Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

Trở lại Hà Nội

 Trở về Hà Nội
Chiều 6/2 ông  Đồng nói răn đe văn nghệ sĩ.
- Một sự nó dối quanh, không biết chính sách là hoà bình hay chiến tranh.
Một sự răn đe: cẩn thận không có Nhân văn giai phẩm.
Bùi Bình Thi: Đề phòng giai cấp lãnh đạo Bắc Việt ngủ lì trên thắng lợi!
Nhàn: có nhiều chuyện, hồi trước chịu được, bây giờ không chịu được
Khải : Thế thì anh chết thôi. Anh có thấy không, hiện nay các nước nó bò sát mặt đất mà ca ngợi mình (Bà Găng đi: Thử xem người châu Âu mà đổ máu như vậy, thì người ta có chịu không?)
Mà càng như thế, tức là chứng tỏ đường lối của mình là đúng đắn. Anh mà nói ngược, anh lại càng bỏ mẹ.
Rồi nay mai, còn học chính trị, còn là nhồi nhét mọi chuyện vào đầu óc
Ông Lê Duẩn vào trong 559: Bây giờ mà đòi hỏi địa vị, hưởng lạc là tàn ác.
Ông Tố Hữu: Hôm qua không đi miền Nam tội một -- Hôm nay tội mười
...
Tôi biết sống sao đây? Những hiểm hoạ trong thời bình sẽ rất khủng khiếp. Những thói xấu trong hoà bình có những khía cạnh vô lý của nó. Nhưng biết làm sao được, mọi chuyện là vậy.

Sáng 10/2 (2 tuần sau hoà bình)
 Cán bộ trung cấp tập họp, nghe nói về vụ chống Đảng.
Khải  Xem mới thấy các ông ấy, khi phun ra nhau, cũng phun khủng khiếp lắm.
- Thế họ có gì là xấu, hay họ chỉ khác về quan điểm?
- Bán bí mật cho nước ngoài, phản bội, phản quốc, thế là xấu quá rồi còn gì? ở các nước khác, người ta còn mang xử công khai nữa!
...
- Cho nên, tôi chỉ thấy tốt hơn hết là anh nên yên tâm với công việc đã có  -- Không nên biết nhiều. Biết nhiều quá, lại sinh ra thăc mắc. Khốn khổ thôi. Yên chí làm một người lao động bình thường.
- Thôi, cũng nghĩ rằng chính quyền này là chính quyền của các anh, hết những ông Lê Duẩn, Trường Chinh, lại đến các ông Vũ Quang Lớp già như thế nào, thì lại đẻ ra lớp trẻ như vậy.
- Phải, nghĩ thế là phải.
- Nhưng nhỡ ra, chính giữa các ông ấy nổ ra mọi chuyện thì sao?
- Không, không thể có chuyện gì cả, vì trong số đó, đã có một thiên tài rồi.
- ...
Nghĩ mọi chuyện lắm lúc cũng không biết đằng nào mà ho he cả. Nó là cả một guồng máy rồi. Người nhẹ nhất trong những người vừa qua, rồi cuối cùng cũng thành một người vô hiệu.
Đôi lúc, tôi cảm thấy như có vẻ mình nghe được một điều gì đấy thuộc về đời sống tinh thần của đất nước nói chung.
Hình như chính ở các nước XHCN, xu hướng cát cứ trở lại, quyền lực của các địa phương rất lớn, người ta cần phải sống bám lấy Hà Nội, bám lấy Trung ương, và bắt lấy mọi thứ, mọi biến động của môi trường sống. Nhưng vẫn là có những dấu hiệu của cái đó.
Ví dụ như dấu hiệu của những ngày này: người ta đang muốn đánh giá lại, suy xét lại mọi thứ.
Người ta đang bất mãn, đang đòi hỏi. Cái yêu cầu của cấp dưới thì bao giờ cũng hơi quá lên một ít. Yêu cầu của trên cũng có, nhưng lại muốn giữ một sự chỉ đạo, chỉ huy.

11/2/73
 Một ngày chủ nhật, chủ nhật đầu tiên sau tết và 2 tuần sau ngày hoà bình.
- Đêm thứ bảy: tôi đến nhà những người công nhân đường sắt. Quyền: một người nông dân, đi làm cách mạng, chân thành và dại dột. Nhuận và cái khu nhà mênh mông trong nhà hát nhân dân.
Ga Hà Nội lại đông. Những đám người tụ tập đầy đường (Quyền: Toa tầu bẩn như lòng đường nhựa. Năm nay, bao nhiêu người khu Bốn về thăm nhà!)
Sáng chủ nhật, tôi và Tính ngồi bàn nhau định đến thăm một trận địa ở giữa sông. Tính giở ảnh vợ con ra xem (những đứa trẻ, người ta ghép cho nó đến lắm khả năng và ý nghĩa!)
Mấy người bạn của Tính đến chơi. Hiệu trung đoàn phó, một D trưởng, 1 C trưởng. Trông 3 người ra 3 dáng khác nhau. Một cán bộ chỉ huy kiểu Tsaép nông dân, thô tục, nhưng lại sắc sảo. Một anh chàng nông dân, ngậm miệng như cóc. Một anh chàng học sinh duyên dáng ra Hà Nội đã dép nhựa. Họ rủ nhau đi xem B52 (trong kia, thấy nó thả từng dây, bây giờ thử xem nó thế nào) Họ còn nói chuyện về chiến trường, những ngày E27 vào tận Hải Lăng.... Chính trên người cậu D trưởng, là một chiếc áo của địch. loại áo vi ny lông, nhưng may theo kiểu va rơi, và cung đã hơi cổ. Anh khoe một hôm, mưa rất to, cái áo cũng không ướt.
Hỏi đường đi xem B52 xong, họ hỏi đường ra Hàng Trống, may những bộ quần áo vi ny lông.Cái cảm tưởng chính: họ là những người quá tự do. Họ làm chủ cái đất nước này.
Tôi đi cắt tóc. Từ chuyện rẽ đầu ngôi ra đủ mọi chuyện.
- Thôi cần gì đầu ngôi, để cho gọn là được.
- Không. Khối anh chải đầu chải óc cẩn thận, ăn mặc đẹp, mà nói năng không ra sao cả.
- Bây giờ chính phủ còn đang bận bao nhiêu chuyện, chưa dạy được.Hoà bình được ít ngày, mấy cái thằng trong kia lại còn phá thối. Nhưng mà thầy nó theo mình rồi, thế là được rồi.
(Lại nhớ lời Nguyễn Đ N:Cuộc chiến đấu của mình làm cho người dân thường của mình cũng có những hiểu biết rất đặc biệt)

Ngày mai 12/2 ngày trả tù binh Mỹ (140 tay Mỹ về nước!) ở bên sân bay Gia Lâm.Từ người phi công Mỹ đầu tiên đến hôm nay đã gần 9 năm, 1 quãng đời người, dài lắm!
... Ngày mai, các trường Hà Nội khai giảng
Hôm nọ, tôi đã thấy các em ở trường Hàng Than quét trường, quét lá. Những em học sinh con trai lấy chổi phi trên trời, như những chiếc máy bay.
Hôm nay, tôi thấy ở trường Chu Văn An, học trò đến dọn dẹp, trở về, các em lại chui vào cái bể nước giữa vườn hoa ( nay là vườn hoa Tây Hồ ) rửa ráy.
Những em bé đi đường bây giờ, sao không thấy vẻ thư thái, như lũ chúng tôi hồi nhỏ. Các em băm bổ vội vã. Mấy em con trai ra đường, gạ chúng tôi đèo xe hộ. Vẫn còn dấu vết ngày hôm qua.
Thư: chỉ lớp 10 là được ưu tiên bàn chế. Lớp 9, lớp 8 thiếu. Một số lớp học sinh lại phải lấy loại bàn ghế nhỏ như ngày sơ tán.

Buổi tối,  lâu lắm mới mò đi xem nhờ Vô tuyến truyền hình. Một chương trình ca ngợi đất nước.
Và một người con gái, mà bây giờ mọi người đều nghĩ là tiêu biểu cho Hà Nội. Cô hát bài Đường chúng ta đi. Bài này, có lúc, do một chị diễn viên cũ hát. Chị là một người không đẹp, nhưng tiếng lại đẹp. Chị hát trên đài. Trong tiếng hát của chị, ra một người từng trải. Và một đất nước từng trải. Đằng nay, người diễn viên trẻ trung và qua giọng cô, người ta cũng nghĩ về một đất nước trẻ trung.
Đất nước  là tất cả những cái đó, là cả những người mẹ lẫn những em bé, cả tiếng phát thanh trên đài, tiếng xe bò kẽo kệt triền miên, đất nước là mặt đường lép nhép, và có lúc bụi mù, là sắc vàng hoa cúc, là màu cờ đỏ trên những đống gạch đổ, là những cành xoan đầu xuân chỉ còn những cành, nhưng đã chớm những  chồ non- đất nước là tất cả những cái đó!
Chỉ nghe đài phát thanh cũng đủ hình dung những đổi mới đến với Hà Nội.
Nhiều hát cũ được hát lại
Những người lớn tuổi nhớ đến dân tình lần trước
Lần trước, không ai nghĩ đến chiến tranh, mà chiến tranh lại đến.
Lần này, mọi người cứ nơm nớp- biết đâu hoà bình lại bền lâu!
Dạo này,  tôi  và bạn bè của tôi thường hay nói đến tính cách người Việt Nam.
Có một cái gì ở trong đó, mà chúng tôi cảm thấy cần nhìn thẳng vào, cần giải thích
- Người Việt Nam là hời hợt hay sâu sắc? Người Việt Nam dũng cảm, nhưng dũng cảm như thế nào? Người Việt Nam nhẫn nhục. Người Việt Nam cần cù v.v.... Có một cái gì gọi là ý chí?
Người nước ngoài ca ngợi Việt Nam nhiều quá. Đất nước thật sự vinh quang. Nhưng hình như đối với mỗi người, đó chỉ là những hư danh. Mỗi người đang sống hết sức nhọc nhằn, có thể nói là thân tàn ma dại nữa.
Nhưng tận trong mỗi người, còn đầy hy vọng.
Khi tôi nói trông mong ở tương lai, người tao bảo: Tất cả  mọi người, đều là những người của ngày hôm qua. Nhưng khi tôi cũng chán ngán, thì mọi người lại bảo: Không, cũng không biết đâu mà ngờ.
Một trong những sức mạnh của ngôn từ: Nó thay đổi khá tương ứng theo thái độ của người ta. Nó thông tin khá chính xác. Ví như hôm trước, người ta gọi là giặc lái, hôm sau, người ta gọi là nhân viên quân sự. Người ta thân thiện với kẻ mà hôm qua được mệnh danh là kẻ thù. Và tất cả đều có lý của nó! Và điều duy nhất có thể rút ra là mỗi kiếp người quá ư bé nhỏ, hiện thực thì lớn lao, quá ư lớn lao. Đôi lúc, tôi oán trách: sao tôi lại ở vào cái ngành có khả năng quan hệ rộng, để lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi cái ao ước này: ao ước nắm bắt tất cả.
Chiến tranh có cái gì đó, đồng nhất với  socializm .Sự san bằng tất cả. Nhưng mặt đất thì không còn bằng bặn. Và bây giờ hoà bình thì từ đấy, người ta lại phải xây dựng lên một cái gì khác. Sau mặt bằng  rồi mới có thể làm mọi việc khác. Chính với việc san bằng, chúng ta nhận thêm mọi tội ác. Với việc san bằng, lại thấy thêm những di luỵ thời chiến.
Granitxy voiny ?  Có lẽ chiến tranh chỉ không động vào được một thứ, đó là sự sinh sôi. Chiến tranh những chiếc ô tô vạn tải. Đi trên đường phố, tôi sợ hãi vì lúc nào cũng thấy những chiếc ô tô, ô tô sau lưng, ô tô trước mặt, ô tô hung dữ lao trên đường, ô tô bất cần công việc, chỉ trừ việc của nó. Tôi nhớ tới những đoàn xe hoả hiền hoà và đầy năng lực. Tôi yêu những nền nếp. Tôi cũng yêu những tập thể. Những chiếc ô tô, nó chính là những con người trong chiến tranh, những con người hung dữ, tự chủ, mải miết vì những mục đích xa. Thật là kỳ lạ, đất nước như một con người rút ruột ra, làm việc gì đó, một con người mà da thịt xanh xao nhưng bộ ruột thật vĩ đại. Đây, thành phố đổ nát, đường phố bụi bậm, bẩn thỉu, những con người lầm lụi đi trong mưa gió. Nhưng những đoàn xe cứ lao đi mải miết, trên xe là bao nhiêu giá trị, bao nhiêu là của cải.

Một người lớn tuổi  than thở : cha mẹ bây giờ nói với con bằng lý bằng tình, và cả bằng nước mắt, mà con vẫn cứ hư hỏng.
Nhưng sao thanh niên bây giờ làm tôi thất vọng. Ngây ngô quá. Không đủ phong độ một người cán bộ nhà nước. Thường đến một chỗ nào đó, là vâng vâng dạ dạ, nhưng lơ mơ về công việc. Chỉ chơi. Chỉ dòm hành: cái xe này khung Đức hay Tiệp? vành Việt Nam hay vành Trung quốc? Toàn những chuyện không cần thiết. Hoặc đến công tác ở một nơi, thì đi tán mấy o con gái. Không ai có thể trọng được.
Long: Trong truyện Tuyết. Người con gái về thăm mẹ chết, nhớ lại người mẹ mình: Bà vừa là hạnh phúc của đời cô, vừa là một gánh nặng đối với cuộc sống của cô. Bây giờ, bà mất đi cô vừa thấy mất mát đi một điều gì đó, vừa thấy nhẹ đi một phần trách nhiệm nào đó.
Những bậc cha mẹ, có lẽ thế, luôn luôn là một gánh nặng với con cái. Quá khứ là một thứ gánh nặng với hiện tại, tuy nó cũng là tài sản của hiện tại.
Như đối với tôi, cuộc đời luôn luôn là một ông bố khó tính, không hề thông cảm cho tất cả những phức tạp của tôi, tuy lại yêu tôi, thương tôi. Cuộc đời là một ngưòi chị tốt bụng nhưng cam chịu. Cuộc đời là một bà dì không tình nghĩa, chỉ tìm cách bóc lột tôi. Truyện của Paustovski chỉ thích hợp với hai hạng: Hạng trẻ thơ, đang cần khuyến khích mơ mộng. Hạng người già, biết nhìn ra tất cả, nhưng  cần nghỉ ngơi. Đối với  thanh niên, lại truyện đó không thích hợp.

Mùa xuân. Cớ sao mùa xuân lại làm cho tôi buồn bã. Mưa rất nhẹ, nắng rất vừa, tất cả đều nâng niu sức sống, đều nuôi dậy những khao khát sống. Tôi sợ hãi những mùa xuân, vì ở tôi lúc nào cũng đầy những khao khát rồi. Tôi đang muốn dẹp bớt đi. Tôi đang muốn nén mình lại.
Đất nước thật là kỳ lạ. Ở đây, nói thế nào cũng được. Nói rằng chúng ta rất anh hùng, rất sáng suốt, rất khoa học, cũng được. Nhưng nói rừng chúng ta mê muội, dốt nát, vất vưởng, kể cũng không sai. Một người cán bộ cấp tỉnh làm việc... cứ bay như con chiền chiện. ông ký giấy, giải quyết việc, rồi lại bỏ đấy, có người kéo đi, rồi lại giải quyết việc. Tưởng như ông không còn nhớ gì cả. Mà thực ra, là ông nhớ rất kỹ những điều ông nói. Hình như việc gì cũng đến tay ông, cũng phải qua ông. Nhưng ông có thể bớt việc đi được không? Chắc được. Bởi ông giải quyết cả từ trăm nữa. Người cứ chạy theo ông, một lũ một lĩ... Hẳn là ông rất hách dịch, rất gia đình chủ nghĩa. Nhưng ông lại hợp với thời đại. Những người như vậy, là hợp với thời đại này chăng?
- Nhàn: Những gì là đặc điểm chung của những người ngồi ô tô đó?
- Long (một kỹ sư) Là họ bạo phổi, họ có tầm mắt chiến lược, họ không sợ hy sinh những cái nhỏ, họ dám làm được việc. Là cách họ nói, có khi cả nói dối nói giá, đáng khen thì họ chê. Đáng chê thì họ khen, miễn là được việc. Tôi đã thấy những ông chủ tịch tỉnh phóng ô tô đến một nơi, cắt ngang hội nghị, phát biểu những ý kiến hết sức quan trọng (đây là hội nghị bàn về việc kiến thiết quê hương Bác)rồi lại từ biệt bữa cơm sang trọng mà người ta mời mọc, giữa chừng phóng xe về, nói là dự một cuộc họp quan trọng hơn . Cuối cùng hóa ra chỉ là chuyện này: ông ta phóng xe về dự một bữa thịt chó. Sự tình là như thế, thường xuyên như thế. Người ta hiểu ý nghĩa công việc của người ta. Người ta hiểu người ta không cón là của chính người ta, mà đã thuộc về một cái gì rất chung, nó liên quan đến mọi người. Ông Võ Thúc Đồng  ở đây ngày xưa làm việc rất giỏi, tổng hợp ý kiến rất nhanh, chỉ mỗi cái tội thiếu dân chủ. Ông ta khinh tất. Ai nói, ông ta cũng cười, mày có buồn mày có khổ, thì kệ mày ông ta nghe cũng vẫn cười, cái cười rất là phớt lờ phớt tỉnh, cứ thế nói ý kiến của mình. Và chính vì thế mà ông ta phải đi.

Sao ở cái thành phố của cái dân cách mạng này, mà có lúc lại nhiều sương. Sương dâng từ 4g chiều, đến 5 giờ sáng. Sương phủ mông lung. Sương làm cho mặt người mờ mịt. Mặt đất như biến đi dưới chân, tất cả nhẹ bỗng, chỉ còn có những điểm sáng, chỉ còn tiếng nói.
Cuộc sống đáng lẽ chỉ nên có nắng gắt, có gió lộng, có mùa hè ngột ngạt và mùa đông rét đến thâm tím mày mặt. Sao lại còn suơng, còn cỏ non, còn mưa phùn. Cũng như trên dải đất Việt Nam này, lại còn những đêm trăng đẹp, những con sông thơ mộng, những bài dân ca. Và hôm nay là những ngày xuân, không ra nắng, không ra gió, hơi lạnh so với mùa hè, nhưng đã ấm rất nhiều so với mùa đông.
Cái ấn tượng lớn nhất của tôi về Vinh, cái mà tôi tìm thấy mình ở trong này, đó là tính chất đêm, tính chất trung cổ, tính chất nửa vời. Ở đây là một đoạn trên con đường ra tiền tuyến. Ở đây cửa ngõ chiến trường và cửa ngõ hậu phương. Nơi đây, biết bao nhiêu người đi qua, cái gì người ta cũng mang vào , nhưng người ta không để lại. Nơi đây, vừa đủ một ngày đường ô tô, một ngày một đêm tàu hoả để cho khách khứa ghé tới. Nơi đây, có lúc cả thành phố chỉ còn là một cái bến ô tô rất lớn, và những cụm kho, và một bến phà. Tất cả sống bám vào những linh hồn từ nơi khác đến, đó là cả một nghĩa vụ.
Về mặt nào đó, cách hiểu về  thành phố  như thế cũng là cách hiểu về cả đất nước. Những gì của ngày hôm nay nó cứ như là nhất thời, tạm bợ. Quan trọng hơn là một cái gì lờ mờ đằng sau mà ta gọi là ngày mai. Nhưng biết bao giờ ngày mai sẽ tới. Cái đích xa tưởng là mờ mịt. Cái đích xa nuốt vào nó muôn ngàn cố gắng. Nhưng rồi sẽ đi đến đâu .

Đi khỏi Hà Nội, tôi cảm thấy có một điều gì, bình tĩnh, vô cùng bình tĩnh. Tôi lặng lẽ nghe câu chuyện của mọi người, người  nào cũng sâu sắc, cũng chân thành. Mọi người đang sống sát mặt đất, sát cái thực tế của mình. Mọi người có đủ thói xấu và tính tốt.
Và tôi nhớ lại những ngày Hà Nội, để mà nhận ra điều này: Đúng là người ta phải sống ở Hà Nội, phải ở Thủ đô. Để mình có thể hiểu những vấn đề chính trị lớn lao. Để có thể sống với cái nhịp điệu vĩ đại hơn, điều đúng và điều sai trên cơ sở những chân lý lớn lao hơn. Để người ta có thể tiếp xúc với cả những phát hiện khác ở một cuộc đời ở ngoài nước mình.
Nhưng hỡi ôi, một là, ở Hà Nội, tôi cũng chỉ nghe được những điều đó bằng nghe lỏm và sự hiểu biết rất nhiều phen lỗ mỗ. Hai là, để xứng đáng với một quan hệ rộng rãi như thế, người ta phải có một cuộc sống tương đối ổn định, tương đối thoải mái -- Người ta phải phát huy được sự suy nghĩ. Người ta phải góp phần vào những điều người ta thấy đúng. Phải có những thể chế dân chủ và hiện đại. Phải có một xã hội để cho người ta yên tâm hơn. Còn như bi kịch của chúng tôi hiện nay: chúng tôi sống rên xiết trong những ngôi nhà bẩn thỉu. Chúng tôi luôn luôn bị đe doạ, bị nạt nộ: mọi người có quyền muốn chúng tôi càng ít hiểu những vấn đề phức tạp càng tốt. Xe thì đi chậm quá, người thì đông quá, nhiều người vô dụng quá. Những người chung quanh tôi có một điều gì đó, cứ luẩn quẩn, kể cả những lời nói xấu những lời phủ nhận cũng là lẩm quẩn, cũng là bắt nguồn từ một góc độ bé nhỏ, một nguyện vọng tầm thường  (cùng lắm thì mới là một nhận xét sắc sảo, ít khi là một nguyện vọng chân chính, chưa nói đến một sức mạnh thực hiện!) Và thực là người ta sống với nhau cứ như là chưa đủ tư cách, chưa đủ hiểu biết, chưa đủ khả năng thực hiện một điều gì cả. Mọi người quằn quại trong những công việc sai đúng, mà không sao hiểu hết. Vậy thì cuối cùng phải như thế nào?
Những lý lẽ của cách mạng hôm qua không đủ để thích hợp với những suy nghĩ trưởng thành, và những cung cách công việc sống hôm nay. Nhưng chẳng lẽ lại chỉ có cách sống tự do vô tổ chức, như những người ở phía bên kia. Có thể, còn phải có một sự tìm tòi, một cuộc xây dựng khác.
... Lại nhớ tới giai cấp những người đi ô tô, những người chủ trì công việc trên một phạm vi lớn lao cả nước. Tôi không hiểu cách làm việc của họ, cách sống của họ, những lời nói dối của họ, và tôi không nghi ngờ khả năng phục vụ đất nước của họ. Tôi công nhận về mặt nào đó, họ là những người thực tế. Nhưng về phía chúng tôi, chẳng nhẽ chỉ có cách làm như họ đang quy định và như thế, thì không có đất cho những người như tôi nữa. Tôi muốn đứng về phía những người bình thường. Làm sao để mỗi người bình thường có khả năng ngẩng cao đầu lên và tham gia vào mọi công việc chung. Hay đó lại là một ý nghĩ viển vông. Và cái yêu cầu của chúng tôi, rút lại, chỉ còn là chỗ này: Người ta cải tạo cái hôm nay, để cho cuộc sống dễ chịu hơn một tít chút- chẳng nhẽ chỉ có thế?
Tôi lại nhớ tới công việc của những người làm công tác văn học. Cái phong phú của đời sống bình thường, đó là điều người ta thường hướng văn học tới. Nó phù hợp với cung cách chung của con người bình thường trong chế độ này. Trong khi đó, thì tôi lại đề xướng một kiểu người khác: kiểu người không ổn định, kiểu người đi tìm. Kiểu người phiêu lưu. Và tôi cũng đề cao thứ văn học đi theo hướng đó, sự suy nghĩ đi theo hướng đó. Văn học báo chí sẽ như một sự thách thức với hướng đi chủ yếu của đời sống. Một sự đi tìm, nếu có thể nói như vậy.
Lại nhớ lời nói của Niệm: Loại người như tôi xã hội cần ít thôi, nhưng không khéo, có thể thành viên đá cản đường xã hội. Tôi xin nhận lời tiên đoán tài tình đó. Tôi không muốn làm người cản đường, tôi muốn có ích theo cách của mình. Tôi đã chọn một cách sống ít ham muốn, ít đòi hỏi vật chất, để đổi lấy một ít tự do theo kiểu của mình. Nhưng hoàn cảnh khách quan có cho phép như vậy. Thành thực mà nói, có phải tôi thuộc loại người của một xã hội phát triển hơn (dù tôi vẫn chỉ là một giai tầng rất nhỏ trong xã hội đó)
... Nếu được định nghĩa về nghề viết, thì với tôi, nghề viết là việc nói những ý nghĩ của mình, nói những nhận định của mình. Tôi không tưởng tượng được gì cả, tôi chỉ  suy đoán về thực tế. Tôi không dựng lên những nhân vật của đời sống, tôi chỉ bận tâm tới cái này: những con người mà tôi gặp nói lên vấn đề gì, Chắc chắn tôi không phải là một nhà văn theo nghĩa thông thường được hiểu hiện nay. Tôi ở vào cái ngành nhà báo chăng? Mà tôi biết rằng, ở cái nước Việt Nam chậm phát triển và rất ít quen sinh hoạt xã hội, quen với dư luận chung, thì người ta chưa công nhận có nhà báo, người thách thức, người nhận xét. Vả nữa, tôi lại bất tài chắc chắn rằng tôi chỉ có một số phận nửa đời nửa đoạn- Không biết chừng, thì những xô đẩy mạnh sẽ làm cho tôi tan vỡ.

17/2 /73
Có lẽ tôi là một thứ điển hình của con người hay nghĩ về mình. Và tại sao, mỗi lần đi, tôi lại bắt gặp một người nói được những đặc điểm của con người mình một cách đích đáng nhất.
5/3
 Có lẽ cái nét bí ẩn nhất của người Việt Nam là ở chỗ này: ở sự hoà hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa sự hy sinh vì những mục đích cao cả và cách lo tính cho mình, cho bản thân, cho gia đình, cũng đến là chu đáo, đến nỗi... người ta không còn làm được việc gì khác.
Con người -- cụ thể là những người chung quanh tôi là như thế nào? Tôi cảm thấy phải rất đúng mức, độ lượng nhưng nghiêm khắc. Chỉ cần tôi hơi hoài nghi, hơi miệt thị một chút là đã hỏng. Nhưng tôi cũng lại không  được nịnh bợ, đôi khi là quá tin ở họ.
30/3
Dễ chưa bao giờ tôi lại bi quan và bệ rạc như những ngày này. Đau ốm, bệnh tật -- đây là một thứ bệnh chứ gì nữa? -  tôi  cảm thấy tôi không có tuổi trẻ, sức trẻ, không làm được bao nhiêu điều mình muốn làm.
Chán ngán, chán ngán thật sự. Tôi tự xỉ vả, nhưng mà vô ích. Cái trước hết, là bản thân, dùng sức của mình, để xoay chuyển những gì trong phạm vi của mình. Thì tôi lại không có.
Đất nước, hoàn cảnh, không cái gì làm cho tôi có thể bốc lên được. Tôi nghi ngờ và có lúc đã khinh bỉ những người chung quanh. Khốn nạn, điều mà họ có, cũng đáng cho tôi khinh bỉ thực.
Rồi cuối cùng, tôi lại khinh bỉ chính tôi, và điều này thì không còn biết báo thù vào đâu nữa. Tôi đã theo triết lý : chỉ biết có chính mình. Có chính mình để oán trách là lên án, để đòi hỏi và hạch sách. Nhưng đường như, bây giờ, cả những điều đó cũng không có nữa. Tôi thấy không thể làm chủ được mình.
Những hy vọng hơn mọi người, sắc sảo khác đời đã qua. Nhưng bây giờ, cả những hy vọng trở lại một cuộc sống bình thường cũng không có nữa. Vậy phải làm thế nào?

10/4
Nhàn: Có loại người thế này: con các ông to. Nó tha hồ làm đủ mọi chuyện.
Niệm: Đúng thế. Mình đã cố giữ tư thế, vậy mà mình vẫn còn rút rất. Trong khi ấy, nó cứ đàng hoàng, chẳng sợ gì cả.
Nhàn: Căn bản là vì nó không bị ràng buộc về kinh tế.
Niệm: Nhất là nó không bị ràng buộc vì dư luận. Cái này quan trong hơn nhiều.
VT Thư, ở lớp có một thằng làm thơ: mai anh này sẽ làm kỹ sư, anh  kia sẽ đi nước ngoài, anh nọ viết văn. Khánh (cháu ngoại cụ Tôn) làm thơ bác lại: Ai khiến anh phát vé cho tôi? Ai khiến anh ban phát cho mọi người. Tương lai là thế nào, không ai biết được!
Ng Khải : Đúng, đúng thế. Những vấn đề mà giới văn nghệ nói còn là hiền. Đi ra ngoài nghe người ta nói còn là khốn nạn bằng mấy. Tai hoạ sẽ do từ chính những người hiểu chính sách hôm nay nhất mà ra. 




Trở lại Hà Nội
Những chuyến tàu bẩn như bết đất. Người đi tàu nằm lăn ra sàn tàu trong đêm. Và ban ngày họ hiện lên, họ ăn uống. Sao mà tôi nhớ cái nhận xét nào đó về người Việt Nam: người ta ăn rau ráu. Người ta nuốt mọi thứ rơi vào tay người ta. Những người đàn ông mang tiếng dạy đại học, mang tiếng đi Bắc về Nam. Những người ấy bây giờ cũng đi đất, nằm ngủ mồm sùi nước rãi. Người đàn bà cái áo trắng ngả màu cháo lòng, ngồi vạch vú cho con bú trước đông đảo hành khách. Không còn ra sao nữa, đứa trẻ tất vào má đôm đốp. Phía bên kia: một người đàn bà dọng khê nồng, nói toàn những lời điệu bộ. Một ông già Thừa Thiên khoe con làm cách mạng, rất hồn nhiên. Mấy tay bộ đội đi B ra, nói cười hô hố, toàn làm lộ bí mật. Hoặc là nghĩ sợ nay mai không muốn vào. Hoặc là gây gổ cãi nhau, tranh nhau chỗ... Cái xã hội này nhộn nhạo thế.
... Chỉ về đến vùng Hà Nội- Hà Đông giáp Hà Nội, tôi mới cảm thấy một cái gì đó rất bình thản, rất thành nếp: những làng xóm, những ngả đường, cho đến một đám ruộng mới bừa, hàng mạ mới gieo, tất cả vào hàng vào lối, tất cả thành nếp, không hề tạm bợ xáo trộn.
Một người bạn làm nghề kiến trúc: Nhà cửa Nghệ An, Hà Tĩnh thực dụng hơn ở đâu hết, hơn mình Bắc. Chuyến tàu Vinh- Hà Nội bao giờ chẳng nhiều người khu 4 đó. Và tôi miên man nghĩ: những người gan lì đó, làm cách mạng, rồi lại học lấy thói bóng lọng của miền Bắc. Cũn như người đồng bằng Bắc bộ lại phải căng cứng làm cách mạng kiểu người ở trong kia. Mới trên một khoảnh nhỏ một nước Việt Nam này, đã đọc thấy những thứ đục khoét con người.
Cách mạng. Phải hiểu thật kỹ ý nghĩa của cái việc này thì mới hòng cắt nghĩa tất cả các chuyện trên đời này. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã mang vào  Việt Nam cái gì? Tại sao nó bắt rễ được ở Việt Nam v.v...
Tôi đứng ở cửa sổ căn nhà hai tầng, nhìn ra cuộc đời, Hôm nay là một ngày đầy gió. Và tôi nghĩ đến những khao khát đang sôi lên ở mỗi người. Cách mạng đã hứa hẹn với người ta, làm cho người ta sống trong những khao khát, nhưng có phải từ đó cũng là chỗ chết của một số người: có những người không đáng đánh thức cũng bị đánh thức



3-4/73
Hoà bình
Bây giờ cái âm thanh nghe reo vui nhất, là tiếng máy gạt, máy xan.
Và cái mặt đất đẹp nhất, là những nền đất mới. Đất mới đổ xuống hầm hố cá nhân. Đất mới xan nền, đất lật tung ra, từ những hầm đất lâu nay cỏ đã lên xanh.
Bàu trời được dọn đã trở thành bầu trời bình yên.
Đất là chỗ trú chân hôm qua. Hôm nay, đất phải là cuộc sống. Ở Vinh, cái nhà Ty Kiến trúc, người ta san lại nền.

Sông Hồng. Những con sông, bao giờ cũng gợi cho người ta nhiều ý nghĩ khác nhau. Sông dạy người ta thế nào là tự nhiên- cái tự nhiên màu mỡ, trong sáng, vẻ sống đậm đà trên một sắc lá. Nhưng sông cũng theo người ta hiểu thế nào là thiên nhiên hung bạo. nó hiền lành đó mà phá hoại cũng đó, nó bình thản, nó đẹp thế, mà nó dở mặt thì chịu. Đứng bên thiên nhiên, con người cảm thấy mình bé nhỏ thế. Nhưng không, con người sẽ làm được tất cả, dần dần làm được nhiều điều mà nó mong muốn. Nhưng mà con người phải vượt lên kia. Đứng bên sông, con người hay thích hung bạo lắm. Nếu không thì lại dậy lên những bản năng thiên nhiên- ôm ấp, vuốt ve người khác giới. Và nếu không thì cáu gắt, chửi đổng, và cuối cùng thì buông lơi đầu hàng. Thiên nhiên muốn con người trở lại như nó. Nhưng người ta liệu có chịu.
Những ý nghĩ trên đây đến với tôi, khi mà, mấy lần liền, tôi ra chỗ bãi sông. Con sông, chỗ tựa của lịch sử Hà Nội, cũng là chỗ tựa của xây dựng Hà Nội- Bắt đầu là việc lấy cát. Có biết bao nhiêu đoàn xe ra đây. Công ty san nền, công ty xây dựng... Có cả bao nhiêu là xe bò. Cát bay mù trời. Đống cát dùng băng chuyền đã cao lên mãi.
Bãi cát. Bãi của hoang sơ, nhưng cũng là tiền thân của xây dựng. Bãi cát, trên đó bao nhiêu là vạch đường đi qua. Bãi cát lở, bãi cát lầy, người ta phải quành đường sang chỗ khác. Những con sông, ai cũng hiểu nó là lưu vực có người định cư sớm nhất. Một bó củi dâu lồng bồng, những ruộng mây mờ mờ ảo ảo. Những người thợ tầm tang của sông nước, tôi biết- Nhưng tôi còn biết những con sông cũng luôn luôn là cái bất trị của mọi thành phố, con sông là những vùng ít ổn định nhất.
Những bãi đá, bãi than của các công ty xây dựng chạy dọc sông. Than và đá chạy đường thuỷ rẻ nhất. Và dọc sông mới còn đất bãi, còn chỗ trống.
Cảm giác về Hà Nội 1973: Tôi bị vây quanh những tiếng gõ của bánh xe bò, tiếng móng ngựa đập trên đường, bóng dáng những chiếc xe bò, một ngọn đèn lắc lư, chiều sâu của xe âm âm tối tối.
Xe chạy âm thầm như xấu hổ, nhưng lại cần mẫn đến phát sợ lên được. Rất khuya, còn nghe tiếng xe. Chợt sáng, đã nghe xe dậy. Dễ xe chui vào tất cả mọi ngả đường, mọi xó xỉnh: đã bao nhiêu lần, tôi bắt gặp những người đi xe như đang thiu thiu ngủ, như đang sống sống qua đi cho xong chuyện. Nhưng con bò vẫn đi, cái xe vẫn sống, lòng xe vẫn sôi nổi, và tôi vừa bằng lòng, vừa sợ hãi với cái sức sống đó của Hà Nội.
Hà Nội và năm tháng. Có bao giờ chúng ta hỏi tuổi Hà Nội. Có bao giờ chúng ta nghĩ được Hà Nội trẻ, khi nhìn những người dân ở đây đi đắp đê, khi nhìn vào những người dân nông thôn lần đầu ra Hà Nội.
Và nhất là nhìn vào những cụ già ngồi bán quá, bán bánh đọc đường, họ như là những gốc cây hiện hồn, những góc phố hiện hồn, họ không muốn chế cùng một Hà Nội nghèo đói ngày trước.
Những nét mặt các cụ già, những căn nhà mốc meo, những cái bếp dầu khét lệt, tiếng xe điện guồng bánh mãi từ lâu mà không thấy tối - đất nước xa vắng từ thế kỷ nào mang lại. Cách mạng là gì vậy, mà những cái cốt trong quá khứ thì chết hết cả, những cái xấu thì cứ còn mãi, chia ra ban phát đầy sông, đầy đường.
Phan Nhật Nam: người ta đã biến Hà Nội thành một thành phố vô tính (không ra đực, không ra cái) một thành phố không có người: Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà của Trần Dần cần phải thay bằng: Tôi bước đi không thấy phố thấy người.
Có bao giờ anh chợt nhận ra bàu trời thành phố. Đi trên thành phố chúng ta cứ bị hấp dẫn bởi những nét mặt và những mặt hàng....
Bầu trời trên thành phố là một sự ngơi nghỉ, một thoáng ưu tư. Những hàng cây cho ta ý niệm về sự trong sạch, cây chết đứng giữa thành phố bụi bẩn, cây tìm cách sống: cắm sâu vào đất, nhưng nó lại vươn lên ánh sáng.
25/4
Đôi lúc, tôi cảm thấy vào những năm này, chỉ có đàn bà là đáng sống. Đi trên đường Hà Nội, gặp những người đàn bà đạp xe một cách nhẫn nại, ra dáng một người chủ gia đình, có con những còn đủ tuổi trẻ, để tự trọng, diện một cách kín đáo, nhưng lại có cái dáng dày dạn, bất cần, xông vào mọi chỗ, giành lấy ánh sáng cho gia đình mình( gia đình là cái thể chế duy nhất mà những người này tự thành thờ phụng!)
Những người đàn ông giàu tham vọng ở xứ này chẳng có mấy, chẳng làm ai ngạc nhiên. Những cố gắng hiện lên trên nét mặt làm cho họ có vẻ đầy ảo tưởng, nhưng nếu không có cái đó, thì họ lại rất thảm hại. Đàn ông ở xứ này chỉ là dấu hiệu của sự bất lực. May mà cuộc đời bao giờ cũng có những người đàn bà, có một triết lý đàn bà: dẫu sao, cũng phải sống thực cái hoàn cảnh chung quanh anh. Sống gắng gỏi nữa, nếu cần thì cũng diện, cũng ran rỉnh.
Vẫn chuyện xe bò: Ngày mưa, người thanh niên lái xe cuốn cái cặp nứa (cuộn  để đổ cát vào) Thành một cái cuộn che mưa ngồi núp dưới đó.
Giả sử như tôi làm nghề xe bò, hẳn tôi luôn luôn phải có cái ý nghĩ này: mặc cảm tự hào về sự ngênh ngang rằng mọi người cần đến mình. Mặc cảm bất cần gì cả. Ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu, chân đi đất- ngồi vào cái xe bò thì còn tính chuyện gì nữa?
 Mưa. Năm nay thời tiết ngang trái: Tết thì nắng nồng oi bức. Nắng đến không có chỗ cho con người ăn diện nữa. Nắng không để cho những ý định cá nhân được mở mày mở mặt. Làm gì có chỗ cho những cái đó.
Và bây giờ thì mưa- Đầu hè, mưa hàng mươi hôm liền. Mưa đá rơi xuống khu vực duyệt binh, những mái lều của người lính nát bung, trơ ra lần vải bạt bên trong. Mưa trắng trời Hà Nội, ngộp lên trên những đường phố bị trũng. Trẻ con đi học về lội bì bà bì bõm. Cô giáo đứng giữa ngã tư đường, cấm, doạ chúng nó mãi chúng nó mới chịu. Mưa đã tàn phá một chút gì trên đường phố và trong tâm hồn đứa trẻ đó (Tôi nhớ cái ý của tôi thuở nhỏ: mưa làm lộ ra tất cả) Nhưng biết chắc như mưa ở nhà máy điện: máy móc che không kịp, mưa phá những đầu mối, những lò hơi mưa gây ra sự cố cho cả thành phố, có buổi sáng, cả thành phố lạnh tanh. Những đường phố sạch trắng sau mưa. Lá xanh đen lại sau mưa. Năm nay, nhà tôi dột đến mức phải láng tro trên mặt đất ngay sau cơn mưa. Lắm lúc tôi cứ nghĩ: người ta làm thế, bao nhiêu tốn kém. Giá người ta cho nhà tôi một ít lá ấy! Xuân Quỳnh chung một ý nghĩ:
- Giá những người đi duyệt binh kia về cày cuốc, thì được bao nhiêu việc.
Tôi phải gạt đi
- Thì ở nước mình, bây giờ người ta làm mọi thứ  quân sự bao giờ cũng dễn hơn dân sự!
Hội hè là gì? Là những ngày vui, sau công việc. Đã không có công việc, sao vui được. Là những ngày giải phóng sau buổi làm ăn KL. Đã không có kỷ luật, làm sao giải phóng được.
Vẻ đẹp của những người duyệt binh. Sao tôi chỉ thấy gì đấy như là ý chí, nghị lực. Người ta phải làm một việc tội nợ, nhưng người ta lại quá thông hiểu- hay buộc phải thông hiểu rằng việc đó rất có ý nghĩa. Và người ta cắn răng lại để làm.
Tôi nhìn kỹ những nét mặt người tham dự duyệt binh. Rất ít những nét mặt đẹp. Người chúng ta, không phải là những người đi duyệt binh : mắt tròn, mắt dẹp, K ra côm... đủ chuyện không có ai đẹp!
- Vậy thì toàn những ước ao, những hy vọng, những sự phá phách- Nó cũng vô tận, cũng không đáy, như các dân tộc khác phong phú, vô tận, trên đường tiến tới văn minh.
Bắt đầu lá đã xanh sau mưa. Khẩu hiệu đỏ rực các đường phố. Thú thực, tôi hơi ghê sợ cái màu đỏ này. Nó gợi lên bụi bặm loạn xạ. Nó gợi một sự gì phá phách. Bình thản, tôi muốn đi về phía sông, phía cát, phía màu xanh.
1/5
 Chưa bao giờ tôi chứng kiến một cuộc mít tinh  lộn ẩu thế. Người đi dự mít tinh thì ít (mỗi khối phố định lấy 20 người, mà lấy được có 10). Nhìn trên VTTH trên quảng trường nhiều chỗ trống. Nhưng người đi xem, thì nằm la liệt mọi ngả đường. Và cái cảnh xảy ra ở đám mít tinh. Độ 8g, những người phải đứng thì bỏ về, trong khi người đi xem tràn lên. Như một thứ lũ lụt: Người ta chui vào giữa các khối CA- bộ đội. Người ta len vào giữa khách nước ngoài. Người vỡ ra từng mảng xô đẩy, CA, CANDVT trật tự, tất cả bất lực. Ở đường Hùng Vương, phía bên phải lễ đài, nơi thoát ra của đoàn người diễu hành. người ta lên xô ra hẳn một nửa đường, chỉ còn lại một nửa đường. Nhục nhã, lộn ẩu. Ở phía người diễu hành đi qua, trong khi đó, ở phía sau, người rỗng ra. Đến nỗi người như DC Tính cũng phải nhận:
- Người ta đã quen với những thói quen tuỳ tiện trong thời chiến. Lúc này mới hiểu chiến tranh...
Vẫn theo Tính người đi qua lễ đài, cũng chán ngán mệt mỏi. Không có cụ Hồ để người ta hy vọng chào đón. Người ta ngoảnh đi lung tung. Lòng người phân tán quá chừng. Các lãnh tự cười, vẫy tay chỉ vì nhớ rằng ống kính, quay phim đang chĩa vào mình. Gần cuối, tôi nghe tiếng lao xao: Thế này thì người nước ngoài cười chết. Quần chúng trống quá. Một giọng hết rất to: Quân nhạc cử Giải phóng miền Nam. Giải phóng miền Nam xong, lại tiếng lao xao: Đáng nhẽ ông Đồng phải ra nói trước. Nhưng rồi ông ấy cũng ra: chúng ta đã cử hành ngày lễ một cách rất thắng lợi (!)
Và lại cái điều thực chất: Chúng ta yêu cầu các nước anh em tiếp tục đồng tình ủng hộ chúng ta về mọi mặt
... Bây giờ thì họ cũng biết mọi chuyện rồi. Nhưng họ mệt mỏi đến nỗi không thiết gì nữa.
Đêm trên thành phố là khi mà mỗi người trở về với cái hoang dại. Người ta chú ý đến tất cả những gì chung quanh: một tiếng lá rơi, một ngả đường rộng. Đêm trên thành phố, mỗi người đi qua như gánh thêm một gánh nặng của đời sống, đảm nhận thêm việc biểu hiện đời sống. Vậy là vẫn còn đủ thứ. Người đi làm về bận vì công việc. Người chạy gọi bác sĩ vì vợ đẻ, con đau; những khốn khổ hàng ngày. Và những cặp tình nhân, vẫn phớt lờ mọi chuyện. Trong đêm, tiếng người nói to hơn, tiếng móng xe bò gõ trên đường nhựa, nghe nhộn nhạo hơn. Ở đây là tất cả những gì đang sống.
1/5
 Ngày lễ công việc đầu tiên ở các khu phố: Lấp nốt những hố cá nhân. Một mặt thì ở đó chứa chất tất cả những gì cần phải đổ đi: than xỉ, bùn cống. Mặt khác, cái miệng cống vẫn vành lên một lớp trên mặt. như một thứ dĩ vãng về chiến tranh. Những dĩ vãng trên mỗi mặt đường chúng ta đi tới.
Tôi là người công dân Hà Nội. Tôi là người thợ may vá chữa quần áo, tôi là người thợ thiếu nhặt từng ống bơ cũ về làm lại cái đèn, cái ấm đun nước.
Tôi là người quét rác, có mặt trên đường trong những đêm tạnh vắng.
Và tôi là người nhặt những đồ rác cũ ngoài bãi rác.
Người ta mang về các vườn hoa một ít dụng cụ đồ chơi. Và đây quả thật là những “quả nhỏ” của chiến tranh: những cái khung đồ chơi bằng sắt trông nặng, chắc. Những lớp sơn tạm bợ. Tiếng khung sắt động vào mặt đất xi măng nghe rào rạo một thứ âm thanh kinh sợ.
Hà Nội tài hoa vì Hà Nội cần cù. Hà Nội dũng cảm vì Hà Nội nghèo khổ, Hà Nội từng trải, lì lợm, vì Hà Nội lịch sự. Đã bao nhiêu lần, tôi nghe được những người khác nhau nói về Hà Nội. Có những chuyện vui nhất. Những chuyện buồn nhất. Và tôi hiểu đó là cuộc đời, đó là Hà Nội.
Sấu rụng. Lá sấu rơi như mưa, phủ trên mặt đất một lớp dày, người đi lá sấu rụng trên vai, đứa trẻ ngửng mặt hứng lấy chiếc lá không cho nó kịp rơi xuống đất.
Sấu không bao giờ trút lá. Lá sấu non nồng, lá sấu già mới rụng đi, và trong một sớm một chiều, sấu trên đường vẫn xanh um.
Có bao giờ anh nhìn những sắc phượng đỏ, màu đỏ như lửa trong những trưa hè, tưởng như nắng quá, ngọn cây là một chất dễ cháy, đã bốc lên thành lửa. Và kinh sợ nhất đối với tôi, là những buổi chiều khi mà bóng tối mùa hè vốn đã rất ngập ngừng, vẫn cứ dâng lên, dâng lên ánh sáng trong suốt mà vẫn cứ tối dần mặt người lại trong cái giờ khắc ấy, tôi ngước lên nhìn hàng phượng, thấy màu đỏ đã thẫm lại, tím lại, mà nó vẫn cứ không chịu lẫn đi với màu xanh đã trở thành nhợt nhạt của lá, màu nâu đã hết bản sắc của cành. Tôi nghĩ đến tình yêu của tôi. Tôi lại nghĩ đến những vết thương rơm máu của xã hội này. Tất cả đều là hiện thực.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét