Sau chuyến đi Quảng Trị hè 73
14/9
Lần đầu tiên xa Hà Nội những 2 tháng, mà lại trong hoàn cảnh thời bình- tôi cảm thấy đã xa lâu lắm. Về Hà Nội mới có những buổi tối, tôi đi dưới những bóng cây, tất cả trong sạch, sau cơn mưa, mọi thứ hằn rõ lên, nguyên vẹn trong cung cách của mình, và màn đêm giống như một đại dương lớn lao, vô tận, những người ở đây có thể yên tâm, và thanh bình đi lại. Sao Hà Nội hôm nay rộn rã làm vậy. Ngồi ở trong cái phòng con, nhiều buổi tôi lặng đi vì cuộc sống ở ngoài kia: một đám trẻ reo lên, những em bé đi học, tiếng hai người chuyện trò, lại có cả tiếng một anh chàng nào nhiều khuya rất muộn còn huýt sáo. Sau cơn mưa, trời đất trong ra, mọi thứ tiếng động nghe vang hơn và ấm hơn, như tôi nhìn thấy bóng cây xanh hơn. Những ngày mưa qua đi, lá sấu lên xanh, nắng chiều làm cho màu xanh của lá ấm lên trong cái sắc vàng thanh bình và vững chãi.
Kể ra, so với ngày trước, tôi đã có một Hà Nội khác, Hà Nội bình thường trở lại- Nhưng cũng lập tức, phải hiểu là chiến tranh theo sát Hà Nội nó không buông tha Hà Nội cho đến lúc này. Sự thanh lịch, hào hoa, tất cả đều còn cả, nhưng lại là đã mất đi, tất cả nửa vời, pha tạp.
Có thể nói chung gì về tâm trạng mọi người sau 8 tháng hoà bình? Tôi ngồi tôi đọc lại một ít ý nghĩ, và thấy có lẽ vẫn có thể rút ra được một ít điều tốt đẹp nào đó, mà tôi không biết.
Điều tốt đẹp đó là một cái gì như mong mỏi- mong mỏi hạnh phúc sẽ đến, mong mỏi đời sống ổn định. Thanh bình, cái chữ ấy, nghe êm đẹp quá, vì gắn với thanh bình, là đoàn tụ, là hy vọng.
Cái không thể mất được, là hy vọng.
26/9
Mợ Tâm: Nhà như nhà mợ (5 người lớn) ngày phải 3 đ thức ăn mới đủ ăn. Mấy cơn bão dúi dụi.
- Phương Thảo: Ngày trước , lương như Thảo là ăn thoải mái, tiêu cũng thoải mái. Bây giờ chỉ được phần ăn.
Công việc, những việc lương thiện thật không có chỗ. Mật ít ruồi nhiều.
Còn như ở nhà máy của Thảo. Sau mấy năm chiến tranh, đi về chỉ thấy như cũ. Với lại toàn thấy những chuyện không ra sao. Bây giờ người ta làm ăn mặt dày mày dạn, không dấm dúi, người ta cũng không biết sợ là gì nữa.
Mấy năm vừa qua, cái chính là mình thấy giá trị của mình. Chả còn lạ gì những người hò hét nữa, có khi họ lại không bằng những người mang tiếng công chức như mình.
Tôi hay nghĩ về những cái mất, cái còn của Hà Nội.
Cái gì mất đi? Nhiều lắm, mất đi cả nhiều mặt tốt.
Nhưng tôi cũng tin là vẫn còn lại một cái gì đó . Vì nếu như một cái gì tấn công, cũng đều đánh mất cả, thì cái của mất ấy, chẳng phải là vô duyên lắm hay sao?
Cái cuộc đời này là gì vậy? Tôi nghĩ tới thật thú vị, những cũng ghật là xa lạ. Ngồi trên phòng nghe những âm thanh đường phố, tôi nao cả người. Nhưng làm sao để đi chơi được- tôi còn phải làm việc. Vả lại, đi chơi với tôi là một từ quá phung phí, tôi không ghi nhận được điều gì hết.
Và điều này, quan trọng nhất- đôi khi đi chơi, như bị lấm bùn vào mặt, lại khó chịu thêm. Hà Nội còn nhếch nhác quá.
Người ta cho tôi một Hà Nội, nhưng nó không như tôi hoàn toàn mong muốn. - Cũng như người ta chỉ cho tôi một tố chất thông minh vừa phải, một ít sự nhạy cảm nghệ sĩ vừa phải, để rồi làm một nghệ sĩ thì không nổi, và trở về với đời thường không xong.
Tôi vẫn không cảm thấy tôi nhập được vào Hà Nội- điều ấy có lúc ở phía Hà Nội, nhưng có lúc ở phía tôi, khổ chưa.
- Thế còn những người như Thảo? Những người còn thuộc Hà Nội hơn ngày xưa nữa. Họ nghĩ sao về Hà Nội. Thế còn những người nghệ sĩ như Thảo. Có lẽ một phần vì Thảo không quan hệ rộng, Thảo không bị những xô đẩy của cuộc sống, Thảo không bị cả cuộc đời này hành hạ.
Thảo có gì trong sáng và nhuần nhị hơn so với Xuan Quỳnh- dù T cũng tự nhiên, thoải mái, và có thể nói như là dễ dàng với mọi người.
3/10
Thảo- Nhớ mãi chục hoa cúc này Hà Nội bị B52 . Cái đẹp chưa từng có. Mười ngày sau về, lá héo, mà từng vồng cúc vẫn chắc, khoẻ.
- Ngày nào mùa hoa, là ngày vất vả nhất. Chạy khắp nơi lên đầu Hàng Vọng, ra chợ Đồng Xuân, rồi mới ra các cửa hàng mậu dịch.
Bao nhiêu cũng muốn mua.
- Ngày đi học, bao giờ áo cũng phải là một ít nước hoa
- Mẹ chiều, đi xa về, đun cho ít nước tắm, rồi giục đi chơi nhà các bạn.
- Cụ ông chiều, vì chính tính cụ rất giống tính Thảo.
- Cái tự do hôm nay, là điều sẽ không chịu đổi lấy một cái gì khác, trừ trường hợp thật tự nguyện.
Hoa sữa- thứ hoa của đường phố. Hoa của trên cao, cho người ta đứng dưới mà cảm thấy cả một trời ướp hương. Hoa của mọi nhà, có khi phố mình không hoa những vẫn là nghe hoa từ những nơi khác tới.
15/10
Một thanh niên như bạn tôi, Trần Đức Kiểm. Tôi cảm thấy xa lạ với nó, xa lạ ở hai điều này 1/ Nó sống nhiều mặt hơn tôi chỉ sống một hai mặt cho kỹ lưỡng. 2/ Nhưng nhìn chung, nó lại ảo tưởng ở phía của tôi, tôi ráo riết, cuồng nhiệt (So tôi cảm thấy nhiều thanh niên ít tuổi hơn tôi mà sống dềnh dàng quá. Chúng nó lì ra, chậm trẽ. phải vì xã hội không hứa hẹn với nó một điều tốt đẹp nào)
Kiểm là hình ảnh của tôi ngày hôm qua, Kiểm là tất cả những gì văn học có thể mang lại cho những người thường (nền văn học này và những người thường này, cố nhiên!) Nhưng Kiểm cũng không thể giữ được cái đó, trong cuộc đời quá nhiều phức tạp.
Nhàn: Về đây, ông thấy ai thông cảm với ông hơn cả.
Kiểm: Không có ai cả. Ông Niệm cũng nhạt. Tôi chỉ nhớ một lần tôi đi dự đám cưới, tự nhiên lại gặp một thằng bộ đội, hai đứa nói chuyện với nhau rất lâu.
20/10
Mùa đông. Những buổi chiều Hà Nội u ám, mặt đất lớp nhớp vì mưa phùn, những nền đá hoa cũng lớp nhớp, một ít hơi dầu, những con ruồi mùa đông sinh ra kỳ quái. Cứ lẫn vào cái đám này xem, rồi người ta cũng không thể nào rẫy ra nổi, người ta cũng mù xám mà chết theo mất. Tôi nhớ những mùa đông ở nông thôn. Dẫu sao nó cũng còn những cánh đồng khoảng khoát. Dẫu sao nó còn sinh lực.
24/10
Hà Nội không thể đứng riêng rẽ. Những ngày vừa qua mưa ghê mưa gớm, chúng tôi chỉ khổ vì đi lại, nhưng bao nhiêu nơi khổ vì đói. Trưa ra chỗ làng Lược, gặp bao nhiêu người gồng gánh lũ lượt. Tận Thanh Hoá ra. Theo tàu hoả lên ga Hàng Cỏ, rồi sang tàu điện lên đây. Cái tiếng Thanh Hoá trộn không lẫn.
Duật: ở Thanh Hoá, trẻ con cầm con gà giơ lên đầu như dân Lào: Đổi gạo, đổi gạo. Một cậu khác kể: Người ta (nhà nước) bán hai hào một nắm cơm.
Có một cái gì như một thứ chia xẻ chung- Hà Nội bị xâm lấn, và điều đó là rất hợp lóy.
4/11
Sự năng động của cái mới, thật khốn khổ cho Hà Nội: đôi khi nó lại rơi vào những người lạc hậu nhất.
Đi trên đường phố Hà Nội, ai nhếch nhác nhất: những người đi xe bò. Nhưng về nhà ai ăn sang nhất: có lẽ là những người xe bò. Và bây giờ họ nghe nhạc, đón những đĩa hát mới nhất- họ văn minh, lịch sử, theo như họ nghĩ.
Những ngày cuối năm 1973, Hà Nội vẫn là một sự chờ đợi. Mãi không thấy bắt đầu một cái gì mới. Mọi chuyện cứ dề dà, đến mức không chịu được.
Hà Nội là thành phố của rất nhiều con người cô đơn. Hà Nội là thành phố của những âm mưu hèn hạ, những mưu sinh rách nát. Và bây giờ Hà Nội là thành phố của cướp bóc, cướp giật ban ngày, dí dao vào mạng sườn, cướp xe đạp, cướp mũ cối của những người lính đi qua đường. Tại sao ư? Tại vì cả xã hội lâu nay chỉ khuyến khích người đi đánh nhau, yêu nước, chiến đấu gì cũng là đánh nhau. Nhưng còn là vì người ta nghèo quá, so với yêu cầu và hiểu biết thì nghèo khó đến mức không thể chịu được.
25/12
Nhìn đoạn đường Hà Nội thoáng ra trong những ngày nắng hanh. Xe ô tô đi làm cho giữa đường bóng loáng lên. Nhưng tận hai mép hè thì bụi, bụi kết thành tầng dày đặc... Và trên các cành cây thì bụi, màu xanh của lá bạc đi trong bụi. Bởi mỗi lần một xe ô tô đi qua... tất cả vẩn lên, trời đất nhờ nhờ. Một cái gì đó của năm tháng, bây giờ đọng lại đây, chúng tôi cùng kinh hãi, vì nó rất động, mà nó lại là cặn bã sinh ra, từ trong lòng xã hội.
- Thử nghĩ đến hè phố. Bọn trẻ con chơi cầu ở đó. Người ta ,phơi dưa ở đó, giặt rũ ở đó, mang chậu bát ra đó rửa.
Tôi đứng ở đầu đường Lý Nam Đế, chỗ vườn hoa hàng đậu. Từ phía lòng đường hiện lên những đoàn xe bò chở than. Trời ôi, sao cái không khí trời đất này ghê sợ làm vậy, chuyến xe đen, người đánh xe bò đen, cho đến gió bốc lên, làm đen cả mặt tôi. Tôi hoà nhập vào cái buổi chiều thử đỗ quanh tôi, nó là một cái thực thế mù xám không sao chịu nổi.
Những đêm tối, tôi nghe từ lòng đường tiếng móng bò điểm đều đều từng nhịp trên đường. Thanh vắng, trong cái lặng lẽ của một người ngủ dậy, tôi có nghe rõ từng tiếng một, cái thứ cùng thanh khô. gọn, mà lại thoáng như là ngân lên trên đường phố đó. Đất nước của tôi chỉ có thế thôi, trung cổ một cách không thể tưởng tượng được.
Những ngày nắng hanh, cái thành phố xác ướp giống như là được giữ nguyên, mọi vật phơi ra cái vẻ đang úa tàn dần của nó. Anh có thể cảm thấy một chút gì đó, như là vẻ đẹp thật, và bởi vì nó đang úa tàn, nên càng thấy luyến tiếc.
Còn trong những ngày âmả ướt, thì tôi cảm thấy rõ nhất là chính quá trình chết, chứ không phải xác chết. Mọi người dầm trong bùn đất, bùn đất bẩn thỉu và bởi vì mọi vật đang sống nên nó càng có nghĩa là nó sắp chết. nhất quyết là nó sẽ chết.
Sau chuyến đi Quảng Trị
13/10/73
Chiến tranh. Những ngày tháng đi qua là những hoàng hôn của một ngày nóng nực đến điên cuồng. Tôi biết rằng có thể phải qua đêm đen nữa, rồi ngày hôm sau yên lành mới tới.
Những người sống sót trong chiến tranh, là những người phải sống đến hai ba cuộc đời. Phải sống cho mình, và phải sống cho những người đã chết. Phải sống bù vào những gì người chết không có mặt nên thiêu xóc- Phải oằn lưng mà gánh vác, trong khi chính mình cũng yếu đuối, và đầy những dục vọng ghê gớm. Chiến tranh đẩy lùi xã hội lại, trong khi những yêu cầu ghê gớm của con người thì tiến lên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét