Tối 18/12
Lại cảm thấy như chiến tranh lần đầu: Máy bay Mỹ lại đánh Hà Nội sau 2 tháng nghỉ. Thủ đô không đèn, trong ánh trăng suông. Khi ánh trăng lóe lên, lại thấy hơi sợ, hay là bom nổ?
Phố xá khắc trên nền trời những đường nét nhấp nhô. Phố đáng yêu quá, mong manh quá. Những hố cá nhân nứt ra từ bao giờ. Nhưng sao nhiều hố có nước thế.
- Đúng cụ nhà mình sơ tán thì lại máy bay.
- Đến 2 tháng nay mới lại bị đấy.
- Mày có xuống hầm đi không? Đây, cầm lấy cái mũ rơm.
- Nhà nào còn để đèn thế kia.
- Gớm cô cậu, giờ còn đèo nhau.
Tiếng của những cái nắp hầm rê rê trên miệng hầm ngắn, đằm, hơi rờn rợn.
Tiếng súng nổ rất đanh. Nhưng mà sợ nhất là sự im lặng: Đến những đứa trẻ cũng ưu tư. Tiếng loa trên đường phố đâm có ý nghĩa.
Chiến tranh nghĩa là gì? Nghĩa là mọi hoạt động ngưng lại ô tô ngưng lại, người đi đường ngưng lại, cho đến cả những chiếc xe rác cũng ngưng lại. Một đứa trẻ ngồi bên bờ Hồ đòi... ị. Người mẹ nói cái gì, thấy rõ nhất chữ "quấy đảo" "quấy đảo". Nói về đứa con hay về máy bay? Những gì bình thường nhất cũng phải ngưng lại như vậy chăng? Nghĩ đến sự chết . Đổ nhà đổ cửa.
Hai người đàm đạo kiểu tếu:
--Để mai ta mang bom đến Hoa Thịnh Đốn ta ném mới được.
- Ông ghé cái A pô lô xuống cho tôi đi cùng với.
Chợ Đồng Xuân. Phố Hàng Đường. Phố Hàng Ngang. Những phố xá của một thời Hà Nội. Hàng hóa còn đang dọn dở. Người đứng nhìn ra đường. Cái loa đầu phố song sóc. Các đồng chí dân phòng không cho người lạ vào khối ta nữa...
Người Hà Nội sống bằng niềm tin gì? Trong chiến tranh, người ta sống bằng gì?
Lần đầu tiên... Không, bây giờ không phải lần đầu tiên nữa. Nhưng tôi vẫn có cảm giác là lần đầu tiên, không ai quen được với chiến tranh. Cũng như nghe một ngàn loạt đạn rồi, đến loạt ngàn linh một vẫn cứ sợ.
Quen như mọi khi, tôi bổ ra đường đêm báo động. Đôi giày "săng đá" kêu lên âm thầm, không thấy ai nói. Tôi yêu những người dân phòng mũ sắt đang đứng trên đường. Trong đêm, tôi yêu tất cả phố xá. Ngồi trên ghế đá Bờ Hồ, tôi duyệt lại tình yêu Hà Nội. Cho đến khi những vệt đèn hướng lên, như trong một buổi tối. Người đi đầy đường: những lần tan một cuộc vui, người cũng đông vậy. Tôi nhớ sắp đến những ngày vui, sắp Noel, sắp đầu năm mới.
... Nhưng mà chính vì thế mà Hà Nội bất ngờ. Đèn mới tắt được vài phút thì lại nghe đạn nổ, đạn đỏ lừ ở phía Nam. Chiến tranh là chuyện bất ngờ, bao giờ cũng là chuyện bất ngờ. Nhưng lần này thì Hà Nội bất ngờ thật. Tôi nhớ câu nói của người thanh niên lúc báo yên “Nó xơi mất một tiếng hai mươi phút còn gì”.
Người Hà Nội quen làm việc theo giờ giấc, người Hà Nội đêm nay sẽ được biết một cuộc chiến tranh không giờ giấc, có thể nói là suốt đêm.
Tôi đi bộ từ Bờ Hồ về cơ quan Văn Nghệ quân đội trong tiếng súng. Một chiếc máy bay bay thật thấp, vụt qua; cái chết vụt qua, may nó không chạm vào mình. Nhiều người chia nhau cảm giác may mắn đó khi gặp lại nhau.
Những người cơ quan tôi từ nhiều phía mang về những tin khác nhau ở chi tiết, nhưng giống nhau ở sự bất ngờ. Nghệ thuật vẫn len vào cuộc sống, nghệ thuật lại chung số phận trong chiến tranh. Đoàn ca múa TCCT hôm qua còn biểu diễn cả tối cho chúng tôi xem, hôm nay phải ngưng lại. Tôi nghĩ đến Linh, một cô gái tôi quen. Có thể chăng, những diễn viên như Linh đêm nay lại phải đi khỏi Hà Nội. Tôi nghĩ đến cái lúc họ vừa quệt nốt một vệt son còn sót lại trên má, vừa nhìn bóng đêm heo hút bên đường. Những cặp người yêu nghĩ đến một điều gì vừa mất đi cùng Hà Nội. Những người xem cũng cảm thấy vừa mất đi một cái gì đó cùng đoàn văn công. Nhưng họ đi là phải. Đêm nay là một đêm báo động gần suốt đêm.
Chưa bao giờ Hà Nội lay động cửa nhà như vậy. Tôi nói lay động nghĩa đen. Bom ở đâu không biết nhưng cũng không phải là gần (chính bom gần, nghe tiếng bom, đón hơi bom rất nhỏ). Nhưng sao vẫn lay động.
Rơi cả những bức ảnh trên tường nhà chị tôi, rơi rụng cả những kỷ niệm.
Tí nữa rơi cả cái đồng hồ, rơi rụng cả thời gian.
Và ở khu vực Láng Hạ. Đã rơi rụng cả một cái gì của không gian và thời gian, rơi rụng những kiếp người. Chết người, tất nhiên là cùng chết theo những gì thân thiết nhất của mỗi kiếp người. Mái nhà ấm, những vật dụng gia đình.
Một đài nước ngoài nhắc lại tin của một người Hà Nội: trong mưa, lửa vẫn cháy. Tôi vẫn chui rúc trong sợ hãi, ngủ vùi ở tầng hai cơ quan trong liều lĩnh -- cũng chẳng cần biết và không thể biết được những gì đã xảy ra chung quanh mình.
19-12. Hương Ngải
Chỉ biết rằng đêm qua, cả Hà Nội thức. Một đêm kinh khủng của 8 năm nay từ hồi chiến tranh phá hoại, 18 năm nay, từ hồi hòa bình 1954, và có thể 26 năm nay, từ hồi toàn quốc kháng chiến.
Buổi sáng mai, trở dậy, đã nghe đài Hà Nội veo vẻo. Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược... Tiến đến đánh thắng hoàn toàn... Ông Châu cười khảy: Những gì đêm qua không báo hiệu gì cho luận điểm đó cả.
Cả Hà Nội, từ trên xuống dưới, đã đứng trước một chuyện không ngờ. Phim xi-nê mới chiếu trong phạm vi hẹp trở lại từ hôm 18-12 . Báo động trong lúc các ông cốp tuyên huấn đang duyệt văn công. Những người khác cũng vậy. Những gì bi quan nhất đã đến với tôi. Có lúc tôi tưởng như tuyệt vọng.
Tôi đã ở những vùng bị ném bom. Nhưng không đâu tôi cảm thấy sức tàn phá man rợ như ở đây. Và thách thức như ở đây, ở một thành phố. Nhớ những lần ở chiến trường, trong vòng bom. Lần này chỉ ở ngoài, sao cũng sợ. Cảm thấy như ai đó đang đạp vào đầu mình. Cảm thấy như tôi đang cùng với một đoàn người nào đó bị vây. Tôi nhớ tới sự làm nhục, kẻ yếu bị kẻ mạnh làm nhục. Ở Thái Bình, máy bay địch đã từng bay rạt nóc nhà suốt đêm, để dọa đàn bà và con trẻ. Rất có thể, ở đây, chúng tôi cũng bị làm nhục. Đã có lệnh là phải sơ tán trước 4 giờ sáng. Biết đâu, địch sẽ đánh suốt từ giờ đến sáng, và không ra được nữa.
(Hôm sau, những người ở xa Hà Nội nói rằng ban đêm, tưởng là Hà Nội bị đánh vụn. Tưởng người ở trong Hà Nội đã chết hết, không còn ai ra được nữa)
Sự bi quan đã đi đến tột cùng trong mỗi người. Tại sao? Chúng tôi không còn chỗ dựa. Hà Nội lâu nay vẫn là chỗ dựa về mặt tinh thần, đã bị sụp đổ. Chúng tôi cảm thấy mình cô đơn. Mọi khi bao giờ cũng cảm thấy còn có một nơi nào đó đang chiến thắng. Nay thì nơi đó không còn nữa.
Vì sao, vì sao? Cũng không hiểu được nữa.
Lấy một người dân bình thường để nói tiếng vọng của thời đại vào họ. Một người như bà chị tôi, chị nói:
- Người ta bảo ông Thọ đi thì mừng, ông Thọ về là mang bom mang đạn về theo thôi. Ở bên kia, ông ấy đập bàn đập ghế với nó, thì bên này mình khổ.
“Chủ quan”. “Cảnh giác”. Tôi lại chợt nhớ tới tiếng nói của một thứ người tuyên huấn, cứ lên gân lên guốc. Và cái câu lắp đi lắp lại của người ta: chớ chủ quan khinh địch.
Nguyễn Minh Châu: Đến Hà Nội còn mất cảnh giác, thì trên thế giới này đâu không mất cảnh giác nữa?
Lại một lần nữa, tôi thấy rằng: cả những người bi quan nhất cũng không bi quan bằng thực tế. Thực tế đáng bi quan hơn nhiều. Lâu nay, có ai trong chúng tôi tưởng tới việc Mỹ đánh lại miền Bắc.
Phụ lục
18/12 7g tối, Nhà Trắng còn tuyên tố cải chính đánh ra ngoài vĩ tuyến 20. Nhưng 8 g thì Hà Nội báo động. Nixon đã ra lệnh đánh lại "cho đến khi có giải pháp". Giải thích: Người ta không thể lợi dụng hòa đàm để chuẩn bị một cuộc chiến đấu khác. Không thể để cho miền Bắc yên trong khi chiến tranh ở cả miền Nam.
- Những ngày 18/12, 19/12 Mỹ huy động 500 máy bay, và 100 B52 đánh miền Bắc. Giá 1 B52 3 triệu đô la. Giá F 111 còn đắt hơn 1 B52.
- Mỹ dùng 1 tỷ đô la để mua 20 vạn cán bộ ở sông Cửu Long (giết, hủ hóa...)
- 1 ngày Mỹ chi 36.633,64 đô la cho chiến tranh Việt Nam
- Ngoại thành Hà Nội có hơn 100 xã, 90 xã bị đánh (?H)
Ngày hôm nay 19/12, tôi lên sơ tán trong không khí chiến tranh sôi động . Người đạp xe đạp nhoay nhoáy trên đường. Xe quân sự, loại xe to, cao kềnh càng, chở lính ngồi chật ở trên, lao về các trận địa Hà Nội. Những tên lửa để dọc đường bây giờ được kéo về trên xe, chiếc xe to lớn kéo nó đi cùng lao đi rất nhanh. Dễ có chiếc xe nào cán phải người rồi cũng thôi. Bây giờ, người ta đang phải vội.
Tôi nhớ tới Hà Nội tôi vừa ra đi, Hà Nội trong buổi sáng, tôi trở dậy. Cảm thấy không khí chiến chinh trong buổi sáng nay, rõ nhất là ở tiếng nổ của một kho đạn gần đấy. Tiếng nổ không to, nhưng cứ cầm canh đều đặn như nhắc nhở mọi người về một thực tế. Cái thực tế này, mọi người đã biết, nhưng vẫn là ghê sợ khi thấy nó cứ rung lên bần bật trước mặt .
20/12
Qua đi 2 đêm liền, tiếng B52 ù ù trên trời như tiếng cối xay. Lại có thể quen chăng?
Tình hình đại cục, bây giờ biết hỏi ở đâu? Có nhiều chuyện đúng là phải hỏi từ gốc, từ khả năng phân tích những vấn đề lớn. Là một người bình thường, tôi tạm vẽ ra như thế này có đúng: Chúng ta đã nhìn nhận miền Nam như tình thế hồi kháng chiến. Chúng ta, trên nét lớn, vẫn dùng lối đưa quân vào, vận động quần chúng như vậy. Cho đến Mậu Thân. Từ Mậu Thân tình hình đã khác. Chiến tranh hóa thành một cuộc viễn chinh miền Bắc vào miền Nam. Nói dân miền Nam theo nó không đúng. Nhưng họ mệt quá rồi, họ mặc kệ. Và nó đổ vào tiền của xây dựng. Ta vấp ngay từ Quảng Trị. Một nước nông nghiệp, không thể nuôi một đạo quân viễn chinh, dù là viễn chinh ở một phần đất nước của mình.
Bây giờ, thì hòa đàm mới thực sự có ý nghĩa. Hòa đàm lúc trước với hy vọng đòi để đỡ phải đánh mà vẫn được. “Anh biết điều anh nên chạy trước. Tôi đòi như thế này cơ". Hòa đàm bây giờ, với ý nghĩa mở cho mình một lối thoát. Thôi, việc trước mắt đã chịu, bây giờ tạm nhận lấy một con đường yên. Miễn là với điều kiện giữ lấy khả năng gây biến động lâu dài, tìm cách đi đến mục đích về lâu về dài.
Nhưng lại gặp phải một thằng địch quá quắt. Nó khôn ngoan, nó thừa biết ý định chiến lược của mình. Nó tìm mọi cách chẹn cái xu thế đó. Một nền hòa bình đầy cạm bẫy. Đúng là nó đã nhậy cảm thấy chuyện đó. Nó không chịu.
Có phải trên thế giới hiện nay, phía cách mạng đã không thắng trong hòa bình, như đã không thắng trong quân sự. Người ta chưa chịu rút cho mình bài học kinh nghiệm.
Thế là mặc cả cũng không xong. Nó lại đánh. Y như nó phải dồn mình vào cái cửa thương lượng của nó vậy. Tùy thuộc vào sức chiến đấu, và sự chịu đựng của mình.
Một khả năng nhiều người đã tính tới: nó sẽ đánh ra, một cuộc nội chiến thật sự - lúc ấy sẽ lôi thôi lắm!
Nhiều ý khác nhau thốt ra từ cùng miệng Nguyễn Khải:
- Tôi chỉ sợ các ông nhà mình nghe báo cáo sai lạc đi thôi. Báo cáo cấp dưới xưa nay đều muốn vừa lòng cấp trên. Cấp trên cũng chỉ thích nghe những điều mình đã định kế hoạch. Thế là khéo thậm thụt, đánh một mùa khô nữa. Khốn nạn, chính là chiến tranh thì dễ, cứ bài bản cũ, công tác tư tưởng cứ phải tiến lên thôi. Còn như hòa bình, các ông ấy phải đối mặt với địch, lại phải đối mặt với dân. Người ta sẽ hỏi: Những cố gắng trong chiến tranh mang lại cho người ta những cái gì? Thế thì biết trả lời sao.
(Nguyễn Minh Châu cũng nói cái ý tương tự. Suy cho cùng, chiến tranh nó vẫn có cái đơn giản của nó. Hòa bình lúc nào nó cũng mang sẵn trong mình nhiều hiểm họa)
- Vừa rồi, cứ tưởng là ràng buộc được nó. Xuống dưới Hải Hưng, ở huyện ở xã toàn nói chuyện kế hoạch chiến đấu chứ có nói chuyện gì đến hòa bình đâu? Nào là mình đánh nó trong kia. Nào là thế giới phản đối. Đi đâu cũng nghe phổ biến hòa đàm tốt lắm. Nó chịu mình nhiều điểm cơ bản lắm. Thế mới chết.
- Ngay cả trong đàm phán nữa. Đúng là anh nhà quê chơi với thằng tư sản. Nó có nói mát cho mấy câu cũng không biết. Lại tưởng là xỏ được nó, nào nó có cần gì? Lại nghe có chuyện bao nhiêu điểm, chính nó cũng rối. Nó có rối khối nó ấy. Mình cứ lấy mình mà suy ra nó. Khốn nạn, ngay mình lừa các ông ấy cũng dễ nữa là. Đáng tuổi bố mình mà mình vẫn lừa. Như lần nào gặp ông Song Hào, Hữu Mai chỉ xin đọc bản tin, cũng không được. Các ông ấy chỉ vặn lại các anh biết lắm làm gì, đã học hết đường lối chính trị của Đảng ta chưa? Đường lối chẳng phải sâu xa mà các anh đi mãi không hết hay sao? Hoặc như tôi, cứ nói nào mình ghen với những anh em trẻ mới được đào tạo, thế là cấp trên bằng lòng ngay. Lại còn sợ anh em bi quan nữa. Khốn khổ, toàn những thằng đập đầu không chết, cứ xoen xoét, xoen xoét, mà vẫn cứ tin.
Hữu Mai: Phen này thì các ông lên hang đá Hòa Bình rồi, có điện có nước đầy đủ chứ gì. Chỉ có dân đen là khổ.
21/12
... Lần đầu tiên Hà Nội bị uy hiếp mạnh như vậy.Ta giờ như cá nằm trên thớt. Con đường từ Từ Sơn về Yên Viên nát nhừ, xe đạp không đi được nữa. Vứt ngổn ngang ra đường là bánh mì, thịt lợn, và có khi cả... thịt người -- Nhiều người mất tích lắm.
... Cũng lần đầu tiên, đài phát thanh Hà Nội bắt rất khó. Nói như danh từ mới xuất hiện tức là hệ thống chính trị đã bị đánh phá.
Một cụ già nói: Đánh nhau lâu quá rồi. Khéo phải tìm người can. Bây giờ không có trung thần, ngự sử như cũ nữa.
22/12
Tính lại những nơi bị bom đánh.
Đêm 18/12 đánh Láng Hạ (đài phát thanh, thông tin) Yên Viên, Lương Yên. Ngoài Hà Nội: Vĩnh Phú (sân bay), Kép.
Trưa 19/12 đánh Bạch Mai, trường ĐH Bách Khoa...
- Tối 19 đánh B52 Yên Viên.
- Tối 20 đánh trận địa từ An Dương đến Phúc Xá
- Trưa 21 đánh ga Hàng Cỏ, ga Giáp Bát, đại sứ quán Cu ba gần đấy.
- Tối 22 đánh lại Yên Viên, Gia Lâm. Đánh từ Vọng xuống Đuôi Cá.
Không biết đánh những hôm nào (sau biết là trưa 21/12): Hỏng một phần nhà máy điện Yên Phụ. Tàu điện ngổn ngang không chạy được. Có thời gian mất nước.
Xuân Sách: Nó đã nổi khùng lên rồi. Thế này tức là nó sẽ đánh đến cùng. Đánh thế cũng là hạ sách, cũng là mất nhân tâm. Nhưng đã thế, lại phải làm bằng được, làm cho xong đi.
Những gì đã xảy ra với mỗi người dân ở cạnh những mục tiêu bị đánh, những mục tiêu quân sự -- ai mà biết được. Đang đêm, bom ù ù trên đầu. Tường đổ, nhà sập, vợ chồng cha con chúi xuống hầm. Ngẩng lên, không còn là nhà mình nữa. Không còn hàng xóm, ở An Dương người chết, không đủ quan tài, nhiều người phải bó bằng ni lông.
Những gì người ta tưởng thiêng liêng nhất cũng đã bị đánh: ga Hàng Cỏ (ga Quốc tế)
Những gì ở rất xa, chỉ khiến người ta sợ bóng sợ vía, thì nay đã đến - B52.
Còn có thể nghĩ gì nữa. Trong đêm báo động, tôi bảo thấy rất rợn. Mai Ngữ bảo không sợ nhưng chỉ chán. Ông Vũ Cao: Thấy nó hơi ra áp-xoét, hơi phi lý và hơi ma quái. Có lẽ vậy. Mai Ngữ kể có con gà định ăn chờ hòa bình, bây giờ sơ tán, làm thịt luôn. Thịt cứ đắng ngắt.
Đã gọi chiến tranh là không có bờ bến. Là một sự kỳ quái vô thường. Tại sao tôi vẫn mong có một cái gì đó giới hạn. Và mỗi lần, tôi lại thấy như lần đầu hiểu được chiến tranh!
Hình như có những người không hiểu chiến tranh, dù là chính họ khơi mào ra chiến tranh: các nhà chính trị. Bây giờ họ vẫn đủ phương tiện làm việc. Báo Mỹ viết phải mang chiến tranh đến châu thổ sông Hồng để cho các lãnh tụ Hà Nội biết chiến tranh là như thế nào?
Có thật là như thế. Một người dân: "Bây giờ đưa con cho Đảng và Chính phủ thì cũng như trong truyện Thạch Sanh nộp con cho Mãng xà vương rồi còn gì?”
Rút cuộc, người ta lại bàn tới chuyện ấy, chuyện những những người gieo rắc chiến tranh. Có phải vì mải chứng minh cho một lý thuyết, một chủ nghĩa? Có phải vì muốn làm nốt cái sự nghiệp vốn đã vẻ vang của mình? Và luôn luôn là nhân danh nhân dân, nhân danh dân tộc. Lúc chúng tôi đứng ở cái hầm sau nhà tạp chí hầm còn là loại khá so với hầm của gia đình tôi, tôi nhớ tới những cái hầm xây mất hàng ngàn, hàng vạn bạc. Ông Mạn bảo: hầm thế thì đánh đến già.
Như lúc chúng tôi đi xe đạp trên đường, tôi nhìn những chiếc ô tô Volga nối đuôi...
Nhưng mà đó còn là tiểu tiết. Còn chủ nghĩa ư? Biết làm sao nói được. Biết là phải, nhưng có làm được đâu. Tôi nhớ một ý ai đó nói về ông Mác: ông ta đã nhân danh sự sung sướng, lẽ phải, mà gây ra nhiều cuộc chém giết nhất trong lịch sử. Đúng thế chăng? Vì luôn luôn, ở Hà Nội, tôi còn nhớ đến Sài Gòn. Tôi nhớ tới cảnh thất tán của những gia đình ở Quảng Trị. Một người dân từng bảo chiến tranh tưởng ngày một ngày hai thuyên giảm lại năng thêm ra. Bên nào cũng muốn chứng minh cho ý chí của mình được
Phiêu lưu? Nhưng hơn thế nữa. Vô nhân đạo. Người ta đang có lý thuyết về ba nền văn minh. Nền văn minh Âu Lạc (trống đồng Đông Sơn?) Nền văn minh Đại Việt (đánh thắng Nam Hán, Tống, và đánh quân Nguyên). Và bây giờ là nền văn minh thứ ba. Chao ôi! ảo tưởng.
24/12 . Hà Nội.
Còn nhớ là tối 17 đi xem văn công Tổng Cục Chính Trị về, tôi tha thẩn mãi ngoài đường. Tôi đi trong đêm sương tháng chạp. Tôi đi trong phố xá sạch sẽ. Tôi đi trong một không khí tết đến nao lòng.
Tối sau nó đánh.
Hôm nay, 24, một tuần đã qua, một tuần chiến tranh khủng khiếp nhất của Hà Nội và những người Hà Nội.
Những ngày này, ao ước về một cái tết đến gần, một cái tết nhất làm ăn sau một mùa hè dài vất vả. Nhưng sao những ngày này lại chính là ngày của chiến tranh. Một sự vỡ mộng đến cay đắng.
Nói với Xuân Quỳnh: Người ta bảo rằng trẻ con mới yêu tết, mới yêu đời. Còn người lớn, không yêu được như thế nữa, người lớn hay buồn. Nhưng đâu phải vậy. Một người lớn chẳng yêu đời kém hơn một đứa trẻ. Buồn hơn cũng là vì yêu đời hơn. Càng hiểu hơn, càng cay đắng với nó hơn, cũng là vì càng yêu nó hơn mới đúng.
Có một cái gì đó, trong những ngày này, làm cho tôi yêu Hà Nội hơn bao giờ hết.
Có lẽ vì tôi thử đặt đời tôi ràng buộc với một cô gái không phải ở Hà Nội. Và lúc đó, tôi cảm tưởng tôi mới hiểu hết một cái chất gì đó của Hà Nội, mà tôi suýt nữa đã bỏ qua. Một kiểu quen biết. Một cách nói chuyện. Một lối tự giới thiệu. Một quan niệm về cuộc sống. Tôi nhớ đến Diễm. Giả sử không có chuyện VA, thì cô ấy thật đáng phải nghĩ tới. Có một cái gì đấy là cuộc sống của ngày hôm nay, lại không phải hoàn toàn như vậy.
25/12
Trong nhiều năm nay, mùa hè đối với tôi là mùa ra đi, đi xa, là mùa của công việc, dự định. Còn mùa đông, mùa rét, một ngọn đèn dầu, một trang giấy trắng, nhưng việc phải làm, và chao ôi, mùa của ao ước về những hạnh phúc gia đình, mùa của tình yêu và gợi ý về tình yêu. Bây giờ thì khác.
Nhớ hôm bom đánh đúng phần nhà chính ga Hàng Cỏ. Người đứng xem, sau bốn ngày, còn đông. Những khẩu hiệu để bên cạnh ga đỏ vàng một cách lạc lõng.
Một khoảng trống nứt ra ở cái nơi mà hôm qua nguyên lành. Ở đó, hôm qua, là một khung nhà. Hôm nay, đưa mắt nhìn lên, không thấy cái khung nhà ấy nữa. Hôm nay, là những đường viên lởm chởm, của một cái gì nứt ra, không thành hình gì cả.
Tôi đến khu tập thể ngõ Lý Thường Kiệt. Người đang bới đồ đạc, vôi bụi bám vào mặt vào mày, như là vừa từ đống bom đi ra. Người ta làm dây chuyền chuyển gạch. Người ta mang vôi, đổ từ đống này sang đống kia. Một căn gác vặn vỏ đỗ đổ dở dang. Một người đàn ông đi với một người đàn bà. Người đàn bà ăn mặc kiểu Hà Nội. Người đàn ông áo bộ đội, mũ giải phóng, cầm cái gậy, như người ta thường nói, chiếc gậy Trường Sơn. Họ đi từ căn gác hai đang vặn vỏ đỗ lần xuống.
Tiếng mấy cô học trò cấp 3
- Nhà cô Hằng đấy.
- Hết rồi còn gì.
- Cô bảo lúc đi chỉ người không .
- Giờ đồ đạc mất hết. Khổ. Đúng, cô có mang cái gì lành lặn đi đâu.
- Thì cũng như chúng mình, toàn lôi theo quần áo rách.
Buổi sáng Thiên chúa giáng sinh. Tôi xuống bệnh viện Bạch Mai. Dãy nhà lá bên kia đường tơi tả. Chính bên viện, căn nhà khoa tai mũi họng cũng sóng xoài. Mặt đường từ cửa trở vào còn đầy bùn đất. Cái cửa sắt bị vặn vẹo, trở nên sắc nhọn. Tôi đứng áp vào cái cửa sắt nhìn. Bên trong, nơi gian nhà đổ có mấy người đứng một cái chiếu úp trên một cái gì đó. Lúc cái chiếu mở ra, thấy mấy cái áo quan. Mấy bát cơm đơm có ngọn, trên có những nén hương. Nhưng mà người ta chưa đóng áo quan. Một lúc sau, thấy có người lấy búa ra, cầm búa gõ vào áo quan. Nẹp những cái đinh cuối cùng vào đó.
Tôi đứng ở cái cửa thường trực. Những người đứng xem. Chỉ là số ít. Trong chốc lát, bao nhiêu người ra vào. Nhân viên đến hỏi địa điểm sơ tán. Con nhân viên đến chờ cha mẹ. Những người bộ đội đánh xe vào, một gã bộ đội nghênh ngênh đôi ủng.
Một ô tô chở công nhân đến thu dọn (nhiều người đã mặc áo mưa, mặc áo lao động, ngồi sắp hàng trên xe, bắt vào một việc quan trọng lắm)
Ở cái đất nước này, chết chóc nghe đã trở thành bình thường. Những ngày tôi về Hà Nội lần này, thấy nhiều vành khăn tang, nhiều người khóc chồng khóc con, mắt khóc sưng lên đi trên đường. Mấy trăm người? Mấy nghìn người cho vừa? Không thể quen được...
Những nỗi khổ còn lại đổ lên vai những người sống ra sao --, trong buổi chiều lễ giáng sinh, tôi thấy ở khu vực An Dương là rõ hơn cả. Những nhà sập không gì thay thế được. Nhưng ở bãi An Dương, tôi đã thấy người ta đi trốn. Làm nhà, làm hầm ở giữa bãi cát. Ghếch cái bếp ra bên cạnh. Những xô nước đục ngầu. Một người mẹ còn trẻ giặt tã lót cho đứa con đầu lòng, phơi ra ngay trên những cây dâu bãi dâu ngoài sông.
Có một Hà Nội, Hà Nội dọc bờ sông. Hà Nội của lụt, cũng là Hà Nội của giặc phá. Tai nạn gì cũng làm cho khu bờ sông -- đứa con nhà nghèo, như là bị bóc trần ra, không có chỗ dựa. Lần đầu tiên, khu An Dương bị bom. Những mái nhà bật tung lên, cát bị hất lên mái nhà -- ở cái bãi cát chỗ ngã ba sông, trước khi đổ ra bãi giữa, tôi thấy một Hà Nội muốn lẫn đi trong cát. Chiến đấu, súng cũng vùi trong cát. Xe ô tô tải, xe xích tìm một chỗ cuộn trong cát. Và tốp người bỏ nhà khênh những tấm ván ra làm trên cát. Trong buổi chiều mùa đông, đất trời ảm đạm, cây dâu xanh như lẫn đi, màu nước bạc cũng hóa xỉn đi. Thấy cuộc đời này vừa vô tận, vừa sinh sôi, lại vừa mong manh, mỗi kiếp người thật mong manh.
Tôi không cầm được nước mắt, khi thấy một đứa bé đi theo mẹ ra hầm. Em bé gái độ 3 - 4 tuổi, cái áo đông xuân cũ của người nhớn mặc trùm kín đít em cầm cái chổi lúa vừa đi, vừa nói với mẹ. “Con cầm chổi đi, như là con ra trường làm vệ sinh, mẹ nhỉ.” Thế nghĩa là em còn nghĩ tới bao nhiêu điều tốt đẹp. Em còn nghĩ đến ngày em đi học.
26/12
Tối hôm qua, đi cùng với Đoàn Công Tính ra phố . Buổi tối vắng người. Và tôi tưởng tôi có thể đi suốt cả tối, đi trong im lặng, đi trong niềm vui duy nhất: có một người cùng đi với mình, thế là được rồi. Ngoài ra thì tôi không muốn nói gì nữa, và cũng gần như không muốn nghe gì nữa. Hạnh phúc, mất mát tất cả đều là có thật. Hy vọng ư? Nên lắm. Vô vọng ư? Tất nhiên thôi. Cuộc đời là mong manh, là thay đổi, là bị vượt qua- tôi đã già đi, đã yếu đi. Tôi đã cảm thấy bất lực trong mọi ý nghĩ. Nhưng rõ ràng, vẫn có đó, một đời sống, một hy vọng, một cái gì thành nếp. Có những người đẹp, có những niềm vui --những niềm vui trong sạch thật sự chứ không phải những niềm vui tầm thường --, những ngôi nhà rêu phong, nó là những gì có thật. Còn con người, làm sao được? Nhưng tất cả những gì còn lại, nó là của con người. Và chúng ta, những người sống, là sống cùng với tất cả những gì còn lại đó.
Ban đầu, chúng tôi đi vào khu phố mạn Quan Thánh, Hàng Bún.
Hàng Bún vắng, tối, cái vắng vẻ đáng yêu mọi ngày trở thành một sự gì ghê sợ. Tất cả các nhà đều đã bỏ đi hết. Tưởng nhiều nhà là cái nhà hoang, xộc vào, ở trong sẽ có ma. Chúng tôi không vào, chỉ ngước lên trời. Bầu trời Hà Nội trong các ngõ vắng thành những đường thẳng, bầu trời hình chữ nhật, hình vuông, một thứ bầu trời giữa các nhà 2 tầng, 3 thầng. Đã có chỗ chúng tôi thấy những bầu trời qua các mái ngói bị lật tung ra. Bầu trời thành từng ô, từng ô - nó cũng bị xé rách.
Đi vào phố Cửa Bắc, chúng tôi đã đến gần nhà máy điện. Ban ngày, đã thấy hai ống khói vặn vẹo. Ban đêm, chúng tôi chứng kiến một dấu hiệu cái chết kinh khủng hơn -- cái chết yên lặng. Cái nhà máy vốn ồn ào. Vắng những tiếng tuyếc bin mọi khi, hôm nay nó như một nhà mồ. Tính bảo: Hình như nó phát ra cả hơi lạnh nữa. Tính nhớ tới những cái bốt hồi kháng chiến chống Pháp. Đi qua đấy, mẹ bảo phải im lặng không được ho. Không được khóc. Cái nhà máy điện ấm nhất thành phố, nóng nhất thành phố, hôm nay như vậy. Không thấy cả người lính CANDVT đứng gác mọi khi. Ở một vòm đá, như ở cái lỗ chào mào thò ra, còn ánh sáng, không chừng có ai còn ở trong đó.
Chúng tôi đã đi quanh nhà máy. Trở lại phố Hàng Bún, đi quành phố hàng Than. Đường phố Hà Nội dạo này trớ trêu, có quãng điện sáng y mọi ngày. Có quãng ngọn đèn chỉ là một chấm đỏ y như những chấm hương. Và cả phố là một cái áo quan thật dài. Những liên tưởng của chúng tôi hơi tệ chăng. Nhưng chưa bao giờ Hà Nội biết đến chiến tranh kinh khủng như vậy.Ở phố Hồng Phúc đã thấy người ta đào hầm ngay bên hè, đất đắp cao lên, như một thứ hầm kiểu riêng của thành phố. Nhìn xuống dưới hầm, một ngọn đèn dầu, mấy mặt người nhóa nhòa bên trong. Tính bảo y như Quảng Trị.
Không hiểu sao, trong những ngày này, tôi lại nghĩ nhiều đến tình nghĩa. Nghĩ đến tình bạn. Tôi muốn đến mọi người để mà biết rằng họ không việc gì trong những ngày bom đạn vừa qua. Tôi ngồi trong phòng các bạn im lặng. Không biết nói chuyện gì. Không dám cười, không dám nói xấu ai -- như mọi khi vẫn làm. Chỉ ngồi đấy, nghĩ rằng có nhau. Có cái cuộc đời buồn bã này.
Trên con đường Yên Phụ, một đôi nam nữ đứng với nhau, điếu thuốc lá của người con trai đỏ lên trong đêm. Ở phố Hàng Than chúng tôi thấy một đám cưới. 7g 30 tối, đám cưới đã không còn khách nữa. Hai hàng ghế sạch bóng. Có lẽ chẳng có mấy khách, đèn sáng, trên tường tấm vải đỏ dán chữ song hỉ thật trắng.
Hạnh phúc? Chưa chắc. Nhưng vẫn là hạnh phúc. Lúc này, người ta vẫn phải cưới nhau, vì cái hạnh phúc bao lâu nay chuẩn bị, bây giờ đã chín muồi, cuộc sống của cả đất nước trì trệ, nhưng cuộc sống của mỗi người vẫn là phải vận động, và bởi cái nọ đặt trong cái kia, ghép lại làm nên một bi kịch.
27/12
Khi một người đứng đắn nhất cũng đã phải kêu, thì không phải chuyện thường . Đó là Hữu Mai.
-- Năm 72, ông ấy bị bao nhiêu chuyện bất ngờ. Nixon qua Trung quốc, Liên Xô. Nó làm được như thế, là một thứ bất ngờ. Đánh vào Quảng Trị, dân không nổi dậy - bất ngờ. Quân ngụy trụ vững - bất ngờ nữa. Cuối cùng, là việc nó đánh ra như thế này. Trong một năm, bị bao nhiêu chuyện bất ngờ thế còn nói gì nữa.
Văn Thảo Nguyên kể ở trên một chuyến đò qua sông Hồng, dân chửi không biết trên là ai chỉ gọi Trần Duy Hưng:” Nó chỉ sướng cái thân nó. Nó có hầm có hố cẩn thận rồi mà.”
Một người cán bộ bực bội nói lại, cáu lắm, tưởng có thể vứt người kia xuống sông.
Đại khái dân thắc mắc vậy mà người ta thì làm công tác tuyên truyền theo kiểu vậy. Một lần, ông Cục phó của chúng tôi đến bảo: Nó đánh B52 thế này là mình càng có dịp lập công. Còn trên đã dự kiến rồi, ta không chịu đi sơ tán, ta chết là tại ta.
Khốn khổ, lúc nào cũng nói là ta đã dự kiến rồi. Y như một người bị đánh hộc máu mũi nói với thằng khốn nạn “nó đánh mình biết mà, biết mà”, “biết là mày sẽ đánh hộc máu mũi tao mà”.
Nhiều cán bộ nói một cách vô liêm sỉ: Bây giờ nó chỉ còn có cách đánh Hà Nội là cùng chứ gì? Cứ dương dương tự đắc về một thứ thế cùng mà mình bị dồn nó vào như vậy.
Không ai nghĩ đến dân chết. Rất nhiều dân chết.
Có người nhớ tới chiến tranh thế giới thứ 2. Nhật hoàng vì thương dân mới quyết định đầu hàng.(Theo công bố trong tuần đầu Mỹ đã ném xuống một khối lượng bom bằng 2 lần số thuốc nổ quả bom ném ở Hirôsima)
Lại xoay sang tình hình hòa đàm, mặc cả. Đài bên kia công bố họ đòi 5.000 quân kiểm soát. Ta chỉ cho có 250, lại không có điện đài, phương tiện. Âm mưu là để giữ quyền tiếp tục khống chế miền Nam.
- Ta nghĩ cạn lắm cơ. Nghĩ rằng mình có quyền ràng buộc nó vào một hiệp nghị. Nghĩ rằng nó sẽ phải tôn trọng trong khi thực tế, nếu cần lúc nào nó cũng xé toang những cái đó.
- Bây giờ không thắng nổi nó lại còn tính chuyện thắng nó trong tương lai!
Và người ta mở rộng ra:
- Phen này ta vào Sài Gòn xem không một vụ chém giết kinh khủng chắc? rồi đưa dân Sài Gòn đi, chiếm nhà, có khi lại còn chiếm vợ con nữa. Ký hiệp ước ngày 26/10, mình không làm một cú tràn xương máu ấy à.
- Nghĩ cho cùng cách mạng mấy chục năm nay, chỉ thấy phá chưa thấy xây gì. Hưng Yên, Nam Định, Phủ Lý ngày xưa lúc thị xã nhỏ đẹp lắm... Phá thành phố, phá đình chùa, phá cả những nền nếp cũ.
Mỗi ngày đài lại có những bình luận:
- Tai họa Việt Nam cũng tựa tai họa của Ni ca ra goa.
- Kẻ thù của loài người là vô vọng.
- Chiến tranh hiện nay: chiến tranh tùy theo sự tức giận.
- E. Kennedy: Người ta đã phải nghe quá nhiều lý do đã trở thành nhàm tai từ cả hai phía, mưu chiến cũng như phản chiến.
Tôi đang cùng mọi người ngồi trên khu sơ tán Hương Ngải để nhớ lại
Tối 26/12, Mỹ ném bom dữ dội khu Khâm Thiên. Nhà lá dạt xuống.
Tối 27, một B.52 rơi Bách Thảo.
Tối 28, ném Nhật Tân, Chèm...
Tiếp tục họp được với nó, tưởng đã có thể xong. Có một hồi đã có nhận định: Bây giờ sức mạnh của nó là không gì ngăn cản nổi. Nhưng mà lại miệng khôn trôn dại, bây giờ lại vẫn ì ra, im.Thương nhất là dân. Hết đám này bới chưa xong, lại đến đám kia.
Nhị Ca: Biết cách làm ăn của mình rồi. Ngay thời thịnh trị, có mỗi cái máy mà toàn phu khuân tay, phu thì đói làm ăn chẳng ra gì, chỉ thấy toàn khẩu hiệu.
Mỗi ngày của người ở sơ tán bây giờ là như thế này. Sáng đến gặp nhau, bàn nhau “Hôm qua nghe ghê quá, nhất là mạn Hà Nội". Trưa ra đứng đường, chờ xem có ai Hà Nội lên, hỏi tin tức. Tối, 6-7 giờ, ngồi nghe đài --Nghe BBC mà tiếng nhạc đã gợi nhiều hứa hẹn đến mức có người gọi đùa là quốc ca (!)
Nguyễn Khải: nghe nói bây giờ mình lại có lý luận về sức ép tối đa. Cố qua kỳ sức ép tối đa này, rồi mới tính được mọi chuyện. Bây giờ mà nó lui, thì lại bảo nó không thể chịu đựng được đòn phòng thủ của ta. Phương châm của ta là đánh tiêu diệt cơ mà.
Nguyễn Minh Châu: Lúc cần thì ca ngợi Hà Nội ghê lắm. Lúc này thì hy sinh cả Hà Nội cũng sẵn sàng.
Trong những ngày đánh phá ác liệt chuyện gia đình vẫn điểm xuyết vào, nhẹ nhàng mà xót xa.
Ng Khải: Lắm lúc nghĩ mình cũng thấy buồn cười. Cả đời mình đóng vai một thứ nhà văn quân đội, cũng đi chiến trường, cũng được tiếng là xông xáo. Thế mà động thấy xác chết, là tôi cứ sa sẩm mặt mày, cứ buồn nôn thôi.
Trong năm nay, có một chuyện nhiều lần phiền muộn. Đứa con lớn xin đi bộ đội. Tôi đã phải nói rất trang trọng: "Bố nhận là bố có lỗi, với con. Nhưng con ạ, sao con không lo tiếp tục học cho giỏi đi " "Con không muốn rèn luyện dưới mái trường XHCN nữa. Bây giờ là lúc chiến tranh, con muốn rèn luyện ngoài chiến trường.”
Nghĩa là nó toàn dùng những chữ thật sáo cả. Thế nên mình cứ bấm bụng chịu, mình cũng phải dùng những chữ sáo ngược lại. Khổ, ăn nói học theo văn chương ông Hồ Phương cả. Cái loại này, đúng là đưa sang Trung quốc làm cách mạng văn hoá thì đắt lắm đây.
... Bây giờ mà viết một quyển sách, nói bố thì sợ chiến tranh con thì thích chiến tranh, toàn bộ hai bố con lý lẽ với nhau, suy nghĩ khác nhau thế nào. Viết độ 150 trang thôi, ra hết vấn đề rồi còn gì.
29/12
Những nét tâm lý thời chiến ?
Chiến tranh vào mỗi cá nhân, ví dụ một cá nhân như tôi, thật ra cũng không nhiều những phút hoảng loạn.
Nhưng trước hết, chiến tranh là những dằn vặt liên tiếp. Chiến tranh là những phút ngồi oán giận không biết gây ra từ nơi nào, và sẽ kết thúc ở nơi nào.
Trong chiến tranh, người ta sống bằng gì? Sống bằng hy vọng rằng chiến tranh sẽ đi qua. Rồi lúc chán quá thì tự an ủi rằng chiến tranh có thể mang lại cho mình những kinh nghiệm sống bổ ích. Cũng là một thứ A.Q.
Đến với Khâm Thiên trong cảnh tàn phá
29/12
Gần như mỗi ngày, tôi ra Khâm Thiên lại thấy một khác. Y như một công trường: Nước dềnh lên trên lòng đường. Máy đứng, cái tay gàu xoay ngang xoay dọc.
Nhiều kíp thợ cùng làm việc. Những cô TNXP hay những cô phu hồ? Giờ nghỉ, các cô ngồi chật cửa hàng bún, bánh.
Những người thợ điện ngồi vắt vẻo trên cột điện kéo lại đường dây. Những người chữa điện trong các gia đình, cầm theo một đống công tơ.
Cả thành phố đều có việc. Cả cái thành phố không thể vô can đối với sự kiện này.
Không một quả bom nào rơi trúng lòng đường Hà Nội.
Lần nào đến Khâm Thiên, tôi cũng ra xem mặt sau của phố xá. Nơi đây, một cái hồ lớn, chứa nước cống của thành phố. (Còn nhớ hôm nọ, trong đêm, tiếng nước rơi xuống đá kêu lanh tanh). Đoàn Công Tính tỏ ý hơi lạ khi những người dân hai bên hồ vẫn ra hồ rửa ráy. Nhưng Hà Nội lâu nay vẫn vậy (Anh Thơ viết tựa cho hồi ký Vân Đài kể ” Nhà chị Vân Đài gần Hồ Gươm, thường ra đó để giặt dũ “)
Có một Hà Nội ở sau các phố xá. Thường đi qua Hàng Bột, nhìn qua lối ngõ tôi vẫn cứ thấy một vệt rau màu xanh. Tôi biết có một Hà Nội bề mặt và Hà Nội sau lưng cái bề mặt ấy, một Hà Nội các xóm nghèo.
Nguyễn Minh Châu: Không biết đây là mở đầu, hay là kết thúc của cái thành phố nữa.
Thành phố chúng ta nghèo... như một niềm chung thuỷ, một cách sống nhũn nhặn, một triết lý bám vào cuộc sống mà sống.
Những mảnh đất bị bom được san lại. Cố sống cố chết, người ta kiếm được ít cọc đóng quanh nền. Dựng tạm lên một túp lều.
Không giống các vùng nông thôn, Hà Nội lên lại nhà cửa theo kiểu của mình . Tôi đã thấy những túp lều chụp ni lông. Những mái gác phủ bạt. Những cái nhà, cả mái, cả cái gọi là tường, đều quây bằng một thứ bao tải muối. Nhưng mà cốt sao được một chỗ che mưa nắng. Vì trong khi đó, tết vẫn đến, cái tết tuần tự, mà vẫn thấy êm đẹp và đầy hy vọng.
Một mái nhà bị hơi bom làm sụt một góc, người ta dựng tạm nhà cửa lên. Đó là một hiệu may, những miếng vải nằm một xếp dài trên bàn, một cô gái vào thử áo vinilon trông khá diện, cô chủ hiệu trông cũng nhẹ nhõm. Nói theo chữ nghĩa đời thường, phải làm thế để kiếm lấy một cái tết. Công việc làm ăn kéo đi... Rồi hôm mùng một tết, mới thấy người ta ngồi, người ta khóc vì những mòn mỏi của kiếp người, về việc góp và tan, làm và nghỉ, hy vọng và vô vọng -- tất cả những cái dường như vô nghĩa nhưng đó lại là cả cuộc đời. Ta có gì khác đâu?
Nhưng mà thực ra cái gọi là cuộc đời, cái chuyện đó, rối lắm.
Chiến tranh đến một thành phố, nghĩa là gạch, gạch đổ, bới gạch, bới vôi. Những đống gạch lớn, tấp vào nhau, nó không như đất. Người ta còn phải dỡ từng viên gạch lên. Ngồi cạo cạo cho hết vôi. Rồi lại chồng gạch đống lại, gạch tạm làm tường.
Gạch là những gì cố định của một thành phố.
Chẳng phải hôm nọ, cậu Tụng nói: Nó sẽ đánh đến không còn một viên gạch nguyên là gì.
Đến khu Khâm Thiên bây giờ, tôi thấy đều đều một tiếng lạch cạch. Tiếng của những con dao gõ vào gạch. Tiếng của thời gian. Một thứ nhịp điệu rất Việt Nam, tôi biết. Nhìn những nhà cửa này, nhiều lần, tôi liên tưởng tới những người tị nạn bên Palestin.
Một triết lý về sự sống -- chịu đựng. Và trong đó sẽ nảy sinh sự sống.
Sao mà tôi quên được những em bé ở Khâm Thiên, tôi nhớ những em bé đi nhặt rác. Đất ven Khâm Thiên xưa vốn là bãi rác. Những đứa trẻ mà chúng ta hay tuyên truyền là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sạch sẽ ngoan ngoãn -- những đứa trẻ ấy đang đi nhặt rác. Con gái cũng quần phăng, giầy ba ta cho gọn ghẽ. Mỗi đứa cắp một cái rá, tay cầm một cái que bới. Bọn chúng quây lại đông nhất chung quanh một cái xe ủi. Mỗi lần xe chạy qua một đống đất, ủi đi một lớp đất, sau xe, lại phơi ra một lớp đất mới, trong đó trong gạch vụn có thể lẫn đủ mọi thứ. Bây giờ thì thứ gì cũng quý .
Một lần khác, tôi không khỏi rơi mắt trước cảnh một em bé khác. Em chỉ độ 4, 5 tuổi. Em ngồi trên một đống gạch. Trong khi mọi người ưu tư lo lắng, em còn làm việc gì khác ngoài ngồi nghịch? Những cục vôi trắng bay vẩn lên trong buổi chiều. Em nghịch gạch vụn... Tôi vụt nghĩ một lần nào đó, sẽ được đọc một bài viết trong đó một thanh niên kể tuổi nhỏ anh ta là những ngày chạy theo xe rác trên những hố bom phố Khâm Thiên.
Hỏi ấn tượng về Khâm Thiên hôm bị bom. Tối đầu tiên, cô Cư bán hàng dươi đó nhớ tiếng vịt kêu. Xuân Trình nhớ những bươc chạy. Nhật Minh nhớ những thân hình người chết nằm, đất phủ đầy đầu.
Với cậu Giao em họ tôi, Khâm Thiên ngày 27/12 là cảnh người nằm đầy, mỗi người như một tàu lá chuối. Mùi hương thắp lên ghê ghê. Đến nỗi về sau, mỗi lần ở nhà thắp hương, Giao vẫn hơi sợ.
30/12
Chiều đi với Tính. Nhà anh Hồng đốt sách dọn nhà. Một người đàn ông dắt xe đạp giữa những hàng cây cụt ngọn. Những đống gạch dọn được đổ ngay ra đường.
Cái âm khí của những ngày đầu tiên, thể hiện ở những nét mặt người. Người dân Hà Nội mất đi cái vẻ ranh mãnh bình thường. Chỉ còn tập trung vào một việc nào đó.
1/1/73
Vãn lo một trận bom bất ngờ.
Buổi tối, người đứng ở ven Ba Đình, cả những người xe đua (đi học nước ngoài về) trong như một họ ở sân ga, sắp đi xa cả một lượt nữa.
Người ta ngủ ngay ở bãi cỏ. Cái xe đạp lật ngửa lên làm cọc màn luôn thể. Người ta ngự như thế ở vườn hoa trước Bộ ngoại giao. Ở đường Chu Văn An, ven đại sứ quán Tiệp Khắc, ở gần khách sạn Thống Nhất.
Ở Bách Thảo, thấy mấy đứa trẻ con nhấp nhổm, ở một cái miệng cống. Đó là một cái cống lớn. Dân cũng tụ tập . Những lời than phiền cất lên cho đỡ vẻ cô quạnh.
- Anh bảo ở ta làm sao có được công việc lâu dài. Mà biết gì mà tính lâu dài bây giờ. Đến nhà nước còn không tính lâu dài, được nữa là mình. Như cái cầu Long Biên kia, lắm lúc nghĩ chữa làm gì, chữa vài hôm rồi nó đánh lại hỏng.
... Lắm lúc nghĩ, nó đánh, thì đánh trúng cho chết đi luôn thể. Kiếp sau làm người khác, người Mỹ, người Anh. Làm người Việt mình khổ quá.
Anh Bản, anh họ tôi bảo: Các ông ấy bây giờ đã lấy được nước, lại làm được bao nhiêu việc nữa. Cái xã hội bây giờ hơn xã hội ngày trước chứ. Làm gì có đĩ bợm, cờ bạc. Cho nên các ông ấy muốn làm gì dân cũng phải chịu. Dân khi cần còn phải ở với cả giặc chứ gì nữa?... Chứ còn, chú xem người ta chết như thế, lại còn mang loa đến mà hát, thì người ta nghe, người ta có chịu được không.
Chị Yên: Một bên thì bảo đánh đến không còn một người. Một bên thì bảo còn một người cũng đánh. Thế là hòa.
2/1 /73
Ngõ chợ ngổn ngang. Người ta đổ các thứ ở nhà ra đường cái cao đến mái nhà. Đường dắt xe đạp vồng lên vồng xuống. Người ra vào rất đông . Nhiều người Hà Nội gặp nhau ở Khâm Thiên. Mỗi người Hà Nội tìm thấy một ý nghĩa với cuộc đì mình. Đủ thứ ký ức thoáng hiện trong câu chuyện .
Đứng trong đám quấn khăn tang nhặt nhạnh lại đồ lề một người đàn ông chửi: Toàn một lũ đi xem cả. Nhà người ta còn bận, ai dểnh dang như chúng nó.
Nhiều lần thấy cùng một dòng chữ trên tường:
Anh X, nhà an toàn cả. Anh có về, tìm đến...
Vẫn đang lật đống vôi gạch đổ, tìm người - Xe ủi làm việc tay gầu ngoạm vào đất, đổ ra nhiều người đứng xem. Một người nào đó kêu ầm lên: Thôi, có người rồi, thối quá...
Cũng như tất cả các khu phố khác của Hà Nội, Khâm Thiên mang trong mình nhiều người, nhiều nghề nghiệp.
Hình như ý nghĩa Khâm Thiên là ở chỗ này: tính đại diện. Khâm Thiên là hình ảnh thu nhỏ của Hà Nội. Lâu nay, Hà Nội đã đóng góp vào cuộc chiến đấu. Nhưng đôi lúc, chúng ta vẫn tưởng rằng Hà Nội vô can, Hà Nội không dự gì vào cuộc chiến đấu này cả. Chính những nghèo nàn, vất vả của chúng ta hôm nay, đã là dấu tích chứng tỏ Hà Nội đã chia sẻ không thiếu thứ gì. Và đã hỏng là hỏng nặng .
13/1
Người công nhân kể chuyện chữa lại cổng. Ngõ chợ đã dọn sạch. Một người chạy từ ngoài đường vào hỏi: Anh ơi cho hỏi số nhà 15 có việc gì không.
Một người xích lô chỉ vào chỗ xe ủi xúc gạch tìm người : Kìa ở chỗ kia, đang thòi ra cái trán.
14/1
Người Khâm Thiên đi thăm nhau, một số ra thẳng nghĩa trang.
19/1
Những gian nhà xếp gạch chồng thành tường. Cuộc sống đi vào hàng lối trong cái thế đơn sơ của nó. Cho đến cả những mảnh giẻ rách cũng được xếp vào một chỗ. Một đống khác: một vạt lông gà. Một cây chuối còn sót lại trở thành cọc tiêu cho người ta dóng hướng.
Cuộc tìm bới những nhà cũ, chỉ kết thúc, khi người ta tìm thấy nền.
Thu dọn vôi gạch thế nào, cuối cùng cũng phải làm trơ ra cái nền.
Như là tất cả được xem xét lại. Đồ lề mỗi nhà được đánh giá lại. Lúc này, người ta mới hiểu người ta có những thứ gì.
- Cho đến việc lấp hố bom, cũng chỉ hoàn thành, khi người ta đủ đất san thành nền.
Ở trên cái nền đất phố Khâm Thiên, tôi lại thấy lật ra cái hầm cá nhân. Có lẽ chỉ có cái hầm là cái gì ở sâu hơn hết trong mỗi nền nhà.
25/1
Em bé đội lông gà, giẻ rách cầm tờ báo xuân đọc. Một em bé nói với một em bé khác “Chị còn được bố. Em mất cả mẹ, mất cả bố”.
Những buổi chiều, mặt đất như dịu lại sau một ngày của công việc. Buổi chiều là thời gian của gia đình, của những người đi làm đủ mọi nơi quay về ngồi quanh mâm. Buổi chiều là thời gian của ngơi nghỉ.
Và cuộc sống Hà Nội còn nhân lên gấp đôi trong những buổi tối. Nếu như buổi tối mà vắng vẻ, thì còn gì là Hà Nội nữa.
Cuộc chiến tranh ở thành phố bao giờ cũng là một cuộc chiến tranh toàn thể. Không ai có thể vô can trong đó.
Đến với mỗi gia đình, cuộc chiến tranh là sự vắng mặt của người đi xa.
Từ nay, ta có Khâm Thiên như một cái gì đó của Hà Nội. Mỗi lần, có chuyện gì đấy, chúng ta lại nghĩ tới Khâm Thiên.
Chiến tranh đến với thành phố là phải ngưng lại.
27/1
Những đọt dừa non lại đã nẩy trên những cây dừa trơ trụi của phố Khâm Thiên. Nhưng nhiều mái nhà xô ngói, thì vẫn chưa được lợp lại.
Chỗ nào có trẻ là chỗ đó có trò chơi. Nhiều trẻ học sinh hoạt công cộng, thứ sinh hoạt công cộng rộng rãi nhất, trong lời báo máy bay: “Đồng bào chú ý, tây bắc Hà Nội...”
Tiếng báo động đã tập họp cả thành phố. Không có sinh hoạt công cộng nào có sức tập hợp thành phố, như tiếng còi báo động, và sau đó, còi báo yên.
Khâm Thiên chứng tỏ một sức hồi sinh của Hà Nội, cách hồi sinh của một thành phố nghèo.
Có sức sống của những thành phố giàu và sức sống của những thành phố nghèo. Những thành phố nghèo bao giờ cũng tự chứng tỏ nó sống với nghĩa là nó không chết. Nó cũng sinh sôi. Ở đâu đó, sự sống người ta biểu hiện ra ở trí tuệ. Ở đây chỉ là bản năng sinh sôi. Bản năng làm dáng theo cách nghèo của mình. Những người thanh niên mốt nhất là những người thanh niên nghèo.
Phút tần ngần của tôi, khi đứng trước đống đồ đạc. Tôi không muốn chia tay với căn phòng nhỏ này trong nhà số 4 Lý Nam Đế. Tôi không muốn đi sơ tán. Tôi không muốn mất mát gì cả.
Có lúc thoáng nghĩ về một cái gì đó, như là nhịp điệu của Hà Nội.
Nghĩ đến những phố xá như Hàng Buồm, người đứng đầy trên đường phố, đường phố bẩn thỉu, người đứng nghênh ngang như là ở giữa căn nhà nát của mình, người đi lúc nhúc đến nỗi, giá có thể đạp lên đầu nhau, cũng vẫn tiếp tục đi được.
Nghĩ đến cái nhịp điệu của xe bò. Xe bò qua phố Lý Nam Đế chúng tôi sớm chiều, cái tiếng móng gõ trên đường nhựa không dứt trong thời gian, và nhìn ra, dòng xe không dứt trong đường phố không gian.
Gì thì không có, nhưng cái nhiều thì ở Việt Nam này quá rõ. Nhiều người, nhiều việc, nhiều rác, nhiều bụi bậm…Đành lấy tất cả những cái đó, để thay cho tiến bộ, trí tuệ, khoa học và kỹ thuật.
... Và tất cả những cái đó làm nên nhịp điệu của Hà Nội. Nhịp điệu của xe đạp lép nhép đạp trên bùn. Nhịp điệu của tàu điện.
1/2
Lại đến Khâm Thiên. Cột điện nghiêng đi, ở trên đèn vẫn sáng. Những mầm xanh trên những hàng cây bị long gốc. Cống nuớc chảy, đã xây xong. Một vòi nước mới bắc. Những người đi gánh nước, xếp hàng một dãy dài.
Một đài kỷ niệm mới lập. Triển lãm. Trẻ con nhìn ảnh nhận mặt. Kìa, bà cả . Kìa anh Tư (trong ảnh, thấy rõ gạch ngói còn ngổn ngang trên đường).
Khôi phục mới chỉ có nghĩa là san, dồn lại những gì phá phách của chiến tranh. Nhưng còn những tình cảm, làm sao mà san dồn cho được.
Khâm Thiên ngày tết. Những người trong gia đình, ngồi dựa lưng vào những bức tường gạch kê, trò chuyện. Một cái khẩu hiệu trên tường: Không có gì quý hơn độc lập tự do (có lẽ do người ta ẩn đến nhét vào). Ánh đèn rực rỡ lúc này trông lại đáng sợ.
- Những nền nhà gác nghiêng đi, ở dưới nhà người ta vẫn bày biện đủ thứ ảnh, khẩu hiệu. Đến 29 tết, tôi còn thấy người ta tay dao, tay thước, xây tạm nhà cửa.
Cái định nghĩa về nhà cũng giống như định nghĩa về mỗi con người chúng ta hôm nay: chắp vá, tạm bợ, chỉ cốt có một cái gì cơ bản nhất, ngoài ra thì không có gì nữa.
Đúng hơn, tất cả được định nghĩa lại. Ví như người bây giờ rút lại chỉ là biết ăn uống, nói năng, biết làm theo ý định người khác. Còn nhà là một chỗ trú nắng, trú mưa. Thế thôi. Ở giữa phố, có một đài kỷ niệm, một cái giá gỗ cao hình cong (Nghiêm Đa Văn bảo như một cái sừng) được dựng lên.
Vợ chồng nhà Nghiêm Đa Văn cãi nhau: người ta lúc thì gọi là bia căm thù, lúc thì gọi là đài chiến thắng, ai đúng. Người đến xem để xe đạp một hàng dọc đường, như vào một cửa hiệu.
Tôi nghĩ tới cái gia đình sống bên cạnh đó, mọi người dòm hành vào, mất hết cái riêng tư vốn có . Đây cũng là một hậu quả của vụ Khâm Thiên, chứ sao?
Gương mặt tang thương của hoà bình
9/1
Sau một ít ngày ngừng bắn, ở bên kia, ông Lê Đức Thọ và Kissinger vào họp.
Nhị Ca:
-- Ông Hữu Mai thì luôn luôn chủ quan (Mỹ nó chịu rồi) ông Khải thì luôn luôn bi quan (ta cũng chịu rồi). Tôi thì tôi khách quan, tôi thấy cũng chả biết đâu mà tính được.
Xuân Sách: đúng là hai thằng điên đánh nhau.
Khải: Nhìn lên ảnh, thấy các cụ đi thăm dân mà đoán tình hình. Cứ cười cười như thế, trong bụng lại không lo sốt vó ấy à. Mọi khi nó đánh xong, nó bảo hòa bình, mình trong bụng đã thích lắm, nhưng cứ chửi vung tàn tán lên. Bây giờ đánh xong, nó bảo nó sẽ đánh nữa, thế là mình lại sợ.
...Ông nào cũng cứ bảo: Mùa khô nữa, mùa khô nữa. Nhưng mùa khô nữa thì lấy đâu ra lực mà đánh. Phen này rồi xem.
Nhị Ca: Có thể nó đánh cho một cú quỵ hẳn, rồi nó rút đi, để lại cho thằng Thiệu. Vấn đề tù binh chỉ là chuyện chính trị.
Khải: Rồi mình lại nhò ra từ đống gạch vụn mà đánh đến cùng chắc? Tôi cho phen này mình mà hỏng, thì tức là đi tong cả một sự nghiệp. Còn nặng hơn cái ông Indonesia nữa.
Nhị Ca: Ngay từ những năm 64-65, tôi đã linh cảm thấy mọi thứ. Cái lần nghe ông Thanh nói rằng chiến tranh thử thách của một chế độ với lại đã cân nhắc kỹ... tôi đã hơi sợ. Đến năm 1969, nghe nói mình vỡ hết cơ sở, thì tôi càng thấy linh cảm của mình là có lý.
Khải: Mình lại đang nói đây là thắng lợi có tính chiến lược. Lắm thứ lắm cơ.
Nhị Ca: Toàn là quân sự vị quân sự, chứ không thì là quân sự vị nhân sinh.
Khải: Mỗi lần nghe nói các ông ấy đang thí nghiệm vũ khí mới, tôi lại nhớ đến phát xít Đức. Trước lúc chết, nó cũng còn hy vọng ở vũ khí mới .
Nguyễn Khải : Không hiểu sao, dạo này, tôi toàn đi húc vào toàn những chuyện phát xít Đức trước lúc đầu hàng -- có nhiều chuyện thấy y như mình!
N .C: Thì hôm xem phim Quân phiệt cũng thế. Các tin tức đánh về chỉ nói toàn thắng, trong khi thật ra, các tướng đã đầu hàng mẹ cả rồi.
N.K: Phim Chủ nghĩa phát xít thông thường mới ghê. Tôi nhớ cái đoạn cuối Hitler ra động viên những thằng lính trẻ con thì kinh thật.
Thế mà hồi trước, bọn trẻ ấy đã từng lăn xả vào, cốt để có thể đứng gần phuy-rê hơn. Cả những người đàn bà. Người ta không thể biết rằng 10 năm sau, người ta sống nỗi cay đắng của nước Đức thất trận. Một học thuyết đã được chuẩn bị từ những việc rất vớ vẩn. Thế mới gọi là chủ nghĩa phát xít thông thường...
Nhàn: Lúc trước, nó cũng còn hay nói quyền lợi vật chất để lừa dân Đức?
Khải: Không, chủ yếu, nó cũng nói về những chuyện tinh thần chứ. Năm ngoái, cái lần tôi đang ở đường 9, đọc tờ báo, thấy thanh niên đốt đuốc, tôi cũng thấy kinh như vậy.
...
( Từ lâu rồi, ông Khải đã kể với tôi: Xem cái anh Chủ nghĩa phát xít thông thường, từ những năm trước 1964, nhiều người đã thấy buồn cười. Ví như lúc vào một viện bảo tàng. Vào ngay cửa, đã thấy ông Hitler. Đến hàng chục Hitler, ngang có, ngửa có. Thế là mọi người cười ồ cả lên. Phải cái ông M. Rom, ông ấy đã sống trong những năm Stalin ông ấy mới đủ tưởng tượng để làm bộ phim ấy.)
E. Kennedy: Bao giờ để chúng ta có thể khỏi làm tù binh trong cuộc chiến tranh này?
15/1
Trong những ngày căng thẳng này, tôi cảm thấy lý trí như là bất lực: không thể nào hiểu được các sự kiện, và cắt nghĩa nó đến cùng.
Nhưng lại có thể thấy bất ngờ khi những người dân thường hiểu nó bằng bản năng.
Niệm kể bà mẹ của Niệm đi sơ tán, nói chuyện với chị chủ nhà hàng hai giờ liền
- Này, chị ấy nói thế này mà đúng -- bà kể -- Bây giờ mà giặc cỏ nổi lên, thì vợ con bộ đội, với những gia đình cán bộ lại khổ.
16/1
Tuy là một "thằng nhóc" tôi lại được dự vào một sự biết trước. Hình như hòa bình đang được người ta nâng nâng trên tay, đánh giá: ờ, thế này thì vừa. Được, được...
- Có tiến bộ bất ngờ trong cuộc hội đàm
- Hai bên đã bàn luận một cách nghiêm chỉnh (Mỹ cũng cho là nghiêm chỉnh)
Và cũng vào ngày thứ hai, một buổi trưa thứ hai, người ta xì xào: Ngừng bắn toàn miền Bắc.
Hòa bình là gì vậy? Hòa bình là một điều tối thiểu cho sự phát triển cuộc sống . Hòa bình là ánh sáng ban ngày bình dị. Nó đến rồi đây,quay trở lại rồi đây
Nhưng mà không hiểu sao, tôi lại bắt đầu buồn ngay được. Tôi dự cảm rằng những ngày sắp tới, người ta sẽ buồn. Nguyễn Minh Châu: Tương lai vẫn là vô định. Quá khứ không được đánh giá một cách rõ ràng thì lấy đâu mà tính được tương lai.
Đêm đầu tiên nghe tin hòa bình (15/1), tôi và Tính ngồi uống rượu -- chúng tôi kiểm điểm những ngày hôm qua.
Ngày mai, công việc ngổn ngang. Một thằng thanh niên trí thức như tôi, một thằng có ý chí và ham muốn như Tính, vẫn cứ thấy là bé nhỏ quá đi.
Riêng tôi, tôi vốn là một người cả lo. Sao tôi cứ lo những thảm họa sắp tới. Cái điều có thể chắc chắn, như Nguyễn Khải nói, những bi kịch cá nhân vẫn còn. Biết những bi kịch đó sẽ rơi vào đầu ai.
23/1
Có thể cả quyết đến 90% rằng đêm nay là giao thừa của hoà bình.
Bùi Bình Thi: Tôi xem bản tin nhanh ở chỗ ông Trần Lâm. Ký tắt rồi. Rồi chuyển về cho 4 vị đứng đầu (giai đoạn này gặp nhau chưa tiện). Đâu ngày mai, trên Phủ thủ tướng có buổi họp quan trọng lắm.
Huy Du: ông Yên được triệu tập lên trên họp. Về nhà hỉ hả lắm, đến đầu ngõ đã reo lên, chúng mày đâu, ra cho kẹo. Bây giờ mới thấy rõ bản chất của nhà chính trị.
Khải: Lại nghe tin một gìờ trước khi ký, ông Trường Chinh gặp các Đảng bạn, Đảng dân chủ, Đảng xã hội -- để thông báo, xem có đồng ý không. Để không đồng ý thì cắt lương mà!
Đang nói thì Văn Thảo Nguyên vào. Tất cả ào ào, có gì mới không.
Nguyên : Các anh biết rồi còn gì.
Khải: Tin này thì nghe lại hàng trăm lượt vẫn cứ thích.
Huy Du: Cả ngày hôm qua, cán bộ cao cấp họp, Tổng Quân ủy họp riêng. Ông Yên về, chê chương trình phát thanh chưa được sôi nổi lắm.
Thế mà thế giới nó vẫn im lặng quá. Nó chán trò này rồi.
Huy Du: Chỉ có chúng mình là khổ. Vài hôm nữa, thịt gà tha hồ đắt.
Khải: Rồi ông xem, hai hôm nữa, hàng hóa lại đầy đường.
Huy Du: Tết này dân Hà Nội đừng hòng cắm hoa thật. Đã có lệnh nhà nước sử dụng tất cả. 40 nguyên thủ quốc gia đến.
... Chỉ có những thằng ở chiến trường sốt rét là khổ. Với lại những người mất cửa mất nhà. Còn chúng mình, chả làm gì, ngồi nói láo.
Người ta nhớ tới thân phận người làm nghệ thuật
Huy Du: Tôi đã bảo rồi mà, văn nghệ là trò du hí. Có ông lại cứ khẳng định lý lẽ của các ông ấy là chân lý. Tôi bảo chỉ có không có chân lý - cái đó mới là chân lý. Có cảm tưởng rằng có thể là từ đây chấm dứt vai trò của mình.
Khải: Không. Tôi lại cảm thấy bây giờ ông mới bắt đầu chứ? Tôi cũng thế. Tôi sẵn sàng từ bỏ những gì hôm qua để làm lại tất cả.
Huy Du: Thôi các ông ơi, chừng nào còn sống ở cái chế độ... tự do này, thì đừng có ảo tưởng.
Trở lại chuyện chung.
Huy Du: Người ta lại sắp lo cho chúng mình một đợt chỉnh huấn. Thiệu chuẩn bị 3 vạn đĩ để mua cán bộ Việt cộng.
Nguyễn Khải: Rồi mà xem, những cán bộ chính trị sẽ lại bị "mất" với nó đầu tiên, chứ không phải mấy thằng nhí nhố đâu (Những gì nữa, có thể là ngay ông Hòa bị chứ gì)
Bùi Bình Thi: Còn vấn đề thống nhất. Ông Lê Duẩn đã nó phải 15 năm nữa. 15 năm mà đồng bào miền Nam còn tin yêu Đảng thì chúng ta sẽ có thống nhất.
Huy Du: Chính các ông Việt cộng giải phóng không muốn thống nhất chứ còn ai nữa. Xem xem, như thằng Xuân Hồng Nam Bộ origine, ra đây nó có chơi được với thằng nào không. Ông Hòa điếc trong Nam còn phải nói, thôi các ông ạ. Xong thì ta cũng về thôi. Có thằng dân Bắc nào sống được ở trong này đâu.
Nguyễn Khải: (đã nhắc lại nhiều lần) Tôi thích một bài báo này của một thằng ở Madagasca Đông Phi:
Hai miền Nam Bắc Việt Nam hồi Pháp thuộc có thống nhất thì cũng là một sự giả tạo.
Năm 1954 là cơ hội duy nhất để hai miền có thể thống nhất. Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, thì cơ hội đã trôi qua.
Sau 28 năm chia cắt, giờ đây hai bên sống theo những triết lý sống khác nhau.
Một bên thờ phụng tự do cá nhân. Một bên sùng bái sự hy sinh.
Một bên thích diễn bi hùng kịch lạc quan. Một bên thích hài kịch yêu đời.
Cũng như trong một gia đình, một người anh được nuôi dưỡng ở Mạc Tư Khoa, người em được thả lỏng trên các đường phố Nữu Ước
.. Ý tưởng về thống nhất bây giờ chỉ là niềm hoài tưởng trong những người già.
Còn như ngay cả đám thanh niên di cư 1954, thì họ cũng đã rời quê hương từ nhỏ, ý niệm của họ về toàn bộ đất nước mơ hồ lắm.
Miền Bắc muốn cho miền Nam cũng thành XHCN như họ, thì theo đúng lý luận của chủ nghĩa Mác, họ hãy để cho Mỹ đầu tư vào, sản sinh ra giai cấp công nhân mới, rồi những người cách mạng ấy sẽ làm cách mạng đổi thay.
Nhưng đến ngày ấy, thì thế giới đã rất nhiều đổi khác.
... Trong một buổi tối bàn luận về thời sự.
Chính Hữu: Phải công nhận chủ đề văn học trong giai đoạn này vẫn không phải là sự bất lực, mà chính là khả năng mạnh mẽ của con người. Phải công nhận nước mình ghê chứ. Mấy thằng Đông Nam Á thấy Mỹ rút sợ rúm cả lên kia. Khải: Những tay nó ủng hộ mình không phải là những tay chống cộng vừa nhớ. Nó hiểu chủ nghĩa cộng sản hơn mình nữa.
Một sự nghiệp phi chính nghĩa không thể được người ta ủng hộ lâu đến thế.
Rõ ràng là cuộc đánh nhau của mình nó mang lại một tiền lệ -- Tức là các nước lớn đừng có gây sự với các nước nhỏ! Không phải là nước lớn muốn gây sự gì cũng được. (Xem thì biết, trong văn bản hiệp định đình chiến, có một cái gì đó, như là toát lên tinh thần -- Mỹ là một kẻ xâm lược).
Chính Hữu: Nó đã gọi mình là một con bò cạp. Đúng là môt con bò cạp nước! Mình đúng là một siêu cường quốc về ý chí.
Nhàn: Sức mạnh của mình ở đâu không biết?
Khải: Sức mạnh tổ chức chứ còn sức mạnh ở đâu nữa?
Trong những năm vừa qua, không dùng chế độ độc tài, thì không làm được những việc như thế. Mà sự lãnh đạo xã hội cần như thế.
Vừa qua, tôi có đọc quyển sách về tay trùm tình báo quân sự Đức. Nó nhìn thấy trước sự vô lý của chủ nghĩa quốc xã. Nó muốn những thứ như Áo, Hung phải chống lại đi. Nhưng người ta không chống. Nó rất căm ghét. Vì chủ nghĩa quốc xã có đáp ứng một cái gì đấy của tình hình lúc bấy giờ. Người ta không thể biết trước được những thất bại sẽ đến... Ban đầu, chủ nghĩa quốc xã cũng chỉ xuất phát từ việc đánh vào tính tự ái dân tộc (sau chiến tranh 1918, Đức bị thiệt). Mãi về sau, người ta mới tính tới những thứ nào đó, như vấn đề dòng giống... vv
Cho nên, chủ nghĩa Quốc xã dựa trên hai cái: Tuyên truyền và tổ chức.
Nhàn:Rút lại có phải chủ nghĩa Cộng sản tương đồng chủ nghĩa quốc xã?
Khải: Đó là kết luận của ông thôi, chứ không phải của tôi đấy nhé.
Trong giới văn nghệ, mọi chuyện như là phải nhận thức lại. Ông Khải kể, gần đây nhất, lại nhân vụ địch ném B52, ông gặp ông Chế Lan Viên. Mới đầu đã gặp câu phủ đầu “dân Hà Nội phấn khởi lắm, anh nào cũng muốn đánh nữa “. Nguyễn Khải nghĩ lung: Thế là mình đành chịu rồi còn gì. Nhưng chưa dám nói. Rồi ông ấy lại chửi Liên xô, Trung quốc.
Ông Khải định” phang “ lại một câu như thế này: Ông phải biết lúc hò hét chiến đấu, tôi cũng không phải là thằng hò hét xoàng đâu. Nhưng mà cái người, mà hôm qua ca ngợi Liên xô, Trung quốc rất ghê, hôm nay lại quay ra chửi, thì đó là một thằng xỏ lá.
Nhàn: Vì các ông ấy có lúc quá tin ở tình hữu nghị.
Khải: Đúng, đúng. Tôi cũng đã nói thế. Lúc trước, các ông ấy khen cho lắm vào cơ. Còn mình, thì lúc nào mình cũng nghĩ chiến tranh là việc của mình. Họ nói thế chứ trong bụng họ biết thế nào mà lần.
Nhàn: Phần tôi, tôi cũng vậy. Trong những ngày qua, tôi không trách ai cả. Tôi chỉ nghĩ về dân tộc mình, sao lại đến bước đường cơ nhỡ như thế này.
24/1
Hoà bình ư? Nhưng anh nên nhớ rằng là tất cả mọi người, đều vẫn là những người cũ. Đó là ý nghĩ đầu tiên của tôi về hoà bình, một trong những ý nghĩ thuộc loại cay đắng.
Tôi đón nghe tin hoà bình vào một buổi tối, tối 23/1. Tôi say say như bước vào một đêm giao thừa. Tôi chịu không nổi, phải đi ra đường phố.
Hoà bình rồi, các ông các bà ơi. Tôi muốn kêu lên như vậy, nhưng lại nghĩ mình thuộc loại người điên mất nên thôi.
Tôi muốn ra cầu Long Biên. Đèn sáng. Giờ này, cầu Long Biên vẫn hoạt động, ga vẫn hoạt động. Người ta đang khôi phục, tết này sẽ có 5 ngả đường sắt thông đường. Đêm yên tĩnh. Một vài cái xe kéo đi. Nguyễn Khải: Sao mà xe chạy nháo nhác vậy!
Buổi trưa hôm sau, gần trưa, tôi nghe tin ở vườn hoa Hàng Đậu.
Lâu nay đường đã là của xe đạp và người đi bộ. Riêng phố tôi là phố của xe bò, trên đường loét nhoét màu thẫm thẫm của phân mới. Mỗi lần gió quẩn, cũng đã thấy bốc lên cái mùi khó chịu.
Nhiều người đang đi xe đạp dừng lại. Có người dừng lại giữa đường. Trong khi đó, những chiếc xe bò cứ chầm chậm mà đi. Người chủ của nó còn mải nghe chuyện gì đó.
Đài báo tin văn bản được ký tắt. Những người chiến thắng là những người quanh tôi, những người này ư ? Một bà mẹ già nhăn nheo nét mặt. Những em bé nhếch nhác. Và một cô gái đứng bên hiệu ảnh, vô can với mọi điều.
Tôi thấy cái mặt đất chung quanh tôi đã bẩn thỉu quá, đã nhem nhuốc quá, đến nỗi phải nghĩ rằng một là chiến thắng đó thật tầm thường, thật vơ vẩn, hai là cái chiến thắng đó thật to lớn, những người này không xứng được hưởng.
Một chiếc xe bò đi ngang phố Quan Thánh, trên xe, một tảng gỗ lớn, như tảng đá -- một thứ gốc cây. Hoà bình như một tảng gỗ vậy chăng? Chúng ta mất bao nhiêu công chuyên chở nó từ đâu về, và nó nằm ườn ra như thế: nó mới là một khả năng, nó còn cần phải xẻ ra thành những tấm gỗ to nhỏ…Rồi nó phải sắp xếp lại thành cái tủ cái giường. Nó đã là một cái gì đấy, mà lại chưa phải là một cái gì cả. Và chắc là chúng ta còn phải vất vả với nó.
Tôi lên tàu điện. Mấy người công nhân nói chuyện với nhau theo cái kiểu “bốc phét” của người dân thường Hà Nội. Nó bảo - chữ ký của hai bên bằng cả nền kinh tế Nga Xô. Rồi nó sang Hà Nội xem. Hà Nội có lúc sẽ là đầy Mỹ. Phòng họp hôm ấy thế nọ thế kia... Cái vui vẻ quá đáng của một người lâu mới được vui. Của một người chiến thắng cơ mà !
Mấy bà cụ đã bắt đầu thương những gia đình chết -- Tiếc quá, cuối tháng trước như thế. Giá sống yên một tháng nữa thì hoà bình.
Đó cũng là cái chất Việt Nam, như chúng ta nói!
Mấy ông kỹ thuật ở nhà máy điện í ới gọi một người bạn: Này thôi, không phải đi 100 cây số nữa chứ.
Một ông già đứng ra đường, gọi một người quen:
- Này hoà bình rồi.
Mấy người công nhân sửa chữa đường đi qua.
- Thế hả bác, hoà bình rồi hả bác. Thế là chúng cháu khỏi phải đi lấp hố bom.
Tôi nghe cả một bọn trẻ con nói đùa:
- Hoà bình rồi. Tết này tha hồ mà vui.
- Các cháu cũng biết hoà bình cơ à?
- Biết chứ.
Sao có một cái gì như của người Việt Nam: thản nhiên, vô tâm, thích nghi với mọi hoàn cảnh. Không tin rằng hoà bình đến sớm như vậy. Chỉ nghĩ đến một sự thoát nạn.
25/1
Thế giới đều nói: "Đây là một cuộc chiến tranh mà tất cả mọi người mong đợi kết thúc".
Không thể nào nhớ hết con đường nhọc nhằn mà người ta đã qua...
Và là người trong cuộc, tôi nghĩ đến sự nhọc nhằn của chính mình. Lẽ nào cuộc sống không có một cách nào khác, ngoài cách sống khó nhọc như hiện nay.
Nguyễn Khải: Thắng lợi của mình đúng là gồm thắng lợi của một ý chí của dân tộc, kết hợp với một trí tuệ, như Kissinger. Đấy đúng là một người, như ông Chu Ân Lai nói, một người biết nói tiếng nói của cả 2 phe. Còn ông Hữu Mai kể: Hôm đầu tiên họp lại (8-1) mình không ra đón. Khi vào, mình bảo: Các ông vừa ném bom chúng tôi, chúng tôi không thể ra đón được. Kissinger bảo các ông làm như thế là đúng.
... Đúng là một hàn nho nhớ.
Trong cuộc mặc cả này, chính là ông ta đã đứng vượt lên được cả hai phe.
Ông ta đã phải thuyết phục chính Nixon.
Những cách diễn tả tình hình
--Khải kể chính Kissinger nói công bằng nghĩa là không một bên nào được tất cả những điều mình mong muốn - như thế là công bằng chứ còn gì?
--Về đại cục, theo Hân, Kissinger từng nói Mỹ không thắng ở Việt Nam tức Mỹ thua. Việt Nam không thua Mỹ tức Việt Nam thắng.
-- Khải: Nói rằng chúng ta chỉ có hoà bình, thì người ta dễ quên. Nhưng nói rằng chúng ta đã chiến thắng thì người ta mới thấm thía lâu.
... Câu chuỵên với một tù binh SG :
- Chúng tôi sẽ thắng các ông chứ.
- Vâng, chúng tôi sẽ thua. Nhưng rồi chúng tôi sẽ mua các ông.
Cũng Nguyễn Khải: Tôi chỉ không hiểu sao thằng Mỹ nó lại có thể ký một hiệp ước hòa bình với mình như thế. Hân: Có lẽ là nó muốn thu phục mình. Trong quyển của D. Landau đã có cái ý Mỹ không tuyên bố chiến tranh, cho nên cũng cứ rút ra một cách lặng lẽ. Sài Gòn không đổ ngay là được. Còn sau đó, Sài Gòn đổ mặc kệ. Mỹ có thể bắt tay với mình. Vì mình là một tập đoàn lãnh đạo mạnh hơn.
28/1
Ngày hoà bình đầu tiên. Người ta đón hoà bình trên mảnh đất thân yêu với người ta. Tôi đón hoà bình với Hà Nội -- mảnh đất mà tôi đã có những gắn bó suốt những năm qua.
Cờ đỏ trên cây xanh Hà Nội. Cờ đỏ trên những giàn dáo đã dựng.
“Hoà bình đã được lập lại trên hai miền. Chiến tranh đã chấm dứt hoàn toàn.” Đó là một điều lâu nay ta đã nghĩ tới. Nhưng nghe vẫn tưởng như trong mơ. Tưởng như những năm 60 còn kéo dài đến 2 năm đầu của những năm 70. Và bây giờ chúng ta mới bước vào một kỷ nguyên mới .
Hà Nội trầm tĩnh, Hà Nội hớn hở ra mặt. Em bé ngồi trên gác ba ga xe của mẹ run run. Những nhân viên bưu điện đi giữa hai hàng người, phát báo.
Những câu mọi khi nghe sáo rỗng nhất của đài, của báo cũng khiến lòng người rưng rưng cảm động. Hôm nay, đài của chúng ta hát nhiều lần một bài ca về đất nước. Mỗi dịp như thế này, chúng ta lại nghĩ đến đất nước Có một cảm xúc là lạ sượng sùng, như là đất nước mà nay chúng ta mới biết. Đất nước là những cảm xúc cũ nhất, cũng là những cảm xúc mới nhất.
Sao trong những ngày chiến tranh, lòng ta bình tĩnh, mà hôm nay lòng ta lại nôn nao? Lòng ta rạo rực quá. Tôi biết có nhiều chiến sĩ, vào những lúc bom đạn, có thể thản nhiên, nhưng có lúc nghe một tin xót xa về các đồng chí của mình mắt cũng cay cay. Tất cả chúng tôi giờ đều như thế.
Tôi trở lại bờ đê sông Hồng. Cờ đỏ trên phố nứa. Buổi sáng, người qua cầu phao đông. Người ta đi đón con. Có những người muốn phá hết những hầm ở ven sông, không muốn để những cái hầm này có mặt thêm một ngày nào nữa.
Với tôi sông Hồng là con sông của lịch sử. Lúc cần nhớ đến lịch sử, tôi luôn luôn nghĩ đến sông. Sao con sông lại có thể trở nên gần gũi như vậy. Hà Nội với những vấn đề hiện đại luôn luôn tựa lưng vào lịch sử.
Trở lại phố phường. Những người công nhân Cục công trình vệ sinh công cộng dọn một vườn hoa cạnh Nhà hát thành phố nơi hôm qua bùn đất nhoe nhoét, than xỉ bẩn thỉu.
Những mầm chuối đầu tiên đã mọc lên, trên mảnh đất Khâm Thiên. Màu cờ đỏ lồng lộng trên đường phố như chỉ có trong những ngày lễ lớn. Tôi ước ao lúc này, có mặt ở mọi nơi.
Giữa ban ngày, phố xá Hà Nội đông người như chưa bao giờ vậy.
Trên một lều nhỏ ven sông, những người già ngồi trầm ngâm. Những thanh niên đứng trên những nóc nhà cao nhất của những nhà gác Bờ Hồ. Có phải tất cả những người kia đều đang nghĩ tới Hà Nội.
Trong những ngày này - mỗi người như cảm thấy muốn tốt hơn với bạn bè, với đồng chí, với những người vừa gặp.
Không phải là hoà bình đã gắn với hạnh phúc. Nhưng quả thật, với nhiều người, hoà bình đã là một thứ hạnh phúc. Hà Nội hôm nay thật nhiều quần áo mới.
Hoà bình, tôi thấy như được sống lại. Tối 28-1, đi xem biểu diễn. Những nền nếp cũ hiện ra vụng dại. Những nền nếp ấy nó là dấu hiệu của một cuộc sống khác. Cả người biểu diễn lẫn người xem đều hơi loạc choạc. Nhưng rồi lại quen ngay được.
Tiếp tục ra các khu xa trung tâm. An Dương, màu đỏ lá cờ nổi lên trên màu đỏ của gạch ngói bị vỡ. Và tôi hiểu ý nghĩa của màu đỏ mà chúng ta thường thấy. Em trai tôi kể: Qua Yên Viên, không còn nhận ra gì cả, chỉ thấy cờ đỏ. Cờ đỏ ở trên cây. Cờ đỏ ở một ít nhà còn sót lại.
Một người đàn ông phá hầm.
- Bác phá cho tan luôn?
- Ăn chắc rồi, hoà bình ăn chắc rồi, tội gì mà chẳng phá.
Trong khi người bố lật những mảnh xi măng từ chiếc hầm bị phá, em bé ngồi cạnh đấy cũng lật lại mảnh hầm vỡ như nghịch một con ngựa ở các vườn hoa.
Hà Nội sẽ phải dọn tới 40 ngàn mét vuông mặt bằng.
29/1
Một chuyện chả có gì dây dưa đến chiến tranh, một cô gái từ Moskva gửi một bức thư về toà soạn tạp chí VNQĐ kể một ít tư liệu về Napoleon, Hitler và thủ đô nước Nga. Có lúc tôi nghi ngờ, làm gì có ai lúc này còn đọc sử. Có lúc tôi thấy quý mến, nhìn thấy ở đó một việc tôi cũng muốn làm. Lạ nữa, tôi mơ hồ cảm thấy ở đó có một điều gì may mắn đối với nghề nghiệp của mình. Tôi nói với nhiều người: Hôm qua, ngày hoà bình đầu tiên, tôi đi đường, nhặt được 2 quả bóng hơi, thứ bóng trẻ con chơi. Tôi cầm bóng, lòng sung sướng như người cha mang về cho đứa cho nhỏ ở gia đình. Có lẽ nào lại chẳng thấy đối với mỗi người, cuộc sống thật là kỳ lạ. Bất cứ một vật gì bình thường, khi nó thật sự là nó, thì người ngoài nhìn vào, cũng có thể tìm thấy một chút hào hứng.
30/1
Một chi tiết vui vui nó như dư âm cuối cùng của những ngày qua. Kissinger (sau khi ký xong hiệp nghị) bảo:Tôi không có gì để nói với các bạn cả. Và đó quả thật là một điều kỳ lạ.
Cái chết của một người, khi nó được khắc lên thời gian, không gian theo một cách nào đó (ví như cô bé Tanhia, mà Nixon nhắc khi đến thm Nga) thì nó lại gây ấn tượng hơn cái chết của số đông hàng vạn người khác.
Báo chí Sài Gòn: Hòa bình như một cơn mơ đẹp. Nhưng có được cơn mơ đó, thì người ta đã phải trải qua nhiều ác mộng.
Thế nào là bản lĩnh? Thế nào là lòng tin? Tôi không thể tin dễ dãi quá, tôi đã tính toán cẩn thận, vậy mà nhiều lúc tôi còn lầm lạc. Tôi đã bao lần bị lừa trong khi trông đợi hoà bình.
Báo Mỹ: Những vấn đề chiến tranh sẽ không rời bỏ nước Mỹ một thời gian nữa, không biết là đến bao giờ.
... Chúng ta đã biến thành rác rưởi của cuộc chiến tranh này.
Chúng ta không muốn ai dí mũi vào công việc của chúng ta. Và đó là cuộc chiến đấu vĩ đại. Nhưng việc đó không hề bảo đảm rằng chúng ta sẽ biết sống với nhau.
David Landau: Những phong trào của châu Á quá chú ý tới những hư danh, hơn là cái ý nghĩa thực. Trong cuộc chiến đấu của Việt Nam, người ta đòi bằng được việc Mỹ rút về nước trên danh nghĩa mà không chú ý xem thực chất vấn đề này là gì. Có những cách nào làm việc đó? Có cách nào làm cho Mỹ vừa đỡ mất mặt, vừa được việc cho Việt Nam?
31/1
Những chiếc xe bò đổ đất đánh lên vỉa hè Hồ Gươm, sắp hàng dài. Và thế là tùng bê, đất đổ, gạch đổ, cái hầm cá nhân kia đầy lên. Ở khu vực Láng Hạ, những người con gái đi ra lấp hố bom, bằng những cái cuốc, cái xẻng nhỏ như cánh tay của họ.
Ở Đường sắt, nghe tin hoà bình, tàu hoả kéo còi một lúc lâu, người hai bên đường cứ dạt ra.
Rất nhiều người nghĩ: ở một thủ đô khác, chắc là những ngày hoà bình mọi người đã nhảy cả lên. Nhưng cách biểu hiện tình cảm của Hà Nội, của người Việt Nam là lặng lẽ. Mọi người quên đi thật nhanh những gì vốn có mà ngày hôm qua, chính vì thế mà họ cũng không reo lên. Hay là đã e rồi mai đây, chẳng có chuyện gì phải reo lên cả.
Anh có thấy Hà Nội, trong những ngày này, thỉnh thoảng vẫn thoáng qua những bóng áo xanh bộ đội. Anh bộ đội về phép đi qua thủ đô. Luôn luôn có một Hà Nội rieng của những người không phải dân Hà Nội.
Trên chuyến tàu đêm giao thừa
3/2/73 (30 Tết Nhâm Tý)
Đêm 30. Tôi đi để sống với những người khác, hay là để trốn chạy khỏi nỗi chán chường cá nhân-- hai cái đó thật khó phân biệt.
Người từ Hà Nội đi, lúc đầu tưởng độ 100, sau 700-800, 1000. Toàn là cán bộ nhà nước, với quá nhiều xe đạp.
Sau những đớn đau tê dại, tưởng như cuộc sống đã mất những thiêng liêng. Nhưng trong những ngày giờ như lúc này vẫn là những náo nức hy vọng.
Buổi chiều tất niên, tôi sống những giờ phút thảng thốt. Tết mà lại nắng, mọi thứ nhếch nhác cứ trơ ra trong nắng. Bụi bẩn. Xe đạp phóng ẩu. Những người đàn bà lo sinh kế. Mấy cô gái mới lớn thích diện nhưng nghèo. Những đứa trẻ hau háu đợi người đến bơm xe đạp. Trong khi đó thì người ta vẫn ra vẻ vui vẻ. Thỉnh thoảng lại một tiếng pháo nổ rất bực mình.
... Chính vì muốn giải phóng ra tất cả những cái đó, tôi lánh đi, tôi quằn quại tìm cách đi.
Đêm nay, tôi sống giữa những người không quen biết, bởi chỉ có một chỗ giống họ xa nhà. Nhưng cái chính là một không khí khác. Tôi được sống trên một cái gì đang đi. Giữa đêm đen, tôi sống biệt lập trong một vùng ánh sáng xa lạ.
Đến Nam Định thì giao thừa. Lòng tôi mơ theo lửa đỏ -- pháo hoa Hà Nội. Trong khi đó thì ở đây chỉ có những quả pháo nổ lẹt đẹt.
Ở một làng nào, lửa đỏ như vệt B52 trong đêm. Hay ai đó vui quá cho bắn pháo ? Người ta nói chuyện gì lúc giao thừa, lúc vui?
Trên cái toa xe phần lớn bộ đội này, người ta lại nói chuyện chiến thắng. Nói tới tình thế. Nó chịu ta rồi. Nó sẽ cho ta mấy tỉ mỹ kim... Nhưng khi tôi hỏi mỗi người sang năm anh định làm gì, sang năm anh có kế hoạch gì -- thì không ai trả lời cả. Cũng như bom Mỹ đánh hôm trước, hôm sau trên báo có thơ ngay, còn khi tuyên bố hoà bình rồi, chả thấy ai hé răng gì cả.
- Hôm địch đánh 18, anh ở đâu?
Tôi hỏi câu đó với nhiều người. Ít ai có cái ấn tượng kinh khủng như chúng tôi.
(Trong khi đó, ngay chiều ba mươi trên tàu điện ở Hà Nội, một người đàn bà nói với tôi:
- Làng tôi may quá, chỉ chết có 4 người. Chẳng phải nói chứ chính là nhờ làng tôi làm hầm Cồn Cỏ. Thành ra cũng đỡ được nhiều lắm. Những làng khác, hầm đào nổi quây quây mấy hòn gạch, chết vô khối. Gớm hôm nó đánh xong, tưởng tất cả chết, chỉ mình mình còn sống. Sau thấy cũng còn nhiều người còn sống m[i.)
Nghĩ lan man. Thế nào là một nghề phục vụ? Nghệ thuật, vừa là một thứ công nghiệp, lại vừa là một nghề phục vụ. Tâm lý thanh niên thời đại? Tôi biết tìm đâu, để hiểu điều này?
Có một cái gì đấy, như là bất mãn, nảy sinh trong lòng tôi. Bất mãn trước một thực tế già cỗi, trì trệ của đất nước.
Thời đại vừa có gì rộng quá, đến nỗi chúng tôi không hiểu hết được. Lại vừa như là chật quá, vớ vẩn quá, có nhiều chuyện, tôi nghe mãi phát chán.
Tôi vốn không tin rằng mọi xã hội có thể xoay chuyển nhanh. Sống trong xã hội này, càng thấy trì trệ. Vậy mà vẫn thường xuyên bực bội. Gần như muốn phát khóc vì tốc độ chậm rề chậm rệt của chung quanh. Nhớ có lần ngồi trên gác CLB Ba Đình nghe nói chuyện, nhìn xuống phía quảng trường, thấy nhưng bóng người đạp xe qua lại lơ thơ. Như từ thế kỷ nào xa lắm hồi vọng lại. Vậy mà chốc nữa, giá tôi đi xuống đó, thì cũng lại tự nhiên y như mọi người khác, cắm cổ đạp vội.
Một ý của Nguyễn Khải (nhân bàn về tình trạng sau chiến tranh mọi người ít nghe đài ):
-- Người ta chóng quên ghê lắm. Càng chóng quên là những việc không dây dưa gì đến người ta. Như mình, mình cũng chỉ chú ý tới chiến tranh, còn bây giờ hoà bình, ai làm gì thì làm, mình biết đâu? Cho nên, mình mới phải nghĩ và nghĩ ngay về cái chuyện thế giới quan tâm đến mình. Mà quan tâm hơi lâu. Đúng là nó có dính gì đó đến họ, dính về mặt trí tuệ đấy.
Những năm chiến tranh nhiều dân tộc chia sẻ với chúng ta chống Mỹ. Với ý nghĩa là dân tộc Việt Nam phải có quyền quyết định lấy vận mệnh của mình.
Nhưng sau đó rồi, thì chúng tôi cảm thấy bơ vơ. Điều mà họ nghĩ, với điều mà chúng tôi nghĩ, là có khác. Họ mong chờ tới một cái, nhưng chúng tôi lại không có cái điều mà họ đang mong.
Thường thì đôi lúc, tôi cứ kinh sợ vì những đứa trẻ. Nó là biểu hiện sức sống của nhân dân này một cách rõ rệt hơn. Biểu hiện rằng dân tộc này không chết.
Nhưng có chắc rồi có một sự sống thật sự, một sự sống ở trình độ cao? Hay đó chỉ là biểu hiện sự sống của một cái gì đang chết sẽ chết. Như một cá nhân, bao người đã chết để xã hội chết theo?
Là những bậc thầy về công việc vá víu - người ta nói về Việt Nam là vậy.
Giá anh bảo một người Việt Nam rằng anh phải sống nghèo hơn, khổ hơn, anh không được đi đâu làm gì cả, anh sẽ rên xiết trong anh điều lạc hậu... thì người Việt Nam kia sẵn sàng gật đầu.Tôi không chết. Tôi vẫn sống. Và tôi còn sinh đẻ nữa. Thế là đủ.
Nhưng bảo rằng anh phải làm ăn cho khá hơn, anh phải bớt sinh đẻ đi, anh phải nâng cao cuộc sống anh hiện nay -- thì người Việt Nam kia cảm thấy rất mực khó khăn.
Trên đường đi. Ga Nam Định, Thanh Hoá 1500 khách
Ga Vinh - 2000 khách. Hành khách trung bình chờ 30-38 giờ
Hành khách lịch sự nhất Hà Nội Hải Phòng
Hành khách khó tính xấu tính phía Nam. Lên tầu, tìm ăn ăn xong, rải ni lông ra sàn ngủ
Ninh Bình - thành phố của núi đá và những công trình của con người, ngay trên một miền đất phẳng.
Núi rất nhọn, sông rất xanh, và cỏ rất cằn, đất rất rộng, đó là Ninh Bình. Những đoạn đường bụi đỏ hai bờ cây lá. Nông trường Đồng Giao nhà chỉ còn tường nhiều đoạn đường mòn đi qua nền nhà.
Phần lớn hành khách là bộ đội.
Ngày tết thành phố chen chúc khác thường. Còn như ở đây, buổi sáng mùng một im lìm. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe com măng ca một chiếc xe đạp.
Những người lớn đâu cả, chắc đang chè chén, bàn việc với nhau trong nhà. Chỉ có đám trẻ con chạy ra đường. Trẻ con từng đám, đứng chen chúc đầu ngã tư đường. Hàng chục đứa, cùng chỉ một màu áo xanh trứng sáo. Chúng nó không hết ngạc nhiên trước những đoàn tàu đi qua. Chúng nó băm bổ chạy dọc con đường sắt:
- Chúng mày được nghỉ học mấy ngày?
- Được nghỉ đến mùng 3 thôi
- Giá kể đến mùng 4, mùng 5 thì thích.
...
- Lớn lên chúng mày đi bộ đội nhớ
- Vâng. Vâng... Thích lắm.
Hàm Rồng. Lại những khung cảnh chiến tranh. Một địa thế rộng. Lèn đá vệt bom đã cũ, lẽ ra, con đường bò ra, đường đầy bụi. Những chiếc xe tải vập vạp, lúc lẫn vào đoạn đường bụi đỏ, lúc lẫn vào đoạn đường bụi trắng.
Buổi sáng, đoàn xe tải chở phà bật đèn đi.
Càng sáng, càng nhiều xe.
Chỉ có những đoàn xe là đông, là làm sống lại khung cảnh khu vực nhà máy điện cũ nát. Hố bom, cái thì cỏ lên xanh, cái thì còn đỏ miệng. Dáng người đi, lẫn vào trong đường xá trời đất. Mấy người đàn bà đi cắt cỏ. Cỏ dại. Người cũng như là một giống cây dại. Ở thành phố, người nhiều, người lúc nhúc. Nhưng ở đó, bất cứ ở đâu, người ta cũng thấy dấu vết của con người, những vạt cỏ, những ánh đèn, bóng nhà cao. Ở những quãng sông nước này, thiên nhiên khắc nghiệt, và hoang vu quá. Hoang vu đến mức những mái nhà bị bỏ quên cũng trở nên ngất nghểu.
Có lẽ vấn đề trung tâm mà tôi nghĩ trong những ngày tới - bộ mặt của một đất nước sau chiến tranh. Những di luỵ của chiến tranh trong đời sống trong tâm lý.
Hoà bình có một nghĩa chung với tất cả mọi người. Nhưng với mỗi người, hoà bình lại có một nghĩa khác.
Đối với Khu 4, hoà bình có nghĩa là một cuộc sống trở lại trên mặt đất.
Những cụm ga những đoạn cầu, nó như là nơi đối mặt của hai bên chiến tranh. Những gì tàn phá chưa chịu lẩn đi mà còn chềnh ềnh đó, nên những gì sinh sống phải gạt ra mà đi lên.
Ngổn ngang, không bao giờ mặt đất hết ngổn ngang -- Nhưng một cái gì chủ yếu nhất -- sức hoạt động -- thì đang tự nó làm nên ấn tượng một sự thay đổi. Sự tình là cái sống phải lấn cái chết từng bước một. Phải gạt cái tàn phá sang một bên để mà đi. Phải rót sinh lực vào những khu vực mới, từ đó, những khu vực này sẽ đẩy cái chết đi.
4/2
Trong lúc này vẫn không thể quên được các vấn đề cơ bản như vấn đề trí thức
Nhàn: Tôi khổ tâm lắm. Tôi không dám tin gì cả.
Khải: Tất nhiên, mọi chuyện ngày mai có thể là vẫn thế thôi. Nhưng tôi cũng mong rằng ông sai, tôi sai, nghĩa là mọi chuyện lại thay đổi theo kiểu khác. Ví dụ như về các chuyện hòa bình này nhớ. Hôm qua tôi ngồi ở nhà Nguyễn Thành Long, ngồi bàn, thấy không ngờ hòa bình lại có thể gọn ghẽ như vậy. Thế có phải là có gì ngoài mong ước không. Lãnh đạo một cuộc chiến tranh như thế này khó lắm chứ. Thằng Mỹ nó cũng biết không phải nó đứng bên bờ vực thẳm, mà là mình bên bờ vực thẳm. Nó biết rằng mình đã bị lừa nhiều rồi. Rằng mình rất cay mấy tay kia (Cụ Hồ hồi 46: Thà ngửi phân tây còn hơn dọn cứt cho thằng Tàu, nhưng biết bao giờ hết mùi) Rằng cơ sở kinh tế của mình khốn khó.
Thế nhưng mà nó vẫn chịu mình.
- Thế nghĩa là có một cái gì đấy thuộc về bí mật của giới lãnh đạo Bắc Việt? Tôi cũng nghe thằng Chu nói rằng ông Duẩn nói rất ghê, đến nỗi thằng Chu nói rằng chỉ sợ ông ấy bị lật.
- Không, cái ông này nói thì bao giờ cũng có những khía cạnh mới (như ông ấy nói về sử, dân tộc mình nhuộm răng đen, không bó chân, làm cho nó khác người Trung quốc) cho nên, vấn đề không phải chỉ là nói, vấn đề là làm cơ!
- Tôi thấy cái cách làm ăn như của mình không được. Phải tạo điều kiện cho giới trí thức làm nhiệm vụ kích thích, nhiệm vụ nói lên một tiếng nói thách thức....
- Không, ông ơi, chính những người như Kíssingger lại nói nhiều đến quyền lực. Tay mưu sĩ ấy rất thích đe dọa, rất coi thường quần chúng. Quần chúng là cái gì đâu, Quốc hội Mỹ làm được việc gì đâu.
- Dẫu sao thì vẫn phải nói đến trí thức.
Ví dụ như trong tác phẩm của anh, hay nói đến chuyện khôn dại là đúng thôi. Điều tôi lo ngại chỉ còn là chỗ này. Làm sao để người ta khôn lớn, chứ không phải là sự tính toán lặt vặt.
- Đúng, chỗ ấy thì đúng thôi. Chính là tôi thấy dân mình lại quá ít suy nghĩ, quá ít trí tuệ. Người mình hay thay đổi lắm, nông nổi, nhẹ dạ, cả những người ghê gớm nhất cũng hay thay đổi. Còn tin vào cái gì được nữa? Cho nên tôi cứ nghĩ được cái gì, biết cái ấy. Tôi không thể nào xây dựng được điển hình.
- Sao có lúc, anh nói rằng ông Đồng rất tuyệt vời. Rồi có lúc, các anh lại nói ông ấy rất vớ vẩn (có mỗi cái trò: "Các đồng chí viết không bằng tôi!")
- Thì ông phải biết rằng chúng tôi là cái dân văn nghệ bốc phét. Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Khi tôi khen người này hết lời. Cũng có lúc tôi lại chê thẳng cánh. Chúng tôi là như thế. Bao nhiêu chuyện ông ghi, đều là nên viết ra cả.
... Cái thân anh văn nghệ báo chí ở cái xứ Đông Nam Á da vàng mũi tẹt này thì khổ lắm. Như vừa rồi Kíssingger sang Thái Lan ở sân bay xuống, nó không thèm tiếp các nhà báo, nó mới thả một lô chó ra, chó cứ sủa các nhà báo đi thôi.
6/2
Chiều nghe ông Đồng nói chuyện. Một sự loanh quanh, không biết chính sách là hoà bình hay chiến tranh. Một sự răn đe, rằng cẩn thận không có Nhân văn giai phẩm.
Bùi Bình Thi: Đề phòng giai cấp lãnh đạo Bắc Việt ngủ lì trên thắng lợi!
Nhàn: Có nhiều chuyện, hồi trước chịu được, bây giờ không chịu được.
Khải: Thế thì anh chết thôi. Anh có thấy không, hiện nay các nước nó bò sát mặt đất mà ca ngợi mình (Bà Gandi: Thử xem người châu Âu mà đổ máu như vậy, thì người ta có chịu không?). Mà càng như thế, tức là càng chứng tỏ đường lối của mình là đúng đắn. Anh mà nói ngược, anh lại càng bỏ mẹ. Rồi nay mai, còn học chính trị, còn là nhồi nhét mọi chuyện vào đầu óc.
Ông Lê Duẩn vào trong 559: Bây giờ mà đòi hỏi địa vị, hưởng lạc là tàn ác.
Ông Tố Hữu: Hôm qua không đi miền Nam tội một -- Hôm nay tội mười
...
Tôi biết sống sao đây? Những hiểm hoạ trong thời bình sẽ rất khủng khiếp. Những thói xấu trong hoà bình có những khía cạnh vô lý của nó. Nhưng biết làm sao được, mọi chuyện là vậy.
10/2 (2 tuần sau hoà bình)
Cán bộ trung cấp tập họp, nghe nói về vụ chống Đảng.
Khải : Xem mới thấy các ông ấy, khi phun ra nhau, cũng khủng khiếp lắm.
- Thế họ có gì là xấu, hay họ chỉ khác về quan điểm?
- Bán bí mật cho nước ngoài, phản bội, phản quốc, thế là xấu quá rồi còn gì? Ở các nước khác, người ta còn mang xử công khai nữa!
...
- Cho nên, tôi chỉ thấy tốt hơn hết là anh nên yên tâm với công việc đã có . Không nên biết nhiều. Biết nhiều quá, lại sinh ra thắc mắc. Yên chí làm một người lao động bình thường.
- Thôi, cũng nghĩ rằng chính quyền này là chính quyền của các anh, hết những ông Lê Duẩn, Trường Chinh, lại đến các ông Vũ Quang. Lớp già như thế nào, thì lại đẻ ra lớp trẻ như vậy.
- Phải, nghĩ thế là phải.
- Nhưng nhỡ ra, chính giữa các ông ấy nổ ra mọi chuyện thì sao?
- Không, không thể có chuyện gì cả, vì trong số đó, đã có một thiên tài rồi.
-...
Nghĩ mọi chuyện lắm lúc cũng không biết đằng nào mà ho he cả. Nó là cả một guồng máy. Người khá nhất trong những người vừa qua, rồi cuối cùng cũng thành một người vô hiệu.
Đôi lúc, tôi cảm thấy như có vẻ mình nghe được một điều gì đấy thuộc về đời sống tinh thần của đất nước nói chung. Tất cả là như hôm qua, như chiến tranh, như trong mãi tận chiến trường. Nhưng vẫn là có những dấu hiệu của cái gì đó khang khác.Ví dụ như đây là dấu hiệu của những ngày này. Người ta đang bất mãn, đang đòi hỏi, người ta đang muốn đánh giá lại, suy xét lại mọi thứ. Cái yêu cầu của cấp dưới thì bao giờ cũng hơi quá lên một ít. Yêu cầu của trên cũng có, nhưng lại muốn giữ một sự chỉ đạo, chỉ huy.
11/2
Một ngày chủ nhật, chủ nhật đầu tiên sau tết.
Đêm thứ bảy, tôi đến nhà những người công nhân đường sắt. Quyền, một người nông dân, đi làm cách mạng, chân thành và dại dột. Nhuận và cái khu nhà mênh mông trong Nhà hát nhân dân.
Ga Hà Nội lại đông. Những đám người tụ tập đầy đường (Quyền: Toa tầu bẩn như lòng đường nhựa. Năm nay, bao nhiêu người khu Bốn về thăm nhà!)
Sáng chủ nhật, tôi và Tính ngồi bàn nhau định đến thăm một trận địa ở giữa sông. Tính giở ảnh vợ con ra xem (những đứa trẻ, người ta ghép cho nó đến lắm khả năng và ý nghĩa!)
Mấy người bạn của Tính đến chơi. Hiệu, trung đoàn phó, một D trưởng, 1 C trưởng. Trông ba người ra ba dáng khác nhau. Một cán bộ chỉ huy kiểu Tsapaev nông dân, thô tục, nhưng lại sắc sảo. Một anh chàng quê mùa, ngậm miệng như cóc. Một anh chàng học sinh duyên dáng mới ra Hà Nội đã sắm dép nhựa. Họ rủ nhau đi xem B52 (trong kia, thấy nó thả từng dây, bây giờ mới tận mắt nhìn thử xem nó thế nào) Họ còn nói chuyện về chiến trường, những ngày E27 vào tận Hải Lăng.... Trên người cậu D trưởng, là một chiếc áo của địch. Loại áo vi ny lông, nhưng may theo kiểu va rơi, và cung đã hơi cổ. Anh khoe một hôm, mưa rất to, cái áo cũng không ướt.
Hỏi đường đi xem B52 xong, họ hỏi đường ra Hàng Trống, may những bộ quần áo vi ny lông. Cái cảm tưởng chính: họ là những người quá tự do. Họ làm chủ cái đất nước này.
Tôi đi cắt tóc. Từ chuyện rẽ đầu ngôi, ra đủ mọi chuyện.
- Thôi cần gì đầu ngôi, để cho gọn là được.
- Không. Khối anh chải đầu chải óc cẩn thận, ăn mặc đẹp, mà nói năng không ra sao cả.
- Bây giờ chính phủ còn đang bận bao nhiêu chuyện, chưa dạy được. Hoà bình được ít ngày, mấy cái thằng trong kia lại còn phá thối. Nhưng mà thầy nó theo mình rồi, thế là được rồi.
(Lại nhớ lời ai đó nói Cuộc chiến đấu của dân tộc làm cho người dân thường của mình cũng có những hiểu biết rất đặc biệt)
Ngày mai 12/2 ngày trả tù binh Mỹ (140 tay Mỹ về nước!) ở bên sân bay Gia Lâm.Từ người phi công Mỹ đầu tiên bị bắt đến hôm nay đã gần 9 năm,một quãng đời người, dài lắm!
... Ngày mai, các trường Hà Nội khai giảng.
Hôm nọ, tôi đã thấy các em ở trường Hàng Than quét lá, thu dọn trường. Bọn con trai lấy chổi phi trên trời, như những chiếc máy bay.
Hôm nay, tôi thấy học trò Chu Văn An đến trường dọn dẹp, trở về, các em lại chui vào cái bể nước giữa vườn hoa ( nay là vườn hoa Tây Hồ ) rửa ráy.
Những em bé đi đường bây giờ, sao không thấy vẻ thư thái, như lũ chúng tôi hồi nhỏ. Các em băm bổ vội vã. Mấy em con trai ra đường, gạ chúng tôi đèo xe hộ. Vẫn còn dấu vết ngày hôm qua, thời đi sơ tán.
Thư, em tôi, kể trường nó chỉ lớp 10 là được ưu tiên bàn ghế. Lớp 9, lớp 8 thiếu. Một số lớp học sinh lại phải lấy loại bàn ghế nhỏ chỉ thấy ở các vùng quê.
Buổi tối, lâu lắm mới mò đi xem nhờ Vô tuyến truyền hình. Một chương trình ca ngợi đất nước. Và một người con gái, mà bây giờ mọi người đều nghĩ là tiêu biểu cho Hà Nội. Cô hát bài Đường chúng ta đi.
Bài này, có lúc, do một chị diễn viên cũ hát. Chị là một người không đẹp, nhưng tiếng lại đẹp. Chị hát nhiều trên đài. Trong tiếng hát của chị, ra một người từng trải. Và một đất nước từng trải.
Đằng này, người diễn viên non dại và qua giọng cô, người ta lại nghĩ về một đất nước trẻ trung.
Đất nước là tất cả những cái đó, là cả những người mẹ lẫn những em bé, cả tiếng phát thanh trên đài, tiếng xe bò kẽo kẹt triền miên, đất nước là mặt đường lép nhép, và có lúc bụi mù, là sắc vàng hoa cúc, là màu cờ đỏ trên những đống gạch đổ, là những cành xoan đầu xuân chỉ còn những cành, nhưng đã chớm những chồi non -- đất nước là có cả lụi tàn và hy vọng!
Chỉ nghe đài phát thanh cũng đủ hình dung những đổi mới đến với Hà Nội. Nhiều bài hát cũ được hát lại. Những người lớn tuổi nhớ đến hoà bình lần trước cuối 1968. Lần trước, ai cũng nghĩ chiến tranh hết hẳn, thì chiến tranh quay lại . Lần này, mọi người cứ nơm nớp -- biết đâu hoà bình lại bền lâu!
Dạo này, tôi và bạn bè của tôi thường hay nói đến tính cách người Việt Nam. Có một cái gì ở trong đó, mà chúng tôi cảm thấy cần nhìn thẳng vào, cần giải thích.
Người Việt Nam là hời hợt hay sâu sắc? Người Việt Nam dũng cảm, nhưng dũng cảm như thế nào? Người Việt Nam nhẫn nhục. Người Việt Nam cần cù v.v.... Có một cái gì gọi là ý chí?
Người nước ngoài ca ngợi Việt Nam nhiều quá. Đất nước thật sự vinh quang. Hình như đối với một số ai đó, vinh quang chỉ là những hư danh. Mỗi người đang sống hết sức nhọc nhằn, có thể nói là thân tàn ma dại nữa.
Nhưng tận trong mỗi người, còn đầy hy vọng.
Khi tôi nói trông mong ở tương lai, người ta bảo: Tất cả mọi người, đều là những người của ngày hôm qua, hy vọng sao được. Nhưng khi tôi cũng chán ngán, thì mọi người lại bảo: Không, cũng không biết đâu mà ngờ.
Một trong những sức mạnh của ngôn từ là nó thay đổi khá tương ứng theo thái độ của người ta. Nó thông tin khá chính xác. Ví như hôm trước, người ta gọi là giặc lái, hôm sau, người ta gọi là nhân viên quân sự. Người ta thân thiện với kẻ mà hôm qua được mệnh danh là kẻ thù. Và tất cả đều có lý của nó! Và điều duy nhất có thể rút ra là mỗi kiếp người quá ư bé nhỏ, hiện thực thì lớn lao, quá ư lớn lao. Đôi lúc, tôi oán trách, sao tôi lại ở vào cái ngành có khả năng quan hệ rộng như văn chương, để lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi cái ao ước này-- ao ước nắm bắt tất cả.
Chiến tranh có cái gì đó, đồng nhất với socializm. Sự san bằng tất cả. Nhưng mặt đất thì không còn bằng bặn. Và bây giờ hoà bình thì từ đấy, người ta lại phải xây dựng lên một cái gì khác. San mặt bằng rồi mới có thể làm mọi việc khác. Chính với việc san bằng, chúng ta nhận ra thêm nhiều tội ác kẻ thù. Với việc san bằng, lại thấy thêm những di luỵ thời chiến.
Granitxy voiny ? Ranh giới của chiến tranh có cái đó không? Chẳng lẽ lại không có! Chắc chắn chiến tranh không động vào được một thứ, đó là sự sinh sôi. Chiến tranh như những chiếc ô tô vận tải. Đi trên đường phố, tôi sợ hãi vì lúc nào cũng thấy những chiếc ô tô, ô tô sau lưng, ô tô trước mặt, ô tô hung dữ lao trên đường, ô tô bất cần công việc, chỉ trừ việc của nó. Tôi nhớ tới những đoàn xe hoả hiền hoà và đầy năng lực của thời bình. Tôi yêu những nền nếp. Tôi cũng yêu những tập thể. Những chiếc ô tô, nó chính là những con người trong chiến tranh, những con người hung dữ, mải miết vì những mục đích xa. Thật là kỳ lạ, đất nước như một con người rút ruột ra, làm việc gì đó, một con người mà da thịt xanh xao nhưng bộ ruột thật vĩ đại. Nhớ Vinh, thành phố đổ nát, đường phố bụi bậm, bẩn thỉu, những con người lầm lụi đi trong mưa gió. Nhưng những đoàn xe cứ lao đi mải miết, trên xe là bao nhiêu giá trị, bao nhiêu là của cải.
Ở đường Phan Đình Phùng, các gia đình ra nậy hố cá nhân lên, không biết để làm gì. Tôi chợt nhận ra các hố thường nêm rất chặt bằng những gạch củ đậu.
Có lẽ một chủ đề mà văn học đáng nhẽ có thể làm được là: chiến tranh đến với tất cả các gia đình, chiến tranh đến với tất cả các phần việc.
12/2
Ngày khai trường. Những cố gắng lấy lại nền nếp. Học sinh đeo khăn mang cờ, đứng xếp hàng.
Học sinh đi diễu chung quanh phố. Đón học sinh lớp 1, học sinh lớp 4 cầm cờ ra đứng hai bên đường từ cổng trường vào. Bánh pháo đốt, lại tắc, lại đốt. Những cô giáo đứng vón vào nhau. Học sinh nghịch, lại chơi cảnh lấy chổi phi lên trời, giả làm máy bay.
Sân trường cũ trong thời gian chiến tranh biến thành nơi để gạo. Trấu rắc khắp nơi.Trước ngày khai giảng, nhà trường mới kiên quyết đuổi kho gạo đi, người ta phải dỡ tạm mọi thứ ra sân. Buổi sáng, xe bò vào chở các thứ. Có tiếng ai kỳ kèo: Bò nó ỉa... Ông lái xe bò cãi, người cũng phải ỉa, nữa là bò. Xe cứ đi nghênh ngang vào trường. Xe đi đến đâu, trẻ xô theo đến đấy. Nhiều đứa trẻ còn nhảy lên xe nghịch. Để chờ đến khi bò có quay lại, chúng nó lại rạt ra.
Lại còn ô tô, giữa lúc học sinh lớp 1 đi vào giữa những cờ sao rủ bóng của học sinh lớp 4, thì ô tô vào. Ô tô phải đợi đấy cái đã.
Không biết bao giờ những đứa trẻ này lại có thể nói: Ngày khai trường của năm lớp 1 của tôi là ngày còn đang dọn dẹp những dấu vết chiến tranh. Trường dột. Cầu thang hỏng. Nền sàn đầy trấu. Các cô giáo chúng tôi gày guộc, vẫn cố ăn mặc một cách mô đéc. Nhưng chúng tôi đã có hoà bình. Ngày hôm nay là ngày tên tù binh Mỹ đầu tiên về nước. Tiến sĩ H Kissinger đang ở Hà Nội. Trong các thông cáo, văn kiện, mối quan hệ Việt Mỹ được dùng kèm theo những chữ: thẳng thắn, thân thiện.
Hà Nội, thành phố của trẻ con, thành phố của bụi. Thành phố của xe đạp. Thành phố của tiếng ồn.
Tôi cảm thấy phải có cách nào đó, để nói về Hà Nội. Những quy luật nào của cuộc sống thấy rõ nhất ở Hà Nội - Quy luật về tài năng? Quy luật về sự chọn lọc? Quy luật về sự đa đạng?
Tại sao người ta viết quá ít về Hà Nội? Phải chăng điều đó chỉ chứng tỏ tính chất tỉnh lẻ của nền văn học này.
15/2
Ng Khải: Thật làm nhà văn có lúc rớt nước mắt. Hôm nọ, vào trong Cục, vừa thấy tay Bồng, lão vỗ vai mình, thế nào, nghe nói cậu sắp đi đấy phải không? Ý lão nhắc chuyện đi chiến trường. Cái vỗ tay thật nhẹ mà mình cứ thấy sụn cả lưng. Một giọt nước mắt cứ định vỡ ra. Thấy như là thuở bé bị bêu nhục. Mình là cái thân phận gì, lão ta là cái gì, nghĩ cứ thấy nao nao cả lòng.
8/3
Một dịp khác, vẫn tôi và ông Khải:
- Hôm nọ, Bằng Việt nó nói với tôi, sao mày cứ buồn thế. Trông ông Khải kia, ông ấy cứ nhơn nhơn thế.
- Đúng, bên Hội nhà văn, các ông cũng lạ cho tôi, lúc nào cũng nhơn nhơn ra. Nhưng mà thế thôi, chứ lúc này ai mà chẳng buồn. Buồn hết. Lúng ta lúng túng thế này, ai biết làm gì được. Văn chương là phong cốt của cả một dân tộc. Lúc này mà văn chương không thấy hé răng cái gì, thì tức là có chuyện rồi. Không trước thì sau, có chuyện thôi.
Nhưng tôi khuyên ông, lúc này nên ít đi chơi thôi. Cái lúc nhốn nháo này, ông xem, dễ vạ mồm lắm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét