Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Một số suy nghĩ chệch hướng

 Một số suy nghĩ chệch hướng

Sau những câu chuyện mà tôi kể cho nhà văn Nguyễn Minh Châu về tuổi trẻ của tôi, có lần anh đã nói là có lẽ nhờ sống ở một vùng đô thị hiện đại, mà tôi có được một chút hoài nghi cần thiết khi bước vào đời.

Sự hoài nghi đó càng bắt rễ trong tôi, sau khi bị đánh trượt trong cuộc thi vào Tổng hợp Văn. Với một lòng tự tin rất tự nhiên của tuổi trẻ, tôi ban đầu chỉ nghĩ là người ta không hiểu mình. Mãi về sau, tôi mới nghĩ được rằng cái xu hướng mà xã hội muốn kéo mình theo là khác, mà xu hướng lớn của cả nền văn nghệ thì lại khác hẳn. Vì tôi đi theo cái hướng chung nên tôi thất bại. Nhưng tôi vẫn sẽ tiếp tục đi theo con đường đó, chỉ có điều là phải tìm cách chuẩn bị cho mình những hành lý thích hợp nhất. 


Có ngu dại đến mấy thì tôi cũng biết rằng hiểu biết của tôi là hạn chế. Và tôi phải học, trước tiên là học thêm ngoại ngữ để biết thêm về các nền văn học khác, về văn học nói chung.

Trong phần ghi về nguyện vọng khi thi vào Đại học, ngoài nguyện vọng thứ nhất là Tổng hợp Văn, tôi đã ghi nguyện vọng hai là vào khoa Trung Văn Đại học Ngoại ngữ. Hồi ấy mấy cửa hàng sách ngoại văn ở Hà Nội có bán nhiều sách vở tiếng Hoa, kể cả tiểu thuyết. Và tôi đã mua cuốn “Tam lý loan” của Triệu Thụ Lý về để thử đọc. Giá kể được theo khoa Trung Văn thì đời tôi sẽ hướng sang một hướng khác.

Nhưng cũng thời gian ấy, xu hướng học tiếng Nga đã rất mạnh mẽ, dù phần lớn dân trí thức Hà Nội học tiếng Nga qua tiếng Pháp, còn như những quyển sách dạy tiếng Nga cho người Việt thì còn rất sơ sài và kém cỏi. Bản thân tôi sau khi học sơ qua các giáo trình này, đã phải tìm tới một người bạn đang học khoa Nga ở Đại học Sư phạm, là anh Dương Đức Niệm. Anh Niệm sẽ chỉ cho tôi những quyển sách dạy tiếng Nga cho chính người Nga, nghĩa là lưu hành ở các trường Đại học của Nga, nhờ đó tôi có khá hơn.

Việc học tiếng Nga của tôi lúc đầu phải như một công việc dấm dúi. Cùng với các bài ngữ pháp thì công việc đầu tiên là học từ mới. Tôi không có máy để nghe, tôi chỉ lo thuộc mặt chữ. Tôi đóng cho mình những cuốn sổ tay con con vài chục trang. Các từ Nga mà tôi mới học được tôi ghi thoạt đầu bằng bút chì, sau đó tôi tô lại bằng bút mực. Tôi luôn luôn đặt các cuốn sổ đó ở đầu giường. Ký túc xá của sinh viên lúc ấy gồm nhiều giường hai tầng, tôi thường xin lên ngủ ở tầng trên để tránh sự để ý của mọi người. Tối tối, ngọn điện chung cho cả gian phòng đến chín giờ rưỡi thì tắt. Trước đó mười lăm phút, dù đang làm cái gì thì tôi cũng để lại mà lo ngồi lẩm nhẩm mấy từ tiếng Nga mà tôi mới học ban ngày. Tôi cứ lẩm nhẩm  như thế  cho đến khi thiếp đi trong giấc ngủ. Rồi đến sáng ra, khi đèn điện vừa bật thì tôi lại móc cuốn sổ ở dưới gối ra ôn lại. Cứ thế mà tôi dần dần sau ba năm, cũng có đủ một số vốn từ cần thiết để đọc sách. 

Quên tôi không nói từ trên là do chỗ muốn học tiếng Nga để dùng trong việc tự học lâu dài, tôi sớm hướng tiếng Nga vào việc đọc văn học. Cụ thể là tôi mua cho mình một cuốn giảng văn dùng cho mấy lớp khởi đầu ở trường Trung học của Nga, ở đó chẳng hạn có cả những truyện ngắn của A.P.Chekhov. Cùng với Puskin, Chekhov được coi là những nhà văn Nga viết tiếng Nga chuẩn nhất hay nhất mà lại dễ đọc dễ hiểu. Sau này khi ra Hà Nội học lớp văn ba, học văn học Nga với các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà, tôi đã mạnh dạn xin làm khóa luận về Chekhov và đã sử dụng một số sách báo tiếng Nga làm tài liệu tham khảo. Các thầy Nguyễn Hải Hà và Đỗ Xuân Hà thích lắm, giúp tôi nhiều lắm. Thầy Nguyễn Hải Hà còn theo dõi các bài báo của tôi đưa trên báo Văn nghệ với nhiều cảm tình và sự ủng hộ.


Mười năm học hỏi

 Mười năm học hỏi

Hai năm dạy học ở Lữ đoàn 368 pháo binh và một năm về dạy học ở Đoàn kịch Tổng cục Chính trị quân đội, đối với tôi là những năm chuẩn bị cần thiết. Như tôi đã nói, nhà thơ Vũ Cao khi tiếp nhận tôi còn nhiều lo lắng, ông nói với mọi người, nếu thằng Nhàn nó không làm được biên tập thì cho về làm kế toán. Nhưng may thay, tôi đã đóng vai phụ việc biên tập cho các anh Mai Ngữ, Nhị Ca rồi tiến lên chủ động quản lý công việc của tổ lý luận, tới mức mọi người thường trêu anh Nhị Ca, có được thằng Nhàn rồi thì ông Ca nằm dài mà nghỉ ngơi chẳng phải lo việc gì nữa ngoài việc gật đầu. Hàng năm, cứ vào cuối năm thì Tạp chí chúng tôi lại có một buổi họp cộng tác viên bao gồm cả những cây viết trong và ngoài quân đội. Vào những buổi đó, tôi thường đóng vai một người chủ nhà biết điều, đi chào hỏi và rót bia mời mọc từ các nhà văn nổi tiếng đến các bạn viết văn trẻ. Khoảng cuối năm 1976, phần lý luận của tạp chí ra số chuyên đề về truyện ngắn. Không chỉ nhận những bài viết sẵn có, mà tôi còn sẵn sàng làm chân chấp bút cho các cộng tác viên. Như đối với nhà thơ Chế Lan Viên. Mặc dầu chuyên về thơ nhưng ông cũng rất thạo các vấn đề chung của văn học. Bởi vậy, khi lên kế hoạch, tôi xin phép tòa soạn đặt bài Chế Lan Viên, rồi tôi lại đến tận nhà ông, bàn bạc với ông. Chế Lan Viên bảo tôi bận không viết được, hay là bây giờ tôi nói để cậu ghi. Tôi làm theo ý ông và mấy hôm sau mang tới trình ông bản tôi vừa ghi, mang tên “Dài hay ngắn. Chất lượng và số lượng”. Ông thì bằng lòng (sau này ông thường coi như một bài do chính ông viết ra và đưa vào các tuyển tập) còn tôi thì sung sướng là đã bắt được cái giọng riêng của ông, như một diễn viên nhập vai, hỏi không sung sướng sao được. Ở đây có một kỷ niệm vui vui. Trong buổi họp tất niên mà tôi vừa kể, một nhà văn trẻ bạn tôi là anh Bùi Bình Thi lại đứng lên đặt một câu hỏi làm cả buổi họp sửng sốt. Anh Thi bảo ông Chế Lan Viên có phải là lý trưởng đâu, anh Nhàn có phải là mõ đâu mà tại sao lại có bài viết như vậy. Lúc ấy tôi đang đứng ở giữa buổi họp tay còn đang cầm chai bia chuốc rượu một cộng tác viên khác. Tôi liền giơ chai bia lên và nói to, trong năm tới tôi xin tiếp tục làm mõ và nếu có cộng tác viên nào ngồi ở đây muốn tôi phục vụ thì tôi xin sẵn sàng. Thế là cả buổi họp ồ lên vui vẻ. Sau này anh Nhị Ca bảo lúc ấy tớ cũng lo chỉ sợ cậu sửng cồ lên thì hỏng hết buổi họp, không ngờ cậu tháo quả bóng đang căng theo kiểu hợp lý quá. Còn nhà thơ Ý Nhi thì sau này bảo tôi, công nhận là sau buổi ấy tôi mới thấy ông Nhàn là chơi được và chúng tôi có thể kết bạn thật. 

Phải nói là trong mấy năm đầu chống Mỹ, tạp chí Văn nghệ Quân đội thành một tập thể sống rất hòa hợp và viết thì đều tay đến mức các anh phụ trách và những nhân vật chủ chốt như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu tuy không nói ra nhưng rất ngại tiếp nhận thêm các nhân vật mới. Trong một tập thể như thế, tôi là thành viên về sau cùng, nhưng vẫn tạm gọi là hòa đồng được với mọi người. Đến cuối cuộc chiến tranh, lực lượng sáng tác trong quân đội phát triển, gồm nhiều bạn viết cùng tuổi tôi. Lúc đầu lực lượng ấy do Phòng văn nghệ thuộc Cục tuyên huấn quản lý. Nhưng rồi họ đều được chuyển sang tạp chí. Đó là trường hợp các nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Duy Khán… Nhưng phải nói thật là do sự chênh lệch về tuổi tác và khác nhau về thế hệ, hai lớp nhà văn cũ và nhà văn mới ấy vẫn tồn tại ít nhiều khác biệt. Mỗi nhóm thường nói chuyện với nhau nhiều hơn là người của nhóm bên kia. Trong hoàn cảnh ấy, một lần nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ngỏ ý khen tôi, ở đây chỉ có ông Nhàn là nghe được tiếng nói của cả hai thế hệ. Tôi cho đó là một lời khen, xuất phát từ trường hợp vào nghề của tôi như đã kể trên.

Trong khoảng mười năm ấy - bắt đầu từ mùa xuân 1968, và kết thúc mười một năm sau, mùa xuân 1979, khi tôi chuyển sang Hội nhà văn và về công tác ở Nhà xuất bản của Hội cho đến khi về hưu - đối với tôi vẫn là một thời gian học việc nếu không muốn nói rằng khá lêu têu. Việc biên tập thì không cần nói nhiều, vì thành thực mà nói, nhiều phần dễ dàng. Nhưng tôi còn thích nhiều thứ, kể cả cái việc sáng tác là tôi biết chắc rằng mình không có tài, nhưng vẫn âm thầm theo đuổi. Thành thử, tôi đã tận dụng vai trò của một phóng viên tạp chí, để xin phép tòa soạn đi đến nhiều đơn vị khác nhau, nhất là các mặt trận hồi ấy. Tạm kể như sau, giữa năm 1968, thì tôi theo anh Phạm Tiến Duật đến các binh trạm ở chung quanh thành phố Vinh và các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Một năm sau, hè 1969, tôi lại theo Duật vào binh trạm 20, thuộc đoàn 500 (tương đương với đoàn 559 và sau này sẽ nhập vào 559). Tới 1970, tôi vào một trung đoàn của sư đoàn 304, rồi theo một trung đoàn của sư ấy vượt qua Bến Hải vào mặt trận B4. Sang năm 1972, tôi lại cùng với các nhà thơ Thu Bồn, Liên Nam, Văn Thảo Nguyên vào công tác chiến trường Quảng Trị, đợt này tính từ lúc đi tới lúc được gọi về, kéo dài 4 tháng trời. Trong chuyến đi 1972, tôi có ít nhiều biết được xã hội miền Nam qua những ngày tháng lang thang ở trong thị xã Quảng Trị, khi đồng bào ở đó bỏ lại khu đô thị chạy vào phía trong. Trước đó, tôi có một dịp tạm gọi là càn lướt vùng Gio Linh Cam Lộ, hai bên đường 9... Khi hiệp định Paris được ký, một vùng giải phóng được mở ra không những là trên núi mà còn là dưới biển, tôi vừa được chứng kiến cảnh tượng lính tráng hai miền đối mặt nhau sau hàng rào dây thép gai, vừa lướt qua một phần đồng bằng, tức là vùng ven biển Quảng Trị. Những chuyến đi ấy đã được tôi ghi chép khá cẩn thận mặc dù cho đến 2025, tức là năm tôi 82 tuổi thì vẫn chỉ là những bản ghi chép được đánh máy lại, chưa hề gạn lọc sắp xếp, dù là sơ bộ. 

Nhưng phần việc học tập quan trọng nhất của tôi trong hơn mười năm ấy chính là học tập về nghề, qua sinh hoạt của tôi trong cơ quan. Đầu năm 1968, khi đang cùng đoàn kịch ở thôn Phú Nghĩa, tôi vác ba lô đi bộ qua khoảng 3 km, thì sang Canh Nậu là nơi sơ tán của Tạp chí văn nghệ Quân đội. Đây là một vùng đất rất trù phú, nhà ở san sát cạnh nhau, chứ không vắng vẻ nhưng thôn Công Giáo Phú Nghĩa. Các nhà văn thuộc cơ quan mới của tôi thì ở tản mát trong dân, cứ hai người ghép lại một nhà. Có những buổi chiều, tôi theo các nhà văn Mai Ngữ, Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu ra chợ vừa đi đường các anh vừa kể chuyện cho tôi về cuộc sống văn nghệ. Nhớ nhất là những buổi tối, đến nhà ông giáo Bô là nơi anh Nguyễn Khải sơ tán, anh Khải có lối nói chuyện thế nào mà một phần tuổi trẻ ở cái xóm Ổi Thụy Khuê của tôi, như được thức tỉnh, và tôi không ngại mới quen mang ra kể hết với anh. Nhưng phải nói là từ cuối 1968, khi chúng tôi tạm rời nơi sơ tán trở về ngôi nhà 4 phố Lý Nam Đế, thì tôi mới được thực sự học nghề qua những buổi nghe các bậc đàn anh quây quần rồi trò chuyện. 

Như tôi vừa kể ở trên, nếu ở Hà Nội thì phần lớn các nhà văn cơ quan tôi sống ở gia đình là chủ yếu, có thể mặc thường phục mà đi ra phố hoặc đi họp ở bên Hội nhà văn. Nhưng hàng ngày hoặc hai ba ngày anh nào anh nấy cũng có nhu cầu ghé qua cơ quan, đó là những khi đã làm xong công việc viết bài ở nhà, đến cơ quan giải lao và nhất là ngóng thêm tin tức từ các đồng nghiệp. Các đề tài mà chúng tôi trao đổi với nhau thì vô kể, bao gồm từ chuyện thời sự chính trị xã hội đến chuyện văn học, chuyện của cuộc đời, chuyện của sách vở mà các anh đọc được. Ở đây, phải nói có một sự thực. Như nguyên tắc mà xã hội chính thức yêu cầu ở các nhà văn, chúng tôi không có quyền viết tất cả những điều linh tinh hàng ngày chúng tôi vẫn nghĩ, mà chỉ có quyền viết những điều có lợi cho xã hội. Chẳng hạn như khi viết về chiến tranh, thì chỉ có quyền viết về những gì giúp cho người lính lạc quan tin tưởng sẵn sàng theo lệnh trên trong cuộc chiến đấu, chứ không có quyền viết về những gì làm cho người lính buồn, người lính muốn buôn súng trở về với vợ con. Thoạt đầu có nhiều trục trặc nhưng dần dần các nhà văn cũng thấy làm thế là phải, cũng thấy quen, nói cho to tát ra tức là họ cũng muốn từ bỏ tự do để nhận lấy phần tự kiểm soát mình và kiểm soát các đồng nghiệp. Nhưng sự đời là thế, luôn luôn trong tâm trí các nhà văn có cái phần muốn viết thích viết mà lại không dám viết và cảm thấy không nên viết. Họ xả ra những điều bức xúc đó qua câu chuyện với các bạn bè đồng nghiệp hàng ngày. Trong hoàn cảnh một xã hội chìm sâu vào chiến tranh, dĩ nhiên người ta không thể nói bô bô những chuyện chính trị ở ngoài đường, ở quán nước, ở bến xe. Chỉ trong cơ quan khi mọi người đã sống với nhau từ lâu, đã tạm hiểu nhau thì mới sổ ra cho hết những gì chất chứa trong lòng. Ngoài những tin tức thời sự mà mỗi người mang về từ tiếp xúc riêng của mình hàng ngày, ở tạp chí chúng tôi lúc ấy, trong phạm vi các bậc mà tôi gọi là đàn anh, tức là những người đã bắt đầu viết từ kháng chiến chống Pháp, trước đó là những cán bộ tuyên huấn thành thạo ở các trung đoàn sư đoàn, tôi cảm thấy mỗi anh có một bề dày kinh nghiệm và một đề tài riêng. Anh Hữu Mai thạo nhiều tin tức về mặt trận, lại thêm nhờ ở chỗ sống trong một khu tập thể quân đội, anh có rất nhiều tin tức với tất cả cái nghĩa rộng rãi của từ tin tức. Anh Hồ Phương dân Hà Nội cũ bên cạnh chuyện nhà binh, lại khá thạo chuyện đường phố Hà Nội. Anh Xuân Sách đọc đủ thứ văn chương kiểu như “Tam quốc”, “Thủy Hử”, “Đông Chu liệt quốc” từ đó nhìn thế sự với con mắt thành thạo pha chút diễu đời. Có hai người để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. 

Mãi sau này tôi mới biết rằng, mặc dù gia đình ở Quỳnh Lưu Nghệ An, nhưng Nguyễn Minh Châu đã sớm được đưa vào Huế học, nên trong cách sống và sự học hỏi làm việc của Nguyễn Minh Châu thực sự là có dáng dấp của một học sinh gia đình khá giả, bước vào kháng chiến còn vướng vất nhiều phần tiểu tư sản. Nhưng cái tiểu tư sản của anh Châu là một cái gì rất mềm mại đáng yêu, khả năng thâm nhập của anh vào giới đồng đội nông dân phải nói là tự nhiên, thuần thục, có vẻ như là anh biết nói lên cái tâm tình của họ. 

ĐI THƯ VIỆN

 Một phương diện khác mà tôi lo lắng trong mười năm ấy là học tập. Do chỗ biết rằng cái học ba năm ở trường Đại học Sư phạm chưa đi đến đâu, tôi tận dụng việc làm quen với các cộng tác viên là các nhà nghiên cứu văn học chuyên môn, như Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh…, chưa kể là các sinh hoạt ở hội nhà văn mà tôi bắt đầu được tham dự để học hỏi thêm. Việc này tôi sẽ nói thêm ở sau, ở đây hãy nói về việc đi thư viện và học thêm tiếng Nga.

Do công việc không bị ràng buộc theo giờ hành chính, nên tôi thường chỉ ở tòa soạn buổi sáng, còn buổi chiều thì đi thư viện Quốc gia. Ngay sau hòa bình 1954, Hà Nội có nhiều thư viện nhỏ chẳng hạn Văn miếu hồi ấy cũng là nơi lúc đầu tôi thường đến, rồi thư viện Hà Nội ở quãng giao nhau giữa đường Bà Triệu và đường Trần Hưng Đạo. Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là thư viện Quốc gia mà hồi ấy gọi là thư viện trung ương. Ngay từ hồi học lớp 9, lớp 10, bọn tôi đã được phép vào đọc ở cái thư viện cao cấp ấy. Tôi nhớ, nhờ được xây dựng ngay từ thời Pháp thuộc, nên thư viện rất quy mô có cả một khoảng sân lớn trước sảnh chính, rồi khi vào phòng đọc tổng hợp tức là cái sảnh chính đó, chúng tôi có được những chỗ ngồi rộng rãi sau những cái bàn lớn. Lúc đầu ngay cả những sinh viên đang theo học ở các trường đại học vẫn chưa thể có mặt ở thư viện, nên các phòng hồi đó phải nói là thiên đường cho những người muốn làm việc. Tôi gặp ở đây những người bạn cùng lứa với tôi như Phan Hồng Giang, Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Thái Bình… Tôi cũng gặp ở đây những nhà nghiên cứu và nhà văn lớp trước, như nhà nghiên cứu mĩ thuật Thái Bá Vân. Thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện nhà thơ Trần Dần do bệnh tật thế nào đấy với dáng đi khó khăn lệch cả một bên người. Anh Lê Đạt thì thường chỉ đến để tra từ điển. Tôi nhớ là phòng đọc thư viện ngày ấy có rất nhiều loại từ điển trong đó có những quyển từ điển tiếng Pháp rất to đặt hết cả một cái bàn, và người tra từ điển thường phải đứng để làm công việc tra cứu. 


KIỂU PHÊ BÌNH CỦA TÔI

 KIỂU PHÊ BÌNH CỦA TÔI

Hồi học lớp 10 phổ thông, tôi với anh Nguyễn Đình Bưu cùng thích văn chương. Để theo dõi tình hình văn học đương thời, chúng tôi cùng ham đọc các loại báo chí văn học. Nói “các loại” … là nói cho sang giới văn nghệ lúc ấy chỉ có tờ Văn học ra hàng tuần và tạp chí Văn nghệ ra hàng tháng. Tờ thứ nhất thì không được hay lắm vì lúc đầu muốn làm một thứ văn nghệ thay thế thời Nhân văn lại do nhà văn Vũ Tú Nam phụ trách, còn tờ thứ hai khá hơn vì tiếp nối cái tinh thần của tạp chí Văn nghệ hồi 1948-1949 và bài vở do nhà thơ Xuân Diệu làm “đầu bếp”. Còn giới nghiên cứu thì có tờ Nghiên cứu Văn học, do cụ Đặng Thai Mai làm “sếp hờ”, mà mấy cây bút chủ đạo là dân tuyên huấn mới chuyển sang làm phê bình: Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hồ Tôn Trinh. Tôi với anh Bưu phân công, tôi mua tờ Văn nghệ, còn anh Bưu thì theo tờ Nghiên cứu Văn học. Hóa ra đó lại là một sự “tiền triệu” (báo trước): anh Bưu có kiểu tư duy theo dạng các nhà nghiên cứu khoa học xã hội mà cũng là cách giảng dạy ở các khoa Văn Đại học Tổng hợp lúc ấy, nên sau này thi vào khoa Văn Đại học Tổng hợp một cách dễ dàng. Còn tôi thì thi trượt phải chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, lý do đơn giản vì tôi toàn lo học cách thưởng thức tác phẩm và cách viết sao cho uyển chuyển giống như các nhà văn nghệ sĩ, các bài giảng ở cuối lớp 10, tức là lớp 12 hiện nay, về tính giai cấp tính Đảng của văn học … tôi chỉ học qua loa. Xu hướng viết báo sau này của tôi hình thành một cách tự nhiên và làm cho tôi dễ dàng làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân đội thực ra đã hình thành từ ngày ấy. Ngay trong viện văn học, tôi cũng thích làm quen với những cây bút có cách viết gọi là tài tử thật ra là cách viết mềm mại uyển chuyển không định phát triển thêm về lý luận và trước tiên là minh họa cho lý luận. Trong các sinh viên đại học vừa tốt nghiệp ở Nga về lúc ấy, tôi rất thích anh Phan Hồng Giang với tư duy linh hoạt và cái nhìn pha chút “uy-mua” về cuộc đời cũng như văn chương. Trong nhiều năm ròng, cả khi anh Phan Hồng Giang chuyển từ viện văn học về biên chế ở Hội nhà văn và làm tạp chí Tác phẩm mới thì tôi khi gặp anh ở cơ quan khi đến tận nhà anh, trò chuyện hay đúng hơn là học hỏi ở con người đã có dịp tiếp xúc với một nền lý luận mà lúc ấy chúng tôi đang hướng theo. 

Nói cho nghiêm túc, thì trong hơn mười năm làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi chỉ học được nghề làm báo, công việc chính của tôi là chuẩn bị cho những trang báo và viết các loại bài báo, từ mẩu tin đến đoạn văn ngắn. Một số bài gọi là phê bình của tôi lúc ấy được viết do yêu cầu của tòa soạn, tản mạn đủ loại khác nhau, nhất là không có một cơ sở lý luận vững chắc như các anh thuộc loại xuất sắc nhất, và đã từng theo học ở khoa văn Đại học Tổng hợp. 

Trong những năm chống Mỹ mà tôi nói ở trên, hoạt động báo chí xuất bản ở Hà Nội rất hạn hẹp. Cố nhiên lúc nào chúng tôi cũng thèm có được những tập sách chuyên về lý luận phê bình, như các anh Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ lúc ấy. Nhưng vừa mơ xong thì một người như tôi cũng hiểu ngay là quả ngọt không biết bao giờ đến phần mình. Một tập sách phê bình lúc ấy ngoài những bài viết về các tác phẩm, phải có những bài nền, công phu về các vẫn đề đường lối văn nghệ của Đảng. Ở tạp chí của chúng tôi lúc ấy, phần này thuộc về công việc của nhà văn đàn anh là anh Nhị Ca. Tôi thì đang say nghề theo cách hiểu của các nhà văn chuyên về sáng tác, và xa lánh lý luận, nên nhìn công việc của anh Nhị Ca thấy có phần xa lạ và thâm tâm cảm thấy rằng may mắn là bản thân mình chả bao giờ phải làm việc đó. 

Sau này, khi đã hơn chục năm sống trong giới văn nghệ, tôi cũng gặp được những cây bút phê bình xuất sắc mà lại có cách viết thật uyển chuyển, thật văn chương, rõ nhất là anh Lê Đình Kỵ và các chị Đặng Anh Đào, Đặng Thị Hạnh… 

Về quê hương Đông Hồ -Về gia đình và dòng họ

 Bổ sung chương 1

-

Về quê hương Đông Hồ -Về gia đình và dòng họ

Đồng bằng Bắc bộ nhất là khu vực Bắc Ninh có nhiều làng nghề. Làng Đông Hồ quê tôi thuộc dạng một trong những làng đó. Thường khi giới thiệu về làng người ta gọi đó là làng làm tranh, và quả thật đó là một nghề thủ công độc đáo, đã nuôi sống cả làng và là niềm tự hào của những người nông dân tài hoa biết duy trì nghệ thuật trong cái biển đồng bằng trồng lúa. Nhưng thực tế làng này trước tiên được hình thành từ nghề làm vàng mã để cúng trong những dịp tết nhất. Thoạt tiên người làng hình thành những khung tre nho nhỏ bằng độ đầu ngón tay người lớn, rồi lấy giấy quét phẩm màu vàng khuôn lại xếp chồng lên hàng ngàn viên gạch nho nhỏ ấy gọi là ngàn vàng. Còn hai chữ “hàng mã” có nghĩa là những vật thể cần thiết cho đời sống như ngôi nhà, bàn thờ và cả voi ngựa … được mô hình hóa lại trong những lồng tre ngoài phất giấy. Theo tục lệ có lẽ là truyền từ các vùng dân tộc bên Trung Quốc sang, vào những dịp cúng giỗ hàng năm cho những người chết giàu có, người ta đốt những thứ vàng mã ấy để phục vụ cho người chết ở thế giới bên kia. Cũng vì sống được bằng việc làm vàng mã đó nên làng tôi có những đặc điểm của một làng nghề, sống khá sung túc. Khi nói về truyền thống cách mạng của tỉnh Bắc Ninh người ta không bao giờ nhắc đến làng tôi. Khi nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp, dân làng tôi có theo đường Và, Ném… tản cư lên các vùng trên Bắc Giang, nhưng lại nhanh chóng quay về “lập tề” nghĩa là trở lại sống dưới sự quản lý của người Pháp. Sau năm 1954 khi chính quyền cách mạng trở về quản lý cả miền Bắc, nghề làm vàng mã làng tôi có bị thui chột và dân làng sống tạm gọi là ngắc ngoải bằng cái việc học làm nông nghiệp cũng như tiếp tục làm tranh, và một phần vàng mã theo kiểu làm chui tức là làm ngoài vòng pháp luật. Chỉ đến khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc mọi hướng làm ăn được khuyến khích, mê tín được chính thức hóa, chỉ cấm qua loa bên ngoài mà tha hồ bói toán cũng như đốt vàng mã bên trong thì làng tôi mới thật sự hồi sinh. Còn nghề làm tranh thì chỉ có cái tiếng và sản xuất thu hẹp lại như một mặt hàng du lịch vì làm sao tranh sản xuất theo kiểu thủ công xưa có thể cạnh tranh được với các loại tranh in hiện đại?

-

Khi hỏi thăm về họ Vương ở làng Đông Hồ, ai cũng biết là có, nhưng lại nói thêm rằng đó là một dòng họ rất nhỏ và nay đã phiêu tán đi nơi khác.

Theo lời ông bố tôi kể lại, thì ông nội bà nội tôi từ vùng nào đó phía Bắc có tá túc lại ở Đông Hồ vài chục năm, nhưng hai cụ nhanh chóng để con cái và cái cơ đồ vừa hình thành ở lại quê hương mà chuyển ra Hà Nội làm ăn. Suy nghĩ của các cụ khá hiện đại: muốn làm tranh cũng như làm vàng mã thì người ta phải có nguyên liệu là các loại giấy rồi từ giấy mới nhuộm xanh nhuộm đỏ để hình thành nên các mặt hàng. Từ Bắc Ninh, hai cụ đến tá túc ở khu vực Yên Thái bên hồ Tây. Làng này là nơi làm giấy. Thoạt đầu người ta ngâm các loại vỏ cây chuyên dụng cho rữa ra, rồi lại dùng vôi nung chảy trong các lò lớn ở nhiệt độ cao để cuối cùng ra một thứ bột, mang về đặt trong các bể lớn. Trong các làng nghề làm giấy, đàn ông lo đốt lò, đánh bột, thì đàn bà chuyên lo việc seo giấy túc là đãi các lớp bột đó thành từng tờ mỏng rồi trát lên tường cho khô và người ta có được thứ giấy rất đơn sơ dùng vào mọi công việc. Với việc chuyển hẳn một phần gia đình ra làng Hồ Khẩu (còn gọi là Yên Thái), ông nội tôi đặt cơ sở cho việc hình thành một trạm nhỏ chuyên đảm nhận việc chuyển giấy từ đây về quê hương Đông Hồ. Sau này lớn lên tôi được đọc trong một cuốn sách do người Trung Quốc viết, đại khái họ cắt nghĩa rất hay về thương nghiệp. Theo họ, thương nghiệp nghĩa là cảm thấy một nhu cầu; tổ chức sản xuất và lưu thông để thỏa mãn nhu cầu đó; nối liền những vùng đất và những con người. Phải nói là tôi cảm thấy may mắn vì cha ông đã chuyển cả địa điểm sinh sống lẫn cách làm ăn.


-

Thế nào là chất ngoại ô

Trụ sở chính của tạp chí Văn nghệ Quân đội là một khu nhà khang trang từng phòng có hệ thống vệ sinh riêng. Từ khi chuyển từ phát hành trong nội bộ quân đội ra việc phát hành chung trong cả nước, các thành viên của tạp chí được sống khá thoải mái. Tuy là sĩ quan quân đội nhưng không bắt buộc phải đội mũ đeo sao, và các sĩ quan hàng ngày có thể về gia đình riêng. Từ cuối năm 1965, cơ quản tổng cục chính trị sơ tán về mạn Sơn Tây thì các thành viên đa số thường vẫn cùng với gia đình sống ở Hà Nội, chỉ những đợt báo động đặc biệt và khi học hành mới phải đi sơ tán. Nhưng đấy là cách sinh hoạt của các nhà văn Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hải Hồ. Riêng hai anh Nguyễn Minh Châu và Xuân Sách vì chưa có nhà ở Hà Nội, nên vẫn bám vào cơ quan, cả ở sơ tán cũng như sau 1968, thực tế là cơ quan chúng tôi đã chuyển hẳn về Hà Nội, thì tối tối trong cái cơ quan vắng vẻ ấy vẫn có hai căn phòng để đèn sáng thường xuyên cả đêm là phòng của Nguyễn Minh Châu và phòng của Xuân Sách. Tôi mới chuyển từ Đoàn kịch nói Tổng cục sang Tạp chí, do còn là hạ sĩ quan nên phải sống trong cơ quan nhiều hơn. Nhờ đó tôi có dịp nói chuyện rất nhiều với bậc đàn anh mà tôi hết sức yêu quý là Nguyễn Minh Châu. Chúng tôi trao đổi với nhau đủ chuyện từ quá khứ mới nhập ngũ đến hoàn cảnh gia đình hiện thời. Trong một lần như vậy, khi nghe tôi kể chuyện về những ngày ở làng Đại Yên, làng Thụy Khuê, Nguyễn Minh Châu bột phát nói ra cái điều mà chính tôi cũng bất ngờ: 

- Thảo nào mà cậu cứ có cái vẻ hoài nghi mà những thằng khác tài năng hơn có đọc sách nhiều hơn, nhưng do chỉ sống ở nông thôn, họ sống ở những vùng có thể trù phú hơn nhưng lại cổ hơn… không thể có được. Đó là sự hoài nghi. 

Và Nguyễn Minh Châu nói như đinh đóng cột:

- Hoài nghi chính là phẩm chất của những đô thị và những vùng cận đô thị.

Trở lại với những năm tháng mà tính cách tôi mới hình thành tức là những năm còn học tiểu học theo chương trình của nhà trường thời tạm chiếm, khi người Pháp còn làm chủ Hà Nội. Theo cách cảm nhận của một thằng bé ở trong cái hũ nút là làng Đại Yên làm nghề bán lá thuốc hoặc sau này chuyển sang cái phố Thụy Khuê nửa phố xá nửa ngoại ô, thì chúng tôi chẳng giàu mà cũng chẳng nghèo, dù bữa cơm không thật nhiều cá thịt và cũng không bao giờ bị đói. Đại Yên thì cũng đại khái như Đông hồ làng tôi cũ, nghĩa là một thứ làng nghề, các bà các cô đi bộ từ Đại Yên qua đê Hoàng Hoa Thám mà hồi ấy chúng tôi gọi là đường thành rồi lên tàu điện xuôi xuống phố Hàng Khoai, ngồi vào các gian hàng đã thuê sẵn, hàng bán ra hàng ngày. Thụy Khuê lại càng như vậy, các bà các cô thì sớm ra đã quẩy những gánh xôi lúa xôi nếp, theo đường xe điện xuống bán rong ở khu vực mà ngày này người ta gọi là phố cổ; muộn hơn một chút và kéo dài đến trưa thì đến lượt các bà các chị bán khoai, dùng làm một thứ hàng quà, nhịp sống cứ đều đều như vậy như nếp sống của cánh đàn ông hành nghề ở sở xe điện (cả lái tàu lẫn soát vé), ở nhà máy giặt và nhất là ở nhà máy da rất nổi tiếng vốn của những ông chủ người Pháp, từ sau 10/1954 thì trong tay mấy người chủ Việt rồi chuyển thành công ty hợp doanh. Do chỗ cuộc sống giống như một thứ đứng máy đều đều hàng ngày, chúng tôi chả bao giờ thật sung sướng nhưng cũng chẳng bao giờ lo đói khát, “tay làm hàm nhai” chẳng phụ thuộc ai mà cũng chẳng thấy ai bóc lột mình, cuộc sống chẳng biết bao giờ khá hơn nhưng cũng không bao giờ phải lo lắng rằng rơi vào cái cảnh chết đói. 

Như tôi đã kể ở phần trên, mấy cái xóm tôi ở lúc ấy không thể gọi là đất học, trẻ lớn lên thậm chí chỉ học đến tiểu học là cùng rồi chuyển đi làm nhà máy da nhà máy xe điện như cha anh chứ chả có ai học lên trung học, dù là trường trung học đệ nhất cấp Chu Văn An ở ngay đầu ngõ. 

Những lần vươn lên sau thất bại

 Những lần vươn lên sau thất bại

Thất bại đầu tiên trong đời tôi là khi tôi từ lớp 5 tiểu học chuyển sang trường trung học. Việc ấy xảy ra khi Hà Nội được quân đội về tiếp quản, trong khung cảnh có phần nhốn nháo lúc đó, tôi thi trượt vào trường Chu Văn An và phải đi học tư thêm một năm. Tất cả chuyện này tôi đã kể ở phần trên.

Có thể nói cái thất bại thứ hai khi tôi học hết lớp 10 tương đương với lớp 12 hiện nay, và thi vào khoa Văn, Đại học Tổng Hợp mới là một bước đi đau đớn kinh khủng và chỉ nhờ sau đó tôi vẫn gượng lại được, nên lại có thể nói là nó có ích.

Như trên đã nhiều lần nhắc qua, do cơ thể ốm yếu, khả năng quan hệ kém cỏi, nên tôi chỉ lấy học để gọi là giao tiếp với đời. Tôi học khá cả tự nhiên và xã hội. Các thầy trong lớp, thì thầy Văn muốn tôi làm cán sự Văn, thầy Toán muốn tôi làm cán sự Toán, cuối cùng các bạn trong lớp đề nghị tôi làm cán sự Trung Văn để có thể tham gia được cả hai tổ trên. Lúc biết tôi phải chuyển sang sư phạm Văn, thầy X dạy Lý của tôi hồi lớp 9 cứ tiếc mãi, ông bảo giá kể biết trước thì ông sẽ xin cho tôi vào tổng hợp Lý.

Mặc dầu thực ra khả năng của tôi về Toán chắc chắn hơn về Văn rất nhiều, song trong cái năm cuối cùng của cấp 3 ấy, một con người cá nhân trong tôi bừng tỉnh, tôi tha thiết muốn có sự có mặt của mình trong đời, mà lúc ấy thì chỉ có môn Văn mới là con đường ngắn nhất, để tôi tạm gọi là thành danh, tức là tự khẳng định mình.

Còn như nguyên nhân khiến tôi thi trượt thì sao? 

===========

 Sau khi khóc hết nước mắt, và thù đời, và oán trách số phận, và muốn trở nên hư hỏng cho bõ tức … cũng may tôi dần dần xác định được hướng đi của mình. Đaị học Sư phạm không phải nơi tôi mơ ước, song vẫn là chỗ tôi có thể học được. Cái gì nhà trường dạy, lo học thật tốt. Cái gì không dạy thì tự học lấy. Ví dụ như học ngoại ngữ. Tôi báo thù đời bằng cách … học tiếng Nga .

Một khoảng không đã được tạo ra , và tôi tìm thấy hào hứng trong việc lấp đầy nó . Tôi không còn buồn sướt mướt như khi mới vào Vinh.

Tôi quên không nhớ là ai đã nói , đối với một người mới vào đời, thất bại nhiều khi lại cần hơn cả thành công . Vì nó giúp cho người thanh niên hiểu rõ mình hơn. Hiểu rõ năng lực có thực, từ bỏ ảo tưởng và thói kiêu căng vốn gắn liền với tuổi trẻ nhạy cảm.

Xã hội lúc ấy không khuyến khích con người tự lo giành lấy “ một chỗ đứng dưới ánh mặt trời”. Mà ai đã bị đặt vào thang bậc nào thì phải yên tâm nằm chết gí ở thang bậc ấy. Tôi, trong thâm tâm, không công nhận sự sắp xếp ấy . Để tự vệ , những ý nghĩ sau đây đã đến với tôi :

– có thể là lúc ấy mình đã làm bài kém , nhưng thực lực của mình là chuyện khác .

– chỉ mình mới đánh giá chính xác tài năng của bản thân – cái tài năng sẽ đến nếu biết học hỏi .

– Chỉ có cách lao động cật lực để chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai trong việc đánh giá mình .

Sau hơn bốn chục năm nhìn lại giờ đây tôi có thể mạnh dạn nói rằng sự trưởng thành trong suốt cuộc đời phụ thuộc khá nhiều vào cách định hướng cuộc đời của tôi sau khi thi trượt. 






Khi nhận giấy báo chuyển vào Đại học Sư phạm Vinh, tôi đã khóc hết nước mắt. Hồi đó, phương tiện giao thông từ Hà Nội vào Vinh còn kém lắm, xe ô tô hàng phải chuyển qua mấy con phà. Mà tôi thì quá non nớt, nói ra bảo bịa, quả thực lúc ấy tôi đã lẩm cẩm nghĩ bụng rằng làm gì có nơi nào xa đến mức đi ô tô từ sáng đến chiều mới tới (!)

Đại học Sư phạm Vinh lúc ấy mới khai trương được một năm. Chỉ có hai khoa một văn một toán, mỗi khoa hai lớp, tổng cộng 4 gian nhà lá cho 4 lớp. Vì Vinh những năm ấy mùa hè nào cũng xảy ra những vụ cháy, nên tới hè 1963, chúng tôi chuyển lên nhà tầng, thứ nhà chung cư thô sơ (hồi ấy gọi là khu tập thể) mới bắt đầu xuất hiện .

Điều kiện kinh tế thường không phải là lý do làm một người trẻ tuổi lúc ấy buồn. Năm 1961, gọi là ở Hà Nội, nhưng nhà tôi vẫn nhà tranh sân đất. Suốt đời học phổ thông tôi học dưới ánh đèn dầu. Với một học sinh Hà Nội ngoại ô như vậy thì Vinh và những vùng phụ cận khoảng 1961-63 có một đời sống hiền hòa khiến đám thanh niên thấy không có gì đáng phàn nàn.

Nhưng làm khổ tôi hơn cả là cái không khí văn chương khoa Văn Đại học Tổng hợp đặt ở Láng. Người cho tôi biết những tin này là anh Nguyễn Đình Bưu mà tôi dã học chung. Chúng tôi thử làm các bài theo đầu đề có sẵn rồi trao đổi với nhau. Lúc học chia ngọt sẻ bùi, bây giờ anh đỗ tôi trượt, anh cũng thương cảm, thường xuyên viết thư kể chuyện học hành ra sao để tôi biết.

Bưu càng kể càng như xát muối vào lòng tôi. Cuối cùng, không chịu được, tôi quay ra cay nghiệt tị nạnh, oán trách đời bất công, nói đau nói hỗn cả với những người chỉ hưởng cái phần họ đáng được hưởng. Bưu không viết thư cho tôi nữa. Sau này anh tiếp tục hành nghề, về hưu với chức Giám đốc Sở Văn hóa Bắc Ninh.



Cũng may mà cùng với việc chấm dứt viết thư cho Bưu, tôi cũng dần dần xác định được hướng đi của mình. Tạm xem như tôi đang ở đáy vực. Tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện sẽ chọn dạy học làm nghề suốt đời, và càng không nghĩ mình cần trở thành một sinh viên tốt nghiệp giỏi. Nhưng đây vẫn là chỗ tôi có thể học được. Cái gì nhà trường dạy, lo học thật tốt. Cái gì không dạy thì tự học lấy. Ví dụ như học ngoại ngữ. Trừ mấy ông mấy bà chuyên về văn học phương Tây hoặc Văn học Trung quốc — hồi ấy vốn rất lép vế ở các khoa ngữ văn –, còn theo tôi biết nhiều giáo sư ở ta không có thói quen tìm đọc sách báo nước ngoài thường xuyên, nhất là đọc báo và hiểu rộng ra cả cái đời sống nghiên cứu ở một nước ngoài nào đó mà mình theo đuổi. Vì có bao giờ họ được yêu cầu làm việc đó đâu! May mà lúc ấy tôi không nghĩ thế. Tôi nghĩ làm nghề gì cũng phải biết ngoại ngữ. Nghe Bưu nói học ngoại ngữ ở Đại học Tổng hợp năm ấy cũng chẳng hơn trong Vinh bao nhiêu, tôi thêm yên tâm. Ngoài việc theo học trên lớp, phần lớn thời gian tôi dồn cho tự học tiếng Nga.

Một khoảng không đã được tạo ra, và tôi tìm thấy hào hứng trong việc lấp đầy nó. Tôi không còn buồn sướt mướt như khi mới vào Vinh.


Tôi quên không nhớ là ai đã nói, đối với một người mới vào đời, thất bại nhiều khi lại cần hơn cả thành công. Vì nó giúp cho người thanh niên kia hiểu rõ mình hơn. Hiểu rõ năng lực thực của mình, từ bỏ ảo tưởng thói kiêu căng vốn gắn liền với tuổi trẻ nhanh nhạy.

Cụ thể trong trường hợp của tôi, việc chuyển vào học Đại học sư phạm dạy thêm cho tôi một điều nữa. Số phận cá nhân lúc ấy là nằm trong tay những tập thể hời hợt vô cảm. Xã hội không dạy con người học hỏi để tự đánh giá mình. Mà ai đã bị đặt vào thang bậc nào thì sẽ yên tâm nằm chết gí ở thang bậc ấy. Ngược lại — không rõ học hỏi từ đâu nhưng sau việc thi trượt, và phải rơi vào một môi trường mình không lựa chọn –, những ý nghĩ sau đây đã đến với tôi :

– có thể là lúc ấy mình đã làm bài kém, nhưng thực lực của mình là chuyện khác.

– chỉ mình mới đánh giá chính xác tài năng của bản thân – cái tài năng sẽ đến nếu biết học hỏi — và một phần nghị lực của cuộc đời sẽ dành để chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai trong việc đánh giá mình.

– Những điều học được ở trường chỉ là một phần, cái chính của con người mới bước vào đời, là tự học. Phải học lấy hết. Phải tự đào tạo. Tìm lấy cho mình thầy. Tìm lấy cho mình sách.

Chắc các bạn học với tôi ở Đại học Sư phạm Vinh còn nhớ, cả hai năm học ở 1B và 2 B (niên khóa 1961-1963 ), tôi chỉ là học sinh học khá, không bao giờ là học sinh giỏi, càng không bao giờ thuộc loại tiên tiến xuất sắc tuyên dương toàn trường, mặc dù tôi vẫn hết sức chăm chỉ hay lên thư viện mượn sách. Có gì đâu. Cú ngã thẳng cẳng là vụ thi trượt đã giúp tôi gỡ bỏ tâm lý hiếu thắng vốn có từ lúc học Chu Văn An. Giờ đây, tôi không màng cái sự hơn nhau lặt vặt. Tôi không cho rằng phải được điểm cao mới là giỏi văn. Chỉ có sau này trong khi len chân vào trường văn trận bút là giới báo chí xuất bản, dư luận mới đánh giá tôi chính xác.

Lúc bấy giờ cũng đã biết nói ra như thế là kiêu, tôi chỉ im lặng, ai muốn khen chê thế nào, tùy.

Một lý do nữa khiến tôi cám ơn hai năm học Đại học Sư phạm Vinh. Do lần đầu tiên có trường đại học mở ở một địa phương, nên cán bộ giảng dạy thiếu. Chúng tôi thành một thứ học trò năm cha ba mẹ. Khi một thày “mượn” ở trường này, khi một thày “vay “của trường khác (hồi ấytôi có nghe loáng thoáng hai chữ thỉnh giảng ).

Nhất là trường tôi lúc ấy không có những tên tuổi mòn sáo sống lâu lên lão làng, mà có nhiều cán bộ trẻ đầy triển vọng. Đó là các thày Nguyễn Đăng Mạnh Phùng Văn Tửu sau này đều từ Vinh trở về Hà Nội trở thành trụ cột của Khoa Văn Đại Học Sư Phạm, Hoặc thày Hoàng Văn Lân trong môn sử mà tôi không rành lắm.

Sau này tôi còn có nhiều dịp tiếp xúc với Nguyễn Đăng Mạnh như một đồng nghiệp, nhưng chưa bao giờ thấy ông nói về văn hay, như hồi ông dạy chúng tôi phần văn học 1930-45 ở lớp văn 2B niên học 1963-64. Sau này hình như chính ông không để công ghi lại những bài giảng về cả giai đoạn này nói chung mà giành sức viết riêng về Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, nhưng với tôi, phần ông nói hay nhất nồng nàn nhất lúc ấy là về Thơ mới.

Trong phương pháp nghiên cứu, tôi nhớ hai điểm. Một là Nguyễn Đăng Mạnh thường có lối nói rất triệt để. Tay ấy chẳng hiểu gì về văn học cả. Với một đồng nghiệp bất tài, ông sẵn sàng cho một câu phủ nhận sạch trơn như vậy. Hình như với ông thế giới văn học và thế giới đời thường là hai khu vực tách rời hẳn nhau, như sự tách bạch giữa cõi thiêng liêng và cõi phàm tục, và có lẽ nhờ niềm say sưa đắm mình trong cõi thiêng liêng kia, ông có được một sức làm việc mạnh mẽ, giành được một chỗ đứng, mà nhiều kẻ khác bất tài hơn, nhưng may mắn và giỏi luồn lọt hơn, không muốn ông có.

Về phương pháp nghiên cứu, ông cũng bộc lộ một phong cách riêng.Tôi nhớ một lần lên lớp, ông tuyên bố đại ý : Nếu tất cả những luận chứng dưới dây là sai thì tất cả những kết luận mà tôi nêu qua với các chị các anh ở phần trên sẽ lập tức vướt vào sọt rác. Với đám sinh viên chúng tôi, bắt đầu thức tỉnh, song thường ăn nói hàm hồ một cách đáng thương, nghĩa là thích sao nói vậy, chẳng chứng cớ chính xác gì cả — thì lối nói kiểu ấy thật có sức quyến rũ. Người ta có thể từ nó làm lại cả thế giới !

Nếu ở Vinh tôi đã chỉ là một thứ sinh viên thuộc loại hàng tầm tầm thì ra học văn 3 ở Hà Nội, tôi càng như lẫn đi giữa mọi người. Dăm năm sau, thấy tôi đi viết phê bình có bài đăng gần kín trang trên báo Văn Nghệ từ 1965, rồi chuyển về tờ báo danh giá là Văn nghệ quân đội, nhiều bạn bè cũ nửa đùa nửa thực, này hồi đi học tớ không thể ngờ là có lúc cậu đi vào văn chương cơ đấy !

Đơn giản lắm : hôm qua từ Hà Nội vào Vinh, kẻ thi trượt đã như nửa chết nửa sống, thì hôm nay trở về Hà Nội tôi lại là nhà quê ra tỉnh, có khá gì hơn.

Tôi học lớp 3C, thuộc tổ mấy không nhớ, chỉ nhớ anh Phổ miền nam tập kết làm tổ trưởng, anh Luân làm tổ phó. Trong lớp, anh Phạm Tiến Duật cũng như anh Nguyễn Đình Ảnh là nổi nhất. Tính chung trong cả khối còn có Nghiêm Đa Văn mà tôi có biết từ hồi học phổ thông, có Nguyễn Khoa Điềm. Điềm tôi không quen, lại ở khác phòng. Nghe các bạn bàn nhiều về Điềm, nên một vài lần đi qua phòng anh, tôi cũng để mắt quan sát. Nhớ nhất là chồng sách anh để đầu giường, toàn những cuốn tiếng Pháp dày cộp. Năm ấy, Điềm làm khóa luận về văn học phương Tây, đâu là một vấn đề gì đó của Balzac tôi nghe mà lắc đầu bái phục.

Không đợi sau này nhiều người phát hiện,mà ngay hồi ấy, từ Vinh ra, tôi đã thầm nghĩ mình đang học với một lớp sinh viên đầy tài năng. Các anh ấy tự tin coi văn học như một ngành hoạt động đầy thú vị.Và các anh ấy hiểu nó, yêu nó. Nhiều sinh hoạt văn học như các đêm thơ, đêm giao lưu nghệ thuật với các trường khác, các anh Lâm Quang Ngọc, Nghiêm Đa Văn, Phạm Tiến Duật, Tô Hoàng …to cao đẹp giai mặc com-lê lên biểu diến ai cũng xem như niềm tự hào của nhà trường. Cố nhiên trong những buổi ấy tôi chỉ đóng vai người xem hoặc đi kê bàn kê ghế gì đó. Sinh viên nội trú đều nằm giường ba tầng. Tôi nằm giường trên thì Phạm Tiến Duật nằm giường dưới, song đâu có bao giờ chúng tôi trao đổi với nhau về văn chương. Với Duật, văn chương là những bài thơ lúc nào Duật cũng chăm sửa trong đầu và chuẩn bị để mai kia gửi báo nào đó.Tôi thì túi quần lúc nào cũng chỉ có cuốn sổ từ tiếng Nga hoặc lơ mơ nghĩ tới đống sách khô cứng mà ở Vinh không có. Cho đến khi cùng đi bộ đội, gặp nhau ở Hát Lót Sơn La, câu chuyện trao đổi vẫn chỉ là mấy nét sinh hoạt thời lính. Nhớ hơn cả về Duật sau mấy tháng Tây Bắc là câu thơ vui “người làm thơ đó đang trai—trên hai cổ áo có hai lá cờ “, ý nói đang làm chân binh nhì.

Một năm học văn 3, giúp tôi sống cái cảm giác của một sinh viên Hà Nội. Nhà tôi vẫn ở Thụy Khuê. Chiều thứ bảy, không buộc phải về chiếc giường nội trú, đôi khi tôi lách ngay ra cái cổng sau nhà A. 7, băng qua cánh đồng ngô, rồi chạy bộ tiếp đoạn đường từ Trường Đảng đến chợ Bưởi. Ngày trước từ đường Hoàng Hoa Thám mà chúng tôi quen gọi là Đường Thành nhìn xuống, chỉ một con đường ngòng nghèo chuyên trồng sòi. Nay đường nhựa đã mở nhưng chỉ lưa thưa vài cái xe đạp và có khi cả ngày mới có dăm chiếc ô tô đi qua. Đã tới làng Nghĩa Đô của anh Bưu, qua trước cổng nhà anh, nhưng tôi đầy mặc cảm không dám rẽ vào hỏi thăm gia đình.

Chợ Bưởi với tôi có nhiều duyên nợ. Từ trước 1954, bà chị hơn tôi sáu tuổi sống bằng gánh hàng chai lọ thủy tinh và tam phong bóng đèn một tháng sáu phiên có mặt ở chợ. Những phiên giáp tết, chị tôi trải những tấm cót rồi bày riêng ra một quày hàng. Khách đi chợ tết lại đông, tôi thường lên chợ trông hàng giúp chị. Phiên chợ Bưởi tết Giáp thìn 1964 cũng vậy. Sau này anh Tô Hoàng có kể là hôm ấy các anh đi qua, thấy tôi mải cắt mấy cái bấc đèn cho khách, sợ tôi ngượng, nên không dám hỏi.

Về mặt chuyên môn, cũng không bao giờ tôi phải hối tiếc vì cái năm xung phong đi học văn 3 đó. Nếu trường Vinh như một ngôi chùa lớn lánh xa cõi tục giúp cho kẻ thất bại lấy lại chút bình tâm và cả nghị lực, ngồi bình tâm tiếp xúc với nguồn giáo lý trừu tượng thì Đại học sư phạm Hà Nội mở ra trở lại cho kẻ ấy khung cảnh kỳ vĩ của cuộc đời.Quay về trung tâm văn hóa lớn nhất của miền Bắc, các tối thứ bảy loanh quanh thế nào tôi cũng tìm được ít thời gian để mò đến cửa hàng sách ngoại văn Tràng Tiền ( ở địa điểm của cửa hàng Bodega ). Sau này tôi mới biết trước chiến tranh đó là nơi gặp mặt thường xuyên của những sinh viên ham học. Không thể hướng tới Anh Mỹ, thì hồi đó người ta tạm bằng lòng với sách tiếng Nga tiếng Trung quốc, phần sách Pháp do Nga xuất bản. Hầu như thứ bảy nào cũng có sách mới, lý do tối thứ bảy cửa hàng tấp nập là vì vậy. Thư viện quốc gia với tôi đã quen từ hồi học Chu Văn An, hồi đó học sinh cấp III đã được vào đọc. Hồi học văn 3, có tối, Thư viện tổ chức nói chuyện về tập Bài thơ cuộc đời của Huy Cận. Tôi và Nguyễn Hải Lộc ( sau công tác ở NXB Hải Phòng) rủ nhau đi bộ lên Cầu Giấy rồi đáp tàu điện lên nghe. Đến lúc về, đã hết tàu điện, chúng tôi đành rủ nhau đi bộ. Con đường từ Tràng Thi xưa tới Cầu Giấy vốn trải nhựa đen, dưới ánh đèn đêm, bỗng trở nên bí ẩn kỳ lạ trong vẻ hoành tráng của mình. Đây là một vẻ đẹp của Hà Nội mà mãi tới lần ấy tôi mới biết. Người ta vẫn bảo nhau, thật ra, phần lớn người Hà Nội rất ít biết về Hà Nội ban đêm.

So với hồi học ở Vinh, học theo các bài bản vốn có, ở văn 3 chúng tôi học theo chương trình thể nghiệm, tức là dừng lại ở một số chuyên đề, giảng kỹ rồi cho sinh viên thảo luận. Có những chuyên đề gọi là mới, nhưng cũng cũ mèm.Nhưng có những chương trình đối với tôi hết sức hấp dẫn, như các bài giảng về văn học Việt Nam 45-60 của thày Huỳnh Lý. Lên lớp nghe thầy Hoàng Tuệ giảng về ngôn ngữ, tôi thực sự cảm thấy mình được đối xử như một người tập sự nghiên cứu.Vốn cho rằng văn học nước ngoài là cái phải có sự học hỏi thật gấp, lại nhân học tiếng Nga, sau phần học văn học Nga – xô viết, tôi xin viết khóa luận về A. Tchekhov. Các buổi tự học tôi thường chọn một lớp học nào vắng người ở khu nhà tranh cặm cụi đọc lấy vài đoạn trong tạp chí Voprosy literatury viết về Tchekhov để đưa vào bài. Thày Nguyễn Hải Hà làm phản biện, thày Đỗ Xuân Hà —có ai nói đùa hẳn nhân vật Pier Bezhukhov trong Chiến tranh và hòa bình chắc trông cũng nhang nhác thế —hướng dẫn đều tỏ ý khuyến khích tôi nên đi vào tiếng Nga theo hướng này. Lời khuyên đó nhiều năm sau còn giúp tôi thêm tinh thần tự học.

Tôi nhớ hồi ngồi phân tích Lời Kỹ nữ của Xuân Diệu, cách làm thông thường ở lớp văn 3 có chất đại học rõ rệt ấy vẫn là đem so sánh với Trên dòng Hương Giang của Tố Hữu, để rồi nhấn mạnh một bên thương yêu cứu giúp những người lầm lỡ, bên kia hưởng thụ, và đẩy con người ta chìm sâu vào vũng bùn trụy lạc. Trong bụng tôi nghĩ không phải thế, thật ra Xuân Diệu tìm thấy thân phận mình trong thân phận người kỹ nữ. Nhưng tôi thấp cổ bé miệng, nói có ai nghe. Thay cho tranh cãi, tôi ngồi chép lại cả phần thơ trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, cả Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Lửa thiêng, Tiếng thu…, trong một quyển sổ giấy đen. Đến nay tôi còn giữ được quyển sổ ấy, mỗi lần nhìn vào, thấy thật là chép trong đắm đuối, chép lấy được. Nhưng một năm trước ở Vinh tôi làm sao có được những tài liệu quý đó, và hai chục năm sau khi ra trường, mãi tới khoảng 1984, đó vẫn là thứ văn chương độc hại, tới các thư viện, phải có giấy giới thiệu đặc biệt mới được đọc, và một nhà nghiên cứu trẻ sẽ sớm cảm thấy dở hơi, nếu trong một bài viết lại thú nhận là mình đã đọc và mê những vần thơ đó - một năm ở Hà Nội lại thêm kỷ niệm đáng nhớ !

Một người có ý chí không chịu đầu hàng sự thất bại, tiếp theo là sự săp xếp an bài của các thế lực vô cảm. Tôi còn may mắn ở chỗ, sau khi thi trượt, được sống ở môi trường sư phạm, một môi trường vào những năm ấy vừa không bị trói buộc vào chính cái vai được giao,vừa đầy khao khát tự khẳng định. Tinh thần trên còn dẫn giắt và nâng đỡ tôi, suốt thời gian dài từ sau khi ra trường cho tới hôm nay./.


Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5

 Tôi nhìn lại tôi - tự truyện kỳ 5 

5.Chuyển chế độ. Đời sống văn hóa tinh thần ở Hà Nội năm 55 – 57

Cái ngõ nhỏ trên phố Thụy Khuê tôi ở là đất làm ăn của những người bán xôi và ngô khoai sắn, của những người công nhân nhà máy xe điện, nhà máy giặt nhà máy da, và một cơ sở trồng hoa và ươm cây của thành phố mà bọn trẻ con chúng tôi bắt chước người lớn thường gọi là La Pho. Dĩ nhiên không có cánh quân nào đó của Trung đoàn thủ đô tiến vào tiếp quản Hà Nội đi qua phố tôi và sự kiện 10/10/1954 không để lại trong tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Tôi chỉ nhớ việc lớn lúc ấy là mỗi gia đình phải lo mua sắm lấy một lá cờ đỏ sao vàng và những ngày lễ - ngày lễ hồi ấy chưa nhiều như sau này – phải treo trước cửa nhà. Rất nhiều cuộc họp đã được tổ chức để phổ biến chính sách mới. 

Chế độ mới trước tiên mang lại nhiều vấn đề kinh tế. Tự nhiên thấy lan truyền nỗi lo về nạn đói và cấp trên phổ biến bắt đầu một phong trào chống nạn đói bằng cách trồng khoai ụ. Thông thường thì khoai phải trồng thành luống trên ruộng. Nhưng chúng tôi đang ở thành phố lấy đâu ra đất để trồng, thế là người ta nghĩ ra cách là đan nứa quây thành vòng tròn như cái nia rồi đổ đất vào trong và gọi là ụ. Có nhà trồng đến 2,3 ụ trong sân dù sau này thu hoạch chẳng được bao vì lấy đâu ra đất tốt mà đổ ụ, lấy đâu ra kinh nghiệm làm ăn sản xuất của những vùng nông thôn lâu đời. 

Thuộc về những ân huệ mà chế độ mới mang lại, có một lần thấy phổ biến là mỗi gia đình được mua một cân đường với giá rẻ gần như cho không. Với ngõ 105 Thụy Khuê chỗ tôi ở thì địa điểm phát đường là nhà máy giặt. Mỗi gia đình cử một người ra xếp hàng từ 4,5 giờ sáng, tới gần trưa trở về cha con vợ chồng hoan hỉ như bắt được vàng.

Xuất hiện một danh từ mới gọi là hội trường tức là các địa điểm họp. Trong các hội trường thường thấy treo ảnh các lãnh tụ. Phổ biến nhất lúc bấy giờ là ảnh Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Bun–ga-nin rồi sau là Ma-len-cốp. Các ảnh đó thường được dệt trên vải cho bền. Còn trong các hiệu sách thì khá nhiều tranh ảnh trong đó tôi thích nhất là tấm ảnh một thiếu niên Trung quốc quàng khăn đỏ, tay ôm một chú bồ câu xinh đẹp. Dưới bức tranh có dòng chữ vuông đọc theo âm Hán Việt là Ngã môn nhiệt ái hòa bình đại khái có nghĩa là Chúng tôi rất yêu hòa bình. Bố tôi đã mua bức ảnh này và mãi dăm năm sau mới bỏ đi.

Tất cả như được tháo tung. Cuộc sống trở nên ồn ào vô kể. Có rất nhiều buổi liên hoan và do chưa có kinh nghiệm bao giờ nên các buổi tụ họp đông người ấy được người ta tổ chức rất luộm thuộm. Mà họp thì ít, chấn chỉnh nhau với hò hát thì nhiều. Cánh thanh niên và đám trẻ con chúng tôi thì được dạy nhiều bài hát, đáng kể là những bài ca ngơị hòa bình như là bài sau đây:

Đầy đồng lúa ngát thơm

Quanh quanh núi xanh rờn

Tây Bắc tiếng cười vang vang

Suối reo trong màu lá vàng


Hòa bình trở về với ta

Bướm ong nô đùa bên hoa

Tôi cũng nhớ không hết tất cả các tài liệu tuyên truyền được đọc hồi ấy, nhưng bên cạnh những hồ hởi trong tiềm thức của tuổi trẻ, bắt đầu tôi đã thấy nhen nhóm lên những sự ngờ vực nho nhỏ đôi khi là sự khó chịu.

Cuộc sống “mới” được các cán bộ tuyên truyền đâu về vẽ lại bằng những nét nguệch ngoạc. Người ta cứ tuyên bố như là nay mai sẽ là thật sung sướng thật hạnh phúc, tuy rằng hạnh phúc với nghĩa có cơm ngon canh ngọt quần áo sang trọng chưa thấy đâu mà trong cuộc mưu sinh hàng ngày chỉ toàn thấy những khó khăn.

Chế độ mới có vẻ thù ghét những người giàu có sang trọng. Chỉ thấy hồ hởi nhất là đám trẻ nghèo, ngày ngày rỗi rãi đi họp đi hành, còn đám người mải làm ăn thì lẫn vào bóng tối. 

Việc làm ăn sinh sống của các gia đình tự nhiên rất khó khăn. Riêng cái việc luôn luôn tổ chức phong trào nọ phong trào kia đã làm người ta mất thì giờ rất nhiều. Tuần nào cũng có những buổi tổng vệ sinh quét rác, nhưng hàng ngày thì người dân vẫn đổ rác vô tội vạ, quét nơi này lại đổ sang nơi khác.

Chế độ mới quá coi trọng việc làm ra của cải mà không nghĩ tới chuyện phân phối, chia sẻ các của cải đó cho mọi người. Việc buôn bán bị lên án. Chị tôi từ nhiều năm trước có gánh tam phong bóng đèn và các đồ thủy tinh gia dụng đi bán rong. Nay chị được vận động bỏ gánh hàng rong đó đi công trường xấy dựng chỗ này chỗ nọ. Các công trường được mọc ra với tổ chức rất luộm thuộm và năng suất rất thấp. 

Sau này khi đọc cuốn hồi kí Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy ông có viết một đoạn về sự sản xuất ở Miền Bắc sau năm 54 khá cụ thể. 

 Vì chính sách “hồng hơn chuyên", sự quản lí xí nghiệp rất kém: không làm kế toán đàng hoàng, cuối năm không tính lời lỗ, nhiều xí nghiệp không biết thu được bao nhiêu, tiêu mất bao nhiêu, mất mát bao nhiêu.

Khi thấy công việc không chạy, người ta không nghĩ cách cải thiện phương pháp làm việc, cứ tuyển thêm người, tuyển thật nhiều mà hầu hết không biết việc, rốt cuộc số tiền trả lương thợ tăng hơn sức sản xuất nhiều. Theo G. Chaffard thì nhà máy xi măng Hải phòng trong một năm, số thợ tăng 34%, số lương trung bình tăng 24%, như vậy là số tiền trả lương tăng gần 70%, mà sức sản xuất chỉ tăng có 3,5%.


Chế độ mới tự tuyên bố là thuộc về nhân dân lao động và chính quyền mới là của nhân dân lao động. Từ chân tổ trưởng tổ phó dân phố trở lên cứ ai nghèo là được trọng dụng, còn cái việc họ chỉ họp và nói nhiều, chẳng có sáng kiến gì hết… thì lại được ca ngợi. Những người có học sớm cảm thấy mình bị ra rìa thậm chí có tội vì đã tách rời nhân dân lao động. Việc này sẽ kéo dài suốt những năm về sau khiến cho tinh thần học tập của lớp trẻ ngày càng sa sút.

Do tổ chức kém nên nhiều phong trào rất rầm rộ ban đầu, sau cũng lép xẹp, mà đó lại là việc liên quan đến đời sống của các gia đình trong ngõ khiến cho mọi cuộc vận động mất dần uy tín. Ví dụ như cạnh nhà tôi có một gia đình đông con được vận động là nên làm kinh tế mới ở miền núi Phú Thọ Tuyên Quang. Mà gia đình người ta đâu có kinh nghiệm về làm ăn sản xuất, kết quả là ít vốn dành dụm ở Hà Nội mang lên tiêu pha mất hết, mọi việc canh tác dở dang rồi vợ ốm con đau do không hợp thủy thổ khí hậu, cuối cùng đánh liều bỏ nơi kinh tế mới mà về và trở thành chí phèo, tùy tiện làm ăn bất chấp chính sách.

Nếu kinh tế làm ăn buôn bán sát với đời sống bị coi thường thì các loại chủ đề chính trị nhiều khi đang là chuyện đâu đâu lại nhảy bổ vào đời sống người ta thành chuyện quan trọng. Nhẹ nhàng như đưa mọi người vào tổ chức nào thanh niên nào phụ nữ nào thiếu nhi, mà nặng nề nhất là việc đăng kí hộ khẩu. Nhưng công việc rất quan trọng và rất nghiêm túc này lại được giao cho những người ở các vùng tự do cũ trong kháng chiến nhất là người khu 4 từ Thanh Nghệ trở vào. Họ không biết việc và trình độ thì thường là rất yếu khiến công việc rất mất thời giờ và không kết quả.

Từ việc đọc các tài liệu tuyên truyền, người dân luôn luôn rót rằng đây là xã hội rất tốt đẹp không gì có thể hạnh phúc hơn. Vào trong sách vở, tôi thường thấy người ta tuyên bố là Chủ nghĩa cộng sản là thiên đường của nhân loại. Tôi mới 13 14 tuổi nhưng đã sớm cảm thấy rằng điều đó giống như một sự huyênh hoang, người nào tuyên bố rằng mình là nhất thì thường thường lại kém hơn là những người ít huyênh hoang khác.

Thực ra ngay từ hồi học cấp 2 tức là khoảng từ 1957 1958 trở đi tôi đã là cậu học sinh ham hố muốn biết những điều gì bên ngoài mình thậm chí là cả những điều không được phép.


Một ngày cuối năm 56, trên con đường Hàng Ngang Hàng Đào, tôi còn nhớ có rất nhiều khẩu hiệu ghi rõ là kỉ niệm 12 năm ngày thành lập Đảng dân chủ Việt Nam (30/12/1944 – 30/12/1956), bên cạnh các khẩu hiệu quảng cáo của một nhà thuốc tiêm mang tên là Labauratoire Vita.

Tôi lờ mờ cảm thấy rằng trong xã hội đang có một chuyện gì lớn lắm.

Nhưng hàng ngày tôi vẫn tìm cách ra cổng sở xe điện để nghe bản tin của đài tiếng nói Việt Nam. Mười hai giờ rưỡi chiều hàng ngày tôi mới phải từ gia đình ở xóm Ổi Thụy Khuê tới trường Chu Văn An, nhưng trước đó sau khi ăn cơm trưa xong xuôi, tôi vẫn cố dành ít thời gian để lên cổng Nhà máy da cách nhà tôi khoảng 500m để đọc báo Nhân dân, dán trên một bảng thông tin.




Câu chuyện của người tự học

 Câu chuyện của người tự học

Ngày đăng 17/8/2015

 

1. Lời khuyên đầu tiên.

Ở trường đại học ra, sau khi thu xếp được một chỗ làm việc tàm tạm, cái việc mà một thanh niên tự trọng hiện nay phải lo đầu tiên, theo tôi chưa phải là lo học thạc sĩ rồi lần lên tiến sĩ... mà là học để có được một ngoại ngữ có thể sử dụng tự do và trước tiên, dư sức đọc các tài liệu chuyên môn.

Mỗi khi có dịp trò chuyện với các bạn trẻ, lời khuyên đầu tiên tôi muốn nói - nếu như được yêu cầu có một lời khuyên - đơn giản như vậy. Đây là kinh nghiệm tự học của tôi, mà cũng là điều tôi rút đúc được, qua nhiều thành bại của các đồng nghiệp.

 

2. Nhận rõ vị thế của mình!

Các trường đại học mà bọn tôi theo học nhà cửa đơn sơ, phòng học nhiều khi chỉ là mấy gian nhà lá trống trải, sách vở và phương tiện thiếu thốn, cổ lỗ.

Nay các trường đại học ở ta đã khang trang to đẹp hơn nhiều.

Nhưng, theo chỗ tôi hiểu, trước sau trình độ đào tạo ở ta vẫn vậy, người sinh viên ra trường thường không nhập được vào guồng máy sản xuất của xã hội, còn so với trình độ đại học ở các nước tiên tiến thì lại càng không theo kịp (giá có muốn xin việc ở nước ngoài cũng không ai người ta nhận!)

Chúng ta chỉ được đào tạo rất sơ sài..., chắc chắn đây là điều mà các bạn trẻ đã nghe nhiều lần.

Song biết lơ mơ là một chuyện, mà ghi tạc nó vào tâm trí, để biến thành ý chí, nghị lực trong hành động lại là một chuyện khác.

Mà chỉ khi nào người sinh viên ở trường ra thấy đau đớn khổ sở vì mình chưa được học đến nơi đến chốn, tiếc cho tuổi trẻ của mình không vươn tới được cái tầm lẽ ra nó có thể vươn tới... thì người ta mới bắt tay vào tự học thực sự, tự học có kết quả.

Nhưng làm thế nào để biết rằng mình còn đang kém cỏi, nếu không đọc rộng ra sách báo nước ngoài. Xin phép được lấy ví dụ từ kinh nghiệm bản thân: Nhờ tự học tiếng Nga, hiểu văn học Nga (và chút ít văn học phương Tây qua tiếng Nga) mà tôi có điều kiện để nhìn nhận văn học Việt Nam phần nào thấu đáo hơn, cũng như quan niệm của tôi, cách hiểu của tôi về văn học nói chung, trong chừng mực nào đó, cũng trở nên hợp lý hơn. Một số bạn trẻ gần đây chỉ lo học ngoại ngữ để giao thiệp, trong khi đó học để đọc sách, kể cả “đọc” qua máy tính... mới là việc chủ yếu của người muốn tự học.

3. Tinh thần lập nghiệp.

Ta chỉ hay nói lớp trẻ nên khiêm tốn biết ơn những người đi trước...

Song có một tinh thần nữa mà người thanh niên ngày nay phải thấm nhuần, ấy là không thoả mãn với kiến thức được truyền thụ, coi rằng moi việc người trước đã làm đều chưa hoàn thiện, thế hệ mình còn phải tiếp tục; hoặc trong khi chấp nhận sự hoàn thiện của người đi trước, thì vẫn tin rằng thế hệ mình sẽ có cách làm khác, để đi tới một sự hoàn thiện mới.

Về mặt đạo đức mà xét, cách tốt nhất để thế hệ đi sau tỏ lòng biết ơn với những người đi trước, là tìm cách vượt lên trên họ.

Sự hiểu biết kỹ lưỡng về thành tựu của những người đi trước là nhân tố có vai trò kích thích người trẻ tiếp tục khai phá mở đường.

4. Mấy “chiêu thức” cần thiết.

Có nhiều “động tác” mới nhìn tưởng là chuyện nhỏ, song lại có ý nghĩa quyết định và các bạn trẻ mới bắt tay tự học nên biết:

a/ Các loại sách từ điển bách khoa cho phép người ta có được bức tranh toàn cảnh về một lĩnh vực kiến thức nào đó, bởi vậy, với những người tự học, là một công cụ thật thuận tiện. Vả chăng không phải chỉ tra một từ điển, mà có khi mò mẫm tra nhiều từ điển khác nhau, để tìm ra cái tối ưu. Khi sử dụng Bách khoa toàn thư, không nên quên theo dõi phần thư mục của nó, để tìm xem chung quanh vấn đề mình đang theo đuổi có những quyển sách nào đáng đọc nhất, rồi dành thời gian đọc bằng được. Theo cách này, tôi đã có thể hiểu kỹ thêm vài môn học mà quả thực, lúc học ở trường, chưa được các thày dạy, hoặc dạy quá sơ sài, thậm chí là dạy sai nữa.

b/ Trong khi tự đặt cho mình một kỷ luật làm việc, đồng thời ta nên dành ra những khoảng trống tự do, để từ lĩnh vực mình phải học, đọc lấn sang các lĩnh vực khác.

Ví dụ, trong khi học về văn học, tôi đồng thời có ý tìm đọc thêm sách sân khấu, hội hoạ, có lúc lan man sang cả sinh học, cơ học lượng tử... Không bao giờ tôi coi những bước lang thang này là mất thì giờ, ngược lại, thấy biết ơn những kiến thức xa lạ ấy, vì nhờ có chúng, những suy nghĩ của tôi về văn chương và đời sống trở nên mềm mại hơn.

c/ Nên biến việc tự học thành một việc hữu ích. Tức là người tự học cũng nên tính tới những sản phẩm cụ thể, và nếu những sản phẩm này biến thành hàng hoá, mang lại cho đương sự một số tiền nho nhỏ thì...càng tốt. Tôi nhớ hồi đang mê đọc các thứ lý luận về tiểu thuyết, tôi đồng thời nhận làm các bản lược thuật cho Viện thông tin khoa học xã hội chỗ anh Lê Sơn.

Đáng lẽ chỉ tuỳ tiện ghi lại kiến thức vào sổ tay thì tôi phải trình bày lại chúng một cách sáng sủa, để người khác có thể sử dụng được. Tiền thu được chẳng là bao, nhưng nó buộc tôi phải làm công việc của mình một cách nghiêm túc.

5. Bản lĩnh và may mắn.

Bên cạnh yếu tố chủ quan của người đi học, thì việc học hỏi thành bại hay không còn phụ thuộc vào ông thầy. Người tự học phải biết tìm thầy cho chính mình.

Và nếu như sau một thời gian đọc hàng núi sách, anh chợt nhận ra mình toàn loay loay với những cuốn sách hạng ba hạng tư, thời giờ đã mất, mà kiến thức thu được chẳng bao nhiêu, thì người đáng để anh ta buông lời trách móc lại là chính bản thân anh - oái oăm là ở chỗ đó!

Thường nhìn vào khoa học, người ta dễ bắt gặp một khung cảnh ồn ào lộn xộn.Vậy nên khi bước vào đó, người tự học luôn luôn cần có một chút tỉnh táo để biết trong trường hợp của mình, thầy nào đáng theo, sách nào đáng đọc kỹ trước tiên.

Tức là phải có được một bản lĩnh nhất định, và cả một chút may mắn nữa.

Nói là phải đọc hàng ngàn cuốn sách, hàng vạn bài báo khác nhau, song người có kinh nghiệm đều biết trên con đường tự học thực ra chỉ có một hai cuốn sách nào đó với bản thân là có ý nghĩa nhất: những quyển sách ấy làm thay đổi cả hướng đi của mình, do đó cả cuộc đời mình.

Nếu như bằng trực giác, bằng mẫn cảm, ta đã tìm được một hai cuốn sách lớn, và biết coi nó là bạn đồng hành suốt đời, đọc mãi không chán, thì hoàn toàn có thể tự coi là mình biết học, và may mắn ấy, không phải ai cũng có.

Nhấn mạnh một chút hên xui không phải để làm chùn bước các bạn trẻ: chính những đỏng đảnh bất định này lại là chút muối mặn mà làm cho công việc tự học của chúng ta không bao giờ nhàm chán.

Trong số rất nhiều định nghĩa về con người hiện đại, có một định nghĩa đơn giản như sau: Đó là con người biết làm ra chính mình.

Theo tiêu chuẩn này mà xét, thì người biết tự học luôn luôn là con người hiện đại.

.Khi những trang truyện câu thơ dân dã

 3.Khi những trang truyện câu thơ dân dã trở thành niềm an ủi của một đứa trẻ cô độc

Bà mẹ kế của tôi vốn quê Lã rượu Từ Sơn lại từng theo gia đình lên làm ăn ở vùng Đáp Cầu, nên khá thông thạo về cái mà sau này tôi được học và gọi là văn học dân gian. Trong những câu nói hàng ngày, bà sử dụng nhiều ca dao tục ngữ. Khi chuyện trò với những người hàng xóm, bà hay dẫn lại nhiều truyện cổ tích và truyện nôm dân gian. Tôi thường nghe hóng và nhớ lại hai truyện sau đây.

Thứ nhất là truyện Phạm Công Cúc Hoa và một phiên bản tương tự là Tống Trân Cúc Hoa. Tôi không nhớ thật rõ cốt truyện các truyện nói trên chỉ mang máng nhớ là trong đó kể lại cuộc đời của những người đàn bà nghèo khổ lại có chồng phải đi xa. Nhưng tôi nhớ nhất là những chi tiết về tình cảnh một người mẹ mất sớm để lại hai đứa con mồ côi. Có lần trên đường lang thang xin ăn, hai chị em gặp lại người mẹ nhưng là một bóng ma trong đêm tối hiện hình thành người trò chuyện với các con. Tôi đã nhiều lần sùi sụt nước mắt khi nghe kể đoạn cuối, khi trời sáng, bóng ma người mẹ bảo các con rằng các con xoay lưng lại đây để mẹ bắt chấy cho con, nhân đó mà biến khỏi mặt đất, trở về cõi âm phủ.



Thứ hai là truyện Trương Chi, người xấu mà nhờ tiếng hát hay nên làm cảm động cô con gái con quan tên là Mị Nương, nhưng đến khi nhận ra bộ mặt xấu xí của chàng, thì lại lẩn tránh, khiến chàng Trương Chi về tự tử và hồn nhập vào một cây bạch đàn.

 “Đến khi thừa tướng đi làm quan 

mua được cây gỗ bạch đàn về chơi” 

rồi cha con ông ngồi uống nước và thấy trong chén trà hiện hình bóng Trương Chi. 

“không cầm lấy chén thì thôi, 

hồ cầm đến chén lại nhớ người hò khoan, 

cô Mị Nương đau đớn can tràng

Hạt châu rơi xuống vỡ tan tính tình”. 

Khỏi phải nói, tôi sớm tìm thấy trong Trương Chi một phần bóng dáng của mình trong tương lai. Mọi đứa trẻ xấu xí khi ra đời làm sao mà có được cuộc sống sung sướng. 

--   

Ở nhà trường tiểu học tôi đang theo học, hồi ấy chúng tôi chưa biết thưởng thức văn xuôi, mà chỉ thấy nhớ các bài học thuộc lòng. Ví dụ như bài sau đây đọc lên nghe vui vui

Hôm nay thằng nhỏ xin ra

Cho nên em phải ở nhà thổi cơm

Nổi đồng thổi gạo tám thơm

Tính em háu đói đốt rơm bốn bề

Ai ngờ quá lửa thành khê

Mẹ em mắng mãi thẹn ê cả người

Em xin các bạn đừng cười

Xưa nay em vốn tính lười nấu ăn

Cả ngày chỉ mải làm văn

Hễ sờ đến bếp là nhăn nhó rồi

Cơm thì dưới nát trên ôi

Đấy em cô gái tân thời giỏi chưa

Thầy Vũ Đăng Mão ở trường Đại Yên mà tôi học ba năm ấy cũng là người thích làm những câu vần vè tương tự. Tôi nhớ là để răn dậy chúng tôi đừng nên vòi vĩnh theo bố mẹ đi ăn cỗ, thầy đã cho cả lớp chép một bài văn vần mà tôi nhớ mấy câu đầu

Miếng ăn quá khẩu thành tàn

Học sinh cần phải lo toan học hành

Trông vào đám cỗ làm thinh

Chớ nên thấy cỗ lại rình đi ăn


Để diễn tả nỗi ấm ức trong lòng về nhiều chuyện gia đình tôi cũng đã có lúc thử làm mấy câu vần vè và chỉ ghi lại vào một tờ giấy rồi vứt đâu đó. Cũng giống như hồi đó chỉ thỉnh thoảng tôi mới có tiền, do một bà cô tôi nhà khá giả hơn dúi vào tay, và tôi đã biết cất giấu bằng cách khâu cả một cái túi nhỏ có sợi dây thút nút đeo trong người.


--

Vẫn những mẩu chuyện thời tạm chiếm. Dọc đoạn đường ngắn ngủi từ sở xe điện đến sở “la pho” ở phố Thụy Khuê, nhìn vào nhiều nhà tôi bắt đầu nhận thấy có những chiếc radio sang trọng phát ra âm nhạc và tiếng nói.

Báo chí thì nhiều hơn, đó là mấy tờ báo hàng ngày tôi nhớ có một tờ mang tên là Tia sáng tờ nữa mang tên Thời mới. Báo chí hồi ấy dành rất nhiều không gian cho quảng cáo và bao giờ ở cuối trang ba, cũng để dành chỗ cho một truyện dài đăng nhiều kỳ, kể cả truyện Tây Du đã rất quen thuộc.

Có một bài hát của Phạm Duy: “Nhà ta ta cứ xây, đồng ta ta cứ cày, diệt xong quân Pháp kia…” khi vào Hà Nội chỉ đổi thành “… diệt xong quân cướp kia…” chứ nó vẫn được lưu truyền bình thường.



NHỮNG CỬA HÀNG CHO THUÊ TRUYỆN

Ngoài các hàng tạp hóa và hàng ăn, hiệu ảnh và hiệu giặt là, quãng đường Thụy Khuê mà hồi đó tôi sống còn nổi bật nhất hoặc đúng hơn đối với tôi đáng nhớ nhất là các cửa hàng cho thuê truyện.

Cùng ở vùng nông thôn tản cư quay về Hà Nội hồi đó, trong cái ngõ 105 giờ đây biến thành chợ, bên cạnh gia đình tôi còn có gia đình mấy ông anh gọi bố tôi là cậu và mặc dù trong chiến tranh vẫn tiếp tục cái nghề truyền thống của Đông Hồ làng tôi là làm vàng mã kể cả một thứ mà bây giờ không được phổ biến là làm bạc. Người ta lấy những tấm bia các tông lớn lề về đục thành từng đồng hào to, bọc bằng một lớp giấy bạc rồi cho nện hoa văn lên trên và mang bán trên thị trường. Mấy người anh chuyên làm bạc thời đó, có một điểm làm cho tôi đặc biệt hấp dẫn là thường sai tôi đến các cửa hàng cho thuê truyện, Đi thuê truyện cho các anh thì tôi được đọc lây và sau đó được nghe các anh bàn bạc.



Trong số những cuốn sách mới viết thời tạm chiếm, có một hồi tôi thấy nhắc nhở đến nhiều nhất là truyện Đồi thông hai mộ.

Anh Đinh Lăng giờ đây đâu nhỉ

Anh của em yêu quý nhất đời

Những cửa hàng cho thuê truyện mà tôi vừa nói ở trên hình như còn tồn tại cho đến suốt cả năm 1955, tức là khi bộ đội ta đã về tiếp quản thủ đô. Trong số truyện dài mà tôi đọc ghé cùng với các anh, thuộc về ngòi bút của các tác giả Tự lực văn đoàn, cùng với Hồn bướm mơ tiên và Tiêu sơn tráng sĩ, còn thấy có nhiều truyện của Lê Văn Trương, trong đó có một truyện mang tên là Kẻ đến sau.

Lớn hơn một chút, nếu hỏi truyện dài nào đi thuê được hồi bấy giờ mà tôi thấy thích hơn cả, thì tôi xướng lên nhà văn Nguyễn Xuân Huy với Duyên Bích Câu. Truyện kể về những mối tình nên thơ của các cô gái dệt lụa làng Bích Câu và các chàng trai học trò chuẩn bị đi thi. “Một buổi sáng trời thu trong mát, trời trong như ngọc lưu ly, trước đình làng Bích Câu, mấy cô gái đang ngồi giặt lụa. Vừa giặt các cô vừa khe khẽ hát.

Đêm qua gió lọt song đào

Để cho hương ấm lọt vào phòng em

Sáng nay trời đẹp như duyên.

Lòng em mơ tới Trường Yên với chàng.”




Nhưng thú vị nhất trong số sách đọc được ở các cửa hàng cho thuê sách truyện hồi bấy giờ, tôi vẫn nhớ nhất là những quyển tiểu thuyết Tàu.

Trong đời sống của Hà Nội trước 45 và được tiếp tục trong Hà Nội tạm chiếm 1946 – 1954, người Tàu và nền văn hóa Trung Hoa vốn chiếm một tỷ lệ rất đậm đặc. Đầu tiên là những cửa hàng tạp hóa, những cửa hàng thuốc ở phố Lãn Ông mà hồi trước gọi là phố Phúc Kiến. Nhưng đối với bọn trẻ chúng tôi thì văn hóa Tàu trước hết là mấy ông bán táo dầm, bán lạc rang cùng là các loại nước giải khát mà tôi nhớ gọi là chế ma phồ. Cũng quả táo Việt Nam mà cha mẹ chúng tôi thường mua ở các chợ, nhưng táo của các ông Tàu chuyên bán hàng ăn vặt bao giờ cũng to hơn chín tới hơn và khi được ngâm kèm theo các loại nước có pha chế thế nào đó thì chúng trở nên ngon ngọt không thể tưởng. Mấy ông lạc rang thường kèm theo một cái chuông nho nhỏ rung khe khẽ trên đường. Bố tôi bảo cái thứ lạc rang của các ông ý làm đắt lắm, nhưng bao giờ để tỏ ý chiều chúng tôi, ông cũng mua bằng được và dặn là phải ăn một cách từ tốn thì mới thấy là ngon.

Từ các món ăn thông thường như phở, sủi cảo tôm tươi, cho đến các thứ bánh ngọt như bánh trung thu, món gì người Tàu làm ra cũng ở trình độ tuyệt hảo. Mua hàng Tàu chúng tôi không sợ bị lừa, không sợ bị mua phải hàng ế hàng hỏng. Mà những người Tàu bán hàng bình dân cho bọn chúng tôi thì trông cũng nghèo nghèo khổ khổ, mặc dù vẫn có cái vẻ sang trọng riêng mà những người nghèo Việt nam không giờ có được.

Những cuốn truyện chúng tôi đọc được đầu tiên và để lại ấn tượng sâu sắc nhất ở các cửa hàng cho thuê phải kể là những bộ dã sử Trung Quốc, từ Hán Sở tranh hùng, Chinh Đông Chinh Tây, qua La Thông Tảo Bắc, Thuyết Đường, Thủy Hử. Tuy chỉ là một đứa trẻ yếu ớt vụng dại, nhưng tôi vẫn bị hấp dẫn bởi vẻ anh hùng cao thượng của các nhân vật trong đó. Lớn lên một chút, theo sự hướng dẫn của các anh, tôi đọc sang Chiêu Quân Cống Hồ, Mạnh Lệ Quân thoát hài, Tái sinh duyên. Lúc bấy giờ tôi chưa được biết những cuốn như Hồng Lâu Mộng, nhưng đã cảm thấy là trong việc mô tả phụ nữ và vẻ đẹp, tiểu thuyết Trung Hoa cũng mở ra cho tôi cả một thế giới quý phái sang trọng đáng ao ước.

Trong gia đình, ông bố tôi trước kia cũng đã võ vẽ học chữ nho, và cũng như những người Hà Nội đương thời thích đi xem các vở tuồng ở rạp Quảng Lạc, đến thời chúng tôi thì còn rớt lại các rạp Kim Chung, Kim Phụng.

Ông thường thuộc nhiều tích tuồng và đôi lúc cao hứng buột miệng trích dẫn những câu hát mà ông đã thuộc lòng, chẳng hạn hai câu: Mộc Quế Anh hiến mộc giá hương, chúc bá phụ phước như Đông Hải. Cái cụ thể nhất mà tôi học được là chữ Hán, dù chỉ nghe âm. Và cái sâu sắc mà tôi học được là sự phong phú muôn hình muôn vẻ của nền văn hóa Trung Hoa và những cốt cách con người quí tộc Trung Hoa nghĩa hiệp.

Trong một bài viết về truyện chưởng của Kim Dung in ở tạp chí văn học nước ngoài của Hội nhà văn Việt Nam năm 1997, tôi có viết một đoạn như sau:

Khoảng 1954 về trước, chợ Đồng Xuân có một dãy quầy hàng bán ở ngay mặt tiền, và muốn mua gì, mọi người có thể không cần vào chợ mà đứng ngay trên vỉa hè tuỳ ý lựa chọn. Một trong những quày đó, ở góc phố Hàng Khoai, dành cho sách báo. Cố nhiên chữ nghĩa bán ở đây chỉ là loại hàng tầm tầm, trong đó có một thứ mà vào tuổi tôi lúc ấy, không ai không thích: kiếm hiệp. Còn nhớ, để câu khách và cũng là tiện cho người mua vặt, sách của ông Lý Ngọc Hưng in ra theo từng tay một, mỗi tay ứng với một hồi. Những lúc chờ tàu điện về với gia đình ở Thuỵ Khuê, tôi chỉ ngóng tàu đến chậm, để lướt thật nhanh qua các tay sách. Ngọc Kỳ Lân Vân Đằng Giao và Kim Hồ Điệp Trúc Thuý Quỳnh, Bồi thành lực sĩ Sích Như Lân chi mộ, Uy liệt vương Võ Trấn Phương kiến thiết, Nguyên suý hồi trào, Hạng Vương cử đỉnh... tên người tên đất, tên các thế võ đọc ban ngày, đêm về xủng xoảng trong đầu óc, khiến cho về sau, có hồi học chữ Hán với mấy cụ đồ ở trường Chu Văn An, nhiều từ tôi chỉ nghe phát âm mà biết nghĩa, lúc bình tĩnh ngồi nghĩ mới hay mình đã vỡ lòng ở sách của ông Lý Ngọc Hưng.

Dẫu sao, nhớ lại thời đọc kiếm hiệp, về sau tôi vẫn thấy trong đó có chút lý do chính đáng: trẻ con bao giờ chả thế!


So với công cuộc tiếp quản Sài Gòn tháng 4 năm 75 thì cuộc tiếp quản Hà Nội năm 54 đơn giản hơn nhiều, tuy vậy ngay từ hồi ở Việt Bắc, Tạp chí Văn Nghệ của hội Văn Nghệ Việt Nam đã có những bài phê phán đời sống văn hóa tinh thần vùng tạm chiếm mà hồi đó người ta gọi là “trong thành”. Có lần tôi đã loáng thoáng thấy có ai nói tới những cuộc đốt phá tiêu hủy sách báo đồi trụy phản động, nhưng lúc ấy tôi còn bé quá nên không biết gì. Chỉ nhớ là sang năm 55 56, hình như là các hiệu sách cũ vẫn còn tồn tại, giống như là mấy tờ báo Tia Sáng, Thời Mới, vẫn còn tồn tại. Một đặc điểm nữa là hồi ấy chính những người ở Việt Bắc trở về cũng muốn trở lại với các giá trị văn học đích đáng của thời tiền chiến, Một số tác phẩm có giá trị cũ như truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, thơ Nguyễn Bính, truyện ngắn Thạch Lam… còn được các nhà xuất bản nhà nước và những nhà xuất bản tư nhân lúc bấy giờ tạm sống sót cho in lại.

Không hiểu sao hồi ấy khá nhiều tủ sách được mọc ra ở các khu phố. Trên đê Yên Phụ, nơi một điếm canh cũ đặt trước cổng làng xưa, cũng có một tủ sách nhỏ, tôi nhớ là tôi đã từng ghé vào đấy và đọc vội được ít trang tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, do nhà xuất bản Văn Nghệ cho in ra năm 56. Tại đây tôi cũng bắt đầu mê thơ Nguyễn Bính với những câu:

Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hoặc

Nhà em cách một quả đồi

Cách ba quả núi cách đôi cánh rừng

Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy anh đừng yêu em 

Sau này tôi mới biết rằng cuối năm 56 đầu năm 57 có cả một phong trào mà sau này được xác định bằng cái tên Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng hồi ấy, tôi không nhớ là bằng cách nào mà tôi đã được đọc mấy số cuối cùng của tuần báo Văn, trong đó có các truyện ngắn Bích – xu – ra của Thụy An, Ông Năm Chuột của Phan Khôi, Con Ngựa Già của Chúa Trịnh. Và trong một giờ học văn lớp 6 năm 1957, tôi đã được thầy Ngọc dạy văn (có biệt hiệu là thi sĩ Tùng Dương) cho học thêm một bài thơ của Hoàng Cầm.

Đêm nay hết một năm

Đứng gác tới giao thừa

Quê hương chừng rét lắm

Lất phất mấy hàng mưa

Tôi có người vợ nghèo

Đời vất vả gieo neo

Gặt thuê rồi cầy mướn

Đồng xa ngập nắng chiều


Khi nhớ về đời sống văn hóa của những năm 1955 – 1957, tôi có cảm tưởng một cái gì rất tự nhiên, chẳng phân biệt thế nào là cũ thế nào là mới, chỉ biết là hay và dở.

Một số thơ văn tôi được đọc hồi ấy, còn bắt nguồn từ mấy cuốn sách giáo khoa viết cho các anh các chị lớp trên và được hoàn thành từ trước 57. Chỉ đến khi có phong trào đấu tranh chống Nhân văn thì người ta mới kiên quyết loại ra khỏi sách giáo khoa văn học những bài thơ tiền chiến hay nhất, những truyện ngắn rất suất xắc của các nhà văn trước 45. Còn trước năm 1958, thì trong cuốn gọi là Văn tuyển lớp 9 (lớp 9 hồi đó tương đương với lớp 10 sau năm 1958 và lớp 12 sau 1975), do nhà giáo Bạch Năng Thi chủ biên tôi thú vị được đọc bài thơ dài của Phạm Huy Thông, với mấy câu mở đầu 

Sở Bá Vương ngồi yên trên mình ngựa

Đưa mắt nhìn say đắm chân trời xa

Trong sương thu nhẹ đượm ánh trăng tà

Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại

Tôi cũng thuộc luôn cả mấy câu đề từ cho bài:

Hán binh dĩ lược địa

Tứ diện sở ca thanh

Đại vương chí khí tận

Tiện thiếp hà liêu sinh

Tạm dịch

Quân Hán đã chiếm đất

Khúc Sở vang bốn bề

Đại vương chí khí hết

Thần thiếp sống làm chi

Tôi cũng không bao giờ quên được bài thơ mang tên Đẹp xưa của Huy Cận in trong phần bài đọc thêm của cuốn văn tuyển nói trên

Ngập ngừng mép núi quanh co

Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang

Vi vu gió hút nẻo vàng

Một trời thu rộng mấy hàng mây nao

Trước những bài thơ kiểu ấy, và những trang văn của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng cộng với những tác phẩm của Khái Hưng, Tế Hanh, Bàng Bá Lân mà tôi đã được học trong cuốn Tân quốc văn lớp nhất mà tôi đã kể ở chương trước, thì những sách báo cách mạng mới mang về dành cho công chúng rộng rãi và được học ở đầu trường cấp hai còn hấp dẫn gì nữa?! 


BỪNG SÁNG

 BỪNG SÁNG

Nếu cái cảm tưởng chung về ba năm học ở trường cấp 2, mà cũng là nằm trong cái khung bốn năm của Hà Nội chuyển sang chế độ mới (1954-1958) là một cái gì lờ mờ đôi khi tăm tối nhưng bên trong đầy vẻ đa dạng, thì ba năm tiếp theo (1958-1961) khi tôi học cấp 3, thì cuộc sống của tôi lại có vẻ như là chan hòa ánh sáng, nó là bước đầu vào đời, một cuộc đời đầy hứa hẹn. 

Về sau này tôi mới được biết những câu thơ của Thế Lữ mà Xuân Diệu thích nhắc lại:

Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy 

Ngàn năm chưa dễ đã ai quên

Hoặc một câu thơ khác của Thế Lữ:

Tôi bước bước đầu trong cảnh trần gian

Hỡi người bạn anh định về đâu đấy

Nhưng đó chính là những câu thơ diễn tả tâm hồn tôi đúng hơn cả.

Như chương trước tôi đã kể, từ cuối 1954 tới hết 1957, trong lòng Hà Nội còn rất nhiều di sản của văn hóa Pháp và văn hóa của chính quyền quốc gia mà hồi ấy chúng tôi gọi là vùng tạm chiếm. Do vậy mà khác với các vùng nông thôn chan hòa cởi mở, Hà Nội của tôi nói chung và vùng ngoại thành của tôi nói riêng tiếp nhận văn hóa cách mạng một cách từ tốn dè dặt. Tôi đã nói là chính trong thời gian này tôi mới lại được đọc các phần văn học dân gian thành thị, các loại truyện Tàu, một nền văn học tiền chiến như nó vốn có, chứ không phải là như cách giải thích chính thức về sau. Tiền chiến bấy giờ không chỉ bao gồm Vũ Trọng Phụng, mà còn cả các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đầy tinh thần bi quan và chế giễu đời sống. Tiền chiến lúc ấy với chúng tôi là không thể thiếu được Nguyễn Bính với tập Nước giếng thơi do ông tự chọn, nó thật hồn nhiên lãng mạn rất hợp với tuổi 16 - 17. Thậm chí đến cả phần tác phẩm dịch từ nước ngoài vào Việt Nam thời ấy cũng khác. Ý tôi muốn nói tới tập Truyện ngắn Sê-khốp của nhà xuất bản hội nhà văn mà không hiểu sao lại có dịp rơi vào tay tôi, đây là một trong những tác phẩm định hướng cho cả cuộc đời tôi về sau. 

Tất cả những cái đó là đặc sản của mấy năm 1954 -1957 mà từ 1958 về sau thì gần như bị xóa bỏ, bị thay thế, cái mờ xám bị thay bằng cái rực hồng.

Ở đây tôi chẳng dám giấu một điều có thực đã chi phối cuộc đời tôi. Mới loe nhoe như thế mà tôi đã thử làm thơ vần vèo, tôi khao khát có ngày có thể viết văn. Tôi cho rằng với những kẻ mới tập tọng làm nghề thì một sự chuẩn bị rối rắm đa dạng như vậy có khi lại thích hợp hơn là một sự định hướng quá rõ ràng và thiên về những cái rực rỡ tươi sáng.

Nói tóm tắt thì những bài học lớn của tôi trong những năm học cấp 3 chẳng khác gì mấy năm học cấp 2. Tôi vẫn tiếp tục học khá trên cả ba môn chủ yếu là Toán, Văn và Ngoại ngữ (Trung văn). Ngoài ra môn Vật lý cũng được tôi hết sức yêu thích, và hình như một thầy giáo dạy Vật lý của tôi là thầy Lương Quý cho là tôi có chút ít năng khiếu.  Chẳng ai mách bảo, nhưng từ khoảng sau 1968, khi tôi được chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội, gần như buổi chiều nào tôi cũng có mặt ở thư viện Quốc gia, thì bên cạnh việc học hỏi về các bộ môn nghệ thuật như sân khấu, hội họa… tôi cũng rất thích học thêm về hai môn Vật lý và Sinh học. Về Vật lý, tuy không hiểu gì về thuyết tương đối của Albert Einstein, nhưng một cách tự nhiên tôi lại rất thích Vật lý lượng tử của Heisenberg và Niels Bohr.

Những điều tôi nói sau đây có thể khiến một số bạn cùng tuổi phì cười, nhưng nếu các bạn nhớ lại tôi vừa kể ở trên thì sẽ hiểu: Những năm Tiểu học không nói làm gì. Từ cấp 2 về trước, tôi toàn học với các bạn nam. Bởi vậy, đối với tôi, những năm học cấp 3 cũng là thời gian bùng nổ, khi ở tuổi 15 - 16, năm nào lớp tôi cũng có mặt hàng chục bạn nữ. Mà đó không phải là những người con gái khép nép ở vùng Hà Nội tạm chiếm, mà chủ yếu là những người con gái tự tin bạo dạn, từ các vùng khác nhau theo cha mẹ về tiếp quản Hà Nội. Về sau này khi tôi làm biên tập tập sách Nhật ký Đặng Thùy Trâm, tạm gọi là “vang dội” một thời, thì chính là tôi đã gặp người con gái để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất trong số các bạn học cùng lớp.

Ôi con trai sao mà kỳ diệu

Tôi yêu tất cả mọi người nhưng không yêu được riêng ai 

Thú thực nếu yêu được một người

Tôi sẽ yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm

Hồi ấy tôi chưa biết những câu thơ trên của Xuân Quỳnh nhưng tôi vẫn muốn sẻ chia. Tôi muốn nói ôi con gái sao mà kỳ diệu, tôi muốn kêu to lên, vì như trên đã kể trong gia đình và xóm ngõ, tôi gần như không có bạn gái, và lúc này đây khi bước vào tuổi thanh niên tôi mới được gặp họ trong tất cả cái đầy đặn đa dạng của phụ nữ. Để rồi ngay lập tức tôi lại phải tự kìm hãm, 

6.Một năm lang thang đáng nhớ

6.Một năm lang thang đáng nhớ 

Lý do chủ yếu khiến khiến tôi về sau không nhớ tới những ngày tháng đầu tiên Hà Nội được tiếp quản, chính là vì tôi phải lo để thi chuyển cấp từ bậc tiểu học lên trung học, và trong lúc nhốn nháo tôi đã học hành linh tinh nên đã thi trượt.
Tuy nhiên trong cái dở lại có cái hay. Do thi trượt vào trường Chu Văn An, tôi có một năm chuyên lo học thi để sang năm thi tiếp, nhờ thế tôi có điều kiện “xuống phố”, tức là mở rộng sự quan sát ra ngoài khu vực Thụy Khuê, cái vùng ngoại ô khoai sắn của tôi, để xuống tới khu vực ba sáu phố phường và các phố tây, mà việc học hành được triển khai thành những trường tư thục nhỏ vụn lúc ấy.
Cũng phải nói ngay là thời ấy việc học hành thi cử rất tự nhiên, nghĩa là không có hiện tượng thi đua năm nào cũng phải lên được một lớp, vốn rất giả tạo nó là đặc điểm của các trường mà tôi học về sau.
Cách tổ chức nhà trường thời Pháp thuộc là theo lối hình tháp, từ tiểu học lên trung học bao giờ cũng là một bước chuyển biến đáng kể nếu không muốn nói là một bước nhảy vọt, và việc người học trò muốn chuyển cấp phải qua một sự gạn lọc nghiêm khắc là một điều rất tự nhiên. Nói gọn lại là tôi cũng không bị gia đình mắng mỏ bao nhiêu về việc thi trượt. Thày tôi sau khi nghe tôi kể lể một hồi bằng lòng cho phép tôi bỏ ra một năm để thi tiếp vào trường Chu Văn An niên khóa 1955 – 1956.
Hồi ấy ở phố Phùng Hưng vẫn còn cơ sở của trường Thăng Long nổi tiếng từ trước 1945, với các giáo sư danh giá như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp. Vả chăng trong cái vẻ giản dị đơn sơ vẫn là đô thị loại một của Hà Nội năm 1954, thì nhà trường vẫn có cái vẻ khang trang riêng của nó. Tôi không rõ là trước tháng 10/1954 trường được tổ chức như thế nào nhưng ở thời điểm của mấy tháng cuối năm 1954 đầu 1955 đó, trường có cách tự trình bày rất oai, chẳng hạn ngay ngoài cổng trường có tấm bảng đen lớn, ghi rõ  danh sách các thầy giảng dạy trong trường mà hồi đó thì theo thói quen của thời tạm chiếm, giáo viên trung học vẫn được gọi là các giáo sư. Như giáo sư X. đã tốt nghiệp trường nào thời Pháp thuộc và đã dạy qua các trường công trường tư nào. Bấy giờ đã có một số giáo viên từ Việt Bắc trở về và trên tấm bảng đen cũng ghi rất rõ là các vị đó đã dạy ở các trường nào hồi kháng chiến chống Pháp. Học trò chúng tôi thời ấy bắt đầu biết kén cá chọn canh, biết tự hào về các danh tiếng của các ông thầy mà mình theo học. Quả nhiên là trong hai ba tháng theo học lớp đệ thất ở trường Thăng Long cuối năm 1954, tôi bắt đầu hiểu được tính chất trang trọng của các trường trung học công lập thời trước. Tôi không nhớ rõ tên tuổi của vị giáo sư đã dạy tôi môn quốc văn năm ấy, nhưng tôi còn nhớ là với ông tôi bắt đầu được tiếp xúc với tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và nhờ ông mà đã bắt đầu cảm thấy nghệ thuật tả người hết sức tài tình của tác giả này.
Nhưng tôi chỉ học ở trường Thăng Long được hai ba tháng. Bản năng đứa con của một gia đình nghèo túng bảo cho tôi biết rằng không thể học tư mãi được, cái chính bây giờ là phải lo để quay lại thi vào lớp đệ thất của trường Chu Văn An. Trước đó tôi đã được biết rằng ở cuối đường Trần Quốc Toản có một cơ sở luyện thi vào đệ thất trung học rất kết quả của giáo sư Nguyễn Hữu Lương, tôi lại về xin với gia đình cho đi học ở trường ông Lương, một lớp học tư ở nhà riêng có độ trên chục học trò gì đó. 
Khó khăn thấy rõ nhất lúc này của tôi là việc đi lại.
 Học ở trường Thăng Long, tôi có thể đi xe điện từ Thụy Khuê xuống bến vườn hoa hàng Đậu rồi tạt vào đầu Phùng Hưng.  Học ở lớp của thầy Lương, nếu vẫn dùng xe điện tôi phải qua bến Đồng Xuân, qua bến Bờ Hồ, tới tận bến Chợ Hôm mới  chuyển sang đi bộ. 
Thế là tôi nhanh chóng chuyển sang một lịch trình khác. 
Thoạt đầu tôi từ xóm Ổi leo dốc  đường  Hoàng Hoa Thám mà dân Làng Thụy chúng tôi gọi là Đường Thành, xuyên qua Bách Thảo. Hồi đó quảng trường Ba Đình còn gọi là vườn hoa Con Cóc vì có một bể nước chung quanh có mấy con cóc ngày đêm miệt mài phun nước, có lúc bọn tôi còn dám nhảy cả vào bể chơi đùa. Giữa vườn hoa Con Cóc và Bách Thảo có một lối đi thông, từ đó, tôi băng qua đoạn đường ngắn là tới đại lộ Cột Cờ mà sau này đổi tên là đường Điện Biên Phủ. Tiếp đó, tôi xuôi phố Hàng Bông Nhuộm, đi dọc theo phố Quán Sứ rồi lại ngoặt sang đường Trần Hưng Đạo để rẽ vào đường nay gọi là đường Trần Bình Trọng, từ đó đến lớp học.
Một năm lang thang học tư đối với tôi quả thật rất nhiều bổ ích. Học trường Thăng Long, tôi được biết thêm phố xá khu vực gần chợ Hàng Da và cả khu vực từ vườn hoa Hàng Đậu tới trường Thăng Long của tôi. Với tư cách học trò, tôi mê tơi trước mấy cửa hàng văn phòng phẩm, và các hiệu sách. Tôi nhớ những cái bút chì hồi ấy hàng nhập từ bên Pháp về, chì thật đen và màu vàng tươi thắm. Tôi nhớ những chiếc compa, đăt trong hộp nghĩa là thuộc loại “đở luých” (sang trọng). Tôi nhớ tới những chiếc bút máy Parker mà dân sành điệu hồi ấy còn thích đeo ở túi áo. Suốt những năm về sau, cả đến khi học cấp ba, chúng tôi chỉ có những chiếc bút chì mờ mờ mà lại hay gãy, chỉ có những tập giấy xấu xí và những cái bút máy làm theo lối thủ công như thế nào đó khi viết thường mực ra đầy cả tay. Còn hôm nay đi dọc theo đường Cột cờ tôi
Quay trở lại những ngày học ở lớp luyện thi vào đệ thất Chu Văn An.
Mấy tháng theo học ở lớp học thầy Lương, hàng ngày tôi lại có dịp lang thang một mình trên những con đường rợp bóng xà cừ. Trước kia tôi chỉ biết phố xá dẫu sao cũng là chật hẹp và chen chúc những người gồng gánh. Nay tôi đi trên vỉa hè của những đại lộ lớn có hàng cây rợp bóng. Theo chỗ tôi nhớ, mấy con đường gọi là Trần Phú Lê Hồng Phong thời nay, thời ấy gọi là đường Anh quốc Mỹ quốc, và mỗi căn nhà trên phố ngay từ hồi ấy được dùng là các đại sứ quán, quả là những kiệt tác về kiến trúc.
Học trò thời nay đến trường nhỏ thì có bố mẹ đưa đón lớn hơn một chút thì có thể tự đi xe đạp thậm chí lớn hơn một chút nữa dùng cả xe máy chạy điện. Tôi cho như thế là một thứ bất hạnh. Tự mình đi bộ tới trường sung sướng hơn nhiều. Đi một mình, tôi được nhìn ngắm tha hồ đường phố cây cối, tôi được ung dung quan sát cuộc sống của mọi người xung quanh. Lịch sử không thể quay đầu ngược lại, từ cuộc sống sôi động hiện đại, quay về cái vẻ thanh bình của thời cổ điển, nhưng tôi vẫn thường ôn lại tâm trạng những năm đi bộ tới trường để giải thích một sự bình tĩnh từ tốn nào đó trong cuộc đời. 
Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chăm chỉ của tôi  đã được đền đáp. Trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo ngoài cổng trường Chu Văn An, có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín. 
Mấy hôm sau thì tựu trường.
Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.
Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.
Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.
Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng của cuộc sống bình thường. Như đám cán bộ — công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.
Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.

Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.
Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.
Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.
Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ: kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy. Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca. Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.
Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.
Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.
Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang để trở nên anh tài đất nước, — không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.

Như trên vừa nói, do mải đi học, hai ba năm đầu sau khi Hà Nội được tiếp quản, sống trong chế độ mới, tôi vẫn chưa hiểu hết những biến chuyển quanh mình. Ca sĩ Ái Vân ngay khi mở đầu cuốn hồi kí của mình đã viết rất rõ ràng rằng cái việc gia đình mình ở lại Hà Nội sau năm 1954, và mình sinh vào đúng năm đó, là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của bà. Tôi cũng có thể nói như vậy, nhưng đó là về sau tôi mới nhận thức ra. Còn trong hai ba năm, từ 1955 đến 1958, tôi chỉ biết mơ hồ về xã hội mới. Ấy vậy mà nó đã để lại trong tính cách con người tôi nhiều nét ấn tượng rõ rệt.
Hồi ở Văn Nghệ Quân Đội những năm đầu chống Mỹ 1968 tới khoảng 1973, tôi thường có dịp trò chuyện với nhà văn Nguyễn Minh Châu. Một lần tôi rất bất ngờ nghe ông nhận xét là tại sao tôi lại có cái vẻ hoài nghi mà rất ít thanh niên hồi ấy có thể có. Hỏi xong không chờ tôi trả lời cho rõ thì ông lại gọi tôi lại giải thích có lẽ là trong khi các bạn viết văn của tôi phần lớn lớn lên từ những vùng nông thôn thì tôi lại lớn lên ở thành thị dù đó chỉ là một thứ “ngoại ô móc cống”. Càng nghĩ tôi càng thấy nhận xét đó là chính xác.
Theo tôi hiểu Nguyễn Minh Châu có ý nói rằng trong khi đa số thanh niên mới có một vẻ hào hứng tin tưởng ở xã hôi mới thì riêng tôi lại giữ được cái vẻ hoài nghi vừa phải rất cần cho lớp thanh niên khi bước vào đời.
Cùng với sự trở về của cách mạng, tôi được tham gia vào các lớp múa hát của thiếu nhi, được sống trong những sự hào hứng của các đợt lao động xây dựng thủ đô, được nghe giảng giải về các vấn đề chính trị đơn giản, đại khái là chính quyền hiện nay thuộc về nhân dân lao động, chúng ta đã đánh thắng được giặc Pháp, rồi chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội mới muôn vàn lần tốt đẹp so với xã hội cũ.
Được kèm theo những điệu xòe Tây bắc duyên dáng, là các bài dân ca:
Đầy đồng lúa ngát thơm
Quanh quanh lúa xanh rờn
Tây Bắc tiếng cười vang vang
Suối reo trên mùa lúa vàng

Ta yêu quê ta xanh ngắt cánh đồng bao la
Ta yêu Trung Quốc Liên Xô đắp xây cuộc đời
Phe ta lớn lao vì bao cuộc đời tươi sáng
Chiến đấu đến cùng cho đế quốc tan hoang