiện nay, không thể trông chờ vào nền giáo dục do nhà nước đảm nhiệm.
Tùy tâm tùy sức, lớp người lớn tuổi chúng ta phải lo trở thành những nhà giáo dục của con em mình.
Không chừng nhờ thế, một cách ngẫu nhiên, ta lại giúp đỡ cho trẻ ở cả các gia đình khác.
Tại sao tôi lại đề nghị các bậc phụ huynh hướng dẫn con em mình đọc cả những sách triết học?
Ngày đăng 16/4/2015
Vào khoảng 1975 về trước, lực lượng sáng tác của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội (nơi tôi công tác lúc trẻ) chủ yếu là các cây bút sinh khoảng trước sau 1930, mới trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, mọi người vừa viết vừa lo nhận thức về nghề của mình.
Chính từ những buổi trò chuyện với các nhà văn hết lòng với nghề như Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, tôi hiểu về nghề cầm bút ở ta nói chung và trường hợp của lớp người cầm bút ở Hà Nội sau 1945 nói riêng.
Việc đó đã giúp tôi hiểu đươc nghề văn và trước hết là viết được bài về nghề, trong đó có bài báo mang tên "Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp" đã đưa vào tập "Phê bình & tiểu luận" của tôi và đưa trên blog của tôi ở địa chỉ http://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/10/cong-viec-viet-van-nhin-duoi-goc-o-nghe.html
Trong bài ấy tôi đã ghi lại một câu tôi không rõ lúc đầu ai nói ra, song tất cả đều thấy đúng:
"Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị luận, người lớn làm văn miêu tả".
Lý do khiến chúng tôi rút ra một nhận thức đau xót như thế, chính là một sự thực: người viết văn ở Việt Nam không được khuyến khích để tìm tòi về mặt tư tưởng. Cấp trên chỉ khuyến khích chúng tôi viết sao cho mùi mẫn, sinh động, còn về tư tưởng, các nhân vật của chúng tôi và trước hết là bản thân chúng tôi, không cần tìm tòi gì cả; chỉ cần minh họa cho các tư tưởng đã được giáo huấn là đủ.
Nhưng chúng tôi không lấy đó làm buồn quá lâu.
Vì chỉ cần nhìn ra chung quanh thì lĩnh vực nào cũng thế. Công nông cơ bản hay trí thức lao động trí óc cũng thế, học tắt trong nước hay đi học nước ngoài cũng thế, trong suốt cuộc đời làm dân hoặc làm cán bộ của mình, chúng tôi chỉ lo quán xuyến các tư tưởng dội từ trên xuống. Cái chữ mà người ta hay dùng trong trường hợp này là SỰ BAO CẤP VỀ TƯ TƯỞNG.
Ở các nước khác, học sinh những năm cuối tú tài đã được học triết học với tất cả những nội dung mà triết học thời nay quan niệm. Còn ở ta thì tuy cũng có được học cái gọi là triết học đấy, nhưng chỉ rất sơ sài, phần chủ yếu cũng là Mác- Lê, mà lại là Mác Lê theo cách hiểu riêng ở Việt Nam hôm nay.
Đến bây giờ thì chắc bạn đọc đã hiểu tại sao tôi lại hết sức sung sướng khi nhận ra và vồ vập tìm mua mấy cuốn:
- Cuốn sách về những sự trái ngược mang tính triết học
- Những câu hỏi hóc búa về đức tin nói trong bài trước.
Tôi cũng không ngại ngần tìm cách tuyên truyền để các bạn khác tìm mua về bằng được, trước tiên là cho mình đọc và sau đó là tìm cách giúp con em trong gia đình mình cùng đọc.
Ở tuổi trên 70, điều tôi tha thiết nhất trong lúc này là muốn các bạn đọc thân mến của mình cùng chia sẻ cái cảm tưởng là chúng ta không thể sống mãi trong cảnh dốt nát hư hỏng. Có thể nguyên nhân không phải tại ta, chúng ta bị xã hội này đẩy tới. Nhưng khi đã biết rằng mình đang trong tình trạng bi đát thế nào, thì sự vượt lên lại là bắt buộc. Chúng ta phải hiểu cho được cái kiếp làm người của mình và mong rằng con em mình không phải sống như mình và có khi còn tồi tệ hơn mình nữa.
Một lần nữa, tôi muốn dùng lại cái câu mà nhiều người đã nói trong trường hợp này: “Phải tự cứu lấy mình”.
Bằng sự học, và ở ta lúc này, trước tiên là tự học, cố nhiên.
PHỤ LỤC
Dưới đây, xin dẫn lại một đoạn trong bài "Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp " vừa nói. Đặt làm phụ lục với nghĩa chỉ dành cho bạn nào có thời giờ và muốn quan tâm đến nghề viết văn. Tôi thành khẩn cám ơn nếu đọc xong đoạn này bạn có thể tìm đọc cả bài.
Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh Châu nhận xét: "Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn một chút nữa là viết cho dí dỏm…".
Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp nhà văn trẻ trưởng thành nổi.
Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn.
Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp thì ngứa cổ hót chơi. Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ.
Một quan niệm như thế đẻ ra kiểu nhà văn có tính chất nghệ nhân, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ hiểu bản chất đời sống.
Đó là loại nhà văn giống như xẩm chợ, thiên về nói leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới nghệ thuật độc đáo của riêng mình.
Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và như thế là được rồi!
Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự giác.
Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng, chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống, những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường, nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất cần.
Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc của một trí thức. Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm tư duy mới.
Đó cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói. Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc, để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.
Ngày đăng 20/4/2015
Theo các nhà nghiên cứu hội họa, trong các bức tranh của người Việt thời trung đại, mỗi yếu tố chỉ có quan hệ với yếu tố liền kề bên cạnh, chứ không có quan hệ với toàn bộ bức tranh.
Con người ở đây trong các mối quan hệ xã hội cũng vậy. Hành động và lời nói thường được tổ chức để đối phó với các đối tác có quan hệ gần gũi mà không chú ý tới toàn bộ cộng đồng.
Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Câu ca dao đó thuộc loại những câu “vỡ lòng” mà mỗi gia đình thường dạy con cái mình. Thành ngữ còn ghi: nói ngọt như mía lùi, nói kiến trong lỗ bò ra ...ý khuyên khi giao thiệp cần chọn những lời lẽ tốt đẹp.
Nhưng trong các cuốn từ điển, người ta thường gặp nhiều hơn bội phần những thành ngữ có liên quan những lối nói không có gì là tốt đẹp.
Hoặc là:
Nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khoé, nói chọc, nói chơi, nói chua, nói cứng, nói dựa, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt, nói gần nói xa, nói gở, nói hành nói tỏi
Cũng như:
Nói hớt, nói khoác, nói lảng, nói láo, nói phách, nói leo, nói lửng, nói mát, nói mép, nói móc, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt
Rồi còn:
Nói phét, nói quanh, nói quấy nói quá, nói ra nói vào, nói suông, nói thách, nói thánh nói tướng, nói trạng, nói trống không, nói vơ, nói vụng, nói vuốt đuôi, nói xỏ…
Thái độ vô trách nhiệm của con người với tiếng nói của mình làm nên bộ mặt tinh thần chủ yếu của các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ Tôi xin hết lòng tới Thằng điên, từMột tin buồn tới Hé! Hé! Hé!
Thế là mợ nó đi Tây cũng như Tôi yêu quý nương, hai truyện ngắn này đều gồm nhiều bức thư, loạt đầu giọng tử tế thậm chí văn hoa, đến thư cuối thay bằng mấy lời bạc bẽo, càn rỡ.
Mà đó chỉ là của một con người viết cho một người khác trong thời gian ngắn.
Trong nhật ký của mình, Pièrre Poivre – một người Pháp từng đến buôn bán ở Đàng Ngoài thế kỷ XVIII - than thở:
- Điều làm tôi bối rối khi phải thương lượng với người ở đây là chẳng bao giờ họ nói một lời chân thật. Hôm nay đồng ý, mai đã chối từ. Họ hứa rồi lại rũ bỏ lời hứa, chẳng chút e ngại.
Sau đây là một mẩu chuyện trong Ba Giai Tú Xuất :
Ngày xuân, cụ Lý Sộp rủ cụ Tổng Muỗm ra Hà Nội, vào một cửa hàng, nhờ kiếm mấy điếu thuốc phiện. Chủ quán nhận giúp, sai người đi liền. Tiếp đó khi cái người được sai đi ấy mãi chưa về, chủ quán lại đích thân đi tìm, trước khi đi không quên mượn của các cụ cái khăn nhiễu.
Ăn tàn miếng trầu không thấy họ về.
Các cụ cáu kỉnh trách móc, bọn này không tính làm ăn buôn bán hay sao? Thì một người từ nãy đến giờ ngồi yên trong góc quán thủng thẳng cho biết mình mới là chủ quán, hai người trước đó chỉ là bọn đi lừa.
Khi các cụ thắc mắc, ông chủ thật ấy cười khẩy giải thích :
- Các cụ nói thật "cổ nhập" quá. Phàm cách bạn hàng gẫu chuyện với nhau thì muốn nói nhăng nói quậy gì chẳng được. Dù hắn nói là chủ hàng chủ quán hay là chủ cả một tỉnh một xứ này cũng được nữa là. Một câu nói phiếm, phỏng có tổn hại gì, ai hơi đâu lại đi can thiệp.
Đoạn dẫn trên đây, khá điển hình trong việc phác lại một tình trạng thông thường của lời nói trong xã hội ta.
Một mặt chúng ta bảo nhau lời nói đọi máu.
Mặt khác chúng ta thường quá dễ dãi khi xử lý nó. Ta không dùng nó để suy nghĩ. Mà trong công việc giao tiếp, ta dùng nó để đùa chơi, bỡn cợt, ràng buộc, thách thức, tóm lại là một thứ tài nguyên rẻ, tha hồ phung phí.
Bảo rằng lời nói bị tha hóa là với nghĩa đó. Nó không còn là chất kết dính của xã hội.
Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
Kho tàng tục ngữ ca dao còn ghi lại bao lời than phiền vì những sự con người làm khổ đồng loại bằng lời nói. Người ta ghê sợ nhau chán chường nhau mà vẫn phải sống với nhau.
Nguyễn Trường Tộ sớm ghi nhận tình trạng “ không luận đàn bà trẻ con, đến người có học biết chữ mà cũng mở miệng là nói lời thô bỉ”.
Nguyễn Văn Vĩnh lưu ý cái sự ham thích những câu chuyện tầm thường, và từ chối những chuyện nghiêm chỉnh.
Phạm Quỳnh dị ứng nhất với những đám đông hỗn hào lộn xộn.
Xuân Diệu bảo ta hay nói hão.
Tình trạng tha hóa kéo dài trong ngôn ngữ con người đương đại cũng được Nguyễn Huy Thiệp ghi lại khá tự nhiên.
Trong Tướng về hưu, các nhân vật thường nói với nhau một cách trắng trợn, pha phách cả ảo tưởng lẫn tinh thần hoài nghi, tới mức một nhân vật phải kêu lên:
- Nhà mình nói năng như người điên khùng cả.
Tôi nghĩ nhận xét đó khái quát khá đúng tình trạng sử dụng ngôn ngữ trong một xã hội đã bị chiến tranh xé nát và hầu như mọi con người không ai còn sống bình thường như thuở trước 1945.
GHI NHẬN BỔ SUNG
Bạn Bùi Quang Minh vừa rồi có nhắc đến một bài khác của tôi về cách nói của người Việt đưa trên trang Chúng ta, 19/6/2014, có kèm thêm cả phản hồi.
Xin nói thêm là bài "Sự tha hóa của ngôn từ" này đã in trong cuốn Những chấn thương tâm lý hiện đại của tôi,sau đó đưa lên blog của tôi ngày 31/7/2012, dưới đầu đề "Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo."
Đây là đường link để bạn nào cần thì tìm:
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2012/07/luoi-khong-xuong-nhieu-uong-lat-leo.html
Ngày đăng 22/4/2015
Sau đây là một bài khác cũng liên quan đến cách nói cách nghĩ của người Việt đã đưa trên blog Vương Trí Nhàn, ngày 03/02/2010.
Cái gì cũng quan trọng hóa
Đi bộ dọc khu vực 36 phố phường Hà Nội, người ta có dịp gặp nhiều đền miếu nhỏ nổi bật lên mấy chữ Hán:Những là tối linh từ (đền thiêng liêng bậc nhất) với lại Thượng đẳng từ (đền miếu loại cao cấp).
“Anh có thể không biết tôi là ai, nhưng đừng có quên tôi là loại siêu lắm, ghê gớm lắm” - đại khái, sau những dòng trên, người ta ngầm đọc ra một lời dặn dò thiết thực như vậy.
Thói quen quan trọng hoá ấy của người xưa vẫn được người nay tiếp tục một cách hồn nhiên.
Ngôn ngữ vốn là công cụ vừa rẻ vừa tiện lợi. Như trong giới viết văn mà tôi đã sống trong đó suốt đời.
Thời nay thấy một vài cây bút loại loàng xoàng, mới viết được vài chục truyện ngắn và có bao nhiêu thì mang in hết.
Song cái láu cá của anh bạn tôi là ở chỗ khi chạy chọt để in như vậy, anh không quên đặt cho cuốn sách cái tên khá kêu:
Nguyễn Văn A. Tác phẩm chọn lọc.
hoặc
Vũ Văn B Toàn tập
Ở lứa tuổi như tôi mà nghe nói là ai đó đã được cho in toàn tập hay tuyển tập thì tự nhiên đã thấy kính nể lắm rồi - cái chết là ở chỗ ấy.
Nhưng đâu có phải chỉ riêng anh A anh B nọ, vô khối người đời thích những "chữ to hơn người" như vậy.
Quản lý một cơ quan vài chục người mà cũng tự xưng là lãnh đạo.
Hơi một tí thì quyết tâm, việc bắt buộc phải làm thì kêu phấn đấu, đưa ra vài lời phán chung chung gọi là định hướng chỉ đạo- người ta hình như đều tưởng rằng phải quan trọng hóa như vậy, thiên hạ mới sợ; và suốt ngày nói lảm nhảm đủ thứ mà người khác không hiểu thì mới gọi là sâu sắc.
Mà hóa ra chỉ là trò đùa
Có một cách nói chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay song được mọi người bình thường đón nhận khá hào hứng, đó là khi nói về những cái hay cái tử tế, người nói thường kèm thêm hai chữ hơi bị ở đằng trước:
- Cái áo này hơi bị vừa
- Cái nhà kia hơi bị nổi trong khung cảnh
- Em hơi bị đẹp anh hơi bị buồn (thơ Nguyễn Duy).
Thử phân tích kỹ một chút: chữ “bị” trong tiếng Việt vốn chỉ cái điều thụ động, không thích làm không thích nhận, hoặc đơn giản là cái gì kém hỏng lạc điệu.
Nay nó lại được dùng cho những phẩm chất tích cực.
Một quá trình tâm lý nào đã xảy ra ở đây? Tôi muốn đẩy cho ý nghĩ lan man một chút, đi tới cùng trên cái hướng mà nhiều người đã dừng.
Phải chăng nay là lúc sự đời nhuế nhóa, nhiều sự việc đến với chúng ta trong cái vẻ không thuần nhất, bảo là vui cũng được, bảo là buồn cũng được?
Cái tốt đẹp lại mang trong nó mầm tai họa?
Cái xấu xí hóa ra lại ở với mình lâu dài?
Trong đùa cợt ở đây có cả sự ê chề của kẻ bị lừa quá nhiều nên thiếu niềm tin lẫn nhận thức sâu xa về cuộc đời hỗn loạn, suy đến cùng là một cái gì giống như cảm giác về thế giới lộn ngược, và người ta phải đùa để xả hơi, phong cách đùa bỡn trở thành ngôn ngữ chủ yếu của đời sống?
Tìm lại cảm giác thiêng liêng trong ngôn ngữ
Quan trọng hóa vấn đề là bệnh của những kẻ nghèo nàn sáo rỗng. Nghe họ nói, thấy thương cho tiếng Việt, sao những “xác chết đông cứng” trong ngôn ngữ đáng lẽ bị loại thải cứ được lưu truyền dai dẳng?
Đời sống rút lại là làm sao để vượt lên sự nhàm chán!
Với đám người cái gì cũng coi là trò đùa thì khác.
Phải nói thật là trước những ca trọng bệnh, tôi thường phải cố ý lảng tránh, vì ghê sợ sức lôi cuốn của họ.
Sau khi nghe những đấng bậc miệng sắc như dao ấy trở về, đối diện với mình, trong tôi thức dậy bao nhiêu buông thả liều lĩnh, ít nhất tôi cũng sinh ra dễ dãi với mình, tự cho phép mình “thế nào cũng được, đến đâu thì đến”.
Không! Không thể thế được.
Tôi muốn giữ mãi trong tôi cảm giác thiêng liêng với ngôn ngữ, vì biết đó là khởi đầu của cảm giác thiêng liêng với đời sống.
14/09/2009
Thử tìm hiểu cách kiếm sống của người Việt
Ngày đăng 26/4/2015
Từ trường hợp của những ông già ném cá trong bài “Kiếm sống với bất cứ giá nào”, đã in trong tập Nhân nào quả ấy, tôi xin thử nêu lên một vài đặc điểm làm nên cách kiếm sống dân ta xưa và nay:
1- Trong cuộc mưu sinh, dân ta còn đang dừng lại ở tư duy hái lượm tức là sẵn có cái gì của thiên nhiên thì nhặt lấy mang về. Năng lực của cộng đồng trong việc chủ động tổ chức ra một xã hội sản xuất, năng lực đó còn hạn chế... Con người trong xã hội ta đa số là vô nghề nghiệp và không đạt tới đỉnh cao trong việc làm nghề. Các ngành nghề không được chăm lo cải tiến nên chỉ có giậm chân tại chỗ.
Khi tiếp xúc với các nền kinh tế khác chúng ta lại không chịu học hỏi đàng hoàng kỹ lưỡng nên cứ kém mãi.
2-Chiến tranh là nhân tố chủ yếu chi phối khuôn mặt của xã hội Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử. Trong các thế kỷ trước, nhất là hai thế kỷ XVII – XVIII sa vào nội chiến, ở ta, việc sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển trong mức độ bảo đảm cho các cuộc chiến tranh giữa các phe phái được duy trì . Vậy mà nạn đói vẫn luôn luôn xảy ra. Còn sự phát triển các ngành công thương nghiệp là hết sức kém cỏi thì cũng là lẽ tự nhiên.
Điều này càng rõ nếu xét tình hình từ 1945 tới nay.Trong chiến tranh bao nhiêu con người giỏi giang đổ hết cả ra mặt trận. Đến cả lương thực cho người dân miền Bắc cũng phải nhập của nước ngoài. Súng ống, đạn dược, xe pháo dùng trong chiến tranh là của ngoại nhập. Ở hậu phương mọi công việc như xây dựng nhà cửa hoàn toàn ngưng trệ.
Sau chiến tranh hầu hết chúng ta là những kẻ vô nghề nghiệp.
Các quan chức cũng hoàn toàn vô nghệ nghiệp. Từ những người chỉ quen “đánh đồn diệt viện”, nay phải lo quản lý đủ mọi ngành nghề hiện đại, làm sao không dẫn tới tình trạng làm đâu hỏng đấy.
Sau khi đọc bài của tôi có bạn nói rằng giá ông già kia có đồng lương hàng tháng bốn năm triệu thì ông không phải làm thế.
Tôi xin trả lời rằng đó là chỉ nhìn bề ngoài.
Còn nhớ có lần trên mạng thấy loan tin các cơ quan khoa học người ta đánh giá rằng nước mình là một xứ mà việc quản lý các tài nguyên khoáng sản là loại đội sổ, kém nhất thế giới.
Không cần có mặt ở các loại mỏ, chỉ từ tình hình chung cũng đoán ra hết.
Những người chủ trì công việc làm ăn ở các vùng tài nguyên đó, theo sự nhìn nhận của tôi thật cũng chẳng khác gì ông già ném cá hàng xóm của tôi bao nhiêu.
Nghĩa là thấy của một đống trước mặt mình đấy thì bất chấp quy trình kỹ thuật cần thiết, cha con chỉ lo đào cho được rồi bán tống bán táng ra nước ngoài lấy tiền. Tiền này đi đâu thì ai cũng biết rồi - nộp cho ngân quỹ nhà nước thì ít, đút vào túi mình thì nhiều.
Ta chỉ trách những quan chức này là họ tham nhũng.
Ta quên rằng họ cũng đang là những người kiếm sống không có nghề ngỗng gì hết, và kiếm sống với bất cứ giá nào.
Trong khi khai thác tài nguyên theo kiểu thổ phỉ vậy, tự họ đã tước đi khả năng tồn tại và phát triển của cái nguồn lực đáng lẽ nuôi sống cộng đồng và chính họ trong một thời gian lâu dài.
Họ cũng từ bỏ luôn cái cơ hội tốt để họ và con cháu họ tử tế nên người.
3- Nói tới một đặc điểm khác trong việc kiếm sống của người mình, nhất là con người hiện đại.
Là ta có lối suy nghĩ rất thiển cận, trong khi phấn đấu để vượt lên số phận nghèo khó đã không chịu học, không chịu chuyên môn hóa…mà chỉ nhăm nhăm tính toán sao cho có thể đạt đến mọi mục đích tầm thường của mình bằng con đường nhanh nhất.
Nhân danh nghèo khó, cho là mình có quyền làm mọi điều xấu xa và sẽ chẳng có thần phật nào trừng trị chúng ta cả.
Tiếp đó là bày ra đủ thứ lý luận để cãi trắng cho sự hư hỏng của mình. Cả một đội quân tuyên truyền góp phần vào việc tự biện hộ này. Chúng ta đã đi tới sự tự lừa dối tự lúc nào không biết.
Đến lúc này thì người ta nói rằng con người đã vô phương cứu chữa.
Nhưng đây là một khía cạnh khác nó làm nên một xu hướng phát triển của con người thời nay là sự tha hóa.
Lâu nay ta chỉ nghĩ người giàu mới tha hóa.
Nhưng 40 năm sau chiến tranh, người nghèo cũng đang tha hóa.
Cố nhiên, vì chạm đến đồng tiền và quyền lực nên quan chức thì tha hóa nhanh nhất.
Xưa ta hay có thói quen nói rằng giai cấp thống trị xấu xa là vua quan thời phong kiến có lẽ là người nước nào đó chứ không phải người Việt.
Nay thì chắc các quan chức - cả bộ phận tha hóa lẫn bộ phận còn đang chống chọi lại xu thế chung đó - cùng có lý do để nhận họ là những người Việt thứ thiệt.
Thử tìm cách đánh giá lớp trẻ hiện thời
Ngày đăng 1/5/2015
Dưới đây là phần đầu bài trả lời phỏng vấn của tôi với VietNamNet, từ 2007
Trong bản gốc nó có cái tên là “Lanh, khôn, nhưng thiếu chắc chắn”
Có nhiều ý kiến khác nhau về lớp trẻ bây giờ: cả lạc quan lẫn bi quan. Còn ông, ấn tượng chung về họ ở ông ra sao?
Ở bạn trẻ bây giờ, cảm giác tự do rất mạnh. Hơn hẳn cái đó ở bọn tôi. Thời trước, chúng tôi rón rén, khép nép, cái gì cũng sợ. Có những điều rất giản dị rất tự nhiên chúng tôi cũng phải chờ đợi cho phép mới được làm... mà chờ đợi mấy cũng vui vẻ cam chịu.
Các bạn giờ sống với cả thế giới rộng lớn, nhiều bạn có cảm giác mình là công dân thế giới.
Chúng tôi xưa quanh quẩn trên mảnh đất quen thuộc. Nhớ lần đầu đi qua biên giới thì tim đập thình thịch.
Nay chả gì làm cho họ sợ.
Song đằng sau vẻ rất lanh, rất khôn, tiếp cận và hiểu biết nhiều, lớp trẻ bây giờ lại gợi trong tôi một cảm giác thiếu chắc chắn, mới trông thì lắm hình lắm vẻ song nhìn kỹ lại lờ mờ, nhợt nhạt thiếu ước mơ lớn.
Hình như đằng sau những lời huyênh hoang, trong thâm tâm họ quá hiểu mình, nên có cảm giác bi quan, cho rằng mình không bao giờ đạt được cái mức lý tưởng như các thế hệ trước.
Họ có thể phóng đi rất nhanh để rồi chả biết làm gì ở cái nơi vừa đến. Đằng sau cái vẻ vội vã của họ hình như ẩn giấu một nỗi thèm thuồng, chỉ sợ không được hưởng hết mọi lạc thú ở đời. Trong sự vội vã ấy, họ lại không có khả năng dò vào chiều sâu của cuộc sống.
Tôi hay nghĩ người Việt mình là một khối tự phát còn lớp trẻ thì chính là lớp người nhạy cảm nhất, dễ gây bất ngờ nhất, nhưng cũng dễ nản lòng đầu hàng nhất. Lớp trẻ hiện nay mang trong nó cả một tiềm năng ghê gớm lẫn cả mọi dạng tai họa bất ngờ. Họ không đủ khả năng theo đuổi những định hướng lớn. Có lúc tôi thấy với họ thật khó đoán không biết điều gì sẽ xảy ra. Có lúc tôi lại buồn rầu mà nghĩ rằng họ cứ quanh quẩn thế thôi, chả đi tới đâu hết
Ông có thể cắt nghĩa hiện tượng này?
Tuổi trẻ bao giờ cũng bị ảnh hưởng theo chiều ngang, ảnh hưởng bởi tinh thần thời đại nhiều hơn là ảnh hưởng dọc, ảnh hưởng từ thế hệ cha ông.
Mà thời đại ta nói chung là thời đại của cái gì đó vỡ ra dang dở và chưa được sắp xếp lại.
Nước ta vẫn đang trên đường phát triển, nói theo thuật ngữ xã hội học là trong quá trình chuyển đổi. Con người bước từ chỗ tối ra chỗ sáng, nên đôi khi cảm giác vẫn còn bị ngợp và chập choạng, lúc thì tự tin quá, lúc lại tự ti quá. Cái này thấy rõ ở giới trẻ.
Tôi nhớ một nhân viên tuyển dụng nước ngoài thường tiếp xúc với sinh viên mới ra trường, có nhận xét, sinh viên ta nhiều khi nói nhiều điều mà mình không biết, đến lúc hỏi kỹ thì lại trở nên lúng túng.
So với lớp trước, lớp trẻ hiện nay có cảm giác về tự do tốt hơn, nhưng nhiều lúc điều đó đồng nghĩa với bơ vơ, mất phương hướng, không xác định được mình.
Trong nhiều trường hợp, họ hiểu rất sai về tự do.
Tự do không phải là bột phát, muốn làm gì thì làm.
Mà tự do là sự hiểu biết chung về bản thân, về hoàn cảnh và tìm ra cách thích ứng với hoàn cảnh, đồng thời vẫn khẳng định con đường riêng của bản thân mình.
Tự do cao nhất là tự do về mặt tinh thần, liên quan đến nội lực con người, sự phong phú trong tinh thần của họ, chứ tự do không phải là lăn ra đường để khẳng định cái tôi.
Đa số giới trẻ hiện nay, tự do bề ngoài thì có nhưng tự do sâu sắc bên trong thì không. Điều này dẫn đến việc họ không tìm được cách bình tĩnh sống và học tập, mà trút cả cái gọi là khao khát tự do vốn có vào những hành động ngông cuồng bề ngoài.
Nói một chút về sự mất phương hướng của lớp trẻ. Ở Mỹ từng có một “thế hệ vứt đi” sau Thế chiến I, và một thế hệ hippy trong chiến tranh Việt Nam, mất niềm tin vào cuộc sống. Ở Nhật cũng có một thế hệ khủng hoảng niềm tin... Việt Nam trải qua một cuộc chiến lâu dài, đang trên đường phát triển và sẽ phải đối mặt với cả những hiện tượng xã hội đi kèm. Ông có nghĩ một điều tương tự ở đây?
Bất cứ một xã hội nào, sau thời gian chiến tranh, con người cũng đều cảm thấy đời là trống rỗng... Đây là bệnh chung của xã hội thời hậu chiến.
Còn phát triển quá của xã hội hiện đại khiến giới trẻ ở một nước vốn khép kín như thanh niên ta chịu không nổi, kết quả là xuất hiện những những hiệu ứng tâm lý khá kỳ quặc.
Ngay cái ham hưởng thụ, sống gấp...một cách bệnh hoạn cũng là một biểu hiện khó tránh.
So với các nước cũng trải qua chiến tranh, tôi cho là ở Việt Nam, các bệnh trạng hậu chiến còn trầm trọng hơn nhiều.
Thiếu một sự quan tâm thường xuyên, thiếu một cái nhìn thấu đáo, thiếu một sự nhận chân, như thế này sẽ luôn luôn có scandal chờ sẵn.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, lối phản ứng của con người không bao giờ quyết liệt cả, mà thường loanh quanh tản mát, mỗi người tự bó hẹp, tự làm nghèo mình đi, do đó những chuyển đổi cơ bản rất khó xảy tới. Chúng ta sẽ cứ nhùng nhằng như thế này mãi.
Hãy nghĩ tới ngày giã từ sư phụ xuống núi
Ngày đăng 2/5/2015
Khoảng cuối 2005, nhân việc xuất bản cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, tờ Sinh Viên Việt Nam đã đề nghị tôi trao đổi vài điều nhằm giúp các bạn trẻ nhận diện lại lý tưởng và các giá trị từ đó tìm ra phướng hướng hành động của mình trong hoàn cảnh xã hội hậu chiến.
Sau mười năm đọc lại, tôi có cảm tưởng bài viết vẫn có phần thích hợp, với nghĩa lớp trẻ hiện nay vẫn chưa có thay đổi bao nhiêu, và nhìn chung là đang lúng túng trong việc tự xác định. Xin giới thiệu lại ở đây để các bạn cùng đọc và cho thêm ý kiến.
THÔNG ĐIỆP LÀM MẪU QUA RỒI
Đọc những trang nhật ký của anh Nguyễn Văn Thạc và chị Đặng Thuỳ Trâm hơn 30 năm về trước, khi họ còn đang là những người trẻ tuổi đang cống hiến tuổi thanh xuân cho công cuộc giải phóng đất nước, nhiều người trẻ hôm nay đều rất xúc động trước lý tưởng, hoài bão cao đẹp của họ. Nhưng nhiều người khác lại có vẻ buồn hơn khi thấy cái lý tưởng đó hình như đang mất dần đi trong cuộc sống thời bình...
Tôi cho rằng nỗi buồn anh vừa nói là chính đáng, nhưng để khỏi buồn, phải hiểu rằng hoàn cảnh mỗi thời một khác, không thể và không nên đem cái lý tưởng của thời chiến tranh để áp đặt cho con người thời bình. Với tôi, những trang nhật ký ấy không phải được in ra để làm mẫu cho các bạn trẻ bây giờ.
Thời ai đó phát ra thông điệp làm mẫu qua rồi.
Điều tôi muốn đề nghị là qua những trang nhật ký đó, kích thích được các bạn trẻ có thái độ đúng đắn với chính bản thân mình.
Tôi vẫn nghĩ người mình thời nay, kể cả thanh niên, nhiều khi bị mắc cái bệnh hời hợt quá nặng.
Dễ bằng lòng với những gì đang có.
Nghèo nàn trên phương diện nội tâm.
Lúc nào cũng nói mà huyên thiên không hiểu là đang nói cái gì.
Giá kể ta biết dành ra ít thời gian để đối diện với chính mình suy nghĩ thêm xem mình là ai, mình đang ở đâu, đang làm gì và qua đó phanh phui những ẩn sâu trong con người mình thì hay biết bao. Ngay cả tuổi trẻ cũng vậy...
Ông cắt nghĩa thế nào về sự khác nhau giữa hai thế hệ?
Tôi nhớ trong tác phẩm Thế giới hôm qua, nhà văn áo Stephan Zweig từng nói tới cái cảm giác kỳ lạ của con người phương Tây khoảng những năm bắt đầu đại chiến thứ nhất: “Sau một đêm, chúng tôi tỉnh dậy và thấy thế giới cũ không còn nữa”.
Sở dĩ như vậy vì đầu thế kỷ này là giai đoạn chứng kiến sự thay đổi lớn của thế giới từ cổ điển sang hiện đại.
Trong tư duy cổ điển, con người với con người, con người với hoàn cảnh sống rất hoà hợp. Người ta luôn biết mình phải làm gì và trước mắt người ta hầu như chỉ có một con đường duy nhất.
Còn khi chuyển sang thời hiện đại, sự hoà hợp, cân đối hôm qua không còn nữa.
Thế giới trở nên kỳ dị.
Không phải bao giờ con người cũng dễ hiểu với nhau như ngày trước. Và ngay trong một con người cũng có sự phân cách.
Một con người có thể có hai ba bộ mặt khác nhau như trong tranh Picasso chúng ta đã xem.
Tôi cho rằng ở Việt Nam cũng đã xảy ra sự biến động đó.
Ngay trong cùng một khoảng thời gian như cuộc chiến tranh chống Mỹ, thì những năm đầu có khác (như ta quen đọc trong phần lớn các tác phẩm văn học), mà từ 1968 trở đi đã khác (đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thậm chí chỉ cần đọc Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu người ta đã bắt đầu nhận ra sự khác biệt đó)
Từ sau 1975 thì hoàn cảnh càng thay đổi.
Tinh thần của xã hội hiện đại đã và đang chi phối cuộc sống người Việt.
Chỉ có điều khác là nếu ở thế giới người ta bình tĩnh để đón nhận và lý giải nó thì ở ta cái mới cái hiện đại lại ít được nói tới hoặc bị lãng tránh. Chúng ta thường đánh đồng các giá trị với nhau, rồi quá luyến tiếc cái đã qua, nên với lớp trẻ, công tác giáo dục ngày càng thiếu thuyết phục.
ĐÁNH GIÁ LỚP TRẺ HIỆN THỜI
Có vẻ như ông không chia sẻ với những lời kết án lớp trẻ hiện nay?
Tất nhiên là không rồi.
Ngược lại, tôi thì thấy các bạn trẻ bây giờ khá bơ vơ. Họ gặp nhiều khó khăn lắm, thậm chí còn khó khăn hơn chúng tôi nữa.
Chúng tôi cực khổ nhưng có niềm tin, còn sự khủng hoảng niềm tin thì đang thấy ở nhiều bạn trẻ hôm nay.
Thế hệ chúng tôi chỉ lo đối mặt với kẻ thù và cuối cùng đã góp phần làm nên chiến thắng.
Thế hệ các bạn bây giờ đang đối mặt với nỗi đau đớn của đất nước tụt hậu, và trong thâm tâm nhiều người tự hỏi không biết bao giờ chúng ta mới thực sự giải quyết được điều đó.
Trong cuộc sống, khá nhiều bạn trẻ già đi rất sớm.
Một số ra vẻ nhanh nhảu chớp lấy thời cơ để kiếm tiền và tưởng rằng bằng cách đó sớm in dấu ấn của mình trước xã hội, sau đó lao vào cuộc sống ăn chơi thực dụng.
Một số khác lại sống đờ đẫn, mộng du hay rơi vào một tình trạng vô cảm, một sự chết mòn về tâm lý.
Ông có cực đoan quá không? Bởi với nhiều người thì tình trạng lớp trẻ mà ông miêu tả chỉ là cá biệt và đấy không phải là lỗi của cá nhân họ. Liệu có cần nói đến những ảnh hưởng (tiêu cực) của thế hệ đi trước?
Tôi cũng rất mong muốn có người chứng minh một cách thuyết phục rằng tôi nói sai. Cụ thể hơn, tôi nghĩ rằng giá có thể mở ra một cuộc đối thoại trên phạm vi toàn xã hội để nhận xét về lớp thanh niên hiện nay, và nếu cho rằng họ có hư thì đâu là nguyên nhân đẻ ra sự hư hỏng đó.
Dù đánh giá mức độ thế nào, song có thể tin chắc trong cái hư của lớp trẻ bây giờ có nhiều cái hư do người lớn gây ra.
Tôi tin rằng những người lớn thoái hoá biến chất - mà tiêu biểu là các quan chức tham nhũng - thì con cái của họ sẽ không ra gì. Bởi không ai lừa được con cái cả và cũng vì con cái phản ánh rất đúng chất lượng làm người của bố mẹ.
Nhiều lỗi của giới trẻ bây giờ nảy sinh là để phản ứng lại với cách sống bon chen, giả dối, nói một đằng làm một nẻo của chính lớp người đi trước. Vì thế mà trong cái hư của nhiều người trẻ hôm nay, tôi thấy lớp người đi trước có lỗi nhiều.
Tức là theo ông hoàn cảnh xã hội không giúp cho người thanh niên sống tốt sống đúng đắn, và đó là chỗ khác giữa hôm nay và hôm qua?
Đúng vậy.
Nhìn ra xã hội bây giờ, chúng ta không tránh khỏi xấu hổ: quan hệ giữa người với người rời rã; cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém; môi trường ô nhiễm, đường đầy bụi bặm, rác rưởi; công nhân đi lao động nước ngoài bị trả về; giáo dục thì nhồi sọ, chạy thành tích, chạy điểm, đủ thứ “cò, phe vé”; hầu như ở đâu cũng thấy gian lận....
Sau cái phồn vinh giả tạo mốt này mốt kia, chất lượng cuộc sống bị hạ thấp thảm hại.
Và cay đắng là chúng ta biết xấu hổ, biết ngượng nhưng vẫn cứ làm.
Lên án thì cứ lên án nhưng lười biếng, cẩu thả, chạy điểm, đưa hối lộ… vẫn tiếp tục.
Dần dần những cái xấu đó biến thành chuyện bình thường, chuyện “tặc lưỡi” cho qua. Mỗi cá nhân đều hiểu rằng trong cuộc đấu tranh chống lại hoàn cảnh, mình không đủ sức.
THAY ĐỔI BĂT ĐẦU TỪ ĐÂU
Một cái nhìn lạc quan hơn, được biểu hiện trong ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc trong mục Thời sự và suy nghĩ trên báo Tuổi Trẻ (thứ 5, ngày 21/7/2005).Nguyên Ngọc cho rằng “...Hiện nay chúng ta đang đến trước một cơ hội mới, một cơ hội lớn...Thậm chí có thể nói mấy mươi năm nay, chưa bao giờ có được tình thế tốt hơn bây giờ để có thể bứt phá lên, chuyển sang một bước quan trọng về chất của phát triển...”. Ông có chia sẻ với nhận định đó?
Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc là bây giờ rất cần phải thay đổi nhưng lại không tán thành khi nghe ông bảo chưa bao giờ tình thế tốt hơn bây giờ.
Theo tôi, ngược lại, hầu như chúng ta chưa chuẩn bị được gì cho sự thay đổi đấy. Điều kiện cho sự thay đổi ít quá, nếu thay đổi thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn nên tôi không tin đây là một giai đoạn có thể bứt phá lên được.
Không khéo thì những lời kêu gọi lại trở thành cách nói một chiều, chúng rất dễ khiến các bạn trẻ rơi vào ảo tưởng.
Đọc một số truyện ngắn của Nam Cao tôi thấy có một mô-tip lặp lại thế này: nhân vật rơi vào tình thế bế tắc rất cần sự thay đổi; nhưng một chút thay đổi ấy quá bé nhỏ, nhất là nó lại đẩy người ta rơi vào tình trạng bế tắc mới, thậm chí nặng hơn bế tắc hôm qua.
Ta ngày nay cũng đang như thế.
Nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ mãi ngồi chờ và cứ bi quan trước thực tại xã hội (mà tôi nghĩ thời nào cũng có). Nhất là những người trẻ tuổi khi cơ hội của họ không phải là nhiều? Vậy phải bắt đầu từ đâu?
Trước hết cả xã hội phải tìm cách thay đổi về nhận thức. Việc nhận diện lớp trẻ phải coi là bắt buộc trước khi đưa ra những lời khuyên bảo.
Các phương tiện truyền thông nên dành thêm nhiều đất để soi dọi vào đời sống các bạn trẻ bây giờ, xem họ sống như thế nào và nghĩ như thế nào về thời cuộc và về chính họ.
Nói chung tôi muốn trở lại cái ý đã nói đây đó: Hãy nghiêm khắc và tự đặt ra yêu cầu cao với chính mình.
Trong quan hệ với các thế hệ đi trước, cách tốt nhất để lớp trẻ biểu hiện lòng biết ơn là phải tìm cách vượt lên, đi xa hơn họ.
Trong truyện chưởng của Kim Dung bao giờ cũng có hình ảnh của những chàng thiếu niên anh tuấn từ giã sư phụ xuống núi để tự tìm cách khẳng định mình. Tôi nghĩ rằng mỗi người thanh niên phải tìm cách chuẩn bị để có ngày làm cuộc từ giã mà chính các sư phụ chân chính cũng mong muốn đó.
Bài viết có sự giúp đỡ tận tình của bạn Lê Hồng Lâm
Nhân đây tôi xin có lời cảm ơn.
Nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn của Vương Trí Nhàn
Ngày đăng 3/5/2015
Trên mạng Văn hóa Nghệ An vừa giới thiệu một bài trả lời phỏng vấn của tôi có liên quan tới công việc nghiên cứu cả văn học lẫn văn hóa
Trong giới nghiên cứu, người ta thường nói tới ông như một người chuyển từ phê bình văn học sang cái mà tôi tạm gọi là phê bình văn hóa.Ông nghĩ sao về những nhận xét loại đó.
Chính tôi cũng thấy như thế. Chỉ lưu ý thêm hai điểm. Một là chữ phê bình ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng. Phê bình tuy là bám theo thời sự nhưng phải đi tới những khái quát lý thuyết cơ bản. Phê bình viết ngay về các hiện tượng tươi sống nhưng lại phải dựa chắc vào nghiên cứu lâu dài. Và thứ nữa là tôi đang làm song song cả hai. Trong văn học tạm gọi là chuyên nghiệp. Còn trong văn hóa là “tự do” với nghĩa một công việc tự lựa chọn, tự đào tạo, tay trái, nghiệp dư.
Nhìn vào tình hình phê bình văn học tôi thấy nó ngày càng khó. Đời sống văn học hiện ra vô cùng vô tận, phong phú và phức tạp, và có thể nói là “nhạy cảm” hơn, đòi hỏi người phê bình phải cố gắng nhiều mặt.
Ở chỗ này tôi xin phép không đồng ý với ông. Văn học hiện nay đơn điệu tẻ nhạt. Nó đang trong giai đoạn cuối của một nền văn học trung cổ theo nguyên tắc “văn dĩ tải đạo”. Trên nhiều phương diện, nó như còn tồn tại theo kiểu văn học dân gian. Mà lại là cái dân gian thoái hóa, nhập với văn hóa đại chúng của xã hội hiện đại. Gọi tên cái thực tế văn học ngổn ngang này không phải dễ, giới nghiên cứu còn đang bất lực trong việc lý giải nó.
Tôi cũng không đồng ý với ông ở chỗ người nghiên cứu văn học phải lảng tránh trước các vấn đề nhạy cảm. Không đồng ý ở hai khía cạnh:
1. Yêu cầu chủ yếu với người nghiên cứu là phải bảo đảm tính khách quan, tính khoa học. Chỉ có các quan chức, vì phải làm việc với bộ máy của mình, mới cần lưu ý tới tính nhạy cảm như cái nghĩa mà tất cả chúng ta hiện nay đều hiểu.
2. Riêng ở ta thời gian gần đây, rất nhiều người lại hô lên rằng một tiêu chuẩn là trí thức là phải phản biện. Cho phép tôi nghĩ khác. Trí thức chỉ có trách nhiệm nghiên cứu thuần túy. Khi anh bước sang lĩnh vực phản biện tức anh đã đi vào hành động, hoặc nói theo ngôn ngữ thời nay, là anh trở thành một chiến sĩ đấu tranh cho một mục tiêu xã hội nào đó. Anh cần sự nhạy cảm để tự bảo vệ. Nhưng không vì thế mà coi nhạy cảm là yêu cầu bắt buộc với mọi trí thức nói chung.
Một lý do khác khiến cho người viết phê bình văn học khó khăn: chúng ta đang phải đối diện với nhiều hệ thống lý thuyết văn học khác nhau. Cả giới sáng tác lẫn giới phê bình cùng băn khoăn khi chọn lựa nên bám/dựa vào lý thuyết nào cho phù hợp và đắc dụng.
Nhiều người trong giới nghiên cứu ở nước ta, những nhà hàn lâm nửa mùa đang ngợp trước lý luận và chỉ lo viết để minh họa cho lý luận mà họ học được ở các trường đại học ngoại quốc. Do xuất phát từ đời sống văn học nên tôi không bị ngợp. Tôi chỉ sử dụng các lý luận khi thấy cần và lúc nào cũng tiến hành song song. Trong khi nghiên cứu thực tiễn thấy cần thì học thêm lý luận; trong khi tìm hiểu lý luận thấy có cái gì thích hợp với Việt Nam liền lo áp dụng thử xem; áp dụng cái này nhưng vẫn tìm cách tiếp cận với cả những cái khác. Tôi luôn bị ám ảnh bởi câu nói đại ý “thế giới này quá phức tạp; phải dùng tới nhiều công cụ khác nhau mới hiểu được nó”.
Ý ông muốn nói quá trình chuyển từ phê bình văn học sang phê bình văn hóa cũng là một bước phiêu lưu?
Quả có vậy. Trong một bài giới thiệu lý luận về tiểu thuyết của Trung Quốc, nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu có giới thiệu khái niệm “dã sinh” vốn chỉ phổ biến ở Trung Quốc. “Tiểu thuyết phải dã sinh”, tức tiểu thuyết – cũng như văn học nói chung - phải là một thứ con hoang năm cha ba mẹ, không chịu ảnh hưởng của một lý luận nào duy nhất.
Thì cũng chính là do thói quen tạm gọi là dã sinh này mà khi tìm đọc văn học tôi xoay xở đủ cả văn học đương đại lẫn văn học tiền chiến, văn học cổ Việt Nam, rồi văn học Nga văn học Trung Quốc sau 1976. Ngoài ra là các sách khoa học xã hội khác như lịch sử, dân tộc học, xã hội học…và tất nhiên là văn hóa trong sự phát triển lịch sử của nó.
Tôi lấy một ví dụ. Một hai chục năm gần đây, người ta chú ý rất nhiều tới Phan Khôi. Nhưng người ta xem xét ông, ca ngợi ông, định vị ông bằng những thước đo thường dùng với người viết văn, người nghiên cứu hôm nay. Với tôi muốn nghiên cứu một người viết uyên thâm lịch lãm như Phan Khôi mà không biết gì về văn hóa triết học Trung Quốc cổ, rồi sự tiếp nhận phương Tây của nước Trung Hoa cuối thế kỷ XIX đầu XX, thì làm sao mà hiểu nổi cả thế hệ nhà nho cuối cùng như ông, từ đó phân tích mổ xẻ đánh giá ông chính xác.
Ý tôi muốn nói Phan Khôi là loại tác giả thích hợp nhất để chứng minh rằng phê bình văn học phải ngả sang phê bình văn hóa học. Nó là một trong những khuynh hướng vốn có của nghiên cứu văn học ở Đông cũng như ở Tây. Chỉ ở nước Nga của Stalin và ở nước Tầu của Mao Trạch Đông, mới có loại nhà nghiên cứu văn học chỉ biết mỗi văn học và chỉ xác lập mối quan hệ giữa văn học với tư tưởng mà thôi.
Trở lại trường hợp của bản thân. Từ chỗ dã sinh, như tôi vừa nói, chỉ cần “tìm hoa quá bước” một chút là tôi đã chuyển sang phê bình văn hóa rồi.
Đấy là sự chuẩn bị trong đầu óc. Còn trong thực tế công việc?
Từ khoảng 1982, bên Thông tấn xã Việt Nam cho ra tờ Thể thao &Văn hóa (TT&VH), với hai anh Hữu Vinh và Hà Vinh làm nòng cốt. Các anh ở đấy vốn rất thạo về văn hóa phương Tây. Khi rủ tôi làm, các anh cho phép tôi được viết về văn học theo cách của mình, bằng thứ ngôn ngữ báo chí hiện đại mà tôi học được qua các bài các anh dịch hoặc viết lại từ báo chí nước ngoài.
Mấy năm đầu, làm với TT&VH tôi chỉ giữ trang văn học. Chợt xảy ra một sự kiện. Từ năm 1991, bên Viện Khoa học Xã hội được nhà nước giao cho làm một chương trình nghiên cứu về văn hóa, trong đó có đề tài Đề cương văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới (KX 04-17).Nhà văn Tô Hoài được phân công quản đề tài này. Ông chọn Hoàng Ngọc Hiến, Ngọc Trai và tôi làm chân rết. Trong thời gian làm thư ký cho đề tài này, tôi có dịp đọc khá rộng từ lý luận văn hóa nói chung tới các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trước đây. Bản thân tôi đã viết được một tiểu luận hơn trăm trang đánh máy mang tên Sơ bộ tìm hiểu di sản văn hóa Việt Nam (đã đưa lên trang blog của tôi).
Sẵn các tri thức tích lũy được từ thời gian làm việc trong nhóm của ông Tô Hoài, lại được các anh ở báo TT& VH cổ vũ, nói theo ngôn ngữ trong nghề là “có tờ báo trong tay” , tôi mạnh dạn xông ra viết các bài phiếm luận về văn hóa, ngoài TT&VH gửi đăng cả trên Tuổi Trẻ, Nông Thôn Ngày Nay, Người Đại Biểu Nhân Dân, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn … và sau này đã tập hợp lại một phần trong hai cuốn sáchNhân nào quả ấy (2002) và Những chấn thương tâm lý hiện đại (2009).
Các bài viết trong mục “Thói hư tật xấu người Việt” cũng được hình thành trong thời gian này?
Đúng thế. Khi viết riêng về các nhà văn, tôi đã mang tiếng là chỉ thạo về việc nhìn ra thói xấu của con người. Khi nhìn chung ra cả xã hội, tôi cũng cứ chứng nào tật ấy. Thế thì làm sao mà dám đi vào nghiên cứu văn hóa như tôi định làm.
May quá một lần, tôi tìm được những gợi ý.
Trong khi ước ao đi tới một sự khái quát về văn hóa Việt Nam, ngoài việc đọc lý luận chay, tôi thường tìm đọc các cuốn lịch sử văn hóa nước ngoài, lấy đó là mẫu để học theo. Có một điều thú vị là mở đầu các cuốn lịch sử văn hóa ấy, các tác giả ngoại quốc thường dành khá nhiều tâm lực cho việc trình bày lý luận chung về văn hóa và ở đó tôi tìm được điểm tựa cho các lý lẽ mà tôi mới chỉ nhận biết theo cảm tính. Lần ấy tôi tìm được cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc Ngô Vĩnh Chính và Vương Miện Quý chủ biên, Lương Duy Thứ và các đồng sự Việt Nam lo việc dịch ra tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin 2004. Ở bộ sách này, tôi đọc được cả một chương mang tên Tinh hoa và căn bã của văn hóa Trung Quốc, trong đó nêu lên một khái quát: “Đương nhiên văn hóa Trung Quốc có mặt ưu tú nhưng cũng có mặt lạc hậu thậm chí thủ cựu thối nát.” (Sđd tr 22). Trong phần viết về ảnh hưởng của triết lý tới dân tình, phong tục, các tác giả này có đoạn viết liên quan tới toàn bộ tính cách dân tộc Trung Hoa: Tinh thần nhân văn thành thục quá sớm của triết học cổ đại Trung Quốc, sự lan tràn của luân lý đạo đức, cách nhấn mạnh quá đáng tới sự hài hòa và trung dung, tất cả những đặc điểm đó cũng đem lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho dân tộc ví như thiếu tinh thần mạo hiểm, vượt khó, năng lực tự lập tự giải quyết mọi việc thấp kém, tập quán tư duy thiên về hình như thượng [một thuật ngữ nay ít dùng; thời trước nó được xem là tương đương với khái niệm siêu hình học], các quan niệm truyền thống mang tính tuần hoàn phong bế… Rồi sự hình thành tính cách dân tộc nội khuynh, bảo thủ thuận tòng, không tranh đấu…Những điều đó cần thẳng thắn nhìn nhận (sđd, tr 83).
Từ lúc nhồi được cái thứ đó vào đầu, tôi thêm cả quyết dành hẳn một phần công việc cho mục thói hư tật xấu.
Tức là ông đã được giải phóng về mặt tư tưởng?
Tôi cũng định nói như vậy. Nên nhớ là tôi đi vào con đường nghiên cứu văn hóa một cách nghiệp dư. Phần lớn các nhà nghiên cứu hiện thời thiên về tìm cách nói một chiều, nói tốt, nói theo hướng ca ngợi hết lời đối với văn hóa Việt Nam. Hóa ra họ chỉ minh họa các ý tưởng mà người ta đặt hàng cho họ. Do không bị bó buộc vào một nhiệm vụ nào được giao - đúng ra là không kiếm sống, kiếm danh vị và lợi lộc từ công tác nghiên cứu, tôi cảm thấy mình có được chút tự do tối thiểu. Nhưng tôi vẫn bị cái lý luận chính thống về văn hóa đương thời chi phối. Nhờ nhìn rộng ra các nền văn hóa khác và tìm được những cơ sở lý luận khác, tôi mới thực sự tự do với nghĩa đi trên một con đường riêng tôi thấy đúng đắn nhất.
Tôi nhớ lúc đầu ông đã bị ăn đòn vì loạt bài thói hư tật xấu này.
Về chuyện bị đám đông ném đá thì không nói là gì. Tôi còn bị cả bạn bè chê bai, hiềm khích, bác bỏ.
Tôi nhớ khoảng những năm 90, đọc các phác thảo của một người nay trở thành giáo sư đầu ngành của giới nghiên cứu văn hóa, tôi có bảo với ông mấy ý:
- Chỗ kiểm tra để biết một hướng nghiên cứu có đúng hay không là đối chiếu nó với thực tiễn.
- Lởi lẽ văn hóa là cái làm nên nội lực của một cộng đồng, cho nên, với bức tranh văn hóa như anh miêu tả, thì tôi nghĩ là dân Việt Nam sẽ không có một cuộc sống khó khăn bế tắc như hiện nay.
- Anh cho phép tôi đi tới cùng của sự suy nghĩ nhá. Với một dân tình như hiện nay bức tranh văn hóa mà anh vẽ ra thậm chí có tác dụng ru ngủ họ, làm hại họ. Nghĩa là nguy hiểm cơ đấy.
Ông ta giận tôi lắm. Sau khi gọi điện xỉ vả tôi là dân nghiên cứu nghiệp dư mà đã ti toe, không đọc nhiều sách bằng ông nên không thể nói liều…, không bao giờ ông muốn nhìn mặt tôi nữa.
Theo ông, cái đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ của phê bình văn hóa nên xác định như thế nào?
Hồi đầu cách mạng ta có Hội Văn hóa cứu quốc, tập hợp mọi trí thức khoa học xã hội và tự nhiên trong đó có các nhà văn nghệ. Tới 1948, Hội này còn mở Đại hội lần II. Nhưng sau đó Hội Văn hóa này - nghe nói là thuộc quyền ông Trần Huy Liệu - gần như tự giải tán. Trong bàn tay lèo lái của ông Tố Hữu, văn học và các ngành nghệ thuật khác tách ra thành Hội Văn nghệ Việt Nam sau đó thành các Hội riêng. Trên thực tế, văn học bị tách ra khỏi khối văn hóa mà đặt trọng tâm vào việc làm công tác tư tưởng. Lâu dần, chất tư tưởng át đi cả văn hóa. Mà việc nghiên cứu tổng quát về văn hóa sau này có được tổ chức thì cũng quá yếu ớt.
Thành ra người nghiên cứu văn hóa hiện nay như đứng trước một cánh đồng hoang. Tôi chỉ là một cá nhân đơn thương độc mã trên đường, không chịu trách nhiệm với ai, vả chăng cũng đang mầy mò, nên chẳng biết nói gì ngay về những cái gọi là đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ mà ở trên ông đặt câu hỏi. Chỉ biết rằng từ lịch sử văn hóa tới mối quan hệ văn hóa Việt Nam và nước ngoài, từ phong tục tập quán văn chương nghệ thuật tới các vấn đề chính trị xã hội …chả cái gì mà tôi thấy không cần thiết cả. Chắc là ông không thể ngờ là trong nhiều cuốn nghiên cứu văn hóa từng quốc gia, từng cộng đồng riêng, tôi thấy người ta đều dành rất nhiều giấy mực cho việc tổ chức xã hội, việc quản lý quốc gia…Làm sao mà bây giờ tôi lại dám đề nghị rằng nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam cũng bao gồm cả những việc đó. Có đề nghị cũng không ai làm. Vì có ai được chuẩn bị làm việc theo quan niệm đó bao giờ.
Với cách xác định đó, nhìn lại, chắc là ông thấy hoạt động phê bình văn hóa lâu nay có nhiều chỗ bất cập?
Bởi nó đã giống Nga, giống Tầu thời trước, mà lại làm kém đi và bây giờ bên Nga, bên Tầu người ta cũng làm khác rồi nên rút lại, thấy nó chẳng giống ai cả.
Thiếu sót lớn nhất của nó là gì?
Là không chịu làm cái việc mà xã hội cần là giúp vào việc tự nhận thức của cộng đồng, mà lại loanh quanh làm những việc vá víu lặt vặt.
Một công việc như phê bình văn hóa tất nhiên phải dựa trên các cơ sở lý thuyết, tức là nó phải có cơ sở lý luận của nó. Theo chỗ chúng tôi biết thì trên thế giới, văn hóa học đã hình thành và phát triển hơn 100 năm rồi với nhiều trường phái khác nhau, ở ta chậm hơn nhiều nhưng cũng đã có từ nhiều chục năm nay. Và chúng ta cũng đã tiếp thu nhiều lý thuyết văn hóa khác nhau từ bên ngoài vào. Các lý thuyết khác nhau đã làm nền tảng cho hoạt động phê bình văn hóa. Từ kinh nghiệm cá nhân, theo ông, tại thời điểm hiện tại, ở nước ta, công việc phê bình văn hóa nên có sự lựa chọn lý thuyết như thế nào để có thể nói là khả dĩ phù hợp nhất?
Đầu tháng 2/2015, chính tạp chí Văn hóa Nghệ An đã in bài của Lê Văn Hảo liên quan tới vấn đề này. Nhưng trong bài đó ông Hảo dùng chữ văn hóa học với nghĩa một ngành nghiên cứu. Có một nền văn hóa học Việt Nam tức là có một ngành nghiên cứu về văn hóa Việt Nam.
Còn trong câu hỏi vừa rồi có phải ông hiểu văn hóa học tức là các lý thuyết về văn hóa?
Tôi tưởng ý mình nói cũng đã rõ.
Nếu thế thì cái thời gian mà ông dùng để xem xét việc hình thành các lý luận đó, lại chẳng có ý nghĩa gì hết. Mười năm cho đến ba bốn chục năm nữa là quá ngắn ngủi với một xã hội vốn trì trệ và ngành nghiên cứu khoa học xã hội thì lại cổ lỗ không biết xếp vào ngạch bậc nào của thế giới.
Trên tôi đã trình bày, ở nước Nga Xô viết cũng như ở Trung Hoa lục địa, văn hóa đều bị gộp vào công tác tư tưởng, lúc đó ở họ quan niệm sử học thì cổ lỗ mà nhìn chung gần như không có xã hội học văn hóa học gì hết. Sau khi có những thay đổi, các nhà nghiên cứu cho du nhập thẳng những quan điểm lý thuyết của Anh- Mỹ, nơi mà lý thuyết về văn hóa phát triển đến những đỉnh cao có ảnh hưởng khắp thế giới.
Tôi nói điều này là dựa trên hai cuốn sách đang có trong tay:
1/Trung Hoa văn hóa sử của Phùng Thiên Du, Hà Hiểu Minh, Chu Tích Minh hai tập thượng hạ Thượng hải nhân dân xuất bản xã, 2005.
2/Văn hóa học thế kỷ XX. Bách khoa toàn thư. Nxb Sách Tổng hợp thuộc quỹ hỗ trợ khoa học và văn hóa Sankt- Peterburg 1996.
Nga và Trung Quốc đã vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng chẳng có sự lựa chọn nào khác.
Tính cấp thiết của việc du nhập lý luận văn hóa phương Tây là gì?
Là ở đó, tất cả các thuật ngữ khái niệm đều có một ý nghĩa khác so với cách hiểu của chúng ta hôm nay. Đó là một. Thứ hai, là chỉ với những định hướng của nó, ta mới gỡ ra được những vướng mắc cơ bản đang níu kéo ta lại. Ví dụ, các nhà nghiên cứu văn hóa hiện nay quá tin tưởng vào thuyết tương đối văn hóa. Theo thuyết này, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng, các nền văn hóa này đều bình đẳng với nhau. Ta dùng lý luận này để đề cao tính độc đáo của văn hóa ta, từ đó chấp nhận cả những cổ hủ lạc hậu trong văn hóa cổ truyền. Trong khi đó, bên cạnh lý thuyết tương đối, người ta còn nói tới sự tiến hóa về văn hóa. Mỗi nền văn hóa phải tiến triển theo những quy luật chung. Quá trình tự hoàn thiện một nền văn hóa đi kèm với sự cộng sinh tiếp biến các nền văn hóa ngoại lai, nhiều khi chính yếu tố ngoại lai lại có ý nghĩa quyết định chứ không phải yếu tố bản địa. Nếu đi theo hướng này ta sẽ hiểu hơn và làm tốt hơn công việc tự đánh giá gia tài quá khứ và cũng như mang lại cho sự hội nhập quốc tế những kết quả thực sự.
Đây tôi mới nói về một ví dụ chứng minh cho cái mức độ cấp thiết của việc du nhập lý thuyết phương Tây và lại nói rất thô thiển. Tôi sẽ đề cập vấn đề này trong một dịp khác.
Trở lại với các công việc cụ thể, theo ông, hiện tại, ở nước ta, hoạt động phê bình văn hóa hoặc nghiên cứu văn hóa nói chung nên tập trung vào những vấn đề nào, những mặt nào, lĩnh vực nào?
Tôi hơi ngại dùng hai chữ tập trung.Tôi muốn nói những việc không thể bỏ qua. Trong nghiên cứu có những công việc mà thiếu nó thì mọi việc khác đều vô nghĩa. Ngoài việc du nhập lý luận, nay cần sớm có những người tách ra khỏi cái ngổn ngang trước mắt để đi vào lo tìm hiểu lịch sử văn hóa. Mà khi đi vào lịch sử, thì nhớ phải có một quan niệm về văn hóa rộng rãi, trong đó đặt mỗi nền văn hóa trong cái văn mạch chung mà người ta gọi là địa văn hóa. Riêng tôi lúc này đây tôi nghĩ rằng nếu có thời gian thì nhất thiết phải để công sức vào tìm hiểu lịch sử quan hệ văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa khác như văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương Tây.
Nhân đây, tôi có một đề nghị với cả những người nghiên cứu văn hóa lẫn những người quản lý việc này nói chung.
Điều gì vậy?
Hiện nay các học giả quốc tế đang rất quan tâm đến Việt Nam và họ đang có nhiều phát hiện. Nhưng tất cả những thành tựu của họ lại xa lạ với tất cả các giới khoa học xã hội nước ta. Về phần mình, sau khi nói rằng Việt Nam có một nền văn hóa vô cùng rực rỡ không kém một ai, các nhà nghiên cứu Việt Nam có thói quen cho rằng chỉ ta là mới hiểu được ta. Với các thành tựu của người nước ngoài, ta chỉ sử dụng một vài tên tuổi làm nền và giúp vào việc minh họa cho quan niệm của người trong nước.
Còn sau khoảng trên hai mươi năm đi vào tìm hiểu văn hóa Việt Nam, kinh nghiệm lớn nhất của tôi lại là hoàn toàn ngược lại.
Tôi thiết tha mong các đồng nghiệp đang đi vào nghiên cứu văn hóa nhất là các bạn trẻ học lấy ngoại ngữ, trực tiếp đọc vào các tài liệu nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam của người nước ngoài, từ đó các bạn sẽ tìm ra con đường đi của mình, phương pháp thích hợp với mình.
Sở dĩ tôi muốn nói điều này cả với các nhà quản lý công tác nghiên cứu bởi lẽ sau. Các cán bộ trẻ không thể làm việc một cách nghiệp dư tài tử như tôi. Họ phải gắn bó với những yêu cầu, những đơn đặt hàng của nhà nước. Để lập danh. Mà cũng để kiếm sống. Nếu trong các bài giảng trong nhà trường, các thầy giáo không sử dụng các tài liệu này; nếu trong các công trình nghiên cứu ban đầu là các luận án thạc sĩ, tiến sĩ, không có yêu cầu bắt buộc phải tham khảo các tài liệu này, thì các nhà nghiên cứu trẻ sẽ không bao giờ tự động tìm đọc cả. Nếu như chỉ thỉnh thoảng báo chí có được một vài bài viết ngả sang cái hướng này thì nhanh chóng chúng cũng bị quên lãng.
Cảm ơn ông.
Phan Thắng thực hiện
Ngày đăng 5/5/2015
Tôi hay nói về tính tự phát của cuộc sống và đã từng bị chê bai bởi cái câu buột miệng “bất chợt nghĩ ra rút lại không nổi”. Là cái câu: Dân tộc Việt là cả một khối tự phát khổng lồ.
Nhưng bị chê thế nào thì chê, tôi vẫn thấy nó đúng.
Hôm nay tôi muốn thêm một dẫn chứng cho sự thống trị của cái quy luật tự phát ấy bằng cách nhìn vào tình trạng ăn ở của chúng ta từ sau 1945 tới nay.
Những ngày tháng tư này hàng tuần ba buổi tôi phải từ Sài Gòn xuống Bình Dương nhờ một ông thầy bấm huyệt.
Đến tuổi này rồi, ngồi ô tô không thể đọc sách được nữa, chỉ có thể nghĩ vẩn nghĩ vơ. Và một trong số ý tưởng trở đi trở lại dai dẳng nhất chính là về cái trạng thái hỗn canh hỗn cư của xã hội hậu chiến.
Trong lịch sử nhân loại nông thôn có trước đô thị có sau. Nông thôn là cái đời sống đẻ ra đã vậy. Đô thị là cái đời sống được tổ chức lại. Mọi con đường quê tha hồ cong queo. Nhưng đường phố đô thị nhất thiết phải thẳng. Đường cao tốc không có cư dân bu bám chung quanh. Đường trên phố phải có vỉa hè, dành riêng cho người đi bộ.
Dưới sự bảo trợ của người Pháp, cuộc hiện đại hóa lần thứ nhất còn khá mạch lạc.
Chiến tranh xáo lộn tất cả, ở miền Nam người ở nông thôn bỏ ra ra thành thị, tiếng dân gian gọi là chạy loạn. Ở miền Bắc hồi chống Mỹ thì dân thành thị sơ tán về nông thôn.
Lúc đập một cái nhà ai cũng nghĩ mai này xây dựng lai đẹp hơn.
Nhưng trở về sau một hồi thất điên bất đảo, người ta đã đánh mất những thói quen tốt đẹp của một cuộc sống thái bình.
Sau chiến tranh dân ta trở lại lo làm ăn kinh tế, nhưng là mạnh ai nây sống.
Tất cả đổ ra đường.
Hai bên đường tôi đi chỗ nào cũng thấy nhà hàng. Làng xóm bột phát trở thành phố xá.
Trong mỗi con phố bột phát ấy, hàng quán tiện đâu mở dấy, chả có tính toán gì cả.
Hồi chiến tranh nhiều lần chúng tôi phải đi qua thành Vinh. Từ sau 1964, Vinh hoàn toàn đổ nát. Có sinh khí nhất chỉ là quãng từ bến ô tô cũ tới phà Bến Thủy. Nó dài như một khúc ruột. Cả thành phố teo tóp đi, chỉ còn khúc ruột này là sinh động.
Cứ tưởng chỉ có chiến tranh mới có tình trạng như vậy. Hóa ra thời bình cũng vậy. Từ Bắc đến Nam đâu đâu tôi cũng thấy người ta bu chung quanh đường, và cái ấn tượng về khúc ruột mà thành Vinh ngày nào gợi ra, nay vẫn thấy trở lại.
Mấy chữ hỗn canh hỗn cư là do tôi mượn từ tên một cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, in ở Hà Nội 1962.
Thử tra các từ điển tiếng Việt hiện có, không thấy cuốn nào nhắc tới thành ngữ vốn của chữ Hán ấy.
Riêng cuốn của nhóm Hoàng Phê thì có.
Trong bản in ở nhà xuất bản Đà Nẵng 2007 - cũng là cuốn từ điển duy nhất hiện nay mà các thành ngữ chữ Hán có kèm thêm cả cách viết bằng chữ vuông - tôi thấy người ta ghi hỗn canh hỗn cư là để chỉ tình trạng địa giới không rạch ròi, đất làm nhà [thổ cư] và đất trồng trọt [thổ canh] xen lẫn vào nhau một cách hỗn độn.
Sự phân biệt giữa không gian để con người ăn ở và không gian làm việc hóa ra đã được người xưa xem trọng và điều đó có cái lý của nó.
Nay chúng ta làm không ra làm, ở chẳng ra ở, tất cả do sự tùy tiện của con người.
Các thành phố của người ta thường bố trí thành những mảng lớn, mảng các nhà máy sản xuất riêng, mảng mua bán sắm sửa riêng, mảng cư dân riêng. Thành phố của ta, hình thành theo lối có một nhà máy nào đó dựng lên, rồi cư dân bu chung quanh. Cả thành phố chả ra một cái cấu trúc gì.
Đi đến đâu cũng có thể tìm ra những ngôi nhà đẹp. Nhưng rất khó có những khu phố đẹp, lại càng không thể có những thành phố đẹp, độc đáo, hiện đại. Các thành phố mới xây dựng thật ra rất giống nhau ở cái vẻ xấu xí của nó.
Ở các hiệu sách hiện nay, mảng sách phong thủy (sách dạy làm nhà) khá đắt khách. Nhưng đấy là người ta chỉ lo cho cái nhà của mình. Cả thành phố nói chung thì chẳng ai lo cho cả.
Trước đây, các thành phố lớn còn có kiến trúc sư trưởng.
Nay đâu đã bỏ.
Mà thời này làm gì có nhà chuyên môn nào được quyền vượt lên các vị chức sắc bây giờ? Các ông ấy thay nhau theo nhiệm kỳ, ông nào lên cũng muốn làm theo ý mình. Thành phố luôn luôn có chủ nhưng nhìn cả giai đoạn vài chục năm có khác chi nhà vô chủ.
Bốn chục năm nay, mỗi lần lên Đà Lạt, tôi lại xót xa với cái ý nghĩ mà theo cách diễn tả của người xưa gọi là “Ngọc đẹp cho ngâu vầy”
Ta không bao giờ làm nổi một thành phố như thế.
Chờ đến ngày tìm ra những người chủ xứng đáng thì thành phố đã không còn là nó.
Ngày đăng 12/5/2015
Một cô giáo ở Thái Bình phạt một bé gái bằng cách cho cả lớp 32 học sinh tát thẳng vào mặt người bạn có lỗi, nạn nhân phải đưa đi bệnh viện. Một thầy giáo ở Đình Tổ, Bắc Ninh xâm hại tình dục mấy học sinh 9 tuổi trong lớp mình đang dạy đến mức các gia đình học sinh rủ nhau đi kiện.
Hai sự kiện này tôi nghe được từ mấy năm trước.
Ngày nay việc bạo hành xảy ra còn ở mức tày đình hơn nhiều.
Nhưng chỉ hai việc nhỏ trên cũng đã đủ gợi ra một số suy nghĩ.
Cô giáo kia là một người lâu năm trong nghề, từng là cô giáo dạy giỏi. Trên màn hình VTV, tôi đã thấy vẻ mặt cô khi nhận lỗi, trông không có gì là giả dối. Thành thử tự nhiên cứ phân vân. Và tôi nhớ tới những lầm lỗi mà mình đã mắc hàng ngày. Lúc ấy mình không còn là mình nữa. Nói ra không mấy ai tin nhưng hình như lúc đó có ai xui khiến mình làm bậy vậy, có muốn tỉnh táo cũng không được.
Mặt khác, nếu được tìm hiểu kỹ hoàn cảnh cô giáo mắc lỗi biết đâu người ta chẳng thấy được nhiều nguyên cớ cụ thể. Hôm đó có thể cô đã gặp một chuyện gì rất phiền lòng trong gia đình? Hoặc trước đó trong lớp đã xảy ra những chuyện làm cô phải bực bội, đến mức quá giận mất khôn.
Lại như trường hợp thứ hai. Trong hành động của người thầy giáo trẻ tuổi kia có gì kỳ dị vượt ra ngoài tình trạng tâm sinh lý thông thường. Một thứ bệnh hoạn - tôi nghĩ vậy.
Nhưng thử nhìn rộng ra xem, các nhà khoa học cho biết trong thời buổi hiện nay, thiên nhiên đang xảy ra nhiều đột biến.
Thời tiết thất thường.
Nhiều loại vi trùng kháng thuốc.
Nhiều loại sâu bệnh mới xuất hiện.
Xã hội cũng vậy, trên các trang báo hàng ngày tràn ngập tin tức về các vụ việc mà trước kia không ai hình dung nổi và không nước nào không có.
Làm sao cái xu thế đó không hằn sâu vào tâm lý con người cho được?
Trạng thái cân bằng cổ điển trở thành một thứ hồi ức xa vời trong tâm tưởng ta. Mỗi chúng ta chịu sự thao túng của bao nhiêu dồn nén, bao nhiêu ẩn ức.
Những ai từng đọc tiểu thuyết Số đỏ hẳn nhớ trường hợp nhân vật cậu Phước với cái căn bệnh kỳ cục phải nói là suy cho cùng thì có họ hàng xa gần với bệnh của người thầy giáo ở Đình Tổ nói trên. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tỏ ra có lý khi mượn mồm một bác sĩ để đề nghị rằng chỉ có thể cắt nghĩa bệnh của cậu quí tử đó bằng các lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud.
Sách Đại Việt Sử Lược (chưa rõ tác giả), một trong những bộ sử cổ nhất của ta ghi về Lê Long Đĩnh, tức Lê Ngọa Triều (trị vì từ 1006 - 1009) như sau: “Tính vua ưa chém giết. Có người phạm tội sắp phải hành hình thì vua bắt lấy cỏ tranh quấn vào người rồi đốt. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng sát hại. Phàm những con vật đem cung cho nhà bếp, trước tiên sai người khiêng vào để tự tay vua đâm chết đã. Hoặc đêm đến sai làm thịt mèo cho các thân vương xơi, ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, ai nấy đều mửa thốc mửa tháo…”
Trước mắt chúng ta là một ca bệnh nữa, ở mức quái đản. Giá như ngày nay, hẳn có người đã đề nghị buộc Lê Ngọa Triều phải hầu tòa.
Mọi tội lỗi phải được xử theo pháp luật. Nhưng tôi cho rằng trong một số trường hợp, những người có tội đồng thời phải được xem như những người có bệnh. Trong những con người không may ấy, vấn đề không còn chỉ là sự điều khiển của ý thức, mà là một thứ bản năng chi phối. Giống như các loài cỏ dại, nó nảy nở tự phát trong con người họ, và tùy hoàn cảnh mà bản năng bùng nổ thành tội ác. Nói cách khác, trong cái việc họ không còn đủ sáng suốt điều chỉnh hành vi của mình, có sự có mặt của những yếu tố mà tâm lý học gọi là vô thức (bao gồm cả vô thức cá nhân lẫn vô thức tập thể).
Đồng thời với tòa án, viện kiểm sát làm công việc lập hồ sơ, xem xét tội danh, xử án... lẽ ra những người nghiên cứu tâm lý xã hội phải có mặt.
Chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh chung. Đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình mấy chục năm nay, những di lụy của nó để lại trong tâm lý con người kể sao cho xiết. Đặc điểm của chiến tranh là bạo lực. Trở về từ chiến tranh, mải làm ăn kiếm sống, ta tưởng ta thoát khỏi nó. Biết đâu nó vẫn tiềm ẩn trong con người và sẽ tìm những chỗ bất ngờ nhất để phát lộ.
Mặt khác, từ chỗ quen sống khép kín, nay xã hội ta mở cửa ra với thế giới. Cùng với bao điều tốt đẹp thì những căn bệnh chỉ xã hội hiện đại mới có cũng ùa vào ta và cũng tìm thấy ở xứ ta một mảnh đất tốt.
Từ nhận thức “không nỗi đau nào là của riêng ai”, đã đến lúc nên nói với nhau “không bệnh tật nào là của riêng ai”. Có đi vào cơ chế đời sống tinh thần cụ thể của con người thì mới thể tất được cho nhau.
Phải có sự điều trị dần dần, theo những phác đồ hợp lý, chung cho cả xã hội.
Đó cũng là cách tốt nhất để những hành động tương tự sẽ bớt dần chứ không phải ngày mỗi tăng lên như hiện nay.
Lên mạng lần đầu trên Saigon times Online Thứ Năm, 30/7/2009
Giao thông Việt Nam – Tiếp cận từ văn hóa
Ngày đăng 13/5/2015
Tình cờ lên mạng, tôi tìm được một bài ghi lại ý kiến của tôi về văn hóa giao thông ở ta. Cuộc phỏng vấn này quả thực là tôi đã quên, nhưng nay đọc lại mấy câu trả lời của mình, vẫn thấy không thể nói gì hơn. Vậy xin đưa lại ở đây để các bạn thử đọc.Bài in trên mạng của Bộ Giao thông vận tải
http://www.mt.gov.vn/matgt/tin-tuc/988/31396/giao-thong-vn---tiep-can-tu-van-hoa.aspx
Mặc cho những nỗ lực từ để giảm thiểu ùn tắc, tai nạn giao thông, đây vẫn là vấn đề gây bức xúc lớn. Từ góc độ văn hoá, ông Vương Trí Nhàn - người có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa Việt có thêm một số kiến giải.
- Thưa ông, những số liệu về tình hình vi phạm luật giao thông và tai nạn giao thông hàng ngày tự nó đã cho thấy sự phức tạp của vấn đề này, từ góc nhìn văn hóa và tâm lý xã hội, ông có nhận định gì?
Tôi tiếp nhận các tin tức đó tương đối bình thản, tôi nghĩ rằng khó mà khác được. Hàng ngày hàng giờ các yếu tố bình thường đã chuẩn bị cho điều đó rồi, chỉ cần trông cách đi lại thôi thì mình biết rằng thể nào cũng có tai nạn, trông con mắt của người đi đường thôi, cái cách nhìn băm bổ, cách bóp còi, cách ông ấy vượt đường thì mình biết rằng thế này thì làm sao thoát khỏi tai nạn!?
- Phải chăng ông đang nói đến sự tất yếu của nó?
Vâng, tôi muốn nói là nó là không thể khác. Chúng ta phải nhìn vấn đề an toàn giao thông rộng hơn, không thể nóng vội được. Tôi không ngớ ngẩn gì mà kêu gọi chúng ta chấp nhận nó, nhưng mà sự thực nhiều lúc phải chấp nhận nó và phải coi rằng là, muốn có an toàn giao thông thì phải có cách tổ chức giao thông khác hẳn, và ở đó phải có văn hóa giao thông.
- Thưa ông, chúng ta sẽ phải hiểu về khái niệm này như thế nào?
Ở Việt Nam tôi thấy còn nhiều cái tự phát và tôi có một suy nghĩ thế này, người Việt ít đặt đầu óc mình vào đi lại, vào giao thông, tôi có đọc một cuốn tục ngữ thành ngữ Việt Nam, trong đó có 400 trăm câu bàn về chữ nói, nhưng chỉ có 70 câu bàn về chữ đi, tức là đối với người Việt Nam, đi là cái gì đó bình thường, không đáng quan tâm, nhưng thực ra đều phải nghĩ về nó mới có thể tìm được cách đi tốt hơn. Trong cách đi của người Việt có thể thấy được tính cách của người đó, có thể thấy được nét văn hóa của người đó, đời sống tinh thần của họ ra sao, họ sống bằng lý trí hay bằng bản năng, họ quan niệm đời sống như thế nào? Cái đó cũng đúng với cả xã hội.
- Thói quen là một nét của văn hóa, người Việt thích sự tiện lợi. Chẳng hạn, người ta thích ngồi những quán cà phê vỉa hè, thích ngồi những quán bia dọc đường, hay thích rửa, sửa xe cộ ở những cửa hiệu bên lề đường…Ông có kiến giải nào về câu chuyện này không?
Cái mà bạn gọi là tiện lợi, thực ra đó là cẩu thả, tùy tiện và quan niệm sai về tự do, đường là cái chung, ai muốn làm gì thì làm, tôi đã chiếm được đoạn đường này rồi thì anh đi chỗ khác. Tất cả những cái cẩu thả ấy nằm trong cái nguyên nhân là anh không xác định được mối quan hệ của anh với xã hội.
Tôi cho rằng, con đường là biểu hiện cái chung của xã hội, và hiện nay cái chung ấy luôn luôn bị mọi người xâu xé, ai chiếm được thì người đó được. Tôi thấy rất nhiều hàng nước cứ rê ra ngoài để lấn thêm tí chút nữa và người bán hàng đó cảm thấy sung sướng lắm!
Hay là có nhiều người còn tỏ ra là họ bất cần đời đấy! Họ phô ra cái sự liều lĩnh, cái sự tùy tiện, sự trâng tráo của họ! Tôi thấy có nhiều người để xe trên đường, mặc cho những người đi lại đoạn đường ấy rất khó khăn, nhưng họ vẫn trơ ra, không có gì áy náy cả, đó dường như là tình trạng của xã hội ngày nay!
- Như ông nói thì liệu rằng có phải văn hóa trong ứng xử giao thông của chúng ta đã rất đáng báo động?
Tôi muốn nói là chúng ta phải nghĩ về việc làm người của chúng ta. Tôi thấy lâu nay báo chí thường chỉ nói ở tính công dân, luật pháp, nhưng mà chúng ta cũng cần nghĩ về người khác chứ không phải chỉ nghĩ đến bản thân mình. Cần phải suy nghĩ về sự tự trọng của con người!
Không phải việc mình vượt đèn đỏ mà không ai bắt được là cảm thấy sung sướng. Tôi thấy cái sung sướng đó tầm thường quá, nhỏ bé quá, buồn cười quá!!! Cũng như cái việc chúng ta bóp còi inh ỏi. Nó chứng tỏ chúng ta rất nông nổi. Vì tôi biết rằng có nhiều người cố vội lên một tý cũng chẳng để làm gì cả, rồi lại đến chỗ nào đó như hàng nước ngồi tán chuyện chả để làm gì! Mình không làm chủ nổi mình nữa! Chỉ cần đứng ngoài mà nhìn thì sẽ thấy chúng ta buồn cười làm sao!
- Thực ra riêng văn hóa giao thông, thì liệu có thể giải quyết được tất cả các vấn đề về thông hay không? Liệu rằng khi đặt vấn đề này thì chúng ta có tham vọng quá không?
Tôi thấy chỉ đặt vấn đề ý thức, luật pháp là không ổn. Nhiều lúc lẩn mẩn đi trên đường tôi nghĩ, nếu bây giờ ai vi phạm luật giao thông thì không cho họ tham gia giao thông một thời gian thì may chăng họ mới biết sợ? Thế nhưng sự thực vấn đề cuối cùng không phải như vậy. Con người ta vẫn có cái liều lĩnh của họ, tôi vừa đọc bài báo, nói về việc người dân ở Quảng Bình hay đâu đó, biết rằng cá nóc độc nhưng họ vẫn ăn, những người nông dân biết phun thuốc sâu là hại nhưng họ vẫn phun, chúng ta sống quen như thế rồi.
Tôi cho rằng các vấn đề về luật pháp, ý thức là rất cần thiết và phải chuẩn hóa hơn nữa, đừng có dễ dãi như hiện nay. Thế nhưng, cuối cùng, chúng ta vẫn phải xây dựng một xã hội có văn hóa hơn nữa, chúng ta phải làm cho con người có văn hóa hơn nữa. Văn hóa là thế nào, là sống có ý thức, suy nghĩ hiểu biết mình đang sống trong một đất nước như thế nào, thế nào là con người đáng sống, đáng trọng.
- Trên cơ sở những phân tích như trên, ông - với tư cách là một nhà nghiên cứu văn hóa, người có nhãn quan của một nhà phân tích tâm lý xã hội - ông có kiến giải gì để thực thi được văn hóa trong giao thông?
Chúng ta đã có nhiều giải pháp rồi, tôi chỉ đề nghị các giải pháp đó phải luôn luôn được kiểm tra, nhưng quan trọng hơn là chúng ta cần nghiên cứu, trở lại lịch sử tìm ra những nguyên nhân sâu xa của nó. Chứ nếu chúng ta chỉ nhìn thấy hiện tượng thôi mà không biết tại sao họ lại đi vội như thế, tại sao họ lại gây ra tai nạn như thế thì không được. Tôi kêu gọi cần phải có sự nghiên cứu về văn hóa, phải có sự vào cuộc của các nhà xã hội học. Tôi có một kinh nghiệm là, ai sống văn hóa thì người đó ít gây ra tai nạn, họ thường để ý chung quanh mình, hiểu biết chung về con người, hiểu biết chung về xã hội.
Nguyễn Cường thực hiện (Theo VietnamNet)
Không nên dung túng cho tâm lý ăn xin
Ngày đăng 14/5/2015
Vốn đã là câu chuyện đầu miệng của nhiều người, chuyện dân ăn xin hành nghề ở các đô thị cũng đã có lúc được đưa lên mặt báo.
Nhiều bài viết chốt lại ở cái ý: chúng ta phải cùng lo tìm cho được một biện pháp hợp lý. Thương người cũng phải có cách thương hợp lý, nếu không lòng tốt của chúng ta chỉ gây thêm tác hại.
Thế nhưng cái tâm lý nay còn đang bắt rễ nặng trong đời sống và biểu hiện ra đủ dạng đủ kiểu.
Trong khi lục lọi các tài liệu văn học sử hồi đầu thế kỷ, ngẫu nhiên tôi tìm được một tài liệu có liên quan tới đề tài này.
Đó là bài “Hịch đuổi kẻ ăn mày” của Tản Đà.
Tài liệu do tôi chép từ Tản Đà vận văncủa nhà Hương Sơn làm ở Hà Nội 1952.
Bài hịch này mở đầu bằng một đoạn dẫn nói rằng nhiều người ăn xin chẳng qua lười biếng, không chịu làm lụng
“Nhất như những đứa trẻ con đứng chực dưới xe điện và tụ họp ngoài cửa ô, thật có người nói chuyện với tôi rằng: nhiều người ở làng cạnh muốn nuôi chúng nó chăn trâu mà chúng nó không đi, cứ làm nghề xin xu, để dễ sự no ấm”.
Sau khi dẫn lại một câu trong sách Mạnh Tử: “Sự cho người có khi làm hại sự ân huệ”, tác giả nói thêm “sự không đáng thương xót mà thương xót, đó là VÔ HỌC”.
Tiếp đó, trong phần chính văn, tác giả mô tả và tỏ thái độ dứt khoát :
Hôm hôm mai mai
Bị bị bát bát
Quỷ đưa đường, ma dắt lối
Quen ngõ thời vào
Nay được thịt, mai được xôi
Thấy mùi đánh mãi
Cửa ô, xe điện
Rêu rao quạ vỡ chiều hôm
Đám hội, nhà chay
Quấn quýt gà què gặm cối
Làm xấu hổ cho cả nước
Khéo bêu nhuốc cho loài người
Bảo mãi mỏi mồm
Trông càng nhớp mắt
Nào là
Người nhà, con vú
Thằng ở quân hầu
Truyền lũ bay đóng chặt cửa vào
Thây cha chúng nó.
...
Người trong gia đình đến nay còn kể: Trong những lời Tản Đà dặn dò con cháu, có hai điều cấm, CẤM KHÔNG ĐƯỢC LÀM QUAN và CẤM ĐI ĂN MÀY.
Sở dĩ tôi muốn chép lại bài hịch này của Tản Đà còn vì một lẽ lâu nay mọi người đều biết nhưng không tiện nói ra:
Sau chiến tranh thấy mình khổ quá mà thế giới người ta sướng quá, lại vì càng ngày càng thấy có cố mấy thì cả trăm năm nữa xứ mình cũng không đuổi kịp người, ta ngầm cho phép nhau tha hồ ăn xin thế giới.
Giờ không còn là chuyện cá nhân ăn xin - cả các tập thể lớn, các Hội đoàn, các tỉnh thành, các ngành các bộ... cũng không ngại ăn xin.
Của giời ơi vậy, tội gì không xin - cái câu mà họ thầm bảo nhau đại khái là vậy.
Có ai định mở miệng ngăn cản thì sợ chung quanh dè bỉu lại thôi.
Kẻ đã không có lòng tự trọng thì còn bao giờ nên người nữa.
Tôi muốn nói thêm, một trí thức như Tản Đà:
- Tự tin ở học vấn và trình độ làm người của mình,
- Dám nói thẳng những ý nghĩ vượt lên sự thông thường
- Dám đứng ra dạy bảo đám đông
như trên, không thể có trong thời đại chúng ta.
Ngày đăng 18/5/2015
Có lần sang Đài Loan tìm mãi không ra hiệu thuốc, tôi mới nhận ra là ở Hà Nội mình sao hiệu thuốc nhiều thế.
Có cảm tưởng một tình trạng bệnh tật quá mức đang chi phối xã hội mình.
Bên cạnh những căn bệnh của cơ thể, lại đang phổ biến bệnh tâm thần.
Tra các từ điển Hán Việt thấy chữĐIÊN thường chỉ trạng thái mất trí khôn, cuồng dại, và người ta coi đó là một loại bệnh (khi viết bằng chữ vuông, thì chữ điên có bộ nạch chỉ bệnh tật)
Bệnh điên thường tới khi xã hội có những đảo lộn lớn, con người không thích ứng kịp.
Giá có ai để công tìm hiểu thêm tình trạng điên dại của nhân loại thời nay và trước tiên những lời bàn về chuyện điên? Chắc là nhiều ý tưởng hay ho lắm!
Một câu ngạn ngữ Hy Lạp vừa được một bạn nào đó dẫn ra trên mạng “Nếu Thượng đế muốn hủy hoại ai đó, thì trước hết, ngài sẽ làm cho kẻ đó hóa điên”.
Ở dạng thông thường của nó, sự điên dại có liên quan nhiều tới giới trí thức.
Một đoạn trong bài viết "Vừa khóc vừa cười" của Nguyễn Mạnh Tường in trong Giai phẩm mùa thu, tập III 1956, đăng lại trên VH Nghệ An 4/2011:
“Tôi sợ người trí thức im lặng. Tôi nghi ngờ người trí thức cười. Tôi thương người trí thức khóc. Tôi yêu người trí thức vừa khóc, vừa cười, khóc hôm nay để cười ngày mai, “khóc lên tiếng cười”.”
Hơn nửa thế kỷ đã qua, ngày nay loại trí thức mà Nguyễn Mạnh Tường nói ở đây không chừng đã tuyệt chủng.
Mẩu chuyện sau đây tôi nghe được hơn chục năm trước:
Sau khi Liên Xô sụp đổ, có một tiến sĩ (ở ta gọi là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành triết học nhảy lầu tự tử. Trước đó ông ta vừa bảo vệ thành công một luận văn xuất sắc về chủ nghĩa vô thần trong thế kỷ XX.
Về quan hệ giữa những người điên với thời đại, một nhà văn Senegan là Semben Ousman đã có lần trả lời phỏng vấn về châu Phi hậu thực dân trên một số tạp chí Người đưa tin Unesco:
Xã hội đã bị xé rách. Làng xóm nào cũng xuất hiện những kẻ điên điên khùng khùng. Hắn bị coi là điên vì nói to những điều mà người khác chỉ thì thào.
Có những tình thế quá bi đát mà người bình thường biết là phải tự khóa mồm lại nếu muốn tồn tại.
Bấy giờ người điên - hoặc cái yếu tố điên sẵn có trong mỗi người - mới đóng vai trò của mình.
Cách duy nhất để giải thoát bế tắc là người ta phải điên lên một chút.
Trong một lần ngồi giúp tôi phân tích một vài vấn đề thời sự, nhà văn Nguyễn Khải buột miệng:
- Nhiều khi lịch sử lại lên tiếng qua những thằng điên.
Tôi cũng không kịp hỏi cái nghịch lý ấy do Nguyễn Khải vay mượn của người khác rồi ông nói lại, hay tự ông nghĩ ra.
Một đề tài của khoa tâm lý xã hội học nhưng cũng là của văn học: mối quan hệ giữa điên dại và các trạng thái tâm lí khác.
Tôi đang có trong tay cuốn sách tiếng Nga -Từ điển về sự điên rồ - Slovar Bezumija . Trong sách, bên cạnh việc duyệt lại xem đề tài điên rồ kỳ cục đã được đề cập tới trong văn học cổ kim ra sao, chủ yếu nói tới các trạng thái khác nhau của điên.
Văn chương đã nói về sự điên như thế nào? Tôi xin chỉ nhắc qua:
- Một trong những vở chèo hay nhất của ta là vở Xúy Vân giả dại.
- Nguyễn Du tả cây liễu: Tối điên cuồng xứ tối phong lưu (lúc càng điên càng đẹp)
- Tú Xương: Ai rằng ông dại với ông điên
Ông dại sao ông biết kiếm tiền
Khi diễn tả cuộc sống ở các đô thị mới hình thành thời Pháp thuộc, trong truyện Đẹp, Khái Hưng cũng bắt đầu đưa ra mấy nét phác họa về người đàn bà điên.
Tchekhov là nhà văn vốn rất giỏi trong việc viết về những cái tầm thường nhạt nhẽo. Cái điên rồ cũng xuất hiện dưới ngòi bút của ông từ góc nhìn đó:
- (... ) Sự điên rồ xét ra còn thiết yếu và lành mạnh gấp trăm lần việc chúng ta theo đuổi những ý tưởng chập chờn vớ vẩn để tìm cho đời một ý nghĩa.
(Lời một nhân vật trong truyện Quan đại phu, bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, in ở Sài Gòn trước 1975).
Trước sau 1960, có một bài hát thiếu nhi hình như là của nhạc sĩ Lân Tuất.
Để diễn tả cái cảm giác sung sướng của đứa trẻ, trong bài có một câu kêu lên như thất thanh:Bay lên nào em bay lên nào.
Cái giai điệu chơi vơi đó, thường được bọn trẻ con chúng tôi hát chệch đi thành:
Điên lên rồi em điên lên rồi.
Bổ sung lúc 18h:
Bạn Vũ Đức Tân vừa nhắc một truyện ngắn Tchekhov, Phòng số 6. Tôi nghĩ nói về tình trạng điên dại thì không thể không nhắc tới truyện ngắn này, bởi lẽ ở đó, một nhân vật lúc đầu đóng vai bác sĩ chữa bệnh điên cho kẻ khác, sau lại trở thành con bệnh, bị đưa vào căn phòng của các bệnh nhân.
Một bằng chứng tuyệt vời về tình trạng dở dở điên điên của thế giới này.
Cũng của Tchekhov, tôi nhớ trong một tập truyện ngắn mà tôi biên tập lúc làm việc ở NXB Raduga, còn một truyện ngắn nữa mang tên Con bệnh thần kinh.
Nhưng lúc này tôi chẳng có một tài liệu nào trong tay nên chỉ gợi ra thế thôi.
Tôi lại muốn đặt cho mình một câu hỏi nữa
Trong cơ man nào là các loại luận án cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đã và đang làm ở các khoa văn học, văn hóa học, tâm lý xã hội học ở các trường đại học có luận văn nào làm về chứng điên dại trong một xã hội chiến tranh như xã hội ta và việc phản ánh nó trong văn học?
Bạn nào có biết mách giùm.
Ngày đăng 21/5/2015
Tình trạng điên dại thường đến với con người trong những thời kỳ xã hội có những biến chuyển quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của họ.
“Về nhà” là bộ phim được Trung Quốc giới thiệu tại liên hoan Cannes 2014 gây được xúc động mạnh không phải vì sự góp mặt của bộ đôi Trương Nghệ Mưu - Củng Lợi mà còn vì cách đặt vấn đề của phim về tác động của lịch sử đối với con người.
Nội dung phim lấy bối cảnh của thời mười năm động loạn 1966-1976...
Nhà trí thức Lục Yên Thức là một tù chính trị được thả ra sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa, nhưng khi trở về nhà, người vợ không nhận ra chồng nữa vì bà bị mất trí nhớ.
Nguyên do như sau: một ngày nọ, Yên Thức trốn trại và nhắn với vợ hẹn gặp nhau ngày 5 (nhưng lại không nói rõ là tháng nào!) ở ga xe lửa.
Hai người chưa kịp gặp nhau thì Yên Thức bị bắt lại, do bị chính con gái - vì ham lập công với tổ chức - tố giác.
Từ ngày đó, ký ức của người vợ như bị khựng lại ở thời điểm của cuộc gặp không thành.
Từ khi được thả về, Yên Thức cùng với con gái đã tìm đủ mọi cách để giúp cho bà nhận ra chồng trở lại, lúc thì giả vờ đi xe lửa về để bà ra đón, khi thì giả làm “ đồng chí” hàng xóm đọc cho bà nghe những bức thư mà ông viết trong tù nhưng chưa kịp gởi, thậm chí đọc những thư mà ông mới bịa ra thêm.
Có lúc tưởng chừng bà đã nhận ra chồng khi ông lẻn vào nhà ngồi đàn những giai điệu quen thuộc trên chiếc piano cũ kỹ.
Nhưng mọi công sức của hai cha con đều vô ích. Bà mẹ vẫn xem người chồng yêu dấu như kẻ xa lạ.
Cho đến nhiều năm sau, khi đã tuổi già sức yếu, cứ đến ngày 5 mỗi tháng, bà đều ra ga xe lửa để đón chồng, và người đưa bà ra ga chính là chồng và đứa con gái. Bộ phim kết thúc với cảnh ba người đứng trong tuyết lạnh bất động chờ đợi, với tấm bảng trước ngực ghi tên Lục Yên Thức.
Tôi đã thử thuật lại câu chuyện theo báo chí nước ngoài.
Một ý toát lên từ phim: bên cạnh tình trạng điên “tích cực”, kèm với phá phách, cần lưu ý tới tình trạng điên ở dạng âm tính, nó làm cho người ta dở sống dở chết, không còn là người bình thường nữa.
Những người tốt thường điên theo kiểu này.
Ở thời điểm của những đảo lộn xã hội bất ngờ, cùng với sự phát triển của tình trạng điên thì những tiêu chuẩn để người ta gọi nhau là điên ngày càng được giảm thiểu.
Người ta dễ chấp nhận nhau, bỏ qua cho nhau.
Ở đâu cũng vậy mà ở nước Việt Nam sau chiến tranh càng vậy.
Bấy giờ những người còn dám gọi căn bệnh mọi người đang mắc “theo đúng cái tên của nó” không chừng lại bị gán cho cái nhãn điên thực thụ.
Giả điên
Không phải Bên kia bờ ảo vọng hay Những thiên đường mù mà theo tôi chính Tiểu thuyết vô đề mới là thiên truyện đáng nhắc nhở nhất của Dương Thu Hương.
Tác phẩm kể về muôn vàn tình cảnh khác nhau đã đến với người lính miền Bắc trong những năm sống ở trong rừng.
Mà đầu mối câu chuyện thì là chuyến đi của một cán bộ quân đội, anh ta phải đi ngược từ tiền tuyến ra hậu phương.
Cấp trên giao anh ta nhiệm vụ áp tải một người đồng hương của mình về quê.
Để có cái hạnh phúc hiếm hoi đó, người này đã giả điên.
Một vài câu hỏi có thể đặt ra:
- Hàng thật phải xuất hiện như thế nào thì mới xui người ta làm hàng giả?
- Hẳn số người thành công khi làm hàng giả như nhân vật trong truyện không bao nhiêu so với số đã thất bại?
- Có bao giờ có người ban đầu giả điên, về sau lại điên thực?
...
Tôi tin rằng còn phải tiếp tục tìm hiểu nhiều về bệnh điên cả trong thời chiến lẫn thời hậu chiến ở ta 40 năm qua. Chừng nào bệnh điên được đặt đúng tầm vóc của nó mới có cơ may để hy vọng rằng dần dần ta sẽ hết điên.
Những tù nhân của lợi ích trước mắt
Ngày đăng 7/6/2015
Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ.
Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết (?!). Nên các bà vừa nghe phong thanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.
Không biết cách giải thích này có đúng không, nhưng nghe không phải không có lý.
Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính, trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ Nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi Nôm được. Một nhà nghiên cứu người Nhật đã bảo nó là một thứ bánh vẽ.
Tại sao có tình trạng đó?
Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế.
Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế!
Cái gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia.
Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực.
Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.
Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.
Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục.
Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm - tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò - so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại sẽ không dùng được.
Tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi.
Nhưng thay đổi thế nào bây giờ?
Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp?
Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện?
Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của, ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước.
Vâng, không thiếu gì cả.
Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?
Và trước tiên, điều vướng mắc nhất, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục - các thầy các cô hiện nay - sẽ đi đâu, làm gì?
Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?
Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm!
Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.
Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!
Không ai tự nguyện chặt chân mình.
Không ai muốn ném mình vào một tương lai vô định.
Nói cụ thể hơn,đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.
Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!
Như mấy ngày đầu tháng Sáu mấy năm trước, khi kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn.
Một phóng viên hỏi có phải năm nay bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình suôn sẻ thế, rồi một quan chức của bộ trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả.
Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được.
Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy.
Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì?
Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không ra sao à?
Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột.
Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt.
Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để có thành tích xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém.
Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học và bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc…
Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều bắt tương lai hy sinh cho hiện tại.
Thử tìm cách lý giải tình trạng trên
Tại sao người Việt hôm nay trở nên bảo thủ và thiển cận như vậy?
Ngoài những nguyên nhân lịch sử lâu dài, cái chính là chúng ta vừa trải qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp.
Chiến tranh bao giờ cũng đặt người ta vào cái đêm tối mịt mùng chỉ biết an phận chỉ biết mong chờ may rủi.
Huống chi cuộc chiến tranh 30 năm đã làm cho cả xã hội lẫn từng cá nhân cạn kiệt hết sức lực. Không ai đủ sức nghĩ về những cái cao xa trừu tượng, không ai có đủ lòng tin để mà chăm lo cái cuộc sống như lý tưởng mà ông cha bao đời và nhân loại phổ biến bao giờ cũng nghĩ. Người ta chỉ còn lo kiếm chác hưởng thụ. Người ta trở nên tầm thường hơn hẳn các thế hệ sống trong thời bình.Trình độ làm người của cả xã hội bị hạ thấp. Qua văn học, tôi có được biết một ít về tình trạng người Việt trước chiến tranh và tôi luôn luôn cảm thấy, so với họ thì các thế hệ người Việt sau chiến tranh kém đi về mọi mặt. Chỉ tiếc là để chứng minh được điều này, tôi không đủ sức.
Những dấu hiệu của một tư duy trung cổ
Ngày đăng 9/6/ 2015
Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông “Kép Tư Bền” trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.
Câu chuyện được kể chỉ cốt để phô ra một tình trạng gian dối phổ biến trong sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sống thực giả tùy tiện. Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết thực thụ về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.
Từ đây, không khó khăn gì để nhận ra mầm mống của nhiều sự lạc hậu khác như cách nghĩ chín bỏ làm mười, bất chấp chuẩn mực, không coi cái gì là thiêng liêng, bịa sai bị tố không chịu nhận, xem thường lẽ phải và pháp luật.
Ngày nay chúng ta còn bắt gặp nó trong những tin tức đưa ra hàng ngày trên báo chí. Nhiều làng làm giả hồ sơ thần tích để xin cấp bằng di sản văn hóa. Nhiều chi tiết ở các vụ án “có dấu hiệu bị làm lệch”. Hết thể thao khai man tuổi đấu thủ lại đến bóng đá trọng tài bắt thiên vị.
Trên các trang mạng thường xuyên có các tin bài dành để tố cáo tiến sĩ rởm, giáo sư rởm.
Đấy là nói trên những sự việc trong đời sống hàng ngày. Nói chi đến những chuyện tầy đình - như ba mươi năm chiến tranh, đã bao người Việt bị chết, trong nạn suy thoái kinh tế hiện nay có bao nhiêu công nhân thất nghiệp - các con số đưa ra khi thấp khi cao và chỉ phụ thuộc vào ý muốn của người có quyền.
Sự cố ý làm sai nhiều khi đã biến thành gian manh càn rỡ, bất chấp quỷ thần cũng như dư luận xã hội.
Sự thiếu chính xác trong suy nghĩ đến đây tìm được biến tướng mới, là tô vẽ lịch sử, viết lại lịch sử cho vừa mắt vừa tai, miễn là đề cao được mình, do đó có lợi.
Ta hãy trở lại với cội nguồn của thói quen này.
Trước khi đề ra các chính sách xã hội ở Đông Dương, người Pháp thường huy động nhiều nhà khoa học đi điều tra nghiên cứu điền dã và tìm hiểu ngược mãi lên tận nếp sống trì trệ đã hình thành nhiều đời trong xã hội Việt.
Trong số này phải kể tới Pierre Gourou (1900—1999).
Tình trạng tư duy không có cái gì chính xác của người Việt đồng bằng sông Hồng từng được ông miêu tả tường tận trong cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (viết năm 1936 và bản dịch ra tiếng Việt in ở Hà Nội 2003, in lại 2015)
Theo cách miêu tả của Gourou, ở các làng xã, “chỉ cần đưa một ít tiền cho chức dịch là có thể nhận được một bản khai sinh hoàn toàn theo ý thích, trong đó ngày tháng năm sinh được ghi phù hợp với nguyện vọng của người xin”.
Sự phổ biến của các hiện tượng tương tự buộc người ta phải kết luận rằng đây là một biểu hiện của trình độ tư duy và một quan niệm sống chi phối xã hội suốt từ trên xuống dưới.
Nên biết rằng đến thời cận đại, ngay các vua chúa cũng không bao giờ biết cả nước có bao nhiêu dân, quan chức các cấp không cần biết một làng mà họ thu thuế có bao nhiêu xuất đinh, còn các xã thì bao giờ cũng cố giấu bớt số người phải nộp thuế để trốn thuế được chừng nào hay chừng ấy.
Lúc đầu thì người ta không thể làm, sau thì không muốn làm. Sau nữa thì lợi dụng bóng tối để làm những chuyện có lợi cho mình.
Thói quen sống trong bóng tối đã đóng vai một nhân tố cản trở sự trưởng thành của xã hội.
Một vài hiện tượng khác được Pierre Gourou ghi nhận cũng khá đắt giá.
Ông bảo đến một làng khi cần hỏi về lai lịch của làng, người ta chỉ nhận được những câu trả lời rất mơ hồ; nếu như muốn có một sự chính xác thì câu sau thường lại mâu thuẫn với câu trước.
Gần như không làng nào có ý niệm chắc chắn về sự thành lập của làng mình, đi đâu cũng chỉ thấy người ta thề sống thề chết là làng mình có từ cổ xưa, đâu như từ thời Hùng Vương, tức là đã có từ hơn bốn ngàn năm trước.
Gourou chỉ hết ngạc nhiên khi biết rằng một dòng họ có vài ba người thăng quan tiến chức thì thường thuê ngay một nhà nho có tên tuổi viết lại gia phả nhà mình. Mà nhà nho ấy thì nghĩ rằng ông ta có nghĩa vụ thêm thắt vào cuốn gia phả ấy nhiều chi tiết cho nó đẹp thêm, và không ai thấy phải thắc mắc về hành động đó cả.
Sự thiếu hiểu biết và nói chung là thiếu ý niệm chính xác về thời gian của cả cộng đồng như tạo ra một lớp sương mù huyền hoặc. Càng về sau những người chép sử càng sử dụng độ lùi của năm tháng để vùi lấp tất cả trong sự mù mờ và không cho phép ai đi tìm sự thật.
Cũng về vấn đề thời gian hai tác giả người Pháp khác là Pierre Huard và Maurice Durand trong cuốn Hiểu biết về Việt Nam (1954) lưu ý xã hội Việt xưa chưa biết tới đồng hồ, và khái niệm về thời gian “chỉ được kinh qua chứ không được đo”.
Sự lẫn lộn giữa lịch sử và huyền thoại trở thành đương nhiên.
Theo Pierre Huard và Maurice Durand, đây là dấu hiệu của sự tồn tại dai dẳng của kiểu tư duy tiền Descartes thường thấy ở phương Đông.
Trong lúc chờ tìm hiểu thêm về tiền Descartes, tôi tạm lấy một câu chuyện trong Trạng Quỳnh để minh họa cho khái niệm này.
Theo bản Trạng Quỳnh bán ở sạp báo trước cửa chợ Đồng Xuân mà tôi đọc được thời gian trước 1954 - nghĩa là một dị bản lang thang trong dân đô thị thời loạn - thì có lần Trạng cho kéo đến trước mặt sứ Tầu một cây gỗ, rồi đề vào đó ba chữ “Hồ bất thực” và bảo hãy giải nghĩa cây đó là cây gì.
- Xin chịu, kính nhờ Trạng giảng hộ.
- “Hồ bất thực” là cáo chẳng ăn. Cáo chẳng ăn thì cáo đói. Cáo đói thì cáo gầy. Cáo gầy là cây gạo.
Vu vơ vậy mà bao nhiêu năm nay người ta cho là thông minh kiệt xuất.
Tư duy trung cổ chi phối người Việt suốt những năm chiến tranh. Những lúc cuộc chiến bế tắc là lúc thứ tư duy đó trở lại như một điểm tựa.
Sang thời hậu chiến, trong khi tuyên bố mình đi vào hiện đại hóa thì trên nhiều phương diện - trước tiên là trong tư duy - vẫn thường xuyên có sự trở lại của các yếu tố tiền hiện đại, chả ai buồn thắc mắc gì cả.
Tức là trên đường hướng cơ bản, chúng ta chỉ muốn sống giống như cha ông ta đã sống trước khi người Pháp tổ chức xã hội Việt Nam theo mẫu hình của họ thế kỷ XIX.
Chúng ta chẳng đang dùng những lời lẽ tồi tệ nhất để miêu tả cuộc sống dân tộc trong giai đoạn Pháp thuộc là gì?
Một nếp tư duy thô thiển cứng nhắc
Ngày đăng 14/6/2015
Năm 1988, tôi đang làm biên tập cho nhà xuất bản Raduga ở Moskva thì ở Hà Nội nổi lên hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn Tướng về hưu, Vàng lửa, Kiếm sắc…
Vừa nhận được bài viết của tôi mang tên “Khuôn mặt nhầu nát – tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp”, một đồng nghiệp cũng viết phê bình như tôi nhắn sang:
-Ông Nhàn đang ở bên Nga, biết gì về Nguyễn Huy Thiệp mà viết.
Chỗ trong nghề với nhau, tôi biết việc tôi có bài viết theo hướng khen Nguyễn Huy Thiệp lúc đó là ngược với “giai điệu chính” đang chi phối dư luận nên những người từ chối tôi có cái lý riêng của họ.
Nhưng vẫn cứ thấy buồn cười cho cách nghĩ khá phổ biến ở những người cầm bút nước mình.
Ơ kìa, tôi có được sống trong không khí văn nghệ tiền chiến đâu mà vẫn viết đều đều về các vị từ Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu…
Cũng như tôi có được gặp Tsekhov Hemingway đâu mà dám viết lời giới thiệu cho các tập truyện của họ dịch ra tiếng Việt?!
Vậy thì nếu không đồng ý với cách đánh giá Nguyễn Huy Thiệp của tôi thì hãy tranh luận.
Chứ lấy cớ tôi đang ở xa đối tượng mà bảo rằng tôi không hiểu gì về đối tượng là cách nghĩ của… trẻ con, người đã cầm bút viết văn viết báo không có quyền con nít mãi.
Xin tạm gọi đó là cách nghĩ giản đơn thô thiển.
Thuở nhỏ tôi cũng từng có cách nghĩ thế.
Năm 1954 ở Hà Nôi khi thành phố mới được đội quân từ Việt Bắc về tiếp quản, lần đầu tiên đám trẻ con phố Thụy Khuê chúng tôi mới biết thế nào là đài phát thanh. Nhiều phen, đứng ở đầu phố, nghe các bài hát cất lên từ chiếc loa đặt trên cột điện - mà ngày nay ta gọi là loa phường - tôi tưởng tượng người ca sĩ đang đứng ở phía đầu dây bên kia hát cho đám người nghe chúng tôi.
Giữa các sự vật chúng ta chỉ biết những mối quan hệ trực tiếp. Rồi ta tưởng cả thế giới giống như cái ao làng mà ta vùng vẫy, cái gì ta không nhìn thấy tức là không có trên đời này.
Nó là bằng chứng của một đời sống nghèo nàn quanh quẩn của một xã hội tiểu nông.
Và nó cũng là một khía cạnh của nếp tư duy trung cổ như tôi nói trong bài trước.
Chỉ tính riêng trong phạm vi văn chương nơi tôi hành nghề, cho đến tận những năm đầu thế kỷ XXI này, người ta vẫn nghĩ theo cách đó.
Đại khái khi cần xác định giá trị của một nhà văn đã khuất, người ta vẫn tin rằng chỉ những người thân của ông ta hiểu ông ta hơn cả, hiểu hơn mọi nhà phê bình nghiên cứu nào khác.
Hoặc khi viết về chiến tranh, tác phẩm của một nhà văn sống lâu dài ở chiến trường ắt bao giờ cũng hơn hẳn những tác phẩm của người chỉ có mặt ở đó một thời gian ngắn, ngoài ra lo đọc sách và tìm hiểu các vấn đề xã hội bao quát.
Một cách tiếp thị của nhiều nhà văn nhà thơ thời nay là kể về quá trình làm việc của mình với tác phẩm.
- Tôi đã lao tâm khổ tứ thức mấy đêm ròng mới làm nên bài thơ này.
- Tôi đã xé đã đốt mấy bản thảo và bản tôi trình ra hôm nay là bản cuối cùng.
-Còn đây chính là những dòng tôi viết ra khi có ý định tự tử.
...
May mà tôi sớm tránh được lối nghĩ lẩm cẩm đó.
May là ở chỗ trước khi về công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, tôi có một năm - là năm 1967 - làm giáo viên văn hóa ở Đoàn kịch Tổng cục chính trị. Ở đó, có một điều giống nhau mà các đạo diễn Thành Ngọc Căn, Vũ Minh, các diễn viên Thùy Chi, Xuân Thức, Kim Oanh, Tường Sơn, Hoàng Thành Lợi… có dịp đều nói với tôi:
- Nhiều khi người diễn viên chân thành khóc lóc thảm thiết trên sân khấu mà người xem chỉ thấy buồn cười.
Ngược về quá khứ tôi nhớ tới con người trong câu chuyện ngụ ngôn, gà đẻ trứng vàng.
Còn ngày nay là những dạng thức khác nhau của cái giản đơn mà người ta thích lặp đi lặp lại.
Cách đây bốn năm chục năm là cách nghĩ mà bọn học sinh Hà Nội chúng tôi bị nhồi vào đầu:
- Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước.
- Làm sao mà các trí thức được đào tạo ở nước ngoài lại có lòng yêu nước nồng nàn như những người cả đời chỉ sống với mảnh đất này?
Giờ đây lối nghĩ giản đơn máy móc này lại đang chi phối cả đoàn quân chiến thắng sau chiến tranh, cố nhiên là nó hiện ra qua những dạng thức mới.
- Đã đánh Mỹ được thì ta làm gì cũng được.
- Những người anh hùng dày dạn kinh nghiệm trong chiến tranh sẽ dắt dẫn chúng ta đến những đài vinh quang mới trong thời bình.
- Chỉ con cháu những người đã đổ máu vì đất nước này mới biết cách làm cho đất nước này trở nên thịnh vượng.
Vì cách nghĩ ấy quá phổ biến nên khi đặt vấn đề về nó, chính tôi cũng ngần ngại. Nhưng ở tuổi 70 của mình tôi thấy không cách nào khác là chúng ta phải đưa nó ra bàn bạc.
Ngày đăng 18/6/2015
So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.
Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.
Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – Nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi.
Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội.
Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.
Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.
Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.
Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng.
Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.
Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.
Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử.
Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán.
Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần 2010: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá.
Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc.
Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.
Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.
Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn.
Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở.
Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.
Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.
Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.
Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên Sài Gòn Tiếp Thị 5/12/2009 "Thị Vải là dòng sông đã chết") thì chúng lê lết trong cảnh thân tàn ma dại?!
Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật.
Sông bốc mùi dơ.
Sắc nước ngả màu.
Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại.
Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!
Với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18, vụ Vinashin…
Tôi muốn bổ sung: thời có những con sông chết như sông Thị Vải!
Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một ngoại lệ và với con sông là một đặc ân.
Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả.
Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động lúc nó lâm chung.
Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.
Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp.
“Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman.
“Đầu xuân gió mát tựa hè
Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân
Sông là người đẹp khỏa thân
Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”.
Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.
Tôi rất ngại phải đọc lại các bài thơ lý sự của Chế Lan Viên, nhưng vẫn thường nhẩm lại những bài ông viết về cây cỏ tình người trong đó có mấy câu ông đặt ở cuối Ánh sáng và phù sa viết từ 1960:
Có tiếng lớn của sông Hồng bát ngát
Bờ thêu khoai thêu lúa thêu nhà
Sông thấy đồng bằng sông bỗng hát
Như người thi sĩ lúc hùng ca
Có tiếng nhỏ của sông Thương nước mắt
Sông nhớ thương ơi nước chảy đôi giòng
Lòng ta là một cánh đồng lẩn khuất
Đau bên đoài nên gió thổi bên đông
Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ.
Liệu có ai đáp lại không?
Lần đầu in trên Thesaigontimes 4/3/2010
Thói háo danh tạo nên hàng giả
Ngày đăng 27/6/2015
Ngay giữa phố phường Hà Nội, nếu để ý thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những ngôi đền nhỏ. Từ 1986 về trước, loại đền này thường coi như bị bỏ quên và thoi thóp sống trong cái vỏ mốc meo.
Gần đây, nhiều đền miếu loại đó được sang sửa. Tường quét vôi vàng. Hàng chữ trên cổng được tô lại cẩn thận. Bạn có biết người ta viết gì không: Toàn những tối linh từ (ngôi đền linh thiêng hạng nhất) với lại thượng đẳng từ (ngôi đền loại cao cấp).
Lại nhớ có lần xem tivi thấy nhà đài đưa máy đến quay một ngôi đền lâu ngày đã hoang vắng và chỉ vừa mới được tu sửa lại. Máy quay cảnh phóng viên trò chuyện với người dân địa phương. Hỏi đền xây tự bao giờ? Không ai biết. Hỏi đền thờ ai? Cũng không biết nốt. Chỉ có điều hai vị lão nông suýt soa, với giọng có vẻ bí hiểm:
- Nhưng mà đền chỗ chúng tôi linh thiêng lắm, từ bao đời nay các cụ chúng tôi vẫn truyền tụng lại như vậy.
Tôi cứ nhớ mãi chuyện này vì nó đang là một cách nghĩ phổ biến: Nhiều người bị cái danh vị nó ám. Tức là trước một sự việc ta thường chỉ thạo cái khoản ý nghĩa. Còn như chính cái việc ấy ra sao thì ta không biết và giá biết rằng nó hoàn toàn không tương xứng với cái danh kia thì cũng lập tức đánh cho hai chữ đại xá.
Đọc lại tạp chí Tri Tân, in ra khoảng 1940-1945, có lần tôi bắt gặp một bàì viết, cũng liên quan đến thói ưa tiếng hão của dân mình.
Thay cho chữ hiếu danh, nhà nghiên cứu Hoa Bằng gọi đó là cái óc hiếu thượng. Ông viết “Cái hiếu thượng của số đông người mình đã lộ rõ ở từ ngôn ngữ đến cử chỉ, từ hành vi trong gia đình đến động tác ngoài xã hội. Người ta chơi câu đối? Phần đông không phải vì thích chữ tốt yêu văn hay, nhưng vì muốn sĩ diện ở mấy cái lạc khoản có chức tước. Người ta in danh thiếp? Không phải vì cốt thông tính danh, tỏ địa chỉ, song hình như chỉ cốt trưng những chức sắc, tước trật, và phẩm hàm. Người ta đăng cáo phó? Có lẽ ít vì cốt để báo tang, nhưng phần nhiều cốt để lợi dụng cái chết của ông bà cha mẹ mà quảng cáo cái danh phận của con cháu…”
Thế mới biết cái tiếng hão nó tác oai tác quái ở mọi nơi mọi chỗ!
Trong sinh hoạt hàng ngày thì thói ưa tiếng hão có vẻ là một căn bệnh dễ tha thứ. Người ưa tiếng hão vốn hiểu mình chẳng ra sao, nên phải bịa ra một tí danh tiếng cho cuộc sống đỡ tủi.
Điều đáng buồn là đã có những lúc nó ăn vào trong tâm lý của những con người chịu trách nhiệm cả những việc phải gọi là đại sự.
Có một dạo lâu lắm rồi, dư luận bàn tán nhiều về cái đề án đào tạo 20.000 tiến sĩ của ngành giáo dục. Đề án được tung ra trong hoàn cảnh cả xã hội đang phát sốt về tình trạng lạm phát tiến sĩ rởm thời gian qua. Người ta tìm thấy ở đó một kết luận khái quát rằng chắc chắn năng lực của ngành không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của hội nhập và phát triển trong thời gian tới.
Tại sao đã biết không thể làm rồi mà vẫn tính chuyện chạy theo mục đích quá cao như vậy? Thật dễ thông cảm với tâm lý người trong cuộc.
Phải trình ra cho mọi người thấy mình có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.
Phải chứng tỏ là tình hình ngày mỗi sáng sủa hơn. Rồi lại còn nhu cầu đối ngoại nữa chứ. Thời buổi hội nhập này lúc nào chẳng phải đón đủ các loại khách quốc tế. Phải làm thế để cho thiên hạ thấy mình cũng đang rất bảnh.
Anh có tiến sĩ ư, tôi cũng tiến sĩ, kém cạnh gì đâu? Ở chỗ riêng tư nhiều người hẳn biết cái tiếng hão này cũng hấp dẫn lắm và do đó khó cưỡng lắm!
Có điều hãy thử cùng nhau nghĩ lại: Thế tức là nhân danh những mục đích tốt đẹp, chúng ta bằng lòng với việc làm hàng giả, và mở đường cho những sự giả mạo khác tiếp tục phát triển.
Đến đây thì cái sự ham tiếng hão không vô can và đáng thông cảm nữa! Làm hàng giả là cả một tội ác vì nó khơi nguồn cho mọi thế hệ hàng giả khác sinh sôi nẩy nở
Cái giả làm lộ bản chất xấu xa của cái thật
Ngày đăng 30/6/2015
Sự phổ biến của cái giả
Không khó gì nếu muốn tìm dẫn chứng cho sự phổ biến của cái giả trong xã hội chúng ta đang sống.
Nhà văn bạn tôi Triệu Bôn nhiều năm sống ở chiến trường, nên thấy sau chiến tranh quê hương biến chất lấy làm bực bội lắm. Trước khi ông mất, đến thăm ông ốm, tôi được nghe ông cười nhạt bảo: “Tôi đã thấy những tờ giấy báo để nguyên đặt giữa xấp tiền âm phủ người ta bán cho mẹ Hằng nhà tôi về đốt ngày giỗ. Tức là có hàng giả của hàng giả. Thế thì ông tính còn cái gì người ta không tính chuyện bịp nữa”.
Trong trường hợp này người ta làm hàng giả để đỡ mất công hơn làm hàng thật.
Giả sống hơn thật
Cuối năm 2004, tôi đọc được một bài báo kể chuyện bên giới nghệ thuật, tranh làm giả lại bán chạy hơn tranh thật và cố nhiên là các họa sĩ làm giả đó sống khỏe hơn các họa sĩ “chỉ là chính mình”.
Tương tự, về chuyện quan họ - theo lời nhà văn Nguyễn Phan Hách - ở Bắc Ninh đang có hiện tượng vui vui.
Các diễn viên quan họ thật thì sống khó khăn, thỉnh thoảng đi diễn mà chẳng được bao nhiêu. Ngược lại, số diễn viên nghiệp dư trong những tổ chức “dân lập” hoạt động theo lối xe ôm, taxi, lúc nào cũng túc trực đấy, có người mời là đến phục vụ liền, sống khá sung túc.
Những ví dụ này cho thấy mối quan hệ kỳ lạ giữa thật và giả. Trong khi nương tựa vào nhau chúng không chịu bó vào vị trí sẵn có. Đôi khi ở đây có cả sự thay bậc đổi ngôi nữa.
Trong tiểu thuyết Thiên Long bát bộ củaKim Dung, một chuyện giả thật kỳ thú cũng xảy ra với Thạch Phá Thiên. Nhân vật này bị bắt đi, thay vào đấy một Thạch Phá Thiên giả, tạo ra “náo kịch” mang đầy dư vị triết lý.
Ngày nay trong giới viết văn, viết báo mới vào nghề hồi chống Mỹ bọn tôi, không thiếu gì người hồi chiến tranh viết rất hay, nhưng càng già viết càng nhạt hẳn đi.
Ví dụ như Phạm Tiến Duật. Cố nhiên rất nhiều, rất nhiều các nhà thơ cùng lứa với Duật sau chiến tranh đã dở đi. Nhưng vì bọn tôi từng yêu Duật quá, đề cao nhà thơ Trường Sơn này lên, nên bây giờ mới bàn nhiều về cái sự suy vi kém cỏi của thơ ông.
So với ông Duật cũ nay chúng tôi có một ông Duật hồn cốt hôm qua chẳng còn là bao. Khi muốn gọi ra một bài của ông viết sau chiến tranh, chẳng biết gọi bài nào cả.
Bắt chước cách nói của Kim Dung, một người bạn khác - tôi không nhớ là ai - đã bảo:
- Giờ thì ông Duật ấy là ông Duật giả. Chứ Phạm Tiến Duật thật bị bắt về Tầu rồi.
Giả lại hơn thật – chuyện chỉ có ở Việt Nam sau chiến tranh
Khoảng những năm 1975-1980, đất nước mới thống nhất, trong khi nhiều thứ hàng được mang từ Sài Gòn ra Hà Nội, thì cũng có một vài thứ mang ngược từ Hà Nội vào, trong đó có bút máy Trường Sơn do Nhà máy Hồng Hà chế tạo.
Bút thuộc loại xoàng, bây giờ đã tuyệt chủng.
Thế nhưng người dân Sài Gòn lúc ấy vẫn thích có một thứ gì đó của miền Bắc trong nhà nên đua nhau sắm.
Thế là đẻ ra cái chuyện mấy bác ba Tàu ở Chợ Lớn làm giả bút máy Trường Sơn để bán.
Nhưng lạ nhất là cái sự thực sau đây, người nói với tôi là nhà văn Nguyễn Quang Sáng:
- Này, chính Trường Sơn giả lại tốt hơn Trường Sơn thật, thế mới bán chạy.
Cái giả làm lộ bản chất xấu xa của cái thật
Còn đây là một ví dụ về mối quan hệ thật, giả trên phương diện chính trị xã hội tôi đọc được trên báo Tuổi Trẻ số ra 17/4/2007.
Chuyện kể rằng đầu năm 2007, Trùng Khánh nhật báo ở Trung Quốc làm một cuộc thay đổi, trong một số ở trang nhất đưa tin một xã trưởng vận động gánh nước cho dân, còn tin nhà lãnh đạo thành phố làm gì đó thì mang vào trang hai.
Thông thường báo chí bên Tầu cũng như bên ta, sự kiện gì đó có liên quan đến cấp cao thì tô đậm kẻ viền, đưa vào chỗ thật nổi, còn chuyện của quan chức cấp dưới và dân thường thì giấu tít vào trong.
Sự thay đổi kỳ lạ quá, đến mức có người đã nghi tờ Trùng Khánh nhật báo hôm đó là báo giả, nên mang về nhà đối chiếu. Không chừng còn có người đi tố cáo nữa!
Trong các trường hợp ở trên, cái giả thường khi là cái kém cỏi.
Ở trường hợp này, cái giả chỉ là cái khác. Còn tin đưa trên Trùng Khánh nhật báo bị nghi là giả vì cách người ta đưa nó khác đi so với cách tờ báo vẫn đưa.
Việc người ta nghi ngờ nó là giả chỉ chứng tỏ cái cũ đã tồn tại quá lâu và trong đầu óc người ta mọi cái khác đi bị coi là giả, với nghĩa xấu nhất mà chữ giả vẫn được hiểu.
Đã cổ hủ đến thâm căn cố đế như thế thì còn hòng gì thay đổi nữa.
Quanh chuyện sự phổ biến của cái giả ở Việt Nam. Một chuyện vui vui
Nói tới cái giả ở người Việt tôi nhớ hơn cả tới cái ý khá độc đáo của Ngô Tất Tố, chuyện ông nêu ra làm hiển hiện cái chất giả mà chỉ người Việt mới có.
Trên một số báo Thời Vụ, ra năm 1938, tác giả Tắt đèn viết:
“Đọc báo hàng ngày, thỉnh thoảng lại thấy xã hội Việt Nam sản ra những bọn người giả.
Giả mật thám, giả lính đoan, giả làm người của sở nọ sở kia.
Hạng người nào cũng có kẻ giả, trừ ra một bọn ăn cướp.
Có lẽ trong các thực đơn của thế giới, không đâu có nhiều món giả bằng nước An Nam.
Cũng thì một miếng thịt, người ta bầy ra đủ trò:
- Nấu với tiết gọi là giả trâu.
- Nấu với riềng mẻ gọi là giả cầy.
- Nấu với hành răm gọi là giả chim, nấu với đậu nghệ gọi là giả ba ba, đốt đi rồi bóp với thính đỗ tương thì lại bảo là giả dê.
Đồ ăn là thứ sẽ ăn vào miệng, hễ qua hàm răng thì nó là lợn hay trâu, hay gì gì nữa, cái lưỡi sẽ biết tức thì, thế mà chúng ta cứ làm giả, thì có khác chi xúi giục nhau rằng: trên đời không có cái gì mà không giả được? Cái nạn nhiều hạng người giả cũng từ đấy mà ra”.
Thoạt nghe “đôi khi cái giả lại rất cần thiết”, hẳn mọi người thấy chối tai, không thể chấp nhận. Song sự thực vẫn có biết bao trường hợp như vậy. Cái giả loại này đẩy xã hội đi tới. Và câu chuyện giả cầy, giả chim... mà Ngô Tất Tố nói cũng không xấu nữa.
Ngày đăng 5/7/2015
Mấy năm 1986- 1989, tôi cùng hàng chục vạn người Việt làm việc ở Nga. Chúng tôi được trả lương bằng đồng rúp. Nhưng không thể mang tiền về tiêu ở Hà Nội.
Để giúp đỡ gia đình, cách duy nhất chúng tôi có thể làm là kéo nhau đi mua hàng. Hàng ngày những cái đầu đen tỏa ra khắp các cửa hàng Moskva. Các thứ máy khâu, bàn là, bếp điện vòng bi… trở thành những cái đích tuyệt vời để chúng tôi theo đuổi, chiếm lĩnh.
Mà thời ấy, khốn khổ nước Nga cũng thiếu hàng trầm trọng. Chỗ nào cũng xếp hàng. Vèo một cái hàng đã hết. Có người mua được, người không. May mắn của mình nghĩa là bất hạnh của kẻ khác. Giữa những người Việt cùng đi mua hàng tự nhiên là hình thành một sự thù ghét.
Khi mới sang Nga , bắt gặp một đám người mình đánh hàng, tôi còn lớ ngớ nhờ họ chỉ dẫn. Sau vài lần hỏi mãi mà chỉ nhận được những câu trả lời lăng nhăng, tôi hiểu rằng nếu mình cũng đến mua thì họ hết nguồn. Hẳn họ không thích thú gì trước sự có mặt của kẻ khác.
Đối diện với bản thân, tôi nhận ra chính mình cũng đã có cái tâm lý tương tự. Nguyên tắc không ai bảo ai được toàn thể mọi người tự nguyện thực hiện. Nhiều khi nhìn nhau ở xa đã thấy ngán ngẩm.
Quay trở về “ốp"- nơi ở tập thể, nhìn những cộng đồng dân cư khác thấy thèm. Cả người những nước nghèo hơn mình người Lào, Triều Tiên… sao họ có thể thương yêu nhau hơn người mình.
Còn người Việt thì chỉ thấy đồng bào là những kẻ cạnh tranh, là kẻ mua mất thứ hàng mình có thể mua, tóm lại là một đối tượng để ganh ghét.
Chúng tôi thấy xấu hổ vì cách sống cách nghĩ ấy, nhưng cuộc sinh tồn đòi hỏi, trước sau đâu vẫn đóng đấy, và chỉ đành nhủ thầm đây đã là thứ di truyền trong máu mất rồi, không ai bỏ nổi.
Ở đâu con người cũng nói “Đời là một cuộc đấu tranh”.
Ngoài đấu tranh với thiên nhiên, cái triết lý đấu tranh nói ở đây thường được hiểu là đấu tranh với những đồng loại và cuộc đấu tranh này được biểu hiện với vô vàn sắc thái kỳ lạ.
Trong con mắt Bá Dương, “bất kể ở chân trời góc bể nào, hễ có người Trung Quốc là có cấu xé lẫn nhau”. Để tồn tại, họ phải thường xuyên tự nhủ lúc nào cũng có người hại mình.
Lý Tôn Ngô tổng kết lịch sử Trung Quốc cho rằng những người thành công đều là những người mặt dày tim đen. Mặt dày là hoàn toàn vô lương tâm, tim đen là tuyệt đối tàn nhẫn.
Không hoành tráng lắm, song ở người Việt, cuộc đấu tranh để tồn tại này lại hiện ra với vẻ dai dẳng và rộng khắp.
Theo Edmond Nordemann “Cuộc đấu tranh vì sự sống, mặc dầu đã được vẻ thờ ơ của phương Đông làm dịu bớt, vẫn mang tính chất khốc liệt rõ ràng hơn tất cả mọi nơi khác” (Quảng tập viêm văn)
Cho đến thời đương đại, nhận xét này vẫn còn ý nghĩa của nó. Nam Cao viết rằng hạnh phúc là một cái chăn quá hẹp. Nói thế vẫn là quá hiền. Hạnh phúc có nhiều nghĩa mà nghĩa đầu tiên, đơn giản nhất là sự tồn tại. Sống sót mới là động cơ đánh thức nỗi niềm yêu ghét ghê gớm của con người.
Trong Những bước đường tư tưởng của tôi, Xuân Diệu kể lại một lần khoảng 1942 theo xe lửa dừng lại ở một vùng đồi núi Quảng Bình, ông chứng kiến cái cảnh đứa bé ba tuổi giậm chân bắt đền người mẹ : “Nhả ra! Trả đây!”.
Thì ra người mẹ lúc cho con ăn, đói quá,không tự chủ được, trót ăn mất của con mấy thìa cơm.
Mà đứa trẻ biết.
Nó la hét như thế hàng mười lăm hai mươi phút.
Lúc bấy giờ ám ảnh tồn tại đã thắng mọi thứ tình cảm nhân bản khác.
Tại sao có hiện tượng trên? Từ Darwin đến Freud, các nhà tư tưởng vĩ đại đều đã xác định: Đấu tranh trong loài là khốc liệt nhất.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu từng dẫn lại một nhận xét mà ông cho là cực kỳ thông minh của Hàn Phi Tử: “Người muốn giết vua nhất là hoàng hậu và thái tử.”
Có điều lâu nay trong xã hội Việt, chúng ta quen sống bằng một ảo tưởng ngược lại.
Toát lên qua ca dao tục ngữ, là cái huyền thoại người nghèo thường biết đùm bọc nhau, chỉ có kẻ giàu mới ác.
Song trong thực tế, người nghèo cũng ác, có khi càng nghèo càng ác.
Tại sao?
Theo các nhà xã hội học, ở đâu nghèo về vật chất,ở đấy cũng có sự nghèo hèn về tinh thần, và đặc điểm chính của người nghèo là dễ bị tổn thương.
Nghèo ở đây còn có nghĩa là không có khả năng thay đổi đời mình.
Trong một xã hội tiểu nông cái mà mọi người đều biết làm thì luôn luôn thừa. Cái mà mọi người cùng cần thì luôn luôn thiếu.
Hàng thịt nguýt hàng cá. Hai gái lấy một chồng.
Bởi chúng ta quá giống nhau nên xảy ra tình trạng như vậy.
Trong giải bóng đá ngoại hạng Việt Nam, từ lâu tôi đã nghe nói đến một tình trạng kỳ lạ: Hình như người ta sợ vô địch. Tới bản tin thể thao trên VTV1 tối 27/9/2007, một nhà bình luận cho biết thêm: chỉ những trận cầu play-off mới đáng xem. Bởi đó là những trận người ta phải loại trừ nhau một sống một còn.
Cả hai phương diện trên của bóng đá cũng là tinh thần chung chi phối cuộc sống hôm nay, ở các mặt khác.
Hội chứng "Ít chịu học hỏi","Tự mình mê mình ở người Việt”
Ngày đăng 27/7/2015
Nhiều người Việt sống ở nước ngoài đã chia sẻ với chúng ta cảm giác thương mến nhớ nhung khi xa Tổ quốc. Nhưng bên cạnh đó, những ngày gần đây, người trong nước còn nhận được những lời tâm sự kín đáo và những suy nghĩ thâm trầm.
Như trường hợp Vĩnh Sính, giáo sư đại học Alberta, Canada.
Tập sách Việt Nam và Nhật Bản - giao lưu văn hoá (1)của ông có nội dung khá phong phú.
Có bài khái quát “Vị trí lịch sử của Trung Quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản” hoặc đề cập tới “Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.”
Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô.
Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha.
Điều đáng nói là ở đó người ta bắt gặp mấy đoạn ghi nhận về một khía cạnh còn đang ít được nói tới trong tâm lý dân mình, nhưng lại rất thiết yếu với công cuộc hội nhập đang trở thành câu chuyện hàng ngày của dân ta hôm nay.
Lời nhắn nhủ của Vĩnh Sính bộc lộ trong ba trường hợp:
1/ “Thiên kỷ III đang mỉm cười” là mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn Quốc vào tháng 11/1998.
Khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung Quốc, Hà Phương Xuyên, là để vươn lên tầm thời đại, các dân tộc châu Á cần chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá.
Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoá” cần phê phán.
Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn Quốc Park Seong Rae bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “bệnh độc lập” của người Hàn.
Theo Park Seong Rae “nếu người Hàn Quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng (Nhật Bản và Trung Quốc) - chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn Quốc - thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn” (tr 336).
Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người” (tr. 337).
2/ Bài viết về Shiba Ryôtarô (1923-1996) giới thiệu một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật.
Ông này có viết riêng một cuốn sách phân tích quá trình lịch sử Việt Nam. Theo ông ở Việt Nam, “làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước “(tr 280), và đó là một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội Việt. Theo tôi hiểu ý nhà viết sử này muốn nói là tình trạng lộn ngược đó (làng quan trọng hơn nước), là bằng chứng về tình trạng lạc hậu rõ rệt của cộng đồng mà chúng ta đang sống.
Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật cho là người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung.
Đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “xem người dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác” ( các tr 288 –289), đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.
3/ Một dịp khác, Vĩnh Sính dừng lại ở câu chuyện về một nhân vật của thế kỷ XVII.
Đó là Chu Thuấn Thuỷ (1600-1682) một trí thức Trung Quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm.
Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam.
Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh.
Những ngày làm việc với người Việt được Chu ghi lại qua tập sách mỏng An Nam cung dịch ký sự dịch ra là Ký sự về việc phục dịch ở An Nam, 1657. (2)
Dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu của một cơ chế khép kín ít tiếp xúc với bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì hiểu biết của người Việt cũng rất hạn chế.
Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu không có bằng cấp thì lập tức rẻ rúng.
Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay tới thế kỷ XXI, chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ!
Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường.
Sự yếu kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ.
- Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “Người quý quốc đọc những truyện như “Tam quốc diễn nghĩa” hoặc “Phong thần” mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. [Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử]. Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ” (tr.393).
- Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (tức Chu Thuấn Thuỷ).
Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương - Vĩnh Sính chú) và chín học phái (tức cửu lưu: Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv…- Vĩnh Sính chú), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản” (tr 392).
Sau hết, Chu cho rằng xứ này “tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng” (tr.401).
Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “nước Dạ Lang” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ”. “Dạ Lang tự đại” đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển Hán - Hán phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.
Chú thích:
(1) Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu quốc học xuất bản, 2001. Những số trang ghi trong bài đều dựa theo bản in trên
(2) Bản dịch cuốn sách này, do Vĩnh Sính thực hiện đã được Hội khoa học lịch sử Việt Nam cho xuất bản, 1999, với nhan đề “Ký sự đến Việt Nam năm 1657.”
Ngày đăng 31/7/2015
Mấy năm trước, tôi nhớ vào trước bản tin thời tiết, thường có cảnh quảng cáo sữa, một em bé đi đâu về chạy sầm sầm vào nhà, mở tung tủ lạnh lấy ra que kem, rồi thè lưỡi ra trước mặt ống kính.
Giờ thì việc quảng cáo các loại đồ ăn càng ngày càng chiếm một thời lượng lớn. Người ta đua nhau phô ra trước màn hình hình ảnh mình và gia đình mình sung sướng như thế nào khi được nhấm nháp một món ăn ngon. Như thể lên tiên cả một lượt!
Còn đây là quảng cáo điện thoại di động: một nhóm công chức trẻ mặt mũi cực kỳ sáng sủa nhưng trong giờ làm việc chỉ chơi bời nhẩy nhót, đến lúc sếp gọi mới cuống cuồng chạy đi lấy dữ liệu và sung sướng thấy là may quá cái máy đã giúp mình mọi việc.
Xin nhắc lại người thanh niên ở đây mặt mũi rất thông minh, cái nhìn thẳng đầy tự tin rõ ra người có học hành. Nhưng cảm tình của tôi với anh ta bay biến hẳn khi anh ta vênh mặt sung sướng gặp ai cũng khoe vì có được chiếc điện thoại di động hiện đại.
Trở lại câu chuyện đứa trẻ thè lưỡi trên màn hình.
Tôi hay nói với người trong gia đình, ngày xưa trẻ mà như thế thì chết đòn với các cụ. Có thèm ăn thèm uống đến mấy cũng không thô bỉ như thế được. Mà lại nhơn nhơn ra nữa chứ. Đưa lên tivi để trẻ em nhà nào cũng xem trong bữa cơm chiều liệu có nên không?
Nhìn chung tôi muốn chấm dứt hẳn việc sử dụng trẻ vào các chương trình quảng cáo - như ở các nước, người ta cấm sử dụng lao động ở trẻ em vị thành niên.
Thời Hà Nội còn xe điện, tôi nhớ có những người bán kem trên tàu và những người quảng cáo lơ tẩy hồng hoặc kim băng, đá lửa…Họ có lối nói thế nào đó mà làm cho người ta dù biết là mình bị lừa, vẫn cứ cuống cuồng đi tìm hàng lạ.
Cách nói của những người quảng cáo trên tivi hôm nay thường cũng vậy. Cả nước lúc nào cũng như đang ngồi trên toa xe điện ngày cũ. Và đó chính là một trong những dấu hiệu chỉ rõ trình độ sống của chúng ta.
Giữa vòng vây của một thị trường quảng cáo tàn bạo
Ngày đăng 2/8/2015
Chị Đàm bạn tôi kể bữa cơm cũng như mọi nhà thường hay đồng thời xem tivi. Nhưng tay chị luôn phải cầm bộ điều khiển để hết tin là tắt tiếng ngay, một sự tự vệ tránh sự khó chịu mà quảng cáo mang lại.
Sao mà quảng cáo thời nay nhiều thế!
Chúng tôi là lớp người già, thường nhớ cái câu “hữu xạ tự nhiên hương".
“Chắc là hàng kém hàng hỏng thì nhiều nên mới phải chi cho quảng cáo lớn đến thế” - thấy sự lặp lại quá đáng của nhiều chương trình quảng cáo mang tính áp đặt, một số cánh già thường tự nhủ vậy.
Sau thấy thế cũng khí oan vì trong mê hồn trận của hàng hóa hiện nay, nhiều khi không quảng cáo không được.
Còn mức độ ư? Thời đại ngày nay làm sao mà mức độ được.
Quảng cáo ồn. Quảng cáo nhạt. Quảng cáo vào nhà người ta theo lối của kẻ gian phi, cứ sắp đến những tin mà người ta chờ đợi - chẳng hạn các tin thời sự thế giới, hoặc mảng tin thể thao - buộc người ta đằng nào cũng phải nghe.
Và tôi cũng ngờ trong cái triết lý chi phối nhiều chương trình quảng cáo, ở cái lõi của nó, không khỏi chứa chất một chút ý tưởng lưu manh.
Họ khinh bỉ con người. Họ biết rằng con người rất yếu đuối. Người cổ lỗ luôn luôn thèm khát trở thành người hiện đại, kẻ xấu xí trả bao nhiêu tiền cũng sẵn lòng, nếu trong phút chốc được sống cái cảm giác “hình như mình đẹp”.
Khi tung ra những quảng cáo vô tội vạ, người ta có cái sung sướng của kẻ quyền lực vô hạn.
-Để bán được hàng, tôi có quyền nói quá lên so với sự thực. Tôi chỉ phô ra mặt tốt, còn cái mặt xấu nói ra làm gì.
- Nói dối ít chút thôi, nhưng chẳng phải là mọi dối trá đều thắng thế miễn là lặp đi lặp lại nhiều lần.
Đó cũng là thứ triết lý cố ý lấy thịt đè người, đẩy tới cùng thì thành triết lý của khủng bố và bạo lực.
Rất nên quan tâm tới... hiện tượng lưu manh, tâm lý lưu manh cách sống lưu manh
Ngày đăng 18/7/2015
Trong bài “Đường đi và người đi - Những khám phá thú vị về xã hội người Việt xưa” in trên Thể Thao &Văn Hóa số ra 18/12/2011 nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có viết:
“Ngày xưa đi buôn, thường phải thuê người gánh hàng, một người gánh hai thúng gọi là Đểu, hai người gánh chung một thúng hoặc một kiện hàng gọi là Cáng. Dân gánh thuê Đểu Cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ buôn, nên chữ Đểu Cáng dần mang nghĩaxấu, cũng như chữ Lưu manh - người mù đi lang thang, đôi khi cũng trộm cắp, nên chữ này cũng mang nghĩa xấu”.
Tôi muốn bàn thêm với anh Thượng riêng về hai chữ “lưu manh”.
Chữ “manh” ở đây không phải người mù.
Trong chữ Hán cũng có một chữ “manh” viết bằng cách kết hợp chữ “vong” với bộ mục, Đào Duy Anh dịch nghĩa là “mắt không có con ngươi, tối tăm”.
Nhưng trong từ ghép lưu manh thì sách vở xưa nay đều viết chữ manh khác, gồm chữ “vong” như trên và bộ thị thay cho bộ mục. Chữ “manh” nói về sau này thời cổ là chỉ chung là dân. Trong Bình Ngô đại cáo có câu:
"Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập"
Đào Duy Anh dịch là:
"Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp"
Là dùng chữ “manh” ấy.
Từ chỗ ban đầu chỉ dân nói chung (Hiện đại Hán ngữ từ điển giảng “cổ đại xưng bách tính”), sau chữ manh này chỉ dân không có nghề nghiệp. Nó cũng không mấy khi được dùng riêng mà thường dùng như một thành phần trong từ ghép lưu manh.
Anh Phan Cẩm Thượng cho rằng đểu cáng thi thoảng có trộm hàng của chủ hàng nên có nghĩa xấu.
Nghĩa xấu đó là gì? Từ điển Khai Trí Tiến Đức 1931 ghi “đểu cáng là hạng người hèn mạt vô hạnh”. Như vậy là từ một thói xấu đã biến thành một bản chất. Nay đểu cáng thường dùng như một tính từ chỉ phẩm chất.
Hạng lưu manh cũng vậy. Các từ điển Hán - Hán hiện đại thường ghi “lưu manh ban đầu chỉ dân lang thang vô nghề nghiệp, sau chỉ kẻ “bất vụ chính nghĩa, vị phi tác đãi”, tức là kẻ không biết chính nghĩa là gì, dám làm mọi việc phi pháp xấu xa.”
Tra các từ điển Hán Anh, tôi thấy người ta thường dịch lưu manh thành rogue, gangster, hooligan, sau đó chuyển sang nghĩa rộng hơn, nó dùng để chỉ những quan niệm hành động phi đạo đức, liều lĩnh, bậy bạ, rộng hơn là những triết lý “vô thiên vô pháp”, cho phép người ta dùng mọi thủ đoạn cốt đạt được mục đích.
Dẫu sao tôi cũng cảm ơn nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Từ chỗ nghiên cứu nghệ thuật thuần túy, anh chuyển sang nghiên cứu cơ sở của nghệ thuật là xã hội.
Khi nghiên cứu về giao thông Việt Nam trong xã hội cũ, anh không chỉ nói tới đường đi mà còn nói tới người đi, vì thế mới có câu chuyện chúng ta trao đổi ở đây.
Tôi lại rất tán thành cái hướng mà anh theo là phân chia xã hội không theo thang bậc giai cấp chung chung nông dân—địa chủ phong kiến mà theo các tầng lớp hình thành trong xã hội như kẻ sĩ, nhà buôn, kẻ hạ lưu trộm cướp lưu manh.
Xin phép nói thực, tôi cũng đang muốn làm như vậy.
Phần góp chuyện của tôi:
Ngày nay chúng ta thường hay lý tưởng hóa chữ dân. Nhưng ở trang 87 của Từ điển từ nguyên tiếng Trung (Nxb Hồng Đức H. 2008), tác giả Nguyễn Mạnh Linh ghi:
"Để áp bức nô lệ làm việc và tránh tạo phản, bọn chủ nô thường bắt họ đeo gông tay gông chân hoặc dùng mũi khoan chọc mù mắt họ. Chữ dân trong Giáp cốt văn và Kim văn nghĩa gốc là chỉ nô lệ, nghĩa rộng chỉ kẻ bị thống trị trong đó bao gồm nô lệ và dân thường. Sau này phiếm chỉ bách tính quần chúng nhân dân."
Phải đi vào từ nguyên học lôi thôi như vậy vì nói tới người dân xưa là nói tới tình trạng lang thang vô nghề nghiệp.
Mà đó cũng là nguồn gốc tạo nên cách sống của họ.
Họ chẳng coi cái gì là quan trọng.
Họ dám làm những việc động trời bất chấp pháp luật. Nhờ thế, trong lịch sử các nước như Trung Quốc,Việt Nam, họ là nguồn gốc của những hỗn loạn mà ngày nay ta hay gộp vào và gọi chung là những cuộc nông dân khởi nghĩa.
Lưu manh du đãng… ở ta đóng vai trò lớn trong các cuộc chiến tranh kể cả nội chiến lẫn chống ngoại xâm. Nhiều bộ sách cũ tôi đọc được có ghi những người theo Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận là du đãng, mà sau này Quang Trung mạnh cũng là nhờ tập hợp và phát huy sức mạnh đám người này.
Trong lịch sử Trung Quốc, những Lưu Bang Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương Minh Thái Tổ cũng mang đậm trong mình chất vô lại, du đãng, lưu manh. Đã có câu tổng kết trí thức chỉ làm đến tể tướng chỉ có lưu manh mới có thể làm vua.
Nhận xét ấy trong thời hiện đại được chứng nghiệm qua bộ đôi Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.
(Tuy Mao Trạch Đông cũng là một trí tuệ siêu đẳng, song yếu tố chủ đạo trong ông vẫn là lưu manh).
Lịch sử cả Đông lẫn Tây vận động theo hướng xã hội khép kín trong các làng xóm thôn lạc thời cổ điển bị phá vỡ, con người tràn ra thành thị. Trong khi các tầng lớp nhà buôn và quan lại dùng tri thức tổ chức lại đời sống thì tầng lớp lưu manh cũng xuất hiện, và phát triển mạnh theo hướng thâm nhập vào các tầng lớp khác.
Trong xã hội Việt Nam sau 1945, do mải lo chiến tranh, nên chúng ta dung túng cho mọi cách sống khác nhau.
Trong khi không chú ý tới những tiêu chuẩn đạo đức nhân bản, xã hội để mặc cho xu thế lưu manh phát triển, nó mặc sức chi phối sự hình thành nhân cách từ người lao động đến người có học, làm họ cũng trở nên lười biếng tầm thường tàn ác vô cảm, nhất là khinh thường mọi sự thiêng liêng, cho phép mình sống như quỷ dữ.
Tức là lưu manh hóa họ.
Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính.
Và họ căm thù trí tuệ nói chung.
Ở tầng lớp lưu manh khoác áo trí thức, cái lõi là vô học, bao nhiêu cái có học bên ngoài chỉ là đắp điếm thêm.
Ngày đăng 6/8/2015
“Thời đại ta là thời đại của những nghịch lý” - cái ý ấy tôi được đọc lần đầu là từ một bài viết của L.Landau, nhà vật lý Xô - viết từng được giải Nobel.
Về sau đọc vào đâu cũng bắt gặp cái tinh thần ấy.
Hoàng Phủ Ngọc Tường từng có câu tả Cà Mâu: Ở đây người ta “chèo thuyền giữa rừng, cá đẻ trên cây và những dòng sông thì đều bắt nguồn từ biển”.
Đó là cái nghịch lý trong khung cảnh.
Sau đây là một câu trong Kinh Thánh tôi nghe được từ Nguyễn Khải. “Mi là muối mà mi không mặn thì còn muối được ai” .
Anh Khải thích nhắc lại câu đó mỗi khi nói về sự tầm thường của văn nghệ minh họa: khi nó không còn là nó, thì không thể có những tác dụng mà người ta mong muốn.
Trong các chuyện chưởng của Kim Dung, có một triết lý trở đi trở lại: nay là thời chính tà lẫn lộn. Chính những kẻ thuộc tà phái lại cư xử với nhau đàng hoàng còn chính phái thì có tất cả những thói xấu của tà phái, chỉ có điều bọn họ cố tình giấu giếm cho nên càng đáng ghét. Và thái độ của con người trong thời nay được nêu lên trong cái quyết tâm sòng phẳng với mình:
- Thà làm chính tà còn hơn làm ngụy quân tử.
Vào khoảng những năm 1980 trở đi, khi bắt đầu phải suy nghĩ về hướng làm ăn trong thời hậu chiến, với quyết tâm làm sao vừa sống đủ vừa lương thiện, tôi thường “dịch” câu đó thành cái mệnh đề chỉ đạo gia đình mình:
- Thà buôn bán mà đóng thuế đầy đủ còn hơn là cán bộ nhà nước mà ăn cắp.
Chả là ngày trước người ta coi tư nhân buôn bán là xấu, chỉ có cán bộ nhà nước mới là những con người chân chính.
Cũng khái quát về sự hư hỏng của những giá trị mà xưa nay người ta vẫn cung kính, tôi nhớ cách nói của một nhà tư tưởng phương Tây:
- Bọn tiểu nhân thì không biết thế nào. Còn các vị quân tử thì tôi biết rồi, tởm lắm!
Một vài câu khác ghi được từAnh em Karamazov của F. Dostoievski:
- Đối với những người không óc kinh nghiệm, nhiều khi cái mặt người đời lại là trở lực ngăn cản tình yêu.
- Sống với bất kỳ giá nào, tôi cho rằng họ Karamazov nhà ta, người nào cũng có đặc điểm ấy.
- Đối với một người tự do, không có nhu cầu nào cấp thiết bằng tìm một nhân vật để kính phục.
- Không gì quyến rũ con người bằng tự do ý chí, nhưng cũng không có gì đau đớn bằng tự do ý chí.
- Có những loại người mà thà làm kẻ thù của hắn, còn hơn làm bạn của hắn.
Người Việt ra làm ăn ở nước ngoài
Ngày đăng 9/8/2015
Chuyến đi Đông Âu của bọn tôi có thêm một chương trình mới, thăm các cơ sở làm ăn của người Việt ở nước ngoài.
Ở Berlin Đức, là chợ Đồng Xuân. Nhưng hôm chúng tôi đến là 10 giờ sáng, chợ này còn chưa mở cửa.
Ấn tượng còn lại chỉ là cái câu slogan đặt trên bức tường chính “Hàng giá rẻ cho mọi nhà.”
May mà trước đó chúng tôi đã đến chợ Sapa bên Praha của Séc và dừng lại khoảng nửa tiếng.
Ở Hà Nội, tôi đã được biết các phiên chợ đêm chỉ toàn bầy bán hàng Tầu.
Các chợ Việt ở Đông Âu cũng vậy. Mặc dù từ lâu đã biết đến cái sự thực đó, nhưng lúc đối diện với những gian hàng trong cái chợ gọi là của người Việt này, vẫn cứ thấy nhói lên một cái gì đó.
Chúng ta chả có gì để nói chuyện với thế giới.
Mặc dù mới 4 giờ chiều, nhưng chợ Sapa hôm ấy khá vắng.
Chỉ có vài người Tây loại nghèo đi sắm những đồ dùng tạm.
Chúng ta chỉ cần cho những người ấy, những người như chúng ta và hơn chúng ta một chút. Giống như những cái ốc vít xoàng xĩnh, chúng ta chỉ phù hợp với những cỗ máy cổ lỗ mà người ta chưa tiện thanh lý.
Từ 1975, tôi đã có một đứa em xin đi học nghề in ở Đức. Nay Thư và gia đình ở một tỉnh nhỏ. Do chỗ trước đây đã có thời gian Thư làm việc cho nhà nước Đức nên được phép ở lại. Thư thường kể thành phố của cậu ngày một ít người. Có dạo, có một cái ô tô, chở đầy hàng, sáng sáng chở ra ngoại ô, mở tung xe, giống như một gian hàng, bán cho những bà già Đông Đức nghèo và ngại đi chợ. Có dạo làm cái nghề đi giao hàng cho người mua hàng qua mạng. Việc mỗi ngày mỗi ít. Chuyến đi lần này của tôi là đi bụi, do Saigontourist tổ chức, nên cũng chẳng kịp nhắn Thư đến gặp nữa.
Ở cuối gian hàng Sapa bọn tôi gặp một người khoảng trên dưới năm mươi, tiếp chuyện khá vui vẻ. Ông ta kể trước cũng sang đây làm thực tập sinh, nay đi đi về về Praha Hà Nội. Thì cũng như các cụ nhà mình ngày xưa bỏ Hà Nội lên Lào Cai, Yên Bái hoặc Cao Bằng, Lạng Sơn buôn bán ít năm rồi lại quay về. Câu chuyện cuối cùng của ông mà chúng tôi nghe được có liên quan tới tương lai. Các ông sẽ kéo dài tình trạng một chốn đôi quê không biết đến bao giờ. Bởi về nước bây giờ ngại nhất là tình trạng luật pháp không rõ ràng. Ở bên này người ta nói một là một hai là hai. Về nhà thì các ông ấy cứ lấp la lấp lửng, mà lại nay thế này mai thế khác, mỗi ông lên lại một khác, không biết thế nào mà lần.
Ngày đăng 9/8/2015
Nhân thấy hai bức ảnh đưa trên facebook ngày 31/7/2015, có bạn hỏi tôi sau chuyến đi tám ngày qua bốn nước Hungary, Áo, Séc, Đức, cảm giác thế nào.
Tôi chỉ có thể nói một cách tổng quát một ý rằng bộ phận này của châu Âu có cái gì ổn định, trong khi đó ở ta tất cả nháo nhào chẳng có cái gì là mạch lạc cả.
Từ nước nọ qua nước kia, ô tô chúng tôi đi qua nhiều vùng nông thôn.
Ở cái thiên nhiên thứ nhất này, cảm giác của tôi là một sự thuần hóa triệt để, chỗ nào cũng có bàn tay con người, kín đáo nhưng thuần thục kỹ lưỡng, nhờ đó thiên nhiên lại hiện ra với bộ mặt đẹp đẽ nhất của nó.
Còn ở ta, nếu không phải là cái thiên nhiên hoang dã đe dọa con người, thì cũng lại là cái thiên nhiên điêu đứng vì sự tàn phá của con người.
Với cái thiên nhiên thứ hai là các thành phố, tôi hiểu được tầm vóc trí tuệ của châu Âu.
Một người bạn cùng đoàn bảo tôi, anh xem, không có cảnh giải tỏa với lại đào lên lấp xuống như ở mình.
Tại sao? Vì từ một hai thế kỷ trước người ta đã tính được con người ngày nay sống ra sao.
Mấy bữa ăn trưa ở Hungary cũng như ở Áo, chúng tôi đều được dẫn xuống ngồi ăn ở những tầng hầm.
Chắc nhiều bạn trẻ có thể sẽ cười, vì mấy ông già chỉ hay nói về những cái cũ kỹ đã thuộc về quá khứ.
Nhưng quả thật cái khung cảnh đó cho tôi cảm giác được sống lại cuộc sống người dân châu Âu thời trung đại và cận đại.
Lịch sử đối với tôi đang là cái đáng quan tâm nhất.
Ba mươi năm trước, nhiều người thuộc thế hệ tôi qua Nga học tập và làm việc. Khi ấy, chúng tôi nghĩ về Hungary, Séc hay Đức như là một trình độ văn minh khác.
Hôm nay đây, niềm ước ao ấy mới thành hiện thực.
Ngay từ hôm tới Hungary, tôi đã cảm thấy như được gặp một người đẹp, hôm qua chỉ thấy trong mơ, giờ mới được chiêm ngưỡng cả dung nhan cốt cách.
Nhưng đúng là một người đẹp thật.
Gặp rồi thì thấy sự ngưỡng mộ của mình hôm qua là đích đáng.
Châu Âu ở bộ phận này đúng là một châu Âu nhiều phần già nua, và có khi cả chậm chạp nữa. Hôm nay nhiều người chúng tôi đã biết đến cả Tây Âu, Bắc Mỹ. Tình cảm đã phôi pha đi nhiều. Nỗi sung sướng của bọn tôi hôm nay giống như được mời một bữa cơm dân dã. Nhưng được cái nhân đây ôn lại cả cuộc đời mình. Dư vị vẫn còn theo mãi.
Với tư cách một người nghiên cứu văn học, khi qua Đông Âu mà cũng là Trung Âu, tôi thường nhớ tới một kết luận của các nhà văn học sử:
Từ nhiều thế kỷ trước thiên hạ đã biết văn học Anh, văn học Pháp.
Sau đó, văn học Nga được phát hiện
Chỉ đến thế kỷ XX chúng ta mới biết tới văn học Trung Âu.
Nhưng làm sao tưởng tượng được nền văn học thế kỷ này nếu thiếu đi F.Kafka và Z. Freud. Ông bác sĩ người Áo này không phải nhà văn nhưng mọi cuốn từ điển văn học, mọi bộ văn học sử đều phải có phần nói về ông...
Càng khó hiểu thì F.Kafka và Z. Freud càng hấp dẫn.
Vì họ giúp ta hiểu được cả những cái tăm tối vốn là một phía của nhân loại.
Ngày đăng 17/8/2015
1. Lời khuyên đầu tiên.
Ở trường đại học ra, sau khi thu xếp được một chỗ làm việc tàm tạm, cái việc mà một thanh niên tự trọng hiện nay phải lo đầu tiên, theo tôi chưa phải là lo học thạc sĩ rồi lần lên tiến sĩ... mà là học để có được một ngoại ngữ có thể sử dụng tự do và trước tiên, dư sức đọc các tài liệu chuyên môn.
Mỗi khi có dịp trò chuyện với các bạn trẻ, lời khuyên đầu tiên tôi muốn nói - nếu như được yêu cầu có một lời khuyên - đơn giản như vậy. Đây là kinh nghiệm tự học của tôi, mà cũng là điều tôi rút đúc được, qua nhiều thành bại của các đồng nghiệp.
2. Nhận rõ vị thế của mình!
Các trường đại học mà bọn tôi theo học nhà cửa đơn sơ, phòng học nhiều khi chỉ là mấy gian nhà lá trống trải, sách vở và phương tiện thiếu thốn, cổ lỗ.
Nay các trường đại học ở ta đã khang trang to đẹp hơn nhiều.
Nhưng, theo chỗ tôi hiểu, trước sau trình độ đào tạo ở ta vẫn vậy, người sinh viên ra trường thường không nhập được vào guồng máy sản xuất của xã hội, còn so với trình độ đại học ở các nước tiên tiến thì lại càng không theo kịp (giá có muốn xin việc ở nước ngoài cũng không ai người ta nhận!)
Chúng ta chỉ được đào tạo rất sơ sài..., chắc chắn đây là điều mà các bạn trẻ đã nghe nhiều lần.
Song biết lơ mơ là một chuyện, mà ghi tạc nó vào tâm trí, để biến thành ý chí, nghị lực trong hành động lại là một chuyện khác.
Mà chỉ khi nào người sinh viên ở trường ra thấy đau đớn khổ sở vì mình chưa được học đến nơi đến chốn, tiếc cho tuổi trẻ của mình không vươn tới được cái tầm lẽ ra nó có thể vươn tới... thì người ta mới bắt tay vào tự học thực sự, tự học có kết quả.
Nhưng làm thế nào để biết rằng mình còn đang kém cỏi, nếu không đọc rộng ra sách báo nước ngoài. Xin phép được lấy ví dụ từ kinh nghiệm bản thân: Nhờ tự học tiếng Nga, hiểu văn học Nga (và chút ít văn học phương Tây qua tiếng Nga) mà tôi có điều kiện để nhìn nhận văn học Việt Nam phần nào thấu đáo hơn, cũng như quan niệm của tôi, cách hiểu của tôi về văn học nói chung, trong chừng mực nào đó, cũng trở nên hợp lý hơn. Một số bạn trẻ gần đây chỉ lo học ngoại ngữ để giao thiệp, trong khi đó học để đọc sách, kể cả “đọc” qua máy tính... mới là việc chủ yếu của người muốn tự học.
3. Tinh thần lập nghiệp.
Ta chỉ hay nói lớp trẻ nên khiêm tốn biết ơn những người đi trước...
Song có một tinh thần nữa mà người thanh niên ngày nay phải thấm nhuần, ấy là không thoả mãn với kiến thức được truyền thụ, coi rằng moi việc người trước đã làm đều chưa hoàn thiện, thế hệ mình còn phải tiếp tục; hoặc trong khi chấp nhận sự hoàn thiện của người đi trước, thì vẫn tin rằng thế hệ mình sẽ có cách làm khác, để đi tới một sự hoàn thiện mới.
Về mặt đạo đức mà xét, cách tốt nhất để thế hệ đi sau tỏ lòng biết ơn với những người đi trước, là tìm cách vượt lên trên họ.
Sự hiểu biết kỹ lưỡng về thành tựu của những người đi trước là nhân tố có vai trò kích thích người trẻ tiếp tục khai phá mở đường.
4. Mấy “chiêu thức” cần thiết.
Có nhiều “động tác” mới nhìn tưởng là chuyện nhỏ, song lại có ý nghĩa quyết định và các bạn trẻ mới bắt tay tự học nên biết:
a/ Các loại sách từ điển bách khoa cho phép người ta có được bức tranh toàn cảnh về một lĩnh vực kiến thức nào đó, bởi vậy, với những người tự học, là một công cụ thật thuận tiện. Vả chăng không phải chỉ tra một từ điển, mà có khi mò mẫm tra nhiều từ điển khác nhau, để tìm ra cái tối ưu. Khi sử dụng Bách khoa toàn thư, không nên quên theo dõi phần thư mục của nó, để tìm xem chung quanh vấn đề mình đang theo đuổi có những quyển sách nào đáng đọc nhất, rồi dành thời gian đọc bằng được. Theo cách này, tôi đã có thể hiểu kỹ thêm vài môn học mà quả thực, lúc học ở trường, chưa được các thày dạy, hoặc dạy quá sơ sài, thậm chí là dạy sai nữa.
b/ Trong khi tự đặt cho mình một kỷ luật làm việc, đồng thời ta nên dành ra những khoảng trống tự do, để từ lĩnh vực mình phải học, đọc lấn sang các lĩnh vực khác.
Ví dụ, trong khi học về văn học, tôi đồng thời có ý tìm đọc thêm sách sân khấu, hội hoạ, có lúc lan man sang cả sinh học, cơ học lượng tử... Không bao giờ tôi coi những bước lang thang này là mất thì giờ, ngược lại, thấy biết ơn những kiến thức xa lạ ấy, vì nhờ có chúng, những suy nghĩ của tôi về văn chương và đời sống trở nên mềm mại hơn.
c/ Nên biến việc tự học thành một việc hữu ích. Tức là người tự học cũng nên tính tới những sản phẩm cụ thể, và nếu những sản phẩm này biến thành hàng hoá, mang lại cho đương sự một số tiền nho nhỏ thì...càng tốt. Tôi nhớ hồi đang mê đọc các thứ lý luận về tiểu thuyết, tôi đồng thời nhận làm các bản lược thuật cho Viện thông tin khoa học xã hội chỗ anh Lê Sơn.
Đáng lẽ chỉ tuỳ tiện ghi lại kiến thức vào sổ tay thì tôi phải trình bày lại chúng một cách sáng sủa, để người khác có thể sử dụng được. Tiền thu được chẳng là bao, nhưng nó buộc tôi phải làm công việc của mình một cách nghiêm túc.
5. Bản lĩnh và may mắn.
Bên cạnh yếu tố chủ quan của người đi học, thì việc học hỏi thành bại hay không còn phụ thuộc vào ông thầy. Người tự học phải biết tìm thầy cho chính mình.
Và nếu như sau một thời gian đọc hàng núi sách, anh chợt nhận ra mình toàn loay loay với những cuốn sách hạng ba hạng tư, thời giờ đã mất, mà kiến thức thu được chẳng bao nhiêu, thì người đáng để anh ta buông lời trách móc lại là chính bản thân anh - oái oăm là ở chỗ đó!
Thường nhìn vào khoa học, người ta dễ bắt gặp một khung cảnh ồn ào lộn xộn.Vậy nên khi bước vào đó, người tự học luôn luôn cần có một chút tỉnh táo để biết trong trường hợp của mình, thầy nào đáng theo, sách nào đáng đọc kỹ trước tiên.
Tức là phải có được một bản lĩnh nhất định, và cả một chút may mắn nữa.
Nói là phải đọc hàng ngàn cuốn sách, hàng vạn bài báo khác nhau, song người có kinh nghiệm đều biết trên con đường tự học thực ra chỉ có một hai cuốn sách nào đó với bản thân là có ý nghĩa nhất: những quyển sách ấy làm thay đổi cả hướng đi của mình, do đó cả cuộc đời mình.
Nếu như bằng trực giác, bằng mẫn cảm, ta đã tìm được một hai cuốn sách lớn, và biết coi nó là bạn đồng hành suốt đời, đọc mãi không chán, thì hoàn toàn có thể tự coi là mình biết học, và may mắn ấy, không phải ai cũng có.
Nhấn mạnh một chút hên xui không phải để làm chùn bước các bạn trẻ: chính những đỏng đảnh bất định này lại là chút muối mặn mà làm cho công việc tự học của chúng ta không bao giờ nhàm chán.
Trong số rất nhiều định nghĩa về con người hiện đại, có một định nghĩa đơn giản như sau: Đó là con người biết làm ra chính mình.
Theo tiêu chuẩn này mà xét, thì người biết tự học luôn luôn là con người hiện đại.
Đà Nẵng & một cảm giác bình an
Ngày đăng 23/8/2015
Một người bạn ở Đà Nẵng bảo tôi, hồi trước, đây định trở thành thành phố công nghiệp; sau thấy không được, mới ngả ra cách tồn tại của một thành phố du lịch, mà cũng đang vừa làm vừa tính.
Theo phương án cũ, chắc Đà Nẵng lại trở thành một thứ như Bình Dương chẳng hạn, hoặc Phú Quốc hôm nay. Đó là nơi kiếm sống của cả người thật giàu lẫn người thật nghèo, những nơi để cho người ta hy vọng đổi đời, hy vọng làm nên nghiệp lớn. Làm sao những nơi ấy có thể từ tốn xây dựng để trở thành chính mình như Đà Nẵng vừa qua.
Còn về mặt du lịch, thì bãi biển nơi đây lại không đẹp như Nha Trang, không gần Sài Gòn như Mũi Né để các đại gia đến trưng diện. Mấy buổi sáng ở Đà Nẵng, tôi đi tắm biển ở bãi Mỹ Khê, cứ nhớ lại không khí các bãi tắm Đồ Sơn, Sầm Sơn hồi trước sau 1975. Nghĩa là không sợ phải chứng kiến cảnh người ta thi nhau ăn nhậu và phô phang quần áo tiện nghi. Nơi đây biển thuộc về cả những người nghèo, những người chỉ có một mức sống trung bình.
Năm 2013, tôi có dịp đi Huế, và cảm thấy hình như đó là nơi mà con người không thể đi đâu được nữa, nên bình tâm ở lại. Hóa ra lại thân thiết với người lai vãng.
Chỉ có ở Huế, người ta mới cảm thấy sự cần thiết của những bảo tàng tư nhân như bảo tàng Điềm Phùng Thị Lê Bá Đảng. Các sản phẩm tinh thần ấy giá đặt ở SG, HN giống như một sự gán ghép khó chịu, thì lại có mặt ở Huế rất tự nhiên.
Đà Nẵng không cổ như Huế, Đà Nẵng vẫn còn đang thay đổi. Nhưng tôi tin mọi sự thay đổi nơi đây là theo đúng chuẩn mực hiện đại mà lại vẫn phù hợp với con người xứ mình, tình hình nước mình. Người đi xe máy trên các đường phố SG HN lúc nào cũng phải đeo khẩu trang, nó là cái chi tiết làm cho một nhà báo Đức kinh ngạc vì thấy chúng ta như lúc nào cũng đang phi ngựa để săn bắt cướp.
Giá nhà báo ấy đến Đà Nẵng chị sẽ rất thích.
Đà Nẵng là phần bình tĩnh của sự phát triển lộn xộn hiện nay.
Đà Nẵng không làm cho những người giàu tham vọng đặt hy vọng nhiều nhưng tôi lại thích cái sự chắc chắn của nó. Đà Nẵng không hứa hẹn với tôi nhiều, nhưng khi nghĩ tới một địa phương có tiềm năng để có thể phát triển các ngành văn hóa giáo dục đạt những tiêu chuẩn hiện đại, thì tôi nghĩ ngay tới Đà Nẵng.
Đặt Huế trong khung cảnh đất nước thời hậu chiến
Ngày đăng 23/8/2015
Nhân ghi lại mấy đoạn cảm tưởng về Đà Nẵng, tôi lục lại phần nháp trong máy, thấy một đoạn tôi ghi về Huế từ tháng chạp 2013. Hồi ấy, chưa có facebook hoặc tôi chưa biết là có.
Vì luôn nghĩ rằng muốn đưa lên blog phải viết kỹ càng hơn nên viết xong, tôi bỏ xó đó.
Nay chỉ chỉnh sửa chút ít, và đưa dưới đây. Nếu được bạn đọc khích lệ, tôi sẽ còn trình ra một số đoạn khác ghi về một số địa phương khác.
Đẹp nghĩa là hài hòa
Cảm giác chung của tôi, đây là một thành phố cân đối, hài hòa:
- Hài hòa giữa sức chứa, cái không gian được dựng nên và số lượng dân cư.
- Hài hòa giữa mong ước của con người và cuộc sống trước mắt.
Tôi muốn nhấn mạnh vì đó là đặc tính ngược với tình hình chung ở Việt Nam. Người Việt đang sống như tràn ra khỏi không gian mình ở. Người Việt đang sống trong hoàn cảnh chỉ chạy theo nhu cầu trước mắt, còn những mong ước chân chính ngày một xa vời và càng tiến lên trong cuộc sống trước mắt thì càng xa lạ với những mong ước chân chính đó.
Trong dịp này, tôi có may mắn là mang theo quyển sách Những bậc kỳ tài của A. Maurois, do anh Huỳnh Phan Anh dịch. Tôi đọc được một câu của Goethe: “Thà sống trong bất công còn hơn là sống trong xáo trộn.” Đọc cả đoạn thấy ý của Goethe là muốn phủ nhận sự cần thiết của những cuộc cách mạng. Tôi không dám bàn tới chuyện đó trên phương diện lịch sử mà chỉ cảm thấy ở Huế đây nơi tôi đến rất xa lạ với sự xáo trộn. Con người ở đây như muốn nói thà nghèo khó còn hơn giàu có mà lăng nhăng, nhốn nháo.
Sự hài hòa chính là nội dung chính của cái đẹp mà người ta hay nói về Huế.
Ở đây người ít, mỗi người như được bảo đảm một không gian sống cần thiết.
Ở các phố chính, vỉa hè trải ra rộng rãi trước mặt người đi đường.
Hàng quán không xúm xít đầy người, không bao giờ thấy cảnh nhận được bát phở từ tay người bán hàng thì phải chờ người ăn trước mình ăn xong mới chiếm được một chỗ ngồi cần thiết.
Xe hơi không đông, xe máy cũng vậy, rất ít khi tôi thấy người ta phải bóp còi.
Khu trường Quốc học với các trường đại học tách ra như một khu phố riêng với một không khí cổ kính, thoáng đãng và đậm chất Pháp, điều mà tôi chỉ thấy ở… Côn Đảo.
Con sông Hương không hung dữ như sông Hồng. Những chiếc cầu bắc qua “con sông không rộng mà dài” này – như Nguyễn Bính tả - không gợi cho tôi một cảm giác sợ hãi mỗi khi cần vượt qua từ bờ nọ sang bờ kia.
Người ta chê Huế nghèo. Nhưng tôi cảm thấy người Huế có được sự tự tin và bình thản của mình. Mình giàu không ở bề mặt, mình giàu trên cái phần quá khứ, nó như lớp móng nhà cắm sâu xuống lòng đất. Và mình đang sống đúng như mình có trong khi ở các thành phố khác của nước Việt Nam này, người ta sống với những cái người ta không có.
Khi thành phố được là chính mình
Cái để mà chúng tôi so sánh với Huế hôm nay là Hà Nội. Như tôi đã nói trong nhiều bài viết về cái thành phố mà họ nhà tôi đã sống suốt cả ba đời, Hà Nội nửa sau thế kỉ XX không bao giờ được phép là mình.
Việc nông thôn hóa ở Hà Nội kéo dài trong nhiều giai đoạn.
Hà Nội tiêu thổ kháng chiến.
Hà Nội thành nơi chạy loạn, nơi trú ngụ của người dân ở các vùng nông thôn có chiến sự.
Hà Nội với những người từ kháng chiến mang theo nếp sống tùy tiện trên rừng Việt Bắc trở về năm 1954.
Hà Nội trong những năm chống Mĩ tự từ bỏ nếp sống thanh lịch của mình để sống phù hợp với nơi sơ tán rồi trở về quên luôn nếp sống thành phố.
Hà Nội sau 1975. Hà Nội hậu chiến.
Công thức mà tôi thường sử dụng khi nghĩ về các thành phố sau chiến tranh là: Thời xưa thì những người lính sau khi “Nam chinh Bắc chiến”, trở về làng cũ của mình, sống nốt cuộc đời tàn tạ.
Còn ngày nay những người lính từ nông thôn ra và đã bị chiến tranh vắt kiệt hết sức lực lại quay về thành phố lấp đầy bộ máy nhà nước, trở thành công chức làm đủ mọi việc mà họ không được đào tạo.
Sài Gòn cũng từng bị những người dân chạy loạn xâm nhập như thế trong chiến tranh và những người lính xâm nhập như thế sau 1975. Nhưng vốn là một thành phố hiện đại, Sài Gòn còn đủ sức hóa giải những ảnh hưởng ấy để nhiều phần vẫn vậy. Còn Hà Nội, tôi có cảm tưởng như thành phố nằm xoài ra để tha hồ cho những người xa lạ và dân cư vùng lân cận đến xâu xé.
Sự biến dạng của Hà Nội đã đến mức kỳ dị
Huế khác cả Hà Nội lẫn Sài Gòn.
Cảm tưởng chính của tôi khi đi trong lòng Hoàng Thành, là cuộc chiến tranh đã để lại bao tan nát. Điện Cần Chánh nay chỉ còn là một nền nhà. Rải rác có nhiều bãi cỏ hoang mà chính những người quản lí cũng không biết trước đây đó là khu vực làm gì. Nhiều tốp thợ đang được hướng dẫn đến làm việc. Nhìn họ tôi chỉ tự hỏi không biết những người thợ giỏi nhất có được đưa về đây để làm hay không, hay là chỉ có những người thợ xoàng xĩnh mới chịu mức lương rẻ mạt mà cơ quan trùng tu trả cho họ.
Nhân đây, tôi kể cho cậu Đăng cùng đi với tôi về tình trạng các nghề thủ công trong thời phong kiến. Khi phát hiện ra những người thợ giỏi, lập tức giới quan chức ra lệnh trưng dụng, tức là về làm việc trong các công xưởng của nhà quan. Và thế là nhiều người thợ phải giấu nghề. Cha giỏi giang chỉ thích con cái dốt nát hơn mình để khỏi bị trưng dụng.
Những cái không ở Huế
Một lý do khiến cho thành phố có thể sống hài hòa với chính mình ở chỗ là nó không bị dân các vùng lân cận và các tỉnh nghèo đến xâm nhập. Tôi có cảm tưởng đến 80 - 90% người gặp trên đường phố Huế là những người bản địa. Khi mảnh đất đang cư ngụ không trở thành miếng mồi ngon cho đám dân thất nghiệp là tự nhiên người ta được sống yên tĩnh.
Thành phố không có các building chen chúc giữa các khu phố cổ lỗ, gợi cảm tưởng “những người mặc Âu phục đi trên con đường lầy bùn.”
Thành phố không có nhiều biển quảng cáo.
Ở nhiều tỉnh lị khác, vào những năm này, bọn tôi luôn bắt gặp những căn nhà đang làm dở thì hết vốn. Còn ở Huế, tôi chỉ gặp 1 – 2 căn nhà như vậy.
Không có cảnh đối lập giữa một bên là đám học sinh con nhà giàu đi ô tô đến trường và một bên là những em bé tơi tả, con em của gia đình nhập cư.
Phố xá không có cảnh tràn ra đường nhậu nhẹt, chơi bời, càng không có tiếng xe gầm rít - nó giống như tiếng kêu của những con người nghèo khó vì quá ham muốn mà trở nên hung dữ và bất lực.
Huế nổi tiếng với những di tích. Thử tưởng tượng nếu ở Hà Nội có những di tích như vậy, thì có các ngành dịch vụ ăn theo. Những chùa Tây phương, chùa Thầy mà hồi còn học phổ thông, bọn tôi phải đi xe đạp mới tới được, thì ngày nay khách du lịch sợ hãi không dám tới, vì vừa tới đã gặp bao nhiêu người ép mua hàng, ép sử dụng các dịch vụ với chất lượng thấp.
Hà Nội đã mất đi bao nhiêu di tích tốt đẹp chỉ vì việc xây dựng tràn lan hiện nay.
Dân Đông Hồ quê tôi, quá nửa sống ở làng (nay là phường) Yên Phụ. Đầu khu Quảng Bá có chùa Kim Liên, Tôi đọc lịch sử biết rằng Kim Liên cỡ một kiệt tác về kiến trúc ngang trình độ với chủa Tây Phương. Nay thì Kim Liên đang bị quây quanh bởi hàng chục cao ốc, ngay những người dân vùng Yên Phụ bên cạnh cũng không còn biết có chùa Kim Liên nổi tiếng đến như vậy.
Đến chùa Thiên Mụ hôm nay, tôi vẫn bắt gặp nó như mấy chục năm trước.
Con người trong thành phố
Ở Huế, tôi không phải nghe giọng pha tạp đủ các miền.
Ở Huế, vào các quán hàng, tôi không cần phải tự đoán xem người phục vụ là dân của vùng nào về đây làm ăn.
Chưa ở đâu như ở đây, tôi gặp nhiều con đường thẳng kéo dài đến vậy. Tôi nhận ra sự hấp dẫn của nó một phần là nhờ những con đường ấy thường lại vắng, tôi không bao giờ bị đám người lố nhố lấp đầy và che khuất.
Suốt dọc đường đi, tôi không gặp những con đường vừa làm đã hỏng, vừa làm đã mấp mô những ổ gà.
Duy nhất làm tôi khó chịu khi đi trên đường Huế là thỉnh thoảng gặp những người lái xe ôm vẫy gọi, mời mọc, dân xe ôm ở đây khi nói bằng cái giọng dịu dàng vốn có của người cố đô, thì lại càng làm du khách xa tới thêm cám cảnh, nó là nét lạc lõng so với Huế.
Đi tìm những ảnh hưởng nước ngoài ở Huế
Với Huế, như tôi đã nói, tôi đã gặp lại những khu phố làm theo kiểu Tây phương. Cái cầu thoáng đãng kia hai bên bờ sông sạch sẽ và thanh lịch kia là kết quả của sự đóng góp của văn minh, văn hóa Pháp. Nhiều phen đi dọc bên bờ sông Hương, tôi có cảm tưởng như đi lạc giữa một tỉnh lẻ nào của nước Pháp.
Xin nói thêm là chỉ ở Huế tôi mới cảm thấy các vườn hoa cần thiết phải có những tác phẩm điêu khắc điểm tô cho cây cỏ những điểm nhấn chắc chắn.
Với Huế, tôi gặp lại nước Việt Nam cổ, là nước Việt Nam mang đậm dấu ấn Trung Hoa nhưng vẫn có được sắc thái riêng của mình.
Là triều đại phát triển nhất trong lịch sử Việt Nam, triều Nguyễn đã nâng những ảnh hưởng Trung Hoa vốn có từ thời Trần, Lê đến mức hoàn chỉnh.
Điều cần nhấn mạnh là, những ảnh hưởng nước ngoài này đã được làm đến mức tinh xảo, kỹ chín, trong khi ngày nay ở các thành phố khác như Sài Gòn, Hà Nội sự có mặt của những ảnh hưởng nước ngoài là rõ rệt hơn, có tính chất thách thức hơn nhưng lại lổn nhổn cái được cái chăng và nhiều khi là sự sao chép sống sít.
Có cảm tưởng như là những người dân ưu tú của Hà Nội và Sài Gòn trong lòng lúc nào cũng chỉ mong người ta nhận ra mình không phải người Việt Nam, trong khi chính nỗi ham muốn đó là chứng tỏ họ là người Việt Nam hơn ai hết.
Tôi đặc biệt thích thú với xóm Kim Long khu nhà vườn, trong đó nhiều nhà ghi cái bảng là Ancient Hue. Người dân trong các gia đình đó kể họ luôn luôn nhận được các đơn đặt hàng của những người nước ngoài hiểu sâu về Huế, muốn sống lại với Huế từ hồi chưa có chiến tranh.
Tôi thích nhất là khu nhà cũ của bà Nguyễn Đỉnh Chi, ở đó, tôi như gặp lại những viên lâm mà tôi đã thấy ở Tô Châu, Hàng Châu.
Huế chứng tỏ cho chúng ta thấy là chúng ta không việc gì phải xấu hổ khi tiếp nhận những ảnh hưởng tốt của nước ngoài. Không phải ta vẫn là ta là hay, mà ta phải khác đi so với những cái gì cổ lỗ, luộm thuộm, bẩn thỉu ngày trước. Vấn đề là ở chỗ ta phải làm chủ những ảnh hưởng tốt đẹp của nước ngoài, phải có khả năng tiêu hóa để đạt tới một cái gì nhuần nhuyễn của mình.
Ngày đăng 25/8/2015
Đến Vườn quốc gia Côn Đảo, tôi gặp một bản hướng dẫn, mà ngay từ câu đầu
“Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy
Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường”
đã khiến người ta không bỏ qua.
Tại sao tôi nói vậy?
Thông thường đọc các bản nội quy hướng dẫn loại này, sau các câu khoe khoang về tầm quan trọng của cơ quan chủ quản, chỉ thấy những lệnh cấm thế nọ thế kia.
Đằng này bản hướng dẫn như đang nói chuyện với tôi khuyên tôi là đã đến đây làm sao có được những thu hoạch đáng giá.
Mà ở đoạn dưới, người ta đưa ra những lời khuyên thú vị thật.
Đoạn viết về dây leo cũng như đoạn về những chú kiến chẳng hạn. Tôi cảm thấy được một bài học về tinh thần nhân bản. Hãy chú ý cả tới những thân phận cỏ nội hoa hèn. Nhưng không phải là từ cao nhìn xuống thương hại họ. Mà hãy nói đóng góp của những thân phận bèo bọt ấy cho cuộc đời.
Đoạn viết về tiếng chim trong rừng như là những vần thơ.
Cũng như thế là câu cuối cùng, “không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân.”
Tôi “dán” lại ra đây cả bản hướng dẫn mà tôi coi là một bài học cho nghề văn.
Chúng tôi phải viết sao để bạn đọc không thể xì một tiếng rồi bỏ đi. Viết sao để bạn đọc cảm thấy được tôn trọng đồng thời lại có thể mang tới những điều cần yếu cho họ.
1/ Những điều thú vị ở trong rừng không chỉ dừng ở những điều bạn thấy/
Hãy dành một chút thời gian đọc các biển chỉ dẫn khi đi trên tuyến đường
2/ Tổ mối
Nếu không có những con mối này thì rừng sẽ ra sao?
Mối chính là nhà máy phân hủy rác trong rừng. Những nhà máy này không để lại bất cứ thứ rác gì của rừng. Nếu một cây rừng đổ xuống, những con mối này sẽ tiến hành phân hủy cây làm thức ăn. Bằng cách đó chúng giúp vệ sinh rừng và hoàn trả lại đất chất dinh dưỡng từ cây chết. Nhờ đó mà đất rừng luôn màu mỡ cho các thế hệ cây non mới mọc.
3/ Tiếng chim
Hãy dành một chút thời gian để lắng nghe tiếng chim rừng quanh bạn.
Có bao nhiêu tiếng chim đang gọi nhau?
Tùy từng thời điểm trong ngày mà bạn có thể nghe được tiếng hót của những loài chim khác nhau. Thời gian tốt nhất để nghe những âm thanh này là ngay sau khi bình minh hoặc chiều muộn. Tiếng hót của các loài chim là để thông báo về lãnh thổ của chúng hoặc gọi bạn kết đôi. Hãy thử bắt chước tiếng của một loài chim và lắng nghe chúng đáp lại !
4/ Dây leo
Đây là những loài thực vật thông minh trong rừng. Để có được ánh sáng mặt trời tổng hợp chất hữu cơ, chúng sử dụng những cây khác làm bàn đạp vươn lên cao mà không tốn một chút công sức nào. Chúng cuốn quanh các thân cây khác và dễ dàng tìm lên tận đỉnh cao của khu rừng bắng con đường nhanh nhất.
5/ Những con kiến
Hãy nhìn xung quanh dưới chân bạn có thể bắt gặp những con kiến.
Chúng đang làm gì thế?
Đây là những công nhân chăm chỉ nhất trong rừng, chúng luôn bận rộn tìm thức ăn, bảo vệ, chăm sóc đàn con và phục vụ kiến chúa. Kiến giúp vận chuyển chất hữu cơ và dinh dưỡng trong đất, diệt côn trùng. Ngoài ra chúng còn tham gia vào việc phát tán hạt, thụ phấn hoa và là thức ăn của nhiều loài động vật khác.
Tổng quan
Cây là bạn của chúng ta, không nên bẻ cành, hái hoa, vặt lá, khắc lên cây hoặc có những hành động làm tổn thương đến cây.
Các loài động vất hoang dã rất muốn làm quen, gần gũi với bạn, vì vậy không gây tiếng động làm chúng hoảng sợ.
Không săn bắn động vật rừng, không gây cháy rừng làm mất nơi sống của các loài động vật hoang dã.
Rác thải không nên bỏ bừa bãi trong rừng. Không nên mạo hiểm đi vào rừng hoặc tắm biển một mình vì bạn có thể gặp nguy hiểm.
Không nên lấy vật gì từ thiên nhiên vì có thể làm ảnh hưởng tới môi trường
Không lấy gì ngoài những tấm hình, không để lại gì ngoài những dấu chân.
Tôi đoán văn bản trên đây không phải do cơ quan quản lý Vườn quốc gia, mà là do tổ chức quốc tế nào đó - chắc là người Pháp - soạn thảo, họ tài trợ và họ viết luôn, ta dịch ra, thế thôi.
Phía Việt Nam chỉ có điều đáng ghi nhận là đã để cho họ viết, chứ không nhân danh quyền làm chủ trên phương diện tinh thần để đòi viết theo cách của mình.
Cả cuộc sống cộng đồng hơn nửa thế kỷ qua là nhằm đấu tranh cho quyền làm chủ xứ sở. Nhưng nay nghĩ lại, chắc những đầu óc tỉnh táo sẽ không dám nói là chúng ta đã biết làm chủ. Đến viết một thứ cáo thị hướng dẫn người ta khi vào rừng cũng không xong, hỏi nói chi những việc khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất thỏa mãn mọi nhu cầu của xã hội hiện đại và chăm lo giáo dục các thế hệ tương lai!
Chuyện lan man từ những chiếc xe gắn máy
Ngày đăng 28/8/2015
Có những lúc trong đầu óc người ta nảy sinh ra một vài ý nghĩ chính mình cũng không ngờ, lại thấy như là kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi.
Thuộc loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó - chữ của Nguyễn Công Hoan - xuất hiện nơi đầu óc tôi ngay trong những năm chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe đạp.
Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe đạp, và cái món “tự hành xa” này lúc đó cũng còn ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc.
Với những thanh niên mới vào đời như một số bạn bè tôi lúc đó, việc mua được một chiếc xe là một sự kiện lớn. Tôi như biết bay trên con ngựa sắt của mình.
Vậy mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà lạ vậy...
Cho đến lần tôi được đọc truyện ngắn “Người trong bao” của nhà văn Nga A.Tchekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp phóng qua một ngọn đồi vùng quê, lại còn trò chuyện với nhau ầm ĩ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov, cái cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi. Hắn bảo với một người khác: “Cái gì lạ thế? Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện?”.
À ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã thấy buồn cười khi nhìn vào một xã hội mỗi người nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng qua không còn có cách nào nên đành chịu vậy!
Thì bây giờ lại đến xe gắn máy!
Vài chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con người xứ mình. Sự có mặt của nó gây nên một khí hậu sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy quốc”.
Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay đầu giường. Mở mắt ra là thấy có tiếng xe gắn máy rú ga trong ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu Chương Dương, tôi phát ngán vì lớp lớp xe gắn máy ken đặc và khói xả khét lẹt.
Và đáng sợ nhất là những nét mặt người ngồi trên xe, người nào mặt mũi cũng hầm hầm khó chịu, con mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.
Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe gắn máy tán chuyện giữa đường, tôi cảm thấy như các chiến binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra roi phi thẳng vào vùng chiến địa.
Ngồi lên xe là tự nhiên cái ngông nghênh trong con người mình nổi dậy, muốn vượt lên thật nhanh, muốn cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ!
Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm sự của cả mấy thế hệ từ chỗ chỉ có cái xe đạp kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản xuất từ các nước phát triển. Ta có ảo tưởng là ta đã trở thành con người hiện đại.
Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ máy bóp còi chen lấn chỉ tố cáo một tình trạng xã hội cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường hiện đại.
Những ngày Hà Nội mưa dầm rả rích, trời đất tôi tối mờ mờ, từ sở trở về, nhìn hàng xe ken chặt các con phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay mủi lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.
Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi sự khó chịu nói trên. Mấy chuyến du lịch bụi cho tôi tận mắt thấy bên Trung Quốc, sự lưu thông xe gắn máy ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu. Họ bảo lắm xe gắn máy chỉ làm loạn thành phố. Làm ăn kinh tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương tiện cơ giới, xin mời đi xe buýt. Ai thích riêng tư, trước khi sắm cái ô tô của mình, hãy cứ bằng lòng với cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình thản tự tin.
Làm sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy bây giờ? Một câu hỏi như thế đến với tôi từ mấy năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải đáp. Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Để sự giao lưu thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình trong tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh tranh với người đi bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ nhịp nhàng vận động về phía trước.
Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát đó! Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp đi lặp lại hóa nhàm, sự sùng bái hiện tại đang là phương thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về cái chuyện vặt là chiếc xe gắn máy?
Trong lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang Trung Hoa, tâm trí tôi lại còn nảy ra một câu hỏi khác:
Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như ta, sao họ lại sớm có cái quyết định thông minh như vậy?
May quá lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm sẵn trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc (Nguyễn Văn Dương dịch, 2002) phần viết về Triệu Ung.
Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương nhiều cải cách, trong đó có lối ăn mặc.
Nguyên trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa Hạ nói chung sống theo một nhịp thong thả chậm chạp. Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và đề lên thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa bắn cung thật hết sức bất tiện.
Trong khi đó quân Hồ - một dân tộc thiểu số phía Bắc - quần chẽn, áo ngắn, ôm chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên thiện chiến cũng không phải lạ.
Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính ngoài chiến trường tới văn võ bá quan trong triều, phải thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.
Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu áp lực lớn từ chung quanh. Có người nói: “Mặc y phục phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay đổi đạo lý”. Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay không có quyền thay đổi.
Triệu Ung đáp lại: “Vì lợi ích của đất nước, bất tất phải theo phép xưa”.
Và trong bàn tay nhào nặn của ông, nước Triệu trở nên một xứ sở khác.
Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự đồng bộ của đời sống. Một thời đại thường được đánh dấu bằng những tư tưởng mà người ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng chính những chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc, đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra cái tối ưu trong những phương thức sinh hoạt... cũng là một thứ chỉ số cho thấy người ta đang ở chặng đường nào của lịch sử.
Danh nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động chính trị, quân sự, các nhà triết học, nhà tư tưởng, văn gia, thi gia… Nhưng trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc nói ở đây, bên cạnh những cái tên như Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như Công Thâu Ban, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng, hoặc Hoàng Đạo Bà, là người có công cách tân hệ thống công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.
Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung.
Các nhà sử học sau này ghi tên ông vào lịch sử như một người mang lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng gọi là vĩ nhân.
Tôi không ghi được xuất xứ, nhưng nhớ có một bài báo đã viết rằng một trong những phát minh lớn nhất của nhân loại hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự hoại.
Người Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự.
Còn ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường chỉ tập trung vào đánh giặc và làm thơ. Từ xưa đến nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ công Việt Nam, người ta thường bày ngay đồ nghề trên nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát mặt đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa thấy ai nghĩ chuyện thay đổi.
Ngày đăng 2/9/2015
Trong truyện ngắn “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp (viết khoảng năm 1988), có nhiều cảnh liên quan đến TIỀN.
Ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh”.
Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ của người ấy với đồng tiền.
Cách kiếm tiền của con người trong truyện khá trầy trật, nhiều khi bằng con đường lừa lọc.
Tình thế “không có vua” làm biến dạng mọi nhân cách!
Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua, có một điểm này: Người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được.
Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại.
Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó, sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.
Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động để đổi lấy tiền.
Các giá trị ổn định.
Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng.
Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, mối quan hệ con người Việt Nam hôm nay với đồng tiền thật nhiều vẻ khuất khúc.
Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy, còn người khác lại quá khó khăn? Nghĩ mãi mà chẳng cắt nghĩa nổi.
Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì bị đánh mất.
Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét rằng không ít chuyên gia trẻ Việt nam hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ và quan niệm về việc làm người của một bộ phận giới trẻ đang có vấn đề.
Có điều, đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm.
Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào số tài sản người đó có.
Biết thế là sai nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên.
Anh Hanh, ông bạn quý của tôi ngoài sông Hồng có lần về quê ra Hà Nội, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay vung tiền rất thoải mái, có người vét túi cả vốc tiền 50.000 đồng ném xuống áo quan.
Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.
Có thể nghĩ lan man về việc này.
Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.
Bỗng dưng nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con trai đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có.
Tài sản không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất, một ít tiền và một con chó. Nghĩ quanh nghĩ quẩn rồi lão đi đến một cách xử sự mà người đời ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục, là bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ và chọn lấy sự ra đi tự nguyện.
Từ Lão Hạc, chúng ta đã thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ 20, trong đó có cách ứng xử của con người với tiền tài.
Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó.
So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai.
Họ tin họ đáng được như thế và đối xử với nó hết sức nghiêm túc.
Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: Lão thà chết để giữ tiền cho con, vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho con mình.
Đồng tiền với lão vẫn là cái gì đó thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. Cái niềm tin ấy với người đời hôm nay dường như quá xa lạ. Đồng tiền đang có muôn ngàn bộ mặt, mà thường là những bộ mặt kỳ dị.
Tôi biết sẽ là ngớ ngẩn nếu lại đi ao ước rằng được sống như người xưa, nhưng quả thật có lúc không cưỡng nổi mình, tôi vẫn thoáng có ý nghĩ như thế.
Điều chắc chắn hơn, con người hiện đại, trong rất nhiều cái mới mẻ của mình, lại có nỗi bất hạnh mới.
Khen thưởng cũng là một biểu hiện của văn hóa
Ngày đăng 7/9/2015
Chỉ cần xem xét cách khen nhau thưởng nhau của người mình bây giờ người ta sẽ cảng thấy hai câu thơ về dân về nước của Tản Đà là có lý và sẽ đọc trệch đi thành
Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con
Theo dõi những đợt thể thao Việt Nam thi đấu với nước ngoài, tôi thường buồn vui lẫn lộn.
Mừng vì thấy mình có dịp cọ xát học hỏi.
Nhưng buồn vì nhiều lẽ. Buồn một phần vì trình độ của mình còn quá non so với khu vực và quốc tế. Mà còn buồn vì người mình đang bị tâm lý ăn thua chi phối và cái cách mình động viên nhau để đạt được ít thành tựu nhiều khi nó tầm thường, thô thiển quá.
Nói cụ thể là đáng lẽ trước khi thi đấu phải lo đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá đúng thực chất của mình, thì với nhiều người, điều quan trọng nhất lại là chạy giải thưởng để tạo ra một cú đột phá. Họ ngầm bảo: cứ treo giải thật cao, rồi việc gì cũng làm được.
Trong một cách nghĩ như vậy, thấy có sự nông nổi, dễ dãi.
Nhất là thấy có sự cầu may, thiếu tự tin, tự đặt cho mình những yêu cầu quá cao để rồi làm khổ mình, khi thất bại lại giãy giụa đau đớn.
Riêng với những vận động viên thể thao thì đã nảy sinh tâm lý vòi vĩnh, mặc cả.
Một hoạt động lành mạnh như thể thao, với nhiều người trở thành một cú làm ăn, một vụ đánh quả, chứ không phải nơi rèn luyện tài năng và ý chí.
Chẳng những thể thao lo thưởng mà ở đâu cũng thấy có chuyện giải thưởng. Đố vui. Mua hàng. Chọn bài hát. Đoán người trúng giải… Cứ muốn thu hút người ta vào một việc gì đó cho thật đông vui là thấy bày ra giải thưởng.
Và tôi cảm tưởng lúc nào một bộ phận xã hội cũng như trong cuộc đỏ đen cờ bạc. Lúc nào cũng chen chúc ồn ào, cũng í ới giục giã nhau đi thi cho mau, may ra được thưởng, không thi ngay chỉ có thiệt.
Lại còn nhiều đợt học tập tìm hiểu về vấn đề gì đó mà các địa phương và các đoàn thể vẫn làm nữa chứ!
Làm ăn nghiêm túc thì dễ khô khan; phải thêm một tí giải thưởng vào như một chất xúc tác để cho hoạt động này thêm hấp dẫn - ban đầu người ta chỉ nghĩ đơn giản vậy.
Nhưng rồi cứ đà ấy mà kéo, rút cục trước mắt chúng ta việc nghiêm túc biến thành một trò câu khách.
Người ta thi, người ta làm việc, người ta bỏ ra bao nhiêu thời giờ, thậm chí người ta mưu mẹo kiếm chác nữa, tất cả chỉ vì giải thưởng.
Hàng ngày xem ti vi luôn thấy có chuyện các đơn vị, các ngành mừng công kỷ niệm. Rồi nhân dịp sáu tháng đầu năm, nhân dịp cuối năm, các cơ quan bước vào tổng kết. Không rõ trong thực tế, những buổi tổng kết này có rút ra được kết luận nào sâu sắc không, nhưng xem cách đưa tin trên mặt báo và các phương tiện truyền thanh truyền hình, thì thấy nhiều khi nó được làm theo lối chiếu lệ.
Ở đó người ta nói với nhau quá nhiều những lời sáo rỗng.
Và ở đó, đang hình thành một lối đánh giá nhau, xem xét nhau hòa cả làng, giản đơn, dễ dãi. Ý tôi muốn nói tới cái lối lôi nhau ra thưởng một cách… vô tội vạ.
Thưởng tràn lan.
Thưởng theo niên hạn.
Cứ ai không có khuyết điểm gì lớn, là được thưởng.
Tôi tin là mình không nói gì quá khi cho rằng lối thưởng như thế là một cách xúc phạm đối với những người làm việc tốt, họ nghĩ rằng có ai biết cho công lao đóng góp của mình đâu, cá mè một lứa cả, thế thì từ nay về sau, không tội gì phải cố cho thêm nhọc xác!
Thưởng nhau đại trà như thế chỉ là làm hỏng nhau thêm, cái hại này ai cũng thấy vậy mà cũng cứ nhắm mắt để mở rộng phong trào phát thưởng và lĩnh thưởng.
Một nhà nghiên cứu vănhóa lịch sử trung đại là Mai Quốc Liên có lần kể với tôi rằng các vua triều Nguyễn có lối ban thưởng rất tế nhị. Thưởng cho một viên quan, chỉ báo cho ông ta biết rồi bảo cứ về, sẽ cho lính mang tới nhà.
Tại sao? Vì khen trước triều đình như thế là đã bố cáo cho mọi người thấy là ông ta có công lao rồi.
Còn không thưởng công khai, vì biết thông thường ở những xã hội còn kém phát triển như xã hội ta, con người khi nhận phần thưởng thường bộc lộ những mặt không mấy dễ thương, ví dụ như quá hý hửng đến mức gần như là hèn hạ.
Vua hiểu triều thần, không muốn cái phần xấu xí trong người bầy tôi tài năng của mình có dịp bộc lộ, nên tránh cho ông ta trước.
Bồi dưỡng nhân tài lâu dài mới là một mục đích sâu xa của ban thưởng.
Tự nhiên có lần đọc báo thấy những người tổ chức một cuộc thi nghệ thuật than thở rằng cái khó nhất của họ là tìm ra những ban giám khảo công bằng và làm việc hiệu quả, có sức thuyết phục với công chúng.
Tôi đọc và cứ nhớ mãi: cuối cùng vấn đề là vậy - khen thưởng không chỉ quan hệ với số đông.
Mà trước tiên nó cho thấy năng lực và tầm vóc thực sự của những người chủ trì hoạt động một ngành nào đó.
Những người này định ra những chuẩn mực như thế nào, hiểu biết về ngành mình đến đâu?
Có hiểu lao động của người dưới quyền và muốn trình độ họ ngày một nâng cao? Tức ở đây là chuyện tổ chức và định hướng công việc.
Và đằng sau đó là quan niệm của nhà lãnh đạo về con người, cùng những cách tác động để kích thích con người.
Gọi nó là một thứ văn hóa khen thưởng mới đúng, thứ văn hóa rất cần thiết cho những người có quyền.
Ngày đăng 17/9/2015
Dường như đang có sự phân công, các báo ở ta thì in những truyện cười mới sáng tác và mới dịch, trong khi truyện cười dân gian thì được in ra dưới các hình thức sách phổ thông, về số lượng cũng như hiệu quả chắc chẳng bên nào kém bên nào.Tự nhiên có một câu hỏi đặt ra, là tại sao cả hai cùng tồn tại, liệu giữa hai loại truyện này có mối liên hệ nào không. Tôi đem thắc mắc hỏi một anh bạn.
- Ông có nhớ truyện cười dân gian “Bé ơi bé ra mà ăn kẹo”, bạn tôi hỏi lại.
- Ai mà chẳng biết… Truyện kể một anh bí quá làm liều dám nhận vai “ông đỡ” cho một người đàn bà khó đẻ chứ gì? Rồi khi đối mặt với sản phụ, không biết làm gì hơn, anh ta liền giở trò trẻ con, buộc cái kẹo vào đầu dây dử dử, miệng lắp bắp “Bé ơi bé ra mà ăn kẹo”. Không ngờ sản phụ bật cười mà đẻ luôn. Coi như anh ta hoàn thành sứ mệnh và được trả công đàng hoàng.
- Đúng truyện ấy đấy, bạn tôi nói tiếp. Theo tôi, nhân vật trong truyện chính là một mẫu người phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày xưa và cả ngày nay. Nhiều người chúng ta chẳng có việc gì thành thạo cả và thường làm không đủ ăn. Thời xưa các cụ còn cam chịu sống nơi xó nhà. Đến thời chúng ta thì theo các cao trào xã hội lê lết khắp nơi, không việc gì là không dám làm không việc gì là không dúng mồm nói leo. Sự thành công do vậy thường khi hiện ra hơi buồn cười, nhưng thôi dẫu sao còn hơn là thất bại. Cuộc sinh nhai coi như tàm tạm, ta tiếp tục tìm những cơ may khác.
Ví dụ của anh bạn nêu ra quá đặc biệt. Nhưng tôi tin ở CÁI LÝ LỚN của nó. Cái đáng cười sống rất dai dẳng. Mà cái gốc của nó là mặc dù mang tiếng là xã hội hiện đại, nhưng xã hội Việt Nam đang có nhiều nét rất trung cổ, con người ngày nay trên tất cả các phương diện tâm lý cách nghĩ cách sống chẳng khác xưa là bao. Chứng minh rõ nhất là ở hai phương diện mà ông bạn tôi đã nói.
Một là vô nghề nghiệp
Hai là sống bằng cầu may, được việc gì hay việc ấy, được ngày nào hay ngày ấy.
Xin hiểu cho tôi ở cái lý lớn mà đừng vặn vẹo cụ thể. Và xin sử dụng các thước đo của thế giới hiện đại chứ đừng sử dụng những công cụ riêng mình có, rồi “nổ” rồi “tự sướng” với nhau.
Tình trạng nghề nghiệp của con người đương thời
Ngày đăng 22/9/2015
Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều.
Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi.
Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.
Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.
Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung Quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.
Sự tha hóa của người lao động
Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá, lừa lọc, làm bậy, bất chấp luật pháp… Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hoá chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.
Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.
Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.
Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in - chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.
Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch mà còn do sự tha hoá của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.
Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ
Ở Hà Nội những năm sau 1954 có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng nói lại bây giờ nhiều người khó tin: Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!
Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hoá ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hoá, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.
Ngày nay tình trạng trên có được dẹp bỏ một phần, nhưng lại có những biến tướng mới. Một cán bộ giảng dạy đại học trẻ than phiền với tôi, toàn bị sai vặt khi đi dọn thư viện, khi đi làm sổ sách, rồi giúp vào việc quản lý sinh viên... chứ chuyện chuyên môn thực sự chẳng ai khuyến khích.
Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.
Coi thường việc nhỏ
Khi chuyển hoá vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.
Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khoá chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.
Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.
Chẳng ai chịu điên
Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.
Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được.
Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ.
Ngày đăng 29/9/2015
Thư viện Quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm.
Một ngày hè năm 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện như vậy mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa.
Đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài.
Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể, ở Tokyo các kỹ sư đứng ở ngã tư để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền.
Quay về mình, ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên, mà phải dành nhiều quan tâm cho chuyện quản lý, không quản lý tốt thì nền kinh tế không khác gì thùng không đáy.
Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả.
Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển, ông gợi ý đủ thứ, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn.
Chuyện nhỏ (đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ”) - đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở Việt Nam đào tạo một trăm người chỉ đậu được bốn người.
Chuyện lớn (cái này thì lớn thật) - phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ.
Một điều lạ nữa với chúng tôi là ở chỗ, tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội.
Ông báo động là cả nước có 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội, tâm lý nhân dân không tốt thì quản lý kinh tế cũng không tốt.
Tổng quát hơn, ông nói đến việc mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình.
Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh, nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được.
Song, Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật” ấy gây ra.
Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội, phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình hiểu rõ được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.
Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy, tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ!
Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi, chưa bứt phá lên được.
Lúc này báo chí đang đăng tải nhiều ý kiến liên quan tới tình hình lạm phát. Nhân đó thử nêu ra những “cách đọc” khác nhau với nền kinh tế.
Không kể nhiều chuyên gia nước ngoài, ngay các nhà chuyên môn trong nước cũng nêu được nhiều sự lý giải rất xác đáng.
Có người nói nhiều ngành kinh tế của ta đang trong tình trạng học việc, lại học không đến nơi đến chốn, ngân hàng thì có cái như tiệm cầm đồ cho vay.
Vừa rồi có chuyện nông dân nuôi cá ba sa lao đao vì không bán được hàng, còn doanh nghiệp xuất khẩu thì không vay được tiền để mua cá.
Tôi lại nhớ cái buổi nói chuyện hơn ba chục năm trước của Trần Đại Nghĩa.
Hàng ngày có nhiều việc khiến tôi hối hận.
Ai mà chẳng thế, có làm là có sai.
Nhưng tôi nhớ một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại.
Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần.
Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần. Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi.
Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị:
- Hòn vàng thì mất hòn đất thì còn,
- Hoa thường hay héo cỏ thường tươi
- Răng cắn phải lưỡi.
Nghe hơi tục thì có câu “Miệng khôn trôn dại”.
Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều: “Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi”
“Đoạn trường” có nghĩa là đứt ruột.
Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò chi phối của ma quỷ.
Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi.
Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao?
Đã in TBKTSG 2008
và in lại trong "Những chấn thương tâm lý hiện đại" 2009
Viết thêm 29/11/2013: CÔ KIỀU NAY ĐÃ ĐỔ ĐỐN
Bài này tôi viết từ 2008. Nhìn lại thấy chỉ mới mấy năm mà tình hình đã khác hẳn.
Trước vì dốt nát nóng vội nên làm liều làm ẩu.
Nay đã biết trước là làm bậy rồi vẫn cứ làm, nghiến răng mà làm, ép nhau cùng làm.
Học sinh xưa bí quá mới cóp bài nhau. Nay học sinh đi thi chuẩn bị sẵn các loại phao. Và nhà trường và giám thị coi thi hùa thêm vào giúp học sinh làm chuyện man trá cho trót lọt, coi đó là thành tích của mình.
Trời cao đất dày nào bỏ qua cho những tội lỗi kiểu ấy!
Trong giáo dục sao thì trong các chuyện sản xuất làm ăn phát triển kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô cũng thế.
Nàng Kiều xưa - mà chúng ta hay vận vào số mệnh của dân Việt - tự trách “ma đưa lối quỷ đưa đường”.
Nàng Kiều ngày nay tự biến thành ma quỷ, lấy đủ các thứ lý lẽ ra để thuyết phục bản thân đi theo những lối đoạn trường.
Chỉ có những kẻ mất hết niềm tin và trách nhiệm trước tương lai của chính mình mới hành động như chúng ta đang hành động.
Một quan niệm đơn sơ về thế giới
Ngày đăng 3/10/2015
Sự đơn điệu nghèo nàn là cảm giác chính còn lại trong Nhất Linh sau khi dự Hội chợ hàng Việt Nam 1934 mở ở Nhà Đấu xảo Hà Nội.
Trong bài tường thuật trên báo Phong Hóa số ra 30/11/1934, người đứng đầu văn đoàn Tự Lực viết:
“Mấy gian hàng Hải Dương, Nam Định vẫn như mọi năm không có gì tiến bộ. Thăm gian hàng Trung Kỳ, người ta cảm thấy như sống lùi lại mười năm trước bởi chỉ có ít đồ gỗ nét chạm non nớt. Đồ đồng của ta có lẽ nghìn vạn năm nữa không thay đổi.
Từ cái thau cái mâm cho đến cái đỉnh, thứ nào cũng nguyên như cũ, hình như đổi mới nó đi là một cái tội vậy. Đồ sứ Bát Tràng men trông cũng khéo, chỉ tiếc rằng kiểu không đẹp. Phần nhiều là bắt chước Tầu.”
Những nhận xét này có thể áp dụng cho toàn bộ thế giới đồ vật mà Việt sáng tạo ra để phục vụ đời sống của chính mình.
Một đôi dép để đi ư? Ở Bắc bộ, nó chỉ là một chiếc mo cau hoặc miếng da, có thắt một nút trồi lên vừa để xỏ một ngón chân. Trong khi người dân nông thôn xưa chỉ đi chân đất thì một đôi dép như thế còn là xa xỉ, và chỉ những dịp hội hè người ta mới dám sử dụng.
Một cái diều ư? Chỉ là mấy tờ giấy phết vội trên mấy nan tre.
Một cây sáo ư, chỉ là một ống tre có khoét mấy lỗ sơ sài. Nếu chúng ta biết rằng trên thế giới này, không chỉ Trung Quốc Nhật Bản mà cả các nước phương Tây những cái diều bộ sáo có cấu tạo phức tạp tinh vi như thế nào thì người ta phải tự trách rằng sao dân mình dễ bằng lòng với những gì làm ra,tức dễ dừng lại trên đường sáng tạo đến thế.
Thời nay, khi làm hàng xuất khẩu, người mua các nước cũng thường chê hàng Việt mẫu mã đơn giản, có học lỏm được cái gì của người khác thì cũng chỉ loay hoay ở vài cái lặt vặt mà không biết khai thác hết những khả năng đa dạng có thể có.
Chẳng những chúng ta rất ít phát minh mà nhìn vào cái đã phát minh ra, thấy không vượt khỏi tình trạng bột phát ban đầu.
Các ý tưởng không được hoàn thiện và đẩy tới cùng. Nguyễn Văn Vĩnh sớm nói thẳng là trước khi học của nước ngoài, những cái nhà của chúng ta quá trống trải và chẳng có gì mà bầy, ghế giường bàn tủ dáng dấp nặng nề, nếu cố trau chuốt thì lại phô ra một mỹ cảm cầu kỳ vụn vặt.
Ở đồng bằng Bắc bộ, ngoài nghề trồng lúa nước, gần như không có nghề làm vườn. Các giống vật nuôi trong nhà không đặc biệt, như con chó Vịệt, đặc tính chính của nó là sự tầm thường.
Không có con đường làng nào là thẳng, con đường nào cũng cong queo vẹo vọ.
Tự bằng lòng với cuộc sống tự nhiên của mình ở các làng quê, người Việt gần như từ bỏ khả năng tổ chức lại cuộc sống một cách có suy nghĩ ở các đô thị.
Cho đến cả trong cách tổ chức xã hội, trí tưởng tượng nghèo nàn cũng níu kéo chúng ta lại.
Thần thánh trong các truyện thần thoại cổ tích của ta quá gần người và cũng nghèo như người, cả về vật chất lẫn tinh thần.
Còn những ước mơ của chúng ta thì sao? Ngày xưa, bao chàng trai bỏ làng ra đi chống ngoại xâm, rút cuộc “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” (thơ Nguyễn Đình Thi), mơ ước lớn nhất là quay về làng tiếp tục đi cày và cưới được cô thôn nữ.
Còn hôm nay, có một câu chuyện dân gian đang được lưu truyền rộng rãi. Một thanh niên Nhật hỏi người Việt cùng tuổi với mình là mơ ước gì thì được trả lời là mơ ước có cái Honda để đi, nhà có cái tủ lạnh Hitachi, cái máy giặt Sanyo để dùng. Nói chung là ao ước dân Nhật xài đồ gì thì mình có đồ đó để xài.
Còn người thanh niên Nhật khi được hỏi lại chỉ nói gọn một câu là ước sao giỏi giang hiểu biết để thực hiện được tất cả những ước mơ của các bạn Việt cùng tuổi.
Câu thơ của Chế lan Viên “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp - Giấc mơ con đè nát cuộc đời con” không chỉ đúng với con người thời tiền chiến mà đúng với người Việt gần như suốt thời quá khứ, không chỉ con người bình dân mà cả những tầng lớp tinh hoa. Và đang đúng với chúng ta ở đầu thế kỷ XXI.
Thể thao & Văn hóa 19/6/2007
Từ chối học hỏi - Chế giễu bài bác trí tuệ
Ngày đăng 6/10/2015
Một người bạn tôi bảo phần lớn truyện cười dân gian Việt Nam là những câu đùa cợt qua lại của mấy anh đói, nghe cũng có lý.
Ở đây, đề tài ăn uống chiếm tỷ lệ khá lớn.
Chỉ có một bộ phận nhỏ truyện tiếu lâm đi vào ghi nhận tư duy của người Việt. Ở đó chúng ta hiện ra như những người thông minh nhưng nặng về khôn vặt, nông nổi mà lại kiêu căng về sự nông nổi của mình.
Dùng lại một từ dân gian có thể bảo ta hay “lý sự cùn”
Một số truyện còn cho thấy người nông dân xưa - tác giả các truyện tiếu lâm - cố ý đi vào chế giễu sự suy nghĩ của con người và ngầm đề ra những triết lý bi quan cho rằng mọi cố gắng tư duy tư tưởng đều vô nghĩa.
“Trời sinh ra thế” là câu chuyện ông bố vợ với hai chàng rể, một làm ruộng và một học trò. Cuộc đối đáp của họ cho thấy người xưa đã muốn đi vào giải thích tại sao những sự vật quanh mình lại có đặc tính thế này thế kia. Tại sao con ngỗng cũng như con ễnh ương lại kêu to? Tại sao sao con vịt nổi mà cái thuyền cũng nổi?
Diễn biến của cuộc đối đáp khá bất ngờ.
Cứ mỗi lần anh con rể học trò đưa ra một sự cắt nghĩa thì anh làm ruộng bẻ lại ngay.
Vì sự hiểu biết của người học trò là hạn chế nên sự bác lại là có lý.
Nhưng điều quan trọng hơn là sau đó, người ta - đây là các tác giả ẩn danh của truyện dân gian nói chung - đi tới kết luận “dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng”.
Tức là thôi không bàn nữa, cũng như không nên học. Học mà làm gì, chúng ta sẽ chẳng bao giờ học đến nơi đến chốn, âu là nghỉ cho khỏe.
Đã đành mọi sự biết đều nham nhở dở dang thì chẳng hay ho gì.
Nhưng lẽ nào vin vào cớ học hỏi hiểu biết rất khó, người ta từ chối luôn cả sự học?
Nhưng đấy là một xu hướng không hề che giấu toát ra qua mẩu truyện cười mà người nghe đa số đều đồng tình tán thưởng.
Nhiều truyện tiếu lâm khác cũng có thiên hướng hư vô tương tự.
Cả sự cẩn thận lẫn sự lễ phép đều bị truyện “Ba anh đầy tớ” mang ra giễu.
Anh đầy tớ nọ đang khiêng cáng cho ông chủ, được khen liền đặt cáng xuống để cám ơn. Sự lễ phép quá vô duyên và con người sao quá ngớ ngẩn.
Truyện “Nói có đầu có đuôi” thì bịa ra cảnh một ông chủ bắt đầy tớ phải ăn nói cho mạch lạc, kết quả là cháy mất cái áo.
Cái gọi là suy nghĩ nghiêm túc ở đây bị mang ra bài bác coi là không thiết thực, là học đòi không phải lối, là có hại.
Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam trước kia đã kín đáo nhận xét là người mình thích bài bác chế giễu những gì khác mình.
Những nông nổi hồ đồ đó là một biểu hiện trẻ con, như chữ Tản Đà đã dùng.
Trong sự bài bác nói chung thường có cái lối “tự kỷ trung tâm luận”, coi mình là cái rốn của vũ trụ, cái gì mà mình không biết tức là không cần và cũng chẳng ai biết hơn mình mà phải quản ngại.
Cũng tương tự như cái lối tinh ranh tinh tướng, cái gì không làm được thì không cho người khác làm, không ăn được thì đạp đổ.
Riêng việc chế giễu bài bác trí tuệ nó có liên quan đến những khó khăn trong việc đặt trí óc vào công việc, từ đó tạo nên bản năng tự phát trong suy nghĩ và hành động người Việt.
Đời sống khó khăn khiến cho người ta luôn luôn sống trong chen chúc cạnh tranh. Song không sao tìm ra cách cạnh tranh lành mạnh.
Một cách tự nhiên, nẩy sinh ý hướng không muốn tuân thủ lối sống chuẩn mực, kiếm sống bằng đủ loại thủ đoạn, cũng như sinh ra thói cạnh khóe chê bai nhau.
Đây là đặc tính của lớp người mà xã hội học gọi là những kẻ chầu rìa.
Theo các nhà xã hội học, lớp người này không có khả năng làm giàu về vật chất. Trong sự bất mãn, họ liền tự khẳng định bằng cách tỏ thái độ khinh miệt đối với nhân tố trí tuệ đạo đức và tinh thần con người. Đối với những chuẩn mực đã định hình về sinh hoạt và ứng xử - và đối với kiến thức và sự uyên bác nói chung - họ thù ghét ra mặt.
Chúng tôi đã có lần nói rằng văn hóa Trung Hoa có truyền thông tôn trọng những người có văn hóa. Nhưng ở đây cũng có một dòng nước ngược.
Người Trung Quốc tự trào (sách đã dịch ra tiếng Việt ở NXB Văn Học 2000 chứ không phải Người Trung quốc xấu xí của Bá Dương) cho biết người Trung Quốc không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh, cam chịu trước cuộc đời bất công... mà còn “coi nhẹ trí thức văn hoá, thù hằn tri thức văn hoá”.
Theo những người viết sách, “giảo hoạt là sự kết tinh thông minh tài trí của người Trung Quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại...”
Nhìn lại dân ta thì sao? Do hoàn cảnh riêng của người Việt, những thói xấu này càng ăn sâu vào tâm lý, trở nên một căn bệnh dai dẳng khó chữa và nhiều khi bộc lộ ra một cách trơ tráo.
Nghĩa là còn nặng hơn người Tầu nhiều!
Sang thời hiện đại, đặc tính “cái gì cũng xem thường”, “khinh thế ngạo vật” “ghét sự suy nghĩ dùng đến sách vở”… còn được công khai tiếp nối. Một người như nhà văn Nguyễn Công Hoan trong hồi ký của mình đã hồn nhiên cho thấy mình thực quả là một thứ “tập đại thành” của lối suy nghĩ đó.
Ông đã diễn tả cho thấy tình trạng này đã ăn sâu vào nhiều người Việt để trở thành một cách cư xử tự nhiên như thế nào.
Trong hồi ký Đời viết văn của tôi, nhà văn kể, từ nhỏ ông ham chơi và ngại học. Vừa thi tốt nghiệp xong là ông bẻ bút và cho hết sách vở để khỏi ngó ngàng gì đến chúng nữa.
Hồi còn đi học, có lần làm bài bàn về hy vọng, ông viết ở đời tôi không có hy vọng gì, rồi đem nộp thầy.
“Cái lò gạch bí mật” của ông kể một anh theo dõi một người có học, ra cái vẻ đang điều tra khoa học lắm, rút cục chỉ bắt gặp một anh ỉa bậy.
Một số truyện Nguyễn Công Hoan thường bị kêu là tục tằn, tán nhảm.
Nhưng phải nói cái chính là tác giả cho thấy ông muốn chế giễu mọi lối sống nghiêm túc có tìm tòi suy xét điều tra nghiên cứu trước mọi sự kiện xảy ra chung quanh.
Sự thống trị gần như tuyệt đối của tinh thần bài bác trí tuệ để lại nhiều hậu quả nặng nề.
Suốt thời trung đại chúng ta không hình thành nổi một tầng lớp trí thức đủ mạnh đóng vai trò dẫn dắt đám đông đại chúng trong cộng đồng.
Trên nhiều phương diện, văn hóa Việt Nam kể cả văn hóa quyền lực văn hóa chính trị như còn đang ở vào một tình trạng “tiền văn hóa” chứ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội.
(Theo tôi đọc được, ở nhiều nước trên thế giới, kể cả Trung Quốc, văn hóa dân gian bao gồm văn học truyền miệng, hoặc các loại nghệ thuật không có tác giả - chỉ mới có yếu tố văn hóa chứ chưa thể là văn hóa theo nghĩa đầy đủ của chữ này.
Và một nền văn hóa mà hàm lượng folklore quá cao là một nền văn hóa chưa trưởng thành).
Nghèo đói biếng lười bế tắc hư hỏng
Ngày đăng 9/10/2015
Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Trong thực tế thì không hẳn vậy. Nghề làm ruộng ở Đông Hồ đã mất từ lâu, làng có ruộng nhưng toàn nhờ người các làng khác cấy gặt.
Thế tại sao giới nghiên cứu nghệ thuật cứ viết khơi khơi như vậy? Mục đích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở Việt Nam “gắn liền với đời sống”.
Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật: trong xã hội Việt Nam, người ta sống và làm việc thiếu chuyên nghiệp.
Kỹ thuật cổ lỗ. Sự phân công lao động được chăng hay chớ. Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng, nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng…
Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Năng suất thấp. Con người uể oải. Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình.
“Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc”.
Trong lời thuyết minh viết cho phim “Cây tre Việt Nam” (1955), Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học chúng tôi như vậy.
Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường.
Nhưng sang đến thế kỷ XXI này, đọc lại, thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối.
Ảo tưởng một đằng sự thật một nẻo
Không phải dân Việt xưa nay không hiểu đói nghèo dễ dẫn đến hư hỏng. Người ta tự nhủ “Đói cho sạch rách cho thơm”.
Ảo tưởng thật. Mà nhắc lại mãi nghe như có lý.
Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế.
Mạnh Tử từng nói, có hằng sản mới hằng tâm.
Người châu Âu cũng hiểu thế.
Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688, (bản của NXB Thế Giới, 2006), một nhà thám hiểm người Anh là W.Dampier ghi lại một số nhận xét có liên quan đến các hạng người ở đô thị Việt Nam thế kỷ XVII.
Đây là tầng lớp trên và bộ sậu của họ: “Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng thì hỗn xược.”
Đây là những kẻ dưới đáy: “Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho nhà buôn và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm”.
Theo W. Dampier, sự hư hỏng của con người bắt đầu bằng sự kém cỏi trong điều kiện sống mà người ta không cách gì thay đổi.
Nhà cửa người Việt ngay ở Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà nhỏ và thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí.
Theo lái buôn người Anh, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.
Sự chăm chỉ bất đắc dĩ
Trải qua trường kỳ lịch sử sự thấp kém về trình độ sản xuất đã để lại một dấu ấn kỳ lạ trong tính cách người Việt.
Đã xảy ra một tình trạng nước đôi. Người ta vừa yếu đuối vừa cứng cỏi, vừa chăm vừa lười, tốt đấy mà cũng xấu ngay đấy.
Rất phổ biến là cái công thức một chiều: người Việt khá chăm chỉ năng động.
Do có cái nhìn của con người biết rộng ra cả thế giới, Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi ấy: người Việt vừa cần cù, vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải chân lấm tay bùn vậy.
“Nói tổng lại, trong nước Nam ta, cần mẫn nhất chỉ có người làm ruộng, nhưng mà sự cần mẫn ấy, nhà làm ruộng không biết lấy làm vinh hạnh. Tay cầm cây mạ, mà mắt vẫn trông bọn dài lưng tốn vải, lúc nào quăng được cái cày có ích mà cầm lấy cái bút lông thỏ vẽ hươu vẽ vượn tả cảnh trên trờ dưới biển, thì cũng quăng đi ngay.”
Trong mục Xét tật mình, người chủ trì Đông Dương Tạp Chí đã làm cái việc mà sau ông chưa ai dám làm là bóc mẽ cái gọi là tính siêng năng của bộ phận chủ yếu trong cộng đồng như vậy.
Dù thói lười được soi xét kỹ lưỡng ...
Cái nghèo kéo theo nhiều cái xấu khác.
Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một chân dung, rất sẵn trong nông thôn Việt Nam thời trung đại:
Con cò đậu cọc cầu ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng
Chú tôi tốt tóc đen răng
Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa
Ngày thì ngóng những ngày mưa
Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh.
Xưa các tài liệu tuyên truyền và cả sách giáo khoa trong các nhà trường Hà Nội sau 1954 thường bảo những câu ca dao trên là để nói về bọn người giầu có. Có biết đâu đó cũng là để nói về lớp cùng đinh trong xã hội. “Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn.”
Mở rộng ra là để nói về người Việt nói chung.
Nhìn vào sách vở, người ta cũng bắt gặp các ý tương tự
Trong cuốn Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài in ở Paris 1778 (Trích từ Tư liệu văn hiến Thăng Long Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây, NXB Hà Nội 2010, nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì) giáo sĩ Jerome Richard cho biết.
“…Nghèo khổ quá khiến người ta chỉ nghĩ đến sinh tồn tức là phó mặc mình cho sự biếng nhác bẩm sinh. Bộ máy hành chính sẵn sàng “vét cạn” các mầm mống tài năng. Bộ máy này ngu dốt và kiêu căng, nhưng có quyền lực. Họ đối xử với những người khéo tay hơn họ và giàu hơn như nô lệ."
...Song sự hư hỏng vẫn là hậu quả tất yếu
Nghèo đói quá lâu, lại do thiếu sự mở đường của trí tuệ, nên người Việt cảm thấy đó là cả một định mệnh.
Thấy của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực. Cay đắng. Chán chường. Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái kỳ quặc.
Lo học nhưng chỉ học mót học lỏm.
Sợ người ta coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng, và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người.
Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.
Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi. Của chìm của nổi đầy rẫy chung quanh mà không biết khai thác.
Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả thầy lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung Quốc và Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tầu: người Việt sống trên cả đống nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc.
W.Dampier, trong cuốn sách nói trên, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam từ Phan Kế Bính Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên, Lương Đức Thiệp… đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc quá nặng của người Việt. Khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống.
Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa cảnh đời tuyệt vọng.
Ngày đăng 12/10/2015
Đầu thiên niên kỷ này, một nhà xuất bản ở Anh vừa cho in một xê-ri sách có nội dung chính là đi vào tìm hiểu đặc tính các dân tộc, mà trước tiên là miêu tả những khuôn mẫu đã định hình trong lịch sử về dân tộc đó.
Tủ sách mang cái tên khá khiêu khích “Xenophobe`s Guide to..” có nghĩa bóng là Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người nước ngoài.
Để các trang sách có thể được viết bằng giọng khách quan, pha chút hài hước mang cái nhìn tự chỉ trích từ bên trong, NXB đặt ra yêu cầu người nước nào tự viết về người nước ấy.
Mùa hè 2001, cuốn Sách hướng dẫn cho những kẻ bài bác người Nga đã được in ra ở London và một NXB ở Moskva đã lập tức cho dịch cuốn sách này ra tiếng Nga. Dưới đây là mấy đoạn trích dịch ngắn từ báo Nga Vremya:
SẦU MUỘN BI QUAN VÀ NỒNG NHIỆT BẨM SINH
Tính cách dân tộc thường khi là một cái gì mâu thuẫn và người Nga cũng vậy, người Nga trung bình mang hình ảnh một kẻ sầu muộn, trong khi chờ đợi những gì tốt đẹp thì đồng thời biết là tai vạ có thể đổ xuống đầu mình bất cứ lúc nào.
Thật là chó cắn áo rách, anh ta lầu bầu khi gặp hoàn cảnh rủi ro, lặng lẽ thu dọn những gì còn còn sót từ đống đổ nát và lại tính cho mình ván bài mới.
Đấy cũng là dịp để người ta than thở rằng người Nga là một dân tộc bất hạnh nhất trên đời, rằng ngày xưa họ sống không đến nỗi nào và chẳng hiểu làm sao cứ ngày càng khốn khó hơn.
Trong khi đó, vào những lúc mọi chuỵện vui vẻ, họ sẽ nói với bạn rằng họ biết mình là một trong những dân tộc tốt bụng mến khách nhất trên thế giới và điều này chính ra là rất gần với sự thực.
Tuy nhiên nếu “đập vỡ” một người Nga ra, luôn luôn ta sẽ bắt gặp một người mơ mộng. Chủ nghĩa lãng mạn Nga là một cái gì bền chắc lạ thường, để lâu không hỏng, thả xuống nước không chìm, chôn xuống đất không chết. Và cuộc sống càng nặng nề thì trái tim lãng mạn ấy ở người ta càng đập mạnh.
Họ rất thích tin ở những ai nói rằng có thể có được thiên đường ngay trên mặt đất.
Chen vai thích cánh
Khía cạnh tiêu biểu trong tính cách Nga là cảm giác có người có ta.
Họ thích tụ lại thành những đám đông: một chiếc xe buýt ken chặt những người đối với họ luôn có sức hấp dẫn, nhất định là họ phải chen lên bằng được, cốt có người đã đi là ta cứ thế mà đi theo, đông mấy cũng không ngại.
Trong hoạt động hàng ngày việc gì họ chỉ cần có người khác cùng làm, còn kết quả làm đến đâu không cần biết.
Thật khó tưởng tượng một người Thuỵ Điển bệ vệ kiểu cách lại có thể nhập ngay vào một một dàn đồng ca gồm toàn những người anh ta không quen trên một toa xe hoả chật ních người, còn người Nga nào cũng sẵn lòng làm vậy, chẳng cần có vodka họ cũng tìm thấy hào hứng trong việc tạo ra một bầu không khí gắn bó, lời bài hát chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí hát sai nhịp cũng được, điều quan trọng là cái dàn đồng ca này vang lên càng to càng sôi nổi càng tốt, ca rằng chúng ta đang ở bên nhau và chẳng còn gì là đáng sợ nữa.
Ba khái niệm cơ bản
Để hiểu cái nhìn người Nga đối với đời sống, cần lưu ý tới ba khái niệm cơ bản là tâm hồn, nỗi buồn, số phận.
Tâm hồn ở đây gắn với chính giáo.
Nỗi buồn thì là sự hoà trộn của lãnh đạm, dày vò, sầu thảm và chán chường. Nó cũng có chút ý vị “nỗi đau thế giới” của người Đức, song mang màu sắc cá nhân rõ hơn. Người Nga chấp nhận nỗi buồn này một cách tự nhiên, trong thâm tâm họ luôn luôn kêu lên như nhân vật Oneguin trong vở opéra của Tchaikovski “Thật là nhục nhã! Ôi nỗi buồn! Ôi số phận thảm thương của ta!”.
Còn chữ số phận ở đây có đủ các nghĩa của thiên mệnh, điềm dữ điềm lành, tiền kiếp tiền định, chạy trời không khỏi nắng, trời đã phạt mi bằng cách suốt đời buộc mi khóc than cho số phận của mình…
Thành thử không ai ngạc nhiên khi thấy nhiều người Nga chuyển vai nhanh chóng, từ nhân vật trung tâm của một lễ tiệc đèn sáng rực rỡ với những câu bông đùa hóm hỉnh, sang anh chàng chán đời ngồi nức nở trước cốc ruợu cạn và tự làm khổ mình bằng cách đập tay lên trán tự hỏi ý nghĩa cuộc sống là gì mà không bao giờ trả lời được.
Dễ dãi và thụ động – Chỉ thích ăn sẵn
Người Nga thích ngồi ước ao tự nhiên trở nên giàu có.
Một trong những truyện cổ tích phổ biến nhất ở Nga là câu chuyện “Êmélia và con cá măng thần kỳ”, đại khái kể về một anh chàng không thích động tay vào bất cứ việc gì mà lại có được tất cả mọi thứ. Rút lại số phận của người ta đi đằng nào, sự tốt xấu … tất cả chẳng có nghĩa lý gì hết, đạo lý cuối cùng là vậy.
Tiếng Nga có một từ là “khaliav” có nghĩa là của trời cho, người ta dùng nó để gọi một cái vé xem một vở hát mang tính chất chiêu đãi, một tập quảng cáo mỏng chả ai buồn xem, cho tới giấy mời tới dự bữa ăn tối với một thương gia có thể là cần cho bạn trong một việc gì đấy.
Người Nga cho rằng cứ được mời là thích rồi, ngoài ra mời cái gì mà chẳng được.
Một biểu hiện khác của thụ động là sự chịu đựng, nghiến răng chấp nhận đau khổ, ngóng đợi một cuộc sống khá hơn dù không biết bao giờ nó tới. Khả năng chịu đựng của người Nga thật mênh mông không có giới hạn, người có quyền muốn quát mắng họ, chửi bới họ thế nào cũng được. Cuối cùng nhà cầm quyền đành ra lệnh treo đầu cả bọn ngoài chợ :
- Ngày mai cho tất cả lên đoạn đầu đài hết. Tám giờ có mặt ở đây. Có hỏi thêm gì không?
- Dạ có. Xin hỏi dây thừng đã có sẵn hay chúng tôi phải mang theo?
Họ dám chờ đợi và hy vọng ngay trong những điều kiện mà không một dân tộc nào chịu đựng nổi.
Giới trí thức bạc nhược
Đây không phải là khái niệm chỉ lớp người có học mà dân tộc nào cũng có: ở Nga, là một trí thức có nghĩa là phải hiểu được những người đang sống quanh, cùng đau khổ với họ, cùng mơ mộng và khi cần lên tiếng chống lại bất công cùng với họ.
Cố nhiên trước đó anh phải là người đọc nhiều biết rộng được dạy dỗ dến nơi đến chốn, song chưa phải là đủ.
Một nhà văn, một nhạc sĩ, một giáo sư hay một viện sĩ không thể tự nhiên liệt mình vào hạng trí thức, làm thế chẳng khác gì tự anh phong thánh cho mình mà ông ta thừa biết rằng danh hiệu này phải do nhân dân phong tặng. Các nhà trí thức thực thụ thường không giấu nổi sung sướng khoe với hàng xóm về vai trò của mình nhưng không quên nói thêm “mình là thứ đã bị sâu ăn”, tức chưa phải đã xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy.
BỔ SUNG 14/10/2015:
Để các bạn tham khảo thêm.
NGƯỜI NGA & SỰ SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC HIỆN THỜI
Nguồn:http://nghiencuuquocte.net/2015/05/11/nga-dao-duc-chinh-tri/#sthash.RJ9OFPUV.dpuf
Nga đã trở thành một pháo đài. “Chúng ta là người chống lại thế giới”: Quan điểm này đã gần như trở thành một hệ tư tưởng quốc gia.
- Nga chống Mỹ;
- Cách sống Nga tương phản với nền văn hóa phương Tây thối rữa;
- Nếu bạn không phải là người yêu nước thì bạn là một kẻ phản bội.
Tư tưởng ở Nga đã trở nên bị giới hạn trong những dạng tối hậu thư như vậy.
Truyền hình Nga tuyên truyền một quan điểm vốn phổ biến trước Cách mạng tháng Mười và tồn tại cả trong thời Xô viết rằng nhân dân Nga là những người được Thiên Chúa tuyển chọn và rằng Nga là ngôi sao sáng nhất của nền hòa bình hiện tại.
Tầm nhìn không tưởng về việc “là một quốc gia tốt nhất thế giới” đã quay trở lại.
Rõ ràng là những người tự cô lập mình theo cách như vậy sẽ khó tìm được bạn bè trên thế giới – và đành phải quay sang làm bạn với những người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tân quốc xã, và bài Do Thái.
Nhưng đó không đơn thuần chỉ là vấn đề chính trị. Tệ hơn nữa là những gì mà sự thù ghét và tức giận hàng ngày này ảnh hưởng đến tư tưởng của quần chúng.
Ở Moskva và St. Petersburg vẫn còn một vài người theo chủ nghĩa tự do. Nhưng ở những nơi xa hơn thì thế nào? Hàng triệu người Nga sống ở các thị trấn và làng mạc thiếu thốn các dịch vụ cơ bản, trong những ngôi nhà dột nát không có cả hệ thống nước trong nhà và chỉ có một bếp củi để sưởi ấm.
Nhưng ngay cả những nhà lụp xụp xa nhất đó cũng có một cái chảo truyền hình vệ tinh, “như một loại tai giả được gắn vào” một nhà báo của tờ Moskovskij Komsomolets từng viết.
“Vào buổi tối, cư dân của các thành phố và làng mạc nghèo kiết xác đó ngồi trước màn hình tivi của họ.
Họ say sưa theo dõi các phát thanh viên, những người nói với họ rằng cả thế giới ghét người Nga chỉ vì họ là người Nga.”
Họ không nhận ra rằng họ đang ngày càng xa rời thực tế [đang xảy ra trên thế giới hiện nay đến như thế nào]
Ngày đăng 16/10/2015
Hàn Thiếu Công sinh năm 1953, là một nhà văn thành đạt về mọi mặt. Hiện là Ủy viên Đoàn chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc. Ông đã giành được nhiều giải thưởng văn học trong nước và tác phẩm đã được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Italia...
Cùng với Thiết Ngưng, Tô Đồng - Hàn Thiếu Công từng được bình chọn là nhà văn kiệt xuất nhất của Trung Quốc 2006 (giải thưởng giá trị mười vạn nhân dân tệ tương đương 13.000 USD).
Tác phẩm xuất sắc trong năm của ông là tập tản văn dài mang tựa “Sông Nam núi Bắc”.
Tập sách gồm 99 bài viết ghi lại những cảm nhận và lí giải về đời sống nông thôn, được coi như mở đầu cho văn học “tìm về nguồn mới”.
Hôm nay tôi muốn nói tới cuốn sách Bố bố bố tác giả viết năm 1985 và được dịch in ở NXB Hội Nhà Văn. Tôi có may mắn được phân công biên tập và viết lời giới thiệu cho tập sách này.
Cái mới cái độc đáo mà bạn đọc sẽ tìm thấy ở "Bố bố bố" là khả năng của tác giả trong việc chỉ ra trình độ dã man, cái không khí ngưng trệ mê muội mà người ta ai cũng cảm thấy trong cuộc sống của một vùng núi ở nước Trung Hoa mênh mông, khi họ chưa làm rung chuyển cả kinh tế thế giới.
Con người như thuở dã man
Giữa thời hiện đại, cái bản nhỏ được Hàn Thiếu Công miêu tả ở đây như từ thời nguyên thủy còn sót lại.
Sự sống cũng có đủ mặt, người ta cũng lo ăn lo uống, cúng cáp, lấy vợ lấy chồng, yêu thương nghi ngờ cãi cọ nhau …
Nhưng trong cái hoàn cảnh mà đến cái ăn tối thiểu chưa bảo đảm, con người như rạp xuống ngang trình độ cây cỏ, sự sống chìm trong tanh tưởi bụi bậm và nhìn đâu cũng thấy nhem nhuốc nhếch nhác.
Người già mốc meo đi và người trẻ lấm lem từ khi mới lớn.
Nhân vật cu Bính thì còn không được như AQ hoặc Chí Phèo ở ta nữa, mà đây là một nhân vật bất thành nhân dạng cả về hình hài lẫn đời sống tinh thần. Hại thay, đó lại là nhân vật rõ nhất trong thiên truyện, có lúc được coi như hiện thân của sức mạnh thiêng liêng của dân bản.
Những cái dường như không thể tin được lại hiện ra trong sách như là những nhân tố tồn tại rất sâu trong xã hội. Đọc thoáng thấy ngờ để rồi bị cuốn theo tác giả, nhìn xã hội bằng con mắt phát hiện của tác giả.
Xử lý nỗi buồn theo kiểu tập thể
Tôi chỉ có thể đến với Trung Quốc qua những cuốn du lịch “bụi” nhưng trong những lần đi vội vã đó, ngoài danh lam thắng cảnh và những thành phố như vừa được mang từ Âu Mỹ sang, tôi cũng đã kịp quan sát, tìm hiểu một mảng “đời sống dưới đáy” thành phố.
Đó là những mặt lạc hậu cổ hủ trong nếp sống, nó chi phối cả một xã hội bề ngoài đứng vững nhưng bên trong ngổn ngang bề bộn sau mọi biến thiên.
Không khó khăn gì lắm, tôi cũng đã thấy một phần những gì muốn biết.
Lang thang ở Thượng Hải cũ (cố nhiên không phải Thượng Hải Phố Đông), tôi đã gặp những khu phố đường xá chật hẹp và người chen chúc, phần nào gợi lại cảm tưởng mấy phố Hàng Buồm, Hàng Bạc bên mình.
Trong lúc chờ tàu mấy tiếng ở ga Bắc Kinh, ngay trong khu vực không quá xa trung tâm thành phố, tôi len lỏi đi vào những ngõ nhỏ (tiếng Hán gọi là hồ đồng) sau ga.
Các mái nhà lợp bằng đủ mọi thứ tôn gỗ nhặt nhạnh đây đó đã xám xịt lại, lô xô cái thấp cái cao.
Khi các gia đình tìm đủ mọi cách để cơi nới thêm trong phạm vi có thể, họ cũng làm ra những không gian rúm ró thảm hại.
Đường trong ngõ quanh co.
Một người đàn bà ra khỏi căn phòng nhỏ tay vo viên tờ giấy trắng.
Bên đường là một mái nhà dùng làm hố xí công cộng, loại hố xí không có phên che riêng cho từng buồng, người vào đấy ngồi cạnh nhau.
Đi trong ngõ chỗ nào có hố xí là cái mùi ngào ngạt kia bốc lên, người khách phương xa chỉ còn nhìn nhau tủm tỉm.
Thức ăn của chó
Những ấn tượng ở Bắc Kinh lần ấy trở lại trong tôi khi đọc nhiều trang trong Bố bố bố của Hàn Thiếu Công.
Kinh khủng nhất là đoạn tả sau cuộc đánh nhau, chỗ nào cũng thấy tay người chân người.
Những con chó ăn thịt người nhiều quá, con nào cũng béo núng nính, mắt đỏ ngầu.
Chúng không thèm ăn những thứ của người tống ra nữa. Cả bản bốc lên cái mùi thum thủm.
Tuổi già trở thành tai vạ cho lớp trẻ
Cái thấy ở các thành phố lớn giúp ta hiểu thêm những vùng sâu vùng xa. Và đời sống vật chất chẳng qua chỉ làm hiện hình những gì vốn có trong đời sống tinh thần.
So với Bố bố bố thì Nữ nữ nữ - mà theo tôi nên dịch thoát thành Những người đàn bà - đọc không ghê rợn, nhưng ấn tượng cũng rất đáng sợ.
Nhân vật người cô trong truyền hình như giống tất cả những người nghèo mà ở xã hội nào cũng có. Bà ta hàng ngày sống thu va hà vén khổ hạnh, lúc nào cũng như thu mình lại để khỏi làm phiền mọi người. Rồi đến lúc ốm, trong tình thế chỉ chờ chết, lại hiện ra như một người lắm điều độc ác tự cho mình cái quyền hành hạ những người thân của mình.
Lúc này người ta không còn nghĩ tới chuyện xấu tốt nữa, người ta chỉ nghĩ con người có thể trở thành tai vạ ngay cho người khác.
Trong những cung bậc thấp nhất của nó, kiếp nhân sinh ở đây mờ mờ xám xám một cách thê thảm.
Người giàu liên tưởng dễ nghĩ tới Kafka. Đôi khi có cảm tưởng càng yêu thích vẻ rực rỡ tráng lệ của Trung Quốc, người ta càng muốn hiểu với cái phần lạc hậu vốn có ở đất nước ấy như Hàn Thiếu Công đã làm.
Những di lụy kéo dài
Dí mũi vào những mảng sống tối tăm như thế để làm gì?
Để hiểu Trung Quốc “cải cách và mở cửa” hôm nay bắt đầu từ đâu. Để hiểu những di lụy mà hàng ngàn năm phong kiến lạc hậu và mấy chục năm chế độ bao cấp duy ý chí và phản tự nhiên còn để lại trong đời sống.
Sau hết cũng là để thấy thêm những vấn đề nhân văn nhân bản tồn tại qua một xã hội Á Đông điển hình và nghĩ thêm về những “kịch bản” đa dạng có thể có trong những ngày tới.
Bài đã đưa trên trang mạng của Vương Trí Nhàn, tháng 9-2008
Ngày đăng 17/10/2015
Dăm bảy năm nay, nhiều tờ báo chính trị kinh tế cũng có thêm mục bác sĩ trò chuyện với bệnh nhân.Và thường tôi tìm đọc những loại bài của Nguyễn Chấn Hùng, Lương Lễ Hoàng... một cách hào hứng vì các bác sĩ đó có cách đặt vấn đề cách viết rất hiện đại, vượt lên trên trình độ chung của báo chí chính trị xã hội hiện nay.
Từ chuyện nhỏ này tôi muốn nói một khía cạnh khác.
Các bệnh viện luôn luôn xúm xít những người là người. Đến với bệnh viện đôi khi là cả một cái tội. Một anh bạn tôi nói đùa giờ phải khỏe lắm người ta mới đi khám bệnh được.
Cùng với việc chữa bệnh là vấn đề bán thuốc. Có dịp đi du lịch “bụi” ở vài nước tôi không thấy đâu lắm hiệu thuốc như nước mình. Thời nay có vốn mà làm nghề xuất nhập khẩu thuốc chắc rất trúng. Không bao giờ sợ ế cả.
Ở phố Bồ Đề bên quận Long Biên của tôi, chỉ trong phạm vi khoảng hai trăm mét, đã thấy cả chục hiệu thuốc.
Vậy là các vấn đề sức khỏe con người nổi lên như một vấn đề xã hội có ý nghĩa hàng đầu.
Nói nôm na là ta đang có một cộng đồng rất nhiều người sống trong tình trạng bệnh tật. Các cơ sở y tế chỉ chữa những người ốm nặng thành ốm vừa vừa, và sự khỏe mạnh luôn luôn là phồn vinh giả tạo.
Sự suy thoái mọi mặt trong trong chiến tranh, nay mới thật bộc lộ với chiều sâu của nó. Tiếp đó mấy chục năm hậu chiến người người lao đầu vào cuộc làm ăn kiếm sống, sức khỏe lại bị phá hoại theo kiểu khác.
***
Sức khỏe thể chất của con người trong xã hội ra sao thì sức khỏe tinh thần là vậy!
Ở chỗ riêng tư, một anh bạn tôi đọc nhiều về sử còn mạnh mồm mà bảo rằng có lẽ chưa con người ham sống một cách hèn hạ (!) như thời nay.
Tôi cảm thấy nói thế hơi quá lời. Nhưng trong bụng vẫn lảng vảng cái ý nghĩ nay là thời tỷ lệ những người lười biếng nịnh nọt giả dối nói chung là thiếu tư cách trong cả dân thường lẫn quan chức vượt cao hơn hẳn so với thời cũ.
Trong một bài phiếm luận đã viết tôi đã nói thật ra những Chí Phèo hay Xuân tóc đỏ... còn có tư cách hơn nhiều người đang sống sờ sờ, kể cả những người được xã hội trọng vọng. Vậy mà chưa thấy ai nói khác. Thấy mình có vẻ được đồng tình, tôi lại thêm buồn.
Lúc rỗi rãi, tôi chỉ ước ao có ai đó đứng ra tổng kết về con người đương thời, nhất là xét con người ở tầm cao của ý chí, dục vọng, lòng tự trọng và thể hiện ra ở chiều rộng và chiều cao của trí tuệ. Ta chỉ hay so sánh người mình với người nước ngoài về trình độ hưởng thụ, chứ chưa ai đi vào căt nghĩa tại sao họ lại đạt được mức sống như vậy.
Ngay cả việc đi vào khảo cứu so sánh con người đương thời với người Việt trong các thời cũ về mặt tinh thần cũng chưa thấy ai bắt tay vào cả. Trong khi đó thì tôi luôn luôn thấy người Việt đương thời có phần hợm hĩnh khi nghĩ về các thế hệ tiền bối song đó chỉ là bề ngoài, bề trong chúng ta ngày nay đuối hơn rất nhiều so với các cụ.
Một trường hợp kỳ lạ của đạo văn
Ngày đăng 19/10/2015
Đang bị lôi cuốn bởi nhiều việc bản thân làm dở, vậy mà từ đêm hôm qua tới cả ngày nay 19/10, lúc nào tôi cũng cứ bị kéo vào câu chuyện gọi là đạo văn đạo thơ đang gây ồn ào trên facebook và các báo mạng.
Tuy nhiên, do tự thấy có vài ý nghĩ hơi trái khoáy, nên tôi tạm ghi lại đây để chia sẻ với các bạn.
Tôi muốn cảm ơn người đã lôi ra chuyện này, vì nhờ đó tôi được đọc mấy bài thơ khá hay.
Cả bài Buổi sáng của Thường Đoan mà sau đây gọi là bài A cũng hay mà bài Bạch lộ của Phan Huyền Thư mà sau đây gọi là bài B. cũng hay.
Tạm theo cái giả thuyết chung là A viết trước mà B viết sau.
Cái hay của bản B. nằm cả trong hai trường hợp:
- Một là từ câu của bản A việc chữa đi vài chữ thêm hay bớt một hai chữ, đều được làm khéo léo tự nhiên.
- Và hai là phần đầu sau khi theo sát từng câu của bản A, tới phần cuối của mình, bản B là một biến tấu khác. Cũng lấy lại một số ý của A nhưng làm ra những câu thơ và cả một đoạn thơ khác có cái hợp lý bên trong, đồng thời đưa bài thơ đi theo một ngả mới, mà toàn bài ý vẫn quán xuyến.
Sau đây là các trường hợp minh họa cho ý thứ nhất nói trên. Bản B đã lấy “Từng giọt sương nén trong veo câm nín” thay vào chỗ “Những giọt cà phê muôn đời đen nhánh”
Lấy
“Buổi sáng muốn ôm anh
Nắng nói lời mê ngủ
Buổi sáng muốn gọi anh
Mây tái mặt thẫn thờ”
thay cho
“Buổi sáng muốn gọi anh
Nắng nói lời mê ngủ
Gió se lạnh chối từ”
Lấy
“Bóng ai hờ hững xéo trên lá cỏ
Điềm tĩnh ngồi chờ gió
Về tan cùng tàn thu”
thay cho
“Ai hờ hững xéo lên lá cỏ
Buổi sáng ngồi một mình
Không quen những nụ cười lạ
Em đậm đặc với nắng thu mưa hạ
Tan cùng tàn Đông”
Sự hấp dẫn của bản B còn ở chỗ nó có một không khí Đông phương kín đáo, bao gồm từ việc bỏ đi những “cà phê đắng” mà đưa thêm vào là “kén ngà tơ lạ”, và nhất là là cách đặt cho cái tên là Bạch lộ (tôi đang nhớ tới trường hợp “Nguyệt cầm” của Xuân Diệu).
Tóm lại, tự nó, bản B là một cái gì tạm gọi là toản bích, sánh ngang cái toàn bích của bản A khiến tôi sau khi biết rằng nó được gợi ý từ bản A. vẫn cảm thấy không bỏ nó đi được.
Mấy ý nghĩ trái khoáy đầu tiên tạm ghi ra như vậy.
Tôi sẽ nghĩ tiếp.
Chỉ nhân đây, có nhớ rằng từ 2007 bản thân đã có một bài viết về hiện tượng đạo văn. Vì bài này viết từ lúc tôi chưa làm trang mạng riêng, nên cứ để mãi trong máy. Nay đã đưa lại trên blog mời các bạn đọc ở địa chỉ:
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/10/chu-ao-van-kia-cung-co-ba-bay-uong.html
Hay là sự khốn cùng của nạn đạo văn hiện nay
Ngày đăng 26/10/2015
Dưới đây là một đoạn tôi viết về nạn đạo văn, đã đưa trên blog của tôi trong mục GHI CHÉP HÀNG NGÀY 14/7/2010
Nguyễn Công Hoan từng có truyện ngắn Thằng ăn cắp viết năm 1932. Cái gọi là tình trạng nhân thế hiện ra trong truyện này cũng như trong Nguyễn Công Hoan nói chung cực kỳ nhếch nhác.
Nỗi khốn khổ của kẻ cùng đường.
Sự trơ tráo của kẻ phạm tội.
Mọi chi tiết trong truyện đều khá thú vị.
Nhưng tôi còn thấy truyện hay ở hai khía cạnh vặt khác.
Một là cái sự bù lu bù loa của người mất cắp.
Và thứ hai là cái thứ mà người ta ăn cắp. Hãy đọc lại trăm chữ cuối truyện, nhất là mấy câu cuối cùng:
- Nó lấy gì của bà?
- Các ông đưa nó lên Cẩm (đồn cảnh sát – VTN)… hộ tôi
- Bà mất gì?
Bà ấy cố trả lời, nói rời rạc như người sắp tắt thở:
- Nó ăn của tôi…hai xu…bún riêu… rồi nó quỵt … nó chạy.
BÌNH LUẬN
Tôi tìm thấy ở đây một sự phóng chiếu của… nạn đạo văn hiện thời.
Không ai nói những Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, hoặc Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Vũ Trọng Phụng … bị đạo văn bao giờ.
Lý do là bởi những thứ các vị ấy viết ra đều in đậm cốt cách ngòi bút tác giả.
Ai lấy là lộ liền.
Còn nhìn vào những thứ mà người ta thó của nhau và bị gọi tên chỉ mặt hôm nay.
May lắm chỉ là những ý tưởng thuộc loại trung bình và được diễn tả không rõ sắc thái cá nhân. Và còn ít người biết, nên mới dễ tạo cơ may cho người làm cái việc “đạo” khỉ gió đó.
Nhìn rộng ra có thể bảo nó là sản phẩm của một nền văn chương hoặc nền giáo dục còn đầy bóng tối, một thứ đời sống tinh thần tỉnh lẻ, phố huyện, gà què ăn quẩn cối xay và như câu tục ngữ xưa: “Chưa họp chợ đã họp kẻ cắp”.
* GHI CHÚ:
Xin các bạn nhớ cho, mẩu ghi chép này tôi viết từ 2010 và không có ý ám chỉ các sự kiện cụ thể vừa xảy ra hôm nay. Để kiểm tra, các bạn có thể tìm vào địa chỉ sau đây:
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/07/ghi-chep-hang-ngay-7.html
Đâu là sự đạo văn tởm lợm nhất?
Nói dối trong xã hội hiện đại đã đến mức tinh vi đến mức nhiều khi nó rất giống như nói thật.
Juan Carlos Onetti, một nhà văn Mỹ la tinh hiện đại, hiện sống ở Madrid, Tây Ban Nha từng nói:
“Có nhiều cách nói dối, nhưng cách tởm lợm nhất là nói ra đủ thứ chi tiết về sự việc - tức nói toàn bộ sự thật - mà chỉ che giấu cái hồn của sự việc”.
Bắt chước tác giả trên, tôi cũng muốn nói có hai thứ thứ đạo văn.
Ở một đầu là tình trạng chép từng câu thô thiển.
Còn đầu kia là lối đọc của người ta xong, viết lại khác đi một chút.
Câu văn chữ nghĩa của mình, không ai bắt bẻ được.
Nhưng tinh thần của văn bản là lấy của người khác, thực chất vẫn là đi ăn cắp.
Mà nói như Juan Carlos Onetti, đó mới là thứ đạo văn tởm lợm nhất.
Viết đến đây, tôi tự hỏi, thế cách dạy và cho học sinh thi văn hiện nay - làm bài theo nội dung thầy cô giảng trên lớp, chấm theo đáp án đến từng điểm a, b,… có phải là tiền đề để tạo ra thứ đạo văn thứ hai này không?
Đoạn văn trên cũng đã được tôi viết trong mục GHI CHÉP HÀNG NGÀY ở địa chỉ:
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/07/ghi-chep-hang-ngay-7.html
BỔ SUNG 26/10/2015:
Dành cho các bạn quan tâm tới lý luận văn học phi chính thống:
Tôi đã tìm thấy đoạn văn trên trong các bài nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực trong văn học hiện đại, trong đó người ta phân biệt chủ nghĩa hiện thực sát mặt đất, chủ nghĩa hiện thực đúng đến từng chi tiết với chủ nghĩa hiện thực chỉ ra cái hồn cốt nhiều khi ma quái của hiện thực.
Cùng ý này có một cách nói khác cũng thường được sử dụng khi người ta bảo
“Chủ nghĩa hiện thực đó không phải là Eugénie Grandet của H. de Balzac mà là Con đầm pích của A. Puskin"
Ngày đăng 29/10/2015
Không ở đâu, chất sang trọng cao quý của người Việt được trình ra như trong Vang bóng một thời (viết năm1940) của Nguyễn Tuân.
Bằng một giọng điệu từ tốn chậm rãi, tác giả như muốn vẽ ra một hình ảnh mỗi cá nhân trong thế ổn định và chất lượng sống thì đã ngưng kết lại trong thời gian.
Người ta có một đời sống tinh thần cao cả thâm nghiêm.
Người ta biết vượt lên trên cái tầm thường hàng ngày để theo đuổi những giá trị trường tồn.
Và người ta có một mỹ cảm tinh tế thanh cao.
Một thiên truyện như Ngôi mả cũ cho thấy cái chất quý phái kia đồng nghĩa với sự nhẫn nại hy sinh. Trong sự vô cảm của cuộc đời, con người thừa hiểu rằng chỉ mình biết cho giá trị của mình, và vẫn kiên trì cái lý tưởng sống hằng ấp ủ.
Nhưng trong tập sách đậm chất văn hóa này của Nguyễn Tuân, cũng có những truyện như lạc hẳn đi, đúng hơn là ngẫu nhiên chạm phải một cái gì ẩn sâu bên trong đời sống mà văn chương chưa động tới.
Trong Những chiếc ấm đất, nhân vật chính cũng có máu quý tộc. Nhưng cái phẩm chất cao quý đó phập phù và tạm bợ.
Trong hoàn cảnh bình thường thì không sao.
Đến khi gặp cảnh ly loạn, tất cả đổ vỡ.
Ông lão lịch lãm chơi những cái ấm Tàu hôm qua, trong khi thất cơ lỡ vận, rút cuộc hiện ra như một tay lưu manh, láu cá, nói dối không biết ngượng, sẵn sàng bắt chẹt người khác, kiếm mấy hào vặt.
Ít ra qua đây cũng có thể kết luận những nét tính cách tưởng như đã cố kết ở người Việt hóa ra thiếu bền vững.
Nó hời hợt và được sử dụng để trình diễn nhiều hơn là một trạng thái thực.
Người ta không tỏ ra chắc chắn trong lòng tốt và ý định hướng thiện của mình.
Những cái tốt đẹp mong manh và dễ bị đánh mất tuy không bao giờ mất hẳn.
Sự ổn định của cái không ổn định
Theo nhà sử học Nguyễn Văn Kiệm (trong cuốn Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, H. 2003), khi nhận xét về tính cách người Việt, các giáo sĩ nước ngoài thường nhiều lần lặp lại một khái quát, đó là tính không kiên định (inconstant) và hời hợt (léger).
Có thể hiểu điều này rõ hơn nếu liên hệ với một nhận xét khác :
“Bản chất người dân xứ Đàng Ngoài khá thật thà mặc dù đôi khi họ cũng phải nói dối một cách khéo léo khi cần phải cảnh giác… Họ cũng hào hiệp song sự hào hiệp đó thường được hướng về lợi ích cho mình và khi cảm thấy không có gì để hy vọng, họ cũng chẳng sẵn sàng ban phát; trong những trường hợp như vậy, họ thường rất kín đáo về của cải của mình để khỏi bị quấy rầy. Nói chung họ rất dũng cảm siêng năng khéo léo rất hào phóng trong những vụ chi tiêu vì danh vọng như trong các đám cưới đám ma, các ngày lễ các đám ăn hỏi”
Tạm tóm tắt thành ba điểm:
1/ Con người nơi đây có cả cái tốt lẫn cái xấu, vừa cởi mở lịch thiệp vừa khép kín, vừa ki bo bủn xỉn, vừa thật thà vừa dối trá.
2/ Những nét tính cách này không chắc chắn, tùy điều kiện mà bộc lộ, và có thể chắc chắn là người ta chỉ tốt khi thấy có lợi.
3/ Xét tổng thể, nói chung cái xấu có xu hướng lấn lướt, trở thành ấn tượng cuối cùng từ nhiều người.
Dưới ánh sáng của nhận xét tổng quát này, thì trường hợp như con người trong Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân trở thành dễ hiểu.
Lực bất tòng tâm
Lâu nay trong các tài liệu nói về người Việt, các nhà quan sát thường khi rơi vào tình thế mâu thuẫn. Người này bảo người Việt chăm chỉ, người khác bảo họ lười biếng; người này khen họ thật thà, người khác ngán ngẩm vì thấy họ tinh ma quỷ quái; người này ghi nhận cái sự hồ hởi dễ tin ngời lên trên nét mặt đám đông; người khác thấy cái nhìn hoài nghi dường như ăn vào máu bất cứ ai mình đã gặp.
Hóa ra những đặc tính đó đều tồn tại, tất cả chung sống với nhau thành một mớ hỗn độn, tùy từng lúc tùy từng hoàn cảnh mặt này hay mặt kia nổi lên, và bởi lẽ trong trường kỳ lịch sử, hoàn cảnh sống quá khó khăn mà ước ao của con người thì quá lớn, nên cái tốt thường trở thành của xa xỉ dễ bị xếp xó,còn cái xấu như một thứ có dại mọc lan ra và không dễ gì diệt nổi.
Không phải người ta không biết mình xấu đi, song bởi lẽ quá bất lực trong việc chống lại định mệnh, đành chịu đầu hàng.
Trong nỗi khao khát tự khẳng định, con người lương tri vẫn tìm mọi cách để biện hộ.
Biện hộ cách nào?
Bằng cách nhớ lại rằng mình đã có lúc mơ mộng lắm, tốt đẹp lắm.
Người độc ác nhớ lại rằng lúc nhỏ mình cũng đã nghĩ thương người như thể thương thân;
Người dối trá nghĩ rằng mình vốn được cha mẹ dạy bảo khôn ngoan chẳng lọ thật thà;
Người đâm đầu vào cuộc kiếm chác mưu cầu danh lợi đinh ninh rằng xưa nay mình vẫn hay bảo là không gì bằng cái tâm.
Cứ thế, những cái tốt giương lên như khẩu hiệu, được biến thành nơi nương náu cho sự hư hỏng.
Và rút cục là cái cách sống thường trực nói một đằng nghĩ một nẻo, “nói zậy mà không phải zậy” ngày một lây lan.
Nói theo tâm lý học hiện đại, trong con người thường xuyên có sự phân thân, một người mà có rất nhiều khuôn mặt cùng lúc tồn tại, mỗi người là một thực thể lung linh mời gọi khám phá.
Ngày đăng 31/10/2015
Khi danh họa Leonardo da Vinci quyết định sẽ vẽ một bức bích họa có chủ đề “Bữa tối cuối cùng của Chúa”, ông đã tiến hành tuyển người làm mẫu để vẽ Jesus.
Trong hai tháng ròng rã, Da Vinci tuyển chọn hàng ngàn thanh niên ở địa phương, cuối cùng ông tìm ra một chàng trai 17 tuổi với gương mặt “mà không một ý nghĩ xấu xa nào có thể nảy mầm”.
Sáu tháng sau đó, danh họa vùi đầu làm việc để vẽ lại khuôn mặt của chàng trai vào chính giữa của bức tranh.
Bảy năm kế tiếp, ông lần lượt vẽ 12 học trò của chúa, nhưng tới khi vẽ Judas, Da Vinci lại thấy quá đỗi khó khăn.
“Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp” - họa sĩ tự nhủ.
Da Vinci cần có một gương mặt mẫu xấu xa bỉ ổi và đáng ghê tởm nhất trần đời.
Tìm đâu ra một con người như thế?
Ấy vậy mà trong một nhà ngục của Rome, một tên tử tội đã khiến Da Vinci phải lăn lội hàng ngàn cây số.
Gương mặt của hắn ta độc ác, bất tín và khiến người ta tưởng tượng ra đủ thứ tội lỗi trên đời.
Vậy là cuối cùng, Judas cũng đã xuất hiện.
Sáu tháng sau đó, Da Vinci hoàn thiện người thứ 13 trong bức “Bữa ăn cuối cùng của Chúa”. Người ta kể với nhau rằng ông gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia.
Khi xong việc, danh họa chỉ muốn người ta tống ngay hắn trở lại với nhà ngục ở Rome.
Thấy vậy tên tử tù bỗng rơi nước mắt:
“Ngài Da Vinci, ngài không nhận ra tôi sao? Khi tôi 17 tuổi, tôi đã từng một lần làm mẫu cho ngài!”
Mấy liên tưởng bơ vơ
Đoạn văn này được viết trên trang Bongda plus 2/12/2014, phần để nói về CLB bóng đá Arsenal, sự suy đồi của Arsenal dưới sự dắt dẫn của A. Wenger.
Nhưng chắc tất cả chúng ta đều hiểu rằng nó nói về khả năng vô tận của thế giới này trong việc biến cải con người.
Luôn luôn cuộc đời có thể tác động vào con người ta theo dạng lật ngược, đặt chân lên đầu, mang người ta từ thái cực nọ sang thái cực kia.
Riêng tôi lại thấy nó còn là bài học về lao động của người nghệ sĩ. Những nghệ sĩ có yêu cầu cao về nghề nghiệp nhất định sẽ được đền đáp. Miễn là ở ông ta sự sáng suốt đi kèm với sự kiên trì.
Gần gũi nhất với tôi là cái câu Da Vinci “gần như kiệt quệ sau nửa năm phải tiếp xúc với những biểu hiện của tội lỗi toát lên từ gương mặt xấu xa kia”.
Còn đau nhất với tôi là cái câu cảnh cáo “Không thể truyền đạt được sự xấu xa sau ngần ấy thời gian chỉ vẽ sự tốt đẹp”
Tôi tự hỏi thế còn trường hợp ngược lại?
Đám nghệ sĩ tầm thường chúng ta thời nay, từ thuở sinh ra tới khi nhắm mắt, luôn bị bao quanh bởi trùng trùng điệp điệp những cái xấu, sẽ tuyệt đường sinh lộ khi mong mình có thể diễn tả cái đẹp tối thượng hay sao?
Con người và xã hội Việt Nam qua truyện Tấm Cám
Ngày đăng 1/11/2015
Người Việt có câu:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Xưa nay mọi người vẫn cho rằng câu ca dao này nói đến nhu cầu đùm bọc lẫn nhau giữa những người nghèo khó. Thế nhưng đọc nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, thấy ông gợi ra ý khác. Ông Trường cho câu này là lời kêu than của kẻ bị trị với người thống trị. Sống trong một giàn đấy, tức cùng trên một địa bàn cư trú, trong một xã hội, nhưng là khác giống, khác cấp độ, khác hẳn nhau về vị thế. Nên mới kêu rằng hãy thương lấy chúng tôi với. Chứ giữa những người nghèo khó, làm gì có sự khác giống mà phải kêu gọi vậy?
Tôi cũng học theo cách đó, thử nhìn khác đi một chút về truyện Tấm Cám.
Có một đề tài mà người mình nói đi nói lại với nhau, thế hệ nọ truyền lại cho thế hệ kia, và nay thì được đưa vào sách vở để dạy dỗ nhau, đó là niềm tự hào một chiều, niềm tự hào này đôi khi lại được tuyệt đối hóa tới mức quá đáng. Người Việt trong các truyện xưa chẳng hạn thường được miêu tả như là chịu khó làm ăn và sống trong tình nghĩa gia đình làng xóm. Và người ta lấy Tấm ra để làm ví dụ. Tấm tuy bé nhỏ nhưng là người trời sinh chăm chỉ nết na, ở với bà lão thì quán xuyến việc nhà, được chọn làm hoàng hậu rồi mà đến ngày giỗ bố vẫn về leo cây hái cau.
Tấm trái ngược hẳn với Cám và mẹ Cám.
Trong cuộc kiếm sống khó khăn, loại người như mẹ Cám nhìn các đồng loại của mình như kẻ thù, thấy ai tìm được cái gì hơn mình, liền tìm cách hãm hại.
Do cách kiếm sống kiểu đó, ở họ hình thành những phẩm chất bẩm sinh đáng sợ. Cả trẻ loại mới lớn nứt mắt cho đến người lớn đều ranh vặt và dối trá. Người ta chỉ có thể hiểu được điều này nếu nhớ lại Cuội nhân vật trong một truyện cổ tích cùng tên. Truyện Cuội cũng thuộc loại truyện lâu đời nhất như Tấm Cám. Trong tâm thức người Việt, Cuội tự nhiên là thế, không ai chê cười cả.
Cám sẵn thói tàn ác. Bà dì ghẻ không muốn cho Tấm đi hội nên đã trộn gạo vào thóc bắt Tấm nhặt. Một sự hành hạ tinh vi.
Khi Tấm đã thành hoàng hậu, về thăm nhà, bà lại bảo Tấm trèo lên cây cau hái cau cúng bố, rồi lén chặt cau để Tấm ngã chết tươi.
Từ bấy trở đi, bao nhiêu lần Tấm tìm cách tái sinh là bấy nhiêu lần mẹ Cám xui con tận diệt dấu vết. Nào là làm thịt chim, nào là đốt khung cửi. Cách con người trị nhau ở đây phải nói là rất dã man. Nhưng nếu không tự dối lòng, ta phải công nhận nó miêu tả đúng cách quan hệ với nhau của người phương Đông.
Có lần tôi đọc một tài liệu viết việc tòa án Tiệp Khắc điều tra một vụ án mạng có liên quan tới người Việt. Khi thấy nạn nhân bị chọc thủng mắt, họ kết luận hung thủ chắc chắn phải là một người Việt khác, không thể là một người Tiệp được, vì hành vi quá man rợ, không thể có trong thế giới văn minh.
Gần đây đọc bài Những chuyện động trời về người Việt Nam ở Ba Lan lại càng thấy rõ điều đó.
Tại sao lại có sự miêu tả kỹ càng về mẹ con Cám như vậy?
Khi kể lại cho nhau nghe Tấm Cám, người mình rất rạch ròi. Trong đầu óc ông cha ta - và đến lứa chúng ta bây giờ cũng vậy, người Việt chỉ là Tấm thôi. Chứ còn Cám ấy ư, là người nước nào ấy, chứ không phải người Việt. Cũng như ta hay hiểu ngẩm với nhau, trong lịch sử những Lê Long Đĩnh, Trần Ích Tắc, thậm chí cả Gia Long, Tự Đức, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Cao Khải… cũng không phải người Việt, khi nhận xét cái hay cái dở của người Việt không ai tính đến họ.
Nay nếu từ bỏ cách xem xét phiến diện đó, xem các nhân vật đều có ý nghĩa đại diện như nhau, thì phải nhận Tấm Cám đã đi khá xa trong việc khái quát tính cách dân tộc.
Bây giờ để trở lại với nhân vật Tấm, tôi muốn bắt đầu bằng một người Việt khác, người Việt số một trong tâm thức dân gian. Là nàng Kiều.
Trong một báo cáo của các nhà nghiên cứu nước ngoài tại hội nghị Việt Nam học 1998, tôi thấy họ nói là Truyện Kiều cũng được truyền sang Nhật, tức có một “variant” tiếng Nhật, nghĩa là bản dịch thoát, dịch theo kiểu làm biến dạng chút ít như người Việt đã làm.
Lạ một điều là nhân vật Kiều trong tiếng Nhật lại có nghị lực chứ không chỉ than khóc khi gặp nghịch cảnh, rồi bằng lòng với sự đầu hàng, dễ dàng chấp nhận số phận như Kiều ở Việt Nam.
Về phương diện bất lực và lối phản ứng thụ động trước cuộc đời, Tấm rất gần Kiều. Động một tí là giở trò than khóc để sau đó hoàn toàn trông mong vào sự cứu giúp của các thế lực bên ngoài, tức cũng là trông vào vận may mà số phận run rủi cho gặp. Toát lên từ cả câu chuyện ta thấy nếu cuối cùng Tấm có hạnh phúc thì phần lớn là nhờ ở hiền gặp lành chứ không thể gọi nàng là người biết lo liệu cho cuộc đời mình.
Cách nghĩ sống bằng cầu xin và ăn may không phải độc quyền của Tấm.
Trong khi diễn đạt những bước đường đời của con người - cả trong sự lẩn tránh rủi ro lẫn truy cầu hạnh phúc các mẩu truyện dân gian còn cho thấy một nét tâm lý trên của Tấm rất phổ biến trong người Việt.
Bằng chứng có thể lấy ngay trong Tấm Cám. Hãy nhớ lại đoạn Tấm đánh rơi giày, vua cho gọi mọi người đến thử. Có phải là một hai người nào đâu mà hầu như là tất cả đàn bà con gái đi hội đều chen nhau đến để ướm chân vào giày, người nào người nấy tự nhủ nhỡ biết đâu chân mình vừa giày thì sao. Ảo tưởng đến thế là cùng!
Trở lên đã nói về nét man rợ trong nhân vật mẹ Cám. Oái oăm thay, bên cạnh chỗ khác mẹ con Cám, ở chỗ này Tấm rất giống họ. Tấm không gây ra thù. Nhưng trong cách báo thù Tấm cũng man rợ. Nào là xui Cám nhảy xuống hố để đổ nước sôi cho chết. Nào là chặt đầu Cám làm mắm gửi về cho mẹ.
Theo chỗ tôi đọc được thì cả nhà văn Tô Hoài cũng không muốn chấp nhận cái chi tiết ghê rợn này.
Trong một văn bản Tấm Cám do chính ngòi bút Tô Hoài viết, chi tiết cuối cùng bị tước bỏ.
Riêng tôi thì tôi vẫn tin chi tiết đó là cần vì nói đúng cái chất người của Tấm.
Cái lý của tôi - ta phải nhìn vào sự thống nhất trong tính cách nhân vật.
Cái may của truyện Tấm Cám còn lưu truyền trong dân gian là ở đó nhiều câu đối thoại được ghi bằng lối nói có vần, khiến cho người kể trong thời hiện đại không thể tự ý xoay câu chuyện theo ý mình.
Cuộc đấu của Tấm và mẹ con Cám diễn ra qua nhiều công đoạn. Khi Tấm trèo cau bị mẹ Cám chặt cau, Cám được đưa vào thay; Tấm hóa thành chim vàng anh thì bị Cám nghe mẹ, bắt làm thịt rồi đổ lông ra vườn. Chỗ lông chim liền mọc lên hai cây xoan đào, vua rất thích ngồi dưới bóng cây hóng mát. Cám mang chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ Cám bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi.
Nhưng khi khung cửi đóng xong, Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe từ khung cửi cất lên những lời đe dọa:
Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị.
Chị khoét mắt ra
Từ đây đến chỗ xui Cám ngồi dưới hố để dội nước sôi cho Cám chết và làm mắm gửi mẹ Cám là chuyện hoàn toàn hợp lô gích.
Có bạn sẽ bảo phải làm thế mới trừ tiệt được cái ác trong xã hội. Nhưng cũng là ảo tưởng mà thôi, cái ác trong xã hội Việt chưa bao giờ cạn kiệt và như chúng ta thấy càng sang thời hiện đại, nó càng bùng phát.
Với tư cách hậu thế, những người đọc hiện đại chúng ta không thể tùy ý kể lại chuyện xưa theo ý mình. Chẳng những thế nhìn thẳng vào hoàn cảnh sẽ thấy nay là lúc những vấn đề của người xưa cũng đang ám ảnh chúng ta. Ví dụ không xa: trường hợp cái ác trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Nhiều người mới đầu rất ghét về sau vẫn say mê văn ông - và đây có lẽ là trường hợp duy nhất trong văn học sau 1945, một người viết văn vượt thoát khỏi sự thù ghét của dư luận chính thống. Hóa ra thứ văn còn chia ra được thành chính thống và phi chính thống chưa là gì cả. Chỉ có văn hay và văn không hay. Bài học của Nguyễn Huy Thiệp là vậy.
Trở lại câu chuyện Tấm Cám đang bàn. Tôi ngờ rằng nếu chỉ miêu tả cô Tấm hiền hậu thôi, thì nhân vật loại này sẽ chết yểu ngay từ đầu. Sức sống của Tấm là ở chỗ trong đó còn tiềm ẩn những chi tiết mà đến nay mới thấy rõ. Trong cuộc sống của người Việt, cái ác có mặt khắp nơi. Trước khi bàn chuyện vượt qua cái ác thế nào, sự ghi nhận đầy đủ nó là cần thiết. “Khi cái ác được viết ra, tức là có điều kiện để đẩy lùi nó. Mỗi lần nghệ thuật chiến thắng là một lần cái thiện chiến thắng.” Đây vốn là một câu tôi đã viết trong bài Khuôn mặt nhàu nát - tưởng tượng về Nguyễn Huy Thiệp, và đưa vào sách Những kiếp hoa dại (1993) nay lại muốn dẫn ra ở đây mong được bạn đọc chấp nhận.
MẤY NÉT VỀ XÃ HỘI VIỆT TRONG TẤM CÁM
Con người đã vậy, bây giờ nói về xã hội.
Xã hội trong Tấm Cám có thể quy vào một đặc điểm chính - là rất hoang dã. Con người còn trong tình trạng tư duy hái lượm, nhặt nhạnh ở thiên nhiên cái gì thì có cái đó. Trong lời dì ghẻ dặn Tấm có câu văn vần “Chăn trâu thì chăn đồng xa -Chớ chăn đồng nhà làng bắt mất trâu”. Rõ là một xã hội trong đó con người sống thu mình trong lũy tre xanh, ở trong làng thì tạm thời còn có kỷ cương, chứ ra khỏi làng tha hồ làm bậy. Và sự xui nhau trốn tránh các loại lệ làng đã là phổ biến. Nên chú ý trong câu văn vần vừa dẫn, chữ làng là dành để chỉ nhà chức trách, người có quyền lực. Họ cũng người làng đấy. Có khi còn do dân chúng bầu ra. Nhưng họ không hề tổ chức cho dân chúng làm ăn mà chỉ nhăm nhăm trừng phạt. Và phạt đến mức bắt hết cả trâu, lấy đi cái kế sinh nhai của người ta thì quá kẻ cướp rồi còn gì.
Ước mơ tận cùng của dân đen trong các làng xóm là có triều chính có vua. Nhưng triều chính ấy ở cách làng mấy bước chân, nên dù tha hồ tưởng tượng người ta cũng chỉ thấy nó chẳng khác làng quê. Tôi không khỏi thích thú mỗi khi nhớ lại mấy câu văn vần:
Phơi áo chồng tao
Thì phơi bằng sào
Chớ phơi bờ rào
Rách áo chồng tao.
Đấy là khi Cám đã thay vào vị trí hoàng hậu của Tấm, vào một ngày Cám giặt áo nhà vua thì bị Tấm trong thân xác chim vàng anh bay đến mai mỉa vậy.
Vợ vua gì mà đoảng đến độ phơi cả áo vua lên hàng rào? Cung điện gì mà áo vua ở mức lý tưởng nhất cũng chỉ phơi bằng sào? Đó thật ra chỉ là nơi ở của thủ lĩnh làng xã, chúng ta gọi là hoàng cung cho sang trọng. Các danh xưng của quốc gia là do đi mượn, các thứ cung điện, triều chính… chỉ là một thứ ấu trùng. Trình độ tổ chức của xã hội ấy quá thấp.
Có thể tin được điều này nếu đọc lại các bộ sử cổ mà trước tiên là bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Nhờ học được người Trung Hoa nên ông cha ta có thể tạo ra một sinh hoạt triều chính nối tiếp, nhưng sinh hoạt đó rất thô sơ. Đọc sử đoạn ghi về thời Trần có khi thấy mấy vị hoàng tử tranh nhau cả cái áo, ông nọ bảo ông kia rằng ngôi vua tao còn nhường cho mày, sao cái áo lại còn đòi. Cũng đời Trần có chuyện vua ra ngoài thành chơi bị cướp mất cả ấn tín. Hoặc thời Lý đâu có lệnh là các quan vào chầu không được nhổ quết trầu ra cung đình.
Khi viết những dòng này, tôi hiện không giữ bên mình những ghi chép từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nên chỉ ang áng nhớ như trên, dịp khác sẽ dẫn số trang số dòng chính xác.
Nhưng qua mạng tôi có đọc được và sao chép lại một văn bản quý kể về Lê Hoàn, xin “dán” lại một đoạn; mọi ý trong đoạn văn được giữ nguyên, tôi chỉ làm giãn các ý ra bằng cách liên tục xuống dòng, giúp các bạn dễ đọc.
Đây là hình ảnh Lê Hoàn dưới con mắt viên sứ nhà Tống:
“Cuối mùa thu năm ngoái, đến cõi Giao Châu, Lê Hoàn sai Nha nội Đô chỉ huy sứ là bọn Đinh Thừa Chính đem 9 chiếc thuyền và 300 quân đến Thái Bình Quán để đón.
Từ cửa biển đi vào biển lớn, lặn lội sóng gió, trải nhiều sự nguy hiểm. Quá nửa tháng đến sông Bạch Đằng, đi tắt theo một nhánh hải lưu, cứ theo nước thủy triều mà đi.
Phàm những bến đỗ ngụ lại có 3 gian nhà tranh, có vẻ mới được sửa sang lại, gọi là “quán dịch”.
Đi đến Trường Châu, gần bản quốc, Lê Hoàn phô trương khoác lác, dốc hết chiến thuyền ra, gọi là “diễu quân”.
Từ đấy rong thuyền suốt đêm đi đến bờ biển, cách Giao Châu độ 15 dặm có một trạm nghỉ chân 5 gian lợp tranh đề “Mao kính dịch”. Cách thành 100 dặm khua gia súc của dân ra gọi là “quan ngưu”, số gia súc chưa đến một ngàn, nhưng lại nói khoe là 10 vạn. Lại đốc suất dân ở chung với quân lính, mặc áo tạp sắc, chèo thuyền đánh trống reo hò. Núi sát bên thành hư trương cờ trắng, cho đó là bày thế trận.
Được một lát đoàn hộ vệ rước Lê Hoàn đến, mở lễ giao nghênh.
Lê Hoàn ghìm ngựa nghiêng người, hỏi thăm Hoàng đế xong, cầm cương đi cùng hàng, lúc ấy lấy trầu cau ra mời, ngồi trên mình ngựa mà ăn, đấy là phong tục mang hậu ý đãi khách.
Trong thành không có nhà dân, chỉ có vài trăm khu nhà tre lợp gianh, gọi là quân doanh. Phủ thự trũng hẹp, trên cửa phủ đề “Minh đức môn”.
Hoàn xấu người chột mắt, tự nói rằng năm gần đây vừa mới tiếp chiến với man khấu, rơi từ trên ngựa xuống nên chân bị thương, nhận chiếu nhưng không lạy.
Sau khi nhận dụ chỉ thì rải chiếu mở yến tiệc.
Lại ra sát mép nước, diễn trò mua vui cho khách.
Lê Hoàn đi chân đất cầm gậy tre lội nước xâm cá. Mỗi khi trúng một con thì tả hữu hai bên đều hò reo nhảy múa.
Phàm khi yến hội, những người vào dự tiệc đều phải cởi đai áo, mũ mão.
Hoàn thường mặc áo hoa văn sặc sỡ hoặc áo màu đỏ, mũ thì lấy trân châu làm trang sức, có khi tự mình hát “Khuyến tửu ca” (khúc ca mời rượu), không một ai có thể hiểu lời của bài hát.
Thường sai bọn hơn chục người khiêng một con rắn dài vài trượng đến tặng sứ quán, còn nói: “Nếu có thể ăn được thì sẽ làm thịt nó bày cỗ dâng lên”.
Lại đóng cũi hai con hổ đem đến tặng, nói để tùy ý quan sát. [Chúng thần] đều từ chối không nhận.
Quân lính có 3.000 tên, tất cả đều thích trên trán dòng chữ “thiên tử quân”, lương thực thì có lúa đủ dùng hàng ngày, cho vào giã rồi mới ăn. Binh khí thì có cung nỏ, khiên gỗ, thoa thương, trúc thương, [binh khí] rất yếu không thể dùng được.
Hoàn tính tình thô lược tàn nhẫn, kẻ thân cận đều là bọn tiểu nhân.
Cho ở bên cạnh một bọn 50 tên hoạn quan tâm phúc.
Thích uống rượu nô đùa, lấy chỉ lệnh làm vui, phàm bọn thuộc quan nào giỏi việc thì cất nhắc thân cận, bọn thuộc hạ xung quanh nếu có lỗi nhỏ cũng giết ngay, hoặc nếu không cũng cho đánh roi từ 100 đến 200 cái.
Đám phụ tá nếu có chút gì không vừa ý cũng sẽ phạt trượng từ 30 đến 50 cái, giáng truất làm môn lại, khi nào hết giận lại gọi về cho khôi phục chức cũ.
Có một cái tháp gỗ, chế tác thô lậu chất phác, Hoàn mời [bọn chúng thần] lên du lãm. Đất nơi ấy không có hàn khí, tháng 11 còn mặc áo kép phất quạt”.
Đọc đoạn văn này tôi càng thấy tin ở cách hiểu của mình về xã hội người Việt trong Tấm Cám như đã trình bày ở trên.
Có bạn sẽ hỏi, đây là do người Trung Quốc viết làm sao tin được. Trời ơi, làm sao mà người ta có thể bịa ra những chi tiết cụ thể như trên đã đọc!
Những người dịch văn bản đó ra tiếng Việt đều là người có thiện chí.
Tài liệu này tôi chép được từ trang web của nhà nghiên cứu Hán học Quách Hiền, ở địa chỉ: quachhien.blogspot.com/2010_09_01_archive.html
Nhưng trước đó tôi đã đọc được nó trong loạt bài khảo về sử của Nguyễn Văn Tố in trên tạp chí Tri tân ra trước 1945.
Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố là một trong bốn nhân vật lừng lẫy một thời Quỳnh Vĩnh Tố Tốn. Là nhân viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, ông đã làm cái công việc mở lại nhiều trang lưu trữ. Bản trên Tri tân sau này đã được in lại trong cuốn sách Đại Nam Dật Sử (sử ta so với sử Tàu). Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, H. 1997, nhưng do cả cuốn có lẽ không phải vị các nhà sử học đương thời nên không ai nhắc tới nó cả, và hình như bạn Quách Hiền cũng không biết (?).
Tấm Cám vốn quá quen thuộc với mỗi người Việt bình thường. Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là cho đến thế kỷ XX, chúng ta chỉ dừng lại ở cách nhìn nhận một chiều về thiên truyện thuộc dạng tối cổ này, và cứ đinh ninh rằng người Việt hiện lên trong đó là rất đáng tự hào, xã hội trong đó là muôn ngàn tốt đẹp, không thấy nó còn chứa chất rất nhiều nội dung mà chỉ trong hoàn cảnh của xã hội hiện đại ta mới có thể soi rọi khám phá.
PHỤ LỤC
Tháng 10/2012, do sự khởi xướng của Vietnamnet, cộng đồng mạng từng có cuộc trao đổi sôi nổi quanh một bài văn của một nữ sinh Hà Nội có liên hệ tới truyện Tấm Cám. Chính tôi cũng lấy cảm hứng từ cuộc trao đổi này để viết nên những dòng suy nghĩ trên đây các bạn vừa đọc.
Để các bạn khỏi mất công, tôi xin đưa vào Phụ lục văn bản nói trên.
Bài văn điểm 3 của nữ sinh nhập vai Cám kể chuyện Tấm
Với đề bài “Hãy nhập vai nhân vật Cám, kể lại chuyện cổ tích Tấm Cám”, một nữ sinh THPT ở Hà Nội đã có bài viết “đặc sắc”.
***
Tôi là Cám, tôi sống với mẹ tôi và con của dượng tôi vì bố nó chết lâu rồi nên mẹ con tôi nuôi nó. Nhưng tôi cũng không ưa nó lắm vì nó lúc nào cũng ra vẻ làm chị. Hàng ngày nó cũng khá chăm chỉ vì việc nhà, tôi thấy cũng cỏn con: cho lợn ăn, chăn trâu, nấu cơm, giặt quần áo… Tôi thấy ít việc đó nó làm hợp hơn tôi vì tôi còn bận chọn vải may quần áo và đi làm tóc tai. Tôi đang tuổi đôi mươi mà!
Có hôm mẹ tôi giao cho hai đứa công việc, mỗi đứa một giỏ để đi bắt đầy giỏ tôm cua. Đứa nào nhanh chân thì được cái yếm đỏ mẹ tôi mới mua đẹp mê hồn. Nhưng tôi thì có biết lội ao hồ bao giờ, bẩn hết quần áo mất. Con Tấm thì cứ tìm tìm mò mò đến bao giờ mới xong? Mình cứ đi hái hoa bắt bướm tí đã rồi về bắt tôm cua sau. Chiều khi tôi ra thì đã muộn rồi, thôi thì lừa con ngu kia một phen vậy:
Chị Tấm ơi chị Tấm
Đầu chị bị lấm
Chị ra ruộng sâu mà gội đầu, không về mẹ mắng đó.
Haha, nó đã tin lời mình, mình phải nhanh tay đổ hết tôm cua tép giỏ nó sang giỏ của mình mới được. Về nhà được lấy yếm đỏ, và tôi đã có cái yếm đỏ.
Một hôm nọ, tôi thấy con Cám ít ăn, hay để giành một bát cơm của mình. Tôi với mẹ mới rình xem con ranh đang làm gì. Tôi và mẹ đã thấy nó gọi là:
Bống bống bang bang
Bống ăn cơm vàng
Cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm
Cháo hoa nhà người
Thì có con cá bống bé lòi lên. Tôi và mẹ tính thịt nó làm bữa bống kho. Hôm sau tôi và mẹ lừa nó đi chăn trâu xa không thì người ta thu trâu. Rồi tôi và mẹ tôi bắt con cá bống lên ăn thả ruột lại. Giờ nó hết người làm bạn nhé! Mình phải giấu xương ở xó bếp không nó biết với được.
Sắp đến vũ hội, mẹ và tôi chuẩn bị quần áo giầy dép mới cho tôi thật đẹp để kiếm chồng. Hôm đó tôi và mẹ chuẩn bị đi, con Tấm cũng đòi đi. Tôi tức quá, tôi suy mẹ đổ hết thóc gạo vào nhau cho nó ngồi mà sàng mà lọc. Haha, sáng mai cũng chưa xong đâu, rách rưới còn đòi theo quý tộc hahaha…
Đang chơi hội vui vua ban lệnh thử giày, ai đi vừa là vợ vua. Mẹ và tôi cùng thử nhưng giầy con nào mà bé thế, bố tao cũng không ních vào được. Lựa đằng này đằng kia đau cả chân, bực cả mình đành thôi. Rồi có một con đến thử rất giống con Tấm nhưng đẹp hơn, nó chỉ gần bằng tao thôi sao lại vừa giầy nhỉ. Bực quá! Gọi nó thì đúng nó rồi. Vua đưa nó về tổ chức đám cưới luôn mới sợ. Con này là con ôsin mà, vua mù rồi.
Đến ngày giỗ bố nó cũng biết đường vác mặt mà về. Bây giờ oai như cóc rồi, bà sẽ cho mày một phen.
Độc giả Linh Ngân (giới thiệu)
Một khía cạnh mâu thuẫn trong tính cách người Việt: Nhẫn nhục và làm liều
Ngày đăng 6/11/2015
Bên cạnh con người lì lợm Chí Phèo, Nam Cao còn thác sinh ra một loại nhân vật đặc biệt của các làng quê Việt Nam, của xã hội Việt Nam nói chung. Đó là những con người nhẫn nhục chịu đựng.
Dì Hảo trong thiên truyện cùng tên cũng như Nhu trong Ở hiền là những nhân vật bất hạnh gần như bẩm sinh. Trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, họ luôn luôn bị bắt nạt mà lại luôn luôn cắn răng yên phận kéo dài cuộc đời trong sự bất công thua thiệt.
Không chỉ các tôn giáo mà cả những người có lương tri đều khuyên con người biết chấp nhận đời sống, chấp nhận để chung sống rồi tìm cách đổi khác sau. Nhưng chấp nhận khoan dung khác với nhẫn nhục của những nhân vật trên. Sự nhẫn nhục ở đây là phản ứng thụ động của con người và do đó gần với sự đầu hàng.
Thế nhẫn nhục có phải chỉ thấy ở người phụ nữ Việt? Không hẳn. Dân gian xưa truyền tụng loại người hiền như đất, lành nhưng cục, mặt nạc đóm dày… chính là để chỉ đám đàn ông loại này. Chỉ có khác là ở nam giới, những cá thể trong thế chân tường thường nảy sinh sự bột phát làm liều, mà khi được đẩy lên cao độ thì trở thành hung hãn càn rỡ. Đó là Chí Phèo mà cũng là binh Chức, là Trạch Văn Đoành, là nhân vật Đức ngẩn ngơ “con ông thiên lôi đâm lòi bụng vợ” (trong Nửa đêm).
Bước chuyển sang mặt đối lập
Nhưng Nam Cao là một ngòi bút cận nhân tình. Ông cho thấy loại nhân vật đập phá không phải bẩm sinh đã vậy. Trước khi đi tù, Chí Phèo cào làng ăn vạ chuyên môn được sai đi đòi nợ, là một anh lực điền hiền và nhát. Những nhân vật khác cũng có tiến trình tâm lý tương tự.
Trong dân gian, hành động làm liều của con người thường được ví như diều đứt dây. Tự do. Không còn ràng buộc. Nhưng mất phương hướng. Và thực là bé nhỏ trước cuộc đời bão táp. Người làm liều tự nhủ: “Một liều ba bảy cũng liều/ Cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây”.
Thường cả khi nhẫn nhục lẫn lúc làm liều, người ta không khỏi thấy mình vô lý. Nhưng trong lúc không đủ lý trí sáng suốt để phân tích lý giải tình thế hãy cứ đành thế cái đã. Trong hành động đã mang sẵn mầm tuyệt vọng. “Ngồi buồn đốt một đống rơm - Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào - Khói lên đến tận thiên tào - Ngọc hoàng phán hỏi thằng nào đốt rơm”
Từ chỗ chỉ chống đối vu vơ, chẳng đâu vào đâu, đùng một cái người ta đi tới những hành động quyết liệt hơn. Lúc này diều đứt dây đã biến thành trâu đứt mũi, lồng lộn phá phách. Làm liều đồng nghĩa với những hiện tượng manh động.
Ba Giai Tú Xuất, cũng như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, là một loại truyện cười đi thành series, thành chuỗi, cả truyện gồm nhiều mẩu nhỏ xoay quanh một nhân vật thống nhất.
Về mặt tính cách, nếu Trạng Quỳnh chỉ kẻ phá cách của các làng xóm thì Ba Giai Tú Xuất đã vượt ra cả một vùng rộng lớn và có nhiều nét của con người hiện đại.
Trạng Quỳnh lấy việc trêu chọc mọi người làm vui. Trong hành động của Trạng có bao hàm cái ý tranh tài tranh giỏi. Việc “cho châu chấu trộn phân vào trong ống tre để ai đòi xem sẽ thấy văn mình thối như thế nào” xem ra đi quá đà, nhưng chẳng qua Trạng chỉ cốt lỡm mấy kẻ hay chữ rởm.
Ba Giai Tú Xuất nổi tiếng với những việc như cho người khác vào tròng, vào hàng ăn quỵt hoặc làm bẽ mặt phụ nữ. Và nếu hành động của Trạng Quỳnh chỉ là một thứ đùa nhả thì Ba Giai Tú Xuất đã có những việc càn rỡ đểu cáng. Việc quấy phá của họ có sự tính toán chủ động hẳn hoi. Sự tiến hóa trong ứng xử của con người ở đây là điều tự nhiên.
U tối khó hiểu
Nguyễn Văn Huyên trong cuốn Văn minh Việt Nam (1944) từng nói rất hay về những mâu thuẫn trong con người quê hương “Chẳng có mặt nào trong tính cách người Việt lại không có mặt bù lại, không gọi ra ngay tức khắc một bằng chứng ngược lại”.
Ông bảo người mình phóng túng mơ mộng, nhưng lại cũng rất thực tế; vừa hay thay đổi, lại vừa là những tay dai dẳng và kiên trì đến cùng trong việc theo đuổi mục đích của mình.
Câu chuyện chúng ta nói ở đây lại là một minh chứng cho quy luật mà Nguyễn Văn Huyên phát hiện. Sự đắp đổi giữa nhẫn nhục và làm liều khiến cho con người Việt trong con mắt người nước ngoài hiện ra có phần u tối khó hiểu. Người ta không thể đoán được những gì xảy ra đối với họ, luôn luôn họ có thể thế này mà cũng có thể thế khác.
Hướng phát triển tai hại
Trong đời sống hiện đại, sự nhẫn nhục ngày càng mất đi, thay vào đó, sự manh động làm liều có nhiều phần tăng lên và được bộc lộ ra muôn ngàn cách khác nhau. Nó có giải phóng ở con người những năng lực nào đó, nhưng lại khiến cho xã hội từng lúc từng chỗ như rơi vào một tình trạng mà xã hội học gọi là sự loạn cương (tiếng Pháp: anomie). Sự hỗn loạn thắng thế còn niềm khao khát trật tự thì bị lép vế và dần trôi vào quên lãng với nghĩa người ta quên rằng nó - tinh thần trật tự - là nhân tố hàng đầu của văn hóa theo nghĩa khái quát nhất của từ này.
Ngày đăng 7/11/2015
Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ. Tôi nhớ một câu đố vui:
“Có cây mà chả có cành
Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa
Người bán thì bảo rằng già
Người mua thì bảo thực thà còn non”
và câu giải đúng là “cái cân”.
Những ngày này thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó, không phải để suy nghĩ về tư duy kinh tế của người mình, mà cốt ghi nhận một xu hướng trong giao tiếp.
Là hình như nay là lúc trong nhiều chuyện chẳng có đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ queo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.
Có những việc “bánh đúc bày sàng”, giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình.
Có người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế luồn lách cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi.
Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh.
Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh là cái sự việc năm trước, bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký mua chỉ nhận: “Chúng tôi hơi không được cẩn thận”, “Chúng tôi chưa có kinh nghiệm”.
Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế?”, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được...”
Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa... lại tiếp tục trong bóng tối.
Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch T. Đ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những trò chơi động trời mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo.
Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và... bị bắt quả tang.
Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng, van lạy rối rít.
Song ông vẫn không có gì hoảng hốt.
Bảo đợi tôi mặc quần áo đã.
Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng, tôi vào chơi nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản.
Thế thôi, rồi lững thững ra về.
Chẳng ai làm gì được ông cả!
Nói thật, theo dõi nhiều vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hoá ra kinh nghiệm của T.Đ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.
Những lý lẽ điên khùng
Cổ học tinh hoa là một tập sách gồm 250 mấu chuyện rút từ sách vở cổ Trung Hoa, do Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân soạn từ 1925 tới nay đã 90 năm, thời nào cũng được in lại, có mặt trong các tủ sách gia đình của lớp người có học.
Trong sách có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của người xưa.
Một người lục tủ thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm.
Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại đòi.
Chị ta cãi: “Áo tôi mặc đây là áo của tôi chính tay tôi may ra”.
Anh kia đáp lại bằng cái lý lẽ kỳ cục như sau:
“Cái áo thâm của tôi mất thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa”.
Các tác giả Cổ học tinh hoa phân tích:
+ Mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười;
+ Mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai;
+ Mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba.
Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm cái gì cũng dám nói.
Tôi muốn bổ sung thêm, đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu về sự trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh của con người. Trong những trường hợp như thế này, nó thật đã vượt lên trên hết mọi cách xử thế thông thường.
Và bạn có biết lúc đó chúng ta trở nên thế nào không? Tôi muốn nói khi trơ tráo và ráo hoảnh vậy, ta trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy.
Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo. Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm.
Đôi lúc trong cơn liều lĩnh, chúng không ngại mở tủ hoặc lục áo, thó của chúng ta vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang, chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên “Ơ! Con cứ tưởng…” hoặc “Thế à, thế mà cháu không biết”.
Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi “Ơ! Tôi cứ tưởng... Tôi đâu có biết”.
Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con thường chỉ “cháu không biết” trước một vài đồng, còn người lớn bây giờ thì “tôi đâu có biết” khi bỏ túi bạc tỉ, hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ.
Không đói cũng ăn vụng - Không túng cũng làm càn
Ngày đăng 11/11/2015
“Đói ăn vụng túng làm càn” là một trong những câu tục ngữ cửa miệng của người Việt.
Đời sống khó khăn xui người ta làm liều, bất chấp lương tri và những luật lệ thông thường.
Không còn phải trái, nên hay không nên, chỉ có cuồng vọng chỉ có ý thích.
Bởi lẽ tiểu xảo tiểu trí, nên trong lịch sử xã hội không có những đám lục lâm cỡ lớn. Song cướp vặt thì lại quá phổ biến.
Đã hình thành cả một lối sống mà người xưa đã dùng bốn chữ “vô sở bất chí” để gọi. “Vô sở bất chí” tức là không việc gì không dám làm!
Những cảnh báo từ văn học tiền chiến
Ghi lại những ký ức từ con người và phong vị của xứ sở, ngoài nếp sống nghiêm cẩn và những trò chơi tao nhã như thả thơ đánh thơ,như chén trà trong sương sớm… Nguyễn Tuân còn xếp vào “Vang bóng một thời” truyện “Ném bút chì”.
Có lúc, truyện được gọi bằng một cái tên đẹp: “Một bọn bất đắc chí”, nhưng bóc đi cái phần lãng mạn thì nội dung của nó là tả sinh hoạt của một bọn cướp.
Làng Vũ Đại mà Nam Cao tả nhiều truyện ngắn cũng có cướp, nạn cướp vùng đồng chiêm trũng hoành hành như một thế lực ngang ngược.
Những cảnh cướp vặt trong ở vùng ngoại ô quê ngoại Tô Hoài khá thê thảm. Nhân vật Thoại trong “Quê người”, ngày tết đi bắt những con chó sợ pháo, bị người ta đánh cho một trận nhừ tử, phải bỏ làng mà đi.
Sách Luận ngữ từng cho rằng việc người ta không làm bậy trong cảnh nghèo còn khó hơn là không hư khi giàu sang (Bần nhi vô oán, nan; phú nhi vô kiêu, dị - Hiến vấn, đoạn 11).
Cái điều mà Khổng Tử xưa từng lo quả không thừa. Đây là một đoạn đối thoại trong Bơ vơ Nguyễn Công Hoan viết 1936:
- Tại sao mày phải đi ăn cướp? Sao không kiếm nghề lương thiện mà làm ăn?
Chúa Cụt mỉm cười:
- Bẩm tại con đói (…) Đời không cho con được ăn ở hiền lành, nên bất đắc dĩ con mới phải ăn cướp.
- Mày nói lạ.
- Bẩm thật con đi ở mà người ta không nuôi, con làm gì người ta cũng không cho làm, gia đình nào cũng hắt hủi con. Người đời đã chẳng tử tế với con, tất con phải là kẻ thù của họ. Để có những thứ cần để sống, con chỉ còn cách bắt buộc ấy.
Xã hội hiện đại mở ra cho con người bao khát vọng tốt đẹp nhưng lại không mang lại cho họ khả năng đạt tới cái lý tưởng đó. Trong triết học phương Tây, có một ý niệm gọi là chủ nghĩa hư vô. Người ta cảm thấy Chúa đã chết và người ta có thể làm bất cứ việc gì!
Trong sự càn rỡ của người mình có thoáng qua một chút hư vô như vậy. Cũng liều bán váy chơi xuân, câu thơ Tú Xương mang dáng vẻ một sự thách thức sang trọng.
Càn rỡ thời nay
Nhiều truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhân vật tướng cướp. Họ được hình thành như một bộ phận của xã hội. Theo cách miêu tả của nhà văn trong Cánh buồm nâu thuở ấy, chất thơ của cuộc sống tồn tại ngay trong hành động của đám người đứng ngoài luật pháp này.
Nhưng đó là trong những hoàn cảnh lý tưởng. Sự thực là ở ta, sự càn rỡ thường khi hiện ra tầm thường hơn, thấp hèn hơn.
Khi sang Nga, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên thấy cảnh dân đi câu mà nếu chỉ câu được cá bé (dưới mức cân nặng nào đó), người ta buộc phải thả. Sau biết rằng ở nhiều nước có luật lệ như vậy.
Ở Việt Nam thì khác. Cả những con tôm con như cách nói dân gian “mới bỏ vú mẹ” cũng không được tha. Cá không chỉ bị đánh bằng lưới mà còn bằng mìn, bằng điện, những hành động phải được mệnh danh là tàn sát thiên nhiên.
Đầu thế kỷ 20, một người Pháp, Roland Meyer, kể rằng trên đất Lào có những người Việt trong cơn điên cuồng kiếm sống, đào cả đình chùa của người ta lấy gạch bán từng thước khối. Ông ta gọi đây là “một mớ cặn bã của nhân loại”.
Nhà văn Lê Thanh ghi lại chuyện này trên Tri Tân số ra 22/4/1942 tỏ ý rất đau đớn. Chúng ta ngày nay cũng vậy.
Nhưng những ai có gia đình quen đang sống ở nhiều nước phương Tây hẳn nghe đồn về những quái chiêu của dân ta khi sang nước người. Trồng cần sa trong nhà. Mò san hô. Tất cả những gì bị cấm thì có người Việt dám làm.
Thế nào cũng cãi được
Khi mới hình thành, sự liều lĩnh càn rỡ được ngụy tạo bởi một cảm giác tự do và cách khẳng định quyền được tồn tại. Người ta cần nó để vượt thoát khỏi tình thế quẫn bách.
Về sau một thói quen hình thành, con người coi việc xấu là tự nhiên, không đói cũng ăn vụng, không túng cũng làm càn.
Về sau, chỉ cần thấy mình không được sung sướng như người khác, không được tận hưởng nhiều tiện nghi như người khác; chỉ cần muốn trêu ngươi thiên hạ, muốn nổi trội hơn đồng loại, muốn kiếm chác muốn làm trò, muốn vấy bẩn vào ai đó; là người ta cảm thấy có đủ lý do để càn rỡ rồi.
Báo Thể Thao & Văn Hóa số 6/10/2007 có bài nói về nạn đào trộm trống đồng ở Đắk Lắc. Một thôn có tới 30 trống bị đào trộm. Người ta sử dụng cả máy dò kim loại. Nếu biết thêm rằng khi một trống đồng được đào lên tức là cả không gian văn hóa chung quanh phá vỡ, sẽ thấy cách nói của người Pháp ở trên không phải là quá đáng.
Tham nhũng. Ăn cắp, cướp giật. Lấn chiếm đất công. Bán hàng giả. Những vụ đua xe trái phép. Những đám học sinh công khai mang phao vào phòng thi.
Cái càn rỡ hiện nay có bao nhiêu bộ mặt.
Nó len lỏi trong hành động của những con người bình thường, khi họ dễ dãi buông thả cho bản năng thấp kém của chính mình.
Mà xã hội thì bất lực, và nhiều khi khách quan mà xét thì lại như là khuyến khích.
Tôi chỉ nói riêng về văn học. Với người viết văn sau 1945, việc viết về những phương diện gọi là tiêu cực trong con người không được xem là việc nghiêm chỉnh, trường hợp như Nguyễn Huy Thiệp nói ở trên là phạm quy, hồi những năm 80, 90, tác giả Tướng về hưu chẳng đã bị đánh cho tơi bời đó sao?
Ngày đăng 13/11/2015
Người dân mình có tiền thì làm gì? Thời tiền chiến, Nam Cao từng trả lời câu hỏi đó trong truyện ngắn Thôi, đi về.
Câu chuyện xoay quanh việc một anh đi vác củi thuê được đồng bạc. Đầu tiên là lo cái gì đổ vào mồm, và cái công thức được chấp nhận ngay là… bún thịt chó.
Tiếp đó là, là… đánh bạc, đánh để thua mất toi luôn đồng bạc vừa kiếm (vì thế mà thiên truyện mới có cái tên rất “yếu” là Thôi, đi về, nó như một tiếng thở dài bất lực).
Cách tiêu tiền của con người đầu thế kỷ XX vậy là chẳng khác gì một số con người hôm nay: cũng chỉ xoay quanh vào việc lo ăn và cờ bạc (có những người vào những ngày tết mua những chậu mai vài trăm triệu hoặc trước đó cá cược bóng đá 1,8 triệu đôla).
Cái thói vung tiền ấy - thoạt nhìn là vô thưởng vô phạt hoặc một phút bốc đồng cần được thông cảm, song đã tố cáo một sự thực: nhiều người chúng ta không làm chủ nổi đời mình.
Cái nghèo đeo đuổi lâu quá đến mức trong tiềm thức ta tin không bao giờ ta thoát khỏi nó.
Còn sự giàu có thực sự xa lạ với ta đến mức khi có tiền cũng chẳng làm được việc gì, đành tiêu bậy tiêu bạ cho xong.
Đằng sau thói vung tay quá trán ấy là một sự bi quan tuyệt đối trước đời sống.
Đủ dạng mê muội
Nếu ở Thôi, đi về, nhân vật chỉ dám đùa bỡn với một đồng bạc thì trong Mua nhà, cũng như Từ ngày mẹ chết (hai truyện này có chung đầu mối), một nhân vật của Nam Cao còn dám gọi bán ngôi nhà gia đình y đang ở lấy vài trăm bạc ném vào canh xóc đĩa để rồi sau đó thì con cái ra đường.
Trước mắt chúng ta là một nhân cách tha hóa, ở đó không chỉ có con người cay cú, con người liều lĩnh, mà còn có con người sống như mơ ngủ, tự mình lừa mình (cho rằng chỉ vì không trường vốn nên không gỡ được bạc), con người vô trách nhiệm với gia đình vợ con, và bao trùm hơn hết là con người lao đầu vào chỗ chết, con người mê muội.
Các nhân vật trong tiểu thuyết Sống mòn cũng thường được miêu tả trong quan hệ với cờ bạc.
Từ Hà Nội mỗi lần nhớ về quê, Thứ canh cánh lo vợ mình ở nhà đánh bạc.
Có lần Thứ choáng váng khi nghe tin đồn Liên (tên người vợ) đi lại với một người khác “chúng thường đánh bạc với nhau, đùa bỡn với nhau”.
Tuy rằng sau này không hẳn vậy, nhưng Thứ vẫn bán tin bán nghi, bởi một lẽ đơn giản là ở cái làng quê ấy, vượt lên trên sự phân chia tốt xấu theo nghĩa đạo đức thông thường, cờ bạc trở thành một phần đời sống của con người và cả cộng đồng.
“Người ta đánh bạc như ma xui”.
Không chỉ đàn ông mà cả đàn bà cũng đánh bạc, không đánh thì cho đàn ông tiền để đánh, không chỉ vợ Thứ bị nghi ngờ mà tiếng đồn vợ San đánh bạc cũng không sao dập tắt nổi.
Mức độ phổ biến của bài bạc buộc người ta phải nghĩ rằng cả cộng đồng làng xóm ấy là một đám đông lêu lổng mà từng thành viên thì chưa trưởng thành về nhân cách.
“Không ra giống người”
Trong văn học thế giới không thiếu gì các nhân vật đam mê cờ bạc. Riêng một Dostoievski chẳng hạn đã có hẳn một cuốn sách nổi tiếng mang tên Con bạc.
Có điều một số nhân vật cờ bạc của các nhà văn lớn thường khi là những nhân cách mạnh mẽ, họ lao đầu vào cuộc đỏ đen như một cuộc phiêu lưu tinh thần hoặc qua đó thử thách ý chí của mình.
Ngược lại cờ bạc với các nhân vật trong văn học ta phần lớn được miêu tả như là một thói xấu không thể bỏ, nó là một dấu hiệu cho thấy sự tầm thường trong quan niệm về đời sống.
Ở Nam Cao cũng vậy.
Trong đoạn cuối câu chuyện của kẻ bán nhà để gỡ bạc, Nam Cao để cho bà mẹ vợ của người đàn ông làm cái hành động ngu muội ấy than thở với các cháu “Bố chúng mày không ra giống người …”.
Đằng sau cái câu khái quát đơn giản đến rợn người, dường như nhà văn muốn nói rằng ở một cá nhân cũng vậy mà ở một cộng đồng cũng vậy, những thói hư tật xấu nho nhỏ có thể tồn tại vì thật ra nó biểu hiện cả một trình độ làm người và triết lý sống đã bền vững.
Xã hội phải chịu trách nhiệm vì làm cho người ta tuyệt vọng
Trong lịch sử Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Công Trứ (1778 - 1859) là một nhân vật nổi tiếng không những vì chí nam nhi cao cả và tài kinh bang tế thế hơn người mà còn như một đệ tử của chủ nghĩa hưởng lạc.
Điều thú vị là ông luôn luôn tìm ra lý lẽ để biện hộ.
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ từng dựng lại mô hình của quá trình suy nghĩ ở ông
“Thuở hàn vi, ông hưởng nhàn, lý trí ông khuyến khích vì cho rằng chỉ là một sự tạm thời.
Thời ra làm quan, hoạt động vất vả, ông tìm cơ hội hành lạc để giải lao: lý trí ông tha thứ.
Sau càng hoạt động càng gặp những nỗi trắc trở đau lòng, ông hành lạc để quên đời: lý trí ông đồng lõa.
Đến lúc về hưu, ra khỏi một trường ác mộng ông bám lấy hành lạc như một lẽ sống duy nhất của tuổi già: lý trí ông đầu hàng”.
Trong cái vẻ tầm thường hơn nhiều, các nhân vật đam mê bài bạc của Nam Cao cũng có những lý lẽ tương tự.
Đây là tâm sự của anh nông dân trong truyện Thôi, đi về nói ở trên khi rủ nhân vật xưng tôi lao đầu vào cuộc đỏ đen:
- Con người ta giàu tự số, nếu làm mà giàu được thì tôi đã giàu ức triệu. Mấy năm về trước tôi cố khiếp lắm, ban ngày đi làm thuê cho người ta, tối có trăng lại cuốc vườn nhà, ấy thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo.
Một khi cờ bạc được người ta chống chế bằng những lý do có vẻ hư vô yếm thế, nó càng có lý do để tồn tại.
Và cái tình trạng làm người thảm hại cứ thế trở thành số phận không thể thoát của những con người lêu lổng.
Chấp nhận tạm bỏ môn sử ở nhà trường miễn là sau đó phải tìm tới một cách viết sử khác
Ngày đăng 22/11/2015
Có nhiều việc trong xã hội hiện nay mọi người bàn một đằng cuối cùng những người có trách nhiệm lại quyết theo một cách khác.
Việc bỏ môn sử cũng vậy, ai cũng thấy là trái lè lè.
Song với một chút tâm lý AQ hoặc nói theo dân gian, “đánh chẳng được thì tha làm phúc”, tôi nhìn thấy cái lợi của việc này như sau:
Khi nhìn vào việc học sinh ngày nay chán sử, người ta chỉ quy trách nhiệm cho cách dạy sử trong nhà trường.
Nhưng tôi cho rằng cái lỗi chính ở đây là thuộc về nội dung môn sử mà người ta đang dạy suốt từ tiểu học đến đại học cùng là các loại sách tham khảo có tính phụ họa.
Nói nôm na thì với nội dung các bài sử mà người soạn sách được phép viết và người giáo viên được phép dạy, có đến thánh cũng không làm cho học sinh yêu môn sử được.
Trong các bộ sử đã viết mấy chục năm nay cũng có những phần rất tốt, học sinh rất cần biết , mọi công dân Việt cũng cần biết.
Nhưng lúc mang ra dạy chúng bị lẫn đi, bị lọt thỏm đi, giữa các kiến thức giả mạo khác.
Hàng giả hiện nay rất đa dạng.
Có khi không đầy đủ không toàn diện không nhấn mạnh cái đáng nhấn mạnh... cũng đã là giả rồi.
Rút cục, cái hy vọng qua môn sử như thế này góp phần vào việc đào tạo những con người có học vấn có nhân cách những công dân yêu nước theo nghĩa hiện đại và khoa học nhất của khái niệm yêu nước thời nay… chỉ là ảo tưởng.
Mà trước mắt nhu cầu viết lại sử đến bây giờ vẫn chưa được đặt ra trong xã hội, chứ đừng nói là được chuẩn bị.
Bởi vậy, theo tôi dù rất đau lòng cũng có thể bảo nhau chấp nhận tạm bỏ môn sử.
Mục đích của việc này là tránh cho lớp trẻ phải học những kiến thức sai lạc.
Nhiều kiến thức sử ở nhà trường hiện nay chỉ có cái vỏ sử. Thực tế nó là những điều mà người ta muốn nhồi vào đầu các em qua các môn công dân giáo dục với cách hiểu cổ lỗ và thực dụng về mấy chữ“công dân” cũng như mấy chữ “giáo dục” đặc trưng cho thời nay.
Vậy thà cứ để các em học các môn mà chính các em cũng đã hiểu thực chất ấy, rồi đối phó thế nào qua quýt cho xong, còn hơn là buộc các em lầm tưởng đó là những kiến thức thực sự.
Chấp nhận bỏ sử! Trong việc giáo dục con em, đã bao chuyện khác chúng ta bất lực, chứ có phải riêng chuyện sử này đâu.
Có những việc làm thì rất khổ, không làm thì sẽ khổ hơn
Cách đây ít lâu tôi từng khuyên các gia đình nghèo là trong tình hình hiện nay nên lo cho con học xong trung học cơ sở rồi chuyển đi học nghề, còn hơn là học lên cao.
Đề nghị của tôi lần này cũng ở dạng tương tự.
Câu hỏi còn lại: sau đó ta phải làm gì, chứ chẳng nhẽ lại buông xuôi?
Suy đi tính lại, tôi thấy hiện nay chỉ còn một cách là cả xã hội lo học lại sử. Học ở đâu? Học ở các bộ sử mà ông cha xưa đã viết từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Việt Sử Tiêu Án…của các sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ... tới các bộ sử viết trong thời Pháp thuộc như Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
Còn nhớ những năm chống Mỹ ở Hà Nội ông sếp cao cấp trong ngành tuyên truyền là Hoàng Tùng thường cũng vẫn nói với cánh nhà văn nhà báo chúng tôi, có việc gì cần vẫn phải dùng bộViệt Nam Sử Lược chứ các sách mới viết có dùng được đâu.
Bản thân tôi làm nghề nghiên cứu văn học, trong hai chục năm gần đây, trong khi tìm đọc các bộ sử Việt Nam do các tác giả nước ngoài viết, mới ngã ngửa người vì ngạc nhiên hóa ra họ cày xới các bộ sử cũ của ta rất kỹ.
Nói ra thì có vẻ nghịch lý: tôi học người ta cách đọc lại ông cha mình. Thế đấy!
Dần dà tôi hoàn toàn tin rằng để hiểu người Việt, cuốn sách cổ điển mà thế hệ trẻ cần đọc số một, không phải là Truyện Kiều mà là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
Chắc có bạn đọc thắc mắc: dù là sách đã dịch từ chữ Hán cổ sang chữ quốc ngữ song làm sao mà đọc được cuốn toàn thư ông vừa nói tới đó.
Tôi sẽ bàn về chuyện này, trong một dịp khác.
Ngày đăng 23/11/2015
Mời các bạn đọc lại một bài của tôi
Đã đưa trên mạng Thời báo Kinh tế Sài gòn 20/10/2011
http://www.thesaigontimes.vn/Home/giaitri/tanvan/63862/
Từ đầu thế kỷ 20, một trí thức nổi tiếng là Hoàng Cao Khải trong cuốn Việt Sử Yếu (viết năm 1914) đã nhận xét rằng bao đời nay, người Việt mình thường tỏ ra thạo sử Trung Quốc hơn sử Việt. Từ các sĩ phu và quan lại, tình hình này lan ra đến đông đảo dân chúng.
Có thể giải thích hiện tượng này bằng chế độ thi cử ngày xưa. Người ta chỉ cho thi Bắc sử. Và các trường học - dù là chốn Quốc tử giám của triều đình hay lớp học tự phát của một ông đồ nghèo ở một làng quê hoang vắng - đâu đâu người Việt cũng hình dung cuộc đời này qua các trang sử từ đời Trụ Kiệt đến đời Đường Tống...
Trong khi đó thì bên phần Nam sử, một vài bộ như Toàn Thư, Cương Mục, Việt Sử Tiêu Án, Lịch Triều Tạp Kỷ... mà ngày nay ta tự hào, thật ra là quá ít ỏi và chưa bao giờ được mang lưu hành rộng rãi và đưa ra giảng dạy.
Đến thời chúng ta, tình hình lại đi theo một hướng khác, nhưng kết cục vẫn như xưa.
Những bộ sử thời nay do Nhà nước chỉ đạo biên soạn. Sự định hướng về dân tộc tỏ ra quá mạnh, thậm chí tôi còn muốn nói thẳng là lâu nay chúng ta chẳng chú ý gì đến lịch sử các dân tộc khác, và đó là một nhược điểm, nó hạn chế ngay sự hiểu biết của chúng ta khi muốn quay về nhận diện chính mình.
Thế nhưng tại sao thanh thiếu niên cũng như nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc, và qua phim ảnh, thấy thích sử Tàu hơn sử ta?
Nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, làm ra những thước phim mùi mẫn hơn.
Không, không phải vậy, hoặc lý do chủ yếu không phải vậy.
Cái lỗi trước hết là ở chính những cuốn sử đã viết, trong đó hạt nhân là khái niệm sử mà chúng ta đang sử dụng.
Ở những trang sử Trung Quốc, không chỉ có những ông vua, khi là minh quân khi là bạo chúa chuyên chế, như Càn Long, như Tần Thủy Hoàng, mà còn có Tào Tháo gian hùng, Bao Công hiểu rõ tình đời đen trắng, Kỷ Hiểu Lam chăm chỉ học hành, Bạch Cư Dị sau khi đổi việc quan được dân chúng lưu luyến đưa tiễn... Đủ loại sắc thái nhân văn khác nhau nối tiếp hiện ra trong bộ mặt con người Trung Hoa, được vẽ trong những trang sử ấy. Và đằng sau đó là hình ảnh của cả xã hội trong suốt chiều dài thời gian mà mặc dù chúng ta khi thì căm ghét, khi thì ghê rợn, song bao giờ cũng thấy hấp dẫn, đã biết rồi còn muốn biết nữa.
Quay trở lại với những gì được viết trong các bộ sử Việt Nam, mà khuôn mặt tiêu biểu thì thấy rõ nhất trong các sách lịch sử đang dùng ở các trường phổ thông và đại học. Đây tôi không nói về những gì đã xảy ra trong đời sống lịch sử ngàn năm của dân tộc, tôi chỉ muốn nói cái nó còn được ghi trong sách vở và truyền tụng giữa các đời.
Ở những trang sử ta viết cho ta, trên cái nền là một ít sự kiện nghèo nàn, không có những con người mà chỉ có những hình nhân với một vài lời lẽ, hành động đôi khi cũng ấn tượng, nhưng quá nghèo nàn, đơn sơ. Đọc những trang viết khô khan cằn cỗi đó, thật không hình dung ra trong hàng chục thế kỷ qua, cộng đồng chúng ta đã ăn ở, sinh hoạt ra sao, quan hệ với nhau thế nào. Lại càng không thể từ đó rút ra những gợi ý về kiếp làm người của mình hôm nay. Bởi những bài học mà người viết sử gửi kèm chỉ là những kiến thức chính trị nông cạn, hời hợt, đến với người ta theo lối áp đặt gượng gạo.
Sức phản cảm mà nó gây ra trong lớp trẻ thật ra là điều nhiều người đã thấy từ lâu rồi, chẳng qua tất cả cố tình làm ngơ vì biết rằng vô phương cứu vãn.
Cái lỗi không phải chỉ là do mấy người soạn sách giáo khoa. Cái lỗi ở đây là của những người làm sử. Và suy đến cùng là sự hạn chế, nếu không muốn nói là nghèo nàn, kém cỏi trong ý thức lịch sử của cả xã hội.
Vấn đề là ở tư duy lịch sử của người Việt.
Chúng ta là một cộng đồng mải chinh chiến hơn là xây dựng. Trong quá khứ, chúng ta dành quá ít thời gian và tâm trí để suy nghĩ về chính mình, tìm sự thật về chính mình... Đó không chỉ là tình hình có thật trong cuộc sống của người Việt từ lúc khởi nguyên và kéo dài suốt vài trăm năm gần đây, mà cũng là của thời đương đại.
Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của chiến tranh và cách mạng, nền sử học vốn rất còi cọc yếu đuối hôm nay chỉ dồn sức vào làm cho được nhiệm vụ trước mắt là giáo dục mọi người sẵn sàng ra trận, chứ sức đâu mà đáp ứng nổi cái nhu cầu tự nhận thức, cũng tức là nhu cầu soi lại quá khứ để xác định tương lai.
Ngay trong cái phần tốt đẹp nhất của nó, nền sử học mà chúng ta có cho đến hôm nay là một thứ sử học của tồn tại mà không phải là một thứ sử học dành cho một cộng đồng muốn phát triển. Tóm lại là vậy.
Cái việc lớp trẻ hiện nay từ chối sử học thật ra có một tác dụng tích cực. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ tới một thứ sử khác, sinh động hơn, có hình ảnh con người nhiều hơn và nhất là đáp ứng nhu cầu của tương lai mạnh mẽ hơn. Nghịch lý cuối cùng chỉ là trong khi những đòi hỏi đã cấp bách lắm rồi, thì những điều kiện cần thiết không biết bao giờ mới hội tụ đủ.
Một cuốn sách tiên tri viết năm 1952
Ngày đăng 28/11/2015
Thú đọc sách (The Joy of Reading) là tên gọi một tác phẩm của Charles van Doren in ra 2008 mới được Phan Quang Định dịch, Trần Đức Tài hiệu đính và giới thiệu, bản tiếng Việt có được do sự bảo trợ của NXB Trẻ và công ty sách Thời Đại.
Trong số những trường hợp độc đáo Thú đọc sách có nói tới, tôi đặc biệt lưu ý tới bài viết ở tr. 463 nói về “Triệu năm sắp đến” của Charles Galton Darwin (1887- 1962), ông này là cháu nội của nhà sinh học Charles Darwin( 1809- 1882) mà mọi học sinh trung học trên thế giới này đều biết.
Từ chỗ nêu lên câu hỏi PHẢI CHĂNG CON NGƯỜI LÀ MỘT ĐỘNG VẬT HOANG DÃ, C.G.Darwin nêu lên một giả thiết: con người luôn luôn rơi vào thảm họa là tiêu diệt chính mình và do đó họ chỉ có một tương lai ảm đạm.
Điều chắc chắn hơn là tương lai con người không thể được đặc trưng bởi sự hoàn thiện liên tục.
Thỉnh thoảng trên cái nền của bức tranh ảm đạm cũng có những tia sáng rực rỡ bất ngờ, nhưng sự tối tăm chỉ được gảm bớt chứ không phải là sự triệt tiêu.
Đây có lẽ là điều ông tác giả này muốn viét riêng cho những con người đầy tin tưởng ở tương lai - mà cũng là những người mới bước ra làm quen với thế giới - như người Việt chúng ta.
“Nhiều khu vực của thế giới sẽ trở thành những miền đất với khuôn khổ diện tích luôn thay đổi và suốt một thời gian dài sống trong cảnh kình địch chống đối nhau. Thỉnh thoảng, các địa phương này được hợp nhất bởi một cánh tay mạnh mẽ nào đấy, làm nên một liên minh giả tạo. Liên minh này - dưới đủ các tên khác nhau - sẽ tồn tại một thời gian rồi quy luật thoái hóa đã từng hủy hoại mọi triều đại sẽ tác động, và đưa các liên minh phi tự nhiên đó tới cảnh sụp đổ. Sẽ có những miền đất nào đó rơi vào tình trạng man rợ. Nhưng ngay ở đấy nền văn minh vẫn sống sót. Chỉ có sự tác động của văn minh dựa trên sự phát triển trí tuệ được tích lũy nhiều đời mới đủ sức giúp cho các xứ sở - thực chất chỉ là những đám đông tập hợp lộn xộn kia - tiếp tục tồn tại, như trước đó nó đã tồn tại”.
Phải chăng tinh thần nói ở đoạn văn này, không chỉ đúng với cả thế giới cả miền Trung Đông và Đông Á, mà còn đúng riêng với Việt Nam chúng ta? Tôi tự hỏi mà thấy sờ sợ.
Văn chương trước tiên là chuyện tri thức
Dưới đây là những cảm tưởng riêng của tôi đối với cuốn Thú đọc sách.
Ngành xuất bản ở các nước tiên tiến thời nay cho in rất nhiều cuốn sách tóm tắt các tác phẩm lớn.
Không phải chỉ để cho những người vội mà chất lượng vớ vẩn!
Không, nhiều cuốn do những người rất giỏi làm.
Lại có những loại tổng hợp các sách hay.
Tạm kể một ví dụ, cuốn Những tác phẩm lớn trong văn chương thế giới do Vũ Dzũng biên soạn đã in ở Sài Gòn từ trước 1975, tới 1990 lại được nhà xuất bản Đà Nẵng cho in lại với việc hiệu đính và lời giới thiệu của Lê Ngọc Trà.
Biết vậy, nhưng ở ta loại sách này hiếm được in ra lắm.
Ở Hà Nội có một dạo bọn nhà văn trẻ chúng tôi được khuyên, không bao giờ nên đọc các loại sách đó. Phải đọc nguyên bản cơ, chứ không thể là trí thức lược thuật được! - những ông nhà văn lớp trước muốn trêu ngươi chúng tôi bảo vậy.
Có điều, ngoại ngữ không biết, bản dịch không có, lại đang hoàn cảnh chiến tranh, cấm nhập tác phẩm nước ngoài lấy gì mà đọc?
Vả chăng là xã hội lúc nào cũng chỉ yêu cầu chúng tôi đi và viết, viết nhanh lên để rồi đi tiếp và viết tiếp.
Chúng tôi đâu có định trở thành nhà văn, những trí thức theo đúng nghĩa xưa nay vẫn hiểu.
Chúng tôi chỉ cần sự công nhận của đương thời.
Biết thế, nhưng lúc tĩnh tâm trở lại, chúng tôi vẫn đau đớn vì đọc ít quá. Giữa bao nhiêu bận bịu, các cuốn sách còn ấn tượng chỉ là lẻ tẻ như mấy hòn sỏi rơi trên mặt giếng.
Nay tuổi già đã đến. Nhu cầu kiểm điểm lại đời mình nảy sinh. Có nhiều cuốn cổ điển cần đọc lại. Thú đọc sách (The Joy of Reading) với tôi như một thứ cầu được ước thấy.
Nó đáp ứng cả hai yêu cầu của tôi, vừa điểm qua những tác phẩm cổ điển đã liệt hạng tức ai cũng biết, vừa đưa ra nhiều đầu sách mới mà ở Việt Nam, do những hạn chế của việc tiếp xúc, nên ít người biết.
“Trong tầm nhìn bao quát của tác giả, văn chương là một khái niệm hàm chứa cả tri thức”. Khi viết như vậy trong lời giới thiệu, bạn Trần Đức Tài thật đã thấu hiểu một căn bệnh lâu năm của người đọc Việt Nam và cả nhiều nhà văn Việt Nam.
Lâu nay nói tới sách, nhiều người chỉ nghĩ đến thứ văn chương hình tượng, các bài thơ các cuốn tiểu thuyết giỏi về miêu tả và trần thuật.
Nay nhìn vào danh mục được nêu lên trong Thú đọc sách thấy loại sách mang đến cho chúng ta tri thức cũng từng chiếm trọn tâm trí nhiều bậc tài danh trên thế giới và từng mang lại cho khái niệm sách một ý nghĩa nhận thức -- nó mới là cái cần thiết nhất với con người.
Đã có nhiều bài giới thiệu về cuốn này trên các báo, chẳng hạn các bạn có thể tìm
http://phunuonline.com.vn/giai-tri/thu-doc-sach--mot-quyen-sach-hay-59996/
http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/b237-k237p-cho-nguoi-doc-s225ch-n20150830022028435.htm
Ai cũng như ai, chen cạnh mà sống
Đầu những năm 2000 này, một người bạn tôi kể lên Tây Nguyên, thấy có chuyện lạ, những người làm công canh gác cho một trang trại hồn nhiên cho người ngoài vào thoải mái hái trộm cà phê. Họ bảo nhau, chủ cũng là người như mình, tội gì để chủ vượt lên sung sướng hơn mình.
Có thể cái lối cư xử trắng trợn nói trên là hiếm hoi, nhưng cái triết lý “ai cũng như ai”, “cá đối bằng đầu”, “cá mè một lứa” thì mọi người Việt sẵn sàng chia sẻ.
Hà Nội bây giờ khá nhiều nhà, nhất là nhà buôn bán, có người giúp việc, tức các ô - sin. Nhưng không ít trường hợp phục vụ quán xá được ít ngày, các ô - sin là những con người nông thôn không hề có kinh nghiệm buôn bán kia đã lăm le nhảy ra làm cái việc cạnh tranh ngay với chủ cũ.
Bởi người ta nghĩ mình chẳng kém gì đời. Buôn bán hay cai quản sai phái người khác, ai chẳng biết làm. “Cờ đến tay ai người ấy phất”.
Cả học hành nữa, thằng này mà được học thì kém chi đời!
Trong các làng xóm cũ, sở dĩ ông nọ ông kia có vai vế chẳng qua giỏi bịp bợm luồn lọt hoặc kéo bè kéo cánh mà leo lên đầu lên cổ người khác,chứ chẳng tài cán gì cả - cái lập luận ấy được nhiều người ưa thích.
Tâm lý hình thành từ thời trung đại
Trong một phim truyện, có cảnh một viên tướng bị thua trận trốn chạy trên xe do một ông nông dân kéo. Chở kèm trên xe có cả vợ viên tướng và một ít đồ đạc. Ông nông dân vừa kéo xe vừa khoác một bu sau gà lưng. Có người xin đi nhờ, viên tướng bảo ông nông dân vứt cái bu gà đi,ông không bằng lòng. Ông bảo: không có gà, không có trứng, làm sao tướng quân khoẻ được?
Tức là ông ta cho rằng mình không nghĩa lý gì so với cái người ngồi trên xe kia. Mình thuộc một loại người khác mà viên tướng thuộc loại người khác.
Đây, cố nhiên, là một cảnh trong một bộ phim nước ngoài. Phim Trung Quốc, diễn lại cảnh thời Tưởng Giới Thạch. Chỉ có bên Tàu mới có những người nông dân cam chịu và trong thâm tâm hiểu rằng có một trật tự xã hội nghiệt ngã, mọi người nhất thiết phải theo. Mà cũng chỉ bên Tàu mới có những viên tướng tự tin ở sứ mệnh của mình như vậy. Chứ ở ta,cả hai đều nghĩ ngược lại!
Một nhà xã hội học, ông Đỗ Thái Đồng, nhận xét rằng xã hội Việt Nam thời trung đại không có quý tộc mà chỉ có quan chức; không có trí thức mà chỉ có những người học hành để đi thi làm quan; không có doanh nhân mà chỉ có có người buôn vặt (bài in trong sách Tâm lý người Việt nhìn từ nhiều góc độ,do nhóm Phạm Bích Hợp chuẩn bị, S. 2000).Một người mang dòng máu quý tộc tức là mặc nhiên cho rằng có sự hơn hẳn của con người mình so với người khác – không ai dám công khai nói lên ý nghĩ đó vì thừa biết đám đông không đồng tình. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân trên danh nghĩa bảo là tái lập sự công bằng, nhiều khi chỉ là một cách để người ta khẳng định rằng không có một trật tự nào cả, không làm liều chỉ thiệt.
Nét tâm lý này đến nay vẫn còn đeo bám dai dẳng người Việt.
Xã hội như rừng cỏ gianh
Ở nhiều nước khác, xã hội giống như một khu rừng nguyên sinh có cây cao bóng cả, có cả những dây leo. Cỏ mọc lan trên mặt đất cùng với dây leo ủ đất, giữ nước, làm cho cả cánh rừng thành một tổng thể có cấu trúc chặt chẽ và do đó dây leo cũng có ích.
Còn ở ta suốt trường kỳ lịch sử, một xã hội phân tầng như vậy cũng có nhưng còn ở trong tình trạng rất yếu ớt. Làm nền cho xã hội là một quan niệm bình đẳng tuyệt đối. Trong các quần thể làng xã, các thành viên chỉ biết đến sự phát triển của chính mình. Một hệ thống giá trị thích hợp không được hình thành, hoặc có hình thành cũng không được mọi người công nhận. Ai cũng như ai, giữa các cá thể chỉ có sự cạnh tranh, nhiều khi là tàn bạo và trắng trợn. Kẻ nào giỏi kẻ đó thắng và kẻ thắng sẽ có lẽ phải, có chính nghĩa. “Được làm vua thua làm giặc”.
Xã hội không trưởng thành và phát triển lên được ư? Không sao, miễn tôi không kém ai là được, nhiều người nghĩ vậy!
Hồ Xuân Hương không phải chỉ nổi tiếng với những câu thơ ỡm ờ nửa thanh nửa tục mà còn ở lại trong lịch sử với lời giả định:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
Câu thơ không chỉ thổ lộ cái uất ức của người phụ nữ mà cái chính là nói lên ý chí của lớp người cùng cực tự an ủi rằng thả ra chắc mình chẳng thua kém ai.
Nhà văn Kim Lân từng kể một trong những ý nghĩ thúc đẩy ông sáng tác khi mới vào nghề là cái cảm giác “Ta cũng chẳng kém gì các người !”
Cái cảm giác đó có thể có ý nghĩa tích cực với nghĩa thúc đẩy một cá nhân lập nên sự nghiệp. Nhưng một xã hội mà gồm toàn những người không chấp nhận một trật tự nào, không công nhận vai trò của học vấn bản lĩnh truyền thống gia tộc … mà chỉ thấy ai cũng như ai chen cạnh mà sống, thì chưa chắc đã tạo được sự tiến hóa cần thiết.
Khi đã chẳng còn có sự phân tầng thì, theo các nhà sinh học, một quần thể chỉ còn có cấu trúc của một rừng cỏ gianh. Cấu trúc được đơn giản hóa tới mức tối thiểu. Mà một trong những quy luật của thiên nhiên là “Bất cứ sự đơn giản hóa hệ thống nào đều dẫn tới sự thắng lợi của những hình thức thấp của đời sống và điều đó làm xấu đi một cách tệ hại cuộc sống của con người”. Tôi đọc được nhận xét này trong một cuốn sách sinh học.
Ngày đăng 10/12/2015
Một đoạn lấy từ blog Thích học toán:
“Yourcenar là một nhà văn nữ viết tiếng Pháp, có nhiều người hâm mộ, và cũng có nhiều người chê. Người ta chê bà viết văn theo phong cách “cứu hỏa”, có nghĩa là câu văn kêu boong boong như chuông. Nhưng thỉnh thoảng, bà viết được một câu hay tuyệt, tỉ như câu này :
Đọc sách không thích bằng đọc lại sách.
Suy rộng ra
Gặp người không thích bằng gặp lại người.”
Từ kinh nghiệm của mình trong mấy năm về hưu, tôi cũng thấm thía điều này. Tôi muốn đọc lại nhiều tác phẩm cũ, trước đã từng đọc, để hiểu ra sự ngớ ngẩn của mình ngày xưa, và chiều sâu vô tận của những trang sách tuyệt vời mà mỗi tuổi người ta lại có thể tìm ra khía cạnh mới.
Nhưng cũng phải nói thêm. Loại người như bà Yourcenar nói ở đây hồi nhỏ đã được học hết những cái cơ bản, những kiệt tác, những gì mà mọi người ở xã hội có giáo dục bắt buộc phải biết.
Còn chúng tôi, nhét đầy đầu óc của chúng tôi thời trẻ là những cái ngớ ngẩn.
Bắt đầu về làm Văn Nghệ Quân Đội 1968, tôi cũng khá nhiều lần làm quen với các anh phụ trách bên Hội Nhà văn. Sau này tôi có nghĩ khác, nhưng hồi ấy, tôi có ấn tượng đăc biệt về kiến thức rộng của Nguyễn Đình Thi.
Trong khi nhiều cây bút đàn anh khác chỉ hay nói về văn chương thì ông Thi còn hay nói cả về luật.
Có lần anh kể bên Hy Lạp xưa, người ta thường thông qua luật làm nhiều lần. Lúc mới say sưa bàn bạc với nhau thông qua rồi, nhưng hãy để đấy. Năm bữa nửa tháng sau,tỉnh táo lại, lại đến bỏ phiếu thông qua một lần nữa.
Hoặc anh kể:
- Nghị viện Athens có cái lệ thế này. Ai biểu quyết cho phép phát động chiến tranh thì trở về phải chuẩn bị binh khí quân trang để ra trận luôn.
Sau một số lần gặp, tôi càng cám cảnh cho thân phận mình.
25–27 tuổi, ông ấy đã biết cả Platon, Arístote, còn ở tuổi ấy, chúng tôi chỉ biết đến Nguyễn Đình Thi.
Năm 2009, đọc một cuốn sách loại như cuốn Nhiệt đới buồn của LeviStrauss mới dịch ra tiếng Việt. Đây là một trong những cuốn tôi hay đọc lại và tôi tự nhủ giá kể biết đến nó sớm, có lẽ cả cách nghĩ của mình lúc trẻ cũng đã khác đi.
Tóm lại những ngày này, cái nhu cầu đọc sách mới vẫn rất lớn.
Thậm chí chưa đọc chỉ liếc qua một chút, hớt lấy chút “ tinh thần” của nó cũng đã quý lắm rồi.
Một trong những người tuổi đã cao mà luôn lao tới cái mới là Nguyên Ngọc.
Hồi Trịnh Xuân Thuận chưa được Phạm Văn Thiều dịch ra tiếng Việt, chúng tôi đã nghe tiếng ông. Chỉ cần đọc cái đầu đề như Hỗn độn và hài hòa (Le Chaos et l'Harmonie, Fayard, 1998), tôi đã cảm thấy thú vị, giá có ai đọc mà giảng cho mình thì hay quá.
Một lần tôi trông thấy bản tiếng Pháp ở Hiệu sách ngoại văn đường Hai Bà Trưng Hà Nội, về kể với Nguyên Ngọc. Ông Ngọc ra tìm không thấy, hỏi lại tôi. Tôi đảo ra hiệu sách lần nữa, thấy vẫn còn liền quay về đèo tác giả Đất nước đứng lên ra mua bằng được.
Lan man mãi, giờ xin quay về chuyện sách cũ sách mới.
Khoảng tháng 7/2010 gặp Nguyên Ngọc, tôi than phiền nhiều sách mới in ra quá đọc không xuể. Và nhất là không hiểu nữa.
Chẳng hạn như cuốn Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.
Từ lâu đã nghe nói tới nó. Thấy bản dịch in ra ở NXB Tri Thức thì lao đi mua liền. Nhưng về, đọc một ít trang rồi bỏ đấy.
Tôi có cảm tưởng nay có nhiều người như tôi, nghe chỗ ông Chu Hảo cho ra những quyển mới, đi lùng liền, rồi lại mang về xếp xó.
Đây là câu Nguyên Ngọc bảo tôi hôm ấy có liên quan tới cuốn Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản:
- Trước tiên hãy cố đọc lấy Lời giới thiệu của Trần Hữu Quang với Bùi Văn Nam Sơn để hiểu sơ sơ cái đã. Rồi khi nào có hứng đọc tiếp.
Tôi thấy gợi ý thật hay, mà cái tối thiểu như thế cũng chưa làm được. Thảm cho bản thân quá!
Nhưng rồi lại nghĩ, thôi tuổi già không nên trách mình nhiều. Biết rằng cần có nhiều thứ phải đọc là được rồi, được đến đâu hay đến đấy. Trong số những câu danh ngôn khuyên người ta phải đọc lại sách cũ, tôi còn nhớ câu này
“Cuốn sách nào không đáng đọc hai lần thì cũng không đáng đọc dù chỉ một lần”
Ngày đăng 13/12/2015
Lao Động Cuối Tuần - Số 50, ngày 12/12/2015 có in bài:
Ông Lê Văn Hiệp - Trưởng đại diện tổ chức Nhà vệ sinh thế giới tại Việt Nam: “Đừng ngần ngại khi nói về nhà vệ sinh”
Đọc cái đầu đề tôi nhớ là đã có lần trả lời một tờ báo về vấn đề này. Xin chép lại câu chuyện của tôi với phóng viên tờ báo mà nay tôi đã quên tên, nhưng vẫn luôn luôn cảm ơn vì đã gợi ý để tôi nói về một đề tài mà hóa ra tôi nghĩ đã lâu, nhưng chưa được ai “kích hoạt”
***
Được biết trong những vấn đề được ông quan tâm, khi nghiên cứu văn hoá, có cả câu chuyện toilet. Xin ông cho biết lý do gì mà ông lại có sự chú ý tới nó như vậy?
Tôi thấy ở Việt Nam cứ nói đến văn hóa thì nghĩ đến những chuyện cao xa trừu tượng, hoặc hoa lá cành cờ đèn kèn trống. Trong khi đó phong cách sống của mỗi cộng đồng, bao gồm suy nghĩ, ăn ở, đi lại… tất cả những cái đó đều là văn hóa.
Một nhà nghiên cứu Trung Quốc là ông Kim Văn Học (Kim Wen Xue) đang dạy đại học ở Nhật, viết sách so sánh văn hóa Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản, từng nói tới cả cách sử dụng toilet và cách trang trí phòng tắm của mỗi nước.
Bản thân tôi, khi đọc sách và đi du lịch ở nước ngoài thường quan sát xem các hiện tượng như nước thải, rác đã được người ta giải quyết ra sao. Sự chú ý tới toilet là nằm trong cái mạch đó.
Trong cuốn sách nói trên (đã được dịch ra tiếng Việt ), Kim Wen Xue cho biết toilet của Hàn Quốc là phòng hóa trang, vào đó đọc sách và suy nghĩ; còn ở Nhật, chỉ riêng hương liệu và nước thơm cao cấp dùng trong toilet cũng đã có mấy chục loại.
Theo Kim Wen Xue, một nhà văn hóa Trung Quốc đã nói: “Tư thế và cái mông là thước đo quan trọng có thể đánh giá được mức độ thành thực của một loại văn hóa sánh với lễ tiết của dân tộc”.
Một nhà văn khác đã miêu tả dáng vẻ con người trong nhà xí là: “Chân đạp hai hòn gạch, du nhàn ngắm Nam Sơn”.
Thế còn ở Việt Nam, đại khái tình hình ra sao?
Hãy bắt đầu bằng ngôn từ. Ai đã đi Trung Quốc đều biết, ngoài chữ W.C, bên ấy họ thường gọi nhà vệ sinh là “cè suo tức xí sở”, hoặc“ xỉ shou jian” tức tẩy thủ gian - nơi rửa tay.
Còn ở ta, người mình thậm chí không có cái tên nào để gọi cái nơi ấy cả. Cái chữ “xí” là do ta mượn của họ.
Có vẻ như người Việt rất coi thường chuyện này, ai cũng phải làm, nhưng không ai muốn nói tới. Nó nằm trong một căn bệnh lớn hơn là bệnh cẩu thả, sống thế nào cũng xong. Bạn có nhớ cái câu “Thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng”? Người mình thích xả chất thải ra tự nhiên chung quanh một cách vô tội vạ như vậy, coi đó mới là khôn là biết sống. Bừa bãi là một cách để chứng tỏ mình hơn người và mình bất cần đời.
Nên nhớ thời xưa, trong ngôi nhà của người Việt mình, các phòng không có sự ngăn cách, mỗi cá nhân không có khoảng không riêng. Điều này đánh dấu trình độ sống đơn giản, con người chưa tách khỏi nhau, mà còn sống lẫn với nhau. Theo tôi quan sát, xu thế sống bày đàn thế này còn tiếp tục trong đời sống hiện đại.
Trong khi đặt văn hóa toilet trong văn hóa sinh hoạt chung của mỗi cộng đồng, ông đã có những thu hoạch gì?
Thường tôi rất quan tâm tìm hiểu xem người Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài như thế nào. Nhiều khi chúng ta viết về chúng ta thì còn hơi e ngại. Nhưng đọc nhiều tài liệu của nước ngoài viết về ta thì thấy không có gì giấu được thiên hạ.
Trong cuốn Tây Hành Nhật Ký, ông Phạm Phú Thứ kể chuyện một chuyến ngồi tầu thủy sang Tây. Người châu Âu hồi đó họ hay chê Việt Nam nhiều người ghẻ lở, bẩn. Khi tầu cập bến một thành phố bên Trung Đông, họ bảo ông Thứ nên bắt mọi người tắm rửa sạch sẽ, bôi thuốc, rồi mới cho lên bờ.
Nhìn ra dân các xứ khác. Người Nhật sạch không chê vào đâu được, còn người Tàu thì luôn luôn cực đoan: bẩn nhất trần gian, sạch cũng không kém ai. Dân ta còn mức sống thấp, cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên, gặp đâu hay đấy. Cũng giống như chuyện làm ăn thôi. Tôi đọc một tài liệu Trung Quốc nói về Việt Nam từ thế kỷ XVII: họ chê ta nhà cửa quá sơ sài, ăn ngủ tạm bợ. Người thợ thủ công của các nước thường làm việc trên bàn, có ghế ngồi đàng hoàng, còn ta thì cứ ngồi bệt ngay xuống đất, không có quy củ. Đại tiểu tiện cũng là nằm trong cái tình hình chung đó.
Xin ông nói rõ hơn về tâm lý con người trong chuyện này?
Thời xưa người ta coi việc đại tiện thuộc một trong bốn “tứ khoái” nói nôm na bao gồm ăn ngủ đụ ỉa. Trong việc làm người, đó là những phút sung sướng, và ta phải tận hưởng sự sung sướng ấy, phải đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của cuộc sống.
Cái gì cũng phải học. Thời trước, những ông già thạo đời như Nguyễn Tuân dạy chúng tôi cách ăn, ông bảo là các cậu không biết ăn, ăn lung tung là mất ngon, ăn no là hỏng…
Còn chuyện vệ sinh: trong cái việc coi thường khâu này, chính là chúng ta đã không biết tận hưởng cuộc sống. Đại tiểu tiện là sự giải thoát, là niềm vui của con người, và nếu giải quyết nó một cách thông minh, không gây khó chịu, không phải là làm cho xong mà tận hưởng được nó, thì không những nó làm cho mình khỏe thêm mà còn làm cho mình ham sống và yêu cuộc sống hơn.
Toilet xưa trong ký ức của ông là gì? Nó có quá… kinh khủng, hay mang chút vui buồn gì không?
Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng Hà Nội trước năm 1954 là Hà Nội của chiến tranh, chỉ toàn dân ngụ cư chạy loạn. Hồi ấy dân ở rộng lắm, nhà tôi ở Thụy Khuê, một vùng ngoại ô, ba gian nhà lá trên một khoảnh đất đi thuê rộng tới gần 200 m2. Nhưng tôi nhớ rằng lúc đầu nhà tôi cũng không có nhà vệ sinh. Mỗi khi có nhu cầu, là chạy vội lên một bãi hoang phía đường Hoàng Hoa Thám tìm một chỗ nào còn sạch là tương ra. Vài năm sau, người ta xây lên ở đó một dãy nhà vệ sinh công cộng để lấy phân, nhưng chỉ là mấy tấm phên che tạm bợ và chúng tôi vẫn phải chạy ba quãng đồng để làm cái việc thường nhật đó.
Hà Nội hồi trước 1954 có ông Năm Diệm chuyên làm thầu nhà xí, quản lý đội đổ thùng. Phần lớn các nhà khu phố cổ có người đến đổ thùng. Còn phần các xóm ngoại ô như Thụy Khuê thì có dân Cổ Nhuế quản.
Dụng cụ nghề nghiệp của họ là đôi quang gánh và một cái gáo nhỏ làm bằng thiếc, trông như cái nón lật ngược. Lúc này nhiều gia đình đã có hố xí riêng làm ngay cạnh nhà, nhưng rất sơ sài, không phải tự hoại. Cứ độ vài hôm là có các bà Cổ Nhuế xuống lấy, mà lúc nào xuống lấy thì bẩn lắm , mùi hôi thối từ xa đã xộc vào mũi. Nghĩ lại thấy rùng mình…
Tôi nhớ trong một truyện ngắn mà tôi làm biên tập, cuốn Đi giữa đường mưa nhà văn Phạm Hải Anh có kể lại cảnh đi “giải quyết nỗi buồn” ở nông thôn. Giữa cánh đồng trống trải, cứ đang đi thì có người đi qua, là phải vẫy tay để ám hiệu là đừng ra. Lâu ngày quen dần chỉ cần nói đi vẫy tay, là người ta đã biết đi đâu rồi. Nó thành một nếp sống tự nhiên, mỗi khi nhớ lại thấy vừa vui vừa buồn.
Nước nào nông thôn lạc hậu chẳng vậy?
Không phải nông thôn mà chính thành thị chúng ta cũng lạc hậu nhếch nhác vô tổ chức và cái chính là không muốn sống cho văn minh hơn, thế mới bi đát.
Gần đây tôi có biên tập một cuốn tiểu thuyết Trung Quốc, cuốn Bố! bố! bố! của Hàn Thiếu Công.
Cuốn sách này thuộc thể loại “văn học tầm căn” (văn học đi tìm gốc rễ) ở đó nhà văn giải thích hiện tại bằng cách quay về quá khứ. Cuộc sống của một bản làng lạc hậu kinh khủng, con người ăn ở dầm dề lung tung, sau một trận làng nọ đánh nhau với làng kia, người chết nhiều quá, chó ăn thịt người chứ không thèm ăn… phân.
Khi nhận viết lời bạt cho cuốn sách đó, tôi muốn chứng minh rằng có thể tin chuyện này là có thực, bằng cách kể lại kỷ niệm về một chuyến đi Trung Quốc năm 2006 - chuyến đi cùng với anh Hàm Châu, do báo Nông Thôn Ngày Nay của chị Mai Nhung bao.
Bắc Kinh quá lớn và quá cổ, ngay khu cạnh ga có những căn nhà lụp xụp, cả xóm có vài nhà xí công cộng. Loại nhà xí này không có vách ngăn, người nọ ngồi cạnh người kia, chỉ có nam nữ tách biệt, đi qua phòng của nam thì đến phòng của nữ.
Trong bài bạt, có một đoạn tôi kể cảnh đi vào một ngõ gần ga, thấy phảng phất cái mùi khó chịu, đến lúc nhận ra mấy người tay cầm mảnh giấy vo viên thì hiểu là họ đi tìm sự sung sướng …
Nhưng điều buồn cười là khi tôi viết điều đó ra, người biên tập muốn cắt đi. Tôi đề nghị giữ lại. Trong chuyện nhà xí như thế, rút ra được điều này: Trung Quốc bẩn rất bẩn, sạch rất sạch, và khi đã định làm là họ làm bằng được. Còn ta thì nửa vời chỉ cốt chưng diện. Tính tổ chức vốn là một điểm kém nhất của văn hóa Việt Nam.
Xin kể thêm một chi tiết về cuộc sống của Hà Nội trước năm 1954, ở phố Hàng Buồm. Thời ấy Hoa Kiều nhiều lắm và họ sống trong những ngôi nhà cũ chật chội đến mức không có cả nhà vệ sinh. Nhiều khi tiếp khách, họ ngồi ngay trên cái bô vừa chuyện trò vừa đi giải, đi đại tiện - một cách tự nhiên. Xong việc họ đẩy cái bô vào gầm giường. Tôi biết những chuyện này là do anh Nhị Ca, nhà phê bình đàn anh của tôi ở Văn Nghệ Quân Đội kể lại.
Còn chuyện toilet ở Hà Nội hồi trước 1975?
Là món hố xí hai ngăn. Để hiểu nó là thế nào, xin mời bạn đọc đọc lại hồi ký Chiều chiều của Tô Hoài. Đọc để chia sẻ mọi nỗi kinh khủng mà người dân thủ đô chịu đựng những năm chiến tranh. Lần ấy ông Dế mèn đóng vai cán bộ dân phố đi thị sát một dãy hố xí hai ngăn thuộc một ngõ nhỏ đâu quãng gần chợ hàng Da.
Chuyện toilet ở Hà Nội những năm chiến tranh lại càng cám cảnh hơn khi nhớ lại rằng hồi ấy, báo chí và quan chức thủ đô đề cập tới nó với sự gian dối bẩm sinh. Không có tiền không làm được hố xí tự hoại thì im đi cho xong. Đằng này còn mang chuyện hố xí hai ngăn ra mà khoe. Rằng chúng ta đã có cách giải quyết rất khoa học rất vệ sinh, và đấy là điều chứng tỏ ta tài ta giỏi, ta làm gì cũng hơn địch. Coi dân như trẻ con, bạ chỗ nào cũng tuyên truyền mà lại.
Vâng, trong quá khứ câu chuyện đi toilet thật là vừa bi vừa hài, nhưng xin hỏi ông, tình hình hiện nay ra sao?
Vào nhiều nhà hà nội mới xây có nhà, diện tích ở thì rộng, mà khu vệ sinh thì chật. Có vẻ như nó hoàn toàn không được chú trọng, chỉ cốt là có, và chi phí càng ít càng tốt. Nhưng mọi chuyện sẽ biến đổi dần dần. Có lần tôi nghe một đứa cháu nói “Cậu ơi, công trình phụ bây giờ là công trình chính đấy ạ” thì tôi à lên rằng, giờ đây, người ta đã biết sống rồi!
Chừng nào ở nông thôn cũng như các đô thị có những nhà vệ sinh hiện đại, tốt, và người Hà Nội biết tận hưởng niềm vui trong khi đi giải quyết chất thải, thì khi đó là người Hà Nội đã trưởng thành.
Nhìn rộng ra cả xã hội, nhất là nơi công cộng?
Chuyện này thì khó khăn thật. Tôi đã thường cố gạt đi mà đôi lúc vẫn không tránh khỏi cảm tưởng Hà Nội chưa bao giờ nhếch nhác như bây giờ. Thực tế, từ cái nghèo mà người ta bẩn, có điều sau đó, khi đã giàu lên, người ta vẫn không để ý đúng mức tới sự vệ sinh.
Không kể chuyện rác chuyện cống rãnh, ngay chuyện đại tiểu tiện, so với những năm chiến tranh, chẳng những không khá lên được bao nhiêu, mà có nhiều mặt còn tệ hại đi.
Cô em tôi ở Nguyễn Trung Trực, ra chợ Đồng Xuân bán hàng, có lần bảo tôi: “Anh ơi, buổi sáng đi chợ, phải tránh mà đi, chứ không là giẫm phải phân ngay!”.
Có bao giờ chúng ta thử đếm xem tỷ lệ nhà xí công cộng so với mật độ dân ở Hà Nội ra sao? Có lẽ trên thế giới này không có thành phố nào lại ít nhà vệ sinh công cộng như Hà Nội. Mọi người toàn giải quyết ở gốc cây, góc tối.
Đói kém lâu ngày, ta đâm ra coi thường vệ sinh. Rồi khi biết ra thì bài bây, thậm chí lại lý tưởng hóa nó, coi nó là đặc trưng là bản sắc, không ngồi ăn bên cống rãnh không phải là người Hà Nội (!)
Cách sống cũng như cách nghĩ ấy chỉ chứng tỏ Hà Nội còn là một thành phố kiểu trung cổ mà lại trung cổ ở dạng thoái hóa. Và nếu biết rằng, mỗi ngày có khoảng 500 ngàn người các tỉnh lân cận -từ bà bán rau đến anh xe ôm, anh thợ nề, mấy cô quang gánh ngồi đầu phố làm phiên chợ người - tất cả đổ về Hà Nội, quần thảo Hà Nội, hành hạ Hà Nội, lại biết rằng phần lớn Hà Nội được xây dựng bằng thợ từ nông thôn lên, các cửa hàng hàng ăn Hà Nội được phục vụ bằng những ô-sin tỉnh lẻ, thì chúng ta hiểu rằng mọi chuyện không thể khác được.
Quay trở lại từng gia đình: phải chăng nhìn vào toilet, có thể liên tưởng phần nào đến mức sống của gia đình đó?
Tất nhiên rồi nhưng chỉ là mức sống thôi, chứ không phải văn hóa sống đâu nhé !
Thành ngữ Trung Hoa có câu, y phục xứng kỳ đức. Nếu tiện nghi hiện đại mà con người cứ toát ra vẻ cổ lỗ, cứ đầy chất lưu manh vô văn hóa, thì cái tiện nghi kia không thể cứu vãn lại.
Đã là văn hóa sống thì không phải bất cứ ai có tiền ngày một ngày hai là đạt được ngay!
Đâu là dấu hiệu của trình độ mà ông nghĩ là chúng ta phải tiến tới?
Nếu con người chỉ biết sống trong đám đông ồn ào, và lẫn mình đi thì chưa phải là con người văn hóa. Kể cả khi họ quần tụ với nhau xem ti vi rồi cười hô hố với nhau thì cũng vậy.
Tôi muốn nhấn mạnh tới con người có cuộc sống riêng, con người đơn độc.
Sở dĩ thời nay người ta đọc sách ít vì người ta không có nhu cầu đó. Và nhu cầu đơn độc này cũng liên quan đến văn hóa toilet.
Chỉ có thể bảo niềm vui sướng đã đến với con người trong phòng toilet khi mỗi cá nhân, đồng thời với việc giải quyết một trong tứ khoái đó, có dịp nghĩ về mình, mình là gì, mình đang ở chỗ nào, mình sống như thế nào. Những lúc đơn độc đó mang lại cho chúng ta một niềm sung sướng cao cả thanh khiết.
Còn ông, ông thích một không gian toilet thế nào?
Tôi biết hiện nay có nhiều người sùng bái tiện nghi, sau khi săn tìm được của lạ, của độc, nhiều tiền, thấy mình đã ghê gớm lắm. Đó phần nhiều cũng chỉ là hạng giàu sổi, tôi chả ghen tị với họ làm gì.
Tôi đang sở hữu một không gian toilet đơn giản, hợp với mức sống của tôi. Tôi sống với nó một cách tự nhiên, vào ra không thấy bị cách bức, ngần ngại; ở đó, tôi không làm phiền ai mà cũng không tự làm phiền mình.
Đang làm việc dở có khi tôi cầm cả cuốn sách theo vào đó mà tiếp tục đọc.
Người ta thường bảo về già con người như trở lại thuở trẻ con, nghĩa là có thể ăn nói lung tung một chút mà không sợ bị chê cười. Về chuyện toilet hôm nay, bọn người như tôi có quyền nghĩ lẩm cẩm rằng bây giờ mình mới được sống!
Ngày đăng 20/12/2015
Hồi còn chuyên mục Gặp nhau cuối tuần, VTV3 từng cho một diễn chương trình khá thú vị mang tên “Hội ơi là hội!”.
Chuyện kể về một làng nọ có cái tên là làng Cự Phách làm hội.
Làm như thế nào?
Nói nôm na là không có cũng vẽ ra mà làm, cái gì sẵn có thì tưởng là mình đã quá tài, làm liều làm ẩu, làm một cách bôi bác. Còn cái gì không có thì bảo nhau bắt chước người khác (ai đó đạo văn, đạo nhạc thì ở đây người ta sẵn sàng đạo hội).
Như thấy các làng khác có chọi trâu chọi gà thì nghĩ ra việc…chọi lợn. Đến là lắm trò nhố nhăng, không ai nhịn cười nổi!
Ngay sau tiếng cười, cố nhiên, màn kịch cũng làm cho người ta phải nghĩ. Thấy có chút gì nhoi nhói trong lòng.Thấy thoáng qua một chút xấu hổ. Trong không khí Việt Nam gia nhập WTO, đi vào hội nhập với thế giới, có thể từ vở kịch đọc ra vài nét tâm lý hiện thời.
Sau những năm tháng bao cấp, ngủ dài trong uể oải, nay ai cũng trở nên cực kỳ năng động, không ai bảo ai cùng cuống cuồng lên cả một lượt, mê mải sống mê mải hưởng thụ. Thay đổi với bất cứ giá nào. Nhanh nhảu đến mức giả tạo. Ma mãnh đủ trò. Đắp điếm vay mượn đủ kiểu. Miễn sao gây được sự chú ý, miễn sao thu về tiền bạc.
Trong cơn say kiếm ăn, người ta mang quá khứ ra để làm thương mại. Không phải tết nhất cũng nấu bánh chưng. Và không có đỗ thì lấy ngô lấy khoai, không có nhân thịt lợn thì lấy thịt trâu, thịt chuột. Nhân danh một mục đích tốt đẹp, tự cho rằng có gian dối một tí rồi thần phật cũng tha bổng cho hết.
Khi tiếp xúc với nước ngoài, không chịu chuẩn bị nghiên cứu kỹ càng, mà quen lối láu vặt học đòi, nhiều khi bê nguyên xi về mình những cái rất xa lạ, mà vẫn không thấy chướng và càng lạ càng coi là hay.
Như trên đã nói, trong kịch có cảnh mấy người phỏng theo lối đấu bò ở Tây Ban Nha, tổ chức đấu lợn. Đấu thế nào? Người ra đấu ngồi xổm trên mặt đất tay cầm miếng vải đỏ khiêu khích lợn, tay kia cầm cái gì na ná như cái khiên để tự che đỡ.
Tận trong tâm lý sâu xa, rõ là con người ở đây ẩn giấu rất nhiều mặc cảm. Cái sự làm liều ở đây vốn được bắt đầu từ một nguyện vọng có vẻ rất chính đáng. Đó là khi tiếp xúc muốn gây ấn tượng với người. Song do chỗ trong thâm tâm thừa biết mình kém sẵn, và không bao giờ có thể bằng người, nên chỉ còn cách cố ý tạo ra sự lập dị, nói chệch đi là độc đáo. Rồi nhận ra đây là ngón võ có vẻ hiệu quả, người ta còn hùa nhau nâng nó - cái sự độc đáo ấy - lên thành lý tưởng, sùng bái nó, cho nó là quan trọng nhất trên đời.
Theo vết xe đổ
Sự độc đáo hay bản sắc vốn không xa lạ với con người hiện đại. Nó thường được lưu ý khi người ta tìm cách phân biệt các cộng đồng. Nhưng theo các nhà xã hội họ có độc đáo hay và độc đáo dở, độc đáo đáng triển khai tiếp tục và độc đáo như một cục bướu đáng cắt bỏ đi. Chỉ khi đằng sau cái bản sắc đó, thấy toát lên ý nghĩa phổ biến, người ta mới cảm thấy gần gũi, và coi đó là cái bản sắc chân chính.
Một điều quan trọng nữa là tự nó độc đáo trong bản sắc sẽ đến chứ không cần đi tìm. Để tự nó đến thì nó sẽ tự nhiên. Lấy nó là mục đích, tìm sai, tìm nhầm, rồi lại tô vẽ cho nó, thì sẽ gây nhiều phản cảm.
Không thể nói rằng chỉ cần độc đáo là có giá trị. Trong việc này dân văn chương bọn tôi cũng có một ít kỷ niệm.
Hồi đó là vào khoảng đầu những năm sáu mươi, ở Hà Nội, một số bạn trẻ mới tập viết, trong khao khát muốn tự khẳng định, cũng có cái lối đi tìm bằng được sự độc đáo để gây ấn tượng và coi đó là sáng tạo.
May mà các bậc đàn anh đã sớm nhắc nhở.
Nhà thơ Xuân Diệu “đả” mạnh nhất. Với lối nói riết gióng vốn có, ông bảo nên nhớ là hai con lợn khác nhau cũng mỗi con một cá tính, nghĩa là chẳng con nào giống con nào; vậy đừng có lẫn cá tính với cá tật…
Sự độc đáo theo đúng nghĩa văn hóa chỉ đến qua con đường học hỏi khổ luyện hòa nhập với chung quanh, rút ra từ kẻ khác những điều tinh túy và phù hợp để tự làm giàu thêm bản thân.
Nói cho vui, không chừng cái làng Cự Phách trong chương trình "Hội ơi là hội!” đã đi theo vết xe bọn tập tọng học nghề chúng tôi mấy chục năm trước.
Nhưng hồi ấy chúng tôi làm thế vì sống trong một xã hội khép kín, tìm tòi không có đường ra nên phải tự mình lừa mình.
Nay đã sang một thời buổi khác, cuộc sống lúc nào cũng trình ra trước mắt bạn bè nước ngoài, chẳng lẽ chúng ta không rút được ít kinh nghiệm?
Có lần đọc một bài của ông Vũ Minh Khương đang dạy ở Singapore, tôi thấy ông nói rõ là nước ngoài giờ đây khá thất vọng về Việt Nam. Lúc đầu thắc mắc, nay thì tôi đã hiểu. Họ thất vọng về con người và cái cách không chịu phát triển của xã hội mình.Trong những chuyến du lịch ngắn ngủi , họ không chỉ bị kéo vào đám hội tương tự như trong chương trình truyền hình nọ, mà họ còn vấp phải cả một cách nghĩ ấu trĩ, xuất hiện ở bất cứ nơi nào có thể. Ra họ có cái lý của họ!
Ngày đăng 23/12/2015
Theo nhà nghiên cứu Nhật Shiba Ryôtarô (1923-1996), một khuynh hướng của người Việt là “xem người dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác”... do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới. Điều này tôi đã dẫn ra trong bài viết Hội chứng “ít chịu học hỏi” “tự mình mê mình” ở người Việt đưa trên facebook của tôi ngày 27/7/2015.
Trên đường học lại lịch sử Việt Nam, tôi rất cảm ơn tập san Nghiên cứu Huế (NCH) của Nguyễn Hữu Châu Phan, nơi có hàng loạt bài về xã hội Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Từ số Một ra đầu 1999, NCH có in bài Việt Nam vào thế kỷ XIX qua hồi ký của John White, John Crawfurd George Gibson, tác giả là người Anh Patrick J. Honey.
Ông này là nhà nghiên cứu kỳ cựu về Việt Nam.
Ở tr 221, số NCH nói trên, sau khi nói về nhiều mặt sinh hoạt khác của người Việt, Patrick J. Honey có trích một đoạn trong hồi ký của Crawfurd:
“Người Việt rất tự kiêu và tự coi như dân tộc bậc nhất trên thế giới, không cả chịu nhận người Trung Hoa là người hơn mình. Họ coi người Cao Miên là man rợ và đối với người Xiêm La thì cũng chẳng nể nang gì hơn.”
Tôi thấy tin thêm ở các nhận xét loại này, khi nhớ lại một chi tiết trong truyện Tấm Cám, mà trong bài viết về truyện này tháng 10/2015, tôi chưa nhắc tới.
Đó là đoạn vua hay hoàng tử cho mọi phụ nữ vào thử hài để tìm cho ra người đẹp. Khi Tấm đến thử, mẹ Cám cũng có mặt ở đấy. Bà ta khinh rẻ Tấm coi thường Tấm không muốn cho Tấm nên người, nên bảo Cám:
Chuông khánh còn chả ăn ai
Nữa ư mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre.
Ta có thể đoán trong thâm tâm của mẹ Cám, lúc này nảy sinh một cảm giác tự nhiên không cần nghĩ ngợi gì nhiều cứ buột ngay ra. Là sự kiêu căng thấy mình thuộc loại ưu hạng (chuông khánh), còn mọi kẻ khác đều là méo mó nửa đời nửa đoạn(mảnh chĩnh vứt bờ tre).
Ngẫu nhiên chăng? Không phải.
Quan họ Bắc Ninh cũ cũng có đôi câu phảng phất tinh thần trên:
"Tôi đi khắp bốn phương trời
Không đâu lịch sự như người ở đây"
Rồi thì làng nào khen làng ấy vùng nào khen vùng ấy, cái tinh thần kiêu ngạo lây lan khắp nơi. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, tức “thiên hạ là cứt hết” “chỉ có mình là nhất, chỉ mình mới xứng đáng với những gì cao đẹp” và không còn nghi ngờ gì nữa “mình đây hơn hẳn thiên hạ”.
Lục lại ký ức, một người thất thập như tôi còn thấy đây là một cảm giác thường trực ở người Việt mình trong khi nhìn nhận những gì ngoài mình.
Nó cũng ăn vào tâm lý cộng đồng và trở thành một nét tâm lý dân tộc bền vững trong trường kỳ lịch sử, chi phối các cá nhân khi phải xử lý mối quan hệ với người các dân tộc khác.
Lúc còn trẻ con chúng tôi đã được nghe người lớn bảo nhau Ngớ ngẩn như chú Tầu nghe kèn.
Lớn lên, ở miền Bắc thì nghe chê Nga ngố. Vào Sài Gòn sau 1975 cũng thấy người dân bảo nhau rằng nhiều khi thằng Mỹ rất dại.
Những gì ta thường tự nghĩ là ẩn kín trong lòng, và chỉ nói với nhau chỗ riêng tư, nhiều người nước ngoài khi tiếp xúc với người Việt, đã nhận ra từ rất sớm.
Thế còn tại sao từ các thế kỷ trước người mình lại có lối nghĩ thế này và những biến tướng của nó trong xã hội hiện đại ra sao, đấy là các đề tài tôi sẽ suy nghĩ tiếp.
Ngày đăng 27/12/2015
Không chỉ tinh tế khi tả thức ăn mà trong Hà Nội băm sáu phố phường (in trên Ngày nay từ 1940),Thạch Lam còn khéo ghi nhận cái thói quen dễ dãi cẩu thả của người mình trong cách làm thức ăn.
Như trong câu chuyện về mấy bát mằn thắn. Trong khi bát mì của mấy chú khách (tức đám Hoa kiều) đầy đặn thì người mình chỉ giỏi giả lễ bà chúa mường. Bát mằn thắn của các ông chủ người Việt có đủ cả rau thơm, xá xíu, đôi khi mấy miếng dồi và một phần chia tám quả trứng vịt, song mằn thắn bột thì thô, nhân là một tí thịt bạc nhạc, nước rất nhiều nhưng nhạt.
Cho đến những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI này nhiều người đi nước ngoài còn chứng kiến kiểu làm ăn tương tự. Anh Hữu Vinh từng là phóng viên thường trực của TTXVN ở Paris kể với tôi là chả có cửa hàng ăn nào của người Việt đậu được lâu. Lúc mới khai trương cũng rôm rả. Nhưng chỉ một hai năm là chất lượng kém hẳn đi và người ăn bỏ hết sang các hiệu khác.
Người ta bắt gặp ở đây một quan niệm sống tầm thường dễ dãi, không bao giờ duy trì được sự liên tục có trước có sau tức không đạt tới một trình độ chuyên nghiệp ổn định.
Một thói xấu khác của các nhà hàng buôn bán người mình được Thạch Lam ghi nhận là thói dễ thỏa mãn. Ông lấy ví dụ như mấy hiệu kẹo lạc kẹo vừng Cự Hương, Ngọc Anh. Lúc đầu còn chịu khó làm thật ngon để chiều khách, sau ngủ yên trên danh vọng. “Hình như dân mình động giàu là ra mặt vênh váo và bắt đầu làm ăn chểnh mảng” - tác giả Gió đầu mùa khái quát. Và ông hồn nhiên tự hỏi “Ồ, sao sự cố gắng ở nước này không được lâu bền nhỉ!”.
Người xưa có câu “Nhân bần trí đoản”, với nghĩa người nghèo hèn, kẻ hiểu biết nông cạn, thì không còn đáng để ai đếm xỉa tới nữa.
Không đâu thấy rõ sự ngắn hơi và dễ thỏa mãn như trong hoạt động của người làm nghệ thuật ở Việt Nam. Làng tranh Đông Hồ quê gốc tôi có nhiều nghệ nhân có tác phẩm để đời. Nhưng tên tuổi tác giả những bức tranh đó thì không ai biết. Đại khái đó là những ông thợ tài hoa nhưng cẩu thả, lúc vợ ốm con đau hoặc thua bạc cần tiền thì vẽ vội mấy bức mang bán cho các nhà giàu trong làng, và không có ý niệm gì về bản quyền trên tranh. Cũng giống như các cửa hàng kẹo bánh của Thach Lam “không biết rằng hàng của mình ngon hơn hàng khác”, các nghệ nhân đó cũng không thể nghĩ rằng lẽ ra tên tuổi mình có thể còn mãi với lịch sử mỹ thuật. Chính họ tước đi khả năng đó ở họ.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, thời cổ văn xuôi Trung Quốc chỉ có biền văn, chưa có tự sự. Tự sự Trung Quốc là học được từ Ấn Độ qua du nhập sách Phật. Nhưng khi đã nắm được rồi thì người Trung Hoa đưa nghệ thuật này lên đến đỉnh điểm. Những bộ tiểu thuyết như Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai có độ dài và trình độ kết cấu không thua kém gì những thiên tự sự đồ sộ nhất của phương Tây.
Trong khi đó các tác phẩm tự sự của người Việt chỉ theo dõi con người trong những khoảng thời gian ngắn. Không tìm đâu ra loại tác phẩm có khả năng bao quát cuộc sống nhân vật trong thời gian dài, dựng lại lịch sử cả mấy thế hệ như truyện Tàu. Các cuốn tiểu thuyết hiện đại thường kém về kết cấu toàn cục. Cố lắm chỉ được vài chương đầu. Càng về cuối càng hỏng.
Manh mún nhỏ lẻ không chỉ là cách làm ruộng, đi buôn mà cũng là cách người Việt làm nghệ thuật. Chúng ta chỉ có những tác phẩm nhỏ nhỏ xinh xinh, chùa Một Cột chẳng hạn chỉ tồn tại như một ý niệm hơn là một công trình thực tế.
Nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng có lần bảo với tôi: Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay của chùa Bút Tháp đẹp thật, nhưng lưng tượng thì chỉ được làm dối dá cốt cho xong chuyện.
Trong truyện ngắn Đất xóm chùa (in trên Văn Nghệ số 42 năm 1993), nhà văn Đoàn Lê để cho một nhân vật phát biểu tạt ngang : “Khốn nạn, cái vạt đất tí hin bị bỏ quên sau mấy lũy tre, mơ ước hào hoa nhất chỉ là nồi cơm Thạch Sanh cả làng ăn không hết, chuyện tinh tướng bốc giời nhất cũng chỉ chuyện củ khoai to bằng cái đình …..Cứ ra cái điều!”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét