Ninh Bình.
Ninh Bình - thành phố của núi đá và những công trình của con người, ngay trên một miền đất phẳng.
Núi rất nhọn, sông rất xanh, và ở cỏ rất cằn, đất rất rộng, đó Ninh Bình Đồng Giao.
Những đoạn đường bụi đỏ hai bờ cây lá. Nông trường Đồng Giao nhà chỉ còn tường nhiều đoạn đường mòn đi qua nền nhà.
Phần lớn hành khách là bộ đội.
Ngày tết thành phố chen chúc khác thường. Còn như ở đây, buổi sáng mùng một im lìm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe com măng ca một chiếc xe đạp.
Những người nhớn chè chén, bàn việc với nhau trong nhà. Chỉ có đám trẻ con chạy ra đường. Trẻ con từng đám, đứng chen chúc đầu ngã tư đường. Hàng chục đứa, cùng chỉ một màu áo xanh trứng sáo. chúng nó không hết ngạc nhiên trước những đoàn tàu đi qua. Chúng nó băm bổ chạy dọc con đường sắt:
- Chúng mày được nghỉ học mấy ngày
- Được nghỉ đến mùng 3 thôi
- Giá kể đến mùng 4, mùng 5 thì thích.
...
- Lớn lên chúng mày đi bộ đội nhớ
- Vâng. Vâng... Thích lắm.
Thành quả dọn dẹp hậu quả Hà Nội
40 ngàn mét vuông mặt bằng.
Hàm Rồng
Lại những khung cảnh chiến tranh. Một địa thế rộng. Lèn đá vệt bom đã cũ, lẽ ra, con đường bò ra, đường đầy bụi. Những chiếc xe tải vập vạp, lúc lẫn vào đoạn đường bụi đỏ. Lúc lẫn vào đoạn đường bụi trắng.
Buổi sáng, đoàn xe tải chở phà bật đèn đi.
Càng sáng, càng nhiều xe.
Chỉ có những đoàn xe là đông, là làm sống lại khung cảnh khu vực nhà máy điện cũ nát. Hố bom cái thì cỏ lên xanh, cái thì còn đỏ miệng. Duy người đi, lẫn vào trong đường xa trời đất. Mấy người đàn bà đi cắt cỏ. Cỏ dại. Người dài ở thành phố, người nhiều, người lúc nhúc. Nhưng ở đó, bất cứ ở đâu, người ta cũng thấy dấu vết của con người: những vạt cỏ, những ánh đèn, bóng nhà cao. Ở những quảng ánh đèn, bóng nhà cao. Ở những quãng sông nước này, vẫn thấy thiên nhiên khắc nghiệt, và hoang vu quá. Những mái nhà ngất nghẻo bị bỏ quên càng làm cho mặt đất trở nên hoang vu.
Có lẽ vấn đề trung tâm mà tôi nghĩ trong những ngày tới - bộ mặt của một đất nước chiến tranh
- Những di luỵ của chiến tranh trong đời sống trong tâm lý.
Hoà bình có một nghĩa chung với tất cả mọi người. Nhưng với mỗi người, hoà bình lại có một nghĩa khác.
Đối với Khu 4, hoà bình có nghĩa là một cuộc sống trở lại trên mặt đất.
Những cụm ga những đoạn cầu, nó như là nơi đối mặt của chiến tranh. Những gì tàn phá chưa hết mặt, những gì sinh sống phải gạt ra mà đi lên.
Ngổn ngang, không bao giờ mặt đất hết ngổn ngang- Nhưng một cái gì chủ yếu nhất- sức hoạt động- thì đang tự nó làm thay đổi mặt đất. Sự tính là cái sống phải lấn cái chết từng bước một. Phải gạt cái tàn phá sang một bên để mà đi. Phải rót sinh lực vào những khu vực mới, từ đó, những khu vực này sẽ đẩy cái chết đi.
Vinh
Thành phố trông bằng bặn... như ở một cánh đồng. Chỉ còn một ít cây cối lên xanh. Chỉ thấy ô tô đi. Chỉ nghe tiếng còi bin bin. Đường đất, đường đá, những chiếc xe tải đi nước hố vỗ ràn rạt. Giữa một thành phố thế này, một dáng người đi bộ, một chiếc xe đạp cứ lọt thỏm.
Một con đường cũ, mất hết cả mặt đường, cả dấu vết vỉa hè. Mất hết cả cột điện. Lại mất cả dãy phố hai bên đường. Dấu vết của con đường nơi đây, chỉ còn là vệt bánh xe lăn. Cạnh con đường ấy, người ta rạch một con đường khác, rải đá. Rồi lại một con đường nữa, bên ngoài con đường đá, hợp với con đường đầu, thành 2 đường song song, cho ô tô chạy theo 2 chiều.
Đó là đoạn đường Quang Trung, mạch chính ở Vinh hôm nay. 2 vạch đất màu nâu. Màu đá trắng, một số nơi cỏ đã lên xanh. Mấy cô TNXP khơi cống bên đường, ủi vải khỏi đất, mắt hau háu nhìn người đi qua, một cô áo đỏ trông rất rợ. Con đường chỉ có một ý nghĩa chú ý hơn mọi nơi: Nó thẳng thắn, nó rộng rãi- Nó như những việc người ta có thể làm sau chiến tranh. Bom đạn đã đẩy lùi những dây dưa vướng víu mà tưởng như trong hoà bình, chúng ta không bao giờ vượt nổi. Vui hay đau xót?
Những công dân đầu tiên có mặt ở thành phố, là những người làm giao thông vận tải, và những người xây dựng ở Vinh đây là những người thuộc công trường thị chính. Họ gỡ phá bom trong những ngày hoà bình lần truớc (1968-72) Họ lại ở lại chữa đường trong những ngày thành phố bị bom đạn. Chỗ ở của họ, nằm ngay trên đường Phan Đình Phùng. Những gian nhà tầng lâu ngày, bị hơi bom phá làm rời rã vôi vữa, mưa sối cho còn trơ lại gạch. Bên ngoài, nhà đại khái như những gian nhà có người ở, khói hun đen cả. Áo dăng mắc, một đứa trẻ thò đầu ra cửa sổ, vỗ vỗ quân bài. Nhưng thử vào trong nhà xem: Những hàng chữ 307 hòm đạn- 92 ngòi nổ, những hàng chữ viết bằng than, bằng mực nguệch ngoạc. Gõ lên mặt tường, có chỗ vữa rơi sùn sụt.
Phía những bụi rậm trước nhà có một tiếng nổ. Đành. Bom chi đó- Bom bi- Sao biết bom bi- Nổ ít khói, tiếng nổ ngắn, bom bi chứ chi? Rồi người ta lại thản nhiên làm việc. Ở đây, ở trong những ngôi nhà lung lay- thản nhiên, nghe tiếng bom nổ- thản nhiên.
Khi ở xa, thấy địch đánh, đồng chí lo gì?
- Nhà cửa không lo nữa. Nó đánh cho hết đi cũng được. Nhưng chúng tôi lo mặt bằng thành phố, nó đánh vậy, đâm khó khắc phục. Lo bom bi bom vướng khó làm việc về sau.
Ngay trong những ngày bom đạn, chúng tôi vẫn kiến thiết cơ bản. Trồng cây xanh- đo đạc để sửa đường. Lên Nam Đàn 4 ngày, thì mình là người xây dựng Vinh mình lại đi. Không ổn! Chúng tôi quay lại, vẫn đi đo đạc, kiến thiết.
Những người dũng cảm. nhiều khi lại là những người thất thểu, những người tứ cố vô thân.
Có đợt phà BTh tắc 24 ngày, cháy toàn bộ phương tiện. Có lần bom đánh ở Hồ ...............từ bến phà về núi cơm bom đào thành sông. Dân gánh tóc rơm ra mấy ngày sau, đường mới nổi lên. Hồi ấy, không có đài, ông T sang báo ngừng bắn.
Chỉ đạo làm thêm những con đường mới. Bữa bom đạn nhiều, mồ mả dọn không kịp. Đường trung tâm bom
Cầu Thông: một người đèo xe qua, nảy, ngã chết. Tớ làm đường qua đập tràn Cổng thị chính Vinh. Bom nổ sau nhà, thùng săng cứ dựng lên.
Phòng giao thông chuyên môn ít. 30 chánh phó CT không biết chuyên môn ở nhà có lướng vướng gì đâu.
Có đôi chủ lực, có dân công, có hạt.
Đào sông Nam - Hưng - Nghi ra Bến Thuỷ.
“Nếu tôi mà có văn hoá, thì tôi phốc lâu rồi”
“Tôi định đi, lại sợ người ta đánh giá”.
1968 trực tổng đài có 4/0...
Lúc thông, lúc tắc.
Tôi gặp cái gì làm cái ấy. Cán bộ nhiều Nước toàn nấu nước lá ổi mời họ uống.
Một ông ở trạm điều vận Cảng Hải Phòng
Vào đây nhà coi như liên hoan.
Mang về một nạm áo rách
Bày tôi cho ông 2 m vải, may áo.
Hiệu may bị đánh cháy. cho ông ấy về lấy quần áo.
Ký hiệu đất - gạo
Cho xe đi đồng - đạn
Qua Bến Thuỷ nước- xăng
Cái chính là bây giờ có kinh nghiệm xây dựng thành phố. Phải ưu tiên những công trình kỹ thuật: điện, cống ngầm... nếu không, sau này phải lật lại.
Tri (một kỹ sư)
Lần đầu tiên trở về thành phố, tôi thấy xa lạ. Y như một thành phố nào khác. Lý trí bảo rằng đây là nơi mình sẽ đến, sẽ làm việc, sẽ trở nên một nơi thân yêu của mình. Nhưng nhìn vẫn dửng dưng.
Cái ý nghĩ của Vinh là ở chỗ: Vinh bị phá huỷ gần như hoàn toàn (Diện tích nhà còn lại 45.000m2. Diện tích của : gấp 5 như vậy) cái thành phố méo mó, quằn quại, lùi xa, rồi lại cắn răng trụ vững, cắm những con người của mình trụ trên những địa điểm cố định. Ví như phà, ví như cảng. Cái thành ph của ý chí.
Cũng như tất cả những thành phố khác, Vinh là đất để cho nhiều người qua lại. Vinh luôn luôn có những mặt người lạ, Vinh nhiều lái xe, nhiều bộ đội về phép, nhiều bộ đội an dưỡng. Với người miền Bắc vào, đây là cái địa đầu của miền Trung. Nhưg những người vượt những gian khổ sông nước, đường xá từ trong ra, đến Vinh có thể thở phào: đã đến cửa ngõ của Hà Nội.
Có dễ không có gì tiêu biểu cho thành phố những ngày hoà bình đầu tiên bằng cái cảnh: những ngôi nhà nhiều tầng bị đổ sập. Mưa nắng xói mãi vào nền vôi cũ. Cửa kính cửa chớp bị bật tung. Nhưng thay vào đó người ta quây phên, quây ny lông che cửa. Có ai nấu nướng ngay trong nhà. Trước cửa ngôi nhà, một chiếc xe tải đậu, chờ lấy hàng. Nhiều vệt xe tải từ lâu đã xiết trên mặt cỏ những vệt mòn, chỗ xe mới vào đỗ có nham nhở đôi chút.
Đất Vinh-đất cát. Bụi có hiện tượng cát chảy (nhưng chưa ghê lắm!) Nhưng tốt cho xây dựng. nếu kết hợp có đầm rung, càng hay.
(Hải Phòng đóng cọc 12m. Có nơi xây dựng phải đào những giếng lớn đổ cát xuống)
- Mặt bằng không phải chỉ địa hình, mà còn là địa chất. Những khó khăn do bom đạn là tạm thời.
- Đêm trên thành phố một vài đoạn đường có những loạt đèn mới mắc nhưng nhiều chỗ khác tôi om. Thành phố mung lung, bước chân khấp khểnh, bóng đêm sáng tối, chỗ đậm chỗ nhạt.
- Buổi chiếu bóng đầu tiên trong thành phố. Thành phố của những người lạ, của những thanh niên toàn những thanh niên xung phong, những bộ đội. Trước cửa bãi chiếu bóng, người ù tới, người nhốn nháo. Nhưng mà vẫn thấy kinh sợ ô tô. Gần bãi chiếu bóng, nguyên là một nơi đỗ ô tô. Ô tô dịch từng bước giữa những đám người, ô tô loé sáng giữa những khoảng tối. Ôtô rầm rì. Nhưng mà mọi người vẫn vui, vẫn xô đẩy nhau mà vui.
ở cái đất Vinh này, cuộc sống lúc nào cũng bị những áp lực. Ngày trước, gió lào, cháy. Cây non trồng, chăm tưới khó.
... Lại chiến tranh. Đến cái cọc cắm vào hố bom, cũng phải làm bằng xi măng. Sợ nó bị bật tung đi, rồi lúc nào đó, bom lại nổ.
Thứ âm thanh nghe giục giã, nghiến ngả trong những ngày này. Xe xúc, xe ủi, cái xe của những mặt bằng, cái xe của nền móng. Chữ của người cán bộ giao thông làm nổi một con đường.
Cái mà làm tôi thú vị: bao giờ ở đây tôi cũng được sục chân vào đất mới. Và tôi nhớ những lần xe lùi lại lấy thế. Thường cái xe lồng lộn như bước vào một cuộc chiến đấu.
Chiến tranh- hoà bình
Anh bộ đội./ người kỹ sư xây dựng
Người đi qua thành Vinh/ Người của thành Vinh lâu dài
Người chiến sĩ nhìn về Vinh: Một khâu trung chuyển, một chỗ nghỉ. Những kho hàng phủ bạt. trong ngàn ngạt trên đường.
Những người
Đời sống
Nhà cửa
- Sau mỗi trận bom, chúng tôi đi xem lại một số khu vực, đếm từng cái nhà.
- Trong những năm 1968-72, một số nhà được xây dựng bị đánh
- Năm 72 làm thêm cửa hàng lương thực, bách hoá, các ki ốt... khoảng 10 cái. Ở trung tâm giao thông: cho người ta uống ăn. Rất có tác dụng (làm nhà âm!) tình xây dựng các công trình nổi, chỉ làm công trình ngầm)
Số nhà này còn nguyên/ Khu giao tế Tân Vinh Yên Phúc
- Khi các cơ quan đi, họ gửi chúng tôi nhà cửa.
Tỉnh giao cho chúng tôi quản lý
Trong chiến tranh 95% nhà trong thành phố được dùng làm kho. một số cho công nhân thị chính.
- Lập hội đồng xác nhận vấn đề nhà cửa.
Đi nguy hiểm. Trên đường đi, qua những nơi bị đánh
- Công nhân về, lo nhà ở cho họ dàn xếp
- Những bí mật biết hết/ nhìn những ngôi nhà, biết tất cả những bí mật trên.
- Trên thành phố, hàng nghìn dân viết đơn xin về (công nhân có lần nằm ngoài trời một đêm)
Vào một nhà dân, xem có đủ ở không, có an toàn không. Chưa dám nghĩ nhà đẹp, nhà tiện nghi.
Làm nhà tranh do nhà gạch một tầng
Làm nhà gạch một tầng cho những
Có những người chưa có. Chủ trương 150đ (14 người - 10m2)
Biết tôi làm nhà cửa, người ta quý hoá.
- Mấy hôm đầu hoà bình, người ta thăm hổi về quy hoạch thành phố. Chúng tôi chỉ cần về dựng lên một túp lều, là có thể yên tâm.
Có gia đình chết 6,7 người, tình cảm với quê hương vẫn rất tha thiết.
- Tôi đang ở UB tỉnh (Ban thư ký tổng hợp) Người ta bảo: Anh phải xuống thành phố mà ở, để hiểu anh em.
Nhà cửa= tài sản lớn nhất của một đời người.
Điện: 10g30 24/1 ký tắt 6g 30 tối có điện.
Làm thế nào phải có điện? Nếu không ký, chiến tranh cũng vẫn có điện 17/1 có 5.000 đ thực hiện có điện
1964 cốt coi như hỏng, cả lưới
1968-72 khôi phục được một ít: có điện 7 trục đường chính (10 trong số 45km)
Trong những ngày đen tối
t/c bạn thường hổi: tương lai, lưới điện sẽ cho đi ngầm tất cả hay sao?
(các nước dùng lưới ngầm, chỉ có cốt thò lên, dùng hoa sen, đèn lồng, trang trí)
2 năm tới, sẽ có 5km dùng lối điện này. đường điện đôi.
Đi trong thành phố tối, bao giờ cũng bực... ước mong khi về hưu, lưới điện sẽ rực rỡ (nghe nói Praha sáng nhìn rõ cả kiến.
Tôi nghĩ Việt Nam trong tương lai sẽ sáng)
Có hôm, chúng tôi ngồi uống cà phê. Tối trời, chị nhân viên nghe chúng tôi nói chuyện hỏi:
- Hoà bình liền thì có điện không anh
- Chị hãy đưa cái máy kem của chị
- Có thật không hả anh.
- Chị cứ tin như thế, chắc chắn hè này sẽ có kem.
Trong những ngày nó đánh, tôi chỉ ươc mong có 5 người thợ điện: thu hồi đường dây... ổn định một tí, nó kéo lại ngay chiến tranh xong, lại có ngay.
(Số người mới mắc điện: đa số về hưu)
Đi thấy dây đứt, đau xót. Chỉ mong cuộn nó lại. Bom đạn không làm cho đường bị tiều tuỵ. Chiến tranh không làm gì được (không bao giờ nó đánh ngay tại chỗ)
6-7/1972
Ngày ác liệt chúng tôi đã ký hợp đồng đúc cột điện (hàng mấy trăm cái) mua vật tư.
đúc ra ngoài thành phố
Đã đúc gần 100 cột, bây giờ mới có cột dùng.
Bao giờ cũng nghĩ
(Tết, nếu chiến tranh, chỉ có điện 3 ngày, là thắng lợi- dù tốn hàng nghìn đồng Chúng không bao giờ dập tắt được dòng điện.
Sau khi chúng tôi bật ánh sáng, em nhỏ: Thôi từ nay tha hồ có điện. Tối mai ta có thể chơi dưới cột điện rồi.
(Tối 24/1 , có buổi họp Tỉnh uỷ, tuyên dương luôn - có điện mắc. đầu tiên = giao tế)
Không tài nào phá nổi nhà máy điện, khi nó rải ra, dễ tiêu diệt. Khi gộp lại một chỗ, khó t/d. Nền móng nhà máy điện vững chãi. Đánh bom sáng, chiều khôi phục
- Thế giới người ta đưa nhà máy điện xuống nước
-3/2 của Vinh, đưa máy vào trong núi.
Quang Trung chưa có, vì đang cải tạo đường.
Cột ly tâm nhà máy chèm làm cột: chịu đựng dây, sức đẩy của gió, sức kéo, sự thay đổi của dây theo nhiệt độ.
Cột cao thế: cái bị cắt
Điện có ch quán ăn (người giao thông)
phát thanh, chiếu bóng, giao tế
sau đó, cho các cơ sở sản xuất phục hồi, Thủ công nghiệp, các cơ sở công nghiệp
10g30- 6g30 mắc dây, kéo cao thế dựng cột (trực)
tổ cao thế đi kiểm tra các pha.
Sốt ruột vô cùng: có pha không có điện (1 trong 3 pha)
Ai cũng buồn.
Anh em công nhân nhà máy điện (chia nhau xác định sự cố trên cánh đồng lầy- cánh đồng đen
Tôi về ăn miếng cơm, lên trạm 3 (trạm biến thế) trạm ngã 6 cách khoảng 200m thấy một ngọn điện.
Đến nơi cả giám đốc, phó giám đốc, công đoàn nhà máy điện ở đấy cả. Họ bảo: Sắp có điện.
Có người bảo: có điện rồi đấy. Tôi nhìn đồng hồ, đủ điện áp. Đồng chí tổ trưởng tổ hạ thế đóng cầu dao. Toàn bộ các trục đường đều có điện. Mọi người ùa về khu giao tế, lấy điện về cho giao tế, có mặt đầy đủ các đồng chí.
Tối hôm đó, đồng chí Hoà rủ tôi lấy xe đạp ra đường, suốt đêm trên 10km lên Lê Mao, Trần Phú, đường cơ vụ đi để thưởng thức hoà bình.
Hố bom còn nhà dỏ còn Phố xá vắng ô tô nhiều (đại bộ phận là dân giao thông) Vinh giỏi quá, Nhà máy điện giỏi quá” - người ta khen trầm trồ một bóng nhỏ cũng sáng lắm.
(Cảng chưa có điện. Vì hắn hỏng nặng) Đi xong về 11g30/ chỉ còn vài người đây vẫn tối om.
Sau những ngày đó, nhiều anh em trong ban ra đường. Anh em trạm trực hỏi. Chúng tôi bảo: có đi xem
Những người quản lý thành phố
Trong những ngày sóng gió thành phố chúng tôi cũng ở đây.
Mọi thành quả có mình.
(Thành phố chỉ có anh em quản lý lương thực (quản lý gạo) giao thông cũng không ở đây)
1966 tôi đi học một số anh em kỹ thuật giải tán. Buồn.
(4-6-65 nhà máy bị đánh. Sáng hôm ấy, còn làm việc. Thấy máy bay, thấy những cục cục rơi xuống. Tôi bảo: chết rồi: bom đấy. Bom nổ, tôi mới xuống hầm. Lần đầu chiều hôm đó, tôi đi một vòng quanh nhà máy, Không việc gì, chỉ một hơi bị móp, một quả bom . Lại khôi phục để tối có điện. Chiều 2g15 lại có điện . Có thương vong. Lệnh sơ tán: Tôi làm công tác tổ chức. Ngày sơ tán, đêm đi.
Lạnh lùng. Rộn Không còn điện nữa. Tối hôm nào cũng về. Thu xếp cho những anh em bị thương vong. Tôi và một anh nữa, về cho vui)
Đi học. Ra đi quyết phá, ngày về sẽ xây. Tôi vẫn muốn về Vinh, không muốn đi nhà máy khác.
Học xong điện Vinh không phát triển. Công ty điện lực yêu cầu về Ninh Bình. Tôi đi. Được sống trong một nhà máy điện đại, công suất lớn, thú vị.
1968 trở về Hà Nội học tiếp. Nghĩ về 3/2 khâm phục: dỡ cả nhà máy đi.
Tháo ra đòi hỏi một công trường lớn, cố gắng
11-71, nghe nói nghiệm thu (Tôi vẫn nghĩ đánh nhau thắng 32 đi học. 37 tốt nghiệp
1968, về đứa cháu ra Lạng Sơn. Một đứa vượt biển, qua cầu Đùng ra Quỳnh Lưu. một đứa theo tôi, vẫn đi trên đường ra CH. Mang một khung xe đạp về. Không còn nhận ra thành phố. Ra đi nhìn ra núi Quyết bảo con: nhà máy điện
Hoà bình 1968: sắp được trở về thủ đô.
Hoà bình 1973: thắng lợi chung
2/1 không có điện. Chạy ra loa ở Hương Dũng, 500m- đã biết hoà bình. Đúng trên mô đất thật cao, sát nghe loa, một số người đứng đấy. Một số bà đi qua tôi gọi lại. Người ta trả lời Thật à? Và ở lại.
Tôi chưa thấy thoả mãn, không hài lòng. So với mấy ông viện trưởng, thứ trưởng bộ K tr . Tôi nghĩ: Thằng địch nó đánh chứ không còn thì mình xấu hổ. Muốn lớn anh em quy hoạch 30h làm công viên tôi thấy ít quá)
Chúng ta tưởng chết coi như mình đã chết rồi, thì người ta lại sống.
Cháy Vinh
Ông Quế: ai không muốn về. nhưng về bây giờ còn gì nữa đâu.
Nếu như có thể chia làm 2 : Một thành phố Vinh hôm qua, thành phố gần 2 cái trạm giao thông, thành phố một đầu là bến ô tô, một đầu là Bến Thuỷ
Và một thành phố khác, thành phố đang xây dựng lại, có những đường rải nhựa, có những vườn hoa, có những đài liệt sĩ.
... Sao tôi chỉ yêu được cái thành phố đang xây dựng. Còn như thành Vinh kia bẩn thỉu, bụi bậm. Và thế này nữa: những người mà hôm qua đứng lại với bến phà, với bờ sông, sao hôm nay nhênh nhang, ngơ ngẩn, luộm thuộm. Tôi gần như không thể ưng được cái thành phố vậy.
Chuyện chiến đấu bộ đội 233
- Xuống phà, sang bên kia sông, bắn pháo hiệu lên, nghe ở đâu có máy bay thì bắn lên.
- CTV bảo: chúng mày cứ đánh cho chắc tay. Bắn được thôi. Trận địa này không làm gì nhau được đâu. Đánh ở trên núi, thích hơn đánh ở dưới.
- Long: số 1 nhanh, bắn xong, nhảy vào hầm tránh bom bi, nhanh hơn cả số 6 đứng cạnh hầm.
Sao mới hoà bình được một tháng, tôi đã không thấy thích thú khi vào những đơn vị bộ đội. Lại những kỷ luật ép người lính một cách dường như vô lý. Lại những công việc gậm nhấm thời gian. Và một đặc điểm mới của ngày hôm nay: sự hợm hĩnh.
Đơn vị có một giáo viên, với những đòi hỏi theo kiểu của mình: lý lẽ, nhận xét thẳng nhưng dại. Không uyển chuyển, không đến đầu đến đuôi. Cán bộ chỉ huy đã nói đúng. người giáo viên kia dại dột, không khôn như lính. Những tay lính cũ thạo thường hay phản ứng ngầm, hay kéo bè kéo cánh.
Và người cán bộ chỉ huy kết luận: ở ngoài dại, không thể khôn bằng bộ đội. Tôi biết nói về cái chỗ này thế nào. Người lính là khôn hay dại.
Màu bổ túc: màu đối xứng
Xếp hai màu bổ túc nhau ở cạnh nhau: vừa hửng màu, vừa tươi hơn
Vui tươi - Nóng : cam vàng, đỏ
Trầm ngâm : màu lạnh: lam, xanh, tím
Nóng: hiện vật gần lại ta
Lạnh: hiện vật xa ta.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét