Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

.Khi những trang truyện câu thơ dân dã

 3.Khi những trang truyện câu thơ dân dã trở thành niềm an ủi của một đứa trẻ cô độc

Bà mẹ kế của tôi vốn quê Lã rượu Từ Sơn lại từng theo gia đình lên làm ăn ở vùng Đáp Cầu, nên khá thông thạo về cái mà sau này tôi được học và gọi là văn học dân gian. Trong những câu nói hàng ngày, bà sử dụng nhiều ca dao tục ngữ. Khi chuyện trò với những người hàng xóm, bà hay dẫn lại nhiều truyện cổ tích và truyện nôm dân gian. Tôi thường nghe hóng và nhớ lại hai truyện sau đây.

Thứ nhất là truyện Phạm Công Cúc Hoa và một phiên bản tương tự là Tống Trân Cúc Hoa. Tôi không nhớ thật rõ cốt truyện các truyện nói trên chỉ mang máng nhớ là trong đó kể lại cuộc đời của những người đàn bà nghèo khổ lại có chồng phải đi xa. Nhưng tôi nhớ nhất là những chi tiết về tình cảnh một người mẹ mất sớm để lại hai đứa con mồ côi. Có lần trên đường lang thang xin ăn, hai chị em gặp lại người mẹ nhưng là một bóng ma trong đêm tối hiện hình thành người trò chuyện với các con. Tôi đã nhiều lần sùi sụt nước mắt khi nghe kể đoạn cuối, khi trời sáng, bóng ma người mẹ bảo các con rằng các con xoay lưng lại đây để mẹ bắt chấy cho con, nhân đó mà biến khỏi mặt đất, trở về cõi âm phủ.



Thứ hai là truyện Trương Chi, người xấu mà nhờ tiếng hát hay nên làm cảm động cô con gái con quan tên là Mị Nương, nhưng đến khi nhận ra bộ mặt xấu xí của chàng, thì lại lẩn tránh, khiến chàng Trương Chi về tự tử và hồn nhập vào một cây bạch đàn.

 “Đến khi thừa tướng đi làm quan 

mua được cây gỗ bạch đàn về chơi” 

rồi cha con ông ngồi uống nước và thấy trong chén trà hiện hình bóng Trương Chi. 

“không cầm lấy chén thì thôi, 

hồ cầm đến chén lại nhớ người hò khoan, 

cô Mị Nương đau đớn can tràng

Hạt châu rơi xuống vỡ tan tính tình”. 

Khỏi phải nói, tôi sớm tìm thấy trong Trương Chi một phần bóng dáng của mình trong tương lai. Mọi đứa trẻ xấu xí khi ra đời làm sao mà có được cuộc sống sung sướng. 

--   

Ở nhà trường tiểu học tôi đang theo học, hồi ấy chúng tôi chưa biết thưởng thức văn xuôi, mà chỉ thấy nhớ các bài học thuộc lòng. Ví dụ như bài sau đây đọc lên nghe vui vui

Hôm nay thằng nhỏ xin ra

Cho nên em phải ở nhà thổi cơm

Nổi đồng thổi gạo tám thơm

Tính em háu đói đốt rơm bốn bề

Ai ngờ quá lửa thành khê

Mẹ em mắng mãi thẹn ê cả người

Em xin các bạn đừng cười

Xưa nay em vốn tính lười nấu ăn

Cả ngày chỉ mải làm văn

Hễ sờ đến bếp là nhăn nhó rồi

Cơm thì dưới nát trên ôi

Đấy em cô gái tân thời giỏi chưa

Thầy Vũ Đăng Mão ở trường Đại Yên mà tôi học ba năm ấy cũng là người thích làm những câu vần vè tương tự. Tôi nhớ là để răn dậy chúng tôi đừng nên vòi vĩnh theo bố mẹ đi ăn cỗ, thầy đã cho cả lớp chép một bài văn vần mà tôi nhớ mấy câu đầu

Miếng ăn quá khẩu thành tàn

Học sinh cần phải lo toan học hành

Trông vào đám cỗ làm thinh

Chớ nên thấy cỗ lại rình đi ăn


Để diễn tả nỗi ấm ức trong lòng về nhiều chuyện gia đình tôi cũng đã có lúc thử làm mấy câu vần vè và chỉ ghi lại vào một tờ giấy rồi vứt đâu đó. Cũng giống như hồi đó chỉ thỉnh thoảng tôi mới có tiền, do một bà cô tôi nhà khá giả hơn dúi vào tay, và tôi đã biết cất giấu bằng cách khâu cả một cái túi nhỏ có sợi dây thút nút đeo trong người.


--

Vẫn những mẩu chuyện thời tạm chiếm. Dọc đoạn đường ngắn ngủi từ sở xe điện đến sở “la pho” ở phố Thụy Khuê, nhìn vào nhiều nhà tôi bắt đầu nhận thấy có những chiếc radio sang trọng phát ra âm nhạc và tiếng nói.

Báo chí thì nhiều hơn, đó là mấy tờ báo hàng ngày tôi nhớ có một tờ mang tên là Tia sáng tờ nữa mang tên Thời mới. Báo chí hồi ấy dành rất nhiều không gian cho quảng cáo và bao giờ ở cuối trang ba, cũng để dành chỗ cho một truyện dài đăng nhiều kỳ, kể cả truyện Tây Du đã rất quen thuộc.

Có một bài hát của Phạm Duy: “Nhà ta ta cứ xây, đồng ta ta cứ cày, diệt xong quân Pháp kia…” khi vào Hà Nội chỉ đổi thành “… diệt xong quân cướp kia…” chứ nó vẫn được lưu truyền bình thường.



NHỮNG CỬA HÀNG CHO THUÊ TRUYỆN

Ngoài các hàng tạp hóa và hàng ăn, hiệu ảnh và hiệu giặt là, quãng đường Thụy Khuê mà hồi đó tôi sống còn nổi bật nhất hoặc đúng hơn đối với tôi đáng nhớ nhất là các cửa hàng cho thuê truyện.

Cùng ở vùng nông thôn tản cư quay về Hà Nội hồi đó, trong cái ngõ 105 giờ đây biến thành chợ, bên cạnh gia đình tôi còn có gia đình mấy ông anh gọi bố tôi là cậu và mặc dù trong chiến tranh vẫn tiếp tục cái nghề truyền thống của Đông Hồ làng tôi là làm vàng mã kể cả một thứ mà bây giờ không được phổ biến là làm bạc. Người ta lấy những tấm bia các tông lớn lề về đục thành từng đồng hào to, bọc bằng một lớp giấy bạc rồi cho nện hoa văn lên trên và mang bán trên thị trường. Mấy người anh chuyên làm bạc thời đó, có một điểm làm cho tôi đặc biệt hấp dẫn là thường sai tôi đến các cửa hàng cho thuê truyện, Đi thuê truyện cho các anh thì tôi được đọc lây và sau đó được nghe các anh bàn bạc.



Trong số những cuốn sách mới viết thời tạm chiếm, có một hồi tôi thấy nhắc nhở đến nhiều nhất là truyện Đồi thông hai mộ.

Anh Đinh Lăng giờ đây đâu nhỉ

Anh của em yêu quý nhất đời

Những cửa hàng cho thuê truyện mà tôi vừa nói ở trên hình như còn tồn tại cho đến suốt cả năm 1955, tức là khi bộ đội ta đã về tiếp quản thủ đô. Trong số truyện dài mà tôi đọc ghé cùng với các anh, thuộc về ngòi bút của các tác giả Tự lực văn đoàn, cùng với Hồn bướm mơ tiên và Tiêu sơn tráng sĩ, còn thấy có nhiều truyện của Lê Văn Trương, trong đó có một truyện mang tên là Kẻ đến sau.

Lớn hơn một chút, nếu hỏi truyện dài nào đi thuê được hồi bấy giờ mà tôi thấy thích hơn cả, thì tôi xướng lên nhà văn Nguyễn Xuân Huy với Duyên Bích Câu. Truyện kể về những mối tình nên thơ của các cô gái dệt lụa làng Bích Câu và các chàng trai học trò chuẩn bị đi thi. “Một buổi sáng trời thu trong mát, trời trong như ngọc lưu ly, trước đình làng Bích Câu, mấy cô gái đang ngồi giặt lụa. Vừa giặt các cô vừa khe khẽ hát.

Đêm qua gió lọt song đào

Để cho hương ấm lọt vào phòng em

Sáng nay trời đẹp như duyên.

Lòng em mơ tới Trường Yên với chàng.”




Nhưng thú vị nhất trong số sách đọc được ở các cửa hàng cho thuê sách truyện hồi bấy giờ, tôi vẫn nhớ nhất là những quyển tiểu thuyết Tàu.

Trong đời sống của Hà Nội trước 45 và được tiếp tục trong Hà Nội tạm chiếm 1946 – 1954, người Tàu và nền văn hóa Trung Hoa vốn chiếm một tỷ lệ rất đậm đặc. Đầu tiên là những cửa hàng tạp hóa, những cửa hàng thuốc ở phố Lãn Ông mà hồi trước gọi là phố Phúc Kiến. Nhưng đối với bọn trẻ chúng tôi thì văn hóa Tàu trước hết là mấy ông bán táo dầm, bán lạc rang cùng là các loại nước giải khát mà tôi nhớ gọi là chế ma phồ. Cũng quả táo Việt Nam mà cha mẹ chúng tôi thường mua ở các chợ, nhưng táo của các ông Tàu chuyên bán hàng ăn vặt bao giờ cũng to hơn chín tới hơn và khi được ngâm kèm theo các loại nước có pha chế thế nào đó thì chúng trở nên ngon ngọt không thể tưởng. Mấy ông lạc rang thường kèm theo một cái chuông nho nhỏ rung khe khẽ trên đường. Bố tôi bảo cái thứ lạc rang của các ông ý làm đắt lắm, nhưng bao giờ để tỏ ý chiều chúng tôi, ông cũng mua bằng được và dặn là phải ăn một cách từ tốn thì mới thấy là ngon.

Từ các món ăn thông thường như phở, sủi cảo tôm tươi, cho đến các thứ bánh ngọt như bánh trung thu, món gì người Tàu làm ra cũng ở trình độ tuyệt hảo. Mua hàng Tàu chúng tôi không sợ bị lừa, không sợ bị mua phải hàng ế hàng hỏng. Mà những người Tàu bán hàng bình dân cho bọn chúng tôi thì trông cũng nghèo nghèo khổ khổ, mặc dù vẫn có cái vẻ sang trọng riêng mà những người nghèo Việt nam không giờ có được.

Những cuốn truyện chúng tôi đọc được đầu tiên và để lại ấn tượng sâu sắc nhất ở các cửa hàng cho thuê phải kể là những bộ dã sử Trung Quốc, từ Hán Sở tranh hùng, Chinh Đông Chinh Tây, qua La Thông Tảo Bắc, Thuyết Đường, Thủy Hử. Tuy chỉ là một đứa trẻ yếu ớt vụng dại, nhưng tôi vẫn bị hấp dẫn bởi vẻ anh hùng cao thượng của các nhân vật trong đó. Lớn lên một chút, theo sự hướng dẫn của các anh, tôi đọc sang Chiêu Quân Cống Hồ, Mạnh Lệ Quân thoát hài, Tái sinh duyên. Lúc bấy giờ tôi chưa được biết những cuốn như Hồng Lâu Mộng, nhưng đã cảm thấy là trong việc mô tả phụ nữ và vẻ đẹp, tiểu thuyết Trung Hoa cũng mở ra cho tôi cả một thế giới quý phái sang trọng đáng ao ước.

Trong gia đình, ông bố tôi trước kia cũng đã võ vẽ học chữ nho, và cũng như những người Hà Nội đương thời thích đi xem các vở tuồng ở rạp Quảng Lạc, đến thời chúng tôi thì còn rớt lại các rạp Kim Chung, Kim Phụng.

Ông thường thuộc nhiều tích tuồng và đôi lúc cao hứng buột miệng trích dẫn những câu hát mà ông đã thuộc lòng, chẳng hạn hai câu: Mộc Quế Anh hiến mộc giá hương, chúc bá phụ phước như Đông Hải. Cái cụ thể nhất mà tôi học được là chữ Hán, dù chỉ nghe âm. Và cái sâu sắc mà tôi học được là sự phong phú muôn hình muôn vẻ của nền văn hóa Trung Hoa và những cốt cách con người quí tộc Trung Hoa nghĩa hiệp.

Trong một bài viết về truyện chưởng của Kim Dung in ở tạp chí văn học nước ngoài của Hội nhà văn Việt Nam năm 1997, tôi có viết một đoạn như sau:

Khoảng 1954 về trước, chợ Đồng Xuân có một dãy quầy hàng bán ở ngay mặt tiền, và muốn mua gì, mọi người có thể không cần vào chợ mà đứng ngay trên vỉa hè tuỳ ý lựa chọn. Một trong những quày đó, ở góc phố Hàng Khoai, dành cho sách báo. Cố nhiên chữ nghĩa bán ở đây chỉ là loại hàng tầm tầm, trong đó có một thứ mà vào tuổi tôi lúc ấy, không ai không thích: kiếm hiệp. Còn nhớ, để câu khách và cũng là tiện cho người mua vặt, sách của ông Lý Ngọc Hưng in ra theo từng tay một, mỗi tay ứng với một hồi. Những lúc chờ tàu điện về với gia đình ở Thuỵ Khuê, tôi chỉ ngóng tàu đến chậm, để lướt thật nhanh qua các tay sách. Ngọc Kỳ Lân Vân Đằng Giao và Kim Hồ Điệp Trúc Thuý Quỳnh, Bồi thành lực sĩ Sích Như Lân chi mộ, Uy liệt vương Võ Trấn Phương kiến thiết, Nguyên suý hồi trào, Hạng Vương cử đỉnh... tên người tên đất, tên các thế võ đọc ban ngày, đêm về xủng xoảng trong đầu óc, khiến cho về sau, có hồi học chữ Hán với mấy cụ đồ ở trường Chu Văn An, nhiều từ tôi chỉ nghe phát âm mà biết nghĩa, lúc bình tĩnh ngồi nghĩ mới hay mình đã vỡ lòng ở sách của ông Lý Ngọc Hưng.

Dẫu sao, nhớ lại thời đọc kiếm hiệp, về sau tôi vẫn thấy trong đó có chút lý do chính đáng: trẻ con bao giờ chả thế!


So với công cuộc tiếp quản Sài Gòn tháng 4 năm 75 thì cuộc tiếp quản Hà Nội năm 54 đơn giản hơn nhiều, tuy vậy ngay từ hồi ở Việt Bắc, Tạp chí Văn Nghệ của hội Văn Nghệ Việt Nam đã có những bài phê phán đời sống văn hóa tinh thần vùng tạm chiếm mà hồi đó người ta gọi là “trong thành”. Có lần tôi đã loáng thoáng thấy có ai nói tới những cuộc đốt phá tiêu hủy sách báo đồi trụy phản động, nhưng lúc ấy tôi còn bé quá nên không biết gì. Chỉ nhớ là sang năm 55 56, hình như là các hiệu sách cũ vẫn còn tồn tại, giống như là mấy tờ báo Tia Sáng, Thời Mới, vẫn còn tồn tại. Một đặc điểm nữa là hồi ấy chính những người ở Việt Bắc trở về cũng muốn trở lại với các giá trị văn học đích đáng của thời tiền chiến, Một số tác phẩm có giá trị cũ như truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, thơ Nguyễn Bính, truyện ngắn Thạch Lam… còn được các nhà xuất bản nhà nước và những nhà xuất bản tư nhân lúc bấy giờ tạm sống sót cho in lại.

Không hiểu sao hồi ấy khá nhiều tủ sách được mọc ra ở các khu phố. Trên đê Yên Phụ, nơi một điếm canh cũ đặt trước cổng làng xưa, cũng có một tủ sách nhỏ, tôi nhớ là tôi đã từng ghé vào đấy và đọc vội được ít trang tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, do nhà xuất bản Văn Nghệ cho in ra năm 56. Tại đây tôi cũng bắt đầu mê thơ Nguyễn Bính với những câu:

Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hoặc

Nhà em cách một quả đồi

Cách ba quả núi cách đôi cánh rừng

Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy anh đừng yêu em 

Sau này tôi mới biết rằng cuối năm 56 đầu năm 57 có cả một phong trào mà sau này được xác định bằng cái tên Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng hồi ấy, tôi không nhớ là bằng cách nào mà tôi đã được đọc mấy số cuối cùng của tuần báo Văn, trong đó có các truyện ngắn Bích – xu – ra của Thụy An, Ông Năm Chuột của Phan Khôi, Con Ngựa Già của Chúa Trịnh. Và trong một giờ học văn lớp 6 năm 1957, tôi đã được thầy Ngọc dạy văn (có biệt hiệu là thi sĩ Tùng Dương) cho học thêm một bài thơ của Hoàng Cầm.

Đêm nay hết một năm

Đứng gác tới giao thừa

Quê hương chừng rét lắm

Lất phất mấy hàng mưa

Tôi có người vợ nghèo

Đời vất vả gieo neo

Gặt thuê rồi cầy mướn

Đồng xa ngập nắng chiều


Khi nhớ về đời sống văn hóa của những năm 1955 – 1957, tôi có cảm tưởng một cái gì rất tự nhiên, chẳng phân biệt thế nào là cũ thế nào là mới, chỉ biết là hay và dở.

Một số thơ văn tôi được đọc hồi ấy, còn bắt nguồn từ mấy cuốn sách giáo khoa viết cho các anh các chị lớp trên và được hoàn thành từ trước 57. Chỉ đến khi có phong trào đấu tranh chống Nhân văn thì người ta mới kiên quyết loại ra khỏi sách giáo khoa văn học những bài thơ tiền chiến hay nhất, những truyện ngắn rất suất xắc của các nhà văn trước 45. Còn trước năm 1958, thì trong cuốn gọi là Văn tuyển lớp 9 (lớp 9 hồi đó tương đương với lớp 10 sau năm 1958 và lớp 12 sau 1975), do nhà giáo Bạch Năng Thi chủ biên tôi thú vị được đọc bài thơ dài của Phạm Huy Thông, với mấy câu mở đầu 

Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa

Đưa mắt nhìn say đắm chân trời xa

Trong sương thu nhẹ đượm ánh trăng tà

Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại

Tôi cũng thuộc luôn cả mấy câu đề từ cho bài:

Hán binh dĩ lược địa

Tứ diện sở ca thanh

Đại vương chí khí tận

Tiện thiếp hà liêu sinh

Tạm dịch

Quân Hán đã chiếm đất

Khúc Sở vang bốn bề

Đại vương chí khí hết

Thần thiếp sống làm chi

Tôi cũng không bao giờ quên được bài thơ mang tên Đẹp xưa của Huy Cận in trong phần bài đọc thêm của cuốn văn tuyển nói trên

Ngập ngừng mép núi quanh co

Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang

Vi vu gió hút nẻo vàng

Một trời thu rộng mấy hàng mây nao

Trước những bài thơ kiểu ấy, và những trang văn của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng cộng với những tác phẩm của Khái Hưng, Tế Hanh, Bàng Bá Lân mà tôi đã được học trong cuốn Tân quốc văn lớp nhất mà tôi đã kể ở chương trước, thì những sách báo cách mạng mới mang về dành cho công chúng rộng rãi và được học ở đầu trường cấp hai còn hấp dẫn gì nữa?! 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét