FACEBOOK
2018
MỤC LỤC
NHÂN CÂU CHUYỆN GIỮ HAY BỎ TẾT, BÀN VỀ KHẢ NĂNG NÍU KÉO CỦA QUÁ KHỨ 4
NĂM MƯƠI NĂM SỐNG TRONG GIỚI VĂN CHƯƠNG 7
XÃ HỘI CHIÊN TRANH CŨNG LÀ XÃ HỘI ĐI BUÔN 17
ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN MỌI YẾU KÉM CỦA NGƯỜI VIỆT? 18
NGƯỜI TRÍ THỨC KHÁC VỚI NGƯỜI LÀM KHOA HỌC THUẦN TÚY Ở CHỖ NÀO? 22
HAI Ý TƯỞNG CẢNH BÁO SÂU SẮC CỦA TRẦN ĐẠI NGHĨA 25
TRƯỜNG CHU VĂN AN VÀ NIÊN HỌC 1955-56 (HỒI KÝ) 27
VỀ NHỮNG TÌM TÒI CỦA GS HỒ NGỌC ĐẠI 33
NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN! 35
MỘT NỀN GIÁO DỤC QUÁ ĐƠN SƠ 36
CHIẾN TRANH KHƠI DÒNG CHO NHỮNG Ý TƯỞNG LÀM GIÀU BẤT CHÍNH 42
HAI HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỀ GIÁO DỤC Ở MYANMAR 44
NHẬN XÉT CỦA MỘT NGƯỜI ĐỨC VỀ CÁCH NGHĨ CỦA DÂN VIỆT 46
TẤN KỊCH KÉO DÀI CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT 52
THIÊN HẠ SỐNG KHÁC HẲN MÌNH 54
TỪ CHỦ NGHĨA ANH HÙNG TỚI CHỦ NGHĨA QUAN LIÊU 56
NGOÀI TRỜI LẠI CÓ TRỜI -- VỀ TRUYỆN CHƯỞNG CỦA KIM DUNG 58
SỰ TỪ CHỐI LIÊN TỤC VỚI MỌI TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY 73
MỐI QUAN HỆ GIŨA GIỚI TRÍ THỨC VÀ GIỚI QUAN CHỨC TRONG XÃ HỘI XÔ VIẾT 78
LÒNG CĂM THÙ CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XV 80
MỘT NÉT SUY ĐỒI CỦA VĂN HÓA ĐƯƠNG THỜI DƯỚI CON MẮT CA SĨ KHÁNH LY & NHỮNG BIẾN DẠNG HIỆN NAY 82
TRÍ THỨC MIỀN NAM NHỮNG NGƯỜI BIẾT HỌC 88
NHÂN CÂU CHUYỆN GIỮ HAY BỎ TẾT,
BÀN VỀ KHẢ NĂNG NÍU KÉO CỦA QUÁ KHỨ
Ngày 20 tháng 2 năm 2018
Nghe đài xem báo hàng năm thấy thông báo cơ quan quản lý bàn chuyện tổ chức lại giao thông, trong thâm tâm tôi thường không tin, đôi khi thấy buồn cười. Đô thị hậu chiến là cuộc “đổ bộ đại quy mô” của những người xa lạ với thành phố hiện đại, họ hoặc từ chiến trường về, hoặc từ nông thôn lên, sự hỗn loạn tự trong tâm lý con người kéo dài ra cách tổ chức xã hội, hỏi làm sao giao thông mạch lạc hợp lý cho được.
Chuyện giữ hay bỏ tết cũng vậy.
Từ sau 1975 tới nay, ra khỏi chiến tranh với tư cách những kẻ sống sót, chúng ta cứ lấy cái cách sống trong quá khứ làm mẫu, mấy ai có ý nghĩ rằng phải sống khác đi.
Bởi vậy, câu chuyện bỏ tết trung cổ đã được Xuân Diệu kêu gọi từ 1946, hầu như chả ai đả động tới.
Khoảng ba chục năm nay, trong cuộc hội nhập hết sức hời hợt -- ngoài vay nợ, chủ yếu là bán tài nguyên lấy tiền rồi lo nhập hàng nước ngoài vào để hưởng thụ -- cũng có đôi ba người đã có ý kiến nên bỏ tết truyền thống: theo chỗ tôi nhớ nổi nhất có mấy vị ông Võ Tòng Xuân, ông Lê Đăng Doanh bà Phạm Chi Lan... Nhưng rồi họ chỉ chuốc lấy những lời chế giễu từ đám đông những người đang háo hức làm lại cuộc đời và truy lĩnh niềm vui sống sau chiến tranh. Bộ phận quản lý xã hội hôm nay cũng cùng trình độ với đa số làm nên đám đông ấy, nên nếu có dửng dưng cũng không phải chuyện lạ.
Trong bài này, tôi không tính chuyện bàn nên giữ hay bỏ Tết mà chỉ muốn thử cắt nghĩa tại sao cái cảm quan về tết cổ truyền sâu nặng đến vậy do đó mọi lời kêu gọi bỏ tết thường rơi vào im lặng nhanh chóng đến vậy.
Xét trên nét lớn, xã hội VN từ trung đại căn bản là một xã hội nông nghiệp manh mún nhỏ lẻ. Cuộc sống có được tổ chức lại theo nghĩa hiện đại, sau khi người Pháp có mặt. Nhưng từ sau 1945, bắt đầu chiến tranh thì cái hướng chủ đạo là quay về như cũ.
Tiếp sau chiến tranh, công cuộc hiện đại hóa lần thứ hai được khởi động một cách rề rà chậm chạp. Người ta sống trong sự tự tin có thừa “đã đánh Mỹ được thì làm gì cũng được” rồi cứ bảo nhau ang áng mà làm.
Quá khứ tiếp tục đóng vai níu kéo mà các tập tục cũ là nhân tố nằm sâu trong tâm lý cộng đồng nên khó cưỡng.
Trong thực tế chưa bao giờ cộng đồng Việt hôm nay định tìm tới một quan niệm hợp lý về xã hội hiện đại, kèm theo những cách định hướng tối thiểu nhằm trả lời câu hỏi "muốn trở thành xã hội hiện đại chúng ta phải tự thay đổi như thế nào".
Tết lấp đầy cái khoảng trống mà việc thiếu định hướng để lại. Không thể có cách ăn tết khác chừng nào cả xã hội vẫn chưa thấy cần đổi khác.
BỎ TẾT Ư? KHÓ NGHE QUÁ!
Đi vào một khía cạnh cụ thể của tết mà ta thường bỏ qua: bên cạnh những nét tốt đẹp mà ta đã nói với nhau thì Tết VN còn là tết xả láng, tết khoe của, tết phá hoại môi trường.
Chúng ta quá nghèo cuộc sống no đủ luôn luôn ngoài tầm tay với, nghèo đến mức chỉ mong tết đến, may ra mới được no đủ.
Nhưng trước đó do cuộc sống quá nghèo nên một nhịp điệu sống hợp lý không được hình thành.
Làm thế nào để vượt lên cuộc sống trì trệ chậm chạp thời xưa; phải thay đổi cách sống cách nghĩ ra sao để có thể tiếp nhận được những kinh nghiệm của một thế giới hiện đại;làm lại mình ra sao để vừa phát triển vừa bảo vệ được môi trường và do đó là bảo đảm cuộc sống cho các thế hệ tương lai
những câu hỏi ấy và nhiều câu hỏi thiết cốt khác đến nay gần như chưa được đặt ra một cách nghiêm túc thì hòng chi có được câu trả lời thích hợp.
Cũng vì hiếm khi no đủ và đã làm đủ mọi cách mình biết mà vẫn không no đủ, nên trong chúng ta sinh ra một chút hư vô “Hãy tùy nghi hưởng tết”
“Đói giỗ cha no ba ngày tết”. Câu tục ngữ ấy không chỉ nói về tình trạng đói kém mà còn mở ra một nguyên lý: khi lo tết người ta có quyền làm tất cả Những gì ngày thường không được phép thì tết được phép. Từ đó sinh ra một tình trạng hỗn hào trong dịp tết. Thơ Tú Xương có câu “Cũng liều bán váy chơi xuân” là với nghĩa ấy.
Có người sẽ vặn lại sao anh nói lạ thế, nay chúng ta có nghèo nữa đâu, tôi xin trả lời ngay rằng sự giàu hiện nay với đa số là giàu giả tạo là giàu không có nền tảng chắc chắn. Và bằng chứng của sự nông nổi ấy là cái tâm lý ăn tết theo kiểu kẻ nghèo hôm qua vẫn theo ta chưa biết bao giờ mới dứt.
Nếu được nói quá lên một chút, tôi muốn nói trong tâm lý đám đông những người dân thường hiện nay đang âm thầm tồn tại một cái nhìn không mấy sáng sủa về tương lai. Trong sản xuất, người mình đến cái đinh vít không làm nổi. Không chỉ chiếc xe ta đi, cái ipad ta sử dụng để ríu ra ríu rít gọi nhau làm ăn và thường xuyên chụp ảnh làm đẹp lòng mình, mà đến cả lúa gạo thịt cá mấy bông hoa mấy thứ mỹ phẩm... chúng ta cũng dùng hàng ngoại. Trên thị trường toàn quốc ngày càng thấy sự có mặt của các công ti nước ngoài, họ không muốn làm công nghiệp nữa mà nhẩy vào lĩnh vực thương nghiệp, chỉ thiếu điều họ bảo thẳng rằng đến việc phân phối các anh cũng không làm nổi bán hàng cho nhau cũng ăn bớt ăn xén của nhau vô tội vạ thì còn làm chủ nỗi gì. Giáo dục càng cải cách càng thấy không ai hiểu giáo dục thực chất ra sao, con người tương lai ra sao, lớp trẻ mà nhà trường đào tạo chỉ săn tìm những cái hư hỏng trong khi ngày càng xa lạ với những gì tốt đẹp của thế giới. Một tình trạng tuyệt vọng như sương khói lờ mờ bao trùm, không ai nói ra nhưng ai cũng cảm thấy. “Hưởng được cái gì thì hưởng đi”, “hãy sống gấp đi”, những lời kêu gọi ấy âm thầm len lỏi trong tâm trí mọi người và vang lên trong mọi lời ca tiếng hát, trở thành một trong những nội dung được mọi phương tiện truyền thông cổ vũ. Trong việc cổ vũ cho sự sống gấp, người ta luôn luôn vận dụng đến tập tục thói quen, và nhăm nhăm bảo nhau cứ xưa làm thế nào thì nay thế vậy. Nói như các cụ ngày xưa, thật là vẽ đường cho hươu chạy.
Đã nhiều lần trong tôi nẩy ra cái ý tưởng phải bàn nhau bỏ tết, thay đổi cách ăn tết. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy ngại. “Bỏ tết ư, sao anh cổ hủ thế, sao anh lẩm cẩm thế” -- chưa nói trong tôi đã thấy vang lên những lời phản bác như vậy, nên đành nói theo mọi người. Vâng, không thể bỏ tết! không thể bỏ tết! chỗ thân tình ta cứ nói thẳng với nhau một lần cho xong, chứ câu chuyện bỏ tết khó nghe quá, lọt tai sao nổi, có đến mùng thất dân mình mới chịu bỏ tết.
NĂM MƯƠI NĂM SỐNG TRONG GIỚI VĂN CHƯƠNG
Ngày 7 tháng 3 năm 2018
Lời dẫn
Mấy năm 1965-67, đang làm giáo viên văn hóa ở một đơn vị quanh Hà Nội , tôi đã có một vài bài viết in trên báo Văn nghệ, Tạp chí Văn Nghệ quân đội, nên từ tháng 3 1968, được chuyển về công tác tại nhà số 4 Lý Nam Đế.
Từ đấy tôi đã sống cả cuộc đời công chức ( == cán bộ nhà nước) trong nghề, bao gồm hơn chục năm làm báo và gần ba chục năm chuyển sang Hội nhà văn làm xuất bản.
Tuy tới 2007, tôi đã nghỉ hưu, nhưng hơn chục năm nay vẫn viết đều trên báo và trên mạng, nên có lý do để nói rằng tôi đã sống trong giới văn chương được năm mươi năm.
Việc không bao giờ nhận lương nhà nước chỉ để viết ra những gì mà người trả lương cho mình yêu cầu khiến tôi hành nghề như một thứ nghiệp dư nghĩa là thích cái gì thì viết, không thích cái gì thì không nhận. Tùy sức khỏe. Tùy ham thích. Hoàn toàn tùy nghi, tùy tiện.
Loại công chức như tôi lương đã không mấy, viết lách lại chẳng thêm được bao nhiêu, có lúc tôi đã tự hỏi cái gì buộc mình phải lẽo đẽo theo nghề như vậy. Hóa ra tôi yên tâm để đổi lấy một chút tự do trong hành nghề và cảm thấy mình sòng phẳng với đời.
Ví dụ, tôi biết nhiều đồng nghiệp của tôi được đọc được ca tụng chỉ vì họ đi dạy, những điều họ viết ra trở thành khuôn vàng thước ngọc cho người khác sử dụng.
Tôi thì không, người ta đọc tôi chỉ vì người ta muốn đọc thế thôi và tôi cảm thấy thích thú với mối quan hệ sòng phẳng đó.
Cái chất “lông bông “ đó của tôi đã được một bạn đọc cảm nhận rất rõ. Ông viết trên một com-men rằng cứ tưởng tôi là một nhà văn tiền chiến.
Thú thực là tôi quá sung sướng khi nghe nhận xét đó, vâng không phải là một nhà văn tài năng, một cây bút “ có hạng “ gì cả mà chỉ là một thứ nhà văn biết sống trong nghề, coi việc viết là một nghề vừa thực hiện ước mơ vừa kiếm sống cụ thể.
Mà ở xứ ta thì chẳng cứ nghề văn nghề gì cũng khó sống lắm, người ta đua nhau chuyển sang quan chức, kể cả quan chức trong văn chương.
Biết rằng như thế, nhưng lại biết mình không có năng lực quản lý nên khi “cờ đã đến tay” tôi vẫn từ chối. Khoảng những năm tám mươi, anh Bằng Việt khi đó mới chuyển sang Hội văn nghệ Hà Nội , có rủ tôi sang bên đó, hứa sẽ cho tôi làm phó Tổng biên tập tờ “Người Hà Nội”, tôi đã từ chối.
Rồi cuối những năm chín mươi, tôi cũng không dám nhận chân Phó Tổng biên tập nhà xuất bản Hội nhà văn —lần này do anh Nguyễn Kiên bảo.
Khi nghĩ về năm chục năm qua, tôi cảm thấy không có gì phải hối hận. Không bao giờ tôi viết vì muốn đạt được những mục đích ngoài văn học. Tôi săn sàng chấp nhận những thất bại khi lang thang sang những khu vực mới. Thường xuyên tôi cảm thấy mình không bằng anh A ở điểm nay, anh B ở điểm kia, nhưng tôi tự an ủi rằng tôi đã tìm thấy mình và đã cố gắng thế là được rồi.
Năm mươi năm qua nghĩ lại, tôi còn vui vì thật ra tôi được mọi người hiểu đúng. Các bài báo viết về tôi thường đã được tôi lại và đăng rải rác trên blog này nên có lẽ không cần đưa lại. Hôm nay , tôi chỉ chọn ra hai bài,
một của một nhà nghiên cứu có theo dõi về các nhà phê bình
và hai là một bài phỏng vấn của một nhà báo tôi không quen và chỉ gặp tôi một lần, tuy qua chín năm trời nhiều điều liên quan đến kế hoạch viết của tôi nay không đúng nữa nhưng vào thời điểm năm 2009 thì cũng đã là một bài giới thiệu tạm đầy đủ.
Nhân đây xin gửi tới anh Thiện và anh Quân lời biết ơn của tôi.
I/
Nguyễn Ngọc Thiện
VÀI NÉT VỀ VƯƠNG TRÍ NHÀN http://edu.go.vn
Thứ tư 07/12/2011
Vương Trí Nhàn là nhà lý luận phê bình có đầu óc thực tế tôn trọng hiệu quả hữu dụng, thực dụng của bất cứ một hoạt động nào, cả sáng tác cũng như nghiên cứu, lý luận phê bình văn học.
Ông quê gốc xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 15/11/1942. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, vào học trường Đại học Sư phạm Hà Nội khoa Ngữ văn, khóa 1961-1964. Ra trường, trong hoàn cảnh chiến tranh, ông vào quân đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự và tại ngũ ngót 15 năm cho tới đầu 1979 mới chuyển ngành. Trong quân đội, lúc đầu ông dạy học sau làm báo, làm biên tập viên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1968. Từ năm 1979 đến khi nghỉ hưu, hơn 20 năm ròng ông làm công tác biên tập sách lý luận phê bình ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Những công trình đã xuất bản của ông có thể xếp vào hai khu vực:
a- Sách khảo cứu biên soạn gồm: Sổ tay người viết truyện ngắn (1980); Một số nhà văn Việt Nam hôm nay với Hà Nội (1986); Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (2000)…
Các cuốn sách này cho thấy ông triển khai việc giới thiệu, nghiên cứu về các thể loại sáng tác văn học và chân dung nhà văn một cách có bài bản. Đặc biệt các lời dẫn hoặc nghiên cứu tổng quan về thể loại truyên ngắn, tiểu thuyết đi sâu vào các phương diện bếp núc của nghề viết, về diện mạo, đội ngũ các nhà văn sáng tác về Hà Nội hôm nay... được viết một cách nhuần nhuyễn, sinh động và sáng rõ, là minh chứng về bản lĩnh tư duy học thuật của ông, sự quan tâm thường trực của ông đối với nghề viết và đội ngũ viết văn.
b- Mảng sách thứ hai, có năm quyển đưa ông vào hàng những nhà phê bình ăn khách. Đó là:
Bước đầu đến với văn học (Phê bình - tiểu luận, 1986); Những kiếp hoa dại (Chân dung và phiếm luận văn học, 1993); Cánh bướm và đóa hoa hướng dương (Tiểu luận - phê bình,1999); Buồn vui đời viết (Sổ tay văn học, 2000); Ngoài trời lại có trời (Tiểu luận phê bình về tác gia, tác phẩm văn học nước ngoài, 2003).
Các tập sách thuộc mảng này cho thấy cách nhìn riêng của ông đối với công việc viết văn, đời sống văn học, nhà văn trong và ngoài nước. Ông dường như xa lạ với lối lý tưởng hóa nghề văn, người viết văn. Với ông, viết văn chỉ là một nghề, bên cạnh những mục đích cao cả, đáp ứng nhu cầu xã hội hướng về Chân - Thiện - Mỹ, nâng cao nhận thức và làm giàu cho tâm hồn con người. Văn học cũng là một nghề như bao nghề khác, nó thỏa mãn nhu cầu tự biểu hiện của con người, nhằm mục đích thực tế về mưu sinh, tồn tại. Nhà văn tất nhiên là người có tài năng đặc biệt, xuất chúng trong sáng tạo những văn bản nghệ thuật bằng ngôn từ, nhưng mặt khác trong đời thường họ cũng có thân phận buồn vui, ứng xử hay dở như bao người. Với lối viết nhiều khi như tọc mạch, soi mói vào những mặt còn khuất lấp của toàn bộ quá trình văn học: đời sống xã hội - nhà văn - tác phẩm - công chúng... ông đưa ra những nhận xét hóm hỉnh, thông minh, bề ngoài như là nói chuyện phiếm, nhưng trong sâu xa của các ý kiến ấy, người đọc buộc phải đối mặt kể cả đối với những thực tế không thuận chiều, trái khoáy, nghịch cảnh... Nghĩa là văn chương cũng như đời thường thật là muôn mặt, phồn tạp, phiền phức, khôn dại , hay dở, thật khó lường.
Về phương diện lý luận, Vương Trí Nhàn xa lạ với lối trình bày lý luận chay. Từ sự quan sát tinh tường các hiện tượng lớn nhỏ thậm chí tế vi, khó nói, ông dần dần dẫn dắt người đọc cùng suy nghĩ với mình về những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lý luận đặt ra, nảy sinh từ đó. Lý luận với Vương Trí Nhàn phải được bật ra, chưng cất từ thực tiễn, từ Cây đời xanh tươi của đời sống văn chương, học thuật, từ lao động viết văn và niềm thích thú hay xa lạ với tác phẩm văn chương của công chúng.
Ghi chú của VTN (25-7-2013)
Xin bổ sung vào bài viết trên:
1/ Một số cuốn sách của tôi sau khi in lần đầu từng được in lại:
--Sổ tay truyện ngắn in lại 2 lần
--Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 in lại 1 lần; và đây là tên in lần thứ hai, còn lần đầu có tên là Khảo về tiểu thuyết
--Những kiếp hoa dại in lại 3 lần
--Cánh bướm và đóa hoa hướng dương in lại 2 lần trong đó có một lần lấy tên là Nghiệp văn
-- Buồn vui đời viết in lại một lần
--Ngoài trời lại có trời , một lần
2/Ngoài ra còn bốn cuốn khác, thuộc loại quan trọng nhất với tôi
--Chuyện cũ văn chương(2001),
-- Cây bút đời người(2002), in lại một lần và được giải thưởng của cả Hội nhà văn Hà Nội và Hội nhà văn Việt Nam
-- Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX tới 1945 (2006).
-- Phê bình & tiểu luận gồm những bài lẻ,chưa đưa vào các tập nói trên
3/ Sau hết, tính đến 2013, tôi có hai tập phiếm luận Nhân nào quả ấy,2002 in lại 1 lần, và Những chấn thương tâm lý hiện đại, 2009
II/
Nguyễn Văn Quân (thực hiện)Nguồn: CAND, 06/03/2009
Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn:
Tôi chỉ sợ mình nhìn sai...
Chính thức thì ông làm biên tập ở NXB Hội Nhà văn, nhưng độc giả lại biết đến Vương Trí Nhàn với tư cách là một nhà nghiên cứu phê bình nhiều hơn. Đặc biệt, vài năm trở lại đây, một loạt bài viết về "thói hư tật xấu", về văn hóa ứng xử của người Việt được ông cho đăng trên các báo, ít nhiều gây sự chú ý của dư luận. Ông từng bày tỏ quan điểm: "Tôi chỉ sợ mình nhìn sai chứ không sợ mình nhìn vào cái xấu"...
-Được biết, ban đầu ông cũng ôm mộng sáng tác, nhưng sau một thời gian, ông lại chuyển sang nghiên cứu và viết phê bình?
+ Đầu tiên tôi cũng thích sáng tác. Đặc biệt khi vào bộ đội, nhu cầu viết lách là rất lớn. Các cuộc thi thơ hay ca dao do các Sở Văn hóa tổ chức, tôi đều nhiệt tình tham gia, nhưng đến một thời điểm mới nhận ra rằng, về sáng tác, mình không thể nào bằng Nguyễn Khoa Điềm, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật... được. Trong một dịp, được cầm trên tay tập thơ "Sức mới", đọc thấy rất nhiều nhà thơ tên tuổi là bạn bè mình và đặc biệt, những cảm xúc của bạn trong tập thơ, mình đồng cảm được. Vậy là cầm bút bình một vài bài thơ trong đó. Bài viết được đăng trên báo Văn Nghệ năm 1965. Đó là bài viết phê bình đầu tiên của tôi.
- Nói như vậy nghĩa là ông đã may mắn, bởi, chỉ một thời gian ngắn, ông đã nhận ra mình, biết được thế mạnh và con đường đi của mình…
+ Đúng như anh nói. Tôi không mất quá nhiều thời gian để tìm đường đi. Đó cũng có thể gọi là may mắn được nhỉ. Vì đến giờ mình cũng đã có hơn 40 năm làm phê bình rồi.
- Hơn bốn mươi năm "làm dâu trăm họ", làm cách nào mà ông có thể theo nghề một cách bền bỉ và trường kỳ đến như vậy?
+ Ở dơn vị về VNQĐ năm 1968, mặc dù cũng có một số bài viết được đăng báo nhưng tôi chưa có ý nghĩ theo nghiệp phê bình lý luận. Thậm chí, nhà thơ Vũ Cao, khi đó là Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội bảo tôi: "Nhàn về đây làm phê bình được thì làm, không thì làm... kế toán".
Về Văn nghệ Quân đội tôi mới thực sự xác lập cho mình một ý thức viết chuyên nghiệp. Đầu tiên phải yêu công việc của mình. Tức là anh phải có "lửa" với nghề. Tôi nghĩ để có thể trường kỳ được là tôi đã "phả" được vào trong các bài phê bình chất văn học. Khi viết, tôi cảm tưởng như mình đang sáng tạo chứ không phải nghiên cứu dưới góc độ hàn lâm như nhiều nhà phê bình khác. Đó cũng là nét riêng của tôi. Nhưng nói thật là nhiều khi cũng buồn, bởi trong đời sống văn học, những nhà phê bình luôn bị coi như phận làm "lẽ", phận "ăn theo" nhà văn.
- Tôi lại nghĩ phê bình và các tác phẩm luôn luôn có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Nhưng nhìn vào đời sống văn nghệ thì thấy mối quan hệ này chưa thật tương xứng. Các nhà phê bình tên tuổi thì hình như ngày một ngại viết. Đa phần chỉ còn những cây bút không chuyên. Mà phần nhiều mới "bình", chứ chưa "phê"?
+ Ý kiến của anh không sai nhưng nếu nói sâu xa thì điều ấy chỉ đúng với thời đại ngày nay, tức là các sản phẩm văn học đã thành hàng hóa và ít nhiều cũng phải được các nhà phê bình gợi mở, mổ xẻ giúp người đọc. Trong lịch sử, văn học ra đời khi chưa có phê bình. Ví như Trung Quốc, có hàng nghìn nhà văn tên tuổi nhưng các nhà phê bình chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nước ta cũng vậy. Nên hiện vẫn tồn tại một nền phê bình chậm và chưa tương xứng.
- Vậy có một hướng giải quyết nào để gần hơn, tương xứng hơn giữa phê bình và sáng tác không, thưa ông?
+ Văn học phải phát triển hơn nữa. Báo chí và các ngành xã hội phải phát triển hơn nữa. Vừa làm vừa phải ngoái lại nhìn. Từ trước đến nay mình chỉ quen làm mà chưa quen nhìn.
- Vậy dưới con mắt của một nhà phê bình, ông nhận xét như thế nào về vị trí của văn chương Việt Nam so với thế giới?
+ Tôi xin khất câu trả lời này. Có một thực tế ở Việt Nam, học sinh phổ thông khi học văn, chỉ được nhà trường giảng dạy rất sâu về từng tác giả và tác phẩm nhưng ít khi có được một cái nhìn tổng thể. Chưa một ai khái quát được nền văn học nước nhà mà chỉ nói chung chung. Kiểu như, chúng ta có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc... Đây là một vấn đề tôi cũng rất muốn tìm hiểu nên chưa thể trả lời bạn được. Tuy nhiên, việc làm này là công phu và không thể một sớm một chiều có lời giải.
- Khi đã có một cái tên, thậm chí giải thưởng Hội Nhà văn của ông cũng là một cuốn sách phê bình văn học (Cây bút đời người) nhưng rồi ông lại chuyển sang nghiên cứu văn hóa?
+ Văn học là một bộ phận của văn hóa. Hai phạm trù này rất gần nhau. Năm 1989 tôi đã có những bài viết về văn hóa và xem nó như một nhu cầu tự thân. Vừa rồi, Hội Nhà văn đặt tôi viết một cuốn sách "Nhìn văn học dưới góc độ văn hóa" qua đó mình càng có điều kiện để bước chân vào nghiên cứu văn hóa. Tất nhiên, thành công đến đâu thì tôi chưa dám khẳng định.
- Được biết, trước đây Giáo sư Trần Quốc Vượng đã có ý định làm cuốn sách "Thói hư tật xấu" nhưng rồi chưa kịp. Có phải ông muốn kế tiếp công việc còn dang dở của GS Vượng?
+ Việc này có lần tôi nói rồi. Từ khi cầm bút viết phê bình văn học, tôi phần lớn tập trung vào cái dở, cái chưa được của nhà văn cũng như tác phẩm. Có người bảo tôi là tà tâm, tầm thường nhưng tôi không sợ. Tôi chỉ sợ mình nhìn sai chứ không sợ mình nhìn vào cái xấu. Mà nhà văn, đầu tiên phải là một con người bình thường. Từ đó tôi mới có ý định đi tìm những "thói hư tật xấu" của người Việt.
- Nhưng nói chung, tâm lý người đời từ trước đến nay chỉ thích khen, chê là khó chịu, cho dù anh chê đúng. Với việc làm này của ông ít nhiều sẽ gây ra tranh luận?
+ Nhiều chứ. Sự phản ứng ấy là hoàn toàn hiểu được. Tôi nhớ có lần Nguyễn Minh Châu viết một truyện ngắn đưa cho Triệu Bôn xem, xem xong Triệu Bôn nói đại ý truyện không mới, chỉ ở mức thường. Vậy mà Nguyễn Minh Châu giận mãi. Đến một hôm hai người tắm chung một buồng, Triệu Bôn mới dám khẽ khàng hỏi: "Chẳng nhẽ tôi nói không đúng sao?". Lúc này Nguyễn Minh Châu mới nhăn mặt bảo: "Đúng nhưng mà vẫn...tức". Nói vậy để thấy rằng, một tên tuổi như anh Châu mà vẫn có những cảm giác ấy.
- Thì đến thi sĩ Tản Đà đầu thế kỷ 20 cũng bảo: "Dân hai lăm triệu ai người lớn/Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con..."…
+ Đấy, các cụ ngày trước rất tinh đấy nhé. Họ nhận thức được cả nhưng thay đổi thì chưa tìm được cách đi đúng hướng.
- Nhưng tôi được biết trong bài trả lời phỏng vấn một tờ báo điện tử cũng về chủ đề này, đến phút 24 ông đã nổi giận bỏ về và thề không bao giờ gặp người phóng viên kia nữa?
+ Giờ thì tôi không giận họ nữa. Tôi hiểu, nhiều khi họ cũng muốn có những cách làm, cách "gài" phát ngôn của nhân vật để bán được báo, được nhiều người đọc. Tôi bảo tôi không giận nữa vì chuyện cũng đã qua và... cũng chẳng biết giận ai. Khi phỏng vấn, phóng viên đó đã không dám xưng tên họ và khi đăng bài lại ký là "nhóm phóng viên". Thật lòng qua dịp đó cũng là cơ hội cho tôi học thêm về sự tha thứ
- Ở Trung Quốc cũng đã có hai cuốn sách rất nổi tiếng là "Người Trung Quốc xấu xí" và "Người Trung Quốc tự trào" họ lên án những tính xấu của dân tộc họ rất nặng nề và gay gắt, nhưng đó lại là những cuốc sách rất được đón nhận. Mà đúng ra, thấy được cái xấu, cái yếu của mình để rồi khắc chế nó mới thực sự là kẻ mạnh?
+ Thì rõ là thế. Ngày trước chúng ta phải có những sách lược và cách nhìn nhận mình cho phù hợp với nhiệm vụ thời đó nhưng giờ thì nên thay đổi. Xưa nay kẻ tự biết cười mình, biết tự trào mới là người giỏi.
- Vậy để có cơ hội "nhận ra mình", cơ bản chúng ta phải làm gì thưa ông?
+ Tôi cho rằng khả năng tự nhận thức của mỗi người là quan trọng nhất.
- Đọc Vương Trí Nhàn, tôi thấy cách làm của ông là phê bình văn học dưới góc nhìn văn hóa. Qua văn hóa để thấy văn học. Điều này không giống như nhiều người khác?
+ Các nhà phê bình phần lớn là làm tự phát. Có nhà giáo viết sách là để học trò học và nể, có nhà nghiên cứu viết là để lấy học hàm học vị. Còn tôi, tôi mong muốn có dịp đi được đến tận cùng vấn đề một cách sâu, rộng. Các bài viết của tôi không dành cho học sinh đang theo học những giáo trình hiện nay. Nó dành cho người nào có thể chia sẻ ít nhiều trong đó…
- Và trong một số những bài viết, ông đã gợi mở được nhiều điều, hữu ích cho việc xây dựng và quy chuẩn những nét văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử. Nhưng cũng mạn phép để nói, sự nhìn nhận của ông có vẻ... tiêu cực và thiếu lạc quan quá. Kiểu như, bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng vậy. Có phải ông nghĩ: "Yêu nên cho roi cho vọt..."?
+ Không phải thế. Tôi chỉ muốn nói rằng, dù gì con người cũng phải tự nhận thức được mình và phải biết ước mơ. Nếu tôi không làm thì thể nào cũng có người khác làm. Nó là nhu cầu thực của cuộc sống…
- Dạo này ông đang viết gì?
+ Tôi dành thời gian tổ chức lại bản thảo "Văn học Việt Nam thế kỷ XX dưới góc nhìn văn hóa"... Mong muốn, còn làm được đến đâu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện cởi mở này
Ngày 24 tháng 8 năm 2018
Trong một bản tin thời sự VTV1 gần đây có một mẩu tin chạy bằng chữ viết nói rằng Việt Nam hiện nay chiếm 6% thị trường đồ gỗ của cả thế giới. Chỉ có một lần thoáng qua nhưng tôi thấy xấu hổ vì chúng ta đã phá hết cả rừng già của tổ tiên để lại để thỏa mãn những nhu cầu trươc mắt trong đó một phần la xa xỉ. Người Nhật thì khác hẳn. Trong các chương trình dạy ở tiểu học, học sinh bên Nhật sớm được dạy là chúng ta nghèo về các loại tài nguyên và người Nhật làm công nghiệp bằng cách đi mua nguyên liệu ỏ nước ngoài.
Gìờ đây cái câu “biển đã chết và rừng đã hết” quá phổ biến tới mức người ta nhắc lại với một vẻ thản nhiên. Người Việt mình vốn xa rừng nhạt biển, nghe nói biển chết không mấy xúc động ít ra là không xúc động như khi chứng kiến những khu rừng đại ngàn bị phá tan hoang, các sườn đồi trơ trụi lơ thơ vài thứ cây làm củi. Mà cảnh ấy muốn chứng kiến thì lúc nào cũng sẵn.
Anh Lê Văn Viện có thời gian dài làm phiên dịch cho các đoàn chuyên gia Tây Âu đi khắp miền Bắc. Khi tôi hỏi anh một câu ngớ ngẩn, có phải người nước ngoài tốt hơn người mình không thì anh không trả lời mà chỉ kể lại một mẩu chuyện. Lần ấy ở Quảng Ninh anh vừa ra phố về thì bắt gặp mấy chuyên gia Thụy Điển khóc tức tưởi. Khi hỏi tại sao khóc thì họ bảo Viện, mày không thấy rừng thông bên cạnh đang cháy hay sao? Anh Viện lúc ấy mới nhớ ra đúng là đang có đám cháy nhỏ mà mình không để ý.
Một bài báo viết về lụt bão vừa qua có cái tên Gỗ về nhà quan, lũ về nhà dân.
Giới quan chức những người tự coi là phần tử ưu tú nói ở đây lúc nào cũng leo lẻo về lòng yêu nước thương dân.Họ coi đó là nội dung chủ yếu của chương trình giáo dục cho lớp trẻ, nó còn quan trọng hơn cả nội dung lo học để làm một người tử tế.
XÃ HỘI CHIÊN TRANH CŨNG LÀ XÃ HỘI ĐI BUÔN
Ngày 25 tháng 8 năm 2018
Tôi đọc trên mạng, thấy nói Bệnh viện tỉnh Quảng Bình vừa qua đã lập khu tưởng niệm và dựng tượng Fidel Castro tổng chi khiêm tốn chỉ khoảng 500 triệu còn tỉnh Quảng Trị thì oai hơn cũng đang muốn lập cả một khu tưởng niệm Fidel mà chi phí ước tính cao gấp hai trăm lần tức 100 tỉ.(?)
Chợt nhớ một ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu, ông than thở với tôi, sau nhiều chuyến đi vào Quảng Bình – Vĩnh Linh 1968-1971.
“Mấy chục năm nay, xã hội mình toàn những người đi buôn cả. Cứ tìm tiểu thương ở đâu, tiểu thương ở ngay trong tư tưởng anh ấy, diệt làm sao được. Mình đi bộ từ đây xuống Bờ Hồ, qua mỗi hè phố lại thấy bà bán ngồi chồm hỗm, hỏi anh có gì bán không. Tưởng tượng chính là những người từ trong những hố cá nhân tránh mảnh bom kia mọc lên đấy, nó có bị giết thì tự nó lại mọc lên một cái đầu.
Mình vào Quảng Bình, thấy kể chuyện người ta háo hức đón đoàn mặt trận miền Nam, kêu lên với nhau rằng sao đến miền Bắc mà đoàn lại không vào Quảng Bình, và giá có vào thì người ta sẽ tiếp đón linh đình lắm. Trong khi ấy thì những thằng lính ở đường 9 Khe Sanh ra mặt xanh nanh vàng, húp bát bún con con trả đồng bạc vẫn khen rẻ, chẳng ai quan tâm cả. Chính bọn ấy mới là đại diện chân chính của miền Nam.
… Lại nghe nói đâu Trung ương có ý định bảo Hà Nội để lại một khu phố, để sau này, khách phương xa đến, làm nơi tham quan về những tội ác của địch. Mãi sau, một thằng nó phải bảo: Thôi, dân mình khổ đã nhiều rồi, cốt sao ông cho họ cái nhà họ ở đi cho chóng, còn làm gì mà phải xoay ra thế nữa.
… Người ta buôn bán ghê lắm, người ta buôn bán mọi thứ. Cả xã hội đi buôn. Nói thế mới gọi là vấn đề của văn học chứ!”
Ý này cũng như nhiều tâm sự khác đã được tôi ghi lại và đưa lên mạng, lần gần nhất là tháng 12. 2015.
ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN MỌI YẾU KÉM CỦA NGƯỜI VIỆT?
Ngày 28 tháng 8 năm 2018
Trên FB Nhân Thế Hoàng, hôm nay 30-10-2014, tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:
“Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi.
Cái này là điệp khúc mà mấy bạn trẻ cuồng đảng hay phát ngôn để bảo vệ khi có ý kiến trái chiều chê trách về các vấn đề xã hội hay tình trạng bê bết của nền kinh tế hiện nay.
Thế bạn có biết, cũng là người Việt nhưng năng suất lao động của 3 triệu người Việt ở Mỹ tương đương với năng suất lao động của 90 triệu người Việt trong nước hay không? Con số 100 tỷ USD tạo ra hằng năm của 3 triệu người Việt ở Mỹ đã nói lên điều đó, điều này chứng minh người Việt không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới về độ thông minh, cần cù, chịu khó, chỉ là do bị kèm cặp quá nên 90 triệu người trong nước mới làm việc kém năng suất và hiệu quả như vậy. Người xưa có câu: "Cây quýt trồng ở đất này thì ngọt mà mang sang đất khác thì chua", và lạ thay cây quýt Việt thường chua ở xứ mình nhưng lại ngọt ở xứ người!” “”
Xin ghi nhanh ở đây mấy suy nghĩ của bản thân tôi về chuyện này:
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhiều thói hư tật xấu ở người Việt mà chúng ta mới phát hiện, theo tôi, đã có từ thời trung đại, từ thế kỷ XIX về trước.
Khi làm chuyên mục những lời cảnh tỉnh của người xưa, đăng trên TTVH hồi 2005-2007 và sau có đưa vào blog cá nhân, tôi chủ yếu lấy ý kiến của các nhà trí thức VN đầu thế kỷ XX.
Đối tượng phê phán của họ là cách sống cách suy nghĩ làm ăn của người Việt trước khi bước sang thời hiện đại, tức là trước khi chuyển qua thời Pháp thuộc. Bản thân các trí thức này sở dĩ có cái nhìn sáng suốt đó cũng là sau khi theo học ở các nhà trường người Pháp mới mở, có được cách nhìn cách nghĩ của phương Tây.
Từ sau 1945, yếu tố tự phê phán trong tư duy người Việt ngày càng thui chột, các trí thức được đào tạo sau cách mạng khi suy nghĩ về người Việt chủ yếu làm nổi bật các mặt tích cực trong tính cách người Việt. Để làm gì? Để động viên người ta đi đánh giặc.Vì cái mục đích cao cả nhưng lại thiển cận ấy, cho phép mình khen lu bù, "khen cho nó chết", không cần biết hậu quả sẽ tới.
Trong và sau chiến tranh, nhiều thói xấu cũ của người Việt càng cô kết đậm đà sâu sắc hơn, người ta lại hay giở lý ra để tự biện hộ. Chỉ đến khi bắt tay vào việc làm ăn sinh sống theo nhịp sống bình thường, gặp nhiều cú sứt đầu mẻ trán, thì cái nhu cầu tự phê phán kia mới trở lại.
Nhưng dùng lại một câu trong Truyện Kiều -- rằng quen mất nết đi rồi, -- chúng ta thiếu hẳn những nhà nghiên cứu nhìn sâu vào các quá trình tâm lý xã hội và xem xét sự phát triển của cộng đồng trong chiểu dài lịch sử, đối chiếu với những chuẩn mực phổ quát của con người hiện đại, từ đó làm cuộc phân tích toàn diện để giúp cho cả cộng đồng có được một cuộc tự nhận thức chính xác.
Các lời bàn cãi hiện nay còn loanh quanh và thiếu sức thuyết phục, nhiều khi lại đi lạc hướng.
Tại sao lại có hiện tượng ở trong nước thì dở, ra nước ngoài mới tử tế?
Dẫn chứng mà bạn Nhân Thế Hoàng nêu lên là không thể cãi được.Theo tôi nó chỉ chứng tỏ, cái hay cái tốt ở người mình không bền chắc. Tự chúng ta không quản lý nổi chúng ta. Chỉ khi bị buộc phải làm theo sự chỉ đạo của người khác, chúng ta mới dứt bỏ được thói quen cố hữu từ ngàn đời ông cha để lại để có thể sống và làm việc như mọi con người tử tế khác trên thế giới.
Chính trường hợp 3 triệu người VN ở Mỹ mà bạn Hoàng nêu là nằm trong hoàn cảnh đó.
Trở lại với đầu thế kỷ XX. Tôi nói điều sau đây với tâm lý rất ngần ngại – nó đi ngược với những điều tôi cùng với mọi người quen cho là như vậy nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy không tự bác bỏ được nên buộc phải nói -- đó là, chính do sự bảo trợ của người Pháp, sống trong một nhà nước do người Pháp quản lý, mà người Việt có được sự thay đổi trong tính cách và có những bộ phận đạt được cách sống cách suy nghĩ trình độ làm việc của con người hiện đại.
KẾT LUẬN TẠM THỜI CỦA TÔI: chúng ta là một cộng đồng kém về năng lực tự quản lý. Trong những điều mà chúng ta học được từ văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta học được ít nhất là văn hóa tổ chức xã hội, văn hóa quyền lực. Cai trị học – bên Trung quốc người ta gọi là TRỊ QUỐC CHI ĐẠO -- là cả một vấn đề lớn, muốn có kết luận thuyết phục cần trở lại với các tài liệu lịch sử, phải nhiều người mới làm được, tôi chỉ nêu sơ sơ như vậy.
Dưới đây để chứng minh cho ý kiến trên, tôi lấy thêm một số ví dụ không phải trong khu vực chính trị mà chỉ là trong phạm vi đời sống thông thường.
Trong thế kỷ XX, chúng ta bắt đầu có những nhà khoa học tự nhiên đạt chuẩn quốc tế. Nhưng nhìn vào tiểu sử của họ ta thấy ngay không người nào trong họ là không trải qua việc một thời gian dài học ở nước ngoài. Thực tế VN, nền giáo dục VN không thể đào tạo ra họ. Ngô Bảo Châu – cũng như Tôn Thất Tùng, Trần Đức Thảo trước kia -- không chỉ là hiện tượng của văn hóa VN mà còn là hiện tượng của văn hóa Tây phương, trước tiên là văn hóa Pháp. Sao ta lại cứ cố quên như vậy?
Trong phạm vi hướng nghiệp cho con em trong các gia đình bình thường hiện nay, chị Phương Quỳnh bạn tôi có lần kể cho tôi chuyện sau.
-- Con mình học khá giỏi, nhưng đi làm cho các ông chủ trong nước một hồi, thấy đằng nào cũng chết.
Làm cho nhà nước thì gặp toàn những ông dốt, lại còn cái lối phong kiến cổ lỗ, coi bọn mới ra trường như kẻ ăn người ở, chuyên sai vặt.
Làm cho tư nhân - nhất là tư nhân xuất thân Hà Nội - cũng phần lớn là bọn trương ra cái biển thật to để dọa thiên hạ, chưa làm đã lo buôn lậu với lại đi hối lộ cấp trên cùng là sẵn sàng cạnh tranh với các đồng nghiệp bằng mọi thủ đoạn man rợ.
Và Phương Quỳnh khuyên:
-- Các cậu có con bây giờ thì phải tính trước đi, cố hướng con cái kiếm được việc cho các hãng nước ngoài, ở đó cắn răng mà học lấy nghề thì mới nên người được. Vài điều tôi tạm rút ra cho mình:
+ Xã hội VN từ nhiều thế kỷ nay chỉ được tổ chức theo những nguyên tắc quá đơn giản. Việc quản lý con người theo nghĩa đầy đủ nhất của chữ này chưa bao giờ được coi như một nghiệp vụ mà người ta phải học hỏi mới làm được. Cái khó nhất với nhiều người Việt có năng lực là tìm ra ông chủ xứng đáng với mình.
+ Chính vì chúng ta không có những nhà quản lý giỏi, những ông chủ giỏi mà mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cứ mãi mãi lạc hậu, và trước mắt chỉ đi làm ăn dưới quyền chỉ đạo của người nước ngoài, ta mới khá lên được.
+Chỉ lúc đó, ta mới có quyền tự hào. Chỉ lúc đó, dân ta mới sửa được những tính xấu cố hữu như lười biếng dối trá ăn cắp …và – cho tôi bổ sung thêm một thói xấu nữa -- là chỉ giỏi cãi bừa cãi sằng, hễ ai động vào tử huyệt của mình là chửi người ta thiếu thiện chí.
NGƯỜI TRÍ THỨC
KHÁC VỚI NGƯỜI LÀM KHOA HỌC THUẦN TÚY Ở CHỖ NÀO?
Ngày 10 tháng 9 năm 2018
Luận điểm căn bản của tôi trong bài trước 8-9-2018: “không có độc lập kinh tế thì mọi nền độc lập chỉ là giả tạo”.
Ý này không phải do tôi nghĩ ra mà do nghe được trong một buổi nói chuyện rông rãi của Trần Đại Nghĩa ( 1913-1997).
Đại ý ông bảo trong xây dựng đất nước thời hậu chiến, đừng ỷ vào tài nguyên mà phải dành nhiều quan tâm tới khâu quản lý, không quản lý tốt kinh tế không khác gì thùng không đáy. Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả.
Những ý tưởng mà tôi đã được nghe từ 1976 này, tôi cứ nhớ mãi ; tôi đã trình bày lại trong một bài viết in ở Thời báo kinh tế Sài gòn 2008 và đưa trên blog của mình ngày 13 – 12 - 2008
Trước khi mời các bạn đọc ở dưới, tôi muốn thêm một số suy nghĩ về một khía cạnh trong quan niệm "cái gì là chính trong sứ mệnh của người trí thức".
Trong các tài liệu chính thức , người ta chỉ nói Trần Đại Nghĩa như một quan chức và cùng lắm thì gọi ông là nhà trí thức mang kiến thức chuyên môn phục vụ đất nước.
Còn với chúng tôi – tôi tin có nhiều người cũng nghĩ như tôi – qua bài nói chuyện này thấy ông là một trí thức thực thụ với nghĩa không chỉ bó hẹp trong chuyên môn của mình mà còn quan tâm và có ý kiến về những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và đó là những ý kiến đúng - những điều tiên tri.
Chỉ có một điều tôi để ý thì thấy những ý kiến loại này không bao giờ được ghi nhận trong các tài liệu chính thức về Trần Đại Nghĩa .
Người ta không bao giờ coi trọng những ý kiến này của ông.
Việc của người trí thức là thực hiện những điều cấp trên đã nghĩ, chứ không được bàn góp và nghĩ thay cấp trên – chúng tôi được nghe nói đi nói lại như vậy và thấy được áp dụng với cả Trần Đại Nghĩa .
Giả sử như hôm ấy tôi không nghe ông nói chuyện thì chả bao giờ biết ông có ý ấy.
Trên con đường đi tới của mình, chúng tôi không được sự gợi mở của những người đi trước.
Tôi không muốn các bạn trẻ hơn lặp lại bi kịch của chúng tôi, nên đã tìm cách phổ biến lại những ý của Trần Đại Nghĩa và có bài dưới đây.
NHỮNG LỐI ĐOẠN TRƯỜNG
Thư viện quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm. Một ngày hè 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện loại đó mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể ở Tokyô, các kỹ sư đứng ở ngã tư, để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền. Quay về mình ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên mà phải dành nhiều quan tâm tới khâu quản lý, không quản lý tốt kinh tế không khác gì thùng không đáy. Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả. Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển ông gợi ý đủ chuyện từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Chuyện nhỏ ( đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ “ ) đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở VN đào tạo 100 người chỉ đậu được 4 người. Chuyện lớn ( cái này thì lớn thật ) - phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ. Một điều lạ nữa với bọn tôi là ở chỗ tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội. Ông báo động là cả nước 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội tâm lý nhân dân không tốt, thì cũng quản lý kinh tế không tốt. Tổng quát hơn ông nói đến cái sự mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình. Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được. Song Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật “ ấy gây ra. Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình nắm được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.
Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ ! Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi.
Hàng ngày có nhiều việc khiến tôi hối hận. Ai mà chẳng thế, có làm là có sai. Nhưng tôi nhớ nhất một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại. Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần. Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần. Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi. Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị Hòn chì thì mất hòn đất thì còn, Hoa thường hay héo có thường tươi, Răng cắn phải lưỡi… Nghe hơi tục thì có câu Miệng khôn trôn dại. Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi. Đoạn trường ở đây có nghĩa là đứt ruột. Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò của ma quỷ. Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi. Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao ?
HAI Ý TƯỞNG
CẢNH BÁO SÂU SẮC
CỦA TRẦN ĐẠI NGHĨA
Ngày 17 tháng 9 năm 2018
Khi bài viết Người trí thức đưa trên fb của tôi 8-9-18, anh bạn Trần Tâm có một đoạn "còm- mèn' dài.
Tôi nghĩ nhiều bạn đọc không chắc đã đọc đoạn này nên đưa lại dưới đây và có thêm bình luận.
Anh Tâm viết:
Xin phép anh điểm lại 2 câu chuyện về GS Trần Đại Nghĩa.
Thứ nhất, lần đầu tiên tôi được nghe ông nói chuyện ở UBKHNN 39 Trần Hưng Đạo 1973 về công nghiệp hóa và cải cách quản lý kinh tế.
Khi nói về ý nghĩa của công nghiệp hóa, ông bắt đầu bằng câu “thu nhập quốc dân của Việt Nam trên đầu người, từ thời Hai Bà Trưng đến nay chưa có gì thay đổi cơ bản”.
Về cơ giới hóa nông nghiệp “vấn đề chính của cơ giới hóa nông nghiệp là giải quyết nhân lực dư thừa của quá trình cơ giới hóa”.
Về quản lý kinh tế “với qui mô như nền kinh tế Việt Nam hiện tại, ở Mỹ người ta chỉ cần 15-20 nhà quản lý”.
Thứ hai, năm 1980 trong một cuộc nói chuyện của ĐT Võ Nguyên Giáp (Phó TT phụ trách Khoa học kỹ thuật) tại Nghĩa Đô, ông Giáp nêu rất nhiều yêu cầu về đột phá công nghệ cho khoa học kỹ thuật Việt Nam.
GS Trần Đại Nghĩa (Viện trưởng VKHVN lúc đó) đã nhẹ nhàng phản biện từng mục và khẳng định, rằng cơ sở kỹ thuật (kể cả quốc phòng) của Việt Nam về mặt kỹ thuật quá yếu để thực hiện những yêu cầu như vậy, còn nền kinh tế thì càng yếu hơn để đầu tư và tiếp nhận kết quả nghiên cứu.
Ngay cả việc tiếp nhận công nghệ Liên Xô cũng không có ý nghĩa về 2 phương diện.
Một, rất tốn phí nguyên liệu và nhiên liệu.
Hai, không tương thích với công nghệ Phương Tây và cụ thể là những nền tảng còn lại ở miền Nam sau 1975.
Tóm lại, không có triển vọng vì trước sau cũng phải làm lại.
Ông Giáp rất giận và nạt trước bàn dân thiên hạ “Anh Nghĩa, tại sao anh toàn bàn lùi, nếu nói như anh chúng ta làm sao thắng được Mỹ”.
Ông Nghĩa chỉ nhẹ nhàng trả lời “Công nghệ là bài toán kinh tế. Làm kinh tế khác với tiến hành chiến tranh” và sau đó hoàn toàn im lặng.
***
Nếu tôi không nhầm thì đọc đoạn này, nhiều bạn chỉ chú ý nhân cách con người nhà khoa học.
Tôi lại muốn chúng ta chú ý hơn tới tầm vóc suy nghĩ của nhà trí thức ở ông kỹ sư.
Thứ nhất là câu về cơ giới hóa nông nghiệp “vấn đề chính của cơ giới hóa nông nghiệp là giải quyết nhân lực dư thừa của quá trình cơ giới hóa”.
Ýnày rất đúng với những bàn bạc về cách mạng 4.0 hiện nay.
Thứ hai là ý “Công nghệ là bài toán kinh tế. Làm kinh tế khác với tiến hành chiến tranh”
Trong toàn xã hội chúng ta hiện nay tư duy chiến tranh vẫn đang bao trùm và chỉ đạo mọi hoạt động của chúng ta.
Tư duy chiến tranh này nằm ở hàng loạt cái mà ta quen gọi là “nhận định tình hình, đánh giá hoàn cảnh đất nước khả năng của con người sau chiến tranh khả năng đáp ứng tình hình của những người quản lý".
Nói cách khác nó làm cho chúng ta không hiểu mình là gì mình đang ở chỗ nào thế giới và mình sẽ đi tới đâu.
Cả đến tướng Gíáp cũng vậy.
Nói Trần Đại Nghiã hiểu thực tế chưa đủ. Phải nói là ông hiểu cách suy nghĩ của chúng ta sau chiến tranh và cũng hiểu cách suy nghĩ đó là cái lực ngăn cản chúng ta đi tới.
Sau những thất bại chúng ta hay bảo nhau phải đổi mới và trong một số trường hợp đã nói tới cả đổi mới tư duy.
Nhưng tôi tưởng phải nói rõ hơn cần thực sự chuyển từ tư duy chiến tranh sang tư duy làm kinh tế, phải làm khác hẳn cái cách mà 43 năm nay ta bảo nhau làm.
Lúc này tôi chỉ ước ao có một công trình nghiên cứu về quá trình tư tưởng của Trần Đại Nghiã.
TRƯỜNG CHU VĂN AN VÀ NIÊN HỌC 1955-56 (HỒI KÝ)
Ngày 18 tháng 9 năm 2018
Trước 10-1954, gia đình tôi ở một ngõ nhỏ trong phố Thụy Khuê – quãng giữa Sở xe điện và Nhà máy giặt. Những năm còn học ở trường tiểu học Thụy Khuê, tôi đã được nghe nói nhiều về Trường Bưởi. Với lòng ngưỡng mộ của tuổi học trò, nhiều phen ngồi tàu điện xuôi ngược Chợ Bưởi — Đồng Xuân, tôi không khỏi liếc mắt về dãy nhà nằm bên Hồ Tây của Chu Văn An cũ.
Gọi là cũ, vì khu nhà đồ sộ, cây cối rợp bóng mát ở đầu phố, lúc ấy do nhà binh Pháp đóng, có tài liệu nói một binh đoàn xe tăng, nhưng tôi nhớ hình như là một đơn vị lính dù. Xe đỗ ngổn ngang bên trong, bên ngoài nhiều quãng còn chăng dây thép gai. Tôi chỉ nghe người lớn nói lại mà biết đó là trường Bưởi lừng lẫy.
Những năm tạm chiếm, học sinh Chu Văn An phải chuyển xuống học ở ngôi trường phố Cửa Bắc. Sau khi giải phóng thủ đô, trường mới dọn lên địa điểm hiện nay. Đấy cũng là năm tôi vừa vặn học xong tiểu học để chuẩn bị thi vào trường. Trong hai năm 1954-55 và 55-56, trường còn gộp chung cả trung học đệ nhất cấp ( bốn năm, đệ thất cho tới đệ tứ, ngày nay chúng ta gọi là trung học cơ sở), và đệ nhị cấp ( ba năm, đệ tam cho tới đệ nhất – tương đương phổ thông trung học).
Nhưng tôi còn phải vô duyên với Chu Văn An một năm nữa: lần đầu thi vào trường, khóa 1954 -55, tôi trượt.
Một năm thi trượt là một năm tôi đi học thêm, chờ năm sau thi lại. Một hai tháng vào tạm trường tư thục Thăng Long ở cuối phố Phùng Hưng. Rồi phần chính thời gian là đến một lớp ôn luyện ở phố Trần Quốc Toản. Ngày trước Quảng trường Ba Đình chỉ là một vườn hoa nhỏ tên nôm na gọi là vườn hoa Con Cóc. Từ phía Bách Thảo, có lối đi qua vườn hoa để thông ra đường Cột Cờ ( đại lộ Điện Biên Phủ ngày nay ) xuống phía Cửa Nam. Từ chỗ ở bên Thụy Khuê, sau khi đi dọc một quãng đường Hoàng Hoa Thám, tôi đã men theo con đường Cột Cờ — Cửa Nam này mới tới được nơi học.
Tôi đã đi như thế gần một năm ròng. Bước chân hướng về phía nam thành phố, nhưng lòng hướng cả về phía bắc, nơi có ngôi trường Chu Văn An thần thánh.
Có lẽ câu chuyện định hướng đời mình kiểu như thế này đối với một số bạn trẻ bây giờ có phần khó hiểu. Lớp người ít tuổi hơn tôi, lớp tuổi các cháu ở nhà, mới bắt đầu đi học không biết cảm giác đó. Quy trình thông thường là lớn lên ở đâu thì học cấp I ngay ở đấy. Rồi vào cấp II nào gần với nhà mình nhất. Không vào trường này thì vào trường khác. Tất cả hầm bà làng, cá mè một lứa hết. Đâu chẳng thế. Chẳng có trường nào hơn trường nào. Người ta tưởng là hàng đời nay, mọi người vẫn nghĩ như vậy.
Từ hồi kinh tế thị trường trở lại dân Hà Nội mới có chuyện phải cố cho con cái vào trường Hà Nội – Amsterdam, trường Chu Văn An.
Nhưng đối với gia đình tôi và bản thân tôi, mấy năm 1954-55 đã chỉ có một đinh ninh là phải vào Trường Bưởi. Cái chuyện chọn trường để học nó là đương nhiên như chuyện sống còn của con người. Tưởng như nó ở sẵn trong đầu óc, không phải nghe ai hoặc học theo ai hết.
Sau này nghĩ lại thấy thời gian chờ đợi ấy cũng lạ. Đằng đẵng một năm trời đi bộ hàng ngày năm sáu cây số để học thêm, chứ có ít đâu. Vậy mà chẳng cần vận dụng quyết tâm nghị lực gì cả. Bởi đây không phải là trường hợp riêng của tôi. Hồi ấy chung quanh mọi người đều nghĩ thế, ở địa vị mình mọi người đều làm thế. Vào trung học thì phải vào Chu Văn An. Và nếu chưa vào được thì bỏ ra học tư một năm để năm sau thi lại cũng không sao.
Một sớm cuối tháng tám 1955, sự chờ đợi đã được đền đáp xứng đáng. Cổng trường, trên cái bảng đặt sau tấm lưới mắt cáo có dán danh sách học sinh trúng tuyển, tên tôi đặt ở hàng thứ chín.
Mấy hôm sau thì tựu trường.
Suốt đời không bao giờ tôi quên được cái cảnh là đám học sinh đệ thất ( tương đương lớp sáu bây giờ) chờ ở ngoài cổng. Đúng giờ chúng tôi được hướng dẫn bước qua cổng trường. Từ phía sân trường, các anh chị lớp trên ùa ra đón. Là những người cuối cấp, dân đệ tam, đệ nhị các anh chị toàn những người to lớn, người nào cũng khiến chúng tôi choáng ngợp. Còn nhớ một anh bế thốc tôi lên, làm tôi đến nghẹt thở. Sau này đã vào trường, thỉnh thoảng tôi cứ thoáng đưa mắt tìm xem anh nào hôm ấy đã bế mình đó, mà chịu không nhận ra nổi.
Thiêng liêng làm sao cái cảm giác của buổi đầu nhập học! Cảm giác đó theo mãi trong tôi, nó như một thứ hương vị chan hòa trong không khí, lúc nào bọn tôi cũng ngây ngất.
Cảm giác ấy còn đến từ thày bạn mà tôi mới tiếp xúc.
Tôi cho rằng một trong những bất hạnh lớn nhất của con người hiện nay là không còn cảm giác thiêng liêng. Như đám cán bộ — công chức già cỗi không cảm thấy cái thiêng liêng của buổi đi làm. Mà đám học trò không cảm thấy thiêng liêng của buổi đi học thì cũng tương tự.
Thỉnh thoảng, có dịp hỏi han con cái trong nhà, tôi thấy chúng không có hiểu biết gì nhiều về trường chúng học. Ngoài cô giáo chính và một vài cô có dạy ở lớp, chúng chẳng biết một thày một cô nào ở trường. Hoặc có biết chăng thì toàn biết những chuyện không đâu vào đâu thường khi là những nét đời tư lặt vặt của họ.
Hồi những năm năm mươi của thế kỷ trước thì có khác. Cuối năm 1954, trường Thăng Long còn mở ở cái địa điểm cũ, đường Phùng Hưng. Một trường tư thục đệ nhất cấp thôi. Nhưng tôi nhớ ngoài cổng có một bảng kê ghi rõ trường có những giáo sư nào, giáo sư đó học ở những trường nào ra và đã từng dạy ở những trường nào.
Thói quen nghĩ tới các thày như những trí thức, mỗi thày giáo – dù chỉ tương đương trung học cơ sở hôm nay thôi – đã là một trí thức độc lập, là điều tôi được lây truyền từ hoàn cảnh xã hội và tôi mang nó vào trong cái nhìn về trường Chu Văn An.
Tuy mới chỉ năm đầu tức học đệ thất, nhưng tôi đã được nghe rằng trường tôi vừa nhập học có những giáo sư nổi tiếng dạy các lớp ban Tú tài. Thày Bùi Phùng dạy hóa. Thày Huấn dạy Sinh vật. Thày Nghiêm Sách dạy địa. Thường đi xích lô đến trường là thày Nguyễn Tường Phượng dạy văn. Dạy tiếng Pháp có ông bà mơ-xi-ơ Tongas. Dạy Hán văn là hai cụ đồ Nho, một cụ hơi mập, cụ Can, một cụ gày hơn, cụ Tiếp. Trong khi các thày khác mặc complet thì hai cụ cử cử đều khăn đóng áo dài.
Năm cuối cùng của chương trình học trong Hà Nội cũ còn ghi nhận sự có mặt của các thày từ kháng chiến mới bổ sung. Cảm tưởng của tôi chẳng có cơ sở gì, nhưng không hiểu sao tôi cứ tin rằng những người thày mới này, từ Thái Nguyên về hay từ Đức Thọ Hà Tĩnh ra, đều ghi nhớ rằng mình đang được chuyển về dạy ở một trường lớn, tầm cỡ quốc gia. Mỗi người có dịp tự nâng mình lên cho xứng với cái cơ sở giáo dục danh giá nhất mà mình được làm việc.
Giờ đây, ta không có loại trường chung cả cấp II lẫn cấp III nữa. Để dễ quản lý, tôi cũng thấy lý do đó là đúng. Nhưng hãy để cho tôi nói thêm như một ngoại lệ : kiểu gộp cả học sinh trung học vào một trường sáu bảy năm gì đó có cái hay của nó. Nó giúp cho bọn học trò tiểu học hôm qua chúng tôi dứt khoát với quá khứ của mình. Nó thầm thì vào tai rằng chúng tôi đã bước vào một quãng đời khác. Trước mắt chúng tôi, các anh chị học lớp trên hình như đã rất chững chạc. Chu Văn An 1955-56 là vậy.Tuy mới học năm đẩu, tôi đã nghe loáng thoáng đến tên tuổi các anh cán bộ hiệu đoàn. Anh Trai. Anh Dương Tự Minh. Một lần nào đó liên hoan, anh Qúy Dương cùng với anh Trần Hiếu song ca. Những tinh hoa đó có mặt trong trí nhớ của tôi về trường Chu Văn An một thuở.
Niên học 1955-56, bọn học sinh đệ thất chúng tôi học mãi ở cuối ngôi trường như thuở ban đầu của nó, tức ngôi nhà ba tầng sâu vào bên trong, giáp sang Sở trồng hoa và ươm cây, và gần với ngôi nhà biệt thự Hồ Tây của ông hiệu trưởng trường Bưởi cũ. Chỉ riêng cái việc bước qua cổng trường rồi còn phải đi mãi mới tới cuối trường đối với bọn học trò tuổi mười hai mười ba chúng tôi năm ấy đã là những chuyến đi kỳ lạ. Con đường xi măng bình dị. Những hàng cây cao đến mức ngửa hết cả cổ lên mới thấy ngọn. Lá lim lớp đang lưng trời phất phơ, lớp đã nằm im dưới đất mà sao trông vẫn sạch bong. Phải chúng tôi đang đi qua một nhà thờ lớn? Không biết, chỉ nhớ tất cả là khang trang cao ráo là thanh bình yên ả.
Đó là không kể lúc đó trường còn dải đất ven hồ, chạy suốt từ phía Công ty Công viên cho tới cái sân vận động mà mãi tới 1961, khi tôi rời trường, sân vẫn còn. Theo lệ thường thì không học sinh nào được bén mảng tới khu vực nguy hiểm đó. Nhưng chính vì vậy chúng tôi càng hướng về nó như một mảnh đất huyền bí. Sau những năm chiến tranh nơi ăn chốn ở nhập nhèm hỗn loạn, nay dải đất ven hồ đã trở thành khu nhà dân. Nhưng sao tôi cứ ước ao có ngày Chu Văn An lấy lại được phần tiếp giáp với hồ của mình. Cái phần mà chúng tôi không được bén mảng tới, cái phần dư thừa ấy từng làm cho hình ảnh của trường lung linh trong tâm trí lớp trẻ chúng tôi. Ước chi nó cũng tồn tại như thế trong lòng lớp trẻ tài năng về sau.
Cái sự rộng rãi chuẩn mực của trường như luôn thì thào vào tai chúng tôi rằng tất cả đang ở trong không khí của học vấn, chúng tôi vào đây là để học, chúng tôi được tôn trọng do đó cần phải giỏi giang chăm chỉ để trở nên anh tài đất nước, — không ai bảo ai mà cảm giác đó cứ lây lan và lắng đọng trong lòng người.
Thế Lữ có hai câu thơ mà Xuân Diệu rất thích nhắc lại Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy – Ngàn năm chưa dễ đã ai quên. Những cảm giác trên đối với tôi là thiêng liêng vì nó thuộc về thuở ban đầu năm đệ thất.
Những năm từ khoảng 1958 trở đi, Chu Văn An cũ được xẻ ra thành hai trường riêng. Cấp II học buổi chiều, cấp III học buổi sáng. Nét quán xuyến trong đời sống giáo dục của chúng ta những năm về sau này là sự gần gũi với đời sống. Vẫn còn kỷ niệm về những giờ lên lớp, nhưng ấn tượng hơn lại là những buổi học ngoại khóa. Hồi cấp III, học sinh lớp 8C chúng tôi – lớp có Đặng Thùy Trâm — xuống xã Phú Thượng đâu đến nửa tháng, tham gia gặt lúa. Hàng tuần vào hai buổi sáng thứ tư thứ sáu, chúng tôi ra đường thanh niên, một số đi xe bò chở cát lên đầu giốc, một số theo xe goòng đổ cát xuống hồ mở rộng con đường Cổ Ngư gầy guộc cũ thành đường Thanh Niên bề thế. Hồi cấp II, có lần lớp sáu chúng tôi còn được điều xuống san đất ở Mai Dịch. Theo sự bươn trải chung của xã hội, các nhà trường trở về với sự lầm lụi hàng ngày.
Ngay lúc ấy, một số kỷ niệm mấy năm về trước đã bắt đầu hiện về. Còn nhớ các anh lớp trên – tương đương lớp 11- 12 hiện nay – năm 1955 còn rất chững chạc, và các chị dưới trường Trưng Vương thì mặc áo dài, vận động mãi các chị mới mặc áo ngắn đi học.
Mới một hai năm qua đi, mà đã cảm thấy như xa lăm lắm.
Thế nhưng tinh thần của một cái gì tinh hoa, vượt lên thông thường, tôi nghĩ vẫn còn mãi trong lớp học sinh học Chu Văn An năm ấy.
Sắp tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Năm ngoái 2006, có người hỏi tôi có phải như Hà Nội mấy chục năm nay đã sa sút đi, con người Hà Nội xô bồ và quê mùa tỉnh lẻ hơn. Tôi bảo làm sao không mòn mỏi được, bởi cuộc chiến tranh lớn như vậy xô đẩy, và nhìn chung nửa thế kỷ qua, Hà Nội chưa bao giờ được là chính mình.
Những năm trước chiến tranh lớp thanh niên mới lớn chúng tôi nghĩ chuyện học xong là đi xa, chứ mấy khi nghĩ là mình sẽ cống hiến ở ngay Hà Nội.
Dẫu chưa hết hẳn, nhưng cách nghĩ ấy ngày nay không ai muốn nhớ tới nữa.
Bản thân cái việc giờ đây, nhiều người bắt đầu thấy cần phải nghĩ lại về Hà Nội và muốn đi tìm cái chất cao quý riêng của con người Hà Nội – riêng việc đó thôi cũng chứng tỏ có một Hà Nội kỳ lạ, Hà Nội mông lung mà cụ thể, một thứ chất Hà Nội không một biến động nào làm phai mờ nổi. Cả người sinh ra ở đây, cả người mới đến đây năm năm mười năm hai mươi năm, bất cứ ai bắt đầu tự hỏi về mình, mối quan hệ của mình với mảnh đất kinh kỳ thiêng liêng, và tưởng tượng ra một Hà Nội sang trọng để soi mình, ấy là lúc trong họ bắt đầu có một con người Hà Nội chân chính hình thành.
Số phận trường Chu Văn An – một địa danh văn hóa Thủ đô – có gì cũng giống như chính số phận Hà Nội.
Con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu những gì được chắt lọc trong thời gian, những gì gọi là tinh hoa thực sự, sẽ quay trở lại.
VỀ NHỮNG TÌM TÒI CỦA GS HỒ NGỌC ĐẠI
Ngày 20 tháng 9 năm 2018
Trong một môi trường tù đọng, trì trệ, mọi sự tìm tòi dù có đúng đắn đến đâu, cũng không tránh khỏi những khía cạnh mà người ta phải gọi là kỳ dị.
Tôi đã nghĩ như vậy nhân một lần nói chuyện với học giả Nguyễn Hiến Lê năm 1976 về trường hợp nhà văn Nguyễn Tuân. Khi tôi nói với ông Lê rằng ở miền Bắc, đời sống nghệ thuật trì trệ nhất là về mặt hình thức, ông Lê nói rằng không, ở Bắc cũng có người cũng có tìm tòi đấy chứ và ông nêu trường hợp Nguyễn Tuân là ví dụ. Tôi không có dịp trình bày chi tiết về sự phát triển ngòi bút của Nguyễn Tuân trong những năm chống Mỹ, nhưng tôi nói ngay cái điều mà tôi đã nghĩ từ trước rằng một số tìm tòi của Nguyễn Tuân không được tự nhiên, cái cuộc tìm tòi ấy có gì không phải do nhu cầu nội tại, nó do rỗi rãi chán chường quá mà tìm, bế tắc mà tìm, và đứng về mặt mỹ học mà nói thì những tìm tòi đó có màu sắc kì quái.
Tôi lại muốn sử dụng ý đó đối với những tìm tòi của GS Hồ Ngọc Đại, trên lĩnh vực dạy tiếng Việt cho học sinh cấp một nói riêng và hướng phát triển giáo dục nói chung. Trong lúc tiếng Việt, kể cả tiếng Việt ở nhà trường đang bị bao nhiêu thách thức, thì câu chuyện dạy tiếng Việt cho học sinh mới đi học chỉ là chuyện nhỏ, tôi nghĩ là không cần phải dành cho nó nhiều thì giờ và tâm huyết đến thế.
Ngoài ra, tôi lại thấy ngay trong quan niệm của GS về ngôn ngữ cũng còn có vấn đề mà tôi không thể chia sẻ. Quan niệm của GS Đại và các đồng nghiệp của ông cho rằng trong ngôn ngữ thì phần âm là phần chủ, phần chữ viết là phần thay thế. Tôi thấy ngược lại chính ra trong ngôn ngữ, chữ viết mới là phần quan trọng vì nó là phần lí trí trong nhận thức về ngôn ngữ của một cộng đồng. Trong tiếng Hán chẳng hạn nhiều từ đã có chữ viết trước rồi mới có cách đọc.Vì thế, trong tiếng Bắc Kinh có rất nhiều từ đồng âm và lúc đọc theo kiểu người Việt cũng vậy.
GS Đại cho biết nguyên tắc sư phạm của ông là trò làm lấy mọi việc, trong tiết học thầy giáo là người giao việc học trò mới là kẻ thi công bài học. Tôi rất dị ứng với cái công thức này vì nó trái với lẽ phải thông thường. Về nguyên tắc phải dạy như thế nào để học sinh có thể chủ động trong tiếp thu tiếp nhận. Nhưng nói rằng các em có thể hiểu ý đồ của thầy rồi tự mình tìm tòi trong lĩnh vực kiến thức, thì quả là câu chuyện xa vời, chỉ có những học sinh thiên tài nào đó mới có thể thấu hiểu ý định của những ông thầy thiên tài nói trên.
Tôi có một cháu trai năm nay 25 tuổi. Cháu nói rằng có nhiều bạn cùng tuổi từng học ỏ trường thày Đại và các bạn ấy có nếp tư duy tốt. Nhưng 20 năm trước tôi không xin cho con vào trường thực nghiệm và bây giờ cũng không lấy làm tiếc.Theo tôi, những tìm tòi của GS Đại có đúng chăng nữa thì là chỉ đúng với những trường hợp lý tưởng, mà không thể sử dụng đại trà ở các lớp, nhất là trong trường hợp nhà trường và học trò nước ta hiện nay.
Dẫu sao trường thực nghiệm cũng còn là một cái gì có hình thù rõ rệt. Nó khác hẳn với những cuộc tìm tòi khác trong ngành giáo dục mà người ta đã chi phí không biết bao nhiêu tiền của, nhưng kết cục thì không ai thấy rõ là như thế nào.
Qua trường hợp của trường thực nghiệm, tôi càng thấy rằng nền giáo dục ta hiện nay là vô phương cứu chữa, như mấy bài về giáo dục mà tôi đã viết mấy năm trước.
NGAY TRONG CHUYÊN MÔN CỦA MÌNH
HÃY CHUYỂN BIẾN SỚM HƠN!
Ngày 21 tháng 9 năm 2018
Khi ông Phan Đình Diệu qua đời, ngoài các công trình khoa học, người ta nhắc đến những phát biểu của ông, về các vấn đề chính trị xã hội rất trực tiếp.
Những phát biểu đã hai mươi năm trước này đã gây cho ông bao phiền phức khi đang sống nhưng lại là cái điều người ta trân trọng nhất trong cái nhìn của một trí thức.
Còn khi ông Phan Huy Lê qua đời, bè bạn và những người yêu mến ông thích nhắc tới những phát biểu mới nhất của ông về sử Việt Nam, như vấn đề triều Nguyễn, vấn đề nhà nước của người Chàm ở miền Nam Trung Bộ, và nói chung là sự có mặt của các dân tộc ngoài người Kinh trên lãnh thổ Việt Nam.
Người ta bảo rằng ông đã khỏa lấp nhiều khoảng trống lịch sử.
Nhưng oái oăm thay, đó lại là những khoảng trống do chính ông tạo ra.
Trong gần suốt cuộc đời ông -- theo chỗ đọc được của tôi -- ông đã để hết tâm huyết khởi động và cầm chịch cho thứ lịch sử cổ lỗ, trì trệ mà người ta đang sử dụng để định hướng quyền lực và dạy cho học sinh .
Sự khác nhau giữa Phan Đình Diệu và Phan Huy Lê về căn bản chính là sự khác nhau giữa một người trí thức thực thụ và một trí thức cung đình hiện đại, nhưng được hình thành theo kiểu sử quan thời phong kiến.
Những chuyển biến cuối đời của Phan Huy Lê rất đáng quý nhưng hơi muộn. Bản di chúc cuối đời của ông, nếu có thì theo tôi đoán nó sẽ là một câu ngắn gọn:
--Hỡi những người làm sử hãy chuyển biến sớm hơn!
MỘT NỀN GIÁO DỤC QUÁ ĐƠN SƠ
Ngày 24 tháng 9 năm 2018
Để yên tâm rằng nền giáo dục hiện nay là lạc hậu – tôi muốn chúng ta cùng nói tới một số lý do căn bản:
-- trước thời hiện đại chúng ta có nền giáo dục quá đơn sơ
– sau 1945, chúng ta có tiếp thu được cái hình hài hiện đại nhưng nhiều mặt lại quay về đúng tinh thần của nền giáo dục trung đại đó
– cũng như các mặt kinh tế văn hóa, một thời gian dài chúng ta chỉ có học Nga mà xa lạ với giáo dục chung trên thế giới.
(Muốn biết chúng ta đang khép kín như thế nào, chỉ cần đọc thư mục ghi sau các công trình nghiên cứu là đủ .)
....
Mỗi vấn đề trên cần có sự nghiên cứu trong cả quá trình lịch sử của chúng. Tôi không làm được, nhưng vẫn mong có các bạn khác thử làm.
Dưới đây tôi mới chỉ chạm tới một vài ý nhỏ trong phần truyền thống giáo dục.
*****
Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại.
Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục , tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó.
Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi.
Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn VN cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy “năm ba chữ thánh hiền”.
Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt (nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) -- thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ? Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được?!
Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng .
Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và … biết làm tính .
Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật thì một nét đặc thù của trí thức VN trong lịch sử là tính cách lưỡng phân.
Tác giả bài này giải thích:
-- Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân.
-- Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu. Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn, họ dễ bị hư hỏng.
Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái:
Các con nối nghiệp cha nên biết
Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà
Thế sao vẫn có những người nông dân lúc nào cũng giục giã con cái miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử ?
Việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức.
Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn miếu.
Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn.
Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác.
Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học VN bằng con mắt thống kê, người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui: Đó là nhiều nhà văn nhà thơ VN thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm (đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển).
Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng—chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian.
Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn "Kho tàng về các ông trạng VN" thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng.
Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta.
Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao.
Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là "Lịch triều hiến chương loại chí", chỉ đỗ đến tú tài.
Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo.
Còn như muốn hiểu tại sao họ thi đỗ thì chúng ta có thể tìm đọc ngay những giai thoại về họ.
Ví như trường hợp Nguyễn Giản Thanh mà trong dân gian thường gọi là Trạng Me. Vũ Ngọc Khánh, trong sách đã dẫn, chép rằng lẽ ra ông này chỉ đỗ loại nhì (bảng nhãn), chẳng qua hôm vào yết kiến vua có cả mẹ nuôi vua ở đấy, bà này thấy Nguyễn Giản Thanh mặt mũi khôi ngô liền ngẫu nhiên hỏi: “Người này chắc là trạng nguyên ?“ , do đó nhà vua, vì muốn chiều lòng mẹ nuôi, lấy Nguyễn Giản Thanh làm Trạng.
Đằng sau câu chuyện vui vui, có một sự thật, ấy là xưa kia, việc phong trạng dù được đề cao trên trời dưới biển ghê gớm như vậy, đôi khi vẫn mang nhiều tính cách ngẫu nhiên tuỳ tiện; các vua chúa rất hay can thiệp vào công việc định giá, phong tặng; các danh hiệu khi ấy chỉ là sản phẩm của những cơn nóng lạnh bất thường của họ.
Trong trường hợp những cường hào phất lên nắm được quyền lực, họ chỉ dùng đám kẻ sĩ nửa mùa chung quanh như một thứ thư lại để sai vặt, và ban phát các chức danh để làm sang cho vương quốc mà họ là chủ.
Họ chỉ cần người trung thành chứ không hẳn đã cần người giỏi. Giữa tài năng và tính dễ sai bảo, cái thứ hai quan trọng hơn.
BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI
Ngày 26 tháng 9 năm 2018
Một người em họ tôi sống ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 75, đến năm 1985 thì vượt biển sang Mỹ. Cô kể với tôi là lúc đó vì cần tiền giúp đỡ gia đình, cô đã phải làm rất nhiều nghề, miễn là nghề đó có tiền. Chẳng hạn có lúc cô phải sáng làm ở bệnh viện này chiều lại làm ở một bệnh viện khác và bữa ăn trua chỉ là hộp cơm ăn ở trên xe trong lúc di chuyển.
Sau đó buổi tối, cô còn nhận trực đêm ở một khách sạn và làm sổ sách kế toán cho họ.
Có điều lạ là mặc dù mục đích thiết thực là giúp đỡ gia đình, nhưng cô vẫn thích cùng lúc học hỏi nhiều nghề khác nhau, cả những nghề mà cô chưa từng quen biết, cô bảo nếu nó chưa giúp ích cho mình lúc này thì nó sẽ giúp ích cho mình lúc khác.
Cô kể với tôi chuyện này vào đầu những năm 2000, và trong câu chuyện, cô lập tức nêu lên một trường hợp ngược lại là những người Việt mới sang Mỹ mấy năm gần đây. Không kể là đến với đất người bằng con đường hợp pháp, hay đi chui đi lủi, lớp trẻ bây giờ hiện ra là những con người rất khôn vặt thực ra là rất lười biếng, chỉ chăm chăm tìm cách khai thác những thuận lợi của xã hội Mỹ, và kiếm những việc nào vừa đỡ tốn sức vừa được nhiều tiền, và nếu việc kiếm tiền không dễ thì thà nghỉ đi chơi lang thang, còn hơn là nhận làm những việc khó. Điều này không chỉ đúng với những con người ra đi từ Hà Nội mà còn đúng với những em có gia đình sống lâu năm ở Sài Gòn.
Tôi được biết một trong những nguyên tắc sống của người Mỹ đích thực là chọn việc khó mà làm, giữa hai việc dễ và khó, khi kiếm được cùng một số tiền như nhau, thì họ chọn việc khó, vì tin rằng cái việc khó ấy sẽ có lợi cho việc rèn luyện tính cách của họ. Tôi không rõ là điều tôi nghe được đó có đúng không, nhưng tôi thấy nhiều người nói và nhiều tài liệu nói.
Quay trở lại trường hợp của cô em tôi và lớp trẻ mới sang Mỹ hiện nay. Tôi không nói hết với cô mà chỉ thầm nghĩ rằng đó là một nhận xét đúng.
Nhiều xí nghiệp nước ngoài sang Việt nam tuyển dụng lao động, họ thường thất vọng vì thuê người Việt tưởng rẻ mà hóa đắt.
Công nhân ta, ngoài những tính xấu như hay táy máy mọi đồ vật, thường sức yếu mà lại không chịu cố gắng, hay chuyển công việc từ chỗ này sang chỗ khác. Tất nhiên là trước tình trạng như vậy họ đã có cách đối phó khiến cho mình rất đau đớn. Cuối cùng người thua thiệt vẫn là mình.
Tuy nhiên cái nhận xét rằng người Việt sau chiến tranh - nhất là ở hoàn cảnh chiên tranh toàn dân như ở miền Bắc - thường sinh ra lười biếng, chọn việc dễ để làm và không có ý để làm lâu dài nhận xét đó rất phổ biến.
Sau một thời gian làm việc với các chủ nước ngoài công nhân ta nhất là giới trẻ không học hỏi được nhiều để có được những đức tính tốt cần thiết cho con người hiện đại.
Đối chiếu với người lao động Việt Nam thời tiền chiến và ở Sài Gòn thời kì trước 75, thì nay phải gọi là một sự suy thoái.
DÒNG GIỐNG THOÁI HÓA
Trong việc chữa bệnh, ở ta hiện nay có một nguyên tắc chi phối là chỉ chữa cho dứt cơn mà không có khả năng chữa được khỏi bệnh.
Người già hiện nay sống lâu hơn, tuổi thọ kéo dài, nhưng không có những ông già bà già khỏe mạnh. Lớp trẻ 25 – 30, nhiều người đã mắc bệnh mà trước kia chỉ người cao tuổi mới mắc phải.
Một người bác sĩ bảo với tôi rằng trong những điều kiện như nhau, thì một đứa con thứ hai sinh ra sau đứa thứ nhất mà bố mẹ chúng đã cho ra thai sớm, sẽ không bao giờ có được những tố chất tốt đẹp, như đứa thứ nhất xấu số.
Nếu lấy tiêu chuẩn này mà suy, thì dân tộc ta đang trong một sự thoái hóa không gì cứu vãn nổi.
Là một người vừa trải qua tai biến, tôi cảm thấy một cách rõ rệt cái yếu của người mình trong việc chăm sóc con người. Cũng như giáo dục nền y tế thời tiền hiện đại rất đơn sơ. Tôi nhớ một câu của nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Ông kể rằng người Tàu từng khái quát:”Người Việt sống trên đống thuốc nhưng cả đời chết vì thiếu thuốc”
CHIẾN TRANH KHƠI DÒNG
CHO NHỮNG Ý TƯỞNG LÀM GIÀU BẤT CHÍNH
Ngày 27 tháng 9 năm 2018
Lười biếng dối trá làm càn làm bậy .... rất phổ biến trong thời hậu chiến. Trên đường tìm tòi giải thích cả xu thế tha hóa của xã hội tôi tìm thấy hai nguyên nhân
một, nó là cái di sản đáng buồn tồn tại từ thời trung đại
hai, nguyên nhân chiến tranh.
Tôi đã viết về cả hai điều đó trong bài “Triết lý của ăn vụng làm càn” đưa trên blog cá nhân 21-9-13
Đoạn trích dươi đây nói về những tư tưởng đang hoành hành mà chúng ta không sao kiểm soát nổi ấy có liên quan tới chiến tranh ra sao
***
Ta chỉ hay nói chiến tranh là một dịp khẳng định sức mạnh của dân tộc và ta sẽ vận dụng trong thời hậu chiến.
Chỗ ta hay quên — ba chục năm ấy là một cuộc chiến tranh khủng khiếp, nó làm sai lạc cả bản chất con người chúng ta đến mức rất khó gượng dậy .
Còn nhớ hồi ấy, ở miền Bắc, nhu cầu động viên thanh niên đi bộ đội rất cao. Học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường khi cần cũng được gọi đi.
Để giúp người đi thêm yên lòng, có hẳn một chủ trương là những thanh niên như vậy, dù không học xong cấp III, cũng cho tốt nghiệp.
Hơn thế nữa, dù trước đó họ có là những thanh niên càn quấy đi nữa thì việc họ chấp nhận ra đi đã xóa sạch tất cả. Họ được coi là những người có hạnh kiểm tốt. Sự có mặt ở chiến trường, sự tuân theo mệnh lệnh đã là cái tiêu chuẩn lớn nhất để đánh giá con người. Họ trở thành những tấm gương để lớp sau học theo.
Chiến tranh không có chỗ cho sự suy nghĩ phải trái. Nhân danh những mục đích lớn, thì thủ đoạn nào cũng được phép. Được làm vua thua làm giặc, ai trụ lại được trong chiến tranh thành anh hùng, thành người có công tha hồ làm bậy.
Sang thời hậu chiến, kinh tế đóng vai trò mặt trận chính. Nhu cầu của đất nước là phát triển sản xuất để thêm nhiều của cải hàng hóa, là xây dựng, là làm hàng xuất khẩu, là hội nhập …
Trong hoàn cảnh một xã hội rệu rã tan hoang, hàng núi chi phí bầy ra trước mắt, thì tất cả các hoạt động đa dạng thời hậu chiến rút lại là làm sao để có tiền. Lý tưởng nhất là mỗi địa phương mỗi đơn vị mỗi cá nhân làm thêm ra tiền để tự nuôi và nếu nộp cho nhà nước thì càng nhiều càng tốt.
Khả năng sinh lợi được coi là khả năng lớn nhất mà cấp trên đòi hỏi ở cấp dưới, các cơ quan công quyền đòi hỏi ở người dân. Nó là tư tưởng mà cũng là đạo lý trong thời đại mới.
Một xu thế suy nghĩ đang thịnh hành, đóng vai một thứ luật miệng, người ta chỉ cần hiểu ngầm với nhau. Anh có thể đi buôn dù chức năng anh không phải là buôn; anh có thể chạy chọt xin xỏ, anh có thể có những sáng kiến kỳ cục, miễn là anh gây được một thành tựu có tiếng vang trong xã hội …
Trong chiến tranh, nhân danh chống lại kẻ thù, người ta dành cho mình cái quyền tàn phá cả các đô thị, các di sản, cần bao mạng người cũng hy sinh không cần tính toán; thì trong làm ăn thời nay, để phục vụ cho việc làm giầu (cho cộng đồng thì ít mà cho cá nhân thì nhiều)-- hầm mỏ bị bòn rút đến tàn nhẫn, rừng nguyên sinh bị triệt phá, thế hệ trẻ bị thả nổi để rồi cuốn theo đủ trò trụy lạc mới học mót được của nước ngoài.
Nói chiến tranh tưởng đã lùi xa mà dư âm còn vang vọng, tinh thần của nó còn chi phối nhiều hành động của con người là vì thế.
HAI HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỀ GIÁO DỤC Ở MYANMAR
Ngày 29 tháng 9 năm 2018
Theo chỗ tôi đọc được khi bàn về cải cách ở Myanmar, lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi chỉ đề ra cho ngành giáo dục những mục tiêu khiêm tốn .
Trước tiên bà bảo, sau giai đoạn thuộc địa và thời kỳ sống trong chuyên chế, nay cái mà Myanmar cần là đào tạo nhiều thợ học nghề chứ không phải đào tạo kỹ sư.
Đội ngũ trí thức trẻ, cần thì cần thật nhưng phải là thứ thiệt.
Lấy đâu ra đại học tử tế để có số kỹ sư cần thiết ấy?
Vậy phải tạm xếp yêu cầu đó lại.
Cách chuẩn bị tích cực nhất là nhờ nước ngoài, theo kinh nghiệm của Myanmar là nhờ Anh.
Lâu nay sách sử dạy trong các trường học Myanmar vẫn soạn theo tinh thần của các nhà sử học Anh khi viết về Myanmar.
Cả nền giáo dục trước sau tính là phải theo những chuẩn mực quốc tế. Riêng đại học Rangoon vẫn là đại học có tiếng ở Đông Nam Á.
Vậy mà theo Aung San Suu Kyi, thế vẫn chưa đủ. Bà bảo trong thời gian giới quân sự nắm quyền, giới sinh viên được đào tạo thành những con người biết vâng lời và làm theo mệnh lệnh hơn là con người sáng tạo.
Và bà đề nghị phải làm lại nền đại học này. Trong tình hình của Myanmar, nước phải nhờ là nước Anh.
KHÓ NUỐT
Thoáng đọc, chắc ai cũng thấy các đề nghị nói trên dựa trên những nguyên tắc xa lạ với giáo dục VN.
Ngay cái chuyện đừng tính đại học vội mà hãy lo đào tạo công nhân lành nghề -- ý kiến ấy cũng khó nuốt lắm.
Như thế là thoái thác cái đề án “xây dựng công nghiệp hiện đại nông nghiệp hiện đại, văn hoá giáo dục tiên tiến” sao ? Ai mà chịu nổi.
Đến như cái điểm đi nhờ giáo dục nước ngoài, lại càng không ai nghe được.
Ta quen thói tự tin, cho rằng cái gì cũng phải lấy tinh thần độc lập tự chủ làm đầu.
Thế thì ai lại muối mặt đi nhờ các nước phương Tây mà ta vừa thèm muốn được như họ, vừa căm ghét sao họ hơn mình nhiều thế?
Sở dĩ người Myanmar đi tới những định hướng trên đây, bởi ở họ có một tinh thần thực sự cầu thị.
Họ cho rằng họ phải học hỏi nước ngoài nhiều thì mới có được một nền giáo dục cần thiết.
Ta thì luôn luôn tự hào rằng mình có một truyền thống giáo dục hết sức tốt đẹp, và chỉ cần có tiền là sẽ làm được hết.
Trong mọi việc ta thường chỉ lo làm dáng.
Khi đứng trước một việc mà thâm tâm thấy bất lực, liền đánh bài lấp liếm, mức cao hơn nữa là tự lừa dối chính mình cho xong chuyện.
Nhưng tôi vẫn thấy trong hoàn cảnh của ta, cái phương án Myanmar nói trên là phương hướng khả dĩ.
Trước mắt là không nên thảo luận về cải cách gì cả.
Bộ phận giáo dục hiện nay đã hỏng hẳn với nghĩa là tự nó không thể nghĩ ra phương hướng thay đổi.
Và giả sử có phương hướng đúng thì những người trong cuộc cũng không theo nổi.
Ví dụ dù có tung ra bao nhiêu tiền của chăng nữa thì bộ phận soạn sách giáo khoa ở ta hiện nay cũng không sao làm nổi một bộ sách giáo khoa cần thiết.
Và giá có bộ sách ấy thì hệ thống giáo viên cũng không đủ sức dậy theo.
Vừa rồi có một đề nghị là phải trả lại tự do cho ngành giáo dục.
Nhưng kinh nghiệm của tôi bên văn chương cho thấy một bài học khác.
Các nhà văn của ta bị trói quá lâu, đúng hơn là bị đào tạo vội vàng, cũng tiên thiên bất túc y như bên giáo dục.
Luôn miệng đòi tự do nhưng lại không biết làm gì với thứ tự do đó cả.
Khi được cởi trói một chút thì chỉ có tự do hoang dại là phát triển.
2014
NHẬN XÉT CỦA MỘT NGƯỜI ĐỨC
VỀ CÁCH NGHĨ CỦA DÂN VIỆT
Ngày 30 tháng 9 năm 2018
Sau đây là một bài báo của một tác giả nước ngoài mà tôi đã copy lại và mặc dù quên tên tác giả vẫn đưa vào lưu trữ cá nhân từ mấy năm trước.
Tôi thích bài viết vì nó bắt trúng cái đáng lo nhất của dân ta:sự vô trách nhiệm và lối tự mình lừa mình bằng những hy vọng hão.
Tôi thích cái kết luận của bài viết: phải có những con người tư tế trước rồi mới có sự giàu có. Ngoài cách đó mọi sự giàu có đều là tai vạ.
Theo ghi chú của người viết thì ông ghi nó vào ngày 09 tháng 9 nam 2009, tức đến nay đã gần chục năm.
Đọc tới đoạn cuối bạn sẽ hiểu ông đã nhìn đúng tình thế của chúng ta như thế nào.
TƯƠNG LAI MỌI CÁI SẼ TỐT LÊN
Một trong những đức tính tôi luôn có dịp nhận thấy ở người Việt Nam, đó là họ có một niềm tin đặc biệt tích cực vào tương lai. "Mười năm nữa, mọi thứ sẽ tốt hơn", bạn có thể nghe ví dụ như vậy. Hoặc thỉnh thoảng: "Năm năm nữa mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn" hay "Hai mươi năm nữa mọi thứ sẽ tốt hơn lên."
Những câu nói như vậy thường nổi lên, ví dụ như, khi người ta bàn luận về tình trạng giao thông. Hoặc về sự ô nhiễm môi trường. Hoặc về đói nghèo.
"Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có một hệ thống giao thông cực tốt và có trật tự như ở châu Âu!", người tiếp chuyện với bạn sẽ nói như vậy chẳng hạn, và sau đó gương mặt anh ta ngời sáng lạc quan. Ngay trước đó, anh ta vẫn đang buồn rầu bực bội, cho rằng giao thông ở Hà Nội hỗn loạn và luôn luôn tắc đường. Nhưng chậm nhất là hai mươi năm, khi có đủ tiền, và kinh tế phát triển, tất cả đường phổ rộng rãi hơn, Hà Nội có tàu điện ngầm mới toanh và hiện đại, ai cũng đi xe ô tô, khi đó tất cả mọi thứ sẽ tốt hơn - anh ta nói tiếp.
Điều này, một mặt, đó là một đức tính rất đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt khi so sánh với người Đức, là những người lúc nào cũng luôn tin rằng năm tới tất cả mọi thứ sẽ tồi tệ hơn. Cũng giống như, quả đúng là tất cả mọi thứ năm này đều tồi tệ hơn nhiều so với năm trước.
Tuy nhiên, đấy cũng là một đức tính có chút gì đó đáng lo ngại, bởi vì nó dẫn tới một tác động ngược, nghĩa là sẽ chẳng có ai cảm thấy phải cố gắng để làm cho quả thực mọi cái sẽ tốt hơn.
Tôn trọng luật giao thông?
Hạn chế xài túi nilon?
Hạn chế việc xả rác?
Để làm gì, khi mà hai mươi năm nữa đằng nào mọi thứ cũng đều tốt hơn. Khi mà tất cả chúng ta đều giàu có.
Dĩ nhiên sẽ nảy sinh ra câu hỏi, ở đâu trong vòng hai mươi năm nữa bất chợt nảy sinh ra một thế hệ những con người có đạo đức và đi xe trên đường phố theo đúng luật quy định, nếu như NGAY TỪ BÂY GIỜ khi họ đang còn là trẻ nhỏ đã học được những điều ngược lại: Chỉ những ai vị phạm càng nhiều luật lệ họ mới có thể đến được nơi mình muốn đến.
Về mặt này những người Đức kỹ tính dĩ nhiên đã đi trước một bước: không có niềm tin sâu sắc, rằng việc vượt đèn đỏ là điều báo hiệu sự sụp đổ của phương Tây, và ngay ngày mai tất cả các thành phố có thể sẽ phải chết một cách đau khổ trước mối hiểm nguy từ những hạt bụi siêu nhỏ, tất nhiên sẽ không dễ dàng gì trong việc làm theo những quy tắc nghiêm ngặt tương ứng.
Điểm nhấn mạnh ở đây đó là việc hiện thực hóa, bởi vì ở Việt nam thực ra đâu có thiếu các quy định và luật lệ.
Chính thức mà nói, tất cả mọi thứ xảy ra trên đường phố ở đây gần như đều bị cấm, và theo như hiểu biết của tôi, luật môi trường của Việt Nam thuộc vào loại nghiêm khắc trên thế giới.
Chỉ có điều chẳng hề có ai quan tâm đến.
Đồng thời sự lạc quan về tương lai của nhiều người Việt Nam cũng có thể giải thích được, nếu người ta nhớ rằng suốt trong 30 năm qua, trên thực tế, mỗi ngày mỗi một thịnh vượng hơn, và nhiều vấn đề tự nó đã biến mất. Các bước nhảy vọt mà đất nước này đã làm được kể từ cuối thập niên 80 đến nay, đối với người châu Âu có lẽ họ sẽ không tưởng tượng nổi.
Mặc dù vậy, tôi vẫn nghi ngờ không biết liệu Hà Nội trong vòng 20 năm nữa có thực sự trở thành một dạng Singapore của người Việt.
Lúc ấy nơi đây sẽ có những con đường, mà người ta có thể ăn uống bên cạnh đó, những con đường trên đó các phương tiện giao thông nhẹ nhàng và thông suốt lướt đi, và nơi mà cứ cách 50 mét lại có một trạm xe buýt tại đấy khách đi xe có thể trả tiền bằng thẻ chip.
Mặt khác, bản thân người dân ở Singapore cũng đã nói, rằng trước kia tất cả mọi thứ cũng rất hỗn loạn, và giờ đây họ không thể biết chính xác liệu con gà có trước hay quả trứng có trước:
Trước tiên là có sự giàu có, và chỉ sau đó mới là tử tế và kỷ luật?
Hoặc sự giàu có có được là do trước đó đã có ít nhiều tử tế và kỷ luật?
Số đông người Việt Nam rõ ràng đã tin vào cái đầu tiên, còn người Đức có lẽ sẽ ủng hộ nhiệt liệt cái thứ hai.
Hai mươi năm sau tôi sẽ quay lại đây lần nữa, và sẵn sàng đánh cược về thời gian này.
CON NGƯỜI SUY THOÁI?
Ngày 13 tháng 10 năm 2018
Trời sinh vua để làm vua
Và thi sĩ để làm thơ ru đời
Một ông vua trái luật trời
Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.
Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ "Nhà vua và nhà thơ" của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939. Câu chuyện tiếp tục như sau: làm thơ xong, vua lại thích đưa cho các cận thần đọc để kiếm lời khen. Một vị quan kiêm thi sĩ -- quan ngày xưa người nào cũng làm thơ và thạo thơ -- mới nói toẹt ra rằng thứ thơ đó chả ra gì.
Thế là vua cho ông ta vào nhà pha ( tiếng ngày xưa chỉ nhà tù ).
Sau vua có ý hối, cho người đến nói với nhà thi sĩ chân chính nọ là sẽ thả ông ta ra, miễn ông ta nói rằng thơ vua hay. Tức là tiếp tục buộc ông ta nói dối. Trong cảnh tù đày, ông này phải nghĩ một lúc. Tú Mỡ viết tiếp:
Phân vân bên tội bên tình
Nhà thơ tỏ vẻ bực mình băn khoăn
Cắn môi mắt nhíu mày nhăn
Trong đầu như nổi mấy lần phong ba
Ngập ngừng lời chẳng nói ra
Nói hư ? nói thực ? biết là làm sao?
Bài thơ kết lại bằng hai câu bất ngờ:
Khổ tâm thi sĩ cúi chào
Muôn tâu thần lại trở vào nhà pha
Tôi thường nhớ tới bài thơ này của Tú Mỡ ( đúng hơn là một thứ vè vui vui ) để nhắc mình một sự thực: là con người ngày xưa tốt quá.
Tôi tin không phải ở đây Tú Mỡ muốn nêu một tấm gương cốt dạy dỗ thiên hạ ( kiểu các đồng nghiệp của tôi thời nay).
Mà ông chỉ miêu tả một sự việc có thực, hơn nữa một sự việc điển hình.
Tức là người xưa phần lớn cư xử như viên quan kiêm nhà sư ở đây đã làm.
Thế thì sao lại bảo bài thơ có cái kết bất ngờ?
Đó là đặt vào tâm lý của người hôm nay.
Vào những trường hợp tương tự, tôi ngờ phần lớn con người hôm nay sẽ cư xử kiểu khác. Để khỏi vào nhà pha thì bảo làm gì cũng làm. Mà chẳng đợi đến cuộc mặc cả cuối cùng; trước đó, bởi thừa biết rằng nếu khen vung cả lên sẽ thủ lợi, người ta tranh nhau khen từ đầu cả rồi.
Nói tốt quá còn chung chung. Cái chính là người xưa, hơn bù kém, tốt hơn so với con người hôm nay.
Vả chăng nhìn rộng ra thì thấy con người hồi ấy, cả giàu lẫn nghèo, cả ông to lẫn ông nhỏ, chẳng những không nói dối nịnh bợ mà còn giữ được nhiều phẩm chất cao đẹp.
Tôi nhớ tới nhiều trường hợp khác. Các nhân vật của Thạch Lam như mẹ Lê nghèo khổ, như cô hàng xén đảm đang đều đồng thời là người tự trọng và cứng cỏi. Lão Hạc của Nam Cao thì “trên cả tuyệt vời“, thà chết chứ không ăn vào vốn của con cái.
Cũng liên quan đến Nam Cao là trường hợp của Chí Phèo. Trong một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu đã nhận định “ Chí Phèo tỉnh, Chí Phèo không say “. Bởi chỉ một người sáng suốt trong giây phút hệ trọng của đời mình mới biết hỏi “ nhưng ai cho tao lương thiện ?”
Xuân tóc đỏ thường được xếp vào loại nhân vật loại xấu xa bậc nhất trong văn học tiền chiến. Nhưng đọc kỹ thì thấy chính ra Xuân khá thông minh, lại chịu học hỏi để thích ứng với thời đại. Và biết điều. Và tự trọng nữa: Lúc được Văn Minh hứa gả cô Tuyết, Xuân nói thẳng cái nguồn gốc xuất thân hèn hạ của mình. Ở chỗ này Xuân tỏ ra sòng phẳng, biết mình biết người!
Trở lên chỉ là một vài phẩm chất mà con người ngày nay đánh mất.
Không khó khăn gì lắm để tìm ra lý do khiến chúng ta có nhiều thói xấu như vậy.
Trước hết là cuộc chiến tranh kéo quá dài. Trong "Câu chuyện triết học", phần viết về H.Spencer, W. Durant cho rằng “xã hội chiến tranh thường ca ngợi một vài đức tính ( nguyên tắc ứng xử VTN ) và dung túng những việc mà các dân tộc khác xem là có tội”.
Nếu nơi không chiến tranh, con người quảng đại và nhân đạo, thì nơi chiến tranh kéo dài, người ta quen với cướp bóc, bạo lực, dối trá, vô cảm.
Đây là luật phổ biến song người Việt mình thường quên và tự cho mình cũng như cuộc chiến tranh ở mình, là một ngoại lệ.
Con người hôm nay lao vào cuộc làm ăn kinh tế, mà thói quen sống kiểu chiến tranh còn nguyên vẹn. Kinh tế thị trường rút lại được hiểu là thói cạnh tranh không lành mạnh, nói nôm na là chúa đã chết, ai muốn làm gì thì làm.
Thành thử có xảy ra lộn xộn hỗn hào thì cũng là điều dễ hiểu.
Từ chỗ chăm chăm chửi bới kẻ giàu cho rằng kẻ giàu là xấu, nay người ta lao vào làm giàu để rồi lãnh đủ những xấu xa bỉ ổi đó, và đưa cái ác lên một trình độ hiện đại đáng sợ. Bảo suy thoái là vì thế.
Trong một cuốn sách mang tên "Miền đất huyền ảo", có phụ đề Các dân tộc miền núi nam Đông Dương ( tác giả Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội nhà văn in năm 2003 ), ở trang 13, tôi đọc được một lời cảnh cáo:
Định mệnh của con người là vươn tới tiến bộ; nhưng mọi sự tìm tòi sẽ là vô nghĩa và kết quả sẽ là tai họa nếu vận động đó lại dẫn đến sự suy thoái về nhân cách. Có nghĩa gì một sự tiến bộ kỹ thuật nếu nó giết chết tinh thần ?
Đã in TBKTSG 6-2008
In lại trong Những chấn thương tâm lý hiện đại,2016
TẤN KỊCH KÉO DÀI
CỦA TÌNH TRẠNG LÀM LIỀU MÀ KHÔNG HIỂU BIẾT
Ngày 16 tháng 10 năm 2018
Sau ngày 30-4-75, nhiều cán bộ miền bắc được phân công vào miền nam làm việc, bên cạnh một số nhỏ thạo việc, thì một số hiện ra như những người quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động. Số người này ngày càng đông, họ nghĩ ra mọi lý lẽ tự biện hộ để tiếp tục làm liều rồi nhanh chóng sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ và trượt dài trong cuộc tham nhũng.
Có nhiều cách giải thích về chuyện này nhưng tôi nhớ hơn cả cái ý của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa trong một buổi nói chuyện ở Thư viện quốc gia ở Hà Nội 1976:
-- Có gì lạ đâu. Hãy hình dung xã hội miền nam như một cỗ máy, nhiều anh em vào đấy mà không được chỉ dẫn trước rằng cỗ máy đó hoạt động ra sao, thành ra nhiều khi họ cho cả tay vào, vừa hỏng máy vừa hỏng người, nhưng khách quan mà xét không trách họ được. Tại chúng ta chỉ kéo họ làm mà không giúp cho họ suy nghĩ thậm chí cấm họ suy nghĩ.
Không chỉ đối với việc quản lý miền nam sau 75 mà hầu như trong mọi việc chúng ta làm từ sau 45 chúng ta đều rơi vào tình cảnh phải làm những công việc mà bản thân chẳng hiểu gì cả.
Làm liều làm ẩu nghe qua loa rồi bắt tay làm, tự mình gán cho công việc của mình những ý nghĩa sang trọng.
Rồi lại mang nhau mà khen thưởng và phong tặng cho nhau đủ loại danh hiệu và lấy làm bài học truyền lại cho thế hệ sau.
Một kết quả rõ rệt của lối làm ăn chỉ biết có nhiệt tình và nhắm mắt làm theo lệnh trên này là nó làm hỏng con người.
BẾ TẮC
Tôi không biết có một dân tộc nào mà lại khuyến khích người dân của mình uống bia uống rượu. Thời trước hễ có ai đến rủ những người đàn ông đi chè chén chơi bời, thì những người đàn bà trong gia đình có thể đến tận nhà người rủ chồng mình làm bậy kia mà chửi rủa và tất cả làng xóm đều đứng về phía người đàn bà đã sáng suốt bảo vệ chồng con mình, gia đình mình.
Còn ngày nay không còn những người đàn bà như vậy, và nếu có thì chị ta lại bị coi là không thức thời, không biết hưởng thụ cuộc đời. Nay là lúc con người hoàn toàn bất lực trước cái xấu. Các gia đình vốn có cấu trúc chặt chẽ trong xã hội cũ nay trở nên lỏng lẻo, không đủ sức giữ con người xa lánh cái xấu và khi đã xấu thì khó có dịp hối cải trở lại với sự lương thiện.
Tôi vốn cơ địa không cho phép mình uống rượu và bẩm sinh có chút khổ hạnh, nên có thể những lời bàn ở đây hơi cổ lỗ không thức thời.
Nhưng tôi vẫn cho rằng tình cảnh quá nhiều người sa vào rươu chè quên đời như hiện nay là một tai vạ cho dân tộc.Bởi lẽ từ chỗ chơi bời trụy lạc sẽ sinh nhiều thói xấu khác.
Tuy nhiên cứ thấy thật ra ở đây phải có thái độ nước đôi, có cả phê phán nhưng cũng có thể nói là cần thông cảm.
Tôi tin nhiều người trong họ đã có lúc muốn sống tử tế, nhưng gặp nhiều chuyện bất lực nên tìm cách giải buồn rồi cứ thế không còn làm chủ được mình. Với những tình cảnh trụy lạc hư hỏng khác cũng vậy, cần thấy nguyên nhân khách quan tác động. Một xã hội đẩy rất nhiều người từ tốt sang xấu - dưới mọi hình thức - như ta đang thấy hiện nay phải gọi đích danh là một xã hội phi nhân bản.
Ngày 22 tháng 10 năm 2018
Nhà thơ Vương Trọng từng có bài ký 'Lạ lắm Phần Lan' kể rằng ở bên ấy dân họ rất sợ tiếng ồn. Con đang chơi ngoài vườn mà mẹ có gọi vào thì cũng ra tận nơi gọi chứ không đứng ở cửa mà réo.
Việc quản lý chất thải chặt chẽ phát sợ. Đến các viên thuốc thừa người ta cũng yêu cầu phải giao nộp theo cách nào đó, chứ không quẳng vào thùng rác vô tội vạ.
(Báo Tuổi Trẻ Cười số ra 1/8 thì dẫn lại câu chuyện có liên quan tới một người đẹp đương thời là L P A. Cô này khi sang Nhật thích bắt trộm chim bồ câu để ăn, chỉ có một nỗi lo là làm sao tẩu tán xương. Thật là một chi tiết rất Việt Nam!)
Một người khác kể chuyện về lò sát sinh. Ở nhiều nước Tây Âu, trước khi bị làm thịt, bò được dẫn theo một con đường hoàn toàn giống như những con đường nó vẫn đi hàng ngày và chắc chắn là nó không hề có những phản ứng tự nhiên của một con vật cảm thấy mình sắp bị giết. Người ta bảo phải làm thế vì họ biết rằng nếu chứng kiến những đồng loại bị giết hại một cách tàn nhẫn, trong cơ thể bò sẽ tiết ra một thứ chất dịch nào đó, có hại cho những người ăn thịt - chất cuồng bạo trong họ sẽ bị kích thích.
Trên Sài Gòn Tiếp Thị , anh Đoàn Khắc Xuyên kể là ở bên Butan, trên đường xe cộ đi lại không có cảnh sát, người ta quan niệm rồi người lái xe biết cách thỏa thuận với nhau, chứ không cần đèn xanh đèn đỏ gì hết.
Còn bên Thái Lan một hai năm trước, khi phe áo đỏ mới biểu tình, cảnh sát ra giữ trật tự. Hết buổi ra về, cảnh sát và dân lại trò chuyện với nhau một cách thân mật.
Những đoạn này tôi ghi từ ba năm trước. Mới đây đọc một bài trên FB mới biết trong cuộc nội chiến ở Mỹ người ta thà đầu hàng đối phương chứ không để xảy ra tình trạng vì mình mà dân chết. Ở ta ấy ư, trong chiến tranh sơ tán bằng cách ở lẫn vào dân là cả một phương cách giấu quân hiệu nghiệm.
Càng đọc càng thấy mình khác người quá. Chả trách trong khi người ta giàu có lên thì mình cứ hủi cùn hủi cụt mãi đi, nếu bề ngoài có giàu lên thì phải trả bằng một giá quá đắt đất nước tanh bành kiệt quệ, con người hư đốn chỉ lo mưu cầu hạnh phúc cá nhân trên đau khổ của đồng bào.
Sự hội nhập chỉ có kết quả, theo tôi, khi ta xác điịnh được ta đang khác người ở chỗ nào. Cần lắm những người tìm hiểu thiên hạ một cách thành tâm và quay về chỉ dẫn một cách sáng suốt cho quốc dân. Chứ cứ kéo nhau đi lung tung hết cả lên như bây giờ - du lịch như một sự đi trốn một cách sống gấp - thì có đến mùng thất cả xã hội mới thay đổi được
TỪ CHỦ NGHĨA ANH HÙNG TỚI CHỦ NGHĨA QUAN LIÊU
Ngày 27 tháng 10 năm 2018
Một bài báo của nhà báo Pháp Jean - Claude Pomonti
in trong Tài liệu tham khảo đầu 1973
được mọi người truyền tay
và theo tôi nhiều điểm vẫn đúng với VN hôm nay
Một người ngoại quốc đi trên đất này, như bước trên sa mạc. Không có mối liên quan nào giữa anh ta và những người chung quanh. Việc giữ bí mật ở Bắc Việt đã tạo ra một thói quen kỳ lạ. Không ai hiểu việc của ai, đến một người trong cơ quan cũng không sao hiểu nổi công việc cơ quan anh ta của nhà nước mà anh ta phục vụ.
Người Bắc Việt đã tập vui buồn theo chỉ thị cấp trên. Hầu hết người dân thủ đô là công nhân, là cán bộ. Tất cả tạo thành một bộ máy quan liêu kén đặc lại, trong đó, mỗi người chỉ một nhiệm vụ là tự bảo vệ.
Hai tháng đã qua kể từ ngày hoà bình lập lại. Bao nhiêu vấn đề đang đặt ra với đất nước nơi đây nhưng tôi chắc không có ai có thể trả lời được cả.
Một người lãnh đạo mà tôi không tiện nói tên, đã nói với tôi một cách thoả mãn đến làm tôi khó chịu.
... Trong bài báo của ông Lê Duẩn, có rất nhiều điểm tiến bộ. Nhưng công thức kết hợp cũ -- mới chứng tỏ họ vẫn không nhích lên đến nửa bước.
... Lại nói về nếp làm việc ở đây. Người ta làm việc một cách tuỳ tiện. Ví như đối với người nước ngoài, mất bao nhiêu thời gian trong cái việc đi chơi bời, du lịch, thực tế là để chờ CA điều tra và xin chỉ thị cấp trên. Có lần, tôi đã phải dự một buổi biểu diễn văn công bắt buộc như thế này: Trước khi tan buổi chiêu đãi 5 phút người ta bảo là có văn công. Và thế là tôi được đưa đi, lẫn vào giữa dòng người, phải ngồi xem, hỏng hết cả kế hoạch công việc của tôi.
- Tôi rời đất nước này, với ý nghĩ rằng mặc dù những hy sinh lớn của dân tộc Việt Nam, đất nước này sẽ rơi vào tình trạng buồn tẻ, nhạt nhẽo mà không ai chú ý tới, nó cũng không xứng với vị trí đáng lẽ miền Bắc Việt Nam được hưởng. Trong những năm qua, những người lãnh đạo ở miền Bắc cũng tích luỹ được một ít vốn liếng: sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Nhưng họ đang tiêu phá những cái đó một cách bừa bãi, và chẳng bao lâu lại trở nên tay trắng.
NGOÀI TRỜI LẠI CÓ TRỜI -- VỀ TRUYỆN CHƯỞNG CỦA KIM DUNG
Ngày 31 tháng 10 năm 2018
I. Đặt chưởng vào trong dòng chảy liên tục của tiểu thuyết Trung Hoa
Khi đi vào nghiên cứu lịch sử bộ môn tiểu thuyết, không hẹn mà nên, các nhà nghiên cứu ở phương đông lẫn phương Tây nói chung đều xác nhận rằng thật ra, ban đầu thể tài này là một thứ văn chương bị coi rẻ và chỉ dần dần, trong quá trình lâu dài của lịch sử, nó mới trưởng thành để trở nên ngang hàng với các bộ môn nghệ thuật khác.
Pearl Buck, một nhà văn Mỹ có công giúp cho bạn đọc châu Âu làm quen với con người và đất nước Trung Hoa, trong diễn văn Nobel năm 1938, còn kể lại một cách đầy đủ hơn. Điều đầu tiên mà bà lưu ý người đọc khi tiếp xúc với tiểu thuyết Trung Hoa, là một sự thật: “Tiểu thuyết Tàu xưa nay không phải là một nghệ thuật và chưa có một nhà tiểu thuyết Tàu nào tự coi mình là một nghệ sĩ - bao giờ ta cũng phải nhớ đến sự nhận xét đó, khi ta muốn hiểu rõ lịch sử cùng là địa vị rất quan trọng của tiểu thuyết trong đời sống của dân chúng Tàu” (dẫn theo bản dịch của Lê Đình Chân, in trên Thanh Nghị, 1944. Từ đây trở xuống các ý của Pearl Buck đều dẫn theo bản này). Sở dĩ như vậy, bởi vì thứ văn chương được các nhà nho ở nước Trung Hoa cổ công nhận phải là thứ văn chương cao cả, thâm thuý, được hình thành theo những lề luật khá rắc rối. Người ta đọc thơ, phú, khi ngồi một mình trong phòng thanh vắng. Trái lại, tiểu thuyết là thức ăn của đám đông “Trong một xóm một trăm người, khó lòng tìm được đến quá một người biết đọc. Những ngày nghỉ, hay là những buổi chiều khi công việc đồng áng đã xong, anh nào biết chữ, giở một quyển truyện đọc to cho mọi người nghe thấy. (...) Những mẩu chuyện nho nhỏ mà anh ta kể to cho mọi người nghe chính là gốc của những tiểu thuyết sau này”. Nói cách khác tiểu thuyết đến với người ta ở những nơi công cộng, ngay ngoài đường đi lối lại ồn ào tấp nập. Cách tồn tại này, tưởng là chuyện vặt, sao cũng được, song kỳ thực đã ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết. Một quyển sách được xếp vào cái thể tài đại chúng này vẫn có thể sâu sắc, cao thượng, song bề ngoài nó phải gợi cảm giác thông thường phàm tục, ai nghe cũng hiểu, ai đọc cũng bị lôi cuốn. Một bộ tiểu thuyết nếu được viết một cách chặt chẽ, kỹ lưỡng, gạn lọc quá, sẽ ngăn cản sự tiếp nhận của đại chúng. Chẳng những thế, những gì không bình thường, những gì huyền hoặc khó tin, thậm chí do bịa đặt mà có, vốn không được phép xuất hiện trong các thể văn gọi là nghiêm chỉnh, lại luôn luôn có chỗ đứng đàng hoàng trong tiểu thuyết. Có vẻ như giữa người viết và người đọc ở đây sớm hình thành một giao ước: trong khi cácloại sách, mà các nhà nho coi trọng (được họ gọi chung là văn lý), thường khi có tính cách giáo huấn, thì tiểu thuyết không bị ràng buộc bởi cái ách đó. Ngược lại, trước tiên nó phải có tính cách giải trí. Nó không được làm người ta mệt. Có thể, sau khi nghe đọc sách, người đọc cũng vân vi nghĩ được nhiều điều cao đẹp, nhưng lúc tiếp xúc với tác phẩm, cái chính là người ta được hồi hộp theo dõi mọi diễn biến xảy ra, lo cho nhân vật này, căm ghét bực bội vì nhân vật khác. Có thể nói, sự tự do của người sáng tác tiểu thuyết rất rộng, chỉ có một quy phạm duy nhất mà họ phải tuân theo, là tạo nên được sự hấp dẫn. Suốt trường kỳ lịch sử, sự rộng rãi trong quy phạm như thế này cũng được các nhà tiểu thuyết khai thác triệt để, các loại tiểu thuyết nối nhau xuất hiện mà thường khi chỉ cần đọc các “nhãn hiệu’ đặt bên cạnh đầu đề, người ta đã thấy một phần nội dung: Nào là tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết quái dị, tiểu thuyết truyền kỳ; bên cạnh tiểu thuyết nhân tình thế thái, lại có tiểu thuyết châm biếm, tiểu thuyết khiển trách, tiểu thuyết tài tử giai nhân v.v... (dẫn theo Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện khoa học xã hội Trung quốc và Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn). Một điều cũng nên chú ý là trong số sách được phổ biến rộng rãi một phần đáng kể là các tiểu thuyết võ hiệp. Tại sao như vậy? Có thể là vì loại truyện này linh hoạt sôi động, dễ theo dõi, nó là món ăn tinh thần hợp với khẩu vị của đám đông người đọc, cuộc sống vốn quá vất vả mà lại đơn điệu. Một điều cũng có thể nói chắc nữa là ở đây có lý do truyền thống: Trung Hoa là một dân tộc thượng võ, họ thích đưa những cuộc “quyết đấu” lên bình diện văn hoá. Không ai bảo ai, song dường như các nhà viết loại tiểu thuyết này đều nhận ra rằng đi vào miêu tả thế giới của những người hoặc tay không, hoặc cầm đủ thứ gươm đao để bảo vệ mình, và tiêu diệt kẻ thù, thật ra là một cách tốt nhất để mô hình hoá cuộc đời và giúp cho người ta nhận chân cái điều đơn giản: đời là một cuộc cạnh tranh khôn sống mống chết (hoặc nói như cách nói thời nay : đời là một cuộc chiến đấu.
Từ cuối thế kỷ XIX, trong cơn biến động chung của lịch sử thế giới, sau khi Trung Quốc bị nhiều nước phương Tây đến xâu xé, đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời này lại bị lôi cuốn vào một cuộc vận động lớn là Âu hoá. Hướng về phương Tây, làm theo mẫu mực phương Tây, chẳng những âm nhạc, hội hoạ, sân khấu của Trung Hoa mà cả tiểu thuyết cũng có biến chuyển. Đại thể, có thể thấy hai khuynh hướng:
Một bên là các nhà văn hấp thụ những ảnh hưởng tốt đẹp từ Balzac, Dickens, Tolstoi viết nên những tiểu thuyết theo quy phạm mới. Đứng ở hàng đầu của loại tiểu thuyết gia này là những tên tuổi mà đây đó, ở Việt Nam, chúng ta đã biết: Ba Kim với Gia đình Mao Thuẫn với Nửa đêm, Lão Xá với Tường Lạc đà v.v...
Mặt khác, trong đám văn nhân len lỏi ở các đô thị nhỏ, viết cho những đám đông nghèo khổ đọc, nhiều người vẫn nuối tiếc các khuôn mẫu của tiểu thuyết cũ, nhất là khi người ta lại được tiếp thêm một dòng tiểu thuyết cũng có tính cách bình dân của phương Tây là tiểu thuyết trinh thám, mà Conal Doyle là một ví dụ. Và họ vẫn viết, theo quy phạm cũ, tuy ít nhiều đã có đổi khác.
Tiểu thuyết võ hiệp hiện đại,trong đó có chưởng ra đời, là để lấp đầy cái khoảng không gian mà cả người viết lẫn người đọc vẫn cảm thấy trống vắng khi quá nhiều tác giả tiểu thuyết chạy theo xu thế Âu hoá.
Sau cái thời của những nhân vật sử dụng tới thập bát ban võ nghệ, là thời của các nhân vật phun kiếm qua lỗ mũi (ở Việt Nam, một người Trung Hoa sang lập nghiệp là Lý Ngọc Hưng đã viết hàng loạt tiểu thuyết khai thác triệt để loại võ công này, từ đó hai chữ kiếm hiệp đã có chỗ đứng riêng trong trí nhớ nhiều lớp bạn đọc). Tới chưởng thì bề ngoài võ công lại được giản lược một bước nữa. Nói một cách thô thiển nhất thì chưởng là loại tiểu thuyết võ hiệp trong đó các ngón đòn đánh ra là từ bàn tay. Song những cuộc tìm kiếm, trả thù không vì thế mà giảm bớt tính quyết liệt, những cuộc tỉ thí không vì thế mà bớt đổ máu, ngược lại, con người võ hiệp Trung Hoa trước sau vẫn là một mô hình tối ưu, giúp cho người ta thấy những gian truân, nặng nhọc, đồng thời là những hào hứng kỳ lạ của cái gọi là kiếp người.
Trong bài tựa bộ Thuỷ hử, tác giả Thi Nại Am (đúng hơn, chỉ nên gọi ông là một trong những tác giả vì bộ tiểu thuyết này do nhiều người đóng góp, trước khi hoàn chỉnh) bộc bạch: “Truyện tôi viết đây, tôi mong cho ai ai xem cũng hiểu (...) than ôi! sinh ra đời rồi lại từ giã cuộc đời! Người đời sau bình phẩm sách này ra sao, làm gì có cách để biết. Mà kiếp sau lộn làm người khác xem sách này có nhẽ cũng quên là kiếp trước chính mình đã viết ra nó. Mà liệu kiếp sau ta có biết chữ, để đọc nổi sách như bây giờ? Thế thì hơi đâu mà quan tâm đến sách ta làm cho thêm bận trí!”.
Trước mắt chúng ta, người cầm bút viết văn hiện ra như một con người có chút hư vô, để hết tâm sức vào việc sáng tác, nhưng chỉ xem nó là một thứ trò chơi, không đánh giá nó quá cao, không tính chuyện gửi gấm gì hết. Song chính sự nhẹ nhõm đó lại giải phóng sức sáng tạo đến mức tối đa, khiến Thuỷ hử trở thành một kiệt tác của nền văn học Trung Quốc. Trong khi bao kẻ cầm bút suy nghĩ cứng nhắc, dù có nhét vào đầu óc hàng bồ chữ và tự cho mình là văn nhân tài tử, dùng những thể văn sang trọng cao quý như thơ, như phú để lập thân, rút cục cũng chỉ tạo ra thứ văn chương nhạt nhẽo vô vị, thì những La Quán Trung, Thi Nại Âm, Cao Ngạc, Ngô Kính Tử v.v... dám chọn cho mình một con đường khác: Họ làm việc ngay trên cái thể tài mà thiên hạ coi thường. Họ không ngại đằm mình vào giữa những chuyện tưởng như dông dài, bông phèng, đùa cợt. Nói như một câu danh ngôn phương Tây, dưới bàn tay họ, chú vịt què xấu xí đã trở nên con thiên nga xinh đẹp - từ trong vô số những tiểu thuyết đã được truyền tụng (riêng số được in, có người đã nói lên tới vài ngàn), rút cục Thuỷ hử, cũng như Hồng lâu mộng, Tây du ký, Kim Bình Mai... vĩnh viễn còn lại như những đài kỷ niệm trong lịch sử văn học, đứng nang hàng với Ly Tao, Sử ký, thơ Đường v.v...
Một diễn biến tương tự cũng đã xảy ra, trong nền tiểu thuyết thông tục hiện đại. Ngoạ Long Sinh và Lương Vũ Sinh, Nghê Khuông và Mộ Dung Mỹ, Nam Kim Thạch và Gia Cát Thanh Vân, Độc Cô Hồng và Trần Thanh Vân... số tác giả viết chưởng ở Hồng Kông và Đài Loan trước đây không phải là ít, và ban đầu tên tuổi một người như Kim Dung dường như lẫn đi giữa bao ngòi bút lấy lẽ sống ở việc “mua vui cho thiên hạ”. Không phải là Kim Dung không ý thức nổi tình cảnh của mình. Đã nhiều lần, ông phải đứng ra biện hộ cho bản thân và cái thể tài mà mình sử dụng. Thế nhưng, ở đây lịch sử văn học vẫn có sự công bằng, rút cục nhà văn tài hoa và uyên bác này không lẫn đi giữa mọi người, ngược lại chẳng những tác phẩm được in ra với số lượng kỷ lục, mà bản thân ông được giới nghiên cứu công nhận như một nhà văn cổ điển. Với Kim Dung, tiểu thuyết Trung Quốc tìm được người nghệ nhân thành thục trong tay nghề. Thể tài đưa ông lên đài vinh quang, mà ông cũng giúp cho thể tài tự khẳng định.
II. Tính cách hiện đại
Như Pearl Buck trong câu chuyện nói trước Viện hàn lâm Thuỵ Điển đã ghi nhận, cái lạ của tiểu thuyết Trung Hoa là trong khi tồn tại trước tiên trên đường phố, như một thứ văn chương truyền miệng, nó lại thích phiêu lưu tới một khu vực đề tài mà đám đông dân thường không rành, song họ tò mò muốn biết, và sẽ truyền tụng nhau như một ít điều bí mật, đó là đề tài lịch sử. Người Trung Quốc vốn có ý thức sâu sắc về sự tồn vong của xứ sở như một quốc gia, và nền sử học của họ được hình thành thuộc vào loại sớm nhất trên thế giới. Nhưng bên cạnh loại lịch sử công khai, lịch sử chính thống, trong đời sống xã hội nơi đây thường vẫn lưu truyền những câu chuyện đồn đại, mà tiếng chuyên môn gọi là ngoại sử. Trong khi chính sử quan tâm tới những việc lớn, ở trên mặt tiền của những biến thiên xã hội, thì ngoại sử đi vào hậu trường “bếp núc” của cung đình, việc lập các ngôi vua đã trải qua đấu đá như thế nào, những ai tranh chấp với ai, đằng sau mỗi sự hưng vong đâu là những đòn đánh nham hiểm và những việc làm ám muội. Khó lòng nói rằng ngoại sử bao giờ cũng chính xác, hẳn nó đã bị méo mó đi do sự xuyên tạc khi vô tình khi cố ý của những người kể, song nó lại khiến người nghe thích thú, và giúp họ, qua đó, hiểu thêm về sự đời rắc rối. Chính loại ngoại sử này có liên quan nhiều đến tiểu thuyết, từ các mẩu chuyện rời rạc chắp vá, người ta đã dựng lại thành những bộ tiểu thuyết “diễn nghĩa” mà dù chỉ một phần nhỏ được dịch ra tiếng Việt, song cũng đã cho bạn đọc ở ta có được một ý niệm liên tục về lịch sử nước Tầu (tạm liệt kê sơ bộ như sau : Phong thần, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Đường, Tiết Đinh San chinh Tây, La Thông tảo bắc, Tống Nhạc Phi, Tống Địch Thanh, Thuỷ Hử, Càn Long du Bắc, Càn Long du Giang Nam, Thanh Cung mười ba triều v.v...) Cho đến khi chuyển sang thời hiện đại, các loại tiểu thuyết khác nhau như kiếm hiệp, như chưởng đều tiếp tục khai thác cái thế mạnh này. Truyện của Kim Dung thường xoay quanh mối quan hệ giữa Trung Quốc với các dân tộc chung quanh, như người Khiết Đan, và trong một vài trường hợp, có dính đến vua Càn Long. Việc trở lại với lịch sử mang lại cho các trang sách một sắc thái cổ kính quen thuộc, trong khi vẫn dành chỗ thoải mái cho ngòi bút nhà văn lui tới để phô diễn những quan niệm riêng về những điều bạn độc quan tâm, về thế giới quanh ta, về kiếp nhân sinh, và bao chuyện cụ thể khác.
Thế giới, mối quan hệ giữa con người và thế giới
Trên nét lớn, người ta thể tạm dựng nên cái bộ khung chủ yếu làm nên cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết võ hiệp cổ điển: Thiên hạ đang thái bình thì có một bọn gian thần dối vua hại nước, làm chuyện thoán nghịch. Các bậc công thần bị hại. Con em họ phải lẩn trốn đây đó, rồi tụ tập lại, bàn chuyện khôi phục chính nghĩa. Các tập sách thường khép lại với việc phái chính thống trở lại cầm quyền. Và một giai đoạn thịnh trị mới bắt đầu. Nhìn chung, khái niệm triều đình chính thống đóng vai trò trung tâm trong các tiểu thuyết võ hiệp cổ điển. Bởi triều đình là một thứ vật chuẩn, quy tụ những nỗ lực của “chúng anh hùng”, cũng tức là tạo nên một khuôn khổ cho mọi hành động. Người anh hùng trong truyện võ hiệp xưa có một mục đích lớn lao để mà tin, và toàn bộ cuộc đời của họ được tổ chức để thực hiện cho được mục đích đã định đó.
Về phương diện này mà xét, chưởng của Kim Dung không hổ là một sản phẩm của thế kỷ XX, nghĩa là một thời đại đa đoan phức tạp, nó đòi hỏi ở con người một nhận thức và một cách ứng xử thời trước không ai nghĩ tới. Thay cho triều đình, cái mà người ta bắt gặp trong chưởng là cả võ lâm, một cái tên khác để chỉ xã hội. Bề ngoài thì võ lâm bình thường không có chuyện gì. Nhưng trong lòng nó, biết bao xao động đang xô đẩy, mà cuộc vận động lớn nhất, là các phe phái đua nhau đi tìm những bí kíp người xưa để lại, những mong trùm lấp lên mọi môn phái khác. Có điều mọi mong mỏi loại đó chỉ là ảo tưởng. Theo như cách nói của một người mê chưởng là Đỗ Long Vân (trong cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta, 1968), thì võ lâm giờ đây trở nên một thế giới vô cùng, và đã mất trung tâm; cái thực thể xưa kia tưởng là thống nhất, nay thường xuyên chia năm xẻ bảy. Cho đến cách hiểu về các bí kíp cũng không nguyên vẹn nữa, mà có thể nói mỗi người có một cách hiểu riêng.
Hơn thế nữa, chẳng những cái đích để con người hướng tới khác đi, mà nay là lúc bản thân con người võ hiệp cũng đã đổi khác.
Gần như ngay từ khi sinh ra, nhân vật trong truyện võ hiệp cổ đã được quy định rõ rệt: họ thuộc về một dòng giống như thế nào, họ phải làm gì mới xứng đáng là người anh hùng. Trong quá trình hành động, ở họ, các ý niệm chính tà hết sức rạch ròi, giữa cái thực và cái giả có một sự tách bạch phân minh đến không ai lầm lẫn được. Về phần mình, nhân vật chính trong chưởng Kim Dung, kể từ Trương Vô Kỵ trở đi, quả không có được cái may mắn đó. Trong không ít trường hợp, trước mắt chúng ta, là một thiếu niên thật thà, hoặc là nạn nhân của những ân oán trước đây, nay phải băn khoăn “giải mã” tức là đi sâu vào quá khứ của mình, nhờ đó khám phá ra thế giới. Nhưng quá trình học hỏi và hành động này không suôn sẻ như người ta mong đợi. Càng đi sâu vào quá khứ để hiểu lại lai lịch mình, người ta càng nhận ra bao điều mù mờ, cũng như càng đi sâu vào thế giới, con người càng nhận ra sự xa lạ của thế giới. Sự rành mạch chính tà không còn. Những người thuộc chính phái cũng ghen tị, thù oán, tranh chấp với nhau, và khi cần họ cũng tàn tệ, độc ác sẵn sàng thanh toán nhau, dù vẫn luôn miệng nói đạo đức. Trong khi đó, những kẻ thuộc tà phái, tuy có mang tiếng là bất nhân, độc ác, nhưng để bù lại, họ sòng phẳng rõ ràng trong quan niệm và ứng xử. Họ không làm ra vẻ thế này thế khác để làm mẫu cho thiên hạ. đôi khi chẳng qua vì ham hố đuổi theo mục đích, và muốn tranh quyền với cả tạo hoá, nên họ mang tiếng vậy. Sau khi có dịp tiếp xúc với đủ loại chính tà, những nhân vật chủ đạo trong Kim Dung (thường khi là những con người thông minh, nhạy cảm, trong lòng đau đáu một niềm tha thiết, muốn nhận cho rõ bản chất cuộc đời) không khỏi cảm thấy đơn độc, tự nhủ chỉ còn có cách sống theo lương tri của mình, và tìm tới những ý tưởng vừa thiết thực, vừa siêu thoát. Vượt qua nỗi hoang mang ban đầu, một nhân vật loại này đã đưa ra một lời nguyền, dùng làm phương châm xử thế: “ Thà làm chính tà còn hơn là nguỵ quân tử.”
Nói theo thuật ngữ của vật lý lượng tử, thế giới trong chưởng như vậy là một thế giới bị chi phối bởi nguyên tắc bất định, luôn luôn người ta có thể bắt gặp nó khác đi, nếu đứng ở những góc nhìn khác nhau. Và nói như Đỗ Long Vân, tiểu thuyết của Kim Dung chính là lời tự sự của một thuở giao thời, từ thời của ổn định, thanh bình, sáng thời của nghi vấn, bất trắc.
Nhân vật
Có lần nhân giải thích cách viết của mình, Kim Dung nhận xét: nói tới văn chương là phải nói tới bịa đặt. Thơ Lý Bạch có câu: Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn. Thời nhà Đường, làm gì có phương tiện một ngày đi hàng ngàn cây số như vậy? Thế thì chưởng mà ông xếp vào dòng tiểu thuyết lãng mạn - bịa đặt có gì là lạ! Tuy nhiên, ông tin rằng những gì ông viết ra vẫn thuộc loại văn chương thứ thiệt, bởi lẽ, đọc tác phẩm của ông, người ta thấy rõ những con người. Hàng chữ sau đây được ông cho in đậm trong một bài viết: “Một bộ tiểu thuyết võ hiệp không xây dựng nổi một vài nhân vật cho ra trò, mà chỉ trông cậy vào tình tiết mạo hiểm vá víu, cùng những cuộc ác đấu kéo từ cuốn này qua cuốn khác, thì nhất định bộ tiểu thuyết võ hiệp đó không thể lôi cuốn bạn đọc”
Ở chỗ này, Kim Dung đã chạm tới một chỗ mạnh của bản thân, một thế mạnh thực thụ, mà không ai có thể phủ nhận.
Vương Ngọc Yến và Đoàn Dự, Trương Vô Kỵ và Hồng Thất Công, Chu Chỉ Nhược và Tạ Tốn v.v... Với những người không đọc chưởng, thì các tên này không gợi ra một ý niệm gì cả, nhưng với những người có dịp dừng lại ở những trang sách của Kim Dung, gắn với mỗi cái tên ấy là một tính cách, người này tiêu biểu cho lại ngay thẳng thật thà, kẻ kia là cái tên chung để gọi một mưu đồ ác độc v.v... Người ta đã có nhiều bằng chứng để xác nhận tính phổ biến của các nhân vật chưởng: Sau khi đọc xong sách của Kim Dung, một số bạn đọc của ông nhận ra rằng khá nhiều người đời rất giống với nhân vật của ông, và họ liền lấy tên nhân vật để gọi người đã gặp: ông A. là Mộ Dung Phục, ông B. có nhiều nét của Vi Tiểu Bảo. Ai người bề ngoài tỏ ra cao thượng nhưng bên trong giả dối là Nhạc Bất Quần. Còn Tả Lãnh Thiền thì dành để chỉ kẻ thích xưng hùng xưng bá, doạ dẫm người khác.
Đối với một nhà tiểu thuyết, đấy là cả một vinh dự!
Vả chăng mặc dù là những con người của võ thuật, và có thể, trong khoảnh khắc, xuống một thế võ, giết chết cả ngàn sinh mạng song nói chung, họ vẫn có những vui buồn sướng khổ thông thường. Âu Dương Phong nao lòng khi nghe một đứa bé gọi là cha. Đoàn Dự vừa trông thấy Vương Ngọc Yến đã cảm thấy bị thu hết hồn vía. Hoàng Dược Sư đi khắp cùng trời cuối đất tìm con, và lúc nào cũng nhớ đến người vợ thuỷ chung sớm qua đời... Lại nữa, nếu xét cho kỹ, người ta thấy các nhân vật trong chưởng, với tất cả sự đam mê sẵn có, làm bao nhiêu chuyện kinh thiên động địa, nhưng suy cho cùng, không phải bao giờ họ cũng làm chủ được số phận. Thường khi, họ trở thành một cái gì mà họ không bao giờ nghĩ tới. Trong Thiên Long bát bộ, có một chi tiết rất nhỏ: một lần các chiến hữu thân thiết của Kiều Phong có dịp gặp gỡ, trong đó viên phó tướng của Kiều Phong dẫn tới người vợ rất đẹp. Hầu như tất cả mọi người trong bàn tiệc hôm đó đều cùng trầm trồ khen ngợi, và nhất cử nhất động của họ đều bị chi phối bởi cái nhìn của người đàn bà này. Chỉ có Kiều Phong với tâm thế của một bậc anh hùng cái thế, mải lo việc lớn, chả để ý đến người vợ của chiến hữu làm gì. Thế là trong lòng bà taoonayr sinh một mối hận thù, và bà ta thề sẽ phá tan cái băng đảng mà Kiều Phong đã dày công tập hơp. Dù tán thành hay không, cũng phải công nhận rằng cách cắt nghĩa lịch sử của Kim Dung như vậy khá táo bạo. Giữa cái tưởng như vô cùng lớn và cái tưởng như vô cùng bé, có một sự tiếp cận ngẫu nhiên, từ đó, tạo nên một sự bùng nổ trong hành động của con người mà không một lô gích thông thường nào cắt nghĩa nổi. Nhưng tất cả những bột phát tuỳ tiện không định trước đó lại có tính tất yếu, nó là cái bền vững nhất trong mỗi con người đang sống.
Võ công hay kỹ thuật
Ta cũng chớ nên quên tiểu thuyết của Kim Dung là sách chưởng và dù say mê với việc miêu tả sự muôn màu muôn vẻ của con người đến đâu, thì ông cũng phải đặt mối quan hệ của họ vào võ lâm. Nói cách khác, những quan niệm hiện đại của Kim Dung về thế giới còn phải được tìm cả trong các võ công, mà các nhân vật của ông sử dụng.
Nếu như đọc những Tuỳ Đường diễn nghĩa, hoặc Tam quốc, người ta được biết những ngón võ nổi tiếng như Sát thủ giản, Hồi mã thương, và đọc các bộ kiếm hiệp như Bồng Lai hiệp khách, Giao Trì hiệp nữ, đám học trò tiểu học còn nhớ những thế võ như Kim kê độc lập, Nguyên suý hồi trào... thì ở đây bạn đọc cũng được biết tới Nhất dương chỉ, nào Lạc anh quyền, nào Đả cẩu bổng, nào Lăng ba vi bộ. Khi cắt nghĩa sự hình thành của những võ công này, Kim Dung cho biết rằng thường chúng được gợi ý từ hai nguồn:
1/ những hiện tượng văn hoá truyền thống (có võ công dựa trên Kinh Dịch, có võ công lấy Phật học làm căn bản v.v...)
2/ những hiện tượng tự nhiên (có võ công mô phỏng một cảnh thác đổ, có võ công bắt chước thế chim bay v.v.)
Trong trường hợp thứ nhất, Kim Dung có dịp tự trình bày như một học giả uyên bác và tinh tế. Không phải ngẫu nhiên, đã có bạn đọc thú nhận rằng “đọc chưởng của Kim Dung, thấy có một sự khoái trá văn hoá không thể tìm thấy ở bất kỳ chỗ nào khác trong văn học Trung quốc hiện đại”
Ngược lại, trong trường hợp sau, người ta không chỉ thú vị với một trí tưởng tượng phong phú, mà còn cảm thấy mình như ở đây có một ít liên hệ với một môn học hiện đại là phỏng sinh học (nghiên cứu kỹ tự nhiên để hoàn chỉnh các loại máy móc, giúp chúng có chức năng đa dạng như tự nhiên).
Ngay từ những tập đầu của Thiên Long bát bộ, tên tuổi Đoàn Dự đã gắn liền với cái võ công kỳ lạ là lục mạch thần kiếm. Nhưng cái oái oăm của Kim Dung trong trường hợp này, nó cũng là lý do khiến cho người ta hồi hộp theo dõi, là môn thần kiếm ấy của Đoàn Dự được “điều kiện hoá” cao độ. Không phải bao giờ nó cũng thuận theo ý muốn Đoàn Dự. Khi chàng bắt gặp một cảnh ngang trái (chẳng hạn thấy một kẻ cậy tài và khoẻ bắt nạt kẻ yếu hơn), và trong cơn bột phát, Đoàn Dự muốn làm một việc tử tế, thì bao giờ môn thần kiếm ấy cũng là vô địch. Nhưng khi chủ nhân của nó thiếu đi một lý do chính đáng (chẳng hạn, chỉ cốt phô phang với đời) thì món thần kiếm kia mất hẳn hiệu nghiệm. Thật là tức anh ách! Nhưng với người đọc, nó thật là chuyện thú vị! Và người ta tự hỏi làm sao mà một nhà văn có thể tự đặt ra một võ công kỳ lạ vậy, nếu không thấm nhuần ý tưởng về tính xác xuất, vốn là một phần của các tư tưởng vật lý hiện đại.
Số lượng các từ ngữ lần đầu tiên được dùng trong chưởng, sau đó trở nên phổ biến khá nhiều. Chẳng hạn khi thấy một ai lánh bỏ sự đời, người ta bảo rằng anh ta dạo này rửa tay gác kiếm, còn nếu như anh ta trở lại hoạt động, tức là một dịp tái xuất giang hồ. Riêng tôi, trong kho từ ngữ này có một cụm từ mà tôi rất thích: tẩu hoả nhập ma. Nguyên do là trong truyện của Kim Dung do khát vọng muốn được hiểu biết, được từng trải, có những nhân vật lăn đi để học hết võ công này tới võ công khác. Nhưng không phải là các võ công hoàn toàn vô can, và có thể “lắp ghép” bừa bãi. Khi hai võ công trái ngược nhau được đặt cạnh nhau, hoặc nói rộng hơn, khi một người tính chuyện thu nạp cả những võ công ngược với tính cách bản thân, lập tức ở anh ta sinh ra hiện tượng giống như công thuốc, cái nọ xung đột với cái kia, không những không có lợi mà còn có hại, thậm chí có trường hợp con người trở thành tàn phế. Trong khi mang sắc thái rất riêng của võ công, ý niệm tẩu hoả nhập ma thật ra có tầm phổ biến rộng rãi, khi một người đọc những quyển sách mà anh ta không hiểu, rồi sinh ra nói năng bừa bãi, người ta cũng bảo anh ta ngộ chữ, hoặc bị tẩu hoả nhập ma. Mà cái căn cốt sâu xa để xây dựng nên ý niệm này lại có thể tìm ngay ở một ý tưởng của triết học thế kỷ XX: chủ nghĩa cấu trúc.
Trên nét lớn, có thể bảo võ công trong Kim Dung có những nét tương tự như kỹ thuật với con người hiện đại.
III. Những người viết văn có thể tìm thấy những gợi ý như thế nào từ truyện chưởng?
Khoảng 1954 về trước, chợ Đồng Xuân có một dãy quầy hàng bán ở ngay mặt tiền, và muốn mua gì, mọi người có thể không cần vào chợ mà đứng ngay trên vỉa hè tuỳ ý lựa chọn. Một trong những quày đó, ở góc phố Hàng Khoai, dành cho sách báo. Cố nhiên chữ nghĩa bán ở đây chỉ là loại hàng tầm tầm, trong đó có một thứ mà vào tuổi tôi lúc ấy, không ai không thích: kiếm hiệp. Còn nhớ, để câu khách và cũng là tiện cho người mua vặt, sách của ông Lý Ngọc Hưng in ra thoe từng tay một, mỗi tay ứng với một hồi. Những lúc chờ tàu điện về với gia đình ở Thuỵ Khuê, tôi chỉ ngóng tàu đến chậm, để lướt thật nhanh qua các tay sách. Ngọc Kỳ Lân Vân Đằng Giao và Kim Hồ Điệp Trúc Thuý Quỳnh, Bồi thành lực sĩ Sích Như Lân chi mộ, Uy liệt vương Võ Trấn Phương kiến thiết, Nguyên suý hồi trào, Hạng Vương cử đỉnh... tên người tên đất, tên các thế võ đọc ban ngày, đêm về xủng xoảng trong đầu óc, khiến cho về sau, có hồi học chữ Hán với mấy cụ đồ ở trường Chu Văn An, nhiều từ tôi chỉ nghe phát âm mà biết nghĩa, lúc bình tĩnh ngồi nghĩ mới hay mình đã vỡ lòng ở sách của ông Lý Ngọc Hưng.
Dẫu sao, nhớ lại thời đọc kiếm hiệp, về sau tôi vẫn thấy trong đó có chút lý do chính đáng: trẻ con bao giờ chả thế!
Đến như chuyện mê chưởng thì mới thật lạ. Khi mới bắt đầu làm quen với Kim Dung, bản thân đã ít nhiều ăn chịu với nghề viết văn và nói chung là có được phần nào ý thức về công việc của mình. Vậy mà vẫn không sao cưỡng nổi thứ văn chương thoạt nhìn ma mị đó! Có điều, có phải riêng tôi đâu, ở tạp chí Văn nghệ quân đội nơi tôi từng công tác, một ngòi bút nổi tiếng sác sảo như Nguyễn Khải, một người ranh ma như Xuân Sách cũng mê chưởng, và mỗi lần ngốn hết một bộ sách của Kim Dung là các anh lại ngồi vừa vân vi lý giải sự đời trong đó, vừa liên hệ với những chuyện vẫn nghe trong đời sống hàng ngày, để bình luận thêm. Còn nhớ là với thói quen thích đùa bỡn và tự chế giễu, Nguyễn Khải có lần còn cảm thấy mình có chất của Mộ Dung Phục, một trong những nhân vật hiếm hoi của Kim Dung từ chối tình yêu, vì chỉ sợ sa chân vào đó là rơi vào phù phiếm, trong khi đời mình còn bao nhiêu việc phải làm! Và trong những câu chuyện bên Hội Nhà văn mà Nguyễn Khải thường mang kể lại cho anh em ở 4 Lý Nam Đế, anh cũng không quên lưu ý là dạo này, nào ông Kim Lân, nào ông Trọng Hứa... đang quay cuồng về chưởng ra sao.
Hàng ngũ những người mê chưởng tôi quen thì có thể kể ra khá dài: Nghiêm Đa Văn và Lâm Quang Ngọc, Hà Ân và Trần Hoàng Bách v.v.... Sách người này đọc chưa xong, người kia đã chờ mượn, cả bọn dắt dây nhau mà thích thú và cảm phục.
Một số thu hoạch tôi nêu lên ở trên, có liên quan tới không biết bao nhiêu cuộc luận bàn chúng tôi đã dành cho tiểu thuyết Kim Dung trong buổi đầu gặp gỡ đó
Còn bài học mà chưởng gợi ý đối với nghề viết văn, có phần đến sau hơn một chút, nhưng không phải vì thế mà kém phần sâu sắc.
Một trong những sức ép mà những người cầm bút hiện nay phải chịu, mỗi khi viết văn, là bên cạnh văn chương, lúc nào cũng có vô số thứ lôi cuốn bạn đọc. Công chúng giờ đây được chiều chuộng bởi đủ thứ thú vui: nào điện ảnh, nào truyền hình, nào các đêm biểu diễn ca nhạc, trong khi ấy, thời gian của họ phải nói là ngày càng trở nên eo hẹp. Lẽ tự nhiên, mọi người dễ đi tới kết luận rằng một lối viết hiện đại có nhiều phần đồng nghĩa với một lối viết ngắn gọn chặt chẽ, cốt gây ấn tượng. Thế nhưng, trong một lần trò chuyện với nhà văn Võ Quảng về chuyện dài và ngắn, loanh quanh một hồi, rồi cả hai chúng tôi cùng ngớ ra: tiểu thuyết Trung Hoa cổ điển có bao giờ ngắn gọn? Chẳng phải cái ấn tượng đầu tiên của một người khi liếc qua một cuốn chưởng nhàu nát, là sao cảm thấy nó dông dài đến mức lê thê, hết tập này sang tập khác, để rồi về sau mê mẩn với nó tới cùng? Kết luận: sự dài dòng không phải là một cái tội, nếu như có vẻ dài dòng đấy, mà thiên hạ không bỏ được sách của mình, thì đó lại là điều đáng hãnh diện.
Ở các lớp dạy viết văn, những người muốn đi vào nghề cầm bút sớm được nghe cả một định nghĩa kinh điển: văn chương là nghệ thuật ngôn từ, và nếu không làm được, thì ai người theo nghề này, cũng tin chắc rằng đáng trọng nhất là những cây bút biết dừng lại để chăm sóc cho từng câu từng chữ. Song đối với tiểu thuyết võ hiệp nói chung, với chưởng nói riêng, hình như không phải vậy. “Từ thuở xa xưa, những người đi kể tiểu thuyết cho thiên hạ đã sớm phải ghi nhận rằng giọng văn mà họ thưởng thức hơn cả là một giọng văn dễ dãi, rõ ràng và giản dị, với những chữ thông thường hàng ngày” (Pearl Buck). Đến chưởng, cái luật lệ đó vẫn được duy trì, và đây có lẽ là lý do để một số người dè bỉu nó. Nhưng có một số người khác đã tự mình đặt câu hỏi: văn chương tự nó không phải là mục đích. Nếu như thứ văn chương bề ngoài có vẻ dễ dãi như văn Kim Dung thích hợp với nội dung câu chuyện và điều tác giả muốn nói với bạn đọc thì tại sao ta lại không chấp nhận? Chẳng những thế, nếu thân tình hơn với tác giả, và thấu đáo hơn trong thưởng thức, người ta sẽ nhận ra rằng thật ra thứ văn ấy có vẻ đẹp riêng, cái duyên dáng riêng, và sự hấp dẫn của nó là thứ hấp dẫn của cái gì không cần tô điểm cầu kỳ. Ai có kinh nghiệm đều biết rằng viết được loại văn đó không phải dễ.
Dẫu sao, câu chuyện về dài hay ngắn, cần trau chuốt cho kỹ lưỡng hay cứ để cho văn tự nhiên tuôn trào trên trang giấy vẫn còn là chuyện nhỏ, so với những vấn đề lý luận lớn hơn, mà do tầm phổ biến rộng rãi và lâu dài của nó, tác phẩm của Kim Dung đã gợi ra và đáng được suy nghĩ tiếp.
Mỗi khi có dịp tâm sự với bạn đọc, nhà văn này thường vẫn kể là có không ít người viết thư cho ông, tỏ ý thắc mắc rằng sao trong tiểu thuyết của mình, ông bịa đặt ghê gớm thế. Thì ra, lối thưởng thức văn chương trong sự ràng buộc với cái thực đã thâm căn cố đế ở nhiều người, và khi suy nghĩ về vấn đề này người ta thường vẫn bị các bậc thày của văn học phương Tây ám ảnh. Rằng, tác phẩm này, diễn tả thành phố Paris đúng đến từng chi tiết. Rằng, trong tác phẩm kia, có những tài liệu có thể dùng làm dữ kiện tham khảo cho các nhà nghiên cứu kinh tế. Kể ra, đó cũng là những nhận xét xác đáng, có điều, nếu coi đó là phương hướng đuy nhất, để văn học đi theo, thì không đúng. Trong văn học phương Tây, thế kỷ XIX, không chỉ có Balzac mà còn có Stendhal, một người hướng mọi nỗ lực sáng tạo của mình vào việc biểu hiện tâm hồn của con người, ngoài chuyện đó ra, những chi tiết lặt vặt đối với ông chả là gì cả, hoặc cũng có quan trọng tí chút, song không phải là cái đích khiến ông phải quá để tâm săn sóc. Nhìn sang tiểu thuyết phương Đông cũng thấy một tình trạng song hành tương tự. Ở đây, có những cuốn truyện dài với nhiều chi tiết chân thực, như Hồng lâu mộng, nhưng một cuốn khác, như Tây du, lại hoàn toàn dựa trên bịa đặt, có phải vì vậy, mà bảo là cuốn thứ hai kém cuốn thứ nhất đâu? Nghiêm túc mà nói, phải nhận những Liêu Trai chí dị, Tây du nói về đời sống theo các cách riêng của nó, và người ta vẫn có thể bảo rằng những tác phẩm này có giá trị hiện thực mà không có gì là nguỵ biện cả. Chưởng Kim Dung, đi theo truyền thống đó.
Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, một nhà hoạt động sân khấu song lại rất mê văn học, và cũng mê chưởng, mới đây kể với tôi rằng ông đã phải suy nghĩ nhiều, khi có lần nghe một người lái xe nhận xét:
- Đọc chưởng của Kim Dung, thấy cái gì cũng bịa, sau cuối cùng lại thực, trong khi xem kịch của anh A. đọc truyện của anh B, viết bây giờ, biết thêm nhiều chi tiết thực, mà toàn bộ cứ giả khượt.
Ở đây, có lẽ nên tham khảo thêm một ý kiến của nhà văn Mỹ la tinh Huan Carlos Onetti. Ông này cho rằng “có nhiều cách nói dối, nhưng cách tởm lợm nhất là nói toàn bộ chi tiết thực, chỉ che giấu,hay là làm sai lạc. cái hồn của hiện thực”.
Phỏng theo cách nói của Onetti, có thể bảo trong chưởng có một “cái hồn” thực, cái hồn này là cái tinh thần toát ra từ đời sống tác giả nắm bắt được và muốn chia sẻ với bạn đọc.
Có một khía cạnh nữa, làm nên tính cách hiện đại của chưởng, mà lại liên quan đến mỹ cảm đến cách viết, đó là cái bề ngoài xù xì luộm thuộm của nó, cái lối bịa đặt rất gần với ma giáo tà đạo của nó. Thế kỷ XX của chúng ta là thế, dù ở phương đông hay phương tây, nay là lúc những gì trinh trắng, thật hạt, thuần nhất, thiêng liêng... đã bị phôi pha đi nhiều, lẽ tự nhiên là trong văn học dễ sinh ra những hiện tượng bề ngoài không bình thường, thậm chí quái dị. Mà quần chúng đông đảo thường lại dễ bị lôi cuốn bởi những cái đó. Đôi khi nhà văn phải dám mạnh dạn chấp nhận thách thức, tức là không sợ đi chung một chuyến đò với những gì pha tạp và thoạt nhìn như là thấp kém kia, hơn thế nữa, biết mang lại cho chúng một tầm cao mới, vẻ đẹp mới. Còn nếu như việc làm đó là xa lạ, chẳng bao giờ hợp với các gu trời cho ở ta đi nữa, thì, trong khi không tìm cách làm theo, ít ra ta cũng nên rộng lượng hơn, cởi mở hơn, phóng khoáng hơn, trong nhìn nhận và đánh giá. Ngoài trời lại có trời, đó là một trong nhiều ý tưởng xuyên suốt các bộ chưởng của Kim Dung, và càng ngày nó càng được nhiều người cho là có
1997
SỰ TỪ CHỐI LIÊN TỤC
VỚI MỌI TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY
Ngày 2 tháng 11 năm 2018
Trong vụ GS Chu Hảo, nhiều người thắc mắc tại sao cấp trên lại phê phán ông về hoạt động của nhà xuất bản Tri Thức.
Là một người đã làm công tác xuất bản và ít nhiều có hoạt động trong lĩnh vực sách vở khoa học xã hội, tôi không lấy làm lạ. Câu chuyện từ chối các tài liệu nghiên cứu từ phương tây vốn có từ lâu lắm.
Sinh thời nhà thơ Tố Hữu từng cho rằng về khoa học tự nhiên ta có thể kém chứ khoa học xã hội thì ta không chịu một ai. Thậm chí theo cách nói của Tố Hữu ta còn có thể đi dạy cho các nước khác nữa.
Trong giới khoa học xã hội nhiều người lứa tuổi tôi hẳn biết nhà dân tộc học Từ Chi từng mang vạ vì ở nơi sơ tán mà để hết tâm trí ngồi đọc Nhiệt Đới Buồn của Claude Lévi-Strauss.. Có lần một phó ban tuyên giáo hình như là ông Hà Huy Giáp đến thăm nơi sơ tán của cơ quan phát hiện ra việc này của Từ Chi. Sau đó ông liền bị chi bộ quần cho một trận. Kinh nghiệm của Từ Chi là không nên làm việc ở cơ quan mình có chuyên môn mà nên làm ở một nơi chung chung khác, sẽ dễ ẩn mình để tự do nghiên cứu hơn.
Trước đó thời Liên Xô theo chúng ta là sa vào chủ nghĩa xét lại, sách vở khoa học xã hội cũng bị cấm đoán như vậy. Cũng may là các sinh viên Việt Nam sang Liên Xô học thường cũng không biết rộng ra ngoài phạm vi nhà trường dạy mình, mà chỉ tiếp thu cái phần bảo thủ trong các tài liệu của Xô Viết, nên ở đây không xảy ra những bi kịch đáng kể lắm. Chỉ có một lần nhà nghiên cứu điện ảnh Mai Luân nhắc lại một luận điểm của ông thầy Nga về khả năng ‘phá vỡ logic cuộc sống’ thì lập tức bị nhà mác – xít cổ điển Trường Chinh phê phán cho một trận, thế là cạch hẳn.
PGS Đặng Anh Đào tôi quen vốn làm công việc nghiên cứu văn học phương Tây, nhưng rất am hiểu văn học Việt Nam từ những năm tám mươi có chuyển sang viết về văn học đương thời, sau đã trở thành một thành viên Hội nhà văn. Chị Đào có lần nhận xét về ông Hữu Thỉnh phụ trách Hội nhà văn chúng tôi, sao ông này có quan điểm rất lạ, người Pháp người ta cho sách thì chỉ nhận sách cổ điển, còn sách hiện đại thế kỷ XX thì nhất định không nhận. Tôi phải nói ngay với chị Đào rằng cái lối này đã có từ thời của nhà văn kiêm nhà trí thức số một của giới văn nghệ thời ta là ông Nguyễn Đình Thi. Hồi chống Mỹ, Pháp họ vẫn cho Hội nhà văn sách rất đều. Ông Thi nhận nhưng giao cho bà Huệ giữ thư viện – cũng tức là vợ nhà văn Bùi Hiển -- cất kín trên gác, chỉ khi có lệnh của ông Thi bà Huệ mới được phép cho mượn. Nói tóm lại, cái xu hướng tự cách ly hẳn với thiên hạ, cái đó vốn là chủ trương của những người phụ trách mãi bên trên, và đã kéo dài lâu quá, gây nên bao nhiêu tật bệnh.
Từ sau 1986, sự tiếp nhận tư tưởng khoa học xã hội phương tây được sự tiếp nhận kinh tế hỗ trợ nên khộng khỏi tạo áp lực khiến cấp trên có phần bắt buộc phải có cái nhìn cởi mở hơn. Nhiều quyển sách quan trọng của khoa học xã hội Mỹ Anh Pháp Đức...được giới thiệu để dịch ở ngay cơ quan xuất bản chính thức của nhà nước. Bộ phận quản lý không dễ từ chối, nhưng vẫn tìm ra cách đối phó riêng. Chỉ cho in ra những gì ta đã phần nào kiểm soát được. Thông thường chỉ cho in với số lượng rất ít và có khi in xong không giới thiệu rộng rãi cất ngay vào kho để hạn chế phổ biến. Các tác phẩm động chạm đến các vấn đề cụ thể của Việt nam càng được soi xét kĩ lưỡng, có nhiều quyển, những đoạn quan trọng thì bị đục bỏ hoặc bị giải thích lại theo ý muốn chủ quan của cơ quan xuất bản Việt Nam.
Mặc dầu vậy, ở các cơ sở xuất bản của các nganh nghề và các địa phương, những người làm công việc giới thiệu các tài liệu khoa học xã hội nước ngoài vào Việt Nam vẫn tìm cách len lỏi để có thể đưa được những tác phẩm mà họ thấy là cần thiết cho đất nước trên con đường gia nhập vào thế giới hiện đại. Việc này hết sức khó khăn và dễ gây ra tai vạ, phải mưu mẹo lắm mới có thể đưa ra được những gì mình muốn.
Trong tình hình ấy, việc nhà xuất bản Tri Thức in ra được hàng loạt sách khoa học xã hội có giá trị cổ điển, hoặc cập nhật những tài liệu mới nhất gây ra tranh cãi ở nước ngoài, nhất là cho dịch được những tác phẩm sát sao với tình hình Việt Nam, với nhu cầu đổi mới của Việt Nam - phải nói là một hiện tượng hiếm hoi.
Chúng ta cần ghi nhận ở đây, những cởi mở và quả quyết của GS Chu Hảo được sự đồng tình ủng hộ của tri thức trong và ngoài nước, nên mới đạt nhiều thành tựu như vậy.
Cái tinh thần sáng tạo của nhà xuất bản Tri Thức sẽ được bộ phận tinh hoa trong trí thức cả nước tiếp tục, và dù bất cứ hoàn cảnh nào thì nó cũng không thể bị đảo ngược.
Ngày 6 tháng 11 năm 2018
Trong bài viết về điên lần trước, chủ ý của tôi chỉ là nhấn mạnh một vài ý nghĩa tich cực của trạng thái tinh thần này là điều thường xảy ra ở các xã hội khác.
Đối chiếu với tình hình ở ta. Người Việt mình thường là nửa vời nên khó bùng nổ trong công việc.
Ta không có người điên kiểu ấy.
Kiểu điên của ta, nhất là nhũng con người hiện đại gần với chứng rối loạn nhân cách là một thứ cận điên.
Sau đây là mấy thói quen tâm lý mà các tài liệu của giới y học
cho là người mắc loại bệnh này hay mắc phải:
1. Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình (cường điệu các công việc và khả năng của mình, luôn muốn được xem là bề trên một cách không tương xứng với khả năng bản thân…)
2. Cuốn hút bởi ảo tưởng về sự thành đạt, quyền lực…
3. Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và duy nhất
4. Thèm muốn mãnh liệt được ngưỡng mộ
5. Ý nghĩ phải được phục vụ một cách đặc biệt và thỏa mãn một cách vô điều kiện các ước vọng
6. Tận dụng những mối quan hệ để phục vụ các mục tiêu bản thân.
7. Thiếu sự đồng cảm: không nhận thức và chia sẻ tình cảm, nguyện vọng của người khác.
8. Luôn đố kỵ với người khác và tin rằng người khác cũng sẽ đố kỵ mình
9. Có thái độ, hành vi kiêu căng.
(Theo Wikipedia tiếng Việt, phần "Nhân cách yêu mình thái quá".)
Tôi không phải dân chuyên về tâm lý học và y học nên không dám nói rằng các tiêu chuẩn trở thành kẻ rối loạn tính cách như trên đã đầy đủ chưa, thậm chí “về căn bản” đã chính xác chưa.
Chỉ thấy nó đúng với nhiều người quanh mình.
Nó nằm trong tâm trí nhiều người từ chiến tranh trở về và lao vào cuộc tìm kiếm một chỗ đứng vinh quang trong thời hậu chiến.
Nó bộc lộ qua các nhân vật của thứ văn hóa đại chúng tiêu biểu thời nay là các chương trình TV mà người mình hiện nay coi như một hiện thực còn thực hơn chính họ.
Và nó được người ta tin tưởng tới mức thường có mặt trong những lời khuyên mà các bậc cha mẹ ngầm nói với con cái hàng ngày.
Bây giờ tôi muốn nói về nguồn gốc hiện tượng
Nhiều đặc tính con người kể trên là những điều trong thời gian trước 1975 chúng tôi ở Hà Nội đã được dạy dỗ.
Ví dụ với những bài thơ của Tố Hữu của Chế Lan Viên không chỉ học trò phải học, mà cả nước đều thuộc.
Dễ thấy là chúng tôi luôn luôn được nhồi vào đầu những tư tưởng mà các điều 1, 3, 4 trên đây đã mô tả.
-- Về tầm vóc vĩ đại của thời đại mình.
-- Về sứ mệnh vinh quang nhân loại giao phó cho cộng đồng mình vv..
Còn các điều 2 và điều 6 ?
Bạn hãy thử quan sát một vài nhân vật gọi là thành đạt trong thời hậu chiến. Đầy ảo tưởng. Tham lam dối trá điên loạn. Dám làm tất cả để phục vụ bản thân...
Chắc bạn không phản đối nếu tôi bảo đó là những điều các anh hùng thời nay thường tự nhủ. Những cái đó làm cho họ trở nên mạnh mẽ, như rượu đã làm cho Chí Phèo trở nên mạnh mẽ.
Ngẫm nghĩ về cái tâm lý hậu chiến chi phối con người 40 năm nay, tôi cảm thấy chiến tranh đã làm sai lạc cả bản chất con người VN như chúng ta vốn có trước 1945.Thế mà bây giờ người ta vẫn giáo dục bọn trẻ theo kiểu ấy.
MỐI QUAN HỆ
GIŨA GIỚI TRÍ THỨC VÀ GIỚI QUAN CHỨC
TRONG XÃ HỘI XÔ VIẾT
Ngày 8 tháng 11 năm 2018
"Về trí thức Nga" là tên gọi một tập sách do La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009
Trong tập có bài " Bàn về số phận của tầng lớp có học ở Nga" của Sergey Kirilov bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917.
Tôi đã lược thuật bài này và đưa ở blog cá nhân ngày 22-10-2014 và đưa lại vào ngày hôm nay 7-11 - 2018
Dưới đây là một đoạn nói về việc lựa chọn trí thức cho giới quan chức
TỪ CHỐI TINH HOA
Sự xây dựng đôi ngũ tri thức trong xã hội Xô Viết tiến hành theo nguyên tắc phản chọn lọc. Nó tiêu diệt những người ưu tú, lại cất nhắc những kẻ tồi tệ. Quá trình chọn lựa kéo dài hơn một nửa thế kỉ, những kẻ xấu xa nhất được nâng đỡ, việc này đã dẫn đến kết quả là, không những nhóm lãnh đạo chính trị chóp bu, mà cả những nấc thang thấp hơn của kim tự tháp quyền lực, đều nhung nhúc những kẻ không ra gì.
Đấy là lý do vì sao chế độ Xô Viết về nguyên tắc là không thể thay đổi được, dù lãnh đạo cao nhất bị thay đổi.
Nếu tầng lớp tinh hoa trong lĩnh vực quản lí trước cách mạng bao gồm những người được giáo dục và có học vấn tốt nhất trong thời đại của mình, và tầng lớp tinh hoa chính trị trong các nước châu Âu ngày nay cũng bao gồm chủ yếu là những người đã tốt nghiệp các trường đại học uy tín nhất, thì ở Liên Xô, bức tranh hoàn toàn ngược lại.
Tầng lớp lãnh đạo chính trị cao nhất gần như là những người có trình độ học vấn văn hóa kém nhất trong số những người lao động trí óc.
Mặc dù trong thời Xô Viết cũng có một số trường đại học có chất lượng cao nhưng hiếm khi những người tốt nghiệp các trường đại học như thế được gia nhập vào bộ phận tinh hoa trong lĩnh vực quản lí. Tầng lớp quản lí thường chỉ bao gồm những người tốt nghiệp các trường đại học tỉnh lẻ cộng với các trường Đảng cao cấp, nghĩa là những trường đại học có trình độ văn hóa thấp nhất nếu không nói là giả đại học.
TẦM THƯỜNG HÓA GIÁO DỤC
Trình độ học vấn kém cỏi của giới quan chức dẫn đến sự đối lập quan chức – trí thức. Bộ máy quản lí thời Khruchev là một ví dụ tiêu biểu của chất lượng giáo dục khi họ tham gia vào việc quản lí.
Đây là giai đoạn mà sự tầm thường hóa giáo dục đại học đạt đến đỉnh điểm. Lạm phát trí thức bùng nổ với nghĩa hàng chục trường đại học không đủ điều kiện đã được thành lập.
Đây cũng chính là giai đoạn hình thành cơ sở cho việc sản xuất thừa các chuyên gia.
Kết quả và quá trình bành trướng số người lao động trí óc đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng uy tín của lao động trí óc. Tương lai của khoa học cũng gánh chịu những hậu quả nặng nề. Biên chế của các viện nghiên cứu khoa học tăng theo cấp số nhân.
Kể cả những kẻ tầm thường vốn không thể có hi vọng và bản thân không hề nghĩ việc nghiên cứu khoa học, cũng trở thành các “nhà khoa học”.
Đến những năm 80 họ đã trở thành gánh nặng, khiến cho những dự định cải cách chỉ trở thành ảo tưởng. Hơn thế nữa, lúc đó do quá trình thay đổi thế hệ, lớp trẻ hãnh tiến này đã chiếm giữ hầu hết các vị trí lãnh đạo trong khoa học và thực hiện chính sách trí thức dội từ trên xuống theo đúng bản chất của mình.
LÒNG CĂM THÙ CỦA NGƯỜI VIỆT THẾ KỶ XV
Ngày 15 tháng 11 năm 2018
Khi tìm hiểu lại cuộc kháng chiến của Lê Lợi chống quân Minh 600 năm trước, tôi ngạc nhiên khi thấy hồi ấy người ta ít nói đến lòng căm thù.
Công lao đặc biệt của Nguyễn Trãi so với các viên tướng khác của Lê Lợi chính là ở chỗ công tâm. tức là đánh vào lòng người. Nguyễn Trãi đã dùng ngay thứ vũ khí nhân nghĩa của đạo Nho để tác động vào đội quân xâm lược.
Nhưng để làm được việc đó, ông và người bảo trợ ông là Lê Lợi đã có một nhận thức phải nói là có nhiều phần khác với người Việt ở thế kỉ XX.
Trong cuộc chống Mỹ và trước đó là cuộc chống Pháp, lòng căm thù quân ngoại xâm được khai thác triệt để, nó được kích thích được bồi dưỡng, được thả lỏng, được đẩy tới càng mãnh liệt càng tốt.
Ngược lại, Nguyễn Trãi được sự đồng tình của Lê Lợi, coi những binh tướng người Minh kia cũng là người, họ bắt buộc phải sang Việt Nam chiếm đóng, nhưng họ thuộc về một dân tộc ở sát nách bên ta đã bao đời tồn tại bên cạnh ta, vì vậy, phải đánh đuổi họ về nước nhưng sau vẫn phải chung sống với họ. Không thể và không nên khuyến khích nhau lấy chuyện giết hại họ làm mục đich.
Cuộc đối thoại giữa hai bên xảy ra trong khi gươm giáo vẫn làm việc, tuy nhiên nhờ có đối thoại, mà cuối cùng chúng ta đã tránh được những trận đánh lớn – những trận này dù bất cứ ai thắng ai thua thì cả hai cũng đều bị thân tàn ma dại.
Kết thúc cuộc chiến tranh là một cuộc hội thề được tổ chức theo nguyện vọng của hai bên. Trước khi lên đường về nước, các tướng lĩnh nhà Minh đã đến tận doanh trại của quân ta để chia tay. Cũng có người đã nhân dịp này xúi Lê Lợi bắt ngay họ và giết hại cho thỏa thù hận bấy lâu, nhưng Lê Lợi nhất định không nghe. Tôi có cảm tưởng với những người đứng đầu quốc gia thời ấy, lòng căm thù là một thứ vũ khí tạm thời, khi cần mới dùng. Vì nếu bị kích động qúa đáng lòng căm thù sẽ để lại nhiều di lụy trong cộng đồng mãi mãi về sau.
Có người sẽ hỏi thế trong Bình Ngô đại cáo , chẳng phải còn thấy có những câu như:
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
( Niệm thế thù khởi khả cộng đới,
Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.)
Xin tạm trả lời:
- Đó là do lối văn khoa trương, không nên hiểu theo nghĩa đen.
- Đó là những gì viết khi đã chiến thắng, đối phương đã về nước, ta viết để đọc với nhau.
Về chiến lược chung, phải xét toàn bộ phương hướng hành động chứ không thể riêng một tài liệu nào.
MỘT NÉT SUY ĐỒI CỦA VĂN HÓA ĐƯƠNG THỜI
DƯỚI CON MẮT CA SĨ KHÁNH LY
& NHỮNG BIẾN DẠNG HIỆN NAY
Ngày 23 tháng 11 năm 2018
Sau một hồi hò hét kinh người chúng ta lại đang rơi vào than mây khóc gió . Sau một hồi quay về dân tộc nhằm trốn tránh sự học hỏi để hiện đại hóa, chúng ta lại đang rơi vào vọng ngoại mà là “vọng” cái phần tầm thường dung tục của người ngoài.
Những nhận xét ấy do người trong cuộc nói lên thì bảo rằng bi quan chỉ thấy cái xấu. Có điều đây lại là của Khánh Ly một ca sĩ mọi người sống với lịch sử văn hóa Việt hiện đại đều biết.
Nhưng tôi cho rằng cái nhận xét sau đây viết năm 2010 mới thật là đáng ngẫm nghĩ.
"Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ Việt Nam ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke."
Bà đã thấy tất cả là do giáo dục.
---
Đoạn văn dưới đây tôi ghi lại từ trang văn hóa giáo dục của Viet-studies. Nay tìm lại không thấy.
Nhưng khi kiểm tra lại qua trang
http://bienxua.over-blog.com/article-ben-i-hiu-qu-nh-tuy-bu…
Bên đời hiu quạnh - Tùy bút Của Khánh Ly
Publié le 22 février 2010 par Bienxua
vẫn thấy các ý ấy ở phần cuối.
---
Khánh Ly—Bên đời hiu quạnh ( trích)
[ Nhiều bài hát trong nước ] không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.
…Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75, sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ Việt Nam bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?
Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ Việt Nam ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở Việt Nam đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm.
…Ca sĩ trẻ ở Việt Nam hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn.
BỔ SUNG
BỆNH CŨ CHƯA HẾT LẠI THÊM BỆNH MỚI
Tới ngày nay, ý của ca sĩ Khánh Ly tất nhiên đã quá quen thuộc.
Tôi muốn nói thêm
NAY TA ĐANG CHUYỂN SANG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
một trào lưu rất phổ biến trên thế giới hiện nay
mà đặc trưng là mỗi thứ một tí:
một tí hiện thực = một tí phê phán – ngày nay gọi là phản biện
tưởng là tranh đấu nhưng hóa ra kêu gọi cam chịu,
vừa anh hùng căng cứng vừa ủy mị
vừa cải lương nủa vời vừa bám theo những mốt mới nhất,
vừa phục cổ vừa vọng ngoại
có khi kích thích bạo lực nhưng thường khi ngả sang ngôn tình mùi mẫn..
Các bạn cứ xem các chương trình VTV 3 đủ rõ.
Đây mới là THỰC CHẤT CỦA CÁI MỚI Ở TA .
Nó sẽ sống rất bền lâu.
---
Cũng trong dịp này tôi có đọc được một bản mới của bài viết trên, có trích ra đưa lại một đoạn ngắn trên blog cá nhân,
mục đích cũng chỉ là nhằm cùng bạn đọc hiểu thêm Khánh Ly.
Chữ NHÀ trong tâm trí ca sĩ Khánh Ly
Trong khi lang thang trên mạng tôi tình cờ đọc được một bài viết nhiều kỳ của ca sĩ Khánh Ly trên tờ Thời báo nhạc xưa in ở hải ngoại. ht...
Ngày 4 tháng 12 năm 2018
Lớp 10C Chu Văn An bọn tôi (khóa 1958-1961) có bạn Phạm Đình Tuấn. Tuấn thông minh, nhưng thường điểm các môn không cao lắm, nên không được coi là học sinh giỏi. Tôi chỉ bái phục Tuấn khi được biết rằng hồi ấy anh đã đọc được “Thủy hử” trong nguyên văn bằng chữ Hán. Hết lớp mười � lớp 12 hiện nay) Tuấn thi vào đại học hàng hải, những mong theo tàu viễn dương đi khắp thế giới. Cái lý lịch là dân Hà Nội cũ đã làm hại anh. Người ta sợ những người như anh đi đây đi đó rồi sẽ bỏ ra nước ngoài. Anh phải chuyển về nông lâm khoa nuôi cá nước ngọt và học xong được điều lên Sơn La. Bạn bè ai cũng nghĩ chắc anh bị quên giữa núi rừng mịt mùng tức đã lẫn vào đám công chức xã hội chủ nghĩa tỉnh lẻ ở miền Bắc. Cái điều lo lắng đó của chúng tôi được coi là sai khi biết sau 1975 được tin Tuấn bỏ Sơn La vào Sài Gòn tính chuyện làm ăn, rồi nhanh chóng vượt biên. Thật tôi không hiểu tại sao mà trong những ngày ở Sơn La anh còn làm được hai việc rất khó khăn là tiếp tục học thêm về nuôi trồng thủy sản và nhất là học được tiếng Anh đế mức khi đi di tản sang Mỹ nhập ngay được vào xã hội đó, như một người lao động giỏi giang. Làm sao lại không kinh ngạc khi biết về hưu của anh lên tới 4000USD. Tôi không có điều kiện gặp anh từ 1961, chỉ biết qua lời kể của các bạn Nguyễn Nghĩa Bùi Hồng, nên không biết có gì sai trong các chi tiết vừa kể. Nhưng tôi chắc rằng về căn bản Phạm Đình Tuấn của tôi là người Hà Nội sau 1954 không bị cách giáo dục của xã hội làm cho tầm thường đi và nhất là không bị cuộc chiến tranh 1965- 1975 làm hỏng. Tôi muốn coi anh người bạn nay đã qua đời này là một công dân Hà Nội tiêu biểu. Tại sao? Chắc rằng không dễ gì các bạn xa gần đồng ý với tôi, nhưng ở đây tôi có cái chuẩn mực riêng của mình. Theo tôi, cái tinh thần chính mà người Hà Nội “trong thời Pháp thuộc” đã học hỏi được -- đúng hơn là cái thời mà các công dân đô thị đã được nền văn hóa phương Tây do người Pháp đưa vào hướng dẫn -- đó là tinh thần hướng ra thế giới và ở đâu cũng tự rèn cho mình cái khả năng gia nhập vào xã hội hiện đại. Những người như thế hiện nay đang là thiểu số. Còn đa số chúng ta thì khác. Lớp người thuộc lứa tuổi tôi đa số thích ứng với chiến tranh và nay đang sống rất khó khăn trong cái thời mà xã hội cần phát triển. Nhìn từng người thì có người nọ người kia và ta buộc phải an lòng cho đỡ nhiễu sự. Nhưng xét chung cả cộng đồng thì sao? Chúng ta loay hoay mang chút uy tín có được trong chiến tranh ra làm bảo đảm để đi vay mượn rồi cùng với chút tài nguyên ông cha để lại bán đi để tiêu xài. Đáng lẽ chúng ta phải để cho những người đã có sự chuẩn bị cho hội nhập và phát triển như Tuấn hướng dẫn xã hội này thì chúng ta lại để cho họ bỏ ra nước ngoài. Và đó là nguyên nhân lớn nhất khiến tôi tin rằng chúng ta sẽ còn tụt lùi nữa.
2/NHỮNG NGƯỜI TÀI ĐI HẾT RỒI TA SẼ SỐNG VỚI AI?
Tôi nhớ lại về Tuấn và có những ý nghĩ trên khi đọc bài trên mạng Dân trí ngày 11-11-2017 mang tên.
“Người đàn ông uống cà phê cùng Thủ tướng Canada bên vỉa hè Sài Gòn”.
Bài báo cho biết “ Ông Hiệp sinh năm 1946, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sài Gòn. Có lẽ, vừa là một nhân viên thâm niên hơn hai mươi năm của lãnh sự quán Canada tại TPHCM, lại là người bản địa, nên ông được lãnh đạo giao nhiệm vụ hướng dẫn Thủ tướng Trudeau dạo phố, ngắm cảnh, uống cà phê cóc Sài Gòn...”
...Cuộc trò chuyện giữa hai con người chỉ biết nhau qua “giấy tờ” vỏn vẹn chừng mươi phút nhưng ấn tượng hình ảnh một vị lãnh đạo trẻ trung, năng động, thân thiện để lại trong lòng ông Hiệp vô cùng sâu sắc. Hai người trò chuyện bằng tiếng Anh xong rồi tiếng Pháp. Thủ tướng Trudeau khá bất ngờ với khả năng nói tiếng Pháp của ông Hiệp.
Ông Hiệp cũng trải lòng cùng Thủ tướng: “Cũng làm đã lâu, hơn hai mươi năm rồi, tôi có ý định xin hưu để sang Canada sống với con cháu…”.
Nghe đến đó, Thủ tưởng Trudeau xin ngắt ngang: “Chính phủ Canada rất trân trọng những người lớn tuổi, rất tôn trọng những người hăng say lao động và làm được việc, Canada không quan trọng tuổi tác”.
...
Chắc các bạn đã đoán ra, nhưng tôi vẫn muốn nói ra bằng được cái cảm giác của tôi về nhân vật ông Hiệp trong bài. Để mượn lại một chữ mà Thạch Lam hay dùng, tôi không khỏi se lòng khi nghĩ những người như thế nay đang hiếm dần.
Chúng ta sẽ sống với ai? Ai là người sẽ giúp chúng ta tiếp tục quan hệ với thế giới?
Có một chi tiết mà tôi nhớ mãi khi đọc lịch sử. Mỗi khi người Tầu xâm chiếm nước ta họ thường bắt các vương triều của ta giao nộp người tài. Chỗ khác giữa xưa và nay là những người tài thời nay thường tự nguyện ra đi, khổ mấy cũng quyết để đi.
TRÍ THỨC MIỀN NAM
NHỮNG NGƯỜI BIẾT HỌC
Ngày 10 tháng 12 năm 2018
Bỗng nhiên tôi nhớ lại hai câu nói của hai nhà văn miền Nam- một già một trẻ - trước 1975 .
Cả hai tôi đã ghi lại đâu đó, nhưng nay cuốn sổ thất lạc, nên không dẫn được nguyên văn đành chỉ ghi theo trí nhớ.
• Sau chiến tranh cả chúng ta lẫn những người cộng sản đều không nên sống nữa, vì đều đã quá cực đoan.
•[Trong một cuộc tranh cãi nhỏ với báo chí Hà Nội]. Các anh đừng nên nghĩ chỉ các anh mới là người Việt Nam mà chúng tôi cũng là người Việt Nam.
Trong những năm qua, chúng tôi chỉ tự hào một điều: chúng tôi biết học.
--
Câu trên là của Võ Phiến mà chúng ta quen biết, nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn.Vần đề rất lớn xin để khi khác.
Còn câu dưới là của Cao Huy Huy Khanh. Khoảng 1971-1973, với tư cách một cây bút trẻ, anh hay viết cho tờ "Khởi hành" của Viên Linh, hoặc "Vấn đề" của nhóm Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo.
Khoảng mười lăm năm trước, qua anh Tạ Nghi Lễ, tôi có liên lạc được với anh Khanh, và biết được rằng anh đang làm cho một tờ báo ở Sài Gòn.
Hồi 1976, vào Sài gòn đọc Khởi hành 1972-1974 tôi chú ý tới anh là qua mấy bài anh tổng kết về tiểu thuyết đương thời. Còn nay, anh tặng tôi một cuốn sưu tầm về một số kỷ lục Guiness ở Việt Nam.
GIỚI TRÍ THỨC MIỀN NAM
ĐÃ CHUẨN BỊ CHO SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
SAU CHIẾN TRANH
Trước sau 75, khi đọc sách báo miền Nam, tôi và các bạn cùng lứa thường chỉ chú ý tới sáng tác của các nhà văn. Cũng giống như các bậc đàn anh, chúng tôi tưởng cứ giữ nguyên bộ máy chiến tranh chuyển sang lao động cật lực trong hòa bình là có xã hội thịnh vượng
Nhưng dần dần chúng tôi mới hiểu ra công cuộc phát triển khác hẳn với chiến tranh thế nào .
Việc thật thiết yếu là có một quan niệm đúng về mô hình mà chúng ta đi tới, từ đó tổ chức lại xã hội .
Không thể có chuyện cứ đánh Mỹ được là làm gì cũng được. Xã hội mà chúng ta xây dựng phải là một xã hội tri thức.
Từ đó đặt ra những vấn đề mà chỉ khoa học xã hội mới giải quyết nổi.
Từ trước 75, trí thức miền Nam đã dành một phần công sức rất lớn chuẩn bị cho phát triễn theo hướng nói trên. Nhiều tài liệu về kinh tế học, luật, sử, xã hội học dân tộc học đến nay không bị lạc hậu
Các công trình ấy -- bao gồm cả những sách dịch lẫn sách các tác giả mình biên soạn -- còn nằm rải rác trong các tủ sách gia đình. Ta nên sưu tầm và in lại.
Ngày 21 tháng 12 năm 2018
Trên một khu đất hoang, tôi đọc được một biển đề
CÂM ĐỔ RÁC Ở ĐÂY. XIN CẢM ƠN .
Cái đáng chú ý của hàng chữ này là ở chỗ tâm thế lạ lùng của người viết ra nó, khi hướng về người qua đường.
Nửa đầu là kiểu ra lệnh, chữ to nghiêm chỉnh, cạnh đó còn dấu gạch chéo, như muốn răn đe dọa nạt.
Nửa cuối là sự vớt vát, muốn đi tới cách giao tiếp đặc trưng một xã hội văn minh, đằng sau đó là sự biết điều, là kêu gọi thông cảm.
Nhưng dòng chữ Xin cảm ơn lại được viết rất cẩu thả, như sau khi viết xong nửa trên, mới nhớ ra phải viết thêm cho lịch sự. Cho có vẻ thức thời. Cho phải đạo. Ỡm ờ, nửa nạc nửa mỡ
Hình như mọi mối quan hệ công dân và nhà cầm quyền ở ta bây giờ là vậy, Tư duy toàn trị độc tôn trong xã hội tạo ra một thứ ngôn ngữ thô bạo và đầy quyền uy. Rồi có lúc nhớ ra rằng nên tôn trọng nhân dân một chút, thế là lại có cái giọng văn minh mị dân. Hai giọng này cùng tồn tại theo cái công thức mà Lỗ Tấn gọi là "nam xoang bắc điệu" khá kệch cỡm.
Đúng là cái giọng của một lớp người nghèo khó chưa cầm quyền bao giờ nay mới học đòi.
Đáng nói thêm là cái giọng pha tạp ấy của giới quan chức nay cũng lây truyền sang những người dân thường trong quan hệ của họ với nhau.
Thì người dân nào chẳng nghĩ chỉ có len vào đội ngũ quan trường mới hết khổ. Tập giọng nhà quan đi thì vừa.Trong giới quan chức những cuộc tranh đoạt và hất cẳng nhau luôn xảy ra, song không sao, bề ngoài nhìn vẫn thấy bảo đảm nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân.
---
Dịp lễ hội đầu năm, tôi còn đọc được trên một bảng thông tin ở một phố cổ: THÔNG BÁO MỜI....
Chắc cũng có thể dùng những lời bình luận tương tự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét